Mùa Xuân đen

baovecovang2012.wordpress.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 8 Nov 2025

Phần 9 – Trả thù Phật

Thời thơ ấu, khi theo bạn cùng trường đi cắm trại, trên đường ra Mũi Né, trước khi qua khỏi Phú Hải và đến vùng Đá Ông Địa bên bờ nước biển, tôi và bạn bè có ghé vào vùng đất cao ngó ra biển, nơi còn lại những dấu tích của một lâu đài đổ nát, hoang phế, chỉ còn vài cục gạch, vài tường đá vỡ vụn, rong rêu ngủ vùi với thời gian vô tình, mưa nắng. Vùng đất này, người ta gọi là Lầu Ông Hoàng.

Thuở đó, tôi quả tình không biết Hàn Mặc Tử là ai, Mộng Cầm là ai, và cũng chẳng biết hai người yêu nhau ra sao, ngồi chỗ cục gạch, bờ tường đổ nát nào để “nhìn trăng, thề non hẹn biển” và tại sao nơi này lại được coi là nơi khởi đầu cho một cuộc tình lãng mạn đi vào ngõ cụt.

Lầu Ông Hoàng nơi thiên hạ đồn vang

Nơi đã chết từ muôn trăng thế kỷ….

(Hàn Mặc Tử)

Trước 1975 một trung đội Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân thường có mặt hay trú đóng tại vùng Lầu Ông Hoàng để ban đêm tung những toán phục kích, chận sự xâm nhập của Việt cộng từ cạnh rừng thưa phía Đông Bắc Phú Hài và dải rừng thưa trên động cát đó như một cái đuôi nhỏ mọc ra từ cực Nam mật khu Lê Hồng Phong bao la của Việt cộng.

Sóng đêm thì thầm dưới trăng khuya như vỗ về, đêm trải những màn sương trăng nên thơ, huyễn hoặc trên giải đất Lầu Ông Hoàng hoang phế; và trong cái khung cảnh nên thơ, êm ả đó, vài hôm, người ta lại nghe tiếng súng đêm, để sáng hôm sau, vài xác Việt cộng được mang ra đường cùng với mấy cây AK và những ruột ngựa trống rổng không một hạt gạo. Cộng sản rất cay cú những người lính địa phương miền Nam đã bịt đường thu thuế, kiếm gạo của họ.

Chợt một hôm, với sự tài trợ của tòa tỉnh Bình Thuận, người ta chở gạch, đá, xi măng, cốt sắt và nhân công đến Lầu Ông Hoàng, để rồi vài tháng sau, một tượng Phật Quan Âm uy nghi xuất hiện tại đây.

Chắc chắn Phật không có ý kiến gì trong việc cho Phật đứng giữa vùng bom đạn, tuy nhiên ngày càng nhiều hương khói nghi ngút dưới chân Phật, bà con theo đạo Phật rằm nào cũng kéo về chiêm bái, cầu an, nhà có chuyện chi bất an, đau khổ cứ kéo nhau ra Lầu Ông Hoàng lễ Phật, toán tuần kích của anh em Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân mỗi đêm đi ngang qua tượng Phật, có người cúi đầu khấn vái để xin Phật che chở cho anh và cho đồng đội. Và lạ thay, sau khi tượng Phật xuất hiện, số thương vong của các đơn vị giảm dần như có một gì che chở.

Người ta đồn rằng tượng Phật Bà Quan Âm rất linh thiêng. Có những du khách trên đường ra Mũi Né cũng thường ngừng xe đến lễ Phật, thắp hương. Và cũng có những đêm du kích Việt cộng mò về thu thuế hay kiếm gạo, từ xa, chúng đã nhìn thấy bóng hình tượng Phật sừng sững, uy nghi in lên nền trời mờ ảo. Khi Việt cộng muốn pháo kích, họ cũng nhắm vào tượng Phật làm điểm điều chỉnh để pháo kích mà đa số đạn pháo kích đều rơi tòm ra biển, gây chết chóc cho những con tôm, con cá vô tội. Nhớ lại những lần bị phản pháo, nhớ lại những lần bị phục kích và bị nạp chạy trối chết vào mật khu Lê Hồng Phong, Việt cộng trút mọi thứ căm thù vào mọi thứ, kể cả hình bóng tượng Phật Bà Quan Âm ….

Dù là trong chiến tranh, cảnh hoang phế của vùng đất Lầu Ông Hoàng cũng vẫn là một nơi an bình, thơ mộng. Những biến dịch của lịch sử đã phủ lên đầu dân tộc trùng trùng những oan khiên, bất hạnh sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Khi Phan Thiết mất, Việt cộng tràn về An Hải, Phú Hài… lùng bắt, trả thù những anh em Nghĩa quân, Địa Phương Quân, kể cả những anh em cảnh sát, ấp trưởng, xã trưởng đều bị đòn thù.

Không bắt được những người lính đã từng làm cho họ xất bất lang bang, vì đa số đã thoát vô Vũng Tàu hay Sài Gòn, Việt cộng dồn hết oan khiên, hận thù vào tượng Phật. Trước nhất là lệnh cấm dân chúng dâng hương, cúng lễ; thỉnh thoảng có tên xả AK vào tượng Phật. Bắn tượng, tượng không vỡ; đập tượng, tượng không sập; gọi dân phá thì dân không dám phá, bí thư xã và xã đội du kích họp nhau bàn cách trả thù tượng Phật. Thế là cốt mìn được chuyển về chất dưới chân tượng Phật để phá tượng với lý do: “bài trừ mê tín dị đoan, thực hiện nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa”.

Tin Việt cộng chuẩn bị phá sập tượng Phật Quan Âm gây một xúc động như bão tố trong quần chúng, song không một ai dám lên tiếng phản đối. Nhà nước mới đồng hóa chữ phản đối là phản động, mà chữ phản động cũng đồng nghĩa với chữ tù. Khi du kích và công an xã cột cốt mìn vào chân và thân tượng Phật, trong lúc đó dân chúng tập trung khá đông ở một khoảng cách khá xa để chờ xem “cách mạng” phá tượng Phật Quan Âm. Có người chậm nước mắt, có người lâm râm đọc kinh. Dáng Phật Quan Âm hiện lên nền trời, tĩnh lặng, an nhiên nét từ bi vô ngã…

Một tiếng nổ long trời! Cát bụi tung cao, che lấp, bao phủ tượng Phật vô hình, tiếng nấc nức nở của những Phật tử bật lên trong đám đông, Phật đã biến mất nơi mà Phật đã từng đứng đó hàng chục năm trời trên bệ xi măng đầy nhang khói. Phật đã trở về cái không trong một sát na.

Những đám mây bay lang thang trên nền trời Lầu Ông Hoàng bỗng trở nên xám sậm. Vài vạt mây vô tình bay ngang qua chợt rụng xuống những giọt nước, những giọt nước lăn trên má những người dân lành chứng kiến cảnh cộng sản trả thù tượng Phật.

Mưa hay nước mắt đồng bào xót thương Phật khi thấy Phật biến mất sau tiếng mìn nổ inh tai như sấm động, hay đó là nước mắt của Trời khóc người dân lành bất hạnh trong thiên đường cộng sản, một thứ thiên đường đen xuất hiện sau cuộc đổi đời đầy dẫy những tai ương đang xếp hàng trước mặt.

Người về, đỉnh núi bơ vơ

Vết đau Bắc thuộc còn mờ cỏ cây

Biên cương đất nhục hao gầy

Rừng đau tủi hận dấu giầy Bắc phương.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Chương 1

Tôi Biết Gì Về Sài Gòn (Nay Là Thành Phố Hồ Chí Minh)
Từ 1919 Cho Đến Nay (viết từ 13-6-1990, nhớ tới đâu, viết tới đó)

Tôi sanh năm 1902 (Nhâm Dần) tại Sốc Trăng.
Mồ côi mẹ từ năm Quí sửu 1913, tuổi vừa mười một, năm mười hai tuổi (1914), cậu tôi ở làng Xoài Cả Nả, châu thành, nhơn dịp bãi trường lớn, bắt tôi về làng Thổ cạo sạch đầu và cạo luôn chưn mày trơn tru và đưa vô chùa Xà Lôn, cho mặc áo vàng làm sãi con, tu tắt hai mươi bốn giờ, đúng một Ngọ, gọi báo hiếu cho mẹ. Tôi nào thuộc một câu kinh Khơ Me, nhưng quì trước bàn Phật, bên tả là cậu tôi, quì kế bên và nhắc tôi lặp lại những gì ông lục cả, quì bên hữu tôi, và lâm râm đọc thuộc lòng, những câu kinh vái Phật, và tôi nhái lại y hệt và một lòng kính cẩn:

“Na mô tê-séa thăng cà-oanh choh” (ngày nay tôi còn nhớ bao nhiêu đó, và cũng không chắc là đúng như lúc đó đã nghe và lặp lại, nhưng điều tôi dám quả quyết là tấm lòng thành của tôi và lối tu tắt gọn gàng của tuổi thơ trong sạch ấy, ắt đã giúp vong hồn mẹ tôi được siêu thăng từ lâu rồi. Nam mô.
Cho tới năm mười sáu, mười bảy tuổi, tôi sống hủ hỉ với Ba tôi và một ông già, làm việc nội trợ, tên Lê Văn Đồ, trước có đi lính đánh Tây cho triều đình ta, thường gọi “ông Sáu”, ông quán xuyến, bao gồm hết thảy công việc trong nhà, vừa nấu bếp, vừa quét mương, mương nhà trước, mương nhà sau, vừa quét luôn mương một dọc nhà phố lối xóm, mỗi căn trả cho ông mỗi tháng là hai cắc bạc, riêng Ba tôi trả cho ông trọn năm là bốn mươi lăm đồng bạc lớn (45$00), ông Sáu, tôi không nghe ông mua sắm gì, chỉ thấy quanh năm, ông làm lụng không hở tay, không biết mệt, đi chợ sớm và trưa hai buổi, tiền chợ mỗi ngày ba cắc bạc, mà có gà có vịt, nấu ăn vừa miệng, mình ông có lác, nhưng ông ở ăn thật sạch, ông tắm mỗi lần kì lưng, ông lấy dây dừa thùng nước ông cọ nghe sồn sột, hỏi ông có đã ngứa không, ông nhe mồm, hai nướu không còn một răng nào, thế mà ông vẫn nhai mía cây, trồng cà trồng ớt, quanh năm dư dùng, nhà gần hết gạo ăn, thì ông lấy đệm ra trải, lấy lúa trong bồ ra phơi, lúa khô, ông lấy cối đất ra xay, lấy quạt gió ra vê bụi, đổ gạo lứt vào cối mù u sắm sẵn, ông giã nghe rất giòn giã đều tay, gạo sạch, ông dọn dẹp, trút gạo vào lu mái dầm, tôi thèm mì, ông xách tô đi mua, ông làm xăn cà đun trọn ngày cho đến tối mịt, ông leo lên gác đặt sát mái ngồi nhà sau, ông đánh một giác thẳng thét ngon lành, không bao giờ gặp hay thấy ông tuột thang xuống đi tiểu suốt đêm nẩy đêm nợ, nhưng khi chuông nhà thờ từ đàng xa báo tin buổi kinh sớm, thì đã thấy có mặt ông nơi bếp lui cui nấu nước pha trà, mãi cho đến năm 1917, thấy tuổi ông quá cao, Ba tôi cho ông nghỉ việc, tôi không thấy ông phiển hà ra tiếng, ông dọn tất cả nồi ơ trách hũ, ông sắm hồi nào không hay, nay ông dọn về chấi sau nơi đình thờ Quan Đế, rồi ngày qua ngày ông xách gây xuống chợ, lại những nhà quen, nhờ miếng cơm xu tiền, tội nghiệp và thương hại vậy thay, ông nào biết kêu nài theo luật lao động, ông nào biết đòi tiền thôi việc, ngày nào còn ở là có cơm chủ, nơi đình, mấy năm tôi ở Sài Gòn về Sốc Trăng thăm nhà, tôi vẫn thấy ông Sáu, khỏe mạnh như lúc tôi còn nhờ ông xách nước cho tắm, mua mì cho ăn, và khi tôi biểu ông khi hai khi ba đồng bạc, ông mừng ra mặt, cặp mắt ông sáng ngời, và mãi về sau, ông Sáu mất hồi nào tôi không hay biết, có lẽ hơn chín chục có dư, hoan hô người lão bộc lính đàng cựu, bạn cao niên của tôi, trung thành, lín miệng, sống lam lụ và ra đi êm như khúc nhạc không lời, hoan hô ông Sáu Đồ, tôi khóc ông mà ông nào mấy biết!
Năm 1917, tôi mười bảy tuổi ta, mười lăm tuổi trong khai sanh, phải lên Cẩn Thơ thi chung kỳ thi “xẹt” với sĩ tử tỉnh Bạc Liêu, Sốc Trăng và Cần Thơ dồn chung lại, độ hai trăm trở, gặp một giáo sư Tây chính cống làm giám khảo, lần đầu tiên tôi nghe Tây thiệt đọc “dictée” mà đít tê như bị thẩy quất rơi mây như búa bổ, từ trước chỉ quen nghe thầy Việt đọc tiếng Tây, nay nghe Tây thứ thiệt đọc bài ám cả, đúng là “như vịt nghe sấm”, cái câu nguyên văn “lorsqu’ un vent de décembre” (khi một luồng gió tháng 12), tôi điếc con ráy và ghi lại trên giấy “lorsq’ un vent deceendre…” (khi một luồng gió xuống..), gió xuống đâu tôi nào biết, chỉ biết tôi thi rớt năm ấy, chỉ nhớ xíu mại quán cà phe ở Cần Thơ ngon hơn xíu mại ở tỉnh nhà… và các chi tiết ăn xài buổi đi xa khỏi ba căn nhà của Ba tôi năm ấy là tiền tàu từ Sốc Trăng lên Cần Thơ, chưa tới một đồng bạc (1$00), ở phòng ngủ và tiền ăn không tới mười đồng và số tiền năm chục đồng (50$00) Ba tôi căn dặn nếu phải lo lớt để thi đỗ… tôi vẫn đem về trả lại Ba tôi, và nay hãnh diện vẫn còn.
Chuyến lên Cần Thơ, tuy thi rớt, nhưng đã sạch nước cảng, cơ khổ, từ nhỏ chí 1917, tôi nào bước xa hơn ngôi nhà ba căn trệt của Ba tôi ở đường Đại Ngãi nay gọi đường Hai Bà Trưng, sau tôi nghe Ba tôi thuật lại, năm 1901, Ba tôi đưa mẹ tới lên Sải Gòn, tôi quên hỏi đi bằng cách nào, có lẽ phải đi nhờ trên ghe chài chờ lúa, đặt bến tại Bãi Xàu, từ đó lên tới Chợ Lớn, phải suốt bốn năm ngày, hoặc cả tuần nhựt, cam go nhiều nổi, và chuyến về, mẹ tôi sắm được một quả xách mây sơn dầu, nay tôi còn giữ trên bàn thờ, và khi ghé Vĩnh Long. Ba tôi đặt thợ mộc có danh, làm cho bộ ghế trường kỷ làung gỗ trác, nay tôi còn giữ làm kỷ niệm nơi sân trong, nhà ở Gia Định, như vậy bộ ghế nằy trộng hơn tôi một cuổi, và lên nước đen mun, bóng ngời như sừng trâi không khác.
Đến lượt tôi, cho đến năm 1923, từ Sốc Trăng, muốn lên Sài Gòn, phải dùng tàu thủy, chạy đường Sốc Trăng – Mỹ Tho và từ Mỹ Tho lên chợ Bến Thành, phải sang tàu hỏa Mỹ – Sài Gòn, khách từ Bạc Liêu muốn viếng Sài Gòn, lại phải đi tàu từ Bạc Liêu, lên Sốc Trăng, sẽ sang qua tàu xà lúp (chaloupe) mang tên chim dưới nước Pélican (con Thằng Bè), Sarcelle (con le le), chủ tàu là Jules Rueff, vồn là một lính Lê dương, có sáng kiến lên bờ, sắm tầu đưa khách khắp miệt Hậu Giang lên đến Nam Vang, làm quen thân và bán đồng hồ bỏ túi (Bắc gọi là đồng hồ quá quít) cho vua Miên là đức Norodom, phát tài và lập hãng tàu gọi Messageries Fluviales (công ty vận tống đường sông rạch) gần đối chiếu, tuy kém xa, công ty hải cục gọi Messagerie Maritime của Pháp. Người nào thích ngắm cảnh du hủy ngạo đồng bằng thì đi tầu, người nào thích ngồi xe đồ xe hơi tuy rêm mông tê gân mời xương và cũng không mau lẹ bơn tàu, thì đi xe cami ông nhưng phải đợi lối 1920- 1921 mới có một thợ máy tên là Nguyễn Văn Lưu, ngoài gọi ông Ba Nuế, sắm xe Delahaye hay gì gì đó, xe chờ độ hai chục người, từ Sốc Trăng lên Cần Thơ, phải dùng đô kéo tay đưa qua sông ở Phụng Hiệp, đường trải đá ong và hẹp, xe chạy nhánh sậy nhánh cây mé đường quất vào mặt, còn tàu xà lúp đi ngang rừng tràm Phụng Hiệp (Ngã Bảy) thì muỗi trong rừng bay ra muôn thiên vạn ức, con muối vàng khè, chưa biết và chưa từng nếm máu người, có người phóng đại thêm, rằng muỗi Ngã Bảy lớn hơn con gà mái, muối rừng bay ra, băm vào da người, chỗ nào trống, muỗi chun lòn vào miệng, khi đang nổi, chun vào tai, bay vào mắt, không cần đập, chí vuốt sơ cũng đủ được cả trăm.

Theo đường thủy.

Cho đến quãng những năm 1920-1923, tàu Xà Lúp chạy đường nước lên xướng Mỹ Tho-Sốc Trăng vẫn chạy theo các nơn này. Tôi lấy tỷ dụ cho dễ hiểu, bắt dầu từ Sốc Trăng chạy lên Mỹ Tho:

Chiếc xà lúp Péli can hay Sarcelle, từ Cần Thơ đi xuống theo kinh Phụng Hiệp, lối gần giờ tý thì tầu qua khỏi cầu quây, chạy tới một đỗi, kéo cời súp lê một hơi dài, quầy đầu cặp bên (gọi cầu tàu) cho hành khách lên, nội chợ tộn rịp, xe kéo tay lo chờ bộ hiển từ nhà riêng, từ phòng ngủ, khách sạn xuống tầu, giành chỗ nằm, lối một giờ khuya, tàu lại súp lê ba tiềng và lui bền, độ hơn một giờ sau, thì viên cò tàu đi bán vé, có người xách đèn lồng theo rọi, trong sổ tay còn ghi kỹ, 280 tiền tàu từ Sốc Trăng đến bến Mỹ Tho, thêm 0$50 tiền mướn ghề bồ, tiện tặn thì mướn võng 0$30, hoặc chiều 0$20, thêm một bữa cơm buổi trưa, sang thì một dĩa cơm gà (0550), còn dĩ hà nhứt thể, ai như ai, thì sẵn cơm đãi bộ hành của tàu, không tính tiền, vẫn vĩ vèo và ngon lành, nhưng vẫn ít ai dùng, vì mãi giữ thể diện gàn… Tàu chạy thầm, hai bờ kinh tối thui, ghé Phụng Hiệp chào muỗi, độ gần sáng tầu tới bến Cần Thơ, ghé đồn bộ hành, rồi qua bên kia sông lấy đủ củi cần dùng, và thẳng đường lên Mỹ Tho qua các ngả: Cái Nhum, kinh Chợ Gạo, tầu tới bến Mỹ Thơ, lại súp lê vội vàng, và cùng một lúc chiếc xe lửa cũng súp lê trả lời, lại rộn rịp ra khỏi tàu, mượn phu xe hoặc ban bù (bambou) là người khiêng gánh, họ tành nghề mua vé xe lửa giú p tiền vé xe là 0$90, nhưng còn tiền xe kéo, tiền ban bù v.v.., phí tổn, chưa tới nửa đồng (0$50) nhưng tiền lúc đó cao giá, đếm từ đồng xu, đồng cắt, và đồng bạc là đồng bạc, nhưng đi tâu theo đường thủy, vừa thành thơi, xước mía cây, ăn bắp luộc nguyên trái, quít, cam, chuối, thảy đều rẻ rẻ, giớp no bụng, lại còn thích thú ngoạn cảnh, nhìn cỏ cây đồng ruộng bao la, Chợ Lách, sông rộng Hậu Giang,

Tiền Giang, …

Theo đường bộ

Những cảnh nhàn, thong dong như vậy, không đổi được cảnh đi đường bộ, từ châu thành đi Sốc Trăng, ngồi xe camiông ghế có ruột gà nhồi êm bàn mông, tê chưn, nhức mình đâu sá kể, mặc đầu đi đường thủy, ít nguy hiểm, chỉ nghe một lần tàu Đồng Sanh của hãng chệc, chìm trước bến Mỹ Tho, giữa Sông Cái, và mặc dầu đi đường bộ, nguy hiểm nhiều, xe đụng nhau, xe lạt bốn bánh dờm trời, xe đô và xe lửa hun đít nhau nơi khúc quanh An Lạc, và con đường lộ tông An Hữu /Cái Thia ở Mỹ Tho (nay đã thay cầu kiên cố và lớn hơn), kỳ dư hai chiếc phà Cần Thơ và Vĩnh Long, vẫn chở không được nhiều xe mỗi chuyến sang sông, ngoài ra cầu sắt xe lửa ở Tân An, vẫn không cho xe đô qua vì sợ sập cầu, (phải dùng phà kéo tay sang sông), chiếc xe hỏa mang tên Le Myre de Vilers, sức yếu, leo dốc cầu Tân An vẫn tuột dốc, hè hụi đôi lượt mới qua được, tuy cực khổ, mất thì giờ, không thấy mau hơn đi tàu thủy bao nhiêu, nhưng thời gian tầu xà lúp đã chấm dứt, xe đô hãng Việt, hãng khách tranh nhau chạy, và xe hơi và ét xăng đã thay xà lúp và nồi sốt de (chaudière) kia rồi. Từ Nhựt chiếm rồi Nhựt lui, Tây chạy rồi Tây trở lại, Sốc Trăng và Sài Gòn liên lạc nhau bằng máy bay trẻ nít (bébé- avion hãng Cossara) (1947 trở về sau) bay được ít năm rồi đẹp luôn, đường xe hỏa Mỹ Tho / Sài Gòn cũng phá bỏ, xe đò trở lại làm bá chủ, rồi nhường đường cho xe nhỏ, phế bưng thay đổi gẫm lại tức cười, trong số bộ hành dùng đường bộ, có nhiều Miên Thổ, chưa từng thấy Sông Cái, khi từ Sốc Trăng lên tới Cần Thơ, ban đầu bền đò qua sông vẫn sát dinh quan bố, người Miên xuống xe ra nhìn, thấy sông rộng, sống lớn, lật đật bỏ cuộc, không sang sông và tìm cách trở về làng, vì dưới mắt ngây thơ Khơ me, sông rộng như biển, nước nhiều quá, không tin xe qua được, thà trở về tốt hơn.

Luật thay đổi tuần hoàn tiển hóa là như vậy, tôi từ nhà quê, lột lớp, trở nên dân thị thành, đã sạch phèn, cũng như bao nhiêu cô bác bà cơn, thay nhau, từ đảo chính 1945/46 cho đến nay, dân sốc, dân làng, chạy ra ở chợ, dân chợ các tỉnh đổi chỗ lên sinh sống chợ đen chợ đó ở Chợ Lớn, ở chợ Bên Thành, và người có phương thê ở đây, kể bay người đeo ghe càu trốn ra nước ngoài, kẻ mất vì nạn cướp biến, kẻ may phước nghí ngố đất lạ, nhớ nhà, người nào còn lại ở đây, đèn nhà ai nấy sáng, và đâu đâu đều khổ: thay vợ đổi chồng, cha cơn không nói chuyện với nhau, chung qui cũng vì đồng tiền giấy tuy mắt giá trị, nhưng vẫn gọi là “đồng”, tiền đồng luân chuyến và làm thay đối nhơn tâm là thê ây. Xưa gọi “thiên kim” nay đổi, gọi triệu rồi tỷ, giành giành giựt giựt, thì cũng là mầy, đồng giấy thay đồng tròn, vẫn lăn, trong xã hội ba đào, tiết liệt, trung trinh… đều qua qua lại lại và vẫn là tờ giấy lộn! Bạc ôi là bạc!

Từ Sài Gòn, Trở Nên Thành Phố Hồ Chí Minh, Trải Qua Bảy Chục Năm, Từ 1919… Cho Đến Hiện Tại 1990 (viết từ 15-6-1990)

Tôi chưa phải sanh đẻ tại Sài Gòn, nhưng tôi có duyên phần và thình thoảng đã sanh sống tại đất nẩy ngót ba phần tư thể kỷ, và chưa biết ngày nào sẽ phủi tay ra đi theo ông theo bà, nay đã chồn chân chán nản, vậy xin thuật lại đây theo chỗ mắt thấy tai nghe, khi hiện diện, khi vắng mặt, tuy vắng ăn vắng ở nhưng dám đâu vắng cách tấm lòng mến mộ đất nước cha ông. Tôi xin thuậc theo cách không thêm không bớt, thấy sao nói vậy, để cho người đọc, tự suy gấm mà rút tỉa cảm nghĩ riêng của mọi người. Cảm tưởng của tôi đổi thay như vầy:

Sài Gòn dưới mắt tôi, năm 1919

Đây là năm đầu, tôi tiếp xúc với châu thành hoa lệ, bấy lâu đọc trong vài sách báo Pháp, vẫn khoe là “hòn ngọc trân châu của vùng đông Nam Á”. Cảm tưởng của tôi là hơi hơi thất vọng. “Chỉ có như vầy, hay sao?”

Tôi bước theo gót Ba tôi, mà lòng tức tức. Ba tôi còn để tóc bới, tay xách một va l mây đan, vuông vuông giẹp giọp, tôi ngó chiếc va li mà bụng hổ thẩm, nay biết rõ, Bác Hồ từ Trung Quốc về, cũng một xách tay mây y một thứ, và chớ chi sớm biết thì không mắc tội bắt kính này. Tôi dặn nhỏ Ba tôi đừng dùng tiếng Tiều tiếng Quảng, vì phong trào theo báo dạy, nên dùng đồ nội hóa, nhưng chưa có quán cơm của đồng bào ta, buộc lòng phải vào tiệm Tàu ở dãy phố ba từng lầu ngang chợ Bến Thành, cha con ngồi bàn an bài, tên phổ ky bước lại, nghe Ba tôi dặn, đoạn nó bước lại cửa thang lầu, từ trên hô lớn: “Lưỡng cơ dành, một đĩa gà luộc (giá một cắc), một dĩa vịt quay (0$10), một dĩa cua xào giấm (0$35), một tô canh câu ký (0$10), bốn xu rượu trắng và bốn chén cơm (0$04), hàm bà lần, khách xuống sẽ tính sau…’, chung quy với 0$47, thêm hai trái chuối la sết, cộng lại là bốn cắc chín xu, chưa đầy nửa đồng bạc trờn, mà cha con đều no bụng ngon lành, duy trong bụng tôi vẫn chưa bằng lòng vì vẫn suy nghĩ: tiệm cơm này tuy rộng lớn, nhưng cách nấu nướng, có hơn gì tiệm chú Xi ở Sốc Trăng, phố lầu mới toanh, ba từng rõ ràng, nhưng chưa xứng danh “sám xưởng lều” (tam từng lầu) riêng dành cho nhà thuế trước bạ đặc tại đường Catinat (nay Đồng Khởi) thường gọi “Sở bách phần” đời thuộc Pháp.

Tôi khuyên Ba tôi đừng lựa khách sạn của Tàu, cũng đừng đến các nhà ngủ ồn ào đường Amiral Courber (nay Nguyễn An Ninh) và tìm đến nhà “Lương Hữu” nơi đường Carabelli (sau Nguyễn Thiếp) phòng sạch, giá bến đồng bạc (4$00) tuy khá cao, nhưng tránh được gái giang hồ, và mùng tàng ong trắng buốt, vải trái trên nệm không đốm dơ, giường đồng Hồng Kông có ruột gà nhún lên nhún xuống rất êm lưng, tuy phòng tắm vẫn xài chung đặt nơi một chỗ riêng, và cầu tiêu tiểu, vẫn là thùng bằng thiếc lớn, mỗi đêm giờ khuya, có xe bò đến thay thùng khác, gọi là “đổ thùng” và tục đồ thùng nầy lưu lại rất lâu, đến năm 1947, vẫn còn, năm ấy, tôi chạy lên đây, tá túc nhà quen ở đường Carros (sau là Thủ Khoa Huân), lúc đó sở đồ phân ngưng hoạt động, và sáng tôi phải thay y phục, cuốc bộ đến hầu hạ chờ lâu lắc nơi dãy cầu công cộng ở Chợ Bến Thành, mới trút xong bầu tâm sự. Sau những năm mất trật tự ấy, mới có đặt cầu tiêu hầm cho mỗi nhà và cho đến ngày nay, những xóm xa xôi, vấn đề nước ăn và cầu phóng uế vẫn còn chưa giải quyết ổn thóa. Tiến bộ chỗ nào?

Trở lại, năm 1919, Ba tôi sáng ngày dắt tôi đến trường trung học Tây Chasseloup Laubat, đóng tiền cho tôi nhập học xong rồi Ba tôi trở về Sốc Trăng để cho tôi một số bạc tiền túi rất lớn là non hơn một trăm đồng bạc lớn ($100), nhưng khi tôi mua sắm đầy đủ vật dụng (chiếu Nhựt bổn, mền vải trắng, phấn chà răng, ống khóa khóa tủ (tủ trên lầu ngủ và nơi phòng học (nay tôi còn giữ một ổ khóa giá mua 2$00 mà nay còn bền chắc) thì trong cái chỉ còn độ mười đồng, nhưng tôi lúc ấy như ngựa con được sút chuồng, được tự do là đủ quí.

Năm 1921, Ba tôi còn trở lên Sài Gòn, vì năm ấy bạn chúng tôi bỏ trường làm reo (grève) chống đối viên giám mục Thomas nhận tiền lo lốt, cho học trò trường tư Nguyễn Xích Hồng Taberd, v.v.., học chưa đúng sức mà nhận cho vào học chung với chúng tôi, làm mất thì giờ, vả lại các lớp lớn, cỡ Dương Bạch Mai, đã có ý làm cách mạng tuy chưa lộ liễu lắm, và Mai, Hanh, Tự mạnh dạn cầm đầu cuộc biểu tình đầu tiên ấy, viện có trường cho ăn quá cực, và trong lớp “Năm thứ 2” vẫn có mặt Hồ Văn Ngà, Trần Văn Thạch… cũng năm 1920/21 đó có phong trào “tẩy chay si noa (chinois) và không mua hàng Bombay vì Chà Chệc ăn ở bất xứng hiếp đáp, bóc lột, ăn gian, ăn bòn, cũng từ đây, đồng bào sáng mắt, tự đứng ra lập nhà buôn cạnh tranh với ngoại kiều, nhà François Sự ở góc Catinat và Dormay, buôn kim cương, nhà Nguyễn Đức Nhuận ở Chợ Cá, bán tạp hóa (bazar), nhà Nguyễn Văn Trận, con rể là Triệu Văn Yên đọn hai căn ở đường Bonard, bán tranh Thụy Sĩ, xà bông Cadum, son phấn Coty, hàng xiêm, hàng Tây, nhà Nguyễn Khắc Nương làm bánh ngọt, bán nước mắm Hòn đường Lagrandière, nhà Trần Quang Nghiêm lập Lực tỉnh khách lầu và bán đèn ết săng có măng sông, đường d’Espagne, nhà in Phát Toán, nhà đồng và bán sách ]. Viết, báo chí năm 1920- 1921, có Hồ Văn Lan, xướng tẩy chay, miệng la lớn để thò tay nhận của đút trấm họng của Chệc Chợ Lớn và Chà bán vải Chợ Cũ, phải đợi đến khi có tờ báo Đông Pháp I thời báo của Diệp Văn Kỳ, tờ La Cloche Fêlée (chuông tẻ) của Nguyễn An Ninh, mới có thể gọi báo có lương tâm, biết trách nhiệm…

Tôi đã nói như ngựa cơn sút chuồng không khác, nhưng tánh hư đã manh nha từ bé. Tuy cơn nhà thợ, nhưng bọc đời cứng đầu cứng cổ, không phục Tây nhưng số kiếp làm mọi cho Pháp suốt hai chục năm trường, từ buổi học trường trong cho đến khi thi đậu ra làm thơ ký, tôi gia tâm tìm hiểu về thành phố và gốc tích lịch sử đất đai và từ thưở ấy cho đến nay, bất bình vẫn là bất bình, Sài Gòn nào trong giấc chiêm bao và trong óc tưởng tượng là đẹp đẽ làm sao, nhưng Sài Gòn như mắt thấy vẫn là tè xấu xí.

Năm 1919, chợ Bến Thành, Chệc lũ khũ, vất vợ trong phố, tay cẩm ống điếu tre dài, miệng hút thuốc Tàu phì phà, đứa ở trần bày bụng như thùng nước lèo, đứa đứng chặt thịt quay, băm thịt xá xíu, rún che tạm một miếng vải dơ lời ngực lông lá xồm xàm, bọc quanh miếng đất trống, là nơi trước có cái chợ ngồi quá hẹp đã bị hạ bệ, dời chợ qua nơi gọi Bến Thành ngày nay, giữa sân cỏ trống chợ cũ ấy là ba hình đồng của Gambetta, lùn xịt, đứng trên bệ cao, mập ú, hai bên bệ là một lính thủy và một lính bộ, tay cầm súng dài, ba hình ấy, biết chạy, chạy từ Chợ Cô ra mé sau nhà thờ, có một lúc xưng là Vương cung thánh đường, rồi mỏi chưn, xê qua khu đất trống trồng cây sao trước đinh Toàn quyền (gọi đường Norodom vì mời vua Miên đến khánh thành nay là đường 30 tháng 4, tôi không nhớ rõ), và có một lúc ba hình nầy được dựng ở vườn ông Thượng, cũng gọi là Vườn Tao Đàn, kịp đến năm đảo chánh 1945/1946, tính lấy tượng nấu lấy đồng đúc đạn, để chống Pháp, khi ấy mới tổ ba hình đồng nẩy vẫn là đồ vô dụng, không phải thật đồng vỏ cua mà đích thị là đồ giả, Pháp gọi ersatz, vì lão thợ đúc tượng trước kia, muốn hoặc thủ lợi nhiều, hoặc cố tâm không cho dùng kim khí nầy qua việc khác, nên đã pha chế thêm thuốc kín làm cho khi nấu chảy thì được một chất nứt nẻ không dùng vào đâu được nữa. Sẵn đây xin nói luôn, nhơn đọc báo thấy bạn cũ Sơn Nam, viết từng: “vườn ông Thượng, cũng gọi vườn Tao Đàn, ông Thượng là ám chỉ toàn quyền Pháp Maurice Long, arc Maurice Long, là vườn ông Thượng Maurice Long này”, nay tôi xin dựng chứng cớ, Maurice Long, nguyên là thân sĩ bên nước Pháp, đắc chỉ qua đây làm toàn quyền hai lược, lần đầu từ 21-2-1920 đến 17-12-1920 (theo chỉ dụ ngày 10-12-1919), một lần nữa từ 1-4-1921 đến 14-4-1922, tuy vậy thật, nhưng khi chú ng tôi bỏ trường, tựu nhau tại vườn này làm reo để kẻ bị đuổi, người bị mất học bổng, cũng vào năm 1920 – 1921 ấy, thì danh từ “Vườn ông Thượng” đã có từ trước, (không lý ông Long tự cho cho ông, và tức nhiên phải ông sau suy tôn ông trước làm vậy, phải có một quãng thời gian khá lâu, trái lại nếu danh từ “vườn ông Thượng”, chúng tôi lúc biểu tình, đã nghe đầy tai, tức đã có từ trước lâu rồi, vậy xin đính chính: “ông Thượng được lấy tên đặt cho khu vườn này, theo tôi, là quan tả quân họ Lê, vì dân chúng ngưỡng mộ và tôn thờ làm thượng công nên lấy tên cho miếng đất trước thuộc lãnh vực chỗ ông Lê Văn Duyệt ngồi ngự trị, chớ ông Maurice Long, đã là thống đốc toàn quyền cỡi Đông Dương nầy, thì chức vị lớn hơn chức thượng thơ kia rất nhiều, sự thật cho ta thấy sau đó toàn quyền P. Pasquier, lật đổ một hơi, bốn năm ông thượng thơ ở Huế (Bài, Đại, Liêm, v.v.) chớ đâu màng tưởng chức “thượng” này, “thượng” kia đâu, vả lại lỗi của bạn Sơn Nam, đáng lướt qua, phàm viết nhiều viết mau thì tránh sao khỏi sơ sót.

Đây là bàn với nhau, gọi nhắc và nhớ nhau, chớ không phải bắt tì bắt ố. Nhắc lại, năm 1919, từ nhà ga xe lửa Mỹ Tho bước ra, Ba tôi và tôi, được xa phu xúc gọng xe mời, Ba tôi nhã nhặn từ chối rằng chợ Bến Thành trước mắt, và tôi bỗng giựt mình, té ra Sài Gòn nhỏ xíu, không phải như trong óc tưởng, đồ sộ nguy nga, bóng cây yêm tợp, gió mát dịu dàng.

Ôi! Bước đầu tiếp xúc tôi đã có một ý tưởng không được tốt với cảnh phồn hoa Sài Gòn này, Duyên hay nợ Nghiệp vĩ hay tiền căn, muốn làm ông viên ngoại ngồi góp lúa ăn lộc già nơi tỉnh quê Sốc Trăng, muốn mà không được, nay được làm tên mọi giữ của và làm tên biên chép tào lao, mặc cho đời xét có công hay đắc tội. Khi Ba tôi, sắp đặt cho tôi vô học trường theo ý muốn xong và lui về xứ an bài rồi, tôi ở lại, việc đầu tiên nơi trường, được tắm chung đưới mấy cái bông sen phun nước phong tên lên trên đầu xòa xòa, tôi tính ngộ, nước mát mé, ngọt xớt, trong ngần, thôi cũng còn hơn nước giếng nước ruộng dưới mình một bực! Cơ khổ thì thôi, khi mãi lên bốn giờ chiều, chợ Bến Thành lặng trang, quét sạch và đóng cửa sắt, không một người được ở lại bên trong, vì tránh trộm đạo, nơi mái hiên cũng không ăn mày ăn xin nằm ngủ đêm khuya, vì quá trống trải, gió lạnh, thêm lính phú lít và biện Tây không dung tha sợ bị bắt về bót, nên bọn hành khất tìm chỗ ngủ nơi khác, nay ngày nghỉ học, ở trường ra, cag Mới Sài Gòn quá tấp nập vui và náo nhiệt hơn chợ tỉnh mình nhiều, quán sách Lê Mai, bán tạp chí Nam Phong và Hữu Thanh, bốn cắc, năm cắc mỗi số lẻ, tiếc cho mình, không đủ tiền mua… còn trên đường phố, kèn xe hơi inh ởi, từ xe lớn chạy rầm rầm, chở người đầy nhóc, đến thứ xe hai bánh cao su do người kéo, vừa kéo xe, miệng vừa hô ép ép, chuông xe đạp, quen gọi là “xe máy”, thêm có thứ xe chạy trên đường sắt, gọi “đường rầy”, xe cả dọc, gọi là xe điển, xe điện, chạy nghiến bánh còi thổi điếc tai, ở tỉnh mình đâu có như vầy và giờ trưa xế chiều, mấy thầy ở hãng, mấy ông ở sở, mãn giờ về nhà, lòng tôi rộn rực, vừa suy nghĩ: Ồn ào như vầy hoài, chịu sao cho thấu, lại thầm ước ao trông mau học xong, thử đóng một vai tuồng làm thầy thông thầy ký, nghe nói họ quen ăn của đút, thứ mình cũng hành nghề như họ mà đừng thèm nhận của hối, cho xứng với lời Ba mình đạy, cho khác với họ, xem có được chăng. Và sau này, quả khi học thành tài, từ năm 1923 đến 1927 – 1928, về làm thơ ký nơi trường máy của ông Rosel, vừa có lập nhà hàng Charner nơi gốc Bồn Kèn, ngồi ghế đá nơi lề đường, ké né dòm vào hãng Tây nầy, xét thấy phận mình ti tiện, nhà gì có vách bằng kiếng pha lê dày, trong trẻo thế cho vách gạch, cả tòa xây cất bằng sắt đá mà vén vang không thấy nặng nề, gạch miếng nhỏ lót thế cho gạch Tàu, láng cốt, trên trần nhà có quạt máy cánh quây vo vo, hàng hóa bày la liệt quên thôi, thang lên lầu thì khoanh tròn đi mát cẳng, thêm có thang máy đứng lên nó, nó rút mình lên lầu thượng êm ru, còn nhớ tiên khởi, bị thang máy hãng Charner rút lên một cái, tựa như bị hỏng giò, sắp té, may vịn và níu kịp… lúc đó chắc lốt nhà quê của mình không lọt qua khỏi mắt tinh ranh của mấy cơn đầm lai cùng chạn với mình, chúng mi là trẻ mồ côi bị bỏ rơi, nhưng chúng mi dựa hơi kẻ mạnh cướp nước, chúng mi hỉnh mũi, lát nữa ta ngồi xong vào bàn khách, kêu một cái sọt bê (kem nước đá xi cô la), gái chỉ có bốn hào, thứ chúng mi phải bưng lại cho ta dùng, ai trọng ai khinh, thì biết: Màng tưởng tượng viễn vong, lốt nhà quê bay tan hồi nào, chỉ còn lại một thằng học trò trường tỉnh mới lên đây, gót chưa sạch phèn, thân bé mọn xếp ve như con gà độ, mắc mưa, mấy lần đi trên đường Catinat, không dám dòm ngó vào nhà hàng bán cơm Tây Continental, mấy tên đọn bàn, dựa hơi cọp, ta đuổi, cái thứ ở mướn ở đợ không biết xấu lại còn làm phách, nhưng nghĩ cũng phải, thi đậu có cấp có bằng mà đồng lương một tháng, chỉ bằng giá tiền mướn phòng một ngày và đêm nơi đây, lúc ấy chớ chi có ai hô “Sài Gòn là kinh đô của hoàn cầu’, ắt tôi cũng một bề không dám cãi!

Mà quả như vậy, có một hôm trường cho nghỉ vài ba bữa nhơn lễ ki tô gì đó, bảo chứng (correspondant) cho ngồi xe song mã ngoạn cảnh, xe êm gió mát, càng làm cho điếng hồn hơn nữa: Dọc mé sông, nào là Sở Thương chánh (nhà đoan), nào là Đông Dương ngân hàng, cột cờ Thủ Ngữ, nhà hay dinh chủ lãnh Thủy binh, sở Ba Sơn sửa tàu đi biển, nhà các dì phước, tu viện do Nguyễn Trường Tộ xây cất rồi qua Sở Nhà Rồng, bến tầu hàng hải, nơi gọi Lăng Tô (phái láng tên Thọ, đọc giọng Tây cho nghe oai hay chăng?), dưới nước thì đông nghẹt tầu ghe, đi ngang Khánh Hội, bên mé kinh Tàu Hủ này, bên kia là nhà của thầy dạy Việt văn, quan đốc Nguyễn Văn Mai, chủ tiệm Quỳnh Mỹ vựa nước mắm Phan Thiết, nghe và nhớ năm trước, ông khoe trước nhà ông thường có ghe nước mắm ngoài ấy vào đây sinh nhai, không biết ông Tất Thành, Ái Quốc có từng lưu gót nơi này hay chăng, sử sách sau này sẽ cho biết, còn bên ni kinh là vùng Cầu Kho, nơi xưa kia có nhà của Huỳnh Tịnh Của, Tôn Thọ Tường và chỉ biết và còn lại là nhà mồ của Trương Vình Ký và nhà bà Hà Minh Phải, dựng trên nền nhà ông Sĩ Tải và Sĩ Tải là biệt hiệu của nhà thông thái miền Nam, Trương Vĩnh Ký đó chi.

Tôi ngồi trên nệm xe êm ái, nghĩ miên man, xe đảo vòng thầy Cầu Mống cong vòng cao nghều nghệu (nay bết thời, chờ ngày búa thầu đến đập phá), xe tới xóm Chợ Cá, thấy sở Ngân khố trung ương, Nhà Nước Tây để lại, choán gần đầy nền trống của chợ cũ ấy, Chệc Chà lúc ngúc, ngó đâu cũng có mặt chúng, chí đến mấy quán cóc sạp gỗ nóc thiếc, bán thập cẩm hầm bà lằng, bao diêm, dầu cù là, xí mụi, ô môi, cà na mặn, cánh chỉ, toàn những thức ăn ngon mà trẻ em ngày nay chưa từng thưởng thức và biết tên và toàn là đồ nội hóa xí gạt, bưởi Biên Hòa hái đem về để ít lâu cho da trổ màu vàng, treo vào giỏ với nhãn hiệu bưởi “bên Tàu” (nay còn lại với tên bình dân “bưởi Năm Roi”!) và một thứ cơm nếp có quết chút ít sầu riêng vừa đủ mùi đặc biệt của giống quả ấy, lại bán cao giá với nhan gạt gẫm “mút sầu riêng” từ Nam Vang, Băng Cốc mang về (ăn đồ ăn nội địa dưới danh hiệu ngoại bang, ngu mà không chịu là ngu, lại khoe có như vậy mới là khoái khẩu, nói nôm na là sướng miệng).

Lúc làm thơ ký nơi trường máy Kosel, có dịp thưởng thức cơm Tây nơi nhà hàng Rotonde, sau đó hãng Denis Frères mua đứt nhà bán cơm này và nới rộng hãng, từ ngày Giải Phóng vô đây, phá bỏ hãng Denis Frères, thay vào là hãng mới của Nhà Nước ta, dưới danh hiệu “sở chuyên về thủy sản, tôm cá bán ra nước ngoài”, tôi nhớ lại quãng tuổi còn đi học, ngang Rotonde, có nhà báo Trung Lập, là báo Việt do báo Pháp “L’ Impartial” biến ra, không hiểu vì sao nhà báo TL. (vị trí là rạp Majestic và bây giờ là nhà hàng Cửu Long) lại tô vách màu đỏ như máu, thấy bắt lạnh mình, từ đây hướng về nhà thờ có cửa hàng Giuntoli, và Caffort, chuyên bán kim cương, hột xoàn, Caffort thì bán súng đi săn và súng bỏ túi gọi súng sáu (lục liên), nhà Tàu bán cổ ngoạn Phác Ngọc (Faa-Yue) và nhà Vương Ngọc Ký (Woong-Yue-Ky) hai ba nhà bán thuốc Tây, hiệu Pharmacie Normale, Pharmacie Centrale gì gì đó và hiệu Solirène, kế nghiệp Pharmacie Holbé et Renoux là cổ nhứt, một tủ kiếng có chưng bày hình nộm mặt mày như sống, nhà bán sách thì có hiệu C. Ardin và hiệu Albert Portail, nhà bán vải lụa mắc tiền đó có nhà Marty ngang ngang tờa đô chánh, và đừng quên đường nay là Đồng Khởi, có nhà Courtinat và nhà Tourier, nay là cao ốc Caravelle, và cũng đừng quên tiệm buôn thực phẩm đồ sộ A. Hy (tiệm Chú Hỳ, bán từ phó mát, thịt giò ram bông (jambon), cá hộp, rượu Tây, muốn hỏi mua giống gì đây cũng có.

Xe Sáu Thiệt, cặp ngựa chạy móng khua dòn trên mặt đường tráng nhựa, chạy ngang Nhà Hát Tây nguy nga, trước mặt nhà hát có ghế xanh, tượng đồng, ghế xanh bằng gỗ nay vẫn còn, duy thay ghế đá, tượng đồng tưởng thiên niên nay đã hóa kiếp, luật tuần hoàn là vậy, tượng Một Hình, rồi cái đầu bằng đồng đỏ của mụ Ngô Đình Nhu, lăn lóc kéo chạy vo vo rồi liệng mất, trong khi con đò Thủ Thiêm xưa để lại câu hát bất hủ: “Bắp non mà nướng lửa lò…” vị trí bến đò còn đó, duy chiếc ghe mỏng manh nay là một chiếc phà thiết giáp, và tổi tân tiến hóa là bến phà xê dịch vài tầm thước, tránh chỗ cho hải đảo Úc châu đặt quán cơm và bán rượu trên Thủy lâu.

Thú thật, tôi thà chịu nhà quê, nhịn tiền mua sách – tỷ như ba tập, Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố chúng ta và Thành phố Hồ Chí Minh – đói xơi cơm nguội, hơn là làm sang bước cẳng lên phòng ngủ nổi mặt nước này và thà chết khát chớ không dùng ly nước chanh trên chiếc tàu lêu bêu từ xứ con Căng Ga Ru Úc nầy.

Tôi nhớ hoang mang và viết lại không đầu không đuôi, mấy buổi xế chiều, ghé tạm trước nhà thờ ngang nhà dây thép, chờ giờ trở vào trường, một lần gặp một lính lê dương nửa say nửa tỉnh, dạy rằng: “Nước mầy, đàn bà không hôi, cho nên không biết làm dầu thơm (nước hoa), còn đàn bà xứ tao, uống rượu nhiều, tiết ra mồ hôi nồng nực, nên phải chế ra chất hương nước bán bớt mùi kia đi và tao đã quen mũi, thiếu mùi hôi ấy thì chưa phải là đàn bà”. Giữa lúc nói ba hoa, bỗng một chệc con bán đậu phộng rang, ngồi gần đó, nghe lính say nói xàm, chệc con, mặc quần cụt, kéo vòi trong xà lỏn ra, tôi thấy tõ ràng, nó níu đầu con cu, nó bóp, nó làm thế nào, có một lằn xịt nhỏ xíu xịt ngay vào má tên lính, lính tưởng trời sắp mưa, lấy tay chùi má đứng lên đi mất, chệc con, ngó tôi cùng cười, dòm lại thấy hình đồng Bá Đa Lộc, to lớn dềnh dàng che chở, trái lại hình Đông Cung Cảnh, bé tí hơn núp dưới tay cha cả nầy, hai tượng đứng lâu mới chân, nhường chỗ cho một tượng Đúc Mẹ khác, duy bệ tượng bằng đá đỏ, làu làu còn mãi, trẻ con Tây rồi trẻ bụi đời, phá phách nhiều đời mà đá kia vẫn bóng.

Vào giỏ tre của Chệc mua ve chai, còn khá, đời nảy toàn là phù du, làm học giả cũng không xong. Oanh liệt như Chu Ân Lai, cũng hỏa táng cho đừng còn dấu tích… thánh như Ghadhi, mà cũng bị cuồng điên ám sát, có lẽ như vậy mới xứng là ông thánh chăng? Một dòng họ Doumet, ông qua đây chức là thống đốc toàn quyền, xây dựng mở mang rồi bỏ đó trở về xứ làm giám quốc, mấy đứa con, đều chết cho nước ngoài mặt trận chống Đức Phổ, tiệt tự, chính thân ông cũng bị tên cuồng đồ Nga Gorgouloff bắn chết, làm chánh trị can trực cách mấy cũng không tránh được viên đạn của đứa điên, đã nói là phù du, đời này đừng mong xây mồ đẹp mà còn tồn tại, không có công của Trương Vĩnh Ký in tập “Thông loại khóa trình” (Miscellanées) bán trọn năm giá sáu các bạc (0$60) thì chúng tôi và kẻ hậu sanh làm sao biết được văn chương ngoài ấy và bộ Nam Phong của Phạm Quỳnh, xưa giá ba hào lên bốn hào rồi tăng lên năm hào, nay toàn bộ giá mấy chục lạng vàng mà Thích Tâm Châu tìm mua không có, còn định xin sao bản của tạp chí này còn lưu trữ tại Thư viện quốc gia của Pháp. Đúng ra thân cát bụi, đừng trông trường cửu, các vua Ai Cập là hách, nay còn lại xác khô để chưng bày nơi vài viện bảo tàng, có lẽ nếu viết được thì nên viết, thiếu chi giấy in nhám nhí, hết bị đốt rồi trở lại tái bản lộn lạo chung với cảo thơm, Lục Vân Tiên của Đồ Chiểu, ngoài ấy, Nghiêm Liễn in dư ngót trăm câu, truyện Kiều, có câu ‘Thì con người ấy, ai cầu làm chi”, lúc Tiên Điền viết câu ấy thì vua Tự Đức chưa chào đời thế mà ngày nay có người dám đại ngôn, vua ghét Nguyễn Du phạm thượng. Nói nữa nhàm tai, tạm kết luận giấy má, sách viết trên lá bối, lá tre, giẻ rách có chữ viết, tìm gặp trong hang Đôn Hoàng bên Trung Quốc, thế mà tồn tại và bền hơn xác người. Ấn Độ mấy đời vua đều độc tài, Phật giáo, Hồi giáo, v.v. tranh nhau phế hưng nhớ làm sao hết, xin lấy một tỉ dụ nhỏ, vua Shah ]ahan, thương vợ mà ham chiến tranh, ra trận, bà hoàng hậu chờ không được, tắt hơi, vua trở về xây bạch cung, tốn hao cả mấy trăm ngàn triệu đô la, hai chục ngàn thợ khéo kéo và lao công, hai chục năm kiến trúc, đừng trách vua lãng phí, dẫu chi nay cũng còn lại bạch cung Tai Mahal, cho hậu sanh thấy được một kỳ công vô song trên thế, tượng trưng cho một mỗi tình bất diệt, đá cứng có vân hoa đục trổ khéo như đăng ten lụa móng, dát ngọc nạm vàng, đến lượt Shah lahan mướn xây bắc cung cho mình, thì vua bị đứa con út Aurangazeb khởi loạn cướp ngôi và giam nhốt vua trong thành Agra suốt tám năm dài, vua Shah Jahan mãn phần năm 1666 (thọ 74 tuổi), dầu sao vẫn còn lại lăng Taj Mahal lưu truyền hậu thế, không bì vua Kiền Long nhà Thanh bên Trung Quốc (1736- 1796), thiếu chi cung phi mỹ nữ, lại cũng mê sắc một bà hoàng hậu đạo Hồi, vua Tàu giết vua Hồi, đoạt vợ, nhưng bà này một lòng thủ tiết, Thanh đế Kiền Long đem về xây cung mới theo kiểu cung Hồi, phong làm “Hương phi” nhưng vẫn không lay chuyển lòng sắt đá của nàng trinh nữ, bà ưng cho thái hậu ra lịnh treo cổ, ba thước lụa điều dát mối tình không nguôi của vua nhà Thanh, sai làm lễ an táng theo bực quí phi, vua cái thế mà không chiếm được tình một gái Hồi, bên nước ta, bà Huyền Trân, khỏi bị hóa táng theo chồng Chàm, còn lại bao nhiêu Tây Thi, Bao Tý, Mụi Hỷ, Đác Kỷ, Dương Quí Phi, lầu Trích Tinh, cung A Phòng, nay chỉ còn ghi trong sách, điện cổ Đế Thiên Để Thích, bọn lưu manh cướp cạy lần hồi, nhưng điện đá vẫn còn khá khá, đáng thương cho cung điện bằng gỗ nơi Huế đô, mối, mọt, bàn tay nhám của quân tham, vài mươi năm nữa đâu còn gì… lăng tẩm xây bằng ô dước, tưởng được đời đời, ngờ đâu lớp gió bão, lớp búa to kẻ trộm đồ cổ, những cổ tích đất Thần kinh rồi cũng không còn, lăng Kiền Long, vùi dưới năm chục thước đất bề sâu, cũng bị moi lên lấy của quí và tại sao nay báo chí vẫn còn kể lại, lăng cổ Tần Thủy Hoàng, còn gặp hình nhơn bằng đất lớn như người sống, vua Khang Hi (1662 – 1722) (thọ 70 tuổi), minh quân, sáng suốt, mà không trị được bầy con đông, khi lâm chung, các hoàng tử tranh và giết nhau để giựt ngôi, ô hay, duyên trăm năm cũng đứt tình phụ tử cũng phai, vàng, ngọc đều mất mát, chỉ cát bụi trở về cát bụi, trước khi là tóc bạc răng long và mối trường hận bên lòng hết ngang dọc cỡ Hạng Vương, xin chút nới tay, bớt đập phá và xin chừa lại chút ít cho hậu thế biết những gì là đồ cổ, đồ xưa, điện vua, đền thánh, miễu thần, hãy bớt bớt kiêu căng, tưởng mình vô địch, kìa kìa Tứ thần, Tạo Hóa trên cao vẫn có ông Trời, người muốn mà Trời không muốn, thì sứng mạnh, sức bền, cũng trở về bụi cát…

Sống dai có ích gì, hãy sớm sớm để sự nghiệp lại, càng mau trao tay, càng được giổ quải, khóc nhiều, miệng chúc cha mẹ bách niên, bụng thèm những gì trong tủ sắt, và số bạc ký quí nhà băng, hôm nay chủ nhựt 17-6 ngồi đánh máy mấy hàng ngơ ngẩn nầy, pháy pháy giọt mưa, không tiền đi ăn phở sáng! Khi chết rồi, thây thì về nằm nơi đâu, mình trăn trối mà nó chẳng làm theo, vọng mơ nghiền nát ra tro, sẽ lén rắc tro ấy trên bồn cỏ xanh trước viện mà suốt mười bảy năm làm quản thủ với đồng lương công nhựt hạng thơ ký tuyển dụng, hồn còn phảng phất nơi chốn làm việc cũ, thế mà yên lòng hơn, còn của cải, muốn thấy có người ghi chép, giữ cho đừng mất, và lưu lại nơi một chỗ vừng chắc, cho người đi sau thấy chút công trình mót máy sưu tập, đừng để những chút di tích cổ thời phanh phui bán rẻ và nhớ câu xưa Ba tôi thường nhắc: “Nhơn sanh vô bá tuế, Uổng tác thiên niên kế.”

Ấy đó, tôi ngồi xe song mã, mắt mở trao tráo, mà không khác chiêm bao, ngày nay ghi lại, lộn lạo trước sau, pha chuyện cũ với chuyện nay, ba đào thay đổi, xin người đọc, thứ tha cho sự xáo trộn trong óc lão chín mươi tuổi này. Nhớ trong sách ấn, triết lý của người da đen dạy không nên lắm lời, nói quá nhiều ắt có nhiều lỗi sai, và phần đông, miệng đàn bà, sắc càng đẹp, lòng càng hiểm hóc, vua nhà Minh, Châu Nguyên Chương hắn nói: “Nếu trong số phụ nữ, không có người đã sanh ra tôi, thì tôi có thể cho giết hết phái cái, mới bớt có loạn trong xã hội”, và chính bà Tây Thái Hậu, mẹ vua Đồng Trị trước khi băng, còn dặn lại: “Không nên để cho đờn bà cầm quyền…” đa ngôn thất thiệt, lắm lời, lời sai. Xin viết thêm vài trang, nhắc lại những gì đã thấy năm 1919, bắt tay biết Sài Gòn, rồi sẽ viết thêm vài mươi trang tớm tắt những gì nghe thấy lúc bóng xế tuổi già này, đánh dấu mấy phen sống và chứng kiến những đổi thay mảnh đất Chàm qua Miên, nay làm chủ là dân Việt Miền Nam, cháu con phần đông là dân tránh nạn bắt lính buổi loạn lạc, pha lộn với người bị chế độ phong kiến đày vào đây khai thổ lập ấp giống dòng người Ngũ Quảng và Miền Trung còn người phương Bắc lâu sau mới có.

Bên hông nhà dây thép lớn, có trường Da tô danh gọi Taberd, mấy từng cao như tán nhốt và khuyến dụ học trò theo đạo mới, kể đó là nhà in ông Nguyễn Văn Của trước ở đường Ca ti na, trên làm khách sạn Hôtel de France, sau mua đất dời về đây, cho đến mãn phận vẫn ưng chức huyện hàm “Huyện Của” và vẫn hiển từ không quên cảnh nghèo buổi nhỏ, tay xách đèn lồng cho chị đi bán bánh ếch, bánh da lợn, ít hô ếch, da heo đổi làm da cơn lợn, lạ chưa?

Xe quẹo ra đường Norodom nữa, dơm thấy phủ Toàn quyền, nguy nga trước một hàng cây giá ty, trồng từ đời Trương Vĩnh Ký mà không thấy lớm, hai hàng cây sao cổ thụ, mọc như bàn cờ che mấy giếng chứa nước ngọt xưa, trông lần lượt tả hữu là nhà tiệc của bọn võ quan Tây, hãng bán xe hơi và chế tạo xe xích lô, chủ là Jean Comte, mà phu xe đã gọi quen tai, “thằng Công, trước làm công chức phủ toàn quyền, nay lập hãng, mau có tiền về hưởng bên Pháp quốc. Có tòa án nhà binh, kế bên là dinh quan Sáu sau đổi làm dinh đại sứ, nhà thờ lạc đạo, nay là nhà âm nhạc (nay đây là 1990), đồn lính sơn đá nay làm đại học xẻ đại môn thông quá đường Đình Tiên Hoàng, giúp cho khỏi bế tắc sự giao thông, lính thì phải gan dạ ở xa trấn giữ cho dân, Pháp lại để lính ở ngay thị tứ châu thành, từ đồn lie R.I.C nẩy xuống Chợ Bến Thành, trước đây xa phu kéo xe kéo tay, thường bị sơn đá nhón mông mô xu lúi trong thùng xe, có một phu xe bị mất tiền hoài hoài, nghĩ ra một kế lạ, vẫn đẩy xe đón lính Tây xuống chợ, anh phu đa mưu, nhốt sẵn mấy con cua cắt dây cho bò trong thùng xe, lính Tây ăn quen, xe chạy nửa đường, nhớm đít đút tay mà, tiền không gặp, gặp cua kẹp đau quá lính Tây xổ nho, anh phu xe cong lưng chạy một hơi đến bót san đầm, hạ gọng xe phân chứng, bằng cớ ràng ràng, Tây cò phạt Tây sơn đá. Một phen khác, một anh phu khác, chở sơn đá đi kiếm gái, mấy phen bị đổ lợp, ngồi xe gặp gái, làm lơ không trả tiền, anh lập tâm chờ một phen nọ, kẻ cắp gặp bà già, anh không cho cua kẹp, nhưng anh đưa xe đến vườn thú, lúc ấy chưa có hàng rào kiên cố, anh đút xe ngay vào một lùm óc ó, anh lẹ chưn thoát kịp, lính Tây bị ong vò vẽ túa ra đánh chích cho biết tài, vò vẽ bảy con, thay nhau chích trâu, nọc độc bảy con đủ chết một trâu tơ, san đá Tây mà sức mấy! Buổi ấy trường sư phạm xây thêm lầu, ở chung với chuồng cọp, nên gọi trường Sở Cọp, học trò trường tính có xẹt, học đủ bốn niên, thi đỗ, bổ làm giáo viên, phải trả nợ áo cơm làm đủ mười niên, bằng như muốn đổi nghề, phải trả đủ bốn năm học bổng, nhưng lắm trò tuy học giỏi mà làm thi rớt, khỏi trả học phí, như Nguyễn Văn Công, ra làm bút toán cho hãng Denis Frères, lương cao, như Trần Khải Hoàng, chúng tôi đặt tên là Bố Lí Mài, Hoàng nói tiếng Hẹ (khách gia, Hakas) không khác chệc Lù, và nói tiếng Pháp như lặt rau, giọng Pa ri diên thế mà Hoàng vẫn không đậu, ra trường làm nghề bán xe hơi Wippet cho hãng Garage Charner, mỗi xe bán, Hoàng lời gấp mấy lần lương thầy giáo, có tiền nhiều, sắm súng mạnh, cùng đi săn với vua B.Đ. bắn cọp bắn voi, Hoàng khuyên tôi đừng tin nhiều nơi cao hổ cốt, Hoàng chơi với bạn hết lòng, mỗi lần chạy xe mới xuống rao hàng ở Sa Đéc, ghé nhà tôi, cơm thì còn, thức ăn đã hết, mời đi quán, Hoàng từ chối, sai lấy cơm nguội và chút nước thịt kho, Hoàng lua ngon lành sạch nồi, nhưng phải có ớt thật cay, và tánh Hoàng giản đị, coi tiền như nước, anh em chúng bạn đều cảm mến, trước đây, sau năm 1975, Hoàng bị nạn lật xe, cưa mất một cánh tay, đến nhà tôi ở Bà Chiểu, cùng nhau nhắc lại chuyện xưa, rồi hai tôi không gặp nhau nữa, Hoàng, Bồ lí mài, ở Phan Thiết còn tên khác là “Mua”, Trần Khải Hoàng, mày ôi!

Xe chạy lòng vòng, đếm giờ tính tiền, mỗi giờ ba đồng bạc tròn (3$00), nãy giờ đã mới mắt nên xem không được kỹ càng nữa, lộn xộn nào dinh Thượng Thơ ở góc đường Đồng Khởi và Lý Tự Trọng ngày nay, đã cổ hơn trăm năm, nghe một ôrg già làm tùy phái lâu đời, thuật lại lối những năm 1865 lối đó,

Tây xây cất dinh này, chỉ có lao công gánh gạch và xi măng là Việt, bao nhiêu thợ hồ thợ mộc đều lính Tây chuyên môn xen một mớ thợ rành nghề là người Quảng Đông, dinh Phố soái, sau đổi gọi dinh Thống đốc, ngày nay là viện bảo tàng, trước có dựng hình hai đàn bà giữ cửa, Hoeffel sai phá đi xây lại ít lố lăng hơn, sát bên dinh, cách một con đường MacMahon, lại là Khám Lớn, cửa giữa có đắp một đầu hình to, trên trán xiềng một sợi dây gai, mắt nhểu mấy giọt lụy to bằng ngón cái, miệng mếu lòi mấy chiếc răng xếu xáo, cần chi bày hình ghê tởm và lạ thay chỗ nhốt người yêu nước, đối với họ là có tội, nhưng khéo nực cười, vẫn là khách bàng cận của viên đầu đảng của bọn cướp! Cướp nước của chúng tôi, lính Tây chết vì bịnh hơn là vì súng bắn, người thừa hướng là bên Ky tô giáo, choán ruộng, và đem tiền gới về Tàu là chệc… ngang

Khám Lớn là tòa pháp đình đồ sộ, xe đổ về hướng chợ cũ, có dãy chùa của người Ẩn, dòng Chetty làm nghề cho vay bạc, nuôi chi giống bồ câu phóng uế dơ nước mưa, mấy năm thịnh thời, rằm tháng giêng có cộ Chà, xe nặng cả mấy trăm kí lô, khi cho bò kéo, khi bắt người mê tín thế cho bò, bò cho ăn tẩm bổ dừa nạo, đậu xanh, người cho đóng khố, trần truồng, trên lưng có móc hai móc sắt dính liền qua sợi lòi tói sắt khác nữa, tôi đứng gần vẫn không thấy tay bợ để lén giúp sức nào, thế mà bốn người mặt bơ phờ mất thần ấy, chưn đi vính cướng, khệnh khạng như gần tắt hơi, thế mà xe vẫn di chuyển tới trước, thiệt là lạ, trên xe, toàn là bạc rồng chạm trổ làm tháp, đặt tượng một Phật bà, trên cao, ngày nay, phá nghĩa địa Mạc Đính Chi mà nào thấy ma hiện hình, nhưng tại sao năm 1919, cộ đèn có đốt pháo bông, đêm rằm tháng giêng, Chà chưng cộ, người thế cho bò, kéo xe đi được một khúc đường ngang của chùa, và xe ấy được đưa đi giáp khu chợ cũ, được thay người kéo lưng bò lông trắng, bò đực có sừng nhọn hoắt, chót sừng bịt bạc, phải mắt thấy mới tin và hãy khoan cắt nghĩa theo khoa học việc này…

Trên đây là cảnh lộn xộn, không trật tự, thấy bởi một tên học trò nhà quê tính Sốc Trăng lên đất Sài Gòn lần thứ nhứt, năm 1919, nay thuật lại cũng tên trò ấy nhưng đã tám, chín mươi tuổi đầu, nhưng trí óc còn minh mẫn, duy tí đã bất chấp lề lối, và cách diễn tả nầy, những bạn nhỏ tuổi, không nên dựa theo đó mà ước định Sài Gòn năm xưa là thể nào, các bạn lão thành nay đã không còn, phải là người cố cựu sanh sống tại đây nhiều năm, họa may hiểu tôi đây muốn nói gì, và xin thách ai kia thử viết cho có trật tự xem nào, hay là cũng phải để cho ngòi bút sắt hay máy đánh chữ tha hồ ghi lại như vầy, chưa phải là phóng bút, có lẽ là loạn bút hay chăng, nhưng dẫu sao, tôi tưởng cũng đã nói được những gì chất chứa trong tâm não, nay có dịp phô bày cho hả hơi và như vậy, có cần gì là trật tự. Tiếp theo đây, tôi sẽ thử cố gắng, cũng một đề tài “cảnh Sài Gòn trước đây vài chục năm, từ 1919 cho đến hiện tại”, nhưng ngược lại, nghe và thấy, bởi một tên già đã trãi “ăn cơm nhà máy, uống nước phong tên đất nầy suốt ba phần thế kỷ”, tuy chưa phải sanh tại đây nhưng đã sống tại đây khá nhiều năm hơn nhiều bạn mới, và bài này, tôi cũng bất chấp trật tự, không ghi ngày tháng, chỉ nhớ sao viết vậy và nhớ tới đâu, thì viết tới đó, mặc cho người thức giả suy gẩm về sau.

(viết ngày 17-6-1990)

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Chương 4

Trong căn trại dành cho tôi và các bạn, những người cũ sẵn sàng ra đi nhường chỗ lại cho chúng tôi. Tôi đối diện với một chàng Mussidan 1. Trong lúc đó người ta làm quen với nhau thật mau. Cùng với các bạn của anh trong một đội cầu bầu dục, anh bị bắt ngoài đường như vậy, chẳng có lý do gì cả, và bị liệt vào loại khủng bố. Anh ta giải thích vắn tắt với tôi chương trình của trại:

– Cứ tám ngày là có một chuyến đi. Đồ ăn ở đây thì chẳng có gì phong phú nhưng hai lần mỗi tuần có súp do Hồng Thập Tự cung cấp, và lúc ra đi, hội nầy phân phát cho mỗi người một gói quà. Ngoài một vài việc tạp dịch, người ta để mặc kệ chúng ta. Anh có thể đi dạo, đọc sách và ngay cả đọc báo nữa. Nếu muốn đi xem lễ, có một nhà thờ. Vả chăng có một dẫy mà tù nhân toàn là linh mục. Thông thường, người ta có quyền hút thuốc nhưng không bao giờ thấy có thứ thuốc thơm. Nếu có tiền, anh có thể mua 400 quan một gói. Mỗi ngày đều có điểm danh, nhưng không kéo dài quá lâu. À! Anh nên đề phòng tụi can phạm cai quản trại giam. Phần đông chúng là những tên Hy Lạp có dính dáng đến bọn Gestapo. Hiện nay là Cogniot, anh biết đó là tên chủ bút tờ Humanité, y đóng vai trò niên trưởng, nhưng đã bị âm mưu thay thế. Từ sau đó, y trốn thoát với cả băng theo một đưòmg hầm dưới đất. Anh có thể đến đây xem, chỗ đó đã trở thành chốn hành hương của trại tập trung.

Một tin làm chúng tôi thích chí nhiều hơn nữa, tối đầu tiên của chúng tôi, có súp của hội Hồng Thập tự. Nếu có Hội Hồng Thập tự đó là do lỗi của chiến tranh, tuy nhiên vì có chiến tranh, dầu sao cũng đáng cảm ơn cơ cấu nầy. Súp ngon tuyệt và nhiều đến nỗi những kẻ chậm chân nhất cũng có thể được múc cho hai lần. Bao tử đầy làm cho tư tưởng được phóng khoáng, những tin tức hấp dẫn tràn ngập trong các câu chuyện, những tay tài tử rống lên các bài hát được ưa thích và một trong những người ở kế cận mời tôi chia xẻ một tàn thuốc lá.

Như đã định trước, hôm sau chúng tôi được đưa vào ở trại lớn. Chúng tôi được dành cho phòng số 6 trại số 5. Dãy trại rộng mênh mông có thể đi lạc dễ dàng. Trước kia được xử dụng cho quân đội bây giờ thì cho sự xuất cảng khổng lồ một số nhân lực không được trả lương, 48 người trong một phòng suốt một tuần lễ, vậy cần phải tổ chức cuộc sống một chút. Những người có trách nhiệm và những người làm tạp dịch được chỉ định một cách dân chủ và lập lúc các nhóm nhỏ khác được thành lập. Vì lẽ chỉ mua được cho mỗi phòng một hay hai tờ báo, người ta đi đến quyết định là mỗi tối sau giờ ăn, thông cáo và tin tức sẽ được đọc to cho mọi người đều nghe. Việc nầy lôi kéo việc kia, các họa sĩ được kêu gọi thực hiện các biểu tượng.

Đôi khi người ta mua một vài thứ rau và hành nơi nhà bếp. Với một vài củ khoai tây vô tình lượm được và một vài tặng phẩm của những người còn đồ ăn. Jim, một anh bồi pha rượu ở Repnes, nấu súp tập thể cho chúng tôi. Anh ta có cả hai đứa em cũng ở đây: một kể chuyện tiếu lâm với giọng Mạc-xây đúng nhất, anh kia hát thật hay: “Chất xám mà người ta vẩn trong ngón tay”… Anh nầy rất thèm thuốc lá” và ta có thể nói bài hát của anh phát xuất tự đáy lòng. Trong suốt thời gian ở đây, họ là những người bạn đồng hành vui vẻ nhất. Bên cạnh họ và các người bạn khác, lại còn có một nhóm cũng được mọi người chú ý nhưng về phương diện khác hẳn. Họ gồm những kỹ nghệ gia giàu có, công chức cao cấp tại một thành phố miền tây và thật dễ nhận thấy rằng quí ông nầy đã lợi dụng “Quốc Gia Pháp”. Lo sợ cho một tương lai không có gì chắc chắn, họ chơi trò ái quốc, tuy nhiên trò bắt cả hai tay rất nguy hiểm nhất là đối với những kẻ khoa trương, ưa chuộng hư danh. Va li của họ đấy đồ ăn, và mỗi bữa ăn của họ là cơ hội của một bữa tiệc linh đình. Do lòng thương hại, họ cho tập thể phần ăn được phân phát cho họ, tuy nhiên một tên đặc biệt hám ăn trong bọn họ nhất định ăn luôn phần của mình lấy cớ rằng sức khỏe bắt y phải ăn súp củ cải.

Tin tức xuẩn ngốc nhất được họ đưa ra là cơ hội đầu cơ về sự kết thúc của chiến tranh. Chúng tôi vừa nhận được tin Đồng Minh đổ bộ tại Nettuno, trong vùng Tây Nam Ý.

– Các ông thấy không, – một người trong bọn họ nói, – đúng như tôi đã đoán trước; Nga và Đức sẽ hao mòn dần và bây giờ thì Anh – Mỹ lặng lẽ đến. Nầy ông bạn, một ngày nào đó người ta sẽ thấy ông Thống chế không có sai lầm lắm đâu. Vả chăng, ai chứng minh được rằng ông ấy không có ăn cánh với Roosevelt và Churchill, bởi vì, sau cùng, rồi ra các ông không chủ trương sự thắng trận của Nga sô có lợi cho chúng ta đó chớ! Bọn Nga Sô là bọn bán khai! Rốt cuộc nếu phải bị ăn thịt, tôi thích bị người Anh hay Mỹ hơn. Vả lại, chiến tranh chưa chấm dứt. Ai nói với các ông rằng một khi Đức bại trận, cả thế giới không nổi dậy chống Nga. Lúc đó, mối lợi của Pháp là chờ đợi, và tôi sẽ không ngạc nhiên khi thấy các cường quốc yếu mòn dần sau một cuộc xung đột dài lâu, và đó còn là phương cách tốt nhất để tìm lại sức mạnh của chúng ta. Tất cả mọi cuộc âm mưu, ám sát chỉ làm cho bọn Đức nổi sùng và rồi chẳng được gì cả.

Người được ông ta nói các lời trên đây gục gặc đầu và thì thầm “Đúng, đúng, có thể!”. Tôi liếc nhìn quanh để xem tác dụng ra sao. Đôi khi họ lo lắng cho tương lai, và một người trong bọn, Cựu Giám đốc Kinh Tế, hỏi trống đám đông chung quanh:

– Nhưng rồi ra nếu người Đức bắt mỗi người làm việc theo khả năng chuyên môn, tôi tự hỏi họ bắt tôi làm gì. Lính thư ký chăng? Nhưng tôi đâu biết tiếng Đức.

– Rồi như để tự trấn tĩnh. – Nên chú ý rằng trong một xứ như Đức quốc, ai cũng biết, có trật tự và mỗi người một việc. Họ sẽ nhận biết thiện chí của tôi và tôi sẽ kiếm được một việc gì đó để ngồi vào.

Trong dãy trại số 5 có một bản đồ hành quân liên quan đến mặt trận Miền Đông, và trước tấm bản đồ ấy luôn luôn có một vài tù nhân nếu được nói chuyện với họ là cả một sự thích thú. Chính nơi đó, tôi làm quen được với Ramelin và Michael. Là sĩ quan người Serbie (Nam-Tư). Michael anh đến Luân-đôn bằng phi cơ chỉ có vài giờ trước khi chính quyền Belgrade sụp đổ vào tháng 3 năm 1941. Được thả dù trong nhiều sứ mạng khác nhau, anh lại để cho bị bắt một cách lãng xẹt tại Ba-lê vì một người đàn bà. Tại sao anh lại không bị đem bắn? chính anh cũng vẫn còn tự hỏi như thế. Anh giỡn chơi với cuộc đời như dự một canh bài tây, tuy nhiên cho đến nay, anh có thể kiêu hãnh cho rằng luôn luôn được bốn con ách. Dẫu sao đây cũng là một người bạn đồng hành qui báu. Chúng tôi quyết định tìm mọi cách để được đi cùng một toa xe, và điều đó, do nhiều lý do chính xác.

Có nhiều tin đồn, không kiểm chứng được, chắc chắn như vậy, nhưng đầy khích lệ, xác nhận rằng trong tất cả các cuộc di chuyển trước, đã có rất nhiều cuộc đào thoát và chuyến đi của chúng tôi không phải là chuyến cuối cùng. Không có lửa làm sao có khói và chúng tôi thấy rằng chuyện đó có thể được.

Chúng tôi bắt tay vào việc tìm kiếm tất cả những gì có thể làm cho một vụ vượt ngục từ một toa xe chở hàng hóa được dễ dàng. Dao lớn, giũa, cưa nhỏ v,v… Chúng tôi có năm người quyết định hành động. Các xó xỉnh nào cũng được viếng thăm với nhiều lý do khác nhau, trại nhà bếp, bệnh xá, nhà vệ sinh và tất cả các doanh trại đều trở thành các nơi quen thuộc. Kết quả tốt đẹp. Hubert và Pierre mỗi người kiếm được một con dao lớn, Ramelin, một lưỡi cưa, Michael một giũa lớn, tôi mang về được một chiếc kềm. Kho khí cụ được dấu ở một nơi chắc chắn. Những thứ đó không phải từ trên trời rơi xuống. Phải nghe, và quan sát đi tìm ra những đồng lõa quí báu! Một trại giam như Compiègne với hàng ngàn tội nhân đi qua, cần một số nhân viên thường trực rất đông gồm nhiều thành phần nghề nghiệp khác nhau, và nếu người lãnh đạo số nhân viên nầy bị mua chuộc, người ta vẫn có thể tìm trong số nhân viên cấp dưới những người tin được. Nhờ các buổi tạp dịch bên ngoài, họ đưa được vào trong trại các dụng cụ với số lượng đủ để “tiếp liệu”, như họ vẫn thường nói, cho một chuyến công-voa sắp sửa lên đường.

Trong tháng giêng, trôi rất đẹp, và sau cơn thử thách trong xà lim, thật là một sự khoái trá khi được dạo chơi thật lâu trong một khu vực rộng rãi. Đối diện với trại giam chúng tôi còn có các trại khác, cách một khoảng khá xa và bị bao bọc bởi các rào kẽm gai, trong đó tù nhân toàn là những người Anh, Mỹ dân sự bị bắt tại Pháp. Vì họ được tiếp tế dồi dào bởi các hội Hồng Thập tự của quốc gia họ, nhiều tù nhân tìm cách tiếp xúc với họ để mua thứ nầy thứ nọ và nhất là thuốc lá. Nhưng hiếm khi những người nầy thành công. Các công dân Hoa Kỳ không cần tiền Pháp, hoặc giả là họ thấy hổ thẹn khi bán với giá cắt cổ.

Ngày áp chót, mỗi người được phát một gói quà hậu hĩ, tượng trưng cho quà tặng của hội Hồng Thập tự dành cho chuyến đi. Thiếu thốn của ngon vạt lạ từ lâu, nhiều người chúi mui vào đó như ruồi thấy mật: bánh bơ, sô-cô-la, đường, bột trái cây. Tất cả các chỉ dẫn liên quan đến cuộc khởi hành vào ngày 26 tháng giêng, được thông báo cho chúng tôi đêm hôm trước sau một cuộc điểm danh tổng quát, chúng tôi gồm có 2500 người. Có nhiều thanh niên, nhiều người đứng tuổi, nhưng khốn thay cũng có nhiều người già cả. Trong thực tế, những người yếu đuối nầy làm được gì? Trong số nầy có một ông già, đến 72 tuổi, đang ngồi trên chiếc vali với bộ râu bạc và chiếc gậy chống, trông cụ giống như một Moise 2 tân thời giữa bộ lạc của mình, nhưng lần nầy Israel trở lộn về Ai Cập. Một nỗi buồn man mát đột nhiên xâm chiếm tâm hồn chúng tôi. Compiègne quả thật là một chỗ nghỉ xả hơi tốt. Tất cả những ai đã đi qua đó vào cuối 1943 đầu 1944 vẫn còn giữ được cảm giác khoan khoái giữa hai đoạn đường gian nan.

Với hành lý chất đống hỗn độn trên sân, chúng tôi trông giống như những người lữ hành không có tổ quốc, những “Heimatlos” chờ đợi phép lạ từ trên trời rơi xuống. Đêm tháng giêng nầy thật dịu dàng một cách đáng ngạc nhiên. Thình lình trong khu phụ nữ, một giọng đàn bà la lớn: “Các ông không ca lên sao?”

Có phần hổ thẹn vì đã ngần ngại lâu hơn, bài ca “Marseillaise” vang lên, ban đầu còn rụt rè, sau đó mạnh dần. Đối với đa số chúng tôi, đây là bài ca vĩnh biệt Pháp quốc.

——————————–

1Mussidan nằm trong vùng Dordogne miền Tây Nam nước Pháp.
2Moise hay Mosché, vị đệ nhất vĩ nhân của lịch sử. Do-Thái, đã lãnh đạo dân tộc Hebreux đi từ Ai-Cập qua Palestine, trong 40 năm.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Bài 26

Nhà giam cấm cố

Một chiếc xuồng đã được chuẩn bị sẵn sàng. Trong số mười chín tù nhân cấm cố sẽ có mười người di chuyển trước. Tôi được gọi tên để lên xuồng. Dega thản nhiên nói: “Không, anh này đi chuyến sau”. 
Từ khi đến đây tôi đã phải sửng sốt khi nghe cách ăn nói của các tù nhân. Rõ ràng là họ không đếm xỉa đến kỷ luật và có vẻ như chẳng coi bọn cảnh sát ra gì hết. Tôi nói chuyện với Dega lúc bấy giờ đã đến đứng gần tôi. Bác ta đã biết hết chuyện vượt ngục của tôi cũng như những chuyện khác có liên quan đến tôi. Có những người đã tiếp xúc với tôi ở Saint-Laurent có đến Quần đảo và kể lại cho bác biết hết. Bác ta không hề tỏ ý thương xót tôi. Bác ta tế nhị hơn nhiều. Chỉ một câu thôi nói tự đáy lòng: “Cậu rất xứng đáng thành công. Thôi để lần sau?” Thậm chí bác ta cũng không nói “Can đảm lên “. Bác thừa biết rằng cái đó thì tôi có thừa. 
– Tôi làm kế toán trưởng ở đây và có quan hệ rất tốt với ông chỉ huy. ở nhà giam cấm cố cậu cố gắng có hạnh kiểm tốt. Tôi sẽ gửi cậu ít thuốc lá và thức ăn. Cậu sẽ không thiếu thứ gì đâu. Papillon, đi thôi! – Đã đến lượt tôi. 
– Xin chào tất cả. Cám ơn những lời lẽ chân tình của các bạn. 
Tôi xuống thuyền. Hai mươi phút sau, thuyền cặp bến ở Saint-Joseph. Tôi có đủ thì giờ nhận thấy trên thuyền chỉ có ba viên giám thị có súng, trong khi có đến sáu người tù chèo thuyền và mười người tù cấm cố Phối hợp để chiếm lĩnh cái thuyền này chỉ là một trò đùa. 
ở Saint-Joseph, một ủy ban tiếp đón ra nhận chúng tôi. Có hai viên chỉ huy tự giới thiệu: viên chỉ huy trại trừng giới của đảo và viên chỉ huy của Nhà giam cấm cố. Chúng tôi được dẫn bộ đi lên con đường dốc đến nhà giam. Trên đường đi không thấy một người tù nào. 
Khi đi vào cửa sắt lớn ở bên trên có mấy chữ Nhà giam cấm cố trừng giới, người ta có thể hiểu ngay tầm quan trọng của cái phương tiện trấn áp này. Bên trong tấm cửa và bốn bức tường cao ở xung quanh, trước hết có một dãy nhà nhỏ có đề: “Ban giám đốc – Quản trị”, rồi ba dãy nhà khác đề A, B, C. Chúng tôi được đưa vào dãy nhà của ban giám đốc. Một gian phòng lạnh lẽo. Khi mười chín người đã được xếp thành hai hàng trong phòng, viên chỉ huy Nhà giam cấm cố nói với chúng tôi: 
– Các phạm nhân cấm cố, các anh biết rằng nhà này là một nhà trừng giới dành cho những phạm nhân đã bị đày khổ sai mà lại còn có những hành động phạm pháp. ở đây người ta không tìm cách cải huấn các anh. Chúng tôi biết rằng việc đó vô ích. ở đây người ta chỉ tìm cách trấn áp các anh. Chỉ có một nội quy duy nhất: câm mồm. Im lặng tuyệt đối, “gọi điện” là việc rất nguy hiểm, nếu bị bắt gặp sẽ bị phạt rất nặng. Nếu không ốm nặng, chớ đăng ký xin đi khám. Vì nếu khám không thấy có bệnh nặng, các anh sẽ bị phạt rất nghiêm. Đó là tất cả những gì tôi cần nói với các anh. à quên, ở đây nghiêm cấm hút thuốc. Giám thị, hãy lục soát kỹ các phạm nhân, rồi đưa từng người về xà-lim. Charrière, Clousiot và Maturette không được ở cùng một nhà. Ông Santori, ông phải thân hành trông coi việc này. 
Mười phút sau tôi bị nhốt vào căn xà-lim dành cho tôi căn số 234 của dãy nhà A.Clousiot bị giam ở dãy nhà B và Maturette ở dãy nhà C. Chúng tôi đưa mắt từ biệt nhau. Khi bước vào đây, tất cả chúng tôi đều hiểu ngay rằng nếu muốn sống sót mà ra khỏi thì nhất nhất phải tuân theo cái nội quy vô nhân đạo này. Tôi từ giã hai người bạn đường của tôi trong chuyến vượt ngục dài ngày, hai người bạn hào hùng và dũng cảm đã tỏ rõ phẩm chất mình trong khi đi với tôi và không hề bao giờ kêu ca hay hối tiếc những gì họ đã cùng làm bên cạnh tôi. Tim tôi se lại, vì sau mười bốn tháng vật lộn vai kề vai để dành lại tự do, chúng tôi đã vĩnh viễn gắn bó với nhau bằng một tình bạn không bờ bến. 

Tôi xem xét căn buồng giam mà họ đã lùa tôi vào. Không bao giờ tôi có thể dự đoán hoặc tường tượng rằng một nước như nước Pháp của tôi, vốn là người mẹ của tự do trên trái đất này, là đất nước đã sinh ra Nhân quyền và Dân quyền, lại có thể dựng lên, dù là ở Guyane thuộc Pháp, trên một hòn đảo chơi vơi giữa Đại tây dương, rộng vừa bằng cái mùi-soa bỏ túi, một trại giam có tính chất trấn áp man rợ như cái nhà giam trừng giới ở Saint-Joseph. Cái bạn hãy tương tượng một trăm năm mươi căn xà-lim kế cận nhau, giáp lưng nhau, bốn bức tường rất dày chỉ có một cánh cửa sắt nhỏ với cái lỗ ghi-sê của nó. ở phía trên mỗi ghi-sê đều có dòng chữ đề: “Cấm mở cửa này nếu không có lệnh trên”. ở bên trái căn buồng là một tấm ván làm giường nằm với một cái gối bằng gỗ, cũng được thiết bị như ở Beaulieu: tấm ván có thể lật lên móc sát vào tường; một tấm chăn; một khối xi-măng xây ở góc trong dùng làm ghế; một cái chổi nhỏ; một cái ca nhà binh, một cái thìa bằng gỗ, một tấm sắt mỏng dựng đứng che một cái bô bằng kim loại buộc vào tấm sắt kia bằng một sợi xích (từ phía ngoài có thể kéo nó ra để đổ, và từ phía trong có thể lôi nó vào để dùng). Buồng cao ba mét, trần là một dãy song sắt rất lớn, mỗi chấn song to bằng một thanh đường ray xe điện, bắt chéo nhau rất dày để không thể có một vật gì hơi to hơn có thể lọt qua. Rồi, cao hơn nữa, là mái của tòa nhà, cách mặt đất khoảng bảy mét. Phía trên bức tường ngăn cách các xà lim quay lưng vào nhau là một con đường đi tuần rộng khoảng một mét, có tay vịn bằng sắt, nhìn thẳng xuống các buồng giam. Hai viên giám thị thường xuyên đi từ đầu đường cho đến giữa đường: ở đây họ gặp nhau và quay trở lại. Tất cả gây thành một ấn tượng rùng rợn. ánh sáng ban ngày chiếu vào con đường đi tuần đủ sáng. Nhưng ở các buồng giam, dù đang giữa ban ngày, thì tối mờ mờ không nhìn thấy rõ những vật xung quanh. Tôi bắt đầu đi đi lại lại ngay, trong khi chờ đợi họ huýt còi bay ra một hiệu lệnh gì đó không biết để cho phép tù nhân hạ tám ván xuống mà nằm. 
Để khỏi gây tiếng động, tù nhân và lính gác đều đi giày vải. Tôi nghĩ ngay: “ở đây, tại buồng giam 234, Charriere biệt hiệu Bươm bướm, sẽ có gắng sống mà không phát điên trong thời hạn hai năm, tức bảy trăm ba mươi ngày. Hắn có bổn phận cải chính cái biệt hiệu “ăn thịt người” của nhà giám cấm cố này. Một, hai, ba, bốn, năm quay đằng sau. Một hai, ba, bốn, năm, quay đằng sau. Tên lính gác vừa đi qua trên nóc tường trước mặt tôi. Tôi không nghe thấy tiếng chân hắn đến, tôi chỉ trông thấy hắn. Tách. Đèn bật lên, nhưng rất cao, treo mãi tận mái trên, cách mặt đất hơn sáu mét. Lối đi tuần được chiếu sáng, các buồng giam vẫn chìm trong bóng tối. Tôi đi đi lại lại, cái quả lắc lại đung đưa. Hãy ngủ yên, hỡi mấy miếng phó-mát của hội đồng bồi thẩm đã xử tôi, các người hãy ngủ yên, vì tôi tin rằng nếu hồi ấy các người biết các người sẽ đưa tôi đến chỗ nào, các người sẽ thấy ghê tởm và sẽ không chịu làm những kẻ đồng lõa với việc thi hành một hình phạt như vậy. 
Khó lòng thoát khỏi tình trạng đi lang thang của trí tưởng tượng. Hầu như không thể nào thoát được. Tôi nghĩ nên hướng nó về những đề tài không đến nỗi buồn nản quá thì hơn là cố xua đuổi hắn nó đi. Quả nhiên, hiệu lệnh cho phép hạ ván nằm xuống là một tiếng còi. Tôi nghe thấy một giọng thô lỗ nói: 
– Những người mới đến nên biết rằng kể từ bây giờ, nếu muốn, thì có thể hạ ván xuống để nằm. 
Tôi chỉ ghi nhớ hai chữ “nếu muốn”. Cho nên tôi tiếp tục đi đi lại lại, giờ phút này quá nghiêm trọng để có thể ngủ. Tôi cần phải tập cho mình quen với cái chuồng hở phía trên này. 
Một, hai, ba, bốn, năm… tôi đã nắm vững được ngay cái tiết tấu của quả lắc; đầu cúi xuống, hai tay chắp sau lưng khoảng cách từ bước đi phải thật đều và thật chính xác, như một quả lắc đưa qua đưa lại, tôi đi đi lại lại và cùng tận như một kẻ mộng du. Bước hết năm bước, tôi không cần trông thấy bức tường, áo tôi chỉ chạm nhẹ vào nó khi quay lại cứ thế mãi không hề mệt mỏi trong cuộc đua marathon không có đích mà cũng không cơ thời hạn chấm dứt. 
Phải, thật đấy Papi ạ, cái nhà giam “ăn thịt người” không phải là trò đùa. Và khi bóng tên lính gác hắt xuống tường, nó gây một hiệu quả thật dễ sợ. Nếu ngẩng đầu lên mà nhìn thì còn nản hơn nữa: người ta có cảm giác mình là một con báo bị nhốt dưới hố, còn ở phía trên là người đi săn vừa bắt được báo đang nhìn xuống để quan sát nó. Cái ấn tượng thật là hãi hùng, và tôi phải mất đến mấy tháng trời mới quen được. 
Mỗi năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày; hai năm là bảy trăm ba mươi ngày, nếu không có năm nhuận. Tôi mỉm cười vì cái ý này. Anh ạ, dù có là bảy trăm ba mươi mốt thì cũng thế thôi. Tại sao lại cũng thế thôi? Không, không phải cũng thế thôi đâu. Thêm một ngày là thêm hai mươi bốn giờ đồng hồ. Mà hai mươi bốn giờ đòng hồ cũng lâu lắm. Bảy trăm ba mươi lần hai mươi bốn giờ lại còn lâu hơn nhiều. Tổng cộng lại thì thành bao nhiêu giờ nhỉ? Liệu tôi có đủ sức tính nhẩm ra con số đó không? Làm thế nào tính nhẩm được, chịu thôi. Sao lại chịu? Tính được chứ. Xem nào. Một trăm ngày là hai ngàn bốn trăm giờ. Nhân cho bảy rất dễ trước hết ta có mười sáu ngàn tám trăm giờ. Rồi ta nhân ba mươi ngày còn lại cho hai mươi bốn thành bảy trăm hai mươi giờ. Tổng cộng: một vạn sáu ngàn tám trăm cộng với bảy trăm hai mươi, vị chi là một vạn bảy ngàn năm trăm hai mươi giờ, nếu tôi không nhầm chỗ nào. Thưa ngài Papillon thân mến, ngài có cả thảy một vạn bảy ngàn năm trăm hai mươi giờ để mà giết trong cái chuồng được thiết kế riêng cho thú dữ này, với bốn bức tường nhẵn nhụi của nó. Vậy chứ tôi sẽ ở đây bao nhiêu phút nhỉ? Cái đó chẳng có chút gì thú vị, giờ thì còn được chứ phút thì nghĩa lý gì? Ta không nên cường điệu quá. Tại sao lại không tính cả giây nữa nhỉ? Điều đó quan trọng là phải có cái gì lấp đầy những ngày, những giờ, những phút ấy trong khi tôi sống một mình, tự mình đối diện với mình! Ai bị giam ở buồng bên phải nhỉ? ai ở buồng bên trái? ai ở buồng phía sau? Ba con người đó, nếu trong các buồng giam ấy có người, chắc cũng phải tự hỏi: ai vừa vào buồng 234? 

Có một tiếng động mềm của một vật gì vừa rơi xuống ở sau lưng tôi, trên nền xà~lim. Cái gì thế nhỉ? Phải chăng người tù kế cận đã khéo tay vứt cho tôi một vật gì qua hai lần chấn song? Tôi cố nhìn cho ra xem đó là vật gì. Chỉ thấy mờ mờ một cái gì nho nhỏ, dài dài. Tôi đã sắp cầm nó lên, thì cái vật mà trong bóng tối mờ mờ tôi đoán ra được nhiều hơn là trông thấy nó, tự dưng cử động và chạy nhanh về phía tường. Khi nó nhúc nhích, tôi bất giác giật mình lùi lại. Đến chân tường, nó bắt đầu leo lên một quãng rồi tuột xuống đất. Bức tường nhẵn nhụi đến nỗi vật kia không thể bám đủ chặt để leo lên. Tôi để cho nó thử leo lên tường ba lần, rồi đến lần thứ tư, khi nó rơi xuống, tôi giẫm mạnh chân lên. Dưới lớp giày vải tôi thấy mềm mềm. Cái gì thế nhỉ? Tôi quỳ xuống để nhìn cho thật sát, và cuối cùng tôi đã nhìn ra được: đó là một con rết khổng lồ, dài hơn hai mươi phân, thân rộng bằng hai ngón tay cái Tôi thấy tởm lợm đến nỗi không dám nhặt nó lên để bỏ vào bô. Tôi dùng chân đẩy nó vào gầm ván. Đến mai hãy xem cho sáng. Về sau tôi sẽ còn đủ thì giờ trông thấy nhiều rết nữa; nó rơi từ cái mái nhà rộng ở trên kia. Tôi sẽ phải học cách để cho nó bò trên thân thể để trần của tôi, không bắt, cũng không động đến nó nếu tôi đang nằm. Tôi cũng sẽ có dịp biết rõ rằng những khi nó đang bò trên người, chỉ một sai lầm nhỏ về chiến thuật thôi cũng bắt người ta phải trả giá bằng những cơn đau đớn dừ dội đến thế nào. Một mũi đốt của con vật kinh tởm này đủ làm cho anh sốt nặng trong hơn mười hai tiếng đồng hồ và làm cho đau nhức khủng khiếp trong gần sáu tiếng đồng hồ. 
Dù sao chăng nữa nó vẫn có thể được dùng như một phương tiện giải trí, một lối thoát cho những ý nghĩ của tôi. Về sau mỗi khi có một con rết rơi xuống trong khi tôi đang thức, tôi thường lấy cái chổi con trêu chọc nó, vật lên vật xuống thật lâu, hoặc bày trò chơi với nó bằng cách để cho nó chạy đi nấp và một lát sau tôi tìm cách phát hiện ra nó. 
Một, hai, ba, bốn, năm… Xung quanh im lặng hoàn toàn. ở đây không ai ngáy thì phải? Không ai ho hay sao? Trời nóng nực đến ngạt thở. Thế mà bây giờ đang là ban đêm! Còn ban ngày thì phải nóng đến thế nào nữa? Số tôi là phải sống với rết hay sao ấy. Khi nước thủy triều lên ngập cái buồng giam ở Santa Marta, rết vào từng mớ, nó nhỏ hơn nhưng cũng là cùng một dòng họ với lũ rết ở đây. ở Santa Marta quả tình ngày nào cũng bị ngập lụt, nhưng người ta được nói, được hét, được nghe tiếng hát hoặc tiếng hú và nghe những câu nói lảm nhảm của những người điên tạm thời hay vĩnh viễn. Chẳng phải như thế này. Nếu được chọn tôi sẽ chọn Santa Marta. Chà, anh nói thế là phi lô-gích mất rồi, Papi ạ. ở đấy, mọi người đều nhất trí nói rằng thời hạn tối đa mà một con người có thể chịu đựng được là sáu tháng. Thế mà ở đây có nhiều người phải giam đến bốn năm năm hoặc hơn nữa. Người ta bắt họ phải chịu đựng như. Vậy là là một chuyện; còn họ có chịu đựng được không lại là chuyện khác. Có bao nhiêu người tự tử. Tôi cũng chẳng biết người ta làm cách gì để tự tử nữa. à cũng có cách. Chẳng dễ gì đâu, nhưng người ta có thể tự tử bằng cách thắt cổ chẳng hạn. Người ta xé quần ra làm một sợi dây. Buộc cái chổi con vào một đầu dây rồi leo lên tấm ván, người ta có thể ném sợi dây qua chấn song. Nếu buộc dây sát vào bức tường có lối đi tuần ở phía trên, chắc tên lính gác sẽ không trông thấy sợi dây. Đúng vào lúc hắn vừa đi qua, anh cứ việc nhảy ra khỏi tấm ván và lủng lẳng trên không. Khi tên lính gác quay lại thì anh đã đi rồi. Vả chăng chắc hắn cũng chẳng vội vàng gì mà chạy nhanh xuống mở buồng giam cho anh. Mở cửa buồng ư. Hắn không thể mở được. Trên cánh cửa đã có đề: “Cấm mở cửa này nếu không có lệnh trên”. Vậy thì anh đừng sợ gì hết, người nào muốn tự tử sẽ có đủ thời gian cần thiết trước khi có người mở cửa vào buồng giam theo “lệnh trên”. 
Tôi tả lại tất cả những điều trên đây, có lẽ không lấy gì làm sinh động và lý thú đối với những người thích nghe chuyện hành động và đánh nhau. Những người này có thể bỏ qua mấy trang nếu thấy chán. Tuy nhiên, những ấn tượng đầu tiên, những ý nghĩ đầu tiên này ồ ạt đến với tôi khi tôi tiếp xúc lần đầu với cái buồng giam mới, những phản ứng đầu tiên này khi tôi bị đưa xuống nhà mồ, tôi nghĩ rằng tôi phải miêu tả nó một cách thật trung thành. 
Tôi đi đi lại lại như thế này đã lâu lắm rồi. Tôi nghe có tiếng thầm thì trong đêm khuya: họ đổi gác. Tên lính gác phiên trước là một gã cao lớn và khẳng khiu tên đến thay phiên thì lùn và mập. Hắn vừa đi vừa kéo lê đôi giày vải. Khi hắn đến cách tôi chỉ còn hai buồng giam, tôi có thể nghe thấy tiếng giày vải hắn sột soạt và đến khi hắn đi qua hai buồng giam mới không nghe thấy gì nữa. Hắn không im lặng một trăm phần trăm như thằng bạn đồng ngũ của hắn. Tôi tiếp tục đi đi lại lại Bây giờ chắc đã khuya lắm rồi. Không biết mấy giờ rồi nhỉ? Đến mai tôi sẽ không thiếu phương tiện để đo thời gian. Mỗi ngày cái ghi-sê phải mở bốn lần: nhờ đó tôi sẽ đại khái biết được giờ giấc. Còn ban đêm thì nhờ biết giờ phiên gác đầu tiên và biết thời hạn của mỗi phiên, tôi sẽ có thể sống với một cách đo lường thời gian xác định: phiên thứ nhất, phiên thứ hai, phiên thứ ba… 
Một, hai, ba, bốn, năm… Như một cái máy, tôi lại bắt đầu cuộc đi dạo vô tận, và nhờ trợ lực của sự mệt mỏi, tôi cất cánh một cách dễ dàng để trở về lục lọi trong dĩ vãng Chắc chắn lá do sự tương phản với bóng tối trong xà-lim, tôi bay ra giữa nắng ngồi trên bãi biển của bộ lạc tôi. Chiếc thuyền mà Lali dùng để đi vớt ngọc trai đang đung đưa cách tôi hai trăm mét trên mặt biển tuyệt vời màu xanh ngọc thạch. Hai chân tôi di di trên cát. Zoraima đem lại cho tôi một con cá lớn nướng trên than hồng, gói kỹ trong một tàu lá chuối cho khỏi nguội. Tôi ăn bằng mấy ngón tay, dĩ nhiên, còn Zoraima thì ngồi xếp bằng trước mặt tôi nhìn tôi ăn. Cô ta rất vui mừng khi thấy những mảng thịt to tách ra khỏi con cá một cách dễ dàng và đọc thấy trên gương mặt tôi vẻ khoái trá trong khi ăn cái món ngon lành mà cô đã dọn cho tôi. 
Tôi không còn bị nhốt nữa. Tôi không hề biết đến Nhà giam cấm cố, Saint-Joseph, Quần đảo gì nữa. Tôi lăn lóc trên cát, vục hai tay vào lớp cát cho sạch, lớp cát làm bằng những mảnh vụn san hô mịn đến nỗi tôi có cảm giác như vục tay vào bột. Rồi tôi lội xuống biển để súc miệng bằng thứ nước trong vắt và mặn chát ấy. Tôi lấy hai tay múc nước phả lên mặt. Trong khi rửa cổ tôi nhận ra rằng tóc tôi đã dài lắm. Khi nào Lali về tôi sẽ bảo nàng cạo cổ cho tôi. Tôi qua đêm với bộ lạc của tôi. Tôi mở cái khố của Zoraima, và trên cát, giữa nắng, dưới làn gió biển, tôi chiếm hữu nàng. Nàng khẽ cất những tiếng rên si mê như nàng vẫn làm những khi nàng thấy khoái lạc. Có lẽ gió đưa đến tận tai Lali khúc nhạc yêu đương này. Dù sao thì Lali không phải không nhìn thấy chúng tôi và thấy cái tư thế của chúng tôi chỗ nàng có xa xôi gì đâu mà không thấy rõ chúng tôi đang làm tình. Đúng thế, hẳn là nàng đã trông thấy, vì chiếc thuyền đang đi về phía bờ, nàng tươi cười bước xuống đất. Trên quãng đường về nàng đã tháo các bím tóc ra và lấy mười ngón tay thon và dài chải mái tóc ướt đang bắt đầu khô dần trong làn gió và trong ánh nắng của cái ngày tuyệt đẹp này. Tôi đi về phía nàng. Nàng lấy tay phải quàng lưng tôi và đẩy tôi đi trên bãi cát về phía nếp nhà tranh của chúng tôi. Suốt dọc đường đi, nàng không ngớt bày tỏ cho tôi hiểu: “Cả em nữa, cả em nữa”. Về đến nhà, nàng xô tôi xuống một chiếc võng len đã gấp lại trải xuống đất làm đệm, và trong nàng, tôi quên rằng thế giới tồn tại. Zoraima rất thông minh, nàng chỉ về khi ước chừng chúng tôi đã xong. Nàng vào nhà khi chúng tôi hãy còn nằm trần truồng trên đệm, thỏa mãn no nê vì ái ân. Nàng đến ngồi với chúng tôi, lấy lòng bàn tay vả vả lên hai má của chị, miệng nhắc đi nhắc lại mấy tiếng gì chắc chắn phải có nghĩa đại khái là “đồ tham ăn”. Rồi với một cử chỉ trinh bạch và đầy tình trìu mến, nàng sứa lại cái khố của tôi và cái của Lali cho ngay ngắn. Suốt đêm hôm ấy tôi đã sống ở Guajira. Tôi tuyệt nhiên không ngủ một chút nào. Thậm chí tôi cũng không nằm xuống để nhắm mắt lại mà hồi tưởng những cảnh đã sống qua. Ngay trong khi đi đi lại lại không ngừng trong một trạng thái gần như thôi miên, không cần phải vận dụng ý chí một chút nào, tôi đã vượt qua không gian và thời gian để trở về sống lại cái ngày đẹp tuyệt vời đã qua cách đây gần sáu tháng. 
Đèn đã tắt, và có thể thấy rõ ngày mới đang tràn vào bóng tranh tối tranh sáng của căn xà-lim, xua tan thứ sương mù lềnh bềnh đang bao bọc mọi vật xung quanh tôi. Một tiếng còi huýt lên. Tôi nghe tiếng những tấm ván nằm chạm vào tường, và cả tiếng cái móc của người ở buồng bên phải chạm vào cái vòng sắt gắn vào tường. Người ở buồng bên ho, và tôi nghe có tiếng một ít nước giội xuống nền nhà. Sao, ở đây cũng được rứa mặt nữa à? 
– Thưa ông giám thị, ở đây rửa mặt thế nào ạ? 
– Phạm nhân, vì anh không biết cho nên tôi tha cho anh lần này. Không được nói gì với lính gác: nếu vi phạm điều lệnh này sẽ bị phạt nặng. Muốn rửa mặt, đứng ngay chỗ bô một tay cầm hũ nước, tay kia hứng mà rửa. Anh chưa giở chăn ra phải không? 
– Chưa. 
– Trong chăn có một cái khăn mặt. 

Đến thế thì thật! Không được phép nói với lính gác vì bất cứ lý do gì? Thế nếu mắc phải chứng gì đau quá thì sao? Nếu sắp chết đến nơi: một cơn đau tim, đau ruột thừa, một cơn suyễn quá mạnh, thì sao? Chẳng lẽ ở đây cấm cả việc kêu cứu khi lâm vào một tình cảnh nguy hiểm chết người? Vô nhân đạo đến thế là cùng? Nhưng không, như thế là bình thường. Nếu không, tù nhân có thể quấy phá, làm ầm ĩ lên một cách quá dễ dàng khi thần kinh không chịu nổi nữa. Dù chỉ để nghe tiếng người, dù chỉ để người ta nói với mình một câu, dù câu đó chỉ là: “Chết thì chết đi, nhưng phải câm mồm lại!”. Cũng sẽ có vài chục người trong số hai trăm năm mươi tù nhân bị giam ở đây, mỗi ngày vài chục lần, bày chuyện gây ra bất cứ cuộc cãi vã nào để cho thoát bớt sức hơi ép trong óc họ như qua một cái xúp-páp! 
Người đã có cái ý xây những chuồng cọp này không thể là một bác sĩ tâm bệnh học được: một người thầy thuốc không đời nào lại tự hạ mình làm một việc nhơ nhuốc đến như vậy. Nội quy của nhà giam này cũng không phải do một bác sĩ thảo ra. Nhưng hai con người đã cùng nhau tạo nên cái nhà tù này, người kiến trúc sư cũng như người viên chức đã dự tính một cách chi li những chi tiết của nhà tù, họ quả thật là hai con quái vật đáng ghê tởm, hai nhà tâm lý học tồi bại và độc ác tràn đầy một lòng căm thù xa đích đối với các phạm nhân. 
Từ những căn buồng giam của khám trung tâm ở Beaulieu, ở Canen tuy sâu như vậy, hai tầng hầm phía dưới mặt đất, vẫn còn có thể vọng ra ngoài, đến tai công chúng, những tiếng vang xa xăm của những cực hình mà các phạm nhân phải chịu đựng. Chứng cớ là hồi ấy, khi người ta tháo khóa tay cho tôi tôi đã thấy rõ ràng vẻ sợ hãi trên mặt bọn lính gác: chắc chắn là họ sợ bị phiền hà, bị trừng trị.

Nhưng ở đây, trong nhà giam cấm cố này, nơi mà chỉ có bọn viên chức trong ban quản trị mới vào được, họ rất yên tâm họ không bao giờ có thể bị phiền hà gì hết. 
Clac, clac, clac, clac, – người ta mở tất cả các ghi-sê. Tôi đến cạnh ghi-sê của tôi, đánh liều dòm ra ngoài, rồi tôi thò đầu ra một chút, và sau đó thò hết cả cái đầu ra ngoài hành lang. Bên phải cũng như bên trái tôi đều trông thấy cả một dãy đầu thò ra. Tôi hiểu ngay ràng hễ ghi-sê được mở thì mọi người đều lập tức thò đầu ra ngoài. Người bên phải nhìn tôi mà mắt tuyệt nhiên không biểu hiện một cảm nghĩ gì. Chắc đã đờ đẫn đi vì thói thủ dâm. Hắn xanh xao phờ phạc, mặt phì ra, gương mặt đần độn, u mê. Người bên trái hỏi tôi rất nhanh: “Bao nhiêu?” 
– Hai năm. 
– Tớ bốn. Mới được một. Tên gì? 
– Papillon. 
– Tớ, Georges, Jojo l’ Auvergnat. Cậu bị ở đâu? 
– Paris, còn cậu? 
Người kia chưa kịp trả lời: suất cà-phê và ổ bánh mì tròn đã được đưa đến cách đấy hai buồng. Hắn thụt đầu vào. Tôi cũng làm như thế. Tôi giơ cái ca ra. Họ rót cà-phê vào rồi đưa một ổ bánh mì tròn. Vì tôi đưa tay ra đón ổ bánh mì hơi chậm, khi cửa ghi-sê sụp xuống thì ổ bánh mì của tôi lăn xuống đất. Không đầy mười lăm phút sau im lặng đã trở lại. Chắc mỗi hành lang phải có một tốp đi phát bữa sáng, chứ không thì không thể nhanh như vậy. Đến giữa trưa có món xúp bỏ một miếng thịt hầm. Buổi chiều, một đĩa đậu ván xào. Cái thực đơn ấy trong suốt hai năm chỉ thay đổi trong bữa ăn chiều: đậu ván, đậu đổ, đậu chiên, đậu đũa, đậu trắng và cơm xào. Bữa trưa thì lúc nào cũng chỉ có thế. 
Cứ mười lăm ngày một lần, chúng tôi thò đầu ra ngoài ghi-sê, và một người tù khổ sai dùng một cái tông-đơ răng dày của thợ cắt tóc để cắt râu cho chúng tôi 
Tôi ở đây đã được ba ngày. Có một điều làm cho tôi bận tâm. ở đảo Royale, các bạn tôi có nói là sẽ gửi thuốc lá và thức ăn cho tôi. Tôi chưa nhận được thứ gì, vả lại tôi cũng băn khoăn không hiểu nổi họ lâm thế nào để có thể thực hiện dược một việc thần kỳ như vậy. 
Cho nên tôi không lấy làm lạ khi không thấy có gì gửi đến. Hút thuốc lá chắc phải rất nguy hiểm, và dù sao đó cũng là thứ xa xỉ. Ăn thì hẳn là chuyện sống còn, vì xoong xúp trong bữa ăn trưa chỉ là một ít nước nóng lều bều vài nhúm rau xanh và một miếng thịt hầm chỉ độ một trăm gam. Buổi chiều chỉ có một đĩa đựng nước xào sền sệt, lưa thưa mấy hạt đậu hay mấy thứ rau quả khô Nói thật, tôi không nghi ngờ ban quản trị cho tù ăn kém bằng nghi ngờ bọn tù nhân chuyên việc nấu ăn hay phân phát thức ăn. Tôi nảy ra cái ý này trong bữa chiều, khi một người tù quê ở Marseille bắt đầu vào đưa thức ăn. Cái muôi của anh ta vục xuống tận đáy thùng, cho nên trong suất của tôi đậu bao giờ cũng nhiều hơn nước. Nếu những người khác đưa bữa ăn chiều thì ngược lại họ chỉ hớt phía trên sau khi ngoáy ngoáy cái muôi một chút. Do đó nhiều nước mà ít đậu. Tình trạng thiếu dinh dưỡng này cực kỳ nguy hiểm. Muốn có đủ sức mạnh tinh thần để giữ vững ý chí, cần phải có ít nhiều sức mạnh thể chất. 
Lúc này người ta đang quét ngoài hành lang. Tôi có cảm giác là người ta quét ở trước buồng giam của tôi hơi lâu quá. Tiếng chổi quẹt mãi vào cánh cưa buồng tôi một cách không bình thường. Tôi nhìn kỹ thì thấy một mẩu giấy trắng thò ra ở phía dưới cánh cửa. Tôi hiểu ngay rằng người ta đã tuồn một cái gì dưới cánh cửa nhưng không thể tuồn vào sâu hơn được. Người ta đợi cho tôi rút mẩu giấy vào rồi mới quét sang chỗ khác. Tôi mở mẩu giấy ra. Có mấy dòng chữ viết bằng mực dạ quang. Tôi đợi cho tên lính gác đi quá rồi đọc vội: “Papi, kể từ mai trong bô của anh mỗi ngày sẽ có năm điếu thuốc lá và một quả dừa. Khi ăn dừa phải nhai thật kỹ thì mới bổ. Nhớ nuốt cả bã. Hút thuốc vào buổi sáng khi họ đổ bô. Không bao giờ được hút sau bữa cà-phê sáng, phải hút trong bữa ăn trưa ngay sau khi ăn, và buổi chiều cũng vậy. Kèm theo đây có một mẩu ruột bút chì. Mỗi khi cần dùng thứ gì, cứ viết vào mẩu giấy kèm theo đây, khi người quét hành lang quệt chổi vào cánh cửa, hãy dùng ngón tay cào vào cửa. Nếu người kia cũng cào lại thì tuồn mẩu giấy ra. Đừng bao giờ tuồn mẩu giấy trước khi hắn cào lại để trả lời anh. Hãy để mẩu giấy vào tai để khỏi rút plan ra, còn mẩu ruột bút chì thì có thể để bất cứ chỗ nào ở chân tường. Can đảm lên. Các bạn hôn anh. Ignace, Louis”. 
Người gửi cho tôi bức thông điệp này là Galgani và Dega. Tôi thấy nghẹn ngào ở cổ và một hơi ấm tràn đầy trong ngực; có được những người bạn trung thành, tận tụy như vậy thật là ấm áp. Và bước đi của tôi: một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay, càng thêm vững vàng và nhanh nhẹn, với một mềm tin lớn hơn vào tương lai, một niềm tin tưởng chắc chắn rằng mình sẽ còn sống cho đến khi ra khỏi cái phần mộ này. Và tôi vừa đi vừa nghĩ: trong hai con người ấy có bao nhiêu là tình cảm cao thượng, có biết bao nhiêu ý chí muốn làm điều tốt. Chắc chắn là họ đã tự đặt mình vào một tình thế rất nguy hiểm: một người có thể mất chân kế toán, người kia mất chân liên lạc. Việc họ đang làm để giúp tôi thật là vĩ đại, chưa kể là họ phải tốn biết bao nhiêu tiền mới làm được như thế. Họ đã phải mua biết bao nhiêu người để với tay đến tận buồng giam của tôi trên cái đảo Royale “ăn thịt người”. 
Bạn đọc cần hiểu rõ rằng một quả dừa khô chứa rất nhiều dầu trong cái cùi dòn và trắng của nó chỉ cần nạo sáu quả dừa ngâm vào nước nóng thì một ngày sau trên mặt nước có thể vớt được một lít dầu. Thứ dầu này là một chất béo mà với chế độ ăn của chúng tôi người ta rất cần, nó chứa nhiều thứ sinh tố. Mỗi ngày một cái cùi dừa là gần đủ bảo đảm cho sức khỏe. ít nhất người ta cũng không thể lâm vào tình trạng mất nước, cũng không thể chết vì suy dinh dưỡng. Đã hai tháng ròng tôi nhận được tiếp tế về thức ăn và thuốc hút mà không xảy ra chuyện gì cả. Mỗi lần hút thuốc tôi đều đề phòng cẩn thận như người Sioux: tôi nuốt khói vào thật sâu rồi nhả ra từ từ, vừa nhả vừa xòe bàn tay phải ra như cái quạt để xua cho khói tan đi. 
Hôm qua vừa xảy ra một chuyện hơi lạ. Tôi không biết là tôi đã hành động đúng hay sai. Một tên lính gác đi trên đường tuần tra đã chống tay vào thanh vịn nhìn xuống buồng giam tôi. Hắn châm một điếu thuốc, hút vài hơi rồi để nó rơi xuống buồng giam tôi. Sau đó hắn lại đi tuần. Tôi đợi cho hắn trở lại rồi lấy chân chà lên điếu thuốc, sao cho hắn có thể trông thấy rõ. Bước hắn đi hơi ngưng lại một chút, nhưng không lâu: khi đã thấy rõ cử chỉ vừa rồi của tôi, hắn lại đi ngay. Có phải hắn thương hại tôi, hay thấy xấu hổ cho cái ban quán trị của hắn? Hay đây chỉ là một cái bẫy? Tôi không biết cho nên rất băn khoăn. 
Khi người ta khổ, người ta trở nên hết sức nhạy cảm. 
Nếu tên giám thị vừa rồi đã có ý muốn làm một người tốt bụng dù cái ý ấy chỉ được một vài giây, tôi cũng rất lấy làm tiếc vì đã làm hắn phiền lòng với cái cử chỉ khinh miệt của tôi. 
Tôi ở đây thế là đã hơn hai tháng. Cái nhà giam cấm cố này là nhà giam duy nhất mà theo tôi trong đó không có gì có thể học được. Vì không thể có một cách dàn xếp nào hết. Tôi đã luyện tập được rất kỹ cái khả năng phân thân. Tôi có một chiến thuật có hiệu quả chắc chắn. Để đi lang thang giữa các vì sao với một cảm giác hiện thực thật cao, để dễ dàng thấy hiện ra những thời đoạn khác nhau trong dĩ vãng của cuộc đời giang hồ phiêu bạt của tôi hay của thời thơ ấu, hoặc giả để xây những tòa lâu đài ở Tây Ban Nha hiện rõ y như thật, lúc đầu tôi đã phải tốn rất nhiều sức. Tôi phải đi đi lại lại không ngớt mấy giờ đồng hồ liền, không ngồi xuống, không dừng lại, vừa đi vừa nghĩ bình thường về bất cứ vấn đề gì. Rồi đến khi thật mệt mỏi tôi mới nằm lên tấm ván, gối đầu lên một nữa tấm chăn, còn nửa kia thì đắp lên mặt. Bấy giờ làn không khí đã thưa thớt của phòng giam đi vào miệng tôi và mũi tôi một cách khó khăn vì bị tấm chăn lọc một lần nữa. Điều đó nhằm gây ra trong phổi tôi một tình trạng gần như ngạt thở khiến đầu tôi thấy nhức và nóng. 
Trong trạng thái thiếu không khí và ngột ngạt vì nóng bức, tôi đột ngột thấy mình bay bổng lên. Ôi? Những cuộc phi hành của linh hồn ấy đã đem lại cho tôi bao nhiêu là cảm giác khôn tả. Tôi đã có được những đêm ân ái mà cảm giác còn mạnh hơn cả khi tôi được tự do, say sưa hơn, có sức chấn động hơn những cảm giác thật của những đêm ân ái mà tôi đã thực sự trải qua. Phải, cái khả năng du hành trong không gian ấy cho phép tôi ngồi bên cạnh mẹ tôi, người đã chết cách đây mười bảy năm. Tôi mân mê tà áo của người, và người vuốt ve những móc tóc quăn của tôi mà người bắt để rất dài hồi tôi mới năm tuổi, làm như thể tôi là con gái. Tôi vuốt ve mấy ngón tay thon và dài, da mịn như tơ. Người cùng cười với tôi khi thấy nảy ra cái ý muốn gan góc được lao xuống sông như tôi đã thấy những cậu con trai lớn tuổi hơn làm, vào một ngày hai mẹ con đi dạo với nhau. Những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong cách chái tóc của người, niềm thương mến có sức tỏa hào quang của đôi mắt sáng lóng lánh của người, những lời lẽ dịu dàng khó quên của người: “Riri bé bỏng của mẹ, con hãy ngoan, thật ngoan nhé, để mẹ con thương con thật nhiều. ít nữa rồi con cũng sẽ nhảy được xuống nước từ rất cao, rất cao. Còn bây giờ thì con còn bé quá, cục vàng của mẹ ạ Ngày ấy sẽ đến rất nhanh, quá nhanh nữa là khác, cái ngày mà con sẽ thành một chàng trai to khỏe”. 
Và mẹ tôi dắt tay tôi đi dọc bờ sông về nhà Tôi thực sự đang sống trong ngôi nhà của thời thơ ấu của tôi. Thực sự đến nỗi tôi đưa hai tay bịt mắt mẹ tôi để người không đọc được nốt nhạc nhưng vẫn tiếp tục chơi piano cho tôi nghe. Tôi đang ở nhà thật chứ không phải tưởng tượng. Tôi đang ở nhà với mẹ, tôi leo lên một chiếc ghế tựa đặt ở phía sau chiếc ghế quay mẹ tôi đang ngồi, và tôi đưa hai bàn tay nhỏ bé lên bít mắt mẹ tôi thật mạnh, để cho đôi mắt to và hiền của người đừng trông thấy gì. Mấy ngón tay thon nhẹ của người vẫn tiếp tục lướt trên các phím đàn đánh cho tôi nghe bài Nàng quả phụ vui tươi cho đến hết. 
Dù là tên công tố viên vô nhân đạo, hay là những tên cảnh sát mà sự lương thiện đáng cho người ta ngờ vực, hay là Polein, tên khốn kiếp đã chịu mặc cả để mua lấy tự do bằng một lời khai gian dối, hay là mười hai miếng phó-mát đã ngu xuẩn theo đuôi bản cáo trạng và cách thuyết minh sự việc của bên nguyên, hay là những tên lính gác ở nhà giam cấm cố, những cộng tác viên xứng đáng của cái ngục “ăn thịt người”, không có ai, tuyệt đối không có ai, và cũng không có cái gì, kể cả những bức tường dày và cái khoảng cách xa xôi của hòn đảo mất hút giữa Đại tây dương này, tuyệt nhiên không có một cái gì thuộc phạm trù tinh thần hay vật chất có thể ngăn cản nổi những cuộc du hành nhuộm màu hồng tuyệt vời của hạnh phúc khi tôi cất cánh bay bổng lên các vì sao. 
Tôi đã sai lầm: khi tính thời gian phải một mình đối diện với bản thân, tôi chỉ nói đến thời gian bằng đơn vị giờ. 
Đó là một sai lầm. Có những lúc phải đo thời gian bằng đơn vị phút. Chằng hạn, sau buổi phân phát cà-phê và bánh mì là giờ đổ bô – sau đó khoảng một tiếng đồng hồ. Khi người ta trả cái bô sạch tôi sẽ nhận được quả dừa, năm điếu thuốc lá và đôi khi cả một mảnh giấy viết chữ lân tinh. Những lúc ấy – không phải bao giờ cũng thế, nhưng rất nhiều khi như thế – tôi đếm từng phút một. Làm như thế cũng khá dễ dàng vì tôi điều chỉnh thân thể tôi thành một quả lắc, cứ năm bước, lúc quay trở lại, tôi nhẩm đếm: một. Đếm đến mười hai thì được một phút. Có điều là xin các bạn chớ tưởng rằng tôi lo lắng muốn biết rồi mình có được ăn cái cùi dừa, vốn chính là sự sống của tôi, có được hưởng cái thú vô biên là đang ở trong cái hầm mộ này mà lại được hút thuốc mười lần trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ (vì mỗi điếu thuốc lá tôi hút làm hai lần) hay không. 
Không phải thế; vào giờ nhận cà phê, và tuy không có lý do gì đặc biệt, tôi cũng sợ rằng có một việc gì đã xảy ra với những người đang hy sinh sự yên tĩnh của mình để giúp tôi một cách hào phóng như vậy. Cho nên tôi chờ đợi, và đến khi trông thấy quả dừa tôi mới thở phào yên tâm. Quả dừa có đó, như thế có nghĩa là họ vân yên ổn.




Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Phần 8 – Sa ngã

Thắng quay đầu chiếc Taxi, lùì sát phòng hồi sức của bênh viện. nơi ông Gia và cô con gái đang đứng:

-Bác có đỡ đau hơn không?

Ông Gia cười, nụ cười kéo giản đôi môi mõng:

-Cảm ơn cậu, cũng đã khá hơn.

Ông Gia mới dọn về ở cùng con hẻm với Thắng hơn năm nay.

Nhớ ngày ông dọn nhà, chiều hôm sau thì cả xóm xôn xao, anh Hiệp chạy xe ôm bị tai nạn, thấy chị vợ lu loa luống cuống, ông gọi Taxi cùng người báo tin đến nơi bị nạn, xe cấp cứu đã đưa anh Hiệp vào bệnh viên, ông đến bệnh viện, ở đó, bao nhiêu viện phí cho ca cấp cứu ông đóng giúp, khi anh Hiệp ra phòng hồi sức, tỉnh táo, ông mới về. Khi về, ông gọi chị vợ ra hành lang dúi thêm năm trăm ngàn, nói là mua thuốc và sữa. Chị Tha vợ anh Hiệp muốn quỳ xuống mà cảm ơn. Không quỳ sao được khi mà nhà chị chỉ còn sáu chục ngàn cộng với tiền trong túi anh Hiệp nữa là một trăm ba chục ngàn, mà tiền ứng trước của bệnh viên là năm triệu.!

Lâu nay, trừ một vài nhà mua nước bình đễ uống và nấu, còn cả xóm dùng nước giếng bơm, hôi và chua lét ! Ông mua một cái máy lọc lớn, công nghệ nano, vừa lọc sạch vừa khử hết mùi, mua một bình chứa lớn, đặt trước nhà cho cả xóm dùng, ông cũng dùng chung với họ.

Ông thuê nguyên căn nhà cho hai cha con, nó gấp hai, ba lần căn phòng trọ cho cả gia đình Thắng. Cái sân nhà ông nay cũng là nơi để xe cho những nhà chung quanh. Cô con gái làm việc ở một công ty nào đó, sáng đi chiều về bằng xe gắn máy, ông Gia ít khi đi đâu, một tuần lể ông ra khỏi nhà một hai lần, thường là vào chiều chủ nhật, rồi thôi. Ba bức tường chật kín sách, chiếc bàn gỗ, cái máy vi tính và mấy chậu hoa… nuốt hết thời gian của ông.

Cư dân trong xóm quý mến cha con ông, nhưng không ai biết ông từ đâu đến, cuộc đời ông ra sao…dù rất đỗi tò mò! Tháng trước, một cơn đau ở dưới sườn phải, cô con gái đi làm, gặp lúc Thắng về nhà ăn trưa, vừa cởi áo, anh đã vội mặc lại rồi cùng hai người trong xóm đưa ông vào bệnh viên. Bác sĩ chuẩn đoán, sinh thiết và xét nghệm, hai ngày sau có kết quả. Ông  bị Ung thư gan giai đoạn cuối! Cô con gái như muốn ngất đi bên giường bệnh. 

Vừa lái xe, Thắng nhớ lại hôm đứa con trai đầu của anh bị sốt xuất huyết cách nay chừng sáu tháng, là tài xế taxi, nhưng ban đêm thì đỗ xe lại công ty. Chừng ba giờ sáng thì cơn sốt cao quá làm thằng bé lịm đi như đã chết. Chiếc xe Dame đời cũ  không còn xăng, vợ anh nôn nóng bồng con đứng chờ Thắng đạp, mãi không nổ! Ông Gia lặng lẽ đẩy chiếc xe tay ga của con gái đến:

-Cậu đưa cháu đi bằng xe này, để xe đó tôi nhắc vào cho. Cầm thêm cái này phòng hờ…

“Cái này” là bốn tờ giấy bạc năm trăm ngàn mới toanh!

Sáng hôm sau, biết là cô gái đi làm sớm, Thắng tất tả để con lại cho vợ trông, anh chạy về trả xe. Không quên mua thêm lít xăng cho xe của minh:

-Cháu khỏe chưa?

-Dạ hết sốt rồi, đang chuyền thêm nước bác à. Cô đi làm rồi ha bác. Xe…

-Nó đi taxi một bữa củng không sao. Cháu khỏe là tốt rồi…

-Bác cho cháu gởi lại tiền hôm qua, chỉ hạ sốt và chuyền nước nên không tốn kém bao nhiêu.

-Khi nào cháu về nhà rồi tính.

Thế mà hôm nay ông xuất viện với căn bệnh chết người! Cả xóm thở dài, cầu cho ông bằng an.

Thắng qua thăm ông với túi cam, ông Gia không chịu nằm mà vẫn ngồi bên chiếc bàn máy tính! Trông ông xanh và yếu. Gở gọng kính xuống, ông mời Thắng ngồi nơi chiếc ghế bên bàn với nụ cười làm giãn đôi môi mõng:

-Qua thăm tôi là tốt rồi, mua quà làm gì cho tốn kém.

-Da…chỉ mấy quả cam, Bác có thấy khỏe hơn trước khi mổ không ạ.

-Cón đau lâm râm, đã là “căng-xe” thì vấn đề là bao lâu nữa, thời gian thôi cậu Thắng ạ

-Cháu nghe nói có nhiều phương pháp mới…

-Nếu phát hiện sớm thì còn có cơ may, nhưng tôi là giai đoạn tồi tệ rồi! Thôi quên nó đi, Hình như cậu Thắng cũng theo Thiên Chúa Giáo?

Ông Gia vừa hỏi vừa chỉ lên tấm hình Chúa Giê su chịu nạn. mũ gai trên đầu với những giọt máu đọng nơi khuôn mặt đớn đau.

-Dạ, nhà cháu là đạo gốc từ trước khi vào Nam ạ.

-Quê cậu ở đâu ngoài đó?

-Dạ Nam Định ạ.

-Tôi có người bạn cùng khóa, là Linh mục Chánh xứ của một họ đạo ở đó.

-Thế…trước đây Bác có đi nhà dòng?

Một khoảng lặng ập đến, đôi môi mỏng mím lại và đôi mắt sau làn kính sụp xuống. Tránh giây phút im lặng này, Thắng nhìn qua giá sách, nơi những cuốn sách Thần học, Triết học, Văn học dày cộm…Trước đây. Có người anh kế học Đại học văn khoa, dang dở vì phải đăng lính, anh chết sau khi ra trường được hai năm ở Tiểu khu Phong Dinh. Thắng đã đọc khá nhiều những cuốn sách anh để lại, một vài cái tên mà anh quen cũng năm trên các kệ sách ở đây. Tiếng ông Giá như từ đâu đó thật xa, kéo Thắng về với gương mặt trầm tư:

-Tôi đã là Linh mục!

Thắng bất ngờ không nói được gì, anh biết một linh mục đã thụ phong thì Bí tích ấy lớn lao ngần nào!

-Giá như căn bệnh này, hay một tai nạn náo đó, đến với tôi vào lúc đó thì hay biết bao!

Thắng đăm đăm nhìn không nói gì. Một lát, ông Giá hỏi rồi tự nói không đợi Thắng trả lời, ông tiếp:

-Cậu có biết thế nào là sa ngã không? Nó là một lựa chọn xuẩn ngốc, trong giây phút mà lý trí ta không hoàn toàn làm chủ được mình. Sau tám năm làm Linh mục, tôi đã sa ngã như một cậu trai khờ khạo với một phụ nữ.

Thắng hỏi với giọng ngại ngần:

-Một phụ nữ?

-Ừ, gọi là một phụ nữ bởi cô ấy đã mang thai trước khi đến với tôi.

-Thưa bác, chắc là người trong họ đạo của bác?

-Không, cô ấy không là người có đạo, chúng tôi gặp nhau trong một đoàn từ thiện, sau đó cô ấy đến với tôi nơi giáo xứ, tôi đã nói dối với giáo dân đây là cô em họ…Nhục dục đã làm tôi không thể tách khỏi cô ấy…

-Có ai biết không ạ?

-Không, sau cái lần đầu tiên ấy, tôi như mê muội trong đam mê thân xác và sự cuồng nhiệt nhục dục nơi cô ấy…Một tháng sau, tôi tự rời bỏ họ đạo. Cô ấy muốn vượt biên, tôi cũng chỉ có con đường ấy để chọn. Theo cô ấy, Bà rịa –Vũng tàu là nơi tổ chức những chuyến vượt biển khá thành công. Nhưng trước khi thực hiên, tôi trở về gặp Giám mục Địa phận. Ngài thất vọng, nói sau khi nghe tôi xưng tội: “Cha rất tiếc, nhưng thôi, con hãy là một người cha, người chồng tốt. Cha sẽ cầu nguyện cho con”

Tôi về thăm cha mẹ. họ gặp tôi, nghe tôi nói những lời xin lỗi vì đã đi sai con đường mà họ mong ước. Bố mẹ tôi đau đớn lắm, cả hai mất sau đó không lâu. Đám tang Bố tôi có về, nhưng ngày mẹ mất hai tháng sau đó, tôi đang chuẩn bị cho chuyến vượt biên nên không về được!

Những gì ông Gia vừa bày tỏ làm Thắng bàng hoàng. Anh cũng từng nghe chuyện Linh Mục sa ngã vì phải lòng một phụ nữ, thường thì xãy ra ở đâu đó thật xa. Anh khó dấu được sự bất bình, có phần khinh miệt khi nghe ai đó nói về chuyện ấy. Nhưng giờ đây, một người bằng xương bằng thịt, ngay trước mắt mình, đang nói với mình như thú tội giữa một con người với con người. Thật lạ, anh không có ý trách cứ hay bất bình, chỉ là nỗi cảm thông và thương cảm dâng lên trong lòng.

Dường như cũng thấy được sự cảm thông nơi Thắng, ông Gia tiếp:

-Sáu tháng sau thì Cát Trinh ra đời.

-Ai ạ?

-Cát Trinh, con gái đang sống với tôi đó. Vì tôi lấy tên thánh người đỡ đầu, chính là bà mụ ở trạm xá, là Catherina. Tôi phiên âm, rồi lấy họ mình đặt tên cho nó: Trần Thị Cát Trinh. Khi sinh, cháu bị sứt môi và hơi hở hàm ếch!

Thắng nhăn mặt, ngạc nhiên vì cô gái nay khá dễ thương chứ không có dấu hiệu gì về dị tật như ông Gia nói. Đoán được ý nghỉ của Thắng, Ông Gia tiếp:

-Ngay trong bệnh viên, khi biết con mình bị sứt môi, cô ấy khăng khăng đòi bỏ đứa bé, buộc tôi phải đem cho cô nhi viện. Tôi không cam lòng, tôi an ủi cô ấy là sẽ cố gắng chạy chữa cho con sau này, nhưng cô ấy hét to như một kẻ điên:

-Đem nó đi cho khuất mắt tôi, nó có phải con của ông đâu mà ông mà tiếc!

-Tôi lặng đi, nhưng tôi thoáng nghỉ rất nhanh rằng: Con tôi hay không phải cũng chẵng sao, nó phải sống và được nuôi dưỡng, cho dù thế nào. Tôi chỉ nghỉ đến một đều là: Vì cô ấy, tôi đã phản lại lời thề khấn, giờ là hậu quả, có khác gì khi là con tôi hay con một ai đó, đã được hình thành trong thân xác của cô ta!? Hậu quả là một mầm sống và tôi phải đón nhận.

-Rồi cô ấy thế nào thưa Bác?

-Cô ấy là một người kỳ lạ! Tôi không thể không nghỉ đến hình ảnh con rắn khi nói đến cô ta, khác xa những gì tôi cảm mến khi đi làm từ thiên cùng nhau! Kể từ khi sinh Cát Trinh, tôi không cảm thấy chút mến yêu nào khi bên cô ấy, không cả thèm muốn xác thịt, ngược lại, nỗi hối hận càng ngày càng ray rứt và thật lạ, cảng hối hận bao nhiêu tối càng yêu thương Cát Trinh bấy nhiêu.

Thắng gục đầu như thầm cầu nguyện cho ông.

-Cô ấy rủa sã tôi không ngớt vì đứa con, bà mụ ở trạm xá, là hàng xóm và là người săn sóc tự nguyện cho nó. Khi Cát Trinh được bốn tháng, tôi đem cháu về Sài Gòn tìm Bác sĩ hỏi thăm về chuyện vá môi cho cháu. Một người bạn cũng là Linh Mục đã giúp tôi, Bác sĩ sau khi xem, lạc quan cho là chuyện nhỏ, chừng sáu tháng có thể phẫu thuật, rồi theo dõi thôi. Tôi rất mừng, ngoài môi trên bị mất một nữa, toàn bộ gương mặt cháu rất xinh, nhất là đôi mắt và mũi. Tôi trở về, hy vong niềm vui này làm cho cô ấy bớt buồn và có thể có được chút hạnh phúc, nhưng cô ấy không có nhà, hai ngày sau không về, trong lúc tôi đi, cô ấy đã vượt biển cùng tay chủ tàu chuyến trước mà cả hai chúng tôi cùng đi nhưng thất bại. Tôi dững dưng không hề buồn, có cảm giác như vừa trút đi một gánh nặng! Dĩ nhiên là số tiền ít ỏi mà bấy lâu bạn bè giúp đỡ cũng không còn.

Ông Gia lại im lặng như để trấn át cơn đau luôn lâm râm nơi sườn phải, lát sau ông cười như trấn an Thắng:

-Tôi làm thuê cũng đủ cho hai cha con, nhưng còn hai tháng nữa là phẫu thuật rồi, chỉ còn một cách là trở về gặp Giám Mục, tôi hy vọng Ngài sẽ có cách giúp tôi:

-Con hãy luôn cầu nguyện, có lẽ con không biết chị con đã xuất ngoại. Bà ấy gởi lại cho con số tài sản của cha mẹ con đễ lại. Con đến gặp cha quản lý nhé.

-Tôi quá mừng! không cầm được nước mắt, thương bố mẹ. thương người chị duy nhất. tôi trách mình vì mặc cảm tội lỗi mà xa lánh luôn cả chị mình! Tôi mua một miếng đất chừng ba mẫu ở Bà rịa, nó không cho tôi một chút lợi lộc nào lớn, Nhưng Chúa giúp tôi, cách nay chín năm, một công ty Đài Loan mua nó với giá tiền cao ngất ngưỡng mà chỉ nằm mơ mới có được!

Ông Thắng nghỉ một lát như để thở, rồi lại nói tiếp:

-Phẫu thuật cho Cát Trinh không đơn giản, ba lần vẫn chưa hoàn chỉnh được. giọng nói ngọng ngịu làm khổ Cát Trinh. Tôi nghỉ đến chị, lúc này đã đinh cư ở Úc và Cát Trinh đã mười bảy tuổi. Một lần nữa Giám mục đã giúp tôi, qua thư, Ngài giới thiệu cho cơ quan từ thiện Caritas, chị tôi đã bảo lãnh Cát Trinh qua Úc. Bên ấy, cơ quan này giúp hoàn chỉnh cho cháu cả môi, răng và thanh quản. Sáu tháng sau cháu trở về, trước mắt tôi là một thiếu nữ tuyệt vời cậu Thắng ạ.

-Thế bác chuyển về Sài Gòn lúc nào?

-Khi Cát Trinh từ Úc về, hồi bán được đất ở dưới đó, tôi lên mua nhà ở Thủ Đức. để tiện lo cho cháu. Năm ngoái, tôi lại bán căn nhà đó, chuyển tiền vào tài khoản của Cát Trinh, tôi chỉ giữ lại cho mình một ít. Rồi về mướn căn nhà này.

-Bác có biết mẹ Cát Trinh bây giờ ở đâu không?

Ông Gia hơi ngữa người dựa vào thành ghế, có lẽ lai một cơn đau:

-Tám năm nay tôi nuôi bà ấy! Thắng kinh ngạc, nhìn ông Gia:

-Bà ấy vượt biển rồi…

-Không đi được, bị bắt và phải ở trong trại giam bốn tháng. Chừng một tháng sau ngày bé Cát Trinh qua Úc, tôi nhận được tin bà ấy đang ở tại một ngôi chùa ngoài Trung, bị liệt nữa người! Tôi ra đó hai lẩn, lần sau khoảng hai mươi ngày trước khi Cát Trinh về. Không thể ra thăm bà ấy mãi được khi mà Cát Trinh đã đủ trí khôn. Tôi đã nói với Cát Trinh là mẹ đã chết khi nó lên ba. Từ ấy đến nay, không bao giờ nó đề cập đến mẹ. Bà ấy cũng đã năm mươi hai tuổi, bị lẩn, liệt nữa người và mờ mắt vì bị hỏng giác mạc.Tôi đưa bà ấy vào Vũng Tàu, khi về Sài Gòn, tôi cũng sắp xếp cho bà ấy tại Viện Dưỡng lão ở đây, hai tháng tôi đến thăm một lần. Gần đây, bà không còn nhận ra tôi là ai!

Thắng hơi ngập ngừng, hỏi:

-Bác không ghét bà ấy sao?

-Thực tình mà nói thì tôi không ghét, tôi cho rằng tất cả cũng nằm trong hậu quả từ một lầm lỗi của mình. Nhưng nói thương thì thật sự tôi không thấy chút tình cảm nào trong lòng. Tôi làm bổn phận như Giám mục đã dặn tôi …và như thế, tôi cảm thấy bớt ray rứt.

-Cát Trinh, cho đến lúc này vẫn không biết gì?

Ông Gia sửa lại thế ngồi, hơi khom người, hai tay khoanh lên bàn:

-Đây là vấn đề, chính vì đều này mà hôm nay tôi mới thú thật hết với cậu. Nó biết hết, biết tôi không phải là cha của nó, biết mẹ nó đã có ý bỏ nó khi vừa sinh ra. chính bà mụ ở Bà rịa đã nói hết cho nó nghe khi nó lên chín tuổi! Nó biết và im lặng cho đến tối hôm kia, khi tôi nói là mẹ còn sống và đang ở trại dưỡng lão, nếu ba chết thì con cố tiếp tục thay ba chăm cho mẹ. Nó đã nói:

-Kẻ nào dám hy sinh thì nhận được sự hy sinh. Con khước từ trách nhiệm này vì bà ấy đã như vậy với con, bà ấy đã chết! Con chỉ có Ba và ba phải sống, kể cả việc ghép lá gan của con cho ba.

-Cố ấy nói đúng quá!

-Không, đúng nhưng bất nhẫn cậu ạ. Tiếc là nó không hề có ý thay đổi khi tôi cố thuyết phục nó, hãy tha thứ và rộng lượng như kinh thánh dạy: “Hãy yêu kẻ ghét con.” Nhưng nó đã khẩn khoản: “Ba, đừng bắt con phải yêu kẻ con ghét. Con không thể!”

Ông gia cúi đầu thở dài:

-Hình như nó đã xem được câu nói này đâu đó trong những cuốn sách kia!

Im lặng một lát, ông Gia lại nói, rành rọt như đã suy nghỉ nhiều về những gì sắp nói:

-Cát Trinh đã hai mươi lăm tuổi. nó cần sống cuộc đời của nó.Thế nên tôi phải nhờ đến anh.

Thắng giật mình vì không biết ông Gia nhờ đến mình trong việc gì. Anh nhổm người nhin ông với đôi mắt kinh ngạc. Ông Gia đưa bàn tay gầy xanh đặt lên vai anh:

-Nếu hôm nay anh không qua thăm, tôi cũng qua gặp anh. Có lẽ anh không ngại giúp khi tôi nhờ. Thế này anh Thắng ạ: Cát Trinh đang cố gắng lo cho tôi qua Úc, sẽ làm mọi cách chữa trị cho tôi, kể cả việc ghép gan mà nó là người cho nếu bệnh viên thấy phù hợp. Nhưng như tôi đã nói, chỉ kéo dài thời gian sống không cần thiết mà thôi. Hiện dang có một cậu trai đang yêu và muốn kết hôn với nó, hai năm nay rồi. Tôi thấy cậu ta là người tốt, dù nghèo. Tôi hy vọng cậu ta sẽ đem đến hạnh phúc cho nó. Việc hao tốn tiền bạc và thời gian cho tôi lúc này thật vô ích! Ngày mai, cậu cùng tôi đến viện dưỡng lão, Cậu chở bà ấy đến thành phố N… theo địa chỉ tôi ghi nơi bức  thư, đưa cho Ngài, Giám Mục Phanxico, Ông Gia lại thở dài, tôi cũng chỉ còn có Ngài để nhờ vả, có lẽ là lần cuối cùng.

Thắng nhìn ông Gia với đôi mắt buồn đầy thương cảm, cuối cùng anh nói thật nhỏ:

-Cháu sẽ làm theo nguyện vọng của Bác.

Vị khách trẻ đi rồi, xe của trại mồ côi của các soeur dòng Mến Thánh Giá cũng vừa chở người đàn bà khốn khổ ra khỏi khuôn viên Tòa Giám Mục.

Giám mục ngồi gục đầu, nhắm mắt nhớ lại gương mặt của Dominico Trần Hiếu Gia, chủng sinh mà ông kỳ vọng nhiều nhất trong số những chủng sinh năm ấy. Sự hiểu biết sâu sắc về Thần học và Giáo Luật, tính tình vui tươi và linh động trong tổ chức, sinh hoạt tập thể…Hồi đó, còn là Linh mục, ông đã từ chối không nhận làm cha linh hướng cho cậu vì đang là Bề trên chủng viện, nhưng Cha đã rất hài lòng khi chính mình lại là Giám mục Truyền chức thánh cho Gia. Thế mà tám năm sau…

Giám mục mở lá thư đang cầm trên tay, xem lại một lần nữa:

“Kính Gửi Giám Mục.

“Người phụ nữ này là người mà qua cô ấy con đã phụ lòng Giám Mục và phản bội lời thề khấn với thiên chức của mình. Con đã làm cha và làm chồng. nhưng trong hai đều ấy con chỉ làm được một đều là cha tốt -dù rằng đó không hoàn toàn là máu thịt của con- với những gì con có thể. Giờ đây, con xin Ngài cho phép con gởi gắm người phụ nữ này, biết là một gánh nặng cho Ngài và Giáo phận, nhưng đó là cách hay nhất mà con buộc phải cậy trông, bởi con không thể tiếp tục làm bổn phận được.

“Thưa Giám Mục. Con đã một lần chọn lựa và ray rứt hối hận hai mươi bốn năm nay. Lần này con lại phải chọn lựa một lần nữa, phạm vào lề luật Chúa, đó là tự hủy hoại sự sống của mình! Hai chọn lựa này khiến cho con trở thành hoàn toàn bất xứng với ân sũng của Thiên Chúa. Nhưng với Ngài, con vẫn hằng mong Ngài tha thứ…Vĩnh biệt Ngài. Kẻ tội lỗi.”

Giám Mục Phanxico run rẫy bấm chuông gọi Linh Mục phụ tá. Nhưng ngài lập tức nhận ra rằng: Mọi sự đã muộn! Ngài ngước mắt lên cao làm dấu thánh: “Lạy Cha, con luôn tin vào lòng yêu thương và tha thứ nơi Cha là vô cùng, xin Cha thứ tha cho một linh hồn tội lỗi trong thân phận mong manh của con Người mà ngài đã tạo dựng. Amen!”

Sài Gòn 17 tháng 4 năm 2014.

Mùa Phục sinh.

Mùa Xuân đen

baovecovang2012.wordpress.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Phần 8

Chấm và phá

Sau 1975, cờ sao và hình lãnh tụ cộng sảng xuất hiện khắp nước Việt Nam. Cờ là cờ đỏ, sao là sao vàng, còn lãnh tụ chính là Bác. Bản vẽ hình Bác được đảng và nhà nước in màu hoa hoè, hoa sói như tài tử già vai chính trong phim xinê, được cán bộ phân phối kháp hang cùng ngõ hẽm, từ cao nguyên xuống ruộng đồng, từ Kinh lên Thượng.

Trong những buổi học tập ở phường, xã về cách mạng và Bác; người dân, nhất là những gia đình thuộc “gia đình cách mạng” gì đó, được dạy hay bảo phải cung kính Bác như Chúa Phật, phải lộng kiếng trang trọng, phải cho Bác một chỗ ngồi xứng đáng trên bàn thờ, trên tường vách và nếu có tinh thần cách mạng cao thì đuổi Chúa, đuổi Phật, cao tằng cố tổ đi chỗ khác chơi để dành chỗ cho Bác!

Một buổi sáng đẹp trời, xã Phú Lâm, huyện Hàm Thuận, tỉnh Thuận Hải, bỗng xuất hiện một số đồng bào Thưọng mang tùi tập trung trước văn phòng xã, ông bí thư xã và du kích xã thấy chuyện lạ nên ra hỏi chuyện, và họ rất ngạc nhiên khi nghe một cụ già người Thượng lên tiếng:

– Buôn chúng tôi kể từ ngày mấy ông cách mạng bảo chúng tôi thờ cái hình ông này thì bà con trong buôn bản bắt đầu đói kém, thất mùa; chúng tôi mang hình ông này trả lại cho các ông và di chuyển nơi khác trồng trọt kiếm ăn. Thờ hoài ông này thấy không linh, buôn bản đói..!

Lời ông cụ buôn trưởng vừa dứt thì bà con, đồng bào Thượng rút trong gùi ra những khung hình ông Hồ lem luốc trả lại cho xã. Chẳng mấy chốc một đống hình Bác được đồng bào Thượng bỏ nằm lăn lóc một đống trên cái bàn ọp ẹp ngoài mái hiên văn phòng xã. Dường như các cán bộ xã không chuẩn bị cho tình huống này, họ hơi hoảng, và lệnh cho du kích hốt hết hình ông Hồ đem vô trong để đồng bào khỏi thấy.

Đồng bào Thượng lũ lượt quay trở về núi theo con đường lên ga Mương Mắn, lầm lũi, nhẫn nhục, và dường như họ thấy lưng gùi của họ nhẹ hơn sau khi trút được Bác khỏi chiếc gùi . . . Có những đám dân Kinh thành phố cũng không ưa Bác, nhưng “nễ tình” hay sợ mấy tên công an, bực mình nhưng cũng phải “cắn răng” cho Bác ngồi một xó nào đó cạnh bàn thờ hay trên góc vách cho có lệ. Gặp khi các đồng chí vào nhà, phát giác ra cảnh nghịch lý về vị trí chỗ ngồi xập xệ của Bác, thế nào gia chủ cũng có “vấn đề”. Có một ông chủ nhà là “quân ngụy”, gốc Bắc kỳ Công giáo, bị ghi sổ đen, bị lên lớp, bị nạo sát ván:

– Ông hãy nhìn lại mấy người trên bàn thờ nhà ông, có ông, có bà nào có công hơn Bác, vĩ đại hơn Bác hay không mà ông treo hình Bác trong một xó vậy? Việc thờ Bác đúng vị trí hay không, nó cũng là cách biểu lộ tác phong và thái độ chính trị của đồng bào đối với Bác và cách mạng. Tôi yêu cầu ông khẩn trương điều chỉnh gấp ! Vài hôm tôi trở lại thăm ông!

Hắn nói nhiều điều làm như hắn muốn người ta dẹp bàn thờ tổ tiên đi để chỉ thờ Bác, hay ít ra cũng để Bác ngồi chỗ trang trọng ngang với ông Phật, ông Chúa; và nếu không thờ thì phải treo nơi phòng khách ở một vị trí ngon lành cho mọi người dễ thấy, dễ nhìn. Khi hắn ra khỏi nhà, chủ nhà mặt mày xanh lè, lo âu về những bất trắc lơ lững trên trần nhà. Chủ nhà bàn với vợ:

– Không thể để ông Hồ lên bàn thờ Chúa, lên bàn thờ Bố mẹ. Bố mẹ năm xưa đã bị đấu tố chết trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất vì lão, em biết không! Chuyện đau đớn này anh cay tới chết! Thôi thì đem lão ra phòng khách, tạm lựa chỗ cao sang trọng, treo cổ lão trên tường ban ngày, tối ngủ cho thằng chả xuống bếp!

Bà vợ ngạc nhiên, thắc mắc:

– Sao lại xuống nhà bếp! Anh không biết là độ này công an hay xét nhà tìm người lạ cư trú bất hợp pháp hay vượt biên hay sao? Lỡ họ hỏi Bác Hồ đâu thì anh trả lời làm sao? Hay họ ra sau bếp thấy Bác Hồ nằm cạnh nồi cá kho thì có cách chi trả lời cho xuôi?

– Có chứ! Mình cứ nói đem Bác xuống bếp lau chùi mặt kính, sáng mai treo lại trong phòng khách? Em lo chi cho ốm o gầy mòn?

– Ừ! Không ốm đâu! Anh chỉ là trung sĩ mà đi học tập cả mấy tháng, mấy tháng đó anh biết em ốm xuống bao nhiêu ký không? Thôi đi cha! Ngày tù về ốm như cây tăm, như bộ xương biết đi mà không biết sợ!

Thế là anh chồng hạ sĩ quan gốc “Pháo Binh Dù Mũ Đỏ” thương vợ, phải đem ông Hồ ra phòng khách treo lại chỗ cũ cho chắc ăn. Dưới ánh đèn mờ mờ, anh “hạ sĩ quan ngụy quân nhất Pháo nhì Phi”, đối tượng dễ ghét của bộ đội cụ Hồ trong những trận bị pháo binh dập chạy thục mạng khi xưa, dường như thấy Bác nhe răng, cười hài lòng:

– Ừ mày cũng biết sợ? Tốt! Đừng dại nghe con! Tù nghe con!

Thành phố sau 1975 điện cúp dài dài; mưa to cũng cúp điện, trăng sáng cũng cúp điện, nắng trưa cũng cúp điện, muốn cúp là cúp, muốn sáng là sáng. Tại đầu công viên Cộng Hoà của thành phố, nhà nước mới dựng một hình ông Hồ bằng gỗ, sơn mầu sắc lộng lẫy, tay ôm sách, tay giơ cao chào mọi người, mĩm cười xã giao, bên cạnh một trụ cao có cây đèn “neon” rọi ánh sáng vào mặt Bác để nhân dân thấy Bác cả ban ngày lẫn ban đêm. Mỗi khi điện tắt, hình Bác tối thui, nụ cười của Bác biến mất. Thường thì người ta chỉ thấy bàn tay năm ngón và nụ cười của Bác vào sáng hôm sau.

Bàn tay đưa cao chào mọi người của Bác còn đủ năm ngón, mập mạp, không có ngón nào cụt, xứng hợp với gương mặt bành hồng hào, nụ cười cầu tài của Bác được đảng sửa sắc đẹp trình làng cho bà con chiêm ngưỡng; song mấy tên miền Nam phản động thì bảo rằng Bác Hồ đưa 5 ngón tay là Bác hứa các sĩ quan miền Nam tự giác trình diện con cháu Bác thì chỉ ở có 5 năm tù cải tạo. Có đứa lại bảo Bác hứa ai vượt biên bị bắt cũng ở tù 5 năm thôi. Có đứa ngây thơ còn bảo Bác ra dấu rằng thì là “Tao chiếm và ở miền Nam 5 năm thôi”.

Thế nhưng nước sông Mường Mán vẫn chảy qua cầu Quan, mây trắng vẫn bay trên trời Phan Thiết, thời gian vẫn trôi vô tình qua cửa sổ, hình Bác vẫn đứng “hoành tráng, vô tư, tỉnh bơ” ở đầu vườn hoa Cộng Hòa cũ đầu đường Gia Long mà không có đứa nào dám hở môi thắc mắc.

Có lần một tên cán bộ từ Bắc vào, muốn “đóng xi măng” cho chắc những luận điểm tâng bốc Bác lên mây xanh, mây vàng, hắn bảo. . . các đồng chí và đồng bào nên biết, có lần Bác dắt chúng tôi đến thăm đền Đức Trần Hưng Đạo, Bác đã dõng dạc chỉ tay vào Đức Thánh Trần nói một câu đi vào lịch sử rằng “Bác dắt một nước qua nô lệ, tôi dẫn năm châu đến đại đồng? Đại đồng là giải phóng toàn thế giới đặt toàn thể nhân loại dưới sự lãnh đạo tài tình của Bác đấy! Các đồng chí và đồng bào thấy Bác vĩ đại chưa?

Chuyện cúp điện thất thường là chuyện cơm bữa, nhưng có một hôm, cái chuyện bình thường đó nó trở thành bất thường truyền nhanh trong thành phố. Đó là sau một đêm bị cúp điện, sáng ra, thay vì người ta thấy lại bàn tay năm ngón của Bác, nụ cười một ngày như mọi ngày của Bác, thì thay vào đó, lợi dụng đêm tối như mực khi điện bị cúp, một kẻ phản động nào đó đã cột vào bàn tay năm ngón “kiêu sa” của Bác một lá cờ vàng ba sọc đỏ đủ lớn để từ xa, bà con thấy rõ ràng là Bác đang vui vẻ cầm cờ miền Nam mà miệng Bác vẫn tươi cười.

Lá cờ lồng lộng trong gió sớm như một thách thức lạ kỳ . Khắp các ngả đường, bà con trong thành phố không ai dám đến gần, sợ bị nghi ngờ, sợ bị vạ lây, nhưng tập trung từng nhóm đứng xa chỉ chỏ, bàn tán, xì xào rất ư là thích thú…

Khi công an thị xã được báo động về “sự cố” bất thường kinh khiếp này, họ tập trung về công viên thành phố rất đông, nhưng không tên nào dám tới gần chỗ Bác cầm cờ vàng. Đồng bào tụ lại ngày càng đông, nhưng điều ngạc nhiên là đám công an chỉ đứng nhìn và liên lạc nhau qua máy truyền tin một cách có vẻ căng thẳng, nghiêm trọng như để xin và chờ chỉ thị từ một cấp cao nào đó.

Thì ra, nếu đến gần, người ta lại thấy dưới tay Bác cầm cờ lại cột dính một gói nhỏ màu vàng có ghi chữ “bom mìn”.

Cục “bom mìn” được cột chằng chịt vào tay Bác bằng những sợi giây kẽm mà bất cứ ai có gan bằng gan ông Trời cũng không dám mó tới hay tháo gỡ, nếu không muốn ra nghĩa địa sớm với ông bà .

Trong đám công an, người ta cũng nghe họ bàn tán xì xào Có một anh công an gốc Bắc từng vỗ ngực là khi còn trong quân đội, anh ta đã nhiều lần ôm mìn bộc phá, cắt kẽm gai đánh đồn quân “ngụy”, coi cái chết nhẹ tựa lông . . .gà, nhưng lúc này lại án binh bất động nói oang oang:

– ĐM! Mìn nữa mới ác! 30 năm chống Mỹ không chết, nẽ nào nại phải đi đoang vì cục mìn tòn ten dưới tay Bác? Tớ đâu còn ný do để phải ngu mà nhào vô tháo cục mìn!

Dường như tất cả toán công an có mặt tại hiện trường đều có ý nghĩ y như anh sĩ quan công an gốc bộ đội, dù không biết anh ta có thực đã từng ôm mìn cắt kẽm gai trong những trận công đồn trong chiến tranh trước đây hay không, nhưng cuối cùng họ đã đùa của nợ “cờ mìn” qua cho thị đội, mà thị đội thì chưa chuẩn bị “phương án” giải quyết.

Thế là Bác Hồ được quyền cầm cờ vàng ba sọc đỏ tới xế trưa, và thiên hạ ngày càng đông nghẹt các ngả đường, ngỏ hẻm nhìn cảnh Bác cầm cờ miền Nam. Người ta thấy đội công an chữa lửa hú còi chạy tới, nhưng cũng chẳng có tên nào dựng thang chữa lửa cho người leo lên tháo cờ. “Sự cố” này làm cho công an thị xã và tỉnh ủy giận lắm. Cái gì đến thì phải đến, cuối cùng là bí thư tỉnh ủy phóng xe đến hiện trường và ra lệnh:

– Các đồng chí phải hạ cờ “ngụy” bằng mọi giá? Không thể kéo dài, khẩn trương lên!

Lệnh vừa đưa ra, người ta thấy xe chữa lửa chuyển động, giương cầu thang di động đến gần bàn tay Bác cầm cờ. Một tên công an cẩn thận dùng một cây dài thòng giây vào bàn tay Bác, thận trọng, rón rén sợ trái mìn nó nổ bất ngờ. Hắn cẩn thận buông sợi giây dài từ từ xuống đất, rồi từ từ làm hiệu cho xe lui xa. Giây phút căng thẳng, chờ đợi của hàng mấy trăm cặp mắt đổ dồn vào bàn tay Bác. Mặt Bác tỉnh bơ! Lá cờ vàng trong tay Bác vẫn tung bay dưới nắng trưa chói chang, nóng bức khi gió từ biển thổi vào thành phố. . .

Sợi giây sau đó được cột vào càng xe cứu hỏa. Tên sĩ quan công an làm hiệu lệnh, phất tay. Xe bắt đầu de lui, sợi giây cột tay Bác căng dần. Người ta chờ đợi một tiếng mìn hay bom nổ từ cái gói lạ cột theo tay Bác. Thế nhưng, khi bàn tay Bác bị kéo căng, gãy cái rắc, lặt lìa, rơi xuống đất thì chẳng thấy mìn nổ. Thì ra sau khi công an dùng kỷ thuật phá bom mìn phá vở gói nylon, cục mìn chỉ là cục đá vô tri.

Không thấy Bác nói năng gì ngoài những tiếng chửi thề trong đám công an . . .

Ảnh Bác còn đó song mất một tay, và điều này đảng cũng không chấp nhận được, vì Bác cụt tay hồi nào đâu! Ngày Bác chết Bác còn hai tay mà! Vì thế, ngay chiều hôm đó, nhân công được đưa tới tháo dàn gỗ, hạ ảnh Bác nằm xuống đất Bác nằm xuống với cánh tay gãy. Người lớn bị đuổi đi chỗ khác chơi, nhưng mấy đám con nít thì bu lại rất đông, chỉ chỏ, cười hô hố: “Bác Hồ cụt tay! Bác Hồ cụt tay!”. Bác nằm đó một tí là được xe truck mang đi ngay, nhưng không thấy mang Bác vào nhà thương đăng bột!

Để trống dàn gỗ nơi ảnh Bác bị tháo xuống là thua mấy thằng phản động, nên hôm sau, nhà nước ta cho dựng một bản gỗ lớn thế chỗ ảnh Bác bị tháo đi. Tấm bảng mới mang dòng chữ lớn đậm nét như sau: ” Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại muôn năm!”

Suốt tuần lễ đầu sau khi bảng hiệu “Bác muôn năm” được dựng lên, công an chìm, nổi cứ lảng vảng ngày đêm nơi công viên, chắc có lẽ để rình xem có tên phản động nào cả gan dám giỡn mặt Bác nữa hay không. Chả có gì nghi ngờ xẩy ra, công an gác hoài cũng mệt, cũng nản. Vã lại, không còn ảnh Bác, không còn bàn tay năm ngón của Bác thì lấy chi bọn phản động cột cờ vào tay bắt Bác cầm. Dần dà thì công an cũng biến mất, chả thấy gác xách gì. Câu chuyện Bác cầm cờ vàng ba sọc đỏ cũng lắng chìm đi . . .

Rồi cũng lại những đêm cúp điện, những sáng thức dậy đi ngang công viên, bảng hiệu “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại muôn năm” vẫn còn đó. Sinh hoạt trong thành phố bình thường như mọi ngày. Nhưng không!

Đến một hôm, thành phố xôn xao trở lại. Thì ra, khi mặt trời bắt đầu lên, rọi rõ từng con đường, từng ngỏ ngách trong thành phố, sau một đêm mất điện, người ta bỗng phát giác có một sự thay đổi thật kỳ diệu trên tấm bản gỗ mà nếu Bác có tái sinh, chắc Bác có thể bị “heart attack” lăn quay ra chết, không kịp chui vô mồ trở lại. “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại muôn năm” mới hôm qua nay đã trở thành “Chủ tịch Hồ Chí Minh vì đái muốn nằm” sáng nay.

Đồng bào qua đường lại trầm trồ, chỉ chỏ, bàn tán về hàng chữ trên bảng hiệu biến mất cái nghĩa mà đảng và nhà nước trân trọng muốn người dân ghi lòng tạc dạ ơn Bác, thì nay lại thành cái nghĩa tầm thường, khôi hài, mang tính phản động. Hoá ra lợi dụng đêm tối tắt điện, một hay vài kẻ phản động nào đó đã bôi một dấu ngã (~), đồ mực thành dấu huyền ( `), xoá một dấu nặng ( . ) thêm một dấu sắc ( ‘ ), thêm một dấu sắc ( ‘ ), thêm một dấu huyền ( `) trong hàng chữ trên bảng để câu đảng và nhà nước trân quý thành ra một câu gần như muốn chọc quên Bác, chử cha nhà cầm quyền! Nhà nước ta như bị bò đá trúng … dế!

Chỉ có 4 nét chấm phá, thêm bớt đó mà “Bác Hồ” từ trên cao đã nhào xuống đất. Đảng và nhà nước ta đâu phải gỗ đá mà không tức điên người. Tội của tên phản động này giỡn mặt nhà nước, và chữ nghĩa kiểu này nghìn kí lô nặng hơn tội phạm húy thời xưa trong quan trường thi cửa; và nếu như chơi trong ngày đầu đảng còn say men chiến thắng, coi càn khôn vũ trụ như hạt cát ngoài bờ biển Thương Chánh.

Bảng biểu ngữ đổi nghĩa thành “Chủ tịch Hồ Chí Minh vì đái muốn nằm” sau đó cũng được nhà nước ta tức tốc đem đi mất tiêu.

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  
Post by Sơn râu 6 Nov 2025

Chương 3

Tối ngày lễ tháng giêng, người ta đến kiếm tôi. Khi bước ra hành lang, tôi thấy trước mỗi phòng giam một hay hai người đứng đợi sẵn. Chúng tôi nhìn nhau, đầy râu tóc, xanh xao, như ma quỷ. Tên lính canh nói với chúng tôi bằng giọng gần như lễ phép rằng đây là một cuộc khám bệnh và ngày mai chúng tôi sẽ lên đường sang Đức, qua Compiègne, trại giam chính. Tin tức chiến tranh chấm dứt và do đó, tự do của chúng tôi không còn tác dụng gì với chúng tôi nữa. Đối với chúng tôi, thoát ra khỏi nhà mồ nầy là thực sự được phóng thích rồi. Chấm dứt nỗi lo âu hàng ngày, có lẽ chấm dứt luôn các cơn đói bụng và chấy rận.

Trong tận cùng sân, nơi để chiếc bàn giấy, người ta đưa từng nhóm 10 người vào một bác sĩ, chung quanh nhiều hạ sĩ quan vây bọc, lục vấn chúng tôi, Sau khi ghi đầy các mẫu phiếu khác nhau, một người trong bọn, có vẻ là cấp chỉ huy, ứng khẩu phải ra một bài diễn văn ngắn:

– Montluc, đã chấm dứt với các anh. Nội vụ của các anh đã được xếp, và các anh có thể nói là mình đã gặp may mắn. Các anh sẽ sang Đức làm việc, mỗi người sẽ theo ngành chuyên môn của mình.

Kể từ lúc đó, chúng tôi có thể được kể vào hàng những người sống sót. Ba hôm trước, 24 con tin đã được lựa chọn một cách ngẫu nhiên trong số tù nhân để đem đi bắn bỏ. Vậy thì thoát được chuyện đó, chẳng qua chỉ là một ân huệ đối với phần số mỗi người. Cũng như ngoài mặt trận: một mảnh đạn trái phá hay một viên đạn lạc.

Vậy là những điều Paul kể lại đêm nào nay đã được xác nhận. Cơ quan Gestapo bị tràn ngập hồ sơ. Các cuộc điều tra chồng chất và ngay cả những tên điểm chỉ sốt sắng quá mức cũng đành chịu để mọi chuyện rối tung. Như vậy, ngoại trừ các vụ quan trọng và các tử tội, từng đoàn công-voa đều đặn đưa những người bị bắt về phía thị trường nô lệ mới là nước Đức dưới thời Đệ III Quốc Xã

Đêm cuối cùng trong nhà mồ, tôi không hề chợp mắt được chút nào. Như một cuốn phim bất tận, tất cả câu chuyện phiêu lưu tuần tự diễn ra trong trí tôi, và những gì thiếu sót trong mấy tháng qua, nay hiển hiện trước mắt, ngay trong tầm tay. Sáng hôm sau, lúc trời còn thật sớm, tôi rời các bạn cùng phòng giam. Sau khi biểu lộ tình đồng bạn trong cùng cảnh ngộ, người ta chúc nhau được may mắn. Tâm trí tôi phiêu dạt đâu đâu… tôi sẽ không bao giờ gặp lại họ nữa.

Một niềm vui khác chờ đợi tôi lúc sắp khởi hành: Pierre. người bạn mà tôi chưa được gặp lại từ buổi nói chuyện bên bồn rửa mặt, và Hubert với viên đạn trong đùi, cũng lên đường với tôi. Cũng như tôi, hồ sơ của họ cũng bị chìm ngập trong vô số các hồ sơ khác, và cũng như tôi, họ có thể nhận thấy điều đó là đúng. Chúng tôi bị dồn cục trong sân một lần cuối. Sau khi nhận một khúc bánh mì và một mẩu phó mát, cho cả cuộc hành trình, họ đưa chúng tôi lên xe ca để ra ga Lyon- Perrache, nơi đây cả một chiếc xe lửa đợi chúng tôi. Chiếc cổng ra vào rộng lớn, những bức tường nhà lao lùi xa dần, rồi sau một khúc quanh, biến mất. Trên đường, bộ hành đã đi lại nhưng chúng tôi chỉ nghĩ đến tốc độ của chiếc xe ca. Nhiều lần đã có sự lầm lẫn và chúng tôi bị cho trở lại Montluc! Brr.. một nỗi run sợ khi nghĩ đến chuyện đó. Đi đến đâu cũng được, nhưng đừng trở lại trong đó, vì lẽ làm sao quên được nhưng nỗi âu lo mỗi lần có vụ gọi tên các tù nhân bị chọn một cách bất ngờ làm con tin để đem đi bắn bỏ thị uy; mỗi lần nghe tiếng rên la của những người bị tra tấn và người đàn bà có chửa còn trẻ bị một tên thô bạo đánh đập trước mắt tôi?

Sau cùng xe đến ga xe lửa. Chúng tôi đông hàng trăm. Đầu máy đã huýt còi. Một giai đoạn đã trải qua, một giai đoạn nhọc nhằn, nhất là về phương diện tinh thần. Tất nhiên là không ai biết gì về chỗ đến thật sự của chúng tôi.

Đời sống trở lại thật nhanh, và trên tàu, tràn ngập niềm vui sướng. Cùng với Pierre và Hubert, chúng tôi sắp xếp để được ở cùng một toa, gần cửa sổ. Ai biết đâu, một cơ hội tốt có thể xảy đến… Trước mỗi toa, vẫn có một lính canh nhưng vào lúc 2 giờ sáng, giấc ngủ đi vào mức say sưa, nhất là tên lính gát toa chúng tôi lại không có vẻ gì là có mưu lược. Nhưng vẫn còn là một ảo tưởng nếu tin rằng họ đưa chúng tôi đi mà không một biện pháp đề phòng nào, nhất là lúc ban đêm. Các viên thanh tra đã đổ xô đến vào lúc đầu hôm cùng với còng và dây trói, và mọi dự định đều tan ra mây khói! Thật đáng tiếc, một vụ như vậy Hubert rất rành. Anh ta đã từng trốn thoát khỏi một trại giam Đức năm 1942.

Tôi quen anh ta ở Vichy. Thời đó ai cũng đến Vichy vì đó là thủ đô. Nơi đây sự hèn nhát và sự tầm thường liên kết với nhau một cách thường trực. Và cùng với những người khác, ngay cả với những tù nhân vượt ngục, người ta quyết định làm một cái gì, tất nhiên là để quấy rối người Đức. Và, coi, tại sao lại không bày trò giải trí bằng cách giúp những người còn kẹt trong tù tẩu thoát? Mỗi người ít ra cũng biết được vài chàng trai dễ thương, và một khi về đến Pháp, họ làm cho con số người không chấp nhận sự bại trận và sự nhục nhã càng thêm đông.

Trong các bưu phẩm chính thức gởi cho những người bị bắt; một cục xà bông, một bộ cờ đam, lưng của một chiếc bàn chải giặt áo quần, đều có chứa giấy tờ cần thiết để vượt qua biên giới như là công nhân được phép. Cần phải có thì giờ để tổ chức, nhưng mỗi lần thành công là cả một ngày hội! Không có vụ vớt hàng tàu chìm nào thú vị hơn! Các chi bộ được tổ chức, cần cho các hoạt động vừa nhiều vừa thay đổi. Những điều mà chúng tôi làm như chơi trò thể thao đã trở thành bi kịch và trở thành một cuộc chiến tranh bí mật chống lại kẻ thù chung, và những kẻ trở về được, không bao giờ chịu nghỉ ngơi. Không có một cuộc tiếp rước nào được dành cho họ, họ bắt buộc phải vào chiến khu. Và cũng giống như các cuộc chiến tranh khác, bao giờ cũng có tổn thất. Nhiều người hữu trách đã bị bắt năm 1943 và tôi gặp họ trong bóng tối vài tháng sau. Đến phiên Hubert kể chuyện của anh. Đến Grenoble ngày 11 tháng 11, anh ta bị bắt trong một cuộc bố ráp sau một cuộc biểu tình do kháng chiến địa phương tổ chức.

Nhưng vì anh dự định tẩu thoát, một cảnh sát bắn vào anh. Bị một viên đạn vào đùi trái, anh nhào lăn xuống vỉa hè và bị tên sát nhân (là cảnh sát thời bị chiếm đóng) giữ cho đến khi một xe tuần tiễu của Gestapo đến lượm. Trong khi chờ đợi, chỉ có vài phút sau, hai người Pháp một yêu nước, một phản bội, có thì giờ dò dẫm chiều sâu của hố ngăn cách giữa hai người.

Trong toa xe, khi đêm đến, mọi người đều ngủ say. Chúng tôi thì tiếp tục chuyện trò nho nhỏ. Tàu chạy ngang qua Ba-lê vào lúc rạng đông, vì phải làm cách nào cho người khác không trông thấy chúng tôi, và chúng tôi đến Compiègne sáng ngày 20 tháng giêng. Trời mưa, và dân chúng đứng trên sân ga, không áo choàng, nhìn chúng tôi đi qua. Sau khi kiểm điểm, viên chỉ huy nói với giọng ngọt ngào rằng ông ta tin tưởng chúng tôi không để xẩy ra chuyện gì giữa nhà ga và trại tập trung ở bên kia thành phố. Chúng tôi sắp hàng năm đi tới, lính gát bao xung quanh, nhưng với khoảng cách khá xa. Rõ ràng là tình trạng thuận lợi đáng thử lắm, những con đường mỗi bên, những nhà đổ nát vì bom, nhưng trước hết phải tạo ra một sự hỗn loạn, như đó mới dễ trốn thoát được. Phải trải qua nhiều thử thách khác với các thử thách mà chúng tôi chịu đựng mới dám mạo hiểm như thế. “Nói cho cùng, mỗi người đều tự nhủ, làm việc ở Đức hay ở Pháp cho tổ chức; “Todt” cũng giống nhau cả, và sự dễ dàng đã được tâm trí chấp nhận mau hơn là sự mạo hiểm. Một hàng rào đã xuất hiện, một hàng rào nữa, trại tập trung đến gần. Cơ hội vẫn còn đến trễ. Ừ, thì sẽ tẩu thoát trên chuyến tàu đưa chúng tôi sang Đức vậy. Họ biết rõ những gì họ đã làm khi để chúng tôi thiu thối trong xà lim hàng mấy tháng, Ở đó thoát ra với vẻ mệt nhọc, chúng tôi bước đi một cách vô thức, bước đi mãi, và đi vào trại Compiègne, như một bầy cừu.

Sau khi bị đếm đi đếm lại, mỗi người chúng tôi nhận một thẻ bài có số và đi về phía khu vực dành cho những kẻ mới đến. Họ là những người bị bắt khắp nơi trên đất Pháp, nơi đây người ta có thể nghe hầu hết các giọng nói địa phương đặc biệt. Trong khi trà trộn tham dự vào câu chuyện của các nhóm, những cựu tù nhân ở Montluc được chú ý mau lẹ; họ chịu đựng sự đầy ải tồi tệ nhất.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 6 Nov 2025

Bài 25

Quần đảo Salut – Đến Quần đảo

Mai là ngày chúng tôi phải lên tàu ra Quần đảo Salut. Mặc dầu tôi đã đem hết sức bình sinh ra cưỡng lại số phận, thế mà giờ đây chỉ còn mấy tiếng nữa tôi sẽ bị đưa đến nơi giam hãm suốt đời. Trước hết tôi phải qua hai năm cấm cố ở đảo Saint-Joseph. Tôi hy vọng sẽ làm cho cái biệt hiệu mà tù khổ sai đã đặt cho nó: đảo “ăn thịt người”, không còn đúng nữa.
Tôi sẽ thua cuộc, nhưng không hề có tâm trạng của một kẻ bại trận. 
Tôi phải lấy làm mừng là chỉ phải giam hai năm trong cái nhà tù của một trại tù này. Như tôi đã tự hứa, tôi sẽ không để tình trạng hoàn toàn cô độc đưa tôi đến chỗ mất trí. Tôi đã có phương thuốc chống lại nguy cơ dó. Tôi phải thấy trước là tôi sẽ được tự do, lành mạnh như một tù nhân khổ sai bình thường trên quần đảo. Khi ra khỏi nhà cấm cố, tôi sẽ được ba mươi tuổi. 
Ở Quần đảo, những vụ vượt ngục hết sức hiếm hoi, tôi biết điều đó. Nhưng dù có thể đếm trên đầu ngón tay, vẫn có những người đã vượt ngục. Thế thì tôi, tôi cũng sẽ vượt ngục đó là điều chắc chắn. Hai năm nữa tôi sẽ trốn khỏi Quần đảo, tôi nhắc đi nhắc lại như vậy với Clousiot đang ngồi cạnh tôi.
– Bươm bướm, anh bạn già của tôi, quả thật khó lòng có thể làm cho anh nản chí, và tôi thật thèm muốn niềm tin mà anh mang trong lòng, niềm tin là chắc chắn một ngày kia anh sẽ được tự do. Đã suốt một năm ròng anh không ngừng vượt ngục, và chưa có lần nào anh từ bỏ ý định. Vừa mới thất bại vụ này anh đã chuẩn bị một vụ khác. Tôi lấy làm lạ rằng ở đây anh không thử làm gì cả.
– Ở đây chỉ có một cách thôi, bạn ạ: tổ chức một cuộc nổi loạn. Nhưng để làm việc đó tôi không có đủ thì giờ nắm vững trong tay tất cả những con người khó điều khiển này. Tôi đã suýt gây nên một cuộc nổi loạn, nhưng tôi đã thấy sợ bị nó nuốt chửng. Bốn mươi người bị giam ở đây đều là tù khổ sai lâu năm. Con đường của sự thối nát đã cuốn hút họ, họ phản ứng khác chúng ta. Dẫn chứng: “ăn thịt người, hai anh chàng giết người bằng kiến, lại còn cái người đã bỏ thuốc độc vào xoong xúp nữa: để giết một người, hắn đã không do dự đầu độc luôn bao người khác chưa hề làm gì phương hại đến hắn.
– Nhưng ở quần đảo vẫn sẽ là kiểu người đó.
– Đúng nhưng tôi không sẽ vượt ngục ra khỏi Quần đảo mà không cần đến ai hết. Tôi sẽ ra đi một mình, hay quá lắm, là với một người bạn. Tại sao cậu lại cười mỉm hở Clousiot?
– Tôi cười là vì không bao giờ cậu chịu bỏ cuộc. Ngọn lửa dang thiêu đốt ruột gan cậu, sự nóng lòng được về Paris chìa sổ nợ ra cho ba ông bạn kia, cổ vũ cậu mạnh mẽ đến nỗi cậu không thể thừa nhận rằng những điều mà cậu mong muốn thiết tha đến thế lại có thể không được thực hiện. 
– Thôi chào Clousiot, hẹn đến mai. Phải, chúng mình sẽ trông thấy cái Quần đảo Salut chết tiệt ấy. Điều đầu tiên cần phải hỏi là tại sao những hòn đảo giết người ấy lại được gọi là Quần đảo Salut (Quần đảo Cứu vãn)?
Rồi quay lưng lại với Clousiot, tôi nghiêng đầu một chút cho mặt tôi đón lấy gió biển ban đêm.
Sáng hôm sau, từ rất sớm chúng tôi đã được đưa lên tàu để ra Quần đảo. Có cả thảy hai mươi sáu người trên một chiếc tàu thủy trọng tải bốn trăm tấn gọi là chiếc Tanon, một chiếc tàu chuyên chạy ven biển đi đi lại lại như con thoi giữa Cayenne, Quần đảo Saint-Laurent và khứ hồi. Cứ hai người một bị ghép vào nhau bằng sợi xích chân và một đôi khóa tay. ở phía trước là hai nhóm tám người, mỗi nhóm được bốn tên lính canh cầm súng trường giám sát. Một nhóm mười người ở phía sau với sáu tên lính canh và hai viên chỉ huy đội áp giải. Tất cả đám người ấy đều đứng trên boong của chiếc tàu cũ nát chỉ chực đắm bất cứ khi nào biển động.
Vì đã quyết định sẽ không suy nghĩ trong khi đi đường, tôi muốn bày trò giải trí một chút. Chỉ để làm cho tên giám thị đứng gần tôi nhất bực mình (hắn có một bộ mặt đưa đám), tôi nói với hắn rõ to: 

– Với những thứ xiềng xích mà các anh bắt chúng tôi mang, chúng tôi sẽ không có cách gì trốn thoát nếu chiếc tàu mục nát này chìm; điều này rất có thể xảy ra khi biển động.
Đang ngái ngủ, tên gác phản ứng đúng như tôi đã dự tính.
– Chúng mày có chết đuối hết ông cũng đếch cần. Đã có lệnh xích chúng mày lại, chỉ có thể thôi. Trách nhiệm thuộc về những người ra lệnh ấy. Còn chúng tao thì có thể nào cũng không quan hệ gì.
– Xét cho cùng ông nói có lý lắm, thưa ông giám thị, vì có bị xích hay không bị xích thì khi cái quan tài này vỡ dọc đường, tất cả chúng ta đều chìm xuống đáy biển như nhau.
– Ồ! – Tên gác đần độn kia nói, – tàu này đi biển đã lâu lắm rồi mà chưa bao giờ làm sao cả.
– Đúng quá, nhưng chính vì nó đi biển đã quá lâu cho nên đến bây giờ nó đã đến mức sẵn sàng chìm bất cứ lúc nào.
Tôi đã đạt được ý muốn: lay chuyển cái không khí im lặng ở xung quanh đang làm cho tôi bứt rứt. Lập tức đề tài của tôi được tù nhân và giám thị cùng hưởng ứng.
– Đúng, chiếc tàu này đã ọp ẹp đến mức độ nguy hiểm, mà người ta lại xích chúng tôi. Không có xích thì dù sao cũng chút hy vọng.
– Ồ! Cũng thế cả thôi. Bọn tao mặc quân phục đi ủng đeo súng thế này, cũng chẳng nhẹ hơn.
– Súng thì không kể, vì hễ tàu đắm có thể bỏ ngay ra, – một người khác nói.
Thấy câu nói ăn khách, tôi cho ra câu thứ hai:
– Xuồng cấp cứu đâu cả rồi nhỉ? Tôi chỉ thấy một chiếc rất nhỏ. Quá lắm cũng chỉ được tám người, vừa đủ cho ông thuyền trưởng và đội thủy thủ. Còn những người khác thì đi tong!
Thế là nổ ra một phản ứng hàng loạt, ở một cung bậc rất cao.
– Đúng đấy chẳng có xuồng xiếc gì cả, mà cái tàu này thì ọp ẹp đến nỗi người ta phải vô trách nhiệm một cách không thể nào chấp nhận được mới bắt những người có vợ có con phải bất chấp hiểm nghèo để đi áp giải cái lũ khốn kiếp này.
Vì tôi ở trong nhóm tù đứng ở phía sau, hai người chỉ huy đội áp giải đều đứng gần tôi. Một trong hai người nhìn tôi rồi nói:
– Anh là Bươm bướm ở Colombia mới về phải không?
– Vâng.
– Tôi thấy điều đó không có gì lạ: anh có vẻ thông thạo về nghề hàng hải lắm nhỉ.
Tôi trả lời một cách hợm hĩnh:
– Vâng, cái đó thì tôi thạo.
Câu nói của tôi gây được một không khí rờn rợn.
Vừa lúc ấy viên thuyền trường từ trên lầu chỉ huy bước xuống, vì bây giờ chúng tôi vừa ra khỏi cửa sông Maroni, và đó là chỗ nguy hiểm nhất cho nên ông ta phải thân hành cầm bánh lái. Bây giờ ông ta đã trao nó cho một người khác. Vậy thì ông thuyền trưởng, da đen láy như người Tombouctau, khổ người thấp và mập, mặt còn khá trẻ, cất tiếng hỏi xem những tay đã cưỡi mấy mảnh ván nhỏ xíu giong buồm đến tận Colombia ở đâu.
– Đây tay này, và tay kia nữa đứng bên cạnh, – viên chỉ huy đội áp giải nói.
– Ai là thuyền trưởng? – ông thuyền trưởng lùn nói.
– Thưa ông, tôi ạ.
– Thế thì, với tư cách thủy thủ, tôi có lời ngợi khen anh bạn. Anh chẳng phải là người tầm thường. Tôi có cái này! – Ông ta thọc tay vào túi áo rồi nói tiếp – Anh hãy nhận lấy gói thuốc lá xanh và mớ lá quấn thuốc này. Anh hút để chúc sức khỏe cho tôi đi.
– Cám ơn ông thuyền trưởng. Nhưng về phần tôi, tôi cũng phải ngợi khen ông đã có đủ can đảm đi biển trên cái quan tài này, hình như mỗi tuần một hai lần thì phải.
Ông ta cười ha hả, làm cho những kẻ tôi đang muốn trêu thấy tức đến tận cổ. Ông ta nói:
– Chà! Anh nói đúng quá! Cái tàu khổ này đáng lẽ phải được đưa vào nghĩa địa từ lâu, nhưng bên công ty họ nhất định đợi cho nó chìm để lĩnh tiền bảo hiểm.
Tôi liền kết thúc bằng một câu xỏ xiên:
– Cũng may mà ông và đội thủy thủ còn có được một cái xuồng cấp cứu. 
– Phải, cũng còn may – ông thuyền trường nói một cách thiếu suy nghĩ trước khi mất hút trong cầu thang.
Cái đề tài tranh luận mà tôi đã cố ý nêu ra đã làm cho tôi được khuây khỏa trong hơn bốn tiếng đồng hồ. Ai nấy đều có ý kiến riêng để nói ra, và đến một lúc nào đó, tôi chẳng hiểu bằng cách nào, cuộc bàn cãi đã lan ra đến tận mũi tàu.

Vào khoảng mười giờ sáng, biển không động mấy, nhưng gió không thuận lợi cho chuyến đi. Tàu chúng tôi đi về hướng đông bắc, nghĩa là ngược chiều với sóng và gió, cho nên tất nhiên nó phải tròng trành cả theo chiều ngang lẫn theo chiều dọc hơn mức trung bình. Nhiều tù nhân và giám thị bị say sóng. Cũng may mà người bị xích liền vào tôi chịu sóng giỏi, vì không có gì khó chịu hơn là có một người nôn ọe ngay bên cạnh mình. Anh này là một gã du côn Paris thứ thiệt. Anh ta bị đày đến Quần đảo năm 1927. Vậy là đã được bảy năm. Anh ta còn tương đối trẻ, chỉ ba mươi tám tuổi.
– Người ta gọi tôi là Titi la Belote, vì tôi phải nói cho cậu biết rằng bài Belote là môn sở trường của tôi. Vả lại ở Quần đảo tôi sống bằng nghề đánh bài này. Belote suốt đêm, mỗi điểm ăn hai francs, Nếu đánh có “loan báo” thì có thể ăn thua rất lớn. Nếu anh thắng bằng một con bồi hai xu thì người thua phải trả cho anh bốn trăm francs và một ít tiền lẻ cho các điểm khác nữa.
– Nhưng ở Quần đảo sao lắm tiền thế?
– Sao mà chả lắm hở anh bạn Bươm bướm. ở quần đảo đầy những plans nhét tiền chật ních. Có người thì đến nơi đã có sẵn, có người thì nhận được tiền qua bọn giám thị với điều kiện chia cho chúng năm mươi phần trăm. Rõ ràng anh còn mới toanh, có vẻ như chưa biết gì cả phải không?
– Đúng, tôi chẳng biết chút gì về Quần đảo. Tôi chỉ biết là ở đấy khó vượt ngục lắm.
– Vượt ngục ấy à? – Titi nói. – Thôi đừng nói nữa cho mệt. Tôi ở Quần đảo đã bảy năm, có xảy ra hai vụ vượt ngục, với kết quả là ba người chết và hai người bị bắt. Chưa ai thành công cả. Vì vậy chẳng mấy ai dám cầu may.
– Vừa rồi anh lên đất liền để làm gì?
– Vừa rồi tôi đi chiếu điện xem thử có bị loét dạ dày hay phổi gì không.
– Thế mà anh không cố trốn khỏi bệnh viện à?
– Khéo nói nhỉ! Chính anh đã làm hỏng hết đấy. Papillon ạ. Thế mà vừa rồi tôi lại có cái may mắn rơi đúng vào căn phòng trước kia, anh đã trốn đi. Anh cũng thừa hiểu họ giám sát kỹ như thế nào! Cứ mỗi lần ra gần cửa sổ để thở một chút là họ bắt lùi lại ngày. Khi hỏi tại sao thì họ trả lời: “Để phòng trường hợp anh nảy ra cái ý làm như Papillon”.
– Titi này, cái tay cao lớn ngồi bên cạnh viên chỉ huy đội áp giải là ai thế? Một tay chỉ điểm à?
– Anh điên rồi sao? Gã này ai cũng phải quý trọng. Cậu ta vốn là dân trường giả, nhưng lại biết xử sự đúng như một tay giang hồ: không đi lại với bọn gác, không tìm cách chiếm vị trí ưu đãi, biết giữ tư cách một người tù khổ sai. Có khả năng mách bạn một lời khuyên tốt, nói chung là một người bạn tốt, rất biết giữ khoảng cách với bọn cảnh sát. Ngay cả ông linh mục và ông bác sĩ cũng không sử dụng được cậu ta. Con người gốc gác thì trưởng giả nhưng tư cách thì giang hồ chân chính này là con cháu của Louis XV. Thế đấy anh bạn ạ, đó là một bá tước, một bá tước chính cống, dược gọi là bá tước Jean de Bérac. Tuy vậy, khi cậu ta mới đến, ai nấy đều xa lánh, và phải một thời gian rất dài cậu ta mới chinh phục được sự kính nể của mọi người, vì cái tội khiến cho cậu ta bị đày khổ sai là một trò rất tởm.
– Cậu ta đã làm gì thế?

– Ấy, cậu ta đã đứng trên cầu ném thằng con trai ruột xuống sông, và khi thấy thằng bé rơi xuống chỗ quá cạn, cậu ta đã đủ gan góc xuống bế nó đến ở một chỗ sâu hơn. 
– Sao! Như thế là gần như giết thằng con hai lần còn gì?
– Theo một người bạn của tôi vốn làm kế toán và đã đọc hồ sơ của cậu ta thì cậu ta đã bị giới quý tộc khủng bố. Và mẹ cậu ta đã ném người mẹ của con mình ra đường như một con chó. Cô ấy là một nữ tỳ trẻ tuổi trong lâu đài nhà họ. Theo bạn tôi thì cậu này chịu sự chế ngự của một bà mẹ kiêu ngạo, câu nệ đã hạ nhục con trai đến cùng cực, đã làm cho cậu ta thấy rằng mình là một bá tước mà đi lại với một con đầy tớ là ô nhục cho cả giòng họ, đến nỗi cậu ta hoang mang quá nói với mẹ thằng bé là mình đưa nó ra cho trại Tế bần nuôi rồi đi ném nó xuống sông: lúc ấy cậu gần như mất trí, cũng chẳng biết mình làm gì nữa.
– Cậu ta bị xử bao nhiêu?
– Mười năm thôi. Papillon ạ, cậu cũng thừa biết cậu ta không phải là một tay như chúng mình. Chắc là bà bá tước phu nhân, người bảo vệ danh dự của gióng giõi de Berac, đã làm cho bọn quan tòa hiểu rằng giết con của đày tớ không phải là một tội quá nặng khi tội nhân là một bá tước muốn cứu vãn thanh danh của gia đình.
– Kết luận?
– Kết luận của tôi, một thằng du đãng Paris hèn mọn, là như sau: về căn bản, bá tước Jean de Bérac này là một anh chàng quý tộc nông thôn đã được giáo dục như thế nào để đi đến chỗ quan niệm rằng trên đời này chỉ có “dòng máu xanh” (huyết thống quý tộc) là có giá trị, còn mọi thứ khác đều vô nghĩa lý và không có chút gì đáng cho người ta để tâm đến. Những người không phải là quý tộc thì không hẳn là hạng nông nô, nhưng dù sao cũng là những con người không cần đếm xỉa đến. Mẹ cậu ta là một quái vật của sự ích kỷ và sự hợm hĩnh, đã nhào nặn và khủng bố cậu ta đến mức làm cho cậu ta trở thành một kiểu người quý tộc như thế. Chính cuộc sống ở trại khổ sai đã làm cho vị chúa đất ấy, xưa kia vẫn tin rằng mình có đặc quyền thưởng thức trước tất cả những người con gái trên lãnh địa của mình trong đêm đầu tiên họ đi lấy chồng, nay đã trở thành một người tôn quý thật sự, theo cái nghĩa đúng của từ này. Nói ra nghe cũng ngược đời, nhưng phải đến bây giờ cậu ta mới thực sự là một người quý phái, là một bá tước.
Quần đảo Salut chỉ còn mất giờ nữa sẽ không còn là một cái gì xa lạ đối với tôi như trước nữa. Tôi biết rằng trốn khỏi quần đảo là rất khó. Nhưng không phải là không thể được. Vừa khoái trá hít mạnh gió biển khơi vào lồng ngực, tôi vừa nghĩ: đến bao giờ thì làn gió ngược này sẽ biến thành một làn gió xuôi trong một chuyến vượt ngục”?
Chúng tôi đã đến. Quần đảo kia rồi? Ba cái đảo ấy làm thành một hình tam giác. Đảo Royale và đảo Saint-Joseph làm thành cái đáy. Đảo quỷ là đỉnh. Mặt trời, lúc bấy giờ đã xế bóng, chiếu vào các đảo những tia sáng rực rỡ mà chỉ có ở vùng nhiệt đới mới có thể chói chang như vậy. Cho nên chúng tôi có thể tha hồ ngắm nghía từng đảo đến những chi tiết nhỏ nhất. Trước hết là đảo Royale với một dải đất cong phẳng lì bao quanh một ngọn đồi tròn cao hơn hai trăm mét. Đỉnh đồi bằng phẳng. Nhìn toàn cục, nó rất giống một cái mũ Mexico đặt trên mặt biển, cái chóp đã bị cắt mất, đâu đâu cũng có những rặng dừa rất cao và rất xanh tốt. Những nếp nhà nho nhỏ lợp ngói đỏ làm cho hòn đảo này có một sức hấp dẫn lạ thường, và ai không biết rõ trên đảo có gì chắc sẽ mơ ước được sống trên đảo suốt đời. Trên đỉnh đồi bằng phẳng có đặt một ngọn hải đăng được thắp về đêm để khi sóng to gió lớn tàu bè khỏi đâm vào các tảng đá ở xung quanh. Bây giờ tàu đã đến gần hơn, tôi có thể trông rõ năm tòa nhà lớn và dài.
Nhờ có Titi tôi được biết rằng trước hết đó là hai phòng giam rộng mênh mông chứa đến bốn trăm phạm nhân. Rồi đến khu trấn áp với những căn buồng giam, xà-lim và chuồng sắt, có một bức tường cao vây quanh. Tòa nhà thứ tư là bệnh viện của tù khổ sai và tòa nhà thứ năm là bệnh viện của những người canh gác trại tù. Và rải rác khắp nơi trên các sườn dốc là những ngôi nhà nhỏ, mái lợp ngói đỏ, của các cảnh sát viên. Xa chúng tôi hơn, nhưng rất gần với mũi nhọn cuối đảo Royale là đảo Saint-Joseph, ít dừa hơn, ít cành lá um tùm hơn, và trên đỉnh cao nguyên là một cái nhà trệt rộng mênh mông mà từ ngoài biển nhìn vào trông rất rõ. Tôi hiểu ngay: đó là nhà tù cấm cố và Titi la Belote cũng xác nhận điều đó. Anh ta chỉ cho tôi xem, ở phía dưới, những tòa nhà của trại tù, nơi giam các phạm nhân bị án bình thường. Các tòa nhà này rất gần biển. Các tháp canh nổi lên rất rõ trên nền trời, với những ổ súng của nó. Rồi lại đến những nếp nhà xinh xắn đỏm dáng, tường quét vôi trắng, mái ngói đỏ. Vì chiếc tàu đi vào ngỏ đảo Royale từ phía nam cho nên bây giờ chúng tôi không trông thấy đảo Quỷ, đảo nhỏ nhất trong cả Quần đảo. Trước đây tôi đã có dịp nhìn thoáng qua đảo này từ xa: đó là một tảng đá khổng lồ mọc đầy dừa, không có công trình xây dựng gì lớn. Vài nếp nhà ven bờ biển, sơn vàng, mái đen mồ hóng. Về sau tôi sẽ được biết rằng đó là nhà ở của những người bị đày vì chính trị.
Tàu chúng tôi đang đi vào bến cảng của đảo Royale, được che kín sóng bằng một cái đập dài làm bằng những khối đá lớn. Công trình này chắc đã phải tốn nhiều sinh mạng của phạm nhân mới xây được.
Sau ba tiếng còi, chiếc Tanon bỏ neo cách bến khoảng hai trăm năm mươi mét. Bến này xây rất chắc bằng xi-măng và bằng đá tảng, chiếm một quãng dài và cao hơn ba mét. Lùi vào phía trong những tòa nhà sơn trắng chạy dài song song với bến. Tôi đọc thấy những dòng chữ sơn đen trên nền trắng: “Trạm gác” – “Sở Dịch vụ thuyền bè” – “Xưởng bánh mì” – “Ban Quản trị cảng”.
Có thể trông thấy mấy người tù khổ sai đang đứng nhìn chiếc tàu. Họ không mặc đồ sọc, mà đều mặc quần dài thường và một thứ blouson trắng. Titi la Belote nói với tôi rằng ở Quần đảo những người có tiền thì thuê thợ may “may đo” áo quần bằng những cái bao bột đã tẩy sạch chữ: họ có được những bộ áo quần mặc rất thoải mái và trông có phần diện nữa là khác. Hầu như không một người nào mặc đồng phục tù khổ sai. 
Một chiếc xuồng đến gần chiếc Tanon.
Một viên giám thị ngồi sau lái; hai tên cầm súng trường ngồi hai bên mạn; ở phía sau là sáu người tù khổ sai, mình trần, quần trắng, đứng chèo bằng những mái chèo rất lớn. Chỉ một lát là ra đến tàu.
Chiếc xuồng của họ kéo theo sau một chiếc thuyền lớn kiểu xuồng cấp cứu của tàu thủy. Cuộc chuyển từ lên bờ bắt đầu. Trước hết mấy viên chỉ huy đội áp giải xuống thuyền và ra ngồi ở phía sau. Rồi hai viên giám thị cầm súng trường đi ra phía trước. Chân được tháo xiềng, nhưng tay vẫn bị khóa, chúng tôi xuồng thuyền từng hai người một; mười người trong nhóm tôi, rồi đến tám người trong nhóm đứng ở phía trước tàu. Mấy người chèo thuyền bắt đầu cho thuyền tách khỏi chiếc tàu. Họ còn chở ra một chuyến nữa để đưa số tù còn lại vào bờ. 
Chúng tôi lên bến, xếp hàng trước tòa nhà “Ban Quản trị cảng” và đứng đợi. Trong chúng tôi không có ai có hành lý gì. Chẳng đếm xỉa gì đến bọn cảnh sát, các phạm nhân tại chỗ bô bô nói chuyện với chúng tôi từ một khoảng cách năm sáu mét – đủ để đừng bị bọn cảnh sát tấn công. Nhiều phạm nhân cùng vượt Đại tây dương trên một chuyến tàu với tôi thân ái chào tôi. Cesari và Essari, hai tên cướp đảo Corse mà tôi đã làm quen ở Saint-Martin, cho tôi biết hiện nay họ chèo xuồng cho sở dịch vụ ở cảng. Vừa lúc ấy tôi trông thấy Chapar, bị đày trong vụ Chứng khoán ở Marseille, mà tôi có quen khi anh ta còn được tự do ở Pháp. Không hề e ấp trước mặt bọn lính canh, anh ta nói với tôi:
– Đừng buồn Papillon ạ! Cậu cứ tin ở bạn bè, ở nhà giam cấm cố cậu sẽ không thiếu thứ gì hết. Cậu bị bao nhiêu? 
– Hai năm.
– Được cũng chóng qua thôi, rồi cậu sẽ ra đây với chúng tớ, và sẽ thấy rằng ở đây cũng khá.
– Cám ơn Chapar. Còn Dega ở đâu?
Bác ta làm kế toán ở trên kia. Bác chưa ra đây thì lạ thật. Không gặp được cậu bác ta sẽ tiếc lắm. Vừa lúc đó Galgani đến. Anh ta xăm xăm đi về phía tôi, tên lính gác toan cản, nhưng anh ta cứ đến, nói: “Chẳng lẽ ra ôm hôn anh ruột tôi mà anh cũng cản à? Thật quá quắt. Rồi anh ta ôm hôn tôi, nói: “Cứ tin vào tôi”. Đoạn anh ta lùi ra.
-Anh bây giờ làm gì?
– Đưa thư, giao liên.
– Có ổn không?
– Tôi được yên thân lắm.
Những người tù còn lại đã được đưa hết lên bờ và cho nhập bọn với chúng tôi. Mọi người đều cởi khóa tay. Titi la Belote, de Bérac và mấy người không quen tách ra khỏi nhóm. Một viên giám thị nói với họ: “Nào, lên đường về trại”. Mấy người này có mang theo bị đựng đồ của trại. Họ vác bị lên vai và đi theo một con đường dốc dẫn lên phía trên đảo. Viên chỉ huy Quần đảo đến với sáu viên giám thị. Điểm danh. Viên chỉ huy nhận đủ số tù. Đội áp giải chúng tôi lui ra.
– Kế toán đâu? – Viên chỉ huy hỏi.
– Thưa sếp hắn đây. 
Tôi thấy Dega đến, mặc một bộ đồ trắng tươm tất, áo vét có nhiều khuy, cùng đi với một viên giám thị; mỗi người cắp một cuốn sách lớn. Cả hai gọi từng người một ra khỏi hàng, theo cách phân loại mới: anh tù cấm cố Jean Mỗ, số tù X, sẽ có số tù cấm cố là Z.”
– Bao nhiêu?
– X năm.
Khi đến lượt tôi, Dega ôm hôn tôi mấy lần liền.
Viên chỉ huy lại gần.
– Anh này là Papillon à?
Thưa ông chỉ huy vâng, – Dega nói
– Mong anh giữ sức khỏe ở nhà tù cấm cố. Hai năm cũng chóng qua thôi.



Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 6 Nov 2025

Phần 7 – Bức tranh

-Hình như cậu thích tranh?

Luận nhìn quanh xem câu hỏi ấy phát ra từ đâu, khi biết chắc là từ ông già bất động trên chiếc xe lăn, Luận cúi đầu chào kính rồi nói:

-Vâng, cháu có thích thật, nhưng …chỉ ngắm thôi chứ chưa hề mua một bức nào!

-Tại sao?

-Tranh giống như phụ nữ đẹp nhưng kiêu kỳ, muốn đến với họ thì phải có tiền, mà cháu thì nghèo!

Một tràng cười phát ra từ chiếc xe lăn. Âm thanh dòn dội váo các ngóc ngách của quán vắng, làm Luận thấy rờn rợn.

-Sao hả Bác?

-Hai mươi hai năm trước tôi cũng nói câu này, nhưng là nói với một người phụ nữ.

Luận rụt rè:

-Dạ…

Lại im lặng, im lặng như mọi khi. Chỉ còn tiếng nhạc nhè nhẹ.

Hơn sáu tháng nay, Kể từ ngày ra tòa chia tay với người vợ gần mười lăm năm chung sống không lấy gì làm hòa thuận, đều đau nhất của anh trong cuộc ly hôn này là không dành được quyền nuôi đứa con! Anh trở thành một kẻ độc thân ở tuổi bốn mươi ba! Luận chọn quán cà phê này trú thân, ngoài căn nhà trọ chật hẹp, cũng ấm cúng vì nó thích hợp với mẫu người cô độc như anh. Quán này cũng thế, sâu, hẹp nhưng ấm áp, vắng và nhiều tranh…Chủ quán, một thiếu phụ, chỉ xuất hiện khi có khách vào, pha cà phê xong là biến mất, còn lại ông già bất động trên chiếc xe lăn, ngồi trầm tư như thế suốt ngày, hiếm khi nghe ông nói gì, ông ở đó như một pho tượng, khách vào, ra không hề nghỉ đến sự hiện hữu của ông!

Luận cũng quen dần và cảm thấy những bức tranh trên tường ý nghĩa hơn cả sự tồn tại im lìm đó!

Hôm nay, pho tượng ấy đột ngột mở lời khi anh đang lơ đãng ngắm bức tranh chép lại của Levitan, “Ngày nắng”. Treo gần cửa ra vào.

-Cậu biết gì về hội họa?

-Dạ hầu như không biết chút gì! Lại một tràng cười….

Luận bối rồi không vì kiến thức ít ỏi của minh mà vì câu hỏi đến từ một người mà anh vừa mới đây thôi, cảm thấy thú vị, tò mò…

-Tôi cũng đã nói như cậu!

-Với ai ạ?

-Bà ấy! Chủ nhật này cậu có đến đây không?

-Thưa.. ngày mai?

-Ngày mai là chủ nhật rồi à? Tôi quên mất ngày tháng! Ừ, ngày mai cậu đến chứ?

-Dạ vâng, cháu đến, buổi chiều được không Bác?

-Được.

Lại im lặng, một khoảng lặng mênh mông….

Người đàn bà rời mắt khỏi giá vẽ, ngước mắt nhìn người khách vừa vào phòng:

-Ông muốn mua tranh?

Người khách trung niên bối rối:

-Tôi muốn một bức sơn dầu, khoảng 0m70- 0m90.

-Vậy là ông cần kích cỡ hơn tác giả và trường phái?!

Người đàn ông bối rối chưa biết nói gì thì một câu hỏi tiếp, lạnh lùng:

-Ông không thích hội họa?

-Thời trẻ tôi có thích, nhưng chưa bao giờ có đủ tiên để mua một bức tranh nào!

Một nụ cười thoảng nhẹ trên đôi môi người phụ nữ:

-Thế sao?!

-Bà hỏi gì ạ?

-Như vậy rồi ông không tìm hiểu gì về tranh, về hội họa nữa ư?

-Vâng, hoàn toàn không biết gì!

-Tôi không nghỉ thế, ít ra thì ông biết thích tranh sơn dầu…

Câu nói như khuyến khích người đàn ông mạnh dạn thêm một chút:

-Tôi thích tranh sơn dầu về tỉnh vật hoặc chân dung. Với tôi, màu sắc vẫn là chính .

Người phụ nữ cười thành tiếng:

-Khó cho ông rồi, những phòng chép tranh chỉ chép toàn tranh phong cảnh để dễ bán. Ông có muốn đặt một bức theo ý mình không? Khá lâu mới lấy và giá tiền cũng cao hơn .

-Vâng thế cũng được, tôi không vội, miễn là đẹp.

Người phụ nữ nhìn vào mắt ông. Đôi mắt buồn của người đàn ông góa vợ mười sáu năm nay bổng xuyến xao pha chút trìu mến, khiến người đàn bà bối rối, lãng tránh bằng cách lật những bức tranh mẫu trong cuốn album dày cộm…

-Bức tranh đầu tiên tôi đặt là một giỏ hoa, chép theo mẫu của Rachel Ruysch. Treo đối diện cửa sổ thứ nhất đó.

Luận nhìn theo hướng ông già vừa nói. Bức tranh vẽ giỏ hoa với màu nền tối, nhưng những đóa hoa thì rực rỡ …trắng nhạt và hồng. Mặc dù treo đối diện, ngang với cửa sổ, vẫn không sáng lên được bao nhiêu!

-Rồi những bức kế tiếp…Tôi đến phòng tranh thường hơn.

-Những bức tranh trong quán này đều do bà ấy vẽ, thưa bác?

-Ừ, trong hơn một năm, bà ấy chỉ vẽ cho tôi. Bà ấy tự chọn mẫu, còn tôi,  tôi thì chỉ cần được đến đó, ngồi xem bà ấy vẽ.

-Bác đã trở thành…người giàu?

-Tiền bán căn nhà của tôi ở Đà Nẵng, mua lại căn nhà này, mở cái quán cho con gái, tôi vẫn còn tiền để sống. Những bức tranh chép bây giờ không còn là một cài gì quá cao để tôi không thể mua nổi! Nhưng cái chính là do… bà ấy vẽ. Ông già khoa tay quanh tường…Được mười một bức thì bà ấy không vẽ nữa!

Luận nhìn ông già định hỏi, nhưng gương mặt của ông già đã chìm trong một nỗi buồn vừa ập đến sau câu nói. Quán như trống trải hơn, tối hơn và im lặng hơn…

Bên ngoài cửa sổ, chiều xuống trên dàn hoa pháo, nơi cánh cổng nhà bên cạnh.

Im lặng , Luận nhìn vu vơ những bức tranh…

-Tôi có chuyện phải về Đà Nẵng, mười hai ngày sau trở lại thì bà ấy đã chết, bà ấy bị Ung thư đại tràng giai đoạn cuối trước khi tôi đến đó. Một căn nhà nhỏ trong hẻm sâu, nơi đứa con trai đã có gia đình ở cùng bà ấy. Cậu ta trao cho tôi một bức tranh:

-Mẹ tôi bảo trao lại cho ông và dặn ông thay khung cho bức tranh.

Luận bật hỏi và lập tức đưa mắt nhìn bức “Người đàn bà xa lạ “của Kramskoi treo đối diện:

-Bức tranh nào ạ?

-Không có ở đây, “Bà ấy” ở trong phòng của tôi. Khi thay khung, tôi thấy bức thư của bà ấy. Im lặng lại bao trùm căn phòng, Luận nhìn những bức tranh giờ như những mảng màu loang lỗ quanh tường, mắt anh không tập trung được vào một chổ nào. Khi quay lại nhìn ông già, anh có cảm giác như ông đã ngủ, đầu gục xuống lọt vào đôi vai gầy…Luận rụt rè đến bên tấm thân bất động:

-Bác có …khỏe …không ạ?

Ông già ngẩng đầu nhìn Luận, gương mặt ông như nhão ra với những giọt nước mắt. Tiếng nói của ông bất ngờ vang lên, rõ ràng, tương phản với vẻ yếu ớt của cơ thể:

-Nếu tôi trao toàn bộ tranh cho cậu, cậu có đồng ý không?

-Sao, Bác không thích nữa à?

-Tôi vẫn quý chúng như những đứa con, nhưng tôi phải vào Viện Dưỡng Lão!

-Ở đâu ạ?

-Ở Long Thành, Tôi có cô em tu ở một ngôi chùa dưới ấy. “Viện mồ côi” thì đúng hơn

-Thế con gái bác, chị ấy?

-Tôi làm khổ nó đủ rồi. Từ ngày bị tai biến, mười sáu năm nó phải chăm sóc tôi, không nghỉ chi đến chuyện chồng con, nó trở thành gài già khi nào không hay! Giờ nó gặp một Việt kiều góa vợ, tôi muốn nó xuất cảnh theo chồng.

Cuối cùng thì chiếc xe “ ba gác” chở hàng thuê cũng vào được con hẻm chật chội nơi căn phòng trọ. Hai ngày bận rộn với việc tháo gở, đóng gói cẩn thận những bức tranh, Luận ở trong tâm trạng ray rứt, mâu thuẫn. Phần thì xót xa với hoàn cảnh của ông già, đàng khác, anh mừng vì bổng dung lại có được những bức tranh….Nghỉ đến chuyện phải treo những bức tranh này lên bức tường nham nhở của phòng trọ mà não lòng.

Không nôn nóng với những bức đã thấy hàng ngày trong quán, anh hồi hộp dặt bức tranh “Người phụ nữ đợi chết” lên bàn. Báu vật của ông già là bức chân dung một người phụ nữ trạc ngoại tứ tuần, chính là người đã chép lại những bức tranh. Bức tranh thật đẹp, trong không gian dìu dịu của buổi xế chiều, một gương mặt phụ nữ trong chiếc mủ  len màu nâu trùm kín đầu,  bên khung cửa sổ, đôi tay khoanh hờ hững, ánh sáng chếch tôn lên chiếc  mũi thanh tú.” Bà ấy đây sao !” Luận buột miệng không hoàn toàn là bởi nét đẹp của người thiếu phụ mà do đôi mắt buồn, đăm chiêu của người phụ nữ vẫn hài hòa được với đôi môi mỏng, mĩm cười như khinh bạc thách thức.

Một linh cảm mơ hồ một đều gì đó thật buồn, thật xót xa ập đến trong tâm hồn Luân làm anh xao xuyến lo âu khi chợt nhớ lại lời ông già:

-Tôi đã “sống” với bà ấy hơn hai mươi năm. Giờ thì tôi không cần gì nữa, Tôi vào viện mồ côi nhưng rồi cũng sẻ không phiền ai… Bức thư vẫn ở đằng sau bức tranh. Cậu cứ giữ lấy tất cả, tôi không nở đốt nó !

Luận run run lật úp bức tranh, mở lưng tìm lá thư. Một tờ giấy gấp tư, như được dán vào khung vải:

Ngày … tháng … năm 1993.

Này, người đàn ông vô duyên!

Tôi đã nghĩ như thế từ khi gặp ông, cho đến lúc này, hơn một năm và trong những ngày cuối cùng của đời mình, khi những tế bào ung thư đã di căn và hủy hoại hầu hết các bộ phận trong cơ thể, gây nên những cơn đau thật khủng khiếp! Tôi vẫn gọi ông như thế “người đàn ông vô duyên”.

Trước hết, tôi cảm ơn ông đã đi xa đúng lúc để tôi không ray rứt vì sao không có ông bên cạnh, không ngóng đợi trông mong như những ngày ông thỉnh thoảng bận việc, không đến phòng vẽ.

Tôi gọi ông là người đàn ông vô duyên bởi: Ông đến và làm tôi xao lòng khi vừa phát hiên ra căn bệnh chết người một tuần lễ. Tôi quyết định không phẫu thuật hay đều trị vì nó đã ở giai đoạn cuối. có nghĩa là tôi không còn sống được bao lâu!

Trong đôi mắt ông từ lần gặp đầu tiên ấy, tôi đọc được một đều là Tôi sẽ yêu ông, và ngược lại.

Nhưng ông có thấy vô duyên không khi không hề có đoạn kết trọn vẹn cho cuộc tình này. Ông vẫn không biết gì, nhưng tôi, tôi biết sẽ phải xa ông khi tình yêu vừa đến! lẽ ra lúc này chính tôi phải nhận lấy hai chữ “vô duyên” nhưng tôi vẫn gọi như vậy, bởi nó mang nghĩa định mệnh cho cả hai chúng ta. Vâng, đó là một định mệnh!

Bức tranh này tôi vẽ cho người đàn ông vô duyên của tôi, bức tranh duy nhất tôi vẽ chứ không chép. Hai tháng sau khi đã trải qua lo âu, sợ hải tột cùng…Thật lạ, tôi lại trở nên bình thản, chấp nhận ngày nó đến. Tôi đặt tên cho bức tranh là”Người thiếu phụ đợi chết”. Hãy nhìn màu xám nhạt của bầu trời, ông sẻ thấy…Ông cũng cứ gọi như thế nhé.

Thông thường, người bị ung thư, đều trị bằng phương pháp Hóa trị đều rụng hết tóc, tôi không hóa trị, nhưng tôi muốn ở trong tâm trạng thường trực  đối mặt với căn bệnh khi vẽ, chiếc mủ len trùm kín đầu có làm ông hình dung được đều đó không?!

Không biết lúc nào thì cái chết đến để giải thoát cho tôi khỏi những cơn đau! Ôi. tôi tiếc biết mấy những phút giây gần gũi bên ông, êm đềm quá, yên bình quá… sẽ không bao giờ có được nữa!

Đau quá! Tôi… tôi… vĩnh biệt ông thôi…!Người đàn ông vô duyên.

Sài gòn, tháng I, năm 2014.