vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 9 Nov 2025

3. Chương 3
Khóc cho tuổi già vô dụng
(Viết từ ngày 30-4-1990)
Vừa rồi, ngày 29/4, một bạn trẻ đến nhà, cho tôi xem tờ Lao Động số 15/90 (20) đề ngày chủ nhật 29-4-1990. Nơi chương 3 có bài của ông Nguyễn Đắc Xuân, dưới nhan điều tra xã hội về vấn đề lăng mộ vua, chúa Nguyễn ở Huế bị đào “Đâu Rồi Những Báu Vật”?
Tôi đọc bài nầy mà nước mắt cứ tuôn… và tự trách sống làm chi để nghe thấy những việc thương tâm như vầy. Và lại, tôi còn năm tháng nữa, đến ngày 27 tháng 9 âm lịch tới đây là tôi ăn tuổi chín chục, đâu còn dư nước mắt khóc chuyện bá vơ. Với tuổi già lẩn thẩn, xin cho tôi tóm tắt kế lại những gì anh Nguyễn Đắc Xuân đã viết. Ban đầu tôi gọi ông, nay tôi lại gọi anh, rõ tôi lầm cẩm và lần thần chưa? Lý do là giữa hai tôi có chút tình biết nhau từ trước nơi trường Đại học Văn khoa Huế, Đắc Xuân là sinh viên, còn tôi vốn là trợ giáo giảng viên chỉ dẫn môn “văn chương miền Nam”, dấu nặng ra dấu huyền, một tỷ dụ khác, năm đó tôi đen quán cơm, xin một món gà xáo măng, khi dọn ra, tôi không thấy chút măng kho măng tươi nào, tôi hỏi chủ quán, ông tỉnh bơ trả lời: “Mặn như vậy thôi chứ còn muốn mặn làm sao nữa”, tôi là giáo cá ra dạy tiếng Miền Nam, đành chịu thua ông chủ quán Huế!
Tóm tắt để phê bình bài của anh Xuân, và xin Xuân đừng phiền:
Bài anh viết khéo, khéo đón ngó ngăn rào. Bấy lâu tôi từng đọc bài của anh trong báo Sông Hương, anh từng đi kháng chiến, nên anh mạnh viết, chớ như tôi đã già, đã về vườn, không chút công với xã hội, tôi dư biết cho thân, thà làm dế trốn trong hang, có lẽ được yên thân hơn là múa mép gáy cho trẻ nhỏ biết chỗ trốn, chúng đổ nước ngập hang, bắt về nuôi trong hộp diêm (hộp quẹt), thinh thoảng bắt ra đá độ, gãy càng queo râu toi mạng.
Vô đầu, anh nhắc một anh bạn tên Huế, đã từng cùng anh ở chung một cơ quan Tuyên huấn Thành ủy, nay anh Huế cho biết bọn gian đào mồ cuốc mả, đã đào phá lăng bà Từ Dũ thái hậu nhà Nguyễn, để lấy vàng. Tôi nay không biết bọn quân gian ấy, cả tháy sáu tên, đã bị xử tội cách nào, nay duy biết số vàng chúng cướp đã bị Nhà Nước thâu lại. Việc đào phá mộ lăng xảy ra năm 1983, mà cho đến nay 1990, mới được anh mạnh dạn phanh phui, riêng tôi tuy giận và ghét quân gian ăn trộm vàng, nhưng một lẽ khác tôi lại thấy nhờ tay chúng nó, của báu mới chường ra mặt trời, và theo tôi tội đáng trách nhứt là ông, mấy ông cầm cân nẻ mực, xử lý, tôi không trách hết cả đám đâu, và đây tôi xin kể dài dòng cách thức anh Nguyễn Đắc Xuân, theo dấu và dò lần từ đầu chí cuối. Thâu tóm được tang vật, giao cho ban quản lý ngân hàng tỉnh Bình Trị Thiên (nay là Thừa Thiên, Huế), nhưng việc theo dấu tang vật để thâu lại, việc ấy không phải dễ dàng. Anh Xuân vào Đại Nội hỏi thăm, gặp ban giám đốc công ty quản lý, di tích nơi cất giữ báu vật, thì đồng chí giám đốc cơ quan nẩy cho biết các báu vật ấy đã giao qua ngân hàng B.T.T., khi ấy anh Xuân không nệ khó nhọc, di lần từ tòa án tỉnh, tòa án thành phố Huế, rồi qua ban trị sự Nguyễn Phước tộc, qua ban trị sự Phủ Tuy Lý Vương, các cơ quan ấy đều tận tình giúp anh Xuân, và anh Xuân cho hay các cơ quan lập thống kê gần giống nhau.
Nhắc lại công an thành phố Huế bắt được vụ trộm vào ngày 18-5-1983, các tang vật được niêm phong tại ngân hàng B.T.T. vào năm 1983. Hội đồng niêm phong có chữ ký rô ràng là các vị: Nguyễn Hữu Nhĩ (công ty di tích Huế), Lê Minh Huê (công an thành phố Huế), Ánh Tuyết (viện kiểm sát thành phố Huế), – tôi đọc đến đây thấy việc họ làm là rất chu đáo, và như lời anh Xuân viết trong bài, nhìn nhận các cơ quan và ngân hàng B.T.T., làm việc rất chặt chẽ, nghiêm túc. Và kể từ đây, việc làm mới thật là đáng trách:
Vụ án được tòa án Bình Trị Thiên xử sơ thẩm, và tòa án Nhân Dân tối cao tại Đà Nẵng xử phúc thẩm. Tòa sơ thẩm quyết định đem sung công một số báu vật, nhưng tòa xử phúc thẩm (ông Mãn Vi Đinh, ngồi đầu tòa, bồi thẩm có Nguyễn Trọng và Huỳnh Mạo), lại quyết định cái án sơ thẩm (về vụ Hoàng Văn Huỳnh), giữ tất cả di vật vàng bạc châu báu đăng ký, gới tại ngân hàng B.T.T., theo phiểu gởi 785 gồm 19 khoản (chớ không phải 18 như Xuân đã kể nơi đoạn trước), có danh sách kèm theo “nay đem vào sang công quỹ Nhà Nước”.
Và đây nguyên văn của bài anh Nguyễn Đắc Xuân:
“Những báu vật đã bị hành quyết”.
“Thực hiện quyết định của tòa án tối cao, ngày 26-12-1988, ngân hàng B.T.T cùng với các vị Trần Nguyên Lượng, (đại diện tòa án B.T.T), bà Nguyễn Thị Thu Dung (Sở Tài chánh),
Hoàng Thị Như An, (viện kiểm sát tỉnh Thừa Thiên), Lê Duy Lâm (công an thành phố Huế); không có đại diện cơ quan Văn hóa, tổ chức hội đồng Hóa nghiệm, để sung số báu vật trên vào công quỹ.
“Và sự hóa nghiệm đã cho thâu:
“vùng 13 lượng 9 chí 5 phân,
“bạc: 0,010kg,
“ngọc: 1890 ca-ra:
“Tất cả số vật chất này đưa qua công ty vàng bạc bán được 23.362.122 đồng, (Thời giá lúc đó 2.300.700đ/lượng). Số vàng ngọc bị rổ, có cái bán 4.000 đồng, có cái chí bán được 2.000 đồng (tương đương một lon bia ở khách sạn du lịch). Lấy số tròn là 23.300.000 đồng… Không phải tất cả những báu vật trên đều bị ngân hàng hóa nghiệm. Một số đã bị bọn tội phạm đem đi hóa nghiệm làm ra khâu trước. Ngân hàng chỉ thâu lại bằng vàng chớ không phải bằng báu vật. Hơn nữa muốn nhập vô ngân sách, Nhà Nước trước nhất phải hóa nghiệm ra vàng rồi mới nộp được.
“Thế là tất cả những báu vật mà công ty quản lý di tích giờ nảy cứ tưởng đang được cất giữ rất bảo đảm ở ngân hàng tỉnh nhà, thì ra chúng đã bị hóa nghiệm từ cuối năm 1988”.
Đọc đến dây, lòng tôi bị cảm kích quá độ, tôi khóc ngay hay là nước mắt cứ tuôn trào, tôi nay thuật lại đây, vẫn bời rời đứt đoạn như nước mắt, xin độc giả niệm tình dung thứ và hãy cho tôi chép lại đây đoạn cuối của bài anh học trò cũ Nguyễn Đắc Xuân, mặc dầu như vầy là dài dòng, nhưng cốt để cho câu chuyện có thủ có vĩ. Bài anh Xuân viết tiếp:
“Đ/c Ưu (Lê Văn Ưu, người quản lý vàng bạc phạm pháp của ngân hàng tỉnh), đ/c Ưu cho biết số tiền trên đây đã được trích theo chế độ đã được ban hành để thưởng cho đơn vị đã phát hiện và tớm cổ được bọn tội phạm. Số còn lại theo quyết định 242 của tỉnh, nộp 50% vào ngân sách thành phố và 50% vào ngân sách tỉnh.
“Việc hóa nghiệm vừa nói gây ra nhiều điều thiệt hại:
“1) Dưới cái nhìn đơn thuần kinh tế: Nếu để nguyên những báu vật ấy, trao cho mọi người biết đó là những báu vật của bà Hoàng Thái Hậu có thế lực nhất của triều Nguyễn, là bà Từ Dũ, lại lấy dưới mộ của bà, theo cái giá của những nhà chơi đồ cổ, chắc cũng phải lên đến hai trăm ba mươi triệu, một cái vòng ngọc ít nhất cũng bán được 100.000 đồng, chứ không phải chỉ bằng một tô bún hoặc lon bia xuất khẩu. Nói như thế cho hết lý, chớ nữ nào lại đem đi sản văn hóa của cha ông đi bán đấu giá!
“2) Dưới cơn mắt của người làm văn hóá, chì đó là một thiệt hại không thể nào bù đắp được. Những báu vật ấy gớp phần biểu thị cho nền văn hóa vật chất của dân tộc ta thế ký thứ XIX là những báu vật vô giá.
“3) Dưới cơn mắt của người lao động, (trí óc và chơn tay), đó là một xúc phạm thô bạo. Tài năng của người nghề gì, của người thợ làm nên tác phẩm để đời không được tôn trọng bằng vàng!
“Có cách vào để sửa chứa sự sai lắm này? Câu trả lời, xin nhường lại các cấp thẩm quyền”.
Huế 24-3-1990. Nguyễn Đắc Xuân.
Tiếp theo đây, đến lượt tôi nói chuyện và bàn riêng với Nguyễn Đắc Xuân.
Tôi lấy làm hãnh diện được có một người bạn nhỏ, tiếp tuc biết “thương hoa tiếc ngọc”, biết muốn bảo tồn văn hóa và xem văn hóa là quan trọng, tôi cũng xin lỗi anh Xuân, vì quá đau lòng trước một sự mất mát quá ư to lớn và không đáng phải xảy ra, anh có kể nơi phần đầu bài bảng danh sách các bầu vật đã mất, và đến đây tôi mới chép lại như sau để tiện góp cùng anh chút ít ý kiến nghe hiểu riêng về chuyên môn, các báu vật đã mất, theo anh đã kể là:
“Một vòng xuyến, kim loại màu vàng. (Theo tôi hiểu, xuyến là một nữ trang để đeo nơi cổ tay người phụ nữ.
Anh nói một vòng xuyến kim loại, như vậy là hết sức dè dặt, đáng khen. Tôi nhớ lúc trước, trào Pháp, họ cũng cẩn thận lắm và dùng danh từ hết sức là đề phòng (đề phòng xảy ra chuyện rắc rối kiện thưa lòng vòng rối rắm, cho nên thay vì gọi “bằng vàng, bằng kim cương, hột xoàn, hột thủy xoàn, nói tỷ vậy, thì họ dùng danh từ phân hai, là “supposé or”, “supposé diamant”, có nghĩa giả thiết, cứ cho vật ấy là vàng “supposé or) hoặc giả thiết cứ cho vật ấy là kim cương (supposé diamant, supposé brillant), và như vậy, sẽ vanh cánh dứt khoát việc tranh giành kiện thưa cãi cọ về sau);
“Một vòng xuyến kim loại bằng vàng, ở giữa có khắc bốn chữ Hán (Đến đây tôi xin nêu ra một câu hỏi, tại sao lúc ấy không tìm người phiên âm bốn chữ Hán ấy, để hiểu nghĩa là gì, bộ ở Huế đã hết người thông thạo chữ Hán hay sao?).
Nếu phiên âm rành rẽ, sẽ tránh được sự hờ hững về sau.
“Một vòng đeo tay kim loại màu vàng có đính 11 hạt trắng lống lánh (có lẽ là kim cương, vì đời bà Từ Dũ, trong Đại Nội còn tích trữ nhiều kim cương báu vật lắm, Bà Thái Hậu Từ Dũ đã mất rất nhiều báu vật kim cương châu ngọc trong năm loạn ly vua Hàm Nghi bôn đào lên Tân Sở, bà và bà Học phi cùng hoàng cung đã chạy ẩn náu nơi Khiêm cung lúc binh Pháp xâm nhập phá phách Đại Nội, và gần đây, chính lão Cẩn Trầu cũng đã đoạt một mớ kim cương của dòng họ Phạm ở Huế và làm mất hết buổi lão bị bắt…).
“Sáu chiếc nhẫn bằng vàng, trên có đính một hạt trắng lóng lánh (kim cương chớ không phải đá tầm thường, theo tôi hiểu).
“Ba hộp kim loại màu vàng;
“Một miếng kim loại màu vàng, trên có nhiều hạt li ti màu trắng (cũng chắc đó là kim nữa, theo tôi); nơi sau có bản lề (tức vàng thấp).
“Một vòng đeo tay kim loại màu vàng;
“Chín mươi ba hạt kim loại màu vàng, gồm ba loại hình tròn hạt cườm (theo tôi, có lẽ đó là hạt chuỗi vàng nguyên chất, vàng cao);
“Một đoạn kim loại màu vàng được uốn cong, có hai nhánh nhỏ, (anh Xuân tả như vậy, nhưng tôi không hiểu đó là gì, nếu có ảnh chụp thì mới biết rõ);
“Bảy chiếc cúc cài áo kim loại màu vàng (theo tôi, cúc là bông cúc bằng vàng đơm vào áo quần để gài cho kín, trong Nam gọi đó là “nút áo”);
“Hai mươi ba (23) hạt bằng đá đủ màu đeo hình thay khuy nút (theo tôi đó là ngọc nhiều màu);
“Bảy mặt đá màu xanh, hình chữ “Nhật” trên mặt đá có hình chim phượng, (theo tôi, không phải mặt đá, và có lẽ đó là ngọc thạch (jade) gọi bích ngọc; “sáu mặt đá màu xanh hình tơ (toi không hiểu “hình tơ” là gì, xin anh Xuân vui lòng giải nghĩa thêm), trên mặt đá ấy, cũng khắc hình chân chim phượng, (chim phượng, theo tôi, là biểu hiệu của hoàng hậu, vợ vua);
“Ba mặt đá màu xanh hình vảm (trên lòng), trên khắc hình chim phượng;
“Vòng đeo tay bằng đá, trong có hai vòng màu xanh, một vòng màu trắng”.
Tất cả, theo Đắc Xuân, là 18 hiện vật, nhưng theo biên bản của tòa, là 19 món).
Tái bút
Nói riêng với Nguyễn Đắc Xuân, việc đã dĩ lỡ ra rồi, nay sửa chữa làm sao kịp. Nhè “con gà đẻ trứng bằng vàng”, lại đem giết đi như gà thịt! Theo thầy, những trang sức phẩm của bà Từ Dũ, đừng hóa nghiệm và cứ đem ra chưng bày nơi tủ kính sáng sủa nơi một viện bảo tàng, hoặc ở Hà Nội, hoặc ở Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều khách viễn phương đến viếng, hoặc trình bày nơi viện bảo tàng ở Huế, để cho dân, cho thợ trong xứ, cho người ngoại quốc theo tin đồn đến xem, thì lợi thu kể sao cho xiết, chớ chi nào mười mấy ký vàng kia. Lễ ra tòa án tối cao kia nên gới hồ sơ và mời vài sở chuyên môn (sở coi về giá trị vàng kim cương, sở Văn hod túe, chang hạn), đen lay y kien, chơ co dâu nău chày cho đành?
Thầy đây, vốn học chưa tới đâu, chữ Tây vừa đủ làm mọi kiếm cơm nuôi vợ con, và thiên bất đáo, địa bất chí,
Hán Nôm tịt mù, nhưng vậy kinh nghiệm thầy ắt có thừa, và không như mấy ông kia, ít nữa cha mẹ thầy, vốn làm chủ lò thợ làm đồ kim hoàn trước đây, gọi là thợ bạc và chủ lò làm nữ trang bằng vàng bằng bạc, đã dạy thầy, phảm đồ vàng y, vàng nguyên chất thì chủ lò phải chạm chữ “y” (hiểu đó là vàng thật tốt, không pha trộn với kim khí nào khác), bằng như nếu là vàng thấp, do người đặt làm món đồ đem vàng tới để làm “ăn tiền công” thì chủ lò chạm chữ “công” (hiểu là món đồ lãnh làm ăn tiền công, và như vậy, chủ lò không đảm bảo về chất vàng tốt hay xấu, v.v.) và ngày xưa không có việc hóa nghiệm ác ôn như vầy: Ngày xưa, thợ khéo không thiếu, làm cây trâm, cây thoa giất tóc, khi tạp hình chim phụng, thì con chim vàng ấy biết lay chuyển rung rinh tựa hồ như biết bay biết nhảy, lúc người đeo trâm hay thoa ấy, khi đứng, khi đi, khi cử động mạnh, v.v. tức nhiên vàng làm ra chim ấy phải dau, kec bang “vay” và vay fy là nhiều mảnh vàng vụn
mún, nhỏ như hạt phấn, hạt cát, và “vảy hàn” cổ nhiên phải bằng vàng tuổi thấp, mau chảy, mau gắn dính vào nhiều mảnh khác, và vật ấy (cây thoa, cây trâm), vẫn quí và có giá trị về sức khéo của người thợ bạc có hoa tay, chớ món ấy không kể về tuổi và vàng nữa. Nhờ thầy có tuổi nhiều và đã từng lăn lộn khá nhiều trong nhóm người lao động, làm việc bằng chơn tay hơn làm bằng trí ốc, nay thầy có chút kinh nghiệm và có chút nghe thấy vẫn khác hơn mấy ông tòa tối cao kia, nói thật với Xuân, sở dĩ thầy rút lui từ năm 1963, khi ở Pháp học về nghề khảo cổ nơi viện GUIMET trở về đây, thầy định nhường chỗ cho người biết việc và thầy có ngờ đâu mấy ông có bề thế, phe đảng, đi học nhiều tiền ở Mỹ, ở Pháp về, choán chỗ tốt, ăn lương cao, nhưng xin lỗi, thảy đều một loại “Mã Tắc đời Tam quốc, nói nghe hay mà đã làm thất cơ binh nơi Nhai đình”, nay việc đã lỡ rồi, nói nữa làm chi, và Xuân còn trẻ, còn dư sức, Xuân hãy rán đảm đương lấy. Sẵn dịp nối luôn năm ni là năm du lịch mà thầy cũng không giúp ích được chút nào, vì tuổi cao không lao động được nữa.
(viết sáng sớm ngày 1-5-1990)

Sự tích tóm tắt của bà Hoàng thái hậu nhà Nguyễn, mỹ danh Từ Dũ thái hậu Tôi xin kể lại đây đại lược sự tích của bà cho người hậu thế biết:
Tôi chịu thất lễ và nói tên bà ra đây. Nguyên Miền Nam, gọi theo tên cũ là đất Nam kỳ lục tỉnh, trước đây có đến hai bà làm hoàng thái hậu nhà Nguyễn Phước:
– Một bà, họ Hồ, có lăng mộ nay ở vùng Thủ Đức, và là mẫu thân của đức Thiệu Trị, bà sanh vua nầy vừa được mười ba ngày, thì quy tiên, tuổi thọ chỉ có mười mấy tuổi, bà gốc người tỉnh Biên Hòa, tên thụy là Tả thiên lệ thánh Thuận Đức, hoàng thái hậu;
– Một bà nữa là mẹ vua Tự Đức, bà họ Phạm, cha là Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng, một công thần trụ cốt nhà Nguyễn Phước, tên thụy của bà là Nghi Thiên Tán Thành Từ Dũ Thọ Đức Chương hoàng hậu, bà sanh nơi giồng Sơn Qui, giồng nầy xưa có nhiều chim công đến làm ổ, nên cũng gọi là Gò Công. Vừa mười bốn tuổi ta, đếm theo Pháp là mười ba tuổi, là được tuyên triệu vào cung Đại Nội ở Huế, hầu việc khăn áo cho hoàng tử sau nầy lên ngôi là vua Thiệu Trị. Bà có diễm phúc thấy được long nhan nội tổ là Đức Cao Hoàng Gia Long, bà lạy vua cha là Đức Minh Mạng, và bà nâng khăn sửa tráp cho vua Thiệu Trị, mà cơ khổ vậy thôi, được làm dâu nhà vua thuở ấy, cực nhiều hơn sướng, vì vua Thiệu Trị còn một bà chánh hậu khác nữa, là ái nữ của ông Nguyễn Văn Nhơn, gốc người tỉnh Sa Đéc, nhưng khi Thiệu Trị ngự hành ra đất Bắc để thụ phong, thì chính bà Từ Dũ được cho theo hộ giá, lo trước lo sau, thức khuya dậy sớm, cho nên khi hồi loạn, vóc hạc hao gầy, vóc liễu kém trước, đức Thiệu Trị, người hiền lương bổn tánh cộc, tỷ như khi giận binh Pháp gây chiến tranh, giận cá chém thớt, vua đập gần hết những đồ sứ đặt làm ở Pháp, và vua trị vì chỉ có bảy năm, khi vua áng giá, bà chưa ráo lệ, tuổi vừa tròn xuân, bà vừa hai mươi đã chịu cảnh son giá, chứng minh bà lên ngôi Thái hậu, con là vua Tự Đức, khi làm thơ thuật thế sự, cặp trạng là: “Tranh giành trước mắt, mây tan tác” (đó là vua nhớ việc Tây gây chiến tranh…) “Đày đọa sau thân núi nặng nề” (Núi đây là vua nhớ đến mẹ, tuổi cao…).
Nhưng ngờ đâu tre lại khóc măng, chính vua băng trước, một lần cho bà nhỏ lệ, trước khóc chồng, nay lại khóc con, và bà chưa hết khổ, bà còn chứng kiến xiết bao bi thảm đau lòng, cảnh ba vua bốn chúa, ông bị bóp cổ, ông bị bỏ đói, ông khác bị đầu độc, rồi vua Hàm Nghi vừa lên ngôi, lại bị quyền thần chuyên quyền, kế bị mất ngôi thêm bị đày xứ lạ, vua Đồng Khánh nối ngôi, cảnh chạy giặc thật là khổ sở, Hàm Nghi bị ép lên Tân Sở, bà thì cùng với cung nữ và bà Học Phi đùm đề bỏ thành nội cho giặc Tây cướp phá, các bà lụi đụi chạy lên Khiêm lăng rồi lại kéo về Đại Nội, chứng kiến cảnh tan hoang mất mát châu báu kim cương, rồi sống làm chi thật nhiều tuổi mà phải mù lòa, rốt lại đến năm 1912, vào đời Thành Thái, hơn chín mươi tuổi ngoài, bà nhắm mắt qui tiên, tang lễ cử hành long trọng, tưởng như vậy là hạnh phúc, một người như bà chứng kiến gần suốt thế hệ Nguyễn triều, kể từ Gia Long đến Thành Thái, để đến năm 1983 thì lăng mộ bị đào, “hồng nhan đa truân”, miệng thế nói không lầm, sống lâu là khổ.
(viết ngày 2-5-1990)
Chuyện con bò cạp nước (bài viết ngày 4-5-1990)
Hôm nay nhớ chuyện mua cua như sau, xin chép lại đây cho độc giả xem chơi giải muộn. Chuyện nầy trích trong tập “chuyện giải buồn” của ông Huình Tịnh Của, chớ không phải do tôi đặt bày. Chuyện rằng:
“Mua cua.
Có tên nhà quê nọ, xuống đất thiềng thị, nghe người ta nói “cua ngon”, và tả hình tích cua có hai cùng, tăm ngoe, cùng có tên là “con hoành hành”‘ là vì nó đi hàng ngang, cũng có tên nữa là “vô trường công tử” 3), là vì nó không có ruột. Đến khi tên nhà quê về nhà, bèn hỏi vợ, biểu phải xuống chợ dinh, mua cho được một con cua, để ăn thứ cho biết nó ngon thế nào. Người vợ liền đem tiền xuống chợ, thấy con sam cũng có ngoe càng, ngỡ là cua, nên mua một con đem về cho chồng. Người chồng thấy mai sam khum khum mắng vợ “sao có mu rùa”, hai đàng không nhịn, liền đánh lộn la làng. Việc phải đem ra làng, chú xã thấy con sam có đuôi, lại nói là “con cá đuối”, xử hai đàng phải thất. Vợ chồng tên nhà quê không nghe, đi kiện huyện. Quan huyện cho đời làng kinh tương nội vụ tới nha. Đầu hết, quan huyện dạy đem con cua cho người coi, rồi người phê thị chi làng cùng hai vợ chồng biết ai quấy ai phải. Phê rằng:
Trần Giản Trai có đề lại câu: “Đảng kiến hoành hành nghi thị táo, bất tri công từ thật vô trường”, nghĩa là: chín thấy nghêng ngang ngờ là hốp, chẳng hay công từ thiệt không lòng. (Hóp: tiếng xưa trong Nam, có nghĩa là vội quá, tảo tính quá, hồp tốp, hồp quá. (Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị).
Con cua mua đã chẳng xong,
Ấy thị là con bò cạp nước!
Thẳng cha xã xử con cá đuối,
Thẳng nói rùa lại càng thêm rồi?
Hễ con dại thì có mẹ cha,
Ấy ba đàng giai quấy củ ba.
Để ông phê minh chỉ thượng,
Dân dại cậy cùng quan trưởng.
Cua, rùa, cá đuối, giai phi.
Cho khỏi hoài nghi.
Ờ! Ờ! Đem cho ông coi lại.
Bình
Tôi trích bài trên đây trong tập cũ “Chuyện Giải Buồn”, cuốn 2, của ông Huình Tịnh Của, bản in năm 1895, sách in tại Nhà in quản hạt Sài Gòn, sách nầy không đầu có bán, và rất ít nhà còn tàng trữ. Tôi cố ý chép y nguyên văn, duy có một chữ “mu sam khum khum”, tôi cho là tục, không được thanh, nên tôi đổi lại là “mai” (mai sam khum khum) và chỉ có chữ ấy bị sửa đổi. Tôi đã nói “tánh già thường hay giận lâu, và lâu hết giận”, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, mình là dân quèn, nào dám giận ai nhứt là quan, duy nhớ lại tỷ như “chuyện giải buồn” của Huỳnh Tịnh Của, tôi từng đọc kỹ, thấy không có chỗ nào là bại hoại, thế mà chầu xưa cô một thầy giáo dạy học ở một trường trong Chợ Lớn, thầy nây nói với tôi thấy đã ra lịnh cho học trò góp sách và đem chôn hết, để tránh giữ sách cũ nhiều vi trùng, tôi tiếc không kịp vớt vát, uống quá… Và tôi xin tạm kết luận, đời nào cũng như đời nào, vẫn y nhau không khác, rất đổi, đây là ông huyện, ngồi chễm chệ cầm cân nẻ mực, vẫn trịnh trọng lên án “con dại thì có mẹ có cha, dân dại thì có ông quan xét xử”, thể mà quan huyện xử cũng không ra hồn.
Rất may thứ huyện quan ấy nay đã không còn. Nói thêm nữa cũng chẳng thừa, duy nơi mấy trang đã viết, tôi còn bỏ sốt một danh từ đồng nghĩa với chữ “công” (nữ trang làm ăn tiền công)”, đó là danh từ “đồ” nay còn thấy lưu dụng, (tiệm cầm “đồ”, và “đồ” có nghĩa “vàng đồ” tức vàng thấp, không đáng gọi “vàng y” và đời xưa không có “hóa nghiệm tư trang tinh xảo” (mấy hàng thêm, tôi viết ngày 6-5-1990, có ý muốn tỏ bày vàng nữ trang khéo, tinh xảo giá trị quí hơn vàng nguyên chất và nấu chảy hóa nghiệm, thì hại cho văn hóa…
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.