vietmessenger.com
Serge Miller
Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên
Post by Sơn râu 8 Nov 2025

Chương 5
Chúng tôi lại trở về địa điểm mà chúng tôi tạm trú khi mới đến, và mỗi người cố tìm giấc ngủ ngon. Sung sướng thay cho những người vô tư lự! Những người khác, bị khích động, đi lui đi tới trong các hành lang, hành hạ đầu óc mình để trừ tuyệt phương thuốc chưa nỗi lo âu. Chắc chắn là chúng tôi khỏe mạnh hơn tuần trước. Nhà tù và xà lim đã bị quên lãng và hồi sáng, trong khi bị lục soát, chúng tôi dấu được dụng cụ. Nhưng tại sao trên tấm thiếp hình ảnh mà chúng tôi có thể gởi cho gia đình bạn bè lại có một câu tiêu chuẩn rất lạ: “Hãy đợi địa chỉ mới rồi mới nên trả lời”, Tại sao lại có sự bí ẩn ấy? Tại sao lại dấu không cho chúng tôi biết nơi đến của chúng tôi?
Đại diện Hồng Thập Tự đã nói rõ rằng chúng tôi sắp đi về miền Weimar 1 và đó là một trại tập trung có tên Buchenwald. Đối với phần đông, tên trại nầy có vẻ xa lạ, nhưng nó nhắc nhở cho chính tôi một kỷ niệm nào đó. Trong những năm tiếp theo sự đăng quang của Hitler, ở Ba-lê có xuất hiện một nguyệt san do ủy ban Thaelmann xuất bản – một tổ chức chống phát xít được sáng lập sau khi đảng Quốc Xã lên cầm quyền, nhằm mục đích giúp đỡ các người tỵ nạn chính trị. Nhiều lần tôi đọc trong tạp chí đó các thiên phóng sự về các “Koncentrations lager” (trại tập trung) nổi danh và đặc biệt là về trại tập trung Buchenwald, Dachau, và Oranienbourg, ba trại nổi danh nhất, và tôi còn nhớ lại các cuộc tra tấn giáng cho các người đối lập cứng đầu đối với chế độ mới. Vết đốt cháy trên vú một phụ nữ bằng đèn cầy, đã làm tôi đặc biệt lưu ý.
Thời đó, có mấy ai lưu ý đến nỗi khổ đau của những người bị giam trong các trại tập trung đó đâu, và tuy nhiên không ai có thể trách họ ở xa chúng tôi quá, giống như hàng ngàn người chết đói hay chết vì bão lụt ở Ấn Độ hay ở Trung Hoa, những sự kiện như vậy chỉ chiếm năm hay sáu giòng trên mặt nhật báo.
Có thể nào chúng tôi lại sắp đi đến các trại tập trung đó không? Câu hỏi nầy đặt ra và luôn luôn kéo theo câu trả lời: Không! Những trại ấy chắc phải đầy dân Đức, nghĩa là kể cả người Áo, Tiệp Khắc, Do Thái ngay cả Ba Lan và người Nga nữa, nhưng người Pháp thì không! Trước hết, người Đức không bao giờ bỏ qua phẩm chất nhân lực Pháp, mặt khác chúng tôi vừa chịu đựng đầy ải trong các nhà lao và điều đó đã thể hiện hình phạt thật sự rồi. Chắc chắn là chúng tôi sẽ bị canh giữ và bị canh giữ kỹ hơn là các công nhân tự do, nhưng dần dần sự canh giữ sẽ được nới lỏng và chúng tôi sẽ trở thành những người dân sự với tất cả những gì dễ dãi mà một thường dân được hưởng.
Và rồi, chúng tôi vẫn chưa ở trên đất Đức. Từ đây đến biên giới nhiều chuyện có thể xảy ra.
Đây là những suy tư của chúng tôi vào đêm trước ngày khởi hành. Chuyện lạ lùng, không một ai, kể cả những người kỳ cựu trong trại, có thể cung cấp bất cứ tin tức gì về số phận của các chuyến công-voa trước và về cách du hành của những người đi trước chúng tôi, nhận xét nầy được nhiều người chia xẻ. Mỗi toa sẽ chứa năm mươi người, một người đoán; bảy mươi, người khác nói. Tôi là người thứ ba, tôi có nghe nói đã từng xẩy ra trường hợp một toa chất một trăm mạng. Các lời tuyên bố ấy đều là phỏng đoán không có gì chắc chắn, nhưng mọi người đều cười chế nhạo trước con số sau cùng, và một người trong bọn tôi còn nói:
– Không nên nói quá lố chớ; đồng ý, họ chẳng thương gì chúng ta, nhưng họ cần chúng ta làm việc, họ không thể nhét một trăm người chúng ta vào một toa. Người ta sẽ bị ngộp thở, hoặc giả là họ đã mang chúng ta ra bắn bỏ trước còn hơn. Tại sao họ lại bận tâm đến chúng ta?
Những lời vừa rồi có vẻ là hợp lý. Nhưng không họp lý đối với Ramelin, vẻ người khổ hạnh, con người đấu tranh toàn diện và kiểu mẫu, cả con người anh là tượng trưng cho hành động.
– Không đâu các anh ơi – anh ta rống lên trong phòng, quên mất cả sự thận trọng sơ đẳng – bọn phát xít có thể làm mọi chuyện lắm, – họ không đối xử đặc biệt gì với chúng ta đâu. Phải làm tất cả mọi cách để tẩu thoát trước khi đến biên giới. Chúng ta luôn luôn ở trong tình trạng chiến đấu và một khi đến Đức rồi, thì chỉ còn là việc khổ sai hay là chết.
Quì gối trên đệm rơm dùng làm giường ngủ, anh nói trong bóng tối của căn phòng, người ta chỉ có thể thấy cặp mắt sáng nhấp nháy của anh. Lời nói của anh như quất vào chúng tôi và nhóm nhỏ của chúng tôi thì sẵn sàng, nhưng tất cả những người còn lại thì chờ xem có bao nhiêu người trong một toa.
Vào lúc 4 giờ sáng, các hồi còi đinh tai đánh thức chúng tôi. Luôn luôn giờ nầy là giờ ngủ ngon nhất.
Sau khi mỗi người nhận một mẩu bánh mì và một miếng xúc xích, người ta báo cho chúng tôi biết là sự rộng rãi ấy tượng trưng cho đồ ăn dành cho suốt chuyến đi, đoạn xếp hàng 5, tiến bước!
Ánh bình minh bắt đầu ló dạng, một đội hộ tống canh kỹ chúng tôi và lần nầy khoảng cách giữa hai người lính chỉ còn lại 2 thước. Vì lẽ chúng tôi được nhóm 50 người một, lập tức một ý tưởng đến với chúng tôi là mỗi nhóm sẵn sàng lên một toa. Chúng tôi đi qua các con đường bên ngoài. Tự nhiên, chúng tôi đưa mắt nhìn lên các cửa sổ. Sao nhưng cánh màn kia, người ta còn ngủ say, dám có kẻ đang ân ái với nhau nữa. Không ai nhìn thấy chúng tôi. Và suy cho cùng, 2500 người là cái nghĩa lý gì trong khi hàng ngày hàng ngàn người gục ngã… A! Dầu vậy, bên cạnh cầu sông Oise, một nhóm phụ nữ bị giữ cách một quãng xa bởi một hàng lính đi mô tô, đang đứng khóc và vẫy tay với chúng tôi.
Nhà ga đây rồi!… Mọi người đều nhìn về phía trước như đang thử nhìn một cái gì. Rồi đến lượt nhóm chúng tôi…
– Nào mau lên các ngài.
Thật chói tai kinh khủng khi nghe một tên Đức nói tiếng Pháp. Và đó là những tên lính được phép nói tiếng Pháp sau một cuộc thử thách nghiêm ngặt, và đã phải trải qua một kỳ thi. Ai nấy hấp tấp trèo lên. Những chỗ tốt trên một toa xe chở hàng thật hiếm, trong một toa chỉ có hai lỗ thông hơi và một nữa lỗ lại bịt bằng thép gai đan kín.
– Ồ! 50 người được rồi, đừng nói gì nữa!
– Sao, các ông cũng lên nữa sao?
– Ê lầm rồi! Ở đây đã có 50 mạng rồi!
Các câu hỏi, câu phát biểu đó được dành cho toán 50 người đi sau, những vô ích.
“Los” (đi đi)! nhiều tên lính quát tháo vừa xô đẩy 50 người kế tiếp và một tên kéo cánh cửa dữ dội phát ra tiếng kêu như sấm. Chúng tôi cả thẩy là 100 lóp ngóp trông như chuột.
Lúc cánh cửa đóng ập lại, nhiều ảo tưởng đã tan biến và nhiều người sẵn sàng từ bỏ thái độ ngần ngại. Tất cả từ kẻ đa nghi, lạc quan, hèn hạ, cho đến can đảm tất cả chúng tôi nhìn nhau sững sờ và trong ánh mắt, một tia khiếp đảm thoáng qua.
Đúng, quả thật Hamelin có lý khi báo trước với chúng tôi, quân Đức có thể làm mọi chuyện, than vãn không giúp ích được gì cả. Nhưng mà tình trạng còn ở dưới mức mà mỗi người trong chúng tôi gọi là tối thiểu. Căn xà lim ở Montluc chứa tới sáu người đối với chúng tôi nay là một tình trạng tuyệt đẹp. Nơi đó chúng tôi có thể ngồi, nằm; ở đây không thể nào tìm được một vị thế thoải mái. Và còn với hành lý nữa, những cụ già, làm sao đây? Ngay cả chuyện đi lại, gục ngã hay nói một câu “ông cóc cần” cũng không thể làm được. Không thể được bởi vì anh đang bị đạp, bị nghiền nát bởi một rừng chân, tay, thân người. Cùng với Hubert và Pierre chúng tôi đứng gần được một lỗ thông hơi. Ramelin và Michael ở cuối toa và qua tiếng la và cử động họ có thử tìm cách đến với chúng tôi, qua một cuộc hỗn chiến. Trong khi đó ở hai đầu toa, chúng tôi có thể lờ mờ trông thấy nhau, nhưng ở giữa toa thì tối mịt. Một người khốn khổ nào bị dồn vào đó sẽ thiếu không khí để thở và còn phải chịu đựng hai thùng vệ sinh đã được sử dụng đến rồi.
Chuyến tàu chỉ khởi chạy lúc 1 giờ trưa. Vậy là chúng tôi bị đưa lên đây đã sáu tiếng đồng hồ và đã có người bị ngộp thở. Tất cả mọi người bị ghi tên, đau ốm hay khỏe mạnh đều phải ra đi.
Vì ai cũng kiếm chỗ tốt, mỗi người chúng tôi làm những kẻ đứng bên cạnh khó chịu. Chúng tôi quyết định ai bị đau thì có quyền đến gần lỗ thông hơi một chốc. Người đau thì rất đông và lập tức cãi lộn xẩy ra để tranh nhau đến gần lỗ thông hơi. May thay, khối lượng niềm hy vọng nơi con người không bao giờ cạn.
“Họ không thể nào để chúng ta trong nầy quá 24 giờ”, người bi quan nhất có nhận định như vậy, và vì nhận định đó chấp nhận được, yên lặng bình tĩnh lại được tái lập phần nào. Cũng có quyết định theo đó cho đến tối, một nửa sẽ đứng, một nửa ngồi và mỗi người bắt đầu ăn. Thật kinh khủng khi thấy, bất chấp mọi sự, một vài người ăn rất ngon miệng. Tuồng như họ có vẻ tống đồ ăn vào mồm.
Một trong những người ngồi trên thùng tiêu – vì như vậy là tiết kiệm được một chỗ – phải đứng dậy một cách máy móc để cho một người khác cần xử dụng để giải quyết nhu cầu, nhưng mặc kệ tiếng động và hương vị bốc lên, ông ta tiếp tục nhai ngon lành.
Ánh sáng giảm bớt dần, và đêm bắt đầu. Mỗi người lại tìm thế thoải mái nhất, và lộn xộn lại trở lại, nhưng đột nhiên ngừng hẳn, mệt mỏi và một vài kẻ bị ngạt thở, im lặng bao trùm tất cả. Tứ chi của con người có sức thích ứng đối với mọi hoàn cảnh và không có gì phức tạp hơn cảnh sống mà chúng tôi đang chịu đựng. Người ta nghe tiếng chửi thề giận dữ rõ mồn một, tiếng rên rỉ của người bị ngộp hay tiếng la đau đớn của một người có chân bị dẫm, nhưng không ai chú ý vì mỗi người đều có niềm ưu tư riêng biệt.
Trong suốt buổi chiều, Ramelin đã chú ý đến một góc, chỗ đó vách ván đã bị mòn mục dễ đâm thủng để tạo một lỗ hổng phôi thai. Chúng tôi thấy cả năm người phải nhóm lại với nhau để có thể luân phiên làm việc, nhưng không ngờ có đông người quá, nhất là lúc mới trèo lên toa xe, việc đầu tiên là mỗi người kiếm một chỗ kha khá. Kế hoạch của chúng tôi bị sụp đổ vì không thể nào xê dịch trên đám thập cẩm người nầy được. Hợn nữa, chúng tôi chỉ là một thiểu số muốn chấp nhận rủi ro với một cuộc vượt thoát. Nếu trừ ra số người què quặt, người đau ốm, người tiêu cực, nhát gan, số còn lại không có bao nhiêu cả. Và khi Ramelin cao giọng báo cho chúng tôi biết là anh cứ thử đục một lỗ với sự phụ lực của Michael, thì một tiếng thét, không giống là của con người nữa, có ý định ngăn cản anh. Đó là một người ở giữa toa từ lâu không ngớt theo dõi các hoạt động của chúng tôi. Như có vẻ muốn đe dọa, giọng ông ta run rẩy người ông ta ướt đẫm mồ hôi:
– Họ sẽ bắn vào cả đám! Họ đã báo trước rồi mà! Đến trại rồi các anh hãy trốn.
Nhiều người ủng hộ ông ta; thế rồi mọi người nhất tề phản đối:
– Đúng, đúng, bây giờ thì khá rồi, đừng sinh chuyện nữa!
A! vấn đề “đừng sinh chuyện” nầy là cả một chương trình, một chính sách đã trở về với trí nhớ. Trong lúc đó, chúng tôi vượt qua biên giới rồi, Ramelin vẫn tiếp tực và đã đục thủng đây đó. Một chút cố gắng nữa và cả một miếng ván bật tung, đúng lúc đó, nhiều tiếng súng nổ vang dội và qua lỗ thông hơi, chúng tôi thấy ánh đèn pha dường như được đặt ở toa cuối. Con tàu chậm lại và ngừng hẳn.
Chuyện gì đã xảy ra? có chuyện gì vậy?
Tất cả mọi người thức dậy, lo lắng tự hỏi. Cổ họng thắt lại, chúng tôi nghe nhiều tiếng Đức la hét, cửa một toa được mở ra rồi đóng lại cuối cùng cửa toa chúng tôi mở tang và đi đầu cả một nhóm lính gát, tên biết nói tiếng Pháp ra lệnh chúng tôi dồn lại để y đếm.
Từ trên sân ga, ra vẻ đe dọa bằng các báng súng lục, những tên khác hét lên như chó điên. Mặc dù tình trạng lúc đó có vẻ bi đát, hình ảnh của một cuộc tấn công đoàn tầu bởi một bộ lạc da đỏ thoáng hiện trong trí tôi.
Viên chỉ huy đoàn công-voa trèo lên đứng gần cửa và bắt đầu đếm:
– 5, 10, 15, 60, 90, 100, “Stimmi!” (Được rồi! ), – y nói với vẻ diễu cợt. – Và bây giờ lột giày ra, mau lên! mau lên! Phải lột bỏ hết giày và ném xuống sân ga.
Chúng tôi độ mười người không chịu cởi giày, có lẽ vì đã phần nào hiểu chúng, bọn Đức. Chúng rống lên, đe dọa và thử tạo một tình trạng khiếp đảm mà chúng sẽ lợi dụng ngay, Khi quan sát chúng trong những lúc đó, người ta có cảm tưởng rõ rệt đối diện với đám người man rợ Trung Phi, nhưng là đám người man rợ da trắng mắt xanh.
– Chấm dứt cởi giày, bây giờ cởi đồng hồ ra! Những ai có đồng hồ, bước tới!
Một rừng tay đưa lên mời đón và tên hạ sĩ quan bắt đầu gặt hái. Đó là mối lợi của tình trạng khiếp đảm và sợ hãi đang ngự trị trong toa xe. Nhưng biết làm sao được? Một chiếc đồng hồ không đáng kể gì khi người ta biết là mình có thể bị bắn bỏ một cách giản dị và bất cứ lúc nào. Cửa đóng lại, và chúng tôi nghe chúng đóng đinh trên ván. Tất cả mọi chuyện xẩy ra không đầy mười lăm phút. Hành vi tương tự cũng được thực hiện ở các toa sau. Lúc đó chúng tôi biết là đã có các vụ trốn thoát hay ít ra cũng là các dự định trốn thoát,
Vài giờ sau biến cố đó, chúng tôi vượt qua Metz với tốc độ chậm. May mắn sau cùng của chúng tôi tan biến.
Buổi sáng ngày thứ hai chúng tôi co quắp khắp phía. Bên trên chúng tôi, lủng lẳng nào là túi dết, nào xắc, áo choàng ngoài, móc trên vách ván bằng đủ mọi cách. Không khí hôi thối và hình như đã có một hàm răng khổng lồ nghiền nát và xáo trộn chúng tôi. Cùng với ánh sáng ban ngày đến, bắt đầu có tiếng la hét, cãi cọ, bởi vì tất cả chúng tôi đều đau đớn và cố vươn vai duỗi mình để chiếm cho được một vị trí thích đáng hơn cho suốt ngày. Buổi sáng đã trôi qua khi con tàu dừng lại một lần nữa. Chúng tôi đang ở Trèves và trong một nhà ga đổi hướng tàu. “Phải xuống ở đây, chịu không nổi nữa” một người nói. Có vụ xuống ga thật nhưng phải leo trở lên sau 10 phút. Mục đích là để phân phát xúp lúa mạch trong các tô mà chỉ có dân Đức mới sản xuất được. Trên sân ga đầy nghẹt hiến binh và tên đến mở cửa toa đã phải lùi lại tức thắc, tay bịt mũi. Hai thùng vệ sinh đã đầy lưng chừng, nhưng chúng từ chối không cho mang đi đổ và rửa, có lẽ là vì các thường dân đang nhìn chúng tôi. Những em bé nắm tay lại đe dọa chúng tôi, liệng sỏi về phía chúng tôi. Phải trở lại với thực tế, chúng tôi chưa đến nơi và nếu chúng phát súp, tức là còn một đoạn đường nữa. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng tối nay hay sáng mai sẽ đến nơi. Và ngày thứ hai chấm dứt với hy vọng ấy.
Nhưng nếu bữa súp sáng giúp chúng tôi phần nào nhẹ mình vì đỡ khát, cơn khát trở lại rất mau và tấn công một cách hung dữ, bởi vì chúng tôi chấm dứt ngày thứ hai trong tình trạng cơ thể khô hết nước, và một vài người trong chúng tôi bắt đầu nói lảm nhảm.
Một tên đồng tính luyến ái cặp bồ với một viên Thiếu tá Lục quân Đức, rú lên như bị hiếp. Không ai đụng đến hắn, nhưng bị kích thích bởi hoàn cảnh, hắn muốn được qua tay một tên bạo dâm tưởng tượng. Trong các chuyến công-voa có đủ hạng người như thế, và đó là một phương pháp cổ điển của bọn Gestapo, để dẻ và khăn mặt trong cùng một hộc tủ.
Một người bán bơ người vùng Normandie, lập đi lập lại không ngừng. “Đến đây chúng mình uống một cái đờ mi đi”. Người bạn của ông ta muốn lái câu chuyện qua hướng khác nhưng ông ta cứ nói “Coi, đến đây tại sao anh không đến?”, ông ta đã điên thật sự.
Cơn khát đã rõ ràng chế ngự mọi loại lo âu khác. Mùi hôi thúi, tay chân đau đớn, và tương lai vô định, đều không quan trọng, một tư tưởng cố định ngự trị như chủ nhân ông: “uống”. Nhưng làm thế nào trong tình trạng vô phương nầy?
Một kỹ sư tại Rouen đã uống nước tiểu của mình, nhưng ông ta báo trước cho chúng tôi bằng giọng hổn hển: “Đừng, đừng, đừng có uống, hôi lắm, mặn lắm, uống vào lại khát thêm”. Ông ta biết rõ là mặn nhưng không tự kềm chế nổi. Phải uống bằng mọi giá. Phải chăng là để tránh một cuộc giết nhau giữa chúng tôi? Đã có những cú đấm trao đổi vì những lý do không đáng kể và người yếu nhất đã không còn hơi sức để rên nữa. Trong suốt đêm thứ nhì, một vài người trong chúng tôi phải canh chừng. May thay cơn mệt mỏi đã giúp chúng tôi và bình minh một buổi sáng thứ ba chiếu sáng dần toa xe, nhưng ánh sáng lại cho thấy một quang cảnh đáng buồn hơn hôm trước. Đêm thứ nhì đã trôi qua như một chiếc xe lăn đường ép lên chúng tôi. Những cái đầu không còn ra đáng người ló ra khỏi một mớ hỗn độn rối rên và nhiều cẳng chân để trong vũng nước hôi thối, hậu quả của một tai nạn xảy ra trong đêm làm đổ một thùng phân đầy tràn, và cũng giống như các hôm trước, tiếng la hét trở lại cùng với lời lăng nhục, đe dọa, và sẵn sàng đánh nhau. Một dấu hiệu khởi đầu của một cơn điên loạn tập thể đã làm óc não bừng bừng và con người không thể nào còn giữ được bình tĩnh nữa. Những người còn làm chủ được mình, là những người đau đớn hơn hết khi trông thấy tình cảnh đó.
Cơn khát đã tha tôi mà chúng tôi cũng không biết do một sự ngẫu nhiên tốt phước nào bây giờ đây lại xâm chiếm lấy tôi. Tôi tin rằng chính lúc đó tôi đã thực sự lướt qua biên giới phân cách giữa con người và con vật.
Buổi chiều, một cơn mưa đã kéo dài nhiều giờ. Chúng tôi đã rình từ tối hôm trước bầu trời xám xịt, và lại là cả một cuộc chiến đấu để liếm những giọt nước nhỏ rơi từ lỗ thông hơi. Lúc đó mặc dầu bên ngoài trời giá buốt, mọi người cởi áo choàng, áo len và có người cởi trần truồng. Mồ hôi nhầy nhụa tươm khắp nơi trên thân thể. Chúng tôi là những thây ma còn sống chờ đợi được cứu vớt một cách tuyệt vọng.
Chính trong đêm thứ ba, tình trạng mới thật sự bi đát. Người luôn miệng đòi uống một ly đờ mi đã chết và người bạn cố giữ thây ông ta ở chỗ ngồi để khỏi bị dẫm nát. Tại các chỗ khác trong toa, nhiều kẻ bị đầy đọa khác cũng trút hơi thở cuối cùng, và mùi tử khí cùng trộn lẫn với mùi phân và nước tiểu đã làm cho không khí không còn thở được nữa..
Từ lỗ thông hơi đằng kia Michael đã có thể nói chuyện được với một tên lính trên sân ga.
– Tối nay các anh sẽ đến nơi, – y nói với Michael, các anh sẽ thấy một “Erholungshelm” (dưỡng đường) thật sự.
Y nói danh từ nầy với một nụ cười tinh quái.
Đêm thứ ba đến, chúng tôi đã có 6 chết, một tá nổi điên và số còn lại không còn giống con người nữa. Con tàu lại dừng nhiều lần và hình như để sắp xếp các toa. Thình lình nó dừng lại đột ngột và tất cả các cửa được mở ra cùng một lúc. Nhiều tiếng la, tiếng hú, tiếng chó sủa và nhiều ánh đèn pha rọi trên sân chờ đón chúng tôi. Xa xa, những cây đèn đường cách quãng đều nhau cho thấy các hàng cọc chăng dây kẽm gai. Hình ảnh chập chờn như ảo tưởng. Từ hơn 60 giờ đồng hồ trôi qua chúng tôi bị dồn đống như đồ hộp và bây giờ phải nhảy xuống thật mau. A! Những người khốn khổ còn đang tìm hành lý. Những tên SS, thật sự SS những tên làm việc trong các trại tập trung đã nhảy lên và dáng các báng súng, trong đêm tối, lên đầu, bụng, ngực, và trên cả các xác chết nữa. Ánh sáng đèn pha chiếu ngắt quãng quang cảnh nầy Tôi đã nhảy xuống từ lâu và đứng vào hàng, vì chúng tôi phải sắp hàng năm. Một thứ bùn lạnh buốt và tuyết, chờ đón chân không mang giày của chúng tôi. Bọn SS bắt chúng tôi rảo bước đi tới, và những người vì quá yếu đuối và mệt mỏi không theo kịp sẽ có báng súng và chó săn sẵn sàng tiếp sức. Chúng tôi đi tới trước, gần như chạy cho đến một cánh cửa sắt lớn hiện ra trước những cặp mắt kinh ngạc của chúng tôi, cửa mở cho đoàn đầu tiên tiến vào và mỗi bên lính SS và các tên cai tù nhưng không còn mặc đồng phục nữa, đếm chúng tôi đi qua một cách say sưa. Đúng lúc sắp bước vào, tôi còn có thì giờ để chú ý và dịch một câu viết trên cửa
“Mầy vào đây để làm việc và chết”.
——————————–
| 1 | Weimar = Khu vực kỹ nghệ ở miền đông nước Đức. |
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.