Nửa đời còn lại

vietmessenger

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 11 Nov 2025

5. Chương 5

Văn minh mua quá mắc

1. Văn minh qua đây, chẳng những lấy của chúng ta từ giọt mỗ hôi, từ chút hơi thở, từ nước miềng nước bọt, chỉ đến lao lực nông, công, bao nhiêu ấy chưa vừa lòng, thêm chiếm đoạt vợ con của mình, luôn cả cứt đái, mà ta bất ngờ không để ý đến. Tôi không nói ngoa, trước đây vài chục năm thời Pháp còn ngồi làm chủ, thâu thuế, thuế muối, thuế rượu nhà máy thay cho rượu nếp, ai nấu lỡ rượu để bắt được, Tây đoan bỏ tù, dở nhà, tan hoang sự nghiệp.

Phân người, nghe nối bên Tàu, lấy làm quí, vì rau cải hoa quả vô phân người là xinh tốt ngon lành.

Người mình dùng nhiều thành ngữ để gọi: đi cầu là mới đây, khi có cầu tiêu, trước kia, ở mé sông thì gọi đi sông, ở đồng thì đi đồng, tiếng rộng là đi ngoài, ở Huế, khi tôi ra đó làm giảng viên đại học, tôi đến ngủ đêm nhà một bạn vong niên lớn hơn tôi trên mười niên, sáng ngày, tôi ngỏ ý, ông chủ nhà trao cho tôi một cây cuốc rồi dạy “đi vườn”, v.v..

Tây mấy năm sau, trước khi rút lui có trật tự, dạy thành phố phải biết giữ vệ sinh và phát mỗi căn phố một thùng lớn, dạy phóng trong đó và ban đêm có người cỡi xe có hai bò kéo, đến thay thùng khác, gọi “đồ thùng” và mớ hốt được, ban đầu đưa qua Láng Thọ (tiếng gọi giọng Pháp là “lang tô” cách xa bến tàu đi Tây Nhà Rồng một đỗi xa, như là gọi trổng là Nhà Bè, cũng được. Chót hết, trước khi nghĩ ra làm, cầu tiêu có hầm chứa, thì cứt đổ thùng góp về, bên nghĩ ra phơi khô (rả cứt giất đầu nằm), Tây không có vách lá làm đầu nằm, nên phơi cứt cho khô, xếp lại nói tội, như chiếc đệm, cân kí lô và bán ra nước ngoài làm phân bón, vừa thâu tiền vào túi, thâu thuế vào kho, vừa gọn vừa có ích.

Thậm chí lang sa tranh chức nghị sĩ ngồi bàn cãi nơi quốc hội cũng cần thế lực lá thăm, và có ai mạnh sức cho bằng tên chà nhớ như tên là Moutou, lãnh chức thầu khoán sở đổ thùng, dưới tay có đến mấy ngàn ít nữa là mấy trăm của người làm việc làm cọp rằn sở đổ thùng Sài Gòn luôn lục tỉnh, một ngày trước ngày đầu phiếu, bầu nghị sĩ quốc hội Pháp, hoặc cử hội đồng quản hạt ở Nam kỳ, Moutou mời tất cả người làm công có thẻ cử tri, đãi một bữa nhậu lớn, thâu hết các thẻ cứ tri, nhốt một đêm các chủ thẻ, rạng ngày cho xe ca Moutou vẫn viết tay và có làm dấu sẵn, rắt rắt lọt vào thùng phiếu không sai chạy một thẻ nào, khi kiểm phiếu, rất dễ tra, đứa nào ngoan cố bỏ thăm cho người khác, sẽ mất sở làm, ông nghị Outrey, ông nghị ra tranh de Beaumont, tôi không dám chắc có dùng phép tà thuật nầy hay là không, nhưng ở tỉnh, người có quốc tịch lang sa vẫn số ít, tham biện chủ tỉnh như Moutou, cũng dùng phép ấy để lấy thăm cho căn đi đa của Nhà Nước chọn, và khi đắc cử, ông nghị như vậy, tiếng Tây gọi là gì, chớ trong miệng người dân quen ăn mắm ăn muối, cũng không biết chữ Hán và vẫn gọi lén là “nghị cứt”.

2. Đã dùng chứ “lén” luôn dịp xin nói qua cây “chó lén”. Danh từ nấy, ngày nay, người ngoài kia vô đây và trẻ em sanh sau, chả hiểu chó lén là gì. Tôi bỏ công gần suốt một đời người, nay mới rõ quọt quẹt, chó lén, Pháp gọi “allume Feu” (allumer là đốt, feu là lửa), hỏi qua tiếng Tàu, gần xuống lỗ, mới biết “chó lén” là tiếng Tiều hay Quảng, viết ra Hán tự là “Tố lượng”, (tố là làm, như chữ vi; và lượng, hoặc là ánh sáng, hoặc là phơi ngoài trời cho khô), và nói “tố lượng” như nói tự động xa, mẹ ai mà hiểu, và nối

“xe hơi, ô tô” và nói chó lén thì mấy mười năm về trước hiểu là một vật làm ra lửa để đốt thuốc hút, nguyên xưa Tàu hút điếu bình, vo thuốc nhỏ sợi, nhét vào nồi điếu, tay cầm chó lén, vo vo đầu cọng dây cho lửa mau bắt, và lẹ miệng thổi phụt một cái, tức nhiên lửa bén có ngọn, châm vào thuốc, hít một hơi, điếu trong có chứa nước, tiếng nghe dòn dã, hút xong phải biết cách thổi nhẹ cho thuốc hút rồi văng rớt ra khỏi miệng điếu và làm qua mỗi khác, nếu cục mịt nhà quê, không phải bực phong lưu, khi thổi, thổi quá mạnh, hơi thối làm văng nước tứ tung, cô ả làng chơi sẽ cười cho. Chó lén làm bằng giấy súc, giấy thật xốp thì mau bắt lửa… Trước khi có giấy súc, chó lén, gọn hơn hết là cục đá lửa, dùng một miếng sắt thật sắc, cọ mạnh vào cục đá lửa, lửa xẹt ra, lấy một chút bùi nhùi cầm nơi tay nọ hứng cục lửa xẹt, tức khắc bùi nhùi bắt cháy và ta sẽ có lửa đủ dùng, hút thuốc, chăm đèn, nhúm lửa nấu cơm hay đốt nhà cũng được.

Hết chó lén, hết bùi nhùi đá lửa, Tây lấy nước Nam, bày ra làm hộp quẹt, sản xuất ở Bến Thủy ngoài Bắc, thâu tiền dân ta cho đã, rồi văn minh lền lền, chế ra quẹt máy, rồi nay quẹt ga (gaz), cạo đầu khô dân ta, xin lỗi, khí tục, không còn miếng da mẹ đẻ.

3. Day qua dầu đốt. Xưa ông bà ta đốt cho sáng ban đêm dùng dầu mù u, dầu dừa, đã là sang, dùng sáp nơi cung nơi điện, đèn dội nhều nhão dơ dáy, dùng đuốc, chữ gọi là chúc, đèn đám cưới còn sót lại danh từ “hoa chúc”, Tây và Mỹ bày ra ban đầu bán dầu lửa, rất nhẹ giá, sáng và sạch hơn dầu mỡ cá, mỡ chuột, ban sơ dụ khị, cây đèn tặng không không tính tiền, khi dân ta bắt đầu ăn quen mua dầu lửa, sẽ tăng giá lần lần, dầu nẩy, trong Nam gọi nôm na là “dầu lửa”, ngoài Bắc văn vật gọi dầu hóa, và tiếng gọi chung thống nhất là dầu hôi, vì sáp mới thơm tho, dầu phộng đèn đốt thuốc phiện vẫn thơm và lửa dịu mát, dầu dừa cũng tốt nhưng giá cao, chừng tấn bộ thêm bày ra đèn ét xăng có măng sông, rồi đèn khí đá cạt bia, qua đèn điện, đèn nê ông, ngày xưa đẹp nhứt là bóng trăng, nay trăng mờ vì đèn chớp bóng, đèn tân thời đủ thứ, từ rọi sáng đêm trường, ánh sáng đèn bọc ở ác, dùng làm khí cụ tra khảo hành tội người lạc hậu yêu nước.

4. Thuốc hút. Ban đầu thuốc nội hóa, thuốc rê vấn bằng lá non, túng thiếu vấn thuốc bằng giẻ rách cũng xong, điếu thuốc dán cột nhà, mót lại, càng ngon, (nhứt gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu), tội nghiệp cho người ghiền thuốc, lúc bị giam cầm, khi ra ngoài khám khuẩn bách lượm một tàn, kéo một hơi, ngon thấu mây xanh. Văn minh lần lần hút thuốc lào, điếu cầy điếu tre, thuốc Gò (Gò Vấp), thuốc rê (thuốc rê là thuốc xắt kéo ra từ thẻ dài, bánh thuốc, Huình Tịnh Của), thuốc vấn hiệu Bastos, hiệu Mélia, trong gói có kèm một hình gái đẹp, hiệu Corona có kèm một đót tre, giá hai cắc (0$20), hiệu Cotab, từ sáu xu một gói (0$06), tăng một cắc hai xu (0$12), rồi leo thang lên một cắc tám (O$18), đến giá hai cắc tư (0$24), tôi ở Sốc Trăng chạy lên đây, lòng buồn hút mỗi ngày hai gói Cotab, sau vì giá leo thang tôi bớt lại hút một ngày một gói, rồi hai ngày một gói, khi lên tới giá 0524, tôi bò không hút nữa, và nay, thính thoảng:

“Thuốc cho thì hút, thuốc mua thì đừng”, và bụng vẫn nhớ Phù Dung nhưng sợ lính bắt. Bây giờ tiến bộ nhiều, thuốc ba con số 5, thuốc 79 của Mỹ để nhồi điếu cối, thuốc vấn lo le, trách ai ăn giấy bỏ bìa, bạn Sơn Nam nay hút thuốc có đầu lọc và ngoài Huế, một lần nọ tôi thấy nơi nhà khoa trưởng một điếu cầy, bạn đáng thương Doãn quốc Sĩ xin cho kéo thử, khoa trưởng cười cười nhậm lời, anh Sĩ kéo và ho sặc sụa, có chêm phiện mà không nói!

5. Và v.v.. Máy hát, hiệu Pathé, của Thầy Năm Tú, hát cho hãng Pathé Pho no… ban đầu máy có ống loa, tiếng nói từ ống tròn như ống chỉ phát ra, sau thay ống bằng dĩa, hiệu

Asia, v.v.., rồi hát bóng từ câm qua có tiếng nói, Má Bảy bát bài “Dè đờ già múa” J’ai deux amours, mon pays et Paris…) rồi nay có Bạch Tuyết xây nhà dịch thể cung điện, bạn Sơn Nam được mời đến viếng mà tôi đây có nào mời. Cục xà bông hiệu Marseille bị hãng Trương Văn Bền cướp nghề, nhà giàu ngày xưa thuở đàng cựu đời ông Tự Đức, sắm rương xe giường hòm, nằm trên nắp giường tưởng đâu là chắc, bọn gian hai đứa khiêng nhẹ nắp giường đặt qua chỗ khác, vết hết vàng bạc đến sáng mới hay, Tây bày tủ sắt hiệu Bauche, hiệu Fichet ăn cướp đến nhà đưa một cây đinh dài hai tấc, biểu chủ nhà tự mở tủ, nếu không bằng lòng, cướp sẽ đóng cây đinh vào lỗ tai, sau tủ sắt không đủ đảm bảo gới tiền gới kim cương hột xoàn, vào ngân hàng, chờ cuối tháng đến lãnh tiền lãi, nay có nạn tín dụng thằng trời đánh họ Phạm đã dong qua Xiêm hú chuột, thẳng Mười Hai gì đó, chờ ngày ra tòa, vuột như vuốt lươn, trời ơi là trời, khổ ơi là khổ.

Tôi giỏi nói mà cũng bị, nào dám thở than, nhớ mấy chục năm trước bị kẹt trong khám ở tính quê, gặp một chị quen, cùng bị nhốt, chị than với tôi đã bị thằng chủ bót mật thám, Tây cà lăm Philippino làm nhục, chị hứa khi nào ra khỏi vòng Đủ lý, thì tự vận chớ không bao giờ chịu mang tiêng nhơ, vừa rồi gặp lại, còn sống nhăn, hỏi, chị liếc cho một liếc dài thậm thượt, vừa háy, vừa rủa:

– Ứ cái anh nầy! Khéo nhắc chuyện cũ!

Bao nhiêu nạn nhơn bị mất tiền, đều nếm văn minh mà không tiện cắt nghĩa, trong số có người chơn thật vớt vất an ủi, thiểu chi người bỏ luôn cho xong, của hoạnh tài, bắt phú.

Không ghi số. Một dấu hiệu văn minh là chụp hình, nhiếp ảnh, ban đầu sợ máy ảnh hớp hồn, khi chụp xỏe bàn tay đủ năm ngồn, nay tân tiến chụp hình nổi, vá víu, khéo vô song, đi nhà số, đi cưới lựa vợ, xin đừng tin tấm ảnh. Nói nữa làm chi?

(viết ngày 11-8-1990)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Poist by Sơn râu 11 Nov 2025

Bài 30

Quần đảo Salut – Chiếc bè trong ngôi mộ

Trong vòng năm tháng, tôi đã dần dần am hiểu tường tận từng góc ngách của Quần đảo. Kết luận hiện giờ của tôi là khu vườn ở cạnh nghĩa địa mà Carbonieri bạn tôi làm việc trước đây – bây giờ anh không ở đó nữa – là nơi chắc chắn nhất để đóng bè. Cho nên tôi yêu cầu Carbonieri trở lại khu vườn ấy, không xin thêm người phụ việc. Anh ta bằng lòng. Nhờ có Dega xin cho, Carbonieri được trở về khu vườn cũ. 
Sáng hôm nay, khi đi qua nhà viên chỉ huy trại mới đổi đến, tay cầm một xâu lớn cá hồng, tôi nghe thấy anh tù trẻ làm gia đinh cho nhà này nói với một thiếu phụ: 
– Thưa bà chỉ huy, anh này chính là người trước đây vẫn hàng ngày đem cá về cho bà Barrot đấy ạ. 
Rồi tôi nghe người kia, một thiếu phụ tóc đen xinh đẹp, kiểu đàn bà Algérie, nước da màu đồng đỏ, nói với anh ta: “Thế ra anh là Papillon à”. Đoạn quay ra phía tôi, người thiếu phụ nói: 
– Tôi đã được ăn mấy con tôm he rất ngon của anh câu do bà Barrot biếu tôi. Anh vào nhà đi. Anh phải uống ly rượu vang nhắm với ít pho-mát sữa dê tôi vừa nhận được từ bên Pháp gửi sang. 
– Cám ơn bà, thôi ạ, tôi không vào đâu. 
– Sao thế? Anh vẫn vào với bà Barrot đấy thôi, sao anh lại không vào với tôi? 
– Vì chính ông Barrot cho phép tôi vào nhà ông ấy. 
– Papillon ạ, chồng tôi chỉ huy trại, còn tôi, tôi chỉ huy ở nhà… Anh cứ vào đi, đừng sợ. 
Tôi cảm thấy cô thiếu phụ xinh đẹp này đã muốn gì là làm cho bằng được: một người như thế có thể rất hữu ích hoặc rất nguy hiểm. 
Trong phòng ăn, bà chỉ huy mới dọn ra bàn cho tôi một đĩa giăm-bông hun khói và một lát pho-mát. Không chút kiểu cách, bà ta xuề xòa ngồi xuống trước mặt tôi, rót rượu vang cho tôi, rồi sau đó lại rót cà- phê, và cuối cùng là một ly rượu rhum Jamaique rất ngon. Bà nói: 
– Papillon ạ, mặc dầu lúi búi vì phải sửa soạn ra đi và phải đón tiếp chúng tôi khi mới về, bà Barrot đã có đủ thì giờ để cho tôi biết được ít nhiều về anh. Tôi biết rằng bà ấy là người phụ nữ duy nhất trên Quần đảo được anh đem cá về cho. Tôi hy vọng rằng tôi sẽ được kế chân bà ấy hưởng cái ân huệ này của anh. 
– Vì là bà ấy ốm, còn bà thì tôi thấy hình như rất khỏe mạnh. 
– Tôi không biết nói dối, Papillon ạ. Đúng, tôi khỏe mạnh, nhưng tôi vốn sinh trưởng ở hải cảng cho nên chỉ thích ăn cá thôi. Tôi là người Oran. Chỉ một điều làm cho tôi thấy khó xử: tôi cũng được biết là anh không bao giờ bán cá lấy tiền. Cái này thì phiền quá. 
Nói qua nói lại một lúc, cuối cùng rồi cũng đi đến chỗ thỏa thuận là tôi sẽ đem cá đến cho bà. 
Một hôm tôi đem đến ba ki-lô cá hồng và sáu con tôm he, đang ngồi hút thuốc thì ông chỉ huy về. Trông thấy tôi, ông nói: 
– Juliette à, anh đã bảo với em là ngoài chú gia đinh ra không được cho một phạm nhân nào vào nhà kia mà. 

Tôi vội đứng dậy, nhưng bà Juliette nói: 
– Anh cứ ngồi yên. Phạm nhân này là người mà bà Barrot đã gửi gắm cho em trước khi ra đi. Vậy thì anh đừng có ý kiến gì cả. Ngoài anh này ra sẽ không có phạm nhân nào vào đây hết. Mặt khác, anh ta sẽ đưa cá cho em khi nào em cần. 
– Thế thì được, – ông chỉ huy nói. – Anh tên gì? Tôi toan đứng dậy trả lời thì Juliette đặt bàn tay lên vai tôi bắt tôi ngồi xuống, nói: 
– Đây là nhà của tôi, ở đây ông chỉ huy không còn là ông chỉ huy nữa, mà là chồng tôi, ông Prouillet. 
– Cám ơn bà. Tên tôi là Papillon. 
À! Tôi có nghe nói về anh và về cuộc vượt ngục của anh cách đây hơn ba năm từ bệnh viện Saint- Laurent-du-Maroni. Vả lại một trong hai viên giám thị bị anh đánh ngất trong khi vượt ngục lại chính là cháu tôi và là cháu nhà tôi – người đang bảo hộ cho anh. 
Đến đây, Juliette cười phá lên, tiếng cười trẻ trung và tươi mát. 
– Thế ra anh là kẻ đã phang vào đầu Gaston à? Không sao, việc này sẽ không làm thay đổi tình hình đâu 
Ông chỉ huy vẫn chưa ngồi xuống, nói: 
– Cái số án mạng xảy ra hàng năm trên Quần đảo thật khó tin nổi: nhiều hơn ở Đất liền nhiều. Anh có hiểu tại sao không Papillon? 
– Thưa ông, vì ở đây anh em không vượt ngục được thành ra bẳn tính. Họ sống mãi với nhau hết năm này sang năm khác, cho nên lẽ tự nhiên là phải hình thành những tình bạn và những mối thù không có gì tiêu hủy được. Mặt khác, chỉ có không đầy năm phần trăm số thủ phạm bị phát hiện, cho nên kẻ giết người có thể tin gần chắc là mình sẽ không bị trừng phạt. 
– Cách giải thích của anh rất lô-gích. Anh câu cá từ bao lâu rồi, và anh nhận loại lao công gì để có quyền đi câu như vậy? 
– Tôi đổ thùng. Đến sáu giờ sáng tôi đã xong việc, sau đó tôi được đi câu. 
– Suốt thời gian còn lại trong ngày à? – Juliette hỏi. 
– Không, đến mười hai giờ trưa tôi phải về trại, ba giờ mới được ra cho đến sáu giờ chiều. Như thế rất phiền, vì tùy theo giờ thuỷ triều lên xuống, tôi có thể mất buổi câu. 
– Anh cho Papillon một tờ giấy phép riêng, nghe anh? – Juliette quay về phía chồng nói. – Từ sáu giờ sáng đến sáu giờ chiều, như thế anh ta sẽ tha hồ câu cá. 
– Xong ngay, – ông chỉ huy nói. 
Tôi ra về, trong bụng mừng thầm, vì ba cái tiếng đồng hồ từ mười hai đến ba giờ chiều rất quý giá. Đó là giờ ngủ trưa, bọn giám thị đều ngủ, cho nên việc canh phòng có chiều lỏng lẻo. 
Juliette đã chiếm lĩnh hoàn toàn cả việc đi câu của tôi lẫn bản thân tôi. Đến mức bà ta còn sai anh gia đinh đi xem thử tôi đang câu ở đâu để lấy cá về. Có những hôm anh ta đến, nói: “Bà chỉ huy bảo anh câu được gì đem hết về cho bà, vì hôm nay bà có khách, muốn làm món xúp tôm cá”, hoặc đại loại như vậy. Nói tóm lại, bà ta quản lý hết thu hoạch của tôi, thậm chí còn dặn tôi câu cá này, cá nọ, hay phải lặn xuống biển bắt tôm càng. Điều đó có phương hại khá nhiều đối với thực đơn của tổ tôi, nhưng mặt khác, tôi được che chở hơn hết thảy mọi người. Bà ta còn có những kiểu quan tâm đặc biệt. 
– Papillon, thủy triều lên lúc một giờ phải không? 
– Thưa bà vâng. 
– Thế thì trưa anh về đây ăn cơm nhé, khỏi về trại. 
Thế là tôi ăn trưa ở nhà bà, hôm nào cũng ăn ở phòng ăn chứ không bao giờ ăn dưới bếp. Bà ngồi đối diện với tôi, lấy thức ăn bỏ vào đĩa cho tôi và rót rượu cho tôi. Bà không được kín đáo tế nhị như bà Barrot. Nhiều lần bà hỏi dò tôi về dĩ vãng. Tôi luôn luôn phải tránh cái đề tài mà bà quan tâm hơn cả – cuộc sống của tôi ở Montmartre, chỉ kể thời thiếu niên và thơ ấu của mình. Trong khi đó ông chỉ huy nghỉ trưa trong phòng ngủ. 
Một buổi sáng câu được nhiều tôm, tôi về sớm, cầm hơn sáu chục con tôm càng ghé nhà bà. Bà mặc áo choàng tắm màu trắng, sau lưng có một cô đang cuốn tóc cho bà. Tôi chào, rồi biếu bà một tá tôm. Bà nói ngay: 
– Không, anh cho tôi tất cơ. Có mấy con? 
– Sáu chục ạ. 
– Hay quá, anh để cả đấy cho tôi. Anh và các bạn anh cần bao nhiêu cá? 
– Tám con ạ. 
– Thế thì anh giữ lấy tám con, còn bao nhiêu đưa cho cậu bé đem thả vào nước mát đi. 
Tôi chẳng còn biết nói sao. Xưa nay chưa bao giờ bà dùng đại từ “tu” nói với tôi, nhất là trước mặt một người đàn bà khác, vì người này thế nào cũng đi nói lại. Tôi ngượng quá, toan ra về, thì bà lại nói: 
Ngồi yên đấy, uống tí rượu hồi đã. Chắc anh nóng lắm nhỉ? 
Người đàn bà quyền uy này làm cho tôi bàng hoàng đến nỗi tôi ngồi đực ra. Tôi vừa chậm rãi nhắp rượu hồi vừa hút thuốc lá, chốc chốc lại liếc mắt về phía tôi. Bà chỉ huy nhìn vào cái gương đang cầm ở tay, biết ngay cô kia nhìn trộm tôi, liền nói “Bồ tôi đẹp trai đây chứ, Simone nhỉ? Các cô cô nào cũng ghen với tôi, đúng không nào?” Thế là cả hai cười khúc khích. Tôi không còn biết độn thổ đi đường nào. Thế rồi tôi nói một cách ngu xuẩn: “Cũng may là thằng bồ của bà, như bà nói, không nguy hiểm lắm, vì trong tình cảnh của hắn, hắn không thể phải lòng ai để mà có bồ được”. 
– Thôi đi, chẳng lẽ anh dám nói anh không phải lòng tôi? – cô nàng Algérie nói – Chưa có ai thuần phục được con sư tử như anh, thế mà tôi muốn gì anh làm tất. Phải có lý do chứ Simone nhỉ? 
Tôi không biết là lý do gì, – Simone nói, – nhưng có một điều chắc chắn là đối với mọi người anh là một người hoang dã, chỉ riêng đối với bà chỉ huy là không thôi, Papillon ạ. Đến nỗi, có hôm anh vác dễ đến hơn mười lăm ki-lô cá, thế mà bà vợ ông giám thị trưởng van nài anh bán cho hai con thôi anh cũng không chịu, bà ấy nói thế, hôm ấy bà ấy thèm đến chết được, vì lò không có thịt. 
– Chà Simone? Thế mà đến bây giờ cô mới kể cho tôi nghe. 
– Thế chị có biết hôm nọ anh ta nói cái gì với bà Kargueret không? Bà ta trông thấy anh cầm một mớ tôm và một con cá ngừ lớn: “Anh bán tôi con cá đi Papillon, hay nửa con cũng được. Anh cũng biết là dân Bretagne chúng tôi làm cá ngừ rất ngon mà?”. 
Papillon nói: “Đâu phải chỉ có người Bretagne mới biết giá trị của nó? Rất nhiều người, kể cả dân Ardèche chúng tôi, mãi từ thời quân La-Mã sang đã biết đây là món thượng đẳng”. Thế là anh ta đi thẳng chẳng bán gì cho bà ta cả. 
Hai người đàn bà cười ngặt nghẽo. 
Tôi ra về, trong lòng rất cáu, và đến tối tôi kể cho tổ nghe hết câu chuyện. 
– Việc này rất nghiêm trọng, – Carbonieri nói. – Mụ ấy đưa cậu vào một tình thế rất nguy. Cậu nên đến đấy càng ít càng tốt, và chỉ khi nào cậu biết là có ông chỉ huy ở nhà. 
Cả tổ đều tán thành ý ấy. Tôi nhất định phải làm theo ý Carbonieri. 
Tôi vừa phát hiện ra được một anh thợ mộc người Valence. Nơi đó gần như là một quê hương của tôi, anh này đã giết một người kiểm lâm. Đó là một tay rất máu mê cờ bạc, lúc nào cũng nợ đìa ra: ban ngày hì hục làm đồ thủ công kiếm được bao nhiêu thì đến đêm nướng vào sòng bạc hết. Đã nhiều lần anh ta phải lấy đồ thủ công gán nợ. Thế là bị người ta bắt bí, một cái hộp gỗ quý trị giá ba trăm francs mà người ta chỉ trừ cho có trăm rưởi hay hai trăm bạc nợ. Tôi đã quyết định tấn công anh này. 
Một hôm gặp ở chỗ giặt áo quần, tôi nói với anh ta: 
– Đêm nay tôi có chuyện muốn nói với anh. Tôi đợi anh ở nhà xí. Tôi sẽ ra hiệu. 
Đêm ấy chúng tôi gặp riêng nhau, có thể nói chuyện không sợ ai quấy rầy. Tôi nói: 
– Bourset này, chúng mình là đồng hương đấy cậu ạ. 
– Đâu có! Đồng hương thế nào? – Cậu không phải quê ở Valence sao? 
– Đúng thế chứ. 
– Tôi thì quê ở Ardèche, như vậy chúng mình là đồng hương. 
– Thế rồi sao nữa? Có gì quan trọng đâu? 
– Có cái quan trọng là tôi không muốn cậu bị người ta bóc lột khi cậu mắc nợ, tôi không chịu được khi thấy họ tính giá những đồ của cậu làm không được một nửa giá trị thật. Lần sau cậu đưa cho tôi, tôi sẽ trả cậu đúng giá. Có thế thôi. 
– Cám ơn cậu, – Bourset nói. 
Tôi luôn luôn can thiệp để giúp đỡ Bourset. Cậu ta thì luôn luôn cãi cọ với những tay cậu mắc nợ. Mọi sự đều yên ổn cho đến hôm cậu ta có chuyện nợ nần với Vicioli một tay kẻ cướp rừng ở đảo Corse, một trong những bạn tốt của tôi. Tôi biết chuyện là do Bourset đến mách với tôi rằng Vicioli đang dọa nạt cậu ta nếu cậu ta không trả số tiền bảy trăm francs đang mắc nợ. Bourset lại cho tôi biết là đang sắp sửa làm xong một cái bàn giấy nhỏ có ngăn bí mật, nhưng không dám chắc bao giờ xong hẳn, vì phải làm lén. Số là phạm nhân không được phép làm những thứ đồ quá lớn vì như vậy tốn nhiều gỗ. Tôi trả lời là để tôi xem có cách nào giúp cậu ta được không. Rồi với sự thỏa thuận của Vicioli tôi dựng lên một màn kịch nhỏ: Vicioli phải thúc giục Bourset gắt vào, thậm chí dọa dẫm thật dữ. Tôi sẽ xông vào can thiệp như một vị cứu tinh. 
Mọi việc đều diễn ra đúng như đã dàn dựng. Từ ngày ấy, cậu Bourset nhất nhất đều nghe tôi và tin tôi một cách tuyệt đối. Lần đầu tiên trong cuộc đời phạm nhân, cậu ta mới được yên thân. Bây giờ tôi mới quyết định thử thách số phận. Một hôm tôi nói với Bourset: 
– Tôi có hai ngàn francs biếu cậu nếu cậu làm cho tôi một cái bè chở được hai người, gồm từng mảng rời có thể lắp nhanh được. 
– Papillon ạ, tôi không đời nào chịu nhận làm một việc như thế cho bất kỳ ai, nhưng riêng với cậu, tôi sẵn sàng liều chịu hai năm cấm cố nếu bị lộ. Chỉ có điều là tôi không thể đưa những súc gỗ hơi lớn ra khỏi công xưởng được. 
– Tôi đã có người. 
– Ai? 
– Hai anh em Đẩy xe, Naric và Quenier. Cậu định sao? 
– Trước hết phải vẽ một đồ án đúng tỷ lệ, rồi làm từng bộ phận một, có khớp để lắp vào nhau thật chắc. Cái khó là tìm cho ra thứ gổ nổi thật nhẹ, vì gỗ ở đảo đều là loại gỗ cứng thả xuống nước không nổi được. 
– Bao giờ cậu sẽ trả lời cho tôi biết? 
– Ba hôm nữa. 
– Cậu có muốn đi với tôi không? 
– Không. 
– Tại sao? 
– Tại tôi sợ cá mập và sợ chết đuối. 
– Cậu hứa là sẽ giúp tôi hết mình chứ? 
– Tôi lấy mấy đứa con tôi ra mà thề với anh như vậy. Chỉ có điều là phải làm lâu đấy. 
– Cậu nghe kỹ đây: ngay từ bây giờ tôi sẽ chuẩn bị bằng chứng bênh vực cho cậu phòng khi bị lộ. Tôi sẽ tự tay chép lại đồ án đóng bè trên giấy học sinh. Phía dưới tôi sẽ viết: “Bourset, nếu mày không muốn bị ám sát, mày phải đóng chiếc bè vẽ trên đây” sau đó tôi sẽ viết cho cậu những mảnh giấy dặn dò cách đóng từng bộ phận. Cứ xong được bộ phận nào, cậu sẽ đem để ở nơi tôi sẽ dặn. Nó sẽ được đưa đi giấu ngay. Cậu đừng tìm cách biết ai đến lấy và lấy vào lúc nào (ý này làm cho cậu ta thấy nhẹ bớt) như vậy tránh cho cậu khỏi bị tra tấn nếu bị bắt và dù có sao cậu cũng chỉ phải chịu hình phạt nhẹ nhất: chừng sáu tháng cấm cố thôi. 
– Thế nếu chính cậu bị bắt thì sao? 
– Nếu thế thì sẽ ngược lại. Tôi sẽ nhận tôi đã viết mấy mảnh giấy. Dĩ nhiên cậu phải giữ những mảnh giấy ấy. Nhất trí chưa? 
– Tôi hứa như vậy. 
Cậu không sợ chứ? 
– Không, bây giờ tôi không sợ nữa. Tôi thấy vui được giúp cậu.. 
Tôi chưa nói gì với ai hết. Tôi còn phải chờ Bourset trả lời về chuyện gỗ. Mãi đến một tuần sau, một tuần dài dằng dặc tưởng không bao giờ hết, tôi mới có dịp nói chuyện riêng với Bourset ở thư viện. Ngoài hai chúng tôi ra không có ai ở đấy. Đó là vào buổi sáng chủ nhật, ở ngoài sân đang có đám bạc lớn, gần tám mươi người đánh và ngần ấy người đứng xem. 
Lập tức Bourset làm cho tôi thấy ấm lòng: 
– Cái khó nhất là làm sao chắc có được đủ gỗ nhẹ và khô. Tôi đã nghĩ được cách làm một cái khung bằng gỗ nẹp chặt dừa khô, còn nguyên cả thớ vỏ, cố nhiên. Không có gì nhẹ bằng thớ vỏ dừa, mà nước lại không thấm vào được. Khi bè đóng xong, chính anh phải lo kiếm cho đủ dừa để nhét vào khung. Vậy thì mai tôi làm mảng đầu tiên. Mất độ ba ngày. Từ thứ năm có cho một trong hai anh em Đẩy xe đến lấy. Tôi sẽ không bao giờ bắt đầu làm thêm một mảng trước ra khỏi xưởng. Tôi đã vẽ đồ án rồi đây, cậu chép lại đi rồi viết thêm mảnh giấy như cậu đã hẹn. Cậu đã nói chuyện với anh em nhà ấy chưa? 
– Chưa, tôi còn chờ cậu trả lời đã chứ. 
– Thế thì tôi trả lời rồi đấy: được. 
– Cám ơn Bourset, tôi không biết lấy gì cảm ơn cậu Thôi, năm trăm francs đây, cậu cầm lấy. 
Bourset nhìn thẳng vào mắt tôi nói: 
– Không, cậu giữ lấy tiền. Đến đất liền cậu sẽ cần đến để vượt tiếp. Từ hôm nay tôi sẽ không đánh bạc cho đến khi nào cậu ra đi. Làm một ít đồ thủ công, tôi sẽ có đủ tiền mua thuốc lá và bít-tết. 
– Tại sao cậu không chịu cầm? 
– Vì việc này dù có trả một vạn francs tôi cũng không làm đâu. Việc quá nguy hiểm cho tôi, dù đã có đề phòng bất trắc. Chỉ có làm không công mới làm được. Cậu đã cứu tôi, cậu là người duy nhất đã dang tay ra giúp đỡ tôi. Tôi có sợ thật, nhưng tôi rất sung sướng được giúp cậu trở lại cuộc sống tự do. 
Trong khi ngồi chép lại đồ án, tôi thấy hổ thẹn trước sự cao thượng lớn lao mà ngây thơ của Bourset. Cậu ta không chút hồ nghi rằng những cử chỉ tốt đẹp của tôi đối với cậu là có tính toán vụ lợi. Để khỏi khinh rẻ bản thân, tôi buộc lòng phải tự nhủ rằng tôi phải vượt ngục bằng bất cứ giá nào, dù cái giá đó là tình thế éo le và không phải bao giờ cũng tốt đẹp. Đêm hôm ấy tôi nói chuyện với Naric, biệt hiệu Xúp Nhừ, để sau đó cậu ta nói lại với ông em rể. Naric nói, không chút phân vân: 
– Cậu cứ để tôi lo việc đưa các mảng bè ra khỏi công xưởng. Chỉ có điều là cậu đừng sốt ruột, vì chỉ khi nào có dịp đưa vật liệu cồng kềnh ra khỏi xưởng để làm công trình xây cất trên đảo mới nhân thể đưa luôn đồ của cậu ra. Dù sao tôi cũng hứa với cậu là sẽ không bao giờ để lỡ một dịp nào. Thế là ổn rồi. Chỉ còn phải nói chuyện với Matthieu Carbonieri, vì tôi muốn cùng vượt ngục với chính anh ta. Anh ta đồng ý trăm phần trăm. 
– Matthieu à, tôi đã tìm được người làm bè, đã tìm được người đưa từng mảng bè ra khỏi công xưởng. Phần cậu là tìm xem trong khu vườn có chỗ nào giấu được bè không. 
– Không được đâu. Đây là vườn rau, nguy hiểm lắm, vì ban đêm có những thằng gác mò vào ăn trộm rau quả. Nếu chúng nó đi đúng vào chỗ giấu, cảm thấy dưới đất rỗng thì hỏng hết. Tôi sẽ làm một cái hốc trong bức tường bằng cách lấy ra một phiến đá lớn rồi khoét sâu vào trong. Mỗi khi nhận một mảng bè, tôi sẽ giở hòn đá ra, giấu vào hốc rồi đặt lại hòn đá như cũ 
– Đưa thẳng các mảng đến vườn cậu được không? 
– Không được. Làm như vậy quá nguy hiểm. Hai anh em Đẩy Xe không có lý do gì vào vườn của tôi. Tốt hơn cả là thu xếp cho họ mỗi lần đem đến một nơi khác không quá xa vườn của tôi. 
– Nhất trí. 
Mọi việc đều có vẻ ổn. Còn mấy quả dừa khô. Tôi nghĩ xem có cách nào chuẩn bị một số dừa đủ dùng mà không lộ liễu quá. 
Tôi cảm thấy mình đang sống lại. Chỉ còn một việc là nói chuyện với Galgani và Grandet. Tôi không có quyền giấu họ, vì họ có thể bị buộc tội là đồng lõa với tôi. Bình thường ra, tôi phải chính thức ra khỏi tổ của họ để sống một mình. Khi tôi nói cho họ biết là tôi đang chuẩn bị một cuộc vượt ngục cho nên phải tách ra khỏi tổ, họ mắng cho tôi một trận và dứt khoát không chịu. “Cậu hãy lên đường càng sớm càng tốt. Còn chúng tớ thì khỏi lo, sẽ có cách. Trong khi chờ đợi cậu cứ ở với chúng tớ, chúng tớ có còn non dại gì đâu”. 
Cuộc chuẩn bị đã tiến hành được hơn một tháng. Tôi đã nhận được bảy mảng bè, trong đó có hai mảng lớn. Tôi đã đến xem bức tường của Matthieu có khoét hốc để giấu bè. Không thể nhận thấy phiến đá đã bị tháo ra, vì cậu ta đã cẩn thận lấy rêu trát vào các khe hở. Chỗ giấu thật hoàn hảo, nhưng tôi thấy cái hốc hơi chật chưa chắc chứa hết được tất cả. Tuy vậy, cứ như hiện nay thì vẫn còn đủ chỗ. 
Cái ý thức là mình đang chuẩn bị vượt ngục khích lệ tinh thần tôi dữ dội. Tôi chưa bao giờ ăn nhiều và ngon miệng như thế, và chế độ ăn cá giữ cho cơ thể tôi hoàn hảo. Thêm vào đấy, mỗi buổi sáng tôi tập thể dục hai tiếng đồng hồ trên các mỏm đá. Tôi tập chân nhiều hơn, và khi câu cá tay đã hoạt động nhiều. Tôi nghĩ ra cách tập chân như sau: Tôi đi ra biển xa hơn khi tôi đứng câu, để cho sóng xô vào đùi. Để đón sóng và giữ thăng bằng, tôi gồng các cơ bắp chân và đùi. Kết quả rất tốt. 
Juliette, tức bà chỉ huy, vẫn rất niềm nở đối với tôi. Nhưng bà đã để ý thấy rằng chỉ khi nào có chồng bà ở nhà tôi mới vào. Bà đã nói thẳng với tôi là bà nhận thấy thế và để cho tôi khỏi ngượng ngập, bà phân trần với tôi rằng cái hôm có cô Simone đến quấn tóc cho bà là bà nói đùa cho vui thôi. Tuy vậy, cô Simone vẫn hay ra đứng trên con đường tôi đi câu về, và mỗi lần gặp tôi cô đều có đôi lời thăm hỏi thân ái về sức khỏe và tinh thần của tôi. Vậy là mọi sự đều tốt lành. Bourset tận dụng mọi cơ hội để làm bè cho tôi. Công việc bắt đầu thế là đã được hai tháng rưỡi. 
Chỗ giữ bè đã chật ních, như tôi đã dự kiến trước đây. Chỉ còn thiếu hai mảng dài nhất, một mảng dài hai mét, mảng kia dài mét rưỡi. Hai mảng này không lọt được vào hốc. 
Nhìn về phía nghĩa trang, tôi trông thấy một ngôi mộ mới. Đó là mộ của vợ một cảnh binh, mới chết tuần trước. Trên mộ có đặt một bó hoa héo tồi tàn. Người giữ nghĩa trang là một phạm nhân già mù lòa có biệt hiệu là Bố già. Suốt ngày ông già ngồi dưới bóng một cây dừa mọc ở góc đối diện của nghĩa trang; ngồi đấy ông ta không thể nhìn thấy ngôi mộ ấy, mà nếu có ai đến gần ngôi mộ ông ta cũng không nhìn thấy được. 
Tôi nảy ra cái ý dùng ngôi mộ này để lắp bè và nhét thật nhiều dừa vào cái thứ khung gỗ mà anh thợ mộc đã đóng. Hết khoảng ba mươi đến ba mươi bốn quả: so với số dừa đã dự kiến thì ít hơn nhiều. Tôi đã kiếm được hơn năm mươi quả, đặt rải rác ở nhiều nơi, mỗi nơi một ít. Chỉ riêng trong sân nhà Juliette đã được một tá rồi. Anh tù gia đình tưởng tôi gửi tạm đấy để sau này ép dầu. 
Được tin viên cảnh binh chồng người đàn bà mới chết có việc phải đi lên đất liền, tôi quyết định bới lên một phần đất bỏ ra khỏi huyệt, đến chỗ đặt quan tài mới thôi. 
Matthieu Carhonieri ngồi trên bức tường của anh ta, gác cho tôi đào. Dầu anh ta đội một chiếc khăn mùi soa trắng bốn góc thắt nút lại. Bên cạnh có một chiếc khăn đỏ, cũng thắt nút ở bốn góc. Không có gì thì cứ đội khăn trắng. Thấy ai đến thì đội khăn đỏ lên, dù là ai cũng thế. 
Công việc này cực kỳ nguy hiểm. Cũng may là chi mất một buổi chiều và một đêm. Tôi không phải đào đến tận quan tài, vì tôi phải khoét rộng cái huyệt ra cho vừa chiều rộng của chiếc bè: một mét hai có dôi ra một ít. Tôi có cảm giác thời gian trôi qua chậm quá, và cái khăn đỏ đã mấy lần hiện ra. Cuối cùng, sáng hôm nay tôi đã làm xong. Cái huyệt được phủ bằng lá dừa chặt lại, làm thành một thứ sàn khá chắc. Bên trên phủ đất, đắp xung quanh lại thành một cái rìa nhỏ. Trông hầu như không có gì khả nghi. Thần kinh tôi căng thẳng đến tột độ rồi. 
Cuộc chuẩn bị vượt ngục này đã kéo dài ba tháng. Được buộc kỹ và có đánh số đâu vào đấy, tất cả các bộ phận bằng gỗ của chiếc bè đã được đưa ra khỏi chỗ giấu. Bây giờ nó nằm phía trên quan tài của người đàn bà đã khuất, được lớp đất phủ trên sàn lá dừa che kỹ. Trong cái hốc ở trên tường, chúng tôi đã để ba cái bao bột và một sợi dây dài ba mét để làm buồm, một cái chai đựng diêm và vỏ quẹt, một tá hộp sữa, chỉ có thế thôi. – 
Bourset càng ngày càng nôn nao, bứt rứt. Cứ như thể chính anh ta sẽ ra đi chứ không phải tôi. Naric lấy làm tiếc là hồi tôi hỏi anh ta đã từ chối. Nếu hồi ấy anh đồng ý thì chúng tôi đã tính chuyện đóng một chiếc bè cho ba người đi chứ không phải hai. 
Bấy giờ là mùa mưa, ngày nào cũng mưa cả, điều đó tiện lợi cho tôi những khi tôi đi “thăm mộ”; lúc ấy tôi đã lắp gần xong cái bè. Còn thiếu hai thanh gờ của khung gỗ. Tôi đã chuyển dần mấy chục quả dừa về gần khu vườn của bạn tôi. Có thể đến lấy dừa một cách dễ dàng và không có gì nguy hiểm trong trại trâu. Không bao giờ các bạn tôi hỏi tôi đã chuẩn bị đến đâu rồi. Chỉ thỉnh thoáng họ mới nói: “ổn chứ?” – “ổn”. – “Hơi lâu, cậu nhỉ? – “Làm nhanh hơn thì có cơ hỏng hết”. Chỉ thế thôi. Khi tôi đến lấy mấy quả dừa để tạm ở sân nhà Juliette, bà ta trông thấy và đã cho tôi một mẻ hết hồn. 
– Này anh Papillon, anh bắt đầu làm dầu dừa đấy à? Sao không làm ngay trong sân này? ở đây có cái chày vồ để đập dừa ra, tôi sẽ cho anh mượn cái nồi lớn trong nhà để đựng cùi dừa. 
Tôi thấy làm ở trại tiện hơn. 
– Lạ thật, ở trại bất tiện thì có. 
Nhưng nghĩ một lát, bà ta lại nói: 
Anh có muốn tôi nói thật không? Tôi không tin là anh lại đi làm dầu dừa đâu. 
Tôi lạnh toát cả người, Juliette lại nói: 
– Trước hết anh việc gì phải làm dầu dừa, trong khi anh có thể lấy bao nhiêu dầu ô-liu của tôi cũng được? Mấy quả dừa kia để làm một cái gì khác kia, đúng không? 
Tôi toát mồ hôi hột. Ngay từ đầu tôi đã chờ bà ta ném ra hai tiếng “vượt ngục”. Tôi nghẹn cả thở. Tôi nói với Juliette: 
– Thưa bà, chuyện này lẽ ra tôi phải giữ bí mật đến cùng, nhưng tôi thấy bà tò mò sốt ruột muốn biết quá, cho nên tôi đành phải làm một món quà bất ngờ mà tôi đã định dành cho bà. Nhưng đã thế này thì tôi chỉ có thể hở cho bà biết rằng mấy quả dừa lớn này đã được chọn để làm một thứ đồ chơi rất xinh mà bà sẽ rất thích. Hiện nay tôi chỉ có thể nói đến đấy thôi. 
Tôi đã thắng, vì thấy Juliette trả lời: 
– Papillon ạ, anh đừng vì tôi mà bày vẽ những việc làm anh mất thì giờ, và nhất là tôi cấm anh không được phí tiền để làm cho tôi một thứ quà cáp gì đặc biệt. Tôi thành thật cám ơn anh đã nghĩ đến việc đó, nhưng anh chớ có làm như vậy, tôi thiết tha yêu cầu anh đấy. 
– Thôi được, để tôi xem đã. 
Thật hú vía! Tôi lập tức xin Juliette một ly rượu hồi, điều mà tôi chưa bao giờ làm. Bà không nhận thấy vẽ thảng thốt của tôi, thật may. Thượng đế nhân từ đang đứng về phía tôi. 
Hôm nào trời cũng mưa, nhất là về chiều và đêm. Tôi lo nước ngấm qua lớp đất mỏng làm lộ lớp lá dừa đan. Matthieu phải trông chừng thường xuyên, hễ thấy đất trôi đi là đắp lại ngay. Chắc ở phía dưới ngập nước hết rồi. Tôi và Matthieu lôi lớp lá dừa lên: nước chảy xuống đã gần đến nắp quan tài. Tình thế thật nguy kịch. Gần đấy có một ngôi mộ chôn hai đứa trẻ đã chết từ lâu lắm. Một hôm chúng tôi cạy phiến đá trên mộ, tôi chui xuống dùng một thanh sắt ngắn đục lớp xi măng ở chỗ thấp nhất về phía ngôi mộ giấu bè. Lớp xi măng vỡ rồi, tôi vừa cầm thanh sắt cắm xuống đất thì một tia nước phọt lên. Nước từ ngôi mộ bên kia chảy sang cái huyệt này. Khi nước đã lên đến đầu gối tôi bước ra ngoài. Chúng tôi đặt phiến đá trở lại chỗ cũ và gắn xung quanh bằng mát-tit trắng (do Narie kiếm giùm). Biện pháp này đã làm cho lượng nước bên ngôi mộ giấu bè của chúng tôi bớt được một nửa. Tối hôm ấy Carbonien nói với tôi: 
– Không biết đến bao giờ mới hết những chuyện phiền toái vì chuyến vượt ngục này. 
-Gần xong rồi mà, Matthieu! 
– “Gần” rồi hả? Cũng mong như thế. 
Thật chúng tôi như đang ngồi trên đống than hồng. 
Sáng hôm sau, tôi ra bến. Tôi đã yêu cầu Charpar mua cho tôi hai ki-lô cá để đến trưa tôi sẽ ra lấy. Tôi trở lên vườn Carbomeri. Gần đến, tôi trông thấy ba cái mũ cối trắng. Tại sao lại có ba tên cảnh sát trong vườn? Chúng nó lục soát gì chăng? Thật là việc không bình thường. Tôi chưa bao giờ thấy có ba tên cảnh sát đến vườn Carbomeri. Tôi đợi một giờ đồng hồ, rồi sốt ruột quá không chịu được nữa, tôi quyết định đi tới tận nơi xem thử có việc gì xảy ra. Tôi cứ ngang nhiên đi trên con đường dẫn đến khu vườn. Mấy tên cảnh sát đứng nhìn tôi đi tới. Tôi đã đến cách họ khoảng hai mươi mét, lòng bồn chồn hồi hộp, thì thấy Matthieu đội chiếc khăn trắng lên đầu. Tôi thở hắt ra, và có đủ thì giờ trấn tỉnh lại trước khi đến tận chỗ mấy người kia đứng. 
– Chào các ông giám thị. Chào Matthieu. Tôi đến lấy quả đu đủ cậu hứa cho tôi. 
– Tiếc quá Papillon ạ, sáng nay tớ đi lấy sào để cắm cho cây đỗ leo, khi về mới thấy mất quả đu đủ. Nhưng chỉ bốn năm hôm nữa lại có quả chín, bây giờ cũng đã có mấy quả vàng vàng rồi. Thưa các ông giám thị, sao ạ, các ông có lấy một ít rau xà lách, mấy quả cà chua mí lại mấy củ cải cho các bà ở nhà không ạ? 
– Khu vườn của anh trông nom khá lắm Carbonieri ạ tôi có lời khen anh đấy, – một viên cảnh sát nói. 
Họ nhận mấy mớ xà lách, cà chua và củ cải rồi ra về. Tôi ra về trước họ một chút cho họ thấy tôi không có chuyện riêng gì phải bàn với Carbonieri, không quên mang theo hai cây xà lách. 
Tôi đi ngang qua nghĩa địa. Ngôi mộ bị mưa xói lở cả lớp đất phủ bên trên. Đứng cách mười bước, tôi trông thấy rõ lớp lá dừa trồi lên. Đến thế này mà chúng tôi chưa bị lộ thì quả là Chúa phù hộ cho. Đêm đêm gió thổi ào ào như quỷ dữ, tràn qua ngọn đồi trên đảo với những tiếng gầm thét điên dại, chốc chốc lại đổ cả mưa rào. Mong sao cứ thế này mãi: đây là một thời tiết lý tưởng để vượt ngục, nhưng đối với ngôi mộ thì lại khác. Súc gỗ lớn nhất của chiếc bè, cái súc dài hai mét ấy đã được đưa đến hầm mộ một cách xuôi lọt, để nhập bọn với các bộ phận khác của bè. Tôi lại còn lắp thử nó vào nữa là khác, nó ăn khớp vào một cách sít sao mà dễ dàng, không phải tốn sức gì cả. Bourset chạy lên tận trên trại để hỏi xem tôi đã nhận được cái bộ phận quan trọng hàng đầu ấy chưa: nó quan trọng thật, nhưng lại cồng kềnh quá xá. Nghe nói đâu đấy đều ổn cả, anh ta mừng quýnh. Anh ta có vẻ như không tin là nó lại có thể đến tay tôi được. Tôi hỏi: 
– Cậu có ngờ vực gì không? Cậu nghĩ là có ai biết được à? Cậu có hở ra với ai không? Trả lời đi! 
– Không, tuyệt nhiên không? 
-Thế nhưng cậu vẫn có vẻ lo âu vì một điều gì đó. Cậu nói đi! 
– Tôi chỉ có một cảm giác khó chịu vì cái nhìn quá tò mò như có ý soi mói của một gã tên là Bébert Celier. Tôi thấy hình như hắn đã nhìn thấy Naric lấy súc gỗ dưới cái bàn thợ mộc bỏ vào cái thùng ton-nô đựng vôi rồi mang đi. Mắt hắn dõi theo Naric ra đến tận cửa xưởng. Hai anh em Đẩy Xe sắp phải quét vôi một dãy nhà trong trại. Tôi lo là vì thế đấy. 
Tôi hỏi Grandet: 
– Cái anh Bébert Celier ấy ở khối ta đấy, vậy ắt không phải là một thằng phản trắc. 
Grandet nói: 
– Tay này vốn là tù được giao cho sở Công chánh. Cậu thử hình dung mà xem: hắn đã từng đánh nhau trong một tiểu đoàn trừng giới ở châu Phi, một tay cứng đầu đã nếm mùi đủ các thứ nhà pha của quân đội ở Maroc và ở Algérie, chuyên gây sự đánh nhau, đấu dao loại sừng sỏ, một tay pê-đê cuồng nhiệt, lại máu mê cờ bạc nữa. Hắn chưa bao giờ sống ngoài xã hội như một thường dân. Kết luận: đó là một thằng vô lại, cực kỳ nguy hiểm. Trại khổ sai chính là cả cuộc đời của hắn. Nếu cậu nghi hắn thực sự, thì hãy đi bước trước đi: hãy ám sát hắn ngay đêm nay, để hắn không có thì giờ tố giác cậu nếu hắn có ý định ấy. 
– Không có gì chứng minh rằng hắn là một thằng chỉ điểm. 
Đúng thế, – Galgani nói, – nhưng cũng không có gì chứng minh hắn là một thằng khá. Cậu thừa biết loại phạm nhân như hắn chúa ghét những cuộc vượt ngục. Nó làm đảo lộn quá nhiều cái nếp sinh hoạt yên ổn và có nền nếp của bọn chúng. Về bất cứ việc gì khác thì chúng không bao giờ tố giác, nhưng chuyện vượt ngục thì khác, biết đâu đấy? 
Tôi hỏi ý kiến Matthieu Carbonieri. Anh ta tán thành cái ý kiến là phải giết hắn ngay đêm nay. Anh ta định đích thân làm việc đó. Tôi có một hành động sai lầm là đã ngăn cản anh ta. Tôi không thể chấp nhận việc giết một con người mà chỉ căn cứ vào những hiện tượng bề ngoài. Dù là tự mình giết hay để cho người khác giết, tôi cũng thấy ghê tay quá. Nếu nhỡ Bourset tưởng tượng ra những chuyện anh ta vừa kể thì sao? Vì quá lo sợ, anh ta có thể thần hồn nát thần tính mà thành ra hoang tưởng cũng nên. Tôi hỏi Naric: 
– Xúp nhừ này, cậu có thấy Bébert Celier có cái gì khác thường không? 
– Tôi thì không. Khi đi ra, tôi vác cái thùng trên vai để thằng giữ chìa khóa đừng trông thấy trong thùng có gì. Theo chiến thuật đã quy ước, tôi phải đứng ngay trước mặt thằng giữ chìa khóa, không đặt cái thùng ton-nô xuống, cho đến khi anh rể tôi ra đến cửa. Như thế là để thằng A-rập thấy rõ tôi không vội vã muốn ra ngay: hắn sẽ không sinh nghi mà đòi khám cái thùng. Nhưng sau đó anh rể tôi nói là thấy thằng Bébert Celier quan sát chúng tôi một cách chăm chú. 
– Ý kiến của anh ra sao? 
– Vì bộ phận này rất quan trọng, và chỉ nhìn qua cũng biết đó là một bộ phận của một chiếc bè, cho nên anh rể tôi lo sợ quá mà trông gà hóa cuốc. 
Tôi cũng nghĩ như vậy. Thôi chuyện này không nói nữa. Còn lại bộ phận cuối cùng, trước khi đưa ra phải chú ý xem Bébert Celier ở đâu. Cứ đề phòng hắn ta như đối với một tên ác. 
Suốt đêm ấy tôi mê mải đánh bài Marseillaise. Tôi được bảy ngàn francs. Tôi càng đánh bừa lại càng được. Đến bốn giờ rưỡi sáng, tôi thôi đánh bài, nói là phải đi làm cỏ-vê đổ thùng. Tôi để cho cậu da đen Matinique làm một mình. Mưa đã tạnh. Trong bóng đêm hãy còn tối mịt, tôi đi ra nghĩa trang. Tôi lấy chân san lại đất trên ngôi mộ, vì tôi tìm không ra cái xẻng, nhưng với đôi giày của tôi, công việc cũng tạm ổn. Đến bây giờ, khi tôi xuống biển câu cá, trời đã nắng ráo, rất đẹp. Tôi đi về phía mũi đá phía nam đảo Royale, nơi tôi đã định cho bè xuống nước. Nước biển dâng cao, động mạnh. 
Tôi cũng không biết nữa, nhưng tôi có cảm giác là sẽ rất khó làm cho bè tách ra khỏi bờ mà bờ mà không bị sóng hắt trở lại, xô mạnh, vào đá. Tôi câu một mớ cá hồng đá dễ đến hơi năm ki-lô. Rửa sạch mớ cá xong, tôi không câu nữa. Tôi rất lo, nhất là lại đang mệt vì canh bạc trắng đêm. Ngồi trong bóng rợp, tôi ôn lại cái thời gian hơn ba tháng chuẩn bị vừa qua, tự nhủ rằng sự căng thẳng kéo dài đã sắp kết thúc, rồi nghĩ đến trường hợp Celier, tôi kết luận lại một lần nữa là mình không có quyền ám sát hắn. 
– Tôi đến gặp Matthieu. Đằng bên bức tường của khu vườn, có thể trông rõ ngôi mộ. Trên lối đi vào mộ có đất rải rác. Đến trưa Carbonieri sẽ sang quét sạch nó đi. Tôi đi qua nhà Juliette, cho bà một nửa số cá vừa câu được Bà ta nói: 
– Papillon ơi, đêm qua tôi chiêm bao chuyện dữ quá: tôi mơ thấy anh máu me đầm đìa, rồi lại thấy anh bị xiềng xích. Anh đừng làm gì dại dột nhé. Nhỡ anh có làm sao thì tôi sẽ đau khổ quá sức. Giấc chiêm bao làm cho tôi xúc động đến nỗi đến bây giờ tôi cũng chưa buồn rửa mặt chải đầu gì cả. Tôi lấy ống nhòm tìm xem anh đang câu cá ở đâu, mà chẳng thấy. Chỗ cá này anh câu ở đâu thế? 
– Ở bên kia đảo. Cho nên bà không nhìn thấy được 
– Tại sao anh lại phải câu xa thế, ở một nơi mà tôi không thể dùng ống nhòm nhìn tới được? Nhỡ bị sóng cuốn đi thì sao? Sẽ không có ai trông thấy để mà vớt anh lên trước khi cá mập đớp mất. 
– Ồ, xin bà đừng quan trọng hóa đi qua như thế. 
– Anh cho tôi là tôi quan trọng hóa! Bây giờ tôi cấm anh câu ở phía bên kia đảo đấy. Nếu anh không nghe, tôi sẽ bảo người ta rút giấy phép đi câu của anh. 
– Kìa, bà phải biết điều một chút chứ. Để bà vui lòng, từ nay tôi sẽ nói cho anh tù làm ở nhà bà biết tôi câu ở chỗ nào. 
– Thôi được. Nhưng sao trông anh mệt mỏi thế? 
– Vâng, tôi hơi mệt thật. Tôi sẽ về trại nằm một lát 
– Được. Nhưng đến bốn giờ tôi đợi anh đến uống cà phê đấy nhé. Anh đến chứ? 
– Vâng xin hẹn đến chiều, chào bà tôi về.

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 11 Nov 2025

Chương 7

Sáng hôm sau, lệnh thức dậy được hét bằng đủ loại ngôn ngữ trừ tiếng Pháp, đã dựng chúng tôi dậy để chạy về phía các bồn rửa mặt. Trời vẫn còn tối và một lớp tuyết cứng phủ đầy mặt đất. Trong thời gian đầu chưa ai quen với hệ thống D, mọi người để mình trần đều phải trải qua hệ thống nầy. Dầu đến thế nào sự lo lắng muốn cho chúng tôi đầy phong độ, rất đáng buồn cười. Chắc chắn điều nầy không có gì kinh khủng cả, hệ thống sinh hoạt đó được áp dụng trong tất cả các cộng đồng ở Đức, tuy nhiên đối với những người lớn tuổi và bệnh nhân thì đây là một chuyện khó nhọc. Thật sự là đời sống trong các trại tập trung nầy có mục đích thanh toán họ càng mau càng tốt.

Từ phòng rửa mặt về, sự phân phát phần bánh mì cho suốt ngày bắt đầu. Không có ai có can đảm giữ lại một mẩu cho suốt ngày. Ngay vừa lúc chúng tôi ăn hết bánh mì, cả mười nhân viên phụ trách thét lớn cùng một lúc ra hiệu cho chúng tôi ra ngoài tập họp.

Ánh sáng ban mai bắt đầu ló dạng, trong khi mười nhân viên ăn mặc ấm áp đếm đi đếm lại, thì chúng tôi, áo vét chật bỏ sát, một nửa bàn chân ngập trong tuyết, run lập cập. Qua trung gian một thông ngôn được chỉ định đầu hôm, người ta báo hôm nay chúng tôi đến hầm đá, mang đá về lót đường trong trại, công việc lót đường do các toán đặc biệt thực hiện. Công tác tạp dịch nầy được định trước cho những người mới đến cứ hai ngày một lần, và như vậy chúng tôi có cơ hội làm quen với địa điểm sinh sống.

Đoàn người dài chuyển động theo sự hướng dẫn của một “Kapo” (trưởng toán) vừa đến tìm chúng tôi. Tôi đã lướt lên đầu để tìm cách nói chuyện với người nầy. Anh ta giải thích cứ mỗi biệt đội lao tác được chỉ huy bởi một tù nhân cũ, và tùy theo số tù nhân y được sự phụ tá của nhiều Vorarbeiters (cai), cũng là tù nhân nữa. Điều nầy giúp tiết kiệm nhân viên SS, bọn nầy thỉnh thoảng đến kiểm soát mà thôi.

– Ở đây, anh ta nói tới tôi, công việc của chúng ta là canh chừng không để cho bọn SS bắt gặp chúng ta thình lình. Cố nhiên là phải làm việc tối thiểu và cặp mắt cũng làm việc y như tay chân.

Người Kapo nầy thật đặc biệt, bởi vì các đồng nghiệp của anh ta không đáng giá bao nhiêu.

Chúng tôi chầm chậm đi lên dốc, trên đó các tòa nhà và dãy trại được xây dựng thật ngay hàng. Những con đường ít bị đông giá trở thành các con sông toàn bùn, đưa đến các dãy trại đó.

Càng đi tới, đoàn người càng dãn ra bởi vì chúng tôi không theo kịp nhịp bước của những người đi đầu, và họ đã đến quảng trường của trại tập trung, nơi đây, mỗi sáng các biệt đội tập họp lại và buổi tối, điểm danh tổng quát.

Được xây dựng trên một triền nghiêng của một cao nguyên mang tên Buchenwald (rừng cây dẻ gai), khu vực dành cho tù nhân gồm có 60 “khối”, cộng thêm với các cơ sở khác như nhà bếp, nhà tắm đã được kể ở đoạn trước. Từ nơi điểm danh nầy, người ta có thể nhìn bao quát tất cả các khối. Trong thời tiết lục địa khắc nghiệt nầy, bị gió lộng tứ phương, bốn phía rừng cây bao bọc, toàn thể khu vực trông thấy được, đã gợi trong trí hình ảnh một thành phố tại Alaskav, tuy nhiên các hàng rào kẽm gai cùng với các chòi canh vĩ đại lại nhắc nhở thật mau đến hình ảnh một nhà tù lại Sibérie thời Nga hoàng được canh tân hóa. Một loại kiến trúc có vẻ dân sự chạy viền theo phân đất trên cao và nằm hai bên cổng chính mà chúng tôi đã được đưa vào tối hôm trước. Viên chỉ huy trại cũng như lực lượng canh phòng trú ngụ tại các ngôi nhà đó. Trên tầng thứ nhất, tại một bao lơn chính giữa được xây cất đặc biệt, có nhiều quân canh với đèn pha và đại liên, canh phòng thường trực. Người Kapo đến trình diện toán gát và một lính canh ngồi sau một ghi sê, anh ta nói sao khi dở nón ca lô: “Bao nhiều người đây cho công tác tạp dịch đó”. Sau khi đếm chúng tôi, một tên SS mở cửa, Chúng tôi thấy trại của chúng tôi chỉ là 1/4 hay 1/3 toàn diện khu vực bên ngoài. Ở đấy có các nhà máy, nhà kho và tù nhân làm việc, ngoài ra là các trại lính dành cho các tân binh SS và lớn đến nỗi có thể nhận nhiều sư đoàn cùng một lúc. Các bãi tập, các săn bắn cũng được thiết lập trên khu cao nguyên. Phải đi qua đấy mới đến triền dốc bên kia, nơi đó chúng tôi thấy một hầm đã lộ thiên vĩ đại. Thường thường bầu trời có màu xám xịt và thấp, lại thêm địa điểm buồn tẻ, che khuất chân trời. Nhưng khi ánh sáng lợt lạt mùa đông ló dạng, người ta có thể thấy xa tít mù một thung lũng gồm nhiều làng mạc dân chúng. Trong tầm mắt có thể nhìn thấy được, không có một dấu hiện nào chứng tỏ có hoạt động của con người, tất cả như đều bị đông cứng lại. Một con đường chỉ đo bàn chân của tù nhân vạch nên, đưa đến hầm đá, nơi đó đã có các toán lấy đá. Công việc của chúng tôi rất đơn giản, mỗi người nhặt một viên đá. Những người đi đầu ngồi chờ cả toán đến đủ. Những người già cả chịu đựng hàng ngàn khổ đau; nếu mặt đất không quá trơn trợt thì một lớp bùn dầy dính chặt đế giày bằng gỗ của chúng tôi và đã có nhiều người đi về chân không. Sau cùng, những người đi chậm bắt kịp đám đông. Sau khi bị đếm đi đếm lại, chúng tôi trở về trại với một hòn đá trong tay.

Địa điểm duy nhất của trại tập trung Buchenwald có thể thử tìm cách vượt ngục là hầm đá. Tuy nhiên ngoài những người cai luôn luôn canh giữ toán của mình, ở đó còn có quân SS. Chung quanh công trường đầy lính gác và chó đứng cách nhau năm mươi thước canh chừng ngày đêm. Trên các con đường đi qua khu vực ngoại vì đều có các toán tuần tiễu chặn đường và kiểm soát mọi sự lưu thông. Quả thật trại tập trung đã bị cắt đứt với thế giới bên ngoài, và mặc dù đã có các dự tính tuyệt vọng, không một ai thành công trong nỗ lực vượt ngục.

Trước khi trở về “khối” của chúng tôi, mọi người phải đi qua một con đường dài, dọc theo đó, chúng tôi bỏ đá lại cho những người đập đá làm việc tại đó bất kể trong thời tiết nào. Chúng tôi ngạc nhiên thấy họ là người Đức và lúc đó, họ có vẻ khốn khổ hơn chúng tôi nhiều.

Trong buổi sáng đầu tiên nầy, chúng tôi làm hai vòng tạp dịch và nếu không có sự giá lạnh và gió lồng lộng rét buốt làm cồn cào ruột gan, thì đây chỉ là các cuộc đi dạo mà những người trẻ tuổi chịu đựng một cách thích thú, Tuy nhiên đây mới chỉ là bắt đầu…

Khi về đến khối, chúng tôi phải chùi thiết hài như sắp sửa bước vào một nơi tôn nghiêm. Bởi những người được chỉ định làm công tác phân phối súp, đi về phía nhà bếp. Mỗi người phải trở lại chỗ nằm để đợi được phân phối súp. Lúc đó, cấm di chuyển; chỉ có người chịu trách nhiệm đứng trước ngăn như một người dạy mãnh thú đứng trước chuồng với một bầy 48 con thú bên trong.

Đoàn người bưng các thùng súp đi qua được chào đón bằng những tiếng kêu vui vẻ. Người có trách nhiệm, với nhiều người khác đi theo, mang hàng chồng gào mên, múc cho mỗi người một ca gần một lít. Súp thật nóng và chỉ vì lý do đó mà chúng tôi thấy nó ngon. Trong thoáng chốc mỗi người ăn hết phần của mình, và hàng trăm cặp mắt nhìn chăm chú vào các thùng để tính xem có may mắn còn phần súp dư đầy tính cách ảo tưởng nào không. Tôi chú ý rằng ngay từ bữa ăn đầu tiên, các người chỉ huy ngăn đã múc cho mình gấp đôi, cả người thông ngôn, người bưng gào mên, và một vài người được, ưu đãi khác cũng vậy. Một giai cấp trung lưu vừa thành hình. Ông tu viện trưởng Bourgeois, tên của người chỉ huy ngăn chúng tôi, thật là một trường hợp gương mẫu. Không bao giờ ông ăn lít súp thứ hai mà không chia xẻ với một người trong chúng tôi. Giáo sư tại một trường trung học tự do ở Besancon, ông ta chịu khổ đau đặc biệt trong suốt thời gian bị giam cầm. Trên sân ga, lúc bị đưa lên tàu đến Compiègne, chân thì bị xiềng, tay bị còng, mặc dù bị viên sĩ quan có trách nhiệm cấm, ông đã hát vang bài Marseillaise 2. Bắt chước ông, cả đoàn người hát theo. Bọn lính gát và viên chỉ huy, tức cành hông, đành phải chịu thua sự thách thức trước đám đông du khách có mặt tại đó. Không phải chính ông ta kể lại cho tôi nghe chuyện nầy, ông không bao giờ làm như vậy.

Buổi chiều, hầm đá lại chờ chúng tôi. Sau vài chuyến là phải chuẩn bị cho cuộc điểm danh. Lúc đó là 7 giờ. Tôi được biết là các khối đang trong thời kỳ kiểm dịch phải tập họp trước các toán khác hai tiếng đồng hồ, điều nầy là để luyện tập,chúng tôi. Và còn phải đứng trong ba giờ nữa với một chất nước như thuốc sắc trong bụng coi như bữa ăn tối.

Sáng hôm sau, một ngày không đi hầm đá, người ta tống chúng tôi ra khỏi khối ngay sau khi phát bánh mì lấy lý do là sàn nhà cần được chùi rửa và đó cũng là qui tắc. Tuy nhiên, không có gì ngăn chúng tôi nằm nán trong ngăn vì lẽ bị thiếu ăn vì một chế độ thực phẩm tội thiểu, bị mệt mỏi bởi cuộc điểm danh hồi hôm, một vài giờ nằm trên đệm đã thật sự cho chúng tôi được dịp nghỉ ngơi. Thay vì là như thế, lại phải đựng chờ bên ngoài, run rẩy vì lạnh, và bắt buộc phải nhảy tại chỗ để làm chân tay đỡ tê cóng. Một hàng người đói rách đứng trước một quán súp bình dân còn có vẻ khá hơn là chúng tôi, một bầy run lập cập trong quang cảnh phi nhân nầy. Và chính điều đó đã làm cho chúng tôi thấy tính cách hài hước của thời gian bốn mươi ngày để kiểm dịch. Nến về phương diện chính thức và theo những điều Léo giới thiệu, chương trình có vẻ bình thường lắm, trong thực tế, đây là cả một công cuộc dạy cầm thú thật sự. Mục đích: tuyệt trừ nơi mỗi cá nhân, những gì tượng trưng cho nhân cách để biến thành một con thú phục dịch. Về phương diện vật thể, điều nầy đã được làm rồi bởi vì bị hớt tóc cạo lông, bị đánh số, bị ăn mặc đồng loạt giống như những kẻ thất nghiệp lang bang, chúng tôi trông giống như một bầy xứng đáng với trò “nhạc kịch ba xu”. Hơn nữa, thức ăn được tính toán một cách khoa học đã làm mỗi ngày chúng tôi một yếu dần. Tuy nhiên chính trí não chúng tôi mới là đối tượng chính cần tiêu diệt, chúng tôi bắt đầu hiểu các phương pháp đạt đến mục tiêu đó. Một sự hạ thấp tàn bạo xuống bậc thang tận cùng, những chuyện mích lòng, những sự khích động vì quốc tịch, sự “săng ta” thường trực, và một tâm lý sợ hãi kết tạo bởi mối đe dọa thường xuyên. Chúng tôi không có một giờ phút nào riêng cho mỗi người và chúng tôi bị dẫn dắt tàn bạo bởi chính các tù nhân như chúng tôi. Phải thử làm một cái gì, nhưng không có ai đến gần được họ, và người thông ngôn, một sinh viên trẻ tuổi rụt rè, không dám can thiệp. Vậy phải chờ một cơ hội thuận lợi nhân một sự kiện nào đó xẩy ra, cơ hội đã bắt Michael trả giá đắt. Vì từ chối làm một công việc tạp dịch với một tên Stubendienst người Ba Lan đặc biệt xấu tánh, tên nầy đã đánh anh gần ngất và bạn tôi đã chịu đau đớn nhẫn nhịn, vì hiện tại tên Ba Lan được coi là đại diện cho quyền lực SS, và chống lại y dù là để tự vệ có nghĩa là nổi loạn. May thay vụ gây gổ đã lôi kéo sự chú ý của viên thư ký khối, cũng người Serbie. Là cánh tay mặt của người chỉ huy khối, anh ta có quyền uy đối với tất cả mọi người.

Vụ rắc rối đã được giải quyết, danh dự của Micheal được bảo tồn, anh đã tìm thấy nơi người đồng hương một tình bạn và nhân đó, anh giợi thiệu tôi với người bạn mới. Người thư ký đưa chúng tôi vào căn phòng nhỏ của vị chỉ huy khối, nơi có một chiếc bàn nhỏ dùng làm bàn giấy, ông ta mời chúng tôi một điếu thuốc Machorka 3 có mùi vị không khác gì mùi cỏ cháy, nhưng ở đây, tượng trưng cho sự sang trọng. Đây đúng là lúc sau giờ điểm danh. “Chúng ta có thể nói chuyện suốt đêm, ông ta nói; Kurt – người chỉ huy khối – đã đi thăm vài người bạn”. Hai bên giới thiệu nhau, chúng tôi phải đảm bảo kín miệng vì những lời ông ta nói có vẻ bí mật thật sự.

Là quản lý một hí viện ở Zagreb, ông ta đã gia nhập vào một nhóm trí thức thân Tito. Bị quân Đức bắt khi chiếm đóng, kết cuộc ông ta bị đưa đến Buchenwald sau khi nểm đủ mùi tại các nhà ngục của bọn Ousiachis. Nhỏ con nhưng mạnh bạo, ông ta đã trải qua thời gian kiểm dịch, mang nhiều sẹo, kết quả của các cuộc tra tấn trong khi bị thẩm vấn bởi cảnh sát của Pavelitch (lãnh đạo chính quyền Nam Tư dưới thời bị Đức chiếm đóng):

– Sau nầy các anh sẽ có cơ hội biết nhiều hơn bên trong cuộc sống ở đây, – ông ta bắt đầu nói. – Tôi chỉ nói hạn chế bằng cách giải thích phương thức cai quản trại tập trung thôi; Quân SS khởi đi từ một nguyên tắc; chúng dồn đống vào trại hàng chục ngàn người góp nhặt từ các xứ bị Đức chiếm đóng, số người đó trở thành lực lượng nhân công ngoan ngoãn và khỏi phải trả lương. Để giúp chúng trong nhiệm vụ đó, nhiệm vụ phức tạp khó khăn vô cùng, chúng đã dùng các tù nhân Đức. Như vậy, có loại tù nhân chính trị với dấu tam giác đó, tù nhân thường tội, tam giác màu lục, loại tù nhân chống lại xã hội, loại phá hoại công việc mang tam giác đen, những thành phần của các hiệp hội công giáo chống chủ thuyết Quốc Xã được phân biệt bằng một tam giác tím, sau cùng có những tù nhân bị chứng đồng tình luyến ái mang dấu hiệu tam giác hồng. Tuy nhiên trong nội bộ tù nhân với nhau, chúng tôi đủ phân biệt một cách tàn bạo chỉ có hai loại, một bên là tù chính trị, phần còn lại thuộc phe thứ hái. Cuộc xung đột hiện hữu trong tất cả các trại, xung đột một mất một còn, để chiếm quyền lãnh đạo, bởi vì các anh sẽ có dịp tự mình phán xét, đó là một quyền lực thật sự mà những người nắm giữ nó, hành xử trên đám tù nhân còn lại.

“Từ nhiều năm qua, những tù nhân chính trị Đức nắm quyền nầy ở dây và điều đó không phải là đơn giản đâu. Các anh nghĩ xem, hiện tại có vào khoảng 25 ngàn tù nhân, và bọn chỉ huy SS luôn luôn đặt sự kiểm soát thường trực, muốn rằng tập thể đó được cai quản tốt. Chúng tuyệt đối không làm gì cả ngoại trừ kiểm soát số lượng tù nhân và công tác. Vậy thì phải có một tổ chức nào đó để cai quản tập thể; một mặt, phải làm cho bọn SS hài long về phương diện biểu kiến, mặt khác, bằng mọi giá phải duy trì một hình thức văn minh nào đó cho sự giam cầm. Bọn SS là bọn người ác quỷ trong tâm bởi vì chính chúng đặt ra chương trình và chúng tôi phải hành hạ trí não để tìm cách qua mắt chúng một phần nào.

“Các anh sẽ nói: nhưng mà nếu thế là các tù nhân chính trị tỏ ra bất xứng khi nhận lời giúp quân SS”.

“Câu trả lời thật dễ dàng: Đó là một vụ tự sát. Hãy suy nghĩ xem: Nếu tù nhân chính trị từ chức, tù thường tội chỉ chờ có thế, họ lập tức xin được phục vụ ngay và lúc đó tất cả chúng ta đều chết trong các điều kiện tồi tệ nhất. Chúng tôi đã ở trong trại nhiều năm rồi và cuộc chiến tranh vẫn chưa chấm dứt. Không những chúng tôi chỉ tự cứu lấy mình, nhưng lại còn có thể giúp đỡ, dù ít đến đâu đi nữa, những người kháng chiến ở khắp các Quốc Gia bị đưa đến đây. Đối với tập thể, chúng tôi tượng trưng cho sự không hay ít hơn, vì nếu bọn SS buộc cung cấp hai ngàn người để làm một công việc chuyển dịch nào đó, thì phải cung cấp họ cho chúng, dù cho chúng tôi biết rằng họ chắc chắn sẽ đi đến chỗ chết, trong một hầm mỏ nào đó, đi nữa.. Nhưng, ít ra là lúc họ còn ở trong trại Buchenwald, một kỷ luật tối thiểu có lợi cho tất cả mọi người đã được tôn trọng. Mỗi tù nhân nhận được phần ăn mà họ có quyền hưởng… và khi có bưu kiện đến, người có tên trên gói quà chắc chắn nhận được gói của mình, và nguyên vẹn, không sứt mẻ; một người đau ốm được công nhận là đau ốm: các vụ đánh đập đều bị cấm chỉ.

Anh cười! Tôi hiểu, con người vẫn là con người, Và tại sao các anh muốn họ trở nên tốt hơn trong một trại tập trung? Các tù nhân Đức ở đây hầu hết là những phần tử đối lập với chế độ Quốc Xã đã từng có những trách nhiệm lớn chẳng hạn như viên trưởng trại và một vài người khác là các cựu dân biểu. Họ bị bọn Quốc Xã bắt giam từ mười năm nay và nếu có người nào đủ khó chơi, không ai phủ nhận rằng thời gian bị giam cầm quá lâu, và khá kinh khủng trong những năm đầu đã làm cho; một số người bị ảnh hưởng sâu đậm. Tuy nhiên phải thẳng thắn nhìn nhận rằng một chút tình nhân loại còn sót lại nơi đây là nhờ họ, chúng ta, tất cả chúng ta, phải mang ơn họ. Qua mặt bọn SS họ đã cứu và sẽ còn cứu nhiều nhân vật, nhiều chiến sĩ tiêu biểu thực sự cho phần tử tinh hoa của đất nước họ. Họ đã cứu hàng ngàn thiếu niên Nga, trong đó có nguyên một khối gồm toàn trẻ con từ 8 đến 14 tuổi và đạt được kết quả là miễn cho các em đó khỏi lao tác. Chắc chắn là tinh thần họ bị mệt mỏi ghê gớm và họ, những người đã chịu khổ nhọc mười lần hơn chúng ta, họ phải trút lên đầu các người dưới quyền do chính họ chọn lựa trong số tù nhân thuộc các quốc tịch khác. Tuy nhiên, những tình cảm đẹp đẽ hướng dẫn con người trong đời sống dân sự vẫn còn tiếp tục được thể hiện ở đây. Vì không đông lắm nên họ phải tuyển mộ các viên phụ tá trong số tù nhân từ các quốc gia miền Đông bị đưa đến. Đã có người Tiệp Khắc, Ba Lan, vài người Serbie, và rất đông người Nga trong số nầy. Mà, những viên phụ tá nầy, phần đông rất trẻ, chưa thi hành quân dịch hoặc không tham dự vào một tổ chức chống bọn Quốc Xã, xuất thân từ hàng triệu công nhân bị biến cải nô lệ và được chở từ Đông Âu đến để thay thế, trong các nhà máy của chế độ Quốc Xã, số nhân công Đức phải ra chiến đấu ngoài tiền tuyến. Những điều kiện sống trong các thành phố kỹ nghệ lớn, nơi mà sự đói khổ, hậu quả của nhiều sự hạn chế, và sự chết chóc vì bị oanh tạc, luôn luôn rình rập họ, và bắt buộc, thúc đẩy họ vào các hành động: vượt ngục, ăn cắp thực phẩm, phá hoại nhà rnáy, và các hành động đó, họ bị đưa đến đây. Ốm yếu chỉ còn da bọc xương, họ tin rằng sẽ bị tận diệt một cách chắc chắn, nhưng trái lại, họ nhận được sự giúp đỡ cấp thời và hữu hiệu do tù nhân Đức ban cấp cho. Họ là những người thiếu kinh nghiệm và tin tưởng rằng, do sự sốt sắng quá lố, họ sẽ tỏ bày được lòng biết ơn đối với các vị cứu tinh, do đó họ đối đãi thô bạo một tí đối với những người mới đến, nhất là tại đây, các anh lại toàn là người Pháp. Sự khác biệt tâm lý quả thật quá lớn lao đến nỗi chỉ còn lại cừu hận, và khốn thay, do sự thiếu thông cảm giữa người nầy và người kia, chính bọn cai ngục SS là thủ lợi”.

Tôi chộp ngay lời thú nhận nầy và đề nghị thành lập một thứ ủy ban trái độn do tù nhân chỉ định để giúp cho cả khối chạy đều, đồng thời tránh luôn những chuyện đáng tiếc, ông ta hứa sẽ đề cập đến vấn đề nầy với Kurt ngay đêm nay, và chúng tôi xin rút lui sau khi nghe mấy lời kết thúc của ông ta:

– Chỉ có một thiểu số còn sống khi rời các trại tập trung, với điều kiện là chúng không có tàn sát tất cả chúng ta trong cơn hấp hối của chúng.

Vừa ra khỏi phòng, chúng tôi phải cởi giày bởi vì mọi người đã ngủ yên. Michael xiết tay tôi với sự nồng nhiệt đặc biệt. Chúng tôi vừa được biết nhiều chuyện và chúng tôi tự cảm thấy mình là hai con người khác hẳn.

Thời gian tốt nhất đối với chúng tôi vẫn là buổi tối khi máy phóng thanh loan báo “Abtreten” (điểm danh chấm dứt), vẫn còn được 1 giờ trước giờ ngủ bắt buộc, như vậy chúng tôi được tự do nói chuyện gẫu.

Một điều vẫn được mọi người lập đi lập lại là “chỉ trong 3 tháng” ngày tháng trôi qua nhưng lúc nào cũng là ba tháng. Và trong thời gian khởi đầu tháng hai năm 1944, những người thực tế nhất cũng tự hỏi một cách lo âu rằng không biết mình có chịu đựng nó đến cuối năm không, đó là thời hạn chấm dứt chiến tranh mà mọi người tin tưởng; đối với đa số, mọi chuyện đã được sắp đặt: Đổ bộ vào tháng ba, thời gian thuận tiện nhất cho các hoạt động trên biển, và một Trung tá hải quân có mặt ở đây có thể chứng minh được điều đó; một khi cuộc đổ bộ thành công, thật là lố bịch nếu còn nghi ngờ rằng chiến tranh không chấm dứt một tháng sau đó. Trong số năm trăm người chúng tôi, chỉ có một người thấy đúng: Đại Tá Ganneval (sẽ là quân trấn trưởng thành phố Bá-linh sau chiến tranh) nhiều lần tuyên bố về “chiến tranh chỉ chấm dứt vào năm 1945”. Ông ta là người bi quan nhất trong khối, nhưng đôi khi như muốn bù trừ lại, ông ta nói với chúng tôi giọng thân mật, bề trên: “Thật là một hạnh phúc lớn lao nếu chuyện đó sẽ xảy ra vào cuối năm 1944”. Chúng tôi vào khoảng hai mươi người ngồi nghe ông như học trò nghe giảng bài; một giáo sư thật thọ, một Đức ông. Ngay từ khi làm quen với ông, tôi đã cho ông biết đại cương cuộc tiếp xúc với viên thư ký và lập tức mời ông gia nhập nhóm. Vì đã là trưởng ngăn, ông từ chối nhận thêm việc mới, nhưng hứa sẽ hậu thuẫn chúng tôi; điều nầy rất may vì thời gian quá cấp bách. Đến lượt Léo đánh ngất một thanh niên tên Barbier vì một lỗi nhỏ. Anh nầy đã hiểu nhầm một mệnh lệnh của Léo về việc chùi rửa một góc khối dùng làm một nhà vệ sinh nhỏ, cùng chỗ rửa chén bát Để trừng phạt, sau khi đánh nạn nhân gần ngất xỉu, Léo bắt anh ta trần truồng nằm xuống sàn xi măng ẩm ướt, thoạt tiên là nằm sấp, sau đó là nằm ngửa, mỗi lần, anh ta nhận ba sô nước giá lạnh. Như nhờ phép lạ, ngoài các vết bầm tím đo các cú đấm, không có gì trầm trọng xẩy ra sau một phen trừng phạt đặc biệt khó nhọc trong thời tiết mùa đông giá lạnh nầy. Sự trừng phạt đó, mà không một tên SS bài bác đã làm chúng tôi vô cùng công phẫn, Michael chạy đi kiếm viên thư ký đồng hương, ông nầy bình tĩnh như thường lệ trả lời:

– Điều đó không làm tôi ngạc nhiên về Léo, bạn bè hắn gọi hắn là tên sát nhân. Hắn không phải là người xấu, nhưng định kỳ, lại nổi cơn điên. Hắn ta đã tham gia chiến đấu trong suốt cuộc chiến tranh Tây Ban Nha, và chắc chắn đã có gì đó làm hắn loạn trí. Nhân tiện, Kurt chấp thuận đề nghị của các anh, ngay khi nào các anh sẵn sàng, ta sẽ tổ chức cuộc hội để xúc tiến việc đó.

Căn bản sáu người được chấp thuận, tôi được chỉ định cùng với viên thông ngôn của khối Michael, một người chỉ huy du kích quân tại Saône-et-Loire tên Marcel, một Trung tá Hải quân, và Max. Tôi đã chú ý đến người sau cùng từ hôm mới đến. Cùng nằm chung ngăn với chúng tôi, anh ta không bao giờ nói một lời, và tìm cách tự làm lu mờ trong đám đông. Thái độ lặng im đó đã làm mọi người bị khởi động lòng hiếu kỳ và dành cho anh ta nhiều cảm tình. Anh ta nói được tiếng Đức và tiếng Nga, điều nầy lại càng làm cho con người ông ta mang thêm một màn bí ẩn. có lẽ vì lý do đó mà tôi vận động mọi người nhận anh ta vào một cơ cấu mới được tổ chức. Tôi nói rằng rất ngạc nhiên vì kiến thức ngoại ngữ của anh ta, kiến thức hiếm có nơi người Pháp, anh ta kéo riêng tôi ra, lợi dụng một thời gian ngắn có thể nói chuyện riêng với nhau. Sau nhiều lần do dự trước khi bắt đầu như là cố tìm những danh từ thích hợp nhứt diễn tả tư tưởng, anh ta tiết lộ với tôi:

– Anh vừa giúp tôi một việc vô giá, do đó tôi cảm thấy có bổn phận phải đền đáp anh bằng sự thật. Tên tuổi của tôi hiện nay vốn là của một trong những bạn kháng chiến, bọn Gestapo không thể khám phá được gì cả. Trong thực tế, tôi là người Đức, khoan, để tôi nói cho chính xác, là ngước Đức gốc Do Thái, tỵ nạn tại Pháp từ năm 1933. Lúc đó tôi mới có 15 tuổi như anh thấy, tôi nói tiếng Pháp rất lưu loát và đúng giọng như người Pháp. Khi thú nhận như thế, tôi đã đặt phần nào số phận trong tay anh, vì nếu điểm nầy bị tiết lộ, mạng tôi sẽ không còn đáng giá bao nhiêu. Tuy nhiên, tôi vẫn cứ nói để chứng tỏ lòng tin cậy của tôi vào anh.

Tình bạn là một cái gì hiếm có trong trại tập trung, tôi chấp nhận tình bạn mới với sự vui vẻ, trong khi đó tôi cũng hứa hết sức kín miệng đối với những điều mà anh ta vừa tiết lộ cho tôi biết.

Buổi họp được tổ chức trong phòng viên trưởng khối, và một thỏa hiệp thành hình. Đại Tá Ganneval, được coi như là niên trưởng, kêu gọi mỗi người, tuân hành kỷ luật, để giúp cho hệ thống quản trị mới thành công.

Đã có sự chỉ trích lẫn bênh vực, thật dễ; đến lượt chúng tôi gia nhập vào giai cấp trung lưu và nếu có một vài sự lạm quyền phát xuất từ tinh thần ưa bài xích, đặc tính của chúng tôi, thì ít ra các vụ đánh đập cũng đã chấm dứt, những mệnh lệnh bằng tiếng Slave rất chói tai đối với tù nhân Pháp trở thành hiếm hơn, và ý thức tránh tình trạng tệ hại tột cùng đã làm tăng gia hơn hết mọi việc sự hòa thuận toàn thể.

Trong khi chúng tôi tưởng là chương trình thường lệ được thiết lập sẵn sẽ được áp dụng một cách vĩnh viễn, thì một buổi sáng một công việc phụ khó chịu đã đến với một trăm người trong chúng tôi. Mỗi khối còn trong tình trạng kiểm dịch phải cung cấp một trăm người trong bốn ngày liên tiếp để làm một công việc gọi là “tạp dịch trong vườn”, ở đây là khu vườn mênh mông của trại tập trung mà sự chăm sóc là do trách nhiệm của các tù nhân chuyên môn, tuy nhiên trong trường hợp nói ở đây, công tác là chuyển phân lấy từ các W. C. và được đựng trong các thùng thiếc. Có những tình cảnh khó nhọc, và những sự hy sinh vượt lên trên giới hạn chịu đựng của con người. Và cả một cảnh huyên náo xảy ra khi thiết lập danh sách một trăm người đầu tiên phải sẵn sàng cho công tác sáng mai. Khi họ trở về vào buổi chiều tối, họ cho chúng tôi biết địa ngục mà họ đã trải qua. Trong suốt 12 giờ, chỉ có một khoảng nghỉ ngơi nửa giờ vào buổi trưa, họ phải chuyển dịch các thùng đầy phân trên một khoảng cách bốn trăm thước với lính SS và chó giữ hộ tống. Ai mà mệt mỏi quá té xuống thì sẽ bị chó chồm lên cắn ngay, không kể các đòn gậy bắt đứng lên lại. Vì có một vài người tự cho phép thọc tay vào túi để sưởi ấm một chút trong chuyển mang thùng không trở lại, viên chỉ huy đã ra lệnh cho mọi người nhúng tay vào thùng phân đầy, sâu vào đến cùi chỏ, để ngăn họ tái phạm. Hôm đó thời tiết lại lạnh hai mươi độ dưới không độ. Nhiều người bị chó cắn và được đồng bạn dìu về. Mọi người đều mệt lả và không còn hơi sức nào để lê mình đến phòng rửa mặt. Cơn mệt nhoài đã làm họ quên mất mùi hôi thối. Từ sáng, họ không có gì vào bụng và phần súp của họ vẫn được giữ lại từ buổi trưa, đã lạnh tanh. Vẫn biết là có hai lò sưởi trong khối, nhưng để hâm nóng một trăm gào mên thì phải mất rất nhiều thì giờ và cơn đói không cho phép chờ đợi được. Công việc đó tiếp diễn bốn ngày, trong thời gian nầy nhiều sự thay thế được thực hiện để duy trì công bình tối thiểu. Đó cũng là một, mánh khóe của bọn SS khi chỉ lấy mỗi khối một số người thôi, mục đích là để gây chia rẽ, và trong số 250 người thật sự còn lành mạnh, không thể nào có được sự đồng ý với nhau hoàn toàn. Khi công tác chấm dứt các tù nhân cũ thú thật với chúng tôi rằng đó là công việc tạp dịch để chuẩn bị tiếp đón đón một số tù nhân mới.

Mũi thuốc đầu tiên được chích sau cơn thử thách đó, và ngay sáng hôm sau, sau buổi cà-phê, người ta bắt chúng tôi xếp hàng bên trong. Khoảng mười y tá với chai lọ, ống chích và tất cả các vật dụng cần thiết, đi vào. Một chiếc bàn được đặt mau lẹ và dưới sự chỉ huy của một người, họ bắt đầu chích, người ta có thể nói hơn bao giờ hết, họ chích hàng loạt. Họ chỉ có một chục để chích cho 500 người, và tất cả công tác phải hoàn tất trong không đầy một giờ. Đó là một loại thuốc nước của quân đội nhưng một tờ giấy dán ngoài thùng đựng chai lọ cho biết thuốc đã hết hiệu lực từ một năm nay. Tôi bày tỏ nỗi ngạc nhiên với người có vẻ là vị chỉ huy, ông ta bình tĩnh trả lời rằng trong trại tập trung chuyện nầy là thường, và cũng giống như ở trong quân ngũ, tốt hơn hết là đừng nên tìm hiểu làm gì.

Ngạc nhiên vì thấy tôi nói tiếng mẹ đẻ của ông ta, và rất thích thú vì cuộc nói chuyện, ông ta mời tôi đến bệnh xá chơi một đêm nào đó. Nơi đây, ông nói, sẽ có thì giờ rảnh để nói chuyện. Max và Michael cũng được mời vì lúc ấy họ đứng gần tôi. Không nên để mất một cơ hội tốt đẹp như vậy và ngay đêm đó, sau cuộc điểm danh, do lời yêu cầu của chúng tôi, viên thư ký khối đưa chúng tôi đến thăm người mới quen biết. Viên thư ký nói với chúng tôi ông nầy là một nhân vật có thế lực và có nhiều trách nhiệm.

Chúng tôi đi vào một căn phòng được sắp xếp theo cách cho người ta cảm tưởng đang ở trong một gian phòng khách sạn hạng nhì.

Trên bàn, có báo chí, thuốc lá và nhiều chai bia. Chúng tôi tự hỏi phải chăng đây là cơn mơ. Sát bên canh hàng trăm bệnh nhân đủ mọi loại đang rên xiết, chờ đợi một sự chữa trị không bao giờ có, và đây, một góc của thiên, đường. Ông ta có vẻ hài lòng vì vẻ ngạc nhiên dễ chịu của chúng tôi, và sau khi cho chúng tôi hút, uống, ông ta mời ngồi và bắt đầu nói với giọng ung dung:

– Các anh đừng ngạc nhiên gì cả về chuyện đêm nay. Cứ mọi lần có chuyến công voa mới, tôi cố gắng kết giao với những người ngoại quốc đáng chú ý đối với tôi. Tôi chắc chắn là mình không lầm lẫn. Tôi là Giáo sư triết học ở Heidelberg và các anh phải hiểu lý do tại sao tôi lại ở đây. Vì tôi biết một vài ý niệm về y học, ban quản đốc đặt tôi vào chỗ bệnh xá, nơi đây tôi chỉ huy tất cả nhân viên cấp dưới. Viên thư ký của khối các anh có thể soi sáng cho các anh đôi chút về cách tổ chức trại tập trung, và nếu tôi mời các anh, ấy là tại vì anh ta có nói với tôi về các anh, Nên biết rằng ngay từ đầu cuộc chiến, những tù nhân thường tội làm chủ ở đây, nhưng vì họ quá ba gai đến nỗi một hôm viên chỉ huy SS cho triệu tập tất cả tù chính trị và nói với họ như sau: “Tôi biết các anh chống lại chế độ nhưng đừng quên rằng đối với tôi, trước hết các anh là người Đức. Tôi cho các anh cơ hội từ nay nắm quyền quản trị trại tập trung. Tôi để các anh tự do nhưng công chuyện phải chạy đều. Đừng có tìm cách phá hoại, bởi vì tôi là kẻ mạnh nhất”. Chúng tôi chờ đợi giây phút nầy từ lâu. Hàng ngàn bạn bè chúng tôi đã chết tiếp theo cách đối xử của bọn ăn cướp đó, nhưng giờ phục hận đã điểm. Không cần nói với các anh rằng chúng tôi không ngần ngại chi cả. Cuộc chiến đâu đó đã chấm dứt lâu rồi. Nhiều tên trong bọn đã bị đưa đi chỗ xấu và những tên mà các anh thấy đang đập đá là những kẻ còn sống sót trong đám thường tội đã từng sống và tác oai tác quái ở trại tập trung nầy.

Ổng ta ngừng một chốc, để đốt một điếu thuốc, quan sát chúng tôi, rồi nói tiếp:

– Không có ai trên trái đất có thể ngờ rằng, vào tháng hai năm 1944 nầy, trong trại tập trung Buchenwald, chính những người đối lập với bọn Quốc Xã nắm giữ quyền chỉ huy. Trước khi vào đây các anh là ông nầy ông nọ, ngay cả lúc bị bắt, bị đánh, bị tra tấn, bọn Gestapo vẫn gọi các anh bằng tên mỗi người, các anh là một cá nhân. Tại đây, các anh không còn là gì cả, không được gọi là gì cả. Các anh có thể chết đêm nay hay ngày mai, không ai hỏi lý do cả. Chỉ có trên bản báo cáo hàng ngày trình cho bọn SS con số người chết lại tăng thêm một đơn vị.

“Bất kể các anh là ai: một ông tướng, một nhà đại tư tưởng, hay chỉ là một tên đại bợm, tôi phải nói rằng, chúng ta đều là những kẻ hoàn toàn không còn dính líu gì với thế giới bên ngoài. Ồ! lẽ tất nhiên là các mà có thể viết thư và nhận bao nhiêu bưu kiện, tặng phẩm cũng được, nhưng bọn SS sẽ cười: “Đớp đi, lợi dụng đi, bọn bây sẽ chẳng bao giờ ra khỏi đây cả”. Đó là tư tưởng của chúng. Và chính vì chống với ý tưởng đó, mà chúng tôi, tù chính trị Đức, chúng tôi tranh đấu không ngừng. Và tôi xin giải thích:

“Hitler đã thua trận, đối với chúng tôi, không còn gì nghi ngờ nữa từ ngày y dám tấn công Đồng Minh chống phát xít”. Vấn đề là phải tồn tại bằng mọi giá cho đến phút chót, có thể là còn lâu, vì tôi có thể đảm bảo với các anh rằng chẳng bap giờ bọn Quốc Xã đầu hàng. Nhưng các anh cũng đã biết quá rõ là không làm sao cứu tất cả mọi người được Cả một kế hoạch xây dựng dưới lòng đất đã được mang ra áp dụng và kỹ nghệ thu hút nhân lực từ các trại tập trung. Những người ra đi, phần đông không còn thấy lại tự do nữa. Ví dụ đoàn công-voa của các anh có 2500 tù nhân, khi thời gian kiểm dịch chấm dứt, bọn SS đòi hỏi chúng tôi phải chuẩn bị sữn sàng cho chính 2500 người đó để được đưa đến một nơi nào khác. Tuy nhiên vì không có một sự kiểm soát theo tên tuổi nào được thực hiện, điều nầy chúng tôi giữ lại đây một chiến sĩ, một nhà bác học hay bất cứ một nhân vật nào xứng đáng được cứu thoát và chúng tôi thay thế họ bằng những tù nhân trích trong các biệt đội lao tác được giữ thường trực tại đây. Tất nhiên, kẻ vô danh nầy có thể là một người can đảm hay chỉ là một người vô tội. Nhưng biết làm sao được? chiếc máy lượng giá trị con người chưa được sáng chế và ở đây, thể lưỡng nan là “Hiện hữu hay là biến đi!”. Tương tự như vậy, những kẻ ra đi không sống sót trở lại, sẽ được thêm vào danh sách hàng triệu người vô tội trong số có tất cả các binh nhì trên trái đất. Tôi không rõ bọn SS có biết rõ mưu toan của chúng tôi không, nhưng tôi nghĩ là chúng cũng chẳng cần chú ý đến; chúng không quan tâm đến cá nhân tính. Điều nầy giúp chúng tôi tìm ra tung tích bọn gian hiểm mà trong mỗi chuyến công-voa đều có: điểm chỉ viên, mật báo viên; như thế trong khi một người khác, người mà bọn Gestapo gởi đến đây, tin rằng sẽ bị đầy ải đến chết đi, trái lại nhận được một việc làm cho phép chịu đựng lâu dài cho đến khi chiến tranh chấm dứt. Phải nhận rằng để bắt liên lạc với người ngoại quốc, chúng tôi thường nhắm vào các phần tử chống đối chế độ Quốc Xã. Tính liên đới không phải là một tiếng vô nghĩa đối với chúng tôi, và bây giờ đến lượt người Pháp đến, chúng tôi hy vọng sẽ cứu được những người dũng cảm nhứt. Khốn thay, vì nhiều người quá, chúng tôi khó cứu thoát được tất cả ứng viên. Đối với các công nhân, vấn đề rất đơn giản, chúng tôi đưa họ đến các nhà máy trực thuộc trại nầy. Nhưng còn tất cả những người trí thức ấy! và chỗ thì rất hiếm. Như vậy, sự chọn lựa ngày càng thắt chặt.

Ông ta lại rót mời chúng tôi uống, và cho đến lúc đó, ông ta nói không ngần ngại, đột nhiên lộ vẻ khó khăn, có điều gì ám ảnh ông ta. Rồi ông ta nói:

– Bây giờ là lúc nói chuyện mật. Có lẽ tôi hơi quá đáng từ đầu, khi nói với các anh là chúng tôi nắm trọn quyền chỉ huy, thật ra không hẳn đúng như thế, có những trường hợp đặc biệt, xẩy ra trong trại, một vài chuyện mà đến nay chưa ai được biết, và dẫu sao chăng nữa, chúng tôi cũng là đồng lõa.

“Khối số 4G đối với tù nhân là cả một bí mật, thật ra trong đó là một phòng thí nghiệm bệnh thương hàn do các bác sĩ SS điều khiển. Họ có thú vật bình thường để thí nghiệm như thỏ, chuột, nhưng thỉnh thoảng phải cung cấp một người để họ chích thí nghiệm một thứ sê-rum mới. Cho đến nay không thấy ai trở lại. Đừng sợ, chúng tôi luôn luôn đưa đến đó bọn tù phạm tội sát nhân, bọn điểm chỉ xứng đáng với biện pháp nầy hay biện pháp khác để đừng trở lại với xã hội nữa. Nhưng chuyện nầy chưa nghĩa lý gì, còn nữa:

“Bà vợ tên Trưởng trại ưa thích hình xâm trên người. Bà ta yêu cầu viên y sĩ trưởng cung cấp da người có xâm hình theo kiểu đẹp nhất. Bà ta cho thuộc da đó để chế tạo những vật dụng trang hoàng nhà cửa, đặt biệt là các chụp đèn…

Ludwig, đó là tên ông ta, luôn luôn quan sát chúng tôi. Hay khoa trương như hầu hết các người Đức, vẻ ngạo nghễ ban đầu đã biến mất, như là bị hành hạ bởi chính lời nói của mình.

– Phải, tất cả chúng ta đều ở trong một trú khu kỳ dị. Các anh nghĩ xem, ngoài tất cả các chuyện đó, còn có những mưu mô thủ lợi riêng. Khi người ta được một chỗ, phải đấu tranh để giữ nó. Mỗi người thấy mình như đứng bên bờ một vực thẳm khổng lồ. Bản năng sinh tồn ngự trị trên tất cả, chẳng ít thì nhiều, chúng ta trở thành thú vật…

Ông ta có vẻ mệt mỏi và nói đứt đoạn:

– Tôi nghĩ rằng các anh cũng đã biết nhiều rồi, hãy giữ kín, từ nay chúng ta liên hệ với nhau bằng một bí mật. Tôi sẽ nói với ông trưởng trại về các anh và sau thời gian kiểm dịch các anh sẽ nhận được chỗ ưa thích, nhất là vì các anh nói được tiếng Đức. Và bây giờ để tôi đưa các anh về.

Chỉ có nhân viên trong trại mới có thể di chuyển ban đêm giữa các dãy trại. Ông ta đứng dậy và trước khi đi ra, còn nói thêm: “đừng có ngạc nhiên là tại sao tôi không đòi hỏi các anh cái gì cả. Tôi biết gần hết những gì cần biết về những người mà chúng tôi muốn giữ lại bên cạnh chúng tôi”.

Khi đã trở về lại khối, nơi đây chỉ còn một ngọn đèn đêm được thắp sáng, khoảng thời gian mà chúng tôi vừa. trải qua với Ludwig, đối với chúng tôi dường như vừa tuyệt diệu vừa đáng sợ. Chúng tôi vừa đặt chân vào giai cấp thống trị trại tập trung.

——————————–

1Cực Bắc Mỹ châu.
2Quốc ca pháp.
3Thuốc lá của vùng Ukraine.

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 11 Nov 2025

Phần 12 – Làm anh

Mặt trời như muốn đốt chảy mặt con đường nhựa, Hải hoa mắt vì nắng và mồ hôi, hai bánh của chiếc xe gắn máy dù vẫn căng cũng như rị lại, nặng thêm vì ma sát trên lớp nhựa đường ươn ướt.

Hải tự trách mình nóng vội, lẽ ra anh nên nghỉ trưa một lát sau khi đạp hộc hơi mà xe không nổ máy, anh lại dắt đi sửa vào giữa trưa, nhưng anh lại nghĩ, nếu không đi ngay, chưa chắc đã ngồi yên chứ chưa nói đến chuyện nằm với cái giọng khó nghe cố hữu của chị Thứ vợ anh, đại loại như : “Anh làm sao thì làm, tối nay con Khánh dắt tụi nhỏ về mà không có xe đón thì tôi đi bộ ra cõng mẹ con nó…”

Khánh là con riêng của Thứ, khi lấy anh Khánh đã ba tuổi. Hậu quả cuộc tình giữa chị và một anh Địa chất từ ngoải Bắc vào công tác trong vùng, khảo sát xong, đoàn về Bắc, để lại đứa con trong bụng chị Thứ, anh ta hứa là sẽ quay vào đón Thứ ra Bắc nhưng rồi biền biệt, thư chị gởi đi hai lần quay trở lại vì địa chỉ không có người nhận! Nay thì Khánh đã hai đứa con, chồng làm công nhân cho một Công ty may mặc ở Sài gòn, không khấm khá gì vì vẫn đang ở nhà thuê, thi thoảng về thăm ngoại, khi đi, xin ít tiền chi tiêu cho cuốc sống thiếu thốn trên thành phố!

Khánh tính tình giống mẹ, ích kỷ và khó tính. Anh cố gắng không coi Khánh là con riêng của Thứ bởi anh đã sống với nó từ ba tuổi, nhưng càng lớn, những gì anh ghét nơi con người Thứ thì nơi Khánh càng lộ rõ như bản sao. Hai đứa con của Khánh thì ngược lại, dễ thương từ khuôn mặt đến tính tình, chúng rất tình cảm, anh thương chúng.

Tiệm sửa xe khép cửa nghỉ trưa, anh phải gọi, chị vợ ra xem ai rồi mới vào đánh thức chồng:

-Anh Tùng, dây sửa xe cho thầy Hải, nắng chang chang thấy thầy mà tội!

Nếu ai đó thì chắc Tùng biểu chờ, nhưng Hải thì Tùng dậy ngay bởi họ có quen nhau. Con trai Tùng đang học cấp hai, hồi còn đứng lớp, Hải dạy nó môn Tiếng Việt, họ cũng đã đôi lần lai rai cùng nhau:

-Xe sao vậy thầy?

-Đề không nổ, đạp mãi chẳng thấy nhúc nhích!

-Thầy cho xe vô đây chờ em chút.  

Tùng vào nhà mồi diếu thuốc rồi cầm cả thuốc và hộp quẹt ra mời nhưng Hải đã móc túi lấy thuốc, anh ghiền thuốc nặng nên đi đâu cũng không quên bọc theo. Tùng bảo vợ pha trà mời Hải vào nhà, anh khát thật sự nên không ngần ngại xin vợ Tùng một cốc nước đá tủ lạnh. Tùng vừa đề vừa đạp, lâu lâu lốp bốp rồi tắt…

-Thầy ơi, thầy có gấp đi đâu thì lấy xe em mà đi, cái điệu này lâu đó!

Hải không gấp đi đâu, nhưng cần phải ghé Thưởng mượn it tiền chứ khi dắt xe đi, anh quên mất chuyện tiền.

-Ừ, vậy thì cho chú mượn xe, chạy qua chú Thưởng nó chút.

Ngoài học trò và lứa tuổi còn đi học, Hải ít khi xưng thầy với phụ huynh, chỉ áng chừng tuổi tác mà xưng chú hoặc anh. Tùng mau mắn dắt chiếc xe của mình ra cho Hải, nó cũng cùng loại xe số “Yamaha Taurus” như của Hải, trông cũ nhưng máy móc trơn tru hơn nhiều. Hải lâu rồi không ghé thăm chú em, đứa em duy nhất của anh.

Anh nhớ lại hồi 1972 kinh hoàng ấy, bốn mẹ con chạy qua đoạn cầu Dài, chiếc cầu không dài như tên gọi mà ngược lại rất ngắn, nằm trên Quốc lộ 1 đoạn từ Quảng Trị vào Huế. Sau này, ai đó đã đặt cho nó một cái tên rất đúng với những gì đã xảy ra nơi đây, còn hằn sâu trong ký ức của những ai đã trải qua: “ Đại lộ kinh hoảng”.

Hải nắm tay Thưởng chạy trước, mẹ cõng Liên chạy sau, cách chỉ một đoạn ngắn bởi Hải luôn nhìn lại mẹ, sợ bị lạc trong dòng người hốt hoảng, em Liên nằm trên lưng mẹ, cứ mỗi lần Hải quay lại nhìn, em vẫy tay… đạn pháo nổ quanh làm Hải và Thưởng quỵ té nhiều lần, Hải muốn cõng em giúp mẹ nhưng mẹ không chịu.

Trên quốc lộ, các loại xe quân đội và xe đò chết máy chật cứng con đường, lính và dân thường chạy hai bên bãi cát lúp xúp cỏ. Người chết, bị thương nằm la liệt rên la…Tất cả đều chạy, hướng vào Huế tìm cái sống!

Một trái đạn pháo nổ từ phía sau, xô Hải và Thưởng lật sấp xuống cát, vội vàng đứng dây định chạy tiếp nhưng anh nhìn lại, không thấy mẹ và em Liên, người ta xúm nhau kêu la khóc lóc chỗ trái pháo vừa nổ, Hải kéo em quay lại, mẹ và em Liên nằm hai nơi, cách nhau chừng ba mét, quanh xác mẹ và em, những cái xác khác la liệt bao quanh…Hải nhận ra em nhờ cái áo chấm hoa màu tím, cố chen vào đám đông ẵm em Liên bị mất một chân, đến đặt nằm bên mẹ. Thưởng khản giọng gào lên, chìm trong tiếng ồn ào thảm thiết của bao nhiêu người. Hải úp ngang người trên mẹ và em, tay vẫn nắm áo Thưởng, anh nhớ là mình đã không khóc, không la, anh nhắm mắt nghĩ đến cha giờ đang ở đâu đó, có biết vợ và con gái mình đã chết, hai đứa con trai đang bất lực trong hiểm nguy…Chuyến về phép ngắn ngủi vừa rồi, cha đã nhiều lần ôm ghì Liên, hôn lên đôi má bầu bĩnh của đứa con gái bé bỏng mà ông mong chờ năm năm mới có được!

Cha anh kể lại sau này, ông đang ngồi bóp bao gạo sấy bên chiếc hầm, trong làng Thi Ông, cách chỗ ấy không xa, bỗng như có một tia điện xẹt vào đầu ông, buông bao gạo đã nhuyển, ông chụp cây súng, nhưng rồi ngồi thừ người chẵng biết vì sao…Đến tối, Chuẩn úy Phú báo tin dữ, cho phép ông  đi tìm gia đình!

Mùa hè đó. Anh 13 tuổi, Thưởng 10 tuổi và em Liên 5 tuổi!

-Chú ấy vậy mà cũng 52 tuổi rồi nhỉ!

Bất giác, Hải nói thành lời khi rẽ vào con đường trong lô cao su dẫn vào khu nhà ở của công nhân nông trường…

Vào nhà, vợ chồng Thưởng vừa ăn cơm xong, Lệ vợ Thưởng chào anh rồi hỏi:

-Anh ăn cơm chưa, đi đâu mà nắng thế?

-Anh ăn rồi, cái xe hư phải đi sửa để chiều ra đón mấy đứa nhỏ. Tụi nó vẫn học tốt chứ?

-Dạ.

-Chú mới đi cạo về?

-Hôm nay công ty giao hàng mủ, xúm nhau bốc vác nên về trể. Xe sao vậy?

-Chả biết, lâu lâu trở chúng một lần…

-Anh bảo nó làm máy, thay cái đề, bính xăng con…cho ngon lành chứ cứ vậy mệt lắm!

-Ừ, rảnh anh cho nó làm như chú nói. Giờ có sẵn tiền không anh mượn mấy trăm? Vội đi không kịp lấy tiền.

Lệ mau miệng hỏi:

-Bao nhiêu anh?

-Anh mượn ba trăm.

Lệ đứng dậy định vào trong lấy tiền nhưng Thưởng móc túi ra mấy tờ năm trăm.

-Bốc xong thủ quỹ phát ngay, cả tổ được hai triệu ba, mấy cái khoản khoán này được cái khá là có tiền liền.

-Anh cầm năm trăm, lỡ thiếu…

Hải nhìn quanh rồi ngước lên trần nhà chậm rải hỏi:

-Chú thím định khi nào làm nhà?

-Hơi lâu anh ạ, sang năm thằng Thắng ra trường, con Thủy mới năm đầu, không ở chung anh em với nhau được mà phải ở cùng bạn gái nó, tốn lắm!

Vợ chồng Thưởng cùng cạo mủ cao su, nay người ta khoán lô nên ai siêng năng thì cũng có, thêm nữa là vợ chồng có thể làm thay nhau nên dạo này công nhân khá hẳn lên. Khá là nói thế chứ nuôi hai đứa con vào đại học như Thưởng thì cũng chật vật.

Hải thương em lắm, gia cảnh anh khá hơn nhiều nhờ hai vợ chồng đều ăn lương, anh đi dạy chị làm Bưu điện. bao năm nay…

Hải đứng dậy đưa tay nhìn đồng hồ:

-Uống ly cà phê rồi đi cạo kịp không?

-Kịp chán, còn sớm với lại làm khoán thì làm lúc nào chả được!

Thưởng lên xe ngồi sau lưng Hải. Quán trưa vắng khách, Thưởng chợt nhớ là lâu lắm rồi, anh em chưa uống với nhau ly cà phê hay có dịp ngồi chuyện trò như hồi cha còn sống.

Sau trận cầu Dài năm ấy, tìm được hai đứa con, ông Mừng đem chúng vào Đà Nẵng, sống trong trại tạm cư, quyết định đào ngũ.

Ông không hồi cư, Quảng Trị vẫn đang đánh nhau, dằng co qua lại trong Thành Cỗ. Có chương trình vào Long Khánh khai hoang, ông làm đơn đi theo. Sống trong rẫy nên chuyện đào ngũ của ông không ai biết.

Năm 1975, ông không còn lo chuyện đào ngũ nhưng cả nước đều cực, ông vất vả nuôi con…Hải vào được cao đẳng sư phạm Biên Hòa, Thưởng phải bỏ học phụ cha rẫy nương. Thưởng lập gia đình năm hai mươi bảy tuổi. Năm sau thì cha mất, Hải muộn màng hơn, sau Thưởng bốn năm…

Một người mù vào quán với xấp vé số, đứa con gái hững hờ ngáp trong lúc người mù cất giọng yếu ớt mời, Hải móc túi còn đúng ba chục tiền lẻ, anh mua ba tấm, đưa cho Thưởng một tấm.

Hải ngồi cúi đầu, ghét mình vì cái tội mau mồm, mau miệng!

Hôm đi sửa xe về, anh cởi áo vắt lên thành salon rồi nằm dài ra định chợp mắt một lát. Chị Thứ thấy trong túi có tiền hỏi:

-Anh quên lấy tiền sửa xe, mượn ai à?

-Phải chạy qua chú Thưởng mượn mấy trăm. À, có mua ba tấm vé số, cho chú nó một tấm rồi.

Rồi anh quên đi mấy tấm vé, sáng nay đi dạy, nghe giáo viên kháo nhau ầm lên là trong vùng có mấy người trúng độc đắc. Ai cũng chép miệng…

Dạy xong, anh phóng xe đến đại lý trên thị trấn, nhìn lên bảng dò của ngày hôm trước, lô trúng đặc biệt được khoanh lại bằng phấn đỏ, nhẩm thuộc hàng số rồi mua hai tấm, chạy vội về, bảo chị Thứ lấy hai tấm vé.

Hàng số sáu con y như trong đầu anh, anh hét lên: Trúng!!!

Chị Thứ trợn mắt, thừ người nhìn anh, một lát sau chị lăn ra giữa nhà, nghỉ ngay dến tấm vé anh cho Thưởng, làm mình làm mẩy…

-Anh không lấy lại tấm vé, tui thắt cổ chết cho anh coi!

-Cho nó rồi giờ lấy lại sao được!

-Anh để đó cho tui.

Chị chụp hai tấm vé đi nhanh vào phòng ngủ, lát sau đi ra.

-Bà làm gì? Nó đang khổ, cài nhà không ra nhà, cạo mủ được bao nhiêu thì lo cho mấy đứa con! Minh có hai tấm ba tỷ, nhà cửa đã ổn, lương lá thu nhập mình cũng khá hơn…

Thứ không nói gì thêm, dắt xe ra ngõ. chị chạy đến nhà Thưởng, vào nhà thấy hai cha con Thưởng và Thủy đang ngồi. Chị Thứ đon đả:

-Thủy về hồi nào sao không qua bác chơi. hôm nay chú không đi cạo à? Ghé trả chú năm trăm hôm anh Hải mượn.

Thưởng đứng dậy kéo ghế mời chị dâu:

-Gấp gang chi vậy chị?!

Thứ móc túi bỏ lên bàn tờ năm trăm đồng, làm bộ như chợt nhớ:

-À, cái vé hôm anh Hải mua trúng một triệu, chú bỏ đâu rồi, đưa tôi đi lãnh luôn cho. Đi thị trấn mua cho ông ấy hộp yến bồi dưỡng chứ dạo này cứ than ăn không ngon miệng!

Thưởng vổ túi quần, cái quần mặc hôm Hải đến nhà tới nay vẫn chưa thay, móc túi lôi ra tấm vé nhàu nhàu lẫn trong mớ tiền lẻ:

-Hên vậy à, có tiền cho Thủy lên lại Thành Phố rồi!

Lấy được tấm vé chị Thứ chạy ngay về nhà, vào phòng đóng cửa, gọi điên cho Khánh bảo hai vợ chồng về gấp.

Hải vẫn còn đang bần thần chao đảo…Anh ngước mắt nhìn chị Thứ bằng đôi mắt vô hồn rồi chợt nhớ ra, anh lấy máy gọi cho Thưởng…

-Tấm vé mua hôm uống cà phê đâu rồi?

-Em vừa đưa cho chị…

-Trời ơi, sao chú lại đưa! Anh bật người ra ghế thở dài:

-Khốn nạn!

Chị Thứ về hưu năm ngoái, luôn than thở chuyện lương bổng không đủ sống bởi không còn những khoản tiền vô thưởng vô phạt như trước!

Từ khi lấy nhau, không biết bao nhiêu lần vợ chồng anh lục đục, có lần suýt chia tay bởi nhiều cái khác nhau trong tính cách. Chị Thứ lắm khi hổn xược, hàm hồ xúc phạm anh, nhưng cuồi cùng, bao giờ anh cũng cố dằn lòng cho qua, tránh cãi vả to tiếng bởi mình là giáo viên, sợ người ta to nhỏ, xầm xì. Anh thường tự an ủi là chị lúc nào cũng tươm tất nhà cửa, lo cho con cái, thằng con trai của anh đang học đại học Y trên thánh phố, hời hợt chuyện tiền nong giống như anh nhưng rất thương mẹ.

Gần dây, xem những bạn đồng nghiệp, những đôi vợ chồng ly hôn, phần nhiều chẳng hạnh phúc hơn là bao mà ngược lại, có lắm đôi rơi vào bất hạnh…Anh lôi ra cái câu duyên số vợ chồng là do trời định để tự thuyết phục, an ủi mình…

Chiếc taxi chở vợ chồng và hai đứa con Khánh từ sài gòn về, vào hẳn trong sân, đậu sát cửa nhà. Chị Thứ từ trong phòng vội vàng chạy ra. Hải đứng dậy nhưng rồi anh ngồi xuống, chán nản…

Chưa bao giờ anh trúng số, dù chỉ vài triệu, cũng chưa bao giờ anh có một số tiền lớn đến một lần. Những gì anh có được hôm nay đều do tích góp mà có. Trúng độc đắc bạc tỷ là chuyện trên trời rơi xuống, anh thậm chí không hình dung được là bao nhiêu, chỉ mơ hồ là nhiều lắm, làm được nhiều việc lắm…Nhưng với lòng tham và việc lấy lại tấm vé mà anh cho Thưởng, chị Thứ đã làm mất hết mọi hứng thú, thay vào đó là một mặc cảm tội lỗi lớn dần lên trong anh.

Việc gọi vợ chồng Khánh về, bao hẳn một chiếc taxi, như cố tình loại anh ra ngoài toan tính của chị càng làm anh tức giận, chán chường…

Đứa con rễ cúi chào rồi khéo léo đẫy hai đứa nhóc vào lòng anh, con bé lớn có vẻ như biết anh đang giận, bà cổ dụi đầu vào ngực nói:

-Ngoại lên Sài gòn ở với con nghe!

Chị Thứ và Khánh vào phòng mang ra mấy cái túi xách, anh tài xế mở cửa cho vào sau xe…

Chờ cho tất cả lên xe rồi chị mới bỏ cái bì thư lên bàn:

-Tiền trong đây, tôi lên với tụi nó vài hôm.

Anh muốn to tiếng nhưng sợ tài xế nghe thấy, nhìn chị gằn giọng:

-Làm gì thì làm, nhưng phải chuyển vào tài khoản lương cho tôi năm trăm năm chục triệu.

Vẫn chưa ai biết Hải trúng số đặc biệt, anh cũng chưa gọi lại cho Thưởng nên không biết chú ấy có biết không. Chiều nay, họp chuyên môn xong thì có tin nhắn từ máy của Khánh: “Mẹ đã chuyển tiền cho ba, ba cho mẹ xin lỗi.”

Hải gọi ngay cho Thưởng:

-Chú có nhà không?

-Em đang cạo, có gì không anh?

-Về nhà đợi anh, anh tới bây giờ.

Hải vẫn chưa biết phải nói sao với vợ chồng đứa em, nó vốn hiền và chịu khó giống cha anh. Những ngày khổ cực phải bỏ học làm lụng cùng cha cho anh học cao dẳng…Những năm chưa lập gia đình, thỉnh thoảng anh cũng có cho em vài trăm may cho cháu bộ đồ tết và cũng chỉ có thế bởi lương ngày ấy còn quá thấp. Từ ngày lấy chị Thứ, anh không giúp gì được cho em bởi chưa dư dật gì…

Vào đến nhà Thưởng, thấy hai vợ chồng ngồi nhìn ra mặt lo âu:

-Có chuyện gì vậy anh?

Đã dự tính sẽ nói thật mọi việc cho em nên Hải ngồi xuống, vợ Thưởng đứng dậy định đi pha trà nhưng anh kéo tay:

-Thím ngồi xuống đây anh nói cái này. Chú thím biết là chị tính nết thế nào rồi, anh cố gắng gỡ cái lỗi…Tấm vé hôm uống cà phê anh đưa cho chú trúng đặc biệt, một tỷ rưởi!

-Sao chị nói trúng một triệu!

Hải hiểu ra cách Thứ lấy lại tấm vé.

-Một tỷ rưởi! Biết anh cho chú một tấm, chị ấy làm mình làm mẩy đòi qua lấy lại, anh không chịu, đang cải nhau rất căng rồi tự nhiên bỏ đi, anh đang giận nên đâu ngờ…Bây giờ anh vẫn chưa hết giận. Ngày qua cả nhà lên Sài gòn rồi. Anh buộc mấy mẹ con phải chuyển cho anh năm trăm năm chục triệu. Anh tính năm chục xây mộ cho ba mẹ và em, năm trăm cho chú thím làm cái nhà, còn bao nhiêu mấy mẹ con tự tính với nhau, anh không cần!

Hai vợ chồng Thưởng bất ngờ đến tròn mắt không nói gì, lát sau Thưởng mới cười nhìn anh:

-Hôm đó anh không mua, không cho thì sao. Giờ có năm trăm triệu làm cái nhà là coi như vợ chồng em trúng đặc biệt rồi!

Hải nhìn hai vợ chồng em:

-Chú thím không buồn? Thưởng cười ha hả nói to:

-Thì ban đầu ông trời định cho một tỷ rưởi, nhưng sau đổi ý cho năm trăm kẻo sợ có tiền sinh hư hỏng bê tha, bỏ bê vợ con. Tiền trên trời rơi xuống thế này rất nguy hiểm, phải không em?!

Vợ Thưởng cũng cười, chị chưa hề mơ ước đến một số tiền lớn như vậy.

Năm trăm triệu, vợ chồng chị dành dụm biết bao giờ mới có?!

-Làm nhà chi to dữ vây anh. Anh hai em vừa làm cái nhà hết ba trăm, thấy to và đẹp quá đi rồi!

Hải như vừa thoát bỏ một gánh nặng, anh vổ vài Thưởng:

-Còn sớm, chở anh ra nghĩa trang chút. Thưởng đứng lên theo anh ra cửa, nói:

-Phụ nữ họ lo lắng nhiều nên vậy, chị chấp nhận cho em năm trăm là tốt lắm rồi, anh đừng giận hờn nghĩ ngợi nữa. Coi sắp xếp má lên cùng chị ấy, thời buổi này lường gạt đủ trò, không khéo là mất đó!

Hải đứng sựng lại nhìn em, đứa em ít ỏi, lam lũ quanh năm, anh không ngờ lại có được những suy nghĩ như thế:

-Chú ít học mà chín chắn và rộng lượng hơn anh, anh cảm ơn chú!

Hải leo lên ngồi sau em, anh ngước mắt nhìn lên hàng cao su, nhớ lại  con lộ kinh hoàng năm ấy, tay anh ôm choàng qua bụng Thưởng, như ngày nào anh vẫn nắm tay áo em khi anh khom người qua xác mẹ và em Liên trên bãi cát!

Sài gòn, tháng VI. 2016. Trạch An-Trần Hữu Hội

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 11 Nov 2025

Phần 12 – Chiến công mùa Xuân

(Viết lại từ một chuyện thương tâm có thật tại Mường Mán, Bình Thuận vào mùa xuân 1973. Một số tên của nạn nhân, người trong cuộc là tình tiết phụ được hư cấu dưới dạng truyện ngắn. Câu chuyện dù đã hơn 35 năm qua, nhưng người viết vẫn không kềm được xúc động khi viết, là hình ảnh bé Thảo là trái mìn oan nghiệt cứ lờn vờn mãi trong đầu đến mấy hôm sau. Viết cũng đế tặng và nhớ bạn hiền, anh DĐV, SQAN Tiểu Đoàn 5ANTL, đơn vị đầu đời của tác giả sau khi ra trường, anh V. sau là ĐĐT/ TĐ 3ANTL đóng ở ga Mường Mán, và hiện nay định cư tại Houston, Texas, Hoa Kỳ.)

Tờ mờ sáng, Bảy Đảm dậy sớm như mọi lần. Hắn bảo vợ hắn là hắn đi làm củi và có thể về trễ vì phải ghé thăm một vài người bạn trong rẩy. Hắn rời nhà với cây rựa và cây đòn gánh như mọi hôm. Vợ hắn và bé Thảo còn ngủ nán thêm một giấc sáng trước khi gánh rau ra chợ lộ thiên Mường Mán để bán Tết.

Ga Mường Mán còn ngủ trong màn sương chưa thấy ánh mặt trời. Bảy Đảm đi trong sương mờ, cỏ còn đọng những giọt sương mai và hai ống quần hắn sũng ướt lành lạnh. Con đường mòn này hắn đã quen thuộc và đi mòn gót chân như mọi ngày, nhưng sao hôm nay hắn thấy lạ, cái cảm giác chưa hề có kể từ ngày hắn được móc nối để lấy tin tức chuyến lên rừng.

Thoạt đầu, nhiệm vụ của hắn chả có gì nguy hiểm, nhẹ nhàng là đàng khác. Hắn có một thằng em lính quân cụ ở tiểu khu Bình Thuận, hắn thường rủ em đi nhậu để moi tin tức ở dưới Tiểu Khu. Đứa em, dẫu có vô tình không biết anh mình làm việc cho Việt cộng, cũng chả cho hắn tin gì quan trọng. Những tin tức tương đối có giá trị đối với hắn và cán bộ Việt cộng trong rừng là những báo cáo của hắn về các hoạt động của các đại đội địa phương quân, và nhất là đại đội An Ninh Thiết Lộ đóng ở ga Mường Mán.

Đây là một đại đội tác chiến có hỏa lực mạnh hành quân dọc theo những đoạn thiết lộ trách nhiệm. Cũng như mọi lần, hắn mang tin cập nhật lên rừng, song lần này, hắn được lệnh phải gặp một “đồng chí” cấp cao. Hắn hồi hộp, suy nghĩ mông lung.

Mặt trời đã lên. Con đường mòn dẫn tới lùm bụi rậm có dấu sẵn hai bó củi mà hắn chặt thừa ra hôm trước, để hôm nay hắn có thời giờ gặp đồng chí lãnh đạo, và chiều về như mọi hôm, hắn có trên vai hai bó củi để không ai thấy bất cứ cái gì khác thường nơi hắn. Chiều nay hắn gánh củi về thì Bảy Đảm ngày hôm nay cũng như Bảy Đảm ngày hôm qua, hay như mọi ngày, cần cù lao động nuôi vợ con, xuề xòa với mọi người.

Công việc đầu tiên là hắn cột hai bó củi sẵn sàng, gác ngang cây đòn gánh lên hai bó củi và lấy thức ăn ra ăn trưa. Thức ăn của hắn là hai củ khoai lang luộc và mấy con cá khô. Hắn nghĩ đến công tác “cách mạng” mà hắn được giao, hắn nghĩ đến ngày chiến thắng “Mỹ cút Ngụy nhào” và lãnh đạo của hắn cho hắn một căn phố, một địa vị nào đó mà khi ra đường, hắn chễm chệ trên một chiếc Honda…

Hắn nhìn xuống hai chân và hai bàn tay lam lũ. Cuộc đời nghèo cực của hắn là do trời hay do Mỹ Ngụy tạo ra? Hắn không tìm được câu trả lời trong cái đầu quê mùa của hắn. Và đảng đã có câu trả lời cho hắn: Chính Mỹ Ngụy phải chịu trách nhiệm về cuộc đời cực khổ của hắn, và cũng vì thế mà các đồng chí Giải Phóng Miền Nam mới đứng lên, các đồng chí bộ đội miền Bắc mới hy sinh vào Nam giúp anh em theo lệnh bác Hồ . . .

Trời đã gần đứng bóng, con đường đất đã khô và những chùm hoa xuân nở đầy trong nắng. Bảy Đảm đứng lên nhét cây đòn gánh và hai bó củi vào bụi, sau đó đi về hướng mật khu Ba Bào, điểm hẹn mà hắn nhận lệnh để đến gặp lãnh đạo vào xế 29 Tết. Lòng hắn mang mang những âu lo, buồn vui lẫn lộn.

Trước mặt hắn là một cái chòi ngụy trang dưới một lùm cây rậm. Một tên giao liên ra đón hắn từ đàng xa. Tự nhiên hắn cảm thấy mình quan trọng và hơi mất bình tĩnh trước một buổi gặp mặt lãnh đạo mà hắn chưa biết mặt, cũng không biết lý do cụ thể của buổi họp trong rừng. Thường thì hắn trao tin và tài liệu cho tên giao liên địa phương rồi trở lại Mường Mán với hai bó củi gánh trên vai.

Hôm nay, ngoài hai bó củi, có thể là hắn sẽ mang thêm một cái gì đó, quan trọng hơn, nặng nề hơn và nguy hiểm hơn. Bước qua khỏi tàng cây rậm, vào chòi, trước mặt hắn là ba người mặc áo đen mà hắn chưa một lần gặp mặt. Mấy cây AK đựng vào vách lá. Người giao liên lên tiếng.

– Thưa quý đồng chí, đây là đồng chí Bảy Đảm.

Hướng vào người đàn ông ngồi giữa, hắn giới thiệu tiếp:

– Đây là đồng chí lãnh đạo Năm Căn!

Bảy Đảm cúi đầu chào Năm Căn và hai người bên cạnh. Trong đời hắn, có lẽ đây là lần đầu tiên hắn cảm thấy có những giây phút nghiêm trọng làm hắn phải lúng túng. À thì ra làm cách mạng thì phải qua những giây phút như thế này. Hắn nghĩ như thế. Năm Căn mời mọi người ngồi và bắt đầu ngay vào đề:

– Đảng, cách mạng và nhân dân đánh giá cao những thành quả và đóng góp của đồng chí Bảy Đảm trong gần hai năm qua, qua đó, chúng ta nắm vững được tình hình địch hoạt động tại Ga Mường Mán. Các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và nhất là đại đội chủ lực An Ninh Thiết Lộ của địch tại Mường Mán đã là chướng ngại làm cho chúng ta không mở được một cuộc tấn kích nào vào vùng này. Muốn đánh Mường Mán, chúng ta phải huy động tối thiểu là bốn tiểu đoàn, điều mà chúng ta không có khả năng tập trung quân trong lúc này. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không bó tay! Cách mạng là sáng tạo! Và đây là lúc đảng và nhân dân cần đến vai trò can đảm và sáng tạo của đồng chí!

Bảy Đảm không hiểu hết những điều mới lạ qua lời phát biểu của Năm Căn, cái đầu mộc mạc của hắn chỉ bắt loáng thoáng những ý niệm mơ hồ về việc bộ đội đánh Mường Mán chưa được, và Tết nay, Bảy Đảm được cần đến. Can đảm thì không biết hắn có hay không, nhưng cái gì gọi là sáng tạo thì hắn mù tịt.

Là một dân quê được cộng sản tuyên truyền và móc nối toàn bằng những hào quang trơn tru, ngọt dịu như đường phèn, hắn chưa một lần làm công chuyện gai góc như ném lựu đạn, bắn AK…, ngay cả cái chuyện xưng hô đồng chí với nhau, hắn cũng thấy khó nói. Hắn chỉ được móc nối chứ có vô đảng và sinh hoạt đảng bao giờ đâu! Bảy Đảm ngần ngừ và cất tiếng:

– Thưa anh Năm, lính Ngụy đóng ở Mường Mán toàn là lính tác chiến thứ dữ, em chưa cầm súng bao giờ, anh Năm nói cách mạng sáng tạo và em cần can đảm sáng tạo là cái gì? Anh Năm nói rõ để xem em có làm được hay không? Nếu em không làm được thì anh Năm giao cho người khác!

Năm Căn rót một ly nước, đẩy về phía Bảy Đảm, xong cúi xuống ống thuốc lào rít một hơi dài và nói, vừa trấn an vừa ra lệnh:

– Đồng chí uống một ngụm trà cho ấm! Đảng và nhân dân đã điều nghiên tình hình, theo dõi các công tác đồng chí làm từ lâu. Tại Mường Mán, có người của chúng ta hoạt động bên cạnh đồng chí, đồng chí không cô đơn, đừng ngại! Công tác đồng chí sắp thi hành rất là kín đáo, nhẹ nhàng và đơn giản.

Năm Căn cúi xuống bàn lấy một gói tròn gói lá chuối như một đòn bánh tét nhỏ, để lên bàn và giải thích và như vừa ra lệnh:

– Đồng chí đừng thắc mắc gì về cái đòn bánh tét này, công việc của đồng chí là mang nó về Mường Mán, sáng mai 30 Tết, bỏ vào trong cái lon “Gui Gô”, mang đến Quán Bi Da Mường Màn của em đồng chí, cứ giả vờ chơi bi da, uống cà phê. Đợi khi quán tập trung đông đảo lính Ngụy, đồng chí để cái lon “Gui Gô” trong một hốc quán không ai để ý, và điều quan trọng: trước khi rời quán, phải bấm cái nút này!

Bảy Đảm bắt đầu lo. Hắn đủ thông minh để biết đó là một quả mìn mà mình phải nhận đem về, nhưng thắc mắc là bấm cái nút để làm cái gì. Hắn cẩn thận hỏi lại Năm Căn:

– Bấm cái nút đó lỡ nó nổ thì sao?

– Nổ sao được! Giữa cái “đòn bánh tét” này là một bộ phận tự động do Trung Quốc chế tạo, vô cùng chính xác, vô cùng hiện đại. Các đồng chí đặc trách về kỹ thuật bom mìn của ta đã lắp sẵn cái đồng hồ đặc biệt. Khi đồng chí bấm cái nút này thì phải đúng nửa giờ sau nó mới nổ, dư thời gian cho đồng chí rời khỏi quán bi – da? Sau khi gây thiệt hại cho địch, đồng chí theo như lộ trình cũ về gặp tôi ở đây Đây là công đầu của đồng chí mừng xuân cho cách mạng và đảng ta. Chúng tôi và các đồng chí lãnh đạo khác chờ đồng chí trở lại trong một buổi lễ trao tặng “huân chương kháng chiến” cao quý cho đồng chí.

Bảy Đảm cảm thấy là mình đã vướng sâu vào một guồng máy mà cỗ máy cứ đẩy hắn đi tới, không có con đường lùi. Hắn nhìn mấy gương mặt có vẻ nghiêm trọng của những người xa lạ mà nay lại gắn dính sinh mệnh hắn với cái lệnh mà hắn không dám thoái thác, hắn nhìn mấy khẩu AK sau vách, tiếng những con chim gọi nhau trên cành, tiếng vượn hú xa xa, và tàng cây đã ngả bóng nắng dài trên lối mòn, con đường dẫn hắn đến một buổi gặp mặt định mệnh giữa rừng sâu. Trời đã xế chiều..

Bảy Đảm về lại Mường Mán với hai bó củi như mọi ngày. Trước nhất là hắn đi thẳng ra sau vườn chuối, ngó quanh quất không có ai, hắn dấu “đòn bánh tét” dưới gốc chuối và phủ kín lá. Đêm 29 Tết, hắn ăn uống ít hơn, miếng cơm tẻ nhạt giữa hai hàm răng, đầu hắn căng thẳng. Hắn vô bàn thờ ngụm nửa ly rượu đế và lăn lên giường ôm đầu ngủ. Hắn nghĩ hắn phải ngủ để sáng mai tỉnh táo hành động.

Sáng hôm sau, việc đầu tiên là hắn ra vườn chuối để đi tiểu, kỳ thực là coi xem “đòn bánh tét” có còn đó hay không. Hắn hoang mang, nghĩ trưa nay đem mìn ra quán lỡ bị lộ thì sao; lỡ nổ, lính chết và người ta truy ra hắn khi hắn không thoát kịp thì sao. Trong cái đầu u ám đặc sệt của hắn, hắn bị chỉ huy và thu hút bởi một áp lực vô hình của buổi gặp mặt với lãnh đạo Năm Căn hôm qua. Hắn quên luôn là lỡ mìn nổ mà người chết có cả đứa em của hắn từ Phan Thiết về thì sao. Đầu hắn không còn chỗ để một chút lý, một chút tình cục cựa, xê dịch. Cuối cùng, hắn bỗng nẩy ra một ý hay: sai bé Thảo đem mìn đến quán, và coi đó là một ý sáng tạo độc đáo. Hôm qua lãnh đạo Năm Căn đã không nói đến hai chữ sáng tạo là gì!

Bảy Đảm tính chi li trong đầu kế hoạch mà hắn cho là có tính sáng tạo thần sầu. Trước hết là chờ khi quán bi – da đông lính, hắn cho bé Thảo mấy cục kẹo, bảo cô bé 8 tuổi con hắn mang lon “Gui Gô” ra quán chú Tám để trong góc quán và về ngay để còn nhận tiền lì-xì và kẹo thêm. Bé Thảo mê kẹo ắt phải nghe những gì hắn bảo. Hắn tính nhà hắn đến quán chừng 5 phút, sau khi để lại lon “Gui Gô” trong quán, bé Thảo về lại nhà 5 phút, như thế là an toàn. Hai mươi phút sau, mìn nổ, hắn lén coi tình hình và lén vô rừng… Làm sao ai biết được! Trời mà biết? Hắn nghĩ đến cái “huân chương kháng chiến”, hắn nghĩ đến công trạng và những lời khen tặng, hắn nghĩ đến lãnh đạo Năm Căn, “cách mạng thành công”. Hắn lên tinh thần…

Trời gần trưa, không khí Tết trong những ngày cuối năm đã rộn ràng. Bảy Đảm đi một vòng chợ, ngang qua quán bi-da. Quán đã bắt đầu đông khách, đa phần là lính tráng. Hắn về lại nhà gọi con. Vợ hắn lui cui làm mấy món đạm bạc cúng chiều 30. Nghe hắn gọi con, chị bảo hắn bắt gà làm giùm để chiều cúng. Bảy Đảm ậm ừ cho qua chuyện và dắt bé Thảo ra trước nhà dặn:

– Ba cho con mấy cây kẹo, con đem cái lon này ra quán chú Tám bỏ trong hốc chỗ mấy ông lính thụt bi da rồi con về ngay nghe? Về ngay để Ba cho con tiền lì xì, còn bịch kẹo trên bàn thờ ba cho con luôn! Nhớ về liền nghe!

– Dạ!

Trao cái lon cho con, Bảy Đảm cẩn thận bấm cái nút dưới đòn bánh tét y như lời dặn của Năm Căn và giục con đi nhanh. Hắn nhìn con bé đi về hướng quán, khuất mất khi qua một ngã quẹo và hắn hồi hộp chờ con về. Vợ hắn hỏi:

– Anh sai con Thảo đi đâu vậy?

– Sai nó ra quán mua xị rượu chiều cúng!

Bảy Đảm ra góc nhà nhìn về hướng quán bi – da và sốt ruột chờ con. Hắn cảm thấy thời gian lết như rùa bò, và cơ thể hắn bắt đầu lạnh run theo cây kim đồng hồ cũ rục rịch dưới mặt kính trên cổ tay nhám nhăn của hắn. Hai đầu gối hắn bắt đầu đứng không còn vững, hơi thở hắn tăng nhịp. Hắn nhìn về hướng quán chờ đợi con, chờ đợi một tiếng nổ long trời sau khi Thảo về lại nhà.

Qua khỏi khúc quẹo cuối dãy nhà gần chợ, bé Thảo gặp hai đứa bạn đang thổi bong bóng màu, thế là nó xà vào, quên mất lời dặn của Bảy Đảm, đến gần hai mươi phút sau nó mới nhớ sực là mình phải đem cái lon đến quán chú Tám để trong hốc quán và về ngay, nó vội vàng chạy về hướng quán cà phê bi – da cách còn chừng 50 thước. Một tiếng nổ long trời giữa trưa 30 Tết làm kinh hoàng cả ga Mường Mán, và thân xác bé Thảo mới đó, phút chốc đã biến mất trên cõi đời sau tiếng nổ định mệnh oan ác của quả mìn. Cùng lúc với tiếng nổ, cột khói bốc cao không phải đúng ở vị trí quán bi-da, Bảy Đảm không thấy con về, hắn bỗng kinh hoàng la lớn:

– Trời ơi? Con tôi!

Vợ hắn nghe tiếng nổ, chạy ra vừa nghe hắn la “Trời ơi? Con tôi!”, chị như đã đoán ra một điều gì vô cùng thê thảm xẩy đến cho bé Thảo. Trong lúc chị dợm người chạy về phía có tiếng nổ thì cũng cùng lúc đó, Bảy Đảm tung người bỏ chạy như điên cuồng xuống sông Mường Mán, vượt dòng sông cạn và biến mất trong rừng.

Khi mẹ Thảo chạy đến nơi thì người ta đã bu đông nghẹt chỗ xẩy ra vụ nổ. Người ta gom lại được mấy miếng áo rách bê bết máu thịt của bé Thảo, mẹ Thảo nhào xuống ôm những mảnh áo rách còn dính máu thịt con khóc thảm thiết. Chị lăn ra, đập tay xuống đất, gào thét:

– Bảy Đảm ơi, ông theo Việt cộng làm gì mà sai con làm cái việc ác đức tày trời như thế này để giết con? Trời ơi! Con ơi! Thảo ơi!

Mùng một Tết 1973, cái chết đau thương của Bé Thảo như phủ một màu tang lên ga Mường Mán. Các cơ quan an ninh mở cuộc điều tra và truy lùng Bảy Đảm. Chị Bảy cúng tang cho con và về ngay Phan Thiết. Chị không còn can đảm ở tại nơi đây. Chị đã nghi ngờ Bảy Đảm có một cái gì đó mờ ám liên hệ với Việt cộng. Chị trách mình là quá thờ ơ hèn yếu; phải chi chị báo cho cơ quan an ninh những điều chị nghi ngờ về chồng thì bé Thảo đâu có chết bi thảm trong ngày 30 Tết. Song báo để chồng phải bị ngồi tù thì chị lại không nỡ….

Khi chị Bảy rời Mường Mán về Phan Thiết với cha mẹ thì Bảy Đảm đã vô rừng sau khi quả mìn kết liễu đời cô bé vô tội. Quán cà- phê bi-da sau đó cũng vắng teo trong ba ngày Tết. Tất cả mọi người đều biết mục tiêu của quả mìn là quán bi-da hàng ngày đầy nghẹt lính uống cà phê, thọt bi da giải trí, và lệnh của Năm Căn là tàn sát “quân Ngụy” ở đó.

Ngày đầu năm, DĐV, Đại Đội Trường An Ninh Thiết Lộ, tập họp đại đội và ra lệnh cấm trại:

– Cái chết của bé Thảo là một tai nạn thương tâm. Việt cộng đã giết bé Thảo. Thế nhưng, nếu bé Thảo không bị chết, có thể nhiều người trong đại đội và các đơn vị bạn sẽ mất mạng. Làm sao biết được là tại Mường Mán này không còn những tên Bảy Đảm khác? Kế hoạch đặt mìn không thành, song điều đó cho thấy Việt cộng đã chuẩn bị tàn sát chúng ta và tấn công Mường Mán. Tôi ra lệnh cấm trại cho đến khi có lệnh mới? Các Trung Đội Trưởng gặp tôi sau khi anh em tan hàng. Các anh nghe rõ không?

– Rõ!

Ngày nay, không biết Bảy Đảm còn sống hay đã chết. Nếu hắn chết trong cuộc chiến thì ít ra hắn cũng đền được phần nào cái tội vì “cách mạng” mà giết con. Nếu hắn còn sống, không biết Năm Căn trao cho hắn cái miếng “huân chương kháng chiến” loại nào, hay là hắn bị cộng sản thanh trừng, khiển phạt về cái tội chấp hành lệnh một cách linh tinh thiếu sáng tạo . . .

Thôi thì cái chết của bé Thảo cứ coi là chiến công mùa xuân mà Bảy Đảm dâng lên đảng cộng sản và bác Hồ đã chết tận ngoài Bắc! Một đứa con nít chết có là bao so với sự nghiệp đầy máu và nước mắt muôn dân của đảng ta…

Cảm nghĩ về bài thơ ca tụng Phạm Nhật Vượng của Thái Bá Tân

hung-viet.org

Thạch Đạt Lang

10 Tháng Mười 2017

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

Thi sĩ là người có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động với những biến chuyển của thế giới chung quanh trong đời sống. Những thay đổi dù nhỏ nhặt nhất, từ cảnh vật thiên nhiên đến đời sống xã hội, con người, thi sĩ cảm nhận được trước mọi người và sáng tác thành những bài thơ.

Tuy nhiên, một bài thơ hay phải được trước tác bằng sự rung cảm, xúc động chân thật. Rung cảm đó phải xuất phát tự nhiên từ sự quan sát, cũng như trong nhận thức sâu xa của tâm hồn.

Tôi không quen biết ông Thái Bá Tân, nhà thơ ngũ ngôn nổi tiếng trong nước với nhiều bài thơ được đánh giá cao về phản biện xã hội, phản kháng chế độ. Tuy nhiên, sau khi hai bài thơ Đôi Lời và Ghi Nhận với nội dung ca tụng đảng CSVN đã đem lại hạnh phúc cho đất nước, dân tộc được phổ biến rộng rãi trên các trang mạng khiến nhiều người sững sờ, ngơ ngác không tin đó là thơ Thái Bá Tân thì nhận định về ông, ngay cả với những người từng là học trò của ông đã có nhiều thay đổi.

Sau hai bài Đôi Lời và Ghi Nhận, Thái Bá Tân im lặng một thời gian, sau đó thỉnh thoảng có thêm một vài bài khác nhưng không có bài nào gây được ấn tượng như các bài thơ phản biện trước đó. Bất ngờ ngày hôm qua 08.10.217, trên mạng xã hội loan truyền môt bài thơ chỉ trích thái độ sống của dân nghèo, đồng thời ca tụng Phạm Nhật Vượng – một tài phiệt từ Nga trở về – một cách lố bịch khiến cộng đồng mạng xôn xao.

Bài thơ ca ngợi công đức của Phạm Nhật Vượng nhận được nhiều bình phẩm, phản hồi với những nhận định tiêu cực, đồng thời có vài bài thơ đáp trả, chỉ trích Thái Bá Tân dùng thể ngũ ngôn.

Xin dẫn chứng lại nhận định thù ghét, khinh bỉ người nghèo Việt Nam trong bài thơ ca ngợi Phạm Nhật Vượng, một trong các bài Thơ ngũ ngôn mới của Thái Bá Tân:

“PHẠM NHẬT VƯỢNG

Người nghèo luôn soi mói

Túi tiền của người giàu –

Chắc là tiền ăn cắp.

Của ai và từ đâu?

Người giàu đi vay mượn

Xây nhà và xây trường

Cho người nghèo sử dụng.

Cả bệnh viện và đường.

Người nghèo có chỗ ở,

Có trường xịn cho con.

Có nơi để chữa bệnh,

Vẫn hậm hực, vô ơn.

Người giàu, lại vay mượn,

Chấp nhận mọi rủi ro,

Vì tự hào dân tộc,

Quyết làm chiếc ô tô.

Tưởng người nghèo vui lắm.

Tưởng ủng hộ, nhưng không.

Người nghèo, theo thói cũ,

Chỉ tìm vết bới lông.

Người nghèo luôn chờ đợi

Cái sai của người giàu

Để lu loa, chửi bới,

Mà chửi bới rất đau.

Mà quên họ đang sống

Trong nhà người giàu xây.

Con cái họ đang học

Trường người giàu hàng ngày.

Thói vô ơn, đố kỵ

Của phần lớn người nghèo

Đang làm chính họ khổ

Và suốt đời vẫn nghèo.

Thưa ông Phạm Nhật Vượng,

Xin được gửi tới ông

Lòng kính trọng, ngưỡng mộ

Và lời chúc thành công.”

Tất nhiên, chuyện Thái Bá Tân ca tụng, nâng bi, nịnh hót hoặc dèm xiểm, phê bình, chỉ trích ai tôi không nói đến, bởi đó là quyền tự do của mỗi người, nhưng dùng thơ phú để sỉ nhục, phê phán dân nghèo là thành phần chiếm đến 80% dân số là một việc làm khó chấp nhận với một trí thức như ông Thái Bá Tân.

Ông Phạm Nhật Vượng

Qua bài thơ này, Thái Bá Tân cho rằng người dân nghèo VN chuyên xăm soi, dòm ngó đến của cải, tài sản của những người giàu có ở Việt Nam nhu Phạm Nhật Vượng, đồng thời phê phán thái độ vô ơn của họ với những công việc kinh doanh mang lại những lợi ích thiết thực cho xã hội, cho đất nước, dân tộc của Vượng như xây nhà xịn, trường học cao cấp, dự án chế tạo ô tô…

Không biết Phạm Nhật Vượng có trả tiền cho Thái Bá Tân để “sáng tác” bài thơ ngũ ngôn chuột gặm này không, nhưng rõ ràng bài thơ được sáng tác sau khi Vinschool – Vin Group, của Phạm Nhât Vượng bị chỉ trích trên facebook vì tăng học phí 50%, đồng thời những người phản đối chuyện tăng học phí bị công an mời làm việc khiến thiên hạ đặt dấu hỏi về tư cách Thái Bá Tân.

Khi sáng tác bài thơ thượng dẫn, chẳng biết ông Thái Bá Tân căn cứ vào dữ kiện, thông tin, báo chí hay TV, truyền thanh, loa đài… nào để có thể có những suy nghĩ, nhận định đầy hận thù, khinh ghét người nghèo như vậy?

Người nghèo VN, nếu tính bình quân đầu người, mỗi tháng kiếm chỉ được khoảng 200 USD (GDP Vietnam 2016), ăn, mặc còn chưa đủ thì tiền đâu để cho họ có thể vào trú ngụ những căn hộ cao cấp loại Ciputra hoặc khu chung cư Phú Mỹ Hưng ở Sài Gòn giá tối thiểu cả trăm ngàn đô la/căn, cho con cái học trường xịn Vinschool, vào bệnh viện sang, đầy đủ tiện nghị như Hạnh Phúc, Vinmec ở Hà Nội hay FV ở Sài Gòn…và nay mai sẽ có những chiếc ô tô hiệu Vinfast mà Phạm Nhật Vượng hứa hẹn sản xuất tại VN?

Người dân nghèo ở VN thường chỉ cam tâm chịu đựng, hoặc than thân, trách phận, trách trời, oán đất… chứ chẳng mấy ai có thì giờ rảnh rỗi để lu loa chửi bới hay dòm ngó, đố kỵ tài sản của Phạm Nhật Vượng. Đề nghị ông Thái Bá Tân làm một chuyến du hành đến các khu ổ chuột, nghèo khổ ở Sài Gòn hay Hà Nội hoặc về vùng thôn quê hỏi thăm người dân, xem bao nhiêu phần trăm dân nghèo biết đến Phạm Nhật Vượng là ai?

Tuy nhiên, bài thơ thượng dẫn của Thái Bá Tân có thể đúng với một số “người nghèo”, những người đủ tiền mua căn hộ cao cấp để ở, hay cho con cái vào học trường xịn, nằm bệnh viện sang khi phải “ nhập viện”…Nếu vậy thì những “người nghèo” có gốc gác này có dòm ngó tài sản, xăm soi của cải của Vượng thì cũng chẳng có chi là lạ, chỉ là trâu cột ghét trâu ăn. Họ đúng là những kẻ vô ơn đố kỵ rất đáng làm thơ phê phán, nguyền rủa…

Hoan hô Thái Bá Tân

Những vần thơ năm chữ

Chửi người nghèo thậm tệ

Vào ở căn hộ sang

Con cái học trường xịn

Sao không hỏi nhờ ai

Ta có cuộc sống này

Lại lu loa chửi bới

Vừa thâm độc vừa cay

Rồi số phận chúng mày

Sẽ chẳng gì thay đổi

Kiếp sau lẫn kiếp này

Xin gửi Thái Bá Tân

Cùng bố già Nhật Vượng

Lòng kính phục, ngưỡng mộ

Chúc hai người thành công

Thạch Đạt Lang

Nguồn Đàn Chim Việt

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

4. Chương 4

Nhớ hai bạn đồng lứa ở Sốc Trăng: Cậu Hai Emile Penne và Cậu Ba Etienne Penne

(Viết Ngày 6-8-1990)

Sốc Trăng nay mỗi năm mỗi khai tiệc “tất niên” để bạn cũ gặp lại nhau, tôi xin hỏi:

– Có nhớ hai anh này chăng.

Và tôi xin kể lại đây cho nhớ:

Đồng một lứa tuổi với tôi, ở trước mặt chủa Ông Bổn, có nhà Thím Thông Reng, ông là người Miên, đi học bên Pháp về, nhập tịch lang sa, làm chức thông ngôn tòa án, trở nên giàu có, rúi thất lộc sớm, để lại ba người con. Hai anh em song sinh: anh là cậu hai tên Emile Penne, em là cậu ba Etienne Penne; và người chót là chị Tư Emilie Penne, vợ ly dị của Nguyễn An Ninh, nay Emile đã mất, Etienne vẫn còn và ở bên Pháp, chị Emilie cũng còn và ở Pháp.

Trong bài nầy, tôi xin miễn viết về chị Tư là ân nhân của tôi chỉ xin gợi lại vài trang chuyện hai bạn tằng ní (đồng niên hữu) E Minh và E Chen.

Xin nhắc chị Tư và E Chen, hiện đang còn sống ở Pháp,

E Minh chôn ở Mạc Đính Chi, có lẽ không ai lấy cốt dời đi và đã mất tích, mà như vậy là xong, bận bịu làm chi.

Minh và Chen, nay gọi vậy cho gọn, sanh đôi, năm 1902, giống nhau như đúc một khuôn, giống cả giọng nói, tiếng cười, lớn lên vóc vạc như nhau, có thói quen y nhau, chơi túc cầu có danh, đánh bi da tài dách, cả hai đều hảo ngọt, mèo nhiều, không tiếc tiền với gái và rắn mắu trên đời, không một ai bì kịp.

Khi còn trong nôi, chính mẹ ruột cũng không phân biệt đứa nào anh đứa nào em, để cho gọn, bà xỏ tai đứa nhỏ và đeo khoen còn lại một thẹo nhỏ lâu ngày chỉ còn lại một dấu ít thấy, và sự lầm lộn huynh huynh đệ đệ trở lại như xưa. Chính trong vòng bạn thân, nếu vắng gặp ít lâu, khi gặp lại, khó tránh chuyện ngộ nhận, và những trò cười tự mình không muốn đụng, vẫn xảy ra như cơm bữa, bắt tay anh mở tâm sự em ra kể, khi khác thân mật bắt tay em rồi khui chuyện tồi tệ ăn hút của anh ra bàn…

Một chị sồn sồn ở chợ Sốc Trăng, tên chị là Ba Bộn, chuyên nghề tú bà lậu, buộc mai buộc mối, xe duyên lộn ngược mỗi, một hôm tưởng trúng mối to, vì được cậu hai để ý nhờ trao lời hò hẹn với một ả tứ thời từ Cần Thơ xuống tá túc nhà chị, cậu hai nhắn khi rảnh rang sẽ ghé đàm đạo tỏ tình, chiều lại trời vừa chênh chênh xế bóng, chị Ba Bộn bỗng thấy dạng một người chắc da chắc thịt, cỡi xe đạp loại bánh bự thật êm, hiệu Alcyon, pneu confort, chạy nhong nhong trước nhà. Chị Ba Bộn mừng quá, chạy ra đường đứng đón, lấy tay ngoắc chỉ vào trong: “Còn ở trong buồng kia kìa!” Người đi xe đạp, không nói không rằng, xuống xe, dựng kỹ bên thềm, bước vào buồng, nửa giờ sau trở ra, liếc mắt cười thoa mãn, lấy xe ra đường, ung dung đạp đạp, như không có xảy ra chuyện gì, Chị chủ chứa rất thản nhiên, không đòi không hỏi, thòa hiệp tay ba, tiền trao cháo múc là đồi với ai kìa, và chị Bộn có dại gì sớn sát đời bấc tử, cậu giận thì khôn, mất mối về lâu… và trời chưa đi ngủ, cơm tối chưa kịp dọn, đồng hồ chưa gỗ sáu giờ, bỗng lơn tơn có một cậu ngừng xe, cũng Alcyon bánh bự, cũng xe sơn màu đen cắt chi, chị Bộn nói thầm đủ nghe: “Hứ! Cái đồ tham ăn, có ngày sẽ cỡi ngựa gió! Mới nãy bây giờ trở lại! Đồ cường!” Còn trong buồng cón rủa thầm theo còn, ngoài buồng, chị chủ chứa, có kinh nghiệm, chỉ kêu trời thầm thầm, thôi rồi mắc tay bợm già, thằng anh bao gái, thằng em đổ lọp, hưởng nước nhứt, để anh trả tiền!

Té ra em chơi điểm, rình mò, biết của mới anh đặt, em lại thử nước tiên: ngon khá! Người vô đầu là cậu Ba, em, người lại sau mới chính là người đặt cọc. Việc nhỏ nhặt không đáng kể ấy, xảy ra buổi quân đội

Nhựt lăm le toan đoạt và phóng tay trên miếng phố mát Đông Dương của Pháp, nồi rắng tuy nhỏ, nhưng cũng đủ làm vui nhộn các bàn cà phe quán nước buổi sáng sớm chợ

Sốc Trăng, ai ai cũng tưởng việc cứ êm êm trôi cháy, chảy chạy bon bon y như hai bánh xe thật tròn thật êm ái của chiếc xe đạp hiệu Alcyon, tra bánh lớn lăn tròn trên đường tráng nhựa, hạnh phúc của tỉnh nhỏ giàu lúa gạo nằy tưởng không bao giờ tận, bỗng dùng một cái, kèn tò le tò lét nơi trại giam lính tập, 6 lên điềc tai, có lịnh toàn quyền đặc sứ Đờ cu, dạy nhập ngũ cấp tốc, binh lùn phù tang tràn vào bờ cối, giấy tòa bố gới ra, cậu hai, cậu ba, phải trả nợ “dân Tày” cho mẫu quốc! Người anh, nhập thành sơn đá lIè R.I.C. (nay là khu

Đại học và Nông lâm), nhận chức lính Đơ dèm cùi bắp, của đoàn bộ binh số II của thuộc địa, nguyên văn tiếng Tây nghe thật dòn: “soldat de deuxième classe, caserne de l’Infanterie Coloniale, enzième régiment, viết tắt như trên là Ilè R.I.C., V.V…..

Người em, cùng một tuổi, cùng một ngày sanh, cũng nhập ngũ vào cùng một thành sơn đá, cùng một chức lính tay trơn hạng nhì, của bộ binh Tây thuộc địa.

Ba mươi ngày đầu khi vào thành, đối với cặp song sinh rất khó chịu: còn đâu phè phỡn dưỡng vóc, sáng ngồi tiệm nước ngã tư đường cái, chiều nhập chời Ba Bộn… từ đây phải thức sớm theo tiếng kèn đánh thức, phải tập đi bộ “la mát” (marche), phải vác súng đứng canh gác chịu cho muỗi hút bớt máu 35, giày mang giày đi nghe cộp cộp hết ê lê găng (élégant), cơm là khúc bánh liệng chó chó u đầu, món xúp lỏng phèo, miếng bít tết nhai như nhai miếng keo su dai nhách, nhưng thét rồi cũng quen, vì cả hai sinh lực trai dồi dào.

Qua đầu tháng thứ nhi, bữa xọt ti giê nê ranh (sortie générale), sướng quá, cả anh và em đề huề nắm tay nhau ra thành phố tìm nhà em rể (chồng sau của chị Tư E mi li) ở đường Bồ rệt (Boresse), gần bốt quận Nhì, xả hơi đỡ khổ.

Luôn dịp cổi bộ đồ nhà binh, đưa ra cho trẻ trong nhà giặt, phơi khô, ủi sạch sẽ. Người anh, tóc dài ngứa ngáy, nhột nhạt, không nói không rằng, bèn lấy bộ đồ bà ba nhụt nhịt của dượng Tư, em rể, tra vào, thốt lên một chiếc xe kéo tay đậu trước cửa, dạy kéo thắng ra tiệm hớt tóc để cho thợ bế cái đầu lại cho dễ coi.

Hớt tóc cạo râu xong, lại nhảy lên xe kéo cho kéo một mạch về nhà em gái, cổi áo quần, lấy chăn tắm vận sơ khúc thân dưới, để mình trần, nằm chồng cắng lấy báo ra xem, chờ cơm…

Người em, đi dạo phố về, tờ báo duy nhứt, người anh đã khẩn, người em không biết làm gì cho hết thì giờ, thấy sẵn quần áo bỏ trên bộ ván, nhớ lại tóc đã dài, bèn thay đỗ lính và mặc bộ bà ba ấy, cũng thót lên xe kéo, lại cũng anh xa phu khi nãy, dạy kéo lại tiệm hớt tóc, xa phu dạ một tiếng rồi phóng nước đại, cũng kéo ngay lại tiệm buổi sáng… Tội nghiệp cho anh thợ hớt tóc, anh vừa hớt xong cho một khách lạ, đang đứng lui cui phủi tóc vụn, phủi phần thừa vướng víu trên ghế trên bàn, anh thợ vừa day mặt ngó đường giú mạnh cái khăn choàng, chưa kịp hút một điếu thuốc cho thấy khóe, khi day mặt lại thì thấy ngồi sẵn chễm chệ trên ghề một người: mẹ ôi! Ông nầy mình mới hớt ban nãy đây mà! Tay anh giựt giựt, tim đập nghe thình thịch, anh chưa choàng khăn vội… đứng xa xa, mắt liếc vào tấm gương lớn treo trên vách:

– Trời đất thánh thần, tóc đâu mọc mau dữ vậy cà? Minh mới hớt khi nãy mà?

Lấm là lấm lét, anh thợ đứng tần ngần, vừa nối đủ nghe:

– Thôi! Đích thị là hắn đây rồi! Nếu không phải như vậy, thì tại sao cũng thì cái áo nhụt nhịt có hai túi xệ xệ như thể nầy? Phải rồi!

Mình nhớ ra: chính nơi vai tay mặt, cũng thì có một miếng rách, mạng lại rất khéo, không thể lầm, mạng bằng tay mà y như bằng máy, đường kim mối chỉ đều đều, mình nhìn kỹ khi nãy! Chết cha rồi! Còn đôi guốc dưới cắng nầy nữa! Cũng thì đôi guốc quai vỏ xe hơi. Người hay ma đây.

Bụng thì ngán, nhưng nghề phải theo nghề. Anh thợ lấy kéo, làm nghe xấp xấp, mà vẫn chưa chịu hớt. Người khách móc túi, lấy thuốc vấn ra hút. Anh thợ run lên như thằn lần đứt đuôi. Gói thuốc Bách tốt (Bastos) nầy cũng y như gói thuốc ban nãy Anh thợ vừa hớt, mắt vẫn ngó chừng ra cửa, có bề gì thì phóng ra đó là xong. Người khách ung dung hút điếu thuốc, miệng phi phà, mặt liếc vào gương treo trên vách. Đến lượt cạo lông mặt. Anh thợ cố tình nhấn mạnh tay thì rõ ràng khách biết nhăn mặt, tó vẻ biết đau, xem gân cổ thì thấy nhúc nhích. Anh thợ thêm vững bụng, vì nếu quả là ma, thì đâu có những cử chỉ như vậy! Anh thợ lấy được thần hồn, cho lưỡi dao chạy rà dưới cằm, tiếng nghe sột sạt, đúng là thứ râu rễ tre, cứng và khó cạo đứt. Vừa mừng vừa ngại ngại, cũng một thứ râu bạn nãy!

Hớt cạo xong, khách trả tiền ra cửa, thợ tiễn ra đường cái bụng nhẹ nhàng như mẹ đẻ lẫn thứ hai, nửa đăm chiều, nửa lo lo: nếu là ma, ma gì đám hiện ra giữa ban ngày, thạnh thiên bạch nhựt, biết hút thuốc, và chơn đi sát đất. Thợ trở vô nhà, miệng láp váp: ma hay người, trối kệ.

Mai nầy, tiền không biến mất, thể là xong!

Từ nhập ngũ, lật bật đã được sáu tháng mà không hay. Cu kêu lúa chín ngoài đồng, nước dưới sông Sài Gòn cứ chảy… cậu ba, viện có còn ruộng dưới tỉnh nhà, không ai coi sóc, luật nhà binh đặt lệ cho tạm miền dịch, về lo ruộng góp lúa đi. Thương hại cho cậu hai ăn chơi phung phí, phá sản, ruộng bán từ lâu, không viện được chứng minh nào, đành ở lại làm cho tròn chưn quân chưn lính. Bốn tháng kể đó trôi rất lẹ, tin đâu sét đánh, mập và mạnh khỏe như cậu hai Ê Minh, tuổi chưa tới bốn mươi, thây cọp ăn không hết, có ai dè đau chơi bịnh ban cua, thuốc chạy không kịp, hóa ra ban cua lưỡi trắng, cậu Ê Minh chầu trời không kịp trối. Cậu ngủm cù đèo trong bộ sắc phục đơ dèm cùi bắp. Thi thể quản nơi nhà thương Tây Grall.

Một mặt liệm và gới quan tài nơi nhà xác, có bốn anh sơn đá da đen, cắt ra canh gác đứng bồng súng đứng bốn góc cái hồm, chờ người thân lên đủ mặt, sẽ đưa ra nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi mai táng.

Một mặt đánh điện tín công khai xuống tòa bố tỉnh Sốc Trăng dạy mời thân quyến người xấu số, đại diện là cậu Ba Ê Chen, gấp gấp lên Sài Gòn, tiễn đưa tống táng.

Nên nhớ buổi ấy ét xăng kiếm xức mũi không ra, có bao nhiêu, bị quân đội Nhựt trưng thu ráo, xe nhà để phơi ngoài sân trồng hành, xe đò xe đưa hành khách, chạy bằng rượu cồn pha thuốc màu vàng khè, tuy vậy xe đường Sốc Trăng lên Sài Gòn chạy rất đúng giờ khắc và chạy rất mau, và vẫn quen chạy vào ban đêm, cắt nghĩa, thêm được mát máy, vả lại trong xứ an ninh hoàn toàn.

Chiếc xe đò của hãng Thuận Hưng, của khách Tàu làm chủ, khởi hành tại bến Sốc Trăng đúng bảy giờ tối, chạy thắng thét đến bến chợ Bến Thành (Sài Gòn) là đồng hồ chợ gỗ mười hai giờ khuya, lúc ấy không có thiết quân luật, và cậu Ba, nóng lòng anh mất không vuốt mặt kịp, cũng không về nhà em rể, nhảy lên một chiếc xe kéo tay, hối chạy cho mau vào dưỡng đường Đồn Đất. Giấy tờ hợp lệ, cậu Ba Ê Chen được vào cửa dễ dàng trong giờ khuya khoắc, trên mình mặc bộ đồ kaki sơn đá, trên tay xách một va li nhỏ, cậu Chen bước thẳng vào nhà xác.

Bốn anh lính đứng gác quan tài, đứa thì ngủ gà, đứa thì mắt mở mắt nhắm lim dim, thoạt nghe tiếng cửa động có người bước vào. Tám con mắt, tròng trắng nhiều hơn tròng đen, da chúng đã đen sẵn nên không thấy đen thêm, tròng trắng muốn lòi ra… chơn thì muốn chạy, mặt không còn chút máu, bỗng nghe bốn cây súng trường chào nghe một cái “rột”, rồi bốn cây súng ấy hạ báng súng xuống mặt gạch lót nhà xác nghe một cái “rụp”, y như bốn cái máy, mà máy gì?

Cậu Ê Chen khóc thút thít, đứng ngó ngay quan tài của anh, sụp lạy hai lạy theo nghi lễ Việt Nam, lạy xong, đứng dậy, gõ mạnh hai giày chào theo quân pháp.

Anh sơn đá cầm đầu bốn đứa, hườn hồn, hỏi lớn bằng tiếng Pháp:

– Chúng tôi hân hạnh chào ai đây?

– Etienne Penne, em ruột của người quá vãng!

– Xin thành thật chia buồn. Chúng tao tưởng mới liệm hồi sáng nay hiện hồn về.

Emile Penne được nằm yên nơi nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi,

Etienne Penne và chị Tư Emilie, được sang Pháp trước khi có lịnh lấy cốt nơi nghĩa địa châu thành, Etienne và Emilie, vẫn ở Pháp nhưng tôi bặt vô âm tín, còn xác, hài cốt của Emile, tôi không tin tức, chẳng biết tòa đại sứ Pháp có tưởng và đưa về Tây địa hay đã tiêu tan chung số với các mồ vô chủ kia.

Mấy hàng ai điếu Ê Minh, có linh xin chứng.

(viết ngày 6-8-1990)

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

Phần 11 – Chuyện về một bài thơ

Dạo đó, tôi bị vào trại giam Mỹ Đức, còn có tên là PC 25B. với tội danh chưa rỏ ràng là “Phản cách mạng, âm mưu lật đổ chính quyền” .Trại thuộc tỉnh Ninh Thuận, nơi tôi cư trú. Chuyển từ Huyện xuống, tôi được đưa ngay vào biệt giam. Gặp ngày tù nhân đang tắm nên lênh láng nước. Tôi ngồi co ro trên nền xi măng của phòng biệt giam chật chội , chẳng buồn nhìn xung quanh, chỉ có một câu hỏi trong đầu: Phải ở nơi nay bao lâu?!

Câu trả lời chỉ có đúng hai năm bốn tháng sau đó!

Người ta thì chỉ ở vài ngày, có khi chỉ vài tuần hay quá lắm là hai tháng, (không tính đến những tù mang án Tử hình. vì họ phải chờ phúc thẩm, khoan hồng…có khi đến cả hai năm)

Không hiểu sao, tôi, không thuộc diện đó nhưng vẫn phải ở tới hai năm một tháng trong cái phòng 1m8X2m này (hai người) lâu như vậy. Sau này tôi đoán biết là cùng bị bắt với tôi có 3 người, hai người kia ở nhà H và nhà B, tôi nằm trong là an toàn, khỏi liên hệ đươc với nhau!!!

Có được ra ngoài hai tháng ngồi cạo trúc (mành trúc) nên tôi có kinh nghiệm rằng: ở trong ấy tiện hơn ở nhà ngoài, tha hồ nằm, tha hồ nghĩ ngợi, tha hồ nhớ nhà…khỏi lăng xăng lao động , nhất là không đụng chạm với ai để bị báo cáo láo, viết kiểm điểm vô duyên!

Chừng hơn một năm sau, thỉnh thoảng bạn chung phòng rủ tôi cổng nhau đứng trên “thùng cầu”nhìn ra ngoài xem sinh hoạt của trại cho đỡ buồn, người này đứng lên vai người kia bám vào tường lén nhìn ra ngoài, thấy các trại viên lui tới mà …thèm!

Trại có hai dãy biệt giam D và Đ , tôi không nhớ mình ở dãy nào, chỉ biết nó nằm đối diện với “nhà nữ”. Nhà nữ hình như trước đây là một nhà chùa hay nhà thờ nhỏ dành cho Tù trong chế độ cũ , nay dùng cho quý phạm nhân nữ.

Mới hai sáu tuổi đời, chưa có gia đình nên tôi thích thú nhìn “nhà nữ” khi có dịp leo lên cửa sổ! Có ở trong hoàn cảnh ấy bạn sẻ thấy tâm lý mình thật lạ. Chẳng hạn có một lần nhìn ra, tôi hốt hoảng thấy một đứa bé chập chửng trên sân, tôi hét lên vì sợ những phạm nhân qua lại vô tình dẫm chết đứa bé, nó mỏng manh và yếu ớt quá!!! (Con của Trại trưởng hay là Y Tá của trại gì đó). Hậu quả là tôi bị còng hai tay, hai ngày sau mới tha, hình phạt này tuy không nặng nề gì nhưng thật khổ. Bình thường, ta ngứa đâu gãi đó, khi còng hai tay rồi, nó ngứa lung tung mà không gãi được. Lăn qua lăn lại như một con giun đất, không khác một cực hình!

Hôm ấy, tôi cùng người bạn chung phòng leo lên, nhìn qua nhà nữ như mọi khi! chao ôi là đẹp! Trước mắt tôi là một cô gái trẻ trung, đứng nhìn trời, hai tay chắp sau lưng tựa người vào cây dừa trước nhà giam…Cô mặc bộ đồ trại phát, vải thô, màu trắng nhưng được sửa lại gọn gàng và nhuộm thành màu xám, màu duy nhất có thể nhuộm vì thuốc nhuộm là một loại bột màu đen được lấy từ một quả pin (có thể tìm được trong những lần đi lao động bên ngoài)

Dáng hình thon thả quá, mắt ngước nhìn trời vu vơ quá, buổi chiều êm ả quá ..và tôi…xao xuyến quá!

Tôi phải xuống để cho bạn thế chỗ! Hình ảnh cô Phạm nhân cứ đeo đẳng trong tôi không tài nào quên được, mà tôi cũng chẳng muốn quên! Mấy lần sau, thỉnh thoảng tôi cũng được nhìn thấy cô ấy, nhưng thật hiếm .

Hồi đó, tôi ít khi làm thơ. Đối với tôi, thơ Tiền chiến là quá đủ cho mình, những dòng thơ ấy là mẫu mực và là đỉnh cao của sự lãng mạn, cứ nhẫn nha với các nhà thơ ấy là quá đủ: Yên Thao, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Hữu Loan. Nguyễn Bính…đủ quá cho tôi!

Nhưng bây chừ, tôi quay quắt với hình ảnh cô phạm nhân này quá, không làm một bài thơ thì không biết nói sao cho vơi nỗi…tương tư! Không bút, không viết, không cả thuốc đỏ đễ làm mực, tôi cư nhẩm trong đầu từng chữ, từng câu rồi học thuộc nó:

Nhìn cô Phạm (nhân)

Em trông mây, bên này tôi củng thế,

Cũng như nhau chúng ta còn quá trẻ,

Tuổi đương xuân và tóc chửa sang màu.

Em môi thơm, còn thoang thoảng hương cau,

Tôi trán phẳng, mới hằn lên nét nghĩ.

Quê em đâu, mẹ cha còn không nhỉ?

Có chồng chưa và có nghĩ gì không?

Tôi mất cha, mẹ già tóc bạc trắng,

Buổi tôi đi người buồn không căn dặn,

Bởi lòng người đã rối rắm như tơ!

Bao đêm rồi chắc hẳn vẩn còn mơ,

Ngày gặp lại đứa con yêu mến nhất,

Tôi hằng nguyện: Mẹ ơi, xin đừng mất,

Trước khi con trở lại sống bên người!!!

Tôi có người em tuổi đôi mươi,

Tóc rẻ mái, má hây hồng tươi tắn,

Mỗi sớm mai khi trời chưa ló nắng,

Hai chúng tôi cùng chung lối lên nương.

Chừ ra sao con chim nhỏ thân thương,

Được êm ấm hay cũng vương sầu khổ?!

Bởi vì thế, khi nhìn em dáng nhỏ,

Tôi chạnh thương và nghe nặng trong lòng!

Xa quê hương đào hơn một lần bông,

Mà cứ ngỡ bao lần hoa mai rụng!!!

Ninh Thuận. Mỹ Đức, XI-1981.

Tôi được ra nhà A sau đó vì ghẻ nhiều quá. Nằm bên một bạn nhỏ hơn tên là Hưng, sợ quên đi bài thơ nên tôi đọc cho Hưng nghe, Hưng học thuộc và hứa sẽ đọc lại cho anh tôi nghe khi nào về được (Hưng làm thủ kho của TNXP ở Quán thẻ. dính líu chút ít thuốc rầy chủ yếu vì bạn bè …nên chắc chắn về sớm).

Ra nhà ngoài, tôi thất vọng đến không tin những gì anh em cho biết về “cô phạm” của tôi! làm sao tin được một cô gái dịu dàng như thế lại có thể có mặt nơi đây vì tội “bóp cổ lấy vàng” chịu án tới hai năm!!! Cái miệng mom móm mà tôi cho là có duyên lại là do mấy cái răng bên trong không còn!!! Và nửa, giang hồ còn gọi cô là “Thu hăng rết” (hết răng). Ối trời!!!

Tháng sau Hưng về, như đã hứa, thay vì đến nhà, Hưng chép cho anh tôi bài thơ, gởi qua đường bưu điện. Cái nhắc lại đây là vì Hưng quá hiền lành, chỉ biết chân thành thôi, nên viết cho anh tôi rằng: …Em chép cho anh bài thơ của người “khuất mặt”.!

Cả mẹ và anh tôi hốt hoảng, khóc lu loa … chắc là tôi chết rồi nên Hưng mới dùng chữ “khuất mặt”. Lo lắng lắm nhưng mẹ và anh tôi chẳng làm  sao được. chỉ mong đến ngày thăm, hy vọng có tin rõ hơn về tôi!

Hơn một năm sau, tôi về với cái giấy lệnh tha ghi rõ: Miễn tố. Quản chế tại đia phương 12 tháng.

Biết mọi chuyện, tôi muốn gặp Hưng nhưng không biết tìm gặp thế nào. Mấy tháng sau, không xin phép địa phương, vì biết xin cũng chẳng được.

Tôi vào Hàm Tân thăm chị đầu của tôi ở đó, chuyện trò qua quýt với chị xong, tôi ra chợ Tân Hà, buổi chiều nên chợ vắng, có quán cà phê ngay chợ với mấy chàng trai trẻ đang uống rượu cùng nhau…Tôi gọi ly cà phê nhìn bâng quơ ra đường, tôi đang lơ đãng thì chợt lắng tai nghe phía bàn rượu có tiếng ngâm thơ nho nhỏ, tôi nghe họ ngâm bài “Đôi mắt nguời Sơn Tây” của Quang Dũng. bài thơ này tôi thuộc nằm lòng nên cũng không chú ý lắm, chỉ vui vui vì đám thanh niên này có vẽ “có hồn thơ”. Một lát, tôi giật mình vì một bạn đọc… “Tôi mất cha, mẹ già tóc bạc trắng…Buổi tôi đi người buồn không căn dặn…” Tôi quay hẳn qua phía họ, bài thơ của tôi, sao họ biết được nhỉ?! Tôi có viết cho ai đâu, in thì càng không, tôi gần như quên nó rồi…Lân la qua bàn bên, Các chàng trai nhìn tôi nghi ngại không đọc nũa. Tôi hỏi họ với nụ cười thật hiền:” Bài thơ vừa rồi của ai thế?” Một bạn nhìn tôi, chăm chú không có vẻ gì thiện cảm, Thú thực, tôi ăn vận khá nghiêm túc, áo vô thùng, cố ý muốn ra dáng cán bộ để …khỏi bị hỏi giấy đi lại!

Vừa may đứa cháu của tôi đạp xe đến, nó vừa học xong, về nhà nghe cậu vào nên đi kiếm. Ở chỗ mà ai cũng biết ai này cũng hay. Cháu tôi chào họ rồi ngồi bên tôi, so ra cháu tôi nhỏ hơn họ, nhưng vì học giỏi, lại tính tình vui vẽ nên nhều người biết.

Không khí đã nhẹ nhàng đi, tôi hỏi lại anh bạn trẻ. Rụt rè anh bạn cho biết là …”bài thơ vừa đọc là của một người tù tử hình!!!” Tôi tá hỏa! “Vậy sao mấy bạn biết?”. Họ lắc đầu không nói, tôi bối rối thật lâu, cháu tôi hỏi tôi sao thế. Tôi muốn nói với Họ là bài thơ đó của tôi, không phải tù tử hình mà chỉ ở tù hai năm bốn tháng và bây giờ đang ngồi với họ đây.., Nhưng chắc gì họ tin! Tôi nghĩ có khi mình đọc cả bài thơ thì họ dễ tin hơn. Nghĩ vậy tôi đọc nho nhỏ cả bài thơ, đang đọc thì một bạn ngồi quay mặt ra đường bổng gọi to: Hưng, Hưng!

Tôi quay người muốn vẹo xương sống. Hưng thật rồi. hai chân chà xèn xẹt làm thắng, Chiếc xe đạp sườn ngang chở hai rỗ cá hấp phía sau, tôi lao ra ôm lấy Hưng làm Hưng ngọ nguậy ngữa người ra sau đễ nhìn tôi cho rõ!”…Anh Hội, anh được tha rồi sao!?…”

Năn nỉ người chủ quán hấp lại dùm hai con cá ngừ, biết anh em lâu ngày gặp nhau, chủ quán nhiệt tình hơn khi ngỏ ý muốn bán số cá còn lại dùm cho Hưng. Chúng tôi uống nhiều và gần như suốt đêm không ngủ, bên hàng hiên nhà một trong những người bạn trẻ.

Bài thơ của tôi không hay, tôi biết vậy, nhưng hai chữ “tử tù ” mà Hưng gán thêm làm nó trở thành…hay!

Tháng  19 tháng XI năm 2012

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

Phần 11 – Người tù vĩnh viễn ở lại rừng Kà-Tót

Đời tù, chiếc lá, hư không

Tấm thân cát bụi giữa dòng tử sinh

Tôi nhớ có lần từ vườn hoa lầu nước Phan Thiết, tôi cong lưng leo giốc, đạp chiếc ce đạp lọc cọc qua mấy nhịp cầu Quan, đổ giốc quẹo trái theo bờ sông bến Trưng Trắc đến nhà Nguyễn Văn Tân gần Air Việt Nam. Tụi tôi 6 đứa thuộc nhóm Toán, tới kỳ học chung và nhà Tân là một trong những chỗ gặp mặt. Năm đó là năm đệ tứ, khi tổ học toán thì tôi cùng nhóm Tân, khi làm bích báo thì tôi thuộc nhóm Huỳnh Ngọc Phẩm và Trần Khánh Thiện. Phẩm viết chữ đẹp, Thiện vẽ và trình bày hết xẩy, tôi viết bài và làm thơ con cóc cạp áo dài trong sân trường Phan Bội Châu…

Lớp tôi còn có một đội bóng tròn mà tôi là thủ môn, Tân chạy trung phong và Đặng Hùng chạy góc mặt, và mấy cô bạn gái cùng lớp Bạch Nga, Kim Cúc… 7,8 cô ngồi bìa sân cạnh trưởng lớp Huỳnh Ngọc Ghênh, phó trường lớp Hoàng Công Bình vỗ tay, cổ võ, hoan hô. Tôi thấy không cô nào đả đảo khi tụi tui thua! Thương mấy cô là ở chỗ này!

Thời buổi đó, em trai của bạn chỉ biết mà không thân quen cho lắm. Biên học sau tôi và Tân một hai lớp gì đó. Tôi biết Biên nhưng không có mối liên hệ thân tình nào. Nếu là em gái của bạn mà lại học cùng trường thì chắc thằng con trai nào cũng nhớ kỹ, còn nếu biết nháy lông nheo nhau thì nhớ chết bỏ, tới ngày thi tương tư chắc rớt là cái chắc. Và cái này thì tôi nói thiệt! Tôi chơi khá thân với Tân, nhưng không rành nhiều về gia đình Tân và Biên.

Tôi vẫn coi thời gian dưới mái trường Phan Bội Châu là thời gian của tuổi thơ, của những đám mây, của những tà áo dài. Trường Phan Bội Châu mà không có tà áo dài của mấy cô nữ sinh thì chắc là sân trường buồn lắm lắm, và chắc là đời cũng thiếu mất những bài thơ của mấy ông thi sĩ học trò Phan Bội Châu! Con trai cái xứ gì đâu mà nhặt bút lên là làm thơ, nhưng để bút xuống thì làm tiền dỡ ẹt! Biết bao nhiêu kỷ niệm, ngọt cũng có, đắng cũng có, cay cũng có, đều có bóng dáng mấy tà áo trắng, mà giờ đây hỏi lại, tôi nào nhớ nỗi cái tà áo nào. Thiệt là tệ hết biết!

Thời gian đi qua, nó đi qua kéo theo tuổi đời chồng lên đầu, kéo cuộc đời những đứa từng ngọt bùi dưới sân trường đi xa trăm lối. Chiến tranh, khói lửa nó như cái lò hồ lô vô hình trong chuyện phong thần, hút cuốn mỗi người đi mỗi ngả; kẻ chết chân đồi, người chôn góc biển, thằng sống bơ vơ hay lao mình trong lửa đạn… Về sau thì tù tội, lưu xứ, vượt biên, tôi không còn gặp Tân và Biên từ đó.

Và rồi cuộc đổi đời oan nghiệt, núi vỡ, sông chia, trời cao xuống mộ, quả đất lại vẫn còn tròn, tôi gặp lại Biên. Nơi gặp nhau là rừng Kà Tót. Nơi gặp nhau là trại “tù tàn binh Kà Tót”. Buổi sáng, chim kêu, buổi chiều vượn hú. Đám tù thất thần, mặt thằng nào cũng như ma nhập, mất trí, khờ khờ trong cảnh chờ chết. Tuần nào dường như cũng có người ra đi heo hút, không vợ con cha mẹ, không bạn bè đưa tiển và những giọt nước mắt của vợ hiền, người yêu nhỏ xuống. . .

Có đêm, trăng rừng rọi sáng sân trại, nhìn trăng, tôi không còn thấy trăng với chị Hằng, chú Cuội, với những vần thơ lảng đảng giăng mắc trên mây, mà tôi chỉ thấy bóng dáng tử thần nhe nanh cười nhìn xuống sân trại, tay cầm búa, tay cầm liềm mà thiên lôi là mấy ông nội giép râu, nón cối kè kè AK chăm chăm vào đám tù, sẵn sàng bắn bất cứ lúc nào.

Có đêm tôi nghe tiếng hú của một ai đó lên cơn sốt và nổi cơn mê sảng trùm chiếu chạy lòng vòng ngoài sân cho đến khi gục xuống, anh em dìu vô sạp. Sáng hôm sau, tôi hỏi thăm, anh em cho biết người lên cơn sốt mê sảng khi đêm là Trung Úy Nguyễn Văn Biên, sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị Chi Khu Tuy Phong. Tôi ngỡ ngàng, thương xót, không biết bây giờ Tân ở đâu mà Biên ở đây. Không biết Biên trình diện hay bị bắt, không biết Biên vô đây hồi nào, nhưng rõ ràng là Biên vô Kà Tót trước tôi.

Đến cái thung lũng chết người này sớm một ngày là đến gần với cái chết sớm một ngày. Cũng như số phận nhiều anh em khác, Biên tàn tạ với những cơn sốt rét ác tính mà những người cộng sản coi như chuyện thường, tù chết chôn nơi xó rừng như một con gà. con vịt. Đó là mệnh số của những người bại trận trong tay kẻ thù mà công ước quốc tế Geneve về tù binh là cái khỉ gió gì, lũ người chiến thắng không hề biết, không hề nghe; mà có biết, có nghe họ cũng cóc cần.

Ngày nghĩ Chúa nhật, tôi lọ mọ qua thăm Biên, Biên đờ đẫn trong cơn sốt, thiếu thuốc men, cơm cháo. Biên đã không nhận ra tôi. Biên như người vô hồn. Hôm sau, vác cuốc đi lao dịch, các bạn tù tiết lộ là “trước khi các ông lên đây, nhiều người đã chôn xác. Biên có lẽ là anh em kế tiếp trên con đường không trở lại đó. Không chừng số kiếp tụi mình cũng nằm trên con đường ra đi không ngày trở lại!”

Tôi làm thinh nghĩ tới phận số của mình. Ngày còn sống trở về coi như giao cho mấy đám mây, mấy cơn mưa trong rừng, mấy con muỗi sốt rét trong đêm, mấy viên đạn trong tay giặc. Và tôi bỗng như lạc thần, coi thân mạng mình nhẹ như không có, không cần thiết gì cuộc sống. Tôi quên đi cha mẹ, không biết mình chui vào thế giới này tự lúc nào, và khi nào sẽ trở lại hư không. Tôi không thấy ông Chúa trên núi, ông Phật trong rừng, tôi chỉ thấy nỗi tuyệt vọng mênh mang, phù du, hư ảo theo những chiếc lá sầu đời rời cành đong đưa về đất sau những cơn mưa, sau những trận gió.

Dù vậy, cơn đói vẫn là cái gì hiện hữu, nó lôi tôi về với hiện tại oan nghiệt, nó cồn cào, nó giục phải nhớ tới mấy dãy bàn tre phát cơm mục lộn sỏi tàn phá răng hàm buổi trưa, buổi chiều cạnh sân trại. Cơm gạo mục với muối chó còn chê mà sao người tù vẫn nhớ, vẫn thèm. Đói quá!

Ngước nhìn lên cây đu đủ trĩu quằn những trái màu vàng chín ngay trên đầu mình mà tay không dám vói, “chỉ trong gang tấc mà xa nghìn trùng”, động dậy, vói tay đụng tới hoa quả của cán bộ, người tù có thể nhận một bá súng, hay một phát AK cũng không chừng. Cây trái, hoa quả mình trồng mà không được ăn, chỉ được quyền làm lụng và ngả chết. Lạ thật! Mạng sống người tù trên rừng Kà Tót nhẹ như chiếc lá mục. Cách mạng gì đâu mà thật là rừng rú, mọi rợ?

Biên nằm trong dãy trại đối diện dãy trại tôi, cách nhau bằng một cái sân hôi mùi nước tiểu. Sân trại, nơi tập họp điểm danh, nơi anh em đái trên đường ra hố tiểu phòng hờ mấy tên bộ đội đuổi ngược vô khi bàng quang còn căn cứng. “Báo cáo cán bộ, hai người dãy A xin đi tiểu?” – Có tiếng hét đâu đó: “Vô! Làng chàng tôi bắn bỏ!” Tiếng AK lên đạn lách cách. Có lúc nó cho phép bằng tiếng: “Đi!” Có lúc nỗi điên vì bị phá giấc ngủ, nó quát: “Vô!” Đám tù Kà Tót không biết đâu mà mò, vô lại mắc tiểu chịu sao nỗi.

Ngủ lại sao nỗi khi đêm trong rừng Kà Tót lạnh căm căm không một manh chiếu đắp với “cái bầu tâm sự mỗi lúc thừa thắng xông lên căng cứng bàng quang!”

Thế là không hẹn mà “cùng biến, cùng thông”, trong những đêm mưa, trong những đêm trăng sáng, anh em bước ra khỏi sạp đều cho phép con chim “phản động” của mình đái trước khi xin phép, nếu cho đi thì tiếp tục tiểu trên đường ra hố tiểu, nếu nó bảo vô thì cái bầu tâm sự cũng đã cạn. Đất Kà Tót là đất của Việt cộng, đâu là đất ông cha, ông cố nội mình mà không dám đái lên đầu nó! Hôm nào trời mưa, nước mưa cuốn bớt mùi hôi,”hôm nào trời trăng, sáng mai trời nắng, mùi khai “thoang thoảng hương bay” phả tràn khắp trại, không ai phàn nàn, không ai thắc mắc. Cái chết rình rập, cận kề, mùi khai nước tiểu là mùi hương của cuộc đời mà người tù Kà Tót nếu có chết đi, thì vẫn còn một chút gì để lại với núi sông!

Sau hơn 4 tháng “hòa tan” thân thế trong rừng Kà Tót, tôi gần như lạnh lùng với chính cuộc đời mình. Gia đình, bè bạn, dĩ vãng… nó biến mất tiêu; tương lai thì đen như rừng Kà Tót ban đêm, tương lai là những tối nghe tiếng heo của trại hét thảm thiết rồi biến mất dần trong rừng sau khi bị cọp chụp kéo đi. Mấy thằng bộ đội chỉ ăn hiếp tù, chứ cọp về chụp heo, nó sợ xanh mặt, chỉ nghe tiếng cơ bẩm AK lách cách chứ chưa nghe thấy nó bắn phát nào vào bóng đêm. Mỗi lần nghe cọp gầm bắt heo, đám tù cũng lạnh cẳng, vì trại không có hàng rào.

Dãy trại tôi có một cái cùm dài tập thể dành khóa những thằng được đảng coi là nguy hiểm, phản động, ban đêm cho tiểu trong lon. Mỗi thằng xỏ chân vô một tổ, khóa bằng khúc gỗ dài thoảng, lỡ cọp chụp kéo đi thì còn cái cùm giữ tấm thân ở lại; dãy không có cùm dài, thân tù đứa nào cũng nhẹ như cái lông heo, cọp nó chụp một phát, chưa kịp hét “Trời ơi”, nó đã bê tù vào tận rừng sâu mất dạng. Tù chết, cọp tha là chuyện nhỏ. “Đảng lãnh đạo, nhà nước sáng suốt, quân đội nhân dân anh hùng” có chịu trách nhiệm, có cần khai báo ai đâu mà thắc mắc, bận tâm? May mà cọp Kà Tót cũng thương tù, ghét Việt cộng, nên chỉ rình bắt heo trại chứ chưa có người tù nào bị cọp vồ!

Buổi chiều thứ Bẩy lao động về, nghe tin dãy trại bên cạnh có anh em chết. Hay tin Biên qua đời, tôi không ngạc nhiên, tôi bình thản như biết trước là Biên sẽ chết. Sáng hôm sau, mặt trời vừa chiếu xéo xuống những tàn cây, rọi sáng sân trại, anh em còn ngủ, tôi thức dậy và bỗng nghĩ đến Tân, người bạn cùng lớp, rồi tôi nghĩ đến Biên. Tôi bước ra khỏi sạp, đi thẳng lên ban chỉ huy trại. Gặp Trung ống vố, trưởng trại đang ngồi rít thuốc lào, tôi lên tiếng:

– Thưa cán bộ! Người chết là anh Biên, em của người bạn thân cùng lớp tôi thời học chung Phan Bội Châu. Tôi quen gia đình Biên. Xin cán bộ cho người về Phan Thiết báo cho gia đình anh Biên đem xác anh Biên. . .

– Im! Anh đùa với cách mạng hả? Ai chết cũng báo về Phan Thiết để nhân dân căm thù và bôi bác cách mạng hả?? Chết đâu thì chôn đó, nghe chưa!

Tôi giật mình vì câu vừa trả lời, vừa hỏi như cáo buộc của Trung ống vố. Tôi hiểu ngay thêm rằng số phận của đám tù Kà Tót đã bị đóng khung, đã bị định đoạt. Trung ống vố xoay người ném cho tôi một tấm bạc, đúng ra là một tấm poncho cũ và lạnh lùng ra lệnh:

– Anh cho người chẽ tre làm nẹp, quấn xác anh Biên chờ chiều nay đem chôn!

Tôi kéo hai tay Biên thẳng theo thân mình. Tôi bó Biên trong poncho. Tôi cột chân Biên. Tôi quàng giây qua mình Biên… Trời ơi! Những cuộn giây rừng oan nghiệp Nó theo Biên về đất và tan theo Biên trong đất. Không còn gì, không còn gì. Tội quá? Tân bây giờ ở đâu?!

Toán chôn Biên do tôi chọn, tất cả 12 anh em gồm tôi, BS Lê Bá Dũng, BS Nguyễn Lê Chánh, Phạm Văn Nhàn, Phan Đạt và 7 anh em nữa tôi không nhớ tên. Chúng tôi đập tre, bện giây và đan thành một vành 7 miếng, xác Biên nằm trọn trong tấm poncho cũ rách, đặt lên các miếng tre và quấn lại. Mắt Biên đã nhắm kín, an phận. Không biết người bạn nào đã vuốt mắt Biên.

Buổi xế, một toán bộ đội không rõ bao nhiêu tên, khi ló ra, khi hiện mất trong bìa rừng, do tên Mẹo chỉ huy. Chúng dắt chúng tôi khiêng xác Biên len lách qua đám rừng tranh theo một con đường mòn hẹp, đến một nơi mà chúng tôi không định được vị trí. Đến một chỗ trống đủ rộng để đào huyệt, Mẹo chỉ: “chôn chỗ này” rồi cùng đám bô đội lẩn vào trong rừng bên cạnh để canh chừng đám tù.

Chúng tôi bắt đầu làm việc, hì hục đào, phá được lớp rễ tranh trên mặt đất là đổ mồ hôi, nhưng khi đào qua một lớp đất đen khoảng tới đầu gối là tới lớp đất đỏ mềm như đất sét pha trộn cát. Lớp đất đen có thể là lớp cây cỏ mục hàng ngàn năm, lớp đất đỏ có thể là lớp đất nguyên thủy đầu tiên khai thiên lập địa. Đất Kà Tót vô cùng mầu mỡ, mỗi cụm khoai mì trong mật khu này, đào lên, tù khiêng một giỏ cống rống, củ nào củ nấy như con heo con.

Vì mệt, anh em thấy huyệt đã tạm sâu, muốn đặt Biên xuống, nhưng tôi chận lại. Tôi nghĩ bộ đội họ không hối, không giục thì mình nghỉ vài phút rồi đào huyệt Biên sâu thêm chút nữa để Biên nghỉ an toàn trong lòng đất. Tôi nghĩ đến đám heo rừng nhiều như Việt cộng trong khu rừng này, tôi sợ chúng ủi mộ Biên. Anh em nghe lời tôi, tiếp tục đào.

Huyệt Biên đã quá sâu, chúng tôi bê Biên đặt xuống đáy huyệt, mỗi anh em ném xuống Biên một nấm đất, cùng nhau lấp Biên, vun thành một nấm mồ lớn. Để chắc ăn là thú rừng không xâm phạm mộ Biên, tôi yêu cầu anh em chặt cây làm hàng rào quanh mộ, và trong thời gian đó, tôi đến một cây lớn cạnh mộ Biên, vạt một mảng thân cây, dùng mũi rựa khắc tên Biên cùng với mũi tên chỉ về hướng mộ. Tôi nghĩ đến cái ngày mồ xiêu mã lạng theo năm tháng, thân nhân Biên có muốn tìm mộ hốt cốt thì có chút ít dấu tích để tìm.

Là một trưởng toán có cấp bậc tương đối cao nhất trong số anh em đào huyệt, tôi bỗng thấy mình có chút trách nhiệm phải làm một cái gì đó cho Biên, trước khi bỏ Biên ở lại vĩnh viễn nơi này. Tôi quyết định làm lễ truy điệu Biên. Chẳng biết tại sao tôi đột nhiên có ý định làm chuyện này. Anh em bất ngờ nghe tôi lên tiếng:

– Anh em đứng hai hàng bên mộ Biên!

Anh em tự động bỏ cuốc và rựa xuống đất, xếp hàng quanh mộ Biên. Tôi hô lớn:

– Tất cả! Nghiêm! Vĩnh biệt Biên? Chào tay… ? Chào…!”

Tiếng tôi hô vang giữa rừng, toàn bộ 11 anh em thẳng người, đứng nghiêm, nâng tay lên chào theo tiếng hô của tôi. Cả một khu rừng cây và tranh bỗng im lặng đến lạ kỳ. Mấy tên VC dắt toán tù lảng vảng ở đâu đó trong rừng tôi không biết. Có thể họ thấy nhưng làm lơ, có thể họ không thấy, song khi tôi quyết định làm lễ truy diệu cho Biên thì tôi bất chấp họ thấy hay không.

Tôi chấp nhận bị trừng phạt, tôi chấp nhận hậu quả của việc mình bày đàng cho anh em truy điệu Biên. Và đó là những giây phút thiêng liêng nhất trong chuỗi đời tù tội của tôi dành cho một anh em cùng trường, cùng hoàn cảnh nhưng hẩm hiu và oan nghiệt hơn tôi. Tôi cũng khó mà quên được những phút giây bỏ Biên lại trên rừng Kà Tót khi quay lưng cùng anh em trở về trại. Nhìn lại mô đất Biên nằm bên dưới, tôi đau xót, cho Biên và cho cả anh em chúng tôi. Cái hoang lạnh, lẻ loi của núi rừng thật ghê rợn.

Đến khoảng cuối tháng 8/1975, toàn trại bất ngờ được báo nghỉ lao động buổi sáng. Linh tính có một biến chuyển gì đó, hên, xui gì không biết. Thình lình lệnh chuyển trại được ban ra. Tất cả anh em đều mừng, dù không biết sẽ đi đâu Đi về đâu cũng được, thoát khỏi địa ngục Kà Tót cái đã càng xa càng tốt.

Chúng tôi dắt díu, khiêng, cõng, dìu nhau rời trại hướng về liên tỉnh lộ số 8. Khi nhìn lại, dòng suối Kà Tót nước chảy trong veo thơ mộng trong những đêm trăng vẫn chảy, nơi anh em tắm giặt trầm mình để vơi bớt trầm luân, nơi Trần Bích Thành Thiết giáp mò nhặt những phiến đá đen tạc tượng Đức Mẹ… chúng tôi thấy người mỗi lúc một nhẹ đi khi xa dần nó. Tuy vậy cái cảm giác bỏ anh em, bỏ Biên lại hiện ra, đau xót, thê lương.

Khi rừng Kà Tót khuất chìm trong tầm mắt, tôi có cảm tưởng có những bàn tay vẫy gọi chia lìa trong rừng thẫm, của Biên và những anh em chịu ở lại muôn đời trên đất chết…

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

Chương 6

Ngay khi vừa qua khỏi cánh cửa, chúng tôi không còn nghe tiếng la hét nữa và tiếng chó sủa cũng xa dần; không còn lính SS nữa. Như là bị di động vì những lò xo vô hình, chúng tôi luôn luôn bước tới trước, Vừa đi ai nấy vừa đoán trong màu xám của bóng đêm, các con đường có doanh trại hai bên làm bằng gỗ và có cả những tòa nhà rất lớn tối om. Và rồi đoàn người dừng lại trước một cánh cửa được soi sáng bởi một ánh đèn đêm màu xanh. Hai người lực lưỡng nói tiếng Đức nhưng lại mặc quần rằn rện 1 cử động để chỉ cho chúng tôi đi vào. Sau chúng tôi, các tù nhân những toa khác dồn tới vì tất cả mọi người đều phải đi qua khung cửa hẹp nầy. Trước hết, đó là một căn phòng với nhiều ghế dài, móc áo và do một cửa khác chúng tôi đi vào một phòng tắm rộng mênh mông. Và như thực vật trời cho, nước bắt đầu chẩy xuống. Lúc ấy, chỉ còn nghĩ đến mỗi một điều, đầu ngửa ra sau, miệng há lớn đón cơn mưa rào quảng đại. Mỗi vòi bông sen, một màn lưới mỏng chẩy xuống vì tất cả mọi người không thể nào vào hết trong phòng, những thùng chứa dị dạng được sử dụng để tiếp tế cho những người khốn khổ, trong số đó có vài người chân đầy máu chỉ có thể tiến vào từng chút một. Những người khác đau đớn vì vết chó cắn và sau cùng có những người điên và người bệnh hoạn. Nhưng tất cả đều chỉ còn nghĩ đến một thứ khoái lạc tập thể mới: uống nước.

Trong bầu không khí kỳ dị nầy, người ta thấy nhiều người dìu bạn mình bị thương hay mê sảng và người khác cầm gào-mên chứa chất lỏng quí giá. Sự cao cả đi cạnh nỗi kinh khiếp.

Nỗi kinh hoàng đầu tiên được xoa dịu dần dần, mỗi người cố tĩnh trí lại và tập họp thành nhóm. Tâm trí trở lại từ từ, cơn mệt mỏi như biến mất. Tóm lại, chúng tôi chỉ khát. Một nhu cầu thú vật đã tạo ra thảm cảnh mà chúng tôi vừa sống trong ba ngày ba đêm. Tất cả băng thuộc trại Compiègne, được thêm đông vì các phần tử mới, hoàn toàn bình yên vô sự. Kỷ lục số nước được uống òng ọc vượt quá chục lít, trung bình là năm.

– Tôi, – Michael nói, – tôi chỉ bắt đầu nhận thấy mùi của chất lỏng khi uống gào-mên thứ tư, mỗi gào-mên chứa gần một lít. Và rồi khi bắt đầu gào-mên thứ năm, đột nhiên tôi buồn nôn.

Chúng tôi dơ bẩn đến nỗi không nhận ra mình trước một tấm gương soi. Lúc khởi hành ở Compiègne, chúng tôi còn là những người dân sự, mỗi người có y phục riêng và nhân cách riêng. Tại đây chúng tôi trông giống nhứ một bầy người múa rối xồm xoàm bị tháo rời từng mảnh. Trong đám đông hỗn loạn, nhiều linh mục mặc áo dòng xuất hiện thật trái cựa. Một trong số đó, một tu viện trưởng trẻ tuổi mang bộ mặt bê bết máu. Vì muốn giúp một người bạn xuống toa xe, ông đã nhận nguyên một báng súng vào trán. Và người bạn nầy lẽ ra cần, được dìu đi, lại phải dìu lại ông bởi vì ông bị đánh bất tỉnh. Nước đã giúp ông ta hoàn hồn một chút, nhưng ngã mình xuống một chiếc ghế dài, hai tay ôm đầu, ông ta tự hỏi không biết có phải mình ở trong phòng đợi của “Địa ngục” “chăng.

Michael luôn luôn đi dọ hỏi tin tức, đã tìm cách nói chuyện với một công nhân phục dịch trong trại nầy. Lập tức một nhóm người tập họp lại vì tất cả mọi người đều tự hỏi, không phải là không lo lắng, người ta sẽ làm gì chúng tôi. Tôi nghe anh ta nói với giọng khàn đặc:

– Tôi cũng là tù nhân như các anh, tôi là dân Đức, tất nhiên… các anh nghĩ gì? Không phải tất cả đối lập chúng tôi đều bị chết hết… còn nữa… tôi đã bị nhốt ở đây mười năm rồi..

Chúng tôi chân thành uống những lời anh ta nói, và họ đa số không hiểu tiếng Đức năn nỉ xin chúng tôi địch dần dần. Người kia, bị vô số câu hỏi tấn công, luôn luôn trả lời, tỏ vẻ rất thỏa dạ vì là đối tượng của một sự chú ý như thế:

– Với các điều kiện hiện tại, người ta không còn chết ở trại Buchenwald nữa, trừ ra những người bệnh ngặt. Thời gian nầy rất tốt… Bây giờ, đây là một nhà dưỡng bệnh thật sự, các, anh sẽ thấy ở đây có đủ sắc dân, đúng, đúng, có cả người Nga nữa. Tiến đến gần hơn chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy anh ta an nói tự do ở đây, anh ta trả lời: “Quân SS đưa các anh cho đến cửa ngoài, ở đây, bên trong toàn trại được các tù nhân chính trị cai quản. Chắc chắn là phải làm việc, nhưng các anh tha hồ nhận quà mà thân nhân có sức gởi cho và viết thơ mỗi tháng một lần. Nhiệm vụ của tôi là mơ ước và cả một hệ thống sát trùng. Vả lại lát nữa các anh sẽ đi qua đó. Cái gì vậy, một tu sĩ?

Anh ta trông thấy ông linh mục bị thương ở trán và tò mò quan sát y phục của nhà tu. Rồi, không có vẻ gì có ác ý, nhưng với giọng chế riễu:

– Sao, Cha còn tin chớ?

Vị đại diện Tòa Thánh ngước đầu nhìn chăm chú người đối thoại và nói với giọng chậm rãi:

– Tại sao không? Hơn bao giờ hết!

Anh kia phá lên cười và bỏ đi, tôi nghe anh ta lẩm bẩm:

– Nhất định là tôi không hiểu nổi.

Những tin tức mà anh bạn tù vừa cho biết có vẻ làm thỏa mãn và chúng tôi tò mò chờ đợi diễn tiến tiếp theo của các biến chuyển. Đã gần bốn giờ sáng. Một chuyển động đưa đám đông về phía bức tường của gian phòng để áo, nơi đó có một ghi-sê nhìn ra một hành lang mở rộng. Hơn một chục vẻ mặt còn thanh niên xuất hiện và chúng tôi nhận thấy những chiếc nón dã chiến của binh sĩ Nga với cái chóp nhọn và hai cánh tai buông thõng. Họ nhìn mặt chúng tôi như những con sóc nhỏ và chỉ nói hai tiếng: “Dai chleb” (cho bánh mì). Michael gốc Nga, lúc nầy tỏ ra có ích hơn bao giờ hết. Một cuộc nói chuyện thân mật diễn ra, chúng tôi chỉ nghe toàn là các âm r. Sau cùng, bị thúc giục khắp phía, Michael thông dịch:

– Họ xin bánh mì và khnyên chúng ta có gì nên ăn hết, vì lẽ chúng ta phải trút bỏ hết áo quần đồ đạc để qua một cuộc tẩy trùng tổng quát sắp sửa bắt đầu ngay. Họ nói hiện nay trong trại có chừng 20.000 tù nhân đủ mọi loại quốc tịch và trong đó có cả người Pháp nữa.

Chúng tôi còn giữ lại bánh mì được phân phát tại Compiègne. Trong thoáng chốc, cả một núi những mẩu bánh mì kèm theo các thực phẩm khác được đưa qua ghi sê có vẻ quá nhỏ hẹp. Hàng chục tiếng “Spassiba”(cảm ơn) lập đi lập lại rập ràng trên các nét mặt rạng rỡ đáp lại “quà tặng của chúng tôi. Một lát sau là bắt đầu một loạt hoạt động giống như trong các lò sát sinh ở Chicago, nhưng với một ý nghĩa khác, may mắn thay cho chúng tôi.

Trước hết, từng nhóm nhỏ, sau khi đi qua một chiếc sân nằm ngay trung tâm của tòa nhà vĩ đại, chúng tôi tiến vào một gian phòng trong đó các tù nhân cũ lấy tất cả đồ đạc của chúng tôi. Tất nhiên là phải cởi hết áo quần, trần truồng. Họ để tất cả mọi thứ vào trong một gói, ghi tên trên một tấm phiếu danh mục tất cả đồ vật quí: tiền bạc, đồ trang sức v..v… các thứ sau được bỏ vào trong một phong bì đặc biệt.-Hubert tuyệt đối muốn giữ lại một tờ giấy một ngàn quan, nên đã nhét nó vào một nơi tự nhiên nhất!

Sau đó, toán nhỏ tù nhân ấy, lúc nầy trần như nhộng, đi qua một gian kế có vào khoảng 20 thợ hớt tóc chờ sẵn với các tông-đơ điện, họ cắt tất, từ dưới lên trên. Lẽ tự nhiên là sau chúng tôi sự việc lại tiếp diễn bởi vì tất cả mọi người đều phải đi qua các giai đoạn biến dạng nầy.

Khi đến phiên tôi, tôi đối diện với một thanh niên tranh dấu Tiệp khoảng hai mươi tuổi. Anh ta biết nói tiếng Đức và nhờ đó tôi được biết hớt tóc là một trong các địa vị tốt đẹp nhất trong trại.

– Sao, người Anh và Mỹ đã đổ bộ lên đất Pháp rồi hả? Anh ta hỏi tôi, trong khi chiếc tông đơ của anh thọc lét vào nách tôi. Tỏ ý tiếc, tôi phải nói với anh ta là tin ấy sai lầm, nhưng nói thêm, chuyện đó cũng sắp xảy đến.

Tiếp theo là một phòng tắm, nhỏ hơn phòng chúng tôi được uống nước hồi đầu hôm nhiều. Bên phải một chiếc bể tắm vĩ đại được gắn liền xuống đất và vào vách tường, trong đó chứa một chất lỏng màu xanh, đang mời chúng tôi nhào vào, đúng hơn, một tù nhân người Ba Lan khổng lồ đứng sẵn đó và anh ta cho chúng tôi hiểu là phải trầm mình xuống hoàn toàn, kể cả đầu, đối với những người ngần ngại, anh ta có nhiệm vụ không để cho họ đợi chờ. Khi chừng 20 người đã lần lượt nhúng mình vào chất sát trùng hơi làm xốn mắt một tí ấy, một công nhân cho nước trên bông sen chảy sau khi phát cho mỗi người một nhúm bột sà bông. Được hớt tóc, sát trùng, tắm rửa xong, chúng tôi đi thành hàng nối đuôi nhau lên tầng thứ nhất và quang cảnh những người đủ hạng tuổi, đủ kích thước, di chuyển trần truồng qua các hành lang và cầu thang thật là bi bài. Trong một phòng lớn, đằng sau các quầy, xứng đáng là một cửa hàng vĩ đại, hàng đống quần, áo vét sơ mi quần cụt, áo len, sẵn sàng cấp phát cho chúng tôi. Một tù nhân làm việc, ở đó, liếc nhìn khổ người chúng tôi và trong niềm hạnh phúc nhỏ bé, sự may mắn, chúng tôi nhận được một gói. Cũng giống như khi hớt tóc, toàn là chuyện bất ngờ; một chiếc nón kết hay một chiếc mũ không ai biết đã được sản xuất tại đâu. Dưới chân, một đôi thiết hài thắt chặt vào nhượng chân. Áo quần được phát ra thì sạch sẽ nhưng vá chằng chịt khắp tứ phía.

Một người Hòa Lan thuộc nhóm nhân viên giải thích rằng, áo quần của chúng tôi đã được sát trùng rồi sắp xếp trong một nhà kho, từ đó, theo lý thuyết, chúng sẽ được lấy ra hoàn trả, khi chúng tôi được phóng thích.

Trái lại, áo quần của những người chết sẽ đưa vào chỗ dự trữ để phát cho người mới đến. Không ai được giữ lại đồ đạc riêng của mình.

Anh ta cũng hỏi chúng tôi làm nghề gì và nói, trước sự tò mò của chúng tôi:

– Ở đây, những tù nhân chính trị Đức cai quản bên trong trại tập trung. Những công nhân có ưu thế rõ rệt. Lát nữa các anh sẽ qua nhiều câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp của mỗi người. Tốt hơn nên khai mình là thợ luyện kim khi hơn là Tiến sĩ Triết học!

Những điều nghe thấy rất được chúng tôi chú ý, nhưng nhiều người đã lo sợ vì các tiết lộ ấy.

Dẫu sao trong hiện tại; không còn phải sợ hãi một cái chết dữ dội nữa, và chúng tôi có cảm giác rõ rệt là họ cần nhân công cho những công việc lớn lao. Tất cả bây giờ là phải lòn lõi vào thật lẹ, bởi vì ngay cả ở địa ngục cũng phải có chỗ sơ hở!

Vụ ăn mặc đã xong, từng người chúng tôi đi qua nhiều bàn giấy, tại mỗi bàn, một câu, hỏi đặt ra liên quan đến huyết thống của chúng tôi. Một trong những câu hỏi đó là: “Địa chỉ thông báo trong trường hợp bị tai nạn”. Nói tổng quát, tất cả các hoạt động nầy, không kể nơi chốn và tuổi tác của một vài người, có thể coi như hoạt động của một hội đồng tuyển mộ.

Một chuyên viên cũng có mặt tại đó. Ông ta hỏi về tất cả những gì có liên quan đến sức khỏe của cơ thể mỗi người. Mọi công chuyện đều được thực hiện với phương pháp hoàn toàn khoa học.

Sự cấp phát một số thứ tự để may trên ngực phía trái ra trên ống quần bên phải đã hoàn thành thủ tục tiếp đón. Khi đến phiên tôi đi ngang qua người có nhiệm vụ phân phối các con số, tôi chú ý con số dành cho tôi đã sẵn sàng từ trước. Trên hai mảnh vải trắng tôi đọc: 44.809. Một tia nhìn buồn rầu hướng vào mặt tôi, và khi tôi đón lấy con số, người quan sát tôi nói: “từ nay con số ấy là tên của anh”.

Phần đông các điều tra viên đều là người Tiệp Khắc biết ít nhiều tiếng Pháp. Vì đa số là người trí thức, họ tỏ ra đứng đắn rất dễ chịu, công việc của họ ở tòa nhà nầy là xếp hạng và sửa soạn áo quần, nhưng khi có công-voa quan trọng đến, họ sẽ đến giúp các đồng nghiệp tại “Poliitsche Ableilung” (Ban điều tra chính trị) nơi đây. các tù nhân có thể chứng minh biết được nhiều thứ tiếng sẽ được phái đến làm việc như thơ ký bàn giấy. Người biết nhiều thứ tiếng, và lẽ tất nhiên, người nào ngoài tiếng mẹ đẻ còn biết thêm tiếng Đức, có hy vọng lớn lao được nhận một trong những công việc nầy.

Như thế, hoàn toàn bị biến đổi, chúng tôi bước ra để đi về phía các dãy trại, mà chúng tôi sẽ sống trong đó. Tòa nhà mà chúng tôi vừa rời khỏi gọi là Effekten Kammer (kho áo quần). Nơi đó có trang bị vòi bông sen, nhiều phòng để sát trùng và một nhà kho có thể giữ đồ vật của vài chục ngàn tù nhân. Với màu sắc tăm tối, nó là kiểu mẫu cổ điển của một trại binh Đức. Gần đó, một kiến trúc đồng kiểu được dùng làm nhà bếp vĩ đại, và giữa hai khối vật liệu đó, trong một khoảnh đất giống một cái sân mọc đầy có còm cõi như bị bỏ hoang; đứng sừng sững, đường bệ, và cô độc, một cây sồi mà dưới gốc đã từng được Goethe, cách đây gần một trăm năm mươi năm, vốn ở gần đó, ở Weimar, thường đến ngồi suy tư.

Phải chăng là do số mệnh trớ trêu, hay là do ý muốn của Himmler 2, lãnh tụ SS tối cao, một trại tập trung có nhiệm vụ bóp nghẹt đời sống tinh thần, đã được quyết định xây cất tại một nơi từng được một trong các bộ óc vĩ đại nhất Đức Quốc, nếu không muốn nói là nhất thế giới đã thường hay đến trầm tư?… Nhưng đổi vtâ chúng tôi đây không phải là chỗ để triết lý, chúng tôi đến đây lúc 2 giờ sáng và lúc bước ra, là 2 giờ chiều. Từ khi nhảy xuống tàu hỏa, trong bụng chúng tôi chỉ có mấy lít nước.

Chúng tôi đi qua các lối đi nhờ có lề đường thô sơ đây đó, và với đôi thiết hài trong chân chúng tôi không thế nào theo kịp người hướng dẫn. Sau khi gót chân bắt đầu đau nhói, chúng tôi được đưa vào một dãy trại được tiêu chuẩn hóa giống như trong bất cứ trại tù binh nào. Hoàn toàn bị chi phối bởi những gót chân đau đớn, chúng tôi không có thì giờ quan sát có gì xảy ra chung quanh trong lúc đi qua khu vực được gọi là tiểu trại.

Khu vực nầy, gồm có hơn mười dẫy nhà được gọi là “khối” và được đánh số, nằm bên dưới của một triền đất nghiêng trên đó trại tập trung Buchenwald được xây dựng. Đó là trú khu của những người mới đến để chịu đựng thời gian kiểm dịch bốn mươi ngày mà chúng tôi vừa được biết các phương thức.

Ngay khi bước vào “khối” dành cho chúng tôi và mang số 62, một tù nhân phát cho chúng tôi mỗi người một chiếc mền nhà binh và từng nhóm tám người chúng tôi đi về phía chỗ nằm. Mỗi “khối” được chia làm 10 hoặc 12 phần gọi là “ngăn mỗi “ngăn” lại gồm có 1 tầng dưới và 2 tầng gác, mỗi tầng lại được phân ra làm 2, chứa 48 người trong tình trạng bình thường nghĩa là khi không có sự ứ đọng tù nhân nội trú. Mỗi người có chỗ vừa nằm duỗi dài, và nếu giữa tầng gác thứ nhì và trần nhà còn có một khoảng trống thì các tầng dưới phải di chuyển bằng cách bò trong bụi bặm và bóng tối, vì giữa hai tầng khoảng cách không quá bảy mươi lăm phân. Tất cả đều bằng gỗ, có hai đệm rơm cho mỗi tám người. Chúng tôi mệt nhoài đến nỗi ngả xuống một cách yên lành đối với chúng tôi là cả một sự giải thoát, nhưng cơn đói đã kềm kẹp chúng tôi. Chúng tôi hy vọng được phát một thứ gì đó để ăn. Nhưng thay vì là thức ăn, chúng tôi nghe một hồi còi và người ta đọc cho chúng tôi một bài diễn văn.

Người diễn thuyết cũng là một tù nhân, bên cạnh số thứ tự trên ngực còn có một hình tam giác đỏ và một chữ N trên đầu cho biết quốc tịch của ông ta. Trong trường hợp nầy N là chữ đầu của Nederland (Pays Bas), vậy ông ta là người Hòa Lan. Ông ta nói tiếng Pháp khó khăn, tuy nhiên cũng đủ để hiểu được. Nhờ đó chúng tôi biết là sẽ ở đây chừng một tháng, một thời gian dùng để khảo sát chúng tôi. Trong thời gian đó, chúng tôi sẽ được chích một loạt sáu mũi thuốc trừ thương hàn, qua một cuộc thẩm vấn khác, và một cuộc khám sức khỏe quyết định với một y sĩ trưởng SS. Sau đó mới được chỉ định vĩnh viễn vào một đội lao tác, và sẽ được qua ở trại lớn, khang trang hơn nếu ở đó còn chỗ. Chúng tôi phải thức dậy lúc 4 giờ 30 sáng và để mình trần, đi qua sân để đến chỗ rửa mặt. Cà-phê hay là một thứ chất lỏng được gọi như vậy và đôi khi là nửa lít cháo lạt lẽo vô vị, sẽ là bữa ăn sáng của chúng tôi. Phần bánh mì dành cho ca ngày cũng được phát vào buổi sáng. Một lít súp được phát cho buổi ăn trưa, và buổi chiều lại cà-phê y như buổi sáng. Một lóng Margarine và tùy theo ngày, một muỗng mứt hay phó mát được phát cùng với bánh mì và thỉnh thoảng với một lát xúc xích. Chương trình trong ngày được bổ túc bằng công tác chùi rửa, nhiều loại tạp dịch bên ngoài và để chấm dứt, cuộc điểm danh.

Chúng tôi cũng biết là mỗi khối sẽ được điều khiển bởi một viên chỉ huy một “Schreiber” (thư ký) và hơn mười “Stubendienst” (phụ tá) mà diễn giả giới thiệu với chúng tôi, tất cả những người nầy đều là người Slaves (Tư Lạp Phu) trừ ra ông ta.

Mỗi người trong nhóm điều khiển có một chuyên môn riêng, chẳng hạn trường hợp ông ta, đó là công tác bảo vệ sức khỏe, một người khác là thợ hớt tóc, một người thứ ba, phụ trách súp, người thứ tư, bánh mì và cứ thế tiếp tục. Tổng quát, họ cai quản cả 500 người chúng tôi. Ông ta yêu cầu mỗi ngăn đề cử một người có trách nhiệm để phụ giúp vào công việc phân phối thực phẩm và cho các công việc tạp dịch đã được nói ở trên được dễ dàng. Tốt hơn hết là một người biết nói tiếng Đức vì được thông dụng ở đây. Diễn giả cũng bảo trước là mỗi “khối” có một Fuhrer, một tên SS đặc trách đích thân điểm danh vì y chịu trách nhiệm về số lượng tù nhân trước ông Lager Fuhrer (Trưởng trại tập trung). Ông ta nó tiếp đến vấn đề kỷ luật phải tôn trọng và nhất là vấn đề vệ sinh rất khắt khe. Thật vậy, khắp nơi chúng tôi đi qua, rất nhiều bích chương được dán trên đó chúng tôi đọc thấy qua nhiều thứ tiếng: “Một con rận = thần chết” với hình một con rận to tướng.

“A! Diễn giả nói tiếp sau một lúc ngừng nghỉ khi nào các anh cần hỏi thăm tin tức, tôi tên là Léo. Vả lại, ngay bay giờ các anh cũng có thể đặt câu hỏi”. Một người, có lẽ đã chờ đợi sự cho phép nầy từ lâu, vì có giọng hỏi cất lên:

“Công việc của trại Buchenwald gồm có những gì?” Đây là điều mà tất cả chúng tôi đều tha thiết muốn biết. Nằm vắt vẻo trên giường giống như các lồng nuôi thỏ không có lưới chắn, những cái đầu thò ra khỏi chăn vươn lên, và chúng tôi lắng nghe một cách kính cẩn.

“Sau thời gian 40 ngày, có anh sẽ được phải đến một biệt đội. Người nào có nghề tay chân liên quan đến sự sản xuất kim loại sẽ được phải tới công xưởng nằm đầu trại tập trung, đó là những người gặp vận hên. Được ở suốt ngày trong nhà, họ sẽ làm đủ thứ chuyện theo nghề chuyên môn và vĩnh viễn được ở lại đấy làm việc. Những người khác – ông ta ngần ngại trước khi nói tiếp, như là có gì trầm trọng phải thú nhận, – những người khác thì sẽ làm việc ngoài sân, hầm đá, đường sắt, đường lộ, tất cả những gì ở bên ngoài, và công tác chuyển vận định kỳ sẽ có những chuyến công-voa đi đến các công trường, mỗi nơi đó lại trở thành một tiểu trại lệ thuộc Trại Buchenwald. Có đủ mọi thứ: mỏ muối, nhiều loại nhà máy, tất cả những thứ đó cũng khá tốt. Tuy nhiên khổ nhọc nhất là ở Dora. Đó là một nhà máy được lập dưới lòng đất, đang được xây cất, và chính nơi đó cần nhiều nhân công nhất. Nó là một quái vật nuốt người khổng lồ”. – Và như muốn bù trừ lại, ông ta nói thêm:

“Tuy nhiên đừng có lo, các anh còn một tháng chờ đợi nữa và chiến tranh còn tiến triển”.

Ông ta còn muốn nói thêm, nhưng một hồi còi báo hiệu giờ điểm danh. Mọi người đều leo xuống đứng vào lối đi chính giữa chia “khối” ra làm hai. Chúng tôi được đặt từng toán năm người và sau khi được đếm kỹ càng, viên chỉ huy khối và viên thư ký đến nhìn mặt chúng tôi. Người đầu tiên là một người Đức miền Sudètes, to lớn, vẻ mặt lạnh lùng ăn mặc ấm áp với một áo khoát ngắn và giày bốt. Người thứ hai là người Nam Tư. Hai giờ sau khi đã được đem chúng tôi còn phải đứng, không thể cử động, không những chỉ vì không có chỗ mà còn vì lý do đơn giản là bất cứ lúc nào tên SS cũng có thể xuất hiện đột ngột. Sau cùng, y đến, tay cầm cuốn vở. Viên chỉ huy khối sau khi hô chúng tôi đứng nghiêm, trình diện nhân số với y. Y đếm, ghi chép và bỏ đi, nhưng như vậy chưa phải là xong. Tất cả các tên SS có người chỉ huy khối đi kèm lại hội họp trong văn phòng trung ương sau khi công tác kiểm soát chúng tôi xong, và bắt đầu cộng tổng số. Nếu kết quả tốt, cuộc điểm danh chấm dứt sẽ được loan báo bằng máy phóng thanh. Trong mỗi dãy trại, một loa phóng thanh được mắc vào phòng của viên chỉ huy khối, và chỉ sau khi lệnh Hay được ban hành, chúng tôi mới được giải tán.

Lập tức mỗi “ngăn” chỉ định một người trách nhiệm. Michael là người được chỉ định trong “ngăn” của anh, và Ramelin ở chung với tôi, đề nghị tôi đại diện cho “ngăn”. Tuy nhiên, trong “ngăn” chúng tôi lại có cả ông tu viện trưởng bị thương trên đầu. Nhận thấy ông ta biết tiếng Đức, tôi khuyên ông nhận nhiệm vụ nầy vốn là nhiệm vụ của một vị lãnh đạo tinh thần. Ông ta nhận lời. Đói và chân cẳng tê liệt, chúng tôi nằm duỗi ra, nhưng một ngạc nhiên khác lại dành cho chúng tôi. Nếu không có rận, thì đệm rơm và sàn ván đầy cả bọ chét và chúng không bị thất nghiệp, đồ mất dạy. Chúng tôi nghĩ rằng người ta bỏ bọ chét vào đó để ngăn không cho chúng tôi ngủ.

——————————–

1Đồng phục của tù nhân.
2Đọc! “Hitler và tên ác quỷ SS Himler” – Sông Kiên xuất bản.