Charlie ngày ấy & Charlie bây giờ

baotreonline.com

Trần Vũ

November 8th, 2025

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Kỳ 3

Ngày 10 tháng 4-1972, tình hình vô cùng nguy ngập trên căn cứ Charlie. Trung đoàn 52 là Trung đoàn Tây Tiến trong thơ Quang Dũng tràn ngập cao điểm C1 của Trung úy Thinh. Đại đội 111 phải rút lên C2 nơi đặt  Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 11 Dù. C1 ở giữa C3 (Đại đội 113 của Đại úy Hùng  mập) và C2 (Đại đội 112 của Đại úy Hùng Móm + Đại đội 114 của Trung úy Phan Cảnh Cho + Đại đội Chỉ huy 110 của Đại úy Nho), có nghĩa là Tiểu đoàn 11 Dù đã bị xé đôi. Sáng 11 tháng 4, Đại đội 112 cố gắng tái chiếm C1 nhưng không thành. Ngày 12, Trung tá Bảo tử trận, ngày 13 Trung úy Thinh, Trung úy Khánh, Chuẩn úy Ba, Trung sĩ Lung tử trận… Lễ thiêu sinh bắt đầu.

Trong phần trước của hồi ký, Trung úy Nguyễn Văn Lập đã giận dữ quở trách Trung tướng Ngô Du tư lệnh Quân đoàn II đã không cho triệt thoái, khiến Tiểu đoàn 11 Dù liên tục hứng pháo vô ích vì không thể thực hiện nhiệm vụ vừa kiểm soát quốc lộ 14 vừa quan sát gọi phi pháo hủy diệt quân xa Bắc Việt trên đường mòn Hồ Chí Minh ven biên giới sát ngay cạnh; cũng không thể ngăn Sư đoàn 10 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam uy hiếp Tân Cảnh (Dakto).

Yếu kém của Quân lực VNCH không ở dàn sĩ quan trung cấp mà ở hàng tướng lĩnh. Những tướng tài như Đỗ Cao Trí, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Phan Trọng Chinh… đếm trên đầu ngón tay. Số đông còn lại là các vị tướng xuất thân quân đội Pháp ít tác chiến chỉ đóng đồn, chưa đánh trận lớn, rồi tự phong chức cho nhau sau các cuộc đảo chánh. Đại tướng Trần Thiện Khiêm đánh trận nào mà lên Đại tướng? Trung tướng Lê Nguyên Khang đánh những trận nào trước khi làm tư lệnh TQLC? Các Trung tướng Trần Văn Đôn, Hoàng Xuân Lãm, Lữ Lan chưa nhiều trận mạc. Vì sao Đại tướng Cao Văn Viên ghi danh theo học Văn Khoa giữa lúc chiến tranh sôi sục? Ở cương vị Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, ông dư thời gian vì ít công việc hay sao? Hay mộng cử nhân văn chương lấn át bận tâm chiến trường? Chương trình huấn luyện của các trường võ khoa Nam Định, Huế, Đà Lạt ban đầu có 9 tháng, tập trung đào tạo Trung đội trưởng nhưng không dạy về học thuyết chiến tranh hay thuật hành binh và đặc biệt không phân tích các trận đánh trong chiến tranh Việt-Pháp tuy cùng một kẻ thù, cùng dàn tướng lĩnh Cộng sản đó đang tấn công Miền Nam với cùng một phương pháp, cùng chiến thuật, chiến lược. Trung tướng Ngô Du, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Đại tướng Cao Văn Viên thụ huấn chương trình 9 tháng này. Các tướng lĩnh Cộng sản ngược lại rất dầy dạn chiến trận sau 9 năm đánh nhau với Pháp.  

Charlie, là sai lầm của suy nghĩ tin có thể ngăn chính quy Bắc-Việt bằng vài tiểu đoàn Dù trên vài mỏm núi.

[Trần Vũ]

Nguyễn Văn Lập

Những ngày hôm sau địch tiếp tục pháo vào căn cứ, và sau loạt pháo là đánh thăm dò tiếp Ðại đội 114. Liên tiếp trên một tuần, 114 bị tấn công nhưng mức độ chỉ vừa phải, và không lần nào địch vào được sát tuyến, sau mỗi lần tấn công thất bại, đêm về là chúng bò lên lấy xác, và Ðại đội 114 cũng không buồn bò ra ngoài thu chiến lợi phẩm. Sau mỗi đợt pháo kích, căn cứ càng xơ xác không còn nhìn ra hình dáng nữa, từng tấc đất bị xới lên, mùi thuốc súng nồng nặc khắp nơi, cây cối bị khói ám đen thui và bị mảnh đạn pháo chém ngang dọc ngả nghiêng, hầm hố tanh banh, tôi có cảm tưởng một con kiến cũng không sống được, những cuộn băng vết thương văng tung tóe dính trắng xóa trên các ngọn cây, địch đã điều chỉnh được toàn bộ căn cứ C2, pháo vô là trúng phóc. Những hàng dây kẽm gai cao ngang ống chân ngoài tuyến Ðại đội 114 giờ biến đâu mất dưới cả hai làn pháo của ta và địch, có thể nói là nằm lăn xuống đồi cũng không còn vướng một cọng kẽm nào. Những ngày đầu chúng chỉ bắn bằng đạn nổ, những ngày sau thì xen vào đạn delay tức là đạn chui vào lòng đất hơn một mét rồi mới nổ, không có hầm hố nào chịu nổi cả, thế mà ngoài phòng tuyến anh em Dù vẫn sống, vẫn thở, những người chết và bị thương thì vẫn nằm chung với anh em dưới chiến hào, mùi thuốc súng và đạn pháo đánh át đi mùi tử khí, nội hơn một trăm anh em bị thương không được di tản cũng là gánh nặng tâm lý đè lên tinh thần chiến đấu của người lính. Nhưng đây là Nhảy Dù, một dân chơi thứ thiệt, dám cân hồ tất cả giới giang hồ khét tiếng sinh Bắc tử Nam thì còn coi cái chết vào đâu… Là dân pháo binh nhưng tôi cũng ngán kỷ luật chiến đấu của Nhảy Dù, về Sàigòn chịu chơi tới đâu thì chịu, chứ ra trận có lệnh là phải tiến, không có lệnh lui thì… mẹ kiếp, trận này nằm đây chịu chết để vinh quang cho những tên không biết mẹ gì là chiến thuật đã trói tay chúng tôi, tận diệt.

Chân dung tưởng niệm Đại tá Nguyễn Đình Bảo với vũ khí Việt cộng tịch thu trưng bày trên sân vận động Hoa Lư, ĐaKao.

Ngày 6/4/1972, địch tấn công căn cứ Delta của Tiểu đoàn 2 Dù (Thiếu tá Lê Văn Mạnh) ở phía Nam nhưng bị đánh bật ra để lại hằng trăm xác, không chừng Tiểu đoàn 11 Dù cũng được lệnh phải đợi địch đánh để làm giống như vậy chăng, tụi nó đánh Ðại đội 114 cả tuần rồi mà, chết quá trời mà đâu có lên được. Ðịch lại pháo kích, nằm dưới hầm nghe đạn pháo, có những trái đạn delay rơi sát hầm, nổ tung dưới lòng đất kêu ục ục, đất chuồi xuống, cái chết đang từ từ đến với tôi với tất cả nỗi phẫn nộ, đúng là sinh nghề tử nghiệp, pháo nó thì chết vì nó pháo là công bằng sao, tôi đang bị trói tay mà. Sau dứt mỗi loạt pháo, tôi chạy vội ra tuyến quan sát, những người lính vừa tu bổ cộng sự chiến đấu vừa đưa mắt nhìn tôi dò hỏi, như khẩn khoản tôi nói một lời gì, tôi biết họ muốn hỏi gì nên cũng chỉ biết hất mặt về hướng đông, đường ra quốc lộ 14, nếu bị địch tràn ngập.Ngay lúc đó thì có một người lính giơ tay ngoắt tôi, xong chỉ về ngọn đồi xéo về hướng đông nam, tôi cúi mình chạy đến, cách đó khoảng 500 mét đường chim bay, bóng một tên lính Bắc Việt in trên nền trời với tất cả thách thức, như vậy là cả ba hướng đông, tây, và nam đều bị địch bao vây, vậy còn hướng bắc, gần nhất với ngọn đồi Charlie của Ðại đội 111 (Trung úy Thinh), chưa biết thế nào, không đánh được thằng 114, tụi nó dám chơi thằng 111 sao, chỉ có phía tây mới có thể đánh lên 111 mà lại là là dốc đứng nữa…Tôi gọi Hạnh chạy vào hầm báo cho Trung úy Cho biết và xách máy PRC-25 gọi 415 (Căn cứ 5) bắn, điều chỉnh trúng mục tiêu rồi cũng chả ăn nhằm gì, dứt loạt đạn lại thấy nó đứng lên chống nạnh, như vậy là tụi nó đã khoét núi nằm sâu trong đó rồi, đâu có móc ra được. Không chừng thằng này là đề-lô, tôi chỉ còn biết xin 415 bắn cấm chỉ khi có thể.

Những ngày kế tiếp, lương thực cạn dần, có dấu hiệu địch sẽ đánh Charlie vì Ðại đội 111 nằm riêng rẽ còn thằng 113 thì nằm kế bên pháo binh khó đánh, và chúng tôi cũng không còn xuống dưới chân 111 lấy nước được. Hai trung đoàn địch (Trung đoàn 52 Tây Tiến và 64 Quyết Thắng cùng một tiểu đoàn của Trung đoàn 48 Thăng Long) quân số gấp 8 lần, luân xa chiến, tiền pháo hậu xung gần nửa tháng cũng không chơi được Ðại đội 114, nên thế nào tụi nó cũng tìm hướng khác và mục tiêu thì chỉ có Charlie của 111. Ngày 9/4/1972, địch pháo dữ dội Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 11 và mưa pháo xuống Charlie xong bắt đầu tấn công 111. Ðại đội 111 chống trả quyết liệt, xác địch đầy sườn đồi. Khu trục rồi trực thăng võ trang vào vùng trút xuống hàng tấn bom đạn quanh căn cứ. Sau nhiều đợt xung phong không thành, địch lại rút lui để lại hằng trăm xác chết.

Lúc này thì địch đã công khai di chuyển quân xa ban ngày, tiếng xích sắt xe tăng, tiếng xe Molotova có thể nghe thấy sau những loạt pháo. Bằng mọi giá chúng phải nhổ cái gai Charlie dầu có hy sinh cả hai trung đoàn này thì còn những trung đoàn khác sẵn sàng vào trận để lấy tiếng trên bàn hội nghị. Không chơi được Song Kiếm Trấn Ải thì còn gì là danh hiệu “Quyết Thắng” của chúng đây. Vừa đánh chúng vừa điều quân, phía đông tức là đường rút của 11 Dù, tôi đã quan sát được vị trí bọn chúng đã đặt hai cây phòng không, một cây 12 ly 7 và một cây 37 ly. Hướng đông địch đã công khai để lộ vị trí để bắn máy bay và uy hiếp tinh thần 110 (Đại đội của Ðại úy Nho). Máy bay yểm trợ cho Charlie thì phải bay từ hướng bắc hoặc hướng nam rồi đánh một vòng về hướng tây để thả bom, xong phải chúc mũi về hướng đông ra thẳng quốc lộ 14, địch đã đặt hai cây phòng không tại đây chặn đầu khiến cho máy bay không dám xuống thấp, thỉnh thoảng chúng còn nhắm xuống Charlie trực xạ. Mỗi lần máy bay vào vùng là tiếng phòng không từ các hướng nổ đầy trời, và ít nhất cũng cả chục cây phòng không giờ đây đã dàn trận. Pháo binh của ta thì gần như bị tê liệt vì bị pháo cấm chỉ của địch, cả Tiểu đoàn 11 cũng thấy được nhiều chiếc Chinook từ phi trường Phượng Hoàng tải đạn pháo binh vừa đến Yankee thì bị pháo và phòng không từ hướng đông bắn qua phải trở lui, ngưng tiếng pháo thì lại bay vào rồi lại bị bắn không đáp xuống được, cứ như vậy cả ngày. Tôi đã gọi các vị trí pháo bắn hai cây phòng không này hoài mà cũng chẳng ăn thua gì. Cả nửa tháng nay chúng đã đào hầm trong núi đợi giờ quyết tử dứt điểm 11 Dù, dầu có bắn trúng cây này thì chúng cũng sẽ điều cây khác đến. Mấy chiếc khu trục đã trúng đạn phòng không, còn trực thăng võ trang của ta hay Cobra của Mỹ là miếng mồi dễ lãnh đạn phòng không nhất nên khó có thể vào vùng.

Ðến giờ phút này thì đã rõ thế nào bọn chúng cũng dứt điểm Charlie, sáng ngày hôm sau, Ðại đội 111 bị pháo thật nặng nề, dứt đợt pháo, bộ binh địch tràn lên, pháo binh của ta cũng bị cấm chỉ không yểm trợ được, định mệnh đã dành sẵn cho 111, bị tràn ngập nhưng thiệt hại vừa phải, 111 phải rút về nhập chung Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Ðộ nửa tiếng sau, Trung úy Thinh Ðại đội trưởng 111 chạy vào hầm chúng tôi, Trung úy Cho hỏi, Thinh kể lại:

– Việt cộng tràn lên là lo kiếm mấy cái ba-lô của ta, chúng chụp được ba-lô của tôi, tôi buông ba-lô chạy, tụi nó không đuổi theo, có lẽ tụi nó đói lắm nên lên được là lo kiếm ăn, chúng lục ba-lô của ta, khui đồ hộp ra ăn tại chỗ (thường là khi rút lui, ta mang theo ba-lô trên lưng đề phòng bị bắn phía sau). Ngay lúc đó thì Trung úy Khánh cũng chạy vào hầm, tôi hỏi thì Khánh cũng nói bị y như tình trạng của Thinh. Tôi hỏi tiếp vậy súng của mày đâu. Khánh kéo cái la bàn M1 đeo nơi cổ ra nói tao chỉ còn có cái này. Tôi ôm bụng cười ngặt nghẽo làm mọi người cũng cười theo. Nửa tháng nay, tôi không thể nở nổi một nụ cười, giờ này ôm bụng cười ra nước mắt về cái chuyện tiếu lâm có thực này thật thoải mái. Việt cộng ngoài việc bị bỏ đói phải liều lĩnh hy sinh tính mạng kiếm từng lon đồ hộp của ta, chúng còn bị ép uống thuốc “Hùng Tâm” tức là một loại thuốc kích thích uống vào là hăng máu lên xung phong chẳng coi việc sống chết ra sao cả, chiến thuật biển người của chúng thường kèm với liệu pháp “hùng tâm” này. Cứ xem ảnh xác Việt cộng bị xích trên xe tank thì mới biết cấp chỉ huy của chúng dã man như thế nào.

Sáng ngày 11/4/1972, Ðại đội 112 được điều xuống chiếm lại Charlie (C1) đem theo cả đại bác không giựt 90 ly trang bị riêng cho Nhảy Dù để bắn xe tank hoặc phá hầm; máy bay Mỹ lại vào vùng thả bom, bay thấp thì sợ phòng không, nhưng bay cao quá khó trúng mục tiêu, nên những phi đội sau, Tiểu đoàn 11 xin thả bom napalm, còn pháo binh vị trí nào của ta không bị cấm chỉ thì pháo xuống phụ họa sau khi các phi tuần bay ra, hết đợt này đến đợt khác, từng phi tuần của không quân Việt Nam vào vùng trải những thảm lửa xuống Charlie, thả bom napalm phải bay thật thấp nên rất chính xác, từng trái bom rơi trúng mục tiêu, nhưng Việt cộng quyết cắt đôi 11 Dù nên cố thủ trong các hầm hố của ta bỏ lại. Bất kể phòng không, một chiếc phi cơ nóng lòng bay thật thấp xuống mục tiêu, thả một quả bom napalm, lúc ngóc đầu bay lên thì cánh bên phải vướng vào ngọn cây trên ngọn đồi phía đông kế bên chỗ hai cây phòng không, bị gãy cánh rồi rớt xuống đồi nổ tung, viên đại úy phi công Việt Nam đã oanh liệt hy sinh. Chiếc còn lại bay vòng vòng tìm đồng đội, sau khi xác định được vị trí, bèn quay trở lại Charlie, giận dữ trút xuống những trái bom lửa còn lại. Lửa thiêu cháy Charlie, thiêu luôn cả những con thiêu thân đợi ngày giải thoát.

Trung tá Nguyễn Đình Bảo đeo kính ở giữa

Ngày 12/4/72, để trả thù cho đồng bọn bị lửa bom đốt sạch tại Charlie, địch tăng cường pháo kích thật mạnh lên đồi C2, từng tấc đất bị cày lên như địa ngục có thật, tôi ngồi trong hầm lại nghe cái chết đến từ từ, ước lượng có đến cỡ gần 10,000 quả đạn đại bác các loại rơi xuống C2 kể từ ngày tử chiến, ngoài hầm bê-tông cốt sắt ra chứ hầm hố như thế này thì làm sao chịu nổi, bất cứ đơn vị nào mà trấn thủ nơi đây chắc là phải tự động rút từ lâu rồi, tôi không dám nghĩ đến một điều xấu nhất dành cho mình, không biết nhà tôi và đứa con đầu lòng đang mang trong người giờ này ra sao, mỗi lần tôi đi trận, nhà tôi đều dặn cầu nguyện Ðức Mẹ che chở, giờ tôi đang làm điều này… Chợt thấy Trung úy Cho nhổm dậy cầm lấy máy nghe rồi lo lắng, tôi cũng qua tần số Trung úy Ðúng hỏi, Trung Tá Bảo, Tiểu Ðoàn Trưởng Song Kiếm Trấn Ải đã gãy cánh thiên thần sau loạt pháo kích vừa rồi, một quả 130 ly trúng hầm, Trung Tá Bảo hy sinh còn Thiếu Tá Duffy và Thiếu Tá Mễ ở hầm khác chỉ bị thương nhẹ. Thiếu Tá Mễ lên thay. Suốt ngày hôm đó, địch tiếp tục pháo kích C2 và bắn cấm chỉ các vị trí pháo binh của ta. Một bịch gạo sấy cả tuần nay tôi nuốt không hết, miệng thật đắng còn nước uống thì đo bằng từng nắp bi-đông, riêng việc vệ sinh thì giải quyết ngay ngoài miệng hầm. Pháo dữ quá nên tôi cũng giới hạn bớt chạy ra ngoài tuyến quan sát. Trên tấm bản đồ, tôi ghi chi chít những vị trí nghi ngờ pháo của địch báo cho Trung úy Ðúng và Trung úy Ðúng cũng chẳng làm được gì khác hơn, gần tối địch ngưng pháo kích, tôi thiếp đi lúc nào không biết cho đến khi Hạnh chạy vào lay chân tôi dậy hỏi cần gì không, tôi lắc đầu.

Sáng ngày 13/4/1972, Ðại đội 113 được lệnh đi lên phía Bắc tìm bãi đáp, còn Ðại đội 111 lên ngọn đồi phía Ðông xem có chỗ nào tải thương được không. Khi Khánh chui vào hầm tôi, tôi thấy mặt có vẻ nghiêm trọng, không còn cái giọng Nha Trang đơ đớ Quảng Ngãi nữa, không thấy có vẻ đùa cợt hàng ngày như lúc còn ở hậu cứ, tôi bảo Khánh chạy theo tôi ra ngoài tuyến và chỉ về ngọn đồi mục tiêu trước mặt, theo hướng tôi chỉ, bóng tên Việt cộng đứng gác vẫn còn đó, tôi lại chỉ Khánh chỗ vị trí hai cây phòng không cách đó không xa và nói:

– Tụi nó đầy ở trên đó, tao bắn hoài cũng chả ăn thua gì, mày hết sức cẩn thận, nếu muốn bắn mở đường tao bắn cho, khi lên coi chừng phòng không tụi nó trực xạ. Khánh trở lại 111 bàn với Trung úy Thinh và cũng không thấy xin bắn mở đường, chắc là muốn giữ im lặng.

Ðộ nửa tiếng sau, súng nổ vang dội từ triền đồi bên kia, 111 lên được gần đến đỉnh đồi thì địch khai hỏa, bằng luôn cả phòng không trực xạ. Không thấy Khánh xin tác xạ, tôi muốn bắn phụ lắm, nhưng giờ này không biết nó ở chỗ nào. Súng vẫn nổ, một chốc tôi nghe tiếng Khánh trong máy, Trung úy Thinh, Ðại đội trưởng 111 đã tử trận, Khánh lên thay. Rồi một chốc lại nghe tin Trung sĩ Lung gọi máy, tôi biết Khánh cũng đã nằm xuống… cánh dù lộng gió muôn phương – vào lòng đất mẹ, máu xương ngậm ngùi. Ðại đội 111 thêm lần nữa tan hàng. Một số còn lại rút về được căn cứ. Cả ngày đó địch vẫn tiếp tục giữ mức độ pháo kích khủng khiếp, lương thực và đạn dược lại cạn dần, lại thêm người chết và bị thương. Ðêm dần xuống, tôi nằm trong hầm buồn lắm, Trung Tá Bảo ra đi hôm qua, Chuẩn úy Sơn đề-lô ra đi trong loạt pháo đầu tiên, Khánh vừa đi sáng nay, Lạc bị thương nặng chưa biết ra sao, còn những người khác thì nằm đầy ngoài chiến hào, bao giờ thì rút đây, không phải tôi bi quan, mà tức vì cái lệnh tử thủ quái ác từ đâu đâu, chết như vậy thật uổng mạng.

Ngày 14/4/1972, Tiểu đoàn 11 Dù tự quyết định rút lui vào ban đêm, nhưng vào buổi trưa sau những đợt pháo kích dữ dội, địch xung phong lên từ phía Ðại đội 114 đồng thời pháo luôn các vị trí pháo của ta, tôi gọi mãi mà không con gà nào chịu gáy, ngoài tuyến, không còn sợ pháo binh ta bắn cản, địch nhào lên đông như kiến cỏ, Ðại đội 114 chống cự không lại phải rút về dàn hàng ngang với Bộ chỉ huy Tiểu đoàn, máy bay cũng đã lên vùng bỏ bom ngay trên tuyến 114, hai bên giành nhau từng hầm hố, từng giao thông hào. Pháo binh ta coi như bị tê liệt, tôi đứng dưới giao thông hào sát với Thiếu Tá Mễ, và Đại úy Ðoàn Phương Hải trưởng Ban 3, giờ kiêm Tiểu đoàn phó, Trung úy Ðúng đứng kế bên, cạnh đấy là bác sĩ Tô Phạm Liệu, một bác sĩ Nhảy Dù mê đánh trận còn hơn cầm ống chích, lưng đeo khẩu Colt 45, tay cầm súng M16 giơ lên, miệng hét binh sĩ ráng giữ vững vị trí, tôi nghĩ thầm trong bụng nói cha nội này đi quân y uổng quá, phải cầm quân đánh nhau mới đúng. Thỉnh thoảng tôi lại gọi máy, khản cổ họng nhưng pháo binh của ta im lặng vô tuyến vì vẫn còn bị pháo kích. Lúc này mặc dù chiếm được gần một nửa C2 nhưng địch vẫn chưa dám nhào tới cận chiến nên phòng tuyến thứ hai của ta vẫn giữ được. Chỗ tôi đứng, xác một binh sĩ Dù nằm trên chiến hào ngay trước mặt, chết đã nhiều ngày, xác trương lên nhưng không thấy mùi hôi vì đầy thuốc súng, còn trên mình mang thêm nhiều mảnh đạn pháo sau đó, có lẽ chết hai ba lần. Bỗng Hạ sĩ Hạnh chạy tới chỗ tôi nói:

– Em kiếm Trung úy nãy giờ, thằng Nhỏ bị thương muốn gặp Trung úy.

Tôi cúi chạy dọc ra ngoài tuyến, gặp Nhỏ đang nằm dưới giao thông hào, bụng bị mảnh pháo phá nát, ruột đổ ra ngoài dính đầy đất cát. Tôi cúi xuống, Nhỏ thì thào bên tai:

– Em khát nước quá, Trung úy đái cho em uống.

Giữa tiếng đạn bay, tôi muốn khóc mà không rơi được giọt lệ, đệ tử tôi đến giờ phút hấp hối còn nghĩ đến ông thầy. Tôi nghẹn ngào nói với Nhỏ:

– Em còn điều gì muốn nói thì nói cho Hạnh biết, anh còn phải coi xem còn bắn được hay không.

Nói xong tôi đưa bi đông nước còn lại một chút cho Hạnh, để cho Nhỏ uống rồi gạt nước mắt định chạy về chỗ Thiếu Tá Mễ. Ngay lúc đó có nhiều tiếng đạn AK bắn xéo trên đầu tôi, khói súng mù mịt không thấy rõ phía triền đồi, tôi rút quả lựu đạn M26 ném xuống dưới chân đồi. Ðây là quả lựu đạn đầu tiên trong đời lính tôi sử dụng để ngăn địch. Không cần quan sát hiệu quả lựu đạn vừa rồi, tôi chạy lại phía Thiếu Tá Mễ. Giờ phút này địch đã lên được hơn nửa đồi C2 và từ hướng Nam cùng với hướng Tây đánh lên, cả Tiểu đoàn 11 chuẩn bị một màn cận chiến, bỗng một viên đạn AK bắn trúng bình khói cay E8 của ta đặt trước mặt Thiếu Tá Mễ cỡ chục mét. Tôi thấy rõ gió thổi ngược khiến cho khói cay màu vàng bay ngược về hướng Tiểu đoàn, những người lính la lên địch pháo khói cay rồi rút về phía Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn, và Tiểu đoàn 11 chính thức rời bỏ Charlie vào lúc này, nếu không bị bình khói cay thì không biết thế nào, đây có lẽ trời khiến cho 11 Dù không bị tràn ngập trên đồi C2.

Cũng may địch sợ ta dùng chiến thuật “đồng ư quy tận” tức là gọi pháo binh bắn ngay trên đầu cùng chết với địch nên không dám đuổi theo, nhờ vậy chúng tôi xuống đến chân đồi không có phát súng nào bắn theo. Trời hơi tối, địch cũng không dám pháo kích nữa sợ lộ vị trí, vả lại chúng đã lên đầy trên C2 và giờ đây có lẽ đang lục hầm kiếm thức ăn, nên pháo binh của ta hoạt động lại được liền bắn chặn không cho địch truy kích. Rút theo hướng đông nam độ vài trăm mét thì nghe nhiều tiếng rít xé trời, bom B52 rơi xuống Charlie cày nát thành bình địa. Ðại đội 113 ở hướng Bắc hầu như còn nguyên vẹn từ ngày đầu đến giờ không bị đánh cũng như không thiệt hại vì pháo kích, nên được lệnh đi ngược xuống Yankee tìm đường ra PZ (tức bãi bốc, tiếng Anh là Picking Zone), trên bản đồ cách Charlie khoảng gần 4 cây số. Trời tối, đồi cao, rất khó đi, máy bay lên vùng thả hỏa châu soi sáng, những dây đạn M197 Gatling từ phi cơ OV10 (North American Rockwell OV-10 Bronco) rót đều phía sau chặn hậu, nổ tụp tụp bum bum nghe như một điệp khúc buồn nản của chiến tranh. Binh sĩ còn khỏe dìu những người bị thương nhẹ, thật không thể tưởng tượng được có người bị thương ở chân phải đi bằng cả hai tay ở những đoạn dốc khó đi không thể dìu được, bản năng sinh tồn của con người nhất là của người lính chiến thì không có gì có thể diễn tả ra hết được. Cạn hết lương thực, đạn dược, thuốc men, và dưới những cơn mưa pháo khủng khiếp nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, hơn một trăm con người còn lại này chia đều mỗi người đã lãnh cỡ gần 100 trái đại bác, thử hỏi còn có ai chịu đựng được như thế không. Tôi chợt nhớ đã đọc đâu đó một câu nói của danh tướng Mỹ McArthur: “Tôi thương những người lính bộ binh hằng ngày 24 giờ phải đối diện cái chết trên chiến trường, lại còn phải gánh chịu những bất công của thượng cấp”. Nghĩ lại hoàn cảnh của 11 Dù còn tệ hại hơn thế nữa, bị trói tay để đánh.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Chương 10.

Tôi biết gì về hát bội, cải lương và tuồng Phụng Nghi Đình

Ngày nay, với ti vi màu mè, ở nhà nằm coi sướng hơn đi mua vé đến rạp xem diễn, để cho bận về, ra cửa, bị chúng giựt bóp, giựt đồng hồ, có khi đâm đổ ruột lòi phèo, vậy cho nên hát bội cũng như hát cải lương bị ế giòng, cô Bạch Tuyết, Ngọc Giàu phải chịu nằm co (nhại câu cũ và viết chọc chơi: ghẹo chơi đừng giận rạp vắng khách, đào kép kêu trời), và với tuổi 92 chờ ngày theo ông bà, và nói bá láp vẫn có độc giả rộng lượng dung thứ, thêm tật lớn “biết gì vẫn nói hết”, nay tôi xin kể lại những gì tôi biết và còn thương tiếc về hát xướng, kể từ năm 1915, tuổi 14 đã biết nghe hát, chí để năm ni 1993, đã cúp hàm thiếc không đi xem diễn và tiếc hùi hụi những đêm cụp lạc cô Giàu mua thúng độn bụng làm Đổng Trác, v.v.., nhứt là tiếc những đêm ngâm thơ và đêm các trẻ thi nhau khoe giọng tốt hay vịt đực. Năm 1915, tôi học lớp nhì trường tỉnh ở Sốc Trăng, (cỡ 10 hay 11 nay) hát bội đang thịnh hành, có đào Sáu Sển, người xứ Trà Vinh, thủ vai Lưu Kim Đính giải giá Thọ châu thành, tối về tôi nằm mơ vẫn thấy … , một đêm nọ lối 1918, ông Phó tham biện Nguyễn Phú Quí bắt ép hai gánh hát, gánh Lưu Thị Ngoạn (bà Ba Ngoạn) có đào Năm Nhỏ và gánh Sáu Sển nhập chung, diễn lấy tiền quyên cho Nhà Nước Tây thuộc địa buổi ấy gọi giúp quốc trái, diễn tuồng “Tây Hà ngộ thê”, lớp vợ Trần Nhựt Chánh (Năm Nhỏ) đối đáp với mẹ chồng (Sáu Sển), tôi còn nhớ rành rành cô Sáu (nếu còn sống tuổi hơn 100), làm mẹ, nhiếc và nói toàn chữ Hán, nhiếc cay, nhiếc đắng nàng dâu (Năm Nhỏ) không trả lời được và chỉ lấy nước mắt và khóc hai chữ “Mẹ ôi!” mà trừ…) không hát được câu nào để đối cho xứng, vì chưa già giặn và nghề non, thua …

Thuở ấy, quãng vài chục năm sau, kể về kép có hạng, tôi biết và từng xem diễn, có Sáu Ất, người ốm, thấp nhưng mắt thật lanh, cử chỉ vén khéo, thủ vai Quan Công, thì tôi chưa biết có ai hơn, còn vai Tư Đồ Vương Doãn, thì có kép Tám Tri, vai Lữ Phụng Tiên có kép và bầu Hai Thắng…, vai Châu Du có kép Mường Vàng (tuồng Phó hội Giang Đông), còn kép Chín Tài, thủ vai gần gần như Bầu Thắng, nhưng Chín Tài múa quều quào nên tôi dám lén chê ..

Kể về đào, các cô Cao Long Ngà, Năm Đồ, Ba Út, đều quá vãng nên xin miễn nghị, Ba Đắc còn sanh tiền, thủ vai Tôn phu nhơn đọc thơ của mẹ thì lâm li thống thiết, tuyệt, nhưng vợ của mình và đào nhà, Năm Sa Đéc tôi được phép riêng khen và nhớ lại tình cũ nghĩa xưa và nhắc lại đây một chuyện nhỏ, tin hay không là quyền của độc giả, một buổi tối gần đây, tôi lấy hồ sơ để trên bàn định viết về “cái hay của chuyện hát bội” nhưng lạ quá, hồ sơ thất lạc, tìm mãi không thấy đêm đó hay đêm kế, tôi nằm mơ thấy Năm Sa Đéc về khóc và nói: “Anh đừng viết, tôi muốn giấu nghề … lại nữa….

Đến đây thì tắc tị vì trang 299 trong quyển sách “Nửa Đời Còn Lại” này bị in trùng lấp đọc không ra, độc giả nào có sách nếu trang đó không bi lỗi xin chụp lại và gởi lên trang blog của Sơn râu cho tôi được bổ túc. Xin cám ơn và đa tạ lắm.

Hình trên là cái trang sách bị lỗi đọc làm sao ra, quý bạn đọc nào có trang sách rõ ràng xin gởi cho Sơn râu trên trang blog, tối cám ơn lắm.

Thanh bị Thoại Ba cầm giữ, không cho đi, Lưu Khánh khuyên nguyên soái: “đánh cho be bét, vài hôm, bỏ giận lăng nhăng mấy bữa …” (rất tục mà thật gói ghém, tôi xin diễn cho bạn trẻ mau hiểu. “Đánh cho bả đi hết nổi thì bả buông tha chớ gì!… ”

– Mưu ai khiến bà bẻ nhành suốt lá … tôi cho thật mới, thật khéo, v.v..

– Tuồng Mạnh Lệ Quân, lớp giả trai cùng vua dạo ngự hoa viên, vua Thành Tôn muốn thử thừa tướng là gái giả trai, nên trờ ngựa tới trước và lấy roi quất vào nhánh cây cho giọt mưa rơi xuống, Lịch thừa tướng (Phùng Há) chùi mặt không phấn và lấy mắt trách quân vương lỗi đạo, lớp nầy không đờn không trống, chỉ diễn câm, mà khéo tuyệt, còn như tuồng Phụng Nghi Đình buổi Tây rút lui, người lùn qua đây, Lữ Bố (P.H.) diễn quá bạo, đào Điêu (Bích Thuận) chơn đi giày trắng peau de daim và hát xang xừ líu, tăng gô si noa, (đít vêu vêu, anh em cô bác nghĩ sao?) và gần đây, Má Bảy đã tròm trèm hoặc hơn tám mươi còn diễn cho ông Lớn xem, ông Lớn khen “Lẳng lơ Lữ Bố hý Điêu Thuyền” – tôi tiếc già hết xài, không ai nhớ mời đi coi … và tôi chấm dứt bài nầy bằng chuyện cũ, năm kia, lối min nớp xăng ca răng ngoài lối đó, thuộc chánh trị tôi không dám nói rõ năm ấy là năm nào, có một gánh hát Tàu qua đây, tôi xem diễn nơi một rạp ở Cầu Ông Lãnh, tuồng Phụng Nghi Đình, gánh đó diễn: Điêu Thuyền là nước Tàu, Đổng Trác và Lữ Bố, Vương Doãn, v.v… và v.v ..là nhơn vật thời nay của buổi Nhựt lấn đánh Trung Quốc, Đổng là thằng lùn, hay Bố cũng là thằng giặc gì gì đó, tôi không dám hiểu nhiều, duy nhớ trong lúc Tầu qua đây diễn lớp tuồng bị cướp đoạt nước ấy, thì vẫn có một họa sĩ người Tàu đi theo sát gánh hát, mỗi ngày và đêm, ở Sài Gòn nầy, họa sĩ Tàu nầy vẫn treo một bức tranh cao độ hơn ba thước Tây, bề ngang độ 1 mét 50, bốn chữ to tướng cỡ bắp tay: “Hoàn … Ngã … Hà … San” (ẩn ý là “Hãy trả lại tôi sông núi của tôi”, bốn chữ nầy, thuở ấy Thuộc địa Pháp vẫn cho treo và sau đó, một thức giả (ông Huyện Của, cha tướng Xuân) đã xuất mười ngàn đồng bạc con cò (10.00 piastres indochinoise) mua lên, nay tranh ấy còn hay mất, tôi xin chừa một khi khác … và thật tôi chưa biết.

(viết ngày 1-7-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Bài 43

Georgetown

Buổi chiều, sau khi được chích nhiều thứ thuốc vắc- xin khác nhau, chúng tôi được chuyển sang đồn cảnh sát của thành phố, một thứ trụ sở lớn có hàng trăm cảnh binh tấp nập ra vào không ngớt. Giám đốc cảnh sát của thành phố George, người cầm quyền tối cao, chịu trách nhiệm về sự an toàn của hải cảng quan trọng này, tiếp ngay chúng tôi tại phòng làm việc của ông. Quanh ông là các sĩ quan Anh mặc đồ ka-ki, quần cộc, bít tất trắng, trông chửng chạc không chê vào đâu được. Ông đại tá ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống trước mặt ông. Bằng tiếng Pháp chính cống, ông hỏi chúng tôi:
– Lúc người ta bắt gặp các anh trên biển, các anh từ đâu tới?
– Từ trại tù khổ sai ở Guyane thuộc Pháp.
– Các anh cho tôi biết những điểm chính xác mà từ đó các anh vượt ngục đi.
Tôi ở đảo Quỷ. Các anh này ở một trại giam ở đất liền, một nửa là tù chính trị, tại Inini, gần Kourou trên đất Guyane thuộc Pháp.
– Anh bị kết án thế nào?
– Tù chung thân. Lý do: giết người.
– Còn bác người Tàu?
– Cũng giết người.
– Án ra sao?
– Chung thân.
Nghề nghiệp?
– Thợ điện.
– Còn các anh kia?
– Nấu bếp.
– Các anh theo Degaulle hay Pétain?
– Chúng tôi không biết gì. Chúng tôi chỉ là những tù nhân muốn tìm cách sống lương thiện trong tự do.
– Chúng tôi sẽ để các anh ở một xà-lim dược mở cửa suốt ngày đêm. Chúng tôi sẽ trả tự do cho các anh sau khi xét lời các anh đã khai. Nếu các anh nói thật, các anh không phải sợ. Các anh phải hiểu là chúng tôi đang có chiến tranh, nên chúng tôi buộc lòng phải thận trọng hơn thời bình nhiều.
Tám ngày sau, chúng tôi đã mau chóng được trả tự do. Chúng tôi lợi dụng tám ngày ở lại Đồn cảnh sát ấy để trang bị quần áo tươm tất. Chín giờ sáng mai anh Tàu và tôi đã ăn mặc chỉnh tề ra đường với giấy căn cước có dán ảnh.
Các nhà trong cái thành phố 250.000 dân này hầu hết là bằng gỗ, kiến trúc kiểu Anh: tầng trệt bằng xi- măng, phần còn lại bằng gỗ. Đường xá và đại lộ chật ních những người thuộc đủ các chúng tộc: da trắng, da đen, ấn Độ, có các phu phen, thủy thủ Anh, Mỹ, hoặc người phương Bắc. Chúng tôi hơi say sưa thấy mình được ở giữa đám đông sặc sỡ này. Một niềm vui mãnh liệt tràn ngập lòng chúng tôi, mạnh mẽ đến nỗi nó lộ rõ trên mặt chúng tôi, kể cả hai anh người Tàu, làm nhiều khách bộ hành nhìn chúng tôi và mỉm cười vui vẻ.
– Chúng tôi đi đâu bây giờ? – Quých hỏi. Tôi biết sơ sơ địa chỉ vài người. Một cảnh sát da đen đã cho tôi địa chỉ của hai người Pháp ở đường Penitence Rivers.

Hỏi thăm kỹ thì đấy là một khu đặc biệt chỉ có người Ấn Độ cư ngụ. Tôi đến gặp một cảnh sát viên ăn mặc đồ trắng, trông chửng chạc, tôi đưa địa chỉ cho anh ta coi. Trước khi trả lời, anh hỏi giấy tờ của chúng tôi Tôi hãnh điện lấy ra đưa cho anh. “Rất tốt, cám ơn”, và anh ta sốt sắng đưa chúng tôi đến một chiếc tàu điện và nói gì với người lái. Chúng tôi đi ra ngoài thành phố và hai mươi phút sau, người lái tàu bảo chúng tôi xuống. Chắc là đến nơi rồi. Chúng tôi hỏi đường. “Anh là người Pháp hả?” Một thanh niên ra hiệu cho chúng tôi đi theo anh ta. Anh ta đưa chúng tôi đến thẳng một căn nhà thấp. Tôi vừa tới nơi thì thấy có ba người đi ra, điệu bộ niềm nở:
– Sao lại thế này, Papi, anh ở đây à?
– Vô lý, người già nhất, tóc bạc trắng nói. – Vào đi! Đây là nhà tôi. Hai người Tàu này đi với anh đấy?
– Phải.
– Vào đi, mời các anh vào cả.
Người tù già này tên là Guitto Auguste, còn gọi là Le Guittou, dân Marseille chính cống. Chín năm trước, năm 1933, anh lên tàu La Martinière cùng một chuyến với tôi. Sau một chuyến vượt ngục thất bại, anh được tha tội chính và đã bỏ trốn đi, cách đây ba năm, theo như lời anh nói. Hai người kia, một là Louis Nhỏ, người ở Ardes, một người dân Toulouse tên là Julot. Cả hai cùng trốn đi sau khi mãn hạn tù, đáng lẽ họ phải ở lại Guyane thuộc Pháp một thời gian tương đương với thời gian họ bị giam, mười năm và mười lăm năm (gọi là thời gian quản thúc).
Căn nhà có bốn gian: hai phòng, một căn bếp, kiêm phòng ăn và một xưởng nhỏ. Họ đóng giày bằng balata, một thứ cao-su thiên nhiên kiếm ở trong rừng, cứ bỏ vào nước nóng là có thể nhào nặn thành đồ dùng rất dễ dàng. Nhược điểm của nó là đề lâu ngoài nắng thì bị chảy, vì đó là thứ cao su chưa được lưu hóa. Người ta khắc phục khuyết điểm đó bằng cách cho những lớp vải xen kẽ với các lớp balata.
Chúng tôi được tiếp đón nồng hậu, với tấm lòng cao thượng của một người đã từng đau khổ, Guittou đã thu xếp cho ba chúng tôi một văn phòng và để chúng tôi ở nhà anh không hề do dự chút nào. Chỉ có một vấn đề là con heo của Quých-Quých, nhưng Quých bảo đảm là nó không làm dơ nhà và chắc chắn là nó biết ra ngoài một mình để đi đái.
Guittou nói: “Được, rồi sẽ tính sau, bây giờ anh em cho nó ở với anh”.
Tạm thời chứng tôi lấy ba tấm chăn củ của lính trải ra đất làm giường nằm.
Sáu người chúng tôi ngồi trước cửa, hút vài điếu thuốc, tôi kể cho Guittou nghe những chuyện gian truân của tôi trong chín năm qua. Hai người bạn của anh và anh hết sức chăm chú lắng nghe và như cùng sống lại những biến cố đó và họ cũng qua những kinh nghiệm thực tế của bản thân để cảm thông được. Có hai người biết Sylvain, đã than vãn về cái chết của anh ta. Trước mặt chúng tôi, rất nhiều người thuộc đủ các chủng loại đi qua đi lại. Thỉnh thoảng có người vào mua một đôi dép hay một cây chổi, vì Guittou và các bạn anh còn làm cả chổi để kiếm sống. Qua họ tôi biết là trong số tù khổ sai và đi đày có chừng ba chục người vượt ngục đã đến ở thành phố George. Ban đêm, họ gặp nhau tại một quán rượu ở trung tâm thành phố để uống rượu rhum hay bia. Julot nói với tôi là tất cả đều làm việc để sinh sống và đa số có thái dộ tốt.
Trong khi chúng tôi ngồi hóng mát ở cửa có một người Tàu đi qua, Quých liền gọi anh ta lại. Rồi không nói gì với tôi, anh và anh cụt đi theo người nọ. Chắc họ không đi xa vì con heo cũng theo sau. Hai giờ sau, ba gác nhỏ. Anh vênh vang như Artaban, ghìm con lừa dừng lại và nói với nó bằng tiếng Tàu. Con lừa có vẻ hiểu được thứ tiếng này. Trong xe, có ba cái giường sắt, ba tấm nệm, gối và ba chiếc va-li. Anh đưa cho tôi một chiếc va li đầy trong có áo sơ-mi, quần đùi, áo lót cùng hai đôi giày, v.v.:..
– Anh kiếm ra những thứ này ở đâu vậy, Quých?
Các bạn đồng hương của tôi cho tôi đấy. Ngày mai chúng ta đến thăm họ nhé?
– Đồng ý. Chúng tôi tưởng Quých lại dắt con lừa và chiếc ba gác đi, nhưng không. Anh tháo lừa ra, buộc nó ở trong sân.
– Họ tặng tôi cả con lừa và chiếc xe này. Họ nói, với những thứ ấy, tôi có thể kiếm sống dễ dàng. Sáng mai, một người cùng quê với tôi sẽ đến đây chỉ cho tôi.
Dân Tàu, làm gì cũng mau thật.
Guittou bằng lòng cho chiếc xe và con lừa được ở tạm trong sân. Ngày tự do đầu tiên của chúng tôi trôi qua tốt đẹp. Buổi tối, sáu chúng tôi ngồi quanh bàn làm việc, ăn ngon lành món xúp rau, do Julot nấu, và một đĩa mì ống.
– Lần lượt, mỗi người thay phiên nhau dọn nhà và rửa bát chén- Guittou nói:
Bữa ăn chung này tượng trưng cho một tập thể nhỏ đầy nhiệt tình. Cảm giác biết mình được giúp đỡ trong bước đầu của cuộc đời tự do làm chúng tôi vững lòng. Quých, anh cụt và tôi thấy sung sướng thật sự và hoàn toàn. Chúng tôi có một mái nhà, một cái giường, những người bạn hào phóng, tuy nghèo nhưng cũng có tinh thần cao thượng đã giúp đỡ chúng tôi. Còn cần đòi hỏi gì hơn nữa?

– Đêm nay, cậu có muốn làm gì không. Papillon?
– Guittou hỏi tôi. – Cậu muốn đến quán rượu ở trung tâm, nơi các tay tù vượt ngục đều tới không?
– Tôi thích ở nhà đêm nay hơn. Anh muốn đi thì cứ đi Mặc tôi.
– Được tôi sẽ đi vì tôi cần gặp một người.
Tôi sẽ ở lại với Quých và anh cụt.
Louis nhỏ và Guittou ăn mặc chỉnh tề, thắt và vạt và đi về phía trung tâm. Chỉ có Julot ở lại để làm nốt vài đôi giày cho xong. Các bạn tôi và tôi đi một vòng quanh các đường phố lân cận cho biết. Tất cả dân ở đây đều là người ấn Độ. Rất ít người da đen, hầu như không có dân da trắng, rải rác có vài tiệm ăn Tàu.
Penitence Rivers, tên khu phố này, là một góc nước ấn Độ hay xứ Nam Dương. Các thiếu phụ và thiếu nữ đều rất đẹp, và các ông cụ đều mặc áo dài trắng. Nhiều người đi chân đất. Khu phố nghèo nhưng mọi người đều ăn mặc sạch sẽ. Đường phố thiếu đèn, những quán ăn, uống, đều đông nghẹt người, đâu đâu cũng nghe thấy âm nhạc ấn Độ.
Một người da đen bồ hóng mặc đồ trắng, thắt và vạt chặn tôi lại: 
– Ông là người Pháp phải không, thưa ông?
– Phải.
– Được gặp người đồng hương, tôi mừng lắm. Mời ông muốn một ly với tôi.
– Cũng được, nhưng tôi còn hai người bạn.
– Không sao, họ có nói được tiếng Pháp không?
– Được
Cả bốn chúng tôi vào ngồi một bàn kê bên lề đường, trước một quán rượu. Anh chàng Martinique này nói một thứ tiếng Pháp còn chọn lọc hơn chúng tôi. Anh bảo chúng tôi phải đề phòng bọn da đen Anh, vì theo anh, họ đều nói dối. “Chúng nó không như người Pháp chúng ta đâu, chúng ta chỉ nói một lời, bọn chúng không như vậy”.
Tôi cười thầm vì thấy anh chàng đa đen Tombouctou này tự xưng là người Pháp chúng ta, song tôi lại thực sự lúng túng. Đúng me xừ này là một người Pháp, chính cống hơn tôi, tôi nghĩ vậy, vì anh ta nhận quốc tịch mình một cách đầy nhiệt tình và tin tưởng. Anh ta có thể chết vì nước Pháp, còn tôi thì không. Do đó anh ta Pháp hơn tôi. Cho nên tôi cũng phụ họa theo anh.
– Được gặp đồng hương và nói tiếng mẹ đẻ tôi rất thích vì tôi nói tiếng Anh tồi lắm.
– Còn tôi, tôi nói được, tôi nói tiếng Anh thạo và đúng văn phạm nữa. Anh cần gì, tôi sẵn sàng giúp anh. Anh ở thành phố George này đã lâu chưa?
Mới được tám ngày, không hơn.
– Anh ở đâu đến?

– Ở Guyane thuộc Pháp.
Không thể thế được, anh là dân vượt ngục hay là người coi tù chạy theo De Gaulle?
– Tôi vượt ngục
– Còn các bạn anh?
– Cũng vậy.
– Henri ơi, tôi không muốn biết quá khứ của anh, bây giờ là lúc phải giúp đỡ nước Pháp để chuộc tội. Tôi theo De Gaulle và tôi đang chờ tàu để sang Anh đây.
Ngày mai anh lại tìm tôi ở Câu lạc bộ Martiner nhé. Địa chỉ đây. Tôi rất sung sướng nếu anh cùng tham gia với chúng tôi. Anh tên là gì?
– Homère.
– Me-xừ Homère ơi, tôi không thể quyết định ngay được. Tôi phải tìm hiểu tình hình gia đình tôi và suy xét kỹ trước khi quyết định một việc quan trọng như vậy ông Homère ơi, nước Pháp đã làm tôi đau khổ và đối xử với tôi vô nhân đạo lắm.
Anh chàng Martinique đã cố thuyết phục tôi với tất cả nhiệt tình sôi nổi vô hạn độ của trái tim anh. Nghe những lý lẽ của con người này đi bảo vệ nước Pháp đã bị tàn phá của chúng tôi, thật vô cùng cảm động.
Chúng tôi về nhà rất muộn và khi đi nằm, tôi nghĩ lại rất cả những gì người dân Pháp lớn đó đã nói với tôi tôi phải suy nghĩ đứng đắn về đề nghị của anh ta. Nói cho cùng thì bọn cảnh sát, bọn quan tòa, chính quyền nhà tù đâu phải là nước Pháp. Tôi cảm thấy mình vẫn còn rất yêu nước Pháp. Thế mà lại có bọn Đức trên đất Pháp. Trời ơi, những người thân của tôi đau khổ biết bao nhiêu, và đối với tất cả những người dân Pháp, thật là nhục nhã biết chừng nào.
Khi tôi tỉnh dậy, con lừa, chiếc xe ba gác, con heo, Quých và anh cụt đã biến đâu mất.
– Cậu ngủ ngon chứ? – Guittou và các bạn anh hỏi.
– Ngủ say lắm, cảm ơn.
– Cậu muốn uống cà phê sữa hay trà? Cà phê với bánh mì phết bơ.
– Cảm ơn!
Tôi vừa ăn vừa xem họ làm việc.
Julot chuẩn bị balata dần dần theo nhu cầu cần thiết, anh ta bỏ thêm những tảng balata rắn chắn vào nước nóng và nhào lẫn với cái khối đã mềm.
Louls nhỏ chuẩn bị sẵn những mảnh vải, còn Guittou hoàn tất chiếc giày..
– Các anh làm được nhiều không?
– Không. Bọn mình làm đủ kiếm hai mươi đô-la một ngày. Trả tiền nhà và ăn năm đô-la. Còn lại cho mỗi đứa năm đô-la làm tiền túi, may mặc và tiền hớt tóc
– Các cậu bán hết à?
– Không, thỉnh thoảng, một đứa trong bọn mình phải đi bán giày và chổi ở các đường phố: Đi bán dạo như vậy, dưới nắng, gay lắm.
Nếu cần, tớ cũng muốn cùng làm với các cậu ở đây tớ không thích là kẻ ăn bám. Tớ cũng phải góp phần vào bữa ăn chứ.
– Tốt thôi, Papi.
Suốt ngày, tôi đi dạo ở khu phố người Ấn của thành phố George. Tôi trông thấy một bảng quảng cáo chiếu bóng và thấy thèm xem một phim màu, có tiếng nói, lần đầu tiên trong đời. Chiều nay tôi sẽ bảo Guittou dẫn tôi đi coi. Tôi đi trên đường Penitence Rivers suốt cả ngày. Thái độ lịch thiệp của những người dân ở đó làm tôi mến họ vô cùng. Họ có hai đức tính: họ rất sạch và rất lễ độ. Cái ngày thơ thẩn một mình tại đường phố ở khu này của thành phố George đối với tôi còn lớn lao hơn nhiều so với ngày tôi đến Trinidad chín năm trước.
Ở Trinidad, giữa những cảm giác kỳ diệu do được đi lẫn trong đám đông, tôi luôn luôn tự nhủ: một ngày nào, trong hai tuần lễ nữa là nhiều nhất, tôi lại phải ra đi trên biển. Nước nào sẽ vui lòng nhận tôi? Có quốc gia nào cho tôi cư trú không? Tương lai sẽ ra sao? ở đây khác hẳn. Tôi được hoàn toàn tự do, và nếu tôi muốn, tôi có thể sang Anh, tham gia các lực lượng tự do nước Pháp. Tôi phải làm gì? Nếu tôi quyết định đi theo De Gaulle, người ta có thể nói là tôi chẳng biết đi đâu nên phải đâm đầu vào đấy? Giữa những người lành mạnh, biết đâu họ sẽ chỉ coi tôi như một tên tù khổ sai chẳng ẩn náu được vào đâu, nên phải đến với họ? Người ta đồn là nước Pháp bị chia ra làm hãi, một bên theo Pétain và bên kia theo De Gaullê. Sao một thống chế pháp lại không biết đâu là danh dự và quyền lợi của nước Pháp nhỉ? Nếu tôi tham gia các lực lượng tự do sau này, tôi có phải bắn vào những người Pháp không? ở đây thật là khó, rất khó tạo cho mình một chỗ đứng tạm chấp nhận được. Guittou, Julot và Louis nhỏ không phải là những thằng đần, mà họ vẫn làm việc để kiếm năm đô-la một ngày. Trước hết, tôi phải tập sống tự do đã. Từ năm 1931 – bây giờ là 1942 – tôi là tù nhân. Tôi không thể giải quyết được những ẩn số trong ngày tự do đầu tiên. Tôi không còn biết có những vấn đề gì được đặt ra cho một người muốn tạo cho mình một chỗ đứng trong cuộc sống. Tôi chưa bao giờ làm việc bằng tay của mình. Tôi chỉ là một anh thợ điện quèn. Tôi chỉ tự hứa với mình một điều duy nhất: sống sao cho sạch sẽ, ít ra cũng sạch sẽ nhất trong khuôn khổ đạo đức của riêng mình.
Tôi về đến nhà thì đã mười bốn giờ.
– Thế nào Papi, lần đầu tiên hít không khí tự do khoái chứ? Cậu đi chơi vui hả?
Hay lắm, Guittou ơi, tôi cứ quanh di quẩn lại mãi trên các đường phố ở vùng ngoại ô lớn này.
– Anh có gặp bọn Tàu không?

Không.
Họ ở ngoài sân. Các bạn anh rất tháo vát. Họ đã kiếm bốn mươi đô-la và họ nhất định bắt tôi phải nhận hai mươi đô. Tất nhiên, tôi không chịu. Anh ra mà xem.
Quých đang thái một cây bắp cải cho con heo của anh ăn. Anh cụt đang kỳ cọ con lừa. Nó cứ đứng yên, có vẻ thích cho lắm.
– Thế nào Papillon?
– Tốt, còn các anh ra sao?
– Chúng tôi thích lắm, chúng tôi đã kiếm được bốn mươi đô-la.
– Các anh làm gì?
– Chúng tôi đi từ ba giờ sáng về vùng quê với một người đồng hương để anh ta chỉ dẫn cho. Anh ta mang theo hai trăm đô-la. Với số tiền ấy, chúng tôi mua cà chua, rau sà-lách, cà tím, nghĩa là các loại lau tươi và xanh. Vài con gà, trứng và sữa dê. Chúng tôi mang ra chợ ở gần bến tàu và thoạt tiên chúng tôi bán cho người ở đây bán lẻ ít một, sau bán cho thủy thủ Mỹ. Họ bằng lòng về giá cả và họ bảo tôi là ngày mai, tôi không phải vào chợ nữa, tôi cứ đợi ở cổng trước bến. Họ sẽ mua tất cả cho. Tiền đây. Anh là người chỉ huy, anh cầm lấy tiền.
– Quých, anh biết là tôi cũng có tiền, tôi không cần đến món tiền này. 
– Anh cứ giữ lấy. Nếu không, chúng tôi không làm việc nữa.
– Các anh hãy nghe tôi. Người Pháp có năm đô-la là sống được rồi. Chúng ta mỗi người cũng lấy năm đô-la để riêng cho mình, năm đô-la góp tiền ăn. Còn lại ta cất đi để trả nợ cho đồng hương các anh số hai trăm đô-la mà họ cho anh mượn. 
– Đồng ý.
– Ngày mai, tôi muốn đi với các anh.
Không, anh cứ ngủ. Nếu anh muốn, bảy giờ sáng anh tìm chúng tôi trước cổng bến tàu.
– Được
Mọi người đều vui vẻ. Trước tiên, chúng tôi thấy đã kiếm sống được, không còn là gánh nặng cho các bạn. Sau Guittou và hai anh kia, họ tuy tốt thật, nhưng họ cũng phải lo không biết bao nhiêu lâu nữa chúng tôi mới có thể tự đi kiếm sống được.
Để ăn mừng việc làm phi thường này của bạn anh, Papillon ơi, chúng ta phải uống hai lít rượu. Julot đi một lát thì về, mang theo rượu mía trắng và đồ nhắm: Một giờ sau, chúng tôi uống rượu như ở Marsille. Rượu vào lời ra, và những tiếng cười vui đời vang lên ròn rã hơn thường lệ. Những người ân hàng xóm nghe nói ở bên nhà người Pháp có tiệc cũng sang chơi tự nhiên, có ba người đàn ông và hai cô gái. Họ mang những xiên thịt gà và thịt dê được tẩm rất nhiều tiêu ớt. Hai cô gái đẹp lạ thường, cả hai mặc toàn trắng, đi chân đất, cổ chân trắng đeo vòng bạc. Guittou nói với tôi:
– Cẩn thận, con gái trinh nguyên cả đấy. Anh đừng vì thấy họ để ngực trần dưới tấm voan mỏng trong mà ăn nói sàm sỡ với họ. Đối với họ thế là tự nhiên. Tôi thì không sao, tôi già rồi. Hồi mới tới đây, Julot và Louis nhỏ đã thử bờm sơm chút đỉnh, cả hai đã lãnh đủ. Các cô này không chịu sang đây từ lâu rồi. Hai cô gái Ấn Độ này đẹp tuyệt trần. Vết xăm giữa trán làm cho cả hai có một vẻ gì kỳ ảo. Hai cô nói chuyện tử tế với tôi, và với vốn liếng tiếng Anh ít ỏi của mình, tôi cũng hiểu rằng hai cô hoan nghênh việc tôi đến thành phố George này.
Đêm nay, Guittou và tôi đã đi vào trung tâm thành phố. Đến đấy tưởng như đi vào một nền văn minh khác, hoàn toàn xa lạ với nơi chúng tôi sống. Thành phố đông nghẹt người. Da trắng, da đen, người ấn Độ, Trung Hoa, quân nhân và lính thuỷ mặc quân phục cùng một số thủy thủ các thương thuyền. Rất nhiều quán rượu, tiệm ăn, tiệm giải khát và hộp đêm với ánh đèn gay gắt làm đường phố sáng như ban ngày.
Sau buổi xem phim (lần đầu tiên trên đời tôi được biết phim màu, loại có cả tiếng nói nữa), còn đang ngây ngất với cái mùi đời mới được hường đó, tôi đi theo Guittou vào một quán rượu rất lớn. Hơn hai mươi người Pháp chiếm một góc phòng. Họ uống “Cu ba tự do” (rượu cồn pha Coca cola).
Tất cả những người này đều là tù vượt ngục, dân anh chị cả. Có người đã mãn hạn, được thả rồi nhưng còn bị “quản thúc” tại chỗ. Đói khổ không có việc làm; lại bị dân chính quốc và cả dân địa phương Guyan khinh rẻ, họ đã tìm đến một xứ sở mà họ cho là sẽ sống khá hơn. Nhưng ở đây họ vẫn rất cực, họ kể lại vậy.
– Tôi vào rừng chặt củi cho John Fernandaz lấy hai đô la rưỡi một ngày – Tháng nào tôi cũng về thành phố George chơi tám ngày. Tôi tuyệt vọng rồi.
– Còn anh?
– Tôi sưu tầm bướm. Tôi vào rừng săn bướm và khi có được một lô kha khá những con bướm các loại, tôi xếp chúng vào một cái hộp kính tồi đem bán cả bộ sưu tập.
Có người đi bốc dỡ hàng ở bến cảng. Ai cũng làm việc không chỉ vừa đủ ăn. “Cực đấy nhưng được tự do, họ nói thế. Tự do quý lắm”.
Tối nay, có một người tù biệt xứ tên là Faussarđ đến thăm chúng tôi. Anh mời tất cả cùng uống. Anh làm trên một chiếc tàu Canađa chở bốc-xít (bị trúng ngư lôi ở cửa sông Demerara). Anh sống sót và được trợ cấp đắm tàu. Thủy thủ đoàn chết gần hết. Anh may mắn lên được xuồng cấp cứu. Anh kể lại rằng chiếc tàu ngầm Đức đã nổi lên mặt nước và nói chuyện với những người còn sống sót sau khi tàu đắm. Chúng hỏi có bao nhiêu tâu còn đậu ở bến chờ được xếp bốc-xít và sắp rời cảng. Tất cả đều trả lời là không biết, thằng cha hỏi họ liền cười và nói: “Hôm qua, tôi còn xem chiếu bóng ở rạp nầy rạp nọ trong thành phố George. Các anh coi đây tôi còn giữ được nửa tám vé vào cửa đây này”: Rồi chỉ vào áo vét ngoài, hắn lại nói: “Bộ quần áo này cũng mua ở thành phố George đấy”. Có những người hoài nghi kêu là chuyện bịa nhưng Faussard nhất định bảo là đúng như vậy thật. Chiếc tàu ngầm còn báo trước cho những người đắm tàu biết là tàu nào sẽ đến vớt họ. Về sau đúng chiếc tàu ấy đã đến đón họ thật. Ai cũng nói chuyện mình. Tôi và Guittou ngồi cạnh một ông già dân Pari, ở Khu Chợ. Ông ta nói tên ông là Louis Nhỏ ở đường Lombards.
– Anh bạn Papillon ơi, tôi nghĩ ra một mẹo để chẳng làm gì mà vẫn sống được. Hễ trên báo ở mục “hy sinh vì vua” hay “vì nữ hoàng” (tôi cũng chẳng rõ nữa), có tên một người Pháp, là tôi tìm đến một cửa hàng bán mộ chí bằng đá, thuê chụp một tấm hình có tôi đứng bên một tấm bia có sơn tên tàu, ngày tàu đắm và tên người Pháp nọ. Sau đó tôi đến các biệt thự sang trọng của người Anh, tôi nói là họ phải góp tiền xây mộ cho người Pháp kia đã hy sinh cho nước Anh để lưu lại làm kỷ niệm tại nghĩa trang. Cho đến tuần vừa qua, có một thằng ngốc người Bretagne được đăng là chết trong một vụ đắm tàu vì trúng ngư lôi, lại sống nhăn răn ra mà trở về. Thằng cha ấy đi thăm mấy bà, đúng là những người tôi đã quyên năm đô-la để xây mộ cho hắn. Thằng cha đi đâu cũng réo lên là nó còn sống sờ sờ ra đấy, còn tôi thì chẳng làm tấm bia nào cả. Phải kiếm cách khác để sống thôi, vì với tuổi tôi tôi không làm gì nổi rồi.
Rượu vào ai cũng lớn tiếng kể đủ các chuyện bất ngờ nhất, tưởng ở đây chỉ có chúng tôi biết tiếng Pháp. Một người kể:
– Tôi làm búp bê và tay ghi-đông xe đạp bằng balata. Chẳng may mấy con bé để quên búp bê ở ngoài vườn dưới nắng, thế là búp bê chảy ra, hay rúm ró lại. Anh tưởng tượng khi tôi quên khuấy là mình đã bán ở đường phố nào, thì chuyện rùm beng đến đâu không. Đã một tháng nay, ban ngày tôi không dám đi đâu đến nửa cái thành phố George này. Xe đạp cũng vậy, thằng nào đi xe ngoài nắng, khi lấy xe là tay bị dính chặt vào tay lái làm bằng balata mua của tôi.
Một người khác kể:
– Còn tôi, tôi làm roi ngựa, có gắn đầu đàn bà da đen, cũng bằng balata. Với thủy thủ Anh, tôi nói tôi đã thoát chết ở trận Mers-el-Kebir*(*Mers-el-Kebir là một thành phố cảng của Algérie còn là thuộc địa Pháp hồi đại chiến thế giới lần thứ hai. Lúc Pétan đầu hàng Đức, có một hạm đội Pháp bỏ neo ở quân cảng Mers-el-Kebir đã không chấp nhận cả hai đề nghị của hạm cuội Anh ở Địạ Trung Hải: hoặc chiến đấu chống phát xít Đức, hoặc phải để hải quân Anh tước khí giới để khỏi rơi vào tay bọn Đức. Các tàu Pháp không chịu, hải quân Anh đã nổ súng ngày 3.7.1940 đánh chìm các tàu Pháp ở đó làm chết 1297 thủy thủ Pháp – ND) nên họ phải mua cho tôi vì nếu tôi sống sót được, điều ấy không phải là lỗi của họ. Mười người thi có đến tám người đã mua. 
Tôi khoái những kẻ đầu trộm đuôi cướp hiện đại, nhưng đồng thời cũng thấy rằng kiếm được miếng ăn quả là gian nan.
Có người mở máy thu thanh ở quầy rượu: De Gaulle đang đọc lời kêu gọi. Tất cả đều nghe tiếng nói của Pháp đang từ London hiệu triệu người Pháp sống tại các thuộc địa và đất hải ngoại. Lời kêu gọi của De Gaulle thống thiết làm mọi người im phăng phắc lắng nghe.

Bỗng, một tay anh chị đã quá chén đứng phắt dậy nói:
– Mẹ kiếp. Nói nghe được lắm, các bạn ơi. Thế là tự nhiên, tớ học được tiếng Anh, tớ hiểu hết tất cả những gì cái lão Churchill đó nói.
Mọi người cười phá lên, chẳng ai thiết vạch ra cho tay ấy biết hắn lầm cả.
Đúng là trước tiên tôi phải tìm cách kiếm sống, và qua những người khác, tôi thấy việc đó không dễ chút nào. Tôi không lo mấy. Từ năm 1930 đến 1940, tôi đã hoàn toàn không còn trách nhiệm với mình và cũng không phải cho lấy lòng ai. Một con người bị giam cầm lâu như vậy, không phải lo việc ăn uống, lo chỗ ở, lo chuyện may mặc, một con người đã bị kẻ khác điều khiển, xoay tới xoay lui, không được tự ý làm bất cứ việc gì phải tuân theo như máy đủ các mệnh lệnh linh tinh nhất mà không được suy nghĩ gì. Con người như vậy chỉ trong vài tuần bỗng rơi tõm vào một thành phố lớn, rồi phải tập lại cách đi trên hè phố mà không xô đẩy ai, qua đường mà không bị xe cán, thấy người khác hầu hạ việc ăn uống của mình, nghe theo lệnh của mình, con người ấy phải tập lại cách sống. Chẳng hạn, người ấy có những phản ứng bất ngờ. Giữa những dân anh chị này, người thì được phóng thích, kẻ bị đi đày đã vượt ngục, nói tiếng Pháp thỉnh thoảng lại pha vài tiếng Anh hay tiếng Bây Ban Nha, tôi dỏng tai nghe chuyện họ kể. Bỗng nhiên, trong cái quán rượu Anh này tôi muốn đi tiểu. Vậy mà, thật không sao tưởng tượng nổi, chỉ thoáng qua thôi, tôi định tìm giám thị để xin phép đi. Chỉ thoáng qua rất nhanh, nhưng nhận ra điều đó, tôi thấy nực cười, Papillon ơi, bây giờ mi không phải xin phép ai khi muốn đi tiểu hay làm bất cứ việc gì.
Ở rạp chiếu bóng cũng vậy, khi cô nhân viên tìm chỗ cho chúng tôi ngồi, tôi thoáng có ý muốn nói với cô ta: “Xin cô cứ để mặc tôi, tôi chỉ là một tên tù không đáng phải bận tâm đâu”, đi ngoài đường, từ rạp chiếu bóng đến quán rượu, tôi cứ ngoái nhìn phía sau: Guittou vốn biết thói quen đó đã bảo tôi 
– Sao các cậu cứ quay nhìn lại phía sau luôn thế? Cậu xem lính có đi theo cậu không chứ gì? ở đây không có lính đi theo cậu đâu, Papi. Cậu đã để chúng ở lại trại giam rồi.
Theo lối nói hình tượng của dân tù, thì phải trút bỏ bộ cánh của dân tù đi. Còn hơn thế nữa, vì quần áo tù khổ sai chỉ mới là một vật tượng trưng. Không phải chỉ lột bộ cánh là xong, phải rứt ra khỏi tâm hồn và trí óc cái dấu tù được khắc bằng lửa ô nhục.

Một đội tuần tra Anh toàn lính da đen, ăn mặc chừng chạc vào quán rượu. Họ đi từng bàn, hỏi thẻ căn cước. Đến góc chúng tôi ngồi, đội trưởng nhìn kỹ mặt mọi người. Có một khuôn mặt người đó chưa biết, đấy là tôi.
– Xin ông cho xem căn cước.
Tôi đưa giấy cho anh ta. Anh liếc nhìn qua rồi đưa trả tôi ngay, và nói:
– Xin lỗi, tôi chưa được biết ông, thành phố George rất vui mừng được đón tiếp ông.
Rồi anh đi ra.
Khi anh ta đã ra hẳn, Paul Savoie nói:
– Bọn cảnh sát ở đây hay tuyệt, những người nước ngoài được họ tin cậy là tù vượt ngục trăm phần trăm. Làm sao chứng minh cho nhà cầm quyền Anh biết được cậu là tù vượt ngục, thế là cậu được tự do ngay tức khắc đấy.
Mãi khuya mới trở về nhà. Mới bảy giờ sáng, tôi đã có mặt ở cổng cảng. Nửa giờ sau Quých và anh cụt đã chở đến một xe ba gác đầy rau tươi vừa hái lúc sáng sớm, lại có cả trứng và vài con gà. Chỉ có hai người thôi. Tôi hỏi người đồng hương đã chỉ dẫn họ cách làm ăn đâu rồi. Quých đáp:
– Hôm qua, anh ta đã chỉ cho tôi, thế là đủ. Bây giờ chẳng cần ai dạy bảo nữa.
– Anh đi kiếm những thứ này ở xa lắm hả?
– Phải đi mất hơn hai tiếng rưỡi. Bọn tôi đi từ ba giờ sáng, bây giờ mới tới đây.
Quých kiếm ngay được trà nóng và bánh tráng, anh như người đã ở đây hai mươi năm rồi. Chúng tôi ngồi bên lề đường, cạnh xe ba gác, ăn uống và chờ khách tới mua.
– Bọn Mỹ hôm qua đã mua, liệu hôm nay có đến không?
– Tôi hy vọng họ sẽ tới, nếu họ không tới, ta bán cho người khác.
– Còn giá cả thì sao? Anh tính thế nào?
– Tôi không nói với họ: Cái này giá bao nhiêu. Tôi hỏi họ: anh trả bao nhiêu?
– Nhưng anh có biết tiếng Anh đâu?
– Đúng, nhưng tôi biết dùng tay chỉ trỏ, dễ lắm. Anh nói được tiếng Anh đủ để mua bán, anh làm trước đi, – Quých nói với tôi.
– Được nhưng tôi muốn xem anh làm một mình đã. 
Không bao lâu, một chiếc xe jeep lớn được gọi là com-măng-ca tới. Một lái xe, một hạ sĩ quan và hai lính thủy ở trên xe đi xuống, viên hạ sĩ leo lên xe ba gác, xem tất cả các thứ hàng hóa, rau xà lách, cà tím, v.v. sau khi kiểm tra kỹ các món kia, y nắn mấy con gà.
– Tất cả bao nhiêu?
Thế là hai bên bắt đầu mà cả:
Tên lính thấy nói giọng mũi. Tôi chẳng hiểu y nói gì. Quých lúng búng nói nửa tiếng Tàu nữa tiếng Tây..
Thấy hai bên không ai hiểu được ai, tôi kéo Quých ra một bên.
– Anh mua tất cả hết bao nhiêu?
Anh ta móc túi thấy còn mười bảy đô la
– Một trăm tám mươi ba đô-la, – Quých nói với tôi
– Họ trả bao nhiêu?
– Hình như là hai trăm mười đô-la, tôi thấy chưa đủ
Tôi tiến vê phía viên hạ sĩ, y hỏi tôi có nói được tiếng Anh không. Tôi nói là được chút ít.
– Ông nói chầm chậm nhé, – tôi nói với y.
– Được.
– Các ông trả bao nhiêu? Hai trăm mười đô la không được đâu. Phải hai trăm bốn mươi.
Y không chịu.
Y giả bộ bỏ đi, quay lại, rồi lại bỏ đi rồi ngồi lên xe jeep, nhưng tôi cảm thấy y đang đóng kịch. Đứng lúc y xuống xe lần nữa thì hai cô bạn Ấn hàng xóm với tôi, vẫn che nửa mặt, đi tới. Chắc các cô đã quan sát cảnh buôn bán của chúng tôi, vì các cô làm như không biết chúng tôi. Một cô leo lên xe ba gác, xem xét số hàng rồi hỏi chúng tôi.
– Tất cả bao nhiêu?
– Tất cả hai trăm bốn mươi đô la, tôi đáp.
Cô ta nói: “Được rồi”.
Nhưng tên lính Mỹ đã lấy hai trăm bốn mươi đô-la ra đưa cho Quých và nói với các cô gái Ấn rằng y đã mua những thứ đó rồi. Các cô bạn láng giềng của tôi cũng không chịu đi mà đứng xem bọn Mỹ bốc hàng trên xe ba gác chất lên com-măng ca. Phút cuối cùng, một tên lính thủy vớ luôn cả con heo, tưởng nó cũng thuộc mớ hàng đã được thỏa thuận bán. Tất nhiên, Quých không chịu để họ bắt heo đi. Thế là bắt đầu một cuộc cãi cọ trong đó chúng tôi không làm sao giải thích nổi cho họ hiểu rằng con heo không ở trong lô hàng đem bán.
Tôi cố làm cho các cô gái Ấn hiểu như vậy, nhưng khó quá Chính các cô cũng không hiểu gì. Bọn lính thủy Mỹ thì không chịu rời heo ra, Quých không chịu trả lại tiền, có lẽ xảy ra đánh lộn mất. Anh cụt đã rút một thanh gỗ xe ba gác ra, thì một xe jeep quân sự đi ngang. Viên hạ sĩ thổi còi. Bọn Quân cảnh đến gần. Tôi bảo Quých hãy trả lại tiền nhưng anh nhất định không chịu. Bọn lính thủy đã giữ con heo cũng nhất định không trả heo. Quých đứng chắn trước xe díp, không để cho xe đi. Một nhóm khá đông những người hiếu kỳ vây quanh cái cảnh huyên náo này. Bọn quân cảnh Mỹ bênh bọn lính thủy, vả lại, họ cũng chẳng hiểu chúng tôi nói gì. Họ tưởng là chúng tôi định đánh lừa các thủy thủ.
Tôi chưa biết xoay xở ra sao thì sực nhớ có ghi số điện thoại Câu lạc bộ Thủy thủ cùng tên anh chàng người Martinique. Tôi đưa cho viên sĩ quan quân cảnh và nói: “Gọi phiên dịch”. Y đưa tôi đến một cái máy điện thoại. Tôi gọi mà may làm sao, tóm được anh bạn theo phái De Gaulle của tôi. Tôi nhờ anh giải thích cho viên sĩ quan quân cảnh hiểu rằng đấy là con heo đã được thuần hóa, nó như con chó của Quých, rằng chúng tôi đã quên không nói trước với các thủy thủ là nó không thuộc vào lô hàng đem bán. Sau tôi đưa ống nghe cho viên sĩ quan quân cảnh. Chỉ ba phút sau là y hiểu cả. Tự tay y cầm con heo đưa trả Quých, làm anh ta sung sướng quá, ôm nó vào lòng và vội đưa nó lên xe ba gác ngay. Sự việc đã chấm dứt vui vẻ, và tốp lính Mỹ cười như nắc nẻ. Ai đi đường người nấy và thế là xong.
Buổi tối ở nhà, chúng tôi cảm ơn các cô bạn ấn Độ. Mấy cô cũng cười rất dữ về chuyện này. 
Chúng tôi ở Georgetown đã được ba tháng. Hôm nay, chúng tôi về ở phần nhà của các bạn ấn Độ nhượng cho chúng tôi. Hai phòng sáng sủa rộng rãi, một phòng ăn, một bếp nấu ăn nhỏ đun than và một cái sân rộng mênh mông, trong góc có mái tôn để gia súc trú. Chiếc xe ba gác và con lừa cũng có chỗ chu đáo. Tôi được ngủ một mình một giường to có nệm ấm. Hai anh bạn Tàu ở phòng bên, mỗi người một giường riêng. Chúng tôi còn một cái bàn và sáu ghế tựa cùng bốn ghế đẩu. Trong bếp có đủ dụng cụ nấu nướng. Sau khi cám ơn Guittou và các bạn về nhà chúng tôi, như lời Quých nói. Trước cửa sổ phòng ăn nhìn ra đường chễm chệ chiếc ghế phô-tơi quà tặng của các cô bạn Ấn. Trên bàn ăn, trong bình thủy tinh, có cắm hoa tươi do Quých mang về.
Cảm giác có căn nhà riêng đầu tiên của mình, xoàng xĩnh nhưng sạch sẽ căn nhà sáng sủa tinh tươm, kết quả đầu tiên của ba thằng cùng kiến ăn chung, làm tôi tin tưởng vào bán thân và vào tương lai.
Mai là chủ nhật, không có chợ, vậy là chúng tôi được tự do cả ngày. Ba chúng tôi quyết định nấu một bữa mời Guittou và các bạn anh, mời cả các cô bạn Ấn Độ với mấy người anh, em của họ. Khách danh dự là bác ba Tàu đã giúp Quých và anh cụt, đã tặng hai người chiếc xe ba gác với con lừa, lại còn cho chúng tôi mượn hai trăm đô-la để khởi đầu chuyện buôn bán của chúng tôi. Bác ta sẽ thấy trên đĩa đặt trước mặt bác, một cái phong bì trong có hai trăm đô la, và một tấm giấy của cả ba chúng tôi cảm ơn bác, viết bằng chữ Hán.
Sau con heo mà anh yêu dấu, Quých dành tất cả tình bạn của anh cho tôi. Anh luôn luôn chăm chút tôi từng ly từng tí. Trong ba người chúng tôi, tôi là người ăn mặc tươm tất nhất, và đi đâu anh cũng thường mang về cho tôi một cái áo sơ mi, một chiếc cà vạt hay một cái quần dài. Anh mua những thứ dó bằng tiền riêng của anh. Mỗi ngày cả ba chúng tôi kiếm được từ hai mươi lăm đến ba mươi đô la cũng chẳng là bao, nhưng chúng tôi hài lòng vì thấy đã mau chóng tự kiếm sống được. Không phải lúc nào tôi cũng đi mua hàng với hai anh, tuy tôi đi thì mua được rẻ hơn. Bây giờ tôi chuyên bán hàng, nhiều lính thủy Mỹ và Anh được cử lên bờ để mua hàng cho tàu của mình, đã quen biết tôi. Chúng tôi nói chuyện giá cả với nhau rất tử tế, không nóng nẩy. Có một gã cao lớn phụ trách bếp ăn của sĩ quan Mỹ, một thằng Mỹ gốc Ý, chỉ nói với tôi bằng tiếng Ý. Nó sung sướng ra mặt khi thấy tôi trả lời bằng tiếng mẹ đẻ của nó và chỉ mặc cả cho vui. Cuối cùng, nó mua với giá tôi đòi từ khi bắt đầu gặp nhau.
Chừng tám giờ rưỡi đến chín giờ sáng, chúng tôi đã về nhà. Cả ba chúng tôi ăn một bữa nhẹ rồi anh cụt và Quých đi nằm, còn tôi sang tìm Guttou, hay các cô láng giềng sang chơi bên tôi. Việc nhà chẳng có mấy, chỉ quét nhà, giặt đồ, làm giường, dọn dẹp nhà cho sạch sẽ, hai chị em hàng ngày làm việc đó cho chúng tôi rất chu đáo mà chẳng lấy bao nhiêu, có hai đô la mỗi ngày. Tôi đã biết đầy dủ thế nào là tự đo, không còn phải kinh hoàng lo nghĩ đến tương lai nữa.









Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Chương 20

Tất cả cảnh đó đã diễn ra trong thời gian tối thiểu không cần phải kể lại. Chiếc máy bay đã xuất hiện vừa đúng lúc để cất đi các nỗi do dự của chúng tôi. Chúng thấy chiếc máy bay ấy các đêm trước, nhưng vào lúc con tàu dừng lại, lần nầy chính các tia lửa than bắn ra từ đầu máy đang chạy đã lôi cuốn sự chú ý của chiếc phi cơ. Riêng đối với người mở cửa toa cho chúng tôi nhờ phản ứng mau lẹ và sự bình tĩnh hiếm có, là một người. Pháp tên Robert, anh đã rình cả buổi tối âm mưu của chúng tôi và tự hứa sẽ theo chúng tôi. Nhưng không muốn bị coi là một kẻ không xứng đáng len lỏi vào nhóm chúng tôi, anh đã trả một thứ lệ phí gia nhập nhóm chúng tôi bằng cách mở cửa và nhảy xuống đầu tiên, hành động của anh là cả một sự khéo léo. Ngoại trừ một vài vết sây sứt nơi tay, gây ra bởi sức rơi trên đá vụn, không ai bị thương trầm trọng cả. Bình minh cũng sắp ló dạng, vì ở phương Đông, một vệt xám và đục mờ đã chọc thủng màn sương đêm đang bao phủ chúng tôi. Tuy nhiên đây không phải là lúc nhìn ngắm cảnh bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng. André đã lên dẫn đầu và theo một hàng dọc. Chúng tôi đi về phía một khu rừng in bóng cả một khối đen sậm nghiêng nghiêng về phía Tây. Chúng tôi phải đi một khoảng độ chừng một cây số mới đến khu rừng ấy.

Ý nghĩ liên quan đến vấn đề tiếp tế thực phẩm từng làm chúng tôi lo âu, đột nhiên biến mất khi Guy thoáng thấy một đống đất nhỏ khó nhìn ra, nếu không có cặp mắt tinh ý, nằm trong cánh đồng ven bờ rừng. Đấy chính là một chỗ dự trữ khoai tây mà có lẽ một nông dân vừa mới chôn xuống đất cách đây vài giờ. Nến có ai nhìn chúng tôi từ xa, chắc sẽ phải vô cùng sợ hãi vì chúng tôi trông giống như những kẻ trộm đào mồ đang khai quật một quan tài. Với thức ăn, chúng tôi đã được cứu thoát một nửa rồi. Chúng tôi đi sâu vào rừng thông để tổ chức một phiên họp nhỏ. Chúng tôi không biết được gì hết, cả hướng mặt trận lẫn vị trí địa dư của mình, vụ chúng tôi không có bản đồ, địa bàn, bật lửa, hộp quẹt. Chúng tôi chỉ biết có một điều: hôm nay là sáng ngày 10 tháng 4. Phải đi thám sát một vòng và kiếm cái gì đốt lửa để tạo một ít thức ăn, nếu không sẽ không thể tiếp tục được con đường đào thoát vào đêm mai. Trong tất cả các làng mạc ở Đức, đâu cũng có các tù binh chiến tranh Pháp hay người nước khác, được đi làm đồng áng mà không bị canh giữ, và thật xui tận mạng nếu chúng tôi không gặp được người nào. André, Guy và Robert ở lại để giữ kho tàng và thay phiên nhau nằm nghỉ, trong khi cùng với Marcel tôi đi sâu thêm vào rừng để ra phía bên kia và quan sát cánh đồng. Chúng tôi đang ở giữa một đám thông con bị chặt ngang tầm cao quá đầu người, nhưng các bụi rậm bên dưới dày đặc tạo thành một chỗ nấp lý tưởng để ẩn náu. Cứ gặp một chỗ thuận tiện, tôi lại làm dấu bằng một cành cây nhọn hình mũi tên hoặc một hòn đá để khỏi lạc đường về. Sau khi đi được nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi gặp một con suối cho phép Marcel rửa vết thương trên đầu và giúp chúng tôi rửa ráy mặt mày. Qua một màn cây ngăn cách, chúng tôi thấy một cánh đồng bao la bất tận, mặt đất sáng và xốp như cát. Mặt trời đã lên cao đủ chiếu vào tận chỗ chúng tôi. Bất chợt Marcel nắm chặt lấy tay tôi.

– Nhìn đằng kia, anh nói, có một người! Với chiếc nón chào mào ấy, tôi chắc chắn là một người Pháp.

Cố gắng mở lớn mắt, tôi thấy một bóng người trong cánh đồng mênh mông, nhưng mắt tôi không cho phép phân biệt rõ các chi tiết. Không còn phải ngần ngại gì nữa! Trong trường hợp tệ nhất, chúng tôi sẽ sử dụng con dao thô sơ được mang theo từ trại tập trung. Để bớt vẻ bề ngoài của tù nhân, chúng tôi lột nón và vắt áo vào tay. Với chiếc quần mà các đường sọc gần như đã bị phai hẳn vì hao mòn và bụi bặm bẩn thỉu, từ xa chúng tôi có thể trông giống như hai kẻ đi làm đồng áng. Còn 200 thước cách con người đang xới đất kia, Marcel thì thầm:

– Tôi không nhìn lầm, quả là một gã ở Pháp, chỉ cần nhìn cách hắn hút ống vố là đủ biết.

Khi chúng tôi đến gần, anh ta dừng công việc. Mặc một bộ kaki, anh ta trông giống như mọi người tôi quen ở các nhà tù Đức quốc, và nếu không phải là đồng hương, ít ra anh ta cũng là tù binh chiến tranh. Chung quanh chúng tôi, xa đến mức mắt còn nhìn thấy được, không có một bóng người, và từ một con đường ở xa thật xa, không một ai có thể nghi ngờ chúng tôi là hạng người gì. Trong tình thế lấy hai chọi một, ta có thể yên tâm được phần nào, như vậy sau khi ra hiệu cho Marcel để tôi nói, bằng một giọng bình tĩnh nhưng rõ ràng, tôi mạo hiểm thốt câu đầu tiên

– Pháp?

– Phải, Breton.

Anh ta đã nói cái gì kia! Marcel tràn đầy cảm động, lập tức bắt đầu câu chuyện dùng toàn tiếng lóng địa phương hết sức lạ tai đối với tôi.

– Còn quân Mỹ?

Tôi lợi dụng một lúc Marcel ngừng nói để đặt câu hỏi ấy.

– Chúng tôi chờ đợi họ đến ngày hôm nay hay ngày mai, – anh ta trả lời tôi. – Bà chủ sai tôi đến đây đào một cái hầm để dấu một ít khoai tây vì bả sợ bị trưng dụng hết cả.

Và dùng ngón tay trỏ hướng về phía Nam, anh ta chỉ cho chúng tôi thấy một nóc lầu chuông nhà thờ và các mái nhà lợp ngói đỏ. Đó là ngôi làng mà anh ta được đưa đến ở từ ba năm qua. Cũng giống như tất cả tù binh chiến tranh được xử dụng trong các nông trại, anh ta ở đấy như chuột sa vào hũ gạo. Làm nhiều việc, chắc chắn rồi, nhưng được nuôi ăn kỹ, gần như được hoàn toàn tự do, và các mối lợi khác phát sinh từ sự vắng mặt của đàn ông Đức vì họ phải đi nhập ngũ. Thoạt tiên anh tưởng chúng tôi là tù vượt ngục, thật ra cũng gần đúng như vậy ngoại trừ anh ta không biết trại tập trung là và trong vài lời vắn tắt, Marcel cố gắng soi sáng anh ta, nhưng anh ta có vẻ đang tự hỏi có phải chúng tôi đang kể một câu chuyện tiểu thuyết đăng trường kỳ trên nhật báo hay không. Chúng tôi không thể để mất thì giờ. Cuộc gặp gỡ của chúng tôi rất cảm động, tuy nhiên sau tình cảm, thực tế đã trở lại với quyền hành của nó. Đó là một gã tốt bụng, một mẫu người thuần hậu đơn giản, không hề có một ý thức nào về trạng huống của chúng tôi. Anh ta lấy làm tiếc là đã không mang theo phần bánh mì của mình, và đáp một câu hỏi, anh ta cho biết chúng tôi đang ở về phía Đông của sông Elbe, gần chính giữa con đường nối Hambourg và Magdebourg. Anh ta có một chiếc bật lửa. Đấy chính là tất cả những gì chúng tôi cần. Duy có điều khi Marcel cho anh ta biết là chúng tôi cần chiếc bật lửa ấy cũng như cần cặp giò của chúng tôi, anh ta ngần ngại.

– Nó là một kỷ niệm của vợ tôi, – anh ta bảo, và anh ta khẩn cầu chúng tôi khi nào đi ngang qua đây trong đêm, bởi vì đó là con đường chúng tôi phải đi, hãy để lại chiếc bật lửa trong một góc hầm mà anh hấp tấp lấy cán cuốc để làm dấu cho chúng tôi nhớ địa điểm.

Marcel, đôi khi thiếu ngoại giao, đã vấp phải một sơ hở khi muốn, xác định rằng chúng tôi còn cần dùng đến chiếc bật lửa trong nhiều ngày nữa. Nhưng tôi đã không để cho anh nói hết lời:

– Chắc chắn rồi, – tôi nói với ông bạn người vùng Bretagne cứng đầu còn hơn cả Marcel nữa, thông cảm với anh, đây là quà của bả mà. Chúng tôi sẽ trả lại anh, đừng sợ mất.

Và cùng lúc đó tôi nghĩ: “Tội nghiệp anh bạn, nếu anh biết rằng tôi bất cần kỷ niệm của vợ anh. Người ta vừa nói với anh về cả triệu người chết mất xác trong những điều kiện rùng rợn, trong đó có người Pháp, những người Bretagne như anh. Tôi đã ở đó với một người đồng hương của anh, người mà anh được nói chuyện thoải mái, và người đã giải thích với anh rằng chúng tôi chỉ có một mẩu bánh mì trong bụng từ bốn hôm nay, rằng tính mạng chúng tôi đang bị đe dọa sau khi trốn thoát khỏi địa ngục trên chiếc xe lửa, rằng chúng tôi còn ba người bạn đang bị lạnh cóng trong rừng và phải già người đi vì chờ đợi chúng tôi, và chỉ vì người ta xin anh độc có chiếc bật lửa, mà anh, người có quyền ăn mỗi ngày năm bữa trong nông trại, và có thể ngủ cả với bà chủ hay con gái bà, anh lại còn ngần ngừ do dự”.

Nếu anh ta còn cho tôi chiếc bật lửa, cái đó lại có vẻ công bình hơn nữa, mặc dù tôi đã hứa trả. Chính tôi đã giữ nó khiến anh ta bối rối, và suýt nữa tôi bật cười. Quà kỷ niệm của vợ anh ta chỉ là một cục sắt thê thảm đáng giá ba quan trước chiến tranh. Đồng ý một món kỷ niệm là vô giá, như người ta vẫn nói, nhưng sau thời gian ở Ellrich, sự tương phản quá thật quá lớn lao.

Để hoàn toàn làm cho anh ta yên tâm, vì anh ta cứ liếc mãi vào tài sản của mình mà tôi đang nắm chắc trong tay phải, tôi đọc cho anh nghe một đoạn thơ mới, tất cả cái gì hay ho nhất thuộc loại nói về các kỷ niệm và tính cách lãng mạn. Cuộc từ biệt xẩy ra ngắn ngủi, Marcel ghi cho anh ta địa chỉ của anh và hứa sẽ xin cấp cho anh ta một huy chương vì đã giúp đỡ một sĩ quan hải quân gặp nguy khốn. Điều đó đã kết thúc thật hay trong cuộc gặp gỡ nầy. Trên đường về, tâm hồn chúng tôi đầy vui vẻ. Ba bạn đồng hành của chúng tôi chưa biết gì, quả thật chúng tôi đã rơi vào một nơi lý tưởng, xa cách mọi lối đi qua và xa cách các làng mạc mà bọn trẻ con rong chơi ở vùng lân cận có thể là mối nguy hiểm của chúng tôi, và với một niềm hãnh diện rất chính đáng, hãnh diện vì trở về với một kết quả tích cực, và với một chút cảm động, Marcel huýt sáo miệng hai lần tại một điểm thích nghi định trước, để không làm các bạn giật mình sợ hãi vì sự xuất hiện đột ngột. Tiếng trả lời đáp ứng ngay, và khi họ trông thấy vẻ mặt chúng tôi, họ hiểu ngay là chúng tôi đã thành công. Khốn khổ, các bạn tôi bị lạnh cóng. Chỗ chúng tôi nấp, mặt trời không chiếu qua được, nhưng ngược lại, theo Robert, một người hiểu biết thật nhiều, đây là chỗ lý tưởng để đốt một ngọn lửa trên mặt đất. Anh ta đã chuẩn bị tất cả, cành cây thông khô, gỗ thông mục, và năm phút sau khi chúng tôi trở về, các bạn tôi đã được sưởi ấm quanh ngọn lửa. Họ luân phiên quạt khói bằng chiếc nón chào mào để không bị chú ý từ xa. Mọi chuyện đều tốt đẹp và nửa giờ sau, Robert, người đã thú nhận với chúng tôi là một tay chuyên săn bắn trái phép, khi còn ở ngoài dân sự, đưa cho chúng tôi mấy củ khoai tây chín được vùi trongtro. Không muối, không tiêu, nhưng ngon làm sao! Đấy là lúc hoan lạc nhất của chuyến mạo hiểm, bởi vì mọi vật hình như cười đón chúng tôi kể từ khi nhảy vào chốn vô định. Trước hết là thời tiết có vẻ còn khô ráo, sau đó là thức ăn.

Sau khi no nê và nhét đầy túi làm dự trữ cho một đêm hành trình sắp đến, một kế hoạch liền được chấp nhận: nghỉ ngơi tại một khoảng rừng trống có ánh mặt trời kế cận chỗ đang ngồi vì từ năm đêm nay chúng tôi không được ngủ, và ngay lúc mặt trời lặn, lại lên đường: hướng Tây. Không có những tin tức chính xác, vì chúng tôi nghi ngờ tin tức của người tù binh chiến tranh, chúng tôi đồng ý trên nguyên tắc là phải đi ít nhất là 100 cây số, mới gặp được quân đội Đồng Minh. Mỗi đêm đi 20 cây số vậy là phải mất năm đêm. Đó là cá nhân bi quan nhất, nhưng chúng tôi thích giữ lại một sự ngạc nhiên dễ chịu hơn là có ảo tưởng. Chúng tôi không quên điều kiện thể chất tồi tệ của mình, và một cuộc gặp gỡ không mấy dễ chịu vẫn có thể xảy ra. Riêng phần tốc độ đi ban đêm, chúng tôi cũng chỉ căn cứ vào phương tiện tối thiểu. Ban đêm người ta đi chậm hơn ban ngày, và nguyên tắc đi hàng một băng qua cánh đồng cũng làm chậm hơn nhịp đi trung bình. Chúng tôi đến khoảng rừng thưa và nằm sãi ra để tìm giấc ngủ, Marcel nhận phiên gác đầu tiên. Mặt trời đứng bóng. Yên tĩnh biết bao giữa lòng vũ trụ! Chỉ có tiếng chim hót và tiếng rì rầm của côn trùng làm khuấy động cảnh thanh bình của cánh đồng và rừng cây. Làm sao có thể tin được cả thế giới đang nhuộm máu và đầy các đống đổ nát điêu tàn? Còn con tàu, nay nó ở đâu? Thật khó mà ngủ trong những giờ khắc sống sôi động như thế này. Đôi khi sau một tiếng động có vẻ khác thường, chúng tôi nín thở để lắng nghe. Tuy nhiên đó chỉ là tiếng lá rụng hay tiếng cành cây khô nhỏ bị gãy, gây ra bởi chim chóc chuyền từ cành nầy sang cành nọ. Cảnh xế chiều lại còn huy hoàng hơn nữa. Khi mặt trời từ từ lặn xuống, đời sống của hằng hà sa số côn trùng chậm lại một không khí êm dịu nên thơ, nối tiếp giữa cái nắng buổi trưa và cái lạnh của đêm tối, lan tràn khắp khu rừng thưa nơi chúng tôi đang nghỉ.

Cái tự do mà chúng tôi đang ôm đầy trong vòng tay đối với chúng tôi vẫn còn là thứ tự do rất hạn chế. Giống như dã thú, chúng tôi không thể đi ra khỏi rừng và ngay cả trong đêm tối chúng tôi cũng sẽ phải lánh xa thôn xóm làng mạc nơi những con người như chúng tôi đang sống. Con đường ngăn cách với quân Đồng Minh đối với chúng tôi cũng tệ hại như một vùng “Phi chiến địa”: một vực thẳm. Tuy nhiên tâm trí chúng tôi bị một quyết định hung dữ chế ngự: chấp nhập tất cả còn hơn là bị bắt lại. Trong thời kỳ thảm bại và tháo chạy với niềm kiêu hãnh còn lại cửa những kẻ đã chiến thắng ngày trước, binh lính của Hitler chắc sẽ không nhẹ tay khi thanh toán bọn tù nhân bắt gặp trên đường rút lui của chúng; tuy nhiên về phần chúng tôi, ai nấy cũng đã tự hứa là không có lịch sự gì cả đối với những kẻ cản bước chúng tôi, và chúng tôi thích bị chết trong khi chiến đấu hơn là trở lại địa ngục của một trại tập trung nào đó.

Buổi tối, khi bóng đêm bao phủ dần dần bìa rừng, chúng tôi nghe xa xa có tiếng đóng súc vật vào xe vẳng về từ phía nông trại, một ngày đồng áng đã chấm dứt. Đối với chúng tôi, một ngày khác bắt đầu.

– Phải viết một cuốn sách về cuộc phiêu lưu của chúng ta, – Marcel nói trong khi chúng tôi chuẩn bị lên đường.

– Chắc nó sẽ rất lôi cuốn, – André trả lời, – tuy nhiên làm sao nói được tất cả sự thật như chúng ta đang sống đây. Không có một sự ghi chú nào; thật khó mà viết. Và phải đặt cho nó tên gì? Bởi vì sẽ không thiếu các loạt sách viết về đề tài nầy, nhưng chắc chắn sẽ hiếm có các tác phẩm không phải là sản phẩm của tưởng tượng hoặc là có tính cách thủ cựu.

Marcel, trong tư cách và khả năng của một sĩ quan hải quân dẫn đầu, André đi kế đó, tôi đi giữa, Guy và Robert sau cùng. Chúng tôi đã định hướng rất kỹ phía Tây và vì có dấu hiệu cho thấy trời sẽ có sao, có thể hướng dẫn chúng tôi trong đêm tối, cuộc khởi hành được thực hiện trong những điều kiện tuyệt diệu. Khi đặt chân lên cánh đồng tiếp nối cánh rừng.

Marcel ra lệnh dừng lại một lúc. Như vậy là khôn ngoan vì trời cũng chưa tối hẳn, và một nông dân nào đó đi làm về muộn có thể trông thấy chúng tôi.

Vào khoảng 10 phút sau khi chúng tôi ngồi xuống bìa rừng, nhiều tràng đại liên và nhiều phát súng đại bác hạng nhẹ phá vỡ cái im lặng của một đêm mới bắt đầu. Trước hết không ai dám to tiếng phát biểu những gì mình nghĩ trong đầu. Các khẩu súng đã bắn ra các loạt đạn đó chắc chắn được đặt cách đấy tối đa là 15 cây số. Mặt trận ở gần đây quá! Thật tốt đẹp vô cùng Bị ngắt quãng đều đặn vài giây, tiếng tic-tac của vũ khí tự động tiếp tục như thế trong nửa giờ đồng hồ rồi im bặt. Sự hứng khởi đầu tiên của chúng tôi lại trở về số không. Đấy chỉ có thể là tiếng nổ phát ra do một dàn súng phòng không D.C.A. Tuy nhiên lại không có tiếng chiếc máy bay nào trên trời, và một cuộc bắn phá như vậy phải là để ngăn chặn cả một phi đội đang oanh tạc. Vậy thì, nếu đó là tiếng súng chống chiến xa thì tại sao lại có sự im lặng đột ngột? Một hay hai chiến xa có thể đã lị phá hủy, nhưng các mũi nhọn tấn công của quân Mỹ thọc sâu vào phòng tuyến địch chắc chắc phải nhiều hơn hai chiến xa.

Chúng tôi đặt cho nhau tất cả các câu hỏi ấy và mỗi người thứ tìm cách trả lời thành thật nhưng trong sự cố gắng thỏa mãn lập trường cá nhân phần lớn rất là lạc quan. Chúng tôi phát gạt bỏ khỏi tâm trí các giải đáp quá dễ dàng vì trước mặt chúng tôi đang có một đêm phải đi, và trước khi khởi hành lại, André đã nói một câu kết luận hợp lý:

– Rất có thể là có một đoàn cơ giới trong khu vực nầy, có thể nó đã gặp sức kháng cự, và không muốn mạo hiểm trong đêm tối, nhưng như vậy thì cuộc đụng độ lại sẽ xẩy ra vào sáng mai, chúng ta sẽ thấy điều đó. Trong khi chờ đợi, nào lên đường!

Nếu đường thẳng bao giờ cũng đúng là đường ngắn nhất từ một điểm nầy qua một điểm khác, thật không phải dễ gì đem áp dụng định lý ấy cho việc đi ngang qua một cánh đồng. Với một tinh thần đầy phấn thích như chúng tôi đang có, dường như chúng tôi có thể nuốt hàng cây số đường một cách dễ đàng, tuy nhiên với những đôi giày đế gỗ, và trong cuộc đất xốp vì được cầy bừa, cơn mệt mỏi đã đến rất nhanh cùng với cơn đói khát. Những củ khoai tây nướng không có chất béo không phải là thực phẩm dinh dưỡng tốt, và sau khi ăn chúng, người ta lại cảm thấy bao tử trống rỗng ngay sau các nỗ lực đầu tiên.

Trước sự ngạc nhiên đầy khổ tâm của chúng tôi, cánh đồng được canh tác lại được nối tiếp bằng một cánh đồng lầy. Cứ cách một khoảng 2 hay 300 thước lại có một hàng rào dây kẽm, đôi khi là kẽm gai, ngăn cách hai cánh đồng với nhau, chúng tôi bắt buộc phải dừng lại để chờ đợi mọi người. Marcel lợi dụng khoảnh khắc ấy để định hướng sao bắc đẩu. Im lặng bao trùm một cách nghiêm ngặt, và mỗi khi dừng lại, chúng tôi phải vểnh tai nghe ngóng từng tiếng động nhỏ. Nhưng một đôi khi, một người trong bọn cũng phải miễn cưỡng phát lên một tiếng chửi thề, vì một chân bị dẫm sụp xuống một hố nước. Chúng tôi có đi đúng về hướng Tây không? Đó chính là cảm nghĩ của chúng tôi, nhưng chúng tôi đã mất một nửa thời gian để vượt qua các chướng ngại vật và tìm kiếm hướng đi qua một khu rừng chắn lối chúng tôi. Sau vài giờ, chúng tôi phải dừng lại vì đã ước tính quá mức sức lực của chúng tôi. André đang bị sốt và cú đạp vào lưng anh trên toa xe lửa thỉnh thoảng làm anh đau đớn oằn người. Những vết trầy trên tay trái sau khi tôi nhảy khỏi con tàu, tưởng là không nghĩa lý gì, nay lại bị làm độc, cả cánh tay tôi nóng như bốc lửa và tôi phải đeo nó lên ngực nhờ một miếng giẻ mà Robert cột choàng qua cổ tôi. Người ta sẽ cảm thấy rất bị trở ngại lúc đi nếu cả hai tay không được tự do. Marcel cũng bị đau đầu dữ dội. Phải liên tục rình mò quan sát bầu trời và đóng vai trò hướng dẫn là một công việc mệt nhọc vì cả toán đều căn cứ vào cử động của anh, và đã hơn một lần anh bị quáng mắt tưởng là trông thấy một mái nhà trong khi đó chỉ là một khoảng trống mở ra bầu trời của một chòm cây cao. Guy và Robert chưa dám thú nhận, nhưng từ lâu họ cũng mong đợi được dừng lại. Không bao giờ giấc ngủ ban ngày lại có thể thay thế được giấc ngủ ban đêm, chúng tôi có cơ hội để xác nhận sự thật đó. Dầu cho mặt đất ẩm ướt và cái lạnh được cảm thấy ngay sau cơn sưởi ấm nhờ đi bộ, chúng tôi nằm sãi ra một cách dễ dàng giữa mặt đất để gọi là nghỉ ngơi mươi phút. Không một ai dám nói, nhưng tất cả chúng tôi sẽ có thể nằm ngủ luôn cho đến sáng bởi vì cảm thấy đuối sức quá. May thay, những cơn đau giật nơi cánh tay đã ngăn không cho tôi hoàn toàn rơi vào tình trạng vô thức của giấc ngủ, và có thức mới cảm thấy được hơi ẩm ướt cũng như cái chết, thấm dần vào cụ thể như thế nào. Tôi phải lay mạnh các bạn đồng hành mới dựng họ dậy được, nói đúng hơn là mới nhổ họ lên khỏi mặt đất được.

Sau khi cất bước đi lại không bao lâu, tiếng một con chó sủa bắt buộc chúng tôi phải dừng lại. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã đi qua gần một xóm nhà. Chúng tôi phải bò qua một thửa đất, vì có ánh sáng chiếu ra từ một cửa sổ. Chúng tôi không quên rằng dân Đức đã bị đầu độc bởi câu chuyện gián điệp nhảy dù và một chủ nông trại khi nghe chó sủa ban đêm, có thể cùng nhiều người khác có võ trang đi ra khỏi nhà thực hiện một cuộc tuần thám.

San biến cố ấy, một nỗi sung sướng chờ đợi chúng tôi. Khi đi ra khỏi một khu rừng mà chúng tôi tưởng là đã bị lạc lối vì con đường băng ngang quá dài, chúng tôi trông thấy các vệt sáng đó chiếu sáng chân trời. Sau khi kiểm điểm thật nhanh, Marcel xác nhận rằng đám cháy sáng ấy nằm đúng về phía Tây. Những đám cháy khổng lồ ấy chắc chắn là đã do các cuộc oanh tạc gây nên, tuy nhiên, nhiều phát đại bác hạng nặng mà chúng tôi không hề nghe trước đó, nay vẳng lại chúng tôi cách khoảng vài phút đều đặn. Người ta có thể giả thiết đủ điều; tuy nhiên kinh nghiệm cho chúng tôi biết là nên nhớ lại câu chuyện bán da gấu. Đó cũng có thể là các dân D.C.A đang hoạt động chống lại một cuộc oanh tạc vào thành phố. Dẫu sao cũng phải tiếp tục đi, ngay cả trong trường hợp mặt trận chỉ còn cách 50 cây số, chúng tôi cũng phải bắt đầu đi thêm một đêm như vậy nữa sau một ngày nằm bẹp xuống đất với hai hay ba củ khoai nướng; ý tưởng đó làm chúng tôi chán nản vì nó đảo ngược những ảo tưởng được xây dựng sau khi trông thấy các đám cháy kia. Nghĩ đến các đêm kế tiếp, một nỗi sợ hãi xâm chiếm lấy chúng tôi, sợ không còn sức lực, sợ chạm phải đám tàn quân Đức đang rút lui và sau cùng lo âu bị mắc cạn khi gần đến đích. Chúng tôi còn phải đi nhiều giờ nữa về phía ánh sáng của các đám cháy đang nhạt dần, rồi lại bùng lên và hình như chập chờn lùi thêm xa mỗi khi chúng tôi tiến lại gần chúng.

Một ánh sáng khác như một bức màn xám từ mặt đất dâng lên, nhưng lại chiếu sáng bầu trời về phía Đông, báo cho chúng tôi biết bình minh đã đến, và chúng tôi phải tìm chỗ ẩn nấp trong rừng. Trước mặt chúng tôi có một khu rừng ẩn nấp được. Vừa có đủ thời giờ đến đó thì trời đã sáng hẳn. Người ngợm chúng tôi trông xấu xí quá. Râu tóc xồm xoàm, dơ bẩn, bùn lấm tận đầu gối. Khoai tây nướng được ăn luôn vỏ làm môi chúng tôi đen sì, và mặc dù trời lạnh và không khí ẩm ướt, chúng tôi khát khô người. Một con suối chảy dọc theo khu rừng và song song với một con đường đã giúp chúng tôi tìm được cảm giác thống khoái dễ chịu, tuy nhiên mỗi giọt nước lại làm chúng tôi đói thêm. Chúng tôi còn lại mấy củ khoai nhưng phải giữ làm thức ăn cho cả ngày và chỗ nghỉ hiện tại không thuận tiện chút nào cho việc nướng thêm một số khoai khác mà chúng tôi có thể tìm kiếm dễ dàng ngoài đồng. Vả lại, không ai còn nói đến ăn nữa, cái mệt làm quên mất cái đói, và chúng tôi bằng lòng thấy ánh mặt trời để có lý do được nghỉ ngơi.

Chúng tôi đã đi được bao nhiêu cây số? Marcel cho rằng 25 cây, André 20, tôi cũng đoán số đó và Guy cũng như Robert thì nói rằng bốn dặm tức 16 cây số là tối đa. Nhiều bụi rậm đã che đầu chúng tôi cách con đường chỉ chừng mười thước. Đằng sau và chung quanh chúng tôi một rừng thông khá dầy trải dài. Bên kia đường là cánh đồng ngút ngàn bất tận. Chúng tôi có ý tiến gần mép rừng để có thể quan sát sự lưu thông trên con đường. Có dấu hiệu cho thấy một ngày có ánh nắng mặt trời và không khí êm dịu. Chắc chúng tôi phải ở xa làng mạc lắm vì không ai nghe được dù là một tiếng gà gáy, yên tĩnh hoàn toàn lúc đó đã sáu giờ sáng và chúng tôi không cảm thấy được thoải mái lắm, nhất là về mặt tính thần, vì về mặt thể chất, chúng tôi đã quá mệt mỏi rồi. Mặc dù khí trời lồng lộng, chúng tôi vẫn cảm thấy nghẹt thở vì bụi bặm bám vào người từ chân lên đầu. Dường như các loạt súng máy đêm qua, những phát súng đại bác và những đám cháy trong đêm chỉ là các ảo ảnh và là hậu quả của trí tưởng tượng bị kích thích quá độ. Rất có thể là chúng tôi còn ở cách; xa mặt trận đến mức độ các cuộc ước tính bi quan nhất cũng không liệu đến, dưới góc cạnh đó, hoàn cảnh của chúng tôi thật tuyệt vọng. Chúng tôi đang kiệt sức và gần như mất hết năng lực như thế, đột nhiên hàng loạt liên thanh giống như đêm hôm qua nhưng lần nầy gần hơn, đã làm chúng tôi giật nảy mình. Đây không phải là hậu quả của ảo giác nữa. Tiếng động ấy làm chân tôi như bị kiến cắn, một sự ham muốn bất thần, được đi, được chạy đến xem chuyện gì đã xảy ra. André nằm dán xuống đất, Guy bắt chước theo, Robert bị trầy một chân, chỉ có Marcel tuyên bố sẵn sàng theo tôi. Tiếng súng nổ dòn vẫn còn tiếp tục, lại còn gia tăng cường độ thêm nữa, và nhiều tiếng súng nổ rất gần đến nỗi sau mỗi loạt, chúng tôi tự động khom mình xuống.

Sau khi đi được vài trăm thước, luôn luôn theo bìa rừng, Marcel không ngừng quan sát con đường, đột ngột đứng lại và ra dấu tôi làm theo anh. Anh ta cúi thấp người xuống và tôi bắt chước anh. Một người từ con đường đi về phía chúng tôi. Còn chừng một trăm thước nữa là ông ta sẽ đi ngang qua chúng tôi. Mỗi người nấp sau một thân cây, chúng tôi có thể quan sát ông ta mà không bị trông thấy. Ông ta đội một chiếc nón kết của quân đội Ba Lan và trên áo khoác ngoài, phía ngực trái, một chữ P trên nền tam giác vùng, dấu hiệu của các nhân viên dân sự Ba Lan làm việc tại Đức. Sau khi chậm bước, ông ta dừng lại đúng ngay trước mặt chúng tôi. Ông ta có trông thấy chúng tôi không? Không thể nào trông thấy được. Hình như ông ta đang lắng nghe một tiếng động mà chúng tôi cũng vừa mới thoáng nghe đâu đây, một tiếng động đều đặn vang tới từ phía có tiếng súng nổ. Lòng ham muốn ra khỏi chỗ ẩn núp làm chúng tôi bứt rứt tay chân. Trong số người Ba Lan, không hiếm kẻ cộng tác lẫn người chống lại bọn Đức một cách cuồng nhiệt. Trong các trại giam tù binh chiến tranh của Đức, một anh bạn tốt của tôi là một chuẩn úy Ba Lan, còn trong trại tập trung, bọn Ba Lan là bọn quỷ sống, vậy phải làm sao đây?

– Phải mạo hiểm, – Marcel nói, – hắn ta chỉ có một mình, hắn không ăn thịt chúng ta được, và nếu bắn báo động, mình có thì giờ để biến mất.

Khi biết được đôi chút tiếng Nga, người ta có thể xoay xở một chút với tiếng Ba Lan. Vậy thì, như sáng hôm qua, tôi báo trước cho Marcel là tôi sẽ bắt đầu câu chuyện và trong mọi trường hợp anh phải sẵn sàng đối phó với tình hình tệ hại. Khi nghe tiếng động đằng sau lưng, người lữ hành quay lui và khi thấy chúng tôi, nỗi ngạc nhiên làm ông lùi một bước. Thật dễ hiểu: có lẽ chúng tôi trông giống với hai kẻ cướp đang tìm kiếm nạn nhân. Để tránh cho ông ta khỏi phải lo âu trong khi chúng tôi còn bị ngăn cách với con đường nơi ông ta đứng bằng một cái hố, tôi la lên về phía ông ta:

– Djinn dobré (chào anh).

Gần như yên tâm được một nửa, ông ta trả lời cũng tiếng chào ấy và vẻ lạnh lùng biến mất, chúng tôi nhẩy một bước qua hố để được nói chuyện với ông ta gần hơn.

– Tzo Novego? (có tin tức gì không?)

Tôi đặt cho ông ta câu hỏi ấy một cách dữ dội để ông ta ý thức rằng không phải mình đang có chuyện với hai tên vô lại, và mặt khác để biết rõ ngay tình hình quân sự. Ông ta nhìn chúng tôi và chúng tôi nhìn ông ta. Một cuộc đối thoại còn bắt đầu, những giây phút trôi qua lâu như hàng giờ. Mắt tôi và mắt của Marcel, thái độ của chúng tôi, dáng điệu của chúng tôi đủ hùng biện để diễn tả cuộc phiêu lưu của chúng tôi, vì không nói một lời nào. Ông ta lôi trong túi ra phần bánh mì của mình và đưa cho chúng tôi và như muốn dành cho chúng tôi một sự ngạc nhiên, ông ta phá lên cười và bắt đầu la lên thật sự trong khi lấy tay chỉ về hướng tiếng động vẳng lại đã từng làm cho chúng tôi lạ lùng.

– Tank! Amerikansky tank!

Sau những tiếng đó, cả một sức nặng vô biên thoát khỏi người tôi, một bức màn bị xé toang trước mắt tôi cảnh vật đột nhiên trở nên trác tuyệt, con người đang nói với chúng tôi là một thiên thần, và Marcel chạy đến ôm choàng lấy tôi. Chúng tôi đã được cứu thoát!

Trong một vài câu ngắn ngủi, người Ba Lan giải thích cho chúng tôi tình hình hiện tại. Trên một con đường nằm cách chỗ chúng tôi đang dừng ít ra là hai cây số, chiến xa Mỹ đã đi qua cách đây 2 giờ hướng về sông Elbe. Quân Đức ít ra cũng là các toán quân có đủ thì giờ, rút lui qua phía bên kia con sông cuối cùng trước thủ đô Bá-linh. Các toán quân khác bị bao vây hoặc bị bắt làm tù binh. Chỉ còn lại vài ổ liên thanh do một vài phần tử cuồng tín trấn giữ còn cố gắng chống trả trong rừng. Về phương diện nầy, ông ta nhấn mạnh đến các may mắn của chúng tôi là đã không gặp chúng trên đường đi trong đêm qua. Chính ông ta cũng được xử dụng làm công nhân trong một toán tiều phu ở gần ngay đấy. Từ hôm qua, không ai làm việc nữa để chờ những người giải phóng đến, và ngay lúc bình minh mọi người đã lên đường đi đến một thị trấn nằm trên con đường chính mà chiến xa Đồng Minh sẽ phải đi ngang qua. Được cử làm đại diện cho tất cả công nhân Ba Lan trong quận, ông ta đang đi tìm các bạn bè tại một ngôi làng ở xa hơn để báo tin vui.

– Nhưng, – ông ta nói, – họ không cần đến tôi nữa, đến đây kiếm cái gì cho các anh và các bạn ăn đã, sau đó các anh chỉ cần đi đến thị trấn tôi vừa nói, các anh sẽ được tiếp đón khá hơn vì có cả một toán đông tù binh Ba Lan và Nga ở đó.

Ông ta dắt chúng tôi đến một căn lều của tiều phu cách đó chừng năm trăm thước. Sau khi nói vài tiếng với một người đàn bà giúp việc, cũng người Ba Lan, bà ta vừa khỏe vừa làm cho chúng tôi một chồng bánh săn-huých mà chúng tôi thấy cao như núi Mont Blanc. Cảnh gặp gỡ cảm động đến nỗi chúng tôi không làm sao ăn được. Trong xó rừng nơi mà chiến tranh không chạm tới nầy đây, sự vật có vẻ giản dị và tự nhiên vô cùng.

Còn năm mươi thước trước khi đến địa điểm mà mấy ông bạn đồng hành đói khát của chúng tôi nằm bẹp xuống đất, Marcel thét to: “Ê! đứng dậy, trong kia, giờ ăn đến rồi”. Ba chiếc đầu khốn khổ xuất hiện trên bụi cây, nhưng cả ba người chưa dám bước ra. Anh ta phải lặp lại sự thật nhiều lần họ mới quyết định cục cựa thân mình. Khi họ thấy gói săn-huých mà chúng tôi cố ý trưng bày sau một thân cây, những bộ mặt co rút lại bắt đầu dãn ra, và trong khi André ngắm chồng bánh trông giống như một cây nấm từ dưới đất mọc lên, Guy và Robert đã bắt đầu ngốn ngấu ăn rồi. Trong nhiều phút liền, không một lời nói nào được thốt ra, mỗi người bằng sự im lặng, muốn tôn trọng tính cách trang nghiêm của hồi chung cục sung sướng nầy. Như vậy 24 giờ trước đây người tù binh chiến tranh đã nói thật với chúng tôi. và theo như các chỉ dẫn của người Ba Lan lúc nầy thì chúng tôi đã đi được 20 cây số nhưng chỉ có 15 cây là theo hướng Tây kể từ lúc chúng tôi khỏi hành. Chính ra, chúng tôi có thể cứ ở trong khu rừng đầu tiên để chờ đợi và có thể trả lại chiếc bật cho ông bạn người Bretngne khốn khổ kia. Và chúng tôi đã sợ trên bốn người thì quá đông, thật ra tất cả mọi người trên toa xe lửa cũng có thể trốn cùng một lúc được. Chúng tôi hấp tấp lên đường ngay hướng về phía thị trấn, nhưng lần nầy đi ngay trên đường cái quan, không ẩn núp dấu giếm gì cả.

Ngay khi thấy các ngôi nhà đầu tiên bỏ trống, chúng tôi hiểu rằng tất cả dân chúng đều đổ ra đón quân Mỹ đi ngang, nhưng trên cửa sổ của nhà nào cũng có cờ trắng. Khăn, giẻ, có khi cả nguyên một tấm trải giường, đâu đâu cũng toàn màu trắng. Sau những năm với bao nhiên là ngạo mạn, ngày nay lại bấy nhiêu sự khiếp nhược, thật đáng buồn nôn. Để tiến đến con đường chính mà chúng tôi thấy xuất hiện từ đầu một con lộ nhỏ, chúng tôi chạy bất kể đến tình trạng sực khỏe, vừa chạy vừa dìu Robert lúc đó chỉ còn đi được một chân. Đàn bà, con nít, ông già bà lão, tất cả dân cư đều tập họp lại để xem các kẻ chiến thắng. Chiến xa, xe mô tô, xe vận tải nối tiếp nhau bất tận, cả một đám thanh thiếu niên, ngửa tay xin “Chokolat”, đang bao quanh một chiến xa dừng lại bên lề đường để sửa chữa. Một lính bộ binh Đức tự cho là đào binh đã mang cả một bình rượu nhẹ đến mời anh quân nhân tài xế uống.

“Kamerad! Ich Kamerad!”. Y sủa không ngừng. Vì có lẽ đã bị say cho nên tôi cũng lợi dụng để uống mừng sức khỏe của y và các bạn tôi cũng bắt chước. Trong khi đó, Marcel hấp tấp chạy đến gặp một trong những anh “Yankee” (lính Mỹ) đang lơ đễnh hút thuốc, và nói với anh nầy trong sự tin tưởng là sẽ làm anh ta giật mình:

– Chào anh, tôi là người Pháp, kháng chiến, bị đày, trốn từ trại tập trung ra.

Marcel đã nói những lời ấy bằng một thứ tiếng Anh tuyệt vời và anh gần như hét lên các lời đó vì đoàn quân xa chạy ngang qua gây ra tiếng ồn ào như sấm động, tuy nhiên, anh chàng kia vẫn lạnh như tiền. Anh ta đã bắt đầu phân phát cho bọn con nít những gói thiếc mỏng, dẹp nhỏ làm tôi nhớ lại các mẩu hàng trong hội chợ ở Ba-lê, và khi tay anh đưa đến trước mặt Marcel, anh ta ngước nhìn Marcel bằng cặp mắt hiền lành và cũng đưa cho bạn tôi một mẩu hàng, sau đó anh cũng trả lời;

– Vâng, vâng, tôi biết, tôi đã gặp nhiều lắm rồi.

Marcel có vẻ gần như muốn sọm người xuống. Với sự phấn khởi nồng nhiệt, đức tính cố hữu của anh, Marcel đã tưởng tượng một cuộc gặp gỡ hấp dẫn hơn nhiều. Tôi đón từ tay anh vật mà người quân nhân Mỹ đưa cho, đó là một thẻ kẹo cao su. Rõ ràng là từ khi vượt qua sông Rhin, người quân nhân nầy, vốn thuộc các đạo quân tiền phương, đã trông thấy tất cả cảnh nghèo đói của một Đức quốc thuộc Hitler, và anh ta cũng đã đến Âu châu từ mười tháng rồi, chắc anh ta hối hả muốn chấm dứt cuộc chiến tranh này. May thay người tiều phu Ba Lan sau khi nhận ra chúng tôi trong đám đông đã đến kiếm chúng tôi. Chỉ một lát sau, trước những cặp mắt ngạc nhiên của dân chúng Đức, một nhóm người Ba Lan và Ukraine vui vẻ bao quanh lấy chúng tôi và chính họ đã đưa chúng tôi đi để lo cho chúng tôi ăn uống. Một người trong bọn, có vẻ là người trưởng nhóm dắt chúng tôi đến một nông trại nơi ông làm việc. Được cạo râu, tắm rửa, chúng tôi trở nên dễ coi hơn. Với kết quả thu thập được để đón mừng chúng tôi, một bữa ăn được dọn ra: bánh mì, mỡ, dồi, rượu, cả một hầm thực phẩm nguyên vẹn của một thương gia đảng viên Quốc Xã bỏ trốn, đã bị cướp phá và suốt buổi chiền, dân chúng trong làng mở đại lễ ăn mừng cuộc giải phóng ngây ngất vì không khí ấy, tôi nằm dài dưới gốc một cội bạch dương thuộc một hàng trồng suốt dọc theo con đường làng. Nhìn lên bầu trời, chiều cao của cây bạch dương làm tôi chóng mặt, nhưng tiếng của một cơn gió nhẹ làm cành lá reo ca, đã mang, đến bên tai tôi một điệu nhạc say sưa, nhắc nhớ lại những kỷ niệm xưa cũ thời thơ ấu, và đã chầm chậm ru tôi ngủ. Như một cậu bé sung sướng, tôi lăn trong cỏ tươi mát và ngủ say sưa trong Tự Do.

Buổi tối một dạ vũ mừng ngày Giải Phóng đã qui tụ trong một vựa lúa tất cả những người ngoại quốc hiện có mặt trong miền. Trong khi một nhạc sĩ đàn phong cầm chơi láy đi láy lại một điệu Tzigane cổ truyền, tôi hướng mắt nhìn chăm chú một cô gái người gốc Ukraine uyển chuyển dưới mái tóc vàng óng ả, và nét mặt giống như tượng Đức Mẹ thật sự. Tôi đã chú ý đến nàng lúc ban ngày, nhưng đến đêm, nàng đổi khác.

Gốc nông dân cũng giống như phần đông các phụ nữ đồng hương. Katia nổi bật trong nhóm nhờ sắc đẹp và một dáng điệu cao sang. Dưới lớp áo mờ nhạt, người ta có thể đoán một thân thể yêu kiều và cách đi đứng, cử chỉ của nàng có một cái gì khêu gợi rất tự nhiên. Sau những ngày công việc nặng nhọc mà nàng phải làm trong nhà máy hay trong nông trại, làm sao vẻ mặt và bàn tay nàng lại có thể còn giữ được vẻ đẹp và tươi mát đến như vậy? Nàng rất giản dị nhưng chói sáng. Thượng để toàn năng và bí ẩn đã tạo ra tác phẩm tuyệt diệu nầy chắc cũng ra công bảo vệ nàng chống lại đàn ông và chống lại mọi biến cố. Bí mật bất ngờ, vui thú đo tình cờ, cô gái đẹp tuyệt vời có vẻ khó hiểu ấy khi biết rằng tôi là một người sống sót từ trại tập trung và tôi sẽ trở về Ba-lê, đã làm cho tôi trải qua một trong những đêm cảm động nhất đời.

Trong khi những người khác uống rượu và khiêu vũ trong cảnh trí đồng quê dưới ánh sáng lọt lợt của đèn gió đã thay cho ánh điện đã bị cắt, tôi được nghe một tâm sự bất ngờ và thật đáng ngạc nhiên. Cha mẹ nàng bị bắt và bị đầy đi Tây-Bá-Lợi-Á trong những năm 1935 vì đã chống lại chủ trương tập thể hóa đất đai và Katia, bị xa cách cha mẹ, từ đó được nuôi trong một cô nhi viện của nhà nước. Khi xảy ra chiến tranh và cuộc xâm lăng của Đức, quân Đức được các nông dân tiếp đón như những người đến giải phóng, họ là những người không bao giờ chấp nhận trong tim chế độ sô-viết. Bị xô đẩy bởi các biến chuyển như một cọng rơm, thoát khỏi mọi cuộc thăng trầm như nhờ có phép lạ, sau cùng nàng đến ở tại thôn ấp nầy và được chỉ định, cũng như bao người khác, vào một nhóm công nhân nông nghiệp và bây giờ nàng đang run sợ với ý nghĩ phải trở lại Nga Sô.

– Không bao giờ tôi có thể quên được quang cảnh ngôi làng bị bọn cảnh sát chính trị Guépéou bao vây và tôi sẽ làm bất cứ điều gì để được qua sống ở Pháp hay ở một nơi nào đó.

Khi nói những lời nầy mắt nàng đượm vẻ buồn rầu và ngây thơ như một em bé bị lạc loài. Nói gì đây trước bao sự tuyệt vọng, trong khi chúng tôi vừa mới tìm lại được tự do, bao nhiêu là điều chưa biết về Tây phương, bao nhiêu là ngây thơ trước ảo ảnh của cuộc đời và… làm sao đây? Tôi cố thử giải thích với nàng rằng mọi sự rồi sẽ được thay đổi sau chiến tranh kể cả “quê hươn” của nàng, một trong những cường quốc chiến thắng trong cuộc xung đột lịch sử nầy, chắc chắn nàng sẽ được gặp lại các thành phần của gia đình và những điều kiện sống đổi mới. Dẫu sau đi chăng nữa, nàng cũng chỉ là nạn nhân trong số hàng triệu nạn nhân trong những năm bi thảm ấy, nàng sẽ lại được tiếp đón nồng nhiệt. Không một lập luận nào, một lời giải thích nào có thể làm dịu cơn lo lắng cho tương lai của nàng và đột nhiên tôi có cảm tưởng là định mệnh đặt trêu chọc ý chí của tôi cũng như trong nhiều lần khác, trong những cơ hội khác; có thể hạnh phúc của tôi đang ở ngay trước mặt! Bởi vì không có gì ngăn cản tôi đưa Katia về Ba-lê và cùng với nàng lập lại cuộc đời. Tôi quan sát vẻ nàng nhìn chăm chăm vào tôi, dường như nàng đoán được vấn đề đang được đặt ra cho lương tâm tôi, và tôi thấy cái nhìn ấy êm đềm nhòa nước mắt.

Liệu đây là tánh dễ xúc động của một người con gái hay chỉ là mưu kế của một người đàn bà, tôi vẫn còn tự hỏi và luôn luôn tự hỏi như vậy, bởi vì lúc chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau đây, một nét mặt khác, da phẳng lì, tóc nâu dịu dàng và đầy đam mê cùng một lúc, thình lình xuất hiện trong trí tôi. Đó là vẻ mặt của người mình tán tỉnh từ ngày niên thiếu và mới được phát giác rằng vẫn còn bền chặt bất kể thời gian vắng mặt do các biến cố dồn dập vừa qua. Tôi đã trông thấy nó, ít lúc trước khi bị bắt, tại Nice cùng với thân quyến, bởi vì Rachel vốn là Do-Thái, tuy nhiên theo lẽ thường, nàng hẳn chờ đợi tôi. Với tất cả tế nhị, tôi dùng vẻ đăm chiêu xa vắng nầy để giải thích với Katia tất cả những khó khăn và may rủi của một cuộc di cư về phía Tây, đủ thứ trách nhiệm. Tóm tắt, trước hết nàng phải trở về nhà, nhất là nhờ hòa bình gần kề, rồi nàng có thể đi du lịch ra nước ngoài, và như vậy không có gì ngăn cản nàng đến Ba-lê sau đó. Viễn cảnh lạc quan nầy dường như làm nàng yên tâm, Katia lau khô nước mắt vốn lại làm cho nàng hấp dẫn gấp bội và chúng tôi cùng nhau ở trong bóng tối lờ mờ hàng giờ để xây dựng các dự tính tương lai trong đó các cuộc viễn du chiếm chỗ quan trọng nhất.

Sau một đêm mơ mộng nhuốm màu buồn bã, vì chúng tôi biết sắp sửa phải chia tay nhau, những bố cáo mới được dán khắp nơi trong làng đã lôi kéo sự chú ý của chúng tôi. Giữa các thông cáo nhằm vào dân Đức, có một bản đã đề cập đến các biện pháp hồi hương những người ngoại quốc có mặt trong các vùng bị chiếm đóng. Thông cáo chỉ dẫn chúng tôi đến một thị trấn cách đó không xa, nơi Mỹ sẽ có cuộc phân loại những người ngoại quốc theo quốc tịch khác nhau. Thật lạ lùng, trong nỗi vui mừng được hồi hương, cố chen lấn một mối lo âu cho tương lai sắp đến. Từ tám năm qua, theo một chiều hướng nào đó, cả một cuộc phiêu lưu đã dứt bỏ tính cách đều đặn của đời sống thường nhật, nhưng bây giờ đây lại sắp bắt đầu lại tất cả trong đời sống dân sự, tất cả những năm tháng đó, bên lề xã hội, thật trở ngại!

Khi cùng với André trao đổi ý nghĩ về vấn đề nầy, tôi nói:

– Anh có biết tôi cảm thấy ra làm sao không? Bị nghiền nát, bị cán dẹp lép. Hình như đã có một chiếc máy cán lạ lùng làm biến đổi toàn diện con. người của tôi và tôi tự hỏi một ngày nào đó liệu tôi còn có thể cười được nữa không, cười như hồi trước chiến tranh.

Dẫu sao, trong mười ngày qua, đã có một cái gì cao cả và ngoại lệ; không tiền bạc, không căn cước, không cả y phục, buổi trưa ở trong thị trấn nầy, buổi tối trong một thị trấn khác, phiêu lưu như những hướng đạo tìm thú rong chơi, vì chúng tôi đã được cho ăn, ở, bởi tất cả thị xã, câu lạc bộ, quân y viện, chúng tôi biết tự do nầy rất hiếm có để làm những gì tốt cho mình mà không vì thế làm phiền người khác. Thời tiết quá đẹp, những cánh đồng lúa đầy bông vàng nặng trĩu và Katia, nàng muốn đưa tôi đến tận trung tâm hồi hương, đã làm cho tôi quên đi tất cả xấu xa của cõi đời.

Có lẽ rồi một ngày nào đó tất cả con người sẽ được biết thứ hạnh phúc thật sự nầy, hạnh phúc mà chúng tôi vừa thoáng thấy.

Một trời một biển

vietmessnenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Phần 10.

Ngỗn ngang trăm mối

Sau hai ngày lênh đênh trên chiếc Tuần dương hạm Chí Linh HQ 11, Tần đã quay trở lại Nha Trang, trở về trường Hải quân, an toàn trên xa lộ. Qua chuyến hải trình này, chàng được dịp sinh hoạt và biết thêm phần nào đời sống của những người thật sự… tuần dương. Những người thật sự bồng bềnh, thi gan cùng sóng gió. Ôi, biển cả giờ đây ta mới biết, mộng hải hồ giết chết cuộc đời ta, hình như có rất nhiều quan tàu đã than thầm như vậy. Sau nhiều ngày trùng trùng mây nước, không thấy đâu là bến bờ. Lắc lư con tàu đi, đi mãi, dài người. Nhưng đối với Tần, không, mộng hải hồ vẫn còn bừng bừng sống mạnh trong tâm tư chàng. Ôi, những phút giây trời cao, biển rộng, sông dài rất là thi vị đó chàng vẫn hằng ấp ủ chờ mong! Hay chỉ là con cá trong lờ đỏ hoe con mắt, con cá ở ngoài ngúc ngoắc muốn vô đây? Chàng cũng đâu làm sao biết được!

Tần trễ phép cả tuần lễ hơn, nhưng không hề bị quan trên làm khó dễ. Lớp học vẫn đều đều tiếp tục như thường lệ, mặc dù khoảng hai mươi tên chưa về trình diện sau cái Tết máu lửa. Tết Mậu Thân! Hầu hết quê quán của những đứa không biết sống chết ra sao này đều nằm quanh quẩn trong vùng cố đô Huế, hoặc tuốt trong Nam, miệt Hậu Giang lục tỉnh. Những nơi có đánh lớn, có thí quân ngay trong thành phố. Có đốt nhà và giết dân lành…

Riêng ở thị xã Mỹ Tho của Tần thì về phía Việt cộng, cuộc “tổng tiến công” do chính tiểu đoàn 307 chủ động chớ ai vô đây! Ngược dòng lịch sử, ngay từ lúc mới thành lập trong thời chống Pháp, đâu vào khoảng năm 1947 ở Cao Lãnh thì phải, dưới sự chỉ huy của Ðỗ Huy Rừa, Nguyễn văn Tiên rồi đến Hồng Sơn (bí thư của Võ Nguyên Giáp) từ ngoài bắc đưa vô, tiểu đoàn khét tiếng Nam bộ này đã đụng nhiều trận ác liệt khắp các miền đồng bằng. Từ Mỹ Tho, Bến Tre qua Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu cho đến Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Ðốc. Sau này, dưới chiêu bài xâm nhập quân chính qui từ miền Bắc, vùng hoạt động then chốt của tiểu đoàn này được thu gọn lại trong vùng mật khu Ðồng Tháp Mười và đặt dưới quyền chỉ huy của cái trung đoàn hữu danh vô thực: trung đoàn Ðồng Tháp. Cùng vùng phụ cận, tiếp giáp với mật khu gồm các quận Cai Lậy, Cái Bè, Sầm Giang, đổ qua Bến Tranh, Chợ Gạo… Ðặc biệt là tiểu đoàn 307 này, mặc dù đã bị quan quân sư đoàn 7 của quân lực VNCH giết chết tiệt không biết bao nhiêu lần, mà lần hồi cũng được bổ sung thành lập lại.

Với hàng chục chiếc xe tăng yểm trợ và sau khi đã lọc lựa tính toán cẩn thận, bọn Việt cộng đã lợi dụng thời điểm dân chúng đang cúng rước ông bà về nhà đón Xuân, đã âm thầm lặng lẽ chuyển quân trong đêm giao thừa tăm tối. Bằng hai ngả, cánh thứ nhất, từ vùng Vĩnh Kim, Xoài Hột băng qua Bình Ðức, Xóm Tre, Vòng Nhỏ để đánh vào mạn tây bắc thành phố thân yêu, nơi chôn nhau cắt rốn của Tần. Cánh thứ hai, từ miệt Bến Tranh vượt sông Bảo Ðịnh thọc mũi dùi vào khu Bến Xe Mới.

Ðêm 30 Tết đó trời bên ngoài tối om như mực, đưa bàn tay trước mặt chưa chắc đã thấy. Với muôn vì sao lấp lánh trên cao. Trời không gió không mưa, im lìm chìm sâu trong thăm thẳm, đen ngòm. Ngay lúc Tần cắm mấy cây nhang cúng giao thừa ngoài bàn thiên trước cửa, chàng bỗng nghe mấy tiếng súng “cắc, bùm” vọng lại từ hướng đồn. Chàng có hơi giựt mình, hết hồn. Vì sau nhiều tháng huấn luyện trong quân trường, bây giờ chàng có thể nhận biết dễ dàng sự khác biệt giữa tiếng súng canh khuya và tiếng pháo mừng vui. Tần còn sợ hơn nữa khi nhớ lại buổi xế trưa ngày đó, chàng trở về quê nhà với bộ quân phục còn thơm mùi vải trên mình. Ðể mẹ chàng phải vừa mừng, vừa la:

– Tần mới về đó hả con. Mẹ tổ mầy sao mầy ăn bận chi kỳ cục vậy? Ở nhà tao và bà con xóm giềng quanh đây đều nói mầy đi làm thầy giáo. Bị đổi tuốt ra ngoài miền Trung dạy học…

Tần không ngờ mẹ chàng quá lo lắng đến là như vậy. Ở đây, tuy là vùng xôi đậu nhưng tương đối cũng còn gần đồn bót. Sợ gì, chàng lại đùa với mẹ:

– Má thấy con oai hông? Giống nghĩa quân hay du kích, hả?

Rồi chàng ôm chầm lấy mẹ. Nhưng, mẹ chàng giục tới:

– Thôi, đi lẹ lẹ vô nhà đi con ơi, đừng đứng bẹo hình bẹo dạng ở đó nữa. Nhớ thay liền cho má bộ đồ bà ba, bận cho mát nghen con…

Bởi cứ nghĩ là ba ngày Tết, ai nấy bận lo vui chơi thì chẳng hề gì, nên Tần đã dám làm gan ngủ lại nhà, không xuống chợ ngủ nhờ nhà bạn như mọi khi. Không ngờ lại lâm vào tình trạng tấn thối lưỡng nan, đi không được mà ở cũng không xong. Hình như linh tính có điềm chẳng lành, qua mấy tiếng súng thinh không, mẹ chàng thúc hối anh chị em chàng và các cháu đi ngủ sớm. Nhưng mà ngủ làm sao được khi tiếp theo đó không mấy chốc, tiếng đạn bom, tiếng súng nhỏ, súng lớn nổ vang rền về phía thị xã. Hỏa châu thắp sáng đầy trời. Ðằng đồn Cầu Sắt cũng vậy, thỉnh thoảng phóng lên không trung một tia pháo thăng thiên, thả ra cánh dù tỏa rạng ánh hồng chói lọi. Như những nốt nhạc vút cao đệm theo ca khúc đêm đêm giấc ngủ chập chờn…

Chỉ trong một tối 30, với chiến thuật “a thần phù,” không biết đường tới mà cũng chẳng thuộc đường lui, tiểu đoàn 307 đã nhào vô nướng trọn láng bài, đứt chếnh, không còn manh giáp. Ðể đến nỗi phải đốt nhà dân, một hình thức chui vô ống đồng kiểu mới, mà thoát chạy lấy thân. Xác đồng bọn, hầu hết chưa quá tuổi vị thành niên, cùng xe tăng đại pháo, súng dài súng ngắn nằm ngổn ngang, rải rác dọc suốt lộ trình chém vè. Một lần nữa, thêm mấy trăm mạng đã đi vào cõi thiêu thân trong quân sử 307, nói riêng, quân sử Việt cộng, nói chung.

Sáng ngày, biết không thể chần chờ được nữa, Tần phải từ giã mẹ và anh chị em cùng các cháu ra đi ngay. Tối thiểu cũng phải lọt vào thành phố Mỹ Tho, trước khi tìm đường lên Sài Gòn. Ở lại vùng nửa nạc nửa mỡ này thêm một giây phút nào là nguy hiểm thêm một giây phút đó… Dúi vào tay Tần một mớ tiền, mẹ chàng rơm rớm nước mắt, dặn dò:

– Con đi cẩn thận nghen con. Tới nơi rồi nhớ viết thơ hay đánh giây thép về cho má hay để má khỏi trông!

Tần bâng khuâng chẳng thốt nên lời, tưởng chừng như mình lúc nào cũng thơ dại, bé bỏng trước mặt mẹ. Cũng vẫn xòe tay nhận tiền ăn quà, làm như lương sinh viên sĩ quan hải quân chẳng đủ đâu vào đâu! Mà thực sự cũng đúng như vậy, đối với những ai có cái tật hay sống đời ghi sổ câu lạc bộ, tiền lính tính liền ngay khi vừa mới phát. Chàng lẳng lặng nhảy lên xe Lam…

Gần đến chợ Vòng Nhỏ, từ xa, Tần đã thấy lớp lớp những cuộn kẽm gai tròn kéo ngang nửa lộ. Tạo thành một lối đi dích dắc hình chữ chi. Nhiều binh sĩ trong quân phục rằn ri, nón sắt phủ trùm kín đầu, tay súng tựa đế vào hông trong tư thế sẵn sàng đánh cận chiến, nhưng chỉ đang… kiểm soát khách bộ hành qua lại. Xe Lam không được phép chạy vào trong tỉnh lỵ, chỉ toàn người cuốc bộ hoặc đạp xe đạp. Phía sau, cạnh mấy chiếc thiết giáp, có vài chiếc Jeep của những vị sĩ quan chỉ huy. Tiếng máy truyền tin rè rè, gọi nhau ơi ới liên hồi. Tuy đang mặc đồ civil, Tần vẫn dễ dàng vượt qua vòng đai lộ thiên này vì có đầy đủ giấy tờ tùy thân. Chàng cảm thấy rất là an toàn khi lọt vào trong những vòng kẽm gai ngăn chận. Hú hồn, hú vía! Vì nhìn kia, về phía Chu vi đạo, Hàng Còng, Ðất thánh Tây…, những luồng khói đen vẫn cuồn cuộn bốc cao mịt trời. Và tiếng súng thỉnh thoảng vẫn còn tiếp tục nổ dòn tan như pháo Tết.

Tần tấp vào nhà Phát, thằng bạn thân đã cùng chàng và Hiếu ở dưới Hãng Xáng làm thành bộ ba. Căn nhà nằm sâu trong hẻm nhà bảo sanh cô tư Sâm. Chàng định rủ Phát xách xe Honda chạy một vòng quanh thành phố, xem nơi nào đã bị thiệt hại nặng nề và nơi nào còn đánh nhau. Luôn thể đi thăm bạn bè, coi đứa nào còn đứa nào mất. Nhất là tạt qua nhà Loan, cô học trò dạy kèm nhỏ bé của Tần, có đôi tay dài như vượn. Hồi hộp quá, chắc là nhà “em” đang… cháy, Tần nghĩ như thế!

Do duyên may dun rủi, thật rất tình cờ, Tần gặp lại Loan trong đêm chợ Tết ở khu chợ Hàng Bông. Với hàng hàng lớp lớp đông nghẹt người đi, dập dìu tài tử giai nhân, chen vai thích cánh không thua gì đường phố Lê Lợi, Nguyễn Huệ ở thủ đô. Bẵng đi mấy năm, kể từ ngày chàng lên Sài Gòn theo học Ðại học, bây giờ trông Loan khác lạ quá chừng. Nẩy nở quá chừng. Ngực, mông và gì gì như cũng lớn dần theo thời gian. Ðã vậy còn có đôi gò má hồng hồng muốn chồng thành dịch nữa. Nhờ có da có thịt hơn dạo nào mà đôi tay dài như vượn kia giờ như ngắn bớt. Tuy nhiên, chiếc áo dài học trò như vẫn muôn đời mang một màu trắng trinh nguyên. Chính Loan, đang đi chung với người chị, đã nhận ra Tần trước mới làm chàng thêm bối rối:

– Trời ơi, thầy. Thầy đi lính hồi nào vậy thầy?

– Ồ, Loan! Loan đây hả? Thôi mà,… thầy bà cái gì nữa! Tội quá, tôi kèm mấy cô có năm ba tháng mà thầy thầy cái gì! Giờ đi lính rồi thì phải kêu bằng… lính! Lính anh thôi chớ đừng kêu lính cậu, lính thầy! Bằng không cứ kêu anh là… anh Tần cho gọn. Rồi sao, cô Loan hiện giờ đang làm gì nào và mấy cô bạn của Loan dạo đó giờ đang sống ra sao?

Có lẽ Loan cũng hơi ngạc nhiên với lời nói có vẻ bông đùa, khơi khơi của ông… nửa thầy, nửa anh của mình đã không còn nghiêm nghị, đạo mạo như xưa. Nàng bẽn lẽn trả lời:

– Dạ, Loan vẫn còn đi học ở Lê Ngọc Hân, thầy…, ủa… anh. Chỉ có chị Tuyết đã lập gia đình, còn mấy đứa kia theo cha mẹ đổi đi các tỉnh khác hết trơn. Anh Tần có nhớ chị Tuyết không?

À, thì ra các nàng đã theo mẹ cha đổi đi tỉnh khác làm ăn chớ không phải theo chồng qua xứ khác làm dâu như lời mấy thằng bạn chàng đồn ẩu. Tần định nói bạt mạng là chàng “chỉ nhớ Loan thôi chớ đời nào nhớ Tuyết,” nhưng đã kịp dừng lại. Chàng giả lả:

– À, cái cô Tuyết mập mập, lùn lùn đó hả? Có chồng về xứ nào vậy?

– Dạ, chồng chỉ cũng là lính tiền đồn, đơn vị của ảnh vừa mới đổi ra miền Trung! Anh Tần cũng đang theo học ở ngoải, phải không?

– Sao Loan biết anh đang “trấn ải biên thùy” ở ngoài miền Trung?

– Thì Loan có nghe nói trường Hải quân đóng ở tại thành phố Nha Trang cơ mà.

– Sao Loan biết anh đi lính Hải quân?

– Chớ bộ đồ tiểu lễ anh đang mặc trên người đã không nói lên được điều gì à?

Ðến phiên Tần hơi ngạc nhiên vì xem ra Loan cũng hiểu qua màu áo, sắc phục của các thứ… lính. Có lẽ cô nàng đã quen biết tên nào trong Hải quân nên mới biết rõ ràng chu đáo đến là như vậy, Tần phân vân. Chàng hỏi tới:

– Chắc cạnh nhà Loan có anh chàng đi lính thủy?

– Ô, anh Tần đoán trúng đó! Ba má Loan đã dời nhà xuống bờ Giếng Nước trên, cách nhà chú tư Lam mấy căn. Nghe nói chú làm hạm trưởng tàu gì đó hổng biết.

Tần cảm thấy nhẹ nhõm:

– Thì ra vậy, hèn gì Loan rành lính thủy muốn… hơn cả anh Tần nữa.

Thấy không thể kéo dài cuộc đối thoại với Tần nhiều hơn, Loan kiếu từ:

– Thôi, Loan phải chạy theo chị Loan cho kịp. Hôm nào rảnh mời anh Tần đến nhà chơi. Dễ tìm lắm, hễ anh thấy ngôi nhà nào đằng trước có cây trứng cá to lớn nhứt vùng thì nhà đó là nhà Loan.

– Thiệt vậy hả?

Loan đi sụt lùi vài bước trước khi quay lưng. Biết không thể bỏ đám bạn nửa lính nửa học trò bụi đời của mình trong giây phút này, Tần định vẫy tay chào tạm biệt, nhưng bỗng nhớ ra một điều, chàng gọi lớn:

– Loan…

Loan đứng lại. Tần vụt tới, nói nhỏ vào tai:

– Anh Tần rất muốn đến nhà thăm Loan lắm, ngay ngày mai nếu muốn nói thật lòng. Nhưng, nếu lỡ anh bị bạn bè níu kéo, không ghé được thì Loan nhớ viết thư cho anh nghen. Chỉ đề tên anh và KBC 3317 là thư sẽ tới. KBC 3317, nhớ chưa… Thôi đi đi kẻo chị… em trông.

Tần không khỏi ngạc nhiên không hiểu sao mình nói tiếng “em” với Loan tự nhiên quá đỗi! Nàng gật đầu, khẽ chớp mắt rồi lẹ làng quay lui, như có ý muốn lẩn tránh đôi mắt tình tứ của Tần. Chàng nhìn theo dáng dấp của Loan khuất dần trong ngẩn ngơ, nuối tiếc. Có lẽ đến giờ phút này chàng mới nhận ra Loan đẹp. Người con gái nào vừa qua tuổi dậy thì cũng đẹp, nhưng ở Loan còn có thêm cái nét nhu mì, đằm thắm… Ðêm hôm đó, với Tần, lại là một đêm chập chờn trong giấc ngủ. Chập chờn vì hình bóng Loan, vì men say tình yêu đã đổ trút lên hồn chàng rất ư là bất chợt, chớ chẳng phải là vì men say của rượu trà, chè chén cùng với lũ bạn…

Rồi chỉ trong mấy hôm sau, ngôi nhà của Loan, quả đau đớn ngậm ngùi thay, đã… cháy. Cây trứng cá to lớn nhứt trong vùng, Tần chưa một lần nhìn thấy, cũng đã ra tro. Bãi chiến trường Tết Mậu Thân tội lỗi của tiểu đoàn 307 giờ đây chỉ còn là một bãi đất đen, trống trải, hoang vu đến rợn người. Với những bức tường đổ nát thành những đống gạch vụn. Với những cây cột nhà đã cháy thành than đứng chơ vơ ngó đất ngó trời. Trông như những cây nhang cắm trên một bát hương khổng lồ với nhiều cây đang ngún cháy, còn âm ỉ nghi ngút khói bay. Cùng những xác chết cong queo, đen đúa như những con heo quay quá lửa. Khét nghẹt một mùi. Ðen tối một màu. Bên cạnh những xác người không toàn thây dưới mương ao, cống rãnh đã bắt đầu sình chương, hôi hám… Tần không thể tưởng tượng nổi cái cảnh lâm nguy, sống chết, chống chỏi với tử thần, với máu lửa đạn bom của hàng chục ngàn người đang sống ấm êm trong khu vực đông đúc dân cư này. Trong đó có Loan và gia đình nàng, giờ chẳng biết ra sao… Tần thật sự băn khoan, lo lắng.

Sau năm lần bảy lượt ra bến xe, tìm phương tiện trở về thủ đô không thành tựu, Tần đành quá giang người anh bà con của Hiếu, một người lính Biệt động quân. Ðã lâu lắm rồi, Tần không hề đi xe Honda hoặc ngồi xích lô. Toàn là đi bộ hoặc đi taxi, theo đúng Hải quy… không chính thức, mà đàn anh đã dạy. Giờ, chễm chệ trên yên sau chiếc Honda, chàng cảm thấy lạ quá. Ðó là nói chuyện hai tay được đặt lên đùi ngay ngắn, lưng thẳng đứng đàng hoàng chớ không quàng eo ếch của ai… Dọc theo quốc lộ 4 từ Mỹ Tho lên Sài Gòn, Việt cộng đã phá đường ở nhiều nơi. Chỉ cần một hai lỗ mìn hoặc một vài mô đất đắp vội, bọn chúng đã thành công trong việc ngăn chận lưu thông. Lực lượng bạn vì đang bận truy lùng đám tàn quân của chiến dịch “a thần phù” cho nên việc duy trì giao thông trên các trục lộ đều giao khoán cho khách bộ hành tự lo liệu lấy. Rồi vì không có dụng cụ rà mìn trong tay, những người khách bộ hành đầu tiên chạm trán với chiến thuật “giựt cầu, phá đường”, đã nảy ra sáng kiến: mở bờ bao đi vòng xuống ruộng. Khách bộ hành phải cuốc bộ và Honda phải đẩy. Xe đò và xe Lam phải đậu ở hai đầu chờ hành khách như chó chực xương. Cũng may là ruộng đã gặt, đất đã khô, chớ nếu còn ngập nước như hồi lúa mới cấy thì chắc chỉ có nước phải dùng xuồng ba lá.

Ði từ hừng sáng mà mãi đến xế chiều mới đến Phú Lâm. Từ Phú Lâm vào Sài Gòn lại còn gian nan hơn nữa. Vì có rất nhiều trạm chận xét đặt ở các ngả đường chính. Vì còn đang đánh nhau với Việt cộng ở miệt quận Tám, cầu Nhị Thiên Ðường, chạy tuốt xuống Nhà Bè. Có thể nhìn thấy những đám cháy hoặc những cuộn khói bốc cao từ hướng đó. Tiếng súng, tiếng bom đạn xa gần vẫn vô tình thi nhau nổ thay cho tiếng pháo đầu xuân.

Rồi tàu bè cũng bị trưng dụng. Mấy lần Tần đến trình diện Bộ tư lệnh Hải quân, phòng chuyển vận, để tìm phương tiện đi Nha Trang nhưng vẫn cứ phải quay trở về. Cuối cùng, chàng bắt buộc phải quá giang theo tàu tuần dương…

Giờ, Tần ngồi đây, dựa vào gốc dương này mà thấy đường đời ngổn ngang trăm mối. Mới đó ở quê nhà và trong phút chốc có mặt ở quê người, thấp thoáng như cánh chim bay. Nơi quê nhà có Loan, nơi đây có Hiền và xa hơn ngoài kia, Qui Nhơn, có Phượng vẫn luôn luôn kiêu sa, đài các. Không hiểu sao từ hôm Tết đến nay Hiền chẳng vào thăm Tần đây chớ? Tần không đi ra phố được thì hiển nhiên Hiền phải vào thăm! Vì qua tin đồn, chàng biết rằng Nha Trang không có Việt cộng về thành trong mùa “tổng tiến công.” Chỉ có mấy ngày thiết quân luật, giới nghiêm 24 trên 24 mà thôi. Hay là Hiền đã bị kẹt ở Thành khi về quê ăn Tết với gia đình, Tần lại phân vân lo lắng!

Thay vì ngủ gục trong phòng tối, Tần có thói quen hay trốn giờ nghe Lab anh ngữ để ra phía sau này hút thuốc, ngắm mây. Phong cảnh nơi đây cũng rất thanh thản, yên bình. Nhiều cành dương che bóng nắng và tiếng gió thổi vi vu trên mấy tầng cao. Tần cắm điếu thuốc lên môi, bật lửa mồi, rồi rít một hơi dài, thả khói từ từ cho tâm thần khoan khoái. Chàng lục trong túi, tìm bức thư của Loan vừa mới gửi ra, đọc lại.

Mỹ Tho ngày…

Anh Tần thân mến,

Thật Loan không ngờ là mình còn có cơ hội gặp lại anh, người thầy quý mến của Loan. Cái gì thật tình cờ không sắp đặt trước thường vẫn hay làm lòng mình thêm vương vấn phải không anh?

Từ khi gia đình Loan thoát được cái chết trong đám cháy Mậu Thân, Loan cảm thấy buồn hơn bao giờ hết. Bỗng dưng mình trở thành người vô gia cư, không cửa không nhà, ăn nhờ ở đậu người ta. Bây giờ, cả nhà Loan phải tá túc ở nhà người quen, bạn của ba Loan. Ðây là ngôi nhà sàn cuối dãy trong khu nhà lá, cất cạnh bên bến phà Rạch Miễu. Chắc anh cũng hình dung hoặc đoán biết nó tồi tệ, xập xệ đến như thế nào rồi. Chiều chiều ra ngoài cầu ngồi giặt giũ, ngó mông ra bờ sông Cửu mà bên kia là cồn Thới Sơn xanh rì, Loan không giữ được những nỗi niềm bâng khuâng đang tràn ngập dâng lên trong lòng mình. Như có cái gì man mác buồn cho những mất mát, chia xa anh nhỉ?

Loan chẳng biết mình phải nương tựa vào đâu, tâm sự với ai bây giờ? Bỗng Loan nghĩ tới anh, nhớ lời anh dặn và nhớ luôn cả KBC 3317, cho nên Loan mới có đôi lời nhắn gửi đến anh qua trang giấy và những dòng chữ này đây. Mong anh không cho là Loan quá đường đột.

Ðể Loan kể anh nghe câu chuyện trong đêm 30 Tết. Lúc đó đâu cũng vừa đón giao thừa xong. Ðột nhiên có tiếng gõ cửa gấp rút ở nhà sau, chỗ trông ra con hẻm mới đắp dẫn về bót Số Tám. Ðồng thời có tiếng loa phóng thanh: “Yêu cầu đồng bào nhà nhà hãy mở cửa để đón nhận anh em bộ đội về tiếp thu thành phố và giải phóng đồng bào thoát khỏi ách đô hộ của đế quốc Mỹ.” Nghe mà phát rợn người. Thì ra Việt cộng đã lẻn vào thành phố và Loan cũng đã nghe tiếng súng ì đùng ở phía Nguyễn Tri Phương. Ba má Loan sợ quá không dám chường mặt, bảo Loan ra đối đáp, dặn phải nói là chủ nhà đã về quê ăn Tết hết rồi, chỉ còn mình Loan là người ở, ở lại giữ nhà. Loan nói y chang như vậy và may hồn là bọn chúng không hề bước lên nhà trên nên không phát giác ra là cả nhà đang trốn trong hầm trú ẩn. Mà thực ra bọn chúng cũng chẳng cần tìm đến người lớn làm gì, bọn chúng chỉ cần tìm lấy mấy tấm ván làm bia đỡ đạn. Một tên nhóc nói: “Nhà cô có mấy bộ ván và để ở đâu, chúng tôi cần ngay.” Loan trả lời liền, hai bộ và chỉ cho bọn họ đi lấy. Mèn ơi, chúng đem lên nóc bằng nhà của chú tư Lam đặng làm lô-cốt bắn máy bay. Mà thiệt, chẳng bao lâu thì máy bay tới, đủ mọi thứ, trực thăng cũng có và phóng pháo cơ cũng có. Ðạn dưới đất bắn lên, đạn trên máy bay bắn xuống tua tủa như một màng lưới sấm sét trong ánh hỏa châu sáng ngời. Rồi không mấy chốc, dân chúng trong vùng Ðất thánh Tây túa chạy ra, lớp chết, lớp bị thương máu me đầy đường. Ba Loan mở cửa trước hô hoán, bảo cả nhà phải tuôn ra chạy theo đoàn người lánh nạn, kẻo chết hết. Ổng đang mặc áo thung quần xà lỏn, bèn chụp thêm cái mền quấn ngang người rồi vụt băng ra đường. Má và bọn Loan cùng chạy theo. Của cải đành bỏ lại hết, trong đó có chiếc xe Honda 68 ba Loan mới còm măng về còn nằm trong thùng chưa khui. Trời ơi, thiệt là chỉ trong gang tấc, vì chỉ cần băng qua bờ giếng nước bên kia là an toàn. Thiên hạ tụ lại góc đường trước nhà bà già vợ ông Thiệu, quay về nhìn nhà mình đang làm mồi cho cơn lửa đỏ, trong phút chốc đã biến thành tro tàn. Ôi, sao mà não nùng thay cho cả đời người dành dụm… Nhưng, vẫn không gì quý hơn là mạng sống, và gia đình Loan kể ra cũng còn may mắn rất nhiều so với những gia đình khác, cho dù mỗi người giờ chỉ còn lại vỏn vẹn mỗi một bộ đồ dính thân đi nữa!

Anh Tần ơi, sao đất nước mình cứ mãi chiến tranh hoài vậy hả? Nhớ ngày nào mình còn nhỏ, ngày ngày chỉ biết rong chơi sau những buổi đến trường. Tâm hồn mình lúc đó vô tư, nhìn cái gì cũng nên thơ, cũng đẹp. Giờ lớn lên một chút, sao mỗi thứ một khác, anh có thấy như vậy không? Có thương yêu, thù hận với ai không? Loan không biết làm gì để quên đi những kỷ niệm đầy ắp bên ngôi nhà thân yêu ấy! Mà xui xẻo quá, anh chưa kịp một lần nhìn thấy ngôi nhà mới cất của Loan! Giờ đây, ba má Loan định che một cái chòi ở tạm trên nền nhà cũ, rồi tới đâu tính tới đó.

Thôi, không nên nói mãi cho anh nghe những chuyện đau buồn. Bao giờ anh có phép về thăm Mỹ Tho lần nữa? Bao giờ anh ra trường? Nhớ hồi âm cho Loan nghen, Loan trông thư anh lắm lắm. Cứ gửi theo địa chỉ người quen ghi ngoài phong bì thì Loan sẽ nhận được. À, nhớ đừng mê người đẹp Nha Trang mà bỏ quên cô học trò nhỏ bé của anh! Chúc anh mọi điều như ý!

Thân mến,

Võ thị Phương Loan.

Tần thở dài! Ðúng là đường đời ngổn ngang trăm mối! Với Tần, mới chỉ có hai ba mối thôi mà chàng đã cảm thấy lòng mình như cuộn tơ vò. Loan ơi, em nào có đường đột gì đâu! Chẳng qua, hãy tha thứ cho anh, chỉ vì bạn bè mà hình như anh đã vô tình, hững hờ với người thương bé bỏng. Anh nguyện sẽ đền bù cho em…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

25. Karl Marx mắng mỏ đảng Cộng Sản Việt Nam

Thiệt tình mà nói, trước khi vô bài, tôi đặt cái tít này chắc bà con khó hiểu, chắc mấy ông đầu đảng Cộng Sản ở Hà Nội ngạc nhiên tưởng tôi điên. Nhưng hãy khoan! Cứ bình tâm nghe tôi lý sự, nghe tôi kể chuyện.

Quả thật. tôi là người không ưa Cộng Sản Việt Nam, không ưa chủ nghĩa Cộng Sản, không phải chỉ vì mấy năm tù bị đì như thú vật mà tôi có định kiến mà vì Cộng Sản dã man và nhiều khi mất nhân tính thật. Ở trong tù như ở trong địa ngục, mà ra khỏi tù thì cũng thấy Cộng Sản đối xử với đồng bào như cỏ rác, như nô lệ. sống vất vưởng đầu đường xó chợ trong khi Cộng Sản thi nhau bỏ giép râu đi xe Mẹc-Sơ-Đì bóng loáng, nhà cao của rộng phung phí như ông hoàng. Tôi có cảm giác Cộng Sản Việt Nam là những sinh vật đến từ một thứ hành tinh nào, chứ không cùng nòi giống Việt Nam.

Thoát ra được nước ngoài. nghĩ lại những năm tháng ở Việt Nam mà còn lạnh xương sống, cóng xương sườn, đêm trường ngủ mơ thấy ở tù kỳ cục, rồi chợt nhớ lời ông Karl Marx phán mà thấy thấm thía. Ổng phán rằng thì là:“Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình…”

Nói thiệt với bà con, tôi ghét cay đắng chủ nghĩa Mác Lê Nin, nhưng rất khoái và thấm câu nói của Mác. Có thể Marx nói xỏ mấy ông chủ bóc lột công nhân thời của ông bên Anh khoảng thế kỷ 17, 18 thì phải. Tôi dốt sử nên đoán mò, trúng tôi nhờ, trật bà con chịu và thông cảm cho.

Tuy nhiên, hôm nay, khi viết những dòng này, nhớ về Việt Nam, nhớ những gương mặt “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu anh em” của năm 1975, với những đổ nát, đau thương, chết chóc, mất mát, chia ly, đọa đày trên khắp nước vẫn còn tiếp diễn dưới bàn tay thống trị của Cộng Sản Việt Nam, nhớ những ngày chính tôi và bạn bè khiêng xác anh em bạn tù đi chôn ven rừng, mồ xiêu, mã lạng, tôi bỗng thấy dường như câu nói của Mác là câu nói ông nói của Mác là câu nói với đảng Cộng Sản Việt Nam. Mác tiên tri? Mác mặc khải? Mác làm ông Trạng Trình?. Tôi không biết. nhưng điều tôi biết là Mác nói không sai khi áp dụng vào đảng Cộng Sản Việt Nam.

Ngày 13 tháng 7 năm 2001, vào một buổi xế chiều tại công viên Stanley Park nổi danh của Vancouer, Canada (đứng vào hàng công viên đẹp hàng thứ 7 trên thế giới), người ta chứng kiến một trường hợp lạ lùng: Một con vịt mẹ dắt một bầy vịt con từ một mé rừng công viên đến bờ ao. Trên đường đi, cả đám vịt con rớt tòm xuống một cống nước. Vịt mẹ đứng nhìn xuống cống nước cất tiếng cạp cạp tuyệt vọng không biết làm sao đem bầy con mình lên bờ.

Cảnh sát vỉên Ray Peterson tình cờ đi ngang gần đó khi tuần tra, ông ngạc nhiên thấy con vịt mẹ chạy lạch bạch tới cắn ống quần ông kéo đi về hướng ống cống. Thoạt đầu ông tưởng con vịt cắn sảng, ông hất nó ra, nhưng nó cứ một mực cắn ống quần ông kéo đi. Ông ngạc nhiên , đi theo con vịt, nó dẫn ông tới lỗ cống có song sắt lớn chắn rác. Con vịt mẹ chạy trước đến đó và chờ ông vói tiếng kêu kêu cạp cạp thống thiết. Ray Peterson vô cùng ngạc nhiên thấy 8 con vịt con rơi tòm kẹt duới cống lỏm bỏm nước. Ray Peterson chợt hiểu chuyện gì đã xẩy ra.

Cảnh sát và xe cứu hỏa được gởi tới, và chuyện lạ lùng này lọt vào lai phóng viên tờ Vancouver Sun. Tức thời báo chí bay đến viết tin và chụp hình khi người ta giở tấm vĩ sắt, dùng vợt vớt 8 chú vịt con lên bờ trả cho vịt mẹ. Vịt mẹ dắt bầy con, từ giã đám người hiếu kỳ đang bu quanh, dắt bầy con đến một cái ao bên cạnh và mẹ còn ùa xuống nước. Nhiều người vừa chụp hình, vừa gãi đầu trước hiện tượng lạ lùng kỳ thú này.

Hình ảnh vịt mẹ dắt bầy con cùng bản tin lạ này lập tức được Reuters loan đi khắp thế giới với tựa đề: Ducklings in trouble, mother calls the police. (By Reuters 07/13/01). Người viết có được hình con vịt thông minh dắt bầy vịt con trên tờ Vancouver Sun, nhưng không biết nó thất lạc đi đâu trong cái núi sách báo và hồ sơ…. Tuy nhiên, cũng như rất nhiều người ở Vancouver và độc giả khắp nơi, câu chuyện có thật lạ lùng và cảm động này cứ nằm trong đầu tôi với câu hỏi tại sao con vịt mẹ này lại thông minh đến độ như vậy”? Nó không bỏ bầy con, nó lại biết gọi cảnh sát mới là kỳ diệu! Ai bảo loài vật không có lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào”. .!?”

Ngày 14 tháng 5 năm 2007 mới đây, phóng viên Trung Đông Ali Jareki, lại cũng của Reuters phóng lên bản tin và tấm hình một con mèo nuôi gà con. Con mèo tên Nimra, một năm tuổi. Sau khi con gà mẹ của 7 con gà con sơ sinh bị chết: con mèo Nimra đứng ra thay thế gà mẹ chăm sóc 7 con gà con. Bầy gà con mất mẹ tưởng mèo là mẹ nó nên lẩn quẩn theo mẹ mèo. Chuyện xảy ra ở Amman, Jordan.

Ngày 25 tháng 5 năm 2007, phóng viên Arben Celi, cũng của Reuters tung lên các hệ thống truyền thông một bản tin, một tấm hình cảm động khác. Tại một thành phố nhỏ tên Mamurras thuộc vùng nước Albani cách thành phố Tirana 50km, một con mèo mẹ sinh ra mấy con mèo con và chẳng may tất cả mèo con bị chết trong lúc vú mèo mẹ còn căng sữa.

Cùng sống trong một ngôi nhà một con chó sinh ra hai con chó con, một đen và trắng và không may, con chó mẹ bị xe cán chết. Mất mẹ, hai con chó con chạy theo con mèo mẹ mất con để tìm vú bú sữa. Con mèo mẹ nằm xuống cho hai con chó con bú sữa mèo. Và rồi ngày ngày con mèo mẹ chăm sóc hai con chó con như con ruột! Một hình ảnh cảm động, rất dễ thương.

Con mèo, con chó, con vịt… là những con vật, tại sao đối xử với con, với loài khác giống như những con người có lương tri, đầy tình thương với đồng loại”? Có những trường hợp con người không hiểu nổi sự thông minh và tình thương trong phản ứng của loài vật, như trường hợp con vịt được đề cập phần trên. Phải chăng Marx đã nói oan cho loài vật? “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”

Marx sai với con vịt. Con vịt đâu có bỏ đi và bỏ con chết dưới cống nước, nó biết gọi cảnh sát cứu con nó mà !

Marx sai với con mèo. Con mèo còn thay mẹ gà nuôi và chăm sóc mấy con gà con mất mẹ, dù mèo và gà không là đồng loại.

Marx sai với con mèo. Con mèo còn biết thay con chó mẹ bị chết để cho chó con bú và nuôi hai con chó con. dù mèo không cùng loại với chó.

Nhưng Marx hoàn toàn đúng với trường hợp chế độ Cộng Sản Việt Nam. Tôi nhắc lại lời Marx:

“Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”. Vì sao?

Từ ngày thành hình, đảng CSVN, qua dòng lịch sử, đã thể hiện rõ nét, là họ đã quay lựng với những nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sức cho quyền lực của đảng Cộng Sản, của giai cấp thống trị, của quyền lợi giới tư bản đỏ tai Việt Nam, và của gia đình họ.

Oan khuất của đồng bào trùng trùng khắp trời Nam Bắc, khát vọng của đồng bào bị dập tắt dã man. Mất lòng dân, mất lòng người.,mất biên thổ của tổ tiên… Cộng Sản Việt Nam đã và đang quay lưng lại với nỗi đau và khát vọng của đồng loại và dân tộc. Và thưa cụ Karl Marx, theo cụ thì chế độ CS Việt Nam là loại gì?

Thưa cụ Mác! Ai bôi bác cụ vì Cộng Sản Việt Nam cứ dùng hoài cái món ngoại lai mà họ gọi là “Chủ nghĩa Mác Lênin bách chiến bách thắng muôn năm” . . nhưng cuối cùng cũng chầu ông Bush hay Ohama . . . thì cứ bôi bác, nhưng tôi phải thành thật mà thưa rằng cái tâm ban đầu của cụ là tốt, là thiện nhưng bị ông Lê, ông Sịt và VC biến chế thành ác để dùng, để đi làm cách mạng kiểu:

Đỗ 10 học hết lớp ba
Đi làm cách mạng chết cha giống nòi!
Không tin hỏi bác mà coi
Muôn dân ở dưới, đảng ngồi ở trên!

Không biết tôi đoán có sai hay không, cụ linh thiêng thì hiện hình dạy bảo nhưng dù sao tôi cũng cám ơn cụ đã phán một câu quá đúng về mặt đạo lý và nhân bản: “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”.

Cụ hết sẩy cụ Mác ui! Cụ phán trúng phóc, không trật một ly ông cụ nào khi đem câu đó trùm lên đầu chế độ cộng sản cầm quyền hiện nay ở Việt Nam! Mấy ông VC ở Hà Nội nghĩ sao thì mặc xác mấy ông, nhưng theo kẻ hèn này thì ông Mác nói đúng, chỉ có “loài vật” mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại mà chỉ lo chăm sóc mấy đồng đô la trong túi mình.

Chuyện ít ai biết: Robert Mitchum ở Việt Nam

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

September 12th, 2025

Post by Sơn râu 23 Nov 2025

Năm 1966, giữa lúc cuộc chiến Việt Nam đang ở thời kỳ ác liệt, một người đàn ông tóc muối tiêu, dáng cao to, ánh mắt lúc nào cũng như nửa đùa nửa thật, đáp xuống Sài Gòn. Đó là Robert Mitchum – tài tử lừng danh Hollywood, ngôi sao của những phim cao bồi và phim trinh thám như Out of the Past, The Night of the Hunter, và Cape Fear.

Lúc bấy giờ, Hollywood đang ở giai đoạn chuyển mình. Thập niên 1960 chứng kiến sự sụp đổ của hệ thống hãng phim cổ điển và sự nổi lên của những ngôi sao “bụi đời” hơn, phá bỏ hình ảnh sạch sẽ bóng bẩy của thời vàng son. Mitchum vốn đã mang tiếng “gai góc” – từng bị bắt vì hút cần sa, từng bị báo chí gán cho biệt danh “người đàn ông không cần đóng kịch”. Chính cái khí chất đó khiến việc ông đến Việt Nam càng gây tò mò: không biết ông sẽ nhìn cuộc chiến này ra sao?

Những cái bắt tay và vài câu nói ngắn ngủi, nhưng đủ để cho người lính trẻ cảm thấy mình được ở quê nhà nhớ tới.

Mới đặt chân xuống, Mitchum đã được đưa vào thủ đô Sài Gòn giữa lòng Đông Nam Á. Sài Gòn lúc bấy giờ vẫn còn những khách sạn cổ kính kiểu Pháp, đèn vàng ấm áp, quầy bar sang trọng, rượu vang ngoại nhập, và những bữa ăn phong cách Âu-Á kết hợp.

Mitchum gặp các sĩ quan cao cấp của Quân lực Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, bắt tay, chụp hình, trao đổi xã giao.

Robert Mitchum và Tướng Westmoreland ở Việt Nam 1966 – nguồn Flickr

Nhưng sự xa hoa ấy chỉ là lớp sơn mỏng. Chẳng bao lâu sau, Mitchum được đưa tới các quân y viện – nơi thực tế phũ phàng hiện ra. Trước mắt ông là những chàng trai Mỹ vừa rời ghế nhà trường không lâu, giờ nằm bất động trên giường, có người mất một cánh tay, có người mất cả đôi chân, thậm chí có khuôn mặt bị đạn hoặc mảnh pháo thổi mất nửa bên.

*Mitchum ghé thăm một thương binh mất tay trong trận đánh ở miền Trung. “Cậu vẫn còn nguyên nụ cười, đó mới là điều quan trọng,” ông nói.

Ngoài bệnh viện, Mitchum còn được đưa về các làng quê. Ở đó, ông tận mắt thấy lính Mỹ và các đơn vị công binh xây trường học, lắp hệ thống thoát nước, đào giếng, dựng cầu. Mitchum vừa ấn tượng, vừa bực tức: “Sao mấy chuyện tốt đẹp này lại không được đưa lên bản tin ở quê nhà?”

Phần lớn thời gian hai tuần ở Việt Nam, Mitchum di chuyển bằng trực thăng và máy bay hạng nhẹ, từ trại lính này sang trại lính khác, băng qua rừng rậm phía bắc Sài Gòn. Ở mỗi điểm dừng, ông bắt tay, chụp hình, ký tặng, và nhận những mảnh giấy ghi số điện thoại kèm lời nhắn: “Khi về Mỹ, xin hãy gọi cho mẹ tôi.”

Mitchum trở về Mỹ với “90 triệu mảnh giấy” – cách ông đùa về cả đống số điện thoại. Và ông giữ lời. Ông gọi từng nhà, báo rằng người thân của họ vẫn khỏe.

Robert Mitchum ăn trưa cùng binh sĩ Hoa Kỳ ở Việt Nam 1966- nguồn Flickr

Có lần, khi thăm đơn vị Hải quân, thay vì về trực thăng ngay, Mitchum rủ họ đi uống. Họ vào một quán bar dã chiến dựng bằng vỏ đạn rỗng và tạp chí Playboy. Ông hỏi giá…  rồi bao luôn cả quán, để lính uống miễn phí nhiều tháng.

Ảnh bìa báo Stars and Stripes đăng hình Mitchum ở Việt Nam gọi ông là “người bạn mới của đơn vị” – một danh hiệu chẳng liên quan gì tới Hollywood nhưng lại khiến ông tự hào.

Tháng 2 năm 1967, Mitchum trở lại Việt Nam lần nữa. Lại bệnh viện, lại làng quê, lại những mảnh giấy tin nhắn về nhà.

Báo Los Angeles Times viết “Mitchum không làm chính trị. Ông không hô khẩu hiệu. Ông chỉ xuất hiện, lắng nghe và giữ lời hứa.”

Tờ *Stars and Stripes* đăng hình ông ôm vai một binh nhì, kèm dòng chữ: “Ngôi sao điện ảnh – và là người bạn mới của đơn vị.”

Không phải ai cũng khen ngợi ông. Có người bảo ông bị lợi dụng làm tuyên truyền. Nhưng Mitchum chỉ đáp: “Mấy chú lính đó đâu cần tuyên truyền. Họ chỉ cần biết ở nhà có người nhớ tới họ.”

Và trong ký ức của những cựu chiến binh Hoa Kỳ, Robert Mitchum không chỉ là tài tử Hollywood, mà còn là người đàn ông từng xuất hiện giữa rừng, để nói một câu rất giản dị: “Tôi sẽ nhắn với mẹ anh là anh vẫn khỏe.”

ĐXT

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 23 Nov 2025

Chương 9.

Bàn góp với người hiểu việc về chuyện dự định xây cầu Mỹ Thuận.

Tôi viết bài nầy và gời cho Tuần Báo Vũng Tàu Chủ Nhựt, tự xét là xía vào một việc không liên quan đến mình, gần như hà rứa, tôi chưa là kỹ sư cầu cống mà dám bàn việc chuyên môn, cũng không phải ở trong Nhà Nước mà xen vào việc thuộc về chánh trị, duy lấy theo tuổi già 92 có chút kinh  nghiệm thừa, vả lại biết mà không nói cũng có tội với lương tâm, vậy tôi cứ nói, lời nói được dùng tôi cũng chưa mừng, bằng cho vào sọt rác, thì tôi lại ưng ý, tội già hàm không biết thân, còn gánh bàn độc mướn.

Tôi đã theo dõi tờ 16-6, (khen cho hai cô nhỏ hái dâu xanh có răng tuyệt đẹp) có bài “Lừa đảo trên các bến phà Miền Tây” và tờ 20-6 (với số tiền mua 1700 đồng mà được ngắm nhìn vóc dáng màu da, nước xanh biển mát), trong tờ nầy, có bài nói về “Cầu Mỹ Thuận”. Nhắc lại việc cũ ít người biết, tôi xin tóm tắt lại đây những gì tôi biết về cầu bắc qua sông lớn Miền Nam đồ về Miền Tây, thì có hai cầu: một là cầu Mỹ Thuận, hai là cầu Cái Vồn. Địa danh Mỹ Thuận, nghe được nên còn, trái lại hai chữ “Cái Vồn” nghe kì kì, nên đã xếp vào chuyện cũ. Tôi xin ngứa miệng cãi bướng: trước kia, dường như có “Ta Von”, hai chữ Ta Von, tôi chưa dám chắc là đúng, nhưng tôi hiểu theo tôi “Ta” là “Nắc tà”, ông tà A Rắc của người Thổ và “Von” là tên độc của Neak-ta ấy, và khi phiên âm ra làm “Cái Vồn”, vẫn không nghe tục vì quen miệng quen tai từ lâu … nay bỏ việc từ ngữ, xin kể sơ, khi tôi còn làm thơ ký “đứng bàn ông chánh” tại Cần Thơ, tức làm viên thông ngôn cho quan tham biện chủ tỉnh tại tỉnh Cần Thơ ấy, khoảng những năm 1932 đến 1935, tôi có được dự nhiều kỳ hội nghị về việc xây cầu vĩnh viễn thay cho chiếc phà Cái Vồn, tôi nhớ có một hãng Pháp ở bên Tây, qua đây và đề nghị xin cho hãng ấy bắc qua Cái Vồn: một chiếc cầu nổi (pont flottant) ghép bằng nhiều chiếc tàu nối liền nhau và chở xe và bộ hành qua lại sông Hậu (Bassac), khi có tàu thuyền xin đi, thì tháo ráp dễ dàng, v.v ..và giao kết hãng thâu tiền và sẽ giao chiếc cầu nổi ấy cho Nhà Nước 20 (hai chục) năm sau. Vấn đề “cầu nổi” ấy bị nghị viên Pháp, tên Labaste, lấy danh là Hội đồng Quản hạt (member du Conseil Colonial) thắng tay bác bỏ, viện cớ là hãng ấy chỉ “ư trung thủ lợi”, chớ hai chục năm sau, giao trả cho Nhà Nước thuộc địa, thì tàu bè đã hư nát vô dụng rồi. Nay bàn về vấn đề xây cầu Mỹ Thuận, tôi nhớ người Mỹ đã có dự định và đã dọn đắp hai dốc đất dọn sẵn sẽ xây cầu thật cao bằng bê tông cốt sắt, nhưng vấn đề nầy bị trở ngại và bỏ dở, bất thành, uồng quá, vì có một nước lân bang làm khó, đòi phải xây cầu cao hơn nữa để cho tàu khói qua lại trên Sông Lớn khỏi chờ đợi mở cầu, v.v .. và v.v .. Tôi biết bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Riêng xét, và bàn thừa hai việc:

1. Xây cầu vĩnh viễn, cơm tiền bao nhiêu tỷ USA cho đủ. Nước nhà đang eo hẹp tài chánh, cầu xây nếu bị một trái bom đủ cầu hóa ra hết xài, lại nữa Tiền Giang và Hậu Giang là hai con rồng, thường hay đổi giòng nước chảy, một khi đổi giòng là cầu nọ vô sở dụng, chi bằng thay vì xây cầu cho tốn kém, già nầy đề nghị nên “liệu cơm gắp mắm”, hãy tạm mở thêm nhiều bến bắc (bến phà) tức xây thêm, vừa ở Mỹ Thuận, vừa ở Cái Vồn (Cần Thơ), xây thêm nhiều bến, càng nhiều càng hay, mặc cho xe và vận tải hạng nặng và bộ hành đi bộ qua lại hai sông dễ dàng, dẫu chờ đợi chút ít cũng chưa sao, Nhà Nước có lợi là thâu tiền đò, người dân có lợi, nghèo như giàu đều cùng chung cộng hưởng ích lợi chung, vả lại giữ lại các bến “bac” như cũ, thì dân bán quán có chỗ sanh nhai, chớ theo tôi, nếu xây được chiếc cầu vĩ đại Mỹ Thuận thì dân Hậu Giang, muốn về Cà Mau (Minh Hải), lại cũng còn một chiếc bắc Cái Vồn (Cần Thơ) … còn như tôi là quê ở Sốc Trăng, tôi chỉ cần một phen nằm trong sáu miếng ván, có xe chở qua cầu qua “bac” một lần chót nữa thôi, tôi cóc cần cầu nầy cầu nọ.

2. Việc thứ 2, quả là dư thừa, khi cầu bê tông xây xong, thì quán cơm, quán cà phê cà pháo phải bơ mỏ, dẹp tiệm và Sida, si điếc sẽ dời theo bến theo cảng xe đò xe đậu. Một việc thứ 3 viết thêm, là hắn là chọc giận không nhằm lối, nhưng vẫn cứ nói, là tiếng của chúng tôi xin để lại chúng tôi, nhứt chứ không “nhất” và “núi Châu Thới” chớ không phải Chu Thái Sơn đâu? Người lớn với nhau, chọc tức chơi cho đỡ buồn và xin đừng giận.

(viết ngày 20-6-1993, tức 1 th. 5 Quí Dậu)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 23 Nov 2025

Bài 42

Từ giã nơi ngục tù – Chuyến vượt ngục của “dân Tầu”
Tôi xuống tàu sau cùng và nhờ Sô-cô-la đẩy, chiếc tàu tiến về phía sông. Không có giầm, chỉ có hai mái chèo tốt, một do Quých chèo phía trước, một tôi chèo phía sau. Chưa tới hai giờ sau, chúng tôi ra đến sông. 
Mưa đã hơn một giờ. Tôi lấy một bao bột mì để che mưa. Quých-Quých và anh cụt cũng làm như vậy, nước sông chảy siết và xoáy nhiều. Nhờ nước rút, ba giờ sau, chúng tôi đã đi ngang hai cây đèn pha. Tôi biết là đã gần ra đến biển vì hai cây đèn pha này ở mỏm ngoài cửa sông. Chúng tôi kéo buồm chính và buồm mũi, chúng tôi đã đi qua Kourou mà không gặp trở ngại gì Gió thổi phía bên trái mạnh đến nỗi tôi buộc phải buông buồm cho gió trượt đi. Tàu chúng tôi lao mạnh ra biển như một mũi tên, chúng tôi lọt qua cửa lạch và rời khỏi bờ rất nhanh. Trước mặt chúng tôi, cây đèn pha của đảo Royale đã chỉ đường cho chúng tôi. Mười ba ngày trước tôi còn ở phía sau cây đèn ấy, ở Đảo Quỷ. Chuyến ra khơi vào lúc ban đêm, việc mau chóng rời khỏi Đất liền không được hai bạn Tàu của tôi ăn mừng nổ trời. Những tay con trời này không quen lối bộc lộ tình cảm như chúng ta.
Ra đến biển rồi, Quých-Quých chỉ bình thản nói:
– Chúng ta đã đi ra được, rất tốt.
Anh cụt nói thêm: 
– Phải, chúng ta đã ra đến biển mà không gặp một khó khăn nào. 
– Tôi khát quá, anh Quých-Quých, cho tôi xin một ít rượu.
Sau khi đưa tôi uống, cả hai cũng uống một chầu rượu rhum. Tôi đi không có la bàn, nhưng trong chuyến vượt ngục đầu tiên, tôi đã học cách định hướng căn cứ vào mặt trời, trăng, sao và gió. Và tôi không ngần ngại lao ra biển khơi, cột buồm hướng về sao Hôm. Tàu rất tốt nó vượt sóng một cách dịu dàng và hầu như không bị tròng trành. Gió thổi rất dữ, buổi sớm chúng tôi đã ở rất xa bờ và các đảo Salut. Nếu không phải là làm liều, tôi đã hướng cho tàu chạy xích gần đảo Quỷ để từ ngoài khơi, vừa thoải mái ngắm vừa vượt qua nó.
Ròng rã sáu ngày, biển luôn có sóng lừng nhưng không mưa và không có giông bão. Gió rất mạnh đã đẩy chúng tôi đi rất nhanh về hướng tây. Quých-Quých và Vân Huê là những bạn đường tuyệt vời. Cả hai không lúc nào phàn nàn về trời xấu, về nắng, về đêm lạnh. Chỉ có điều là không anh nào muốn cầm lái và coi tàu lấy vài giờ để tôi được ngủ. Hàng ngày họ nấu bếp đến ba bốn lần. Có bao nhiêu gà chúng tôi đã ăn hết trơn. Hôm qua, tôi nói đùa với Quých-Quých.
– Bây giờ chúng ta ăn con heo chứ?
Anh ta đau khổ thực sự.
– Con vật này là bạn tôi và trước khi ăn thịt nó phải giết tôi đã.
Các bạn tôi cũng săn sóc đến tôi. Họ không hút thuốc để tôi muốn hút bao nhiêu thì hút. Lúc nào cũng có trà nóng. Họ làm tất cả mà không cần phải bảo. Chúng tôi ra đi đã được bảy ngày. Tôi không chịu đựng nổi nữa. Nắng gay gắt đến nỗi cả hai anh bạn Tàu của tôi cũng bị luộc chín như tôm. Tôi phải ngủ. Tôi buộc lái lại và chỉ căng một chút buồm. Tàu cứ đi theo hướng gió thổi. Tôi ngủ say như chết gần ba giờ. Tôi giật mình tỉnh dậy do bị xô mạnh. Khi rửa mặt tôi ngạc nhiên và vui vẻ thấy là trong lúc tôi ngủ anh bạn Quých đã cạo râu cho tôi mà tôi không biết. Mặt tôi cũng được anh bôi dầu.

Từ chiều qua tôi lái qua hướng Tây Nam vì tôi cảm thấy đi quá xa về hướng Bắc. Tàu nặng nên có cái lợi là nó không dễ bị trệch hướng. Do đó, tôi thấy nó đi quá về hướng Bắe thật ra có lẽ là không đúng. Kìa, có chiếc khinh khí cầu! Đây là lần đầu tiên trên đời, tôi được trông thấy nó. Nó không có vẻ đang bay về phía chúng tôi, và nó ở quá xa, khó ước lượng được kích thước của nó.
Ánh nắng phản chiếu trên lớp nhôm làm nó ánh lên màu bạch kim và chói đến nỗi mắt không nhìn thẳng vào đấy được. Nó bỗng đổi hướng, hình như bay về phía chúng tôi. Quả vậy, nó to dần rất mau, và chỉ hai mươi phút sau, nó đã ở trên dầu chúng tôi. Quých và anh cụt vô cùng ngạc nhiên khi thấy chiếc khinh khí cầu, cứ nói huyên thuyên với nhau bằng tiếng Tàu.
– Các anh nói bằng tiếng Pháp để tôi nghe mấy chứ.
– Khí cầu của Anh – Quých nói.
– Không, đấy không phải là khí cầu tròn mà là một chiếc dirigeable: loại khí cầu này có thể điều khiển như máy bay.
Chiếc khí cầu rất to, bây giờ chúng tôi đã thấy được rát rõ vì nó hạ thấp và lượn trên đầu chúng tôi thành những vòng nhỏ. Có những lá cờ nhỏ được đưa ra phát tín hiệu. Chúng tôi không hiểu gì nên không trả lời. Khí cầu vẫn ra hiệu và đến gần chúng tôi hơn, chúng tôi thấy được cả người trong khoang tàu. Rồi nó bay về phía đất liền. Một giờ sau một chiếc phi cơ bay tới và lượn nhiều lần trên đầu chúng tôi. Bỗng nhiên biển nổi sóng dữ hơn, gió cũng mạnh hơn. Chân trời bốn phía đều quang và không thể có mưa.
Trông kia, anh cụt nói.
– ở đâu?
– Đằng kia, hướng này, có thể là đất liền ở phía ấy. Điểm đen kia, là một chiếc tàu.
– Sao anh biết?
– Tôi đoán vậy, tôi còn cho đấy là một tàu khu trục.
– Vì sao?
– Vì nó không có khói.
Đúng vậy, một giờ sau chúng tôi thấy rõ một chiếc tàu chiến màu xám, có vẻ đến thẳng tàu chúng tôi. Nó lớn dần: chắc nó phải đi nhanh ghê gớm, mũi tàu hướng về chúng tôi, tôi sợ nó đi sát chúng tôi quá, sẽ rất nguy hiểm vì biển động và vệt sóng của nó ngược với sóng biển có thể làm tàu chúng tôi bị đắm.
Đó là một tàu phóng ngư lôi loại nhỏ, khi nó lượn quanh nửa vòng phơi cả về ngang thân tàu chúng tôi đọc được tên tàu là Tarpon. Chiếc tàu nặng, treo cờ Anh phấp phới ở mũi tàu, đã lượn vòng và từ phía sau chầm chậm đến gần chúng tôi. Nó thận trọng đi sóng đôi, cùng tốc độ với tàu chúng tôi. Một phần lớn thủy thủ đoàn ở trên boong mặc quần áo màu xanh của Hải quân Anh. Từ đài chỉ huy, một sĩ quan mặc đồ trắng nói qua chiếc loa.
– Stop You – Stop.
– Quých, hạ buồm xuống ngay.
Hai phút sau buồm chính, buồm foc và buồm mũi đã được hạ xuống. Không có buồm, tàu gần như dừng hẳn lại, chỉ có sóng xô tàu quay ngang. Tôi thấy không thể để lâu như vậy, vì sẽ nguy hiểm lắm. Một chiếc tàu mà không có xung lượng riêng của mình do động cơ hay do gió, không thể giữ được đúng hướng. Đưa hai tay lên miệng làm loa, tôi kêu to:
– Các ông có người nói được tiếng Pháp không hả thuyền trưởng
Một sĩ quan khác cầm lấy chiếc loa trên tay viên sĩ quan trước.
– Có tôi nói được tiếng Pháp.
– Các ông muốn gì?
– Lên tàu của các anh.
– Không được, nguy hiểm lắm, tôi không muốn các ông đâm hỏng tàu của tôi.
– Chúng tôi là tàu chiến đi kiểm tra biển, các anh phải tuân lệnh.

– Tôi không cần biết, vì chúng tôi không đi đánh nhau.
– Các anh không phải là những người sống sót của cái tàu bị bắn chìm? 
– Không chúng tôi là những tù vượt ngục từ một trại giam tù khổ sai của Pháp.
Trại giam tù khổ sai là cái gì, trại khổ sai nghĩa là gì?
– Nhà tù, tù nhân, tiếng Anh là Convict Hard labour.
– à, tôi hiểu rồi. ở Cayenne hả?
– Phải, ở Cayenne.
– Các anh đi đâu?
– Sang Honduras thuộc Anh. 
Không được, các anh phải theo hướng Tây Nam và đi về thành phố George. Đây là lệnh, các anh phải theo.
– Được? Tôi bảo Quých kéo buồm lên và chúng tôi đi về hướng mà chiếc tàu phóng ngư lôi đã chỉ cho chúng tôi
Chúng tôi nghe có tiếng động cơ ở phía sau. Đấy là một chiếc xuồng máy được tách khỏi tàu chiến. Nó đuổi kịp chúng tôi ngay. Một thủy thủ, súng đeo chéo qua vai, đứng ở mũi xuồng. Nó đến từ phía bên phải và đi sát kề bên chúng tôi mà không dừng lại, cũng không bắt chúng tôi dừng lại. Người thủy thủ nhảy phóc sang tàu chúng tôi. Chiếc xuồng tiếp tục đi trở về với chiếc tàu chiến.
– Good afternoon! – người thủy thủ nói.
Anh ta đi về phía tôi, ngồi xuống cạnh tôi rồi đặt tay lên cần lái và hướng tàu về phía Nam, chếch nhiều hơn so với hướng tôi đi. Tôi để cho anh ta lái, và quan sát cách làm của anh. Anh lái rất giỏi, không có gì phải nghi ngờ. Tuy thế, tôi vẫn ngồi tại chỗ của tôi. Biết thế nào được.
– Thuốc lá?
Anh lấy ra ba bao thuốc lá Anh và đưa cho chúng tôi mỗi người một bao.
– Trời ơi! – Quých nói, họ vừa đưa thuốc lá cho anh này đúng lúc anh xuống xuồng, vì chắc anh ta không phải lúc nào cũng mang ba bao thuốc lá trong người. 
Tôi cười về lời nhận xét của Quých, rồi tôi lại chú ý đến người thủy thủ Anh: anh ta biết lái tàu giỏi hơn tôi. Tôi có đủ thì giờ để suy nghĩ. Lần này, việc vượt ngục đã thành công hoàn toàn, tôi đã là một người tự do, thật sự tự do. Cổ tôi nóng ran, tôi cảm thấy nước mắt trào ra. Thật vậy, tôi đã dứt khoát được tự do vì từ khi có chiến tranh, không nước nào trả tù vượt ngục về nơi cũ.

Trước khi chiến tranh chấm dứt, tôi có đủ thì giờ để được đánh giá tốt và bất cứ nước nào mà tôi định cư cũng sẽ hiểu rõ tôi. Điều bất lợi duy nhất là, do chiến tranh, có lẽ tôi không được lựa chọn nước tôi muốn ở lại. Cũng không sao, ở bất cứ nơi nào tôi sống, tôi cũng sẽ mau chóng làm sao để được dân và các nhà cầm quyền ở đấy quý mến và tin cậy, cách sống của tôi sẽ không ai chê trách vào đâu được. Hơn thế, cách sống ấy phải là gương mẫu nữa.
Cảm giác an toàn là cuối cùng tôi đã chiến thắng được con đường thối rữa làm tôi không còn nghĩ đến việc gì khác Papillon, thế là cuối cùng, mày đã được cuộc Sau chín năm, mày đã toàn thắng. Cảm ơn Chúa lòng lành, có thể người đã làm như vậy trừ trước, nhưng con đường người vạch ra rất bí ẩn, con không oán trách người vì nhờ người giúp đỡ, con vẫn còn trẻ, còn lành mạnh và tự do.
Chính lúc đang nghĩ tới con đường mà tôi đã vượt qua trong chín năm bị tù đày khổ sai cộng với hai năm tù ở Pháp tổng cộng là mười một năm là lúc tôi đã trông theo tay người thủy thủ đang chỉ và nói với tôi:
– Đất liền kia kìa. 
Hồi mười sáu giờ, sau khi đi ngang một ngọn đèn biển đã tắt, chúng tôi vào một con sông lớn. Sông Demerara. Chiếc xuồng lại xuất hiện, người lính thủy trả tay lái cho tôi và ra phía trước. Anh ta bắt một cuộn thừng to được ném tới và buộc vào ghế băng phía trước. Chính tay anh đã hạ buồm và chèo xuồng nhẹ nhàng kéo chúng tôi khoảng hai mươi kilômét ngược giòng con sông nước vàng vàng này, theo sau độ hai trăm mét là chiếc tàu phóng ngư lôi. Sau một khúc quanh, một thành phố lớn hiện ra, người lính thủy Anh reo to: “Đến thành phố George rồi”.
Đúng là chúng tôi đã đến thủ đô của nước Guyane thuộc Anh, do chiếc xuồng kéo. Có rất nhiều tàu chở hàng, thuyền máy và tàu chiến. Có nhiều đại bác đặt trong các tàu chiến cũng như trên đất liền.
Chiến tranh là như thế. Chiến tranh nổ ra đã hai năm rồi mà tôi không hay biết gì. Thành phố George, thủ đô của Guyane thuộc Anh, cảng quan trọng trên sông Demerara, ở trong tình trạng có chiến tranh một trăm phần trăm. Cái cảnh một thành phố được vũ trang làm tôi thấy buồn cười. Chúng tôi vừa ghé sát một cầu tàu quân sự thì chiếc tàu phóng ngư lôi đi theo chúng tôi cũng từ từ ghé tới và cặp bến. Quých với con heo, Huê với cái bọc nhỏ trong tay và tôi tay không, chúng tôi lên bến. Không có một người dân nào trên cầu tàu dành cho Hải quân này. Chỉ có lính thủy và quân nhân. Một viên sĩ quan đi tới. Tôi nhận ra ông ta. Ông là người nói tiếng Pháp với tôi từ trên tàu phóng ngư lôi ông ta tử tế chìa tay cho tôi và nói với tôi:
– Anh có khỏe không?
– Thưa thuyền trưởng khỏe
– Tốt. Dù sao anh cũng phải qua y tế để chích ngừa vài mũi. Cả hai bạn của anh nữa.



Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Chương 19

Cái “cực điểm của sự nhọc mệt của chúng tôi” mà ông vua hề Charlot đã từng nói đến, có thể kéo dài hàng tháng, và mỗi ngày, với từ 40 đến 50 người chết, dài như một thế kỷ. Với nhịp độ nầy, tất cả tù nhân trong trại tập trung đều phải đi qua lò thiêu xác trước khi Đồng Minh đến. Thật nhọc nhằn khi thấy bạn bè ra đi vĩnh viễn và trông thấy cái chết càng ngày càng đến gần với mình. Và khi André báo cho chúng tôi biết rằng cuộc tấn công quyết định của Eisenhower đã mở màn và thành công ngay từ đầu bằng cách vượt qua sông Rhin, và các địa danh như Dusseldorf, Cologne sau cùng đã phải xuất hiện trong các thông cáo, nỗi vui mừng vô hạn của chúng tôi đã làm giảm bớt nỗi u sầu khi biết Barberon đang hấp hối và ít có may mắn nào có thể giữ mạng sống của anh. Lòng tận tụy của một bác sĩ có quen biết anh trong đời sống dân sự đã tỏ ra vô hiệu lực trong việc chống lại với sức mạnh của cơn bệnh, vì ở đó chẳng có tí thuốc men nào trong tay. Vừa thoát được cơn đau phổi, thì bệnh phù thũng và kiết lỵ đã hợp sức kết liễu đời anh. Tất cả những lời ta thán đến không giúp ích được gì. Trong khi quân Đồng Minh vượt qua Francfort, người bạn thân tình của chúng tôi ra đi trong cảnh mây mù xám ngắt giăng khắp bầu trời, trong một ngày mà thân xác anh sẽ biến thành làn khói xanh sau vài phút.

Đúng lúc quân Hoa Kỳ tiến nhanh, nhiều tin đồn kỳ lạ đã lan truyền trong trại: những người sống sót sẽ bị kết liễu bằng súng máy hoặc đưa bằng xe vận tải đến Buchenwald để cho vào lò hơi ngạt. Thật hay giả, chúng tôi cũng không nên để cho bị ảnh hưởng bởi các tin đồn đó, và phải chuẩn bị cho lúc quân đội Đồng Minh đến. Khi người ta bắt đầu nói đến “đoàn quân tiến về Kassel”, một địa điểm cách Ellrich 100 cây số, chúng tôi kiểm điểm lại lần chót các phương tiện để thi hành một kế hoạch mà chúng tôi đã quyết định trong khung cảnh một ủy ban quốc tế. Thanh toán trọn tất cả bọn tù nắm giữ các nhiệm vụ cai quản tù binh trong trại cũng như những tên điểm chỉ viên bị phát giác tại các khối, và bắt giữ để đưa ra trước tòa án, tất cả bọn làm việc tại bệnh xá và các văn phòng. Tất cả các hành động nầy phải được làm trước khi quân Đồng Minh đến để đặt họ trước sự đã rồi, và ngăn chặn mọi âm mưu và mọi ý định săng-ta vào một lúc mà nỗi vui mừng và cảm động sẽ lên đến cực điểm. Chúng tôi gồm có bảy người đã chuẩn bị và quyết định cuộc nổi loạn nho nhỏ nầy. Ba người Pháp (Marcel, André và tôi) đã có ý kiến tiên khởi về hành động đó, Alex đại diện cho tù nhân Tiệp Khắc, viên thư ký của Thị trưởng Anvers đại diện cho nhóm tù Bỉ, một tù nhân chính trị Ba Lan mà không hiểu sao André đã khám phá được, vì họ rất hiếm có, và sau cùng Sachka. Lẽ tự nhiên chính Sachka sẽ cung cấp lực lượng chiến đấu để thực hiện kế hoạch. Trong mỗi khối một nhóm tù nhân Nga, được hỗ trợ bởi các tù khác nhau trong phạm vi có thể được, phải sẵn sàng thi hành mệnh lệnh của chúng tôi.

Vũ khí – gồm có dao được chế tạo lén lút trong các cơ xưởng tại công trường – phải sẵn sàng để thực hiện một vụ Saint-Barthélemy mới. Để tránh tình trạng rắn không đầu, một nhóm được đặc biệt chỉ định để đến giờ H… đến chiếm ngay nhà bếp, và Marcel, biết Anh ngữ sẽ nhân danh chúng tôi trình bày tình hình cho viên sĩ quan Đồng Minh đầu tiên xuất hiện. Tất cả bộ máy của chúng tôi được âm mưu trong phòng tắm, trong một góc biệt lập của tòa nhà, hay trong một khối có thể cho phép chúng tôi tụ họp mà không bị bắt gặp. Lẽ tất nhiên là không bao giờ chúng tôi tụ họp cả bẩy người với nhau cùng một lúc, mỗi người được thông báo tin tức và quyết định, và đến lượt người đó báo cho các người dưới quyền rõ. Chúng tôi phải luôn luôn đề phòng, bởi vì tin tức về các biến chuyển đã không làm cho các chủ nhân ông của chúng tôi khá hơn. Dẫu cho là quân sự hay dân sự, chúng đều hy vọng nơi một phép lạ. Riêng bọn SS, chúng xấu xa hơn bao giờ hết. Cuộc bại trận thật sự đã nghiêng ví phía chúng, và mỗi tù nhân còn sống sót là thêm một nhân chứng cho tội ác của chúng. Vậy thì chúng tôi chỉ được đảm bảo có một nửa, khi nghĩ đến các ngày cuối cùng.

Chúng tôi có nhiều lý lẽ để nghi ngờ. Một hôm, khi có dấu hiệu cho thấy quân Đồng Minh đã đến gần Kassel, chúng tôi đã chứng kiến ngay giữa công trường, lúc tập họp, một vụ hành hình bằng cách treo cổ bốn người. Vụ hành hình nầy đã xảy ra vào lúc cuối ngày, công việc trong ngày chấm dứt, chúng tôi được sắp đứng thành hình vuông chung quanh một cột gia hình. Một đám sĩ quan và lính võ trang cùng mình được điều động từ Dora đến để tăng thêm phần quan trọng cho cuộc hành quyết và để tránh các cuộc lộn xộn có thể xảy ra. Khốn thay, chúng tôi biết rằng mình hoàn toàn bất lực. Các tử tội, bốn thanh niên Nga, một khúc cây chêm ngang miệng, tay bị trói, đứng trước cột gia hình vài thước. Một trong các tên sĩ quan đọc bản án và đối với một số ít tù nhân, người ta có cảm tưởng như đang ở vào năm 1941, vào thời đại cực thịnh của sự đại thắng của Đức Quốc Xã.

– Vô phước cho những kẻ dám phá hoại công việc của Đại Đức Quốc. Bốn tên ăn cướp đứng trước các anh đã phạm tội đó, chúng sẽ bị treo cổ, và chúng tôi cũng sẽ treo cổ những kẻ nào bàn luận về “politik” (chánh trị). Chúng tôi nắm trong tay hàng trăm hàng ngàn tội phạm như các anh, và chúng tôi có thể treo cổ bất kỳ là bao nhiêu nếu xét ra cần thiết để duy trì trật tự Quốc Xã.

Bốn tên ăn cướp chỉ là bốn chú bé. Bị bắt đứng nghiêm và đi đều bước cho đến chiếc ghế dài đặt dưới các thòng lọng, đúng hơn là các sợi dây nhỏ. Đúng lúc một tên SS quàng thòng lọng vào cổ tù tội, họ bật khóc, những tiếng khóc của trẻ con, nhưng một hoặc hai giây trước khi chiếc ghế dài không còn đưới chân nữa, họ la lớn lời tung hô tổ quốc, để chứng tỏ với đồng bọn là họ đã chết như chiến sĩ.

Tôi cùng với André đứng ngay hàng đầu. Cuộc hành quyết kéo dài nhiều phút, trong thời gian đó những thân hình yếu đuối dãy dụa chỉ cách mặt đất độ ba mươi phân. Chúng tôi được báo trước là cấm giở nón và không được bày tỏ tình cảm dưới bất cứ hình thức nào. Súng tiểu liên chĩa về phía chúng tôi sẵn sàng làm chúng tôi hối tiếc vì các cử chỉ do trái tim hướng dẫn thay vì lý trí. Sau đó chúng tôi phải diễn hành đến gần cột treo cổ và nhìn vào mặt các tử tội. Không phải là một cuộc đi hành đưa đám tang trong không khí tôn nghiêm, mà là phải vừa đi vừa chạy, và gậy gộc sẵn sàng để thúc những người nhạy cảm chạy mau. Tóm lại trong thời gian vừa đủ để chúng tôi ghi nhớ trong đầu là chúng tôi sẽ có thể bị tuyển định như bốn thí sinh kia. Đêm hôm đó, tôi cân nhắc với André những may mắn mà chúng tôi có trong suốt 9 tháng qua, may mắn không bị báo cáo bởi một tên điểm chỉ nào đó về các cuộc thảo luận về hoạt động của chúng tôi, không kể vụ nghe lén máy thu thanh. Đó là một sự việc gần như khó tin, và có một cái gì đó cần suy nghĩ trong những ngày sắp đến. Tuy nhiên trong khi cố gắng thận trọng, nhưng biến chuyển xẩy ra đầy tính cách quyết định, khiến cho các sự đe dọa đã không ngăn được chúng tôi hoàn thiện guồng máy nổi dậy. Chính đài phát thanh Đức cũng đã loan tin các cuộc giao tranh trong thành phố tại Kassel, từ nay sẽ không còn có chỗ cho các bài nghị luận triết lý mà một vài kẻ rảnh rang vẫn làm về cuộc tàn sát mà tập thể ký sinh và yêu quý sẽ thực hiện để trả thù chúng tôi. Một vài người có quả tim từ thiện, những người đồng ý về tất cả những gì liên quan đến bọn cướp Đức, nhưng vẫn ao ước rằng người ta sẽ giao các người khác cho quân đội Đồng Minh. Lẽ tự nhiên chủ thuyết cải lương nầy không hề được bàn luận đến vì nó làm cho đa số không thích.

– Trước hết, – Alex nói, – phải rứt khỏi chúng ta những kẻ mập thây từ một năm nay trên mồ hôi và máu của chúng ta. Nếu để chúng sống, chúng sẽ đóng vai trò thần tượng và chúng sẽ tìm cách dàn xếp để được bạch hóa.

Về phần Sachka, anh nói thêm:

– Nếu Hồng quân đến khu vực nầy trước, chúng tôi có thể đưa ra tòa án quân sự để xét xử những tên có trong danh sách của chúng tôi, nhưng với quân Anh và Mỹ, tôi nghi ngờ lắm. Những con người dân chủ ưa nói nhiều quá và chúng ta sẽ được lừa gạt. Chính chúng ta phải thi hành công lý cùng với sự hậu thuẫn của tất cả những người đã từng đau khổ.

Và thỏa hiệp đã đạt được, với niềm sung sướng, trong không khí của một cơn sốt, trong nỗi lo âu và hy vọng, chúng tôi chờ đợi khoảnh khắc thời gian trông thấy chiếc chiến xa giải phóng đầu tiên xuất hiện. Đấy là dấu hiệu thích nghi để chúng tôi chiếm trại tập trung. Theo ước tính của chúng tôi, ước tính không có gì là huyền hoặc, 30 phút là thời gian tối đa để người của chúng tôi có thể làm chủ tất cả các khối và nhà bếp. Gần 100 tù nhân, trưởng khối, Kapo, nhân viên, tôi tớ đủ mọi loại quốc tịch phải bị hành quyết tại chỗ, 50 tên khác phải bị bắt và nhốt vào một nơi để được xét xử trong không khí bình tĩnh. Vì trường hợp của họ đang được tranh luận.

André sẽ phải chỉ huy nhóm thứ nhất gồm năm khối, Marcel nhóm thứ hai cũng gồm năm khối và Alex nhóm thứ ba. Nhưng vì nhóm thứ ba gồm bảy khối và các văn phòng quản lý trại, quá quan trọng vì số tài liệu chứa đựng trong đó, cho nên Alex được sự phụ tá của đại diện Ba Lan và Bỉ. Mỗi người có một bộ tham mưu riêng và thêm vào đó, mỗi người được chỉ định trước cho một khối có nhiệm vụ sau khi chiếm trại, phúc trình tình hình ngay cho trưởng nhóm của mình. Cùng với Sachka, tôi sẽ chiếm giữ các cơ sở thuộc nhà bếp. Mười lăm người, mười Nga và năm Pháp, còn giữ được sức khỏe, sẽ đóng vai trò liên lạc giữa chúng tôi để mang chuyển các mệnh lệnh và báo cáo tin tức xảy ra trong mỗi khu vực. Ngoài ra, chúng tôi còn phải thực hiện việc chiếm nhà bếp với sự đồng lõa của các phần tử tranh thủ được, trong số tù nhân tham dự vào tập thể nhân viên quản lý trại. Các cán bộ tương lai đều được chỉ định trước và trong mỗi khối một ban lãnh đạo mới phải được tổ chức sẵn sàng. Theo cách mà chúng tôi ấn định, hành động trực diện và với phương tiện cực đại, chiến thắng chắc chắn sẽ đạt được và sẽ không có tổn thất về phía chúng tôi. Một giờ sau dấu hiệu hành động, thời gian mà chúng tôi hy vọng sẽ làm chủ toàn diện trại tập trung, một cuộc mít tinh sẽ được tổ chức trước nhà bếp, nơi đó có đủ chỗ để tập họp tất cả mọi người, mục đích là để chuẩn chấp các biện pháp mà ủy ban quốc tế vừa cho thực hiện. Xác của những tên bị hành hình sẽ được trưng bày ngoài sân trước khi cho thiêu trong một đống lửa ma quái mà theo trí tưởng tượng của chúng tôi sẽ là ngọn lửa của mừng vui và của chiến thắng.

Và ngày 1 tháng 4 năm 1945 đến. Lại một lần nữa, mùa xuân tái sanh từ tám ngày nay, tuy nhiên đây chỉ là sự tái sanh trên cuốn lịch, vì trời còn lạnh giá và ẩm ướt lắm. Hôm đó là một ngày chúa nhật nghỉ việc. Ngoài một cuộc điểm danh kéo dài hai giờ, người ta để cho chúng tôi yên. Trên thế giới, nhân loại có lẽ đang tổ chức mừng lễ Phục sinh, vì hôm nay là ngày đầu tiên của một lễ lớn của Công Giáo, nhưng đối với chúng tôi. Không có gì là vui vẻ lẫn hồi sinh. Đêm qua, 31 tháng 3 chính đài phát thanh Đức đã thú nhận là các cuộc chiến đấu trên đường phố vẫn tiếp diễn ở Kassel. Vậy thì điều nầy chứng tỏ rằng thành phố đều bị chiếm và tình trạng cấp bách của tấn thảm kịch có thể xảy ra trước khi chúng tôi được giải phóng làm cho chúng tôi hụt hơi vì hồi hộp và làm cho chúng tôi quên mất mạng mình như chỉ mành treo chuông. Chúng tôi chờ đợi từng lúc, tiếng động của đoàn xe cơ giới ầm ầm đi ngang qua trại. Con đường giữa Kassel và Ellrich rất bằng phẳng và giữa hai thành phố, quân Đức không thể nào thiết lập được một tuyến chống cự. Và đối với chiến xa không có chướng ngại trước mặt thì một trăm cây số có nghĩa lý gì! Tại bệnh xá, khốn thay, người ta vẫn lột áo quần của các người quá cố, những bệnh nhân còn chống cự với tử thần không thể nào tin có chuyện như vậy, họ khóc òa lên vì sung sướng và khẩn nài các bạn bè đang hấp hối cố gắng chống cự thêm vài giờ nữa để được Hồng Thập tự đến cứu. Trong những lúc như vậy, người ta tin tưởng rất nhiều điều.

Dầu sao, dưới nhãn quan của chúng tôi, tối hôm chúa nhật ngày lễ Phục sinh đó, tình hình được loan báo một cách tuyệt vời. Bọn SS hình như chẳng làm gì cả và chúng tôi nghĩ: “Quân Mỹ đã đến gần quá khiến bọn chúng không còn quyết định việc tiêu diệt chúng tôi kịp thời”. Chúng tôi hội họp vào lúc tám giờ tối tại phòng tắm thuộc khối số 3 và quyết định thay phiên giữa các khối để thức suốt đêm. Chiến xa có thể sẽ đến trong đêm và các liên lạc viên cũng nhận được lệnh sẵn sàng để chu toàn sứ mạng. Lẽ tất phiên tất cả các diễn viên của cuộc nổi dậy phải để nguyên áo quần mà ngủ và các con dao cũng phải sẵn sàng để được xử dụng. Rồi chúng tôi giải tán, nhiều người trong chúng tôi tin rằng sẽ không phải đi công trường vào ngày mai, thứ hai của lễ Phục sinh, ngày làm việc thường lệ.

Khi về đến khối số 7, cùng với Marcel, tôi liếc mắt nhìn vào góc phòng dành cho tù nhân Pháp. Tất cả chỉ còn lại 20 người. Hai trong bọn, đang quì trên giường sát mặt đất để cầu nguyện. Họ nắm trong tay một tràng hạt bằng gỗ mà, họ lén lút gọt dũa một cách thô sơ.

Đối với một con chiên, quả thật có một cái gì đáng để cám ơn Đấng tối cao, dẫu cho vị ấy mang tên gì, rằng Ngài đã dẫn đắt họ bình an cho đến lúc nầy. Tuy nhiên, chẳng có gì xảy ra trong đêm và sáng hôm sau, như thường lệ, chúng tôi phải đi công trường. Quang cảnh gần như có vẻ khôi hài vì mọi chuyện vẫn diễn tiến bình thường như mọi ngày. Con tàu đã đến đúng giờ và bọn lính canh đã làm nhiệm vụ với một kỷ luật không thay đổi. Tuy nhiên trong công việc tại công trường, đã có chuyện lạ, nhiều kỹ sư dân sự vắng mặt và người ta còn lưu ý đến sự biến mất của một trong nhưng tên SS trong ban chỉ huy trại. Dấu hiệu đầu tiên của sự tan rã. Đối với chúng tôi, điều bất tiện nhất là thấy quân Mỹ đến ban ngày, bởi vì trong khi chúng tôi vắng mặt, các cuộc âm mưu vận động của bọn người bị chúng tôi kêu án có thể xảy ra lại trại tập trung với quân đội giải phóng. Nhưng vẫn không có gì xảy ra buổi sáng lẫn buổi chiều. Vài phút trước cuộc tập họp vào xế chiều tôi gặp được Gustave, và tôi chú ý trên cái giá hành lý sau chiếc xe gắn máy của anh ta có buộc một chiếc va-li. Như thường ngày, thì tôi không dám rút ra một kết luận nào về sự kiện đó, nhưng hôm nay chắc phải có lý do quan trọng. Có lẽ anh ta đọc được tư tưởng của tôi, vì vừa đi anh ta vừa nói:

– Đúng rồi, tôi phải đi, quân Mỹ có thì đến trong vài giờ nữa. Chúng tôi thua trận, nhưng giữa Đồng Minh với nhau, các anh sẽ choảng nhau.

Tôi chỉ quan tâm đến lời thú nhận bại trận và những chữ “Chúng tôi thua trận” làm êm dịu tai tôi. Tôi hiểu điều đó còn hơn chính anh nữa, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nghe chính miệng một người Đức nói câu đó. Tôi chạy đi báo cho anh em trong biệt đội rõ như là một tin bất ngờ. Thật ra, nhiều người không hình dung nổi tình hình thật sự ra sao và vẫn còn tự hỏi liệu đó có phải là sự thật không. Từ ngày chiến tranh khởi đầu, sự thật đã bị gia thêm nhiều mắm muối quá và bị xâm phạm trắng trợn đến nỗi phần đông tù nhân đều biến thành tiên tri trong nhiều lãnh vực. Trên con tàu đưa về trại vào tối thứ hai, Raymond, người sản xuất rượu nho, người có thể kể một lúc 20 thực đơn không lầm lẫn, rỉ tai tôi: Nầy! Không thể nào có chuyện ở gần quá được. Nhìn xem! bọn lính canh hành động đúng y như năm ngoái.

Sự kiện là vừa về đến trại, trong lúc chúng tôi bí mật nghĩ rằng sẽ gặp chuyện thay đổi, thì lại không có gì mới lạ cả. Những tin đồn mâu thuẫn nhau lan tràn trong các khối, trong đó có tin đêm nay, đêm thứ hai rạng thứ ba sẽ là đêm sau cùng của chúng tôi, vì mọi chuyện đã sẵn sàng để đưa chúng tôi vào cõi chết. Dẫu sao tin tức nầy có thể không có gì là có tính cách tưởng tượng cả, về phần chúng tôi, chiểu theo những quyết định đêm qua, chúng tôi lặp lại cho tất cả những người dự mưu rõ là chúng tôi quyết định chống cự nếu cần, ngay cả đối với bọn SS nữa.

Chúng tôi sợ nhất là một cuộc tập họp vào ban đêm. Nên hay không nên đến chỗ điểm danh khi có tiếng còi báo hiệu là một vấn đề hết sức tế nhị. Trước câu hỏi đó của các người có trách nhiệm lại các khối đặt ra cho chúng tôi, câu trả lời thật khó, bởi vì chúng tôi đã đặt ra một thứ kỷ luật sắt, dù cho không loại trừ hẳn quyền tự do thảo luận, nhưng bó buộc thi hành một cách tự động mọi chỉ thị đã được quyết định trước, và trong trường hợp nầy, câu trả lời của chúng tôi sẽ là một mệnh lệnh. Cuối cùng, sau khi xem xét tất cả mọi khía cạnh của vấn đề, chúng tôi quyết định là phải xuống sân khi có tập họp, tuy nhiên chỉ xuống sau chót. Nhờ rộng rãi, sân tập họp cho phép các cuộc điều động đổi chỗ và trong trường hợp có vụ bắn giết tập thể, cách tiêu diệt duy nhất tại Ellrich, vì không có phòng hơi ngạt, thì các dãy nhà sẽ là các chỗ nấp lý tưởng. Ngược lại, nếu nằm ỳ trong khối thì không khác gì tự tử, vì hai hay ba tên lính có võ trang cũng đủ để tàn sát chúng tôi. Và chúng tôi chia tay nhau để trải qua một đêm thứ nhì tâm hồn tràn ngập khi thì nỗi lo âu, khi thì niềm hy vọng! Nhưng chẳng có gì xảy ra và khi thức dậy chúng tôi tự hỏi không biết quân Mỹ đã bị chặn lại bằng thứ võ khí bí mật nào. Trong trường hợp đó người ta tin là đang sống giữa lòng một thế giới mà tình trạng khẩn trương đè nặng lên mối người, đã tạo ra vô số các giả thuyết có vẻ điên khùng, đối với những người bình thường, nhưng lại có thể có thật trong chế độ Quốc Xã.

Sau cùng, trong khi sửa soạn ra sân tập họp, một tin tức đã đến với chúng tôi. Một tin rất quan trọng vì nó có ý nghĩa xác nhận các biến chuyển của tình hình: Không đi làm, mọi người ở lại trại! Một sự bó buộc đầu tiên, sự lao lực, đã bị hủy bỏ, nhưng sau cơn phấn khích đầu tiên, mọi người đều tự hỏi: chuyện gì sẽ xảy ra trong trại? Không thiếu câu trả lời. Câu trả lời bi quan nhất vẫn cùng một giọng điệu thường lệ: hôm đó là ngày cuối cùng của chúng tôi; một mũi chích tại bệnh xá và rồi mồ chôn tập thể, vì lò thiêu xác không thể đốt cháy hết trước khi quân Mỹ đến. Câu trả lời lạc quan nhất thì lại tiến gần đến cảnh giới hoàn toàn hạnh phúc; viên chỉ huy trại quyết định cho chúng tôi nghỉ để chúng tôi có thể tắm rửa sạch sẽ và xuất hiện trước mắt quân đội giải phóng trong những điều kiện tốt đẹp nhất. Và điều mà không ai tiên liệu được lại đến với chúng tôi trong buổi sáng: cuộc đi tản trại tập trung đã được quyết định vào ngày mai. Chúng tôi cũng đã suy nghĩ kỹ về biện pháp nầy, nhưng đối với chúng tôi nó không thể thực hiện được về phía Đông, quân Nga chỉ còn cách có hai trăm cây về phía Tây quân Mỹ còn cách tối đa là 98 cây số, cả hai mặt trận gần như song song với nhau, và nước Đức của Hitler chỉ còn lại một hành lang mà mỗi ngày một co rút lại. Một sự di chuyển về phía Nam là điều không thể thực hiện được vì vùng Weimar đã bị chiếm đóng, chỉ còn lại phía Bắc, nhưng về phía đó cũng thể, chúng tôi phải theo hướng thẳng góc với trục tiến quân của Đồng Minh đang thọc sâu vào phía Hanovre. Thật không hiểu được. Vậy thì chúng tôi sắp được đưa đi đâu? Những thiết lộ còn xử dụng được đều đầy ngập các con tàu chở vật liệu, binh lính và người tỵ nạn. Tại sao họ lại còn đưa chúng tôi nhào vào mớ hỗn độn ấy? Nhưng tìm hiểu nguyên nhân là chuyện vô ích; kế hoạch của chúng tôi bị sụp đổ và cuộc giải phóng chúng tôi lại bị hoãn lại một cách kỳ lạ. Mối ưu tư lo tản cư chúng tôi, như các thường dân bị nguy hiểm, đối với chúng tôi dễ dãi quá đến nỗi không có vẻ gì là cao quí lắm. Suốt ngày thứ ba, cả trại tập trung trông giống như một hội chợ hay một chợ chồm hổm. Một không khí vui tươi tràn ngập các khối và chỉ riêng nỗi sung sướng ấy đã đủ để gạt vào quá khứ thật xa, những kỷ niệm thống khổ dằng dặc. Như một triều sóng không có gì ngăn thăn được, cả tập thể đã lật nhào mọi qui tắc và tập quán do chế độ khủng bố trước đây tạo ra. Không còn vấn đề phải run sợ trước một tên Kapo hay một tên trưởng khối. Phần chúng cũng nghĩ rằng triều đại chúng đã chấm dứt. Paul tên Kapo gốc Alsace, hắn ta đã thận trọng từ bỏ chức vụ giết người từ nhiều tháng qua, lúc ấy làm việc trong các văn phòng hành chánh. Phần đông nạn nhân của hắn đều chết cả và những tù nhân mới đến biết rất ít về hắn, và vì vậy hắn đã có lúc mặt mày mày đạn lui tới nhóm chúng tôi để chơi trò mị chúng. Hắn lại trở thành tù nhân Pháp Với chữ “F” mới toanh trên hình tam giác đeo trên ngực và không còn nói một tiếng Đức nào nữa.

Buổi sáng thứ tư ngày 4 tháng 4 đến cũng như các buổi sáng khác. Rõ ràng là quân Mỹ phải đứng lại trước sông Weser và sông Werra để lấy sức lại một chút. Vào khoảng giữa trưa, có cuộc tập họp mười khối đầu tiên để lên chuyến tàu thứ nhất. Alex đã có thể góp nhặt được các chi tiết liên quan đến việc di tản, sẽ có hai chuyến tàu để làm việc nầy. Chuyến thứ hai sẽ khởi hành vào chập tối dành cho bảy khối khác và những bệnh nhân hay tù nhân tàn phế. Nhân viên của trại phải chia nhau ra đi theo hai chuyến đêm. Vì không có một cuộc kiểm soát nào được thực hiện cả, nếu thận trọng thì nên chờ chuyến thứ hai vì theo lý thuyết thì có 6 giờ ngăn cách giữa hai chuyến khởi hành, thời gian đó quá đủ để cho phép một vài chiến xa đến kịp thời. Biệt đội của tôi phải lên chuyển tàu đầu tiên. Chỉ có Tony và Toso là theo chúng tôi đến khối số 3, khối của Marcel, André và tôi. Tuy nhiên đến khi khối nầy được lệnh tập họp để cùng lên chuyến đầu, chúng tôi lại chạy đến khối 12 của Alex, Sachka và bạn bè của anh đã có mặt ở đó rồi, và trong số những người có cùng chung ý nghĩ, tôi vui mừng gặp lại Vladimir. Không ai để ý đến cuộc điều động của chúng tôi bởi vì có nhiều người lẽ ra phải đáp chuyến tàu thứ hai, lại làm ngược lại. Họ muốn được lên chuyến tàu thứ nhất bằng mọi giá và mau mau rời khỏi nơi khốn nạn nhuốm đầy mùi tử khí nầy.

Lúc hai giờ trưa, ba ngàn năm trăm tù nhân đã rời khỏi trại. Chúng tôi thấy con tàu khởi hành ít lúc sau đó. Tất cả những người quen biết đều hẹn gặp lại nhau tại Ba-lê, họ tin chắc là sẽ được về đó thật sớm. Mãi đến sáng hôm sau, 5 tháng 4, số còn lại mới được đưa đi. Trái với điều chúng tôi hy vọng, chẳng có chiến xa, lẫn thiết vận xa nào xuất hiện ở Ellrich. Đêm trước, các hồ sơ và các xác chết còn lại được đem đốt hấp tấp. Suốt đêm súp được phân phát thả giàn cho các khối còn người ở lại. Mặc dù chỉ là một thứ nước nóng, nhưng từ lâu mới có một lần được ăn no nê.

Trước khi lên tàu, chúng tôi nhận được mỗi người một ổ bánh mì tròn và một hộp thịt. Như vậy là chúng tôi đã hưởng được số thực phẩm dự trữ vì những người ra đi hôm qua chỉ nhận được bánh mì khô. Vài người còn không tin ở mắt mình; cùng một lúc được năm trăm gam thịt; ngoại trừ vài sợi trong nước súp, chưa bao giờ chúng tôi thấy được nhiều thịt đến thế và cuộc khởi hành được thực hiện như là một đoàn học sinh nghèo đi nghỉ hè. Những người đau ốm được chất lộn xộn trên nhiều toa xe chắc phải ý thức được nỗi nhọc nhằn khi bệnh tật trong một ngày như thế. Khốn thay, đối với phần đông bệnh nhân, con tàu chính là mồ chôn của họ. Vào khoảng hai giờ chiều, con tàu lăn bánh. Chúng tôi được đưa lên một toa xe chở hàng lộ thiên, và hình ảnh trại tập trung buồn thảm lại hiện ra trước mắt chúng tôi một lần cuối. Trong một vài giây đồng hồ, thời gian mà trại tập trung không bao giờ xóa nhòa trong cái nhìn của chúng tôi, cuốn phim của những ngày bị giam cầm diễn ra trong tâm trí chúng tôi như để khắc sâu vĩnh viễn vào đó một kỷ niệm bất diệt.

°

Nhưng chúng tôi đi đâu bây giờ? – Cứ theo mặt trời thì con tàu chạy lên phía Bắc. Và lập tức một ý định cũ trở lại trong trí chúng tôi: trốn. Và sau cùng cơ hội chờ đợi đã đến. Ban đêm, lẽ dĩ nhiên, vì chỉ có một quân canh với tiểu liên ngồi trên một chòi canh nhô lên khỏi các toa. Tin tức duy nhất mà chúng tôi có được là nhờ thực phẩm được phân phát. Chúng tôi được báo cho biết rằng ổ bánh mì và hộp thịt phải được dùng trong bốn ngày. Nhưng ngay đêm đầu một nửa đã biến vào dạ dầy và một điều bất liện mà nỗi vui mừng khi khởi hành làm chúng tôi quên đi, nay lại xuất hiện, chúng tôi có tới 80 người trong mỗi toa và không thể nào tìm cho mình một vị trí thoải mái. Trong suốt buổi chiều, ngồi hay đứng dựa vào thành toa, cuộc hành trình có vẻ bình thường, nhưng khi đêm đến, các cuộc cãi và bắt đầu, và như để làm chúng tôi dịu lại hay làm bực bội thêm không rõ, một cơn mưa nhẹ hột nhưng dai dẳng bắt đầu rơi. Marcel đề nghị lợi dụng đêm đầu tiên có vẻ tối trời để nhảy trốn khi tàu chạy chậm lại. André đã từng trốn cách nầy lúc còn là tù binh chiến tranh, nên có một vài kinh nghiệm về vấn đề đó:

– Những đêm trời mưa là những đêm chết người, anh nói, chúng ta không nắm vững được gì và với bộ áo quần rằn rện, chúng ta không thể đi vào một nông trại. Phải chờ trời tối.

Quan điểm của André đã thắng. Những điều anh nói có vẻ hợp lý.

Chúng tôi ngồi và người nầy dính sát vào người kia, một chục người Pháp chìm trong bảy mươi người Nga và Ba Lan. Sachka đã lên một toa khác cùng với Alex. Tốt hơn hết là tách ra từng nhóm nhỏ để dễ trốn hơn bởi vì chúng tôi đã chia tay nhau với hiệu lệnh là không bao giờ gặp lại nhau nữa. Do sự kiện nầy, kế hoạch qui định từ trước sẽ không còn ý nghĩa gì nữa bởi vì chúng tôi còn phải làm những gì có thể làm được để khỏi bị trở lại trại tập trung trong tương lai. Trong đêm, con tàu dừng lại nhiều lần và sáng hôm sau chúng tôi vẫn thấy con tàu chạy về hướng Bắc. Nó lại dừng một lần nữa tại một đường đổi hướng tàu. Bọn quân canh đếm lại chúng tôi trong mỗi toa, và qua thái độ của chúng, thật dễ dàng nhận thấy đã có các cuộc trốn thoát. Marcel lợi dụng thời cơ để trêu André, anh nầy trả lời bình tĩnh: “Ngày trốn thoát của chúng ta sẽ đến”. Tuy nhiên đêm thứ hai và thứ ba trời vẫn mưa và tình hình chung có vẻ trầm trọng thêm. Trận chiến thực sự đã bùng nổ trong đó những kẻ yếu đuối nhất chỉ có cách rên xiết hoặc kêu rú lên dưới các cú đánh, đạp. Tiếng la của họ xé rách cái yên tĩnh của ban đêm như tiếng ốc hu và át cả tiếng bánh xe nghiến trên đường rầy. Kết quả thật đáng buồn; ngoài số bệnh nhân mà mưa gió và lạnh lẽo sớm mai đã làm chết hàng chục người, mỗi toa cũng có người chết. Trong ba đêm đầu tiên có hơn 300 người chết, 1 phần 10 tổng số chúng tôi. Họ được chất thành đống trong một toa xe lộ thiên nằm giữa con tàu. Và chúng tôi tiếp tục lăn bánh cùng với người chết và những người đau yếu, đến một nơi vô định.

Ban ngày, mặt trời giúp chúng tôi hong khô và bắt rận, vì các “cư dân ấy” đã đi theo chúng tôi. Những hộp thịt rỗng được sử dụng để làm hộp đi cầu đêm ngày, là lẽ tự nhiên là cáu ghét làm mặt chúng tôi trở nên đen đủi. Sáng chúa nhật, con tàu ngừng lại ở ga Salzwedel, đúng hơn là cái gì còn lại giống như nhà ga, vì một cuộc oanh tạc có vẻ mới xảy ra đã làm nhà ga cháy tiêu. Thành phố hình như không bị thiệt hại. Không thể nào biết được nó tọa lạc ở đâu, và mặt trận nằm về phía nào. Một điều có vẻ chắc chắn, chúng tôi luôn luôn đi về phía Bắc, hướng Hambourg. Nhưng trong hai ngày, ba đêm, chúng tôi không tiến xa hơn 100 đến 150 cây số, lê lết từ các đường đổi tàu đến các con đường bị cắt đứt, ổ bánh mì và hộp thịt nhận từ ba hôm trước đã tiêu hóa hết và bị quên mất rồi. Vậy là quá nhiều, năm trăm gam thịt trong bốn ngày, trong khi đó ngoài dân sự chỉ có hai trăm gam cho cả tuần lễ, nhưng đối với những kẻ đói khát như chúng tôi, nó chỉ như mấy món ăn chơi và chúng tôi chỉ “Có chừng đó, hoàn toàn không biết rằng liệu có được phát cho thêm khẩu phần không. Nó đến thật, vào buổi chiều chúa nhật, dưới hình thức một mẩu bánh mì độ chừng bốn tram gam. Người ta báo cho chúng tôi biết một cách dễ thương rằng khẩu phần ấy được phát cho đến thứ ba, hy vọng đến hôm đó chúng tôi sẽ đến được nơi chỉ định, vì đó là phần còn lại của số thực phẩm dự trữ. Lẽ tất nhiên ngay đêm đó khó có thể tìm được một mẩu ruột bánh mì.

Con tàu lại tiếp tục chuyển bánh lúc hai mươi giờ, và tại một ngã tư đường, André vẫn rình, rập, đọc được trên một tấm bảng, tên Hambourg nhưng anh không thể nói chính xác khoảng cách 78 hay 178 và có điều thật lạ lùng, chúng tôi lại đi về phía Nam. Vậy là thiết lộ đã bị cắt! Và đêm thứ tư bắt đầu với thảm kịch thường lệ: cuộc đấu tranh để chiếm một chút không gian sinh tồn. Cũng chính những người ban ngày nói chuyện và đùa bỡn với nhau, đến ban đêm lại biến thành thú dữ. Chính vì mọi người muốn thoát ra khỏi cuộc thử thách sau cùng nầy một cách bình an, và thật vô ích nếu muốn kêu gọi sự ý thức tự giác để sắp xếp 75 người vào một nơi mà tối đa chỉ có 25 người có thể nằm được.

Trong một cuộc đánh lộn đã tranh dành súp trước đây, tôi đã từng đọc thấy trong tia nhìn của một vài tù nhân ý định giết người, và trông thấy những kẻ đánh gục hay đánh bay tung một người đang hút thuốc không chịu chia xẻ vài hơi trong khi cơn thèm thuốc hành hạ họ đến tận tâm cang, tuy nhiên mãi trong đêm thứ tư của cuộc hành trình kỳ dị nầy, tôi mới hiểu các trạng thái tinh thần nầy. Trong ba đêm đầu, chúng tôi hy sinh tối đa để tránh tình trạng đồi tệ, nhưng đến một giới hạn nào đó thôi. Suốt đêm, cả một cuộc hỗn chiến toàn các cú đấm, đạp để không giải quyết được gì cả. Marcel bị chảy máu đầu sau một cú gào mên và André nhận một cái đạp sau lưng bằng gót giày bọc sắt làm anh tê liệt bất động suốt thời gian còn lại cho đến sáng. Và trong đêm tối thì biết trả đòn ai và ở đâu bây giờ? Mỗi cú lại làm gia tăng thêm trận chiến. Không trả đòn lại còn đau khổ hơn nữa và Marcel không còn nhân nhượng nữa, anh đã bị khích động.

Từ các toa xe khác người ta nghe những tiếng thét “cứu tôi” của người đồng hương đang bị nguy khốn, và những tiếng S.O.S được la lên dưới nhiều hình thức bởi các tù nhân thuộc các quốc tịch khác. Lẽ tự nhiên là trốn thoát trong một mớ hỗn độn như thế là chuyện không thể được. Tên lính canh không ngừng ló đầu ra khỏi chòi canh để xem coi có phải chúng tôi phát điên lên tất cả rồi không. Và sáng thứ hai ngày 9 tháng tư, ngày thứ năm của cuộc hành trình, chúng tôi đã yên tĩnh, đau nhức bị thương và có vẻ kỳ cục quá. Một tia sáng mặt trời xuất hiện ban mai đủ làm cho chúng tôi phá lên cười vì thấy mình đã đánh nhau một cách ngu xuẩn, và chúng tôi thấy con tàu lại trở về gần Salzwedel sau khi chạy một cách vô ích về phía Nam. Bị cắt đứt mặt Bắc cũng như phía Nam, người ta sẽ làm gì chúng tôi và chúng tôi không hy vọng gì được phân phát thức ăn trong ngày.

Đang suy nghĩ điều đó thì chúng tôi nghe một tiếng động rầm rầm từ phía Tây, và trong bầu trời lấp loáng, xuất hiện những đốm sáng trắng và đen lấp lánh vì ánh mặt trời phản chiếu trên kim khí. Máy bay Đồng Minh. Tiếp theo nỗi vui mừng thấy bóng dáng bạn bè là một nỗi lo sợ chính đáng. Con tàu của chúng tôi gồm năm mươi toa, kéo dài như một con thằn lằn dưới mắt các oanh tạc cơ và phi cơ săn giặc, không có gì chỉ dẫn cho phi công rõ chúng tôi là ai. May cho chúng tôi hôm đó phi đội có nhiệm vụ khác và nhờ đó chúng tôi có cơ hội chứng kiến tận mắt một ngày hội của Không quân với một cuộc thả bom thật sự. Marcel vốn là một chuyên gia về hàng không và hàng hải đã xác định với chúng tôi là cuộc oanh tạc được thực hiện tại một thị trấn cách xa khoảng 20 cây số, Trong vòng 10 phút, cả một góc trời đen nghịt một lớp khói dày, và vài giây sau một lần phi cơ chúi mũi xuống, chúng tôi lại nghe tiếng nổ. Một khẩu cao xạ phòng không, yếu đuối và bệnh hoạn cố gắng vô ích trong việc làm giảm bớt các đợt sóng tấn công của phi đội tiếp nối nhau đều đặn và rồi lần lượt bay đi. Con tàu chỉ khởi hành lại, khi đêm đến sau một ngày chờ đợi, và lại hướng về Nam. Từ lúc đó, rõ ràng là viên chỉ huy đoàn tàu, bị chặn tứ phía, cố gắng đến một trại tập trung nào đó để trút bỏ chúng tôi. Cơn đói khát có thể đẩy chúng tôi đến các hành động cực đoan và giữa đồng trống, y sẽ khó làm chủ chúng tôi hơn là trong một khu vực được rào cản bao bọc. Đối với chúng tôi, năm ngày ở ngoài trời đã làm chúng tôi ưa thích hơn là trở vào một trại tập trung. Và ý định trốn, được quyết định mang ra thực hiện vào tối ngày thứ năm nầy. Suốt buổi chiều chúng tôi đã thảo luận với người Nga và đạt được thỏa hiệp để làm cho cuộc trốn thoát được dễ dàng hơn. Ít ra là cũng cần phải có hai điều kiện: tốc độ con tàu phải không vượt quá 50 cây số một giờ, và đêm phải thật tối: Nhảy qua khỏi thành toa xe là một điều khá nguy hiểm, trước hết là vì chiều cao và nhất là tên lính canh có thể có thì giờ trông thấy và đưa súng lên vai. Trước khi nhảy, lại phải leo lên thành toa xe, dừng lại vài giây rồi buông tay để rơi mình vào khoảng không, vẫn biết là toa xe có một cửa hai cánh, mở ra bên ngoài bằng một chốt sắt, và nếu mở được, thì chỉ phải nhẩy cách mặt đất độ một thước thôi, tuy nhiên mở được chốt cửa là cả một vấn đề, và tốt hơn là đừng nghĩ đến điều đó nữa. Vào khoảng hai mươi người Nga đã sẵn sàng, và nhờ ảnh hưởng của họ trên số bạn bè, yên tĩnh đã ngự trị được trong toa.

Phía chúng tôi có bốn người: Marcel, André, Guy, người không bao giờ lùi bước từ một năm nay, và tôi. Chỉ có một điều đã dày vò tôi: Tony và Toso đã ở với chúng tôi từ lúc khởi hành và nếu Toso bị đau, thì anh kia lại lộ ra và cùng tháo vát trong một hoàn cảnh như vậy, và tôi cảm thấy buồn lòng nếu phải rời họ Marcel không còn muốn biết gì hơn, theo anh, làm bốn là quá nhiều. Người Nga, với số đông có thể chiếm một nông trại để kiếm ăn và không sợ quá đông người; hai mươi hay ba mươi, trái lại họ lại quá số đông. Chúng tôi thì không có được khí phách ấy và chúng tôi lại không nắm vững bất cứ cái gì trong lương lai. Như vậy, trong khi Marcel cương quyết giữ vững lập trường, tôi lại không thể chấp nhận bỏ rơi hai người bạn cùng chung một biệt đội vào một lúc mà mạng sống của họ được quyết định trước cuộc xung đột dường như không lối thoát nầy, chính Tony đã làm cho chúng tôi trở lại hòa hợp với nhau; anh từ chối hẳn việc theo chúng tôi; không phải là một sự hy sinh có vẻ khoa trương để giữ hòa khí, nhưng tại vì Toso đang ở trong tình trạng không thế nào bắt chước chúng tôi được bởi lý do sức khỏe yếu kém, và anh không muốn bỏ rơi người bạn ấu thơ của mình với bất cứ giá nào. Đó là phán quyết trái ngược của Salomon, và nếu lương tâm tôi được giải thoát và thanh thản thì về mặt tình cảm, tôi không thấy như vậy. Không phải lúc nào người ta cũng có thể điều khiển được quả tim của mình.

Khi tất cả mọi vấn đề đã được giải quyết xong, chúng tôi đoán chừng đã đến 23 giờ rồi. Tên lính canh để ý đặc biệt đến toa của chúng tôi, phải chăng đó chỉ là một cảm giác? Cứ cách khoảng đều đều, tên SS lại ló đầu qua bên phải, bên trái chòi canh hai bên để trống, nhờ đó y có thể canh chừng tất cả bọn chúng tôi trong toa xe. Chúng tôi còn có trước mặt năm tiếng đồng hồ trước khi trời sáng, và có cả trăm cơ hội, vậy thì một cuộc luân phiên nghỉ ngơi được quyết định ngay. André và Guy bắt đầu trước, và cùng với Marcel chúng tôi sẽ thấy họ sau một giờ ngủ. Chúng tôi ước tính thời gian sai bét trong đêm tối và ai cũng run sợ với ý nghĩ mở mắt ra là trông thấy ánh sáng ban ngày bắt đầu. Trực giác báo cho chúng tôi biết may mắn sẽ không còn đến nữa sau đêm nay. Trong lúc tôi đang ngủ ngon nhất, nằm co quắp giữa chân cẳng và thân mình của những người khác; tôi chợt cảm thấy bị lay dữ dội. Chính André.

– Xong rồi, – anh thầm thì, – đã đến lúc rồi, nhiều người Nga đã nhảy!

– Còn tên lính canh? – Tôi hỏi.

– Anh biết không, họ nhảy nhanh lắm, thời gian mà đầu hắn biến vào chòi canh là 3 giây và họ nhảy về phía bên kia.

Con tàu chạy với tốc độ có thể nhẩy được. Marcel đã thức dậy và Guy cũng thế, tất cả sẵn sàng. Tôi cũng như họ nhưng vẫn cảm thấy khoảnh khắc đó thật buồn cười. Đêm tối, không khí mát dịu, và cảnh vật thiên nhiên, không có gì khác, và chúng tôi sẽ rơi xuống đâu? Còn bộ áo tù nhân? Và vấn đề ăn uống? Trong vài giờ nữa, như người ta đã hứa là chúng tôi sẽ được phát một mẩu bánh mì. Đã 36 giờ qua, chúng tôi không có gì cho vào miệng. Cứ như vậy vào lúc không cần thiết nhất, các ý tưởng ấy lại trào dâng tấn công trí não tôi, nhưng tôi biết chúng là các mũi tên độc và tôi xóa bỏ chúng thật mau lẹ.

Con tàu trong lúc đó vẫn chạy và mỗi giây trôi qua là mỗi lúc thiệt thòi đối với chúng tôi.”. Ngay cả với sự can đảm được kết tụ lại, nhẩy từ thành toa xe, cũng là điều làm chúng tôi có phần nào sợ hãi. Bọn Nga chắc phải có thân hình ma quái mới dám nhảy như vậy, tuy nhiên rồi cũng phải nhảy. Lệnh nhảy khỏi con tàu đã được quyết định từ trước. André đầu tiên, rồi đến Marcel, tôi sẽ là người thứ ba và Guy kết thúc nhóm. Một nỗi sợ hãi sau cùng: lỡ nhẩy trúng ngay trụ đường, một thân cây, một tảng đá, hay đơn giản hơn, bị gẫy chân. Chúng tôi còn do dự nấn ná bao lâu nữa? 10 phút, 15 phút là tối đa, thời gian ấy đối với chúng tôi lâu như hàng giờ, và đúng lúc André sắp đặt chân lên thành toa xe thí một thiếc máy bay mà chúng tôi không hề nghe tiếng máy, vừa xuất hiện trên đầu chúng tôi và chúi mũi xuống con tàu. Một loạt đại liên đã quét qua không khí như một ánh chớp, và trong khi do bản năng, chúng tôi cúi đầu xuống, thì loạt dạn ấy, còn hơn là một hiệu lệnh, mà là một mệnh lệnh cho chúng tôi. Đó là lúc để nhảy hoặc không bao giờ nhảy nữa vì lúc ấy tên lính gác hoàn toàn ẩn núp trong chòi canh. Nhưng, đi trước André, một người trông giống như một tử sĩ hồi sinh từ một chiến trường đầy dẫy xác chết, vì bên trong toa xe quang cảnh chẳng khác gì mấy, đã trèo lên thành toa tàu, về phía cửa toa xe, mở cánh cửa nầy và nhẩy ra ngoài. Trước cánh cửa mở mời mọc, André nhảy ra, Marcel đi theo, và đến lượt tôi, tôi có cảm giác là Guy đã đẩy tôi ra, và lăn xuống đá sỏi lát đường rầy. Vài giây sau tôi nghe tiếng rơi gần đấy. Mặt úp xuống đất, tay ôm đầu làm như tôi sẽ trở thành vô hình trong dáng điệu ấy, tôi nghe tiếng tàu chạy gần như ngay trên đầu tôi, bởi vì chúng tôi rơi ngay trên mô đất đặt đường rầy xe lửa. Nằm co quắp và đồng thời đầy âu lo: hoặc nghc tiếng súng tiểu liên của bọn lính, hoặc tệ hơn, thấy đoàn tàu dừng lại, tôi nín thở. Nhưng không, với tiếng động đều đều con tàu rời xa một cách đáng yêu biết bao và sau cùng nó biến mất trong bóng đêm. Năm bóng đen trên một khoảng đường độ 100 thước đứng dậy cùng một lúc như được điều động bằng máy, và tìm đến nhau.