Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Chương 19

Cái “cực điểm của sự nhọc mệt của chúng tôi” mà ông vua hề Charlot đã từng nói đến, có thể kéo dài hàng tháng, và mỗi ngày, với từ 40 đến 50 người chết, dài như một thế kỷ. Với nhịp độ nầy, tất cả tù nhân trong trại tập trung đều phải đi qua lò thiêu xác trước khi Đồng Minh đến. Thật nhọc nhằn khi thấy bạn bè ra đi vĩnh viễn và trông thấy cái chết càng ngày càng đến gần với mình. Và khi André báo cho chúng tôi biết rằng cuộc tấn công quyết định của Eisenhower đã mở màn và thành công ngay từ đầu bằng cách vượt qua sông Rhin, và các địa danh như Dusseldorf, Cologne sau cùng đã phải xuất hiện trong các thông cáo, nỗi vui mừng vô hạn của chúng tôi đã làm giảm bớt nỗi u sầu khi biết Barberon đang hấp hối và ít có may mắn nào có thể giữ mạng sống của anh. Lòng tận tụy của một bác sĩ có quen biết anh trong đời sống dân sự đã tỏ ra vô hiệu lực trong việc chống lại với sức mạnh của cơn bệnh, vì ở đó chẳng có tí thuốc men nào trong tay. Vừa thoát được cơn đau phổi, thì bệnh phù thũng và kiết lỵ đã hợp sức kết liễu đời anh. Tất cả những lời ta thán đến không giúp ích được gì. Trong khi quân Đồng Minh vượt qua Francfort, người bạn thân tình của chúng tôi ra đi trong cảnh mây mù xám ngắt giăng khắp bầu trời, trong một ngày mà thân xác anh sẽ biến thành làn khói xanh sau vài phút.

Đúng lúc quân Hoa Kỳ tiến nhanh, nhiều tin đồn kỳ lạ đã lan truyền trong trại: những người sống sót sẽ bị kết liễu bằng súng máy hoặc đưa bằng xe vận tải đến Buchenwald để cho vào lò hơi ngạt. Thật hay giả, chúng tôi cũng không nên để cho bị ảnh hưởng bởi các tin đồn đó, và phải chuẩn bị cho lúc quân đội Đồng Minh đến. Khi người ta bắt đầu nói đến “đoàn quân tiến về Kassel”, một địa điểm cách Ellrich 100 cây số, chúng tôi kiểm điểm lại lần chót các phương tiện để thi hành một kế hoạch mà chúng tôi đã quyết định trong khung cảnh một ủy ban quốc tế. Thanh toán trọn tất cả bọn tù nắm giữ các nhiệm vụ cai quản tù binh trong trại cũng như những tên điểm chỉ viên bị phát giác tại các khối, và bắt giữ để đưa ra trước tòa án, tất cả bọn làm việc tại bệnh xá và các văn phòng. Tất cả các hành động nầy phải được làm trước khi quân Đồng Minh đến để đặt họ trước sự đã rồi, và ngăn chặn mọi âm mưu và mọi ý định săng-ta vào một lúc mà nỗi vui mừng và cảm động sẽ lên đến cực điểm. Chúng tôi gồm có bảy người đã chuẩn bị và quyết định cuộc nổi loạn nho nhỏ nầy. Ba người Pháp (Marcel, André và tôi) đã có ý kiến tiên khởi về hành động đó, Alex đại diện cho tù nhân Tiệp Khắc, viên thư ký của Thị trưởng Anvers đại diện cho nhóm tù Bỉ, một tù nhân chính trị Ba Lan mà không hiểu sao André đã khám phá được, vì họ rất hiếm có, và sau cùng Sachka. Lẽ tự nhiên chính Sachka sẽ cung cấp lực lượng chiến đấu để thực hiện kế hoạch. Trong mỗi khối một nhóm tù nhân Nga, được hỗ trợ bởi các tù khác nhau trong phạm vi có thể được, phải sẵn sàng thi hành mệnh lệnh của chúng tôi.

Vũ khí – gồm có dao được chế tạo lén lút trong các cơ xưởng tại công trường – phải sẵn sàng để thực hiện một vụ Saint-Barthélemy mới. Để tránh tình trạng rắn không đầu, một nhóm được đặc biệt chỉ định để đến giờ H… đến chiếm ngay nhà bếp, và Marcel, biết Anh ngữ sẽ nhân danh chúng tôi trình bày tình hình cho viên sĩ quan Đồng Minh đầu tiên xuất hiện. Tất cả bộ máy của chúng tôi được âm mưu trong phòng tắm, trong một góc biệt lập của tòa nhà, hay trong một khối có thể cho phép chúng tôi tụ họp mà không bị bắt gặp. Lẽ tất nhiên là không bao giờ chúng tôi tụ họp cả bẩy người với nhau cùng một lúc, mỗi người được thông báo tin tức và quyết định, và đến lượt người đó báo cho các người dưới quyền rõ. Chúng tôi phải luôn luôn đề phòng, bởi vì tin tức về các biến chuyển đã không làm cho các chủ nhân ông của chúng tôi khá hơn. Dẫu cho là quân sự hay dân sự, chúng đều hy vọng nơi một phép lạ. Riêng bọn SS, chúng xấu xa hơn bao giờ hết. Cuộc bại trận thật sự đã nghiêng ví phía chúng, và mỗi tù nhân còn sống sót là thêm một nhân chứng cho tội ác của chúng. Vậy thì chúng tôi chỉ được đảm bảo có một nửa, khi nghĩ đến các ngày cuối cùng.

Chúng tôi có nhiều lý lẽ để nghi ngờ. Một hôm, khi có dấu hiệu cho thấy quân Đồng Minh đã đến gần Kassel, chúng tôi đã chứng kiến ngay giữa công trường, lúc tập họp, một vụ hành hình bằng cách treo cổ bốn người. Vụ hành hình nầy đã xảy ra vào lúc cuối ngày, công việc trong ngày chấm dứt, chúng tôi được sắp đứng thành hình vuông chung quanh một cột gia hình. Một đám sĩ quan và lính võ trang cùng mình được điều động từ Dora đến để tăng thêm phần quan trọng cho cuộc hành quyết và để tránh các cuộc lộn xộn có thể xảy ra. Khốn thay, chúng tôi biết rằng mình hoàn toàn bất lực. Các tử tội, bốn thanh niên Nga, một khúc cây chêm ngang miệng, tay bị trói, đứng trước cột gia hình vài thước. Một trong các tên sĩ quan đọc bản án và đối với một số ít tù nhân, người ta có cảm tưởng như đang ở vào năm 1941, vào thời đại cực thịnh của sự đại thắng của Đức Quốc Xã.

– Vô phước cho những kẻ dám phá hoại công việc của Đại Đức Quốc. Bốn tên ăn cướp đứng trước các anh đã phạm tội đó, chúng sẽ bị treo cổ, và chúng tôi cũng sẽ treo cổ những kẻ nào bàn luận về “politik” (chánh trị). Chúng tôi nắm trong tay hàng trăm hàng ngàn tội phạm như các anh, và chúng tôi có thể treo cổ bất kỳ là bao nhiêu nếu xét ra cần thiết để duy trì trật tự Quốc Xã.

Bốn tên ăn cướp chỉ là bốn chú bé. Bị bắt đứng nghiêm và đi đều bước cho đến chiếc ghế dài đặt dưới các thòng lọng, đúng hơn là các sợi dây nhỏ. Đúng lúc một tên SS quàng thòng lọng vào cổ tù tội, họ bật khóc, những tiếng khóc của trẻ con, nhưng một hoặc hai giây trước khi chiếc ghế dài không còn đưới chân nữa, họ la lớn lời tung hô tổ quốc, để chứng tỏ với đồng bọn là họ đã chết như chiến sĩ.

Tôi cùng với André đứng ngay hàng đầu. Cuộc hành quyết kéo dài nhiều phút, trong thời gian đó những thân hình yếu đuối dãy dụa chỉ cách mặt đất độ ba mươi phân. Chúng tôi được báo trước là cấm giở nón và không được bày tỏ tình cảm dưới bất cứ hình thức nào. Súng tiểu liên chĩa về phía chúng tôi sẵn sàng làm chúng tôi hối tiếc vì các cử chỉ do trái tim hướng dẫn thay vì lý trí. Sau đó chúng tôi phải diễn hành đến gần cột treo cổ và nhìn vào mặt các tử tội. Không phải là một cuộc đi hành đưa đám tang trong không khí tôn nghiêm, mà là phải vừa đi vừa chạy, và gậy gộc sẵn sàng để thúc những người nhạy cảm chạy mau. Tóm lại trong thời gian vừa đủ để chúng tôi ghi nhớ trong đầu là chúng tôi sẽ có thể bị tuyển định như bốn thí sinh kia. Đêm hôm đó, tôi cân nhắc với André những may mắn mà chúng tôi có trong suốt 9 tháng qua, may mắn không bị báo cáo bởi một tên điểm chỉ nào đó về các cuộc thảo luận về hoạt động của chúng tôi, không kể vụ nghe lén máy thu thanh. Đó là một sự việc gần như khó tin, và có một cái gì đó cần suy nghĩ trong những ngày sắp đến. Tuy nhiên trong khi cố gắng thận trọng, nhưng biến chuyển xẩy ra đầy tính cách quyết định, khiến cho các sự đe dọa đã không ngăn được chúng tôi hoàn thiện guồng máy nổi dậy. Chính đài phát thanh Đức cũng đã loan tin các cuộc giao tranh trong thành phố tại Kassel, từ nay sẽ không còn có chỗ cho các bài nghị luận triết lý mà một vài kẻ rảnh rang vẫn làm về cuộc tàn sát mà tập thể ký sinh và yêu quý sẽ thực hiện để trả thù chúng tôi. Một vài người có quả tim từ thiện, những người đồng ý về tất cả những gì liên quan đến bọn cướp Đức, nhưng vẫn ao ước rằng người ta sẽ giao các người khác cho quân đội Đồng Minh. Lẽ tự nhiên chủ thuyết cải lương nầy không hề được bàn luận đến vì nó làm cho đa số không thích.

– Trước hết, – Alex nói, – phải rứt khỏi chúng ta những kẻ mập thây từ một năm nay trên mồ hôi và máu của chúng ta. Nếu để chúng sống, chúng sẽ đóng vai trò thần tượng và chúng sẽ tìm cách dàn xếp để được bạch hóa.

Về phần Sachka, anh nói thêm:

– Nếu Hồng quân đến khu vực nầy trước, chúng tôi có thể đưa ra tòa án quân sự để xét xử những tên có trong danh sách của chúng tôi, nhưng với quân Anh và Mỹ, tôi nghi ngờ lắm. Những con người dân chủ ưa nói nhiều quá và chúng ta sẽ được lừa gạt. Chính chúng ta phải thi hành công lý cùng với sự hậu thuẫn của tất cả những người đã từng đau khổ.

Và thỏa hiệp đã đạt được, với niềm sung sướng, trong không khí của một cơn sốt, trong nỗi lo âu và hy vọng, chúng tôi chờ đợi khoảnh khắc thời gian trông thấy chiếc chiến xa giải phóng đầu tiên xuất hiện. Đấy là dấu hiệu thích nghi để chúng tôi chiếm trại tập trung. Theo ước tính của chúng tôi, ước tính không có gì là huyền hoặc, 30 phút là thời gian tối đa để người của chúng tôi có thể làm chủ tất cả các khối và nhà bếp. Gần 100 tù nhân, trưởng khối, Kapo, nhân viên, tôi tớ đủ mọi loại quốc tịch phải bị hành quyết tại chỗ, 50 tên khác phải bị bắt và nhốt vào một nơi để được xét xử trong không khí bình tĩnh. Vì trường hợp của họ đang được tranh luận.

André sẽ phải chỉ huy nhóm thứ nhất gồm năm khối, Marcel nhóm thứ hai cũng gồm năm khối và Alex nhóm thứ ba. Nhưng vì nhóm thứ ba gồm bảy khối và các văn phòng quản lý trại, quá quan trọng vì số tài liệu chứa đựng trong đó, cho nên Alex được sự phụ tá của đại diện Ba Lan và Bỉ. Mỗi người có một bộ tham mưu riêng và thêm vào đó, mỗi người được chỉ định trước cho một khối có nhiệm vụ sau khi chiếm trại, phúc trình tình hình ngay cho trưởng nhóm của mình. Cùng với Sachka, tôi sẽ chiếm giữ các cơ sở thuộc nhà bếp. Mười lăm người, mười Nga và năm Pháp, còn giữ được sức khỏe, sẽ đóng vai trò liên lạc giữa chúng tôi để mang chuyển các mệnh lệnh và báo cáo tin tức xảy ra trong mỗi khu vực. Ngoài ra, chúng tôi còn phải thực hiện việc chiếm nhà bếp với sự đồng lõa của các phần tử tranh thủ được, trong số tù nhân tham dự vào tập thể nhân viên quản lý trại. Các cán bộ tương lai đều được chỉ định trước và trong mỗi khối một ban lãnh đạo mới phải được tổ chức sẵn sàng. Theo cách mà chúng tôi ấn định, hành động trực diện và với phương tiện cực đại, chiến thắng chắc chắn sẽ đạt được và sẽ không có tổn thất về phía chúng tôi. Một giờ sau dấu hiệu hành động, thời gian mà chúng tôi hy vọng sẽ làm chủ toàn diện trại tập trung, một cuộc mít tinh sẽ được tổ chức trước nhà bếp, nơi đó có đủ chỗ để tập họp tất cả mọi người, mục đích là để chuẩn chấp các biện pháp mà ủy ban quốc tế vừa cho thực hiện. Xác của những tên bị hành hình sẽ được trưng bày ngoài sân trước khi cho thiêu trong một đống lửa ma quái mà theo trí tưởng tượng của chúng tôi sẽ là ngọn lửa của mừng vui và của chiến thắng.

Và ngày 1 tháng 4 năm 1945 đến. Lại một lần nữa, mùa xuân tái sanh từ tám ngày nay, tuy nhiên đây chỉ là sự tái sanh trên cuốn lịch, vì trời còn lạnh giá và ẩm ướt lắm. Hôm đó là một ngày chúa nhật nghỉ việc. Ngoài một cuộc điểm danh kéo dài hai giờ, người ta để cho chúng tôi yên. Trên thế giới, nhân loại có lẽ đang tổ chức mừng lễ Phục sinh, vì hôm nay là ngày đầu tiên của một lễ lớn của Công Giáo, nhưng đối với chúng tôi. Không có gì là vui vẻ lẫn hồi sinh. Đêm qua, 31 tháng 3 chính đài phát thanh Đức đã thú nhận là các cuộc chiến đấu trên đường phố vẫn tiếp diễn ở Kassel. Vậy thì điều nầy chứng tỏ rằng thành phố đều bị chiếm và tình trạng cấp bách của tấn thảm kịch có thể xảy ra trước khi chúng tôi được giải phóng làm cho chúng tôi hụt hơi vì hồi hộp và làm cho chúng tôi quên mất mạng mình như chỉ mành treo chuông. Chúng tôi chờ đợi từng lúc, tiếng động của đoàn xe cơ giới ầm ầm đi ngang qua trại. Con đường giữa Kassel và Ellrich rất bằng phẳng và giữa hai thành phố, quân Đức không thể nào thiết lập được một tuyến chống cự. Và đối với chiến xa không có chướng ngại trước mặt thì một trăm cây số có nghĩa lý gì! Tại bệnh xá, khốn thay, người ta vẫn lột áo quần của các người quá cố, những bệnh nhân còn chống cự với tử thần không thể nào tin có chuyện như vậy, họ khóc òa lên vì sung sướng và khẩn nài các bạn bè đang hấp hối cố gắng chống cự thêm vài giờ nữa để được Hồng Thập tự đến cứu. Trong những lúc như vậy, người ta tin tưởng rất nhiều điều.

Dầu sao, dưới nhãn quan của chúng tôi, tối hôm chúa nhật ngày lễ Phục sinh đó, tình hình được loan báo một cách tuyệt vời. Bọn SS hình như chẳng làm gì cả và chúng tôi nghĩ: “Quân Mỹ đã đến gần quá khiến bọn chúng không còn quyết định việc tiêu diệt chúng tôi kịp thời”. Chúng tôi hội họp vào lúc tám giờ tối tại phòng tắm thuộc khối số 3 và quyết định thay phiên giữa các khối để thức suốt đêm. Chiến xa có thể sẽ đến trong đêm và các liên lạc viên cũng nhận được lệnh sẵn sàng để chu toàn sứ mạng. Lẽ tất phiên tất cả các diễn viên của cuộc nổi dậy phải để nguyên áo quần mà ngủ và các con dao cũng phải sẵn sàng để được xử dụng. Rồi chúng tôi giải tán, nhiều người trong chúng tôi tin rằng sẽ không phải đi công trường vào ngày mai, thứ hai của lễ Phục sinh, ngày làm việc thường lệ.

Khi về đến khối số 7, cùng với Marcel, tôi liếc mắt nhìn vào góc phòng dành cho tù nhân Pháp. Tất cả chỉ còn lại 20 người. Hai trong bọn, đang quì trên giường sát mặt đất để cầu nguyện. Họ nắm trong tay một tràng hạt bằng gỗ mà, họ lén lút gọt dũa một cách thô sơ.

Đối với một con chiên, quả thật có một cái gì đáng để cám ơn Đấng tối cao, dẫu cho vị ấy mang tên gì, rằng Ngài đã dẫn đắt họ bình an cho đến lúc nầy. Tuy nhiên, chẳng có gì xảy ra trong đêm và sáng hôm sau, như thường lệ, chúng tôi phải đi công trường. Quang cảnh gần như có vẻ khôi hài vì mọi chuyện vẫn diễn tiến bình thường như mọi ngày. Con tàu đã đến đúng giờ và bọn lính canh đã làm nhiệm vụ với một kỷ luật không thay đổi. Tuy nhiên trong công việc tại công trường, đã có chuyện lạ, nhiều kỹ sư dân sự vắng mặt và người ta còn lưu ý đến sự biến mất của một trong nhưng tên SS trong ban chỉ huy trại. Dấu hiệu đầu tiên của sự tan rã. Đối với chúng tôi, điều bất tiện nhất là thấy quân Mỹ đến ban ngày, bởi vì trong khi chúng tôi vắng mặt, các cuộc âm mưu vận động của bọn người bị chúng tôi kêu án có thể xảy ra lại trại tập trung với quân đội giải phóng. Nhưng vẫn không có gì xảy ra buổi sáng lẫn buổi chiều. Vài phút trước cuộc tập họp vào xế chiều tôi gặp được Gustave, và tôi chú ý trên cái giá hành lý sau chiếc xe gắn máy của anh ta có buộc một chiếc va-li. Như thường ngày, thì tôi không dám rút ra một kết luận nào về sự kiện đó, nhưng hôm nay chắc phải có lý do quan trọng. Có lẽ anh ta đọc được tư tưởng của tôi, vì vừa đi anh ta vừa nói:

– Đúng rồi, tôi phải đi, quân Mỹ có thì đến trong vài giờ nữa. Chúng tôi thua trận, nhưng giữa Đồng Minh với nhau, các anh sẽ choảng nhau.

Tôi chỉ quan tâm đến lời thú nhận bại trận và những chữ “Chúng tôi thua trận” làm êm dịu tai tôi. Tôi hiểu điều đó còn hơn chính anh nữa, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nghe chính miệng một người Đức nói câu đó. Tôi chạy đi báo cho anh em trong biệt đội rõ như là một tin bất ngờ. Thật ra, nhiều người không hình dung nổi tình hình thật sự ra sao và vẫn còn tự hỏi liệu đó có phải là sự thật không. Từ ngày chiến tranh khởi đầu, sự thật đã bị gia thêm nhiều mắm muối quá và bị xâm phạm trắng trợn đến nỗi phần đông tù nhân đều biến thành tiên tri trong nhiều lãnh vực. Trên con tàu đưa về trại vào tối thứ hai, Raymond, người sản xuất rượu nho, người có thể kể một lúc 20 thực đơn không lầm lẫn, rỉ tai tôi: Nầy! Không thể nào có chuyện ở gần quá được. Nhìn xem! bọn lính canh hành động đúng y như năm ngoái.

Sự kiện là vừa về đến trại, trong lúc chúng tôi bí mật nghĩ rằng sẽ gặp chuyện thay đổi, thì lại không có gì mới lạ cả. Những tin đồn mâu thuẫn nhau lan tràn trong các khối, trong đó có tin đêm nay, đêm thứ hai rạng thứ ba sẽ là đêm sau cùng của chúng tôi, vì mọi chuyện đã sẵn sàng để đưa chúng tôi vào cõi chết. Dẫu sao tin tức nầy có thể không có gì là có tính cách tưởng tượng cả, về phần chúng tôi, chiểu theo những quyết định đêm qua, chúng tôi lặp lại cho tất cả những người dự mưu rõ là chúng tôi quyết định chống cự nếu cần, ngay cả đối với bọn SS nữa.

Chúng tôi sợ nhất là một cuộc tập họp vào ban đêm. Nên hay không nên đến chỗ điểm danh khi có tiếng còi báo hiệu là một vấn đề hết sức tế nhị. Trước câu hỏi đó của các người có trách nhiệm lại các khối đặt ra cho chúng tôi, câu trả lời thật khó, bởi vì chúng tôi đã đặt ra một thứ kỷ luật sắt, dù cho không loại trừ hẳn quyền tự do thảo luận, nhưng bó buộc thi hành một cách tự động mọi chỉ thị đã được quyết định trước, và trong trường hợp nầy, câu trả lời của chúng tôi sẽ là một mệnh lệnh. Cuối cùng, sau khi xem xét tất cả mọi khía cạnh của vấn đề, chúng tôi quyết định là phải xuống sân khi có tập họp, tuy nhiên chỉ xuống sau chót. Nhờ rộng rãi, sân tập họp cho phép các cuộc điều động đổi chỗ và trong trường hợp có vụ bắn giết tập thể, cách tiêu diệt duy nhất tại Ellrich, vì không có phòng hơi ngạt, thì các dãy nhà sẽ là các chỗ nấp lý tưởng. Ngược lại, nếu nằm ỳ trong khối thì không khác gì tự tử, vì hai hay ba tên lính có võ trang cũng đủ để tàn sát chúng tôi. Và chúng tôi chia tay nhau để trải qua một đêm thứ nhì tâm hồn tràn ngập khi thì nỗi lo âu, khi thì niềm hy vọng! Nhưng chẳng có gì xảy ra và khi thức dậy chúng tôi tự hỏi không biết quân Mỹ đã bị chặn lại bằng thứ võ khí bí mật nào. Trong trường hợp đó người ta tin là đang sống giữa lòng một thế giới mà tình trạng khẩn trương đè nặng lên mối người, đã tạo ra vô số các giả thuyết có vẻ điên khùng, đối với những người bình thường, nhưng lại có thể có thật trong chế độ Quốc Xã.

Sau cùng, trong khi sửa soạn ra sân tập họp, một tin tức đã đến với chúng tôi. Một tin rất quan trọng vì nó có ý nghĩa xác nhận các biến chuyển của tình hình: Không đi làm, mọi người ở lại trại! Một sự bó buộc đầu tiên, sự lao lực, đã bị hủy bỏ, nhưng sau cơn phấn khích đầu tiên, mọi người đều tự hỏi: chuyện gì sẽ xảy ra trong trại? Không thiếu câu trả lời. Câu trả lời bi quan nhất vẫn cùng một giọng điệu thường lệ: hôm đó là ngày cuối cùng của chúng tôi; một mũi chích tại bệnh xá và rồi mồ chôn tập thể, vì lò thiêu xác không thể đốt cháy hết trước khi quân Mỹ đến. Câu trả lời lạc quan nhất thì lại tiến gần đến cảnh giới hoàn toàn hạnh phúc; viên chỉ huy trại quyết định cho chúng tôi nghỉ để chúng tôi có thể tắm rửa sạch sẽ và xuất hiện trước mắt quân đội giải phóng trong những điều kiện tốt đẹp nhất. Và điều mà không ai tiên liệu được lại đến với chúng tôi trong buổi sáng: cuộc đi tản trại tập trung đã được quyết định vào ngày mai. Chúng tôi cũng đã suy nghĩ kỹ về biện pháp nầy, nhưng đối với chúng tôi nó không thể thực hiện được về phía Đông, quân Nga chỉ còn cách có hai trăm cây về phía Tây quân Mỹ còn cách tối đa là 98 cây số, cả hai mặt trận gần như song song với nhau, và nước Đức của Hitler chỉ còn lại một hành lang mà mỗi ngày một co rút lại. Một sự di chuyển về phía Nam là điều không thể thực hiện được vì vùng Weimar đã bị chiếm đóng, chỉ còn lại phía Bắc, nhưng về phía đó cũng thể, chúng tôi phải theo hướng thẳng góc với trục tiến quân của Đồng Minh đang thọc sâu vào phía Hanovre. Thật không hiểu được. Vậy thì chúng tôi sắp được đưa đi đâu? Những thiết lộ còn xử dụng được đều đầy ngập các con tàu chở vật liệu, binh lính và người tỵ nạn. Tại sao họ lại còn đưa chúng tôi nhào vào mớ hỗn độn ấy? Nhưng tìm hiểu nguyên nhân là chuyện vô ích; kế hoạch của chúng tôi bị sụp đổ và cuộc giải phóng chúng tôi lại bị hoãn lại một cách kỳ lạ. Mối ưu tư lo tản cư chúng tôi, như các thường dân bị nguy hiểm, đối với chúng tôi dễ dãi quá đến nỗi không có vẻ gì là cao quí lắm. Suốt ngày thứ ba, cả trại tập trung trông giống như một hội chợ hay một chợ chồm hổm. Một không khí vui tươi tràn ngập các khối và chỉ riêng nỗi sung sướng ấy đã đủ để gạt vào quá khứ thật xa, những kỷ niệm thống khổ dằng dặc. Như một triều sóng không có gì ngăn thăn được, cả tập thể đã lật nhào mọi qui tắc và tập quán do chế độ khủng bố trước đây tạo ra. Không còn vấn đề phải run sợ trước một tên Kapo hay một tên trưởng khối. Phần chúng cũng nghĩ rằng triều đại chúng đã chấm dứt. Paul tên Kapo gốc Alsace, hắn ta đã thận trọng từ bỏ chức vụ giết người từ nhiều tháng qua, lúc ấy làm việc trong các văn phòng hành chánh. Phần đông nạn nhân của hắn đều chết cả và những tù nhân mới đến biết rất ít về hắn, và vì vậy hắn đã có lúc mặt mày mày đạn lui tới nhóm chúng tôi để chơi trò mị chúng. Hắn lại trở thành tù nhân Pháp Với chữ “F” mới toanh trên hình tam giác đeo trên ngực và không còn nói một tiếng Đức nào nữa.

Buổi sáng thứ tư ngày 4 tháng 4 đến cũng như các buổi sáng khác. Rõ ràng là quân Mỹ phải đứng lại trước sông Weser và sông Werra để lấy sức lại một chút. Vào khoảng giữa trưa, có cuộc tập họp mười khối đầu tiên để lên chuyến tàu thứ nhất. Alex đã có thể góp nhặt được các chi tiết liên quan đến việc di tản, sẽ có hai chuyến tàu để làm việc nầy. Chuyến thứ hai sẽ khởi hành vào chập tối dành cho bảy khối khác và những bệnh nhân hay tù nhân tàn phế. Nhân viên của trại phải chia nhau ra đi theo hai chuyến đêm. Vì không có một cuộc kiểm soát nào được thực hiện cả, nếu thận trọng thì nên chờ chuyến thứ hai vì theo lý thuyết thì có 6 giờ ngăn cách giữa hai chuyến khởi hành, thời gian đó quá đủ để cho phép một vài chiến xa đến kịp thời. Biệt đội của tôi phải lên chuyển tàu đầu tiên. Chỉ có Tony và Toso là theo chúng tôi đến khối số 3, khối của Marcel, André và tôi. Tuy nhiên đến khi khối nầy được lệnh tập họp để cùng lên chuyến đầu, chúng tôi lại chạy đến khối 12 của Alex, Sachka và bạn bè của anh đã có mặt ở đó rồi, và trong số những người có cùng chung ý nghĩ, tôi vui mừng gặp lại Vladimir. Không ai để ý đến cuộc điều động của chúng tôi bởi vì có nhiều người lẽ ra phải đáp chuyến tàu thứ hai, lại làm ngược lại. Họ muốn được lên chuyến tàu thứ nhất bằng mọi giá và mau mau rời khỏi nơi khốn nạn nhuốm đầy mùi tử khí nầy.

Lúc hai giờ trưa, ba ngàn năm trăm tù nhân đã rời khỏi trại. Chúng tôi thấy con tàu khởi hành ít lúc sau đó. Tất cả những người quen biết đều hẹn gặp lại nhau tại Ba-lê, họ tin chắc là sẽ được về đó thật sớm. Mãi đến sáng hôm sau, 5 tháng 4, số còn lại mới được đưa đi. Trái với điều chúng tôi hy vọng, chẳng có chiến xa, lẫn thiết vận xa nào xuất hiện ở Ellrich. Đêm trước, các hồ sơ và các xác chết còn lại được đem đốt hấp tấp. Suốt đêm súp được phân phát thả giàn cho các khối còn người ở lại. Mặc dù chỉ là một thứ nước nóng, nhưng từ lâu mới có một lần được ăn no nê.

Trước khi lên tàu, chúng tôi nhận được mỗi người một ổ bánh mì tròn và một hộp thịt. Như vậy là chúng tôi đã hưởng được số thực phẩm dự trữ vì những người ra đi hôm qua chỉ nhận được bánh mì khô. Vài người còn không tin ở mắt mình; cùng một lúc được năm trăm gam thịt; ngoại trừ vài sợi trong nước súp, chưa bao giờ chúng tôi thấy được nhiều thịt đến thế và cuộc khởi hành được thực hiện như là một đoàn học sinh nghèo đi nghỉ hè. Những người đau ốm được chất lộn xộn trên nhiều toa xe chắc phải ý thức được nỗi nhọc nhằn khi bệnh tật trong một ngày như thế. Khốn thay, đối với phần đông bệnh nhân, con tàu chính là mồ chôn của họ. Vào khoảng hai giờ chiều, con tàu lăn bánh. Chúng tôi được đưa lên một toa xe chở hàng lộ thiên, và hình ảnh trại tập trung buồn thảm lại hiện ra trước mắt chúng tôi một lần cuối. Trong một vài giây đồng hồ, thời gian mà trại tập trung không bao giờ xóa nhòa trong cái nhìn của chúng tôi, cuốn phim của những ngày bị giam cầm diễn ra trong tâm trí chúng tôi như để khắc sâu vĩnh viễn vào đó một kỷ niệm bất diệt.

°

Nhưng chúng tôi đi đâu bây giờ? – Cứ theo mặt trời thì con tàu chạy lên phía Bắc. Và lập tức một ý định cũ trở lại trong trí chúng tôi: trốn. Và sau cùng cơ hội chờ đợi đã đến. Ban đêm, lẽ dĩ nhiên, vì chỉ có một quân canh với tiểu liên ngồi trên một chòi canh nhô lên khỏi các toa. Tin tức duy nhất mà chúng tôi có được là nhờ thực phẩm được phân phát. Chúng tôi được báo cho biết rằng ổ bánh mì và hộp thịt phải được dùng trong bốn ngày. Nhưng ngay đêm đầu một nửa đã biến vào dạ dầy và một điều bất liện mà nỗi vui mừng khi khởi hành làm chúng tôi quên đi, nay lại xuất hiện, chúng tôi có tới 80 người trong mỗi toa và không thể nào tìm cho mình một vị trí thoải mái. Trong suốt buổi chiều, ngồi hay đứng dựa vào thành toa, cuộc hành trình có vẻ bình thường, nhưng khi đêm đến, các cuộc cãi và bắt đầu, và như để làm chúng tôi dịu lại hay làm bực bội thêm không rõ, một cơn mưa nhẹ hột nhưng dai dẳng bắt đầu rơi. Marcel đề nghị lợi dụng đêm đầu tiên có vẻ tối trời để nhảy trốn khi tàu chạy chậm lại. André đã từng trốn cách nầy lúc còn là tù binh chiến tranh, nên có một vài kinh nghiệm về vấn đề đó:

– Những đêm trời mưa là những đêm chết người, anh nói, chúng ta không nắm vững được gì và với bộ áo quần rằn rện, chúng ta không thể đi vào một nông trại. Phải chờ trời tối.

Quan điểm của André đã thắng. Những điều anh nói có vẻ hợp lý.

Chúng tôi ngồi và người nầy dính sát vào người kia, một chục người Pháp chìm trong bảy mươi người Nga và Ba Lan. Sachka đã lên một toa khác cùng với Alex. Tốt hơn hết là tách ra từng nhóm nhỏ để dễ trốn hơn bởi vì chúng tôi đã chia tay nhau với hiệu lệnh là không bao giờ gặp lại nhau nữa. Do sự kiện nầy, kế hoạch qui định từ trước sẽ không còn ý nghĩa gì nữa bởi vì chúng tôi còn phải làm những gì có thể làm được để khỏi bị trở lại trại tập trung trong tương lai. Trong đêm, con tàu dừng lại nhiều lần và sáng hôm sau chúng tôi vẫn thấy con tàu chạy về hướng Bắc. Nó lại dừng một lần nữa tại một đường đổi hướng tàu. Bọn quân canh đếm lại chúng tôi trong mỗi toa, và qua thái độ của chúng, thật dễ dàng nhận thấy đã có các cuộc trốn thoát. Marcel lợi dụng thời cơ để trêu André, anh nầy trả lời bình tĩnh: “Ngày trốn thoát của chúng ta sẽ đến”. Tuy nhiên đêm thứ hai và thứ ba trời vẫn mưa và tình hình chung có vẻ trầm trọng thêm. Trận chiến thực sự đã bùng nổ trong đó những kẻ yếu đuối nhất chỉ có cách rên xiết hoặc kêu rú lên dưới các cú đánh, đạp. Tiếng la của họ xé rách cái yên tĩnh của ban đêm như tiếng ốc hu và át cả tiếng bánh xe nghiến trên đường rầy. Kết quả thật đáng buồn; ngoài số bệnh nhân mà mưa gió và lạnh lẽo sớm mai đã làm chết hàng chục người, mỗi toa cũng có người chết. Trong ba đêm đầu tiên có hơn 300 người chết, 1 phần 10 tổng số chúng tôi. Họ được chất thành đống trong một toa xe lộ thiên nằm giữa con tàu. Và chúng tôi tiếp tục lăn bánh cùng với người chết và những người đau yếu, đến một nơi vô định.

Ban ngày, mặt trời giúp chúng tôi hong khô và bắt rận, vì các “cư dân ấy” đã đi theo chúng tôi. Những hộp thịt rỗng được sử dụng để làm hộp đi cầu đêm ngày, là lẽ tự nhiên là cáu ghét làm mặt chúng tôi trở nên đen đủi. Sáng chúa nhật, con tàu ngừng lại ở ga Salzwedel, đúng hơn là cái gì còn lại giống như nhà ga, vì một cuộc oanh tạc có vẻ mới xảy ra đã làm nhà ga cháy tiêu. Thành phố hình như không bị thiệt hại. Không thể nào biết được nó tọa lạc ở đâu, và mặt trận nằm về phía nào. Một điều có vẻ chắc chắn, chúng tôi luôn luôn đi về phía Bắc, hướng Hambourg. Nhưng trong hai ngày, ba đêm, chúng tôi không tiến xa hơn 100 đến 150 cây số, lê lết từ các đường đổi tàu đến các con đường bị cắt đứt, ổ bánh mì và hộp thịt nhận từ ba hôm trước đã tiêu hóa hết và bị quên mất rồi. Vậy là quá nhiều, năm trăm gam thịt trong bốn ngày, trong khi đó ngoài dân sự chỉ có hai trăm gam cho cả tuần lễ, nhưng đối với những kẻ đói khát như chúng tôi, nó chỉ như mấy món ăn chơi và chúng tôi chỉ “Có chừng đó, hoàn toàn không biết rằng liệu có được phát cho thêm khẩu phần không. Nó đến thật, vào buổi chiều chúa nhật, dưới hình thức một mẩu bánh mì độ chừng bốn tram gam. Người ta báo cho chúng tôi biết một cách dễ thương rằng khẩu phần ấy được phát cho đến thứ ba, hy vọng đến hôm đó chúng tôi sẽ đến được nơi chỉ định, vì đó là phần còn lại của số thực phẩm dự trữ. Lẽ tất nhiên ngay đêm đó khó có thể tìm được một mẩu ruột bánh mì.

Con tàu lại tiếp tục chuyển bánh lúc hai mươi giờ, và tại một ngã tư đường, André vẫn rình, rập, đọc được trên một tấm bảng, tên Hambourg nhưng anh không thể nói chính xác khoảng cách 78 hay 178 và có điều thật lạ lùng, chúng tôi lại đi về phía Nam. Vậy là thiết lộ đã bị cắt! Và đêm thứ tư bắt đầu với thảm kịch thường lệ: cuộc đấu tranh để chiếm một chút không gian sinh tồn. Cũng chính những người ban ngày nói chuyện và đùa bỡn với nhau, đến ban đêm lại biến thành thú dữ. Chính vì mọi người muốn thoát ra khỏi cuộc thử thách sau cùng nầy một cách bình an, và thật vô ích nếu muốn kêu gọi sự ý thức tự giác để sắp xếp 75 người vào một nơi mà tối đa chỉ có 25 người có thể nằm được.

Trong một cuộc đánh lộn đã tranh dành súp trước đây, tôi đã từng đọc thấy trong tia nhìn của một vài tù nhân ý định giết người, và trông thấy những kẻ đánh gục hay đánh bay tung một người đang hút thuốc không chịu chia xẻ vài hơi trong khi cơn thèm thuốc hành hạ họ đến tận tâm cang, tuy nhiên mãi trong đêm thứ tư của cuộc hành trình kỳ dị nầy, tôi mới hiểu các trạng thái tinh thần nầy. Trong ba đêm đầu, chúng tôi hy sinh tối đa để tránh tình trạng đồi tệ, nhưng đến một giới hạn nào đó thôi. Suốt đêm, cả một cuộc hỗn chiến toàn các cú đấm, đạp để không giải quyết được gì cả. Marcel bị chảy máu đầu sau một cú gào mên và André nhận một cái đạp sau lưng bằng gót giày bọc sắt làm anh tê liệt bất động suốt thời gian còn lại cho đến sáng. Và trong đêm tối thì biết trả đòn ai và ở đâu bây giờ? Mỗi cú lại làm gia tăng thêm trận chiến. Không trả đòn lại còn đau khổ hơn nữa và Marcel không còn nhân nhượng nữa, anh đã bị khích động.

Từ các toa xe khác người ta nghe những tiếng thét “cứu tôi” của người đồng hương đang bị nguy khốn, và những tiếng S.O.S được la lên dưới nhiều hình thức bởi các tù nhân thuộc các quốc tịch khác. Lẽ tự nhiên là trốn thoát trong một mớ hỗn độn như thế là chuyện không thể được. Tên lính canh không ngừng ló đầu ra khỏi chòi canh để xem coi có phải chúng tôi phát điên lên tất cả rồi không. Và sáng thứ hai ngày 9 tháng tư, ngày thứ năm của cuộc hành trình, chúng tôi đã yên tĩnh, đau nhức bị thương và có vẻ kỳ cục quá. Một tia sáng mặt trời xuất hiện ban mai đủ làm cho chúng tôi phá lên cười vì thấy mình đã đánh nhau một cách ngu xuẩn, và chúng tôi thấy con tàu lại trở về gần Salzwedel sau khi chạy một cách vô ích về phía Nam. Bị cắt đứt mặt Bắc cũng như phía Nam, người ta sẽ làm gì chúng tôi và chúng tôi không hy vọng gì được phân phát thức ăn trong ngày.

Đang suy nghĩ điều đó thì chúng tôi nghe một tiếng động rầm rầm từ phía Tây, và trong bầu trời lấp loáng, xuất hiện những đốm sáng trắng và đen lấp lánh vì ánh mặt trời phản chiếu trên kim khí. Máy bay Đồng Minh. Tiếp theo nỗi vui mừng thấy bóng dáng bạn bè là một nỗi lo sợ chính đáng. Con tàu của chúng tôi gồm năm mươi toa, kéo dài như một con thằn lằn dưới mắt các oanh tạc cơ và phi cơ săn giặc, không có gì chỉ dẫn cho phi công rõ chúng tôi là ai. May cho chúng tôi hôm đó phi đội có nhiệm vụ khác và nhờ đó chúng tôi có cơ hội chứng kiến tận mắt một ngày hội của Không quân với một cuộc thả bom thật sự. Marcel vốn là một chuyên gia về hàng không và hàng hải đã xác định với chúng tôi là cuộc oanh tạc được thực hiện tại một thị trấn cách xa khoảng 20 cây số, Trong vòng 10 phút, cả một góc trời đen nghịt một lớp khói dày, và vài giây sau một lần phi cơ chúi mũi xuống, chúng tôi lại nghe tiếng nổ. Một khẩu cao xạ phòng không, yếu đuối và bệnh hoạn cố gắng vô ích trong việc làm giảm bớt các đợt sóng tấn công của phi đội tiếp nối nhau đều đặn và rồi lần lượt bay đi. Con tàu chỉ khởi hành lại, khi đêm đến sau một ngày chờ đợi, và lại hướng về Nam. Từ lúc đó, rõ ràng là viên chỉ huy đoàn tàu, bị chặn tứ phía, cố gắng đến một trại tập trung nào đó để trút bỏ chúng tôi. Cơn đói khát có thể đẩy chúng tôi đến các hành động cực đoan và giữa đồng trống, y sẽ khó làm chủ chúng tôi hơn là trong một khu vực được rào cản bao bọc. Đối với chúng tôi, năm ngày ở ngoài trời đã làm chúng tôi ưa thích hơn là trở vào một trại tập trung. Và ý định trốn, được quyết định mang ra thực hiện vào tối ngày thứ năm nầy. Suốt buổi chiều chúng tôi đã thảo luận với người Nga và đạt được thỏa hiệp để làm cho cuộc trốn thoát được dễ dàng hơn. Ít ra là cũng cần phải có hai điều kiện: tốc độ con tàu phải không vượt quá 50 cây số một giờ, và đêm phải thật tối: Nhảy qua khỏi thành toa xe là một điều khá nguy hiểm, trước hết là vì chiều cao và nhất là tên lính canh có thể có thì giờ trông thấy và đưa súng lên vai. Trước khi nhảy, lại phải leo lên thành toa xe, dừng lại vài giây rồi buông tay để rơi mình vào khoảng không, vẫn biết là toa xe có một cửa hai cánh, mở ra bên ngoài bằng một chốt sắt, và nếu mở được, thì chỉ phải nhẩy cách mặt đất độ một thước thôi, tuy nhiên mở được chốt cửa là cả một vấn đề, và tốt hơn là đừng nghĩ đến điều đó nữa. Vào khoảng hai mươi người Nga đã sẵn sàng, và nhờ ảnh hưởng của họ trên số bạn bè, yên tĩnh đã ngự trị được trong toa.

Phía chúng tôi có bốn người: Marcel, André, Guy, người không bao giờ lùi bước từ một năm nay, và tôi. Chỉ có một điều đã dày vò tôi: Tony và Toso đã ở với chúng tôi từ lúc khởi hành và nếu Toso bị đau, thì anh kia lại lộ ra và cùng tháo vát trong một hoàn cảnh như vậy, và tôi cảm thấy buồn lòng nếu phải rời họ Marcel không còn muốn biết gì hơn, theo anh, làm bốn là quá nhiều. Người Nga, với số đông có thể chiếm một nông trại để kiếm ăn và không sợ quá đông người; hai mươi hay ba mươi, trái lại họ lại quá số đông. Chúng tôi thì không có được khí phách ấy và chúng tôi lại không nắm vững bất cứ cái gì trong lương lai. Như vậy, trong khi Marcel cương quyết giữ vững lập trường, tôi lại không thể chấp nhận bỏ rơi hai người bạn cùng chung một biệt đội vào một lúc mà mạng sống của họ được quyết định trước cuộc xung đột dường như không lối thoát nầy, chính Tony đã làm cho chúng tôi trở lại hòa hợp với nhau; anh từ chối hẳn việc theo chúng tôi; không phải là một sự hy sinh có vẻ khoa trương để giữ hòa khí, nhưng tại vì Toso đang ở trong tình trạng không thế nào bắt chước chúng tôi được bởi lý do sức khỏe yếu kém, và anh không muốn bỏ rơi người bạn ấu thơ của mình với bất cứ giá nào. Đó là phán quyết trái ngược của Salomon, và nếu lương tâm tôi được giải thoát và thanh thản thì về mặt tình cảm, tôi không thấy như vậy. Không phải lúc nào người ta cũng có thể điều khiển được quả tim của mình.

Khi tất cả mọi vấn đề đã được giải quyết xong, chúng tôi đoán chừng đã đến 23 giờ rồi. Tên lính canh để ý đặc biệt đến toa của chúng tôi, phải chăng đó chỉ là một cảm giác? Cứ cách khoảng đều đều, tên SS lại ló đầu qua bên phải, bên trái chòi canh hai bên để trống, nhờ đó y có thể canh chừng tất cả bọn chúng tôi trong toa xe. Chúng tôi còn có trước mặt năm tiếng đồng hồ trước khi trời sáng, và có cả trăm cơ hội, vậy thì một cuộc luân phiên nghỉ ngơi được quyết định ngay. André và Guy bắt đầu trước, và cùng với Marcel chúng tôi sẽ thấy họ sau một giờ ngủ. Chúng tôi ước tính thời gian sai bét trong đêm tối và ai cũng run sợ với ý nghĩ mở mắt ra là trông thấy ánh sáng ban ngày bắt đầu. Trực giác báo cho chúng tôi biết may mắn sẽ không còn đến nữa sau đêm nay. Trong lúc tôi đang ngủ ngon nhất, nằm co quắp giữa chân cẳng và thân mình của những người khác; tôi chợt cảm thấy bị lay dữ dội. Chính André.

– Xong rồi, – anh thầm thì, – đã đến lúc rồi, nhiều người Nga đã nhảy!

– Còn tên lính canh? – Tôi hỏi.

– Anh biết không, họ nhảy nhanh lắm, thời gian mà đầu hắn biến vào chòi canh là 3 giây và họ nhảy về phía bên kia.

Con tàu chạy với tốc độ có thể nhẩy được. Marcel đã thức dậy và Guy cũng thế, tất cả sẵn sàng. Tôi cũng như họ nhưng vẫn cảm thấy khoảnh khắc đó thật buồn cười. Đêm tối, không khí mát dịu, và cảnh vật thiên nhiên, không có gì khác, và chúng tôi sẽ rơi xuống đâu? Còn bộ áo tù nhân? Và vấn đề ăn uống? Trong vài giờ nữa, như người ta đã hứa là chúng tôi sẽ được phát một mẩu bánh mì. Đã 36 giờ qua, chúng tôi không có gì cho vào miệng. Cứ như vậy vào lúc không cần thiết nhất, các ý tưởng ấy lại trào dâng tấn công trí não tôi, nhưng tôi biết chúng là các mũi tên độc và tôi xóa bỏ chúng thật mau lẹ.

Con tàu trong lúc đó vẫn chạy và mỗi giây trôi qua là mỗi lúc thiệt thòi đối với chúng tôi.”. Ngay cả với sự can đảm được kết tụ lại, nhẩy từ thành toa xe, cũng là điều làm chúng tôi có phần nào sợ hãi. Bọn Nga chắc phải có thân hình ma quái mới dám nhảy như vậy, tuy nhiên rồi cũng phải nhảy. Lệnh nhảy khỏi con tàu đã được quyết định từ trước. André đầu tiên, rồi đến Marcel, tôi sẽ là người thứ ba và Guy kết thúc nhóm. Một nỗi sợ hãi sau cùng: lỡ nhẩy trúng ngay trụ đường, một thân cây, một tảng đá, hay đơn giản hơn, bị gẫy chân. Chúng tôi còn do dự nấn ná bao lâu nữa? 10 phút, 15 phút là tối đa, thời gian ấy đối với chúng tôi lâu như hàng giờ, và đúng lúc André sắp đặt chân lên thành toa xe thí một thiếc máy bay mà chúng tôi không hề nghe tiếng máy, vừa xuất hiện trên đầu chúng tôi và chúi mũi xuống con tàu. Một loạt đại liên đã quét qua không khí như một ánh chớp, và trong khi do bản năng, chúng tôi cúi đầu xuống, thì loạt dạn ấy, còn hơn là một hiệu lệnh, mà là một mệnh lệnh cho chúng tôi. Đó là lúc để nhảy hoặc không bao giờ nhảy nữa vì lúc ấy tên lính gác hoàn toàn ẩn núp trong chòi canh. Nhưng, đi trước André, một người trông giống như một tử sĩ hồi sinh từ một chiến trường đầy dẫy xác chết, vì bên trong toa xe quang cảnh chẳng khác gì mấy, đã trèo lên thành toa tàu, về phía cửa toa xe, mở cánh cửa nầy và nhẩy ra ngoài. Trước cánh cửa mở mời mọc, André nhảy ra, Marcel đi theo, và đến lượt tôi, tôi có cảm giác là Guy đã đẩy tôi ra, và lăn xuống đá sỏi lát đường rầy. Vài giây sau tôi nghe tiếng rơi gần đấy. Mặt úp xuống đất, tay ôm đầu làm như tôi sẽ trở thành vô hình trong dáng điệu ấy, tôi nghe tiếng tàu chạy gần như ngay trên đầu tôi, bởi vì chúng tôi rơi ngay trên mô đất đặt đường rầy xe lửa. Nằm co quắp và đồng thời đầy âu lo: hoặc nghc tiếng súng tiểu liên của bọn lính, hoặc tệ hơn, thấy đoàn tàu dừng lại, tôi nín thở. Nhưng không, với tiếng động đều đều con tàu rời xa một cách đáng yêu biết bao và sau cùng nó biến mất trong bóng đêm. Năm bóng đen trên một khoảng đường độ 100 thước đứng dậy cùng một lúc như được điều động bằng máy, và tìm đến nhau.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment