Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 26 Nov 2025

Bài 45

Quán ăn và Buớm

Chúng tôi đã thu xếp xong việc này, Indara bán hết chỗ vàng chúng tôi có được. Ông bố già ngạc nhiên thấy tôi không đụng đến những mẩu vàng vụn mà ông cho con gái để hai chúng tôi cùng dùng. Ông nói:
– Tôi cho anh chị để anh chị xài. Của hai anh chị đấy, anh chị sử dụng thế nào tùy ý, không phải hỏi tôi, anh chị cứ việc làm.
Kể ra ông “bố vợ phù thủy” của tôi cũng không đến nỗi nào. Cô nàng của tôi là loại đặc biệt rồi, vừa là nhân tình, vừa là vợ, vừa là bạn. Không có chuyện cãi cọ vì tôi nói gì nàng cũng “vâng”. Nàng chỉ hơi khó chịu chút xíu khi tôi xăm vú cho các bạn đồng hương của nàng.
Thế là tôi đã trở thành chủ tiệm ăn “Thắng Lợi”, nằm trên đường Water Street đúng ngay giữa bến cảng Georgetown. Quých nấu bếp, anh thích vậy đó, đó là nghề của anh. Anh cụt đi chợ và nấu “mì hoành thánh” một thứ mì Tàu. Món đó làm như sau: lấy tinh bột mì, trộn với lòng trắng trứng rồi nhào cho nhuyễn. Đống bột được nhào khô rất lâu, rất kỹ, nhào bột rất nặng, đến nỗi anh cụt phải nhảy lên trên đống bột, đùi tựa vào một cây gậy nhẵn bóng gắn chặt ở giữa bàn. Một đùi gác lên trên cái gậy, cánh tay độc nhất nắm chắc lấy cái gậy đó, anh nhảy một chân quanh bàn để nhào bột. Làm như vậy có được một thứ bột hồ nhẹ rất ngon. Sau cùng, cho thêm chút bơ vào, vị của nó tuyệt vời. 
Quán này, chủ trước bị vỡ nợ, đã nhanh chóng nổi tiếng. Indara có một cô gái Ấn trẻ và rất xinh tên là Daya phụ giúp, đã phục vụ đông đảo khách hàng cứ xô đến tiệm chúng tôi để nếm món ăn Tàu. Tất cả dân tù vượt ngục đều tìm đến. Ai có tiền thì trả, ai không có thì mời ăn không. Quých nói “Cho người đói ăn sẽ gặp vận may”.
Chỉ có một điều phiền phức: hai cô phục vụ (trong đó có Indara) lại quá hấp dẫn. Cả hai đều phô bày đôi vú trần dưới làn áo voan mỏng. áo của hai cô lại xẻ bên hông từ đùi đến gót chân. Những khi cử động, hai cô để lộ hết chiều dài của đôi chân, lên đến tận đùi.
Lính thủy Mỹ, Anh, Thụy Điển, Canada và Na Uy có ngày đến ăn hai lần để được ngắm cảnh ấy. Các bạn tôi gọi tiệm ăn của tôi là tiệm ăn của những kẻ nhòm gái. Tôi là đại diện chủ. Đối với tất cả mọi người tôi là “ông chủ”. Không có quầy thu tiền, người chạy bàn đưa tiền cho tôi, nhận tiền xong tôi bỏ túi, khi cần tôi lấy tiền lẻ ra thối lại.
Tiệm ăn mở cửa từ tám giờ tối đến năm sáu giờ sáng hôm sau. Không cần phải kể ai cũng biết rằng vào khoảng ba giờ đêm, tất cả bọn đĩ điếm trong khu đã kiếm khá tiền trong đêm đầu kéo kép hay khách của chúng đến tiệm chúng tôi ăn món gà cà-ry hay rau xà lách với mầm đậu. Khách có uống bia nữa, nhất là bia Anh, rượu rhum mía của địa phương rất ngon, soda hay cô-ca cô-la. Vì quán là điểm hẹn của dân Pháp vượt ngục, tôi đã trở thành người giúp nơi ẩn náu, là cố vấn, là người phân xử, là bạn tâm sự của tất cả dân tù đày ở đây.
Nhưng tình trạng đó cũng làm tôi nhiều lần gặp chuyện rắc rối. Một người chuyên sưu tập bướm đã cắt nghĩa cho tôi nghe cách săn bướm trong rừng. Trước hết anh ta cắt hình một con bướm trong một miếng bìa cứng rồi dán vào đấy đôi cánh một con bướm thuộc cái giống mà anh định săn. Tấm bìa được gắn vào đầu một cây gậy dài một mét. Khi săn bướm tay anh cầm gậy và cử động làm sao cho bướm giả có vẻ như đang bay lượn. Anh phải săn ở những khoảng trống, có ánh nắng trong rừng. Anh phải biết giờ nở trứng của từng loại bướm. Có những loài chỉ sống được bốn mươi tám giờ. Và mỗi khi ánh nắng chiếu vào chỗ quang đãng, những con bướm mới nở lao vào vùng ánh sáng đó, để tìm bướm cái cho thật nhanh. Khi chúng thấy con bướm mồi, từ rất xa, chúng ập đến. Nếu con bướm mồi là bướm đực, thì bướm đực sẽ lao đến để đánh. Thế là anh cứ việc dùng cái vợt nhỏ cầm ở tay trái để bắt bướm.
Cái lưới vợt có một chỗ thắt có làm người săn bướm có thể cứ tiếp tục bắt thêm bướm mà không sợ những con đã lọt lưới bay đi mất.
Nếu con mồi làm bằng cánh của bướm cái, thì cái con đực cũng tìm đến để ấp con cái và kết quả vẫn là một.
Bướm đẹp nhất là loại bướm hay bay đêm nhưng vì chúng thường va phải các vật chướng ngại cho nên rất khó bắt được con nào còn đôi cánh nguyên vẹn. Hầu hết cánh của loại bướm này đều bị sứt nham nhở. Đối với loại bướm đêm, phải lên tận gần ngọn một cây cao, rồi giăng một tấm vải trắng to lồng trong khung, đằng sau để một cây đèn đất thật sáng. Những con bướm đêm to, sải cánh, dài từ mười lăm đến hai mươi centimét, bay dính vào tấm vải trắng. Thế là chỉ cần đè lên ngực nó thật nhanh cho nó chết ngạt. Phải làm sao nó không dẫy dụa, nếu không cánh của nó sẽ bị hư hại và kém giá trị.
Tôi có một cái tủ kính nhỏ trong đó có những bộ sưu tập bướm, ruồi, rắn nhỏ và dơi hút máu. Hàng tôi có không đủ bán cho khách cho nên giá rất cao. Một người Mỹ chỉ cho tôi thấy một con bướm phía sau cánh màu xanh biếc có ánh thép, phía trên thì màu lơ nhạt. Người đó bằng lòng trả tôi năm trăm đô-la nếu tôi có được một con bướm thuộc loại này mà lại là lưỡng tính. Tôi kể lại với người săn bướm, anh ta nói có một lần, anh đã có trong tay một con này, rất đẹp, được người ta trả năm mươi đô-la, sau nhờ một người sưu tập đứng đắn khác anh ta mới biết là một mẫu bướm như vậy trị giá đến hai ngàn đô-la.
– Thằng Mẽo ấy muốn xỏ anh đấy, anh Papillon ạ. Nó coi anh là đồ ngốc. Cứ cho là món hàng hiếm đó chỉ đáng giá một ngàn năm trăm đô-la, thì có cũng lợi dụng được sự ngớ ngẩn của anh mà lãi to.
– Cậu nói đúng, đấy là một thằng xỏ lá. Hay ta chơi lại nó một vố!
– Làm thế nào?
– Chẳng hạn như gắn vào thân một con bướm cái đôi cánh một con bướm đực hoặc ngược lại. Cái khó là làm sao gắn mà không ai nhìn ra được.
Sau nhiều lần làm thử thất bại, chúng tôi đã gắn được rất khéo, hai cánh một con đực vào thân một con cái đẹp tuyệt trần, chúng tôi đút những đầu cánh nhọn vào một đường rạch nhỏ xíu rồi gắn lại bằng nhựa balata. Nó dính rất chặt, có thể cầm đôi cánh dán nhựa mà nhấc cả con bướm lên. Dù có tinh mấy cũng không sao nhận ra được: Chúng tôi lồng kính con bướm này cùng nhiều bướm khác trong một bộ sưu tập thông thường giá hai mươi đô la, làm như tôi không quan tâm đến nó. Chúng tôi tính không trật chút nào. Chàng Mỹ vừa để ý thấy đã trơ tráo cầm hai mươi đô la trong tay để mua bộ sưu tập đó của tôi. Tôi trả lời y là tôi đã nhận bán rồi, một người Thụy Điển đã mua cả hộp, và món này là của người ấy.
Trong hai ngày, gã người Mỹ cầm cái hộp lên tay đến mười lần. Sau không chịu nổi, y nói với tôi:
– Tôi mua con bướm ở giữa hai mươi đô la, còn anh giữ lại tất cả.
– Con bướm ấy có gì khác thường vậy? – Và tôi chăm chú xem xét rất kỹ. Rồi tôi reo lên – Nhưng mà này, đây là bướm lưỡng tính mà.
– Ông nói gì vậy? ừ, đúng thật, trước tôi chưa dám chắc, người Mỹ nói. Trông qua kính, không rõ lắm. Ông cho phép nhé? Y xem xét kỹ cơn bướm, rất tỉ mỉ, rồi nói: “Ông bán bao nhiêu?”
– Có lần chẳng phải ông đã nói với tôi rằng thứ mẫu hiếm này đáng giá năm trăm đô la sao?
– Tôi đã nhắc đi nhắc lại với nhiều người săn bướm rằng tôi không muốn lợi dụng sự không hiểu biết của người đã bắt được con bướm này. 
– Nếu vậy thì giá là năm trăm đô hay là thôi.
– Tôi mua, ông cứ giữ nó cho tôi. Đây, tôi mang theo có sáu mươi đô la, tôi đặt trước coi như việc mua bán thế là xong. Ông cho tôi một tấm giấy biên nhận, mai tôi sẽ đem nốt tiền lại, ông nhớ lấy con bướm này ra khỏi hộp nhé.
– Được rồi, tôi sẽ để riêng nó ra chỗ khác. Biên nhận của ông đây.
Đúng giờ mở cửa tiệm, chàng trai giòng giống Lincoln* (*Lincoln Abraham là tên tổng thống thứ 16 của Mỹ) đã có mặt. Y lại xem xét con bướm lần này với một cái kính lúp, tôi sợ hết hồn khi y xem mặt sau con bướm. Thỏa mãn rồi, y trả tiền, đặt con bướm vào một cái hộp y mang theo, đòi tôi làm cho y một giấy biên nhận khác rồi ra đi.
Hai tháng sau tôi bị cảnh sát bắt. Đến Sở cảnh sát cảnh sát trưởng giải thích bằng tiếng Pháp cho tôi hay là tôi bị bắt vì có một người Mỹ tố cáo tôi đã lường gạt ông ta.
– Về chuyện một con bướm mà ông gắn cánh, – cảnh sát trưởng nói. – Do việc làm gian trá đó nên ông mới bán được năm trăm đô-la.
Hai giờ sau, Quých và Indara đã đến sở với một luật sư nói tiếng Pháp rất thạo. Tôi nói với luật sư là tôi không biết gì về bướm cả, tôi không phải là người chuyên săn bướm, cũng không sưu tập bướm. Tôi bán những hộp sưu tập bướm là bán giúp những người săn bướm vốn là khách hàng của cái tiệm ăn của tôi, rồi chính người Mỹ kia đòi mua và đặt giá trước là năm trăm đô-la, chứ không phải tôi nài bán cho ông ta, và nếu đấy đích thực là một con bướm thuộc loại như ông ta nói thì chính ông ta mới là người đi lừa, vì ông đã có được một vật trị giá hai ngàn đô-la.
Hai ngày sau, tôi ra trước tòa. Luật sư của tôi kiêm cả việc phiên dịch cho tôi. Tôi nhắc lại luận cứ của tôi.
Một điều lợi cho luật sư của tôi là ông có một cuốn Catalogue có kê giá bướm các loại. Một con bướm như thế được định giá trong sách là trên một ngàn năm trăm đô-la. Gã người Mỹ kia phải chịu tiền phí tổn của phiên tòa. Thêm vào đó y phải trả tiền thù lao cho luật sư của tôi cộng hai trăm đô-la nữa.
Dân anh chị và dân Ấn tập trung lại để ăn mừng tôi được thả về, bằng một chầu rượu cất lấy. Toàn bộ gia đình Indara đều đến tòa án xem xử. Mọi người đều tự hào vì trong gia đình – sau khi tôi được xử trắng án – có một siêu nhân. Bởi họ không bị bịp, họ biết thừa là chính tôi đã gắn cánh con bướm.
Cuối cùng chúng tôi phải bán tiệm ăn đi, việc ấy tất nhiên sẽ phải tới. Indara và Daya quá đẹp, và cái kiểu thoát y đó, lúc nào cũng chỉ bắt đầu hé ra rồi không đi xa hơn, lại càng làm cho các thủy thủ đầy máu nóng phát điên lên, còn hơn cả khi được thấy một cảnh trần truồng thật sự. Các cô nhận thấy là càng để nửa kín nữa hở gần mũi các thủy thủ bao nhiêu, thì càng được tiền puốc-boa nhiều bấy nhiêu, cứ nhoài người trên bàn ăn là các cô không bao giờ tính đúng được tổng số tiền, hay thối đủ được tiền lẻ. Sau thời gian trưng bày bộ ngực làm chàng lính thủy mê mẩn hoa cả mắt, các cô mới đứng thẳng lên hỏi: “Còn tiền puốc-boa nữa?”: “à, chết suýt quên”, tội nghiệp cho mấy anh chàng ấy. Họ rất hào phóng, những gã dại gái ấy, lửa tình được nhen lên nhưng không bao giờ được thỏa mãn, không còn biết trời đất gì nữa.
Một hôm xảy ra một việc mà tôi đã lường từ trước. Một thằng cha cao to tóc hung, mặt đầy tàn nhang nhìn bộ đùi hở hang chưa thỏa, vừa thoáng thấy bóng chiếc quần lót hắn đã đưa tay ra và những ngón tay thô bạo của hắn kẹp chặt cô bé Nam Dương của tôi như trong cái ê-tô. Tay đang cầm một bình nước bằng thủy tinh, cô bé phang cả bình vào đầu nó. Bị đánh như vậy nó giật mạnh cái quần lót rồi gục xuống, tôi vội chạy đến để nâng nó dậy trong khi các bạn nó lại tưởng tôi đến đánh nó, nên chưa kịp làm gì, tôi đã bị một quả đấm trời giáng đúng giữa mắt. Không biết thằng cha lính thủy kiêm bốc-xơ ấy thật sự bênh bạn hay chỉ muốn chơi một vố thật đã đời cho chồng người đẹp Ấn phải chịu trách nhiệm này! Có trời biết được! Dù sao tôi cũng nhận được một cú đấm thẳng vào mắt. Quá tin vào thắng lợi, nó đã đứng thủ thế trước mặt tôi và quát:
“Đánh nào, đánh đi, mày”. Tôi đá phốc vào hạ bộ nó, tiếp theo là một cái húc nhãn hiệu Papillon, nó đã nằm thẳng cẳng.
Trận đánh nhau trở thành một cuộc loạn đả. Anh cụt từ trong bếp xông ra cứu tôi, anh cầm cái gậy làm mì hoành thánh vụt tứ tung. Quých cầm một cái phuốc- sét dài có hai chạc đâm lia lịa vào đám đông. Một tên lưu manh dân Paris chuyên dự các buổi khiêu vũ theo nhạc trường Lappe đã về hưu dùng một ghế tựa làm vũ khí. Indara có lẽ bị bó tay vì mất xi-líp nên chẳng tham gia vào cuộc chiến.
Kết cục là năm gã người Mỹ bị thương nặng ở đầu, hai gã khách bị những vết đâm có hai lỗ do phuốc-sét của Quých gây ra ở nhiều chỗ trên thân thể, máu đổ tùm lum. Một viên cảnh sát da đen người Brazzaville chặn ở cửa không cho ai ra. Thật là may, vì vừa lúc ấy một chiếc xe jeep của Quân cảnh tới. Chân đi ghệt trắng dùi cui giơ cao, họ định dùng võ lực ào vào tiệm ăn, và trông thấy các thủy thủ của họ máu me bê bết như vậy chắc chắn là họ sẽ trả thù. Nhưng người cảnh sát da đen đã đẩy toán quân cảnh lui, tay cầm gậy chắn cửa và nói: “Đã có cảnh sát Hoàng Gia đây”.
Và khi cảnh sát Anh tới, chúng tôi mới phải lên xe chở tội phạm để về sở cảnh sát, chỉ một mình tôi mắt bị đánh sưng húp híp, còn không ai trong bọn tôi bị thương, nên không ai tin được là chúng tôi đánh nhau để tự vệ một cách chính đáng.
Sáu ngày sau, trong phiên xử quan tòa chấp nhận luận điểm của chúng tôi và cho chúng tôi được tự do trừ Quých bị ba tháng tù vì đánh người có thương tích. Cũng khó bào chữa nổi vô số những vết thương hai lỗ mà Quých đã ban phát rất rộng rãi cho các đối thủ của anh ta.
Sau đó, trong nửa tháng trời có đến sáu vụ ẩu đả, chúng tôi cảm thấy không thể nào kéo dài được nữa. Bọn lính thuỷ nhất định không chịu coi chuyện này như đã kết thúc, những khách mới lại cứ tiếp tục đến, làm sao phân biệt được ai là bạn của kẻ thù của chúng tôi, ai không phải?
Vậy là chúng tôi đã bán tiệm ăn, với giá rẻ hơn lúc mua. Quả tình tai tiếng đến như vừa rồi thì khách mua cũng chẳng được bao nhiêu.
– Anh cụt ơi, ta làm gì bây giờ?
– Trong khi chờ Quých được thả, ta cứ nghỉ ngơi đã. Cũng không thể lấy lại chiếc xe ba gác với con lừa được vì ta đã bán các thứ đó cùng các mối mua hàng rồi. Tốt nhất là không làm gì, cứ nghỉ, sau sẽ hay. 
Quých đã được về. Anh kể lại rằng họ đối xử với anh cũng tử tế. Có một điều phiền là anh ta phải ở cạnh hai tù nhân bị án tử hình. Và người Anh lại có cái thói dở là: họ báo cho tội nhân biết bốn mươi lăm ngày trước khi thi hành án là họ sẽ bị treo cổ ngày nào, giờ nào và Nữ Hoàng đã bác đơn xin ân xá của họ. Thế là cứ mỗi sáng, Quých kể hai người tử từ cứ réo lên với nhau: “Lại qua đi một ngày nữa rồi, Johnny ơi, chỉ còn từng này ngày nữa thôi”. Và người tử tù kia không ngớt chửi tòng phạm của y suốt cả buổi sáng. Ngoài chuyện đó ra, Quých được yên ổn và được trọng nể.

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Post by Sơn râu 26 Nov 2025

Chương 22 – Kết

Sau Hanovre, một chuyến xe lửa đưa chúng tôi cho đến Bỉ. Khắp nơi toàn là điêu tàn, khắp nơi toàn là đổ nát. Họ sẽ bắt đầu bằng cái gì? Đấy là câu hỏi mà mọi người đặt ra lúc nghĩ đến người Đức, khi mà các thành phố, tất cả các thành phố đều đã bị tiêu hủy ra tro. Trên khắp nẻo đường, bằng tất cả mọi phương tiện chuyển vận, từng toán tù binh và công nhân gồm đủ mọi loại chủng tộc ở Âu Châu, đổ dồn về phía các trung tâm hồi hương. Tất cả các con người ấy, mà chiến tranh đã như cơn cuồng phong, nhổ bật họ ra khỏi mảnh đất quê hương để biến thành tội tù hay nô lệ cho nền Đệ tam Cộng Hòa Đức Quốc Xã (IIIè Reich), họ sẽ tìm thấy lại được gì nơi quê hương mình? Lại cũng là vô số cảnh, điêu tàn, vô số gia đình thất tán… Tuy nhiên phần đông đều có vẻ rất hân hoan và rung động trong niềm hy vọng. Được hiện hữu trong số những người sống sót sau tất cả tội ác của bọn Quốc Xã, không phải là không có ý nghĩa gì. Nói chung, chỉ có những người Ba Lan là có vẻ lo âu nhiều nhất. Sự ngờ vực từ bản năng, đối với dân Nga gây ra bởi hàng thế kỷ đàn áp bóc lột, chưa biến mất do tình trạng chiến thắng chung. Và có nhiều người đã nghĩ đến nước Pháp là nơi mà người đồng hương của họ đã tạo thành một lực lượng quan trọng trong tập thể công nhân hầm mỏ. Vả chăng có trường hợp một người Pháp lấy một phụ nữ Ba Lan, bà nầy không muốn trở về quê hương của mình cũng không phải là hiếm. Nhưng đáng ngạc nhiên nhất đối với chúng tôi là cảnh gặp gỡ tại trung tâm Verviers, ba cặp Pháp Đức. Trong một thành phố lớn, một gia đình sẽ bị chìm vào trong đám đông nhưng đây là trường hợp của một nông dân và hai công nhân tiểu công nghệ thuộc một địa phương nhỏ bé và trở về từ một nơi tù đầy, nơi xẩy ra không biết bao nhiêu điều khiếp đảm, thì phải có một đởm lược nào đó hoặc phải là người vô ý thức mới dám đem trình diện cho gia đình, bà con, một người vợ Đức.

Và chúng tôi đã trở về. Tại Bỉ, trong miền Bắc nước Pháp, đâu các cuộc đón tiếp cũng hết sức cảm động. Tiếc thay con người không bao giờ luôn luôn dể thương và tốt bụng như trong những lúc tiếp theo các miền bất hạnh lớn lao. Người ta không thể nói đến biên giới giữa Pháp và Bỉ nữa, cả cảnh vật, lẫn ngôn ngữ lẫn phong tục tập quán, không có gì thay đổi, nhưng đối với một người ở Ba-lê, thật cảm động biết bao khi trông thấy những ngôi nhà nhỏ đầu tiên của vùng ngoại ô tiến đến gần. Nơi đây là nơi bắt đầu Tổ quốc của mỗi người. Đây không phải là một tinh thần vị kỷ hay một lời khoa trương, đây chỉ là một xúc cảm. Những hình ảnh của thời niên thiếu dồn dập diễn qua trong tâm trí; đi đạo trong rừng Boulogne, cắm trại ở Pontainebleau, quán rượu ven bờ sông Marne hay khiêu vũ ở Robison. Chúng tôi đang ở vào sáng ngày 8 tháng 5. Nhiều con tàu ở vùng quê đổ dồn vào Ba-lê, thanh thiếu niên khua trống vang lừng để chào đón chúng tôi, và hát vang những bài ca tán tụng cuộc đời và tình yêu. Nghĩ rằng hàng triệu sinh mạng tương tự đã chết trong những điều kiện kinh hồn, hình như đối với chúng tôi nay là chuyện không thể tin được. Và đây là Ba-lê. Trong đám đông đang chờ đón, có nhiều bộ mặt âu lo xen lẫn với những bộ mặt rạng rỡ của những người vừa thấy lại được một người thân thuộc, Phế giới chỉ được biết sự thật về các trại tập trung của Hitler, và tang tóc đã phủ xuống phần lớn gia đình có thân nhân bị lưu đầy.

Tại trung tâm tiếp đón đành cho chúng tôi, tôi được biết, nhờ một người sống sót tại tại Buchenwald, các chi tiết về cuộc nổi dậy đã bùng nổ tại trại nầy khi quân Mỹ đến. Vụ đó xảy ra hôm 11 tháng 4, đúng ngày chúng tôi gặp các chiến xa Mỹ, và tin tức nầy đã làm cho chúng tôi được khuây khỏa về kế hoạch mà chúng tôi đã soạn thảo ở Ellrich và hoàn cảnh đã ngăn cản không cho chúng tôi thực hiện. Trên một danh sách những người còn sống sót đang được cả một đám đông sốt ruột dò tìm, tôi đọc thấy tên Ramelin và Đại tá Ganneval. Michael và Max cũng được cứu thoát, nhưng đã trở lại quê quán: Michael về Belgrade và Max về Hambourg.

Sáng hôm sau, một danh sách mới cho chúng tôi biết Paco và những người cùng thuộc một biệt đội sống sót trong khi trại bị di chuyển, cũng đã trở về. Họ đến Ba-lê trên chuyến tàu đêm. Mười phút sau khi dựng họ dậy khỏi giường, chúng tôi tập họp trong căn phòng khách giống như đã tập họp để chờ tàu trên sân ga công trường vài tuần lễ trước. Paco kể lại cuộc phiêu lưu của chuyến tàu thứ nhất: Con tàu đến Bergen-Belsen ngày 9 tháng 4, đó là một trại tập trung vĩ đại có nhiệm vụ thanh toán tất cả tù nhân được di tản khỏi các trại tập trung khác. Với số lượng càng ngày càng gia tăng, viên chỉ huy trại, tên Kramer quyết định thi hành một cuộc thanh toán tập thể bằng cách sẽ phân phát cho mỗi người một phần bánh mì có tẩm thuốc độc lúc 17 giờ ngày 15 tháng 4. Nhưng đến 15 giờ, chiến xa của Anh đã xuất hiện trước cổng trại. Đã có một vài vụ hành quyết không xét xử, bọn cựu tù nhân thuộc thành phần “quí phái” trong trại tập trung, bọn người cho đến phút chót, vẫn lợi dụng những tù nhân tiếp tục chết; tuy nhiên, khốn nạn thay đã có số các tên phản bội thuộc đủ mọi loại quốc tịch, đã trốn thoát. Đối với con tàu thứ hai, chuyến tàu của chúng tôi, tình trạng tệ hại hơn. Chúng tôi rời bỏ nó đêm 9 tháng 4, nhưng nó vẫn tiếp tục chạy lòng dòng và sau cùng vì không thể đến được một trại tập trung nào cả, các tù nhân phải rời tàu và đi về phía Đông. Hơn một nửa sống sót cho đến lúc đó, đã ngã ra chết dọc đường hoặc bị bắn hạ bằng súng lục. Và mãi đến ngày 2 tháng năm, chỉ có vài trăm người trong số ba ngàn lúc khởi hành là được quân Nga cứu thoát. Tony và Toso, do phép lạ cũng ở trong số đó. Trên một danh sách những người sống sót khác, tôi vui vẻ đọc thấy tên Hubert mà tôi không còn biết gì thêm từ khi có cuộc gặp gỡ tình cờ lúc đi ngang qua nhà máy ngầm Dora.

Nhưng hiện tại, chúng tôi đang ở vào ngày 9 tháng 5. Tại Bá-linh, do quân Nga chiếm đóng, von Keitel 1 ký hiệp ước đầu hàng của Đại Đức Quốc, và trên các đường phố ở Ba-lê cả một dân tộc cuồng nhiệt đang chuẩn bị ăn mừng ngày chiến thắng.

Chỉ còn những người đang dò tìm một tên trong các danh sách các người sống sót mới còn có các ý nghĩ khác trong đầu, và tự nhiên là nhóm bạn chúng tôi đã gần như hãi sợ trước sự nhộn nhịp ồn ào của ngày hội mới nầy.

Paco nghĩ đến vùng Nam Mỹ và Marcel muốn trở lại Luân-đôn nơi mà anh hy vọng sẽ tìm lại được một đường dây liên lạc cũ. Bébert, cậu bé của khu Pigalle đã thích nghi ngay với hoàn cảnh mới, vì 24 giờ sau khi trở về, cậu ta thực hiện các vụ làm ăn đầu tiên xới các quân nhân Mỹ. André luôn luôn là người lý tưởng của nhóm, muốn tiếp tục:

– Chúng ta chỉ là một phần mười của số người sống sót từ các trại tập trung; còn có những tù binh chiến tranh, những nạn nhân khác… Chúng ta phải đoàn kết lại… Làm một cái gì… tổ quốc đang cần sự mới mẻ!

Tuy nhiên chúng tôi vẫn còn ít nhiều lúng túng và mỗi người trước hết đều nghĩ đến việc trở về nhà mình.

Tôi đã nghe tất cả câu chuyện ấy, mặt khác, lại vừa được biết tin Rachel đã bị đầy đến Auschwitz và đã bỏ mình trong cơn biến động. Qua bờ tường dày của căn phòng khách, mắt tôi không thể nào rời bỏ được dòng người càng ngày càng đông cuồn cuộn luân chuyển trên đường phố như một dòng nham thạch nóng chảy.

Trên tất cả những bộ mặt phản chiếu một lòng ham muốn dữ dội được sống, dường như tôi nhận thấy những tù nhân diễn hành tiến đến một quảng trường vĩ đại để được điểm danh. Trong số đó có Boucher, Roger nghệ sĩ điêu khắc, Barberon và những người khác, tất cả những người khác, tất cả mọi lứa tuổi, mọi tôn giáo, mọi quốc tịch, tất cả… tất cả mọi người, nam cũng như nữ đã chiến đấu để có ngày lễ hôm nay nhưng đã không có mặt trong ngày lễ ấy.

——————————–

1Đọc: “Những trận đạnh lịch sử của Hitler”, sách in lần thứ hai – Sông-Kiên.

Một trời một biển

vietmessnger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 26 Nov 2025

12. Lời nguyện cầu

Bầu trời Nha Trang sáng ngày hôm nay sao quá u buồn ảm đạm. Những cụm mây xám, thấp giăng mắc khắp mọi nơi. Một vài cánh hải âu chao đảo trong lẻ loi, sợ hãi. Gió thổi từng cơn rạt rào trên cành cây, ngọn cỏ. Lất phất bụi mưa. Cảnh trời của cô đơn, của chịu đựng như chực rơi xuống bao phủ cuộc đời Hiền. Ðể hòa nhịp cùng con tim đang mang nặng nỗi niềm tái tê, đau đớn. Tất cả đều như đã báo hiệu trước một ngày chẳng lành rồi sẽ đến với nàng, như đã ghi sẵn vào trang cuối của một thiên tình sử!

Nàng thở dài, rời vuông cửa sổ đi vào phòng riêng tìm lấy chiếc áo dài mến thương, quen thuộc mặc vội vào người. Ngắm nghía mình trong gương. Mặt mũi nàng rõ bơ phờ, hốc hác. Màu áo xanh lơ của biển mặn làm nền và những cánh hoa trắng thêu tay nhỏ to, trông bèo bọt như những đóa hoa sóng bạc màu, đang sắp sửa vỡ tan ra từng mảnh vụn, im lìm chìm đắm vào biển đêm đen. Từng đợt, từng đợt đến rồi đi. Ôi, mỗi một nụ hoa kia phải chăng là một đánh dấu, một kỷ niệm với Tần, mà bên cạnh cuộc đời này, nàng biết rằng sẽ không bao giờ phai nhạt. Cầm thêm chiếc áo mưa hai da tím vàng xếp gọn như cuốn vở học trò trong tay, nàng lẻn ra phía nhà sau, băng mình vào con hẻm vắng lặng không một bóng người.

Ði, nàng phải đi, mặc dầu nàng chưa biết mình phải đi đâu! Ði, như thể để chạy trốn cái thực tại phũ phàng đang ập đến với nàng. Bạn bè ngày một xa, tuổi trẻ ngày một qua và tương lai của nàng ngày một mịt mù không lối thoát. Có lẽ đã đến lúc nàng phải đích thân trực diện, đương đầu với chính cuộc đời mình. Không còn ai để cho nàng nương tựa, mong chờ. Chẳng còn người nào để cho nàng tâm sự, giải khuây.

Cuộc tình giữa nàng và Tần, giờ nhớ lại, như là một giấc chiêm bao. Mới đó mà đã gần hai năm trời rồi. Hai năm trời biết bao lần đón đưa thương nhớ! Bởi, có cuộc tình nào mà không có những hò hẹn, chia xa? Hai năm trời biết bao nhiêu lần giận hờn, uất nghẹn từng cơn! Vì có cuộc tình nào mà không có những dối gian, lọc lừa thử thách? Hai năm trời biết bao lần buồn đau, sầu vương khóe mắt! Vì thử hỏi, có cuộc tình nào mà không có những lao đao lận đận, ray rứt nhức nhối trong tim? Càng dang ra xa thì càng như muốn níu lại gần, càng muốn quên đi thì lại càng mộng mơ tưởng nhớ! Ôi, như bóng với hình, đuổi bắt nhau trong vòng lẩn quẩn, luân hồi!

– Như em đã biết quá rõ là bao giờ anh cũng một lòng một dạ thương em! Nhưng tốt hơn hết em hãy ráng chờ anh, tối thiểu cũng phải đợi anh cho đến khi anh đổi về bờ. Chỉ một hai năm nữa thôi chớ nào có xa xôi, lâu lắc gì đâu! Bây giờ, “cưới nhau xong rồi… đi” theo kiểu “màu tím hoa sim” thì coi bộ xưa quá, buồn quá! Vả lại, đằng này anh đi theo tàu, khác với băng rừng lội suối, dẫu anh có muốn nhảy dù về thăm em cũng không làm sao nhảy được!

Chờ anh, chờ đến bao giờ …, em đã bao lần khắc khoải vì câu hỏi đó! Tần ơi, anh có cái lý của anh, nhưng sao anh không nghĩ gì đến thân phận đàn bà, con gái của em chớ! Số phần em, dưới áp lực của gia đình nhất là của chị Diệu, không thể ngồi yên và làm ngơ trước những thí sinh đang rình rập, rắp ranh bắn sẻ lúc nào cũng chờn vờn ngoài ngõ. Anh phải làm thế nào, bằng mọi giá, phải thỉnh mẹ anh khăn gói ra đây giáp mặt với mẹ em thì họa may tình thế này mới có chút ít cơ hội đổi chiều. Anh không hiểu những gì em đã nói với anh trong đêm hôm khuya khoắt vừa rồi hay sao, hở anh? Bằng không, có lẽ duyên này xin hẹn kiếp sau! Vì không chóng thì chầy, em buộc lòng phải phụ tình anh!

Hay chỉ là vì em quá dễ dàng với anh trong buổi ban đầu mà anh đã coi thường em chăng? Em cho anh tất cả cuộc đời trong trắng, ngây thơ này chỉ vì em mến thương anh! Ngay từ giờ phút đầu tiên gặp gỡ. Em không bao giờ tiếc rẻ, hối hận nhưng em cũng mong rằng anh đừng nghĩ đó là một hành động lẳng lơ, hư hỏng mà lầm! Mà phải trả một giá rất đắt, anh ơi! Bởi, có ngày em sẽ bỏ anh cho anh sáng mắt ra! Em sẽ bỏ anh thật đó, anh không tin lời em nói hay sao? Trong tình trạng này, chuyện chúng mình không còn là chuyện đùa giỡn, đuổi bắt nhau nữa, anh có biết không? Giai đoạn thách thức, thử lòng đã qua rồi, giờ chỉ còn là quyết định, là sống chết với nhau thôi!

Khác với anh, Khiêm đến với em bằng một con người mộng tưởng, đang sống trong si mê, đắm đuối. Chỉ vì bóng sắc của em! Tội nghiệp hắn ngu muội không nhận ra thế nào là tình yêu đơn phương, một chiều. Hắn hơn anh rất nhiều ở một điểm: tiền. Lương hằng tháng của anh chỉ khoảng bảy tám ngàn thôi, trong khi đó hắn có gấp đôi, gấp ba lần số tiền đó hằng ngày. Vì hắn có cả một cửa hàng xuất nhập cảng! Chuyện yêu đương mà nói đến tiền bạc nghe sao nó quê mùa, kệch cỡm ghê anh nhỉ? Nhưng, chính vì cái giàu sang quê mùa, cái của cải kệch cỡm ấy mà gia đình đã cố tình áp đặt em! Thời buổi này làm gì có chuyện gia đình đặt đâu thì người con gái phải ngồi đó phải không anh? Tuy nhiên, chắc phải với một điều kiện đánh đổi nào nữa, Tần à! Liệu anh có hết mình sống chết với người tình của anh không? Với Hiền của anh đây không, anh hỡi? Anh phải mạnh dạn đứng lên, đem đôi tay rắn chắc của mình mang em ra khỏi cảnh gia đình ràng buộc dầu sôi lửa bỏng này! Anh ơi, Tần ơi, anh hãy nhớ cho em điều kiện tiên quyết đó, nha anh!

Những bước chân vô định rồi cũng đã đưa Hiền đến Ngã Sáu. Bâng khuâng, lần lữa một hồi nàng rẽ vào đường Lý Thánh Tôn. Nửa muốn lên chợ Ðầm thăm Thúy nửa muốn đi ra biển một mình. Phố xá vẫn đông người, xe cộ vẫn nhộn nhịp, nhưng sao trong lòng nàng bỗng trở nên trống trải quá. Nàng thở dài, lầm lũi men theo vỉa hè như một chiếc bóng không hồn. Những bụi mưa nhỏ li ti đã làm đôi vai nàng ướt lạnh. Như chợt nhớ ra, nàng mở chiếc áo hai da tím vàng, giũ giũ, mặc vào người. Thật vô tình, nàng đã chọn màu của xa cách chia ly! Rồi nàng nhủ thầm, có lẽ vì ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím đó anh! Nhưng cũng lạ, là từ khi yêu em, anh cũng đâm ra rất yêu màu tím …, có phải bởi qua em, anh đã bị cảm hóa, vỗ về? Từ đó, màu tím là màu chung của hai đứa mình! Màu của chia xa, ngăn cách! Ôi, mà dẫu có chia ly tang tóc đi nữa thì cũng vẫn là chuyện chung của hai đứa mình, không riêng gì em mà cả anh nữa trong giây phút cô đơn này, có phải? Tần ơi, anh đang ở đâu, Cầu Ðá hay biển khơi? Anh đang làm gì, thực tập lái tàu quanh vịnh hay hải hành xa tít trời mây? Em nhớ anh, thèm anh, và muốn cắn anh quá chừng! Nhớ hơi thở có mùi thuốc lá Cool phảng phất phả vào tóc em! Thèm vòng tay ấm áp, e ấp bên hông mình! Và cắn môi anh trong từng cái siết nhẹ vào mông vào lưng khi anh ôm em vào lòng và nụ hôn từ giã trong bóng đêm tăm tối! Em lại giận anh nữa rồi, vì có bao giờ anh thèm để ý, lắng nghe, tìm hiểu nỗi nhung nhớ, cô đơn mà em từng gánh chịu…

– Anh không thể sờ mó lên người em, ở những nơi không nên sờ mó, rồi dừng lại đó! Anh phải đi xa hơn, phải lột em ra cho em trần truồng…

Anh còn nhớ anh đã nói với em câu nói lịch sử này không? Tần à, chính vì vậy, anh không thể dựng lên cho em một bức tường rồi để đó, mà anh phải tiếp tục xây đắp cho em một lâu đài tình ái vẹn toàn! Chúng ta phải đi đến tận cùng hạnh phúc, phải không Tần? Nhưng, than ôi, có mơ ước nào mà chẳng mong manh, gió cát! Giờ, bỗng dưng em thấy ngôi lâu đài tình ái ấy như đã vuột mất khỏi tầm tay!

Hiền bỗng nhận ra mình đang lang thang, ngơ ngác trên đường Yersin. Con đường có nhiều tàn cây, bóng mát mà trước đây mỗi cuối tuần, nàng vẫn hay tay trong tay, dung dăng dung dẻ với Tần. Con đường vẫn thường đưa nàng và Tần dong ra bãi biển. Ở đó, có gió lộng trùng khơi, có con sóng dạt dào mơn man bờ cát mịn. Và có dấu chân của hai đứa sóng đôi trong lấp lánh nắng chiều rơi! Ôi, êm đềm biết mấy và nên thơ biết mấy phải không Tần? Biển cả đã là chứng nhân cho cuộc tình chúng ta, nhưng, giờ đây biển cả sẽ buốt giá tâm hồn em nếu em dẫn xác ra đó một mình, anh có hiểu? Cho dù biển mặn thân thương kia vẫn còn biết buồn lây với nỗi niềm vương vấn trong lòng em.

Ðột nhiên, Hiền dừng lại, đưa hai tay ngăn ngực và bâng khuâng tự hỏi: trời đất, chẳng lẽ mình đã lên cơn điên rồi chăng? Tại sao chân cứ bước đi mà tâm trí lại để tận đâu đâu? Không được, nàng phải biết tự kiềm chế và giữ mình! Phải biết rõ con Hiền bằng xương bằng thịt này đang nghĩ gì, làm gì chớ! Một lần nữa, nàng nghĩ rằng có lẽ nàng nên đi thẳng lên chợ Ðầm gặp Thúy cho có bạn. Biết đâu con nhỏ “cà chớn” kia lại chẳng nẩy ra một sáng kiến giúp nàng trong cơn buồn bã, khốn khổ này. Nhưng chẳng biết sao, mới vừa nghĩ tới đó thì lòng nàng đã bảo thôi! Con nhỏ Thúy đó từ dạo có thằng cha bồ dân Võ Bị đã lên mặt và “cà chớn” với nàng dữ lắm! Nàng đã quá rõ! Không thể để nó nhảy vô làm bà chị cả, đặt điều can gián khuyên lơn nàng nữa!

Ðèn nhà ai người nấy sáng, phải, nàng tự quyết với mình như vậy! Ngọn hải đăng tình yêu kia đã do tay nàng và Tần thắp lên, thì bây giờ trách nhiệm phải giữ làm sao cho nó sáng mãi hay tắt ngủm, rụi tàn cũng chỉ do chính nàng và Tần mà thôi! Tại sao em không tìm đến với anh ngay trong lúc này chớ? Ðúng rồi, em phải đến với anh, Tần ơi! Em cần vòng tay bao dung, che chở của anh! Nhưng liệu anh có cứu vớt được gì em trong cơn nguy biến này không đây? Em sợ quá! Em lo quá! Thôi thì, một liều năm bảy cũng liều, trước sau gì em cũng phải bày tỏ với anh một điều, rằng:

– Em không muốn làm một T.T.Kh. thứ hai! Em không muốn rồi đây em cũng sẽ phải thốt lên câu nói… tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời, ái ân nhạt nhẽo của chồng tôi … Vì anh có biết hôm nay là ngày đám hỏi của em, ngày đám hỏi của em với Khiêm mà em không hề thương yêu, quý mến! Anh, anh đã nghe rõ chưa? Anh đã tỉnh mộng chưa? Anh đã tin lời em nói chưa? Rồi, bây giờ, anh phải làm gì cho em đây? Nói cho em nghe đi! Nói đi!

Trong cơn mưa càng lúc càng nặng hạt, Hiền giục giã quay trở lại bến xe Lam dẫn về trường Hải quân, nằm bên góc đường Yersin và Quang Trung. Nàng cảm thấy tay chân mình như đang run rẩy buốt lạnh và con tim mình như đang nức nở sụt sùi! Trời xanh kia có lẽ cũng đã thấu hiểu nỗi lòng nàng mà đã từng cơn, rưng rưng nhỏ lệ? Dầu gì đi nữa thì cứ hễ còn nước thì nàng còn phải tát! Nàng vẫn còn hi vọng, dù mong manh thế mấy đi nữa, một… nhiệm mầu từ trên cao rồi sẽ đến với nàng, với Tần. Và xa hơn, đến với muôn loài, như một mùa xuân ban phát xuống trần gian đang chất chứa đầy bóng tối. Hiền thành tâm nguyện cầu!

Giờ này ở nhà nàng chắc hẳn bà con hai họ cũng đang tề tựu đông đủ, đang rộn rịp chuẩn bị làm lễ bái kiến gia tiên. Nàng mường tượng ra như thế trong khóe mắt lưng tròng…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 26 Nov 2025

27. Chiếu chỉ từ Thiên triều phương Bắc

Mùa Giáng sinh nào tôi cũng nghe bài hát Giáng sinh quen thuộc, và câu “bình an dưới thế cho người thiện tâm…“. Tôi nghĩ, chỉ có sống dưới khung trời tự do mới có bình an, bất kể là người có thiện tâm hay không. Riêng ở Việt Nam dưới chế độ “CHXHCN Taliban VC công an trị” thì cho dù có mùa Giáng sinh hay không, không có bất cứ ai có được không khí bình an dưới thế. Thiện tâm chừng nào, có lòng chừng nào, lương thiện chừng nào, yêu nước chừng nào thì càng bị dồn vào tình trạng bất an, nguy hiểm… nếu chế độ thấy cái thiện tâm của họ nghịch với những suy nghĩ của ông nhà nước.

Họ có thể bị công an canh nhà, theo dõi hay vây bắt bất cứ lúc nào. Cụ Tô Hải không thiện tâm ư? Lê Thị Nhân Công không thiện tâm ư? Dân oan nghèo khổ không có mái nhà che thân không thiện tâm ư? Và những sinh viên, thanh niên yêu nước kêu gào Trường Sa! Hoàng Sa của Việt Nam không thiện tâm ư?!

Mùa Giáng sinh năm nay tại Việt Nam, với những cuôc biểu tình chống Tầu xì-dầu xâm lược từ trong ra ngoài nước nhân vụ Hoàng Sa/Trường Sa, đã tạo nên tình trạng nhức đầu cho những tên cầm quyền sinh sát muôn dân từ Bắc Kinh đến Hà Nội, Sài Gòn. Không đàn áp các cuộc biểu tình chống Tầu thì bị Bắc Kinh gõ đầu, mà đàn áp thì làm sao trả lời cho muôn dân và thế hệ trẻ Việt nam về tội cắt đất, dâng biển!?

Chưa chi mà quan thầy Bắc Kinh đã truyền lệnh:

– Mậu hẩu a! Các tồng chí phải dẹp các đám biểu tình của sinh viên ngay!

Từ Hà Nội:

– Quý đồng chí vĩ đại an tâm! Chúng nó ồn ào lẻ tẻ, nếu cần thì đảng sẽ dùng tới quân đội nhân dân anh hùng của đàn em dẹp chúng nó!

– Sau hơn 30 năm không tiếng súng, các tồng chí có bảo đảm là quân đội nhân dân của các tồng chí còn hẩu? Ngộ thấy tình hình ngày càng căng, liệu các tồng chí có dám đem xe tăng dẹp biểu tình như ngộ làm trong vụ Thiên An môn không?

– Đồng chí vĩ đại đừng lo! Mấy chiếc T54 hồi chiếm Sàigòn còn xài được, dư sức ủi bọn sinh viên phản động xuống hồ Hoàn Kiếm, xuống sông Nhà Bè. Chúng tôi đã tóm cổ tên phản động Lê Thanh Tùng ở Hà Nội, và nghiêm khắc bảo tên phản động Lê Thanh Tùng rằng chuyện Hoàng Sa, Trường Sa là chuyện do nhà nước lo, biểu tình chống Trung quốc là phản động, là làm xấu nước CHXHCNVN vĩ đại. Đồng chí vĩ đại khỏi lo, chúng tôi đã có tuyệt chiêu mới để kềm chân tụi sinh viên! Ở Luân Đôn đàn em cũng ra lệnh y chang như vậy!

– Thật vậy sao? Tồng chí nói thử xem, nếu hẩu, ngộ đem mấy thứ đó về Bắc Kinh dự phòng cho ngày khai mạc Thế Vận Bắc Kinh phòng hờ tụi phản động lộng hành!

– Bá cáo đồng chí vĩ đại, đảng CSVN quang vinh của chúng em sẽ bắt toàn thể sinh viên thi cuối chương trình vào cả hai ngày thứ Bẩy, Chúa Nhật, bắt chúng nó thi như vậy suốt năm thì bố chúng nó cũng không dám bỏ học đi biểu tình chống các đồng chí!

– Hẩu a! Hẩu a! Nhưng chưa tuyệt hẩu!

– Vậy phải làm gì nữa đồng chí vĩ đại?

– Cho chúng cắm đầu thi hộc máu ngày thứ Bẩy, Chúa Nhật chưa đủ, phải cho công an nhân dân chui vào các trường đại học bám sát, ghi tên tụi sinh viên biểu tình chông ngộ, hăm dọa, xuyên tạc, chia rẽ và cắt chúng ra từng nhóm để theo dõi… và đuổi chúng nó, cho chúng ra khỏi trường đi bán cà-rem nếu cứ biểu tình chống ngộ!

– Đồng chí vĩ đại thật sáng suốt! Hèn gì thuở Hồ chủ tịch còn sống đã chẳng bảo “tớ làm gì có tư tưởng, tất cả chỉ nhờ tư tưởng bác Mao, bác Shịt… và cứ thế mà theo!”. Ngày nay đồng chí vĩ đại cũng vĩ đại không thua Mao chủ tịch vô vàn kính yêu …

Sau khi bị thiên triều Bắc phương dũa và dạy dỗ, người ta thấy công an nhân dân của chế độ Hà Nội thực hiện y chang lời ông thầy Xì Dầu phương Bắc! Bố khỉ, trong đầu các cán bộ lãnh đạo nước ta toàn là xì-dầu, nước tương “ma-de” China!

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

Chương 11.

Ăn năn và sám hối

Ngày nay, với tuổi gần xuống lỗ, đã 92 rồi, buổi theo ông theo bà đã hầu kề, mai chết hay nay chết đều được và như vậy mà xong hơn sống như nay, thân yếu đuối, cẳng chưn không chở nổi thân xác, đi thì muốn té, đứng thì không

vững, may thời còn cặp mắt dòm ngó và thấy người đẹp, nhưng thấy rồi thôi, chớ đâu còn sức bày binh xáp trận – tôi nói ba hoa chích chòe làm vầy để che giấu mình bất luận, nay vào đề xin thú thật, lúc còn xuân xanh thuở trước đây, tôi có tánh ngạo và khinh người, tôi ghét nhứt là “lính mã tà”, ngày nay, tuổi chết hầu kề, tôi ăn năn thì đã muộn. Xét lại “mã tà” hay “ma tà”, chỉ là danh từ buổi xưa để gọi theo tiếng Mã lai “ma ta ma ta” của họ là lính và bắt qua của mình, “mã tà” “ma tà” tức là lính, mà trong Nam nầy gọi theo Tây là “agent de la Garde Civile Locale” để đối chiếu với tiếng Pháp “tirailleur” ta gọi “lính tập” tức lính tùng ngũ theo chế độ Pháp, ở Huế là “garde  indigène”, ở ngoài kia, cũng đồng gọi một thế ấy và nay tôi hiểu rộng và phòng khinh nữa, thì chữ “indigène” cũng không có chi là nhục, đến có lúc bỏ quách không dùng nữa và nay ngày tàn bóng xế, tôi hiểu rộng rãi, thì “indigène” chỉ là “người bản xứ” và theo tôi, nói tiếng Tây chút chơi và tỉ dụ: “le Parisien est un indigène de Paris” nào có nhục gì đâu?

Tôi nay còn phân vân chưa hiểu, tại sao chức caporal, ta dịch “anh bếp, anh cai”, còn sergent, ta dịch thầy đội? Và theo tôi hiểu như nay, thì chức “bếp” phải hiểu “người coi về bếp” và đời xưa, một bếp là thủ một tốp 5 lính, có lẽ một cai thì thủ số lính trọng hơn, và tôi tạm hiểu tỉ như “một đội” gồm 10 cai hay 10 bếp, nên dịch theo tôi đội là “captaine” hoặc một lieutenant … còn chức quản là chức trị được 10 đội (commandant) và “vệ” là “général”, tôi từng nghe một tiền bối dạy tôi: “chánh vệ” là từ riêng để gọi Lê Văn Duyệt khi chưa là tổng trấn, tả quân và “phó vệ” là từ riêng của Lê Văn Khôi xưng trong tuồng San Hậu và nay tôi tiếp theo kể cho đủ chuyện, tỷ như Dương Quí Phi của vua Đường Huyền Tông, trước là dâu, sau là phi tử, lấy con rồi ngủ với cha chồng, Huyền Tông chiều chuộng nhưng tuổi già cung cấp không phỉ gái đương độ xuân thời, quá hăng lửa tình, tắm nước cho An Lộc Sơn là một phiên nô có dòng máu Thổ Nhĩ (Turc) để nơi trận Mã Sơn, quí phi bị binh Đường sát hại đền tội dâm lộng, tuy vậy theo tôi, Đông vẫn có hạnh và giữ hạnh chính chắn, không như bà George Sand, lăng loàn không biết mấy đời chồng, ham trai tơ, George Sand, từ nhà tu ra, lấy chồng là một võ phu, chỉ ham đi săn thú hơn là vui đêm với vợ đẹp, đã thất bại về hôn lễ chánh thức lại vấp đường tình với kế tiếp tám chín năm với thi sĩ Musset, chín mười năm với nhạc sĩ đa tài nhưng thiếu lực khỏe Chopin, đến khi tuổi xuân đã qua và tới chiều đông tàn George Sand, ăn mặc theo trai, bỏ xiêm y nhảy qua làm và binh vực cách mạng, gái Tây phương  dường ấy và kể lại trai phương Tây; đại kỳ tài như Victor Hugo, để vợ chung chạ với Sainte Beuve, v.v .. và mặc cho bà ăn nem, Hugo vẫn ăn chả, con đòi Blanche, nàng ái thiếp Juliette Drouhet và xiết bao mèo vụn khác, lạ nhứt là Hugo nhắm mắt để vợ kéo cột Adèle tò tí với bạn là Sainte Beuve, Hugo rõ tận mà làm thinh, để cho Juliette tận tụy và tận tình sao chép bản thảo những kiệt tác “Les Misésables” v.v .. , Adèle khi từ trần, Hugo khắc bia trên mộ vỏn vẹn hai hàng:

Adèle

Vợ của Victor Hugo

Đã không giận Adèle ngoại tình trước với Sainte-Beuve, sau với Théophile Gautier và trong lúc ấy chàng ta, Hugo kỳ tài nhưng quá dâm, làm sao kể xiết sự lần nhằn đến ba lăng nhăng … và tôi chỉ nhớ trong quyền “Các cuộc đời ngoại hạng” của Lộc Đình có câu nơi trang 27, nguyên văn: “ …Hugo chịu khó đi thăm tất cả các cổ tích của Paris, đặc biệt là giáo đường Notre Dame de Paris mà ông biết rõ từ từng phiến đá, từng tấm kính, từng bực thang, cho nên viết phần lịch sử trong truyện rất đúng, từ cảnh tới nhân vật, và ngôn ngữ, không khí. Bình dân Pháp sở dĩ biết Paris thời cổ, yêu nó, phần lớn là nhờ đọc Notre Dame de Paris, cũng như chúng ta biết được chút ít về Thăng Long thời vua Lê chúa Trịnh là nhờ học “Ngược đường trường thi”, “Bốn con yêu và ba ông đồ” của Nguyễn Triệu Luật – dĩ nhiên tài năng và công phu của Nguyễn không thể so sánh với Hugo được”.

Viết thêm trang nầy và bàn rộng chút chơi, mình nói cho trong nhà đủ nghe, có sợ gì dư luận. Có câu, nhớ mại: “đức thắng tài, giả vi quân tử” và đổi lại “Tài thắng đức, giả vi quân tử” như thường, chưa ắt là tiểu nhơn.

Alexandre Dumas cha, để lại tiểu thuyết “Les Trois Mousquetaires” soạn hình như vào năm 1844, mà nay còn người đọc và say mê dịch ra khắp nước. Người con là Alexandre fils, để lại tập lãng mạn “La Dame aux camélias” (Nguyễn Văn Vĩnh dịch là “Trà hoa nữ” đã làm cho phụ nữ khóc hết nước mắt).

Ngày nay chúng ta học và đọc các tập ấy, ít phê bình về hạnh kiểm hai vị nầy và các George Sand, Victor Hugo, luôn lão thầy tu hoàn tục Talleyrand, phản vua, phế vua, nhưng có công với nước Pháp, chúng ta bo bo chỉ lo phê bình, chỉ trích những Phan Thanh Giản, Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, những Trần Bá Lộc, Huỳnh Tấn trong Nam, Hoàng Cao Khải ngoài Bắc, Nguyễn Thân nơi Miền Trung, xét ra những nhân vật ấy giàu sang một thời rồi con cháu lụn bại hoặc đã thay danh đổi tánh, tức những dòng họ ấy chưa hưởng được hai ba đời người, tuy vậy, ăn mắm thấm về lâu, nước Liên Xô thinh khổng bật thay chiều, sự trạng Phan Thanh Giản đã có người Nga khen “khéo về chính trị”, Trương Vĩnh Ký nay có người quan trọng trong đảng, viết sách kể công, tôi cho sau nầy, tôi vẫn không còn ở đây để đọc bài sẽ có người viết lại về Tôn Thọ Tường, nay chỉ còn danh ở Chợ Lớn, quán bán vịt quay ngon, còn ông Phan Văn Trị không mắc mớ gì đến tôi, nhưng tôi tự nghĩ nếu Trị “dùng được” thì quan Phan, ông Trương Định, đã dùng rồi và nếu Tôn Thọ Tường có nhơ, tại sao tôi không thấy Đồ Chiểu chê bai, và đặc biệt bởi Tường, không nhơ, nên quan Phan vẫn hòa thi trên đường sang Pháp địa. Tôi không dám viết dài, chỉ dặn cháu con: “Đừng sanh ra làm người, rủi sanh lỡ, thì cứ cơm tẻ ngày hai, lựa nghề thủ công kiếm cơm độ nhựt, nhứt là đừng theo gương tôi. Văn Tây có tiền nên mua mà đọc, văn của ở đây, nội Truyện Kiều, nội Lục Vân Tiên, vẫn chưa có bản nào tôi vừa ý, đừng nói không sai, riêng Đồ Chiểu, nào để bản thảo vì mắt đui v.v ..

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

Bài 44

Gia đình Ấn Độ của tôi

Phương tiện đi lại được dùng nhiều nhất trong thành phố này là xe đạp. Tôi cũng mua một chiếc để đi đây đi đó cho thuận tiện. Vì thành phố và vùng lân cận ở nơi đất bằng phẳng, nên có thể đi những đoạn đường dài mà không cần mất nhiều sức. Xe đạp có hai cái đèo hàng rất khỏe, một ở đằng trước, một ở đằng sau. Cho nên, cũng như nhiều người địa phương, tôi có thể chở hai người một cách dễ dàng.
Ít nhất hai lần một tuần, chúng tôi thường dạo chơi một hai tiếng đồng hồ với các cô bạn Ấn Độ. Các cô sướng mê tơi và tôi bắt đầu nhận thấy một trong hai cô, cô trẻ, đang yêu tôi.
Tôi chưa gặp ông bố cô bao giờ, hôm qua ông đã sang tôi. Ông ở không xa nhà tôi mấy, nhưng ông không bao giờ đến thăm chúng tôi, và tôi chỉ biết các anh em trai của cô. Ông ta là một cụ già cao lớn có bộ râu rất dài, trắng như cước. Tóc ông cụ cũng bạc trắng để lộ một vầng trán thông minh và cao quý. Ông chỉ nói tiếng ấn, con gái ông dịch lại. Ông mời tôi đến nhà ông, ông bảo con gái ông, mà tôi gọi là nàng công chúa nhỏ, nói với tôi rằng đi xe đạp không xa lắm. Tôi hứa sẽ đến thăm ông một ngày gần đây.
Sau khi ăn vài chiếc bánh ga tô và uống trà, ông ra về, nhưng tôi đã kịp nhận xét là ông để ý đến từng chi tiết nhỏ trong nhà. Nàng công chúa nhỏ sung sướng thấy ông bố hài lòng về cuộc viếng thăm nàng và về chúng tôi.-
Tôi ba mươi sáu tuổi, và sức khỏe tôi rất tốt, tôi cảm thấy mình còn trẻ, và cũng được cái may là tất cả mọi người đều coi tôi là còn trẻ, tất cả các bạn tôi đều nói là trông tôi chưa tới ba mươi.
Thế mà cô này mới mười chín, cô lại có cái vẻ đẹp thanh thản của nòi giống cô cùng cách suy nghĩ cực đoan tin vào số mệnh. Đối với tôi, được cô gái lộng lẫy này yêu là món quà quý báu của trời cho.
Khi chúng tôi đi chơi cả ba, bao giờ cô cũng leo lên giá đèo hàng phía trước, cô biết rất rõ là cô cứ ngồi rất thẳng người trên xe, tôi cố dấn lên bàn đạp, hơi cúi đầu về trước là mặt tôi kề sát mặt cô. Nếu cô ngã đầu về phía sau, tôi sẽ được hưởng trọn vẹn quang cảnh đôi vú xinh đẹp để trần dưới tấm voan mỏng mà nếu vén lên chắc còn đẹp gấp bội. Đôi mắt đen của cô rực cháy mỗi lần xảy ra những sự va chạm nhỏ này và đôi môi đỏ thăm trên nền da màu lá trà, hé mở vẻ thèm khát muốn được hôn. Hàm răng trắng bóng rất đẹp tô điểm thêm cho cái miệng tuyệt vời..
Tối nay, chỉ có hai đứa chúng tôi đi xem chiếu bóng, hình như cô chị nhức đầu, một cơn nhức đầu mà tôi cho là giả tạo, cốt để hai đứa tôi được đi riêng với nhau. Cô ta mặc áo ngoài bằng mousseline trắng, dài đến tận gót chân trần, mỗi khi bước lại để lộ ba chiếc vòng bạc. Cô đi dép có quai vàng lồng vào ngón chân cái làm chân cô duyên dáng thêm. ở lỗ mũi phải, cô gắn một hạt kim cương màu vàng rất nhỏ. Tấm voan mousseline che đầu ngắn và nhẹ nhàng rủ xuống quá bờ vai một chút, một dải ru băng vàng giữ tấm voan đính trên đầu. Từ giữa trán, trên dải băng đó, rủ xuống ba sợi chỉ gắn những viên đá đủ màu. Kiểu trang điểm làm nổi bật cái chấm xanh thẫm trên trán những khi cô lúc lắc cái đầu. Cả gia đình ấn lẫn gia đình tôi, trong đó có cả Quých và anh cụt, đều mặt mày tươi tỉnh nhìn hai chúng tôi đi ra, sung sướng thấy gương mặt chúng tôi tràn trề hạnh phúc. Hình như ai nấy đều biết chắc chúng tôi xem chiếu bóng về là đã đính hôn với nhau rồi. Nàng ngồi yên vị trên nệm ghế đèo hàng rồi, tôi mới cho xe lăn bánh về phía trung tâm thành phố.
Trong khi tôi thả chiếc xe chạy một quãng dài, trên con đường rộng dưới ánh đèn lờ mờ, cô gái đẹp lộng lẫy này đã đặt lên môi tôi một cái hôn nhẹ nhàng. Cử chỉ chủ động này bất ngờ đến nỗi tôi suýt ngã xe.
Ngồi tít phía sau trong phòng chiếu bóng, tay nắm tay, tôi nói với nàng bằng mấy ngón tay và nàng cũng đáp lời tôi bằng ngôn ngữ của ngón tay. Cuộc tâm tình đầu tiên của chúng tôi trong khi xem phim – mà chúng tôi cũng chẳng biết là phim gì nữa – là một cuộc nói chuyện thầm lặng. Mấy ngón tay móng dài được chải chuốt và tô son hát lên một khúc tình ca say đấm, nói cho tôi rò mối tình đằm thắm của nàng còn minh xác hơn cả ngôn ngữ. Nàng ngả đầu vào vai tôi để tôi có thể hôn khuôn mặt thanh khiết của nàng.
Mối tình e ấp, qua nhiều thời gian mới nảy nở, nhanh chóng biến thành một niềm say đắm trọn vẹn. Trước khi nàng thuộc về tôi, tôi đã nói cho nàng biết là tôi không thể cưới nàng được, vì tôi đã có vợ ở Pháp. Điều đó cũng chẳng làm nàng phiền lòng mấy. Một đêm, nàng đã ở lại với tôi. Nàng nói với tôi rằng nàng muốn tôi về sống với nàng tại nhà bố nàng, như vậy tiện cho các anh em trai của nàng, và cho vài gia đình nhà người ấn láng giềng. Tôi nhận lời và dọn về nhà bố nàng. Ông cụ vẫn sống một mình, có một cô cháu họ xa hầu hạ ông và dọn dẹp nhà cửa. Nơi này cách nhà Quých không xa bao nhiêu, chỉ chừng năm trăm mét. Cho nên hai bạn tôi tối nào cũng sang chơi với chúng tôi hơn một giờ. Họ cũng thường sang chơi với chúng tôi.
Chúng tôi vẫn tiếp tục buôn bán rau cỏ ở bến tàu. Tôi ra đi từ sáu giờ rưỡi và gần như lúc nào nàng cũng đeo theo tôi. Một bình thủy lớn đựng trà, một bình mứt và một ổ bánh mì nướng, tất cả ở trong một túi xách to đã đợi sẵn Quých và anh cụt để chúng tôi cùng uống trà với nhau. Nàng tự tay làm các thức ăn sáng và tuân thủ tuyệt đối nghi thức: bốn người phải cùng ăn bữa đầu tiên trong ngày. Trong túi xách của nàng, có đủ mọi thứ cần thiết: một tấm chiếu nhỏ viền đăng ten, mà nàng trịnh trọng đặt xuống vỉa hè sau khi đã dùng chổi quét sạch chỗ đó, bốn bộ tách nhỏ có cả đĩa. Ngồi ở lề đường, chúng tôi ăn điểm tâm, rất nghiêm túc. Ngồi lề đường mà uống trà như ở nhà kể cũng buồn cười, nhưng cả nàng và Quých đều coi thế là tự nhiên. Họ chẳng cần để ý đến những người đi qua và thấy làm như vậy là bình thường. Tôi không muốn cản nàng. Nàng thích hầu hạ chúng tôi luôn tay phết mứt lên bánh tôi mà không ưng là nàng rất buồn.
Thứ bảy vừa qua, có một việc xảy ra đã cho tôi biết được một điều bí mật. Chúng tôi ăn ở với nhau đã được hai tháng, và nàng thỉnh thoảng lại cho tôi một ít vàng. Cũng chỉ là những mảnh tư trang gãy, vỡ, một nửa cái nhẫn vàng, một chiếc bông tai, một đoạn dây chuyền, một phần tư hay một nửa chiếc huân chương hoặc một đồng tiền. Tuy nàng bảo tôi cứ bán đi, nhưng tôi không cần đến, cứ cho tất cả vào một cái hộp. Tôi có gần bốn trăm gam vàng. Khi tôi hỏi nàng vàng ở đâu ra, thì nàng kéo tay tôi, hôn tôi rồi cười nhưng không chịu nói gì.
Hôm thứ bảy ấy, vào lúc mười giờ sáng, nàng bảo tôi lấy xe chở bố đi, tôi cũng không biết đi đâu. Nàng nói:
– Ba em sẽ chỉ đường cho anh. Em phải ở nhà để ủi đồ.
Tôi tò mò nghĩ là ông già chắc đi thăm ai ở xa, và vui vẻ nhận lời.
Ông lão ngồi lên giá đèo hàng phía trước và không nói gì, vì ông ta chỉ nói được tiếng Ấn. Tôi đi theo hướng ông ta chỉ. Đường xa, tôi đạp đã gần một giờ. Chúng tôi đến một khu phố giàu có bên bờ biển. Nhà toàn là biệt thự đẹp. Ông “bố vợ” vừa ra hiệu, tôi dừng lại ngay và tôi để ý quan sát. Ông lão lấy trong túi áo ngoài ra một viên đá tròn và trắng rồi quỳ trên bậc thềm thứ nhất của nhà đầu tiên. Ông lão vừa lăn hòn đá trên bậc thềm vừa hát. Vài phút trôi qua. Một phụ nữ mặc quần áo ấn từ trong biệt thự đi ra, lại gần ông già và lẳng lặng đưa cho ông một vật gì đấy. Ông cứ đi từ nhà nọ sang nhà kia, diễn lại cảnh ấy cho đến mười sáu giờ. Cứ thế kéo dài mà tôi vẫn không hiểu gì. Đến biệt thự cuối cùng một người đàn ông vận toàn đồ trắng ra gặp ông. Người này bảo ông đứng dậy, quàng lấy tay ông rồi dẫn ông vào nhà. Ông cụ ở đó hơn mười lăm phút rồi mới ra, vẫn có ông kia đi kèm. Trước khi chia tay nhau, ông này còn hôn trán ông già, đúng hơn là hôn mái tóc bạc của ông.
Chúng tôi đi về, tôi cố sức đạp để về cho mau vì đã hơn bốn rưỡi chiều.
Cũng may, chúng tôi về đến nhà trước khi trời tối. Indara cô gái ấn xinh đẹp của tôi, dẫn bố vào trước rồi nhảy lên ôm cổ tôi hôn hít và kéo tôi vào với gương sen để tôi tắm. Quần áo sạch sẽ chờ sẵn, sau khi tắm rửa, cạo mặt, thay quần áo, tôi mới ngồi vào bàn ăn. Nàng tự tay dọn cho tôi ăn như thường lệ. Tôi muốn hỏi nàng nhưng nàng cứ xăng xở đi lại làm ra vẻ bận rộn để lẩn tránh, kéo dài thật lâu lúc phải trả lời các câu hỏi của tôi. Tôi nóng lòng muốn biết sự việc. Nhưng tôi cũng biết là không bao giờ nên ép người Ấn hay người Tàu nói. Cần phải tôn trọng một thời gian nhất định. Lúc đó tự họ sẽ nói vì họ đoán biết rằng anh đang chờ nghe một điều tâm sự của họ: nếu anh xứng đáng, thì họ sẽ nói. Đối với Indara cũng đúng như vậy. Sau khi cùng ngủ chung với nhau, nàng mới áp cái má còn nóng hổi vào hõm vai tôi và nói mà không nhìn tôi:
– Mình đi, mình có biết rằng khi ba di kiếm vàng, ba không làm gì xấu không, trái lại kia đấy. Ba gọi các thần linh đến phù hộ căn nhà mà ba đã lăn hòn đá. Đó là một phong tục rất cổ xưa của nước Nam Dương chúng em.
Nàng công chúa của tôi kể cho tôi nghe như vậy. Nhưng một hôm một cô bạn của nàng nói chuyện với tôi ở chợ. Buổi sớm ấy, cả nàng lẫn các chú Tàu chưa ai tới. Và câu chuyện cô gái xinh đẹp Nam Dương nói cho tôi nghe lại khác:
– Sao anh lại phải đi làm, một khi anh đã sống với con gái ông phù thủy? Chị ấy bắt anh dậy sớm, cả khi trời mưa, mà không thấy xấu hổ à? Với số vàng mà ba chị ấy kiếm ra, anh chẳng cần làm gì cũng sống được. Chị ấy không yêu anh, đáng lẽ chị không nên để anh dậy sớm như thế mới phải.
– Thế bố cô ấy làm gì? Cô nói cho tôi biết đi, vì tôi chẳng hiểu gì cả.
– Ông bố chị ấy là phù thủy Nam Dương. Ông có thể gọi thần làm cho anh hay gia đình anh chết nếu ông muốn. Chỉ một cách thoát khỏi bùa phép mà ông yểm cho anh bằng hòn đá ma là đưa cho ông kha khá vàng, ông sẽ lăn hòn đá ngược với chiều ông đã lăn để gọi thần chết đến. Bấy giờ, ông sẽ gỡ hết các bùa yểm ngược lại còn làm anh và những người trong nhà được khỏe mạnh, sống lâu.
– Indara để cho tôi không phải như vậy.
Tôi tự nhủ sẽ đối chiếu xem trong hai người, người nào nói đúng. Vài ngày sau, tôi đứng cùng với ông “bố vợ” có bộ râu bạc dài bên bờ một con suối chảy ngang qua đường Penitence Rivers rồi đổ vào sông Demerara. Nét mặt các ngư dân Ấn làm tôi hiểu rõ hết. Mỗi người biếu ông một con cá rồi vội vã tránh cho xa bờ. Tôi đã hiểu. Chẳng cần phải hỏi ai nữa.
Ông bố vợ phù thủy chẳng dính dáng gì đến tôi. Ông chỉ nói tiếng Ấn Độ với tôi và cho tôi hiểu. Tôi không bao giờ biết ông định nói gì. Thế cũng có mặt hay. Cứ coi như là đã đồng ý với nhau. Dù sao ông cũng kiếm được một việc cho tôi làm, tôi xăm trán tất cả các cô bé gái từ mười ba đến mười lăm tuổi. Thỉnh thoảng, ông lại vạch ngực các cô bé gái đó ra cho tôi xăm lá hay hoa màu lá xanh ve, hồng, lơ để đầu nhũ hoa nhô lên như nhụy một bông hoa. Vì xăm rất đau, cho nên chỉ có những cô gái can đảm mới bảo tôi xăm đầu nhũ hoa bằng màu hoàng yến. Có một vài cô (số này ít lắm) lại xăm đầu vú màu vàng.
Trước cửa nhà, ông già treo một tấm biển quảng cáo bằng chữ Ấn, viết những gì đại loại là: “Nghệ sĩ – xăm người – giá phải chăng – công việc bảo đảm”. Làm việc này được trả hậu và tôi hai có hai cái khoái: ngắm bộ ngực đẹp của gái Nam Dương và kiếm ra tiền. Quých biết ở gần bến tàu có một quán ăn đang muốn bán anh hãnh diện báo tin đó cho tôi và đề nghị chúng tôi cùng mua. Giá phải chăng, có tám trăm đô-la. Bán vàng của ông phù thủy cộng với tiền tiết kiệm được của chúng tôi, đủ mua được cái quán ăn đó. Tôi đã đến xem. Nó ở một con đường nhỏ nhưng rất gần bến lúc nào cũng lúc nhúc những người là người. Một gian phòng vuông vức khá to, lát gạch đen trắng, mỗi bên để được tám bàn, ở giữa có thể kê một cái bàn tròn to bày những món ăn khai vị và trái cây. Căn bếp rộng rãi khang trang. Có hai lò đun và hai lò nấu rất to.

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên 

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

Chương 21

Ở K… địa phương đầu tiên có một trung tâm hồi hương, một xã hội trật tự, với các cuộc kiểm soát và các qui tắc, luật lệ, lại chờ đón chúng tôi, khốn thay, đó lại là điều cần thiết. Thành phố là cả một mớ hỗn độn thật sự gồm đủ mọi loại quốc tịch và những cách phục sức kỳ cục nhất cũng không làm ai ngạc nhiên. Làm sao có thể phân biệt trong đám người ấy, người cộng tác với kẻ phá hoại, người tình nguyện với kẻ bị trưng tập, một dân quân với, một tù binh chiến tranh và người kháng chiến với tên do thám? Tất cả đều với lòng ái quốc chói lọi, và kiêu hãnh trưng ra các mầu sắc quốc gia, và rõ ràng là muốn lợi dụng màu sắc ấy để xâu xé ông chủ cũ. Đó là giờ của sự hài tội, thật khó coi, vì những người vô tội trong những thời kỳ ấy thường cung cấp nhiều nạn nhân hơn kẻ có tội thật sự. Một vài ví dụ diễn ra dưới mắt chúng tôi đủ để chúng tôi tin điều đó là đúng.

Một viên thượng sĩ thuộc một đại đội vận chuyển Pháp đi theo sư đoàn quân Mỹ và đảm trách nhiệm vụ giữ trật tự, một đêm đã mời chúng tôi đến ăn tối tại chiếc xe làm nơi tạm trú của ông ta. Phần ông ta thì rất dễ thương, nhất là ngày nào ông cũng thết một bữa tiệc như thế nầy. Tuy nhiên khi thấy ông hành sự, ông ta nhắc nhở cho chúng tôi các phương pháp thật kỳ dị. Để kiếm thêm một ít thực phẩm phụ trội, ông ta chỉ độc dùng có mỗi một cách: đe dọa bằng khẩu súng lục, và khi đại đội của ông phải di tản dân chúng trong một ngôi làng, ông ta luôn luôn ra lệnh cho nổ sập căn nhà mà ông tạm trú. Chính ông đã nói với tôi rằng ông chẳng có đau khổ gì vì chiến tranh mà cũng chẳng vì người Đức, nhưng lý do duy nhất khiến ông ta đăng vào đơn vị nầy là, ông nói, đã “chọc tức bọn Đức chơi, và để nhớ lại thời kỳ vàng son của quân đội lê dương”. Trong số người Đức bị trưng tập để làm việc khổ dịch hoặc làm việc cho đại đội, các quân nhân ưa chọn các người trai trẻ để bắt làm bọn hầu cận và một cựu lê dương còn dùng họ vào việc khác nữa. Còn những người lớn tu sĩ, toàn là công nhân và viện chức tầm thường, họ thường tự hỏi có phải chỉ mình họ là phải trả nợ cho các hậu quả gây ra bởi sự thảm bại của đảng Quốc Xã không, bởi vì bọn thân hào của thành phố vẫn ở nguyên vị hoặc bị mang vào canh tay chiếc băng Hồng Thập tự tuyệt diệu để khỏi bị trưng tập. Một nhóm lính khác chiếm quán rượu ở nhà ga, đã đùa giỡn ngay đêm đầu tiên, bằng cách bắt nhốt viên chủ quán trong hầm rượu, và lấy lý do để cho ông nầy nếm mùi các phương pháp của bọn SS, họ đã bắt ông ta làm những việc không thể ghi lên giấy được. Thế rồi, trong đêm đó, sau một bữa no say đúng cở, họ dùng ông ta để làm bia cho một cuộc thi tác xạ súng lục.

Bà vợ của nạn nhân đến khiếu nại với bộ chỉ huy Mỹ và một sĩ quan lập tức được gởi đều để mở cuộc điều tra. Những lên tội phạm ngẫu nhiên của chúng ta, vô cùng bối rối nhưng muốn đóng vai trò của những kẻ đi thanh lọc, đã cho đưa các cựu tù binh chiến tranh đến để phải xác nhận trước viên sĩ quan điều tra rằng đây là một lãnh tụ Quốc Xã đã luôn luôn hành hạ người Pháp làm việc trong thành phố lúc trước. Để làm vui lòng các người đồng hương, họ chấp nhận đóng vai trò nhân chứng mà không cần biết nội vụ ra làm sao. Tuy nhiên đến lúc đối chất, khi tấm chăn phủ lên người nạn nhân được dở ra, và khi mặt nạn nhân xuất hiện, họ không thể nào giữ được khỏi kinh ngạc và quên mất điều đã hứa.

– Sao, – một người trong bọn la lên, – các anh đã giết ông ấy à? Nhưng đó là quán rượu duy nhất đã lén lút bán rượu bia cho chúng tôi, và không có ai lịch sự đối với chúng tôi hơn ông ta. Khốn nạn, trong khi đó thì bọn Quốc Xã thật sự lại được tự do.

Rõ ràng là thêm một người chết nữa, tiếp theo sau tất cả những gì chúng tôi đã thấy, không tạo thành một quang cảnh lạ kỳ, nhưng dẫu sao vẫn là đáng tiếc khi giết một trong những người Đức hiếm hoi không phải là Quốc Xã, vì sau cùng, Đức quốc vẫn tiếp tục.

Bọn lính trong đại đội không thể nào có được một hình ảnh chính xác về nước Pháp được giải phóng. Phần đông đều ở đồng quê ngày có cuộc đổ bộ và hoàn toàn mù tịt về các biến chuyển trong nội bộ quốc gia mình. Tuy nhiên một Đại úy đặc biệt đảm trách nhiệm vụ chào đón những người Pháp được giải phóng bởi tiền quân Đồng Minh, đã đến nói chuyện với chúng tôi qua một bài điễn văn ngắn. Sau một vài câu ước lệ để chào đón, ông ta đã gây nên một cơn lạnh mình trong cử tọa, khi yêu cầu một số người tình nguyện để thành lập các toán gát, canh giữ nhiều cơ xưởng khác, nhau. Đây là một hoạt động phụ dịch mà quân Mỹ dành cho các cựu tù binh chiến tranh Pháp, có lẽ là nhằm mục đích cho họ ảo tưởng rằng mình cũng là những người chiến thắng.

– Chiến tranh chưa chấm dứt, – ông ta xác định, – các anh sẽ không tìm thấy ở Pháp những gì các anh hy vọng, vả chăng, vì thiếu phương tiện chuyển vận, không nên tin rằng sẽ được hồi hương trước hai tháng nữa. Ngược lại những người tình nguyện sẽ được đãi ngộ y như người Mỹ về phương diện thực phẩm, y phục, thuốc lá và lương bổng.

Cuộc diễn thuyết không thành công lắm, tuy nhiên cũng đã có người đưa tay. Vấn đề là, đối với phần đông tù binh chiến tranh, trở về nhà sau năm năm vắng mặt, tượng trưng cho tất cả một tấn thảm kịch. Một vài người qua thư từ mà không phải luôn luôn là vô vụ lợi, được biết vợ mình đã tìm một người khác thay thế hoặc là họ đã trở thành cha của những đứa con không do họ tạo ra. Nhiều người khác thì quên mất vợ ở nhà sau nhiều năm đằng đẵng và để rơi vào tay một nàng “Gretchen” vì thường thường trở thành chủ nhân ông một nông trại. Sau cùng một loại thứ ba, gồm những người mà cuộc hồi hương đã được định với một nỗi buồn man mác. Trên tất cả tiếng nhạc rộn ràng của cuộc tiếp đón chính thức, họ thoáng thấy sự tầm thường mà họ sắp tìm lại được sau cuộc phiêu lưu vĩ đại. Một trong những người đó trình bày với tôi những cảm nghĩ của anh:

– Trong năm năm trời, tôi đã làm không biết bao nhiêu nghề, từ nông trại đến nhà máy, qua các hầm mỏ, tài xế xe vận tải, và tôi cũng đã trở thành một tên bồi rượu tại một quán cà-phê trong làng. Tôi đã làm quen với người thuộc các chủng tộc khác, với các tập quán khác. Tôi đã thử vượt ngục ba lần và lần sau cùng đã đưa tôi đến Rawa Ruska, trại trừng giới ở Ba Lan, nhưng tôi hãnh diện là đã vượt qua mọi thử thách ở đó, vì tôi đã trở thành một người khác. Chiến tranh và các xáo trộn do nó gây nên đã làm tôi tin rằng xã hội rồi ra sẽ sụp đổ để nhường chỗ lại cho một thế giới trong đó con người muốn sáng tạo, muốn hành động, sẽ không còn phải sống khổ sở vì nguồn gốc xã hội nữa. Tuy nhiên căn cứ vào những điều mà viên Đại úy vừa giải thích với các anh, tôi thấy mình chỉ là một tên mơ mộng. Chiến tranh cũng giống như cơn bão tố trên biển cả. Nó tạo ra các thay đổi trên thượng tầng nhưng những người bé nhỏ vẫn tiếp tục sống ô nhục trong đáy biển. Sung sướng hơn nữa là nếu họ sống sót được từ lò sát sinh. Và bây giờ thì phải đi về, tôi không thể tin rằng, sau những gì tôi đã sống qua, tôi sẽ trở lại được với nghề cũ là công chức nhà bưu điện. Suốt ngày ngồi sau quầy lưới thép mắc cáo vây quanh, như một con vật tò mò ngơ ngác. Bụi bặm, giấy tờ, và sau cùng cuối tháng lãnh một số lương mà một kẻ khác có khi chỉ kiếm trong một ngày. Tôi cảm thấy có khả năng làm bất cứ việc gì để đừng trở lại thấy các thứ đó.

Chắc chắn tất cả những người giơ tay đáp lời kêu gọi của viên sĩ quan đều có một trong những lý do trên để lợi dụng một duyên cớ chính thức cho phép họ được ở lại Đức. Còn một yếu tố nữa là uy tín của bộ quân phục của kẻ thắng trận, và tất cả những lợi lộc của sự chiếm đóng trong một xứ mà dân chúng sẽ phải khúm núm quì gối đầu hàng.

Khi viên Đại úy biết cánh huống của chúng tôi, những người trốn thoát khỏi một trại tập trung, vì lẽ chúng tôi chỉ có năm người lạc lõng trong số đông, ông ta hấp tấp tiếp chúng tôi tại văn phòng đặt trong thành phố. Với một khổ người đẹp đẽ mà vẻ uy nghi lại được gia tăng thêm nhờ bộ quân phục, ông ta có vẻ độ chừng bốn mươi tuổi. Sau cùng, chúng tôi sắp nghe được tin tức về nước Pháp. Tuy nhiên, sau khi mời chúng tôi giải khát, và hút thuốc, ông ta bắt đầu bằng một cách khác:

– Các anh đã thấy tôi nói với bọn tù binh chiến tranh như thế nào chưa? Mặc dù chính phủ giao cho tôi làm việc đó nhưng tôi không phải là người mang vòng hoa đến cho chúng, khi trông thấy lũ trâu bò ấy, lũ người đôi khi còn ít đau khổ hơn thị dân ở Pháp, mà lại muốn đóng vai trò anh hùng dân tộc, tôi tức lộn gan. Những người vượt ngục hay những kẻ tìm cách vượt ngục, đó mới là những con người! Tất cả bọn còn lại đều là những tên bất tài vô tướng. Có lẽ tôi hơi quá cứng rắn, nhưng chính vì tôi nghĩ đến các anh, đến tất cả những người bị đầy đọa mà người ta chỉ gặp lại có một phần mười thôi, đến những anh hùng trong bóng tối của kháng chiến, đến những người tình nguyện chiến đấu ở Phi Châu, lúc đổ bộ, trong chiến dịch tái chiếm lãnh thổ Pháp quốc; tôi đoán chắc với các anh rằng lại Alsace, chúng ta phải trả giá đắt, thế mà chính chúng lại còn muốn được đón tiếp như những người tuẫn sanh. Tôi không chủ trương đến mức yêu cầu đưa tất cả bọn ra tòa án quân sự, theo luật chiến tranh, nhưng ít ra cũng phải biết xấu hổ để câm mồm lại và tỏ ra khiêm nhường hơn.

– Sự phán xét của anh cũng có phần nghiêm khắc quá, André nói, toàn thể nước Pháp đã bị cầm tù từ năm 1940 và người ta không thể trách mọi người sao không trốn thoát cả. Mặt khác, ngoài những người ở nông trại, những tù binh chiến tranh cũng đã chịu đựng nhiều khổ đau về phần họ, và tôi tin chắc rằng khi tất cả được hồi hương, họ sẽ gây nên một phong trào làm chuyển động toàn dân, bằng cách đòi xét xử những kẻ đã tạo ra sự thảm bại, nghĩa là những kẻ đã tạo ra các trại giam tù binh chiến tranh.

Đối với các lời sau cùng đó, một nu cười biện ra trên vẻ mặt của người đang thông báo tin tức về nước Pháp của chúng tôi, ông ta nói:

– Tôi hiểu các anh! hỡi vì các anh là cựu tù binh chiến tranh và hơn thế nữa là tù binh vượt ngục, chắc các anh hiểu rõ vấn đề hơn tôi, tuy nhiên các anh cho phép tôi được cười về điều mà tôi gọi là sự ngây thơ của các anh.

Và ông ta nói tiếp bằng một giọng sắc bén:

– Trước hết các anh nên biết rằng những kẻ chịu trách nhiệm về sự thảm bại của chúng ta không lo âu gì; trái lại họ đang từ từ chuẩn bị dư luận để trở lại cầm quyền. Và các anh sẽ thấy là tù binh chiến tranh sẽ bị lừa phỉnh cũng như các cựu chiến sĩ của trận thế chiến trước.

– Nhưng, còn Tướng de Gaulle đâu? – Marcel xen vào.

– À! người ta cũng không thể đòi hỏi ở ông ta tất cả mọi chuyện! Cứ cho rằng thì là nhờ hành động của ông ta, chúng ta được ở về phía thắng trận. Đấy cũng đã là quá vĩ đại rồi nếu không nói là chủ yếu. Phần còn lại, rõ ràng là việc chung của mọi người người. Và, nhân dịp được giải phóng, mọi người không thiếu sự phấn khởi. Ba-lê luôn luôn như vậy, đã chứng tỏ xứng đáng với lịch sử của nó lần nầy, không phải như ở các khu ngoại ô tất cả mọi người đều có thể nói rằng họ đã tham dự vào công cuộc giải phóng. Tôi đến đây ngày 25 tháng 8 với những đơn vị đầu tiên tiến vào thủ đô. Không thể nào tả lại cảm nghĩ của mình lúc ấy, nhưng tôi có thể đảm bảo rằng sự cao thượng đã được đạt đến. Trên các rào chắn mà đàn bà và trẻ con đã giúp để dựng nên, cả một dân tộc bị khích động vì đang tự do, đứng hoan hô chúng tôi, và xuyên qua đám đông đang rung động Vì sự hoan hỉ ấy, người ta thấy cả nước Pháp, bệnh hoạn và lạc lõng trong năm năm qua, sẵn sàng tiến lên con đường chính nghĩa. Và rồi còn phải nghĩ rằng tất cả mọi người không hề quan tâm gì đến việc con bệnh có bình phục hay không, vì thời kỳ ấy chỉ như là một ngọn lửa rơm. Những người ở Ba-lê đã trải qua một mùa đông rất nhọc nhằn, và có thể nói là đã có trẻ con chết vì lạnh giá. Vấn đề tiếp tế thực phẩm, tốt hơn là đừng nên nói đến, và tôi nghĩ rằng các anh hiểu là không nên đặt lòng tin quá đáng vào Đồng Minh nếu chúng ta muốn giữ độc lập. Những hứa hẹn được loan trên đài phát thanh trong những năm qua toàn là luận điệu tuyên truyền. Tôi lại mới trải qua tám ngày ở Ba-lê, đó là lần đầu tiên trở lại sau sáu tháng, khốn thay, tôi chẳng thấy có gì khá hơn. Tất cả đều trái ngược; chính quyền thì không ngừng kêu gọi làm việc và sản xuất, nhưng chính quyền chẳng có nêu gương tốt vào về phía mình. Chính quyền chỉ phác họa sơ về một kế hoạch thanh lọc, và những người làm việc liêm chính hiện nay không thể sống một cách đàng hoàng với đồng lương của mình. Tuy nhiên các lời tuyên bố hoa mỹ thì không thiếu. Một vài Bộ trưởng không ngừng nói về cái vĩ đại, cái sức mạnh của chúng ta, tuy nhiên lời nói cho sướng miệng ấy không che dấu được, tình trạng bệnh hoạn toàn diện đang ngự trị trên toàn lãnh thổ. Người ta có cảm tưởng rất rõ rệt rằng nước Pháp sau cuộc chiến tranh nầy, bị đặt trước cùng một số vấn đề đã từng làm cho nó bị phân hóa năm 1939.

Ông ta dừng lại sau những lời nói ấy, có vẻ đang suy nghĩ đến các điều để tâm sự khác, tuy nhiên sau cùng ông đứng dậy nói với chúng tôi với giọng vui vẻ, như để kết luận:

– Chắc tôi bắt đầu làm các anh buồn long vì các lời nghiêm trách của tôi quá! Hãy cùng nhau cạn một ly nữa, các anh còn trẻ và có một kinh nghiệm vĩ đại, hãy lợi dụng chúng! Suy cho cùng, chúng ta lại vẫn được tự do, và đó là điểm chánh.

Ngay đêm hôm có cuộc tiếp xúc đó, một toán tù đầy khác cũng được đưa đến trung tâm K… Có nhiều người Pháp đã chạy thoát khỏi một đoàn tù bị đưa vào rừng để tàn sát và những người Nga cùng trốn thoát từ trên cùng chuyến tàu với chúng tôi. Trong đó, tôi được gặp lại nhiều người quen cũ, đặc biệt là Vladimir. Cùng với vài người bạn, anh đã nhẩy một đêm trước chúng tôi, và cho đến khi gặp được chiến xa của đoàn quân giải phóng, anh cũng đã sống trong nỗi lo âu tương tự chúng tôi. Điều làm tôi hài lòng nhất đó là sau cùng tôi có thể chứng tỏ với anh, một cách khác hơn là bằng lời nói, lòng biết ơn của tôi đối với những sự giúp đỡ mà anh đã dành cho tôi trong quá khứ. Nhưng về một phương diện khác, tôi rất lấy làm tiếc rẻ vì cuộc gặp gỡ nầy, bởi vì nó là một cuộc gặp gỡ sau cùng trước khi chia tay vĩnh viễn.

Trên chuyến xe đưa tôi về Hanovre, anh đến nói với tôi lời vĩnh biệt, và nhìn Katia khóc nức nở, tôi có cảm nghĩ rằng mình sắp xa rời cùng một lúc, một tình yêu và một tình bạn không thể thay thế được. Tôi cố gắng cười vui để khỏi phải khóc theo, tuy nhiên nước mắt tôi cũng chực trào ra khi đoàn xe bắt đầu chuyển bánh. Trên con đường trắng xóa, viền hai bên bởi hai hàng cây phong sáng bạc, bóng dáng họ đang đưa tay vẫy tôi để chào vĩnh biệt, nhỏ dần, nhỏ dần cho đến khi trở thành hai chấm đen và cuối cùng biến mất sau đám bụi mù trời. Trong tiếng ồn ào của đoàn xe lúc chuyển bánh, tôi còn nghe Vladimir la lớn; “Đừng có quên… Tachkent… 1 vùng Trung Á…anh sẽ gặp lại tôi ở đó…”

——————————–

1Một thị trấn nhỏ vừa bị hủy diệt trong một trận động đất mới đây.

Một trời một biển

vietmessenger.com

Nguyễn Tấn Hưng

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

11. Mộng du

Câu lạc bộ sinh viên sĩ quan chiều nay, bỗng dưng đông nghẹt khách. Làm như đang có lễ nhận “bố con” không bằng (sau thời gian huấn nhục, theo truyền thống, mỗi sinh viên đàn anh đều được rút thăm và nhận một sinh viên đàn em làm con và rồi bố phải làm tiệc đãi con). Khắp các mặt bàn đầy ắp thức ăn cùng tiếng vui đùa ỏm tỏi, ồn ào. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ hơn một chút, thì quanh đi quẩn lại cũng chỉ chừng ấy những bộ mặt quen thuộc.

Thứ nhứt là đám giàu sang, con ông cháu cha, ỷ mình tiền xài không hết vẫn thường xuyên chê cơm nhà bàn, sáng trưa chiều bò lên đây đóng chốt. Mà thiệt, chẳng biết nói sao khác, dường như cơm phạn xá không có một chút hương vị nào hết. Cho nên bị chê là phải! Mặc dù rau cải, thịt cá mua về hằng ngày vẫn tươi tốt, vẫn đúng tiêu chuẩn ấn định. Sinh viên kiểm thực, đàn anh lẫn đàn em, đều được bộ chỉ huy tiểu đoàn cắt cử đi theo xe cam-nhông ra chợ mỗi sáng kia mà! Những sinh viên này có quyền từ chối, không ký vào biên bản nhận hàng nếu nhà thầu vô tình cung cấp thịt trâu thay cho thịt bò, cá mối ươn thay cho cá chuồn ngáp ngáp chẳng hạn. Bắp cải, cà rốt, khoai tây nữa, bảo đảm không ai nỡ mang về trường cho bạn bè mình thưởng thức những thứ héo úa tàn phai, đổi màu, thiếu cân thiếu ký, thiếu ngày thiếu tháng… Tóm lại, có lẽ chỉ vì cách nấu bằng chảo đụng mà hương vị nó mất đi chăng?

Thứ hai là đám đánh bóng chuyền ăn cơm dĩa. Thắng được ăn, lẽ đương nhiên, mà thua cũng không mất phần. Cơm sườn, chưa đem lên đã nghe mùi thịt cháy thơm phức. Cơm gà, với nguyên cái đùi óng ánh mỡ tươm ra dưới lớp da vàng ngậy, xắt từng lát mỏng. Vài miếng dưa leo, vài lá xà lách cùng nước mắm pha, có điểm những cọng củ cải trắng hay cà rốt đỏ bằm nhuyễn làm duyên. Thêm một ly trà đá chanh đường thì đủ bộ, ừm… Và biết đâu trong dĩa cơm đó còn có chút chút hơi hướm gì gì của em, à không, của hai chị em con bà chủ câu lạc bộ nữa chớ! Vì nếu không đo bàn tay em Nguyệt vun xới thì ít ra cũng còn có bàn tay em Nga mang tới tận bàn.

Thông thường, Tần vẫn hay là người của nhóm thứ hai. Vì Tần biết mình nắm chắc phần thắng trong tay khi cặp với Trí “Voi”, cho dù phải chấp bên kia lưới có đủ sáu mạng chẵn chòi đi nữa. Cũng có đôi lần thua, hiển nhiên, chạy trời không khỏi nắng khi nhảy vào bất cứ cuộc chơi nào. Nhưng bữa nay Tần chung vui với nhóm thứ ba, nhóm chỉ hay ăn nhậu thôi chớ chẳng có gì ghê gớm, gồ ghề hết.

Ðồ nhắm hôm nay gồm một con mực nang thật lớn, năm bảy con ghẹ và một con cá khác lạ mà bọn Tần vừa săn được ở bãi biển trước cổng trường hồi xế chiều. Con mực nang do công lao của Thắng. Con cá hình lục lăng, góc cạnh nhô lên đàng hoàng trông như trái mướp khía, không biết phải gọi tên nó là cá gì, thì do tài nghệ của Tần. Còn mớ ghẹ là của chung. Những đứa không bỏ công đi kiếm mồi thì lo rượu. Câu lạc bộ xào nấu giúp để bán bia. Rõ ràng đề huề cả làng, ai cũng có những niềm vui riêng, những lợi lộc riêng cần phải hưởng. Với bọn Tần, lắm khi phải… tận hưởng đến mức bò lăn bò càng!

Dĩa mực xào cần tàu, cà chua, hành lá thơm phưng phức, điếc mũi được đem lên trước tiên. Con mực này coi bộ trọng tuổi, miếng thịt dầy cả chóng, có đến hai phân tây hơn, trắng hếu. Thành ngồi phía ngoài đỡ lấy dĩa mực to tướng, cười hề hề, tán nhẹ:

– Món ăn nào có bàn tay của cô Nga nhúng vô đều trông mát mắt hết, phải hông cô?

Nga mỉm cười, lễ phép:

– Dạ, đâu dám!

Nhiệm vụ chính của cô chị là ngồi thâu tiền, trong khi cô em chịu phần hơi lép vế hơn một chút, là… chạy bàn. Mặc dầu có mướn thêm người làm, nhưng những lúc rảnh rỗi cả hai chị em vẫn thường xuống bếp phụ giúp mẹ nấu nướng, dọn dẹp. Nguyệt, khoảng 17 tuổi, đang hồi trổ mã, trong khi Nga, khoảng 15 tuổi, trông còn con nít trân. Cả hai đều có dáng vóc mảnh mai, cao ráo. Thêm nước da sáng sủa và khuôn mặt trứng ngỗng có duyên ngầm. Bởi hai nàng vẫn chưa là những đóa hoa nở rộ, cho nên phần lớn các sinh viên sĩ quan vẫn hay coi như em, tuy cũng có một vài tên theo ráo riết, cây si trồng ngay bên quầy tính tiền ngày một lớn, một sum xuê. Nhưng chưa chắc gì trồng cây si thật lớn mà lọt được vào mắt xanh đâu nghen. Lắm khi điều kiện để lọt vào mắt xanh chỉ là duyên may đưa đẩy. Và Tần đã có cái duyên may kỳ cục đó.

Số là ngày nào Tần ba gai, bị sĩ quan tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn sinh viên sĩ quan, Hải quân đại úy Nguyễn Biển, phạt phải đứng thao diễn nghỉ ở ngã tư Trần Hưng Ðạo, 24 trên 24. Nói 24 trên 24 thì cũng hơi quá, chỉ từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn thôi. Cho hợp với khoa hàng hải thiên văn, thường phải đo hướng độ sao trong giờ nhá nhem, chạng vạng. Khỏi cần để tâm đến bài vở, học hành, thực tập liên tiếp mấy ngày luôn. Chẳng biết quan trên thù hận cái gì đây vì cái hình phạt kể ra cũng hơi quái đản. Nhưng có lẽ cũng nhờ cái quái đản đó mà Tần đã nhảy xổm vào lòng con ngươi xanh dờn của người đẹp. Vì Nguyệt đã cầm lòng không đậu với cái nắng chói chang, đổ lửa ngoài trời trong tư thế thao diễn nghỉ của Tần. Cho nên nàng phải từng lúc, từng lúc bưng nước ra cho Tần uống lấy sức. Tình thương dễ dàng nẩy nở qua những lời cảm ơn, thăm hỏi, có phải vậy không?

Nhưng tánh của Tần chẳng muốn nổi bật giữa đám đông, cho nên sau đó chàng từ từ rút lui, không muốn lợi dụng tấm chân tình mà Nguyệt đã dành cho chàng. Chỉ xã giao qua lại, ỡm ờ, cà lơ phất phơ vậy thôi. Hãy để cho nàng có cơ hội chọn lựa người khác, Tần nghĩ thầm. Hàng ngày, đối diện với hai ba trăm quan tàu, lao nhao như một bầy vịt hãng, tuy hơi khó lựa nhưng trước sau gì rồi nàng cũng sẽ tìm được một người vừa ý, xứng đáng mà thôi.

Nga vừa đi khỏi, Thắng liền che miệng nói:

– Ê, bữa nay thằng Thành nó định kêu thằng Tần bằng anh tụi mầy, nó đang đòi chèo mũi đó!

Ðức chận họng Thắng ngay:

– Kêu thằng Tần hay kêu mầy bằng anh, hả? Chuyện này chắc còn phải điều tra lại! Tao coi mòi chính mầy cũng có tên trong danh sách chạy đua nước rút nữa thì phải.

Thắng nghiêm chỉnh đính chính:

– Vừa phải thôi, Ðức! Mầy cũng biết, xin lỗi mầy nghen, đất Nha Trang này không phải là đất dụng võ của tao!

Có thiệt như vậy không đây? Tần thăm dò bạn:

– Chớ còn con Thảo ở ngoài chợ Phước Hải của mầy thì sao? Cha, dạo này coi bộ chung tình với người em “cư xá Lữ Gia” dữ ha…

Dĩa mực xào vơi dần, cạn nhanh trong nháy mắt vì những đôi đũa dài chôm chĩa lia chia như những con cò mổ tép. Toàn là dân “phá mồi” với lại “hũ chìm” không thì phải biết! Phá mồi đi trước và hũ chìm theo sau, giai đoạn nào cũng quyết liệt khẩn trương hết. Ðớp nhanh, uống mạnh và đi bờ… khỏe là quan niệm sống của lính biển ta! Ý là rượu bất khả ép mà buổi tiệc nào cũng vậy, vỏ chai không chất đầy la liệt trong góc tường trước khi tàn cuộc. Nhưng, những lần họp bạn chung vui như vầy lại càng ngày càng ít khi xảy ra mới kỳ. Bởi lẽ mỗi đứa hình như đã dần dà thay đổi theo một chiều hướng hoạt động riêng, một môi trường riêng, một vùng trời riêng, Tần nghĩ.

Riêng phần Ðức, một trong những “thanh niên Khánh Hòa,” thì đã có nơi có chỗ, yên bề gia thất từ lâu rồi. Anh chàng được coi như là một trong những đứa lập gia đình sớm nhứt của khóa, những đứa có vợ mà còn đi… học. Ðúng là hỏi vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha . Và đôi uyên ương Ðức-Hạnh xem ra cũng tràn trề hạnh phúc!

Số phận Tần có phần đặc biệt hơn, vì ngày nào “ba cô đội gạo xuống trường, một cô yếm thắm lại… đi thương anh Tần,” một trong ba chàng “ngự lâm pháo thủ” của Ðệ nhị Hải sư. Bởi vậy ảnh hưởng của Hiền và gia đình nàng đối với Tần rất lớn. Giờ giấc của Tần dành cho bạn bè hầu như lúc nào cũng thiếu hụt. Chàng tự hiểu như vậy mà cũng chẳng biết làm sao hơn.

Với Thành, bóp kèn qua mặt Tần khá xa trong những liên hệ gái trai, càng lúc càng đi sâu vào chuyện tình tay ba, với Trâm ở Qui Nhơn và Oanh ở Sài Gòn. Kể từ ngày gặp nhau trong chuyến đi thực tập… lịch sử, với đội hùng binh thuộc nhóm quan tàu đã dám hiên ngang tấn công và xâm lăng đất lành sư phạm, Trâm vẫn thường xuyên vào Nha Trang thăm Thành. Coi như mỗi tháng một lần. Trong khi đó, Oanh chỉ dừng lại thành phố thùy dương theo tính cách không định kỳ, mà tùy thuộc vào những chuyến bay. Vì nàng là một chiêu đãi viên hàng không của hãng Air Con Rồng. Có lẽ Thành đã dành cảm tình của mình cho Oanh nhiều hơn, bởi Oanh sinh trưởng ở Cần Thơ, cùng quê quán và đã có lần cùng học một lớp với Thành. Hai người tình cờ mới gặp lại nhau đây thôi và nơi xứ lạ quê người, bạn bè kể như bồ bịch. Rồi bồ cũ không rủ cũng tới như người xưa thường nói. Với lại, tình yêu thường dễ có môi trường để sinh sôi, nẩy nở hơn một khi vật chất được cung phụng đầy đủ hoặc đôi khi… quá mức. Và dĩ nhiên lương chiêu đãi viên hàng không của Oanh bắt buộc phải nhiều hơn lương cô giáo làng của Trâm rồi. Sướng thay cho những kẻ có số đào hoa, đào mỏ!

Tuy nhiên, cũng khổ thay cho những người thường hay suy tư về số phần của quê hương, đất mẹ như Thành. Chàng chẳng hiểu vì lý do gì mà Việt Nam ta lại rơi vào trường hợp chia đôi đất nước như hai nước bạn, Ðức và Triều Tiên. Vì ý thức hệ quốc gia, cộng sản hay chỉ là vì sự áp đặt của những cường quốc ngoại bang? Tại sao Miên, Lào, Thái, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân… đều dành được độc lập sau thế chiến thứ hai? Tại vì ý đồ ngoan cố của thực dân phong kiến hay chỉ tại vì các tầng lớp lãnh đạo của mình bất tài? Người đời lại chẳng thường nói: Nước Cao Miên có hết thảy sáu triệu người ngu, duy chỉ có một người khôn mà được việc; trong khi nước Việt Nam mình có cả thảy gần bốn chục triệu người khôn, duy chỉ vì có hai người ngu mà hỏng hết mọi đường! Ðám bạn chàng, hầu hết như chàng biết, đều không hề coi Việt cộng là kẻ thù không đội trời chung, bất cộng đái thiên. Mặc dầu không một gia đình nào tại miền Nam mà lại không bị chút ít tì vết do bọn Việt cộng gây nên. Chàng không tài nào hiểu nổi! Nhưng, kẻ thù của người Việt Nam chắc chắn không phải là người Việt Nam, chàng vẫn hằng tâm khẳng định như vậy! Chính vì thế, nhiều lần chàng cảm thấy hết sức hoang mang đối với cuộc đời trong quân ngũ, để rồi chàng sống như thế hệ trang lứa của chàng theo kiểu ai làm sao thì mình làm như vậy cho có lệ thế thôi!

Chỉ có Thắng là hơi khác thường một chút. Tuy ngoài miệng hơi bô lô ba loa, ấy mà hơn ai hết, trong lòng chàng luôn luôn giữ một dạ thủy chung với người tình riêng. Chính Tần cũng không ngờ rằng Thắng yêu Kim, người em “cư xá Lữ Gia,” ghê gớm đến thế. Hình như, trong tình yêu, nếu có điều gì càng trắc trở thì cùng lúc, cũng tao thêm niềm tin càng vững mạnh cho hai kẻ yêu nhau. Trắc trở của Thắng và Kim chỉ là trắc trở gia đình, chuyện môn đăng hộ đối thường tình vẫn còn xảy ra hà rầm ở thời đại văn minh, tân tiến này…

Màn đêm đã xuống hẳn, bóng tối đã bao trùm cảnh vật, cỏ cây. Bên ngoài, đèn đường đã được thắp sáng khắp mọi nơi, kể cả hàng rào bao quanh vòng đai phòng thủ của quân trường. Mang theo tiếng sóng ì ầm, gió từ ngoài khơi thổi qua những vuông cửa sổ, phả vào người mát rượi… Dĩa ghẹ xào chua mặn và con cá lục lăng đút lò, nằm gọn gàng trong cái dĩa hột xoài cho phải phép, được tiếp tục mang ra. Thành lại ngước mắt lên, tán tỉnh:

– Cô Nga nè, tôi thấy cô Nguyệt coi bộ ăn hiếp cô dữ quá đó nghen! Ai đời, ỷ mình được làm cái chức chị có tí xíu vậy mà sai cô chạy có cờ! Trong khi đó, cô coi kìa, cổ ngồi không dũa móng tay ở quầy tính tiền, trông ung dung nhàn hạ hết sức!

– Dạ, đâu có ai sai bảo gì em đâu anh! Chẳng qua, hễ người nào đang bồng em thì khỏi giã gạo đó thôi!

Trời, bữa nay cô Nga trả lời coi bộ điệu nghệ quá ta, Tần khen thầm! Rồi một ý nghĩ lóe lên, chàng lại chêm vào:

– Ồ, không phải vậy! Ý của anh Thành muốn nói là nếu cô cần anh Thành chạy bàn giúp một tay thì anh ấy sẽ vui mừng nhảy ra ngay. Cho cô nghỉ xả hơi, đỡ mệt một chút vậy mà! Anh Thành thấy cô chạy tới chạy lui hoài ảnh cầm lòng không đậu đó cô Nga à!

– Dạ, em không dám!

Thắng cười:

– Thôi, kể như mầy rớt đài kỳ này rồi đó, Thành! Cô Nga đã nói… “em không dám,” nghe chưa?

Chẳng ai buồn nói thêm điều gì nữa, có lẽ vì đang còn nhiều chuyện quan trọng khác phải làm. Mà đúng vậy, chờ cho Nga đi khỏi, Thắng liền đặt vấn đề ngay:

– Ê, nếu thằng nào sợ ăn con cá quái dị này rồi câm bất tử thì cứ vui lòng, tự nhiên lên tiếng nghen! Ðặng tao xin chia buồn, cảm ơn trước, vì tao phải ăn nó… để mà sống!

Ðức thọc đôi đũa gỡ lớp da cháy khét bên ngoài, trả lời Thắng:

– Thôi đi, đừng có làm bộ nói tránh! Sao không nói cái bản mặt của mầy sống để mà ăn… món ngon vật lạ, hả? Con cá này chưa biết có phải là món ngon hay không nhưng kể ra cũng là một vật lạ đây! Tại vì nó không giống một con nào nếu đem so với mấy trăm con đang nằm trong ve keo ngâm rượu ở dưới Hải học viện hết, đồng ý không? Tao thấy mầy coi bộ chắc cũng chẳng khác gì Tề Tuyên Vương nghen Thắng, cái thằng cha đòi ăn món “gân gà” trước khi chết đó.

Thắng quạt trở lại liền:

– Ðúng là cái thằng ăn ngược nói ngạo! Mình nói ăn để mà sống mà nó lại đem so sánh với thằng cha ăn để mà chết! Ê, mà thịt con cá này coi bộ ngon à nha, ngon hơn thịt cá nóc của thằng Thành bắn lần rồi là cái chắc…

Ðang rỉa thịt nửa mình con ghẹ, món ruột, Tần xen vào:

– Ê, nếu ngon thì cũng phải chậm chậm chờ tao với, mậy! Phải chừa cho nhà thiện xạ thân chủ của mầy một miếng chớ!

– Có ngay! Có gì tụi mình sẽ đi cùng xuồng… ý quên, cùng tàu xuống âm phủ, cho Diêm vương dễ nhận diện, mậy.

Thành “suỵt, suỵt” trước khi nói:

– Nhỏ nhỏ thôi tụi mầy! Không sợ đám đàn em phía bên kia bàn, tụi nó nghe được cười cho thúi đầu à! Thiệt, miếng ăn là miếng tồi tàn …

Ðức bỏ đũa xuống bàn, ngưng ngang, cười hề hề:

– Cái thằng làm mình mất trớn, mậy! Ðó, tao để cho tụi mầy ăn đó, ăn cho nhiều ỉa lớn đống có con chó nó thương! Tao bây giờ chỉ nhậu thôi! Vô mầy, Thắng!

Cụng ly với Ðức, Thắng chửi thề:

– Ðù me, chớ không phải no cành hông rồi! Tao chán mầy quá! Vô!

Vô! Gì chớ chuyện “vô, vô” thì dễ quá đối với các quan tàu ta, vì phần lớn và nhất là bộ ba lục tỉnh của Tần, đều có tửu lượng đáng kể. Tần uống vô một chút thì mặt mày đỏ như má hồng Ðà lạt, trong khi mặt Thành xanh lại và mặt Thắng đen thêm. Còn mặt Ðức thì thuộc loại đau gan, tái tái vàng vàng! Nhưng chẳng mấy khi anh chàng chịu nhập bầy đi chơi chung với bọn Tần. Bao giờ cũng có những chuyện riêng tư nào đó ngoài Nha Trang cần phải làm. Bữa nay chắc là trời sắp mưa, nên mới không ngại ngùng bỏ công lê gót lên đây, tham gia trận chiến tàn sát mực, cá, cua… hi hữu này.

Nam vô tửu như kỳ vô phong, Tần ngẫm nghĩ lại người xưa nói đúng! Làm trai mà không biết hút thuốc, uống rượu, dan díu với đàn bà, những… tứ đổ tường nói chung, thì chẳng khác chi là một thứ… gà trống không biết gáy! Rượu uống để mua vui mà đôi lúc cũng để giải sầu cho những ai đang tự coi mình là những lữ khách tha hương, thực sự đang sống nơi xứ lạ quê người. Như bọn Tần đây chẳng hạn. Kẹt một nỗi, hình như không có cô nương nào chịu gá nghĩa tào khang với mấy tên đệ tử của Lưu Linh hết, mới chết. Họa hoằn lắm mới có một hai nàng trên cõi đời này thiệt tình muốn đốt than nướng cá cho vàng, lấy tiền mua rượu cho chàng uống chơi. Hoặc thích sống với cái cảnh có thằng chồng say như trong chay ngoài bội, ngó vô nhà như hội Tầm vu … Cái gì là hội Tầm vu? Tên một quận lỵ thuộc tỉnh Long An! Phải chăng là cái hội bàn tròn mà bọn Tần đang ngất ngưởng? Chàng mỉm cười với khám phá mới của chính mình! Ðó là chưa nhắc đến chuyện có thằng chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ, ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh …

Rồi rượu nào uống vào mà lại chẳng say! Nhưng, mỗi người thường hay say một cách! Ngay cả trời với đất cũng vậy, đất say đất cũng lăn quay, trời say mặt cũng đỏ gay ai cười . Với bọn Tần thì có thằng “rượu vào thì lời ra” hay nói cho đẹp đẽ hơn là “nhả ngọc phun châu.” Có đứa lại nổi hứng “ngâm thơ, nói lối” hay nói đẹp đẽ hơn là “xuất khẩu thành thơ.” Còn có tên thì… một ly nhâm nhi tình bạn, hai ly uống cạn lòng sầu, ba ly mũi chảy tới râu, bốn ly ngồi đâu gục đó, năm ly cho chó ăn chè, sáu ly vợ đè cạo gió …

Việc gì chớ vấn đề “vợ đè cạo gió” thì có lẽ chỉ có Ðức… vũ sư nhà ta là thấm thía sự đời. Bọn tam xên Thắng, Tần và Thành thì chưa được những cơ hội vàng son đó. Cùng lắm thì chỉ được em, người đẹp, người tình riêng… cạo gió mà thôi. Bề nào, chắc hẳn phải khác với vợ hiền! Nhưng, được một điểm là bọn Tần không mấy khi cho chó ăn chè. Hễ thấy sần sần, ngà ngà say, chân nai đá chân xiêu thì tự biết với nhau, kiếm đường rút lui.

Tần có tật hễ uống rượu say thì hay tìm chỗ nằm vùi ngủ một giấc, cho nên lần này cũng vậy, lên tiếng trước:

– Thôi về ngủ tụi mầy, tao đã rồi, mai còn đi học nữa!

Thắng tán đồng:

– Ừa, về thôi… Vô, vô hết cái này rồi đi…

Không mấy chốc tất cả rời bàn, lững thững tiến đến quầy tính tiền. Bổn phận ai người nấy lo, đứa thì trả tiền mặt, thằng thì ghi sổ. Tần nhắn nhủ:

– Cô Nguyệt nè, tôi nói cho cô nghe điều này nhưng cô đừng bảo tôi say nghen! Rằng thì là… rất khác với ngày nào cô bưng nước cho tôi uống, dạo “ni” trông cô đẹp hẳn ra! Hèn gì tôi thấy đám cây si mọc xung quanh đây càng ngày càng rậm!

Nguyệt đẩy đưa:

– Thôi anh Tần ơi, anh đừng có chọc quê Nguyệt hoài! Có ai ngó ngàng gì đến Nguyệt đâu mà si với lại không si! Lâu quá rồi sao chẳng thấy anh Tần đụng độ hay tổ chức một buổi tiệc nào lớn hết ha?

Chu choa, lại dở giọng câu khách nữa rồi, khổ quá! Nhưng Thành đã nói chữa cho Tần:

– Chớ bữa tiệc hôm nay không phải là đụng độ lớn hay sao cô Nguyệt? Vậy mà tôi cứ tưởng hễ bữa tiệc nào có tôi tham gia thì đều là những bữa tiệc lớn hết đó chớ!

Nguyệt liếc Thành một cái thật bén…

Trời bên ngoài mát mẻ lạ thường. Tiếng sóng vỗ bờ nghe rõ hơn, gần lại. Ở phía đó, lấp lánh những đèn ghe câu đêm, ẩn hiện như những vì sao sáng trên cao. Ánh trăng non nhẹ nhàng, bàng bạc khắp mọi nơi làm Tần say sưa ngửa mặt, thở một hơi dài khoan khoái. Mùi biển mặn dâng lên tận mũi, mon men chui vào lồng ngực…

Cẩn thận bước xuống mấy bậc tam cấp, cả bọn hướng về ngã tư Trần Hưng Ðạo, giao điểm của hai con đường cát đất, lót vỉ sắt do con cái Ðệ nhị Hải sư mới đắp sau thời gian huấn nhục… Bỗng, Tần kéo áo giữ Thắng lại! Chờ cho Ðức và Thành đi trước một khoảng khá xa, Tần hỏi nhỏ:

– Ê, trước khi vào tiệc mầy nói là mầy có một chuyện bí mật muốn tiết lộ cho tao biết, rồi sao, bây giờ mầy có thể bật mí được chưa?

Thắng đi chậm lại, ngần ngừ:

– Mà thiệt mầy có muốn nghe hay không đây chớ? Chuyện buồn chớ không phải chuyện vui đâu nghen, tao chỉ sợ làm mầy mất vui đêm nay thôi!

– Ối, hết vui thì tới buồn, hết buồn thì lại vui, đời mà mậy, lo gì!

– Tao hỏi thiệt mầy nghen, hổm rày mầy có ra nhà thăm con Hiền không?

– Không! Mấy tuần nay bận học bài thi thấy mẹ luôn, tao đâu có thì giờ mà nghĩ đến chuyện bồ bịch vớ vẩn đó! Coi vậy chớ thằng Tần này cũng biết sợ trợt vỏ chuối, Thắng ơi! Nguy hiểm lắm! Rớt vì kỷ luật thì không nói chi, chớ rớt vì bài vở thì hóa ra mình lại… tệ quá sao?

– Nếu vậy thì mầy cũng nên bình tĩnh, chuẩn bị tinh thần để mà nghe tao nói đây! Vả lại biết đâu cũng có lợi cho mầy, biết người biết ta, đặng mà đối phó với tình thế mới! Tại vì tao gặp con Hiền của mầy đi phố với thằng khứa lão! Nói cho ngay, thằng khứa này cũng không đến nỗi lão cho lắm, khứa sồn sồn thì đúng hơn.

Chuyện gì nữa đây? Không ai hiểu rõ Hiền hơn Tần, người trong cuộc mà lị! Tuy trong lòng có hơi xốn xang, chột dạ nhưng Tần cũng giả bộ điềm nhiên:

– Ðiều đó đâu có gì quan trọng cho lắm! Biết đâu nó đi chơi với chú bác hay anh em bà con gì đó của nó, mình đâu làm sao trách phiền người đẹp khơi khơi cho được, mậy!

– Giỡn hoài Tần! Nếu là chú bác hay anh em thì làm gì có vụ cặp kè, ôm eo ếch như người tình muôn thuở, ngay giữa thanh thiên bạch nhật như vậy chớ?

– Thiệt hôn đó, mậy? Hay là mầy mắt nhắm mắt mở rồi nhìn lầm sang cặp nào, cô cậu nào, hả? Mà mầy gặp tụi nó ở đâu?

– Ở ngay trước cửa chợ Ðầm! Mới ràng ràng sáng ngày hôm qua đây thôi, trong lúc tao đi kiểm thực! Thì cũng cái áo dài màu xanh nước biển, thêu bông trắng mà dạo trước nó mặc trong buổi dẫn tụi mình về Thành, giới thiệu với má nó đó, mầy nhớ không? Thành thử, đâu làm sao mà tao nhìn lầm cho được! Nhưng thôi, nói như vậy chớ tin hay không thì tùy mầy!

Tần bâng khuâng, ngậm ngùi:

– Thiệt vậy à!

Thấy bạn ngả theo ý của mình, Thắng thành thật khuyên lơn:

– Thôi, để đó rồi từ từ hẵng tính! Mầy về phòng ngủ trước đi, tao mò lên thư viện có chút việc…

Tần về phòng, để nguyên quần áo, giày vớ nhảy phóc lên giường bố. Hai tay chới với trên không, quờ quạng kéo mí mùng bỏ xuống hững hờ bên mình. Hai mắt mở thao láo nhìn bóng đêm, nghĩ ngợi mông lung! Có lẽ Thắng nói thật, vì lắm lúc Tần cảm thấy không thể hiểu được Hiền…

Nhớ ngày nào mới quen nhau đôi ba tháng, trong đêm Tần tập tễnh nhảy rào lần đầu tiên, chỉ vì duyên tình ra phố thăm người mình yêu, chàng đã hành động vụng về ngay từ phút đầu đến phút cuối. Vụng về ngay từ lời chào hỏi bối rối của Hiền khi ra mở cửa đón chàng:

– Ô, anh Tần, anh đi đâu giờ này?

– Thì ra đây thăm em chớ đi đâu nữa!

– Ủa, sao không nghe anh nói trước gì với em hết vậy…

– “Ði bờ lậu” ra đây mà nói trước, nói sau cái gì? Bộ em không thích anh dành cho em một sự gặp gỡ bất ngờ như vầy hay sao? Chị Diệu, anh Thiện và hai đứa nhóc đâu rồi mà nhà cửa gì… tối om om vậy?

Hiền vẫn còn vịn cánh cửa khép hờ, nửa muốn bật đèn phòng khách lên, nhưng thôi. Rồi bằng một giọng thật ngỡ ngàng, nàng nói trong hơi thở:

– Không có ai ở nhà hết á! Ảnh chỉ vừa mới bồng hai đứa nhỏ đi ăn sinh nhật đằng nhà anh bạn của ảnh rồi! Anh không nói trước, em đâu có chuẩn bị gì kịp cho…

Tiếng nói của Hiền tắt nghẽn trong nụ hôn bất chợt nhưng tới tấp, vồn vã từ phía Tần. Chàng nghe tiếng tim nàng lẫn tim chàng đập mạnh trong lồng ngực. Bóng tối đã đồng lõa với đam mê. Chỉ cần bao nhiêu đó thôi, “không có ai ở nhà hết á” là đủ rồi. Hiền muốn mời mọc hay xua đuổi chàng bằng câu nói đó chớ? Chàng không cần biết! Chàng chỉ biết mình đang được ôm người tình mà chàng hằng mến thương, ấp ủ trong vòng tay! Nếu nàng càng dãy dụa thì chàng càng ghì siết chặt hơn… Ôi, người yêu bé bỏng của anh ơi, anh nhớ em muôn vàn, bằng mọi giá anh phải vượt suối băng ngàn tìm đến đây gặp em trong đêm nay. Anh không cần em phải chuẩn bị, sửa soạn cho anh một điều gì hết! Tần nhủ thầm…

Hiền bỗng dưng mềm nhũn trong tay Tần, nàng không còn mảy may một sức kháng cự nào trước cơn mê vũ bão, sảng khoái của yêu đương. Nàng để mặc cho chàng bồng nàng gọn ghẽ trên đôi tay rắn chắc, đầu nàng áp vào ngực chàng bên cạnh trái tim hừng hực bốc cao qua từng nhịp thở. Tần đưa chân khép trái cửa và đưa nàng vào phòng riêng gần như đã quen thuộc của hai đứa. Bóng đèn trái ớt cũng không làm căn phòng sáng hơn bên ngoài bao nhiêu. Chàng đặt nàng xuống giường, duỗi hai chân nàng thẳng ra, áp mình lên người nàng, cúi hôn… hai đầu lưỡi quyện vào nhau, quấn quít. Hai mắt nàng nhắm nghiền trong cảm giác đê mê, say sưa hưởng thụ…

Ðột nhiên, hai tay chàng buông lơi, vói lấy cái mền len trắng đục xếp trên đầu giường, xổ tung ra trải xuống nền gạch bông. Phải, cái giường cá nhân lò xo này nhỏ quá, không đủ chỗ cho hai đứa! Thêm cái gối nằm và cái gối ôm quăng bừa lên tấm mền mới trải cho có bạn! Chàng lại lòn tay bồng nàng bê xuống đất. Gối đầu lên cái gối ôm tròn, nàng không còn nghĩ suy, phó mặc cho tình thế đẩy đưa! Tần cũng vậy, chàng chưa biết phải làm gì nữa đây, trong tư thế… chủ động! Chàng lại cúi hôn và nàng hân hoan đón nhận. Từng khuy áo bật nút và, theo bản năng, bàn tay chàng ve vãn bờ vai trần, mơn mởn thịt da. Hương con gái ngào ngạt tỏa ra từ đôi ngực đào tơ, lồ lộ, không mặc áo sú-cheng. Nàng bất giác rùng mình, nổi da gà, khi những ngón tay chàng chạm vào đầu vú, phớt qua phớt lại… rồi nắn bóp, cương lên, săn gọn trong lòng bàn tay chàng. Nàng quằn quại, uốn cong người, ú ớ thành tiếng trong miệng chàng… nhưng rồi cũng tan loãng, chìm xuống trong men say dục vọng. Chàng mân mê vòng eo thon và bờ mông chắc nịch. Cả hai, chiếc quần lót và chiếc quần ngoài, cùng đi theo dấu tay chàng tuột lần xuống bên dưới. Rồi dừng lại ở ngọn đồi cỏ mượt, sắt se sợi vắn sợi dài, liễu rũ quanh khe… Nàng, theo phản xạ tự nhiên, giựt bắn người, tréo hai chân khép lại. Chàng từ tốn lòn bàn tay năm ngón thương yêu len qua vùng da thịt êm êm, thơm mát, trắng ngần… vạch ra, banh ra. Nàng lại nẩy người lên, ú ớ, khép lại. Chàng tiếp tục dở ngón thủ thuật, òn ĩ banh ra…, rộng hơn, rộng hơn nữa… rồi nằm đè lên người nàng. Trong hấp tấp, vụng về chàng loay hoay giơ từng cánh tay đơn trút bỏ chiến bào…

Nàng không một lời trong lúc giao hoan! Tuyệt nhiên, không một tiếng trong phút trao thân! Ðể rồi, sau đó, lã chã giọt châu! Như tiếc nuối, như hân hoan… Sao lạ vậy? Chàng không hiểu được và càng không thể nào hiểu được Hiền, người chàng yêu tha thiết, trong phút giây ngắn ngủi đó!

Có lẽ chàng đã vụng về, không biết mơn trớn người yêu của mình chăng? Ở phút ban đầu! Có lẽ chàng đã vụng về khi nghe nàng báo tin… có bầu? Sau đó không lâu! Có gì đâu, con em đẻ thì anh sẽ nuôi, đúng như lời chàng vô tư phát biểu! Có lẽ chàng đã vụng về khi nghe lời đề nghị của nàng rồi đồng ý đi mua và trao cho nàng viên “ô kim,” viên thuốc tễ đen thui đựng trong bọc sáp trắng hình tròn như quả địa cầu nho nhỏ! Rồi chàng cũng đã vụng về, mới gần đây thôi, khi nàng tỏ ý sẽ… bỏ rơi chàng! Quái lạ chưa? Chàng thách thức đó, làm đi! Chàng không hiểu được và càng không thể nào hiểu được Hiền, người chàng yêu tha thiết, ngay trong phút giây đen tối này đây! Một người con gái đã một lần trao thân, giao cuộc đời trong trắng của mình cho người tình, mà rồi lại dửng dưng… không còn thiết tha gì với người tình chung của mình nữa thì cuộc đời này còn nghĩa lý gì để chàng ngẫm suy đây chớ! Phải chăng chỉ vì câu nói thiết thực của chàng: Em hãy thủng thẳng chờ anh! Chờ anh, chờ đến bao giờ, chính Tần cũng chưa thể trả lời câu hỏi đó được! Hay là Hiền đã có cuộc tình duyên nào mới? Con cháu hay bà con xa gần gì đó với ông chủ nhà lầu bảy từng có thang máy đưa lên đưa xuống, Khách sạn Nha Trang, tiền rừng bạc biển chăng? Chàng cũng chỉ biết thở dài, chẳng biết nói sao!

Không thể để mất Hiền trong tầm tay! Không thể chần chờ được nữa, chàng phải tìm cho ra câu trả lời, ngay trong đêm nay! Chàng phải moi trái tim của Hiền ra và đem đặt dưới kính hiển vi. Xem coi thằng người ngợm mà Hiền đang để tâm đến nó giống con giáp nào? Cho dù giờ này chàng biết chẳng còn xe! Cho dù giờ này sẽ không ai cho chàng quá giang! Cho dù chàng sẽ đau đớn chạy bộ suốt đêm trường ra tận Nha Trang! Cho dù phải cam lòng dựng Hiền thức dậy trong đêm hôm khuya khoắt! Cho dù phải bị chị Diệu của nàng mắng chửi, rầy la! Nhảy rào! Chỉ còn một biện pháp duy nhất cho Tần. Chàng tự tin nơi mình và biết mình có lý do chính đáng! Chàng vén mùng nhảy tuột xuống đất, rời phòng, lững lờ đi về phía hàng rào trường Kỹ Thuật mờ mờ trong sương như kẻ mộng du…

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 25 Nov 2025

26. Ta phải sống

Tôi nói ngay, ông cụ tôi muốn nói là một giáo sư đại học của trưòng Luật Khoa Sàigòn năm xưa. Dường như ông dạy luật hiến pháp hay bang giao quốc tế gì đó. Tôi học ở một trường khác nên không rõ chính xác ông dạy môn gì.

Ngày Sàigòn lọt vào tay VC, ông phóng lên lầu và thủ kín trong phòng không dám ra đường. Ông vừa thù, vừa ghét, vừa kinh sơ cộng sản. Ông cứ than: “Trốn chạy chúng nó vô Nam giờ này chúng cũng mò đến tận nơi! Điệu này tôi chết mất!”. Hàng ngày, cứ mỗi lần ai gõ cửa nhà là ông lên ruột, máu ông cứ lên xuống kiểu đó từng ngày. Bà cụ, vợ ông, là người duy nhất trả lời tiếng gõ cửa, không có bà ở nhà, ai kêu cửa vỡ nhà, ông vẫn “tử thủ” trên lầu, không thèm xuống.

Hai ông bà sống hồi hộp từng ngày. Khi Sàigòn đổi tên ra thành Hồ, ông đóng cửa phòng chửi thề tùm lum. Ông nói với bà: “Dẹp cái radio giùm tôi, ném nó vào thùng rác cho tôi nhờ! Cứ nghe đài nhắc tới tên lão là tôi muốn điên lên!”

Thế nhưng trời còn thương ông, không để ông sống ở thành Hồ khi Sài Gòn thành địa ngục. Đứa con ông ở Canada bảo lãnh cho cả ông bà ra khỏi nước. Ông mừng như chết rồi sống lại. Nơi ông sống là thành phố Vancouver, Canada.

Tại thành phố này, tuổi già thần tiên của ông trôi qua theo năm tháng. Ông ít giao thiệp với ai. Thỉnh thoảng có vài học trò cũ mò đến thăm ông. Ông vẫn nhắc đến những năm dạy ở trường Luật như những kỷ niệm không quên, song hễ ai nói đến thành Hồ là ông bảo dẹp, “đừng nhắc đến cái lão khốn nạn tàn dân, hại nước đó!”

Ông cụ biết và quen thân tôi qua tờ Nguyệt San Việt Nam, đó là tờ báo ông chịu. Ông thường đến văn phòng bác sĩ gia đình để khám bệnh và lấy báo đọc. Có khi tôi đưa ông cụ về nhà từ phòng mạch ông bác sĩ, có khi tôi bốc ông giữa đường. Ông cụ thường than khi gặp tôi:

– Tôi năm nay gần 90 tuổi! Không biết chừng nào cộng sản đổ ở Việt Nam để tôi về gửi thân ở quê nhà! Anh viết báo, anh có đoán được chừng nào tụi nó đổ không?

– Cộng sản Việt Nam không biết chúng ăn cái chi mà sống dai như đỉa, con cũng mong nó chết sớm để con còn về thăm ông cụ, cũng gần bằng tuổi bác. Thôi thì bác ráng giữ sức khỏe. Bác thọ đến 95 là thấy được ngày tàn của cộng sản!

Mắt ông cụ sáng lên.

– Thật không?!

Ông cụ, cho tới ngày bóng xế, chân đi run run với cây gậy vẫn mong một ngày về lại quê hương không cộng sản. Ông thường nói với tôi là “còn cộng sản là tôi không về!” Ông giữ lời cho đến ngày hấp hối và ra đi trên đất khách, có điều là ông đã đi trước cộng sản.

Trước đây, ông và bà cụ có mua hai cuộc đất nhỏ ở Burnaby gần Vancouver làm nơi an nghỉ, nhưng trong phút lâm chung, ông cụ đổi ý trối lại:

– Bố không muốn chôn thân ở Canada. Khi bố mất, hoả táng bố bỏ tro vào lọ!

Mấy đứa con hỏi:

– Thế bố muốn đem tro bố về chôn ở quê mình phải không?

– Không! Không chôn ở đất Sài Gòn, cũng không chôn ở đất Hà Nội!

– Sao vậy bố?

– Vì đất nào cũng có Việt cộng!

– Thế tụi con đem tro bố vô chùa ở Việt Nam được không?

– Không!

– Sao vậy bố?

– Làm sao tụi con biết được đó không phải là chùa của mấy ông sư quốc doanh Việt cộng!

– Thì bố nói rõ ý bố. Khi bố mất, tụi con sẽ làm theo lời bố!

– Không chôn bố trên đất cộng sản chiếm, không đem tro bố vào chùa quốc doanh, về Việt Nam thuê ghe ra sông Lòng Tảo rải tro bố xuống nước…

Di chúc của ông được gia đình thực hiện trọn vẹn. Ông đã về lại quê hương, trong lòng nước, trong lòng sông, trong lòng biển. Từng hạt phấn tro tàn của thân xác ông không dính dáng gì tới thứ mà ông căm ghét. Lần ra đi này, cộng sản không thể theo ông.

Mấy ngày gần đây, một số bài viết liên quan tới cái chết và “di chúc” của tướng tình báo cộng sản Phạm Xuân An rằng “đừng chôn tôi gần cộng sản” như thể cuối đời Phạm Xuân Ẩn nhìn ra mặt thật của cộng sản. Nhưng nếu chôn Phạm Xuân Ẩn ở Việt Nam thì chỗ nào là chỗ không gần cộng sản? “Đừng chôn tôi gần cộng sản” chỉ là một lời bóng gió muộn màng của một người điệp viên thông minh nhưng chậm hiểu và ngu xuẩn. Ẩn đã thấy rõ mặt thật của cộng sản ngay từ 1975. Ẩn đã đưa vợ con qua Mỹ, rồi buộc vợ con trở về khi cộng sản ban hàm tướng cho ông ta. “Đừng chôn tôi gần cộng sản” chỉ là giọt nước nhạt trong biển nước mắt của muôn dân hai miền Nam Bắc dưới chế độ cộng sản, một thành tựu máu xương oan khuất mà Phạm Xuân Ấn đã đóng góp khi thở không khí tự do của những năm tháng ở Sài Gòn.

So về tiết tháo và con người, Phạm Xuân Ẩn khi từ bỏ cõi đời này, dù có hối tiếc về tội ác của mình, cũng không thể là kẻ có thể xách giép cho ông cụ gửi nắm tro tàn của mình trên dòng sông Lòng Tảo. Ông cụ “không chơi với cộng sản cho tới ngày qua thế giới bên kia” là giáo sư Lê Đình Chân của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn.

Gia đình giáo sư Lê Đình Chân không đăng cáo phó về sự ra đi của ông, chỉ muốn ông đi âm thầm. Tôi là người dọn phòng cho ông để trả phòng lại cho nhà nước. Ông để lại cho tôi hình ảnh một ông già bất khuất và không chấp nhận cộng sản cho tới ngày tàn hơi. Ông để lại cho tôi một đôi giầy vừa vặn chân tôi, đôi giầy mới toanh mà ông thường đi bộ từ đường Main lên dốc đồi Queen Elizabeth mỗi buổi sáng.

Phải gần 20 năm nữa tôi mới bằng cái tuổi ông ra đi. Không biết đôi giầy của ông để lại, tôi có theo ông tới cái tuổi đó hay không? Lạy Chúa, lạy Phật cho tôi được leo tới cái tuổi của ngày ông ra đi thì thế nào tôi cũng thấy được cái ngày cộng sản lăn quay ra chết!

Bài viết này viết để tưởng nhớ giáo sư Lê Đình Chân, và cũng xin coi đây là một thông báo đến những học trò của ông trên khắp thế giới chưa biết tin về sự ra đi của Thầy mình.

Web Vietland Feedback

1.Tạ Văn Chi

Posted: 2006/10/12 1:21 Updated: 2006/10/12 1:21 Re: Phạm Xuân Ân chỉ đáng xách dép …

Tạ Văn Chi tôi thú thật rất thích cái lối viết của anh Hải Triều, nó không có gì văn hoa bóng bẩy cũng không rườm rà lê thê. Lời văn giản dị và rất thật, đọc là hiểu được cái ý mà anh Hải Triều muốn tỏ bày.

Nhân đây, tôi cũng xin kể một câu chuyện tại tiểu bang Oklahoma, nơi tôi cư ngụ để nói lên tấm lòng của một đôi vợ chồng nhất định không về thăm Việt Nam chừng nào cái chế độ cộng sản còn đó. Hai vợ chồng tuổi đời không lớn lắm, trình độ học thức so với Gs Lê Đình Chân thua xa, qua Mỹ từ năm 1975. Hiện có cuộc sống rất thoải mái, thích giao du bạn bè… cở như anh Hải Triều chẳng hạn. Trong những lần chuyện trò, có người hỏi sao không thấy Anh về thăm VN, Anh chỉ cười không trả lời. Hỏi tiếp thế Chị có về VN lần nào chưa?, Anh trả lời Chị cũng không về.

Tạ Văn Chi miễn có ý kiến riêng, nhưng có ý kiến chung là nếu đại đa số người Việt hải ngoại mà giống như 2 vợ chồng này thì cái chế độ của cộng sản trong nước có còn tồn tại cho đến ngày hôm nay hay không?

2. Lê Thi

Posted: 2006/10/12 1:31 Updated: 2006/10/12 1:31 Re: Phạm Xuân Ân chỉ đáng xách dép cho một…

Tôi rất hân hạnh là học trò của giáo sư Lê Đình Chân. Giáo sư là một người chân thật và hiền lành nên hay bị sinh viên ghẹo phá. Có lần thi vấn đáp, giáo sư thường cho hàng chục sinh viên vào một lúc, rồi phát câu hỏi để trả lởi, có lẽ vì câu hỏi khó quá, nên thừa lúc giáo sư không chú ý, cả chục sinh viên đó ùa chạy ra khỏi phòng trốn mất, chờ buổi sau trở vào thi lại, thầy có nhớ ai là ai đâu. Nhưng sau này, thầy thu thẻ sinh viên, nên hết đường chạy. Được tin thầy đã ra đi tôi thật xót xa và hy vọng tới phiên trò ra đi thì VC đã sụp đổ rồi…

3. Băng Nhi.

Posted: 2006/10/12 3:05. updated: 2006/10/12 3:05 Re: Phạm Xuân An chỉ đáng xách dép cho một…

Phải nói là văn của ông Hải Triều rất thực, thực như con người của ông vậy. Trên Net gần đây đã có hằng loạt bài đánh phá cuộc đời của ông. Ngẫm nghĩ người lính già Hải Triều nầy đã một thời hy sinh đời trai trẻ của mình để đi bảo vệ cho một miền Nam Tự do. Bây giờ ông Hải Triều đã đến được đất Tự Do nhưng tâm vẫn nghĩ về những người lính VNCH, nghĩ đến những bạn chiến hữu của ông người còn, người mất…

Qua những công lao mà ông đã góp cái sức tàn của mình qua những tác phẩm “Các trận đánh không tên của QLVNCH” đấy là con người của Hải Triều mà tôi khâm phục. Những kẻ đánh phá ông cũng chẳng làm lung lay những ý nghĩ tốt đẹp của những người yêu mến ông. Những độc giả thầm lặng như tôi hôm nay xin tặng cho ông Hải Triều một đoá hoa hồng đẹp nhất.

Charlie ngày ấy & Charlie bây giờ

baotreonline.com

Trần Vũ

November 14th, 2025

Post by Sơn râu 24 Nov 2025

Kỳ 4 – Kỳ cuối

Tiểu đoàn 11 Nhảy dù khi xuống cao điểm Charlie quân số 489 binh sĩ, tính luôn 5 sĩ quan và 10 “lạc đà” cầm máy truyền tin của Liên toán Quan sát Pháo binh do Trung úy Lưu Văn Đúng làm trưởng toán. Mỗi đại đội không quá 120 lính, thêm Bộ Chỉ huy và toán Quân y.

Trong chiến sử Nhảy dù Việt Nam chưa tiểu đoàn nào thiệt hại nặng như Tiểu đoàn 11 Dù. Ngay tại Điện Biên Phủ, Tiểu đoàn 5 Nhảy dù Việt Nam với Đại úy Phạm Văn Phú thăng Tiểu đoàn phó, cấp số 642 binh sĩ khi nhảy xuống lòng chảo, lúc trao trả còn được 87 lính và sĩ quan, là sau gần hai tháng chiến đấu. Trên đỉnh Charlie sau hai tuần còn duy nhất 43 binh sĩ thoát về Võ Định. Thêm toán của Trung úy Nguyễn Văn Lập là 69 sống sót. Mức tử vong cao nhất, chỉ thấp hơn Tiểu đoàn 1 Nhảy dù Lê Dương cấp số 675 binh sĩ, sau mười ngày chưa đến 20 người về được Lạng Sơn trong trận Biên Giới 1950. Nhìn vào chi tiết tuy ít lính nhưng số sĩ quan của Tiểu đoàn 11 Nhảy dù hơn gấp đôi so với Tiểu đoàn 5 Nhảy dù ở Điện Biên Phủ (chỉ có 7 sĩ quan). Có nghĩa kỷ luật và chỉ huy ở Tiểu đoàn 11 Dù rất chặt chẽ.

Khác trong Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam, trận đánh chấm dứt khi Thiếu tá Lê Văn Mễ được trực thăng cứu thoát, hồi ký của Trung úy Nguyễn Văn Lập ghi lại gian truân của 26 binh sĩ Nhảy dù băng rừng về đến xã Diên Bình thuộc quận lỵ Dakto.

Sinh 1945, vào tháng 4-1972 Trung úy Nguyễn Văn Lập 27 tuổi là Tiền sát viên pháo binh của Tiểu đoàn 2 Pháo binh Dù  –  tăng phái cho Tiểu đoàn 1 Pháo binh Dù của Thiếu tá Bùi Đức Lạc và được cắt cử về Tiểu đoàn 11 Nhảy dù trên đỉnh Charlie cao 1050 mét.

Cựu Trung úy Nguyễn Văn Lập định cư tại Texas và qua đời ngày 7 tháng 12 năm 2024 tại Arlington vì tai nạn xe cộ. Thọ 79 tuổi.

Nguyễn Văn Lập

Ðến gần sáng thì ra đến bãi bốc giống như một cái thung lũng cạnh một con suối, đây là một khoảng trống đầy lau sậy, Tiểu đoàn 11 kiểm tra lại quân số và chia khu vực phòng thủ đợi trực thăng bốc về Võ Ðịnh. Tôi và đệ tử Hạnh được cắt lên slick trực thăng sau cùng của Ðại đội 114. Thông thường khi đi hành quân trực thăng vận, đề-lô phải nhảy theo toán đầu tiên và khi rút thì đi sau hết, để có thể gọi pháo binh bắn bất cứ lúc nào.

Ngày 15/4/1972, trời sáng dần, khi ánh nắng mặt trời đầu tiên trong ngày vừa sáng hẳn lên từ phương đông thì có tiếng trực thăng bay đến, dẫn đầu là hai chiếc Cobra và phía sau là một đoàn trực thăng UH1B của Mỹ, hai chiếc Cobra có trang bị rocket bay một vòng quanh bãi bốc quan sát, một trái khói màu vàng được thả ra đánh dấu chỗ trực thăng đáp xuống, chiếc UH1B thứ nhất vừa sà sà xuống mặt đất thì có tiếng đạn cối rơi xuống nổ ngay đúng bãi đáp rồi hằng chục tiếng pháo cối 82 ly tiếp tục rơi xuống, những chiếc trực thăng vội vàng bay thẳng lên không bốc được toán nào. Dứt loạt cối, Việt cộng từ hai bên triền đồi xuất hiện như mọi da đỏ dàn hàng ngang xung phong y hệt trong phim cao bồi Viễn Tây, vì đồi lau sậy thưa thớt nên rất dễ thấy chúng không thổi kèn xung phong mà vừa chạy, vừa bắn, vừa hô “hàng sống chống chết!”, “hàng sống chống chết!” vang trời. Tiểu đoàn 11 Dù đang bị nguyên một trung đoàn Việt cộng phục kích, trung đoàn này được lệnh đi đánh phi trường Phượng Hoàng đêm trước, khi Tiểu đoàn 11 Dù rút lui khỏi Charlie, chỉ huy của chúng đoán được ta sẽ bốc quân tại đây nên cho lệnh trung đoàn này lui trở lại để phục kích định hốt gọn 11 Dù, bọn chúng tưởng khi pháo ở giữa tất nhiên ta sẽ bung chạy tản ra chung quanh, bọn chúng đã phục kích sẵn sẽ hốt gọn, nhưng không ngờ khi chúng tràn xuống, thì Nhảy dù cũng bung ra chống lại mãnh liệt.

Trận chiến lúc này như một cái nia đựng đậu đen và đậu trắng sàng qua sàng lại lẫn lộn như đang đánh xáp-lá-cà, chỗ nào cũng có tiếng AK47 và M16 nổ lẫn lộn còn hơn pháo Tết, coi như cả Tiểu đoàn 11 trừ cùng bắn nhau một lúc với một Trung đoàn Việt cộng, hai bên chạy qua chạy lại thấy đâu bắn đó như xi-nê, làm Cobra bay trên đầu cũng không biết bắn vào đâu, một chiếc trực thăng liều chết đáp xuống đất, tôi thấy một số người chạy tới leo lên, những chiếc sau vừa sà xuống thì Việt cộng cũng rượt gần đến nơi, xạ thủ đại liên Nguyễn Tấn Vinh (hiện ở Houston) dừng lại ôm đại liên 60 ria hết luôn một dây đạn còn lại, Việt cộng ngã rạp xuống đồi rụng như sung, viên đạn đại liên cuối cùng vừa ra khỏi nòng là mấy cây AK đã chĩa vô đầu Vinh, có lẽ vì cảm phục tinh thần anh dũng của người lính Nhảy dù này mà chúng không giết để trả thù cho đồng bọn, chỉ bắt sống.

Nhờ lòng quả cảm của người xạ thủ đại liên này mà một slick duy nhất 4 chiếc trực thăng đã bốc được Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn 11, Sĩ quan liên lạc pháo binh, và cố vấn Duffy, nhưng Đại úy Ðoàn Phương Hải trưởng Ban 3 (hiện ở San Jose) thì bị một viên đạn AK bắn xuyên bàn chân từ dưới đất lên, rớt xuống máy bay, may nhờ Thiếu tá Duffy gan dạ quay trực thăng trở lại kéo lên.

Ðạn hai bên vẫn nổ tới tấp, thêm một cặp Cobra và một slick trực thăng khác vào vùng bay vòng vòng trên trời. Việt cộng chỉ bất ngờ đi phục kích nên không đem theo phòng không cho nên trực thăng của Mỹ mới hoạt động được nhưng chỉ bốc chứ không dám bắn vì sợ trúng quân bạn. Chiến trường lần lần bớt đi tiếng súng, nhưng những tiếng kêu hàng vẫn còn nghe văng vẳng, tiếng động cơ trực thăng vẫn còn nghe vần vũ trên đầu. Lúc này tôi đang sát dưới bờ suối với ba bốn người lính nhìn lên khá rõ nên bảo họ chạy theo tôi ra bãi, may ra trực thăng thấy được rõ đồ rằn ri so với đồ lục bụi đất của Việt cộng mà bốc chúng tôi lên. Những người lính nghe theo tôi chạy lên triền đồi, đang chạy, tôi thấy một chiếc Cobra bay phía bên trái ngược hướng tôi chạy lên, chừng quay lại phía sau thấy nó vòng lại nghiêng cánh, kinh nghiệm chiến trường đã cứu tôi thoát chết, Cobra mà nghiêng cánh về phía nào là nó bắn rocket về phía ấy, chắc là trực thăng nó thấy Việt cộng rượt theo chúng tôi nên bắn, tôi chỉ kịp hô:

– Dạt ra bên, trực thăng bắn!

Tôi vừa nhào đại qua một bên thì một tiếng rocket nổ như trời giáng cách tôi cỡ vài mét không còn nhớ rõ phía bên nào, tôi thấy mình văng lên rồi rớt lăn trở xuống triền đồi, cây súng Colt 45 cầm trên tay văng đâu mất, cái la bàn đeo trên cổ và tấm bản đồ nhờ bỏ trong áo nên còn lại, may mắn tôi chỉ bị chấn động nhẹ, nhưng không hiểu những người kia có sao không. Tôi đứng dậy chạy ngược xuống bờ suối thì gặp một tốp lính Nhảy dù, trong đó có Chuẩn úy Linh đang chạy theo bên bờ suối về hướng bắc, thấy tôi họ mừng lắm, cả tôi cũng thế, chưa kịp hỏi thì tiếng súng đuổi theo cũng nghe kế bên, lẫn tiếng hét kêu đầu hàng, tôi chỉ hướng chạy qua bên kia bờ suối, vừa vượt qua bờ suối thì một người chạy sau bị bắn rớt xuống suối, tôi thúc anh em chạy tiếp, chạy khoảng 50 mét không nghe tiếng rượt theo, chúng tôi dừng lại để thở. Tôi nói vội với anh em:

– Tuyệt đối không đầu hàng, đi theo tôi, nếu người nào bị bắn mà bị thương, kể cả tôi, thì phải bỏ lại, chạy thoát thân, chứ không được đầu hàng.

Mọi người tuân lệnh. Vừa đi tôi vừa xem bản đồ. Võ Ðịnh cách khoảng 8 cây số, chỉ băng theo hướng đông bắc là đến nhưng thế nào cũng gặp Việt cộng, tụi nó dứt Charlie rồi tất phải đánh phi trường Phượng Hoàng, vô đó là lãnh đủ (về sau đúng như vậy vì bọn chúng đang điều quân đánh căn cứ Võ Ðịnh). Cho nên tôi quyết định đi thẳng lên hướng bắc khoảng một cây số đánh lạc hướng địch rồi vòng lại hướng đông nam ra Diên Bình, cách đó khoảng mười mấy cây số. Vừa đói, vừa mệt, 10 người mà chỉ còn có 3 cây M16, mỗi cây chỉ có một băng đạn, không biết lúc đụng trận nữa thì thế nào, tôi lại nhớ đến Hạnh, người đệ tử nhỏ con nhưng rất tháo vát, lên hạ sĩ thường được ở lại pháo đội học bắn, nhưng không hiểu khoái tôi cái nổi gì đòi theo tôi đi đề-lô cho khổ tấm thân, bây giờ không biết ra sao.

Ði gần nữa ngày, đồi cao cả ngàn mét, đói lả người, nửa tháng nay không đêm nào ngủ được vài tiếng. Bỗng người đi đầu giơ tay ra hiệu dừng lại, khu rừng tre trước mặt có tiếng động, quan sát một hồi thấy được một toán lính Dù thất lạc, chúng tôi ra thủ hiệu nhận diện rồi nhập chung, tới chiều thì gặp thêm một toán nữa, thêm hai Chuẩn úy và mấy Hạ sĩ quan. Quân số bây giờ là 26 người với 10 cây M16, có vài người bị thương nhẹ nơi chân và tay, mọi người đều đói quá, không ai còn miếng gạo sấy nào, chỉ còn một lon thịt ba lát, anh em khui ra đưa cho tôi, tôi cắn một miếng rồi trả lại nói mặn quá, cả tuần nay chẳng nuốt gì được để từ từ rồi ăn. Biết được Chuẩn úy Linh lớn tuổi và thâm niên hơn hai Chuẩn úy kia nên tôi kêu Linh ra riêng và nói:

– Lính của anh, anh dễ chỉ huy hơn, còn tôi thì dẫn đường ra thôi.

Chuẩn úy Linh trả lời:

– Trung úy lớn nhất ở đây, chỉ huy, dẫn đi đâu chúng tôi theo lệnh Trung úy.

Tôi trở lại nói với anh em:

– Như vậy tôi ra lệnh, nếu gặp địch đông thì bỏ chạy, nếu địch ít thì đánh, ai bị thương kể cả tôi cũng phải bỏ lại, tuyệt đối không được đầu hàng, tôi có niềm tin tôn giáo, Ðức Mẹ sẽ che chở chúng ta. Mọi người tuân lệnh. Tôi cho tất cả mọi người còn vũ khí đi đầu, ba Chuẩn úy chia ra xen kẽ, còn lại không có vũ khí thì đi sau. Tôi cũng dặn dò kỹ hướng ra quốc lộ 14, trên đường sẽ gặp những gì trên bản đồ. Nếu có thất lạc vì đụng trận thì theo hướng đó mà ra. Không phải tôi sợ anh em đụng trận, tôi chỉ muốn làm tròn bổn phận người anh, lỡ tôi có bề gì thì biết đường ra cho sớm, trễ một ngày là có thể chết vì đói.

Tối đó, tôi dặn Chuẩn úy Linh cắt gác xong chia nhau đi ngủ. Sau một đêm nghỉ thật ngon kể từ nửa tháng nay, tôi đánh thức mọi người dậy thật sớm để leo núi đỡ mệt hơn. Ðến trưa, theo bản đồ chúng tôi đến một làng Thượng đã bỏ hoang, không có gì để ăn, chỉ có một cây xoài thật cao toàn trái xanh, đói gần chết mà chơi thứ này vô còn tịch sớm hơn nữa. Một người lính bỗng thấy một cây điều rừng trong bụi cây trước mặt, có rất ít trái nhỏ màu vàng cỡ ngón tay, tôi nói để tôi thử coi, bứt một trái không dám đưa hẳn vào trong miệng để nhai, tôi nhây nhây ngoài răng cửa, hơi có vị ngọt chát, tới chừng nuốt vô vừa đến cuống họng thì nghe thật rát, tôi vội vàng nhổ ra, nguyên cổ họng tôi bị ngứa tàn bạo, và một chốc sau thì đôi môi bị sưng lên, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, may mà không nuốt vô, nếu không dám toi mạng lắm. Chúng tôi tiếp tục đi một lúc thì lên một ngọn đồi dài mà đỉnh của nó thật bằng phẳng như ai đã san bằng. Ngọn đồi rất đẹp, cây cối rậm rạp, chúng tôi dừng lại ngồi nghỉ thì nghe tiếng trực thăng bay từng đoàn về hướng Nam, có lẽ trực thăng đổ quân, tôi cho anh em rút xuống triền đồi bên này, sợ trực thăng dọn bãi hay pháo binh bắn ghép bãi lỡ trúng thì xui tận mạng.

Thật đúng như phép lạ, trực thăng dọn bãi phía bên kia đồi, đạn bạn vút qua trên đỉnh mà chúng tôi vừa rút xuống. Hú hồn. Sau đó nghe tiếng trực thăng đáp xuống. Ðúng là đổ quân nhưng không biết đơn vị nào đây (sau này tôi biết được Tiểu đoàn 9 Dù đổ quân). Sợ ngộ nhận, tôi quyết định đi tiếp, đến gần chiều thì dừng quân nghỉ đêm. Ðôi môi tôi giờ này sưng vù lên và thâm đen phía ngoài, còn trong cổ thì ngứa vô cùng, chỉ muốn đưa cả nguyên bàn tay vào miệng mà cào cho đã ngứa, không biết tôi có ra kịp quốc lộ không, nếu bỏ mạng lãng xẹt như thế này vì ăn bậy thì đau quá. Trong lúc dừng quân, chúng tôi kiếm được đâu đó ít rau tàu bay, luộc lên với nước suối cầm hơi. Ðêm đó nhìn lên bản đồ, tôi còn cách sông PoKo độ 2 cây số nữa, qua sông này được thì chiều tối đến xã Diên Bình. Nhưng con sông rộng và nước chảy thật xiết như thế và người nào cũng  đuối sức hết thì làm sao mà qua đây.

Trưa hôm sau, chúng tôi đến sông PoKo đúng y tọa độ. Tôi cho mọi người ngồi nghỉ trong các lùm cây trên bờ. Ngay lúc đó, một chiếc trực thăng từ hướng quốc lộ 14 bay thẳng vô núi, chúng tôi chạy ra bờ sông cởi áo giơ tay vẫy vẫy. Từ xa trực thăng thấy được nhưng không dám bay lại gần, nó chỉ bay vòng vòng quan sát chúng tôi một hồi rồi xong cũng giơ tay vẫy vẫy rồi bay luôn. Tôi nghĩ trong bụng, chắc là trực thăng đi kiếm chúng tôi, thấy chúng tôi gần ra đến nơi rồi nên bay vào tìm những người còn kẹt lại trong sâu hơn, nhưng thế nào cũng báo về Lữ đoàn để báo cho đồn Ðịa Phương quân biết đừng bắn lầm. Tôi xem lại bản đồ, đây là đầu một cái ấp, thế nào họ cũng có ghe để qua sông, tôi cho người đi dọc bờ sông khoảng một trăm mét thì thấy có một cái ghe nhỏ và một người đã tình nguyện bơi qua bên kia bờ lấy ghe, rồi lần lượt đưa chúng tôi qua sông. Có lẽ bề trên đã an bài, một cái ấp bỏ hoang như thế này lại có một chiếc ghe của ai đó bỏ lại để đưa chúng tôi qua sông, như một phép lạ. Mọi người đều kiệt sức nên tôi quyết định cho anh em đi ngang qua rẫy dân và cố tình nói chuyện lớn tiếng, để nếu có lính nghĩa quân ở đây thì nhận ra giọng miền Nam chứ không phải giọng Bắc con cháu giặc Hồ mà không bắn lầm, đồng thời cũng vớt vát chút đỉnh củ khoai trái bắp gì đó trên đường đi. Ðây là một quyết định có lẽ lạ đời nhất và phản chiến thuật nhất của một sĩ quan. Cứ như vậy mà đi, có lúc những người lính còn ca lên mấy câu vọng cổ hoặc mấy bài hát của miền Nam nữa, chẳng có gì ăn trên đường qua rẫy vì rẫy cũng bị bỏ hoang lâu rồi, thì lót lòng bằng tiếng ca ngọt ngào hương lúa miền Nam quê hương vậy.

Chúng tôi từ địa ngục trở về đâu có còn ngán cái địa ngục nào nữa đâu, ba cái thằng du kích xã dám xuất hiện ngăn chúng tôi sao? Tôi lấy cái lý của kẻ lì cho anh em tự do ca hát nói chuyện cho đến khi gần đến xã Diên Bình thì dừng lại. Sợ mò vào ban đêm bị vướng mìn tự động hay lựu đạn gài nên tôi cho dàn quân lại phòng thủ ngủ đến sáng mới vô, và dặn dò hết sức cẩn thận, không chết dưới chục ngàn quả đạn pháo mà chết vì đạp mìn Địa Phương quân thì lãng xẹt.

Tôi vừa đi một vòng kiểm soát lại mọi người thì Chuẩn úy Linh tiến lại nói có hai thằng mò vào liên lạc được bên trong rồi, họ mở cổng cho mình vào. Tôi nói tài thiệt, sau đó tôi đi vào đồn chào vị Ðại úy Tiểu đoàn Trưởng Ðịa Phương quân và trình bày lý do, viên Ðại úy nói hồi chiều tôi đã được biết trước anh em sẽ về đúng nơi đây đêm nay, nên đã chuẩn bị các thứ để giúp anh em Nhảy dù. Tôi mượn máy liên lạc với Tiểu đoàn 1 Pháo Binh Dù và nhờ chuyển qua báo cho Tiểu đoàn 11 Dù biết chúng tôi đã ra đến nơi, xong nói tôi có một số người bị thương, xin Ðại úy săn sóc giùm, viên Ðại úy cho người dẫn anh em bị thương lại một tu viện gần đó, tôi đi theo.

Những vết thương được các soeur rửa ráy hết sức cẩn thận, dòi con nào con nấy to bằng đầu đũa bò ra từ trong xương tay mà anh em không cảm thấy đau đớn nhiều, có những nỗi đau còn lớn hơn trong lòng mọi người và không ai dám nói ra vào lúc này vì nói ra chúng tôi sẽ khóc. Giọt lệ anh hùng phải rơi đúng lúc và đúng chỗ. Các soeur cũng cho tôi vài viên thuốc gì đó uống cho khỏi làm độc, tôi cám ơn rồi về gọi Chuẩn úy Linh đến để giao lại nhiệm vụ chỉ huy anh em. Viên Ðại úy hỏi tôi muốn ăn gì, tôi chỉ xin một tô cháo, và một chỗ nằm.

Trong lúc chờ đợi, tôi bước ra khỏi hầm, bước lên cầu Diên Bình nhìn về dãy Trường Sơn âm u phía tây, ánh hỏa châu lung linh trong đêm tối như canh giấc nghìn thu cho đồng đội tôi đời đời an nghỉ, hay còn tiếp tục đâu đó cuộc chơi tốn nhiều xương máu vì hai chữ Tự Do, những người đi không về đêm nay, có Hạnh, có Sơn, có Khánh hình như đang bay theo những đốm lửa nổ bộp bộp trên không, rồi tan vỡ từ từ thành hình một cánh dù trên đồi máu, tôi thấy mình nắm lấy hai dây thượng thăng, chạy băng xuống đồi, cánh dù từ từ lộng gió lên cao, bên tai tôi còn nghe tiếng kêu khát nước của Binh nhì Nhỏ, tiếng đạn hú rợn người trên non, và tôi đi vào cơn mơ lúc nào không biết…

Tiểu đoàn 11 Dù, Song Kiếm Trấn Ải Charlie đã để lại nơi đây người anh cả Nguyễn Ðình Bảo cùng ba trăm đồng đội, và tiểu đoàn về được tới Võ Ðịnh trước sau chỉ có mấy chục người, chưa được một đại đội. Sau Hiệp định Paris, Ðại úy Hùng mập, Ðại đội trưởng 113 được trao trả. Xạ thủ đại liên Nguyễn Tấn Vinh dọc đường dẫn ra Bắc, nhiều lần bọn cán binh Việt cộng đòi giết để trả thù cho đồng bọn nhưng cấp chỉ huy của chúng không cho vì nhu cầu trao trả, anh hiện ở tại Houston. Đệ tử của tôi, Hạ sĩ Hạnh và nhiều anh em khác thì nằm lại tại một trại tù binh nào đó tại vùng Thượng du Bắc Việt vì bị sốt rét và đói khát. Trung úy Lạc giải ngũ sau trận này, không chết, nhưng vết thương trên đầu khi thở ra hít vào thì da đầu cũng phập phồng theo, trông rất ghê, nên lúc nào cũng phải đội nón bảo hiểm. Ðại úy Hùng móm và Chuẩn úy Trưng đề-lô bị bắt sống nhưng đã trốn thoát được sau đó, và chỉ vài tháng sau thì Ðại úy Hùng móm đã nằm xuống trên đường tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, chỉ cách ngôi nhà cũ của mình có 100 mét. Sau trận Charlie, tôi được Thiếu tá Mễ chạy cho một cái Nhành dương liễu, đợi mãi không thấy, hỏi lại thì được biết Bộ Tổng Tham Mưu cúp hết huy chương của Quân Khu II sau trận này.

Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù đã đánh hai trận lẫy lừng nhất trong quân sử Việt Nam Cộng Hòa, Trận Charlie lãnh cỡ 10,000 quả đạn đại bác đủ loại trên một căn cứ nhỏ xíu, chưa có trận nào mà một đơn vị của quân đội ta bị pháo khủng khiếp đến như thế. Tiểu đoàn 11 Dù bị mất hơn 4 đại đội, nhưng đã tiêu diệt được ít nhất cũng một trung đoàn cộng quân của Sư đoàn 320 “quả đấm thép”, một đổi bốn. Sau chỉ một tháng bổ sung quân số rồi ra tái chiếm Quảng Trị, chỉ trong một đêm đến sáng của một ngày tháng 6 năm 1972, Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù và đề-lô pháo binh đã bắn cháy 26 xe tăng địch gần bờ sông Mỹ Chánh, có lẽ quân sử thế giới cũng chưa có một đơn vị nào lập được một kỳ công như thế trong không đầy 12 tiếng đồng hồ, và cũng chính nhờ Tiểu đoàn 11 đã dùng hỏa tiễn TOW bắn cháy một xe tăng T54 của địch định khóa đuôi Trinh Sát Dù của Thiếu tá Nguyễn Văn Dũng, mà tôi đã thoát chết được khi đi đề-lô cho đại đội này ngay sát bờ Nam sông Mỹ Chánh, Hải Lăng, Quảng Trị cuối tháng 6 năm 1972./.

NVL

Sơ đồ chỉ huy

Tiểu đoàn 11 Nhảy dù

Tiểu đoàn trưởng: Trung tá Nguyễn Đình Bảo

Tiểu đoàn phó: Thiếu tá Lê Văn Mễ

Ban 3 Hành quân: Đại úy Đoàn Phương Hải

Ban 1 Quân số, Ban 2 Quân báo, Ban 4 Tiếp liệu: Không rõ.

Quân y: Đại úy y sĩ Tô Phạm Liệu

Sĩ quan Điều không: Đại úy Đoàn Phương Hải đảm trách.

Đại đội 110 (Đại đội Chỉ huy): Đại úy Nho

Đại đội 111: Trung úy Thinh

Đại đội 112: Đại úy Hùng “móm”

Đại đội 113: Đại úy Hùng “mập”

Đại đội 114: Trung úy Phan Cảnh Cho

Liên toán Quan sát Pháo binh: Trung úy Lưu Văn Đúng

Liên lạc Pháo binh Đại đội Chỉ huy 110: Trung úy Đúng

Tiền sát viên Pháo binh Đại đội 111: Trung úy Khánh

Tiền sát viên Pháo binh Đại đội 112: Chuẩn úy Sơn

Tiền sát viên Pháo binh Đại đội 113: Chuẩn Úy Trưng

Tiền sát viên Pháo binh Đại đội 114: Trung úy Nguyễn Văn Lập