Ông Đại Sứ

vietmessenger.com

Morris L. West

Bản dịch của Chu Việt

Post by Sơn râu 5 Dec 2025

Ghi chú của tác giả:

Đây là một cuốn tieu thuyết. Phương pháp xây dựng đã xử dụng là đem những nhân vật giả tưởng đặt vào một khung cảnh lịch sử có thật.

Bởi vậy, nếu đem những diễn viện trong cốt truyện này mà đồng hóa với những nhân vật có thật ở ngoài đời, mặc dù đã chết hay còn sống, thì thật là sai lầm. Nhưng nếu chấp nhận sự giả tưởng của tiều thuyết, ta sẽ thấy tác phẩm này trung thực với khung cảnh riêng của nó. Tôi hy vọng như vậy.

M. L.W.

Ghi chú của người dịch:

Tất cả những phụ chú trong bản Việt-văn này đều là của người dịch.

C. V.

Chương 1.

Tôi là một nhà ngoại giao có sự nghiệp khả quan. Trong bức thư tiễn biệt, Tổng thống đã nói rằng «đó là một sự nghiệp lừng lẫy và đáng ngợi khen mà sự phục vụ từ đầu chí cuối đã đem lại cho Hoa Kỳ những thắng lợi lớn lao. » Tôi không khỏi đón nhận lời khen tặng ấy với đôi chút mỉa mai nhưng tôi tin rằng ít nhất thì tôi cũng đã xứng đáng.

Tôi đã phục vụ Bộ Ngoại-giao ba mươi lăm năm và đã giữ chức vụ Đại-sứ trong mười năm. Các nhiệm sở khó khăn, tôi đã từng trải qua cho đủ lượt và tôi cũng đã gặp đủ loại vấn đề hóc búa. Ngay đến những kẻ thù của tôi cũng phải công nhận rằng những thất bại của tôi cũng không đến nỗi rầm rộ lắm và tôi cũng đã đạt được một vài thành công lừng lẫy.

Một vài bạn hữu nói với tôi rằng cái quyết định rời bỏ ngành Ngoại-giao giữa lúc nửa chừng sự nghiệp của tôi là một hành động khôn Ngoan nhất. Một mặt thì Tổng-thống vẫn mến chuộng tôi nên lúc nào muốn cũng có thể kêu tôi ra tái phục vụ với tư cách đặc-sứ và mặt khác tôi được tự do theo đuổi các tham vọng chính trị của riêng tôi. Dĩ nhiên các bạn hữu tôi đều cho rằng tôi có tham vọng chính trị và lòng tự ái tôi bị thương tổn khi thấy họ gán cho tôi sự toan tính đến mực ấy. Và dầu có vậy, tại sao tôi bị thương tổn nhỉ? Từ lâu, thiên hạ đều biết tôi là một nhà thương thuyết vững như bàn thạch và sự nổi tiếng về tàn nhẫn của tôi chắc hẳu phải có một giá trị ngoại giao nào đó. Nếu tôi thay đổi, chắc các bạn tôi đâu có thì giờ hay cơ hội nhận biết được. Làm sao mà họ có thể biết được lương tri riêng tư của Maxwell Gordon Amberley khi chinh hắn đến tuổi này mới tự nhận biết được? Cho đến đây, tôi đã tuân theo tất cả những quy-ước của ngành Ngoại- giao và tôi đã dàn xếp cuộc rút lui của tôi với sự khả kính mô phạm. Sau cái chết của Phùng-văn- Cung, tôi đã nán đợi đủ mười hai tháng tại chức -thừa đủ để tránh cho chính quyền cái mặc cảm phạm tội về cái chết của òng và trách nhiệm về những hậu quả của cái chết đó. Sau đó tôi làm một cuộc viếng thăm thường lệ tại Hoa Thịnh Đốn để hôn tay các bà và thảo luận về việc đề cử vị đại-sứ thay thế. Rồi tôi vào một bệnh viện ở Nữu-ước để khám bệnh và ba tuần lễ sau tôi đã có thể tuyên bố hồi hưu vì lý do sức khỏe yếu kẻm.

Còn lý do thật sự? Đó là điều mà tôi đến đây để tìm kiếm, tại đền Zen Tenryu-ji cổ kính này, đền Thiên-long gần Kyoto, bên Nhật. Bây giờ vào mùa thu và các cây trường-khế cổ quý ở cổng đã đỏ ối như lửa trên nền tối xẫm của các cây thông cao vút. Trời mịn như da một hạt ngọc trai và các lá cây rụng nằm yên trên mặt hồ, trên các lối đi trải cát phẳng phiu, trên các phiến đá và trên nền xanh tươi của các thảm rêu. Đôi khi tôi bách bộ trong vườn và xem các nhà sư chăm bón cây một cách kiên nhẫn, đặc biệt « biến mỗi ngọn cỏ thành một Kim Phật ».

Có đòi lúc tôi ngồi trong am thất của Muso So- seki, chân xếp bằng tròn trên chiếu rơm, uống trà mà nhà sư đã pha mời tôi một cách trịnh trọng nghi-thức và cùng òng theo đuổi cái phương pháp đối thoại tham thiền gọi là Mondo …

« Tại sao ông đến chốn này? »

« Để tìm sự soi sáng. »

« Tại sao ông chưa tìm thấy? »

« Bởi vì tôi tìm kiếm nó. »

« Làm cách nào ông sẽ tìm thấy nó? »

« Bảng cách không đi tìm. »

« Nơi nào ông sẽ tìm thấy nó? »

« Không nơi nào cả. »

« Khi nào ông sẽ tìm thấy nó? »

« Không khi nào cả. »

Bố cục của cuộc đối thoại cũng giống như bố cục của ngôi đền, cái am thất và khu vườn. Mọi vật đều thanh đạm, gợi ý, có trật tự và kéo dài đến vô-tận, giống như cái chiếu mà chúng tôi đang ngồi hình như chẩy ra ngoài và biến nhập với cát trên những lối đi và những làn sóng gợn do cá chép đớp trong các hồ trong khu vườn.

Muso Soseki là một nhà sư thuộc phái Zen. Ông cũng là một thi sĩ, một bậc thầy trong môn viết đại-tự và thủ-ấn-họa nữa. Các đại-tự của tên ông có nghĩa là « cửa-sổ-nhìn-vào-một-giấc-mộng ». Ông bẩy mươi nhăm tuổi, người gân guốc, da bánh mật và giải dầu sương gió như một tảng đá lâu đời. Gương mặt ông bình thản một vẻ phúc hậu và tươi sáng, sảng khoái. Ông đã vui lòng thu nhận tôi làm môn đệ và sử dụng những phương pháp của đạo Zen để dẫn giắt tôi đến giây phút trực giác và soi sáng gọi là satori bằng cách kích thích cảm xúc của tôi.

Tôi rất cần được sự soi sáng. Chỉ ân hận rằng tôi đã không chịu nán chờ để tìm thấy sự soi sáng ấy cách đây ba năm khi George Groton dẫn tôi đến đây lần đầu sau khi nhà tôi qua đời. Khi ấy tôi làm Đại-sứ – một nhân vật sơn son thiếp vàng trên sân khấu ngoại giao Tokyo. Qui vị cứ nhìn lên bản đồ, vạch những véc-tơ về lực chính trị tại Á-châu thì đủ hiểu ảnh hưởng của tôi thực sự ra sao và có tầm rộng lớn đến đâu. Tôi nghĩ rằng tôi đã thành công trong chức vụ. Tôi có năng khiếu về ngòn ngữ, ưa thích phong tục lạ và biết thưởng thức nhạc đoản cung. Đó là những sở đắc có giá trị trong một nền văn minh lọc lựa. Còn các điều khác mà tôi đã có thì thực sự không phải do bản chất của tôi mà chính là do Gabrielle đã tặng cho tôi.

Nàng duyên dáng, lịch thiệp, vui tươi và có một vẻ hòa điệu sáng ngời tràn ngập từ đời sống của nàng vào đời sống của tôi. Khi nàng chết đi, sự hòa điệu ấy biến thành một nghịch điệu chói tai. Tất cả mọi vết rạn nứt cũng như khuyết điểm ở nơi tôi dường như mở rộng ra ngay sau đó.

Trước đó tôi chưa hề có một tin tưởng vững. chắc nào thuộc loại tâm linh và dưới phúc lành sâu đậm của một người đàn bà yêu đương, tôi không bao giờ cảm thấy cần phải có những tin tưởng ấy. Tôi vẫn có tình cảm tôn giáo, tôi không thù ghét việc đi lể nhà thờ và đôi khi còn lấy làm thích thú là đẳng khác nếu công vụ đòi hỏi sự có mặt của tôi. Ngoài ra, tôi rất hài lòng với sự ấm cúng của các đấng tối cao trong gia đình tôi và của vị nữ tu sĩ đã thờ phụng họ và tôi. Giờ đây nàng đã khuất đi, tôi cảm thấy như thể tất cả các đền đài của tôi cũng sụp đổ luôn một lúc và tôi phải chôn chặt chúng xuống đất, xa khỏi vùng ánh sáng. Tôi khước từ mọi thiện cảm. Tôi trở nên thô bạo, hăng hải và khó tỉnh. Nhân viên dưới quyền tôi khòng chịu nổi tôi và các bạn đồng liêu đều giận tôi. Duy chỉ có người Nhật, một dân tộc đau bệnh thần kinh đã dường như sẳn sảng chấp nhận cải nhu cầu của tôi phải có một thời kỳ đièn khùng để chữa bệnh.

Trong số người Mỹ, chỉ có George Groton, vị đệ tam tham vụ kém thâm niên nhất, là đủ khòn ngoan để thấy rõ điều gì đã xẩy ra đến với tôi. Tôi giận dữ cũng khòng làm hắn khó chịu, tôi xấc sược, hắn cũng không mếch lòng. Hắn làm việc rất hăng, tinh tình vui vẻ và không biết sợ hãi. Người hắn gầy và cao lênh khênh, mắt đeo kính cận, đòi vai rủ xuôi với mái tóc dầy rậm mầu cát. Tuy vậy trong những lúc lòng lắng dịu, tôi thầm ước có một đứa con trai như George Groton.

Có một đèm trực, hắn phải đánh thức tôi dậy vì mấy cái điện văn giờ chót. Trước khi ngũ tôi đã uống quá nhiều rượu nên tôi đâm ra cáu kỉnh và sử sự với hắn một cách thô bạo không tha thứ nổi. Hắn hít một hơi thở dài, đứng ngang nhiên trước mặt tôi và nói:

« Thưa ông Đại-sứ, ông đang tự hủy diệt mình và hủy diệt cái hòa khí của Tòa Đại-sứ. Nếu ông không chịu để bọn tôi giúp đỡ ông thì ít nhất cũng

xin ông để yên cho bọn tôi làm việc cho xuông sẻ! »

Tôi há hốc miệng nhìn hắn, không nói nổi điều gì. Đoạn hắn nhún vai và cười làm lành:

« Ông có thể đuổi tòi về nước, nếu ông muốn – nhưng phải có một người nào nói ra điều ấy.»

« Tại sao lại là anh, Groton? »

« Bà Amberley vẫn thường đối xử với tôi rất tốt. Trước khi chết, bà bắt tôi hứa sẽ săn sóc cho ông. »

Tôi xấu hỗ với chính tôi nên không nói được gì. Tôi cầm mớ điện văn vào phòng đóng chặt cửa lại và khóc như một đứa trẻ con. Sáng hôm sau

tôi viết cho Groton vài lời xin lỗi và cám ơn. Một tuần lề sau, hắn mời tôi tham dự một phái đoàn nhân viên đi Kurama xem hội đốt lửa hàng năm.

Bởi vì Kurama không xa Kyoto mấy, nên tự nhiên là chúng tôi phải đi thăm đền Thiên-long và thăm Muso Soseki.

Nếu Groton còn sống hắn sẽ là một nhà ngoại giao đại tài. Hắn là một người giản dị, thường đi thẳng đến cội rễ của vấn đề một cách mau lẹ, tuy vậy hắn cũng đủ tế nhị và vui tính để thích ứng với các đường lối suy luận quanh co của người khác. Khi tôi nhìn thấy hắn chết một cách hung bạo ở Saigon, tôi lại khóc một lần nữa. Và từ đó trở đi, tôi không hề nhỏ một giọt lệ vì một người nào nữa, dù đàn ông hay đàn bà.

Muso Soseki tiếp đãi tôi với sự lịch thiệp tự nhiên của một người hòa đồng với chính mình, với cuộc đời và thế giới của mình. Ông đưa tôi tản bộ quanh khuê viên của ngôi đền và dẫn giải cho tôi nghe về vẻ đẹp của khuê viên theo lối Zen, nghĩa là không phải như một sự liên-tụ ngẫu nhiên của các vẻ đẹp nhưng là một nơi đã được sắp đặt tế nhị, có những sự liên-tụ hòa hợp và những sự tương phản có ý nghĩa – tóm lại, một khung cảnh được chủ ý tạo ra cho những sự mặc khải về tâm linh, một khí cụ của sự soi sáng, hiệu nghiệm hơn cả sách vở hay lý lẽ. Về những vấn đề ấy, nhà sư không trịnh trọng thuyết trình mà chỉ nói chuyện như một người nói về cuộc sống thầm kín của mình một cách luyến ái và nặng lòng ưu tư. Khi nói về Satori, ông đã khổ công làm cho tôi hiểu rõ khái niệm ấy.

Tôi còn nhớ hai câu một cách rõ ràng:

« Căn nguyên nỗi thống khổ của nhân loại, thưa ông Amberley, là một cảm giác tha hóa đối với trật tự thièn nhiên của vũ-trụ. Tác dụng của Satori là sự soi sáng tâm tri, cốt sao cho bản chất của chính mình và vũ trụ sau rốt trở nên rõ ràng và tái lập lại được cảm giác của sự tương quan đích thực, hay đồng nhất tính. »

Nỗi thống khổ của riêng tôi vứa xẩy ra gần đây và hãy còn mãnh liệt quá nên tôi chụp ngay lấy lời ông nói và cầu khẩn òng giải thích thêm.

Nhưng ông từ chối và mỉm cười bảo tôi:

« Xin ông để bận sau. Chúng ta sẽ uống trà và nói chuyện trong sự yên

tĩnh. »

Tôi trở về Tokyo như một người đi trong cái khoái cảm của một giấc mộng êm lặng nhưng huyền diệu. Tôi viết thư cho Muso Soseki, cảm ơn ông về sự tiếp đãi tử tế và xin được gặp lại. Mười ngày sau tôi được thư trả lời của ông, một tác phẩm nhỏ của khoa đại-tự tuyệt đẹp thực hiện trên giấy chế tạo bằng tay. Nhà sư già dâng hiến tôi ngôi nhà, tình bằng hữu của ông và cái mà ông gọi là « những công quả nhỏ nhoì và không xứng đáng của vụ gặt lúa mùa đông » Ông mời tôi tới thăm ông bất cứ lúc nào và sống với òng như một vị khách. Tôi cổ gắng xuống ở với Muso luôn luôn, khi đi một mình khi đi với Groton. Groton cũng đã có một mối liên hệ tương tự với một nhà sư khác. Nhưng hắn thâm cứu hơn tôi, có lẽ vì hắn trẻ tuổi hơn, cũng có lẽ vì bản chất hắn nhũn nhặn hơn, mềm dẻo hơn và hợp với những kỹ luật của phương pháp Zen hơn.

Có điều lạ là khi ấy tôi không hề có ý niệm nào về sự hành giáo của mình, theo nghĩa thông thường. Theo Muso đa trình bày cho tôi thì sự thực hành đạo Zen thuộc về một trật tự thiên-nhiên thuần túy và thật ra là một sự chuẩn bị cơ thể con người cho một tình trạng cảnh giác cao hơn.

Vì hiểu như thế nên tòi đã chấp nhận hành đạo mà không tự ái chút nào. Tôi lại còn có thể hy vọng nhờ đó mà tìm ra một phương giải cứu cho những nhược điểm mà sự đau đớn và mất người thân yêu đã làm bộc lộ ra nơi cá tính tôi. Thế mới biết Groton khôn ngoan đến thế nào. Mặc dầu hắn đã dẫn tôi đến vị sư thầy của tôi, hắn vẫn khăng khăng không chịu cùng tôi thảo luận về sự dấn thân của nhau. Hắn chỉ nói rằng ở Tokyo thì nghi thức trong ngành làm cho chúng tôi ngăn cách, còn ở Kyoto thì chính sự riêng tư của một kinh nghiệm không thể truyền cảm đã ngăn cách chủng tôi. Khi tôi ngỏ ý biết ơn hắn vì đã giúp tôi thì hắn chỉ cười chấp nhận với một câu nói đặc biệt Zen:

« Khi im lặng chúng ta là một. Khì nói lên chúng ta là hai người. »

Điều này cũng làm tôi phải nhớ mãi về sau này, khi chúng tôi tranh luận một cách cay đắng. về đường lối hành động mà tự tôi đã dấn thân vào ở Saigon. Về phần tôi, tôi hài lòng được sống yên tịnh và cách biệt một vài ngày, xa hẳn bảo chí và sự phức tạp của công việc ngoại giao. Tôi thích cái khuê viên và những lời nói của vị sư già tuôn ra như giòng suối bạc. Tôi cũng nghĩ rằng nhờ vậy mà công việc tôi làm khả quan hơn. Tôi đã hiểu rõ hơn cái tư tưởng gạn lọc và hóc hiểm của người Nhật, cái bóng dáng tình cảm thường đeo riết mỗi lời nói trực tiếp nhất. Tôi bắt đầu hiểu rằng cái đường lối tìm đến sự soi sáng tâm linh bằng trực giác này khòng nhất thiết là một sự phủ nhận lý trí nhưng là một sự thăm dò những tiến trình bí hiểm nhất của lý trí ở bình diện vô-thức.

Về phần Muso Soseki, nhà sư không ép tôi vào một khuôn khổ kỷ luật nào. Đôi khi chúng tôi thường chỉ uống trà và đàm đạo như một đôi bạn ở bất cứ nơi nào. Có khi nhà sư hướng tôi qua một cuộc đối thoại Mondo. Có khi nhà sư đặt ra cho tôi một tiền đề thoạt nghe tưởng là vô nghĩa, gọi là Koan làm đề tài tham thiền. Cái tiền đề mà nhà sư đã đưa ra cho tòi và luôn luôn hướng tôi quay về nó một cách nhất quyết nhẹ nhàng là như thế này :

«Òng sẽ hành động ra sao khi họ yêu cầu ông giết con chím cu? »

Câu trả lời đầu tiên của tôi là thách thức ngược lại Muso định nghĩa những danh từ của tiền đề, thí dụ, họ là ai, con chim cu là gì, và tại sao họ lại yêu cầu tòi giết nó?

Muso mỉm cười và khước từ sự thách đố đó. «Chính ông, òng Amberley, ông phải cho tôi biết tôi muốn nói gì».

Mặc dầu không muốn, câu hỏi đó bắt đầu ám ảnh tôi, làm tôi bứt rứt không yên và quên lãng mất cái luận-lý hình thức và đôi khi dễ sợ của nền ngoại giao thực tiễn. Câu hỏi đó làm tôi bối rối: như một bức tranh siêu thực mà mỗi một hình tượng thật là rõ ràng dễ hiểu nhưng cái toàn thể của nó vẫn là một thứ tiếng chim chích, chỉ hiểu nổi khi có người dẫn giải.

Dầu vậy, dần dà tôi bắt đầu hiểu bằng cách  nào tôi đã được hướng dẫn đi vào một trạng thái ngờ vực chính mình, bất mẫn với cái hiển nhiên, một địa hạt truyền cảm không lời nói. Nhưng mặc dầu hiểu vậy, tôi cũng biết rằng con đường đi tới kết quả còn xa lắm.

Rồi đùng một cái, tất cả cái tiến trìuh tái giáo huấn đó bị cắt ngang và tôi bị đẩy trở lại không phương chạy thoát vào những thực tại – hay là những ảo tưởng? – của ngành. Festhammer đáp phi cơ từ Hoa-Thịnh-đốn tới mang theo một lời yêu cầu hợp thức của ông Bộ-trưởng Ngoại-giao có ý kiến thuận của Tổng-thống kèm theo trong một văn thư lời lẽ thân mật. Liệu tôi có chịu rời bỏ nhiệm sở Tokyo mà nhận trách vụ đặc biệt làm Đại-sứ tại miền Nam Việt Namkhông?

Raoul Festhammer thật chẳng giống một tín đồ Zen chút nào. Hắn là con người thực tiễn hoàn toàn. Một sự kiện nắm trong tay hắn cũng đáng sợ như một thanh trường kiếm. Có vài người gọi hắn là tên hoạt đầu chính cống nhưng vốn có lòng kính mến đối với hắn nhiều, tôi không thể rủa hắn một cách nhẹ dạ như vày. Hắn nhận dịnh tình hình rất vững. Các bản tóm lược tình hình của hắn là một bài tập mẫu về lý luận chiến thuật.

Hắn uống rượu rất ít, khòng hút thuốc lá và thèm khát đàn bà đẹp một cách điên cuồng. Hắn là một người bạn bất định, một kẻ thù nguy hiểm, nhưng chính xác trong công việc như một chuyên gia ngân hàng. Trong đời tư, tòi khòng chịu hắn lắm nhưng trên phương diện nghề nghiệp tôi dám đánh cá sự nghiệp của tòi vào một trong những bản phúc trình của hắn – mà chính là điều hắn đang yèu cầu tôi làm.

« … Bê bối. Một sự bê bối đẫm máu và tàn bạo. Chúng ta gọi nó là một cuộc chiến tranh khuynh đảo nhưng xét cho cùng, nó cũng là một cuộc nội chiến nữa. Con chống bố, gia đình chống gia đình. Chúng ta nhập cuộc là bởi vì chúng ta muốn duy trì mot căn cứ quàn sự tại miền Đông- Nam-Á và ngăn chặn Trung-cộng khỏi tràn xuống các vựa lúa ở phia Nam và khòng xử dụng được các đường biển đi Phi-chàu. Nếu miền Nam Việt Nam mất, Thái-Lan sẽ bị hở sườn và Tân-gia-ba sẽ bị đe dọa. Chúng ta đã đưa vào ba chục ngàn người và không biết bao nhiều là triệu đô-la nữa mà vẫn chỉ là « cố vấn » không có quyền quyết định trong việc điều khiển các cuộc hành quân.

« Chúng ta ủng hộ Phùng-văn-Cung và gia đình ông bởi vì họ là những nhà cai trị giỏi nhất và mạnh nhất cho đến nay, nhưng họ đã mất khả năng kiểm soát. Họ không còn biết nghe lời phải trái nữa. Họ hành động như những người có đường giây lièn lạc riêng với Thượng-đế. Họ là một thiểu số tín đồ Ki-tô giáo trong một xứ của Phật-giáo. Thay vì kết thân với Phật-giáo, họ lại đi làm áp lực với đám người này ở mọi điềm. Họ đang bắt giữ sinh viên – cả nam lẫn nữ – và giam họ vào những trại khổ sai. Họ đã làm cho thủ-đô trở nên thù nghịch và họ đã mất quyền kiểm soát các vùng quê. Bộ Tư-lệnh quân sự thì bị chia rẽ và mặc dầu có mười ngàn làng chiến đấu và một ưu thế rộng rãi về khí giới và chiến cụ, Việt-cộng hiện vẫn đang thắng thế … Mc Nally đã làm trọn phận sự Đại-sử nhưng chúng ta đã không chỉ thị đúng cho òng làm. Chúng ta chỉ thị cho ông kết thân với Phùng-văn-Cung, chỉ thị cho òng hành động bằng khuyến dụ và huyền hoặc, nhưng giờ đây những sự huyền dụ đó hết hiệu nghiệm rồi.

« Chủng ta không thể làm như vày được nữa. Chúng ta phải hành động thô bạo, cứng rắn và làm cho chính quyền vào khuôn phép với những sự trừng phạt bằng tài chánh. Có một tập tài liệu tôi muốn anh đọc, anh Max và sau đó anh sẽ hiểu tại sao chúng ta cần một người hùng tại nhiệm sở này. Chẳng có ăn cải giải gì đâu. Thắng, bại, hay hòa, vẫn là một sự bê bối đẫm máu và công trạng của anh chỉ là một sự đau đầu mà thôi … ở nước nhà, ai cũng muốn anh nhận nhiệm sở này. »

Tôi bỏ ra bốn mươi tám tiếng đồng hồ đọc cho hết mớ tài liệu hắn đã đưa cho tôi và sau đó tôi nhận lời. Sau này, khi thử kết toán những lầm lỗi mà tôi phải nhận lãnh, tòi tự hỏi bao nhiêu lầm lỗi đã thuộc vào chính lúc này.

Sự kiêu hãnh đã dự phần và ai chẳng kiêu hãnh để nói. « Tôi đến đây nhân danh một đại đân tộc. Tôi được chọn lựa bởi vì tôi khôn ngoan, tôi hùng mạnh, trêu vào tôi rất là nguy hiểm. » Dưới sự kiêu hãnh là một mối lo sợ – bởi vì cái chết của Gabrielle đã cho tôi thấy tôi chẳng có sức mạnh là bao và Muso Soseki cũng đã bắt đầu thách đố trí thông minh của tôi cũng như George Groton đã làm tòi hổ thẹn vì những cơn giận dữ của tôi. Và dưới sự kiêu hãnh và mối lo sợ còn một điều khác nữa – một đột hứng tạm bỏ sự suy tưỏng để hành động, để trì hoãn một quyết định về chính tôi bằng cách đảm đương quyền quyết định cho hàng triệu kẻ vô danh khác.

Dầu sao thì tôi cũng đã tuyên thệ phục vụ, cả cuộc đời tôi đã dâng hiến cho ngành này. Tôi đã được triệu dụng do một lời kêu gọi đặc biệt của Tổng-thống. Tôi không có quyền đem những vấn đề riêng tư của tôi xen vào việc còng ích. Tôi phải hiểu rằng tôi là hai bản ngã trong một cơ thể. Hai bản ngã đó rièng biệt và dị biệt. Cái bản ngã mà tòi đã biết trong khuê viên Tenryu-ij khác hẳn cái bản ngã đã chơi trò mưu lược quyền bính một cách đầy tự tín. Thế nên, dường như luôn luôn tôi phải chấp nhận sống trên hai mực sống, và phải gạt bỏ mọi động lực đem mực sống này đồng hóa với mức sống kia.

Dẫu vậy tôi vẫn ý thức được nỗi băn khoăn và sự linh cảm thấy điều không hay. Ai có thể nói chắc được cái thế quân bình mỏng manh của hai bản ngã kia có thể tồn tại được bao lâu khi đụng phải một môi trường thù nghịch? Mụso Soseki đã giúp tôi tìm thấy sự kính trọng đối với bản ngã bí ẩn của tôi nhưng đâu còn Gabrielle nữa để yêu tôi và giữ cho tổi sống hòa điệu với thế giới bên trong Jẫn bên ngoài? “

Vì vậy tôi nhờ đến Geoge Groton. Tôi yêu cầu hắn đi Saigon làm phụ tá đặc biệt cho tôi. Hắn mỉm cười theo lối trẻ con của hắn, cám ơn tơi đã tin cậy và nhận lời. Rồi, một cách khá thực thà, hắn hỏi tôi có dự tính đến thăm

Muso Soseki trước khi rời khỏi Nhật-bản hay không. Trong sự sôi nổi của những cuộc thảo luận với Festhammer và trong sự tràn ngập của những cú điện thoại với Hoa-thịnh-đốn, tôi đã không nghĩ gì đến vấn đề ấy. Groton trình bầy cho tôi hay đó là vấn đề xã giao đặc biệt – sự tôn kính của môn đệ đối với sư phụ, cũng giống như sự tôn kính của con đối với cha. Một lần nữa tôi lại cảm thấy hổ thẹn vì chính tôi kém cư xử và tôi hứa rằng ngay sau khi các cuộc tiễn biệt ngoại giao xong xuôi, tôi sẽ đến thăm Muso Soseki một ngày chót tại đền Thiên-long.

Sự giá buốt của mùa Đông đã phảng phất trên không. Lửa đỏ đã tàn lụi nơi các cây trường khế tại công đền. Lá cây rải rác đó đây, các phiến đá trông ảm đạm và nước hồ xám xịt ghê tởm. Muso Soseki tiếp tôi trong am thất riêng và đóng chặt các cửa sáo làm cho chúng tôi ngồi cách biệt hẳn thế giới bên ngoài trên một hải đảo đầy ánh sáng và ấm áp. Khi tôi nói cho nhà sư biết sự thuyên chuyển của tôi, ông gật gù một cách nghiêm trang và nói:

« Mỗi người đi một đôi giầy khác nhau. Người ta phải đi theo bước đôi giầy của mình. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng ở vào tuổi ông mà nhận một trách nhiệm như vậy thật là một sự nguy hiểm lớn lao ».

Tôi cười cười lớn và bảo nhà sư rang sự nguy hiểm là thường đối với nghề ngoại giao. Ông cau đôi mày và lắc đầu.

«Tôi không nghĩ đến sự nghiệp của òng mà chỉ nghĩ đến bản thân của ông. Ông đã biết ý thức được sự bất thiện toàn của cuộc đời ông. Có thể cám dỗ sẽ dẫn ông tới việc cố gắng cưỡng đặt một sự toàn thiện không thể có vào cái hoàn cảnh mà ông phải đương đầu. Òng đến nơi đó vì mục đích tạo kết quả. Ông hy vọng tạo nên được những kết quả gì? Chấm dứt chủ nghĩa Cộng-sản tại miền Nam Việt Nam? Chấm dứt chế độ? » Òng dơ một bàn tay nhỏ gầy guộc để chặn câu trả lời của tôi. «Đừng, đừng trả lời! Trong đường lối soi sáng tâm linh ông là môn đệ của tôi. Ngoài đời ông là ông Đại sứ Hoa-kỳ. Ông không được bàn cãi các vấn đề quốc sự với tôi … Nhưng vấn đề chính trị chỉ là vấn đề cá-nhân nhân lên nhiều lần và chúng ta hãy thử giải quyết nó bẳng đường lối cá nhân: bằng cách tự đề ra cho chúng ta một mục đích giới hạn mà nếu đạt tởi sẽ có nghĩa là « thành công ».

Vậy nên có một ông tướng thường nói rằng: « Nếu tôi thắng cuộc chiến tranh tôi sẽ có – và sẽ là! – sự thành công. » Ông ta quên mất sự kiện chiến tranh là một sự bạo động hủy diệt không có giới hạn và sau đó cần phải có một hành vi sáng tạo mới để đem lại trật tự trong hỗn loạn và đem lại tiếng cười trong tiếng khóc. Ông bạn của tôi, ông biết tôi muốn nói gì chứ? »

« Tôi biết rõ lắm nhưng nó không soi sáng được điều gì cả. Tôi rất biết rõ hoàn cảnh của tôi trong tư cách một nhà ngoại giao chuyên nghiệp.

Tôi không được tự do đề ra mục tiêu của những hành động của tôi – tôi chỉ biết hành động cách nào tốt nhất để hoàn tất được những mục đích đã được đề ra cho tôi».

Muso Soseki mỉm cười và lắc đầu. «Chỉ đúng phần nào thôi. Người ta nhờ cậy òng khuyến nghị và cố vấn, thế nên, thật ra ông cũng có thể góp phần vào việc đề ra các mục đích sau này được vạch ra cho ông chứ».

«Đúng. Nhưng tôi khuyến nghị dưới áp lực của các biến cố xẩy ra hàng ngày: thiên tai, đói rét, chiến tranh và sự lên xuống của thị trường chứng khoán. Tôi phải nhắc nhở chính tôi và tất cả các người thương lượng với tôi là một sự thay đổi không nhất thiết là một sự tiến bộ. Nếu tôi không thể làm cho họ tin tôi, có thể tôi sẽ được chỉ thị đưa ra một cuộc đổi thay mà tôi không tin tưởng. Mặt khác, sự thay đổi mà tôi tin tưởng có thể chỉ đẻ ra những thiên tai khác và những chiến tranh khác».

«Và ông hài lòng với hoàn cảnh ấy, mà thật ra chính là toàn thể cuộc đời chuyên nghiệp của ông? »

«Tôi chấp nhận nó như một sự kiện-một sự kiện cần thiết của cuộc sống. Theo nghĩa ấy, tôi buộc phải hài lòng với nó».

«Có thật nó cần thiết bởi nó là cần thiết – hay chỉ vì ông muốn nó là cần thiết? »

«Ước mong tôi biết được câu trả lời».

«Mong ước chưa đủ. Ta phải đặt ta vào trạng thái đi tìm câu trả lời mới được»

Tôi biết rằng tôi đã thua lý. Tôi phải chấp nhận sự thua lý ấy bởi vì người này là ông thầy và tôi là học trò. Nhưng thật khó mà nuốt trôi bởi vì trên một bình diện khác, tôi là một vĩ nhân được Tổng-thống một đại cường quốc vời đến để thay đổi dòng lịch sử, nếu làm được. Sự kiêu hãnh nơi tôi gào lên đòi cởi bỏ sự ràng buộc với ông đạo sĩ cao niên này. Một giọng nói khác kêu. « Hãy nán lại, nếu không mày sẽ tự hủy diệt tan tành vì không có ông ấy giúp đỡ».

Muso Soseki im lặng một hồi lâu. Đôi mắt ông hướng thẳng về khu vườn không nhìn đâu thấy. Khuôn mặt đầy đường nét của ông thản nhiên trong sự suy tưởng. Tôi cũng tự thấy mình ngả dần về những trạng thái thể chất vả tinh thần của sự trầm tư. Sự chú ý của tôi hướng về luồng không khí nóng ấm cuồn cuộn bốc lên từ đám than chảy đỏ hồng. Tâm trí tôi tự tách rời khỏi cái lý luận của cuộc đối thoại trước đây và bắt đầu dạo chuyển tự do bởi động lực liên tưởng. Rồi bỗng nhiên nhà sư già lại cất tiếng nói:

«Tôi rất lấy làm tiếc thấy ông vẫn chưa trả lời cái câu hỏi về con chim cu.»

«Tôi đã suy nghĩ nhiều nhưng vẫn chưa hiểu- thấu câu đó! »

«Ngay cả bây giờ ông vẫn không hiểu? »

«Ngay cả bây giờ. »

«Vậy chúng ta hãy tìm câu giải đáp lần nữa.

Này ông, tại sao ông đến thăm tôi? »

«Để nghe sự yên lặug. »

«Ông đã nghe thấy sự im lặng chưa? »

«Đôi khi. »

«Ông đã nghe thấy tiếng con chim cu chưa? »

«Sao mà nghe thấy được. Con chim cu im lặng khi mùa Đông đến.»

«Nhưng ông đến đây để nghe sự im lặng. Tại sao ông không nghe thấy sự im lặng của con chim cu? »

«Tôi chưa có cơ hội hỏi nó. »

«Nhưng ông đã đợi cả năm để nghe tiếng nó gáy?

«Vâng. »

«Và khi ông nghe tiếng nó, ông biết là mùa Xuân đã về? »

«Vâng.».

«Vậy ông đã hiểu con chim cu? »

«Vâng. »

«Ông có sợ nó không hiểu ông không? »

«Tòi biết rằng nó sẽ không hiểu tôi. »

«Ông biết rõ hay ông kbòng muốn tìm hiểu? »

«Tôi không muốn tìm hiểu. »

«Tại sao? »

«Bởi vì tôi chưa hề tin con chim cu.»

«Òng có cho rằng con chim cu sẽ tha thứ cho ông không? »

«Tôi hy vọng nó có thể tha thứ. »

«Như vày ông sẽ làm gì khi họ yêu cầu ông giết con chim cu? »

«Tại sao lại có người yêu cầu tôi giết con chim cu? »

«Bởi vì nó không chịu gáy về mùa Đông. »

Và thế là đâu lại hoàn đấy, tôi vẫn chỉ là một tín đồ mới nhập đạo, lại trở về với cái cổng mà tôi đã bước vào. Người sư già nhận thấy rõ sự khó chịu của tôi bởi vì òng bỏ giọng trịnh trọng của đối thoại mondo và nhắc nhủ tôi một cách dịu dàng:

«Òng nên nhớ rằng điều ông đi tìm là một sự, hướng nội. Nó sẽ không cho ông một giải đáp chính xác nào về sự hướng ngoại mà ông dấn thân vào hiện nay. Nó sẽ không chỉ cho ông cách nào để thành công trong chức vụ Đại-sứ hay để giải quyết một vấn đề bằng cách biến nó thành một vấn đề khác. Điều nó sẽ chỉ cho ông là cái bí quyết của cuộc sống, sự mưu sinh và tiến bộ là do ở cá nhân chứ khỏng phải quần chúng. Thế nên, hễ làm điều gì để tiến bộ trong còng việc làm của ông hay của bất cứ ai, điều ấy phải được thực hiện bởi và qua sự hướug nội của cá nhân … » Ông ngừng nói một cách đột ngột và nở một nụ cười hiếm hoi với tôi. «Làm rối ren trí óc ông thật là không phải. Tri thông minh bao giờ cũng nở như một đóa hoa khi ta không nhìn thấy. Ông hãy viết thư cho tôi. Tôi sẽ lưu tâm vì ông, và khi ông quay trở về, òng sẽ đến thăm tôi. »

«Tôi sẽ lại thăm thầy-và xin cảm ơn thầy. »

Câu hỏi cho đến nay vẫn chưa được giải đáp. Vẫn không thấy sự soi sáng đâu cả, chỉ thấy một cảm giác bất mãn và linh cảm thấy sự không hay sâu sắc hơn. Nhưng có một điều tòi đã thấu triệt: đó là sự liên hệ giữa tôi và Muso Soseki đã rất thực; và ông là bậc thầy, đã quan tâm sâu xa đến cuộc sống của tôi cũng như tôi quan tâm đến cuộc sống của ông vậy. Từ đây trở đi ông sẽ tự cho ông trách nhiệm phần nào về hạnh phúc và hạnh kiểm của tôi. Và tôi phải suy tôn ông, quan tâm đến sức khỏe và sự an khang của ông, quan tâm đến việc ma chay tử tế cho ông.

Nhiều nước-và nhiều máu-đã chảy dưới cầu kể từ lần đàm đạo với Muso Soseki mùa Đông năm ấy. Giờ đây tôi trở lại khuê viên Tenryu-ji, cố gắng để tìm hiểu ý nghĩa các sự đắc thắng ngoài đời và các sự khám phá riêng tư của tôi. Điều lạ đối với tôi bây giờ là tại sao trước kia tôi đã quá bận tâm về một câu hỏi đầy tưởng tượng về con chim cu và không mấy phiền lòng về lời nói cuối cùng của Festhammer trước khi tôi khởi hành đi Saigon.

«Anh Max, bất thần ngày nào từ nay trở đi, sẽ có kẻ lật đổ Phùng-văn-Cung và gia đình ông để lập một chính phủ mới. Trước khi ra tay, họ sẽ hỏi ý kiến anh ra sao và anh sẵn lòng ưng thuận đến mức nào nhân danh Hoa-kỳ … và

khía cạnh khó khăn của vấn đề là anh phải trả lời họ – và sau đó biện minh câu trả lời đó với Bộ Ngoại-giao và Tổng-thống … Chúc anh may mắn và thượng lộ bình an! »

Cách bờ biển Việt-nam một trăm dặm một phi tuần hộ tống chiến đấu cơ phóng pháo đến đón chúng tôi và bay thành đội hình chặt chẽ với chúng

tỏi cho đến hết cuộc hành trình. Cảnh đất liền đầu tiên chúng tôi nhìn thấy là vùng châu thổ bao la của sông Cửu-long, trải rộng ra một trăm đặm những ruộng lúa và vườn cây nhiệt đới, làng mạc, đê bờ, rạch kinh đến vùng nước phẳng phiu và nông sờ của bờ biển Thái-bình-dương.

Họ đã đưa tôi qua ngả này để tôi quan sát lần đầu tiên tình hình chiến sự. Vùng đồng quê châu thổ là chiến trường của vài trận đánh khốc liệt nhất trong cuộc chiến tranh. Sông Cửu-long là con đường tiếp tế để chở vũ khí và chiến cụ về suôi cho bọn du kích qua ngả Lào và Căm-bốt. Những vũ khí và chiến cụ đó được dấu kín dưới các bao gạo và các buồng chuối. Từ bièn giới trở đi, ghe xuồng được đàn bà, trẻ con, ông già và bọn thổ chở đi.

Bọn du kích đi lại cũng do ngả ấy qua sông, rạch và đầm. Bọn chúng tự do như loài vật sống trong thiên nhiên-vì có ai dò được lòng dạ của người dân quê nhỏ thó nước da bánh mật đang cấy lúa, đan lá gồi hay bán mía trong chợ làng?

Trong đời sống gia đình chặt chẽ của các làng mạc mái tranh vách đất, ta có thể nhìn thấy tấn bi kịch đắng cay của cuộc nội chiến qua những hậu quả đơn giản nhất và tàn nhẫn nhất của nó. Đêm đến dân làng rút về sau hàng cọc dậu tre cùng với trâu bò. Mỗi gia đình treo một ngọn đèn để soi sáng các vách tường và đặt một người canh gác để đề phòng bọn Việt-cộng xâm nhập bằng cách bò qua các ruộng lúa và bụi tre để tấn công. Nhưng người đứng canh bên vách và người bò trong đám sình lầy bên dưới là anh em, họ mạc với nhau. Vì thế nên đôi khi ngọn đèn phụt tắt và một cánh tay đưa qua bờ rào để đỡ người du kích vào nhà. Có khi họ đưa cho nhau gạo hay thuốc men giúp người bị thương. Có khi là một cuộc án binh bất động để cho bọn du kích có thể nghỉ ngơi dưỡng sức trong vườn chuối trong khi dân làng ngủ yèn lành trong vòng rào. Đối với bộ Tư-lệnh quàn sự thì đó là một cơn ác mộng. Đối với dân cư nơi thôn ấp thì đó là sự thích ứng tự nhiên với hoàn cảnh – bởi vì người dân quê miền châu thổ còn có gì nếu cái cơ cấu gia đình từ ngàn xưa bị hủy diệt?

Ở độ cao an toàn là năm ngàn thước máy bay, chúng tôi vòng vòng trên giải đất đầy sinh lực. Một Thiếu tá không quân chỉ cho tôi thấy một tỉnh nhỏ mà ông gọi là Trà Vinh. Ông chỉ tôi xem những trực thăng bay quần trên thành phố như những con chim vụng về. Chúng tôi vụt thấy những lằn sẹt của rốc-kết, những tia chớp nhỏ của súng bắn và những cụm khói tỏa ra bốc lên từ những lùm cây nhỏ. Nhưng chúng tôi không thấy người đâu cả, chỉ thấy những đàn kiến nhỏ. Chúng tôi không nghe thấy âm thanh nào ngoài tiếng vo vo cao vút của các phản lực cơ bạn. Chúng tôi là những thần nhân trên trời nhìn xuống cảnh hỗn loạn vô vị của thù nghịch giữa đám người hạ thế, và ngày mai đây sẽ được con sông lờ đờ cuốn trôi sạch hay chìm lắng xuống đồng lúa ngập nước hay bị rừng già nuốt đi mất. Chúng tôi đợi chừng mười phút rồi quay về hướng Bắc và bắt đầu hạ thấp từ từ về phía Saigon.

Khi chúng đi về phía phi trường, các phi cơ hộ tống rời khỏi chúng tôi và phi cơ chúng tôi bỗng đâm bổ xuống phi đạo để hạ cánh. Ông Thiếu tá không quân giải thích một cách lệch lạc rằng bọn Việt-cộng hoạt động cả ở ngoại ô thành phố và thỉnh thoảng lại có một phi cơ bị súng dưới đất bắn lên trong khi đáp xuống. Khi phi cơ ngừng bánh và cửa mở, chúng tôi thấy mình đang ở giữa một trại quân. Trực thăng và chiến đấu cơ phóng pháo đậu quanh vòng chu vi của phi trường. Có một toán lính chào danh dự của Hoa-kỳ và một đơn vị nhẩy dù Việt Nam nghiêm trang trong những chiến phục ngụy trang và mũ nồi. Ông Bộ-trưởng Ngoại-giao đứng giữa các tướng lãnh mặc đại lề. Các viên chức của Tòa Đại sứ đứng cùng với một toán quân nhân do Đại- tướng Tổng-tư-lệnh Tolliver hướng dẫn.

George Groton thì thào một lời nhận định bên tai tôi khi chúng tôi bước xuống sân bay.

«Họ đã tiếp đón ông như một tướng lãnh quân sự chứ không phải như một vị Đại sứ. Không biết ai đạo diễn vở tuồng này đây».

Tòi đoán chừng là Raóul Festbammer vì hắn vốn vẫn có tài về kịch trường ngoại giao. Nhưng tôi không có thì giờ đào sâu vấn đề. Ông Giám đốc Nghi lễ đi sát bên tôi và hướng dẫn tôi qua các nghi thức chào hỏi một cách mau lẹ. Nghi thức thi khá thân mật, nhưng cả buổi lễ quá ngắn ngủi, đến độ gần như cộc lốc. Tôi cảm thấy một sự căng thẳng, một ý muốn đem tôi ra khỏi phi trường và đưa tôi về Tòa Đại sứ một cách an toàn, càng sớm càng tốt, nhưng không ai nói ra. Tôi đi tới đâu cũng có một người võ trang che trước mặt. Đại tướng Tolliver ngồi cạnh tôi trong xe và khi chúng tôi rời khỏi phi trường vào con đường rộng rãi đi về thành phố, trước, sau và hai bên tôi đều có xe võ trang hộ tống.

Sau cuộc sống lễ nghi dè dặt bên Nhật, đối với tôi quả là một sự xúc phạm thô bạo và tôi tự cảm thấy tôi phản ứng lại một cách bất ngờ. Sự kích thích xâm chiếm tôi – một sự kích thích lạ kỳ, gần như tính dục, như thể sự phô trương vũ khí và cái không khí nguy hiểm và đe dọa vật thể này là một sự thách đố đối với nam tính của tôi. Tôi hài lòng được tiếp đón như một quân nhân chứ không phải với những sự tôn kính về chính trị. Tòi đến đây để hành động, để thúc đẩy những lực lượng và điều động những lực lượng ấy vào một mục đích thuận lợi. Tôi phải nêu gương tự tín, can đảm cho mọi người và để họ xem chức vụ của tôi nhự một chứng thư quyền lực. Đó là một giây phút say sưa, kiêu hãnh. Quân lính của Tolliver vây kín quanh tôi, như một nhân vật thiêng liêng, nhưng tôi muốn đứng dậy và để cho dân chúng nhìn thấy tôi như một người được đề cử đến để cởi mở xiềng xích cho họ.

Rồi tôi đưa mắt nhìn dân chúng và tức thời tôi như bị nước dội lên đầu làm cho tỉnh người. Dân chúng đâu có để ý nhìn tôi hay nhìn đoàn xe nham hiểm của tôi. Họ cũng không tụ tập từng nhóm để phất cờ và hoan hô vị tân cứu thế. Họ chỉ nhìn qua một lần rồi đưa mắt nhìn chỗ khác. Những gương mặt nhỏ và thông minh của họ trông chẳng khác như tạc bằng gỗ trắc.

Bọn người gánh vác nhún nhẩy đi qua với những thúng mủng treo dưới đòn gánh vắt ngang đôi vai gầy guộc. Một nhà sư đầu cạo nhẳn trong áo cà sa vàng nghệ chìa ra cái bát khất thực và một bà nội trợ đặt vào đó nắm xôi, miếng trái cây. Một vú em người Tầu già nua bước vội trên vỉa hè tay giắt những đứa trẻ sạch sẽ và đẹp như búp bê. Nhân viên cảnh sát gác tại các ngã tư đều có vẻ thản nhiên và làm việc hữu hiệu. Các cô thiếu nữ, tươi như hoa trong những váy, quần lụa ngồi sau lưng các cậu sinh viên trên các xe mô-tô. Các bà nội trợ ngồi trên xe xích-lô trông như những bà công chúa đài các và cổ kính, vẻ mặt bình thản, gần như khinh khỉnh, dưới nón lá.

Họ không phải là thù nghịch. Họ chỉ thận trọng, đứng ngoài cuộc, dửng dưng với những kẻ không thể làm gì thay đổi được nhiều nếp sống căn bản của họ. Đã có quá nhiều tiểu chúa đến rồi lại đi trong ký ức lịch sử của họ – bọn Tầu, bọn Mòng-cổ, bọn Bồ-đào-nha, bọn Hòa-lan, bọn Anh, bọn Pháp, bọn Nhật và sau chót là bọn Mỹ …và dầu vậy cũng chưa phải là sau chót, bởi vì Á- châu làm gì có sự kết cuộc. Địa thế bao la và phức tạp của lục địa này không thể có sự kết cuộc được. Các dòng giống bộ lạc luôn luôn xê dịch do sự thúc đẩy của những lớp núi chắn, sự khiếp hãi nhữug sa mạc tiêu điều, sự hấp dẫn của những vùng châu thổ đầy lúa gạo, sự thông thương của các sông ngòi dũng mãnh, sự ve vẫn của những hải đảo đầy hương liệu và những bờ biển sáng ngời châu báu.

Ở Á-châu bao giờ cũng có một ngày mai bởi vì đàn ông thì hãnh diện vì sức mạnh sinh lý và đàn bà thì được kính nể vì mắn con, và mặc dầu đói kém, dịch tả, kiết ly, đậu mùa, các bộ lạc vẫn cứ sinh sôi nẩy nở và Trung-quốc thì bao giờ cũng phình ra ở khắp biên giới và vươn dài các vòi hút háu đói đến các rưộng lúa và các con đường dẫn đến vùng biển của các hải đảo miền Nam. Trong hình bóng của những ngày mai đó, thành phố Saigon với những đại lộ đầy bóng mát, những biệt thự ấm cúng, với cái vẻ thanh lịch chán chường gô-loa, bỗng nhiên có vẻ phù du và xa lạ như chính tôi vậy.

Mắt tôi chợt bắt gặp một ánh mầu lóe lên và sự nhộn nhịp. Trước mắt tôi chừng năm mươi thước tôi nhìn thấy những viên ngói mầu xanh sáng ngời, những góc mái cong và những chạm trổ thiếp vàng của một ngôi chùa. Từ cổng chùa bước ra ba nhà sư, hai người trẻ tuổi đỡ một người đã già lắm. Họ cùng bước đến ven lối người qua lại, nơi đó họ trải một tấm thảm nhỏ xuống và đỡ nhà sư già ngồi lên trên. Một trong hai người trẻ đặt một lọ sành xuống cạnh bên. Họ cung kính ngả người lễ và rút vào trong chùa thành thử ra chỉ còn vị sư già ngồi đấy đơn độc như pho tượng quan sát bọn tôi đi đến.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 5 Dec 2025

Nguồn Internet

Chương 20

Nhớ Thầy Thuốc Ngỡi Ở Sa Đéc

Hôm nay ler septembre 1993, là ngày Báo hiếu của lễ Vu Lan PL. 2537, và

vừa rồi, tôi có đọc bài nói về Bác sĩ Phạm Văn Ngỡi, của anh bạn kèo dù già Thái Bạch, T.B. nói cuộc đời của thầy thuốc Ngỡi từ năm 1945 cho đến 1970 (năm tạ thế) vậy tôi xin viết tiếp lời T.B. và nhắc lại những gì tôi đã viết về quãng trước tức kể từ 1928 đến 1945. Tóm tắt lại, thầy thuốc Ngỡi, khi tôi biết, chưa gọi với chức “bác sĩ”, vì ông học trường thuốc ở Hà Nội, thi đậu ra trường với chức “médecin auxiliaire” phiên âm là “lương y phụ tá” và phận sự là giúp tay đỡ việc cho quan thầy thuốc tây, mới gọi “docteur en médecine”, chức “thầy thuốc” theo tôi hiểu, là danh từ do bác tôi là Dr Trần Ngọc Án, tự Diên Hương đã chọn và tự xưng và đề trên bảng gắn trước cửa nhà góc đường Nguyễn Du và Thủ Khoa Huân, là “Thầy thuốc Án” và sau nầy, khi Cách Mạng năm 1945 lật đổ chánh phủ thuộc địa Pháp, mới có danh từ “bác sĩ” trong khi từ lâu ngoài Bắc đã có sẵn từ “quan đốc” (docteur) và xin nói luôn nay gọi “y tá” thì trước đây trong Nam, chức infirmier auxiliaire “vẫn gọi nôm na là “phạm nhe” và khi nào tâng bốc để rửa ghét ít đau, v.v .. , khi ấy mới tặng từ “thầy điều dưỡng”.

Nhắc lại năm 1928, thì thầy thuốc Ngỡi đã có mặt tại châu thành Sa Đéc, ông có hai căn phố lầu một từng tại đường Vĩnh Phước, hai bên lầu ông có xây mỗi bên là bốn căn phố trệt, và mé hữu ông có dọn riêng hai căn làm phòng coi mạch và trị bịnh nhỏ và gấp rút, đặc biệt là ông có sáng kiến, dọn hai căn phòng thuốc y hệt nhau, nhưng một căn là dành cho người ưng trả tiền 2 đồng bạc (2$00) mỗi lần coi mạch và căn kế bên là chừa cho người không có tiền trả công coi mạch, tôi không dám gọi đó là người nghèo, còn từ “bình dân” hoặc “lao động” lúc ấy chưa có. Lối tháng Juillet (tháng 7 dương lịch) năm ấy, tôi từ Sài Gòn, tách rời trường Máy của ông quan Năm Rosel, đổi về tùng sự nơi tòa bố (dinh hành chánh) tỉnh lị Sa Đéc, với trên tay một gói áo quần nhục nhục và một bộ đồ y phục Tây, bỏ lại đất Sài Gòn nợ lút đầu lút cổ, nếu ở lại Sài Gòn là chờ ngày ngồi khám: kể sơ ba tháng tiền mướn phố chưa trả, nợ mua chịu một xe hơi hiệu FIAT của hãng Laurent Gay, giá 2.700$00, nhưng mua chịu, vừa trả được hai ba tháng và còn thiếu hơn hai ngàn bạc, phố và xe là tôi đứng tên, nhưng xe ấy ông nhạc bà nhạc sử dụng để đêm đêm đi đánh bạc và hai đứa tôi khi được ngồi xe là để đi mời tay bài về chứa lấy xâu, ngoài ra tôi chưa kể số nợ hỏi tiền góp và vay bạc chà sét ty trên số muôn … bữa tôi đến trình diện nơi phòng thuốc, tôi cung kính chào và thưa tôi là con rể của bà Kính, mẹ vợ tôi tên Dương Thị Thìn, vốn thân thuộc với Dì Tư Ngỡi, ông Ngỡi chưa nghe tôi dứt lời đã gọi tôi bằng cháu và mời cứ dọn đồ lại ở, Dượng cho tôi một căn phòng có giường sắt nệm bông mùng tàn ong trắng phếu, vài ngày sau vợ tôi là cô Tư Tuyết từ Sài Gòn xuống, hai đứa ở nhà Dượng Ngỡi mà ngỡ ngàng muốn rút lui nhưng đã trễ, cơm dọn trưa cơm ta chiều cơm Tây, ba bồi (boy) phục dịch, tôi còn nhớ tên hai người là Cư và Ngân, hai người nầy tuy dọn ăn mặc quần áo bà ba, nhưng sạch trắng, ủi là sắc lém, còn vợ tôi thì y phục lòn xòn ngồi vào bàn không xứng, riêng tôi thì mặc bộ đồ Tây bèo nhèo cả tuần nhựt mới thay một lần và tôi quên nói, khách  ôi là khách, cứ đôi ba bữa là có ông Tây nầy hoặc vợ chồng ông Phó chủ tỉnh đến dự tiệc và hai đứa tôi không phương từ chối và Dượng tôi cứ ép có mặt mỗi khi có khách dự tiệc, để cho rậm đám và bữa tiệc thêm vui, trong khi tôi tủi thầm và nát ngướu tim can … Dì và Dượng quá tử tế, nhưng tôi thì nhột nhạt, vài tháng sau tôi kiếm được phố trống gần và cùng một dãy nhưng con ma nghèo chưa dứt khoát, ở Sài Gòn tôi lãnh 80 lương mỗi tháng thêm 60 bạc tiền dạy tiếng ta cho quan Tây, nay về Sa Đéc lương còn 65 bạc mất 15$ tiền phụ cấp đắt đỏ, tiền dạy Tây cũng mất luôn, thêm hãng xe hơi gởi thơ đòi tiền thiếu, thơ gởi ngay cho chủ tỉnh nhưng ông nầy độ lượng, dạy tôi điều đình sao xong cũng được vì là việc đời tư, cứ tháng nào tôi cũng hụt tiền chợ mấy ngày cuối tháng, tôi đến tìm Dượng Tư Ngỡi tại phòng mạch, hỏi khi mười khi năm đồng Dượng đầu kéo ngăn tủ trao số bạc và khi lãnh lương tôi đến xin trả, Dượng Tư vẫn cười tít toét và mắng yêu: “Bộ giàu lắm hả? Nhớ đừng cho Dì hay”. Ôi? lòng rộng như mặt nước Sông Tiền, nay Dượng đã khuất mà ơn kia vẫn nặng.

Thầy thuốc Ngỡi mất đã lâu, Thái Bạch kể sự tích thấy cử chỉ có nhiều bê bối, nhưng phải nhìn nhận Đảng rất là rộng lượng, còn dân chúng đất Sa Đéc, những người kỳ cựu còn nhắc và khen thầy thuốc Ngỡi: “tay bằng miệng và miệng bằng tay”, nghề tuy chẳng hơn ai, nhưng ông có được tánh dễ dãi, lạc quan, không có bịnh nhơn nào làm cho ông chạy và với bịnh nào ông cũng coi là nhẹ và nhờ ông vui tánh mà bịnh nhơn tin theo mà lành mạnh không hay. Ông lại có tánh mau biết lòng người, mỗi lần thấy tôi buồn buồn là biết tôi cạn tiền, ông thường bày chước dạy tôi dọn bàn dọn bài và tối lại, ông cùng ba ông bạn già kéo đến nhà, chà bài thiên cửu, đánh tới sáng hôm sau là tôi có đủ tiền xâu đắp đổi qua tiền chợ tiền cơm. Khi có người rước về nhà trị bịnh, khi ông gặp người kéo xe đi quá chậm, ông bèn biểu hạ gọng, và ông cho tiền hậu hỷ rồi nhảy qua xe khác chạy mau chạy lẹ hơn, vì ông nói: “cứu bịnh như cứu lửa?”. Nhưng ông có tật ham vui bài bạc, ông thường dùng xe nhà, xe đua hiệu Bugatti sáu máy, mỗi trưa ngày thứ bảy, ông năng lên Sài Gòn đánh bạc, xe của ông khi chạy gần tới bến đò Mỹ Thuận, ông ra hiệu kèn thì đò máy dầu sắp mở đỏi, cũng nán lại chờ rước xe ông vì tiền thưởng dồi dào, năm chót trước khi tôi rời tỉnh Sa Đéc, nhớ vào dịp Tết năm nọ tôi đến từ giã ông để về Sốc Trăng thăm Ba tôi, và tôi hay tin ông kẹt tiền tôi vụt mời ông hãy nhận một số bạc lớn (độ  7.000$00) tôi sẽ lấy bạc tủ Nhà Nước để ông mượn dùng đỡ, khi tôi ở Sốc Trăng trở lên, hết Tết, nhà băng mở cửa làm việc, ông sẽ hoàn số tiền nọ, ban đầu ông khứng chịu, nhưng khi tôi mang tiền đến thì ông từ chối không nhận với câu: “Tiền của Nhà Nước, khó lòng và lôi thôi lắm. Hãy trả vô tủ lại đi!”. Mấy lời chí thiết nầy, tôi nhắc lại đây để cho thấy tấm lòng ông Ngỡi, và nhờ vậy mà tôi khỏi mất chức khỏi ngồi tù. Ông Ngỡi thường dùng ngôn ngữ Pháp và chơi thân với Tây, không phải nịnh bợ, nhưng theo ông, chơi với quan Tây cho ăn và đãi tiệc, thường là để mua lòng, khi nào có người cậy ông, ông vào quan và can thiệp thì quan nhượng và bỏ qua ngay … sau rốt, ông mắc nợ lớn, chủ nợ lúc đó, có tục bắt giam thân cho vào tù chờ trả nợ, ông Ngỡi vào khám Vĩnh Long, ngày mãn hạn, xe ô tô nườm nượp kéo từ Sa Đéc qua Văng mừng và rước ông Ngỡi như lễ thỉnh sắc thần. Tây tà đều ngán … Một khi ông hay quan thầy cũ, đốc tờ Le Roy des Barres từ Hà Nội về xứ, ông mời des Barres và quan thống đốc Blanchard de la Brosse, xuống Sa Đéc cho ông tiễn hành.

Ông bày hội chợ “kermesse” tại sân túc cầu, chủ tỉnh Bartoli đọc diễn văn lập cập còn ông ứng khẩu nói dòn tiếng Tây nổ như bắp rang, người nào không biết thì sẽ chê ông ưa bợ đỡ, nhưng khi biết tánh người Miền Nam thì phần đông đều như vậy, ở với bọn thuộc địa, ngôn ngữ như chúng thì chúng phải kiêng. Sở dĩ thầy thuốc Ngỡi như đốc tờ Nguyễn Văn Thinh, và như bác sĩ Trần Văn Đôn, vào Hội đồng Tư Vấn, v.v .. là bị Tây gạt mớp, khi biết được thì việc đã lỡ, đèn nhà ai nấy sáng, xin khoan lên án và sau nầy sẽ hay. Đời ông Ngỡi kết cuộc rất bi quan. Ông mắc bịnh nước tiểu có đường, ngày tôi đến thăm, gặp ông ngồi ăn canh hẹ tào hủ, ông chan cơm lua vài đũa rồi buông đũa ngó tôi lưng tròng. Tôi là thằng ở bạc, ngày đưa đám tôi không hay để tiễn Dượng tôi. Khi ông ở Hà Tiên, ông đặt tên con Hà và Tiên (nay còn bà quả phụ Tiên) và về Sa Đéc, con là Sa và Đéc, nay Sa vẫn còn nhưng đã trên bảy mươi và vẫn không được dồi dào sức khỏe. Tôi viết bài nầy nếu có sơ sót là ngoài ý muốn và còn một chi tiết nhỏ, tôi không  đảm bảo là đúng sự thật nhưng vẫn thuật lại đây và không làm bớt uy tín Dượng Tư Ngỡi được, là có người thuật lại rằng Ngỡi trước tiên là y tá ở dưỡng đường Chợ Rẫy, một đêm Ngỡi gác trại sanh, một phụ nữ sanh cảnh đẻ ngược, chạy đi tìm bác sĩ Tây thì không gặp, lên tìm ông An Nam thì cũng vắng mặt, tự Ngỡi đảm đương, sáng ngày hai bác sĩ thấy “mẹ lành con vuông”, bác sĩ Tây phấn khởi quá, đề nghị cho y tá nầy vượt bực được khỏi có đít lôm, ra Hà Nội học nghề thuốc, gặp thí nghiệm quan thầy Tây dạy sinh viên chỉ chỗ của đầu đứa trẻ trong bụng mẹ, các sinh viên kia đều kẻ trật người trúng, riêng y tá nầy khi nắm chắc đầu đứa bé trong thai thì tay nắm cứng, miệng hô: “Voici la tête”, bác sĩ Tây cười, và khen trí lanh y tá nầy.

Giấy còn thừa, xin kiếu lỗi vì viết quá dài, nay viết thêm: “Sở dĩ trong Nam, khi nói “Ngỡi”, Phạm Văn Ngỡi, khi lại nói Ngãi, như Vàm Đại Ngãi ở Sốc Trăng, như Quảng Ngãi, ở Miền Trung, và tránh và ít khi dùng và hát chữ “Nghĩa” (trừ Thủ Khoa Nghĩa là bài khác) và chuyện nầy là do người bạn quá cố Năm Sa Đéc truyền cho biết, như câu Lữ Bố với nàng Điêu: “ … đây mong kết ngỡi, đó đành vong ân!” vẫn hát Ngỡi, kéo dài nghe êm, chớ nghĩ … ỉa (nghĩa) thì thối lắm.

(1-9-1993, V.H.S.)

Tội nghiệp cho Phạm Đăng Hưng, nhân vật lớn đất Gò Công.

Gọi ông bằng gì cũng khó. Ông là cực phẩm trọng thần đời vua Gia Long, nhưng nay mộ lăng không được ấm cúng, nên tôi hạ hai chữ tội nghiệp. Đó là hỗn. Nhưng viết làm sao? Có người đã khuyên tôi sống dai biết khá, hãy kể nhơn vật xưa đất nầy nghe chơi. Tôi cũng muốn lắm. Nhưng bứt mây động rừng. Có nhiều ông bự, trước làm nhiều việc không hay, tỷ như Trần Bá Lộc, nhưng nay kể việc ông làm, cũng không xong. Biết đâu chừng, dòng họ ông dầu nay thay danh đổi tánh, nhưng nay mình nói động, họ thù họ ghét, viết không ăn được mấy đồng, mà cái hại to lớn như bồ lúa. Một ngày nào họ quăng cho gãy giò, đáng kiếp, tiền viết lách không đủ chạy thuốc. Bằng như viết để bêu thơm, cũng khó. Người đọc bài sẽ chê viết nịnh bợ. Nói ba hoa rồi cũng phải viết, cho đỡ buồn. Lấy sự tích nầy làm gương.

Phạm Đăng Hưng

Sanh tại giồng Sơn Qui (đất nổi cao như mu rùa) cũng gọi là giồng Khổng Tước, vì xưa có chim công đến làm tổ nơi đó. Lớn lên theo đánh giặc, người nào theo Tây Sơn thì nay được tôn, người như Hưng, theo Gia Long, khi về già, vua hấp hối, gọi lại và cho làm người tin cậy, giữ lời trối. Rốt lại, người nhận trối được dân tôn làm thần và đó là đức Tả quân (Bà Chiểu), còn  Hưng, về làng nhau rún, xây mộ, lại bị mấy lần phá phách: lần nhứt, bia đá có chữ của Phan Thanh Giản, khi bia chở về tới cửa biển trong nầy, gặp lúc Tây đánh bên mình giết đại úy Capitaine Barbet của chúng, chúng đoạt thuyền cướp bia, lấy bia chạm lên ba chữ Tây “ci git capitaine Barbet” v.v .. rồi dựng bia nầy nơi mả Barbet ở nghĩa địa Sài Gòn, tôi từng thấy bia nầy tận mắt, rồi nghĩa địa Tây bị ta phá bình địa, tấm bia đá ấy xiêu lạc hà phang? Vua Tự Đức sai làm bia khác cho ông ngoại, bia đem về Gò Công và có được dựng lên hay không, tôi làm sao biết, duy mới rồi, mua tờ tuần báo Văn Nghệ số 110 (7/10-10-93), nhìn kỹ nơi trang 8, thấy mập mờ lăng họ Phạm, nơi phía lưng có dạng cao và bị che khuất, có phải đó là bia thứ 2 của đời vua Tự Đức sót lại hay không?

Trong bài ấy, ông Nguyễn Hoài Nhơn thuật rằng lăng mộ bị phá phách, mấy con sư tử đá rất khéo, di tích kỳ công thợ Huế thế kỷ XIX nay hư hao đã nhiều, hóa ra dân ta còn khờ quá, không có lòng tôn trọng mỹ thuật cổ, dầu của đời nào, đời Tây Sơn hay đời triều Nguyễn Phước cũng là cổ vật nên để dành và tại sao làng xã Gò Công để cho chăn trâu chăn bò phá đi. Ai ghét cộng cho bằng dân Anh, nhưng họ đâu có dại và Ăng lê vẫn tu bổ mộ phần của Karl Max để dụ ngoại dân đến làm giàu.

(viết ngày 3-12-1993 cho số Xuân báo Lao Động)

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Post by Sơn râu 5 Dec 2025

4. Y Sĩ Đại Úy Trang Châu

Lê Văn Châu, bút hiệu Trang Châu, sinh năm 1938 tại Huế. trung học Yersin, Tú tài Triết 1957. Tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Sài Gòn 1965. Sinh viên Quân Y Hiện dịch Khóa 12, gia nhập binh chủng Nhảy Dù, phục vụ tại Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù và Trường Quân Y tới 1975. Viết cho các báo: Tình Thương, Văn Học, Khởi Hành, Tiền Phong … Tác phẩm: Tình Một Thuở, thơ 1964; Y Sĩ Tiền Tuyến [giải Văn Học Nghệ Thuật 1969]; Giải Thích, thơ 1972; Thơ Trang Châu 1989, Về Biển Đông, bút ký 1995 …

Y sĩ Đại úy Lê Văn Châu

Một bài thơ cho Tuấn, Y Sĩ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù

Tuấn ơi

Mầy không chấp nhận tầm thường

Lẻ loi mà bất khuất

Mầy lớn lao bằng im lặng

Hiên ngang trong âm thầm

Trang Châu và Nghiêm Sỹ Tuấn là bạn đồng khóa Y Khoa 1965, cùng làm báo sinh viên Tình Thương từ 1963 cho tới ngày ra trường. Trang Châu là sinh viên Quân Y hiện dịch, gia nhập binh chủng Nhảy Dù về Tiểu Đoàn 6. Nghiêm Sỹ Tuấn là y sĩ trưng tập cũng tình nguyện chọn về binh chủng Nhảy Dù – điều mà Đặng Vũ Vương trong nhóm Academic Tình Thương Vương-Tuấn-Thuần gọi đó “một chọn lựa thử thách cá nhân.” Nghiêm Sỹ Tuấn về Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù thay thế Trang Châu. Bài sau đây là trang bút ký Trang Châu viết về Nghiêm Sỹ Tuấn:

“…Tuấn là y sĩ Dù duy nhất bị thương hai lần, một lần ở Dakto, một lần ở Cao Lãnh. Ở Cao Lãnh anh bị một viên đạn ghim sâu vào đầu gối. Lối bị thương “lãng nhách” này làm Tuấn bực mình hơn là hãnh diện. Anh được gửi về Tổng y viện Cộng Hòa điều trị và tập vật lý trị liệu sau đó. Lần Tuấn bị thương ở Cao Lãnh tôi được chỉ định đi thay thế anh vì tiểu đoàn 6 Dù là đơn vị cũ của tôi. Khi trở về lại bệnh viện Đỗ Vinh, tôi nghe nói Tuấn sau khi bình phục sẽ được theo học khóa giải phẫu một năm. Thấy Tuấn nhỏ con, tôi nói đùa với bác sĩ Vũ Khắc Niệm và bác sĩ Đinh Hà:

– Thằng Tuấn mà về Đỗ Vinh thì phải đóng cho nó một cái bục để trong phòng mổ nó mới “khua đao” được.

Sau đó nghe nói Tuấn bỏ không theo khóa học giải phẫu vì đòi hỏi của Tuấn là sau khi học xong phải cho Tuấn về lại bệnh viện Đỗ Vinh, điều mà Cục Quân Y không hứa. Thế là tập xong vật lý trị liệu Tuấn lại “súng, xắc” trở về làm y sĩ trưởng Tiểu đoàn 6 Dù cho tròn chu kỳ hai năm phục vụ ở cấp tiểu đoàn.

Tòa soạn báo Tình Thương 103 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn. Nghiêm Sỹ Tuấn là Thư ký Tòa Soạn từ số 1 tới số 13 tới ngày Anh tốt nghiệp và gia nhập binh chủng Nhảy Dù.

Hình chụp trước Tòa soạn, từ trái: Bùi Thế Hoành, Trang Châu (trưởng ban

Thơ), Ngô Thế Vinh, Phạm Đình Vy Chủ nhiệm Tình Thương từ số 1 tới khi báo bị đình bản.

[tư liệu Ngô Thế Vinh]

Trận Khe Sanh mở màn. Đơn vị Dù hành quân cấp chiến đoàn. Khi một y sĩ mới về tiểu đoàn Quân Y Dù đúng vào lúc sư đoàn Dù đang chuẩn bị hành quân lớn, trung tá y sĩ trưởng Hoàng Cơ Lân bao giờ cũng chờ chiếm xong mục tiêu mới cho bàn giao chức vụ. Người sẽ thế bác sĩ Tuấn là bác sĩ Trần Quý Nhiếp. Trong khi chờ đáo nhậm đơn vị, bác sĩ Nhiếp ở hậu cứ sáng sáng đi nhảy bồi dưỡng. Vào thời điểm năm 1968 các sĩ quan đều bị cấm trại. Chúng tôi ăn ngủ và làm việc ở bệnh viện Đỗ Vinh. Tôi còn nhớ một hôm đang còn nằm ngủ trưa thì bác sĩ Niệm vào vỗ tay, nói lớn:

– Dậy, dậy, có tin quan trọng!

Tôi ngồi bật dậy, giọng Niệm đứt nghẹn:

– Thằng Tuấn chết rồi! Bị pháo kích! Y tá mình bị thương một lô nhưng không đứa nào chết. Chỉ có một mình Tuấn chết! Đau thật!

Nhiếp nhận lệnh cấp tốc lên đường thay thế Tuấn. Định mệnh lại oái oăm chờ chực ở ngã rẽ của đời người. Chỉ còn vài ngày nữa là Tuấn chu toàn nhiệm kỳ hai năm ở cấp tiểu đoàn. Khoảng 3 giờ chiều trung tá y sĩ trưởng cho gọi tôi tới văn phòng ông. Ông nói, giọng cố giữ bình tĩnh:

– Anh Tuấn tử trận rồi chắc anh đã biết tin. Vì anh là y sĩ cũ của Tiểu đoàn 6 Dù tôi giao anh nhiệm vụ thông báo tin buồn cho gia đình anh Tuấn, anh đi ngay và lựa lời nói cho khéo. Anh về cho tôi biết ý muốn của gia đình anh Tuấn về việc mai táng. Ngồi trên chiếc xe Jeep đưa tôi đến nhà Tuấn tôi như người vô hồn. Tôi hoang mang không biết phải mở đầu lời nói ra sao. Tôi chưa bao giờ được học tập để thi hành một công tác vừa khó khăn vừa tế nhị như đi báo tin một đồng đội vừa tử trận cho gia đình họ. Tôi không còn nhớ nhà Tuấn ở khu nào, chỉ còn nhớ là một ngôi nhà nhỏ nằm trong một khu bình dân. Ra mở cửa là một ông cụ người tầm thước, mảnh khảnh. Thấy tôi mặc quân phục Dù, đứng thẳng chào tay, ông nở nụ cười và nói:

– Mời đại úy vào nhà.

Vào nhà ông chỉ tôi một chiếc ghế mời ngồi. Ông cũng đứng trước một ghế đối diện. Tôi vẫn đứng yên, cất chiếc mũ đỏ đang đội trên đầu, cầm chặt nó trong lòng hai bàn tay, rồi run run cất tiếng:

– Thưa bác, cháu đại diện Trung Tá Y Sĩ Trưởng đến báo bác một tin buồn: Anh Tuấn đã tử trận ngày hôm qua.

Tôi vừa dứt lời ông cụ rơi người đánh phịch xuống ghế, ngồi bất động, hai mắt trừng trừng nhìn tôi, nét mặt nhợt nhạt. Tôi vẫn đứng yên không biết nói gì thêm. Giây lâu ông cụ mới hỏi:

– Bộ đánh nhau to lắm hay sao?

Lời nói ông cụ như một cái phao, tôi vội níu lấy:

– Dạ vâng, trận chiến rất ác liệt. Anh Tuấn đang săn sóc một thương binh thì bị một quả pháo của địch rơi trúng.

Tôi chia buồn với ông cụ thêm lần nữa rồi chào cáo từ sau khi biết ý muốn mai táng của gia đình.

Đám tang của Tuấn được tổ chức trọng thể theo nghi lễ quân cách. Tôi là một trong bốn sĩ quan mặc quân phục đại lễ trắng đi cạnh quan tài Tuấn. Tôi còn nhớ lúc hạ huyệt, hai người khóc nhiều nhất là bác sĩ cố vấn Smith và bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ, một bạn cùng lớp của Tuấn.

Trả thù dĩ vãng

hung-viet.org

26 Tháng Ba 2012

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Dec 2025

Chúng ta đã nghe nói đến khu lăng mộ làng An Bằng trong vùng biển Thuận An, thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Đây là một ngôi làng có những khu lăng mộ tráng lệ, được nhiều người gọi là “thành phố ma” hay “vương quốc của người chết,” với những công trình xây dựng đồ sộ, công phu mà có lẽ trong nước và cả ngoại quốc khó có nơi nào sánh nổi, kể cả so với lăng tẩm triều Nguyễn tại Huế.

Trước năm 1975 An Bằng là một ngôi làng biển cách xa ánh sáng văn minh của thành phố Huế, dân cư hầu hết là ngư dân nghèo khổ, không có ruộng đồng, mùa cá năm được năm không. Những năm mất mùa dân làng phải đi ăn xin, làm thuê cho các vùng lân cận. Thời thơ ấu, tôi đã trông thấy từng đoàn người từ vùng biển Thuận An dắt díu nhau đi bộ lên Huế để đi xin. Có những thời điểm cả làng vắng hoe vì đến cả trẻ con cũng theo bố mẹ đi ăn xin, nên An Bằng đã có thời được gọi là “làng ăn xin.”

Sau năm 1975, Thuận An trở thành một địa điểm thuận lợi để vượt biển, có người sang đến Hồng Kông, có ghe được tàu buôn ngoại quốc vớt. Người An Bằng ngày nay 80% đã định cư ở nước ngoài, có gia đình có đến 13 người con ở Mỹ. Vươn lên từ quá khứ nghèo khó, khổ cực, dân An Bằng đỗ đạt hay làm thương mãi rất thành công. Cũng như tất cả những người Việt bỏ quê hương ra đi, họ dành dụm tiền bạc để gửi về giúp cha mẹ già hay thân nhân còn ở lại. Tưởng nhớ ông bà hay lo phần mộ cho cha mẹ khi qua đời, khu lăng mộ An Bằng thành hình với hằng trăm khu lăng mộ công phu hoành tráng, có ngôi mộ tốn phí lên đến $170,000. Có gia đình đã xây xong lại đập phá để xây lại cho hơn người khác. Nhiều ngôi biệt thự cũng đã xây lên vì sĩ diện cho hơn hẳn láng giềng mà không cần có người ở. Tuy vậy, làng An Bằng còn quá nhiều gia đình kém may mắn, sau bao lần cố gắng vượt biển đã thúc thủ chịu cảnh nghèo đói như xưa, không có cả tiền cho con đi học, chẳng đủ tiền để mua dầu đi biển, và đất đai trong làng càng ngày càng thu hẹp vì sự phát triển của mồ mả người chết. Do vậy những khu lăng mộ này không cân xứng với quang cảnh trong làng và đời sống dân cư hiện nay của An Bằng.

Người gửi tiền về với lý do báo hiếu, nhưng người làng xây dựng nên những khu lăng mộ lớn lao không kém các bậc vua chúa thời xưa, phải chăng vì mặc cảm nghèo đói trong quá khứ, bây giờ có tiền làm sao cho nở mặt nở mày với thiên hạ.

Đó là nói về những người nghèo khó vượt biển ra đi, còn những người ở lại, sống sau thời bao cấp, thời “mở cửa” có tiền bạc, cũng vì mặc cảm một thời đói rách, khó khăn, đổ tiền vào để khoe khoang. Sự phô trương ấy không phù hợp với một đất nước mà 80% người dân đang quần quật chạy theo miếng ăn mà ngay trong làng, các cơ sở y tế, giáo dục vẫn không hơn gì những vùng đất nghèo khổ khác. Thay vì trả thù quá khứ bằng cách đầu tư vào các thế hệ tiếp nối để xây dựng một tương lai sáng sủa hơn cho xóm làng, thì những vị trưởng giả này muốn được một tiếng khen ngợi, hay trầm trồ cho những công trình tốn kém, vô bổ cho hư danh.

Theo nguồn tin trong nước, cho tới nay tại Việt Nam đã có tới 29 chủ nhân của xe Rolls-Royce các loại, cả cũ và mới. Đây thực sự là con số khá đặc biệt với một thị trường nhỏ như Việt Nam bởi mỗi chiếc Rolls-Royce mới có giá sau khi đóng thuế trước bạ hơn 1 triệu đô la. Dương Thị Bạch Diệp, Lê Ân, Lê Hoàng, Nguyễn Đình Khoa là vài tên chủ nhân tiêu biểu. Nguyễn Quốc Cường với bộ sưu tập Lamborghini Gallardo SE, Lamborghini Gallardo, Ferrari 360 Spider, Ferrari F430, Ferrari F430 Spider… có giá từ $200,000 đến $500,000. Đoàn Nguyên Đức tức Bầu Đức, nay là một đại gia sở hữu một tài sản 100 tỷ đồng là chủ nhân chiếc máy bay Beechcraft King Air 350 có 12 chỗ ngồi với giá 7 triệu đô la. Chủ tập đoàn Hòa Phát Trần Đình Long cũng bỏ ra để mua máy bay riêng 5 triệu.

Các tỉ phú ở Mỹ chưa có ai chơi ngông như nhà giàu Việt Nam đặt một cỗ quan tài bằng gỗ quý, giá ít nhất cũng phải $400,000 đến $600,000. Đã từng có đại gia ở Hải Phòng lên tận Hà Nội đặt quan tài gỗ sưa, chạm khắc rồng phượng, dát vàng, tổng chi phí khoảng… $5 triệu. Nhiều đại gia sưu tập “ngọc nghiến” làm bàn ghế, chơi cây cổ hàng vài trăm tuổi, cây sanh 200 tuổi của một đại gia có giá $1.2 triệu. Ở một xứ nghèo “bắt ốc mò cua” như Nghệ Tĩnh cũng có người xây dựng một ngôi nhà gỗ giá 3 triệu đô la, xây cất từ 2,000m3 gỗ quý đinh hương, giáng hương và cẩm lai, hay tổ chức đám cưới chơi ngông cho bõ những ngày cơ cực, với thù lao mỗi ca sĩ lên đến $20,000, chưa tính chi phí hôn lễ, xe đón dâu và tiệc tùng. Để trả thù dĩ vãng thua thiệt người ta làm đám ma chó linh đình, đón dâu bằng máy bay riêng, mua du thuyền… nghĩa là bằng mọi thứ để lòe đời, trong một xã hội mới phát triển, vừa ra khỏi chiến tranh, với lối sống “y phục” chẳng “xứng kỳ đức” chút nào!

Dân làng An Bằng xây những khu lăng tẩm đồ sộ đắt tiền như ngày nay là vì mặc cảm ngày xưa ông cha đã nghèo khó, vất vả thậm chí có cuộc sống khốn cùng, nay muốn phô trương để trả thù cuộc đời, trả thù dĩ vãng. Những người có cơ hội giàu phất, nhanh lên chỉ trong vòng mươi lăm năm từ một dĩ vãng khó khăn, đói nghèo muốn hoang phí tối đa để bù đắp thua thiệt trong quá khứ. Sau tháng 4, 1975, những người từ trong rừng ra, cũng từ mặc cảm này, không còn “sáng ăn khoai” mà “khoái ăn sang” nên vào tiệm ăn sáng thì phải “thuốc có cán,” “phở đặc biệt tô lớn hai hột gà,” “cà phê sữa đá”… Trả thù những ngày sơ tán, bom đạn, tem phiếu, chờ chực suốt ngày để mua được miếng thịt ôi, con cá, mớ rau, thước vải… ngày nay không thiếu những “đại gia” chân còn dính phèn nhưng cũng vào hàng ngũ “quý tộc” trong những câu lạc bộ dân đánh golf, chơi du thuyền, quần vợt… giàu có, phú quý “sinh’ năng dâm, ăn chơi trác táng cho bõ những ngày cơ cực.

Nhận xét về lề thói chơi sang này, Tiến Sĩ Alan Phan, chủ tịch Quỹ Đầu Tư VIASA, một doanh nhân Việt ở Mỹ đã nói rằng: “Đại gia mới giàu nên thích khoe mẽ, nó bắt đầu từ tiềm thức về một quá khứ thua kém.” Để giải thích hiện tượng “chơi ngông,” “khoe mẽ” hiện nay ở Việt Nam, ông Phan nói thêm: “Doanh nhân Á Châu, phần lớn người Trung Quốc và Việt Nam gặp phải một vấn đề là sĩ diện. Có lẽ vì mặc cảm thôi. Đại gia Việt Nam đa số mới giàu, chứ thời bao cấp có ai giàu đâu. Bởi vì họ mới giàu lên nên thích khoe.” Trong câu chuyện trên báo chí Việt Nam, bà Bạch Diệp thú nhận theo cha tập kết ra miền Bắc, sau năm 1954, kể cả những khi đã có chồng, sinh con, có lúc đói phải đi mót khoai về ăn. Bầu Đức, theo báo Việt Nam, 40 năm trước là một chú bé chăn trâu ở Phù Cát, Bình Định. Ông Lê Ân lớn lên trong một gia đình nghèo đông con ở xứ Quảng, đã mưu sinh qua đủ nghề may, nấu xà bông, bỏ mối buôn thuốc tây, đi vùng kinh tế mới, tham gia vượt biên, ngồi tù.

Không nghe ai nói các đại gia ở Việt Nam làm việc từ thiện như thế nào, nếu xuất thân từ bần cùng mà ra phải thương xót hoàn cảnh người bần cùng, nhưng họ lại thích chơi ngông, để trả thù một quá khứ đã chịu thiệt thòi, thua kém người khác. Trong khi đó, tỉ phú người Mỹ Warren Buffett, 80 tuổi, đã tặng $1.78 tỉ cho nhiều tổ chức từ thiện, trong đó phần lớn được trao cho quỹ từ thiện của gia đình Bill Gates. Ông vẫn ở căn nhà mua từ 50 về trước, vẫn tự lái chiếc xe đời cũ mỗi ngày. Quỹ Bill & Melinda Gates từ năm 2007 đã chi $28 tỷ (chiếm 48% tổng tài sản $59 tỷ) để làm từ thiện. Theo công bố đăng trên trang http://www.givingpledge.org/ của tổ chức Giving Pledge, hai tỉ phú Bill Gates và Warren Buffett đã kêu gọi được 40 tỉ phú khắp nước Mỹ cống hiến phần lớn tài sản của mình, khoảng 50% số tài sản hoặc hơn, cho mục đích từ thiện.

Quan quyền, cán bộ mặc cảm về cha ông xuất thân “bần cố nông” thì dựng lăng mộ, xây nhà thờ họ rình rang, dân dã mặc cảm vì nghèo đói, đã bán thân con ra ngoại quốc, thì xây cửa nhà cho lớn, mua xe cho sang, TV màn ảnh rộng, tiêu xài huy hoắc cho bằng làng bằng xóm. Càng trả thù dĩ vãng càng làm cho người đời thấy rõ dĩ vãng của mình và trong một xã hội vốn mang khẩu hiệu tranh đấu cho giai cấp, ranh giới giàu nghèo càng ngày càng cách biệt, “người ăn không hết, kẻ làm không ra!”

Tạp ghi Huy Phương

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 4 Dec 2025

Chương 19

Trái Sầu Riêng

Mùa nầy, tháng 8 âm lịch, bánh Trung thu đang làm quảng cáo, bánh Bắc, bánh Ba Tàu Chợ Lớn, rầm rộ bày bán, lớp có bán rao cấm bán lậu v.v.., cũng là mùa sầu riêng đang rộ bán và cũng gần hết mùa – hãy mua và nếm cho biết mùi đi, các bạn nhỏ cán bộ có tiền, trái sầu riêng tôi nói đây – không phải một loại với “Mì ăn liền”, mà cũng xin đừng lầm lộn với “Lá Sầu Riêng” của nghệ sĩ Kim Cương, không khéo tôi bị kiện trộm tuồng trộm nhãn hiệu, cũng mùa rộ như nấm, loại sách trụy lạc, kiểu “Nổi loạn” mà có thứ quay Ronéo bán lén giá năm chục ngàn và thứ in lỡ bị  cấm phát hành, nhưng cũng có người lén mua cho được, vì phong trào Đời Mới, cái gì bị cấm, thì cái đó bán chạy như tôm tươi.

Vả lại, bài tôi viết đây, nửa theo khoa học, nửa viết cà rỡn giỡn chơi, cà lơ háp nắng, tánh tôi quen pha lửng, tuy tuổi đã 92, nhưng còn hơn lão tướng Huỳnh Trung trong Tam quốc chí, xơi cơm mỗi bữa một tô đầy, mặc dầu răng cỏ không còn và đã thôi gặm chí quách, chữ là “Trư Cốt”.

Không có trái cây nào như trái sầu riêng. Không ăn không biết ngon, khi biết ăn rồi vẫn nhớ và ghiền còn hơn ghiền xì ke châm chích.

Tên khoa học trong sách là “Durio Zibethinus Murray”, các bạn nhỏ cũng đừng nhớ chi danh từ nầy. Tên thông thường Pháp ngữ là “Durio”, người Miên đất Campuchia, nhại lại và gọi “Thu ren”, còn tiếng Việt ta là “sầu riêng”. Tôi không đủ tài đủ sức dịch nguyên văn bài chữ Tây của sách nghiên cứu của tác giả Alfred Petelot, bốn cuốn xuất bản năm 1952, nhan là: “les plantes médicinales du Cambodge, du Lao ét du Vietnam” (cây có vị thuốc của Miên, Lào, Việt). Những danh từ chuyên môn về thảo mộc học, tôi xin chừa cho các nhà học cao sẽ dịch lại cho đúng, riêng tôi, tôi xin tóm tắt đại lược những gì ông Petelot đã ghi: “Cây cao độ 25 mét. Lá dày cộm, lốm đốm, mỗi gai có chứa 3 hay 5 hột (hạt) li ti. Khi trái chín thì tự nứt xé ra (là lúc vừa ăn …)”.

Thường thấy trồng nhiều ở Miền Nam đất Việt và ở Cam Bu Chia. Có lẽ gốc gác của quần đảo Ấn Độ. Sầu riêng, trái lại là giống cây ăn quả được trồng nhiều nhứt ở Mã Lai Á. Cơm (thịt của trái nầy), ngoài Bắc dùng từ “cùi” để gọi mớ “thịt” ấy, tỷ như “nhãn cùi” thay vì ở Nam gọi “nhãn nhục”, trở lại về sầu riêng, thịt màu trắng như sữa, dẻo và béo gần như “cà rem” (crème), gần như sorbet thơm mát, và sầu riêng có một mùi đặc biệt, vừa như lê ghim, như hoa quả, như cà rem cây. Mùi đặc biệt khó tả của sầu riêng, không trái cây nào giống, là sầu riêng có mùi “thủm thủm” khi chưa biết ăn thì phải giựt mình tưởng đâu là mùi phân (phân của loài động vật), nhưng khi dùng quen, ăn quen rồi, quen mùi ấy rồi, thì cái mùi thủm thủm khó chịu ấy, lại là mùi riêng bắt nhớ bắt thèm!

Đặc biệt khác nữa là sầu riêng, khi chín thì từ trên cây rụng xuống cội  nhưng chưa dùng được và phải chờ trái tự nứt ra, thì “thịt” mới dịu và ngon hảo hạng, bằng như tiếc để lại ngày sau, thì thịt “trở nên có rượu” lên men, nhớt và mất ngon (đoạn cuối là của tôi viết thêm).

Sầu riêng có tánh cách bổ khỏe dục tình (propriétés aphrodisiaques). Rễ và lá, ở Mã lai á, người thổ dân dùng để trị bịnh sốt rét (theo thuyết của hai ông Burkill và Haniff) Card Bull. S.S. 1930, p. 176, và lá sầu riêng nấu lấy nước để tắm thì trị được bịnh da vàng (jaunisse).

Hột (hạt) sầu riêng dùng làm thức ăn được, khi nấu hoặc chiên cho chín. Ở đảo Java (trước đây ông cha ta dịch là Chà Và), hột sầu riêng đâm hay giã nhỏ nát như bột, thì dùng trộn với đường, và làm thành bánh ngon. Một đoạn trên đây, sau mấy câu mở đầu, là tôi cố dịch thật sát những câu Pháp văn của Petelot và xin nói thêm, người âu, người Pháp, khi viết về nghiên cứu như vầy, văn vẫn khúc chiết, khó dịch cho thông, và cái tánh mình nên bắt chước là luôn luôn khi mượn theo ý kiến của ai thì vẫn nêu rõ nguyên gốc đã mượn (không như ở đây, lấy của người rồi vẫn làm như của mình!).

Phần viết thêm của tôi.

– Trong một tạp chí Pháp cũ, hình như trong Revue Indochinoise, tôi đã quên của niên số rồi, có tích người đồng bào Thượng ở Miền Trung, khi di cư đi qua vùng rừng núi khác để sinh sống, vẫn đúng ngày đúng tháng sầu

riêng nơi vùng đã lìa, khi sầu riêng ấy trái chín, thì cơm ghe bè bạn, họ kéo cả gia đình, cả lũ về để thưởng thức và không quên và bỏ sót năm nào dầu xa xôi cách mấy cũng lặn lội về … Lúc mới có sầu riêng, tôi nói đây là lúc tôi còn bé thơ, ở nhà cha mẹ tại châu thành chợ Sốc Trăng, lối những năm 1910 – 1915, ở đất nầy chưa có trồng và trái sầu riêng vẫn do từ Nam Vang (Kăm bù chia) dùng tàu Lục tỉnh chở xuống, hoặc do các thủy thủ đi Thái Lan chở qua, trái to tướng, nặng trên hai ký hoặc tới ba kí lô, giá bán đếm từ đồng bạc con đầm Xòe, (bạc con Cò trong nầy, cân 27 cờ ram) giá bán cả mấy đồng bạc, chưa hơn cinq piastres, nhưng vẫn cắn răng hít hà giành giựt tranh nhau mua ăn, thân phụ tôi nói có khi có người cầm quần bán áo để mua, lúc ấu thơ, tôi cho là nói thêm và nay tôi đã gần xuống lỗ, mới hiểu lời nói không ngoa. Nhưng cảm tưởng và kinh nghiệm riêng xin nói ra đây, các độc giả đừng cười:

– Vào năm 1932 đến 1938, tôi còn làm việc nơi tòa hành chánh cũ tỉnh Cần Thơ, nhơn tháp tùng theo chủ tỉnh Pháp là quan cai trị (administrateur tên Colas), nhơn ghé biệt thự một phó tổng giàu sụ quận Phụng Hiệp, người chủ nhà tấn ơn, lấy sầu riêng trong vườn vừa được trái chiến, Colas đặt múi sầu riêng lên dĩa bàn trắng phều, rồi dùng nĩa và muỗng, xúc, múc mà ăn (tôi xin vô lễ dùng chữ “khều”, tuy khiếm nhã nhưng đúng hơn …) tôi đã làm tôi cho Tây thì phải theo phong tục của họ, nên tôi cũng khều sơ sơ và người dọn bàn bưng dĩa đem vào trong mà tôi vẫn tiếc, và nay xin nói luôn, vì chút như vậy mà tôi xin đổi chỗ làm và xin trở về làm nơi Soái phủ ở Sài Gòn cho khỏi cảnh ăn sầu riêng theo Tây tà. Và nay xin nói ra, người đồng bào Thượng biết trở về chỗ cũ để thưởng thức sầu riêng chín muồi dưới gốc, đừng cười họ là người rừng, và theo tôi, muốn ăn sầu riêng mà biết ngon, thì phải giữ theo tục ông bà của mình thuở nay, ăn xoài, ăn mít ướt, nhứt là ăn sầu riêng, phải biết đừng gớm, đừng sợ bị cười là chưa văn minh, và phải làm như lời ông Diệp Văn Cương, người đất Hanh Thông Tây xứ Gia Định, trước ra Huế thay ông Trương Vĩnh Ký, làm thầy dạy Việt văn cho vua Đồng Khánh, sau lui về Sài Gòn giữ chức giáo sư dạy tiếng An Nam nơi trường Chasseloup-Laubat (các môn đệ của ông Cương đều ham làm đốc phủ, duy một Phan Văn Hùm nối nghiệp và học được với Cương về lối chánh tả nên Hùm được Phan Khôi khen là viết ít sai chính tả, chính ông Cương nầy đã dạy, tôi nhờ học lóm, đọc sách của ông mà biết, thì có câu: “ăn thịt chồn đèn ngon” riết, “mút hột mít ướt ngọt điên” nói huỵch tẹt ra là phải ngậm vào miệng và mút trơ mút trít sạch hột mít, (hột sầu riêng), thì mới là người biết nếm, biết thưởng thức mùi lai đặc biệt của giống trái cây (mít ướt, sầu riêng) nầy.

Tôi xin thêm lời chót tuy kém nhã là “phải biết mút tay bà mụ” thì mới là người thành thạo, và xin nói tục thêm có gì dơ hơn tay bà mụ trầu đời trước.

(viết ngày rằm tháng 7 Quí Dậu)

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 4 Dec 2025

3. Y Sĩ Thiếu Tá Trần Xuân Dũng

Trần Xuân Dũng sinh năm 1939, Hà Nam – Bắc phần, Trung học Nguyễn Trãi – Hà Nội, Chu Văn An – Sài Gòn. Tốt nghiệp Y Khoa Đại Học Sài Gòn 1965. Nguyên Tổng thư ký báo Tình Thương. Y sĩ trưởng Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến 1966. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Quân Y, kiêm Y sĩ trưởng Sư Đoàn 2 Bộ Binh 1969. Trưởng Phòng Huấn Luyện Trường Quân Y 1971. Cấp bậc cuối cùng Thiếu Tá. Sau 30-4-1975 bị Việt cộng nhốt trong các trại tập trung Long Giao, Suối Máu, Bù Gia Mập. Vượt biển 1978, định cư ở Úc, hành nghề Y khoa tại Footscray, Victoria. Tác phẩm xuất bản: Như Sóng Thần Lên 1990, Chiến sử Thủy Quân Lục Chiến 1997 & 2007, Nhị Thập Bát Tú 2015, Sống Chẳng Còn Quê 2018.

Ysĩ Thiếu tá Trần Xuân Dũng

Hồi Sinh Đợi Ngày

[4 chữ trong câu thơ chót của Nghiêm Sỹ Tuấn]

TRẦN XUÂN DŨNG

Sau khi đậu kỳ thi tuyển vào trường trung học Nguyễn Trãi Hà Nội năm 1951, tôi được vào học lớp đệ thất. Nhà trường có hai dẫy nhà. Dẫy chính cao, rộng và đẹp. Dẫy phụ, mới hơn, có hai tầng, nhưng không uy nghi bằng. Bước lên vừa hết cầu thang, rẽ sang tay phải là những phòng học dành riêng cho các lớp đệ thất. Phòng đầu tiên là của lớp Đệ Thất B1. Kế đó là lớp của tôi, Đệ Thất B2.

Tôi vốn là dân học gạo. Sau kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt, tôi được xếp thứ nhất ở trong lớp. Do sự tò mò, tôi cũng muốn để ý xem ở những lớp bên cạnh, ai là người đứng đầu trong số 60 học sinh của mỗi lớp.

Những học sinh lớp Đệ Thất B4 chỉ cho tôi người đứng đầu lớp họ. Tôi bước tới gần anh ta, tự xưng tên họ, rồi cũng hỏi ngược lại. Anh đáp: Nghiêm Sỹ Tuấn.

Tôi chợt nghĩ: cũng may, anh chàng có khuôn mặt gần như chữ điền, nước da trắng trẻo, với vẻ khôi ngô tuấn tú như thế này, mà học cùng lớp với mình, thì chưa chắc mình đã được xếp thứ nhất.

Chúng tôi trao đổi vài câu xã giao theo đúng như cách mà những người mới quen nhau thường dùng. Những ngày sau đó, tôi biết thêm được Hà Ngọc Thuần. Thuần vui tính, hay ngoác miệng ra cười lớn, trong khi Tuấn tuy cười rất tươi nhưng âm thanh không lớn. Ở những lớp trung học, có nhiều môn học. Thuần và Tuấn đều là hai người giỏi. Khi người này đứng thứ nhất, khi người kia. Sau 20-7-1954, chúng tôi đều di cư vào Nam. Và cũng cùng học tại trường Chu Văn An. Cùng đỗ tú tài một năm, rồi PCB một lượt, và cùng được vào năm thứ nhất Y Khoa với nhau. Ở trường Y khoa, khuôn mặt của Tuấn dần dần biến đổi. Cái vẻ khôi ngô tuấn tú hồi mới vào trung học đã nhường chỗ cho những nét đăm chiêu. Những nụ cười cũng trở thành có chừng mực.

Rồi tiến đến một giai đoạn khuôn mặt hiện lên nhiều vẻ của một kẻ khổ tu.

Tôi không tiện hỏi. Có thể rằng, hồi ở ngoài Bắc gia đình Tuấn khá giả. Phải bỏ miền Bắc mà đi, trong một luồng di cư của cả 1.000.000 người, vào tới trong Nam, chắc thế nào cũng khốn quẫn hơn. Tuy thế, chúng tôi vẫn đậu những kỳ thi cuối mỗi năm, để lần lượt lên học lớp cao hơn ở Y khoa Đại học đường Sài Gòn.

Có người sẽ hỏi, vậy Tuấn có cá tính gì? Tôi để ý, chưa bao giờ tôi thấy Tuấn nổi giận cả. Trong những câu chuyện thuở trung học hay thời đại học, tất nhiên có nhiều điều Tuấn không hài lòng và cũng lắm chuyện không đồng ý. Nhưng dù bất đồng ý kiến với ai hay bị người nào chỉ trích, Tuấn cũng chưa bao giờ có vẻ mặt hầm hầm cả. Nói thế không có nghĩa rằng Tuấn hiền như cục đất. Và cũng không có ý bảo rằng Tuấn không để ý đến ai hay là sống tách biệt, không thích tụ năm tụm ba. Tuấn vẫn tham dự mọi hoạt động của lớp học, mọi sinh hoạt của bạn bè. Chỉ có điều rằng, khi thấy ai bị chỉ trích châm biếm, Tuấn cũng không về hùa với kẻ nói, để làm cho người bị chỉ trích thêm bực mình, mà cũng chẳng hề xúi kẻ đang hằng nói đưa thêm, đưa ra những câu không thích hợp để nghe cho sướng tai. Mặc dầu vậy, Tuấn không hề có tính ba phải. Đúng với sai, đối với Tuấn, là hai điều rõ rệt. Trong rất nhiều năm, tôi chưa thấy Tuấn văng tục, dùng chữ Đ* … t mẹ (tiếng Bắc) hay Đ *… má (tiếng Nam) bao giờ. Cả chữ “L … ”, cái tên cúng cơm của bộ phận sinh dục phái nữ, cũng không được dùng tới.

Vài tuần sau khi cuộc cách mạng 1-11-1963 thành công, anh Trần Xuân Ninh, lúc đó vừa học hết năm thứ 6 Y Khoa, nẩy ra ý kiến, cần phải xuất bản một tờ báo cho Sinh viên Y Khoa. Anh bèn tự đánh máy trên giấy stencil một giấy mời rồi đem đi in ronéo, và phổ biến tại trường và các bệnh viện, thỉnh cầu anh em sinh viên tới họp để bàn vấn đề này. Tới ngày giờ ấn định, gần 50 sinh viên có mặt. Trần Xuân Ninh mở đầu cuộc họp, trình bày những lý do tại sao Sinh viên Y Khoa cần phải có một diễn đàn của chính mình, một cơ quan ngôn luận riêng. Sau hơn 3 giờ bàn luận, mọi người đều đồng ý là phải xuất bản một tờ báo. Toàn thể anh em đề nghị Trần Xuân Ninh làm Chủ nhiệm. Anh Ninh từ chối, lý do là chỉ còn 3 tháng nữa anh sẽ phải lên đường nhập ngũ. Anh em đang chọn người khác thì một câu hỏi được nêu lên khiến mọi người khựng lại: “Báo sẽ quay ronéo, hay in?”

Bàn đi tính lại, quyết định chung là báo sẽ phải được in đàng hoàng, chứ không thể dùng máy quay ronéo được. Vừa quyết định xong, tất cả đều lo. Lấy đâu ra tiền để thuê in báo mỗi tháng? Nếu là quay ronéo, thì anh em còn có thể cùng nhau xoay trần ra đánh máy, quay máy, đóng tập rồi phát hành – còn in, không thể nào có tiền được. Bỗng anh Phạm Đình Vy, vừa sắp sửa lên năm thứ 4, phát biểu: “Nhất định là phải in. Tôi quen một ông Tướng có tham dự vào cuộc đảo chánh. Tôi sẽ đến xin ông “viện trợ” cho một số tiền để in vài số đầu. Anh em hoan hô, phòng họp ồn cả lên.

Ban Điều Hành Tòa Soạn được đề cử gồm:

– Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy

– Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức (Sinh viên Quân Y)

– Tổng Thư ký: Trần Xuân Dũng

– Thư ký: Nghiêm Sỹ Tuấn.

Cả 3 anh Đức, Dũng, Tuấn đều sắp sửa lên năm thứ 5 Y Khoa. Đa số sinh viên dự họp ngày hôm đó đều đồng ý vào ban biên tập. Sau đó vấn đề đặt tên tờ báo được nêu lên. Một số tên liên quan đến chính trị và văn hóa được đề nghị. Phạm Đình Vy đề nghị tên “Tình Thương”. Đa số cho rằng đặt tên như vậy thì ủy mị quá. Nhưng tranh luận xong, mọi người đồng ý với Vy, vì dù sao hai chữ đó cũng hợp với nghề nghiệp của mình.

Thỉnh thoảng, rất thỉnh thoảng, Tuấn làm một vài bài thơ, thể Nhị Thập Bát Tú do Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương khởi xướng. Cũng có khi Tuấn không làm thành hẳn một bài, mà chỉ một dòng thôi. Trong khung cảnh của phòng sanh bệnh viện Từ Dũ, Tuấn đã đọc một câu:

Đầu ối vỡ toang, vào bể dâu.

1.1964

Vì công việc làm cho báo, cho nên tôi thường phải đến nhà Tuấn, ở vùng Tân Định. Đó là một căn nhà hẹp, bề ngang khoảngba thước rưỡi. Ngay sau cánh cửa ra vào là một cái bàn học. Sát ngay bên cạnh là một tủ sách mà tới hai phần ba toàn là sách chữ Hán: Sử Ký của Tư Mã Thiên, Nam Hoa Kinh của Trang Tử, Thơ của Đỗ Phủ, Luận Ngữ, Mạnh Tử … đủ hết. Tôi còn nhìn thấy cả quyển truyện rất lãng mạn, trữ tình, Tây Sương Ký nữa. Tôi vốn biết Tuấn rất giỏi chữ Hán. Nhưng tôi chưa bao giờ ngờ là Tuấn có thể đọc được những tác phẩm này, bằng nguyên bản chữ Hán. Có lần, Tuấn còn khoe với tôi rằng anh đọc quyển triết học của Hồ Thích, rất lấy làm thích thú. Tuy số thơ Nhị Thập Bát Tú Nghiêm Sỹ Tuấn sáng tác không nhiều, nhưng mỗi bài đều hoặc là chứa đựng nỗi ẩn ức của quê hương, khả năng nhỏ bé của con người, hoặc là nói đến sự tàn khốc đến ngu đần của súng đạn.

Mặc dầu Tuấn sáng tác những vần thơ này trong lúc còn đang học những năm chót ở trường Y khoa, nhưng mỗi khi đọc, tôi lại cảm thấy dường như anh đã linh cảm xấu. Không hẳn là một nỗi bi quan thống thiết, nhưng có vẻ tiên đoán về sự yểu mệnh nói chung của các chàng trai thời chiến. Tôi đọc chỉ thấy vậy. Và tự hỏi, sao Nghiêm Sỹ Tuấn lại viết ra theo cái cách mà các bậc trưởng thượng thường khuyên nên tránh, vì sợ nó vận vào người. Trong bài thơ “Quê hương”, ta thấy được cảnh vốn thanh bình của làng xóm. Một sự thanh bình đã được mô tả trong phần đầu của bản nhạc “Làng tôi” của nhạc sĩ Chung Quân.

Nhưng ở đây Tuấn viết cô đọng lại:

Rộn ràng chim hót rừng thưa

Lắng tai quen thuộc vườn xưa ngỡ ngàng.

Để rồi bỗng nhiên sự tan hoang xảy đến:

Đồi xa súng đạn ầm vang

Cành khô bặt tiếng giấc vàng tan mau

(Quê Hương)

Rồi khi chiến tranh lan rộng, không còn chỉ ở trên đồi núi xa xăm nữa, mà đã tiến dần về thành phố:

Đêm mở cửa, hỏa châu rơi,

Ngu đần la mãi bên trời sắt kêu.

(Bạn cũ)

Bom Đạn là những vật vô tri. Những kẻ xâm lăng đem sử dụng, hay những người cần tự vệ phải dùng tới, thì bom đạn cũng vẫn phát ra tiếng nổ. Không cần biết phải trái. Nói vắn tắt: kêu lên một cách ngu đần.

Con người đạo mạo Nghiêm Sỹ Tuấn, tuy không hề đề cập tới bộ phận sinh dục của phái nữ, bằng cái tên cúng cơm của nó, nhưng điều này không có nghĩa rằng Tuấn là một người ghét đàn bà (misogynist). Tuấn cũng có những mơ mộng, tuy ít khi tâm sự với ai về chuyện này. Thế nhưng, trải được ý ra trên trang giấy:

Sóng ngân gợi nhớ xưa chìm

Hoa bay thấp thoáng tưởng em nét cười.

(Người yêu)

Trong cuốn Thơ Đường của Giáo sư Trần Trọng San, có đoạn viết dưới đây:

“Trong thời Khai Nguyên, vua Đường Minh Hoàng cùng Dương Quý Phi ra chơi vườn thượng uyển, có cho vời Lý Bạch, sai làm những khúc ca mới để cho nhạc đội ca hát. Thi sĩ soạn xong ba bài thanh bình điệu trong khi đương say.”

Lý Bạch mở đầu Thanh Bình Điệu với câu:

Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung.

(Trông đám mây tưởng là xiêm áo nàng.

Trông đóa hoa tưởng là vẻ mặt nàng.)

Thật là một câu tuyệt tác.

Nghiêm Sỹ Tuấn không cần chuếnh choáng say, đặt bút xuống, cũng vẽ lại được vẻ thanh thoát, tươi vui của giai nhân:

Hoa bay thấp thoáng tưởng em nét cười.

Có một thời, khoảng gần cuối năm thứ sáu Y khoa, Tuấn đi thực tập tại khu nội khoa Bệnh viện Nhi đồng. Tuấn để ý tới một nữ y tá. Nàng có vẻ cũng có cảm tình với Tuấn. Gần hết năm âm lịch, một bữa tiệc tất niên được tổ chức cho các Bác sĩ, Sinh viên, Y tá đang làm việc tại đây. Đã thu xếp từ trước, Tuấn đến nhà nàng chở nàng đi dự tiệc trên một chiếc xe mobylette. Có lẽ đây là lần đầu tiên Tuấn có hân hạnh được cùng với một người con gái đi dự tiệc. Lẽ dĩ nhiên, tiệc tùng vui vẻ cho tất cả mọi người …

Tôi không biết rõ người nữ y tá này cớ phải là người trong bài thơ trên đây hay câu thơ của Tuấn đã tả vẻ duyên dáng của một thiếu nữ khác.

Thơ của Tuấn thường bí hiểm, xa xôi. Khi đọc xong một bài thơ khác Tuấn viết, đặt tên là “Đất lạnh”, tôi suy nghĩ: Sao Tuấn lại có thể dùng hai chữ này để đặt tên cho bài thơ. Có vẻ như là nói gở. Miền Nam đang bị cộng sản miền Bắc gia tăng việc xâm lăng. Chỉ còn ít hôm nữa chúng tôi sẽ ra trường và sẽ được trưng tập để trở thành y sĩ trong quân đội. Sau khi học xong năm thứ sáu, tất cả nam sinh viên đều phải trình diện nhập ngũ. Tới đúng ngày giờ ấn định, đám nam Bác sĩ vừa mới ra trường chúng tôi, gồm 73 người tập họp tại một địa điểm ở vườn Tao Đàn. Ba chiếc xe GMC chở chúng tôi lên trung tâm huấn luyện Quang Trung. Đến hết chiều có mấy chiếc xe GMC tới, chở chúng tôi lên trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Thời gian chúng tôi phải học ở Thủ Đức là chín tuần lễ. Sau khi mãn khóa tại Thủ Đức chúng tôi còn phải học thêm bốn tuần về Hành Chánh Quân Y tại trường Quân Y. Trường này nằm tại Sài Gòn. Khóa chúng tôi không phải ở lại trong trường.

Ngày hai buổi đi học. Sau cả hai thời kỳ huấn luyện, đến lễ mãn khóa chúng tôi được đeo lon Y sĩ Trung úy.

Ngày chọn đơn vị đi phục vụ là một ngày quan trọng. Người nào đậu cao nhất, do điểm ở Thủ Đức lẫn Quân Y cộng lại, sẽ được gọi tên chọn chỗ trước nhất. Được chọn đầu tiên có nghĩa sẽ được chỗ tốt nhất theo ý mình. Đại khái, những đơn vị Quân Y tĩnh tại, được sắp vào loại tốt. Tốt ở đây, không liên quan gì tới việc nổi tiếng hay không. Chẳng do cơ sở lớn hay nhỏ. Cũng không vì trang bị tối tân hay thô sơ. Chỗ tốt trong trường hợp này, là nơi nào an toàn nhất. Khi những chỗ trong các đơn vị Quân Y tĩnh tại (Tổng Y viện, Quân Y viện hay bệnh viện dã chiến) đã được chọn hết, những người còn lại sẽ phải chọn những chỗ thuộc Quân Y binh đoàn. Những chỗ nguy hiểm nhất trong nhóm này, thuộc về các lực lượng tổng trừ bị.

Quân lực Việt Nam Cộng Hòa có hai lực lượng tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Tỷ lệ tử vong trong hai binh chủng này rất cao. Ở nơi nào chiến trường khốc liệt nhất, nơi đó Nhảy Dù hoặc Thủy Quân Lục Chiến sẽ được gửi tới. Có khi cả hai. Trong mỗi tiểu đoàn tác chiến của hai binh chủng này đều có một bác sĩ đi theo. Các y sĩ phục vụ tại đây cũng sẽ trải qua những sự nguy hiểm như các chiến sĩ khác của tiểu đoàn. Còn trong các sư đoàn bộ binh, phải cấp trung đoàn mới có một bác sĩ.

Trung bình mỗi năm sẽ có khoảng 6 chỗ cho sư đoàn Nhảy Dù và 6 chỗ cho Thủy Quân Lục Chiến.

Bắt đầu buổi chọn chỗ, một vị sĩ quan đọc lên thứ tự những người cao thấp trong bảng xếp hạng. Tôi đứng thứ 71, trên tổng số 73 người. Nhìn lên trên bảng liệt kê những đơn vị sẽ được chọn trong khóa này, tôi nhẩm tính qua, biết rằng tới lượt mình, không vào Nhảy Dù, ắt cũng đi Thủy Quân Lục Chiến.

Trước giờ chọn chỗ, một điều được thông báo rõ ràng cho tất cả mọi người rõ: “Rằng ai muốn chọn về Nhảy Dù hoặc Thủy Quân Lục Chiến, chỉ cần giơ tay lên mà không cần phải đợi đến lượt tên mình được gọi. Thí dụ người đậu thứ 73, bất cứ giờ phút nào muốn chọn về đó, chỉ cần giơ tay lên, sẽ được chấp thuận ngay”.

Nghe xong, có tiếng xì xào, bàn tán. Người đậu thứ 72 là Nghiêm Sỹ Tuấn, liền giơ tay lên. Vị sĩ quan hỏi: “Anh chọn gì?”

Tuấn đáp: “Nhảy Dù”.

Sau khi ký giấy tờ Tuấn bước ra khỏi phòng. Không cần để ý đến ai sẽ đi đâu, và bao giờ buổi này mới chấm dứt. Khi thấy Tuấn chọn xong, tôi hiểu ngay Tuấn đã thực hiện cái ý đã diễn ra trong một bài thơ làm từ trước:

Cung Dâu dựng nhắm phương nào

Ngập ngừng tên cỏ ngày cao chất chồng

Mai sau đó gửi về không

Bóng vươn tinh đẩu mơ vùng núi cao

(Tuổi đứng)

Sau khi trình diện Quân Y Nhảy Dù, Tuấn được làm Y sĩ trưởng tiểu đoàn 6 Nhảy Dù. Trong tất cả các đơn vị của lực lượng Tổng Trừ Bị, chỉ có hai tiểu đoàn có hậu cứ tại Vũng Tàu. Đó là Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù (đơn vị của Tuấn) và Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến (là đơn vị của tôi). Trại tiểu đoàn 6 Nhảy Dù nằm gần Bãi Sau. Kể từ khi đáo nhậm đơn vị tôi và Tuấn không có dịp gặp lại nhau nữa.

Tuy cả hai hậu cứ đều ở Vũng Tàu, nhưng trên thực tế phải 2, 3 tháng đơn vị mới được về nghỉ khoảng một, hai tuần lễ. Do đó Tuấn và tôi, mỗi người chỉ có việc theo đơn vị mình đi hành quân mà không có dịp nào gặp nhau cả. Khoảng một, hai tháng sau Tết Mậu Thân, tôi đang làm việc tại Bệnh xá Thủy Quân Lục Chiến trong trại Cửu Long, Thị Nghè, thì được tin Tuấn tử trận. Tôi bàng hoàng cả người, mặc dầu vẫn biết rằng, một cái tin như vậy, là chuyện thường ngày đến với những gia đình có con, em, hoặc thân nhân phục vụ trong lực lượng Tổng Trừ Bị.

Xác Tuấn được đưa về Sài Gòn.

Lê Sỹ Quang và tôi bước vào nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Đi dọc theo con đường, thẳng từ cổng vào, tôi ngó sang phía bên tay phải nhìn vào hai ngôi mộ của Tổng thống Ngô Đình Diệm và người em là Ngô Đình Nhu, bị sát hại trong cuộc đảo chính 1-11- 1963.

Tôi đi thêm vài chục thước nữa, rồi rẽ sang phía tay trái tới gần cuối, góc phía sau của nghĩa trang. Thân nhân của Tuấn đang sụt sùi. Cạnh đó là một cái huyệt mới được đào xong. Chiếc áo quan chưa được đặt vào trong huyệt. Tôi nhìn quanh. Số người dự đám tang không nhiều lắm. Các bạn cùng lớp, thì mỗi người đang ở một đơn vị xa, trải dài từ Bến Hải xuống đến Cà Mau, nên không về được. Một vài đồng nghiệp đang được làm việc tại Sài Gòn có đến dự. Lê Sỹ Quang ở Liên đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo Hóc Môn, nên đương nhiên cũng kể như ở Sài Gòn. Ngoài ra còn có vài người thuộc Quân Y Nhảy Dù. Khi áo quan đã hạ huyệt, vài người bạn học cũ tại trường trung học Chu Văn An, hay bạn đồng nghiệp của Tuấn tỏ lời tiếc nhớ bạn xưa. Anh Trần Xuân Ninh đang làm tại Bệnh viện Nhi đồng cũng có mặt, vừa khóc vừa nói lời vĩnh biệt.

Không có một người nào long trọng đọc một bản điếu văn như trong những đám tang khác. Những người hiện diện hôm nay tiễn đưa Tuấn, tuy số lượng ít nhưng tất cả, lòng thương xót bạn lại vô bờ bến.

Độ một tuần sau, tôi có việc phải trở lại Vũng Tàu một ngày. Tôi đến thăm Giáo Sư Nguyễn Văn Quyên, cũng là một bạn của Tuấn. Chúng tôi buồn, ngồi nghĩ đến bạn. Quyên hỏi tôi: “Tối nay ngủ ở đâu?”

Tôi đáp: “Vào trại Thủy Quân Lục Chiến.”

Quyên cản lại: “Thôi, ngồi lại đây đến khuya, anh em mình nói chuyện với nhau. Rồi sau đó hoặc là ngủ trong nhà này hoặc là vào phòng của Tuấn cũng trong cư xá này cách đây 50 thước. Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, có vài căn phòng trong cư xá này, dành cho sĩ quan của đơn vị. Mọi lần, trước khi đi hành quân, Tuấn đều giao chìa khóa phòng cho tôi.”

Tôi trả lời Quyên: “Ừ được, tôi sẽ ở phòng Tuấn.”

Khuya đến. Quyên đưa tôi chìa khóa.

Tôi bước hết một đoạn đường nhỏ. Tôi tra chìa khóa vào ổ. Phải xoay 2, 3 lần mới mở được cửa. Trong phòng tối om. Tôi đưa tay bật đèn. Một cái giường xếp, trống không. Một cái bàn nhỏ với một cái ghế. Ở vai ghế, có vắt một cái áo rằn ri của binh chủng. Trên túi áo ngực bên tay phải có thêu tên Tuấn và trên chữ này có một cánh dù. Tôi ngó lên tường, không thấy treo một bức hình nào cả.

…

Tôi đặt mình trên chiếc giường xếp mà mỗi lần Tiểu đoàn 6 hành quân xong, được về Vũng Tàu nghỉ, Tuấn đã nằm. Tôi nhớ tới bài thơ của anh trước đây tôi đọc và đã cảm thấy sao như có vẻ nói gở:

Đất lạnh

Hồ Trường một dốc chưa say

Lưng đau cát sỏi ai thay xương mình

Điểm trang khô mắt đăng trình

Nghiêng thêm băng giá hồi sinh đợi ngày.

Nghiêm Sỹ Tuấn

Trong hai năm 2013-2014, Úc châu có một chương trình thu thập những sự kiện lịch sử bằng cách phỏng vấn mấy chục cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Người phụ trách cuộc phỏng vấn này là Giáo Sư Natalie Huỳnh Châu Nguyễn, đại học Monash tỉnh Melbourne.

Tôi cũng là một trong những người được phỏng vấn. Cuộc phỏng vấn bằng tiếng Anh, kéo dài ba tiếng đồng hồ, có ghi âm. Trong lúc kể lại việc nhập ngũ và rồi phục vụ trong lực lượng Tổng trừ bị, tôi chợt nhớ đến Nghiêm Sỹ Tuấn. Tôi nghĩ bụng, trong cuộc chiến Việt Nam, biết bao thanh niên miền Nam đã trở thành những anh hùng vô danh. Nghiêm Sỹ Tuấn là một trong những người đó. Tôi tự bảo, “những băng hay đĩa ghi âm này sẽ được lưu trữ trong Thư viện quốc gia Úc. Mình phải nhắc đến Tuấn.”

Năm 2016, một phần tài liệu trong những cuộc phỏng vấn đã được vị giáo sư này in ra thành sách với nhan đề South Vietnamese Soldiers, bởi nhà xuất bản Praeger, Hoa Kỳ. Sau khi nhìn thấy tên Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn được in lên trong một đoạn do tôi đã trình bày trong cuộc phỏng vấn, tôi cảm thấy như mình đã thắp được một nén hương trước bàn thờ anh.

Only two general reserve forces had doctors at battalion level, and those were the Marines and the Airborne Division. The doctor would take care of 600 fighters. General reserve meant jumping in wherever the fighting was hardest. The Marines and the Airborne Division had the highest casualty rates for doctors. Number 72 in my class was a doctor named Nghiem Sy Tuan. He entered the Airborne Division and about a year later, he was killed at Khe Sanh Base. He was twenty-six years old.

Hình chụp một đoạn do tôi trình bày, được in trên trang 74 trong cuốn sách South Vienamese Soldiers của Giáo Sư Nathalie Huynh Chau Nguyen, nhà xuất bản Praeger, 2016, Hoa Kỳ.

TRẦN XUÂN DŨNG

Victoria, Australia 02.2019

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 4 Dec 2025

35. Tên tù chính trị trẻ nhất nước – Bài cuối

Cho con tôi, Lê Khắc Hùng Nguyên

Ta đã ra đi chẳng coi thầy

Nên toàn gia đã trắng cả tay

Toàn gia bồng bế vào ở khám

Con sinh ra mới chín mươi ngày.

Tội cha “quân ngụy” cũng đã đành

Tội con “con ngụy” cũng thành tên

Ngụy con cũng tội như ngụy bố

Phản động! Đảng hành chắc như đinh!

Con thơ vừa sinh ba tháng non

Mẹ bế theo cha lội sóng cồn

Tưởng ra vượt được muôn trùng sóng

Ai ngờ giặc hốt cả bố con.

Sáng ra lôi bố vô phòng trống

Giặc quát ầm lên muốn vỡ phòng

Lũ bố con mày quân ngoan cố

Xem bố con mày gan to không?!

Ngày đêm nằm khám nghe con khóc

Tím ruột, bầm gan, nát cả hồn

“Con không cha như nhà không nóc”

Con theo cha vào chốn lao lung.

Giặc giam con, mẹ ở một phòng

Cha nằm trong hộp tám độ vuông

Tứ chi, đầu tựa luôn bốn góc

Góc nào cũng nghe tiếng khóc con!

Vách bếp viết đầy những tên tù

Con tù chính trị chiếm một khu

Tù lớn được ban khoai sùng thúi

Tù con được bú nước cơm hôi.

Tù con ba tháng chưa đọc viết

Đảng rất khoan hồng không hỏi cung

Con được tự do cho bò lết

Đảng khỏi phí đi một chiếc còng.

Đảng cũng tha luôn ngày lao động

Ngày đêm tay múa với muỗi mòng

Đôi lúc ngứa chim con cũng hét

Con coi “bác Hồ” con số không.

Tù con bé nhỏ nhất trong niên

Đảng quyết không tha kẻ vượt biên

Dù con còn đỏ trong tay Mẹ

Cũng phải giam cho đủ năm liền.

Con lên sáu tháng tù ba tháng

Cũng chịu tội danh phản quốc rồi

Phản động, cùng cha chờ lãnh án

“Bố con mày có nước lên trời!”

“Thế sự thăng trầm quân mạc vấn” 1

Ngày con lìa nước con không khóc

Con biết đời con đã một lần!

——————————–

1          Thơ Cao Bá Quát.

Sóng vỗ, bèo trôi

hung-viet.org

Post 23 Jan 2019

Huy Phương
Post by Sơn râu 3 Dec 2025

“Từ con lưu lạc quê người

Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm.”

(Truyện Kiều)

Ông Thầy Tử Vi không vui, nói với tôi: “Cứ như lá số này của gia đình ông, thì trong vận hạn 10 năm sắp tới của ông xem như là một vận xấu kéo khá dài. Số ông có Thái Dương hãm ư di cung, nan chiêu tổ nghiệp, ly tổ vi hung. Số ai có sao Thái Dương cư cung Thiên Di, khó bảo toàn tổ nghiệp ở quê hương, vận này rất xấu! Số cháu trai thì Vũ Phá Tỵ Hợi Di cung- Tha phương cầu thực lao tâm phất lực. Hai sao Vũ Khúc, Phá Quân ở cung Di, phải vất vả lắm mới có miếng ăn, không chừng phải bỏ xứ ra đi!”

Bấy giờ gia đình chúng tôi đang ở trong tâm trạng phấn khởi, đã khám sức khỏe xong đang chờ chuyến bay đi Mỹ, số này tất ứng vào chuyện “phải bỏ xứ ra đi,” nhưng nói tới đây, là vận 10 năm không tốt thì chắc là số tử vi này chấm sai. Trước đây đã có bao nhiêu người bỏ thân trên biển cả, chỉ mong có dịp đặt chân đến một nơi nào đó ở ngoài đất nước Việt Nam. Bây giờ có cơ hội xuất ngoại bằng máy bay, không phải chui nhủi, trốn tránh, bảo toàn được sinh mệnh, hẳn phải là gặp phước Trời, trăm người chưa được một. Vào thời buổi này, ai cũng mong có dịp xuất ngoại, hàng xóm trầm trồ, mơ ước có được hoàn cảnh của người bỏ nước ra đi, mà lá số tử vi lại cho rằng gặp vận xấu?

Nhiều gia đình ngày lên phi trường đi Mỹ, bố và con trai thì đóng vest và cà vạt, mẹ và con gái thì lên đồ đầm, cho vẻ vang, đẹp đẽ với thiên hạ, chòm xóm, đâu phải là một chuyến đi đày, phải lìa quê, ly tổ! Theo văn hóa Việt Nam hay Á Đông, phúc đức cho một đại gia đình nào được xếp vào cảnh “tứ đại đồng đường” (bốn đời sống chung dưới một mái nhà!). Có phước báu mới được sinh ra, lớn lên, và chết trong cùng một căn nhà đó, hay nói rõ là trên một cái giường, trong một căn phòng duy nhất.

Sống lưu lạc xa quê vì sinh kế, được gọi là tha phương cầu thực, với một người không biết quê quán ở đâu đến đây, được gọi bằng thành ngữ “trôi sông lạc chợ!” Không gì thê thảm bằng người bị tách ra khỏi cội nguồn, đẩy ra khỏi quê hương, ngày trước là lũy tre làng, cây đa bến cũ, con đò sông xưa. Cũng bởi vậy tâm trạng người xa quê xót xa biết bao nhiêu. Người con gái đi lấy chồng xa, với “chiều chiều ra đứng ngõ sau,” người lưu xứ buổi chiều, lòng chạnh hỏi “quê nhà biết ở nơi đâu?” Cùng với tâm sự u hoài, ưu thời mẫn thế, đêm qua trời “chớp bể với mưa nguồn,” người quân tử thức giấc với nỗi buồn triền miên, khó lòng dỗ giấc ngủ trở lại.
Đó có thể là nỗi buồn của người phải tha phương vì sinh kế, mới nghe qua cũng đã thấy chạnh lòng.

Little Saigon nay đã trở thành quê hương thứ hai của người Việt tị nạn, “một Việt Nam bên ngoài Việt Nam.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Nhà văn Lưu Dân ở Úc đã từng đặt câu hỏi: “Làm người dân lưu vong, có dễ không, hả bạn?” Ông đã sống hơn nửa đời ở Úc, nơi đã cho ông cơ hội và quyền con người.

Ông xúc động mỗi lần nghe bài hát “I Still Call Australia Home” và cảm thấy ấm áp hơn mỗi lần đi xa trở về, nhưng ông đã có nửa đời trước sinh ra và lớn lên, ăn miếng cơm và uống miếng nước ở Việt Nam, nơi ông được hấp thụ nền văn hóa đẹp đẽ và tình tự quê hương ngọt ngào. Ông tỏ ý hoang mang về căn cước (identity crisis) của mình, và cho rằng mình đã vượt qua cơn khủng hoảng đó nhưng thỉnh thoảng nó vẫn nhói lên như một nhắc nhở về quê hương đã xa và mái ấm đang có. Và ông đã tự hỏi: “Bây giờ, tôi là người Úc hay Việt?” Trong tác phẩm “Sống Chẳng Còn Quê,” xuất bản ở Úc, BS.Trần Xuân Dũng đã tâm sự: “Lúc nào tôi cũng khắc khoải về nước Việt Nam đã mất.” Ông cho rằng Trần Văn Thủy, một đạo diễn miền Bắc viết trong tác phẩm của ông “Nếu Đi Hết Biển” đại khái nếu đi hết biển qua các Đại Dương, Châu Lục, đi mãi, đi mãi, thì sau cùng cũng lại trở về với quê mình, làng mình. Nhưng Trần Văn Thủy đã nhầm, người ta yêu quê hương nhưng khi quê hương ấy nằm trong tay những kẻ trời không dung, đất không tha như bọn Việt Cộng, thì thà “Sống Chẳng Còn Quê” còn hơn. Trong trang cuối cuốn sách, ái nữ của tác giả, thế hệ sau, đã viết: “Tôi coi nước Úc là nhà, nhưng tôi biết rằng bố mẹ tôi lúc nào cũng vẫn cảm thấy như ở ngoại quốc!” Nỗi lạc lõng, xót xa, ray rứt ấy bao giờ mới hết? Đài Loan là một hòn đảo lưu vong xa nguồn cội, nhưng Đài Loan ngày nay đã có tất cả những gì là quê hương. Chúng ta đem theo được một Little Saigon đến đây, nhưng là một Little Saigon với thể chế, luật pháp và ngôn ngữ của nước Mỹ.

Chúng ta lưu vong nhưng chúng ta đã trở thành người dân của một quốc gia khác, một hai thế hệ sau, hình ảnh Việt Nam sẽ còn lại rất mờ nhạt, thậm chí sẽ không còn cả tiếng nói và chữ viết.

Không phải chỉ chúng ta đang ở Mỹ, mà rồi đây nhiều thế hệ sau, ở Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc, thậm chí ở cả Cambodia, Lào, Thái Lan… có những người kể chuyện cho con cháu nghe, bằng tiếng bản xứ rằng, ngày xưa thật xa, họ có một bà nội, bà ngoại, bà cố người Việt lưu lạc tới đây kết hôn với một người chồng địa phương! Sống lưu vong, Thiếu tướng Nhảy Dù Lê Quang Lưỡng, lúc chết, không muốn phủ quốc kỳ, vì thẹn đã không được “da ngựa bọc thây,” ông tâm sự rằng, lúc cuối đời, ly rượu uống vào nghe đắng cả lòng. Lưu vong là sống tạm bợ nơi nào đó không phải là quê hương, lý do vì quê hương đang có vấn nạn, lưu vong không phải là đi làm ăn xa, để mỗi cuối năm lại “về quê ăn Tết.”

Vậy thì lưu vong và ly hương hẳn đã khác nghĩa nhau. Mỗi năm đã chẳng có hàng chục nghìn người Việt ly hương hớn hở “về quê ăn Tết” đó sao?

Huy Phương

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 3 Dec 2025

Nhân Vật Đông Tây Đối Chiếu

Đời Tự Đức _ Napoléon III

Chương 18

Bài nầy tôi viết cho cháu con trong nhà nghe, và xin tóm tắt đại lược. Tỷ như vua Tự Đức, mặc dầu có vụ Hoàng Bảo bị bức tử, nhưng còn khá hơn và hơn nhiều Napoléon đệ tam, lúc bị giam trong ngục cấm cố thì mò tì con đòi, lúc lưu vong qua Ăng lê, nhờ một ả giang hồ bao thầu đủ mọi mặt, nhưng khi lên ngôi làm ông vua ở Pháp thì vong ân và cưới cho được dòng quí tộc Eugénie de Montigo để được dựa hơi cành vàng lá ngọc và gương “muốn sang bắt quàng … ” nầy vẫn là bắt chước bác là Napoléon 1er, bỏ bà de Beauharnais để cưới bà Marie Louise de Lorraine – Autriche,

việc lộn xộn các đế Tây nầy tôi còn nhớ là năm 1917, tôi thi rớt Xẹt (certificat nói tắt) vì tôi viết les (Maries-Louises, lính mộ năm 1814, Marie Louise là tên tộc nên không viết có chữ “S”), Napoléon đệ tam nầy dâm hết chỗ nói, lúc làm hoàng đế được rồi lại sanh sứa đặt làm phòng riêng để ngủ với gái, ông ăn nói lệt bệt nhưng nhờ tướng tài như Rigault de Genouilly, sai qua đánh nhà Thanh bên Tàu, đánh không xuể lại kéo binh xuống chinh phạt đánh và chiếm thành Sài Gon, rốt cuộc nước chúng tôi bị mất lục tỉnh Nam kỳ, nhưng chung qui đế Napoléon đệ tam vẫn thua nặng và mất ngôi, kéo luôn nước Pháp bồi thường nặng cho Phổ và mất hai tỉnh Alsace và Lorraine, và Phổ Bismark, muốn cho Pháp đừng nhớ trả thù, Bismark lại xúi Pháp chiếm đất chúng tôi làm thuộc địa.

Bà hậu của Napoléon đệ nhứt vẫn không chung tình với vua khi vua đã mất ngôi, sánh lại sao bì với bà Phi vua Chiêu Thống, vua thua bỏ chạy, bà cam thủ tiết và khi vua mất bà chết theo vua để lại câu “Gió đưa bụi cải về trời,

rau răm (là bà) ở lại chịu lời đắng cay”. Chuyện xưa kể làm sao cho hết, nay tôi chỉ nhớ ông Nguyễn Tri Phương, v.v ..tận kỳ trung nhưng dáo và mác thông làm sao chống nổi Mousqueton, tàu đồng … nay nói qua phe văn, bà Huyện Thanh Quan … chính như Hồ Xuân Hương cũng không như bà George Sand của Pháp. Vừa rồi, ông Lê Ngộ Châu có gởi biếu tôi một tập của Lộc Đình “Các cuộc đời ngoại hạng”, tôi đọc và thích thú, biết được, George Sand, trước học trường Nhà Kín, khi lấy chồng đêm hiệp cẩn, bà không biết làm tình, còn chồng thì cũng vẫn không biết cách ngủ đêm tân hôn phải làm thế nào, phận sự làm chồng, chung qui cũng tục người Pháp, khi đứa trẻ hỏi cha mẹ “em tôi (gái hay trai) từ đâu có? Thì cha và mẹ vẫn không nói thật và có tục lệ gói kỹ đứa hài nhi trong khăn bó kín và dối rằng “em mầy từ bụi cải bắp sanh ra!” khiến nên khi George Sand hiểu được sự “ái ân” thì sanh tánh lăng loan không thể nói ra đây được và xin cho phép tôi văng tục, trước bà cặp với thi sĩ Alfred de Musset, sau nằm với đại nhạc sư Chopin, nhưng cả hai tỏ ra không đủ sức cung cấp, nên George Sand, về viết văn, thì thật tài, nhưng về đường tình thì rõ là có tánh ham trai tơ và bà là người đàn bà gần như mở đầu cho tục “gái mặc y phục của trai” (Mạnh Lệ Quân, Sở Vân trong bộ “Anh hùng náo …” thua bà rất xa) và  hảy qua Victor Hugo, thì đêm tân hôn với vợ là bà Adèle, cả hai xuất trận đến cửu phen, hơn xa vua Minh Mạng “nhứt dạ lục giao …” và khiến tôi bắt quàng nói qua André Gide, vẫn có tật “kê gian” nên có câu Pháp văn nầy của Duhamel nói với Maurice:

“Cet André Gide a su par sa dextérité passer du postérieur à la postérité” câu nầy xin độc giả cho tôi dịch phóng: “Lão André Gide, tay ngón lanh, nhờ “cửa sau” mà để danh về sau” và nói cách khác, nói chữ chút chơi: “nhờ hậu môn mà lưu danh hậu thế”.

Xuống đến Victor Hugo hoang dâm vô độ, nhân tình từ đào hát qua tôi đòi, bất dung tha mặt nào và vẫn để cho vợ cắm sừng với bạn là Sainte Beuve rồi chuyển qua Téophile Gautier, trong khi Hugo thì dan díu với Juliette Drouet qua Léonie d’Aunet, đúng là “khi ông ăn chả thì bà ăn nem” và khi vợ chết, trên mộ bia vẫn khắc vỏn vẹn hai hàng: “Adèle (hàng trên) và hàng dưới: Vợ của Victor Hugo” (trang 100 của Lộc Đình) và Lộc Đình vẫn ghi “Tolstoi và Hugo, sao mà giống nhau thế” và tôi xin độc giả hãy tìm mua mà đọc lấy, duy tôi xin thêm có sách Pháp đã viết “Napoléon và Hitler, về môn tình dục, thì bộ kín họ Hích vẫn tong teo, còn đối với anh hùng bạt tụy Nả, thì một hôm có nữ danh ca tên Mlle Mars đến, vua sai truyền lịnh “hãy chực sẵn trên long sàng” và khi đêm gần sáng, vua mắc lo việc quân sự lại ra lịnh “hãy xếp xiêm y, bãi chiến, trẫm không đủ thì giờ …”.

Xét ra nếu nói thêm chi cho khỏi phạm tội bày chuyện tồi phong bại tục, nên ngưng viết là vừa. Dĩ nhiên hôm nay tôi nhơn hứng viết và suy luận Đông Tây và “Kim cổ”, tưởng không nên so Hồi ký của Lộc Đình (thâm thúy và kỹ càng từ tác phẩm đã viết) của một trò trường phường Hà Nội nhỏ qua trường Trung học Pháp “Bưởi” vừa có thầy cử Hán cụ Thẩm Quỳnh dạy chữ Hán, qua tay bác của Lộc Đình dạy kềm thêm chữ Nho, tưởng không nên so văn của người Bắc, còn giữ được nền gốc Khổng Mạnh buổi Pháp thuộc, và tưởng đừng nên so với văn trong Nam nầy, đã bị Tây cấm học võ, sợ làm giặc và đã không cho học chữ nôm và Hán tự, rằng phải quên gốc cũ và phải học quốc ngữ để làm việc cho đô hộ Tây … và theo tôi tạm kết luận, người bạn trẻ Việt, nên biết ngoại ngữ mới mong tiến phát, nhưng không nên viết Pháp văn bất quá chỉ viết bằng họ chớ không hơn họ được, và tưởng không nên bỏ nguồn gốc Hán nho và quá viết cho giống giọng Âu Tây, “Mạ lấy xe kéo để về nhà” và như vậy vô tình người Tây học thốt câu ấy để mời bà nhạc về nhà và tạm đi xe kéo chớ không lấy thằng phu kéo xe đâu nhé.

Văn Tàu với Đường thi, với Tam quốc chí, với Thủy hử Lương Sơn Bạc, với Tây Du Đường Tam Tạng thỉnh kinh, với Hồng Lâu Mộng với Tây Sương Ký còn chúng ta, ngoài kia có truyện Kiều, trong nầy có truyện Lục Vân Tiên, theo tôi, mỗi phương mỗi có lề lối nói viết riêng biệt, nên giữ lại cho nhau, hơn là như hiện nay, cố tình ép viết giọng Bắc, “Tân Sơn Nhứt” và viết riết “Nhất” ôi là Nhất và xứ quê của tôi là tỉnh, hạt Sốc Trăng là do tiếng cũ người Miên là “Srok khléang”, Tiều đọc “Khát làng” âm chữ Sốc là Sốt Miên và xin đừng ép viết Sốc Trăng (chữ sóc, Hán, là bắt đầu, là Sóc phương, thì sai vì đúng ở phương nam, và Sốc Trăng hiểu ngay sóc vọng thì trăng nào lú, nếu cho tôi leo qua điện sử thì Sốc Trăng, thời vua Minh  Mạng, còn lại địa danh Hán là “Nguyệt giang tỉnh” (tỉnh Sông Trăng) chớ vẫn không là Sóc Nguyệt.

Xin giữ lại, viết Tam Đa Quán, nhưng xin đọc “quán Ba Cụm”, tuy cái quán xưa đã không còn và tuy viết hai chữ “Tây Cống” (nhưng không phải đó là đất cống cho Tây).

(viết ngày 12-8-1993)

Thử so sánh văn nhân tướng sĩ Đông và Tây của Thế Kỷ 18 dưới trào hai Vua Tự Đức và Napoleon III

Ông vua của mình, Hán học uyên thâm, mà đánh giặc không lại vua Pháp, Napoléon III (Nã Phá Luân đệ tam) ông vua Tây nầy rất bê bối, nói chuyện không nên thân, chỉ giỏi tài nhảy cái và nhờ có tướng giỏi phò trợ mà chiếm dược đất Miền Nam (từ năm 1862) và gậm nhấm luôn Miền Bắc (từ 1884), báo hại vua ta chỉ còn một mảnh đất gọi Miền Trung và từ khi vua ta băng, nước Nam điêu linh mãi.

Kể về phe văn, xin miễn nói về người của nước ta, vì ai ai lại không biết, và xin nói sơ về mấy ông văn sĩ của Pháp và xin so sánh chút chơi như sau:

Vua Minh Mạng tự khoe “Nhứt dạ lục giao sanh ngũ tử”, theo tôi hiểu, ông sẵn sâm nhung và rượu thuốc bồi bồ, nên nội một đêm ông đạp sáu con mái mà sanh được năm con, đó là nhờ súng khá mạnh và đạn có ngòi, trong khi

ấy, đọc sách của Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê để lại, tôi đọc “Các cuộc đời ngoại hạng” rồi hôm nay vừa nhận cuốn “Đời nghệ sĩ”, nhớ chuyện Victor Hugo, đêm đầu hiệp cẩn với vợ là Adèle Foucher, hai người xáp trận, mà “nhứt dạ cửu chiến … ” nhưng có lẽ súng tuy nhạy mà đạn là đạn mã tử, nên không nghe có sanh con nào, và tôi nói đây, xin kiểm duyệt đừng bôi và đừng bắt tội dợm nói tục, anh Nguyễn Hiến Lê viết sao tôi tin làm vậy, và riêng tôi cũng từng đọc sách Pháp, hiểu cuốn trùng điệp với những sách anh Lê đã đọc, thì bà Adèle nầy sau có cọ dĩa vừa với Sainte Beuve, vừa với Théophile Gautier, và khi Adèle mãn phần Victor Hugo vẫn đề trên bia vợ:

Adèle Vợ của Victor Hugo (sách C.C.Đ.N.H., trang 160).

Tôi xin kết luận: bên Tây, tục “ăn nem ăn chả” vẫn xem thường … và Victor Hugo khi chết, vẫn được thờ và chôn trong Panthéon, trong khi bên nước tôi, Nguyễn Tri Phương, Trương Định, luôn Phan Thanh Giản, đến nay tôi chưa nghe được tưởng niệm đích đáng như bên Pháp, ông Nguyễn Tri Phương, thì rút tháo băng để nhận chữ Trung, ông Định khi bị bắn gãy đùi thì rút gươm tự vận, quan văn thì như Phan Hiển Đạo, bị quan Phan nhiếc một câu cũng tự tử cho tròn khí tiết, còn tỷ như nhà tu Talleyrand1, sớm đầu tối đánh, trở mặt như khi tắm, tu hành không lo, nhà văn Chateaubriand, cũng vẫn cưới vợ giàu đào mỏ như ai và tánh 35 không chỗ nói, tôi đọc gấp rút không thấy Lộc Đình nhắc lại chuyện bà Récamier, vậy tôi xin sửa mũ mấn, viết nhón lại đây sự tích hồng nhan bạc mạng của bà, sơ khởi bà là con của cha – người cha nầy, thật ra vì tư tình với chính mẹ mình mà sanh ra, (Récamier lấy vợ của bạn) và khi bà lớn lên, dung nhan cá đắm nhạn sa, thì xảy ra việc trong nước có loạn, vua bị thí (bị chém đầu) … một bữa hay một hôm nọ, Récamier nói với người tình nhơn, “xin để cho mình cưới con, đứa con tư sanh tử ấy, làm vợ” – người tình nhơn ấy nghe lạ tai, vội hỏi: “sao có chuyện loạn luân, cha đòi lấy con làm vợ như vậy”, thì Récamier trả lời: “Hiện nay, luật Cách mạng dạy rằng phàm kẻ nào có sản nghiệp mà độc thân, khi chết, thì sản nghiệp sẽ bị tịch thâu cho nhà nước hưởng và vì vậy, anh đây, nếu mãn phần bất đắc kỳ tử, sẽ mất của, nên anh lo xa, thà để anh ký tờ cưới có hôn thú, thì con của chúng ta khỏi lo bị mất của và anh đây xin thề sẽ giữ bồn phận làm cha và sẽ không khi nào động chạm đến con mà phải sự loạn luân như em đã sợ và nghi ngại”, v.v .. và vv..  và cố nhiên, tại tôi viết còn lượt bượt, chưa được gãy gọn, cho nên câu chuyện đổi ngôi “lấy con đẻ làm vợ nhà” hóa ra lòng thòng lểnh thểnh – nhưng tôi có bao giờ xưng mình là nhà văn – và sự thật vẫn là sự thật và cố nhiên, hồng nhan Récamier phải chịu lâm vào cảnh ngộ “cố đấm ăn xôi, thì xôi chẳng chín” “tưởng rằng làm vợ, hóa cô đơn” và về sau, sau vài năm hay vài chục

năm nằm trơ trên giường lạnh và giường ai thì nấy ngủ … bỗng Récamier mãn kiếp hy sinh …

(viết ngày thứ tư mercredi 17 novembre 1993)

Dẫn

Tôi đang bực tức mấy bữa rày viết lục đục không ra lời, và đang lúng túng kẹt đề tài, bỗng tôi vớ được chút tư liệu tình cờ nầy, nào dè đây là mấu chốt của trang sử về “đoạn gay cấn duyên do ta mất ba tỉnh Miền Tây, và nỗi oan ức quan Phan Thanh Giản làm mất ba tỉnh ấy”, nay đã có lối giải nghĩa và hiểu được.

1.Talleyrand Perigard, theo ngưoi tự đien Petit Larousse đa ke (1754-1838)

xuất thân là một cha cả nhưng tráo trở, vô hạnh, chức là “évêque d’Autun”,

trước phò chế độ cũ vua Louis XVI, rồi lội qua trào constituante, nhảy qua

làm linh mục buổi Constituante, rồi bỏ phắt Sắc phục nhà tu, hăng hái trở

nên bộ trưởng bộ ngoại giao Directoire, Consulat, Empire và năm 1814-15

có công o Congres de Vienne giup nước Pháp, thua trận mà khoi hư hao

quốc gia đại sự.

Sự việc xảy ra và ít có sách sử nào cắt nghĩa cho rành, nhưng nay đã có lối giải bày như dưới đây, tôi cho là vận mạng nước Nam thuở 1867 ấy, chỉ tùy cử chỉ một ông vua đã có tên đặt cho đường Tôn Đức Thắng rồi đổi lại là đường Lê Duẩn như ngày nay, và tôi nói lòng dòng như vầy: một là tránh nói tên ngay e đụng chạm về vấn đề chính trị và hai là ý muốn để độc giả tự tìm và hiểu lấy.

Chung qui, nước ta ngày nay vẫn mắc mưu mãi với một nước láng giềng mà nay còn chưa ổn định và dân nước ta lên trên đó sanh nhai vẫn còn bị chưa để cho yên. Theo tôi, nước Pháp chiếm ba tỉnh Miền Tây (Vĩnh Long, Hà Tiên, An Giang) là nhờ kỳ công của người nầy. Tôi xin thuật sơ lược và viết lòng dòng như đã nói, mặc cho người nào đọc mấy trang nầy, muốn tin và hiểu thế nào cũng được. Theo tôi, trước là Bonard, kế tiếp là Rigault de Genuoilly, khi đã chiếm ba tỉnh Miền Đông (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) thì họ đã thỏa nguyện lắm rồi và chính Bonard chơi thân với Phan Thanh Giản, đã tỏ cho biết ý kín là khi về Pháp, sẽ tâu với vua Tây, nên cho chuộc đất để mua lòng vua Nam và cũng để cho những ai đã theo đạo Mới (Gia tô) sẽ được yên ổn làm ăn. Chính tin nơi lời hứa đó mà quan Phan nhận lãnh sứ mạng đi điều đình. Ngờ đâu có hai trở ngại xảy ra.

1) Bonard về tới xứ thì mất,

2) Bên triều đình Pháp, sanh ra hai phe, phe chiến và giữ đất đã chiếm được và phe hòa, muốn cho chuộc đất, chính trong nước Pháp vẫn thiếu hụt tài chính, đang có giặc nơi Crimée kéo dài lôi thôi … Khổ một nỗi khác là ở bên ni (nước Nam), tình hình bất yên, vẫn có khuấy rối chọc phá từ Miền Tây, lội qua Tiền Giang, đánh phá … và trong lúc ấy, bỗng ở trên kia, ông vua của xứ có Đền Đế Thiên, ông vua nầy đang bị vua nước Xiêm La áp bức và vua Chùa Tháp có lòng nửa theo Xiêm, nửa lại muốn đầu hàng Người Mới, và Người Mới đây là tôi nói trớ, đó là giặc Tây, người Pháp đang đánh chiếm Miền Dưới nước An Nam. Như đã kể, Bonard và  enuoilly đang lưỡng ước.

Đang khi chưa quyết định, Genuoilly bèn sai một quan võ thủy binh đi do thám tình hình. Người ấy tên là Doudart de Lagrée, sau nầy được lấy tên đặt làm tên đường và bia tượng vẫn bị dời đi nhiều chỗ tôi sẽ nói nơi sau.

De Lagrée lên đất Chùa Tháp bằng một chiếc tàu trận tên gọi l’aviso Gia Định. Nhiệm vụ của de Lagrée thật là khó, nhưng ông tướng Tây nầy quả có chơn tài. Ông vua Chùa Tháp, xin cho tôi gọi đây theo tên Việt đã tặng cho

ông là Hoàng Lân. Ngày 3 Mars 1863, Hoàng Lân kéo binh và gia tướng lên đường trực chỉ Vọng Các (Bangkok), ông đi được nửa lộ trình, thoạt hay tin de Lagrée đã kéo cờ ba sọc lên đỉnh đền vua và đã bắn 21 tiếng súng hiệu lịnh. Khi hay được tin như vậy, vua Hoàng Lân sai dừng binh hạ trại giữa lộ trình và sau vài ngày suy nghĩ cặn kẽ, ông bèn thối bộ, kéo róc bộ hạ trở về đất Tháp và ngày 11 Aout 1863, đã ký chịu thần phục nước Pháp … và một năm sau, nước Xiêm La sai sứ đem mão ấn trả và ngày 3 Juin 1864, chính De La Grandière tự tay trao mão ấn cho vua.

Những việc kế tiếp tôi xin độc giả xem lại trong quyển Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim và tôi chỉ tóm tắt lại đây ít hàng về de Lagrée.

Nhà Nước Pháp nhớ công lớn nên thăng lên chức Capitaine de vaisseau (4 lon) và sai cùng với Francis Garnier, đi thám hiểm Biển Hồ (Tonlé Sáp) Tonlé là hồ bể, Sáp là nước ngọt, còn Mékong, tiếng Miên là Mì côn (sông mẹ của các sông nhỏ khác).

Rồi de Lagrée cùng với Francis Garnier lên Thượng Hải (Trung Quốc) năm 1868 nhưng cả hai đều chết. Francis Garnier được dựng tượng đồng nơi đầu đường Bonard, trước Nhà hát Tây, còn về de Lagrée, vẫn truân chuyên nhiều nỗi:

– Sơ khởi đô thành Tây dựng bia kỷ niệm nơi đường đại lộ Charner, nhưng năm 1890, bia được dời qua đường Bonard (chỗ Nhà hát) và bị lấy chỗ lập nhà hát, khiến nên bia de Lagrée lại dời đi nữa và dựng lên trong khu sau lưng hình đồng de Genouilly, nhưng cái số bia nầy không ở lâu được bền, vì khi chúng ta phá hình đồng de Genouilly để lấy chỗ dựng hình Đức Thánh Trần (như ngày nay đã thấy), thì cả khu bia De Lagrée và hình đồng De Genouilly cũng đã dẹp mất.

Tôi xin nói luôn, chính cái tượng đồng De Genouilly cũng có lắm tin đồn.

Vốn là trước đây, vào đời Tây còn ở đây, dân ở Xóm Thủ Thiêm ngang cái tượng tướng Tây gọi “Một Hình” nầy, dân Thủ Thiêm thường bị hỏa hoạn, và có người mê tín bịa chuyện rằng tại hình đồng de Genouilly lấy tay chỉ ngay qua xóm Thủ Thiêm nên bà Hỏa đốt nhà và tin đồn khi Tây nghe như vậy thì có sai người thổi đồng và kéo cái tay ác quái ấy chỉ xuống? Hình đồng nầy nay đã bị thủ tiêu, nhưng tôi đây xin đứng làm chứng, từ sơ khởi hình de Genouilly vẫn nặn ra với tay mặt chỉ ngay xuống đất ý nói nơi đây là nơi đỗ bến của Tây chớ hình bằng đồng dễ gì nấu chảy và nếu nấu thì hình hư chớ nào kéo lên kéo xuống như lời đồn vậy được.

Khi tôi viết, thì tôi chẳng biết ngừng và bài nầy cũng như bao nhiêu bài tôi đã viết, đều “đầu Ngô, mình Sở”, luộm thuộm và bời rời tựa như cơm nếp nát, chung qui là tại khi đang viết và tờ giấy đã không còn chỗ trống, duy có một đôi tứ mới vừa nghĩ ra, thì lúc ấy, chẳng đặng đừng, tôi vẫn lấy trang mới để ghi lại những tư tưởng vừa nghĩ ra ấy, và tỷ như bài nầy, tôi đánh số từ tr. 1 tr. 141, rồi trở lại đoạn đã viết ngày 31 Juillet rồi nối qua đoạn viết ngày 12 Aout, để rồi vá víu từ trang 142 lẩm cẩm tào lao cả ri đạnh đự như vầy, vậy xin thông cảm và bỏ qua cho. Sở dĩ tôi muốn nói thêm là để nhắc lại nơi chỗ dựng hình Đức Trần Quốc Tuấn, Hưng Đạo Đại Vương ấy, khi chúng dân hạ bệ hình de Genouilly thì vẫn dựng hình Hai Bà Trưng, nhưng không hiểu lúc đó ai kia đã nịnh mụ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu và đã nịnh bợ thêm một lần nữa là đưa thêm con gái mụ Nhu lên đứng gần mẹ để thay Hai Bà và việc tày trời, trời bất khả dung, khiến khi lật đổ họ Ngô, dân chúng phẫn nộ và đã chém đứt đầu Xuân và đầu Lệ Thủy và lôi xuống đất và kéo bù lăn bù lóc một quãng đường thật xa thì dân mới đã nư.

Và chuyện dân bên Thủ Thiêm cho đến nay chưa phát triển gì được là tại khó xây một chiếc cầu nối liền Thủ Thiêm qua vùng thị thành, ấy chẳng qua nếu xây cầu thì làm sao cho tàu bị hư sẽ kéo lên Sở Ba Son cho được. Xét ra khu Ba Son đã có từ thời chúa Nguyễn Ánh và đó là khu gọi Tàu Ô. Cũng như trong câu hát thường và vẫn còn người truyền tụng là câu “Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm … ” thì con đò xưa ấy có phải chăng ở ngay bến phà ngày nay?

Lại nữa một địa danh khác nữa cũng trong vùng nầy là “Cột cầu Thủ Ngữ” Tây trước đây gọi “pointe des blagueurs” – tôi dịch “Mũi tán dóc”, thì đó là Bến Tắm song của vua Miên ngự tại Sài Gòn, tên Bến Ngự là do ta đặt và phiên dịch tiếng Miên Kompong-Luông (kompong là vũng nước, Luông là vua, tỷ như Luông Pra-bang trên đất Lào là Luông đức vua và Prabang “đức Phật). Tôi lại nói sa đà nữa rồi và nhắc lại năm trước lúc tôi còn làm việc nơi viện bảo tàng, một buổi sáng sớm khi đạp xe tới mé sông Sài Gòn khu gần Ba Son nầy, tôi vẫn thấy một chiếc xe nhà binh đang dùng máng lớn xúc từ dưới đất lên một mớ bình vôi loại có quai thời Tự Đức hoặc xưa hơn nữa và tôi đã không kịp xin máy ngừng và những bình vôi đó đã rớt rơi bề nát tan tành, cũng như gần đây, nhơn đào đất vùng nầy để đặt ống dẫn nước cống, thì phu đào đất vẫn còn gặp vô số bình vôi loại có quai như vậy và việc ấy chứng tỏ vùng mé sông Sài Gòn từ Cầu Mống đến Sở Ba Son, vốn là di tích của Sài Gòn đời đàng cựu vậy.

(viết ngày 16-9-1993 mồng một tháng Trung Thu Quí Dậu)

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người đi tìm mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 3 Dec 2025

Y Sĩ Trung Úy Ngô Thế Vinh

Ngô Thế Vinh sinh năm 1941, Thanh Hóa, nguyên quán Hà Nội, di cư 1954, trung học Quốc Học Huế, Chu Văn An Sài Gòn. Tốt nghiệp Y Khoa Sài Gòn 1968. Làm báo SVYK Tình Thương. Y sĩ trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Y Khoa Phục Hồi Letterman General Hospital San Francisco 1972, Trường Quân Y. Tù cải tạo từ 1975 tới 1979, định cư ở Mỹ 1983, tốt nghiệp Nội Khoa các BV Đại học New York. Bác sĩ điều trị và giảng huấn tại Bệnh viện Nam California. Tác phẩm: Vòng Đai Xanh 1971, Mặt Trận ở Sài Gòn 1996, Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng 2000, Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch 2007.

Y sĩ Trung úy Ngô Thế Vinh 1969

Nghiêm Sỹ Tuấn Cánh Én Mùa Xuân

Ngô Thế Vinh

Dẫn nhập

Chiến tranh, không phải là chấp nhận hiểm nguy, không phải là chấp nhận giao tranh. Ở một thời khắc nào đó, với người chiến binh, là sự chấp nhận thuần túy và giản đơn cái chết. La guerre, ce n’est pas l’acceptation du risque, ce n’est pas l’acceptation du combat. C’est à certaines heures, pour le combattant, l’acceptation pure et simple de la mort. A. de Saint-Exupéry (Pilote de guerre)

Tiểu Sử

Nghiêm Sỹ Tuấn, bút hiệu là Yển Thử, [bút hiệu này chỉ được dùng một, hai lần cho mấy bài thơ 28 Sao trên báo Tình Thương], sinh ngày 7 tháng 2 năm 1937 tại Nam Định, Bắc phần trong một gia đình thanh bạch và đông anh em. Cắp sách tới trường muộn màng ở tuổi 14. Hoàn tất học trình Trung học và Đại học trong khoảng thời gian 14 năm. Những năm học Y khoa, Nghiêm Sỹ Tuấn là Thư ký tòa soạn báo Sinh viên Y Khoa Tình Thương từ số ra mắt tới số 13 [khoảng thời gian từ 01-1964 tới 01-1966] tới ngày Anh ra trường, là tác giả nhiều bài viết sâu sắc, mang nặng những suy tư về các vấn đề văn hóa, xã hội và vận mệnh đất nước.

Nghiêm Sỹ Tuấn tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa 1965 ở tuổi 28.

Không là Quân Y hiện dịch, nhưng Nghiêm Sỹ Tuấn tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy Dù, là một y sĩ tiền tuyến có mặt trên nhiều trận địa khắp bốn vùng chiến thuật, hai lần bị chiến thương, nhưng Anh vẫn tình nguyện ở lại đơn vị tác chiến, anh hy sinh trên chiến trường Khe Sanh sau Tết Mậu Thân, khoảng tháng 4 năm 1968(1), ở tuổi 31 ngay giữa tuổi thanh xuân. Năm 2010, khi Tập San Y Sĩ Canada thực hiện số báo chủ đề Tình Thương, Một Thời Nhân Bản, mọi người đều cảm nhận được dấu ấn rất rõ nét của Nghiêm Sỹ Tuấn ngay trong tòa soạn và xuyên suốt trên nội dung tờ báo Tình Thương.

Tính đến nay 2019, Nghiêm Sỹ Tuấn mất cũng đã hơn nửa thế kỷ. Sau này mới được biết, sau Nghiêm Sỹ Tuấn, còn có thêm hai người em trai của Anh cũng hy sinh trên những trận địa khác. Chỉ riêng gia đình anh đã cống hiến ba người con trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, một hy sinh và mất mát thật vô cùng lớn lao.(2)

Đi Tìm Chân Dung Nghiêm Sỹ Tuấn

Năm Nghiêm Sỹ Tuấn tử trận, cũng là năm lớp Y khoa 68 ra trường. Tính đến nay, qua hơn nửa thế kỷ, trải qua rất nhiều hoàn cảnh và những thử thách khác nhau, với bao nhiêu biến động và thăng trầm của đất nước, có thể nói các bạn của Nghiêm Sỹ Tuấn là những người sống sót, và để rồi chẳng thể ngờ rằng nay vẫn còn có dịp nhìn về một chặng đường quá khứ, tìm lại khoảng thời gian đã mất. Viết về báo Tình Thương sẽ thiếu sót nếu không viết về Nghiêm Sỹ Tuấn [NST]. NST không những đã ghi dấu ấn trên tờ báo Sinh viên Y khoa Tình Thương năm xưa mà cả ngay trong tòa soạn, trên các bạn đồng môn trong nhóm Tình Thương, và hơn thế nữa theo Đặng Vũ Vương thì NST đã gián tiếp ảnh hưởng đến hướng đi cuộc đời của nhiều người sau này. Trong bài viết cho Tập San Đại Học Quân Y, cũng chính Đặng Vũ Vương đã ví NST như là một “sao chổi” thoáng bay qua vòm trời Tình Thương, tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu tích lâu dài và sâu đậm trên bạn hữu và những ai đã một lần tiếp xúc với Tuấn.

Hành quân Tây nguyên 1970, từ trái: Trung úy Nguyễn Sơn, Liên toán trưởng Thám Sát; Trung úy Nguyễn Ích Đoan, Đại đội trưởng ĐĐ1/ LĐ81/BCD (chết trong trại tù CS Vĩnh Phú Bắc Việt 1980), Y sĩ Trung úy Ngô Thế Vinh, Trung úy Nguyễn Hiền, trưởng Ban 2/ LĐ81/ BCD.

[tư liệu Nguyễn Hiền]

Nghiêm Sỹ Tuấn giỏi chữ Hán, tiếng La Tinh, anh có năng khiếu về ngoại ngữ: tiếng Pháp, tiếng Anh, anh còn học thêm cả tiếng Đức cùng với Trần Xuân Dũng ở Goethe-Institut Saigon. Khi cùng dịch tác phẩm Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian, Nguyễn Vĩnh Đức chủ yếu dịch từ bản tiếng Pháp Sous le Regard de Dieu của Max Roth, trong khi Nghiêm Sỹ Tuấn còn cẩn trọng tham khảo thêm từ bản gốc tiếng Đức Hinter Uns Steht Nur Der Herrgott. Cho dù đã vô cùng bận rộn với học trình bảy năm Y khoa, từ phòng thí nghiệm tới giảng đường cho tới các bệnh viện, Nghiêm Sỹ Tuấn vẫn dành thời gian cho các sở thích về nhiều bộ môn nghệ thuật: thơ nhạc họa và ngoài sách Y khoa, anh đọc nhiều sách Triết học. Nghiêm Sỹ Tuấn có cá tính rõ rệt, một con người tài năng  và lý tưởng, Anh không xuất thân từ một danh gia vọng tộc màgốc gác bình dân như tuyệt đại đa số các gia đình Việt Nam khác, nhưng anh là hình ảnh kẻ sĩ hiếm hoi, được kết tinh từ những phẩm chất làng xã Việt Nam, với truyền thống và nề nếp giúp xã hội Việt Nam đứng vững và tồn tại qua bao ngàn năm thăng trầm của lịch sử. Nghiêm Sỹ Tuấn chính là mẫu người quân tử Đông Phương hiếm hoi thuần Việt còn vương sót lại ở hậu bán thế kỷ 20.

Nghiêm Sỹ Tuấn viết văn khi đang còn là một sinh viên, có thể là sớm hơn. Từ 1963, cùng với các bạn Y khoa làm báo Tình Thương như “một diễn đàn cho những ý tưởng nhân bản, hướng tới một xã hội lý tưởng và không mang nặng tính chủ nghĩa” [GS Trần Ngọc Ninh]. Ngay từ các bài viết xuất hiện rất sớm trên tờ báo Tình Thương, Nghiêm Sỹ Tuấn đã quan tâm tới các vấn đề cơ bản của đất nước: giáo dục, xã hội, và thời sự.

Nghiêm Sỹ Tuấn chỉ để lại vài truyện ngắn, mấy bài thơ, một cuốn nhật ký viết dở dang và có thể còn ở đâu đó là những trang bản thảo đã bị thất lạc. Chắc chắn anh còn những hẹn hò khác, nhưng Anh đã vội vã mang đi, chôn sâu dưới mảnh đất của một quê hương Việt Nam tự do mà Anh đã hết lòng yêu mến và đã đem chính sinh mệnh của Anh ra để bảo vệ. Giữa thập niên 1960s, khi đang làm báo sinh viên Tình Thương, là những năm đầy biến động của đất nước, ngoài tiền tuyến chiến tranh ngày càng ác liệt lan rộng dâng cao với rất nhiều chết chóc, trong khi hậu phương là một mặt trận khác với những cuộc biểu tình dắt dây, với vòng kẽm gai và lựu đạn cay trải dài trên khắp các đường phố … Nghiêm Sỹ Tuấn đã tỏ ra không đồng ý với mọi xáo trộn nơi hậu phương giữa cuộc chiến tranh, mà theo anh thì chỉ có lợi cho cộng sản và tuy anh không lớn tiếng phản đối nhưng bản thân anh luôn luôn đề cao tính kỷ luật và trật tự.

Không chỉ với tác phẩm tâm đắc Những người đi tìm Mùa Xuân, nhưng Para Bellum là một tác phẩm quan trọng khác, mang nặng những suy tư về chiến tranh và hòa bình của Nghiêm Sỹ Tuấn. Chính kiến của Nghiêm Sỹ Tuấn rất rõ ràng trong truyện ngắn Para Bellum / Chuẩn bị Chiến tranh:

“ … Anh đã cố gắng thoát khỏi thân riêng, tìm kiếm và tạo dựng cộng hưởng nơi người. Hiển hiện đâu đây, nét dẫn khởi đang muốn trở thành dẫn lực.

“ … Chiến tranh chỉ xấu và tàn bạo trong mắt những người đứng xa chỉ trỏ. Nên người phải ngừng hay tiếp tục nó với những lý do đẹp đẽ. Cha ông chúng ta xưa kia đã nhất định tiếp tục nó và đã chiến thắng, chắc vì hiểu rằng trật tự và kỷ luật trong sức mạnh con người là một cảnh tự nó đẹp, dễ làm cảm động, dễ làm thán phục.

“ … Hò hét, đả phá, để làm lại từ đầu? Được lắm, miễn trăm miệng cùng hò, trăm tay cùng phá. Và quan hệ nhất là trăm tay ấy còn cùng phải cất xây. Nhưng ngàn năm và trăm năm tranh đấu có lẽ hơn nhiều, chúng ta thừa hưởng dễ dàng quá, nên chóng mệt mỏi. Đến độ không dám kiến tạo …

“ … Màu xám đất mầu, đục lờ nước ruộng, áo tơi nón lá cày cuốc dưới mưa phùn mù mịt giá căm, đò đồng xộc xệch tròng trành trên mông mênh ruộng ngập, vốn là những phong cảnh lạt lẽo của quê hương. Bởi vì chúng ta đã sinh ra và sống ở đó.

“Bởi có ai mất thời giờ ngồi trong bóng tối ngắm cử chỉ tầm thường mà trang nghiêm của người nông phu gieo mạ, bóng tay vươn đến tận sao trời?”

Giữa một thế nước chông chênh, Nghiêm Sỹ Tuấn với ý thức tự do, Anh đã đi tới một chọn lựa: tự nguyện dấn thân vào một cuộc chiến tranh thảm khốc với tinh thần của Hội nghị Diên Hồng từ 700 năm trước:

“ … Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu càng ý nghĩa bấy nhiêu. Vả chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được … Cũng đừng buồn thấy lan nhược nở đỏ rồi rơi êm giữa rừng gai cằn cỗi. Cô đơn, đau khổ,

gắng chịu một mình. Có thế mới thấy hết vẻ đẹp thanh tao của giếng êm, trăng rạng.”

Nghiêm Sỹ Tuấn không chủ trương hay cổ động chiến tranh vì ý thức hệ, mà Anh chấp nhận nhập cuộc chỉ để phục vụ công lý, chống lại sự dối trá bất công để đạt được ổn định, công bằng xã hội và hạnh phúc cho con người. Nghiêm Sỹ Tuấn đã đột ngột ra đi trong sự thương tiếc của mọi người, luyến tiếc cho một cuộc hành trình đầy kỳ vọng và hứa hẹn. Mất Nghiêm Sỹ Tuấn chúng ta mất đi tinh hoa của một thế hệ trí thức mà nhân cách, tư tưởng là biểu hiện cao đẹp của một kẻ sĩ trong thời chiến của những năm 60. Nghiêm Sỹ Tuấn là điển hình tính nhân bản của truyền thống y khoa, của một người y sĩ sẵn sàng dấn thân để phục vụ con người khổ đau trong hoàn cảnh bất thường của đất nước. Với Nghiêm Sỹ Tuấn, văn chính là người: Anh là một nhân cách lớn do sự nhất quán giữa tác phẩm và cuộc sống qua mọi hoàn cảnh cho tới ngày Anh mất. Thác là thể phách, còn là tinh anh.

[Nguyễn Du]

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn vượt lên trên sự vinh danh một cá nhân, với tâm hồn phóng khoáng và kiến thức cao rộng như Anh, Nghiêm Sỹ Tuấn không cần đến điều đó. Nhưng làm sao chuyển tải được “thông điệp dấn thân, hy sinh” của Nghiêm Sỹ Tuấn tới các Bạn Trẻ Việt Nam như những người tiếp bước Anh “Đi Tìm Mùa Xuân” cho đất nước, đó mới là ước vọng của Nghiêm Sỹ Tuấn. Đối tượng của cuốn sách này không phải chỉ là một thế hệ sắp qua, mà chính là các thế hệ đang tới: đó là mối ưu tư của Nghiêm Sỹ Tuấn từ hơn nửa thế kỷ trước đối với các vấn đề căn bản của con người, của đất nước mà cho đến nay vẫn còn dở dang và nguyên vẹn. Lớp Người Trẻ, như lực lượng tiên phong sẽ nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ các hệ thống giá trị vĩnh hằng, những chuẩn mực về quyền của con người – mà bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền, vẫn mãi là một thông điệp sống động khẳng định quyền người dân được sống trong tự do với đầy đủ phẩm giá và nhân cách.

Nghiêm Sỹ Tuấn là một trí thức, một kẻ sĩ dấn thân, một quân nhân gương mẫu, Anh là hình ảnh tuyệt đẹp của phục vụ và hy sinh. Anh chết quá trẻ ở tuổi 31, thời gian của tích lũy và đi tìm vốn sống. Kiến thức và vốn sống đó chưa có thời gian để đơm hoa kết trái, những trang viết của Nghiêm Sỹ Tuấn chỉ mới là những bản nháp, anh chưa có tác phẩm lớn nhưng cuộc sống anh đã là một tác phẩm lớn cống hiến cho đời. Nguyễn Vĩnh Đức, Chủ bút đầu tiên của báo Tình Thương, đã quý mến gọi Nghiêm Sỹ Tuấn là “Người Thư Sinh Muôn Thuở”. Mang vóc dáng của một thư sinh nhưng Anh rất mạnh mẽ. Anh là một tượng đài đơn độc và cũng là một biểu tượng tuyệt đẹp trong suốt cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Ai đã  từng tiếp xúc biết tới Nghiêm Sỹ Tuấn đều mang lòng ngưỡng mộ và cả hãnh diện có được một người bạn như Anh.

Cuốn sách này ra đời muộn màng hơn nửa thế kỷ sau ngày Anh mất, không thuần chỉ là một tưởng niệm, một nén nhang tưởng nhớ người Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn, nhưng còn là một thông điệp với tầm nhìn xa của Nghiêm Sỹ Tuấn để lại cho các thế hệ mai sau, tiếp bước Anh đi Tìm Mùa Xuân cho Dân tộc.

Từ khi có dự định biên soạn một Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn, chúng tôi đã tìm kiếm và liên lạc với mọi nguồn để có thêm thông tin về NST. Nhưng với thời gian đã qua hơn nửa thế kỷ, các tài liệu cũng như hình ảnh về NST hầu như đã bị xóa nhòa. Chúng tôi vẫn cố vận dụng mọi tư liệu còn thu thập được, qua sách và báo – đặc biệt là qua bộ báo SVYK Tình Thương, và cả qua các bạn hữu mà chúng tôi có được địa chỉ eMail, số phone nhưng vẫn không đầy đủ. Chúng tôi tạ lỗi về những thiếu sót, ngoài ý muốn ấy. Cuốn sách này không có mục đích lợi nhuận, nhưng do nhu cầu cataloging của các thư viện và phát hành sách nên vẫn cần có một số ISBN với giá bán, và lợi nhuận nếu có được sẽ gửi tặng Tập San Y Sĩ Việt Nam tại Canada, một tờ báo có thể nói duy nhất của Y giới Hải ngoại từ tiền thân là tờ Nội San Y Sĩ VN Canada với số đầu tiên từ tháng 7, 1976 cho tới nay vẫn sống bền bỉ 43 năm, khoảng thời gian tồn tại ngót nửa thế kỷ ấy đã như một thành tích kỷ lục.

NGÔ THẾ VINH

Sài Gòn 1963 – California 2019

1. Nghiêm Sỹ Tuấn hy sinh tại trận địa Khe Sanh năm 1968. Theo BS Trần Đức Tường, Y sĩ trưởng TĐ3/ ND, Nghiêm Sỹ Tuấn mất sau Tết Mậu Thân vào khoảng tháng 4, 1968 trên một ngọn đồi giữa Khe Sanh và Làng Vây, nhưng theo bài viết của Nguyễn Thanh Giản, người bạn học Chu Văn An cũ thì Nghiêm Sỹ Tuấn mất ngày 13 tháng 8 năm 1968. Thời điểm tháng 4/1968 là đúng vì BS Trần Mộng Lâm là người được Trường Quân Y cử đi gác xác anh NST nên còn nhớ, và tháng 8/1968 anh TML đã xuống đơn vị dưới Cần Thơ.

2. Cô Nghiêm Mậu là em gái Nghiêm Sỹ Tuấn, khi gặp lại DS Bùi Khiết bạn thân của NST ở San Diego khoảng năm 1998, đã kể lại là sau NST gia đình cô còn có thêm 2 người anh trai trong quân lực VNCH cũng tử trận sau Nghiêm Sỹ Tuấn.