vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 3 Dec 2025

Nhân Vật Đông Tây Đối Chiếu
Đời Tự Đức _ Napoléon III
Chương 18
Bài nầy tôi viết cho cháu con trong nhà nghe, và xin tóm tắt đại lược. Tỷ như vua Tự Đức, mặc dầu có vụ Hoàng Bảo bị bức tử, nhưng còn khá hơn và hơn nhiều Napoléon đệ tam, lúc bị giam trong ngục cấm cố thì mò tì con đòi, lúc lưu vong qua Ăng lê, nhờ một ả giang hồ bao thầu đủ mọi mặt, nhưng khi lên ngôi làm ông vua ở Pháp thì vong ân và cưới cho được dòng quí tộc Eugénie de Montigo để được dựa hơi cành vàng lá ngọc và gương “muốn sang bắt quàng … ” nầy vẫn là bắt chước bác là Napoléon 1er, bỏ bà de Beauharnais để cưới bà Marie Louise de Lorraine – Autriche,

việc lộn xộn các đế Tây nầy tôi còn nhớ là năm 1917, tôi thi rớt Xẹt (certificat nói tắt) vì tôi viết les (Maries-Louises, lính mộ năm 1814, Marie Louise là tên tộc nên không viết có chữ “S”), Napoléon đệ tam nầy dâm hết chỗ nói, lúc làm hoàng đế được rồi lại sanh sứa đặt làm phòng riêng để ngủ với gái, ông ăn nói lệt bệt nhưng nhờ tướng tài như Rigault de Genouilly, sai qua đánh nhà Thanh bên Tàu, đánh không xuể lại kéo binh xuống chinh phạt đánh và chiếm thành Sài Gon, rốt cuộc nước chúng tôi bị mất lục tỉnh Nam kỳ, nhưng chung qui đế Napoléon đệ tam vẫn thua nặng và mất ngôi, kéo luôn nước Pháp bồi thường nặng cho Phổ và mất hai tỉnh Alsace và Lorraine, và Phổ Bismark, muốn cho Pháp đừng nhớ trả thù, Bismark lại xúi Pháp chiếm đất chúng tôi làm thuộc địa.
Bà hậu của Napoléon đệ nhứt vẫn không chung tình với vua khi vua đã mất ngôi, sánh lại sao bì với bà Phi vua Chiêu Thống, vua thua bỏ chạy, bà cam thủ tiết và khi vua mất bà chết theo vua để lại câu “Gió đưa bụi cải về trời,
rau răm (là bà) ở lại chịu lời đắng cay”. Chuyện xưa kể làm sao cho hết, nay tôi chỉ nhớ ông Nguyễn Tri Phương, v.v ..tận kỳ trung nhưng dáo và mác thông làm sao chống nổi Mousqueton, tàu đồng … nay nói qua phe văn, bà Huyện Thanh Quan … chính như Hồ Xuân Hương cũng không như bà George Sand của Pháp. Vừa rồi, ông Lê Ngộ Châu có gởi biếu tôi một tập của Lộc Đình “Các cuộc đời ngoại hạng”, tôi đọc và thích thú, biết được, George Sand, trước học trường Nhà Kín, khi lấy chồng đêm hiệp cẩn, bà không biết làm tình, còn chồng thì cũng vẫn không biết cách ngủ đêm tân hôn phải làm thế nào, phận sự làm chồng, chung qui cũng tục người Pháp, khi đứa trẻ hỏi cha mẹ “em tôi (gái hay trai) từ đâu có? Thì cha và mẹ vẫn không nói thật và có tục lệ gói kỹ đứa hài nhi trong khăn bó kín và dối rằng “em mầy từ bụi cải bắp sanh ra!” khiến nên khi George Sand hiểu được sự “ái ân” thì sanh tánh lăng loan không thể nói ra đây được và xin cho phép tôi văng tục, trước bà cặp với thi sĩ Alfred de Musset, sau nằm với đại nhạc sư Chopin, nhưng cả hai tỏ ra không đủ sức cung cấp, nên George Sand, về viết văn, thì thật tài, nhưng về đường tình thì rõ là có tánh ham trai tơ và bà là người đàn bà gần như mở đầu cho tục “gái mặc y phục của trai” (Mạnh Lệ Quân, Sở Vân trong bộ “Anh hùng náo …” thua bà rất xa) và hảy qua Victor Hugo, thì đêm tân hôn với vợ là bà Adèle, cả hai xuất trận đến cửu phen, hơn xa vua Minh Mạng “nhứt dạ lục giao …” và khiến tôi bắt quàng nói qua André Gide, vẫn có tật “kê gian” nên có câu Pháp văn nầy của Duhamel nói với Maurice:
“Cet André Gide a su par sa dextérité passer du postérieur à la postérité” câu nầy xin độc giả cho tôi dịch phóng: “Lão André Gide, tay ngón lanh, nhờ “cửa sau” mà để danh về sau” và nói cách khác, nói chữ chút chơi: “nhờ hậu môn mà lưu danh hậu thế”.
Xuống đến Victor Hugo hoang dâm vô độ, nhân tình từ đào hát qua tôi đòi, bất dung tha mặt nào và vẫn để cho vợ cắm sừng với bạn là Sainte Beuve rồi chuyển qua Téophile Gautier, trong khi Hugo thì dan díu với Juliette Drouet qua Léonie d’Aunet, đúng là “khi ông ăn chả thì bà ăn nem” và khi vợ chết, trên mộ bia vẫn khắc vỏn vẹn hai hàng: “Adèle (hàng trên) và hàng dưới: Vợ của Victor Hugo” (trang 100 của Lộc Đình) và Lộc Đình vẫn ghi “Tolstoi và Hugo, sao mà giống nhau thế” và tôi xin độc giả hãy tìm mua mà đọc lấy, duy tôi xin thêm có sách Pháp đã viết “Napoléon và Hitler, về môn tình dục, thì bộ kín họ Hích vẫn tong teo, còn đối với anh hùng bạt tụy Nả, thì một hôm có nữ danh ca tên Mlle Mars đến, vua sai truyền lịnh “hãy chực sẵn trên long sàng” và khi đêm gần sáng, vua mắc lo việc quân sự lại ra lịnh “hãy xếp xiêm y, bãi chiến, trẫm không đủ thì giờ …”.
Xét ra nếu nói thêm chi cho khỏi phạm tội bày chuyện tồi phong bại tục, nên ngưng viết là vừa. Dĩ nhiên hôm nay tôi nhơn hứng viết và suy luận Đông Tây và “Kim cổ”, tưởng không nên so Hồi ký của Lộc Đình (thâm thúy và kỹ càng từ tác phẩm đã viết) của một trò trường phường Hà Nội nhỏ qua trường Trung học Pháp “Bưởi” vừa có thầy cử Hán cụ Thẩm Quỳnh dạy chữ Hán, qua tay bác của Lộc Đình dạy kềm thêm chữ Nho, tưởng không nên so văn của người Bắc, còn giữ được nền gốc Khổng Mạnh buổi Pháp thuộc, và tưởng đừng nên so với văn trong Nam nầy, đã bị Tây cấm học võ, sợ làm giặc và đã không cho học chữ nôm và Hán tự, rằng phải quên gốc cũ và phải học quốc ngữ để làm việc cho đô hộ Tây … và theo tôi tạm kết luận, người bạn trẻ Việt, nên biết ngoại ngữ mới mong tiến phát, nhưng không nên viết Pháp văn bất quá chỉ viết bằng họ chớ không hơn họ được, và tưởng không nên bỏ nguồn gốc Hán nho và quá viết cho giống giọng Âu Tây, “Mạ lấy xe kéo để về nhà” và như vậy vô tình người Tây học thốt câu ấy để mời bà nhạc về nhà và tạm đi xe kéo chớ không lấy thằng phu kéo xe đâu nhé.
Văn Tàu với Đường thi, với Tam quốc chí, với Thủy hử Lương Sơn Bạc, với Tây Du Đường Tam Tạng thỉnh kinh, với Hồng Lâu Mộng với Tây Sương Ký còn chúng ta, ngoài kia có truyện Kiều, trong nầy có truyện Lục Vân Tiên, theo tôi, mỗi phương mỗi có lề lối nói viết riêng biệt, nên giữ lại cho nhau, hơn là như hiện nay, cố tình ép viết giọng Bắc, “Tân Sơn Nhứt” và viết riết “Nhất” ôi là Nhất và xứ quê của tôi là tỉnh, hạt Sốc Trăng là do tiếng cũ người Miên là “Srok khléang”, Tiều đọc “Khát làng” âm chữ Sốc là Sốt Miên và xin đừng ép viết Sốc Trăng (chữ sóc, Hán, là bắt đầu, là Sóc phương, thì sai vì đúng ở phương nam, và Sốc Trăng hiểu ngay sóc vọng thì trăng nào lú, nếu cho tôi leo qua điện sử thì Sốc Trăng, thời vua Minh Mạng, còn lại địa danh Hán là “Nguyệt giang tỉnh” (tỉnh Sông Trăng) chớ vẫn không là Sóc Nguyệt.
Xin giữ lại, viết Tam Đa Quán, nhưng xin đọc “quán Ba Cụm”, tuy cái quán xưa đã không còn và tuy viết hai chữ “Tây Cống” (nhưng không phải đó là đất cống cho Tây).
(viết ngày 12-8-1993)
Thử so sánh văn nhân tướng sĩ Đông và Tây của Thế Kỷ 18 dưới trào hai Vua Tự Đức và Napoleon III
Ông vua của mình, Hán học uyên thâm, mà đánh giặc không lại vua Pháp, Napoléon III (Nã Phá Luân đệ tam) ông vua Tây nầy rất bê bối, nói chuyện không nên thân, chỉ giỏi tài nhảy cái và nhờ có tướng giỏi phò trợ mà chiếm dược đất Miền Nam (từ năm 1862) và gậm nhấm luôn Miền Bắc (từ 1884), báo hại vua ta chỉ còn một mảnh đất gọi Miền Trung và từ khi vua ta băng, nước Nam điêu linh mãi.
Kể về phe văn, xin miễn nói về người của nước ta, vì ai ai lại không biết, và xin nói sơ về mấy ông văn sĩ của Pháp và xin so sánh chút chơi như sau:
Vua Minh Mạng tự khoe “Nhứt dạ lục giao sanh ngũ tử”, theo tôi hiểu, ông sẵn sâm nhung và rượu thuốc bồi bồ, nên nội một đêm ông đạp sáu con mái mà sanh được năm con, đó là nhờ súng khá mạnh và đạn có ngòi, trong khi
ấy, đọc sách của Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê để lại, tôi đọc “Các cuộc đời ngoại hạng” rồi hôm nay vừa nhận cuốn “Đời nghệ sĩ”, nhớ chuyện Victor Hugo, đêm đầu hiệp cẩn với vợ là Adèle Foucher, hai người xáp trận, mà “nhứt dạ cửu chiến … ” nhưng có lẽ súng tuy nhạy mà đạn là đạn mã tử, nên không nghe có sanh con nào, và tôi nói đây, xin kiểm duyệt đừng bôi và đừng bắt tội dợm nói tục, anh Nguyễn Hiến Lê viết sao tôi tin làm vậy, và riêng tôi cũng từng đọc sách Pháp, hiểu cuốn trùng điệp với những sách anh Lê đã đọc, thì bà Adèle nầy sau có cọ dĩa vừa với Sainte Beuve, vừa với Théophile Gautier, và khi Adèle mãn phần Victor Hugo vẫn đề trên bia vợ:
Adèle Vợ của Victor Hugo (sách C.C.Đ.N.H., trang 160).
Tôi xin kết luận: bên Tây, tục “ăn nem ăn chả” vẫn xem thường … và Victor Hugo khi chết, vẫn được thờ và chôn trong Panthéon, trong khi bên nước tôi, Nguyễn Tri Phương, Trương Định, luôn Phan Thanh Giản, đến nay tôi chưa nghe được tưởng niệm đích đáng như bên Pháp, ông Nguyễn Tri Phương, thì rút tháo băng để nhận chữ Trung, ông Định khi bị bắn gãy đùi thì rút gươm tự vận, quan văn thì như Phan Hiển Đạo, bị quan Phan nhiếc một câu cũng tự tử cho tròn khí tiết, còn tỷ như nhà tu Talleyrand1, sớm đầu tối đánh, trở mặt như khi tắm, tu hành không lo, nhà văn Chateaubriand, cũng vẫn cưới vợ giàu đào mỏ như ai và tánh 35 không chỗ nói, tôi đọc gấp rút không thấy Lộc Đình nhắc lại chuyện bà Récamier, vậy tôi xin sửa mũ mấn, viết nhón lại đây sự tích hồng nhan bạc mạng của bà, sơ khởi bà là con của cha – người cha nầy, thật ra vì tư tình với chính mẹ mình mà sanh ra, (Récamier lấy vợ của bạn) và khi bà lớn lên, dung nhan cá đắm nhạn sa, thì xảy ra việc trong nước có loạn, vua bị thí (bị chém đầu) … một bữa hay một hôm nọ, Récamier nói với người tình nhơn, “xin để cho mình cưới con, đứa con tư sanh tử ấy, làm vợ” – người tình nhơn ấy nghe lạ tai, vội hỏi: “sao có chuyện loạn luân, cha đòi lấy con làm vợ như vậy”, thì Récamier trả lời: “Hiện nay, luật Cách mạng dạy rằng phàm kẻ nào có sản nghiệp mà độc thân, khi chết, thì sản nghiệp sẽ bị tịch thâu cho nhà nước hưởng và vì vậy, anh đây, nếu mãn phần bất đắc kỳ tử, sẽ mất của, nên anh lo xa, thà để anh ký tờ cưới có hôn thú, thì con của chúng ta khỏi lo bị mất của và anh đây xin thề sẽ giữ bồn phận làm cha và sẽ không khi nào động chạm đến con mà phải sự loạn luân như em đã sợ và nghi ngại”, v.v .. và vv.. và cố nhiên, tại tôi viết còn lượt bượt, chưa được gãy gọn, cho nên câu chuyện đổi ngôi “lấy con đẻ làm vợ nhà” hóa ra lòng thòng lểnh thểnh – nhưng tôi có bao giờ xưng mình là nhà văn – và sự thật vẫn là sự thật và cố nhiên, hồng nhan Récamier phải chịu lâm vào cảnh ngộ “cố đấm ăn xôi, thì xôi chẳng chín” “tưởng rằng làm vợ, hóa cô đơn” và về sau, sau vài năm hay vài chục
năm nằm trơ trên giường lạnh và giường ai thì nấy ngủ … bỗng Récamier mãn kiếp hy sinh …
(viết ngày thứ tư mercredi 17 novembre 1993)
Dẫn
Tôi đang bực tức mấy bữa rày viết lục đục không ra lời, và đang lúng túng kẹt đề tài, bỗng tôi vớ được chút tư liệu tình cờ nầy, nào dè đây là mấu chốt của trang sử về “đoạn gay cấn duyên do ta mất ba tỉnh Miền Tây, và nỗi oan ức quan Phan Thanh Giản làm mất ba tỉnh ấy”, nay đã có lối giải nghĩa và hiểu được.
1.Talleyrand Perigard, theo ngưoi tự đien Petit Larousse đa ke (1754-1838)
xuất thân là một cha cả nhưng tráo trở, vô hạnh, chức là “évêque d’Autun”,
trước phò chế độ cũ vua Louis XVI, rồi lội qua trào constituante, nhảy qua
làm linh mục buổi Constituante, rồi bỏ phắt Sắc phục nhà tu, hăng hái trở
nên bộ trưởng bộ ngoại giao Directoire, Consulat, Empire và năm 1814-15
có công o Congres de Vienne giup nước Pháp, thua trận mà khoi hư hao
quốc gia đại sự.
Sự việc xảy ra và ít có sách sử nào cắt nghĩa cho rành, nhưng nay đã có lối giải bày như dưới đây, tôi cho là vận mạng nước Nam thuở 1867 ấy, chỉ tùy cử chỉ một ông vua đã có tên đặt cho đường Tôn Đức Thắng rồi đổi lại là đường Lê Duẩn như ngày nay, và tôi nói lòng dòng như vầy: một là tránh nói tên ngay e đụng chạm về vấn đề chính trị và hai là ý muốn để độc giả tự tìm và hiểu lấy.
Chung qui, nước ta ngày nay vẫn mắc mưu mãi với một nước láng giềng mà nay còn chưa ổn định và dân nước ta lên trên đó sanh nhai vẫn còn bị chưa để cho yên. Theo tôi, nước Pháp chiếm ba tỉnh Miền Tây (Vĩnh Long, Hà Tiên, An Giang) là nhờ kỳ công của người nầy. Tôi xin thuật sơ lược và viết lòng dòng như đã nói, mặc cho người nào đọc mấy trang nầy, muốn tin và hiểu thế nào cũng được. Theo tôi, trước là Bonard, kế tiếp là Rigault de Genuoilly, khi đã chiếm ba tỉnh Miền Đông (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) thì họ đã thỏa nguyện lắm rồi và chính Bonard chơi thân với Phan Thanh Giản, đã tỏ cho biết ý kín là khi về Pháp, sẽ tâu với vua Tây, nên cho chuộc đất để mua lòng vua Nam và cũng để cho những ai đã theo đạo Mới (Gia tô) sẽ được yên ổn làm ăn. Chính tin nơi lời hứa đó mà quan Phan nhận lãnh sứ mạng đi điều đình. Ngờ đâu có hai trở ngại xảy ra.
1) Bonard về tới xứ thì mất,
2) Bên triều đình Pháp, sanh ra hai phe, phe chiến và giữ đất đã chiếm được và phe hòa, muốn cho chuộc đất, chính trong nước Pháp vẫn thiếu hụt tài chính, đang có giặc nơi Crimée kéo dài lôi thôi … Khổ một nỗi khác là ở bên ni (nước Nam), tình hình bất yên, vẫn có khuấy rối chọc phá từ Miền Tây, lội qua Tiền Giang, đánh phá … và trong lúc ấy, bỗng ở trên kia, ông vua của xứ có Đền Đế Thiên, ông vua nầy đang bị vua nước Xiêm La áp bức và vua Chùa Tháp có lòng nửa theo Xiêm, nửa lại muốn đầu hàng Người Mới, và Người Mới đây là tôi nói trớ, đó là giặc Tây, người Pháp đang đánh chiếm Miền Dưới nước An Nam. Như đã kể, Bonard và enuoilly đang lưỡng ước.
Đang khi chưa quyết định, Genuoilly bèn sai một quan võ thủy binh đi do thám tình hình. Người ấy tên là Doudart de Lagrée, sau nầy được lấy tên đặt làm tên đường và bia tượng vẫn bị dời đi nhiều chỗ tôi sẽ nói nơi sau.
De Lagrée lên đất Chùa Tháp bằng một chiếc tàu trận tên gọi l’aviso Gia Định. Nhiệm vụ của de Lagrée thật là khó, nhưng ông tướng Tây nầy quả có chơn tài. Ông vua Chùa Tháp, xin cho tôi gọi đây theo tên Việt đã tặng cho
ông là Hoàng Lân. Ngày 3 Mars 1863, Hoàng Lân kéo binh và gia tướng lên đường trực chỉ Vọng Các (Bangkok), ông đi được nửa lộ trình, thoạt hay tin de Lagrée đã kéo cờ ba sọc lên đỉnh đền vua và đã bắn 21 tiếng súng hiệu lịnh. Khi hay được tin như vậy, vua Hoàng Lân sai dừng binh hạ trại giữa lộ trình và sau vài ngày suy nghĩ cặn kẽ, ông bèn thối bộ, kéo róc bộ hạ trở về đất Tháp và ngày 11 Aout 1863, đã ký chịu thần phục nước Pháp … và một năm sau, nước Xiêm La sai sứ đem mão ấn trả và ngày 3 Juin 1864, chính De La Grandière tự tay trao mão ấn cho vua.
Những việc kế tiếp tôi xin độc giả xem lại trong quyển Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim và tôi chỉ tóm tắt lại đây ít hàng về de Lagrée.
Nhà Nước Pháp nhớ công lớn nên thăng lên chức Capitaine de vaisseau (4 lon) và sai cùng với Francis Garnier, đi thám hiểm Biển Hồ (Tonlé Sáp) Tonlé là hồ bể, Sáp là nước ngọt, còn Mékong, tiếng Miên là Mì côn (sông mẹ của các sông nhỏ khác).
Rồi de Lagrée cùng với Francis Garnier lên Thượng Hải (Trung Quốc) năm 1868 nhưng cả hai đều chết. Francis Garnier được dựng tượng đồng nơi đầu đường Bonard, trước Nhà hát Tây, còn về de Lagrée, vẫn truân chuyên nhiều nỗi:
– Sơ khởi đô thành Tây dựng bia kỷ niệm nơi đường đại lộ Charner, nhưng năm 1890, bia được dời qua đường Bonard (chỗ Nhà hát) và bị lấy chỗ lập nhà hát, khiến nên bia de Lagrée lại dời đi nữa và dựng lên trong khu sau lưng hình đồng de Genouilly, nhưng cái số bia nầy không ở lâu được bền, vì khi chúng ta phá hình đồng de Genouilly để lấy chỗ dựng hình Đức Thánh Trần (như ngày nay đã thấy), thì cả khu bia De Lagrée và hình đồng De Genouilly cũng đã dẹp mất.
Tôi xin nói luôn, chính cái tượng đồng De Genouilly cũng có lắm tin đồn.
Vốn là trước đây, vào đời Tây còn ở đây, dân ở Xóm Thủ Thiêm ngang cái tượng tướng Tây gọi “Một Hình” nầy, dân Thủ Thiêm thường bị hỏa hoạn, và có người mê tín bịa chuyện rằng tại hình đồng de Genouilly lấy tay chỉ ngay qua xóm Thủ Thiêm nên bà Hỏa đốt nhà và tin đồn khi Tây nghe như vậy thì có sai người thổi đồng và kéo cái tay ác quái ấy chỉ xuống? Hình đồng nầy nay đã bị thủ tiêu, nhưng tôi đây xin đứng làm chứng, từ sơ khởi hình de Genouilly vẫn nặn ra với tay mặt chỉ ngay xuống đất ý nói nơi đây là nơi đỗ bến của Tây chớ hình bằng đồng dễ gì nấu chảy và nếu nấu thì hình hư chớ nào kéo lên kéo xuống như lời đồn vậy được.
Khi tôi viết, thì tôi chẳng biết ngừng và bài nầy cũng như bao nhiêu bài tôi đã viết, đều “đầu Ngô, mình Sở”, luộm thuộm và bời rời tựa như cơm nếp nát, chung qui là tại khi đang viết và tờ giấy đã không còn chỗ trống, duy có một đôi tứ mới vừa nghĩ ra, thì lúc ấy, chẳng đặng đừng, tôi vẫn lấy trang mới để ghi lại những tư tưởng vừa nghĩ ra ấy, và tỷ như bài nầy, tôi đánh số từ tr. 1 tr. 141, rồi trở lại đoạn đã viết ngày 31 Juillet rồi nối qua đoạn viết ngày 12 Aout, để rồi vá víu từ trang 142 lẩm cẩm tào lao cả ri đạnh đự như vầy, vậy xin thông cảm và bỏ qua cho. Sở dĩ tôi muốn nói thêm là để nhắc lại nơi chỗ dựng hình Đức Trần Quốc Tuấn, Hưng Đạo Đại Vương ấy, khi chúng dân hạ bệ hình de Genouilly thì vẫn dựng hình Hai Bà Trưng, nhưng không hiểu lúc đó ai kia đã nịnh mụ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu và đã nịnh bợ thêm một lần nữa là đưa thêm con gái mụ Nhu lên đứng gần mẹ để thay Hai Bà và việc tày trời, trời bất khả dung, khiến khi lật đổ họ Ngô, dân chúng phẫn nộ và đã chém đứt đầu Xuân và đầu Lệ Thủy và lôi xuống đất và kéo bù lăn bù lóc một quãng đường thật xa thì dân mới đã nư.
Và chuyện dân bên Thủ Thiêm cho đến nay chưa phát triển gì được là tại khó xây một chiếc cầu nối liền Thủ Thiêm qua vùng thị thành, ấy chẳng qua nếu xây cầu thì làm sao cho tàu bị hư sẽ kéo lên Sở Ba Son cho được. Xét ra khu Ba Son đã có từ thời chúa Nguyễn Ánh và đó là khu gọi Tàu Ô. Cũng như trong câu hát thường và vẫn còn người truyền tụng là câu “Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm … ” thì con đò xưa ấy có phải chăng ở ngay bến phà ngày nay?
Lại nữa một địa danh khác nữa cũng trong vùng nầy là “Cột cầu Thủ Ngữ” Tây trước đây gọi “pointe des blagueurs” – tôi dịch “Mũi tán dóc”, thì đó là Bến Tắm song của vua Miên ngự tại Sài Gòn, tên Bến Ngự là do ta đặt và phiên dịch tiếng Miên Kompong-Luông (kompong là vũng nước, Luông là vua, tỷ như Luông Pra-bang trên đất Lào là Luông đức vua và Prabang “đức Phật). Tôi lại nói sa đà nữa rồi và nhắc lại năm trước lúc tôi còn làm việc nơi viện bảo tàng, một buổi sáng sớm khi đạp xe tới mé sông Sài Gòn khu gần Ba Son nầy, tôi vẫn thấy một chiếc xe nhà binh đang dùng máng lớn xúc từ dưới đất lên một mớ bình vôi loại có quai thời Tự Đức hoặc xưa hơn nữa và tôi đã không kịp xin máy ngừng và những bình vôi đó đã rớt rơi bề nát tan tành, cũng như gần đây, nhơn đào đất vùng nầy để đặt ống dẫn nước cống, thì phu đào đất vẫn còn gặp vô số bình vôi loại có quai như vậy và việc ấy chứng tỏ vùng mé sông Sài Gòn từ Cầu Mống đến Sở Ba Son, vốn là di tích của Sài Gòn đời đàng cựu vậy.
(viết ngày 16-9-1993 mồng một tháng Trung Thu Quí Dậu)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.