Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 3 Dec 2025

34. Con tôi

Thuở ấy, đời lính của tôi nó kéo dài lê thê, “chuyện trăm năm” đôi lúc nó cũng lóe lên trong đêm tối như đóm sáng hỏa châu, rồi buồn tình tắt ngúm ngay sau đó. Mỗi lần về phép, bà cụ cứ càm ràm… “bộ mày muốn ở vậy suốt đời sao con!” Bà cụ nói hoài, tôi mềm lòng theo lời khuyên của Mẹ. Tôi “sang sông” khoảng tháng 7 năm 1974, không nhớ ngày nào, và sau đó, vào tù cộng sản tháng 5 năm 1975. Nếu biết có ngày oan nghiệt 30 tháng Tư 75, tôi không “sang sông” làm gì cho đau khổ cả chùm.

Sau những năm tháng trong vòng rào kẽm gai của cộng sản, ở tù về, tôi mới có thằng nhóc con ra chào đời; nó ra đời mà không coi ngày. Thằng con tôi là thằng tù con, hay thằng con tù cũng vậy, dưới trời xã hội chủ nghĩa đen thui khi nó theo cha mẹ vô tù sau chuyến vượt biển bất thành. Dường như lúc sinh ra, nó không khóc. Dường như nó chờ và cam chịu phận số theo cha nó.

Ra tù “cải tạo”, tôi hiểu là chế độ này không sống được nếu tôi muốn làm một con người, sống như một con người. Và tôi quyết định ra đi. Tôi không muốn mình bị chế độ “súc vật hóa” như điều cụ nhạc sĩ Tô Hải tiết lộ trong hồi ký của ông mới đây. Tôi ra biển hàng chục lần mà không thoát; gia tài, nhà cửa không cánh mà bay hết vào tay đảng, và tôi đã đưa vợ con, các em tôi vào tù tiếp khi thằng nhóc nhỏ con tôi mới sinh không đầy ba tháng.

Ra tù vượt biên, tôi lại đi tiếp. Tôi ở thế cùng đường không còn gì để mất, tôi bất chấp từ cái tù đến cái chết, tôi bất chấp mệnh số. Mỗi lần đi là mỗi lần thằng nhóc phải uống Phenergan, loại thuốc trị ho, dị ứng và cũng là thuốc ngủ. Nó ngủ như cọng bún trên vai tôi trong những đêm vượt rừng ra biển…

Những lần sau cùng, thằng nhóc lớn dần, 3 tuổi, nó biết làm thinh khi vượt rừng ra biển ban đêm mà không cần uống thuốc ngủ. Thế nhưng, mỗi lần đi không thoát, bầu đoàn thê tử lội rừng phờ phạc trở về, thằng bé xuống xe “lam” chạy một mạch trên con đường ruộng vào nhà ông ngoại ở Phú Lâm, cách Phan Thiết khoảng 6 cây số về hướng Sài Gòn. Có người hỏi “con đi đâu về vậy?” thì nó nói tỉnh bơ: “Dạ con đi vượt biên!” Ông ngoại và mấy dì nó lại mừng vì không mất thằng nhóc. Hàng xóm chả ai thắc mắc, chả ai báo công an vì lời nói của thằng bé…

Rồi cũng tưởng như mọi lần trước đi xuyên rừng, hôm sau lại thất thểu trở về, nhưng hôm nay cả nhà sốt ruột không thấy thằng nhóc chạy trên bờ ruộng như mấy lần trước, chờ đến chiều vẫn biệt tăm, ông ngoại và mấy bà dì tất tả mò xuống xóm biển gần BìnhTú, phía Nam phi trường Phan Thiết, dò hỏi tin tức; bà con cho biết khi hôm có mấy người dùng súng cướp ghe phóng ra biển…

Ông cụ thất thần nhìn ra biển rộng mênh mông. Biển xanh biền biệt thấp thoáng bóng chim hải âu. Ông biết thằng rễ, con gái và cháu ông đã thoát được ra biển thật. Dường như hai dòng nước mắt ông ứa ra. Con ông và thằng cháu ông thương đứt ruột đã biến mất ở cuối chân trời.

Ông lặng lẽ về nhà, buổi chiều bỏ cơm, tối nhìn xuyên đêm đen về hướng đại dương sóng vỗ… Lòng ông chùng xuống, âu lo. Ông thức với ác mộng, ông ngủ với ác mộng. Công an biên phòng săn đuổi, bão tố, hải tặc, chìm ghe… cái nào cũng có thể giết chết con cháu ông như cơn lốc lặt gọn những chiếc lá trên cành cuối thu.

Mỗi đêm, ông ra sân thắp nhang, đứng giữa trời sao lồng lộng, hướng về đại dương khấn nguyện. Ông cầu xin một chút nhiệm mầu mong manh…

Cuối cùng thì tôi cũng đem vợ con thoát được qua Pulau Bidong trên một chiếc thuyền con lớn hơn chiếc ghe câu của cụ Nguyễn Khuyến một chút, tay lái ghe là một cây đòn, chỉ cần một cơn bão nhỏ cũng đủ chôn cả đám vào lòng biển! Tôi không biết là đời mình chưa tới số, Chúa, Phật chưa kêu tên, hay nhờ lời nguyện cầu của ông cụ, hay chính đời mình đã hết cái số khốn nhục dưới trời xã hội chủ nghĩa giăng giăng mầu cờ đỏ trên khắp nước…

Vào giữa tháng 5.1980, bước chân lên đảo Pulau Bidong đầy nghẹt người tỵ nạn cộng sản đến trước, sống chen chúc ở khu C với những bà con, nhưng tôi thấy hạnh phúc cùng đất trời bao la, lồng lộng, không có hàng rào kẽm gai dưới đất, và dường như không có hàng rào kẽm gai cả trên trời như tôi vẫn thường nghĩ trong những ngày sa cơ trong cơn tù tội! Những ám ảnh hàng ngày về cơn ác mộng bị cộng sản “gom bi” bắt giam lại trong các trại tù không còn, giấc ngủ không vỡ từng đêm khi nghe tiếng chó sủa hay tiếng côn trùng im bặt vì nghe tiếng chân người vào ngõ ban đêm….

Được thở không khí tự do trên đảo tỵ nạn, tôi nhận dạy tiếng Anh vỡ lòng cho mây đứa nhỏ tại Trung Tâm Sinh Ngữ, và nhờ vậy, bỗng nhiên tôi có một lũ nhóc học trò bất đắc dĩ xa lạ lần đầu tiên trong đời… Cuộc sống tái sinh cả trong giấc ngủ.

Đang tạm vui những ngày đầu tự do trên đảo vài tháng, một hôm, bà xã nôn oẹ. Cứ tưởng vì nàng ngán thịt gà Cao Ủy mà nôn, ai ngờ những ngày chỉ ăn cá, hay nhịn ăn, nàng cũng oẹ nôn như thường. Tôi đưa vợ lên bệnh viện Jetty trên đảo khám bệnh… và tôi “tá hỏa tam tinh” khi tin bệnh viện báo “vợ ông có bầu!“

Lúc đầu thoạt nghe tin, tôi kêu lên một tiếng “Trời!“, không phải tôi sợ có con, mà vì tôi ngạc nhiên. Tôi tự hỏi vậy thì bà xã có bầu khi còn ở Việt Nam, có bầu khi tôi đang tổ chức các chuyến vượt thoát sinh tử mà ôm theo chỉ một thằng nhóc con cũng đã khổ lên khổ xuống, huống chi có thêm một nhóc thứ hai thì làm sao dám liều mạng. Thôi, tôi nghĩ ra rồi; thì ra, trong thời gian trước ngày vượt biên, tôi còn ở trại lao động tự giác Bình Tú, mỗi thứ Bẩy, khi công an cho phép vài anh em chia phiên về nhà nhận thực phẩm hay đi chợ, và họ bỏ trại về phố xem hát hôm sau mới lên trại, tôi đã lén ở lại đêm với vợ, và nhóc nhỏ lén xuất hiện lúc nào trong bụng mẹ mà tôi không biết.

May mà con tôi trong bụng mẹ đã bình an theo tôi suốt cuộc hải trình rủi may đến được Bidong. Tôi không muốn con tôi sinh ra trên cái đảo quá nhiều chuột núi, cắn cẳng, cạp giò khi đang ngủ, phương tiện y tế và sinh sống thiếu thốn, nên khi chính phủ Canada nhận, tôi đi ngay.

Tháng 9.1980, tôi đến Canada và định cư ở thành phố Nigara Falls. Ba tháng sau, một bé gái chào đời khi tuyết giăng giăng đổ đầy trời. Bé Minh Châu là cô bé của một gia đỉnh tỵ nạn đầu tiên sinh tại thành phố này, và thị trưởng Niagara Falls đã gửi tặng cho bé Minh Châu một cái gối tuyệt đẹp.

Càng lớn, cô bé càng bụ bẫm, dễ thương. Có lần trong một thoáng vô tình trong cơn ác mộng vượt thoát, tôi nghĩ sự xuất hiện của Minh Châu trong bụng mẹ hoàn toàn ngoài ý muốn, và nó xuất hiện như một “tai nạn” trong cơn khổ nạn cùng đường của cha nó, một tên tù không thể sống trên chính quê hương của mình; nhưng mỗi khi ôm con vào lòng, thay tả, tắm cho con, cho con ăn, ru con ngủ, nhìn gương mặt đẹp như thiên thần của con, tôi hối hận về những ý nghĩ ban đầu chợt thoáng qua. Không! Con không phải là tai nạn! Con là niềm hạnh phúc của ba khi liều thân ra đi và đến bờ tự do!

Và tôi nhận ra Minh Châu chính là món quà Thượng Đế âm thầm ban cho tôi trong chuyến vượt thoát sau cùng. Nêu lần này tôi không thoát, bị bắt sống giữa biển, cả nhà vô tù,Minh Châu sẽ chào đời trong tù, và ở tù như cu Nguyên anh nó, và chắc chắn đời nó sẽ khốn khổ, rủi ro, bất hạnh hơn nhiều. Hoặc giả ghe chìm trong cơn bão, đời tàn giữa trùng khơi, thì nào ai biết con tôi trong bụng mẹ đã theo mẹ cha vào lòng biển lạnh, không ai biết Minh Châu là ai trên cuộc đời này, dù là trong một phút giây phù du của sự sống.

Cu Nguyên lúc đó chỉ mới 3 tuổi, một hôm chở con đi chợ bằng chiếc xe đạp, tuyết thình lình đổ, trời lạnh bất ngờ, thằng bé ngồi sau xe té xuống tuyết vì lạnh cóng. Thằng này lì, ngày xưa vượt biển băng rừng, nó không khóc, nay tuyết lạnh tê người nó không la…

Tôi bỏ xe bên lề đường, cõng con và mang bao thức ăn chạy về nhà, hai tay cóng lại, cầm chiếc chìa khóa trong tay mà không làm sao mở khóa nhà, cuối cùng khi vô nhà được, hai cha con khui lổ “heat” thọc tay vào cho đỡ cóng. Tôi ôm con, nắm lấy hai tay nhỏ xíu của thằng bé mà muốn khóc… Tôi nói với con tôi: “Ba sẽ đưa con về vùng ấm Vancouver!” Lúc đó, tôi chưa biết mặt mũi thành phố Vancouver tròn méo ra sao, chỉ nghe thằng bạn bảo Vancouver đẹp và ấm, mùa đông không khắc nghiệt!

Mấy tháng sau, mùa Thu Niagara Falls ào đến với những chiếc lá vàng bắt đầu rụng theo những cơn gió chuyển mùa, tôi quyết định chuyển về Vancouver. Tiễn chúng tôi, bé Nguyên và bé Minh Châu tại sân ga Niagara Falls là hai vợ chồng bà S. Lowe, bà ngoại nuôi của Minh Châu, và những đứa nhỏ quấn quít Minh Châu. Xe hỏa lăn bánh, tôi thấy những giọt nước mắt của hai ông bà Lowe và mấy đứa nhỏ, tay vẫy chào tiễn biệt. Tôi ngậm ngùi nhìn lại thành phố thân yêu đã đùm bọc gia đình tôi gần một năm qua.

Minh Châu và Nguyên lớn lên tại thành phố đẹp nhất miền Tây Canada. Vancouver đã trở thành quê hương thứ hai của cha con tôi trong 30 năm, gần nửa tuổi đời của tôi. Tôi giữ cho con không mất tiếng Việt như giữ một gia tài, một nghĩa vụ đối với gia đinh và với đất nước.

Khi Minh Châu còn học bậc tiểu học, tôi sắm cho con một cái áo dài, chụp hình con gửi về cho Nội, Ngoại xem- cả làng xóm họ hàng xúm nhau xem hình cô bé, và nó trở thành niềm vui, niềm thương nhớ của hai bên Nội Ngoại. Ai cũng mong chờ một ngày gặp Minh Châu bằng xương bằng thịt khi nó có dịp về thăm quê hương của cha mẹ, một quê hương mà nó không có một hình ảnh nào trong ký ức nhưng nó vẫn thương, vẫn thấy một cái gì ràng buộc qua cha, qua mẹ, một sự ràng buộc vô hình rất lạ lùng…

Khi Minh Châu xong bậc đại học, tôi quyết định cho con tôi về thăm Nội Ngoại trước ngày ông, bà cụ quá già hay có thể bất ngờ theo ông bà mà không nhìn mặt được cháu. Trước khi lên máy bay, tôi gọi Minh Châu và bảo:

– Ba gửi cho con 100 đô la để con cho bà Nội. Gặp Nội, con phải nói là tiền của con cho Nội, và con phải cầm tay Nội hỏi Nội có khoẻ không? Con thay Ba thăm Nội. Con nói tiếng Việt giỏi, bà Nội rất là thích. Con nhớ lời ba dặn nghe!

– Dạ con nhớ! Nhưng làm sao con biết ai là bà Nội?Ai là bà Ngoại?

– Bà Ngoại mất rồi, chỉ còn bà Nội, con về với Mẹ! Mẹ sẽ bảo cho con! Nhưng con nhớ khi gặp bà Nội, con phải ôm bà Nội thay ba nghe! Ba nhớ bà Nội lắm, nhưng ba không về được! Con nhớ nghe!

– Dạ! Con nhớ!

Minh Châu và mẹ nó về thăm nhà mà không báo trước. Xe ngừng ngoài quốc lộ 1, nhà tự bên Ngoại cách lộ 2 đám ruộng. Mẹ nó chỉ:

– Con đi trước! Nhà ông ngoại ở cuối con đường ruộng này, chỗ có mấy cây dừa! Xem các Dì có nhận ra con hay không?

– Lỡ mấy Dì không nhận ra con thì sao?

– Thì Mẹ đi sau con mà!

Mấy bà Dì bên Ngoại không nhận tin báo trước, ngạc nhiên nhìn ra đường lộ, thấy một cô gái lạ đi trên bờ ruộng, dần vào sân, ngơ ngác nhìn vào căn nhà có cấu trúc xa lạ. Một cô gái lạ xinh xắn, dong dỏng cao, có nước da trắng tần ngần đứng lại trước sân nhà làm cả nhà ùa ra, định hỏi “cô là ai, tìm ai” thì đột nhiên nghe cô gái nói:

– Thưa Dì! Con là Minh Châu!

Cùng lúc thì Mẹ Minh Châu xuất hiện ở bờ ruộng. Cả nhà ngạc nhiên mừng rỡ ùa ra ôm Minh Châu và đón mẹ nó. Trong phút giây ngạc nhiên, mừng rỡ bất ngờ đó có cả nước mắt và tiếng khóc của mấy bà chị. Ngoại Minh Châu mất trước khi Minh Châu chào đời, và bà cụ không hề biết cả cu Nguyên lẫn Minh Châu.

Tin Minh Châu theo mẹ về quê Ngoại lan khắp làng, và bà con hàng xóm kéo đến nhà Ngoại Minh Châu như cái hội Tết. Đêm về, cả nhà bu quanh Minh Châu hỏi đủ thứ chuyện, mà phần lớn là muôn nghe cô bé nói tiếng Việt, đúng là tiếng Việt rất chuẩn, nhưng không có âm sắc Phan Thiết hay Sài Gòn, là lạ và dễ thương.

Sau mấy ngày ở bên quê Ngoại, Minh Châu theo mẹ về thăm quê Nội. Đêm đầu tiên ở nhà Nội, nhớ lời bố, Minh Châu cứ ngồi quấn quít cạnh bà Nội. Các cô, chú nó quay quần quanh Minh Châu trong buổi sum họp gia đình hiếm hoi vì gần 20 mươi năm bố Minh Châu vẫn không về. Minh Châu bỗng nắm lấy tay bà Nội và hỏi:

– Bà Nội khỏe không?

Nội trố mắt ngạc nhiên, chụp hai tay đứa cháu lần đầu tiên trong đời bà gặp. Cả nhà tưởng Minh Châu làm thinh vì không biết tiếng Việt, nên mấy cô chú nó nghe Minh Châu nói chuyện với Nội, cùng lúc buột miệng:

– Không ngờ Minh Châu nói tiếng Việt giỏi như vậy!

Nhưng người ngạc nhiên và hạnh phúc nhất vẫn là bà Nội. Hai tay bà vẫn nắm tay Minh Châu, bà mân mê vuốt tay cháu mà bà tưởng như trong cơn mơ. Cô bé nói tiếp:

– Con mới ra trường, chưa đi làm. Con cho Nội 100 đô la nghe Nội!

Một lần nữa, bà cụ ngạc nhiên nhìn trân trân vào mặt đứa cháu. Bà không nói một lời, bà cứ cười.. .Và Minh Châu lấy tờ 100 đô la trong túi đặt vô tay bà Nội. Bà cảm động ôm cháu vào lòng.

Tôi đã xa bà, bỏ nước ra đi tính ra, đến ngày Minh Châu thay bố về thăm bà Nội, cũng xấp xỉ 20 năm. Minh Châu là máu thịt của bà, Minh Châu là hình ảnh của tôi. Tôi không đo lường được hạnh phúc và niềm vui của Mẹ tôi ra sao khi bà ôm Minh Châu vào lòng, nhưng tôi biết bà tràn đầy niềm vui…

Sáng sớm hôm sau, khi Minh Châu còn ngủ say vì trái giờ giấc, Mẹ tôi đi khắp xóm làng, bà ghé từng nhà quen, nhà bà con, bà trò chuyện. Chuyện bà nói chỗ nào, nhà nào cũng giống nhau:

– Cháu tui là con thằng Hai, nó đẻ ở bên Mỹ, nó mới dìa thăm tui, nó cho tui 100 đô, và tụi bay biết không, nó nói tiếng Diệt rành như mấy đứa ở Sài Gòn! Tui đâu có ngờ! Tên nó là Minh Châu. Ba nó đặt tên Diệt Nam cho nó đó!

Mấy đứa em tôi phone qua cho biết Má rất vui trong mấy ngày Minh Châu ở với Nội. Trước khi vô lại Sài Gòn để về Canada, má con Minh Châu trở lại nhà Ngoại ở thêm vài hôm. Một buổi sáng, cả nhà rủ nhau đưa Minh Châu thăm Đá Ông Địa và Mũi Né. Trên đường đi, mấy bà Dì ghé chợ Phan Thiết mua nhãn bỏ theo xe ăn. Khi xuống xe, Minh Châu vẫn nắm trong tay võ và hột nhãn, không chịu bắt chước mấy đứa con bà chị vứt võ nhãn theo đường. Mấy Dì nhắc đi nhắc lại nhiều lần:

– Minh Châu! Con bỏ vỏ và hột nhãn xuống đường đi! Cầm theo tay làm chi vậy?

Cô bé vẫn làm thinh. Đi theo Mẹ và mấy bà Dì một lúc, nó thấy một thùng rác ghi trên nắp thùng bằng tiếng Việt: “thùng rác”, Minh Châu lửng thửng đạp qua đống rác vứt bừa bãi những rác đủ loại. Đến thùng rác, nó giỡ nắp thùng bỏ một nắm vỏ và hột nhãn vào, phủi tay và về chỗ mẹ nó, không nói một lời, vẫn vui vẻ trò chuyện, vui chơi. Mấy bà Dì, mấy đứa nhỏ cứ đăm đăm nhìn Minh Châu và nghĩ trong đầu … “Con nhỏ này lẩn thẩn thiệt!”

Buổi chiều về lại nhà, gia đình tiếp tục cái không khí vui vẻ như mấy hôm đầu. Mấy bà Dì khơi chuyện học hành, nghề nghiêp tương lai, và có người chợt hỏi:

– Còn mấy hôm nữa con về lại Canada, con thấy Việt Nam ra sao?

Cô bé hơi bất ngờ về câu hỏi, nó nhìn mẹ nó. Mẹ nó cũng không biết nó trả lời ra sao. Suy nghĩ vài phút, Minh Châu nói thẳng vào câu hỏi:

– Con thấy Việt Nam đẹp, Mũi Né cảnh rất là đẹp, nhưng nhìn chung thì dường như chỗ nào xứ của Mẹ cũng “disorganized”!

Mấy bà chị đồng loạt nhìn vào mẹ nó:

– Lương! Minh Châu nó nói cái gì vậy?

– Thì nó nói chỗ nào cũng mất trật tự! Tiếng Anh là như vậy, nhưng ý nó ra sao thì …. Minh Châu! Con nói rõ ý con chứ mẹ biết ý con ra sao đâu!

– Bộ mẹ không thấy hồi sáng nay con tìm thùng rác sao? Con đâu có thể vứt rác xuống đường. Hồi sáng ra Mũi Né, con thấy thùng rác, con mừng, đến gần thùng rác thì thấy rác vứt lung tung, khi giở thùng rác thì thùng rác chỉ có mấy cọng rác, trống trơn. Bên Canada đâu có chuyện này mẹ! Sao kỳ vậy? Cái này là không có vệ sinh, không có trật tự, không có tổ chức!

Cả nhà đều biết Minh Châu nói cái gì, biết nó nói đúng, nhưng hơi ngạc nhiên về cách nói thẳng và chững chạc của cô bé. Mấy bà Dì, mấy ông anh con Dì đều là thành phần giáo chức, bắt đầu nhìn Minh Châu không còn là một cô bé hời hợt từ nước ngoài mới về, không biết gì…

Chưa hết, hôm cuối cùng trước khi vô lại Sài Gòn để về Canada, sau bữa cơm chung gia đính, đủ mặt mọi người, khi thắp nhang cho ông bà Ngoại xong, một người anh con bà Dì yêu cầu Minh Châu phát biểu vài lời cùng gia đình. Cô bé nhìn mẹ, đắn đo gom một mớ tiếng Việt vào đầu sắp xếp ý tưởng để nói. Ai cũng nhìn chăm chăm vào mặt Minh Châu chờ nghe nó nói cái gì.

– Dạ, theo con thì con thấy thì mấy mươi năm trước, mẹ và anh Nguyên đã may mắn được Dad dắt ra khỏi Việt Nam. Con đã thấy Sài Gòn, con đã thấy Phan Thiết. Xứ của mẹ không sống được! Con nói thiệt!

Câu nói của Minh Châu làm cả nhà sửng sốt, mà dường như cùng lúc mấy bà chị đều có ý hỏi mẹ Minh Châu một câu giống nhau. Một bà chị hỏi:

– Lương! Bộ ở ngoải bố nó dạy Minh Châu chuyện chính trị hả?

– Trời ơi mấy bà! Mấy đứa nhỏ sinh, lớn lên và học ở nước ngoài… nó lanh và khôn lắm, tự nó quan sát, tự nó tìm hiểu, tự nó suy luận… Cái gì trong đầu nó ra sao thì nó nói như vậy! Nói thiệt ra, có lần tôi nghe ba nó nói với nó là “nếu lần đó ba dắt mẹ và anh cu Nguyên đi không thoát, có thể ba ôm anh Nguyên nhảy xuống biển chết; hay nếu ba còn sống, ba ở tù, mẹ sinh con ra ở Việt Nam, con và anh Nguyên lớn lên cơ cực, nghèo khổ, phải đi chăn bò, bán vé số hay bán khoai lang ngoài chợ… Và sau đó, có thể ba chết trong tù, bỏ con lại bơ vơ…”

Ba nó hỏi nó có hiểu ý ba nó nói hay không. Nó nói nó hiểu. “Con hiểu! Con hiểu!” Có thể từ điều đó, từ những điều ba nó nói mà nó hiểu phần nào tình trạng sống trong nước, nó hiểu vì sao ba nó bỏ nước ra đi, để rồi nó nhìn sự việc sâu đậm, cụ thể hơn trong những ngày ở Việt Nam.

Buổi sáng từ giã bà con quê Ngoại để lên xe vô Sai Gòn, cả nhà ôm Minh Châu bịn rịn không muốn rời. Sinh ở Canada chỉ có Cha, Mẹ và người anh, hôm nay cô bé chợt cảm thấy vòng tay quê Ngoại man man nồng ấm những tình cảm rất lạ trong những giây phút chia tay. Cô bé bỗng như thấy một sợi giây vô hình nào đó muốn cột cô với quê Mẹ. Câu nói của Minh Châu đêm hôm trước đã làm cho cô bé lớn hơn so với lúc mấy bà Dì gặp cô bé lần đầu … cả nhà biết Minh Châu nhìn ra thực trạng của quê hương cha mẹ, điều mà ít đứa trẻ Việt Nam nào nhận ra và dám nói thẳng thừng.

Chiếc xe đò lăn bánh hướng Sài Gòn, có những bàn tay vẫy chào từ giả, có những giọt nước mắt của người ở lại, và dường như mấy bà Dì còn văng vẳng nghe tiếng nói của Minh Châu “Xứ của Mẹ không sống được! Con nói thiệt !…”

Khi mọi người tụ lại ở nhà tự, trên gương mặt ai cũng buồn buồn sau khi chia tay má con Minh Châu, bỗng có người buột miệng như vừa khám phá ra một cái gì… “Con nhỏ này tính tình chắc giống Bố nó! Mấy mươi năm không về là không về. Nó giống Bố nó từ gương mặt tới tính tình! “

Suốt ngày hôm Minh Châu rời quê Ngoại, căn nhà tự vẫn còn đông người, nhưng một khoảng trống vắng đã để lại đâu đó trong gia đình, trong trí nhớ của mọi người. Ánh nắng chiều vàng vọt lết qua sân nhà. Nhà dọn cơm chiều trước sân như mọi hôm, và dường như bữa cơm không còn ngon miệng và vui vẻ như hôm qua…

Powerful vintage photos of soldiers kissing their loved ones

My ModernMet

By Pinar Noorata on July 31, 2012

Post by Sơn râu 2 Dec 2025

California, 1950 – A soldier leans out of a train to kiss a woman goodbye.

We’re all familiar with photographer Alfred Eisenstaedt’s V-J Day in Times Square in which a sailor returning from a victory in Japan is dipping and passionately kissing a young woman in Times Square. While it’s a fantastic and memorable photo, indicative of the patriotic passion, pride, and relief felt by Americans welcoming their victorious troops, it’s not the only one of its kind. There have been many photographic captures of soldiers smooching women upon arrival and departure, whether sweethearts or strangers.

Photojojo, an insightful photo blog, recently shared a few images of these World War II-era military men putting in some literal lip service as they board their trains to go off to war. Though there wasn’t much info on any of the photos, a little research goes a long way. While on the hunt to discover the stories behind each of these captured moments, I came across a couple more images that are just as touching and look like they’re straight out of a movie. Normally, we’d frown upon acrobatics near a moving vehicle, but there’s something unabashedly romantic about each of these photographs that swells the heart.

London, 1935 – Soldiers departing for Egypt from Feltham Station lean out of their windows to kiss their loved ones goodbye. (Hulton-Deutsch Collection/CORBIS)

London, 1940 – A woman leans over the railing to kiss a British soldier returning from World War II.

Seattle, 1948 – A sailor kisses a woman as he boards a bus at the Seattle Bus Terminal.

New York, 1945 – Actress Marlene Dietrich is hoisted up to kiss a GI as he arrives home from World War II.

London, 1940 – A soldier kisses his sweetheart over the gates of a London railway station as he heads off to join the British Expeditionary Forces in France.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 2 Dec 2025

Chương 17

Thử so sánh lại nhân vật Đông Tây đời Vua Tự Đức và đời Vua Pháp Napoléon III

Tôi đã hứa ngày 11 vừa rồi rằng không viết nữa, nhưng nay lại sai lời hứa, và viết sơ lược so sánh vì sao đời Tự Đức, nước ta đánh thua nước Pháp.

Và nay tôi viết đây, chỉ làm việc nói lại những gì xét thấy riêng sau khi đọc lại các sách báo cũ đã có. Một việc còn nóng hổi trong nước là tượng hình Trương Vĩnh Ký, nay tượng đồng ấy vẫn còn hay đã không còn, tôi chưa biết và chỉ biết, vừa rồi một nhà cách mạng đã mạnh dạn viết sách phục hồi danh dự T.V.K. và tiếp theo đó, một nhà làm chính trị khác lại tỏ ý kiến đòi trả tên T.V.K. cho trường trung học cũ … và tôi nay vốn là một tên già được người ta tha cho được sống yên ở đây, mắc mớ gì tôi, lại ọ ẹ viết mấy hàng này. Thuở nay trong trường dạy học và ở ngoài đời, thì những Victor Hugo, những văn hào Pháp như Balzac, Flaubert, Maupassant v.v .. đều tôn như thần như thánh, V.H. được nằm trong điện Panthéon, nhưng từ ngày Pháp quốc bị Đức quốc đánh bại và chiếm rồi Pháp được phục hồi, thì nhà văn André Gide lại lớn tiếng chê đè V.H. (xin xem “Hương sắc trong vườn văn” của Nguyễn Hiến Lê, q.1, nơi tr. 29) André Gide giận và chê thơ văn V.H. là nhạt nhẽo, là giả tạo, là quá dễ dàng … là không đáng kể, và A.G. sở dĩ nói như vậy là vì mấy trận chiến tranh tiếp nối và nay vẫn còn đó đây, chiến tranh đã thay đổi hết cả, nhưng André Gide là gì mà dám chê Victor Hugo?

Và tôi đã đọc một sách khác nay không nhớ rõ tên sách để nói lại nơi đây, và nhớ mại một nhà văn khác lại chê A.G. rằng “Nó sẽ được bia danh về hậu thế nó đã từng chuyên đi cửa “hậu môn”, tôi không ghi lại được nguyên văn câu nói tiếng Tây, nhưng đi cửa hậu môn là gì, xin độc giả hiểu ngầm lấy. Riêng V.H. thì quả V.H. vẫn lem nhem dơ dáy, có vợ và bà ấy lại có gì đó với Sainte-Beuve và với Benjamin Constant hay nhà văn gì gì đó, và như vậy có xứng đáng chút nào? Nhưng nên hiểu đời Cách mạng 1789 bên Pháp, dân tâm biến đổi, đàn bà, mạng phụ giao thiệp với đàn ông, bạn thân của chồng là chuyện thường và tục người Pháp vẫn luôn luôn rộng lượng với phụ nữ, lấy câu tha thứ “sức bực tu mi nam tử mà còn sa sút, thì trách làm chi sự “phụ nữ quá lạc lòng”. Trong khi ấy bên nước ta, nhiễm tục người Tàu trong sách Khổng Mạnh, vẫn lấy chữ “Trinh” cho phái nữ và chữ “Trung” cho phái nam, làm căn bản.

Bỏ việc tranh luận và xin tóm tắt: đời Tự Đức dĩ chí đời Napoléon III, vua ta trong sạch hơn, nhưng làm sao lấy dao cùn nhụt, gậy tre bỡ rệt mà chống với súng mạnh, đạn bay xa mà mong thắng được? Mười ông khác, chính tỷ như mấy ông mạnh miệng chê bai ngày nay, cũng không chuộc đất “ba tỉnh Miền Nam” lại được, trong khi bên ta thì vua bo bo dạy Phan Thanh Giản phải than nghèo không tiền trả nợ chiến tranh, còn bên họ bên Pháp vẫn lấy khoa học và quyết tâm giành đất. Theo tôi, dùng đạo đức và võ nghệ đánh đấm mà cự với kẻ đang dụng võ thì có thuốc súng, dụng văn thì giỏi ngoại giao và như vậy phần thua là cái chắc. Kể về Trung, bên ta có thừa, kể về sức, bo bo giữ đánh giặc như “đánh lộn tay đôi” sở dĩ Phan Thanh Giản dám nhận lãnh đi sứ chuộc đất là trông cậy vào lời hứa của Bonard nhưng Bonard đã chết, còn tướng de Genouilly đánh thắng vì nhờ tàu đồng, nhờ súng mạnh, thêm nhờ tay trong hết lòng ám trợ (của đạo Mới), chỉ chọc chỗ yếu cho biết.

Tôi đọc khá nhiều sách sử, nhưng vỡ lẽ ngày nay là nhờ thấy trong một cuốn sách Pháp nọ, sở dĩ ta mất ba tỉnh Miền Tây, là tại xui khiến cho ông vua đời đó, lãnh chúa trên đất Miên, nay tôi không nói tên vua nầy ra là để tránh dính líu vào chánh trị … vua nầy ban đầu không nghe lời khuyên của tướng Pháp và nhứt định xin đầu hàng vua nước Xiêm rồi ông cất bước sang Xiêm nhưng khi ông đi được nửa khúc đường, bỗng đổi ý và trở lại và chịu đầu hàng Pháp quốc … và nếu vua nầy chịu theo về bên Xiêm vương, Xiêm quốc, thì phe Tây đâu có dịp để nuốt trọn sáu tỉnh Nam kỳ lúc ấy.

Rốt lại tôi cho là vận rủi của nước ta, chớ vua Pháp Napoléon III vẫn bê bối và thua xa về đạo đức vua mình, nhưng vẫn mạnh nhờ có tướng giỏi và người làm ngoại giao khéo. Vua Tây dâm dật, bê bối, nhưng có người tài phụ lực nên thắng. Tôi nghe Phan Thanh Giản tâu “bên nước Pháp, có thiết kiều, thạch lộ”, thì các quan trong trào chê “đi xa về nói khoác”, nước ta “phú hữu tứ hải” mà họ làm gì có cầu xây bằng sắt thép (ta không đủ thép làm gươm!) và họ làm gì có đá để lát đường, trong khi nước ta không đủ để mài gươm cho thêm sắc bén!

Phan Thanh Giản than: “Bá ban xảo kê tề thiên địa”. “Duy sự tử sanh, (vẫn thuộc) tạo hóa quyền” (câu nầy tôi nhớ thuộc lòng, không ắt đúng nguyên văn).

Còn Nguyễn Trường Tộ thì vì theo đạo Mới, nên vua không tin dùng, bao nhiêu người Pháp qua đây để dạy về kỹ thuật, mỹ nghệ, vua ta đều nghe lời các quan trong triều đề nghị xin đuổi về xứ và không dùng và chỉ bo bo trông cậy vào viện trợ của nhà Thanh mà ta tôn là thiên triều và đã không biết rằng nhà Thanh lúc ấy chỉ còn hư danh nhưng vẫn đuối sức và yếu như bún thiu, chính họ vẫn không tự giữ mình được mà trông mong gì trợ giúp.

Tôi mãi nói bắt quàng, chính tôi không dám đọc lại những hàng đã viết và sau đây tôi xin gom vào đây những trang đã viết ngày 31-7-1993 và 12- 8-1993 cùng một vấn đề “luận về nhơn vật đời hai vua Tự Đức và Napoléon III”, mặc dù những gì tôi viết đây phải cần tra cứu kỹ càng lại.

(viết ngày 16-11-1993)

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người đi tìm mùa Xuân

Post by Sơn râu 2 Dec 2025

Y sĩ Trung úy Thân Trọng An

Thân Trọng An sinh năm 1947, nguyên quán Huế, trung học J.J. Rousseau, tốt nghiệp Y Khoa Sài Gòn 1972, cựu Nội Trú các Bệnh viện Sài Gòn, Khoá 15 Quân Y Trưng Tập, nguyên Y Sĩ trưởng Bệnh viện Tiểu Khu kiêm Giám Đốc Bệnh viện Phối Hợp Quân Dân Y tỉnh Bình Long (An Lộc). Ty nạn Canada 1975, Thường Trú Giải Phẫu Đại Học Laval, Quebec 1977, FRCSC và CSPQ Canada 1981. Cựu Chủ tịch Hội Y Sĩ Việt Nam Canada, QLVNCH.

Chủ bút Tập San Y Sĩ Canada, cư trú tại Montréal.

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Cuối thu năm 2018, nhà văn bác sĩ Ngô Thế Vinh có nhã ý mời Tập San Y Sĩ cùng đứng tên xuất bản và phát hành TUYẾN TẬP NGHIÊM SỸ TUẤN mà anh có dự định từ lâu và ngay khi đề xướng thì được nhóm bạn Nguyệt San Tình Thương năm xưa sốt sắng hưởng ứng. Anh em trong “Tình Thương” (1963-1967), một tờ báo do sinh viên Y Khoa Sài Gòn chủ trương, về sau đều đi lính, đều thành danh và nổi tiếng trên TSYS, trên văn đàn như Lê Văn Châu, Trần Xuân Dũng, Nguyễn Thanh Bình, Trần Mộng Lâm, Nguyễn Vĩnh Đức, Hà Ngọc Thuần, Ngô Thế Vinh … Cùng chung ý tưởng dấn thân, các anh thường chọn các binh chủng “thứ dữ” như Nhảy Dù có Lê Văn Châu, Trần Đoàn, Nghiêm Sỹ Tuấn, Đường Thiện Đồng, như Thủy Quân Lục Chiến có Trần Xuân Dũng, Phạm Đình Vy … Lực Lượng Đặc Biệt có Lê Thành Ý, Ngô Thế Vinh …

Nhà văn Ngô Thế Vinh rất đa tài và quảng bác. Với cách hành văn giản dị trong sáng, các bài viết đều được trình bày một cách khoa học, mạch lạc, kèm thêm nhiều hình ảnh, với danh sách liệt kê các tài liệu tham khảo … Ngoài sở trường tranh đấu bảo vệ môi sinh, anh cũng rất nhiều tình cảm, tình nghĩa với ân sư (viết bài về các Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Phạm Hoàng Hộ, Gs Trần Ngọc Ninh), cảm thông với văn hữu (Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hóa), tri kỷ với nghệ sĩ (họa sĩ Nghiêu Đề, Nguyên Khai, Đinh Cường, điêu khắc gia Lê Ngọc Huệ, Mai Chửng), tri âm với “đồng môn – đồng đội” (chủ đề Tình Thương TSYS 184, tổ chức Hội Ngộ 50 năm khóa Sài Gòn 68, Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn …)

Tập San Y Sĩ đã mời anh hai lần làm đồng chủ bút cho số 184 “Tình Thương, Một thời nhân bản” và số 201 “Giáo Sư Phạm Biểu Tâm, Biểu tượng của Y Đạo, Y Học, Y Thuật”, nay được anh “đáp lễ” mời cùng đứng tên xuất bản và phát hành Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn do anh chủ trương và cùng các Bạn chu toàn. Mà anh còn nói là nếu phát hành sách có lợi nhuận thì sẽ tặng cho TSYS để duy trì tờ báo, giống như anh Trần Xuân Dũng vẫn thường xuyên yểm trợ. Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn, theo hình ảnh và bài viết trong TSYS 184, mang vẻ một thư sinh nhiều phong cách của một nho gia, điềm đạm, chừng mực, khí khái, hiếu đễ và hiếu học. Học chuyên môn đã giỏi, anh Tuấn còn biết rộng, có khiếu sinh ngữ, có đặc tài dịch thuật và chịu khó trau giồi kiến thức tổng quát nên các bài anh viết, viết chung, dịch chung (Những người đi tìm mùa xuân, Ý thức tinh thần đại học … ) trên nguyệt san Tình Thương rất được mến chuộng. Anh làm thơ cũng rất hay và thường “yếm thế” nhắc đến lửa đạn, đến những điều không may (Sáu buồn trước tử biệt sinh ly … ). Ngày Trưng Tập vào Quân Y năm 1966 anh tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy Dù phục vụ tại Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, thản nhiên thi hành bổn phận trai thời chiến rất tận lực và tận tâm:

Cuối năm tốt nghiệp khoác chinh y

Bom đạn, lầm than, sá quản gì

Giữa chốn sa trường say khói súng

Thản nhiên nào nghĩ chuyện an nguy

Thân Trọng An

Vài tháng sau Tết Mậu Thân 1968 anh bị tử thương, hy sinh tại chiến trường Khe Sanh.

Hình chụp trước cổng xuống hầm Phòng Mổ của Bệnh viện Tiểu Khu Bình Long (An Lộc), cũng là kho thuốc, và nơi trú ngụ của các bác sĩ và toán y tá trực; hầm này ở sát hầm của Bộ Chỉ huy Tiểu khu. Từ phải: Y sĩ Trung úy Thân Trọng An, Nha sĩ Trung úy Trần Kim Long. [Tư liệu BS Thân Trọng An]

Tôi thiết nghĩ Nghiêm Sỹ Tuấn là biểu tượng của thế hệ thanh niên Việt Nam Cộng Hòa lớn lên trong khói lửa chiến tranh tại miền Nam, được hưởng Tự Do Dân Chủ và Công Bình Bác Ái đứng lên Đáp Lời Sông Núi làm nhiệm vụ Trai Thời Chiến để bảo vệ Đất Nước và Dân Chúng, cũng như GS Phạm Biểu Tâm là biểu tượng của Y Đạo, Y Học và Y Thuật đã được trình bày trên TSYS 201.

Vì là Quân Y Sĩ, chúng tôi biết rõ nhất về các đóng góp của giới Quân Y, nên chúng tôi mới đưa “Vị quốc vong thân Y Sĩ Trung Úy Tình Thương Nghiêm Sỹ Tuấn” như một biểu tượng. Tại Little Saigon, Westminster California, trong lời phát biểu tại buổi ra mắt sách “Đời Y Sĩ trong cuộc chiến tương tàn” tháng

10 năm 2014 của Bác Sĩ Nguyễn Duy Cung, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh đã nói: “Cuộc đời tiêu biểu của một Bác Sĩ Quân Y trong thời đại loạn, không những chiến tranh nội chiến, chiến tranh toàn diện mà người dân, người lính phải chịu đựng trong cuộc chiến tương tàn, người Y Sĩ Quân Y còn phải chữa cho những bệnh nhân không phải là bạn … “ Ông kết luận: “cuộc đời của một Bác Sĩ Quân Y càng khổ bao nhiêu thì càng vinh dự bấy nhiêu … ” như thi hào Corneille trong Le Cid đã viết “A vaincre sans péril on triomphe sans gloire / Chiến đấu không gian nan, Chiến thắng không vinh quang.”

Xin nghiêng mình trước anh linh của biết bao anh hùng các binh chủng khác đã đóng góp xương máu, riêng ngành Quân Y, chúng ta cũng đã từng thương tiếc các Y Sĩ Trung Úy Đoàn Mạnh Hoạch, Trương Bá Hân, Đỗ Vinh, Trần Ngọc Minh, Phạm Bá Lương, Nguyễn Văn Nhứt, Trần Thái, Lê Hữu Sanh, Nghiêm Sỹ Tuấn, Phạm Đình Bách …

Đọc Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn mọi người sẽ sống lại thời xuân trẻ của mình. Tuy đời sống cá nhân có vài khác biệt, nhưng ta sẽ tìm thấy ở đó những kỷ niệm chung về thời thế, về cuộc sống tuy bị lâm cảnh chiến tranh nhưng vẫn có tự do dân chủ, vẫn đáng sống và cả sung túc tương đối so với bây giờ. Chúng ta sẽ nhớ lại những tình cảm thân thương hài hòa, những người bạn cũ hay họ hàng thân thiết đã từng cùng nhau chung hưởng tự do và xây dựng xã hội miền Nam. Chúng ta cũng sẽ cảm nhận lại những ngậm ngùi khi đưa tiễn người thân về miền miên viễn. Dẫu sao cũng là “một thời để yêu, một thời để chết” của chúng ta trong những “ngày xưa yêu dấu” tiềm ẩn trong ký ức được khơi lên mãnh liệt trong khoảnh khắc.

Đối với thế hệ trẻ hơn, quyển sách này sẽ đưa các bạn sống vào thời hào hùng của cha anh, không dối trá, không cường điệu, không bẻ cong lịch sử để các bạn chia sẻ như một tài liệu chân thực khi tìm đọc lịch sử Việt Nam cận đại, hay là nghiên cứu lối sống của người dân trong xã hội thời Việt Nam Cộng Hòa.

Mong rằng Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn sẽ được mọi người đón nhận và ủng hộ thật nồng nhiệt.

Thay mặt Ban Biên Tập TSYS

Thân Trọng An,

Chủ Bút Tập San Y Sĩ, Canada.

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 2 Dec 2025

Son râu’s images

33. Đội nắng Sydney, Nhớ nắng Sài Gòn

Sáng nghe chim hót nhớ nhà

Sydney nắng ấm tưởng là Việt Nam.

Em ơi!

Còn đâu ngày xưa sau lưng anh

Trên chiếc velo solex

Tà áo dài lộng gió Sài Gòn,

Tóc em bay

Còn đâu tay đan tay

Chuyện ngày xưa

Nay một giấc mơ say

Úa rũ, hoang tàn.

Trong dòng đời lang thang trên đất khách.

Bây giờ

Còn lại em Sài Gòn

Em bịt mặt

Em “khẩu trang”

Em dấu khóe mắt dịu dàng

Tà áo mênh mang

Em dấu kính dung nhan dưới mầu cờ đỏ

Giữa thành Hồ

Nhấp nhô những mảnh đời trắng tay, cùng khổ

Bây giờ

Em Taliban?

Iraq hay Afghanistan?

Em bịt mặt dưới nắng vàng ngộp thở

Em ơi!

Mộng em đã tàn phai, phủ phàng, tan vỡ

Chế độ này, ngày 75 đã mở

Trên quê hương “mùa xuân đen” Việt Nam

Muôn ngàn lối tử sinh.

Nay trên đất khách

Thấy 4 mùa đất trời như hình đã chết

Anh bồi hồi nhìn mây xanh biên biếc

Và giữa phố phường Cabramatta

Anh nhớ nhà

Anh nhớ nước, nhớ non.

Tắm nắng Cali

Đội nắng Sydney

Anh nhớ nắng Sài Gòn 1

Áo lụa Hà Đông giờ chỉ còn là dĩ vãng

Phai tàn nhan sắc tấm băng trinh!

——————————–

1. Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông…

(Nguyên Sa)

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 30 Nov 2025

16. Suy Cổ Nghiệm Kim

Ở đời, không có chi là tồn tại, rốt rồi ai ai cũng chết. Duy lúc sống, biết cư xử thì tiếng thơm còn lại, bằng như tung hoành làm cho đã nư, sau rốt vẫn phải trả và còn lại tiếng xấu là khác.

– Hạng Võ, sức mạnh, Hàn Tín, dùng trí, đều chết với số tuổi cao hơn 30 chưa tới bốn chục.

– Lấy việc gần đây mà xét, Trần Bá Lộc, chém và giết đồng bào và tàn sát dân trong Nam, để dâng sáu tỉnh Nam kỳ cho Tây làm chủ, được thưởng mề đay của Tây mà nay chỉ còn tiếng “phản quốc, làm mọi cho Tây”, ích gì? Con cháu ngày nay, không nghe ai nói, hoặc đã đổi danh diệt tánh từ lâu rồi.

– Trong Nam nầy, ngày xưa có ai giàu hơn hội đồng Trạch ở tỉnh Bạc Liêu? À há! Nay xét lại mới biết, Trạch sanh con đặt tên “Cậu Hai Đinh” (con cua đinh), “cậu Ba Huy” (không phải Huy là sáng, là huy hoàng đâu), đích thị là Qui (con rùa) và con trai nhỏ út xưng “Cậu Tám Bò”, không cần tìm hiểu.

Nhưng gẫm lại hội đồng Trần Trinh Trạch trong Nam, làm sao giàu và bì kịp nhà giàu đất Bắc, Bạch Thái Bưởi, chẳng là có tàu đi biển và có nhà in đồ sộ.

– Người biết chơi đồ xưa trong Nam, tôi chỉ biết:

1) bà Hà Minh Phải, quen gọi bà đốc phủ Phải, thì tôi vẫn nghe mà không biết có quả như vậy hay không và nên điều tra lại, thì mộ bà nầy, an táng tại vùng Chí Hòa, vẫn đã bị kẻ trộm đào mả lấy luôn đầu lâu, vì chúng khi đào, mò trong mồm, không tìm được hột kim cương bà ngậm trong miệng và chúng đã rinh sọ bà rồi.

– Một người thứ 2 tôi nghe danh mà không biết mặt là Lê Văn Nuôi, nhà giàu lớn đất Vĩnh Long, ông Phán Nuôi nầy, quả có tàu hỏa chạy đường Sài Gòn lên Nam Vang xuống miền Nam và gọi “tàu lục tỉnh” tiếng đồn để lại ông ra Hà Nội, mua đồ xưa và mua luôn trọn nhà một quan tổng đốc, mua trọn trụm cả thập vật từ khí trong nhà, quan tổng đốc chỉ nhận tiền và xách va li tế nhuyễn và ông Phán Nuôi giao cho người đi theo, lo tom góp chở về đất Văng cho ông, còn ông Nuôi vẫn trở về Nam bằng tàu máy hãng Tây và hãng Tây cố tình không lấy tiền quá giang chỉ tính tiền chuyên chở cổ  ngoạn của ông mua là đủ. Nhưng rốt cuộc, khi ông Nuôi nằm xuống, sự nghiệp, người kế nghiệp bán trọn cho một thương gia Tàu, độ bốn hay năm triệu đồng, bạc đời giao liên (période de transition) lối 1960 (4 million ou 5.000.000) và tỷ như nếu không bán lúc đó và để cho đến năm ni 1993, số bạc ấy tính theo nay, ắt hơn 4 hay 5 tỷ (1 tỷ là 1.000 triệu) thì phải là rất  uổng.

Xét lại cho kỹ, chơi đồ xưa, theo ý riêng của tôi, tôi không bàn đến lối chơi của người dất Bắc, thường khoe “biết chơi đã hơn ngàn năm, do ông bà tổ tiên đã biết chơi như vậy rồi) và cũng không dám nói đến người Miền Trung, đất có vua, mà theo tôi, người đất Huế cũng chỉ ham sắc để tiến dâng cho vua, tức chưa lâu lắc gì và như tôi hiểu và xét theo sự kinh nghiệm đã dạy, thì xin hỏi: ở Bắc, bà Bé Tý, cô Tư Hồng, nay có ai là kế nghiệp nối dòng? ở Miền Trung, những Nguyễn Thân, những Trương Như Cương, có ai nối nghiệp đồ cổ?

Chính trong Nam nầy, không ai giàu được với câu “truyền tử lưu tôn”, chung qui từ Bắc qua Trung, chí Nam, người nước ta chỉ lập nghiệp và an hưởng chỉ một hay hai đời là cùng và đã điêu tàn không nối đến thế hệ thứ 3 được. Sở dĩ tôi dám nói như vậy, vì theo tôi chiêm nghiệm, người mình có tật lớn là sợ ma và đồ xưa, đồ cổ, theo quan niệm xưa là vật có ám ảnh, của ma để lại và chính mắt tôi đã thấy trong nhiều gia đình vọng tộc trong nầy, khi có người trong nhà quá vãng, thì bao nhiêu vật, y phục, giày dép, đều gởi vào nhà mồ, tức để lộ thiên nơi nhà quàn, tha hồ cho bọn trẻ chăn trâu bò, mặc tình lôi trộm, hoặc bán rẻ cho bọn ve chai, hoặc lấy chơi, phá phách không tiếc và đã mất. Theo tôi, người trong Nam, dĩ chí gần đây, chỉ học và biết chơi và sưu tập đồ cổ ngoạn, không vì mỹ thuật mà chỉ vì nay bán được nhiều tiền, và cái mốt (mode) làm collectionneur (người sưu tập đồ cổ để tiêu khiển) bước qua trước sưu tầm, sau bán cho được nhiều hơn số vốn đã xuất, bọn nầy tôi gọi “con buôn đồ cổ” và không có danh từ gì khác để gọi cho xuôi tai và bọn buôn đồ cổ nầy, thường hay bị “sanh nghề tử nghiệp”, một lúc làm giàu thơ thới, rồi bỗng suy tàn, tán gia bại sản, vì bán lỡ một cổ vật ra nước ngoài, bao nhiêu của cải làm ra, đều bị mất, bị tịch, hóa ra hám lợi nhỏ mà mất hết những vật tích trữ bấy lâu.

Tóm lại, có ích gì mà đeo đuổi cái gọi là “thú chơi cổ ngoạn”? Và theo tôi, cần thiết là nên biết tự túc, chơi một vài món là đủ và mua sắm nhiều chỉ mua sự lo buồn lúc các vật ấy còn tại nhà, và khi sạch sành sanh bị mất trọn, thì nên an ủi lấy mình với câu “Đồ xưa có ma” và như vậy không nên than trời trách đất. Tôi nói như vậy, không phải tôi triết lý đâu và chính tôi cũng lọt trong vòng luẩn quẩn ấy. Bao nhiêu Gubalkian và các tay tổ Mỹ, Anh cũng thế!!

Câu truyền tụng “Đồ xưa có ma” là thậm phải. Bao nhiêu người danh giá thời thuộc Pháp, ngoài kia như các tổng đốc họ Hoàng, họ Trần, họ Vi, v.v. bao nhiêu kẻ đánh giặc mướn làm mọi cho Tây, Nguyễn Thân ở Trung, Bá Lộc, Bá Thọ ở Nam, chú Hỏa (Húi Bon Hoa), Quách Đàm, họ Huỳnh Đình, họ Quách, Phủ hàm Khiêm ở Gò Công, bao nhiêu công thần triều Nguyễn Phước, như Phạm Đăng (Gò Công), họ Nguyễn ở Sa Đéc, rốt lại cũng không lâu bền như ý muốn. Lăng ông Nhân ở Sa Đéc, may thời lăng mộ nhờ cháu con khéo giữ gìn nên còn, trái lại họ Huỳnh ở Gò Công, lên như diều gặp gió, có Huỳnh Tấn bắn Trương Định, nhưng Trương Định ngày nay có tên đặt tên đường ở Sài Gòn để lưu niệm danh trung, và trái lại, Huỳnh Tấn, tên lót chữ công à công nọ đâu còn và chỉ còn bị bêu ríu danh ô đầu giặc.

Cái gương sáng suốt, theo tôi là gương các nhà cầm bút, tỷ như:

– Trương Vĩnh Ký đứng đầu, chí khí như họ Từ đời Tam quốc, sống đất Tây mà lòng vẫn hiên ngang, không theo phò tá mà vẫn một lòng cố quốc, nước nhà, tuy tượng đồng bị hạ bệ mà nghe đâu sẽ có ngày xây dựng lại như cũ;

– Như Huỳnh Tịnh Của, có người đã chê ông nầy chức là đốc phủ sứ có chưn trong hội đồng cố vấn của Pháp, nhưng theo tôi hiểu và xin cải chính, ông Đốc phủ Của làm đốc phủ để có tiền xuất bản bộ tự vị nhắc danh để đời, thì Của nầy rất có công với văn hóa và nào có tội?

– Một ông Của nữa, là ông Nguyễn Văn Của, sanh được một Nguyễn Văn Xuân, 16 tuổi đậu tú tài Pháp, rất có công trong ngành xuất bản in và bình sanh giúp ích cho nhiều người và không làm hại ai, như vậy Của và Xuân, nào có tội với nước nhà?

– Một bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, theo tôi, tưởng nên xét lại.

– Một Hồ Văn Ngà, một Nguyễn Văn Sâm, một Trần Văn Thạch, thảy đều nên điều chỉnh và xá tội oan làm tay sai cho địch.

Chỉ tiếc người trong Nam, những người đi trước, học giỏi, đậu cao, làm chức lớn chỉ biết vinh thân phì gia, và đáng tiếc. Khi ra Bắc, bày ra ca hát cải lương, ăn chơi cho thỏa thích nhưng đều rất tầm thường, và chung qui đều thua người ngoài ấy: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Dương Quảng Hàm, v.v .. , học nhiều biết nhiều, nhưng xin nhớ người Nam mất nước từ 1867, còn người Bắc năm 1884 mới bị chinh phục, khiến nên chữ nho chữ Hán, người Bắc, người Trung hiểu nhiều còn chúng tôi trong nầy, xin đừng sớm trách chúng tôi và chúng tôi vẫn không lòng vong quốc, nhưng thật sự đã bị Tây cấm học Hán tự và cấm học võ nghệ từ 1867 kia mà.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

Bài 50 

Tự do – Bài cuối

Điều lạ thường, người dân Venezuela có sức lôi cuốn và hấp dẫn tôi đến mức tôi quyết định tin tưởng họ. Tôi không vượt ngục nữa. Là tù nhân, tôi chấp nhận hoàn cảnh bất thường này, hy vọng có ngày tôi sẽ được là một phần tử trong dân tộc họ. Nói ra có vẻ ngược đời. Tuy cách họ đối xử với tù nhân man rợ như vậy không khuyến khích tôi sống chung với họ được nhưng tôi hiểu rằng họ coi các hình phạt đối với thể xác là bình thường với tù nhân cũng như với lính. Lính phạm lỗi cũng bị quất roi gân bò. Rồi vài ngày sau, vẫn người lính đó lại nói chuyện với viên giám thị, cai đội hay sĩ quan đã đánh mình bình thường như không có chuyện gì xảy ra.
Chế độ tàn bạo ấy là do tên độc tại Gomez thống trị nhiều năm trường đã để lại cho họ. Tập quán này còn tồn tại đến mức một người đứng đầu một đơn vị dân sự cũng phạt dân chúng trong phạm vi của mình bằng cách cho vài roi gân bò.
Nhờ một cuộc cách mạng mà tôi đã đến gần với tự do hơn. Một cuộc đảo chính nửa dân sự, nửa quân sự đã làm tổng thống nước Cộng Hòa, tướng Angarita Medina, một trong những người theo chủ nghĩa tự do lớn nhất của Venezuela, phải rút khỏi vị trí của mình. Ông ta quá tốt và quá dân chủ, đến nỗi không biết cách hay không nỡ chống lại cuộc đảo chính. Hình như ông dứt khoát không chịu để xảy ra một cuộc đổ máu giữa những người Venezuela với nhau chỉ để ông duy trì được chức vị của mình. Chắc chắn là người quân nhân dân chủ lớn này không hay biết những gì diễn ra ở El. Dorado. Dù sao thì một tháng sau ngày Cách mạng, tất cả các sĩ quan đều được thay đổi. Một cuộc điều tra về cái chết “của tội nhân” do thuốc xổ được tiến hành. Ông giám đốc cùng người em rề của ông biến mất và một nhà cựu luật sư kiêm nhà ngoại giao đến thay thế.
– Được rồi, Papillon, ngày mai tôi sẽ trả tự do cho anh, nhưng tôi muốn anh đem cậu Picolino khốn khổ ấy theo anh vì anh vẫn lo cho cậu ấy. Cậu ta không có giấy căn cước, tôi sẽ cấp. Còn giấy căn cước (cédula) của anh đây là hợp lệ, với tên thật của anh. Điều kiện như sau: anh phải sống một năm ở một làng nhỏ rồi mới được đến ở một thành phố lớn. Đây không phải là quản thúc mà là để người ta có thể xem anh sống ra sao và xem cách anh chống chọi với đời như thế nào. Nếu trong vòng một năm, người chủ sự hành chính ở vùng đó cấp cho anh giấy chứng nhận về hạnh kiểm tốt thế là ông ta đã chấm dứt tình trạng cư trú bắt buộc (confinamiente) của anh. Tôi cho rằng Caracas sẽ là một thành phố lý tưởng đối với anh. Dù sao anh cũng được phép cư trú hợp pháp ở nước này. Chúng tôi không cần biết quá khứ của anh. Chỉ cần anh chứng minh với mọi người là anh xứng đáng được trở thành một người đáng kính nể. Tôi hy vọng trong năm năm nữa, anh sẽ là đồng bào của tôi do anh xin nhập tịch để có một tổ quốc mới. Cầu Chúa sẽ ở bên anh! Cảm ơn anh đã cáng dáng cái thân tàn ma đại của Picolino. Tôi chỉ có thể trả tự do nó nếu có ai ký nhận sẽ đảm nhận nó. Mong rằng nếu được nằm bệnh viện nó sẽ khỏi được. 
Thế là bây giờ ngày mai, Picolino và tôi được trả tự do thật sự. Tim tôi nóng ran lên, tôi đã vĩnh viễn chiến thắng “Con đường của sự thối nát”, lúc đó là tháng 8 năm 1944. Tôi chờ đợi ngày này từ mười ba năm. Tôi lui về căn nhà nhỏ ở khu vườn. Tôi xin lỗi các bạn tôi, tôi muốn được ngồi lại một mình. Cảm xúc của tôi quá mãnh liệt, quá đẹp đẽ nên tôi không thể bộc lộ trước mặt người khác được. Tôi xem đi xem lại tấm căn cước mà ông giám đốc trao cho tôi: hình của tôi ở góc trái, trên là số 1728629, cấp ngày 3 tháng 4 năm 1944. Đứng giữa là tôi, phía dưới là tên tục. Phía sau là ngày sinh: 10 tháng 11 năm 1096. Giấy căn cước hoàn toàn hợp lệ, còn được giám đốc Sở Căn cước ký tên và đóng dấu đàng hoàng. Tình trạng: là “cư dân”. Từ “cư dân” thật là tuyệt vời, thế có nghĩa là tôi được cư trú ở Venezuela. Tim tôi đập mạnh. Tôi muốn quỳ xuống tạ ơn trời. Tôi không biết cầu nguyện, cũng chưa được rửa tội. Tôi cầu trời nào chứ? Vì tôi có theo đạo nào đâu? Chúa lòng lành của những người theo đạo Cơ đốc ư? Hay đạo Tin lành? Hay đạo của người Do Thái? Của người Hồi? Tôi sẽ chọn ông Trời nào để hiến dâng lời cầu nguyện mà tôi phải hoàn toàn tự đặt ra vì tôi không biết trọn vẹn một bài kinh nào? Nhưng tại sao hôm nay tôi lại phải hỏi xem nên cầu ông Trời nào nhỉ? Trong đời tôi đã chẳng luôn luôn cầu nguyện (cũng có lúc nguyền rủa nữa) Đức Chúa hài đồng Giêsu nằm trong cái giỏ cạnh bốn con lừa và con bò? Có phải trong tiềm thức, tôi còn thù oán các xơ bà tốt bụng ở Colombia chăng? Vậy thì sao không chỉ nghĩa đến Đức giám mục cao cả có một không hai ở Curacao, Đức Cha Irenée de Bruyne, hay xa hơn nữa, vị linh mục nhân hậu ở nhà tù Conciergerie?
Ngày mai tôi sẽ được tự do, hoàn toàn tự đo. Năm năm nữa, tôi sẽ nhập quốc tịch Venezuela vì chắc chắn là tôi sẽ không phạm một lỗi nào trên đất nước đã cho tôi nơi ẩn náu và đã tin tôi. Trong đời, tôi phải lương thiện gấp đôi tất cả mọi người.

Quả thật sở dĩ tôi không phạm tội giết người mà vẫn có một ngài chưởng lý, mấy tên cảnh sát và mười hai viên bồi thẩm bị thịt tống tôi đi tù, chẳng qua vì tôi là một kẻ du đãng. Vì tôi thật sự là một kẻ giang hồ nên người ta mới dễ dàng thêu dệt quanh nhân cách của tôi một mớ hổ lốn những điều bịa đặt. Mở két bạc của người khác không phải là một nghề đáng tin cậy, và xã hội có quyền cũng như có bổn phận phải tự bảo vệ. Sở dĩ tôi đã có thể ném vào con đường của sự – thối nát, – tôi phải thành thật thú nhận như vậy là vì tôi sống như một kẻ thường xuyên có khả năng rơi vào đấy. Cách trừng phạt tôi như vậy không xứng đáng với một dân tộc như dân tộc Pháp, xã hội có quyền tự vệ chứ không có quyền trả thù một cách hèn hạ như vậy – tất cả những việc đó lại là chuyện khác. Không thể xóa sạch quá khứ của tôi bằng cách lấy một mảnh giẻ lau đi, tôi phải tự khôi phục danh dự của mình đối với bản thân mình trước đã, rồi sau đó, đối với mọi người xung quanh. Vậy thì hỡi Papi, hãy cảm ơn Chúa lòng lành của những người Cơ đốc đi, hãy hứa với Người một điều gì cực kỳ quan trọng.
Lạy Chúa, xin người tha tội cho con nếu con không biết cầu nguyện nhưng Người hãy trông vào con, Người sẽ thấy là con không đủ chữ nghĩa để bày tỏ lòng biết ơn của con đối với Người đã đưa con đến chốn này. Cuộc đấu tranh thật là khó khăn, vượt qua nỗi đắng cay mà người ta đã bắt con phải chịu không phải dễ dàng, nếu con vượt qua được tất cả mọi trở ngại và sống khỏe mạnh cho đến người lành hôm nay, chắc chắn là có bàn tay Người đã phù hộ cho con. Con biết làm gì đây để chúng tỏ con thành thật biết ơn Người?
– Từ bỏ việc trả thù.
Tôi đã nghe thấy hay tưởng chừng nghe thấy câu trả lời này? Tôi không rõ, nhưng nó đã tát mạnh vào mặt tôi khiến tôi phải công nhận là hình như tôi có nghe trả lời như vậy thật.
– Không! Điều ấy thì không! Người đừng bắt con làm như vậy. Những kẻ đó đã làm con đau khổ quá nhiều. Làm sao con có thể tha thứ cho bọn cảnh sát gian xảo, cho tên làm chứng điêu toa Polein? Thôi không cắt lưỡi lão chưởng lý vô nhân đạo? Không thể được. Không, không và không! Con rất ân hận đã làm trái ý người nhưng bằng bất kỳ giá nào, con sẽ trả thù. 
Tôi đi ra ngoài, tôi sợ yếu lòng, tôi không muốn thoái chí. Tôi đi vài bước trong vườn. Toto sửa sang cho thân cây đậu cuốn quanh mấy cái sào. Toto, dân thủ đô Paris chứa chan hy vọng đối với hạ lưu ở đường Lappe, Antartaghia, tên móc túi, sinh ra ở đảo Carse nhưng trong nhiều năm đã nẫng túi tiền của dân Paris, và Deplanque, tên sát nhân người Dijon đã giết một thằng cũng làm ma-cô như nó, cả ba người đến gần tôi Họ ngắm tôi, mặt mày họ rạng rỡ vì thấy tôi cuối cùng đã giành được tự do. Chẳng bao lâu nữa cũng sẽ đến lượt họ.
– Cậu không mang về chai rượu vang hay rượu rum nào để ăn mừng việc cậu đi à?
– Xin lỗi, tớ bị xúc động quá nên quên. Các cậu tha thứ cho tớ nghe.
– Không, Papi ơi, không có gì phải tha thứ cả, tôi sẽ pha cà phê nóng cho tất cả đây?
– Anh Papi, anh bằng lòng nhé, bây giờ anh đã được hoàn toàn tự do sau bao nhiêu năm đấu tranh. Chúng tôi đều mừng cho anh.

Tôi hy vọng rồi cũng đến lượt các cậu. Chắc chắn là như vậy rồi, – Toto nói. – Đại úy nói với tôi rằng cứ mười lăm ngày, ông lại trả tự do cho một người trong bọn ta. Được tự do rồi, anh định làm gì đây?
Tôi do dự một hai giây, rồi tuy sợ bị những kẻ cùng cảnh tù đày kia thấy mình lố bịch, tôi cũng can đảm đáp:
– Tớ sẽ làm gì à? Cũng chẳng có gì phức tạp lắm: tớ bắt đầu lao động và sẽ luôn luôn làm ăn lương thiện. Đất nước này đã tin cậy tớ, tớ mà phạm tội gì thì xấu hổ lắm.
Tường sẽ nhận được một lời mỉa mai, ai dè cả ba người đều cùng thú thật:
– Tôi cũng vậy, tôi quyết định sẽ sống cho đúng đắn. Papillon ạ, anh nói đúng, sẽ khó đấy, nhưng phải làm như vậy và dân Venezuela cũng xứng đáng được chúng mình kính nể.
Tôi không tin ở tai tôi nữa. Toto, tên lưu manh hạ lưu ở khu Bastille cũng có những ý nghĩ như thế ư? Thật là bất ngờ, Antartaglia suốt đời chỉ đi móc túi người khác cũng phản ứng như vậy sao? Thật tuyệt vời. Và Deplanque ma cô chuyên nghiệp lại không dự định tìm một người phụ nữ nào để lợi dụng khai thác họ ư? Cái đó còn lạ hơn. Tất cả chúng tôi cùng phá lên cười.
– Chà! Lại có chuyện như vậy nữa sao. Thật là đáng giá ngàn vàng, nếu nay mai cậu trở về khu Montmartre, ra Quảng trường Trắng mà kể lại chuyện này thì chẳng ai tin đâu.
– Những tay anh chị trong giới chúng ta sẽ tin đấy. Họ hiểu mà. Chỉ có bọn trưởng giả mới không chịu tin. Đại đa số dân Pháp không chịu thừa nhận rằng một người có quá khứ như chúng ta có thể trở thành người tốt về mọi mặt. Đấy là điều khác nhau giữa dân Ven ezuela và dân chúng ta. Tớ đã kể cho các cậu nghe luận điểm của một ngư dân nghèo ở Irapa: bác ta đã giải thích cho khu trưởng rằng không có người nào là đồ bỏ cả và phải tạo cơ hội cho người ta trở thành lương thiện. Những ngư dân hầu hết là mù chữ ở vịnh Paria, bên lề thế giới, lọt thỏm vào giữa cái cửa sông Orénoque mênh mông, có một triết lý nhân văn mà nhiều đồng bào của chúng ta không có nổi. Quá nhiều tiến bộ về máy móc, một cuộc sống bon chen, một xã hội chỉ theo đuổi một lý tưởng duy nhất là làm sao có được nhiều phát minh về máy móc, tiến tới một cuộc sống ngày càng dễ dãi hơn, tiện nghi hơn. Thường thức các phát minh về máy móc cũng giống như mút kem, chỉ lôi cuốn người ta thèm khát nhiều tiện nghi hơn nữa và đấu tranh liên tục để đạt tới cái đích đó. Những cái đó giết chết tâm hồn, lòng trắc ẩn, sự thông cảm, và sự cao thượng. Người ta không còn thì giờ để quan tâm đến người khác, lại càng ít thì giờ hơn để quan tâm đến những kẻ phạm tội. Ngay các nhà cầm quyền ở chốn này cũng khác ở nước ta, vì họ chịu cả trách nhiệm vê sự yên tĩnh công cộng. Dù họ có thể bị gặp nhiều điều phiền phức lớn lao nhưng họ cũng nghĩ rằng cứ phải làm liều một chút để cứu lấy một con người. Và như thế thật tuyệt vời.
Tôi có một bộ đồ xanh nước biển do học trò của tôi bây giờ là đại tá, tặng: Anh ta đã vào trường sĩ quan được một tháng, sau khi lọt vào số ba người đỗ dầu trong cuộc thi tuyển. Tôi sung sướng thấy mình cũng góp phần vào thành công của anh bằng các bài tôi đã giảng cho anh. Trước khi đi, anh đã tặng tôi mấy bộ quần áo còn mới của anh, vừa khít với tôi. Tôi ra đi, ăn vận chững chạc nhờ Francisco Bolagno, hạ sĩ của quân cảnh vệ quốc gia, nay đã là chủ gia đình và đã là bố.
Viên sĩ quan này, ngày nay đã là đại tá, trong hai mươi sáu năm liền đã dành cho tôi một tình bạn chân thành và không bao giờ phai nhạt. Ông là biểu trưng chân chính của tính cương trực, cao thượng, và của những tình cảm cao cả nhất mà một con người có thể có được. Tuy ở một địa vị cao trong thứ bậc quân sự, ông luôn luôn biểu lộ tình bạn trung thành của ông đối với tôi và sẵn sàng giúp tôi bất cứ việc gì. Tôi đã chịu ơn đại tá Francisco Bolagno Utrera rất nhiều.

Phải, tôi sẽ làm hết cách để trở thành người lương thiện và giữ sao cho mình mãi lương thiện. Chỉ có một điều phiền phức là tôi chưa làm việc bao giờ, tôi không biết làm gì cả. Tôi phải làm bất cứ việc gì để kiếm sống. Cũng không dễ, nhưng chắc chắn là tôi sẽ làm được. Ngày mai tôi sẽ trơ thành một người như những người khác. Công tố viên! Ngươi đã thua ta rồi: ta đã thoát hẳn ra khỏi con đường của sự thối nát.
Tôi trăn trở hồi lâu trên võng, thao thức trong đêm cuối cùng của cuộc đời tù tội long đong. Tôi ngồi dậy, đi ra thăm cái vườn mà tôi đã bỏ biết bao nhiêu công sức để săn sóc trong những tháng qua. Trăng sáng như ban ngày. Nước sông lặng lẽ chảy ra biển. Không có tiếng chim: chúng đang ngủ. Trời đầy sao, nhưng trăng sáng quá, phải đứng quay lưng lại phía trăng mới thấy được sao. Trước mặt tôi là bóng tối của rừng, chỉ có một điểm sáng mờ mờ là làng El Dorado. Cảnh tĩnh mịch sâu lắng của thiên nhiên làm cho tôi thư thái. Nỗi bồn chồn đã lắng dịu dần và đêm thanh vắng đã đem lại cho tôi sự thanh thản mà tôi đang cần. Tôi tưởng tượng thấy rất rõ nơi mà ngày mai tôi từ xà-lan đặt chân lên mảnh đất của Simon Bolivar, người đã giải phóng nước này khỏi sự thống trị của Tây Ban Nha và đã để lại cho các thế hệ sau những tình cảm nhân đạo và sự thông cảm đã làm cho tôi có thể bắt đầu được sống lại.
Tôi đã ba mươi bảy tuổi, tôi còn trẻ. Thể trạng của tôi hoàn hảo. Tôi chưa bao giờ ốm nặng, thần kinh tôi hoàn toàn bình thường. Tôi dám nói vậy. Con đường thối nát mà không để lại trong tôi những dấu vết sa đọa. Tôi cho đó chủ yếu là do tôi không bao giờ thực sự thuộc về nó cả.
Trong những tuần tự do đầu tiên, tôi không những phải tìm cách kiếm sống cho mình, mà còn phải săn sóc và nuôi sống Picohno. Đối với tôi, trách nhiệm ấy thật nặng nề. Tuy cậu ta là gánh nặng đối với tôi, tôi sẽ giữ lời hứa với giám đốc trại giam, cho đến khi nào đưa được Picolino vào bệnh viện, nơi có những người chuyên môn giỏi chữa bệnh cho cậu, mới thôi. 
Tôi có nên báo tin cho bố tôi biết là tôi đã được tự do không? Đã nhiều năm, ông cụ không biết gì về tôi. Không biết bây giờ ông cụ ở đâu? Những tin tức duy nhất mà ông cụ có được về tôi là do cảnh sát đến hỏi mỗi lần tôi vượt ngục. Không, tôi không được hấp tấp. Tôi không có quyền làm vết thương có sẽ đã thành sẹo sau bao nhiêu năm nay, lại rớm máu. Tôi sẽ viết thư cho ông cụ khi nào tôi đã ổn định, đã có một vị trí nhỏ vững vàng, không có vấn đề gì rắc rối, khi tôi đã có thể nói với ông cụ: “Thưa ba, con của ba đã được tự do, đã trở thành một người tốt và lương thiện. Con đã sống như thế này, bằng cách này. Ba không phải cúi đầu khi nghĩ về con nữa, và cũng vì thế cho nên con mới viết thư này để nói với ba là con luôn luôn yêu thương và tôn kính ba”.
Đang có chiến tranh, không biết quân Đức có chiếm đóng làng chúng tôi không? Ardèche không phải là một vùng có chút gì quan trọng về chiến lược của nước Pháp. Chắc chúng cũng chẳng chiếm đóng hết cả tỉnh này. ở đấy phỏng chúng kiếm được cái gì ngoài hạt dẻ ra? Phải, chỉ khi nào tôi tự thấy mình đã xứng đáng tôi mới viết thư, hay nói cho đáng tôi mới viết thư, hay nói cho đúng hơn mới tìm cách viết thư về nhà. 
Tôi sẽ đi đâu bây giờ? Tôi sẽ định cư ở một làng gần mỏ vàng tên gọi là Le Callao. Tôi sẽ sống ở đó một năm – thời gian người ta đòi hỏi tôi phải sống trong một cộng đồng nhó. Rồi tôi sẽ làm gì? Ai mà biết được: Mi đừng đặt trước những vấn đề như vậy. Dù phải cuốc đất để kiếm miếng ăn, mi cũng phải làm, có thế thôi.
Tôi phải tập sống tự do, việc này sẽ không dễ đâu. Mười ba năm rồi, không kể mấy tháng ở Georgetown, tôi không phải lo đến chuyện kiếm ăn. Dù sao hồi ở Georgetown, tôi cũng đã xoay xở được. Cuộc phiêu lưu vẫn tiếp tục, tôi phải nghĩ ra phương kế để mà sống, dĩ nhiên là không làm hại đến ai. Rồi sẽ tính sau! Nào, cứ đến Le Callao đã.
Bảy giờ sáng. Ánh nắng đẹp vùng nhiệt đới, bầu trời xanh không gợn một bóng mây, chim hót líu lo các ngói niềm vui sống. Các bạn tôi đã về tựu ở cổng vườn. Picolino mặc quần áo thường, cạo râu sạch sẽ. Tất cả mọi thứ: cảnh thiên nhiên, vật và người đều toát lên niềm vui và đều mừng cho tôi được tự do. Có một thiếu úy cùng đến với nhóm bạn bè tôi: anh ta sẽ cùng đi với chúng tôi đến làng El Dorado.
– Chúng ta hây hôn nhau, rồi anh đi đi, – Toto nói. Như vậy sẽ tốt hơn cho tất cả mọi người.
– Từ biệt các bạn thân mến, nếu có dịp đi qua Le Callao các bạn đến tìm tôi nhé. Nếu tôi có nhà riêng thì đó cũng là nhà của các bạn.
– Từ biệt Papi, chúc anh gặp may mắn nhé! 
Chúng tôi đi nhanh xuống bến và lên xà-lan. Picolino đi khá vững vàng. Cậu ta chỉ bị liệt từ hông trở lên, chứ chân thì không sao. Mười lăm phút sau, chúng tôi đã qua sông.
– Giấy tờ của Picolino đây. Anh bạn Pháp, chúc anh may mắn nhé. Từ giờ phút này anh được tự do Adios!
Rứt bỏ những xiềng xích đeo đẳng mình đã mười ba năm cũng chẳng khó khăn gì. “Anh được tự do từ giờ phút này”. Người ta đã quay mặt đi, không giám sát anh nữa. Chỉ có thế thôi. Chúng tôi leo nhanh con đường đá cuội từ bờ sông đi lên. Chúng tôi chỉ có một gói nhó, ở trong có ba cái áo sơ-mi và một cái quần dài để thay đổi. Tôi mặc bộ com-lê màu xanh hàng hải, sơ-mi trắng, thắt ca-vát xanh cùng màu với áo ngoài.
Nhưng dĩ nhiên làm lại cuộc đời không phải như khâu lại chiếc khuy áo. Và nếu giờ đây, hai mươi lăm năm sau, tôi đà có vợ, có một con gái, đã sống sung sướng ở Caracas, đã là công dân Venezuela, thì đó là do trải qua biết bao nhiêu chuyện khác, bao nhiêu thành công và đổ vỡ, nhưng là của một người tự do và một công dân đứng đắn. Sau này có lẽ tôi sẽ có dịp kể những chuyện đó, và còn nhiều chuyện ly kỳ nữa không thể kể ở đây.

Đôi lời của Sơn râu cùng bạn đọc.

*_Kết thúc câu chuyện ở đây bạn có cảm nghĩ gì sau khi đọc và theo dõi cuộc đời của Papilon? Riêng tôi, tôi đã sống cùng tác giả qua câu chuyện này, những bất hạnh, không may, những gian trá, lừa lọc đã đẩy tác giả vào vòng lao lý phải mang thân phận tù khổ sai lưu đày biệt xứ. Nhưng với tấm lòng can đảm luôn nung nấu ý chí phục thù những kẻ đã nhân danh đại diện cho pháp luật đẩy tác giả vào tình huống đen tối đó, xét xử hời hợt trên những chứng cứ không khả tín. Tác giả đã trãi những năm tháng dài nơi xứ người sống trãi qua bao vinh nhục, hiểm nghèo sóng gió, với đức tin và lòng tốt luôn trân quý tình bạn, nhưng sẵn sàng tiêu diệt ngay kẻ thù của mình khi mạng sống bị đe dọa.. đã mang lại cho tôi nhiều cảm xúc khi gấp lại chương cuối trong tay.

Tình bạn bất diệt

Papillon – Người tù khổ sai


Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

32. Lá Quốc kỳ màu vàng của chúng ta

Ta đi trong tuyết ươm hơi lạnh
Mà lửa từ tim vẫn nhóm hồng
Với lá Hoàng Kỳ trên ngực áo
Ta thấy còn hơi ấm non sông

1.

Có một thời công chuyện làm ăn khó khăn, tôi mua một chiếc ghe nhỏ, theo anh em làm nghề dân chài, đi đánh cá Salmon. Ðó là thời vàng son cách đây hơn 10 năm của “làng” ghe đánh cá Salmon gốc Việt ở British Columbia, Canada. Làm 4 tháng, nghỉ 8 tháng ăn lương thất nghiệp. Tôi thấy cái 8 tháng ăn lương thất nghiệp có vẻ ngon cơm, đi đó đây nói chuyện, viết lách, hội thảo, biểu tình… mà không sợ vợ con ở nhà ăn mì gói… Đó là lý do tôi thành “dân chài”, mặc dù cái “thuở ban đầu lạng quạng ấy”, tôi không biết vá lưới, không biết mặt con cá Salmon nó dài ngắn, méo tròn ra sao… Đúng là liều mạng!

Thuở đó, Ba tôi còn sống, ở Việt Nam, nghe tin tôi ra biển, ông than trời, vì biết tôi không thể là dân làm biển. Ông tưởng tượng tôi đi chân trần, vác lưới ra biển, mặt mày đen như cục than hầm, nhấp nhô trên sóng nước… như mấy ông dân chài Phan Thiết ở Lạc Đạo, Bình Hưng, Thương Chánh… rồi nghĩ đến cái thời “vàng son” khi tôi từ đơn vị về thăm nhà, ngừng xe jeep trước cửa, bông mai trên bâu áo, ra trường Thủ Đức mấy năm mà vóc dáng vẫn chưa tan nát nét thư sinh, ông lấy làm hãnh diện với bà con làng xóm… Ông thở dài, và khi biển động, bão tố ở biển Phan Thiết xa Canada gần nửa quả địa cầu, ông lại đứng ngồi không yên nhìn ra biển rộng tưởng chiếc ghe tôi đang quay cuồng trong cơn bão, tưởng chừng khi biển Phan Thiết động thì sóng Canada cũng vỗ ầm ầm… Ba tôi than trời là đúng, tôi ra biển nhiều lần song vẫn bị say sóng hộc máu, lưới quăng xuống nước, cá buồn tình trốn mất tiêu… và cuối cùng, tôi bán ghe sau 5 năm chọn lầm cái nghề “Hà Bá” chê lỗ vốn này.

Tôi thương Ba tôi khi nghĩ đến ông, nhưng ông xa tôi nghìn trùng. Cái gần gũi theo tôi lên ghe ra biển là cái “còm piu tơ” Mackintosh và mấy cái thư của cô bé gái 10 tuổi con tôi. Tôi làm nghề biển mà không bỏ được cái nghiệp… báo. “Nghiệp báo!” Đúng là Phật dạy nghìn năm trước không sai! Báo ở đây là nghề viết lách trăm cay ngàn đắng cùa những tên cầm bút còn chút liêm sỉ và lương tâm… chứ không phải là thứ nghiệp báo trầm luân địa ngục gì cả!

Khi mỗi lần ghe vô bến, bán cá và vá lưới xong, tôi kéo giây điện gắn vô máy và gõ lọc cọc. Bài vở, tin thức lấy từ báo Tây và cái radio… rồi nhét vô cái đầu cho nó làm việc, xong sang/copy vô cái disket gửi qua Toronto cho chủ nhiệm Bùi Bảo Sơn… Tạp chí Lửa Việt vì thế mà tôi vẫn có mặt, cho dù tôi lênh đênh trên sóng nước theo đuôi bầy cá Salmon…

Có một hôm, thả lưới xong, tôi bóc cái thư cô bé gái gửi cho bố, tôi vô cùng xúc động. Thư con tôi có mấy dòng tiếng Anh “con nhớ Daddy! Con nhớ Daddy!” mà trên đầu thư con tôi vẽ một lá quốc kỳ mầu vàng ba sọc đỏ bằng bút chì mầu. Thì ra con tôi biết lá cờ trên bàn tôi là gì, và những gì tôi giải thích cho nó biết… Đọc thư con, nhìn những dòng chữ con nít, nhìn lá cờ… tôi thấy cả một vùng biển cửa sông Skeena gần Alaska ấm lại…

2.

Tại Mỹ cũng như tại Canada, tờ lịch vừa qua bước vào ngưỡng cửa tháng 12 là thiên hạ chuẩn bị cho mùa Giáng sinh. Một hôm cô bé lớp tiểu học con tôi về nhà, vừa bỏ sách vở xuống bàn là nó kéo tôi ra phòng khách:

– Ông thầy trường con gắn cờ Việt cộng trên cây Giáng Sinh đó Ba!

– Sao con biết đó là cờ Việt cộng?

– Thì có lần ba chỉ con cờ đỏ sao vàng là cờ Việt cộng, là cờ bỏ tù Ba, là cờ mà Ba Mẹ phải chạy trốn. Con ghét lá cờ đó lắm! Tại sao trường không treo cờ mình Ba?

Tôi bảo con tôi:

– Con giỏi lắm! Ba thương con lắm! Ba với con lên trường, con chỉ cho Ba lá cờ Việt cộng trên cây Giáng Sinh nhen!

Cô bé nhanh nhẩu:

– Con dắt Ba đi liền được không Ba?!

Trường cách nhà tôi chỉ vài trăm mét. Hai cha con vô trường, và quả đúng như lời cô bé, một lá cờ đỏ sao vàng nhỏ chen giữa những lá cờ các quốc gia khác được trang trí gắn trên cây Giáng sinh sặc sỡ những bóng đèn màu nhấp nháy. Tôi dắt con vào xin gặp ông hiệu trưởng, giải thích cùng ông về lá cờ, về kiếp nạn của dân tộc Việt Nam, và hơn nửa triệu người Việt Nam bỏ nước vượt biển ra đi,vùi thây trong biển cả chỉ vì lá cờ này… Và lá cờ cờ đỏ sao vàng là cơn ác mộng của tôi, gia đình tôi, dân tộc tôi.

Ông thầy Canada nghe tôi giải bày, cảm thức những xúc cảm của tôi khi tôi nói, ông hiểu ra, và khi tôi bảo ông rằng tôi sẽ làm đơn chuyển con tôi đi trường khác học nếu ông còn giữ lá cờ đỏ này trên cây Giáng sinh. Ông từ tốn dắt cha con tôi ra cây Giáng sinh, gở bỏ lá cờ đỏ sao vàng, và quay lại hỏi con tôi:

– Con muốn thầy thay lá cờ nào lên đây?

– Dạ, lá cờ con làm ở nhà!

– OK, mai con đem cờ con làm lên trường nghe!

– Dạ! Mai con đem lên! Con cám ơn thầy!

Đêm đó, nhỏ bé con tôi hí hoáy cắt giấy, tô vẽ một lá cờ vàng ba sọc đỏ nhỏ xíu. Sáng hôm sau nó lên trường thật sớm. Giờ ăn trưa, nó chạy một mạch về nhà:

– Daddy! Cây Giáng sinh ở trường thầy con cho gắn một lá cờ vàng như lá cờ của Ba để trên bàn. Con làm lá cờ đó hồi hôm Ba biết không?

– Ba biết! Ba biết! Ba thấy con làm! Con giỏi lắm! Ba thương con!

Tôi ôm con tôi vào lòng, hôn trên trán nó, và tôi thấy Vancouver ấm cả một trời mùa Đông…

3.

Bình là một thuyền nhân tỵ nạn đi chui, nghĩa là anh em hắn phóng lên ghe tôi giờ chót khi tôi và đám bạn đẩy ghe ra biển. Ðến Canada, hắn ở cùng thành phố Vancouver với tôi. Khá lâu không gặp, có lần tôi lang thang trong chợ Longdale Market ở North Vancouver, gặp hắn làm nhân viên security trong chợ, có job tốt, vợ con, nhà cửa đàng hoàng. Tôi mừng là anh em chúng tôi không tên nào chết trên biển, không tên nào thất nghiệp và ba trợn khi đến xứ người… Tôi không mong gì hơn.

Khoảng một tuần sau đó, bất ngờ Bình phone tôi:

– Anh Hai, sáng nay tôi vô làm, thấy thằng manager cho giăng một dãy cờ trên gần nóc lòng chợ, có cả cờ đỏ sao vàng. Tôi xì nẹt và cự lộn với nó!

– Bộ không sợ nó đuổi sở sao?

– Đuổi, tôi tìm chỗ khác làm, chịu nhục làm ở đây mỗi ngày thấy lá cờ này tôi chịu không được! Thằng manager thấy tôi nóng, lúc đầu nó ngạc nhiên, sau tôi giải thích nó hiểu ra, nó đồng ý bỏ lá cờ đó, nhưng nó ra điều kiện là tôi phải tự vô kho mang thang ra leo lên tháo cờ, và thay vào bất cứ một lá cờ quốc gia khác mà tôi không “up set, không nhức đầu” ngay hôm nay. Nó không chấp nhận để giây cờ trong chợ có một khoảng trống. Anh có lá cờ quốc gia nào sẳn ở nhà, lái xe mang gấp qua cho tôi trước khi chợ đóng cửa!

– OK, chuyện gì chứ chuyện này tao bay qua liền!

Mặc dù thằng em thuyền nhân đi chui của tôi nó không tham gia sinh hoạt đấu tranh nào, năm 1975 nó còn nhỏ, chưa đi lính, nhưng nó có tinh thần quốc gia ngon lành, và phản ứng hết sẩy, ngon lành hơn bất cứ ai “ăn cơm quốc gia thờ ma Việt vẹm”.

Ngày hôm nay, ai thăm chợ Longdale Market ở North Vancouver, Canada vẫn còn thấy trên nóc chợ một lá cờ vàng ba sọc đỏ giăng giữa hàng cờ các quốc gia khác, đó là lá cờ của tôi và Bình. Hạ được cờ đỏ VC, treo lên lá cờ vàng trên nóc chợ ở Canada là một kỷ niệm khó quên của anh em tàu BI 25803 của tụi tôi khi vào Pulau Bidong năm 1980 trước đây.

4.

Tại Canada, tỉnh Alberta là nơi lá cờ vàng ba sọc đỏ được treo thường trực tại hai thành phố Calgary và Sandre. Chế độ Hà Nội nhiều lần cay cú và can thiệp yêu cầu kéo xuống, nhưng chính phủ các cấp Alberta vẫn lạnh như tiền, quyết tâm giữ lá cờ của cộng đồng Việt Nam tỵ nạn cộng sản là một yếu tố quan trọng để nhà nước Alberta “gửi gió cho mây ngàn bay những lời phản đối, yêu cầu của Hà Nội” .

Những đồng hương Việt Nam có dịp ngang qua Calgary, ngay trên góc xa lộ Deerfoot và International Avenue (đường 17), sẽ thấy có một công viên treo một dọc cờ các quốc gia tự do trên một hàng trụ cờ, và lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay giữa hàng cờ đó.

Thành phố Vancouver cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện trong một tình huống rất lý thú. Trên đường Kingsway, một trong nhưng con đường chính của thành phố đẹp nhất Bắc Mỹ này, gần giữa hai góc đường số 10th Ave và 11th Ave, có một hãng bán xe khá đắt tiền có tên là Technique Auto Sale. Bỗng một hôm, bà con Việt Nam đi xe bus ngang hãng xe, thấy một hàng cờ trong đó có lá cờ đỏ sao vàng tổ bố. Thế là nhiều cú phone gọi tới tấp tới anh em Hội Cựu Chiến Sĩ và Hội Thủ Đức Vancouver:

– Trời ơi mấy ông ơi! Tụi Việt cộng nó treo cờ đỏ sao vàng trên đường Kingsway! Bây giờ mấy ông làm sao chớ!

– Chỗ nào Bác!

– Chỗ tiệm bán xe trên đường Kingsway, gần góc 11!

– OK bác! Tụi cháu đến đó ngay!

Tôi và Trần Văn Trung SĐ18 phóng xe đến đó, và y như rằng, lá cờ đỏ sao vàng “đang giỡn mặt bà con” dưới trời Vancouver. Tôi và Trung vào hãng xe, tự giới thiệu là đại diện cho Hội Cựu Chiến Sĩ và Hội Võ Khoa Thủ Đức thuộc cộng đồng Việt Nam, xin gặp manager…

– Thưa ông, sao hôm nay hãng ông lại có sáng kiến treo 12 lá cờ trước hãng xe, và tại sao lại có lá cờ đỏ sao vàng?

– Hãng tôi buôn bán xe, 12 lá cờ được treo là 12 sắc dân đông đảo có mặt sinh sống tại vùng Vancouver Mainland và vùng phụ cận. Người Việt các ông trong vùng này theo tôi đoán có khoảng 40 ngàn dân, do đó tôi treo lá cờ đỏ sao vàng của nước ông!

Tôi biết ngay là hãng xe có một sự nhầm lẫn “vĩ đại và vô tình”. Tôi từ tốn giải thích:

– Vì nhu cầu buôn bán, hãng ông mới treo các lá cờ quốc gia của các sắc dân. Chúng tôi đến đây với thiện chí là giúp các ông tránh khỏi những hiểu lầm không lợi cho việc buôn bán của hãng ông. Việc treo các lá cờ khác, chúng tôi không có ý kiến, nhưng treo lá cờ đỏ sao vàng thì không nên?

– Tại sao/Why? Xin ông nói rõ hơn!

– Thưa ông, lá cờ đỏ sao vàng là lá cờ của đảng cộng sản Việt Nam và đảng đó đã áp đặt thành cờ của nước Việt Nam cộng sản; lá cờ đó không đại diện cho nước Việt Nam tự do của chúng tôi. Vì lá cờ này mà dân tộc tôi đau khổ, vì lá cờ này mà chúng tôi phải bỏ nước ra đi và có mặt ở đây, vì lá cờ này mà nửa triệu người Việt Nam vùi thân trong lòng biển trên đường tìm tự do. Quý hãng treo lá cờ này là khơi lại niềm đau, nỗi hận của 40 ngàn người Việt sinh sống ở đây, và họ sẽ không vào xem xe các ông, không mua xe các ông, và họ có thể tập trung hàng ngàn người biểu tỉnh chống lá cờ đỏ trước hãng ông…

Người Manager hiểu ra ngay sự tình, và ông đồng ý. Ông cho người tháo lá cờ đỏ sao vàng xuống. Nhưng ông bỗng nói:

– Tháo lá cở đỏ xuống thì một trụ cờ bỏ trống…

– Vậy ông có thể thay lá cờ vàng Việt Nam của chúng tôi lên được không?

– OK được! Chừng nào ông giao lá cờ đó cho chúng tôi?

– Ngay hôm nay!

Chúng tôi cho Trung bay về trụ sở Hội Cựu Chiến Sĩ mang đến hãng xe lá cờ vàng ba sọc đỏ. Hãng xe hí hoáy móc vào thanh ngang của trụ cờ nhưng không được, vì cờ không có lổ ngang đủ rộng. Người manager không trả lại cờ, ông giữ lại và mang vào office. Chúng tôi cám ơn ông và từ giả hãng xe. Trên đường về, tôi nói với Trung:

– Đem được cờ đỏ VC xuống là tụi mình thắng VC 1-0 rồi! Chuyện họ treo cờ mình lên được thì càng tốt, không có cũng không sao, miễn là đừng có cờ đỏ sao vàng treo lên trong thành phố này là OK.

Mấy hôm liền sau đó, chúng tôi cứ lái xe lạng qua lại trước hãng xe xem có gì lạ không. Cây cột cờ vẫn để trống, không cờ đỏ, không cờ vàng. Tôi nghĩ bụng, chắc hãng xe muốn giữ thái độ trung lập. 1-0 là tỷ số chấp nhận được. Nhưng ngày hôm sau nữa, khi tôi lái xe qua đường Kingsway để ý cây trụ cờ trống như thường lệ, mắt tôi sáng lên khi thấy lá cở vàng ba sọc đỏ rực rỡ, mới toanh đồng dạng với hàng cờ các nước khác, tung bay trong gió. Thì ra hãng xe thuê may lá cờ vàng theo mẫu lá cờ chúng tôi cho hãng nhưng có một lỗ ngang để luồn vào. Họ đã giữ lời hứa treo lá cờ vàng.

Tôi phone Trung và các bạn:

– Hạ VC thêm một quả nữa! 2-0!

– Cái gì?

– Hãng xe treo cờ mình, đẹp, mới toanh, rực rỡ! Gặp nhau tại Hội quán ngay. Phone cho mấy ông thần nước mặn của mình luôn. Ứng tiền mua giùm một cái thiếp cám ơn, một bó hoa, một case beer, lấy ở nhà một chai rượu chưa khui…

– Để làm gì?

– Tặng hãng xe, sao đó mình khao quân!

– Nghe 5, nhận 5!

Nội trong hôm đó, chúng tôi đã tiếp xúc cám ơn hãng xe, để lại trong văn phòng họ một chai rượu, một case beer, một bó hoa và một thiệp cám ơn… nhân danh Cộng đồng Người Việt vùng Greater Vancouver, Hội Cựu Chiến Sĩ và Hội Võ Khoa Thủ Đức Vancouver… Và cuối tháng, khi báo Việt Nam Vancouver (một ấn bản địa phương của Nguyệt San Việt Nam) ra lò, chúng tôi đã gửi cho hãng xe 40 số báo free mà trang bìa là 1 trang quảng cáo cho hãng xe không lấy tiền. Quảng cáo ngay nơi trang bìa sau tờ báo với lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay. Đây là lá cờ vàng ba sọc đỏ duy nhất tại Vancouver rực rỡ, lồng lộng trong nắng tại Vancouver, bất chấp những cú phone và văn thư khiếu nại, phản đối của sứ quán cộng sản tại Ottawa. Tỷ số 2-0 này sẽ tồn tại cho đến ngày tàn trận đấu dài mà thời gian trận đấu được tính bằng năm, bằng tháng trên nỗi đau của dân tộc…

Hiện nay, âm mưu và nổ lực của tà quyền Taliban VC ở Hà Nội vẫn còn đang tiến hành quyết liệt: Phân hóa cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, lăng nhục cuộc chiến đấu chính nghĩa của QLVNCH và bôi bẩn, hạ thế giá lá cờ vàng ba sọc đỏ. Chúng ta mất gần hết, chỉ còn lại mầu cờ. Và chúng ta không chấp nhận những phản bội của bất cứ ai, bất cứ từ đâu tới. Lịch sử sẽ không tha thứ cho những ai bôi đen lịch sử bằng cách hạ nhục lá cờ vàng!

Trung tá David L. Tran (gốc Việt), Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Đại tá.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on August 15, 2025

Nguyển Quân.

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

Trung tá David L. Tran, nguyên Chỉ huy trưởng Phi đoàn 373 yểm trợ Không đoàn, Thủy Quân Lục Chiến (ảnh của MWSS-373).

Trung tá David L. Tran (gốc Việt), Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (TQLC) vừa được Hội đồng thăng cấp T QLC (U.S. Marine Corps Officer Promotion Selection Board) đề cử thăng cấp Đại tá cho tài khoá YF27, theo thông báo từ mynavyhr.navy.mil ngày 14 tháng 8 năm 2025. Trung tá David L. Tran là một trong 158 Trung tá hiện dịch (active-duty) TQLC được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2025, danh sách đề cử thăng cấp đang được chuyển đến văn phòng Tổng thống đề cử và Quốc hội, để Uỷ ban quân vụ Thượng viện (Senate Armed Services Committee) xác nhận bầu chọn.

Trung tá David L. Tran được Thăng cấp Trung tá ngày 1 tháng 5 năm 2021, ông nguyên là Chỉ huy trưởng Phi đoàn 373 yểm trợ Không đoàn TQLC từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 6 năm 2023. Sau nhiệm kỳ chỉ huy Phi đoàn yểm trợ 373, ông tu nghiệp chương trình đào tạo lãnh đạo cao cấp về phát triển và phối hợp Chiến lược An ninh Quốc gia tại Trường Dwight D. Eisenhower (Dwight D. Eisenhower School for National Security and Resource Strategy). Hiện nay Trung tá David L. Tran đang phục vụ tại Bộ tham mưu liên quân Hoa Kỳ (Joint Staff).

Trung tá David L. Tran (ảnh của Hạ sĩ I Jaime Reyes, Không 3 Thuỷ quân lục chiến).

Trung tá Tran mang cấp bậc Thiếu úy năm 2005, sau kht tốt nghiệp Đại học California, Riverside.

Năm 2006, Thiếu úy* Tran thụ huấn khóa căn bản Sĩ quan TQLC và khóa Sĩ quan công binh chiến đấu TQLC. Sau khi hoàn tất các khóa học trên, Thiếu úy trần được thuyên chuyển về Phi đoàn 372 yểm trợ Không đoàn 3 TQLC tại Camp Pendleton, California làm Trung đội trưởng công binh kiêm Đại đội phó.

Năm 2007, Trung úy* Tran phuc vụ tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1, Sư đoàn 1 TQLC, ông được điều động làm Trung đội trưởng công binh chiến đấu trong Lực lượng đặc nhiệm Chromite (Task Force Chromite) khai triễn đến tỉnh Al Anbar, yểm trợ cho cuộc hành quân IRAQI FREEDOM.

Năm 2008, Trung úy Tran trở về phục vụ tại Phi đoàn yểm trợ 372 (MWSS-372) đảm nhận nhiệm vụ Sĩ quan phụ tá Phòng hành quân, kiêm Sĩ quan hành quân Phi đoàn, và được chọn là Sĩ quan công binh xuất sắc trong năm 2008 của Liên đoàn 37 yểm trợ Không đoàn TQLC.

Năm 2009, Trung úy Tran được thăng cấp Đại úy và phục vụ tại Sư đoàn 3 TQLC tại Okinawa Nhật Bản, ông được điều động đến Baghdad, Iraq chiến đấu và yểm trợ cho cuộc hành quân IRAQI FREEDOM. Sau chuyến công tác hành quân IRAQI FREEDOM, ông trở lại Sư đoàn 3 TQLC và được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng, Đại đội công binh chiến đấu (CEC), Tiểu đoàn công binh chiến đấu, Sư đoàn 3 TQLC.

Năm 2011, Đại úy* Tran được giao phó nhiệm vụ Sĩ quan hành quân và giám sát TQLC trong Lực lượng đặc nhiệm hổn hợp dân sư và quân sự tại Phi Luật Tân. Lực lượng đặc nhiệm phối hợp thường mở các cuộc huấn luyện và thao dượt song phương gồm 800 binh sĩ.

Năm 2012, Đại úy Tran hoàn tất khóa học tại trường Expeditionary Warfare School in Quantico, Virginia. Và phục vụ tại Liên đoàn 1 tiếp liệu (MLG tại Camp Pendleton, California. Theo nhu cầu tại chiến trường A Phú Hãn, đơn vị ông được điều động đến căn cứ Leatherneck, tỉnh Helmand, A Phú Hãn để yểm trợ cuộc hành quân Operation ENDURING FREEDOM.

Năm 2013, Đại úy Tran phục vụ tại Trung đoàn 17 tiếp liệu, ông là Sĩ quan kế hoạch hành quân kiêm Sĩ quan ban 4 ( tiếp liệu ), sau đó ông được thuyên chuyển về làm Đại đội trưởng đại đội Alpha, kiêm Sĩ quan hành quân Tiểu đoàn 7 công binh yểm trợ.

Năm 2015, Thiếu tá Tran* được chọn tu nghiệp chương trình cao cấp tại trường kỹ thuật thuộc Đại học California, Los Angeles (UCLA). Sau khi hoàn tất tu nghiêp, ông phục vụ tại Trung tâm bộ chiến của Không quân TQLC tại Twentynine Palms, California.

Năm 2019, Thiếu tá Tran được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn 7 công binh yểm trợ.

Năm 2020, Thiếu tá Tran làm Tham mưu phó, Phòng 3, Liên đoàn 1 tiếp vận TQLC (1st Marine Logistics Group).

Từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 6 năm 2023, Trung tá David L. Tran chỉ huy Phi đoàn 373 yểm trợ Không đoàn TQLC.

Từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 6 năm 2024, Trung tá David L. Tran tu nghiệp chương trình đào tạo lãnh đạo cao cấp về phát triển và tích hợp Chiến lược An ninh Quốc gia tại Trường Dwight D. Eisenhower.

Từ tháng 7 năm 2024 đến nay, Trung tá David L. Tran phục vụ tại Bộ tham mưu liên quân Hoa Kỳ (Joint Staff).

Thiếu tá* David l. Tran “trái” trong buổi lễ đơn vị nhận giải thưởng ngày 28 tháng 8 năm 2017 (ảnh của Hạ sĩ I Isaac Cantrell – Marine Corps).

Trung tá David L. Tran hoàn tất văn bằng cao học khoa học kỹ thuật công chánh tại Đại học UCLA (Sustainability Innovation Grant winner, City of Los Angeles). Ngoài ra ộng còn thụ huấn và tu nghiệp nhiều khóa học quân sự chuyên môn tại các Trường Expeditionary Warfare School; Đại học California, Los Angeles (UCLA); Trường chỉ huy tham mưu TQLC (USMC Command and Staff College) và Trường Chiến lượt An ninh Quốc gia Dwight D. Eisenhower.

Trong suốt thời gian phục vụ TQLC, Trung tá Trần được ân thưởng các loại huy chương** cao quý như: Huy chương Meritorious Service Medal with one gold star; huy chương Joint Service Commendation Medal; 2 huy chương Navy and Marine Corps Commendation Medal with two gold stars; huy chương Joint Service Achievement Medal; huy chương Navy Marine Corps Achievement Medal with one gold star và huy hiệu tuyên công Combat Action Ribbon.

Danh sách Trung tá David L. Tran và 157 Trung tá TQLC hiện dịch (active-duty) được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2025 cho tài khoá YF27, đang được chuyển đến văn phòng Tổng thống đề cử và Quốc hội xác nhận. Sau khi được Uỷ ban quân vụ Thượng viện bầu chọn, Trung tá David L. Tran sẽ được chính thức thăng cấp Đại tá, ông sẽ là 1 trong 6 Đại tá TQLC Hoa Kỳ gốc Việt. Danh tính 6 vị Đại tá TQLC Hoa Kỳ gốc Việt: Elizabeth Pham; Jackson T. Doan; John T. Nguyen; Ly T. Fecteau (hồi hưu); William H. Seely III (thăng cấp Thiếu tướng, hồi hưu tháng 5 năm 2025) và David L. Tran.

Chúc Tân Đại tá David L. Tran thăng tiến binh nghiệp.

Nguyễn Quân

Chú thích: *Ghi theo thời gian mang cấp bậc; **Ghi theo tài liệu thăng thưởng huy chương năm 2023.

Nguồn: mynavyhr.navy.mil; marines.mil/News/Messages; linkedin.com; 3rd Marine Aircraft Wing; Marine Wing Support Squadron 373; Marine Corps officer promotions; Air Ground Combat Center Twentynine Palms; bienxua-Trung tá gốc Việt David L. Trần, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 373 yểm trợ Không đoàn Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.

Kỹ nữ bên Tàu

saigonnhonews.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on 24 tháng 11, 2025

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

(Hình minh họa: Unsplash)

Trong kho tàng văn học Đông Á, không có nhân vật nào vừa khiến người ta thương cảm, vừa khiến người ta… tội nghiệp cho các ông thi sĩ như hình tượng kỹ nữ.

Tàu là xứ sản sinh ra cả kho tàng chuyện buồn rơi nước mắt về những người con gái sa cơ thất thế, phải bán phấn buôn hương để đổi lấy cơm gạo. Mà nói cho ngay, nhờ mấy em mà thơ đời Đường mới thăng hoa, văn đời Tống mới thở dài, còn mấy ông thi sĩ mới có cái cớ để… ôm lưng người đẹp vừa nhậu vừa ngâm thơ.

Ngẫm lại, kỹ nữ bên Tàu vừa là nạn nhân, vừa là nguồn cảm hứng, vừa là “người tình văn học” của biết bao văn nhân mặc khách. Sách sử kể rằng nghề kỹ nữ bên Tàu có từ thời Xuân Thu. Cái nghề “bán thân mẹo dậu” này không chỉ để chỉ chuốc rượu, đàn hát, trò chuyện, mà còn ôm ấp, mua vui, thậm chí bán thân xác – mà nay gọi là “ anh hai dịch vụ tăng hai?”

Quản Trọng, tướng quốc của Tề Hoàn Công, còn có sáng kiến kiếm tiền bằng cách mở tới 700 lầu xanh, vừa để “quản lý xã hội”, vừa để thu thuế cho quốc khố. Đọc tới đây, tôi xin tâm phục, khẩu phục, bái phục, tao lạy mầy luôn tầm nhìn chiến lược của tổ nghề kinh doanh dịch vụ người lớn.

Nhưng điều đáng nói hơn là: kỹ nữ bên Tàu để lại dấu ấn quá sâu trong văn chương tao đàn, mầy đàn.

Trước hết phải kể tới Đỗ Mục, tác giả bài Khiển Hoài mà dân mê thơ Đường ai cũng biết. Ông bị đày tới Dương Châu, gặp một em kỹ nữ trẻ đẹp. Tương truyền, một buổi chiều mưa gió, Đỗ Mục ôm cái lưng nhỏ xíu, thon thon của cô mà thốt ra mấy câu thơ nổi tiếng. Người đời sau đọc mà thương cô bao nhiêu thì cũng… nghi ngờ cái động cơ sáng tác không trong sáng của ông bấy nhiêu.

Rồi đến Bạch Cư Dị. Bị biếm chức, bị đày đi làm Tư Mã ở Cẩm Giang, ông gặp người kỹ nữ chơi đàn tỳ bà. Nàng là một tài nữ lỡ vận, “ngày xưa phong lưu phóng khoáng, giờ xuống thuyền gõ đàn kiếm cơm.” Ông nghe xong mà thổn thức, viết ra bài Tỳ Bà Hành, một kiệt tác dài hơi, vừa ca ngợi tiếng đàn, vừa thương phận người kỹ nữ khi phấn lạt hương phai.

Nói thiệt, nếu không có mấy em kỹ nữ, chưa chắc đời Đường đã có những bài thơ khiến đời sau phải học thuộc tới nằm lòng. Thành thử, tôi dám quả quyết rằng giới văn nhân phải mang ơn kỹ nữ không ít.

Cái hay của kỹ nữ bên Tàu ở chỗ họ không chỉ bán thân xác mà còn bán tài nghệ. Họ hát, múa, đánh đàn, làm thơ đối đáp, pha trà, chơi cờ… đủ thứ nghệ thuật tao nhã. Nói theo kiểu thời nay, họ là đa năng, đa tài thời phong kiến, vừa đẹp, vừa khéo, vừa biết cách nắm thóp tâm lý khách hàng.

Nhưng sau những ánh đèn lầu xanh, sau tiếng đàn, tiếng hát, lại là những phận đời tăm tối. Không ai tự nguyện bước vào con đường này. Họ là nạn nhân của nghèo đói, chiến tranh, loạn lạc, hoặc bị gia đình bán đi trả nợ. Cái nghề bị khinh rẻ nhưng lại được hưởng nhiều ánh mắt ham muốn của đàn ông – một nghịch lý kéo dài mấy nghìn năm.

Trước khi trách, hãy nhìn lại xã hội. Thời nào cũng vậy: người đàn ông có quyền thế thì phóng túng, còn phụ nữ thì bị cột bởi “tam tòng tứ đức”. Một cô gái phạm sai lầm là bị đời chửi bới cả đời. Còn một ông quan lớn lỡ bước vào thanh lâu thì gọi là “khám điền thổ”, “khảo sát xã hội”, “giải trí lành mạnh”, hoặc “thẩm định văn hóa”.

Cho nên mới có chuyện văn nhân thương hại kỹ nữ mà vẫn… đi kỹ nữ cho em kiếm tí tiền. Mâu thuẫn vậy mà cả hai đều sống khỏe re!

Tiếc thay, càng vào thời phong kiến về sau, số phận người kỹ nữ càng hẩm hiu. Các cô bị xem như món hàng, bị bán, bị chuộc, bị quản lý bởi “má mì”, bị kẻ quyền thế cưỡng bức. Văn chương thì nói hay lắm, nhưng hiện thực thì tàn nhẫn vô cùng.

Tuy vậy, chính trong hoàn cảnh cay đắng đó mà hình tượng kỹ nữ trở thành nơi ký thác của lòng thương cảm, của cái đẹp đượm buồn. Thúy Kiều của Nguyễn Du, dù là nhân vật Việt Nam, nhưng lại mang bóng dáng các cô gái Tàu trong văn chương cũ: tài sắc, đa truân, lao lung vì chữ hiếu, bị xã hội dày vò đến tận cùng.

Ta nói “nghề xưa như trái đất,” nhưng ở bên Tàu, cái nghề ấy còn gắn với cả một tầng văn hóa: lầu xanh, tỳ bà, thơ Đường, rượu nồng, đèn mờ, khách làng chơi, và cả những giọt lệ cuối đêm về ế khách.

Điều đáng buồn nhất: dù bao đời qua, dù thơ văn có làm đẹp nghề bao nhiêu, thì kỹ nữ bên Tàu vẫn chỉ là người phụ nữ bị bóc lột. Một nhà nho có thể thương họ trong thơ, nhưng ngoài đời vẫn để họ sống phận bọt bèo. Một ông quan có thể say mê tiếng đàn, nhưng vẫn xem họ như món đồ trang sức mua vui.

Đến cuối cùng, kỹ nữ bên Tàu là một bi kịch kép: bi kịch của thân phận phụ nữ và bi kịch của một xã hội trọng nam khinh nữ kéo dài hàng nghìn năm.

Nhưng nếu không có họ, lịch sử văn học Trung Hoa đã mất đi một nửa linh hồn. Có lẽ vì vậy mà bao người đọc, dù thế kỷ 21 hay đời Đường, vẫn thương cho tiếng tỳ bà giữa đêm trăng nước Cẩm Giang, hay cái lưng bé nhỏ trong buổi chiều mưa ở Dương Châu.

Một tiếng thở dài từ nghìn năm trước, còn vọng mãi tới bây chừ mà chưa có nhừ!