Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Bài 9.

Thịt Chuột và Văn Hóa

Văn hóa vốn là sản phẩm tinh hoa nhất của loài người. Mỗi dân tộc có một văn-hóa riêng. Theo ông, lấy văn-hóa của kẻ khác làm của mình phải rất thận trọng kẻo không sẽ bị bội thực vì không tiêu hóa nổi. Nhân một người bạn thân của ông viết về văn hóa Việt Nam, Nghiêm Sỹ Tuấn đã góp ý dưới hình thức một chuyện phiếm “Thịt chuột và văn-hóa”.

Con chuột ví với ông, là những kỷ niệm bình dị của thời thơ ấu xa xưa nơi thôn dã. Ông tuổi Tý, cầm tinh con chuột, sống ở nhà quê ăn thịt chuột, thưởng thức tranh vẽ đám cưới chuột, lớp học chuột, v.v …

Vì thế chuột với ông hay rộng ra với người Việt Nam có một liên hệ tinh thần thật đẹp. Con chuột đã mang trên nó một văn-minh, văn-hóa đặc thù Việt Nam vậy. Bởi thế ông không thích truyện “Dịch hạch” của Camus, truyện “Của chuột và người” của Steinbeck. Nói rõ ra văn-hóa ngoại lai nó thô bạo và kịch cỡm với ông cũng như trò khâu đít chuột của một học giả (Lê văn Siêu) bày ra vậy.

Nghĩ cho cùng, lời nói của ông hữu lý phần nào. Bởi vì nếu cứ ăn, cứ nhập mãi văn-hóa người khác, rất nghèo cái của mình và giàu những cái của người khác do mình tự cầm tới.

Tôi sinh năm Tý. Theo lời mẹ tôi, thì sinh tôi được một ngày là hết năm. Thành thử mới sống trên đời hai ngày, tôi đã mang nặng trên vai hai tuổi. Có lẽ vì thế mà vóc người tôi nhỏ bé, nhưng lại sớm ra vẻ già. Dầu vậy, tôi đã sống những ngày thơ ấu đầy đủ vô tư nơi quê ngoại. Đấy là một làng hiền lành nằm kề một con sông rộng mười lăm nhịp cầu tre, với khá nhiều vó bè hai bên bờ và thuyền nan trái sắn chèo xuôi ngược, nối liền sinh hoạt dân làng với sinh hoạt tỉnh ly. Ruộng thường cấy hai mùa, chen giữa là những vụ trồng bông, ngô, khoai, gọi chung là trồng mầu. Mực sống tương đối khá, nhờ thêm nghề đan cót. Có cả một bến nứa suốt ngày tấp nập. Mùi nứa ngâm lâu dưới nước khiến không khí trong làng nhiễm mùi đặc biệt, vừa nồng vừa ngái, vừa thoảng hương nước nắm Nghệ. Nhưng cót đan xong phơi khô, lại trở thơm mộc mạc. Gặt hái rồi, lúa mới thật nỏ quây trong cót mới tạo nên mùi ấm áp dịu dàng, cảm thấy dễ chỉ có những bàn chân gót dầy nứt nẻ vì lội nước gieo cấy mùa đông.

Vào khoảng ấy thường có những người đi bán thịt chuột. Chuột đây là chuột đồng, suốt mùa lúa, từ lúc trổ đòng xanh đến khi chín vàng, đã vụng trộm gậm nhấm của người. Bây giờ, trên đồng chỉ còn gốc rạ, người ta mới đem rạ hun bắt chúng ăn thịt trả thù. Con nào con nấy béo mẫm, thui vàng da cam, moi hết gan ruột, buộc túm đuôi lại từng chùm thịt chuột thui như thế, chặt con cờ, rang ăn với lá chanh tươi thái nhỏ như chỉ rối, là một món rất khoái khẩu. Không hiểu sao những nhà văn sành ăn lại quên, không ghi món thịt chuột rang này trong các tác phẩm ẩm thực của mình. Tôi cho rằng các vị ấy sống nơi thành thị quá nhiều, chỉ biết

có chuột cống rãnh, chuyên sống chui rúc nơi tối tăm, nhờ rác rưởi và thức ăn thừa, nên trông bộ bẩn thỉu hôi hám. Chẳng ai thèm bắt ăn thử xem sao. Cũng như các vị ấy cứ nhất mực tán tụng không khí trong lành nơi thôn quê, cứ thi vị hóa những buổi cấy, buổi gặt, mà quên bẳng đại khái cái mùi nứa đặc biệt tôi vừa nói trên cùng những gót chân dầy nứt nẻ sưng giá đi cấy, những lưng đẫm mồ hôi dầu muối đủ loại và những con đỉa trâu khổng lồ trong mùa gặt nắng lửa chói chang. Thịt chuột cũng thế. Nó là món ăn của dân quê, vua chúa trên đời không hề biết đến. Tôi sinh nhằm tuổi Tý, nên rất háu ăn, gặp được món thịt chuột rang, còn gì thích thú cho bằng. Con chuột vô tình đã đóng một vai trò khá quan trọng trong đời sống dân ta. Ngay từ lúc còn mặc quần thủng đáy, chúng ta đã được thưởng thức tranh vẽ đám cưới chuột, lớp học chuột khăn

đóng, áo dài, đi đứng hai chân, trịnh trọng như người. Nó lại đứng đầu trong đám con vật biểu tượng mười hai địa chi, trên cả con rồng, con hổ. Ây vậy mà các ông vua, ông tướng của ta từ xưa tới nay cứ để yên thứ tự đó, kể cũng lạ. Nhất là bây giờ chuột đồng không có, chỉ có toàn chuột hôi, mang đầy mầm mống dịch hạch trên mình.

Tôi khởi sự đi học hơi muộn, hương vị thịt chuột rang hồi nhỏ nhờ đó đôi khi còn thức dậy nơi đầu lưỡi, làm tôi nhìn giống chuột với cặp mắt bao dung. Vì thế tôi cứ đận đà, không muốn xem những truyện Dịch Hạch của ông C .. , truyện Chuột và Người của ông S, mặc dù nhiều người văn-hóa, trong đó có cả anh bạn học thân của tôi, nghiền ngẫm, dịch giải một cách say mê. Nghĩ rằng giống vật ăn thịt được hẳn là giống hiền. Ăn thịt nó cũng quá rồi, nỡ nào đem ra bới lông tìm bọ chét. Ác hơn nữa có nhà văn-hóa lại bày trò khâu đít chuột, làm chúng mắc chứng táo bón cấp tính, sinh cáu kỉnh, cắn hại lẫn nhau mà tự tiêu diệt.

Ngẫm cho cùng, chuột thời buổi này khổ cực nào kém chi người. Bắt buộc, chúng phải làm chuột thành phố hết thẩy. Còn đâu đòng đòng non ngọt ngào, lúa chín vàng chắc nịch, cùng với không gian khoảng khoát nơi đồng ruộng. Hết ăn được chúng, loài người thù ghét chúng thậm tệ. Giả sử hiểu được tiếng nói, văn tự của người, chắc chuột sẽ là những đệ tử trung thành của ông lão Nam Hoa. Ông này vốn chỉ biết chuột đồng, không bao giờ ngờ rằng lại có thứ chuột thành phố. Chen chúc, tranh giành cơm thừa, canh cặn, còn bị đuổi xua giết chóc, chạy đâu cũng lủng củng những vỏ chai, vỏ hộp. Thét rồi chúng trở nên tình ranh hơn, né tránh lẩn trốn tài tình và đúng lúc. Thành ra mẹo khâu đít chuột tuy hay mà chưa ai thực hiện nổi. Tôi nghĩ mừng riêng cho chuột. Nhưng người chủ mưu kia khổ nỗi lại là người văn hóa khác, nghiện nặng sách của ông C., truyện của ông S., thấy mẹo hay hay, bèn đem áp dụng làm chính sách văn-hóa cho người mình, thì thật là tai họa lớn.

Các cụ nhà ta ngày xưa, mỏi miệng tử viết, thi văn thật nhưng ít ra còn biết đọc theo giọng của mình. Chứ bây giờ trẻ con mới ráo máu đầu đã uốn lưỡi tập nói giọng hầu, giọng mũi, tin ngây thơ theo các quảng cáo hùng hồn dán trên vách các nhà tiểu công cộng, rằng: chắc chắn nói được! cam đoan nói được! Tôi tinh nghịch đã tính bữa nào giả câm, giả ngọng lần đến các lớp ấy xin học thử xem có nói được không. Nhưng thấy nếu mình đã giả đò ú ớ, chắc gì mấy vị giáo sư kia hiểu nổi ý mình, đâm ra ú ớ thật theo luôn, tôi lại thôi. Trở về chuyện văn-hóa, anh bạn tôi cứ loay hoay mãi, không biết nên dịch thuật trước hay sống và suy tưởng trước. Tôi thích ăn thịt chuột, nên không có ý kiến gì, ngoài việc nghĩ rằng làm gì thì làm, văn hóa cũng là một món ăn, cần phải tiêu được trước đã. Còn cái kiểu năng nhặt chặt bị của anh, theo thiển kiến, chẳng qua cũng chỉ là một lối khâu đít chuột. Tôi vừa nói trên kia, học vấn của tôi khởi sự muộn màng lại thiếu sót ngay từ căn bản, nên tôi đã từng choáng váng ngây ngất trước những lâu đài văn hóa rực rỡ cổ kim.

Đông cũng như Tây. Khi được đi học, tôi vội vàng thu lượm, và chính anh bạn đã cười thấy tôi ngồi tỉ mỉ vạch từng nét ngang, nét sổ. Rút lại bây giờ cũng chỉ tạm đủ để đọc Đồ Long Đao với Thiên Long Bát Bộ hoặc ngâm nga mấy bài thơ quen thuộc cũ mèm viết tự đời Đường, đời Tống. Còn Văn-hóa thực ra là cái chi chi tôi vẫn mờ mịt như thuở nào.

Tội tôi thật đáng đánh đòn, biết chỉ một dúm mà cũng dám nói chuyện văn-hóa. Gia dĩ còn đem thịt chuột ra bàn lẫn vào, bạo gan hơn cả nhà thơ Ngỗng Trắng rượu say xáo trộn văn chương với chả cá. Song tôi trộm nghĩ, một mảnh bát vỡ còn được các nhà khảo cổ, lau chùi nâng niu, câu sáu tám nắm xôi thằng Bờm còn được đem làm đề tài cho bao phiên khảo luận tràng giang đại hải, không lẽ món thịt chuột rang thơm như thế, ngậy như thế, lại không dám nói tới. Cảm quan đại chúng thật ra đã cao lắm và đặt trên những nền tảng đơn sơ mộc mạc mà vững chắc. Nay bỗng dưng có vấn đề nâng cao cảm quan ấy, tôi hoang mang không hiểu nguyên do tại đâu. Cái này chắc phải đợi mấy ông Nghè Tây, Nghè Mỹ xứ mình trở về học thêm tiếng mẹ đẻ, rồi nghiên cứu lại ca dao cùng những điệu lý, điệu hò, mới có thể giải thích nổi. Đến chuyện thời gian và không gian của văn-hóa nói chung, của văn-nghệ nói riêng, tôi càng bỡ ngỡ hơn. Một nhà văn lão thành, có tinh thần cách mạng, – cách mạng theo kiểu nghệ sĩ, cố nhiên – hồi sinh tiền đã chủ trương văn nghệ phải phi thời gian và phi không gian, nhưng đồng thời lại tự ví mình với con voi già Sở Thú nằm lù lù một đống. Khiến tôi thắc mắc không ít, chẳng hiểu thời gian của ông dài hay ngắn hơn tuổi con voi già, không gian của ông rộng hay hẹp hơn Sở Thú. Nhưng giờ này hương hồn ông, vốn nặng tình văn hóa, chắc cũng ngậm cười, thấy chủ trương của mình đã được các nhà văn trẻ noi theo, dù là vô tình phần lớn. Phi thời gian và phi không gian đến cái độ dám in rõ ràng trên bìa báo rằng “đọc văn ông X”, trong khi ông X. chết cách đây đã cả chục năm có lẽ và chắc ông ngoại quốc X. ấy, trước khi thở hơi cuối cùng, vẫn chưa hề biết chữ S là hình thể nước ta, nói chi đến biết có một thứ văn tự dùng mẫu tự la tinh ở góc Đông Nam Á. Còn Văn Chương sáng tác, thời gian và không gian thu hẹp hơn, giới hạn trong một ngày xe đò hay mấy giờ máy bay, trong một quán kem, tiệm phở, hay trong một thân thể nào đó, nhưng lại hơn được điểm phi lý. Phi lý tất cả mọi chuyện. Ăn, ngủ, tiêu hóa, làm ái tình, đánh giết nhau. Đâm ra tôi cứ có mặc cảm tội lỗi, thấy mình hay nghĩ tới những chuyện không đâu, chuyện thịt chuột hôm nay chẳng hạn. Được cái may tôi không phải người làm văn hóa, nên lương tâm đỡ cắn rứt phần nào. Nhưng mới đây, một anh bạn giỏi Đức ngữ kể cho nghe một câu chuyện chuột ăn thịt người chết hồi thế chiến thứ II, tôi tự bảo, thôi phen này hết bênh vực chuột nữa nhá. Lũ này thật lộng quá rồi, ngạo mạn chúng ta hết mực. Nhớ khi còn ở trường bộ binh, đi giầy da cao cổ, nện gót cồm cộp, mà chúng nó cứ vọt qua mặt tôi như thường. Dù thế mặc lòng. Tôi vẫn tự an ủi là chuyện chuột ăn thịt người đó xảy ra ở bên Đức. Nước ta tuy cũng bị chia cắt như nước này, song tôi chưa thấy ai viết những truyện loại ghê gớm đó. Tinh thần Đông phương sâu sắc hơn, chuyện ấy chắc bị coi là tầm thường kém xa chuyện làm văn-hóa khâu đít chuột. Một anh bạn khá giả khác của tôi, có vợ ba con, làm nghề gõ đầu trẻ, hiện đang đợi ngày trình diện, đã lo lắng rằng nếu ở cả hai miền đất nước ta, người ta cứ lầm hoài văn-hóa kiểu khâu đít chuột này, thì chỉ mươi mười năm nữa, lớp con anh lớn lên sẽ thành cáu kỉnh hết, lúc ấy không biết thế nào là thịt chuột rang, chúng nó không suy nghĩ gì cả khi gặp những lớp người đồng lứa tuổi với chúng vượt sông rúc bụi qua đây với súng đạn cầm tay. Tôi mới chỉ thất tình sơ sơ, nên cũng thấy hơi lo lo, e nếu tình cảm con người sau này biến đổi như thế, chắc tôi sẽ thất tình nặng mất. Viễn ảnh một phá sản tinh thần và truyền thống đang đe dọa lớp thiếu niên vừa lớn.

Trách nhiệm của những người làm văn hóa, như anh bạn tôi đây, rồi sẽ rất nặng nề. Tôi gửi đến anh những dòng này, như lời cầu kiên nhẫn cũng như ông cha ta khi còn mang tên Giao Chỉ đã kiên nhẫn mở mang bờ cõi từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cũng như thiên hạ bây giờ vẫn kiên nhẫn chen nhau mua xe gắn máy, mua sữa, mua đường, kiên nhẫn chen nhau lên xe buýt, chen nhau đi coi chớp bóng ở Lê Lợi và lời chúc thành công. Để ít ra tôi còn được thưởng thức thịt chuột rang với lá chanh tươi thái chỉ rối một lần nữa trong đời.

NGHIÊM SỸ TUẤN

[Trích Thung Lũng Hoàng Hôn, Nxb Y Tế 2002]

Bầy Sư Tử Lãng Mạn

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Bài 9

– Tại sao em chống đối quản giáo?

– Yêu cầu anh tôn trọng nội quy của trại!

– Thằng nhãi ranh hỗn láo, tao đáng tuổi bố mày mà mày dám gọi tao là anh, hả?

– Tôi yêu cầu anh tôn trọng nội quy.

– Nội quy của can phạm, không áp dụng cho cán bộ.

– Anh cần tôi đọc không?

– Được, tao thua mày.

– Tù gọi cán bộ bằng anh xưng tôi. Cán gọi tù bằng anh xưng tôi. Tù gọi tù bằng anh xưng tôi, bất kể già trẻ, lớn bé. Nội quy dán ở cửa phòng, anh cần nghiên cứu. Cách mạng dạy sao, tôi học vậy. Tôi gọi cụ Diên 80 tuổi là anh Diên, cụ ấy không phản đối. Hay cụ ấy là tù yên phận, còn anh là cán bộ anh hách xì xằng? Muốn gọi tôi là mày, xưng tao thì bảo cách mạng sửa lại nội quy đi!

– À, gớm nhỉ?

– Chả gớm gì hết, đây chỉ triệt để thi hành nội quy.

– Tại sao chống quản giáo?

– Chống bao giờ?

– Ăn nói lễ độ.

– Anh trống không thì tôi cũng trống không!

– Tại sao… anh chống quản giáo?

– Tôi không chống, tôi không ăn cơm vì cơm đầy thóc.

– Anh còn nói gì?

– Tôi nói cách mạng nuôi tù tệ hơn nuôi gà.

– Anh sách động cả phòng không ăn cơm. Tuyệt thực, hả? Định làm loạn hả?

– Tại sao anh đánh giá tôi cao tít trời xanh vậy? Nhãi ranh mà sách động được người lớn à? Cách mạng sáng suốt, anh thì tối mò.

– Mày dám…

– Ê, yêu cầu áp dụng nội quy.

Cai ngục muốn bợp tai thằng nhãi ranh này quá. Mặt mũi thằng nhãi câng câng, dễ ghét. Giá nó can tội móc túi thì nó đã ăn đòn rồi. Đàng này nó lại là can phạm chính trị! Bợp nó, nó tru tréo lên phiền lắm. Rồi nó tố cáo với chấp pháp là đàn áp nó, càng rắc rối. Cai ngục Bàng đành chịu lép vế. “Thằng nhãi khốn nạn, mày nghiên cứu nội quy kỹ hơn cả bố mày”!

– Tôi cho anh hai tờ giấy, về phòng làm kiểm điểm.

Thằng nhãi nhún vai rất đểu:

– Không ăn cơm đầy thóc thì thôi, kiểm điểm cái gì?

– Không ăn là tuyệt thực.

– Tôi không tuyệt thực.

– Anh đã không ăn cơm.

– Tôi chỉ… nghỉ ăn thôi. Chiều nay, cơm còn thóc, tôi nghỉ ăn nữa.

– Anh phải làm tự kiểm.

– Tôi không làm.

– Không làm là chống đối đảng và nhà nước.

– Ngon vậy à? Anh xác nhận tôi chống đảng à?

Cai ngục nghiến răng, đập bàn cái rầm:

– Thôi, cút về phòng!

Thằng nhãi cười:

– Về thì về. Khi không gọi lên rồi đuổi về. Bộ thế là… giáo dục can phạm, hả?

Cai ngục đưa nó về phòng, mở cửa đẩy nó vào. Hắn xô cửa thật mạnh để trút nỗi tức giận. Cai ngục đi khỏi, thằng nhãi bi bô:

– Nó thua cháu rồi, các bác các chú ạ! Cháu sẽ chơi nó lên chấp pháp.

Cả phòng khen thằng nhãi:

– Mày bảnh lắm, Năm. Các bác không dám nhúc nhích…

Năm. Thằng nhãi tên là Năm. Trong lý lịch của nó ở nhà tù, nó khai: Trần văn Năm, 15 tuổi, bị bắt ngày

10-6-1976, can tội phản động!

Hôm nó mới vào phòng 5C1, nó đeo cái bị cói, ngơ ngác nhìn mọi người.

Trưởng phòng hỏi nó:

– Em can tội gì?

Thằng Năm phưỡn ngực đáp:

– Chính trị!

Cả phòng cười vang. Năm đỏ mặt. Nó bị chạm tự ái. Nó ngẩng mặt ra dáng nhà chính trị:

– Nhóc con không thể làm phản động được à? Người lớn việc lớn, người bé việc bé.

Khẩu khí của nó khiến mọi người hết dám chế nhạo nó. Cả phòng giúp nó treo bị, lo chỗ nằm cho nó. Người ta biết ngay “thân thế và sự nghiệp phản động” của Trần văn Năm sau đó. Nó kể rất chân thành và giản dị. Trần văn Năm không biết bố mẹ nó là ai. Nó lớn lên ở cô nhi viện, vậy má nó là các bà Phước. Má nó dạy nó học, thương yêu nó và vẽ cho nó một tương lai khi nó rời cô nhi viện. 30-4-75, cách mạng vào Sài Gòn. Người ta giải phóng các viện cô nhi, đuổi các bà Phước, các ni cô và trẻ em ra đường phố. Năm biến thành đứa trẻ lêu bêu. Nó lang thang vỉa hè. Người ta lùa trẻ con vỉa hè đi lao động ở các trại tập trung cải tạo, Năm lẩn trốn. Thế là nó hết nơi nương tựa. Tự nhiên, đời sống đang êm đềm và đang mơ ước bị cuốn xoáy, dạt trôi. Thằng bé mồ côi ngỡ ngàng trong thác lũ cách mạng. Lý lịch của nó trở nên mờ ám. Chế độ mới khu trừ nó. Nó vừa tự mưu sinh vừa né tránh. Chẳng bao giờ nó có thể gặp lại các ma sơ. Năm thèm trở về cô nhi viện. Nơi chốn ấy vô cùng ấm áp. Nhưng nơi chốn ấy đã được cách mạng giải phóng. Năm hết đường về. Ngày kia, một thằng bé đánh giầy lẩn trốn như Năm bảo Năm rằng, mày muốn về cô nhi viện, muốn gặp lại các má nó thì phải “chơi” cách mạng. “Tao cũng muốn có một vỉa hè tự do của tao ngày xưa”, thằng đánh giày nói. “Chắc muốn vậy, tao nên nhận lời mấy ảnh”. Thằng đánh giày dẫn Năm đi tìm mấy anh Phục Quốc. Mấy anh giao công tác rải truyền đơn cho thằng đánh giày và Năm. Đi với thằng “giang hồ vỉa hè”, Năm dạn và học thêm nhiều bài học sáng giá. “Muốn về cô nhi viện phải đánh tan Cộng sản”. Năm chỉ còn một lối đi. Đời sống hiện tại truy lùng nó, nó tìm kiếm đời sống khác. Rồi Năm bị bắt, trong giỏ của nó đầy truyền đơn đả đảo Cộng sản. Thoạt đầu, nó nằm ở nhà tù quận 2. Mấy anh Phục Quốc cưu mang nó, phả vào tâm hồn nó ý chí chiến đấu và lòng tin tưởng. Năm chẳng có gì để sợ hãi. Nó tiến tới vùng vằng, kiêu ngạo. Ít ra, nó đã biết yêu nước và làm lợi ích cho nhiều người.

– Năm! – Một người tù gọi nó.

– Dạ. – Năm thưa.

– Cháu định làm to chuyện thật à?

– Con bà Phước là hết sợ ai, chú ạ! Chiều nay các chú đừng ăn là cháu nổ.

– Đồng ý.

Buổi chiều, cơm vẫn đầy thóc như buổi sáng. Nhãi ranh phản động Năm lãnh đạo cả phòng chê ăn. Nó đặt miệng vào chấn song cửa, hét lớn:

– Báo cáo cán bộ, tôi cần gặp cán bộ chấp pháp Dần!

Nó báo cáo ba lần. Chấp pháp Dần ngồi ở văn phòng đầu dãy nhà khu C1, đi tới.

– Ai báo cáo?

Năm dơ tay:

– Thưa chú, tôi.

– Có việc gì?

– Cơm đầy thóc tôi không nuốt nổi.

– Đã báo cáo quản giáo chưa?

– Thưa chú, buổi sáng đã báo cáo. Quản giáo Bàng gọi tôi ra làm việc, chửi tôi hỗn láo, bắt tôi làm kiểm điểm.

– Đưa cơm xem nào!

Năm đưa ca cơm của nó qua chấn song cửa. Chấp pháp Dần bốc nhúm cơm xem xét.

– Đưa ca cơm khác.

Chấp pháp Dần kiểm soát năm ca cơm rồi bảo can phạm đổ hết cơm vào thùng nhựa lớn. Ông cho gọi quản giáo Bàng, trưởng khu C1.

– Đồng chí cho người ta ăn thế này sao?

Quản giáo Bàng nói:

– Trách nhiệm của quản lý cấp dưỡng không phải của tôi.

– Đồng chí chưa báo cáo ban cấp dưỡng.

– Tôi chưa nắm vấn đề.

– Can phạm Năm đã báo cáo đồng chí buổi sáng rồi mà.

Quản giáo Bàng ngậm miệng. Hắn nhìn nhãi ranh phản động bằng cặp mắt thù hận.

– Tôi yêu cầu đồng chí can thiệp với cấp dưỡng đổi thực phẩm thay thế khẩn trương.

Thực phẩm thay thế: Một thùng nước sôi và mỗi can phạm một gói mì ăn tạm. Hôm sau, cơm hết thóc. Cán bộ cấp dưỡng đến từng phòng hỏi xem cơm còn thóc không. Quản giáo Bàng bị thuyên chuyển. Cai ngục gian ác sang bên Chí Hòa. Chấp pháp Dần biểu diễn quyền uy và đóng kịch nhân đạo của đảng. Nhãi ranh phản động tuyên bố một câu hay ho: “Mình dùng việt Cộng đánh việt Cộng các chú, các bác ạ”! Phòng giam yêu mến Năm lắm nhưng sợ sự bạo mồm bạo miệng của Năm nhiều. Giám thị trại ghét Năm cay đắng. Chấp pháp Dần bênh nó. Năm lợi dụng chấp pháp để coi thường cai ngục. Chấp pháp Dần muốn tha Năm. Ông ta đã nghiên cứu hồ sơ của Năm. Khổ nỗi, tha Năm, chẳng biết Năm sẽ về đâu. Nó tứ cố vô thân. Đưa nó đi cải tạo với bọn trẻ vỉa hè là hợp nhưng Năm lại thuộc thành phần can phạm chính trị. Hội đồng chấp pháp họp phiên chót đưa ra một quyết định rất phù hợp đường lối của đảng: Lý lịch Trần văn Năm mù mờ, can phạm do Thiên chúa giáo đào tạo, y theo tổ chức Phục Quốc phá hoại đảng ta, đợi khi đủ 18 tuổi, cho đi cải tạo với các can phạm chính trị khác! Chấp pháp Dần không dám có ý kiến nữa.

Nhãi ranh phản động Trần văn Năm không hề biết đảng Cộng sản việt nam đánh giá nó là người của Vatican! Và đảng Cộng sản việt nam thì quên khuấy giáo điều của sư tổ Lénine: “Kéo dài thời gian cải tạo là hun đúc lòng căm thù của tù nhân”. Năm càng lớn càng thù hận Cộng sản. Một hôm, người tù chính trị lớn tuổi ngồi tâm sự với Năm chuyện Phục Quốc.

– Em biết chị Nguyễn thị Lan không?

– Cháu không biết.

– Có nghe nói về chị ấy không?

– Dạ, không ạ!

– Chị ấy là học sinh trường Lê văn Duyệt, hoạt động Phục Quốc rất hăng.

– Chị ấy bao nhiêu tuổi?

– Mười tám.

– Hơn cháu ba tuổi.

– Cộng sản bắt chị ấy, bịt mắt chị ấy đem ra bãi bắn xử tử.

– Nó giết chị Lan?

– Ừ. Trước khi chết, chị Lan hô to khẩu hiệu “Việt Nam muôn năm”!

Trần văn Năm run rẩy toàn thân. Nó nắm chặt hai bàn tay lại, rên rỉ:

– Ước gì cháu được là chị Lan…

Người tù vỗ vai Năm:

– Em phải sống để trả thù cho chị Lan chứ?

Năm gật đầu lia lịa:

– Vâng ạ, vâng ạ…

Người tù đã bịa chuyện người nữ phục quốc lên đoạn đầu đài. Ông ta không dè phản ứng của Năm mãnh liệt thế. Từ đó, người tù coi Năm như con, dạy dỗ Năm, chỉ dẫn Năm những điều cần thiết trên bước đường tù đày. Rồi, như mọi tù nhân khác, Năm bị chuyển phòng dài dài. Nó ở đủ bốn khu đề lao Gia Định. Nó đã gặp Đặng Hữu Trí, Lê văn Nam, Nguyễn Bảo Châu, Ngô Tỵ, Đặng Cơ Bản… Nó phục Đặng Hữu Trí sát đất. Đặng Hữu Trí kể nó nghe chuyện Đinh Vượng, Hoàng Sơn Trường… Năm thấy nó chưa đi đến đâu cả. Nó cần ghê gớm hơn thì mới trả thù cho chị phục quốc Nguyễn thị Lan được. Nó, Trần văn Năm, thằng bé mồ côi bị tống ra vỉa hè, bị truy lùng đến nỗi chạy lạc đường vào lịch sử. Nó vô tình làm lịch sử rồi nhiệt tình làm lịch sử. Không hiểu nên đặt nó là biểu tượng của cái gì. Nhưng ở khúc quanh của lịch sử dân tộc, một thằng bé vỉa hè đòi đi làm lại đất nước thì cũng đáng để cho những nhà ái quốc lưu vong, những con chuột ghẻ còn cố giành nhau gặm nhấm cái bức dư đồ đã rách bươm xấu hổ. Và nếu mắt thế giới đã sáng thêm một chút, họ sẽ tự hỏi lương tâm họ: Đến nỗi ấy cơ à, một thằng bé mồ côi vất vưởng cũng phải chống đối Cộng sản đòi quyền sống cơ à? Bây giờ thì Năm là một biểu tượng tuyệt diệu: Biểu tượng của kẻ khố rách áo ôm chống chủ nghĩa vô sản, chủ nghĩa của kẻ khố rách áo ôm! Nghĩ cũng hay, thằng bé xuất viện mồ côi đi làm lịch sử ngay trên những vỉa hè oan nghiệt, đắng cay của quê hương nó. Còn những ông đại đức, những ông linh mục thì lại di tản, vượt biên lập chùa, lập nhà thờ để cầu nguyện vẩn vơ, để phô trương thanh thế, để lấy vợ đẻ con và để buôn bán.

Trần văn Năm gần gũi Chúa Giêxu. Biết đâu chừng nó sẽ trở thành một Đấng Cứu Thế mới của dân tộc nó và của nhân loại. Hiện thời nó đang ước ao. Người công an chấp pháp tên Dần không hiểu nổi nó. Có lẽ, đảng Cộng sản đã hiểu nó. Mỗi năm, người ta đối xử với nó một khác. Mỗi năm, người ta nhìn nó một khác. Nhà tù là cơ hội sáng giá đối với Trần văn Năm. Dần dần, nó thấm thía đời sống. Nó biết kính trọng và biết khinh bỉ. Nó biết yêu thương và biết hận thù. Ba năm lưu lạc đề lao Gia Định, Năm đổi lốt niên thiếu. Nó cơ hồ con cua lột. Cái vỏ nhũn mềm đã rắn chắc và đôi càng của nó nguy hiểm. Một thằng nhóc mồ côi, thông minh, ngoan ngoãn, được một làn gió lạ thổi vào tâm hồn, được bao nhiêu tù nhân người lớn chỉ dẫn, gặp bao nhiêu sư tử lãng mạn, tất nhiên, nó đã là sư tử ra ràng đúng dáng dấp sư tử.

Một buổi sáng tháng 11 năm 1978, chấp pháp của sở công an thành phố gọi Trần văn Năm làm việc.

– Anh có biết anh can tội gì không?

– Biết chứ.

– Tội gì?

– Phục quốc.

– Anh mà cũng đòi phục quốc? Cái mặt anh cũng phục quốc à?

– Cái mặt tôi không phục quốc, mặt nào xứng đáng phục quốc? Dĩ vãng tôi thơm tho, hiện tại tôi thơm tho, tôi sẽ làm được tương lai thơm tho cho mọi người.

Chấp pháp sững sờ. “Nó không còn là thằng bé mồ côi rắc truyền đơn nhảm nhí nữa”. Người ta muốn gặp nó năm 18 tuổi xem thái độ của nó ra sao để tha nó về. Về rồi, nó sẽ vào thanh niên xung phong hay đi bộ đội. Bướng bỉnh nữa thì đi nông trường, công trường. Thế này là hỏng. Tư tưởng nó đã diễn biến không đúng ý muốn chính sách cải tạo.

– Anh muốn ở tù mãi mãi à? Ba năm chưa thấm à?

– Tôi còn muốn chết cho phục quốc nữa.

– Anh sẽ được chết.

– Tôi sợ gì chết.

– Anh sắp chết.

– Tôi mong.

– Nhưng chết từ từ, chết dần chết mòn.

– Sống mòn như các ông không hấp dẫn bằng chết mòn đâu!

Người ta kết thúc vụ Trần văn Năm. Hồ sơ của nó khép lại và thay bìa xanh bằng bìa đỏ. Chấp pháp của sở ghi hàng chữ lớn trên bìa: “Cải tạo thêm 12 năm”. Mỗi mốc của tù nhân là 3 năm. Trần văn Năm sẽ còn phải đi qua 4 mốc trên đường tù gian nan. Nếu nó thoát nỗi chết mòn sau khi qua 4 mốc thử thách, nó sẽ trở về năm 30 tuổi. Và lịch sử phải thay đổi với những người như Trần văn Năm.

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Chương 9

 Chẩn

Tháng ba bà già chết rét. Còn tháng hai thì sao? Ca dao tục ngữ không nói đến nhưng tù trại Khe Tối đã nếm trải. Từng dãy lán làm bằng dang, nứa, màu nâu xám, xỉn lại, như co ro tê cứng trong cái lạnh tháng Hai. Sờ đâu cũng thấy lạnh. Đụng đâu cũng thấy lạnh. Bao nhiêu áo quần phải mặc hết lên người cũng không đủ ấm. Chỉ một số ít có áo len hoặc áo mặc ấm, còn đa số giống như những cái giá móc áo quần di động. Những cái khăn cũ, áo lót, thì dùng để trùm đầu. Da tím bầm và mốc thếch. Nước mắt, nước mũi chảy thành dòng không ngưng. Hai má tóp lại, răng nhô ra, đôi mắt trũng sâu hoắm. Tối tăm và đờ đẫn. Toàn trại là những hình nộm halloween sống động. Vô cùng sống động! Ban đêm không thể ngủ, nhưng bụng thì đói, cồn cào xay xát. Trong lúc nầy thì “giá cả” một vài bi thuốc lào vô cùng cao. Có người nghiện, phải hy sinh gô coóng, hoặc nhín lại thức ăn để đổi thuốc. Càng đói, con người càng đâm liều với cơn đói. Vì đàng nào cũng đói rồi nên chạy tìm chút lãng quên khác trong hơi thuốc khi ngồi bên đống lửa. Dù lệnh của trại cấm tù đốt lửa, chỉ trừ hai ngọn đèn treo ở hai đầu lán, nhưng không còn cách nào khác để chống lạnh, chống đêm dài, chống đau nhức vì da các kẻ tay, kẻ chân đều bị nứt nẻ, chỉ còn có lửa! Đêm tăm tối, rừng núi thâm u với những âm thanh bí hiểm, năm bảy người ngồi co cụm vây quanh từng đống lửa hồng. Tiếng than nổ tí tách, thỉnh thoảng bắn ra những đóm đỏ cháy vèo như những ánh ma trơi. Quay mặt vào đống lửa thì lưng lạnh, quay lưng vào đống lửa thì mặt lạnh, nên tù phải xoay qua trở lại, nhưng làm cách nào thì đôi cánh tay áo cũng ướt vì phải quẹt nước mũi đang chảy liên tục mà bàn tay không còn khả năng để lau chùi. Mười ngón tay tê cứng không còn cảm giác cứ đưa sát gần lửa cho đến khi cảm thấy nóng, giựt bắn người trở lại, thì đã có mùi khét của thịt cháy và bỏng.

Toàn trại như một đạo âm binh, đêm đêm xuất hiện giữa rừng hoang với ánh lửa bập bùng, ma quái.

Đói và lạnh. Cái lạnh làm thêm đói và cái đói làm thêm lạnh. Đói lạnh đi liền với nhau, khắn khít với nhau. Đôi uyên ương nầy là nỗi kinh hoàng của tù. Đói lạnh đã làm tê điếng hình hài. Đói lạnh đã làm rã rời trí óc. Đói lạnh đã làm con người mụ mị. Khù khờ. Ngu ngơ. Đôi mắt không còn thần sắc. Mờ và đục. Bước chân xiêu vẹo. Cái lạnh trong văn chương, với mền bông, áo bông. Cái lạnh đẹp. Cái lạnh nên thơ. Cái lạnh để đứng nhìnhoa đào năm trước còn cười gió đông [1] là cái lạnh đài các, cao sang. Nhưng cái lạnh của tù đói, xương xẩu, da nứt nẻ, mốc thếch, áo quần không đủ mặc, là cái lạnh bị hành hạ thời nô lệ thời Trung cổ. Người nô lệ, dù sinh mạng nằm trong tay chủ, nhưng chủ bỏ tiền ra mua về để làm việc thì cũng phải cho cái ăn, cái mặc. Nhưng với tù đói thời đại Xã hội Chủ nghĩa thì khác. Họ không tốn tiền để mua nên không cần cho ăn, không cần cho mặc và phải lao động khổ sai cho đến chết. Còn sống, còn khổ sai. Chết đi thì tù khác lấy chăn chiếu của tù chết quấn lại, khiêng ra bìa rừng ngoài trại, đào huyệt chôn là xong.

Chẩn đói. Chẩn lao động quanh khu nhà bếp của khung. Chẩn vừa làm, vừa theo dõi. Bột mì nhồi nước, đập lại thành bánh và luộc. Những cái bánh luộc có màu trắng đục, đang bốc khói làm Chẩn thèm thuồng. Cứ tưởng tượng nhai được miếng bánh, vừa dai vừa bùi! Chỉ cục bột làm thành bánh, đơn giản như vậy thôi cũng đã thấy ngon tuyệt vời. Còn nước luộc bánh hơi sánh lại, bỏ thêm tí muối vào làm cháo… Chẩn biết nơi nào ông bộ đội anh nuôi cất giữ bánh để sáng mai phát cho các ông cai tù.

Buổi chiều sau xuất sắn ăn tối, Chẩn đi dạo ngoài sân. Chẩn đếm từng cây trụ hàng rào. Ghi dấu trong đầu nơi nào hàng rào có khe hở, có thể chui lọt qua được. Đêm không trăng sao như đêm nay sẽ thuận tiện cho việc chui rào, mò đến khu nhà bếp bộ chỉ huy. Ông chín ngón và bộ chỉ huy biết núi rừng ở đây tù không thể trốn thoát, nên hai lớp hàng rào nứa là ngăn trở khó vượt qua đối với tù thường, nhưng không khó lắm đối với tù quyết tâm trốn trại. Tù cũng biết như vậy. Chẩn có kế hoạch trong đầu và quyết thực hiện một mình. Vào khuya, trời tối đen như mực nhưng Chẩn đã định hướng nên tìm được chỗ bò ra khỏi trại. Men theo hàng rào một đoạn, rồi rẽ xuống con mương và bò vào hàng rào nhà bếp khung. Đêm thật yên. Chỉ có tiếng côn trùng và nhịp tim đập của Chẩn. Hai cánh cửa tre được cái khóa dây loại khóa xe đạp khóa lại. Chẩn kéo cánh cửa ra và nhờ cái nền nhà cao hơn bên ngoài tạo một cái khe hở vừa đủ để Chẩn nằm chui vào. Chẩn mò mẫm thật cẩn thận. Đây rồi cái chảo lớn đựng thức ăn, vì không có tủ. Chẩn phân vân, nên lấy bao nhiêu cái. Lấy nhiều thì chỉ một lần vì bị lộ, không thể tiếp tục lần khác. Đặt kế hoạch lâu dài, Chẩn quyết định chỉ lấy năm cái. Với số lượng ít như vậy thì hy vọng ông bộ đội anh nuôi không phát hiện, vì ít ra khi làm bánh mấy ông anh nuôi cũng phải làm dư ra một số để phòng hờ. Chẩn ôm mớ bánh bò trở vô trại an toàn. Chẩn kín đáo chia cho bọn Nghiêm ba cái, dặn phải tuyệt đối bí mật và ăn tất cả trong đêm, không để lại dấu vết.

Hai đêm sau Chẩn quyết định thực hiện chuyến thứ hai vì sợ mùa trăng non lại đến. Theo lộ trình cũ, Chẩn vào trong nhà bếp khung không khó. Lần nầy không phải là bánh mà là một chảo cơm còn ấm. Phải khó khăn Chẩn mới xới cơm sang cái túi nylon được. Chẩn đậy nắp son lại như cũ và mò trở ra cửa. Hai cánh cửa được đẩy ra và đôi chân Chẩn chui ra trước. Chẩn nằm ngửa, để bọc cơm trên bụng oằn người chui ra. Nửa thân người Chẩn vừa lọt được ra khỏi cửa thì ánh đèn pin chói sáng. Một chiếc dép râu đạp đè mạnh lên bụng Chẩn. Chẩn như ngộp thở. Kinh hoàng. Tiếng một ông bộ đội vang lên:

– Đéo mẹ, chúng không nói thẳng với ông nhưng tớ biết chúng nghi ông ăn vụng bánh. Bây giờ thì đã rõ rồi.

Ông gằn giọng:

– Con tới số rồi con ạ.

Chẩn kẹt giữa cửa, không thể nào tránh được những cú đá, những cú đạp trên nửa thân người phía dưới, chỉ cố xoay người nằm sấp xuống để chống đỡ trận đòn thù. Rồi lịm đi.

Chẩn tỉnh dậy khi thấy mấy ánh đèn pin chiếu thẳng vào mặt. Nhắm mắt lại trong giây lát, Chẩn biết tay chân mình đã bị trói chặt. Hơi đất ướt đập vào mũi. Miệng môi Chẩn đầy bùn đất và có vị mặn của máu. Chẩn không thể cựa quậy. Chẩn biết mình đã kiệt sức nhanh chóng.

– Nó tỉnh rồi, phải hỏi cho ra thôi.

Tiếng một ông bộ đội nào đó thật mơ hồ, dội đến.

Chẩn được kéo ngồi dậy, có thể họ đã dội nước cho Chẩn tỉnh dậy. Tiếng một ông bộ đội khác:

– Ai là đồng bọn ăn trộm với mày?

Quai hàm Chẩn cứng lại. Đầu óc tê dại. Chẩn không thể trả lời. Mấy ông bộ đội đổ về mỗi lúc một đông hơn. Một vòng người đằng đằng sát khí vây quanh Chẩn. Chẩn là con mồi cùng đường, đầy thương tích, đang giãy giụa giữa một bầy chó săn. Những móng vuốt, những răng chỉa nhọn đang diệu võ dương oai, sẵn sàng nuốt sống.

Chẩn lại ngất đi dưới những ngọn đòn thù.

Không biết bao lâu Chẩn mới tỉnh lại. Chẩn ngạc nhiên trước khả năng chịu đựng của cơ thể mình. Cha mẹ sinh ra, nuôi nấng, dưỡng dục, chỉ mong cho cơ thể con khỏe mạnh, nhưng trong lúc nầy tỉnh dậy càng sớm càng chịu thêm những ngọn đòn thù. Phải chi được hôn mê. Hôn mê và chẳng bao giờ tỉnh lại!

Con người khi đối diện với cái chết thường nghĩ tới gia đình. Chẩn cũng thế. Cái đầu tiên, Chẩn nghĩ đến mẹ. Mẹ đã một nắng ba sương, chứ không phải một nắng hai sương như ca dao, tục ngữ, đã mô tả về sự vất vả của một đời người bất hạnh. Mẹ Chẩn cũng như hàng trăm bà mẹ quê, tần tảo, nghèo nàn, tại miền Trung, cố nuôi con khôn lớn. Mẹ đã ra đồng từ tinh mơ, lúc sương sớm chưa kịp bủa vây. Những ruộng lúa, những vườn rau, công việc tất bật mẹ một mình gánh chịu. Bầy con mẹ, những bốn đứa đều còn thơ dại. Chồng bị giết chết trong một đêm hãi hùng năm 1965, khi mấy ổng tràn về! Từ đó mẹ yên lặng. Câm nín. Mẹ nhẫn nhục. Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân! [2] Sương chiền tản mạn, khói lam chiều cô đơn, u uất, mẹ cũng miệt mài với công việc. Gắng chút nữa. Gắng thêm chút nữa trời đang mát dễ làm! Cứ như thế, mẹ tự nhủ. Và ngày tháng trôi đi. Khi sương đêm buông xuống, mẹ đành ngưng việc để trở về nhà. Lúc đó mẹ lại chăm sóc cho từng đứa con. Cho Chẩn.

Chẩn nhận ra quang cảnh chung quanh đã khác. Ông chín ngón nét mặt lạnh lùng, đang nhìn Chẩn và hai ba ông bộ đội nữa. Họ đang quan sát Chẩn. Ông chín ngón sai mở dây trói chân cho Chẩn và đưa Chẩn đến văn phòng làm việc. Chẩn khập khểnh từng bước. Ông chín ngón và ông quản giáo Hương ngồi làm việc với mấy tờ giấy để trên bàn và cây đèn dầu có cái thông phong thật lớn. Chẩn được chỉ định ngồi trên ghế để dựa vào vách. Hai ông vệ binh đứng hai bên cửa ra vào.

Ông chín ngón đặt vấn đề:

– Anh thấy đấy, nếu không có sự hiện diện của chúng tôi kịp lúc thì anh đã chết rồi. Anh chết vì tội trạng anh đã rõ nhưng đó không phải là mục đích của cách mạng. Cách mạng bao giờ cũng khoan hồng và tha thứ, tạo điều kiện tốt để các anh làm lại cuộc đời. Bây giờ anh thật thà khai báo vẫn còn kịp. Có những ai trong toán của anh đã âm mưu đầu độc chúng tôi?

Chẩn bất ngờ trước câu hỏi. Chẩn nghĩ, có thể sau mấy lần ngất đi tỉnh lại nên nghe và hiểu không đúng với ý nghĩa câu hỏi của ông chín ngón. Chẩn yên lặng và vẫn gục đầu xuống. Ông chín ngón ôn tồn lặp lại câu hỏi. Thật kiên nhẫn. Lúc nầy Chẩn cố gắng ngẩng đầu lên. Thều thào:

– Tôi đói. Tôi ăn cắp thức ăn. Chỉ có vậy. Tôi hoàn toàn không biết gì về việc đầu độc cả!

Chẩn gục đầu trở xuống.

Ông chín ngón chậm rãi tiếp:

– Tôi biết rõ âm mưu đầu độc chúng tôi của các anh, nhưng các anh chưa kịp thực hiện thì bị phát giác. Cho nên các anh giả vờ đánh lạc hướng bằng cách ăn cắp thực phẩm, chứ chút thực phẩm có đáng gì để trị tội anh?

Rồi ông tiếp:

– Các anh có một âm mưu lớn là đầu độc toàn thể cán bộ, cướp vũ khí và trốn trại. Anh ăn năn, hối cải, nhận tội vẫn còn kịp.

Chẩn biết đây là đòn độc. Ông chín ngón dùng ngón đòn nầy để giết Chẩn và chạy tội cho chính ông. Vì ông đã làm ngơ để bộ đội hành hạ Chẩn đến thân tàn, ma dại. Trung đoàn có đọc bản báo cáo thì chắc chắn khen ông chín ngón đã kiềm hãm được nóng giận, không rút súng bắn vào Chẩn trước tội lỗi tày trời của Chẩn. Ông chín ngón sẽ được khen. Vừa mẫn cán trong công tác, vừa chấp hành chính sách Đảng!

Ông quản giáo Hương đọc biên bản và bảo Chẩn ký vào. Chẩn không ký và lặp lại:

– Tôi chỉ ăn cắp vì đói. Chỉ có thế thôi.

Yên lặng kéo dài. Sau cùng ông chín ngón bảo ông quản giáo Hương viết thêm dòng cuối đối tượng vẫn ngoan cố không chấp nhận tội trạng dù đã được giải thích rõ ràng về sự khoan hồng của đường lối chính sách! Sau đó ông chín ngón nói lời cuối với Chẩn:

– Anh đừng lợi dụng tính nhân đạo của cách mạng mà ngoan cố. Không phải cách mạng không có biện pháp đâu.

Ông chín ngón đẩy ghế đứng lên. Ông ném một cái nhìn cho ông quản giáo Hương, rồi bước ra ngoài.

Đêm lạnh. Trời tối đen. Ông chín ngón châm điếu thuốc và rít một hơi dài. Ông vẫn nhớ tiếc ổ trứng gà của ông nhưng cơn giận của ông ít ra cũng giảm đi nhiều.

Đêm tăm tối, u uất. Bên trong căn phòng với ánh đèn mờ nhạt, vang lên từng tiếng thình thịch. Liên tiếp. Nhưng không nghe một tiếng người.

Buổi sáng ông quản giáo ra lệnh cho Nghiêm và Lân thu góp đồ cá nhân của Chẩn, đi theo ông đem ra cổng, vì Chẩn thuộc toán Nghiêm.

Nghiêm và Lân làm một cái cáng để khiêng Chẩn lên trung đoàn. Khi bước vào căn phòng, thấy Chẩn như một con vật đã chết, nhưng tay chân vẫn còn bị trói chặt. Nghiêm gọi:

– Chẩn…

– …..

– Chẩn. Nghiêm và Lân đây. Tụi tao sẽ khiêng mầy lên trung đoàn.

Như một đứa con liệt giường chợt nghe tiếng mẹ. Khuôn mặt dị dạng của Chẩn bắt đầu cử động. Mắt trái sưng húp. Tím bầm, không thấy được bên trong. Mắt phải đỏ màu máu. Môi trên sưng cao làm cái miệng bị méo đi. Từng mảng máu khô trên cằm. Trên râu. Vung vải trên áo. Cái quần ướt sũng và bốc mùi.

Nghiêm xin phép ông cán bộ để thay cho Chẩn cái quần khác. Ông cán bộ bỏ ra ngoài. Phải khó khăn và nhẹ tay Lân và Nghiêm mới làm được.

– Mày có nhắn gì lại cho gia đình thì suy nghĩ kỹ đi. Dọc đường đi đến trung đoàn mày cho tụi tao biết. Đây là bổn phận của những đứa còn sống sót trở về.

Dẫu đói lạnh, dẫu ốm đau, nhưng hàng ngày sáng sáng, chiều chiều cũng bị gậy ra vào cổng trại lao động với nhau. Sự thân quen trên từng lối đi về giờ đây sẽ là kỷ niệm. Ba chiếc bánh Chẩn trao cho bọn Nghiêm là sự tiếp máu cho nhau. Nhưng cái giá Chẩn phải trả một mình là mạng sống. Tình chiến hữu. Tình anh em. Tình tù. Bao nhiêu thứ tình xoáy quyện vào nhau, ràng buộc lấy nhau. Một con ngựa đau, cả tàu chê cỏ! Giờ một con đã ngã ngựa, nếu tìm được chút cỏ biết chia sớt cùng ai? Những mẩu chuyện trong ngày tháng tù chung lại hiện về. Chẩn còn độc thân vì bận chuyện hành quân khắp các vùng chiến thuật nên chưa kịp lấy vợ cho mẹ có cháu bồng, dù đó là ước ao của mẹ. Mẹ như cục than hồng luôn luôn làm ấm lòng và thêm nghị lực cho Chẩn trong những lúc khó khăn, cùng khốn.

Nghiêm khiêng phía sau nên nhìn Chẩn đầy xúc động. Mái tóc đen, tuổi chưa tới ba mươi của Chẩn, qua một đêm chịu đựng tra hỏi, hành hạ, không bạc trắng như mái tóc của Ngủ Viên [3] sau một đêm tìm kế thoát thân, nhưng cũng trở thành mái tóc bạc. Bánh xe thời gian chợt quay cuồng vội trong một đêm đen trước tuổi thanh niên của Chẩn.

Đến trung đoàn, khi chia tay Chẩn mới khò khè:

– Đừng kể chuyện này cho mẹ tao, vì sợ mẹ không chịu đựng nổi. Chỉ nói với mẹ là tao luôn luôn nghĩ đến mẹ. Mẹ là điểm tựa của tao trong giờ nguy khốn. Là hơi thở. Là từng nhịp tim của tao.

Chẩn ngưng lại giây lát. Rồi tiếp:

– Vĩnh biệt.

Khuôn mặt chai sạn và lì lợm của Lân chợt run lên:

– ĐM. Giá như tao khóc được!

[1] Đào hoa y cựu tiếu đông phong, thơ Thôi Hiệu, Tản Đà dịch

[2] Chinh phụ ngâm

[3] Ngủ Tử Tư, một nhân vật trong Đông Châu Liệt Quốc

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 4 Jan 2026

Bài 7

NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA THIỆN CHIẾN

LTS: Nhà văn Phan Nhật Nam, sau khi thoát khởi những ngày tù ngục đen tối ở quê nhà, sau những đón tiếp ồn ào náo nhiệt của đồng đội, thân hữu và độc giả khắp nơi …. Anh đã bắt đầu thấm “đòn … Tự Do”. Xuất hiện trong một buổi hội thảo chính trị, sinh hoạt nội bộ của Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt tại Houston, Phan Nhật Nam đọc bài thuyết trình một đề tài do anh soạn từ đồng thuận của Ban Chấp Hành, Hội Đồng Tư Vấn gồm các niên trưởng của anh trong vùng Houston.

Do tính nhậy cảm của một số cựu sinh viên sĩ quan, những người đi từ 1975, “ở lâu”nơi đất Mỹ, không đồng ý với cách” ẩn dụ tượng trưng”của phần dẫn nhập bài thuyết trình, cũng như một vài ý kiến “giải thích”về thân bài, đã chỉ trích dẫn “vài câu này, nọ- Không nằm trong văn bản”mà không lý hội gì đến nội dung toàn bài văn (SỨ MẠNG NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM, Từ trang 78-150, MĐGL), thêm tiếp tay “đánh hôi” của một vài tờ báo quảng cáo thương mại địa phương – Việc đả kích nhà văn Phan Nhật Nam khởi sự và lan khắp những nơi có đông Người Việt cư ngụ, chủ yếu là Houston, TX và Quận Cam, Cali.

Cách đây không lâu, trong một cuộc phỏng vấn với tờ New York Times, mà trong đó người ký giả phong vấn Phan Nhật Nam nêu lên một điểm đáng chú ý: “Ông đã sống sót 14 năm trong chiến tranh và kế đó là 14 năm trong ngục tù Cộng Sản. Liệu ông có sống sót được trong đời sống xã hội này hay không?”. Không hiểu khi nêu nghi vấn này, người ký giả kia muốn nói tới xã hội Hoa Kỳ hay cộng đồng Việt Nam trong xã hội Hoa Kỳ?!.Người Việt trích đăng một bài về những dư luận xoay quanh Phan Nhật Nam. Bài của Lính Chiến, một chiến hữu cùng xuất thân Trường Võ Bị, chung đơn vị Nhảy Dù, cũng một lần tù ngục Trại 5 Lam Sơn, Thanh Hoá với anh. Bài viết của một nhà văn có “tăm tiếng” Kỳ Văn Nguyên đã mở đầu bằng những lời tuyên bố: “thương hại cho vô vàn văn, thi sĩ vì cơm áo và đời sống bản thân mà phải làm văn nô cho “Cộng Sản,” và ông lại “thực sự khinh miệt những kẻ nào” đã một thời đề cao chính nghĩa quốc quốc gia, ca tụng người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa” trong “nhiều” vụ chống lại cộng sản xâm lăng miền Bắc”.

Sau khi trích dẫn một cách vắn tắt để khỏi làm mất thì giờ của quý vị độc giả và tiết kiệm giấy mực tòa báo, Lính Chiến tôi lại còn cẩn thận gạch dưới những hàng chữ: “thương hại cho (cho đến đoạn) … văn nô cộng sản” và “khinh miệt những kẻ (cho đến đoạn) … chống lại bọn xâm lăng Miền Bắc” và phần nội dung nghiêm khắc lên án PNNam là đã bị cải tạo tư tưởng triệt để đến nỗi bây giờ đang ở đất tự do vẫn còn sợ CS. Sau đó để biểu lộ sự phẫn nộ tột cùng với “kẻ phản bội (PNN)” của tác giả bài viết, Lính Chiến xin kể lại nhóm chữ “ông ta đã bán rẻ linh hồn cho quỷ sứ, bản chất ông rất xấu xa, phản phúc, nham hiểm, đểu cáng”. Đồng thời tôi cũng cần lập lại những “lời của Kỳ Văn Nguyên nhắn các cựu tù nhân chính trị” rằng: “Từ ngày các anh thua trận phải đi học tập cải tạo, dưới sự giáo dục của Đảng và Nhà Nước, các anh phải đấu tranh liên tục với chính bản thân, phải tự lột xác, để từ một kẻ phản quốc có nợ máu với nhân dân, trở thành một người lao động khổ sai mới được hưởng sự khoan hồng của Đảng.” Hoặc là … “Các anh … vẫn cứ phải tuân theo những lời Đảng chỉ dạy. Dư luận thế giới đã bỏ quên các anh rồi, không còn ai biết đến các anh là người chiến sĩ Cộng Hòa nữa đâu mà ham!”. Tôi “có thể hiểu và có quyền hiểu rằng”, KVN ấy chỉ mượn cớ chỉ trích PNN để “thành khẩn” làm cái điều mà bọn Cộng Sản Việt Nam “thực sự muốn làm”, nghĩa là muốn lợi dụng sự việc KVN sẵn sàng nổi nóng và chửi rủa ngay không tiếc lời (đối với PNN), để chửi thẳng vào mặt những người Chiến Binh Cộng Hòa chúng tôi, nhất là đoạn văn ông ta dùng để cáo buộc PNN: “Ông ta dùng một thủ thuật rất ư là xảo quyệt” khi “mập mờ đánh lận con đen”, dùng khổ nhục kế mà chửi tập thể Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: “là một tập thể quân đội đã bị thua trận, thân làm kẻ chiến bại, mãi đến tận ngày hôm nay vẫn là kẻ thua trong trận chiến 1975. Không cần ai vinh danh chúng tôi cả, khi chúng tôi chưa làm tròn nhiệm vụ …”. Tại sao lại không vinh danh được những vị tướng đã LINH THIÊNG VONG THÂN TUẤN QUỐC, những sĩ quan anh hùng nêu cao khí tiết sĩ phu ngay tại pháp trường, trước mũi súng tiểu đội hành quyết? Có phải vì họ “đã thua trận” và “vẫn còn thua trận” theo cách hiểu “ma giáo để sỉ nhục quân đội Việt Nam Cộng Hòa” của ông “cựu nhà văn quân đội KVN” nói trên? Chẳng lẽ bao chiến công anh hùng, bao tấm gương oanh liệt của một thời nào chúng ta cùng hiên ngang đứng dưới Ngọn Cờ Vàng, hãnh diện làm những người trai thời chiến xông pha đạn bom bảo vệ tổ quốc, đều phải bị nhận chìm không bao giờ được nhắc nhở đến, vì chúng ta đã thất bại trong một trận đánh không công bằng? Rồi ông ta (KVN) sẽ nói sao với con cái chúng ta khi chúng hỏi về sự kiện 1975, sự kiện cả một quân đội kéo nhau vào các trại tập trung để bị đọa đầy, bị lăng nhục? Liệu ông có lại lăng nhục những trang thanh niên đã liều thân cứu nước nhưng đành bó tay buông giáo chỉ vì trời chẳng chiều người nên tài bất thắng thời?…

Thành thật xin quý vị độc giả và tác giả Kỳ Văn Nguyên thứ lỗi khi đã không nói trước rằng, tất cả đoạn bài viết trên đây chỉ là “một giả dụ,” và là “một giả dụ cố làm như thật” (như cách KVN hạ nhục PNN) để ông Nguyên may ra có thể cảm nhận và hiểu thấu nỗi phẫn nộ của người bị nhục mạ một cách vô lý là PNN, lẫn phần bực dọc của thành phần độc giả chúng tôi vì phải thưởng thức lối văn nghị luận chỉ dẫn dụ “một mặt, một khía cạnh”. Thật độc hại cho người “bị phê bình, PNN”, khi “người phê bình, KVN” đành đoạn làm lơ, cố tình quên rất nhiều điều khác trong toàn bộ tác phẩm. Và những ngôn từ nhục mạ được in nghiêng trong ngoặc kép ở đoạn trên cũng là “những gì của chính ông Nguyên”, đã được chúng tôi “dùng lại” để thử xem tác giả lúc bình tâm có nhận ra đó là chữ nghĩa của mình không: “Một người lớn tuổi, có giáo dục, lớn chức trong quân đội, đã là nhà văn tăm tiếng?!”. Khi xỉ nhục người khác, tác giả tất nhiên không cảm thấy bị xúc phạm như khi chính mình phải hứng chịu những lời lẽ đó. Như tổng thể một bức tranh nói lên một chủ đề hay gợi lên một cảm tưởng cho người thưởng thức, cho nhà phê bình nghệ thuật, phải được ngắm nhìn toàn diện, không thể đem cắt một phân vuông có màu đen để hô hoán lên rằng họa sĩ chỉ biết bôi đen cuộc đời. Cũng thế, nói về một nhà văn, ngay cả chỉ một tác phẩm, người nhận định cũng cần phải cẩn trọng đích thân nghe, đọc, nghiên cứu tường tận trước khi đặt bút phê phán, nhất là lại phê phán một cách quyết liệt bằng sự lăng mạ với những chữ nghĩa thô bạo nhất mà một người có học, có lương tri khó có thể nghĩ ra, viết nên. Tác giả Kỳ Văn Nguyên đã, “xây dựng nhận định của mình căn cứ trên một bài nhận định của một phóng viên nào đó về một bài thuyết trình của Phan Nhật Nam”, trong đó phóng viên kia đã “viết rõ ràng” rằng: “Phan Nhật Nam đã lệch hướng” vì theo ông phóng viên kia nhận định thì bài nói chuyện của ông Nam đã có những nội dung như thế này như thế khác, kết thúc bằng những chữ v .. v .. Những điều trình bày của PNNam đã được báo Xây Dựng, Houston “tóm lại” như trên, (không phải là nguyên văn lời nói, chữ viết của PNN), cũng đủ để tác giả Kỳ Văn Nguyên “kết luận” rằng, đó là luận điệu của một “cán bộ cộng sản … ” và ông phải “viết một đôi điều” chỉ vì Phan Nhật Nam là một người đã từng được “nhiều người mến mộ”. Có lẽ ý ông muốn cảnh tỉnh nhiều người khác đừng vì tăm tiếng sẵn có của ông Nam mà lầm mưu cộng sản!! Thật đáng ngạc nhiên khi một “cựu nhà văn quân đội tăm tiếng, từng trải”, một người chắc đã nhiều kinh nghiệm về truyền thông và chiến tranh chính trị, lại có thể chỉ do căn cứ vào những điều “kể lại” từ một loai phóng viên hạng ba, hạng tư nào đó của một thứ báo chợ địa phương nói về một bài thuyết trình (đúng ra là một bản tham luận chính trị, quân sự nghiêm túc, có tầm cỡ) được “tóm tắt” theo cách hiểu của nhà phóng viên kia! Bài viết “được” (đúng ra là “bị” một cách oan uổng và bất cân xứng) kết luận và lên án qua những kể lại lặt vặt về câu trả lời ngớ ngẩn, về điếu thuốc lá trong trại tù Cộng Sản … Những điều vụn vặt tầm phào nầy đã có thể khiến ông Nguyên “kết luận” ngay tức khắc về “bản chất” của nhà văn Phan Nhật Nam, khiến chúng tôi không khỏi liên tưởng đến bọn quản giáo Việt Cộng nói vanh vách như vẹt về cái được mệnh danh là “bản chất tay sai bán nước” của những người chiến sĩ quốc gia khi lỡ sa vào tay chúng, và ông Nguyên cũng “suy” ngay ra rằng: “Phan Nhật Nam đã bị cộng sản khuất phục, đã quên mất Đại Nghĩa, bỏ tất cả chí khí anh hùng của người chiến binh Cộng Hòa, bỏ mất cả lương tâm của người cầm bút, sẵn sàng bán rẻ linh hồn để lấy đô-la do “ai đó”‘ đưa ra mua chuộc !”

Người cầm bút ai cũng hiểu rằng “dịch là diệt”. Có người nói hơi quá đáng rằng đọc văn dịch đã là “uống nước bọt” của người khác, nhưng quả thật văn dịch dù có cẩn trọng đến đâu cũng ít nhiều mang dáng dấp cá tính, và có thể cả suy tưởng của dịch giả lồng vào nguyên bản, vì khi đọc một tác phẩm, mỗi người đọc có thể có một cách hiểu khác nhau tùy trình độ, cá tính, căn bản suy tưởng và căn bản đạo đức, tư tưởng chính trị, tôn giáo, xã hội. Trái lại, ở trường hợp nầy, chỉ căn cứ một bài “tóm tắt,” rồi một loạt “nhận định riêng” của một cá nhân (không được mấy bảo đảm phẩm hạnh, khả năng), được gọi là “viết rõ ràng như sau”. Tất nhiên, phóng viên nào đã chẳng viết ra mà không “rõ ràng”, kể cả “rõ ràng sai lẫn rõ ràng đúng”; nhưng lại căn cứ vào những cái của một “kẻ thứ hai chứ không là PNN” để “tái nhận định”, đặt trên nhận định của một người khác mà không quan tâm đến tiên kiến, thiên kiến, thiện cảm, ác cảm hay mưu đồ (có thể có) của kẻ thứ hai nầy, thì có lẽ còn đi xa hơn là đọc bản dịch. Nhưng đi quá xa hơn nữa là do cái máu Trương Phi của vị cựu sĩ quan chắc đã một thời quen lệch lạc sai phái chỉ thị, khiến ông vội mang một “tiên kiến vô cùng sai trái” đối với người bị phê bình, không được kể ra, nói đến một cách công bằng lương thiện. Tác giả Kỳ Văn Nguyên quá giận dữ vì ác cảm tiên khởi đó, nên đã chỉ lăm lăm quan sát Phan Nhật Nam qua chiếc lăng kính của sự nóng nảy tột cùng, biểu lộ bằng những ngôn từ nhục mạ thậm tệ mà một nhà văn từng trải, một sĩ quan Cộng Hòa lớn tuổi khó có thể nghĩ ra khi còn đủ bình tĩnh tình cảm, cân bằng lý trí và lương thiện trí thức. Thành thật mà nói, chúng tôi vẫn kính trọng sự nóng nảy phát khởi vì một lý do “có vẻ đầy chính nghĩa” như ông Nguyên đã biểu lộ, cũng như vẫn luôn kính trọng những người Quốc Gia cùng chung chiến tuyến, dù cung cách hành sử trước sự việc của họ có rất nhiều dị biệt và vì không phải ai cũng vạn toàn. Nhưng khổ nỗi, ông lại trút cơn thịnh nộ lên “một người được nhiều đồng ngũ biết đến như một trong những ánh đuốc leo lét thắp sáng niềm tin không hề tắt nghỉ của những người chiến sĩ quốc gia bất khuất kiên cường trong tay giặc”, niềm tin vào Chân Lý Chính Nghĩa mà rất đông những Người Lính chúng ta vẫn luôn chắt chiu ấp ủ sâu kín tận đáy tim trong những tháng năm bi thiết nhất của đời người.

Nếu bài này có vinh dự được KVN để mắt tới thì cũng xin ông khoan nổi giận đùng đùng mà đẩy luôn cả người viết bài này vào chiến tuyến “cộng sản” với Phan Nhật Nam. Mong ông đừng quá giận mất khôn đến nỗi “xô đẩy dân về phía Việt Cộng là tự sát,” ông Nguyên nhé! Nói như vậy không có nghĩa là tôi sẵn sàng bênh vực Phan Nhật Nam về những điều “được nghe nói rằng” anh đã làm. Chuyện đâu cũng còn đó. Chúng ta đã có kiên tâm và nhân ái chiêu hàng cả những kẻ thù từng bắn thẳng vào đồng bào quê hương ta, như chính sách chiêu hồi dẫu có đưa về một số cộng quân “ngụy hồi”, cũng đã từng giải trừ hằng sư đoàn địch, thì tại sao không thể ôn tồn chiêu dụ những người của chính chúng ta “mới được nghe nói rằng “có lẽ” sa chân, lệnh hướng,” mà cũng chưa kịp hại đến tinh thần hay vật chất của bất cứ ai trong cộng đồng hải ngoại nầy?

Sự kêu gọi lấy ngày 30 tháng Tư làm vinh danh “Người Lính Việt Nam” quả thật là một sơ thất hay một sai lầm chính trị khó dung thứ, nhưng xin đừng vội xô đẩy ngay người bạn cũ vào phía cộng thừ. Ta có thể phê phán gay gắt đến đâu cũng được trong chân tình và ngay cả trong sự nóng giận giữa những người quốc gia với nhau. Ai đó có thể gọi sở thất đó là ngây thơ hay ngay cả lập dị vì điên loạn, kiêu ngạo vì dại khờ, cũng vẫn là cãi vã đầy chân tình, vẫn là một cách uốn nắn thẳng thắn của những người vốn là chiến hữu, đã có nhiều lúc văng tục chửi thề với nhau, nhưng bởi đã cùng nhau nằm gai nếm mật, còn hơn là đẩy hẳn bạn ta sang phía thù nghịch một cách tức tưởi mà cũng không kém phần nông nổi. Bài viết của ông Nguyên Huy trên báo Sài Gòn Nhỏ về Phan Nhật Nam là một điển hình của một cây bút chừng mực, khoan hòa bao dung nhưng không kém phần sắc bén và thẳng thắn, đúng là tình cảm đồng đội tha thiết đậm sâu mà vẫn mang nỗi âu lo đầy tính thuyết phục, đã gây sự cảm mến và xúc động trong chúng tôi bao nhiêu, thì những lời lẽ nóng nảy của ông Nguyên (không có Huy!) đem lại thất vọng về một cây bút chính trị bấy nhiêu. Những “nhận định trực tiếp” của chính tác giả (không phải “tái nhận định” nấu lại từ người khác) ở một bài khác mà tôi có đọc qua, về những bài viết của Phan Nhật Nam, lại cũng gây ngạc nhiên không ít. Quả thật, cách dùng chữ của Phan Nhật Nam trong những bài viết gần đây cũng có chỗ thiếu khúc chiết, không còn là loại văn được gọi là “trong văn có lửa” như những ngày mùa hè năm xưa, mà còn lẩn thẩn với những nét huyền hoặc khó cảm thông. Quả là Phan Nhật Nam có thể bị coi là “chao đảo” do cái “tình thương” lập dị, kiểu nhân nghĩa rởm được phùng xòe quá đáng trong một số bài viết của ông. Nhưng những nỗi “bi thương có thật”, những xúc cảm có thật” trong toàn bộ văn chương ấy đã gợi lại cho người đọc những phút giây xúc động, gợi lại những hờn căm đã bao năm trường nung nấu chưa hề nguội tắt trong quay cuồng tù ngục năm xưa và quay cuồng sinh kế ngày nay. Những lời kêu “… anh lính cộng hòa ơi …” của người dân An Lộc trong cơn tuyệt vọng đã từng gợi lên trong lòng chúng tôi và những người bạn từng cầm súng ra vào nơi khói lửa đau thương ấy những thống thiết xót xa của hai chữ trách nhiệm rền rĩ, đồng thời cũng như một xác quyết của dân tộc Việt rằng VỊ QUỐC AN DÂN là điều chúng ta, vàchỉ chúng ta, những người Chiến Sĩ Cộng Hòa, phải giương vai gánh vác. Và người dân đã xác nhận điều ấy trong cơn tuyệt vọng khốn cùng, chỉ còn biết kêu lên “anh lính cộng hòa” như tận trong tiềm thức, như từ một niềm tin sâu kín, họ vẫn tâm niệm rằng đó là người che chở bảo vệ cứu vớt họ. Người Lính Cộng Hòa nào đã từng cầm súng xông pha chiến trận mà không cảm thấy niềm hãnh diện pha lẫn đau xót cay đắng khi không còn cách nào làm tròn sứ mạng vị quốc an dân. Nhưng ông Kỳ Văn Nguyên cảm thấy đó là sự “đổ vấy trách nhiệm cho Người Lính Cộng Hòa” về sự khổ đau của dân chúng là điều khó hiểu. Nói về tên lính cộng sản thản nhiên khai hỏa trái mìn giết dân, theo chữ nghĩa của PNN, tôi cảm thấy những lời văn mô tả sự thản nhiên đó lại chính là bức tranh đen trắng không tô màu, vẽ lại trọn vẹn chân dung những kẻ vô thần, vô hồn, những thây ma mà linh hồn đã bị lấy mất đi để bị sai khiến làm những điều tàn ác một cách vô thức-Vô thức đối với lương tâm bình thường của một con người bình thường trên quả đất. Còn lời mô tả một tên Cộng Sản nào có thể chân xác hơn hình ảnh đó? Hay là ta cứ phải bắt các nhà văn hô to khẩu hiệu chống cộng, viết văn tố cộng thật rõ rang để cho đa số quần chúng hiểu được, vì e rằng quần chúng không đủ trình độ cảm nhận những lối diễn tả gián tiếp, gợi nhiều suy gẫm, có tác dụng sâu đậm hơn là những lời nguyền rủa ầm ĩ? Một văn nô viết theo chỉ thị sẽ buộc phải viết đoạn văn đó như sau: “Tên Việt Cộng mặt mũi dữ tợn, đúng là một kẻ uống máu người không tanh, lăm lăm trên tay bộ phận kích hỏa của trái mìn giết người do Nga Xô việt trợ, hí hửng chờ chiếc xe đang chạy lại càng lúc càng gần. Mắt nó đỏ rực như mắt loài chó dại. Chiếc xe vừa chạy đến đúng chỗ hẹn của tử thần là kẻ giết người tàn ác kia sung sướng cười ha hả cho nổ trái mìn. Một tiếng nổ rùng rợn vang lên rền rĩ khắp khu rừng. Tiếng người già, con trẻ kêu khóc trong mùi xăng dầu và da người cháy khét vang cả một khoảng không. Tên Việt Cộng đứng thẳng người lên, hân hoan tay giơ cao nắm đấm và hô vang “Hồ Chủ Tịch muôn năm; Đả đảo bọn Mỹ Ngụy vừa bị trừng trị đích đáng!!” Hắn quả là một kẻ vô thần tàn ác nhất trên đời, chúng là một cái máy giết người không hề biết suy nghĩ, chỉ làm theo những gì đảng cướp của chúng ép phải làm. Chúng ta cần suy nghĩ và học tập về câu chuyện này để hiểu Cộng Sản là tàn ác bất nhân và phải căm thù chúng, phải căm thù chúng đến đời đời con cháu mai sau!!! “Tôi chắc rằng ông Nguyên cũng không ưa nổi loại tả chân rẻ tiền kiểu đó, dù rằng kiểu văn tuyên truyền như vậy (hẳn ông đã từng thực hiện qua chức vụ hoặc trong những “tác phẩm” nào đó của ông trước đây), cũng vẫn có thể làm một số người thỏa mãn lòng căm thù Cộng Sản.

Nhưng đối với rất nhiều người khác, nhất là những người trẻ chưa hiểu được bộ mặt thật của Cộng Sản, và những người trẻ sớm được hưởng cuộc sống tự do công bằng hạnh phúc ở xứ văn minh như Hoa Kỳ này, nơi mà nhiều người dân không thể tin được trên đời có thể có những kẻ tráo trở gian manh như Cộng Sản Việt Nam, thì e rằng tác dụng tuyên truyền lại trở thành một trò cười tầm phào mạt hạng. Y như học sinh miền Nam đã thật thà hỏi thầy cô giáo về một đoạn thơ Tố Hữu viết kể đặc công Nguyễn Văn Trổi lúc ở pháp trường đã bị trói quặt tay ra sau lưng, bịt mắt, bịt miệng thật chặt mà vẫn có thể dơ tay hô lớn “Hồ Chủ Tịch muôn năm!? “.

Hoặc sẽ có tác dụng giống như màn diễu dở trong đoạn văn, kịch tả Võ Thị Sáu ra pháp trường còn dừng lại ngắt hoa ven đường cài lên mái tóc! Các nhà văn của chúng ta không viết theo lệnh, không viết theo đơn đặt hàng nên chúng ta có tác phẩm được lưu truyền cho hậu thế, trong khi miền Bắc suốt bao năm chìm ngập trong bóng đêm xã hội chủ nghĩa kiểu cộng sản không hề có được một tác phẩm văn học thực sự. Ta nên bắt chước kiểu văn học Việt Cộng chăng? Có phải vì đường lối văn hóa nghệ thuật có chỉ huy đó mà chúng đã thắng trận đánh 1975? Ta có phải làm đúng như chúng về mọi điều mọi việc thì mới thắng lại được chúng không? Sự thắng trận 1975 của Việt Cộng cùng những điều chúng ta hiểu biết về Cộng Sản Việt Nam qua bao năm trường tù đầy có cần được xem là những điều cần học hỏi và rập khuôn như là tấm gương của kẻ thắng trận chăng? Nếu không thì đâu là phương sách hữu hiệu để tiếp tục cuộc đấu tranh còn dang dở, nối tiếp sự nghiệp chính nghĩa còn dở dang? Khi trả lời đứng đắn những vấn nạn nêu trên là chúng ta đã có câu trả lời xác đáng cho nhiều vấn đề ung nhọt của Cộng Đồng Người Việt hải ngoại, nhất là tại California, Hoa Kỳ.

Với một đoạn khác về những người lính cộng hòa xung phong lên tuyến địch mà tay còn lủng lẳng nồi cơm nấu dở, Phan Nhật Nam lại bị chỉ trích là đã đưa ra “những hình ảnh tầm thường để bêu xấu Người Lính Cộng Hòa.” Thật đáng lấy làm sửng sốt khi nghe một điều nghịch lý đến như vậy. (Và một lần nữa chúng tôi lại rợn da, khi không khỏi liên tưởng đến luận điệu tanh mùi máu trong quyển sách “Những Tên Biệt Kích Văn Hóa” của Việt Cộng viết ra để cho lũ đảng viên, đoàn viên cùng “quần chúng nhân dân” học tập phê phán các văn nghệ sĩ miền Nam trước 1975). Đọc lại đoạn văn trên của PNN, những người thật sự cầm súng băng rừng lội ruộng, thực sự lăn mình gian khổ trong hàng trăm cuộc hành quân không ngưng nghỉ mới thấy không những tất cả nỗi thương cảm đối với người Lính Chiến Cộng Hòa, mà còn cả sự kiêu hùng thực sự của những con người bình thường hằng có trong cuộc chiến. Họ vào gian nguy sống chết như trong trò chơi đuổi bắt của trẻ em hay cuộc đánh lộn của tuổi trẻ hiếu động. Đúng là những người lính của chúng tôi đã vừa lội nước rừng Tây Ninh vừa nấu cơm để vừa nghỉ quân là có cơm chín ăn liền. Không, chúng tôi lính chiến không phải những người hùng không cần ăn uống, không cần đi vệ sinh, chỉ vì hình ảnh ăn uống và đi vệ sinh không có tí gì là “anh hùng” cả. Đúng là trước một lần xung phong quyết tử giải tỏa đường An Lộc về Suối Tầu Ô, một người lính đã chia cho tôi nửa bao cơm sấy trộn mắm ruốc kho và dặn rằng: “Ông ráng ăn một chút để lỡ có gì cũng còn sức chờ tản thương, mà không có gì thì cũng có sức chơi với tụi nó trong cái rừng tre kia tới tối mai không chừng, không còn thì giờ nấu cơm đâu.” Đúng là trong đêm bị cắt đoạn và vây bọc tứ bề trên quốc lộ 13, có người lính của trung đội tôi còn lén che pông-sô nấu nước dưới hầm chiến đấu, trộn cơm sấy, pha cà phê ngay lúc Việt Cộng đang rình rập trinh sát quanh phòng tuyến đại đội. Đúng là người lính đánh giặc với nồi cơm trên tay, hay miếng cơm sấy trong mồm là những hình ảnh sống thực.

Và đối với tôi, đó là hình ảnh hết sức nhân bản của những người coi cái chết nhẹ như lông hồng, nhưng một cái gì đó trước và sau bữa ăn vẫn là điều tối cần thiết. Họ cũng chẳng cần biết đến câu “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”, nghe khó hiểu và xa lạ quá. Những người lính thiện chiến đã chai lỳ trận mạc từng thản nhiên đi vào nơi sống chết như thế đó. Hạ Sĩ Nguyễn Hiền của trung đội tôi, người quê Quảng Trị, một mình đứng song lưng bắn đại liên M 60 với tôi làm phụ xạ thủ, đẩy lui cả một đợt xung phong của địch qua mặt lộ đường 13, cứu sống một trung đội. Sau đó anh giao đại liên cho tôi, rút M 72 bắn tung cả một ổ DKZ 75 đang lăm le quất sụm cây đại liên quá sức anh dũng, vừa kịp thì giờ cho tôi điều chỉnh phi pháo đập tan trận tấn công sinh tử của địch. Vào An Lộc , một mình anh bắn tỉa chín tên địch chuyên bắn tỉa quân ta. Người lính thiện chiến đến mức huyền thoại ấy không bao giờ gây gỗ với đồng đội. Giờ rảnh rỗi giữa các trận đánh chỉ được anh dùng để lau chùi vũ khí, chăm chút từng viên đạn để sẵn sàng đặt vào đầu mỗi địch quân một và chỉ một viên M 16 hay viên M 60 bắn phát một không bao giờ trật. Anh anh dũng đền nỗi tôi buộc anh phải về nấu cơm ở tuyến trừ bị, ở mặt sau nhà thương An Lộc, không dám cho giáp mặt địch quân vì sợ mất đi một chiến binh tự mình vượt qua mức một chiến binh lý tưởng. Hình ảnh và tên tuổi người lính anh hùng thần thoại ấy không bao giờ phai mờ trong tim tôi dù ở bất kỳ mặt trận nào, bất kỳ trại cải tạo sát nhân nào, bất kỳ nơi an lành sung túc nào trên mảnh đất tự do ngày nay. Người chiến sĩ thứ thiệt như Nguyễn Hiền rất cần no bụng, không “cắm hoa đầu súng,” và “vừa làm thơ vừa đánh giặc” như những nhà văn, thi sĩ, nhạc sĩ ở hậu phương tưởng tượng để ca ngợi họ. Người lính của chúng ta có lãng mạn thật, thích những hình ảnh thơ mộng ấy thật, biết ơn các chiến hữu tâm lý chiến đã vẽ lên hình ảnh dễ thương của họ, nhưng thực tế, họ anh hùng hơn tất cả những gì mà ngành chiến tranh chính trị từng nói đến. Nhiều vị sĩ quan chỉ biết đến chữ “đói” khi bị đi cải tạo, nhưng người lính chiến chúng tôi hiểu rõ trước 1975; hiểu từ lâu rằng, bụng đói gây chậm chạp và cáu kỉnh dễ làm mồi cho AK, B40 lắm. Cái bụng no cùng sức vóc cường tráng của người chiến binh quan trọng không kém những vũ khí cá nhân và cộng đồng của đơn vị luôn phải được lau chùi, thông nòng, vô dầu mỡ hằng ngày dưới sự kiểm soát trực tiếp của các sĩ quan chỉ huy, cũng quan trọng không kém những hầm hố phòng thủ đêm phải được đào đủ độ sâu để ẩn núp chiến đấu. Không phải những hình ảnh mình đồng da sắt, khơi khơi xung phong trong mưa đạn, vừa tác chiến vừa “ngắt hoa ép vào lưới mũ sắt để đem về tặng em” như các chiến hữu ở hậu phương tô vẽ. (Lính tác chiến không bao giờ đội nón sắt có lưới ngụy trang!). Và làm sĩ quan chỉ huy ở mặt trận thì ai cũng hiểu tiếp tế lương thực và tổ chức dừng quân trong các bữa ăn là quan trọng hơn những bài thơ văn hùng hồn đến đâu …

Đó là cái nhìn của một người lính chiến về những điều đã viết về lính chiến. Đó là cái nhìn theo khía cạnh của riêng tôi mà tôi cho là chân xác. Những hình ảnh lính chiến có vẻ không được “đẹp trai oai hùng” trong bộ quần áo ủi hồ giầy bóng loáng do Phan Nhật Nam thật thà đưa ra mới đây đã thấm thía vào đâu so với những hình ảnh sống thực đến đau lòng trong “Tháng Ba Gẫy Súng” của Cao Xuân Huy? Mà có ai lên án Cao Xuân Huy bôi nhọ Người Lính Cộng Hòa đâu? Chưa kể đến biết bao tác phẩm Việt-Mỹ khác nói đến người lính Cộng Hòa chúng ta bằng những lời thóa mạ. Tại sao không dành tim óc để trả lời, để phản bác, để khai hóa bọn xuyên tạc. Và sự bất công bắt nguồn từ một nguyên do sâu kín nào? Thưa chỉ có tác giả Kỳ Văn Nguyên hiểu rõ, chẵng dám lạm bàn nơi đây.

Chúng tôi không đủ thì giờ và có lẽ cũng không cần dẫn chứng thêm những bài viết khác của Phan Nhật Nam trong hai quyển sách ông mới ra mắt đồng bào Quận Cam. Độc giả hẳn đã có cái nhìn và sự nhận định đứng đắn về những suy tưởng ông Nam đã dành cho những người Chiến Sĩ Cộng Hòa qua những câu chuyện về những người biệt kích, về những cấp chỉ huy anh dũng trong quân đội chúng ta. Hãy đọc hết, đọc trọn vẹn tác phẩm của một tác giả với tâm tư thư thái, với óc phê phán chừng mực và khách quan. Đừng bỏ quên những bài những đoạn không phù hợp với tiên kiến hay ác cảm sẵn có của mình. Hãy chỉ dùm hạt bụi trong mắt người khác khi nào cái xà nhà tiên kiến trong mắt mình đã được bình tâm cất bỏ. Hãy khoan hòa chỉ ra những sai lầm yếu kém về hình thức và nội dung, về văn chương cũng như tư tưởng. Đừng nhận diện anh em như nhận diện kẻ thù. Ở đất nước tự do, thành trì chống cộng hữu hiệu, mà anh em chúng ta vẫn đang “phòng thủ đêm” đó. Thật vậy, đừng bắn loạn xạ vào nhau chỉ vì những ảo giác trong bóng đêm. Hãy làm người lính thiện chiến- Chỉ khai hỏa chính xác vào đúng dăm ba tên đặc công Việt Cộng đang cười thầm khoái chí, vì chúng chỉ cần ném hỏa mù, hô hoán dọa nạt là anh em ta đã vội tưới đạn vào nhau. Chỉ những người “lính tồi” mới bắn lầm quân bạn!! Người lính thiện chiến và tự tin không bao giờ bắn vãi đạn vào chỗ nghi ngờ, mà chỉ cần một viên đạn cho một quân thù. Họ còn có thể chỉa súng bắt đầu hàng, hoặc bắn bị thương để bắt sống địch quân.

Xin hãy nhớ nơi đây đội ngũ chúng ta đông đảo, tinh thần chúng ta vững mạnh, tư tưởng chúng ta đồng nhất.

Kẻ địch chỉ là rất ít những tên gián điệp chuyên chú vào việc gây chia rẽ để ta tự diệt nhau, một ít những tên

thân cộng vì lợi ích kinh doanh làm giàu cho cá nhân, cùng dăm ba kẻ đón gió trở cờ âm thầm nối giáo cho

giặc, thâm độc múa may khi nhìn thấy anh em chúng ta chia rẽ và tự diệt. Hãy nhớ dùm bọn chúng chỉ là thiểu số đang ngu dại phù trợ một chế độ trên bước suy vong. Nay đâu còn những đêm bị buộc phải đem bạn tù ra mổ lên mổ xuống chỉ vì miếng khoai củ sắn LẤY CỦA VIỆT CỘNG để sinh tồn, mổ đến nỗi nạn nhân phải tự phê nhận mọi tội lỗi ghê gớm như là “phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa là phản động, là chống cải tạo, chống nhân dân, chống đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa là đáng tội … tử hình, hay khoan hồng chăng thì cũng cải tạo suốt đời …!!” Hãy quên những cơn ác mộng ấy đi, ít ra cũng đừng gieo cho người khác nơi đây. Đừng mang thứ “sinh tử phù” của những trò “cảnh giác đấu tranh, phê bình, kiểm điểm từ các trại cải tạo” sang đến tận nơi đây để “cùng tiến bộ đến hố diệt vong”, làm trò cười cho chính con cháu chúng ta, những thế hệ đang hân hoan hấp thụ những giá trị tinh thần và vật chất của một xã hội thượng tôn luật pháp, lấy trí thức, khai phóng, tự do, dân chủ, công bằng, bác ái làm tôn chỉ cho toàn xã hội, dẫu chưa thể vẹn toàn nhưng cũng vẫn là gương sáng để noi theo mà xây dựng Tổ Quốc Việt Nam mai sau. Mong sao những điều tâm huyết chân thành này của Người Lính Chiến được đón nhận bằng tâm huyết chân thành. Nếu có điều gì khiếm khuyết trong cách trình bầy, hay đã tỏ ra không tự chế, chúng tôi thành tâm xin quý độc giả, xin các chiến hữu, và mong ông Kỳ Văn Nguyên thứ lỗi. Nếu muốn, xin hãy phê phán nhau trên cương vị những người quốc gia cùng chung mục đích cao cả đối với quê hương, với lòng nguyện ước cuối cùng, không còn tập đoàn băng đảng tội ác Việt Cộng trờikhông dung, đất không tha, chẻ trúc Trường Sơn làm bút, chấm nước biển Đông làm mực cũng chưa ghi hết tội ác- Tội ác đoạ đầy một Dân Tộc vào cơn cùng khốn của hơn nửa thế kỷ … Từ rất lâu, trước cả 1945!!

NGƯỜI LÍNH CHIẾN,

Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù,

Tù Binh,

Trại 5 Lam Sơn, Thanh Hoá.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 4 Jan 2026

Bài 8

Những Ám Ảnh của Chứng Nan Y: Nan Y hay Dịch Tễ Xã Hội

TỪ JOB ĐẾN NHỮNG NGƯỜI CÙI TRÊN VỈA HÈ

Đời xưa, ở vùng Idumée, có một người cùi tên Job. Quần áo tả tơi, chấy rận nhung nhúc, da thịt nứt nẻ, lở loét từ đầu đến chân, Job ngồi trên đống tro tàn của cơ nghiệp mình, một mảnh bát vỡ cào gãi mụn nhọt trên thân thể. Job ngồi đấy tro trọi, cô đơn. Vợ con, cháu chắt, bạn bè, tôi tớ … thảy đều trở mặt quay đi. Ngày tháng qua mau như thoi cửi, không một chút hy vọng. Và những nỗi đau khổ của Job còn nặng hơn cát biển.

Mấy nghìn năm sau, vào thời Trung Cổ, cảnh tượng thảm thương không mảy may bất nhẫn này lại diễn ra, khi những “trận dịch đen” bùng lên ở Âu Châu. Người chết từng loạt, con số lên tới hàng trăm ngàn. Người ta ào ào chạy trốn Thần Chết. Bạn bè bỏ nhau, vợ bỏ chồng, anh bỏ em, và hơn thế nữa, cha mẹ bỏ ngay con cái mình. Tử khí lan tràn thành phố. Người bệnh la liệt trong nhà, ngoài đường, nằm hấp hối chờ chết với nhau. Sợ hãi tới mức kinh hoàng. Làm sao giải thích nổi những cái chết tập thể, trong khoảnh khắc, nếu không kêu gọi đến một thần quyền. Tội lỗi quá nhiều. Job kia còn bị các bạn buộc tội, huống hồ con người của hàng nghìn năm sau. Luật lệ và hình phạt được đặt ra. Người cùi phải tập trung vào một nơi. Người mắc dịch bị vứt bỏ ngoài đồng vắng. Người có bệnh mà trốn tránh, cũng như người lành giấu giếm, chứa chấp người bệnh, đều bị trừng trị nặng nề. Nỗi kinh hoàng cùng với dịch tễ rồi cũng qua đi. Những người nan y đã quen và cam chịu sống riêng rẽ, tự tổ chức thành những xã hội nhỏ riêng rẽ. Ở Việt Nam trước kia đã có những “làng” người cùi. (Văn Môn, Khuya ở Bắc Việt) với lý trưởng, trương tuần cẩn thận. Sự hiện diện của họ chỉ còn được nhắc nhở tới bằng mấy tiếng lục lạc báo hiệu, hay cái bóng quái dị, nghiêng ngả, trong đống quần áo rách nát, bất chợt nghe, bất chợt gặp trên đường. Chúng ta tránh mặt họ, không muốn dây dưa với họ. Sự sợ hãi thuở xưa đã nhường chỗ cho một cảm giác ghê tởm với lòng khinh bỉ, tất nhiên, đi kèm.

Y học tiến bộ, ngăn chặn dịch tễ lan tràn, cản các chứng nan y bành trướng. Chẳng ai sợ nữa, khi thấy những bệnh kỳ quái, hao mòn cơ thể, biến dạng hình hài. Tổ chức Y tế xã hội chu đáo hơn. Với những trại cùi, làng tế bần, viện bài lao, viện ung thư. Người bệnh ngày nay có nơi ăn, chốn nghỉ, yên tâm điều trị. Ai cũng mong, tin thế. Cho đến một ngày. Một ngày nắng ráo, một ngày lễ trên hè phố đông đúc, như những vết bùn đất của mấy ngày mưa dầm còn sót lại, giữa bao màu sắc rực rỡ linh động, loáng thoáng một vài người cùi ngồi ăn xin. Họ ngửng lên nhưng khuôn mặt không lông mày, không sống mũi; những mí mắt những vành tai dầy cộm, sần sùi. Họ giơ lên những bàn tay không ngón, loang lồ, cong queo. Chúng ta đi qua, đi lại ngay trước mặt họ, sát bên lưng họ. Mắt chúng ta nhìn mà không thấy, tai chúng ta lắng mà không nghe. Họ ngồi xệp dưới đất thấp quá. Vả lại họ có nói gì đâu. Họ là những gốc cây, những cột đèn, những ghế đá hay một thứ cồng kềnh nào đó trên mặt lộ. Cần gì phải la hét, trốn chạy, cần gì phải khinh bỉ, hắt hủi. Cứ tự nhiên mà bước, linh tính sẽ khiến ta không đụng phải họ. Họ là những gốc cây …

THỊT XƯƠNG LÀ SÔNG NÚI

Nhưng họ vẫn phải hiện diện, vẫn phải sống. Dù đau đớn, dù hao mòn, dù biến dạng. Trong thế giới riêng của họ với những ý nghĩ và mặc cảm đặc thù do bệnh tật gây ra. Ý nghĩ nan y, ý nghĩ thân mình tàn phế. Mặc cảm ký sinh, mặc cảm bị ruồng rẫy, mặc cảm tội lỗi. Với một ám ảnh lớn đè nặng tâm hồn. Sự chết.

Thời gian điều trị và nghỉ ngơi lâu dài cộng với việc phải chăm chút tẩm bổ – điều kiện cần thiết để lành hai lá phổi – tạo cho người lao phổi một mặc cảm ký sinh nặng nề. Ở trong một hình hài bề ngoài nguyên vẹn là một cơ thể đã bị gậm nhấm suy yếu. Dù có khỏi hẳn, cũng không xốc vác nổi những công việc đòi hỏi một sức khỏe dồi dào. Trong một giới hạn nào đó, người ấy vẫn có thể mãi mãi là ký sinh.

Người phong cùi cũng đau khổ về hình hài, nhưng ở đây là một hình hài không nguyên vẹn. Mặt mũi biến dạng, tay chân rụng rời, và cả xác thân ô uế. Tiếng kêu “Tôi ô uế! tôi ô uế!” của người cùi thuở xưa mỗi khi ra đường, vọng qua ngàn năm, hiện vẫn còn vang bên tai họ. Thực sự hay tưởng tượng, họ luôn luôn là những người bị rẫy ruồng, hắt hủi. Và đi dần đến chỗ cô đơn. Cùng chia sẻ với họ nỗi tủi nhục của tấm thân ô uế, họa chăng có những người hoa liễu. Bệnh phong tình, tự bao giờ đến giờ và ở đâu cũng vậy, vẫn là một bệnh đáng xấu hổ. Người ta che giấu nó nhân danh luân lý, đuổi bắt nó nhân danh thuần phong. Vì nó trái với đạo đức và làm bại hoại xã hội, người ta chỉ biết kết tội như thế. Những ý nghĩ như thế châm ngòi cho những phản ứng khác nhau nơi người bệnh. Một người mềm yếu, kém ý chí, thì chỉ nghĩ nan y với hệ luận là cái chết sớm muộn không thể tránh, cũng đều cho người ấy đi đón trước Tử thần. Mạnh hơn một chút, người ta coi thường tất cả. Can đảm, liều lĩnh, ca hát, vui đùa hôm nay, thực ra chỉ để quên đi ý nghĩ cái chết cô đơn, lạnh lẽo ngày mai. Đó là những phản ứng một chiều, phản ứng có thể gọi là hướng nội.

Phản ứng hướng ngoại, ở một mức độ thấp chỉ có tính cách phá phách gây đổ vỡ. Lợi dụng tình trạng “bất khả xúc” của mình, người bệnh làm sống lại và đem gieo rắc sự kinh hoàng của thời dịch Trung Cổ. Những đoàn người cùi hành khất ở miền Bắc trong thế kỷ trước là một thí dụ. Họ quấy nhiễu các đám hiếu hỉ, vầy vò đồ ăn thức uống trong mâm tiệc, để đòi hỏi bạc tiền và lương thực. Ở mức cao nhất của ý chí, người bệnh chế ngự mặc cảm, biến nó thành động cơ sản sinh ra những năng lực khác thường. Nhưng dù ở mức độ nào, từ những người tự đi tìm cái chết đến những bậc thiên tài bệnh hoạn, phản ứng hướng nội hay hướng ngoại, chỉ làm dầy thêm bức tường bao quanh thế giới những người bệnh hoạn, được xây bằng những ý nghĩ và mặc cảm hằn in trong tiềm thức họ. Vô tình, chính những người bệnh cũng góp phần vào sự cách biệt giữa họ và những người lành mạnh. Trong thế giới của họ, ta xa lạ, bỡ ngỡ. Bầu trời điên loạn, đầy trăng sao và lạnh buốt dưới bàn tay không ngón của Hàn Mặc Tử, những phong cảnh hoặc ảm đạm, hoặc rực rỡ, mang những màu nét rung động, quần quại như hờn giận, đau thương, thoát ra nơi đầu bút của Van Gogh (1); bậc siêu nhân đầy nghị lực, thông minh và kiêu hãnh trong con người tê liệt, yếu ớt như trẻ sơ sinh của Nietzsche. Tất cả đều mang một sắc thái khác thường, khó cảm thông, nếu không như có lực mạnh, đẩy bật ta ra.

Hình hài thay đổi, sinh lý xáo trộn, chính là những nguyên nhân đầu của sự xa cách, về cả hai phía, bệnh và không bệnh. Thịt xương ở đây còn hơn là sông núi (2). Đó là vực sâu đầy gai góc, rắn rết; là vũng lầy không đáy, chướng khí mịt mù.

NHƯNG LÒNG NGƯỜI KHÔNG NGẠI NÚI E SÔNG

Bây giờ chúng ta muốn hai phía lại gần nhau? Còn gì giản dị và hợp lý hơn là lấp phẳng cái hố sâu ngăn cách kia. Hãy sửa lại hình hài và đem quân bình sinh lý, tâm lý về cho người nan y. Giữ lại, hay bù đắp vào, những đường nét, hình thể và những cơ cấu Tạo hóa đã ban cho người. Bổn phận thiêng liêng của mỗi người – tự giữ cho mình và bù đắp cho người – mà sự chu toàn đòi hỏi bao nhiêu cố gắng, kiên nhẫn và hy sinh.

Những tháng năm cặm cụi trong phòng thí nghiệm, đun nấu, ghi chép, tính toán của những Koch, Hansen, Pasteur, Virchow …rồi của những Flemming, Waksman, Bửu Hội, Umezawa … đã đem lại nhiều khám phá, đáp ứng, có thể nói là trọn vẹn, cho những toan tính phá tan mặc cảm và trung hòa phản ứng nơi người nan y. Con người hôm nay tha hồ chết vì bom đạn, xe cộ, nhưng không được chết vì lao phổi nữa. Streptomycin, Isoniazid, PAS. Cũng không có lý gì tồn tại, những cơn tê liệt toàn thân của bệnh giang mai thời kỳ thứ ba. Penicillin, Bismuth. Phong cùi ư? Sulfones. Ung thư ư?

Thì đây, bao nhiêu là thuốc, là chất phóng xạ, là quang tuyến, lại đây nữa, bao nhiêu phương thức thực nghiệp tinh vi, ngõ hầu phát giác ra những trường hợp mới chớm. Bỏ đi một mảnh phổi chai đá, cắt đi một bướu nham ruột già, bây giờ là việc thông thường của khoa thủ thuật. Lưỡi dao thuần thục hơn, uyển chuyển hơn, tế nhị hơn. Lưỡi dao tạo hình, ghép da, nắn mũi, sửa tay. Ấy là thủ thuật cho bệnh cùi. (3)

Tâm hồn lành mạnh trong thân thể hùng cường. Bây giờ phải đảo ngược mệnh đề lại và nói: thân thể lành mạnh chứa đựng tâm hồn hùng cường. “Tứ chứng nan y” rồi đây chỉ còn là một từ ngữ thuộc vào y sử.

TRỜI XANH IM LẶNG

Vấn đề “nan y” xem ra như thế dễ dàng giải quyết, với những khám phá tiến bộ của y học. Một xã hội không còn người lao cùi … đâu phải là một điều không tưởng. Còn lại có vấn đề thời gian. Bao giờ? Bao giờ, khi những người lao còn phải cong lưng, vừa ho vừa làm, mà vẫn không đủ tiền mua một miếng thịt nhỏ mỗi ngày? Bao giờ, khi người ta cứ phải ở chung lộn, chồng chất, chui rúc, trong những túp nhà lụp xụp, tối tăm, bên cạnh rác rưởi và sình lầy? Bao giờ, khi những người mua dâm và bán dâm, không những không kiểm soát được, lại còn tăng số mãi lên? Bao giờ, khi người ta vẫn chưa biết đường lối và chưa có phương tiện để dò ra một ung thư mới chớm ngay chính nơi thân thể mình? Bao giờ …?

Đấy là thảm trạng của những nước chậm tiến. Ở Đông Nam Á, ở Phi Châu, ở Nam Mỹ Châu. Và có gì lạ đâu, nếu đủ các thứ bệnh tật thi nhau phát triển. Nghèo khổ vật chất. Nghèo khổ cả tinh thần. Thiếu ăn, thiếu mặc đã đành. Mà lại thiếu cả một gáo nước rửa mặt, cả đến thước khối khí trời để thở, cả đến ánh sáng mặt trời để ngẩng đầu cao. Hãy nghe lời một người lao phổi thời tiền chiến nói với bạn trước khi tắt thở: “Nếu mỗi ngày tôi có được một miếng thịt bò, thì đâu có đến nỗi chết”. Hãy nghe tiếng kêu cứu tuyệt vọng của một bà mẹ mắc chứng bạch huyết với bầy con nhỏ bên tay. Bà van xin những nhà thông thái, khẩn cầu các nhà hảo tâm. Bây giờ bà còn sống hay đã chết? Và chẳng biết có ai đáp lại lời kêu cứu của bà không? Chắc nó chìm ngay trên trang nhật báo, giữa những dòng rao bán chó, bán nhà, dạy khiêu vũ, sửa sắc đẹp … (4)

Chưa đủ. Thêm vào đó còn có mù chữ, thất học, mê tín, dị đoan. Và những tín điều viển vông, cao vời của những người quá yêu mến đồng bào. Bao nhiêu điều kiện thuận lợi, nuôi dưỡng, làm nẩy nở mọi mầm mống vi trùng, tạo nên môi trường thích hợp để “bảo tồn” bệnh tật. Có ích gì khi chữa lành một, hai lá phổi, để lại trở về thở hít chung bầu không khí với một hai chục người khạc nhổ suốt ngày? Có ích gì khi cứ ba bốn ngày mới chích được phân nửa liều thuốc, trong khoảng năm ba tháng, để trở lại bệnh viện với những con vi trùng mạnh mẽ hơn, dai dẳng hơn? Lưỡi dao giải phẫu thôi đành xếp lại trước những cục bướu nham lớn bộn, rắn chắc, kèm thêm ít nhiều hạch ung thư chuyển đi khắp cơ thể.

Đúng là những chứng nan y, không chữa được. Không chữa được, không phải vì chữa không được, mà vì chữa không đúng, không đủ, không nhanh, không kịp thời. Những chứng nan y đã khoác một bộ mặt mới. Bây giờ chúng không còn là “nan y” nữa, chúng là những dịch tễ xã hội.

Ở Việt Nam tự do, dân số 14 triệu, có 45.000 đến 50.000 người lao xác chứng (active tuberculosis). 70% trẻ em trên 15 tuổi có triệu chứng nhiễm lao rõ ràng. Và mỗi năm, cứ 1000 dân lại có một người chết vì lao. Tổng số người cùi vào khoảng 50.000 (5).

Còn những người hoa liễu? Ung thư? Chưa ai biết con số đích xác. Từng ấy con người đau đớn. Những cơn ho vỡ cổ, đôi gò má điểm hồng. Những trận “mê man chết điếng cả làn da”. Cuồng điên, mất trí, tay chân run rẩy. Da dán vào xương, hơi thở hôi hám, bướu lớn dầy đặc trong miệng, khuôn mặt mất rồi những nét đều đặn nhịp nhàng. Bốn bề là bóng tối và im lặng. Cái im lặng ghê rợn, nặng nề của Tạo vật.

MỘT BUỔI LẠC QUYÊN KHÔNG KẾT QUẢ

Vậy chỉ còn lại những người với nhau. Để tự giải quyết lấy thân phận cho nhau. Để vượt, không phải ra khỏi, mà là vượt lên cái thân phận con người. Đã từ lâu, người ta toan tính giải quyết bằng lòng từ thiện, dẫn

xuất từ tính trắc ẩn trước khổ đau của đồng loại. Tổ chức những buổi từ thiện. Lập cơ quan từ thiện. Đi làm việc thiện. Có người chuyên môn, có người tài tử. Quyên tiền bạc, xin cơm áo, nhân danh người đau khổ. Rồi có một buổi đi thăm viếng trại lao, trại cùi. Những ông, những bà khỏe mạnh, quần áo tươm tất, đường bệ đi vào. Người bệnh xếp hàng: hai tay tuy đã hết ngón mà vẫn chẳng biết cất đâu, nét mặt chẳng biết nên vui hay nên buồn. Đôi lời ngỏ ra, đôi lời đáp lại. Cảm tạ. Biết ơn. Những tiếng chào từng loạt. Những ông, những bà bèn đi vòng, xem xét; để ra về. Như đi dự một buổi tiếp tân, như đi coi hát bóng. Và những cái bóng nói, cười, yêu đương trên tấm vải căng trong buồng tối kia có khác gì. Ở đây, người bệnh cũng là những cái bóng. Đủ hay, đủ lạ, để người khác nhìn xem trong chốc lát.

Rồi người ta mệt mỏi dần, dù chỉ là đi thăm viếng suông. Chán nhìn những hình hài bệnh hoạn, chán nghe những nỗi khổ đau diễn tả bởi những người không đau khổ. Người ta muốn được “yên thân” -như Scrooge, vì – cũng như Scrooge – đã “giúp đỡ nhiều cơ quan từ thiện. Như thế đủ tốn cho tôi lắm rồi” (6). Lời từ chối thật đủ lý lẽ, đủ công bằng, để mắt khỏi nhìn, tai khỏi nghe, mà lòng vẫn bình yên trong im lặng đồng lõa.

TRÁI ĐẤT LÀ CỦA CHÚNG TA

Nhưng có nhiều người cho thế là chưa đủ. Những người thực sự muốn con người vượt lên trên thân phận con người. Những người yêu mến, nâng niu, kính trọng sự sống. Họ dang hết hai tay, mở rộng tâm hồn, phát triển cùng trí lực để đón nhận cuộc sống, với tất cả thương yêu, hoan hỉ. Họ dấn thân vào đám người bệnh hoạn, nghèo khó, đau khổ để những tình cảm thương yêu tràn đầy trong họ – tràn sang những người đang cần tình cảm ấy; để giải thích ý nghĩa cuộc sống – cho những người đang mất tin tưởng; để phá tan cái im lặng ghê rợn – đang bao phủ những người anh em ấy. Họlà những linh mục Pierre, những Schweitzer, những Follereau, là những người hiểu rằng Trái Đất là của Con Người. Trái Đất là của Con Người. Trên đó sự sống là của tất cả, dù bệnh hoạn hay không. Mỗi người phải là một nghệ sĩ của cuộc sống để tô điểm cho nó tươi sáng, rực rỡ thêm lên. Không phải chỉ bằng những công trình kiến thiết đồ sộ, những tiện nghi tối tân, những

ánh sáng điện năng hay nguyên tử năng. Mà còn và cần phải bằng những con người khỏe mạnh không mặc cảm, chuộng công bằng và biết thương yêu. Hãy đến cùng người “nan y” trong ý niệm ấy. Với thiện tâm nhân ái, với thiện cảm hoạt động. Tự giải thoát mình khỏi những cảm giác ghê sợ giả tưởng; giải thoát người khỏi những mặc cảm yếu kém, thiệt thòi – để chấp nhận và thích hợp hóa người “nan y” vào cuộc sống bình thường. Mỗi người phải là một người thợ cần mẫn của cuộc sống để xây dựng cho nó ngày thêm giàu mạnh, phong phú. Trái Đất như một bà mẹ giàu có, rộng rãi, không hề tiếc gì với con người. Trở về với Đất, hai bàn tay chắc chắn, lòng yêu chuộng giản dị và sự làm việc – để sản xuất và cung cấp, đủ cho mình, đủ cho người. Kho vựa đầy, y thực đủ, nhiên hậu mới nghĩ tới thuốc men, đến thủ thuật trong những khi đau ốm, tai nạn, vốn bất trắc và phi lý của con người.

Mỗi người phải là một tiên tri cho cuộc sống để đoán biết tương lai, ngõ hầu áp dụng những cải cách thích nghi. Trong mọi lãnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế. Với lòng khiêm tốn, thanh bạch, cúc cung tận tụy. Những gốc dâu của Khổng Minh. Những luống cày của Cincinnatus. Cần chi đâu những tín điều viển vông, cao vời. Trên mặt trăng hay trên thượng tầng khí quyển. Mỗi người phải là tất cả mọi người trong cuộc sống. Để cảm thông, hòa đồng, để khoan dung, tha thứ, để chung vui, xẻ buồn. Để sẽ tới ngày mà “con vua và hành khất đều trở thành anh em” như lời thơ Schiller.

Một thế giới không còn bệnh nặng, làm ngạt thở vì đau đớn và kinh hoàng, không còn những giọt nước mắt ngây thơ vô tội, làm ta băn khoăn; không còn những cái chết non dại, mệt nhọc và xấu xa. Một thế giới trong đó đôi ba ngày nhức đầu sổ mũi chỉ là cái cớ để người ta thương yêu nhau hơn lên. Với những tiếng cười pha lê, làm ngơ ngác muôn ngàn tinh tú. Và sự chết lúc đó mang trọn vẹn ý nghĩa của hạt thóc gieo vào lòng đất. Chết không phải là chấm dứt sự sống. Mà là khởi đầu sự sống. Là móc nối liền những sự sống.

Tất cả, hãy sẵn sàng ngay tự bây giờ.

NGHIÊM SỸ TUẤN

[Tình Thương Số 10, tháng 10,1964]

1. Đoàn Thêm – Tìm Hiểu Hội Họa

2. … thịt xương là sông núi

Chia biệt người ra từng xứ cô đơn (Huy Cận)

3. André Carayon – Chirurgie de la Lèpre.

4. Lời viết bằng tiếng Pháp đăng trên một nhật báo Thủ đô, cách đây chừng năm,

5. Theo các bác sĩ Gilbert (OMS) và Nguyễn Văn Ái (Viện Pasteur Saigon) sáu tháng.

6. Dickens – A Christmas Carol.

Bầy Sư Tử Lãng Mạn

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 4 Jan 2026

Bài 8

Bản tự khai ngắn nhất của Lương Việt Cương.

Sơ yếu lý lịch

Họ và tên: Lương Việt Cương

Sinh năm: 1945

Sinh quán: miền Bắc Việt Nam

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: miền Nam Việt Nam

Nghề nghiệp: Dạy học

                                                                                Bị bắt ngày: 6-11-1975

                                                                                Can tội: Yêu tự do, dân chủ.

Từ năm 10 tuổi trở lại, tôi còn bé không biết gì cả. Từ 10 tuổi đến 18 tuổi, tôi vẫn chưa biết gì cả. Từ 18 tuổi trở lên tôi biết nhiều thứ và chống nhiều thứ. Tôi chống chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm; tôi chống bọn tướng lãnh quân phiệt; tôi chống chế độ độc tài Nguyễn văn Thiệu; tôi chống bất công, tham nhũng, áp bức, bóc lột và mọi cơ cấu bịp bợm của chính sách Mỹ và lũ tay sai. Tôi chống chiến tranh, bọn thụ hưởng chiến tranh và bọn làm giàu nhờ chiến tranh. Bây giờ, tôi chống Cộng sản vì yêu tự do, dân chủ và vì tất cả những gì mà tôi chống trước đây.

Đề lao Gia Định, 10-1-1976

Lương Việt Cương

Người công an chấp pháp cầm bản tự khai của Lương Việt Cương nhét vào trong tờ bìa đỏ sau khi đọc xong. Ông ta nhìn tên phản động đối diện mình như muốn ăn tươi nuốt sống. Tên phản động tỉnh bơ vấn thuốc rê đốt, hít, nhả khói khét lẹt căn phòng làm việc nhỏ bé ở khu A. Hắn có khuôn mặt hao hao Nguyễn Khánh. Đương đầu với cán bộ chấp pháp, hắn vừa kiêu ngạo, vừa xấc xược. Thái độ của hắn lộ rõ rệt vẻ khiêu khích. Thái độ ấy bắt nguồn từ lòng khinh bỉ kẻ chiến thắng của dân Sài gòn. Trước ngày sang trang lịch sử phản phúc, người Mỹ đã đánh bóng cộng sản quá kỹ và dọa dân miền Nam quá nhiều. Rốt cuộc, nhìn rõ Cộng sản, người ta thấy nó chẳng đáng gì. Và người ta khinh bỉ nó. Người ta khinh bỉ nó ngoài đời. Người ta còn khinh bỉ nó ở trong tù, khi nằm xó tối cachot, tay chân bị nó siết còng.

Vung trái đấm đập bàn cho hả giận, người công an chấp pháp rít qua kẽ răng:

– Anh ngồi làm việc cho nghiêm túc!

Tên phản động liệng điếu thuốc, dùng chân dí mạnh rồi ngẩng mặt nhìn thẳng vào quyền uy của chế độ:

– Tôi đã báo cáo anh rồi, mông tôi đầy mụn ghẻ mủ, tôi không thể ngồi ngay ngắn được.

– Ngồi ngay ngắn. Anh nhớ rằng anh đang làm việc với người đại diện của đảng, nhà nước và nhân dân.

– Đồng ý. Nếu đảng của anh hẹp hòi với cả những mụn ghẻ mủ thì tôi ngồi ngay ngắn. Sự đau đớn ở hai cái mông tôi đánh giá lương tri của chủ nghĩa.

– Tôi cấm anh nói cái giọng điệu đó, giọng điệu của bọn phản động cộng lưu manh.

– Vậy tôi không làm việc với anh.

– Anh tưởng anh ngoan cố nổi mãi à?

– Không ngoan cố gì cả, tôi muốn làm việc với người có học, anh vô học, anh thù hằn cả mụn ghẻ! Anh cứ yên tâm, chế độ của anh cho can phạm cái quyền khiếu nại. Điều này không có nghĩa là chế độ dân chủ đâu mà để kiểm soát xem anh có hối lộ can phạm không, có thi hành sai chính sách không. Tôi sẽ không khiếu nại mà chỉ hỏi cấp lãnh đạo của anh để biết mụn ghẻ mủ có phải là tù nhân tư tưởng, tù nhân chủ nghĩa, tù nhân giai cấp.

Người công an chấp pháp bỏ ra khỏi phòng. Ông ta khép cửa sổ, cửa ra vào kín mít. Một mình Lương Việt Cương ngồi trên ghế gỗ bên trong. Tên phản động trán cao, mắt ốc nhồi thừa hiểu, bên ngoài, mấy thằng công an quản giáo đang canh chừng mình. Đã có chủ ý, tên phản động không thèm đứng dậy, không thèm thay đổi tư thế ngồi liền liền như có mặt công an chấp pháp. Hắn ngồi ngay ngắn, ngồi nghiêm túc. Thoạt đầu, hai mông hắn đau buốt. Dần dần bớt đau vì những mụn ghẻ mủ đã vỡ. Mủ thấm ướt quần và dính lớp nhớp lên mặt ghế, lên bộ mặt của chủ nghĩa Cộng sản. Tên phản động Lương Việt Cương đã chế ngự được nỗi đau tầm thường. Hắn cảm giác thoải mái và vấn thuốc hút lia lịa. Lần đầu tiên, từ ngày bị bắt, chấp pháp gọi hắn ra làm việc. Người ta nhốt hắn ở cachot số lẻ sở Công An thành phố đúng hai tháng. Hắn bị còng chân bằng còng số 8 nhãn hiệu USA. Nhờ bạn tù cachot “phổ biến” cách tự mở khóa, hắn đã dùng que diêm xin cai ngục mồi thuốc lá để nậy chốt an toàn và có những đêm ngủ chân không. Bạn tù cachot, đêm khuya, tỉ tê với hắn rằng, đã tới sở Công An là không lo bị tra tấn. “Nó chỉ tra tấn đầu óc mình thôi”. Ngày 6 tháng 1 năm 1976, hắn rời quán trọ sở Công An sang khách sạn Đề Lao Gia Định. Hắn chớm ghẻ ở cachot sở Công An, qua đây ba ngày thì ghẻ mủ bộc phát nhanh chóng. Khắp mông, khắp đùi toàn những mụn vàng đầu đen. Hôm nay, hắn ra khỏi cachot khu A đi làm việc.

Ở đề lao Gia Định, không một tù nhân nào bị tra tấn bằng đòn công an, cảnh sát cổ điển cả. Nhưng có những thứ còng siết vào cánh tay tính từng giây. Đến giây thứ 50 thì chết. Thường, tới giây thứ 20, can phạm đã gật đầu hứa khai hết sự thật. Đòn tra tấn này dành cho những can phạm lý lịch mơ hồ. Khách hàng của đòn này đa số là nhân viên tình báo không hề ký tên thật trong sổ lương của Tổng Nha Cảnh Sát, của Trung Ương Tình Báo và tàn quân bắt được trong rừng. Những kiểu còng treo người hàng tháng, ở đề lao Gia Định không hiếm. So với khám Chí Hòa, đề lao Gia Định “lý tưởng” gấp bội. Công an chấp pháp không đánh đập can phạm lúc hỏi cung. Can phạm có quyền khước từ khai báo và có quyền xin làm việc với chấp pháp khác. Đã không ai dám khước từ hoặc bướng bỉnh với chấp pháp, trừ những cô cậu sinh viên, học sinh của Sài Gòn can tội phản động và trở thành khách hàng “đắt giá” của khách sạn Đề Lao số 4 đường Phan Đăng Lưu, Gia Định. Tên phản động Lương Việt Cương không sợ bị tra tấn. Hắn đã nếm đòn của mật vụ Dương văn Hiếu, của cảnh sát Mai Hữu Xuân, của cảnh sát đặc biệt các triều đại Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn văn Thiệu. Hắn đã rắc cơ man là kỷ niệm trong các nhà tù việt nam qua các chế độ. Bây giờ, hắn ngồi đây, ngồi làm tan những mụn ghẻ mủ nhớp nhúa trên khuôn mặt của chủ nghĩa ưu việt nhất loài người!

Người công an chấp pháp đã trở lại. Cửa sổ mở tung. Ông ta nhìn tên phản động ngồi nghiêm túc, mỉm cười tự mãn:

– Vậy là chúng ta làm việc được rồi.

Tên phản động lắc đầu:

– Không, tôi không thích làm việc với anh.

– Tại sao?

– Vì anh không đủ tư cách làm việc với tôi.

– Anh biết chấp pháp là gì không?

– Biết. Chấp pháp là “thần tượng” của tù nhân, tha hay nhốt là do chấp pháp. Ở tù lâu hay về sớm là do chấp pháp. Nhưng chấp pháp của ăn trộm, ăn cắp, lường gạt thôi. Đã không có chấp pháp của tôi. Tôi hả, người có thể tha tôi, có đủ tư cách tha tôi chỉ là sự giải thoát dân tộc toàn diện sắp bùng nổ.

– Khi ấy anh ở đâu?

– Ở nhà tôi với vợ tôi, với bạn bè tôi hoặc tôi ở dưới mộ.

– Được, anh thích xuống mộ thì anh sẽ xuống mộ. Anh tạm về biệt giam suy nghĩ thêm.

Lương Việt Cương từ từ đứng dậy. Hắn nghe rõ một thứ âm thanh như âm thanh băng keo scotch lột ra khỏi thùng carton. Hắn nhìn người công an chấp pháp, chỉ tay vào mặt ghế:

– Đó, cái đó cũng là một dấu ấn của thời đại mà con người thù hằn cả mụn ghẻ.

Lương Việt Cương theo tên công an quản giáo về cachot. Hắn được hưởng chế độ còng rất hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tên phản động nằm dài, hai chân luồn vào hai khoen còng có móc luồn ra ngoài tường cachot. Hai gót chân hắn chạm sát tường bên trong. Người ta khóa phía ngoài. Với kiểu còng cộng sản, tên phản động đành nằm trên bục xi măng suốt ngày đêm, không trở mình cũng không ngồi dậy được. Hai bữa cơm, người ta mở còng cho hắn ăn uống, đi ỉa, đi đái vào cái thùng đạn đại liên Mỹ khoảng mười lăm phút mỗi lần. Không có ống nước dẫn vào cachot loại nhốt thứ bất trị nên không có tắm rửa. Không có luôn thuốc ghẻ lở. Không có gì cả. Lương Việt Cương bị đầy đọa, bị hình phạt của thù hận của chủ nghĩa biến thành một con chó ghẻ lở nhầy nhụa máu mủ tanh tưởi trên bục xi măng nhà tù cách mạng, nơi mà không ai dám đòi “cải thiện chế độ lao tù”, không ai dám ví nó với chuồng cọp Côn Sơn. Nơi ấy, bút mực của bọn nhà báo Mỹ diễn tả như một lớp học phục hồi phẩm cách làm người. Nơi ấy, thiên kiến và sự khờ khạo của thế giới đã giết chết lương tri của họ. Nhưng, nơi ấy, một người Việt Nam vì chiến đấu cho quyền sống con người, cho tự do, dân chủ đang can đảm chịu đựng âm thầm và kiêu hãnh. Cái gì sẽ nở rộ từ máu mủ khô quánh đũng quần người tù nhân tư tưởng việt nam? Chưa ai biết. Chắc chắn, sự can đảm chịu đựng trong cô đơn của anh ta đã định nghĩa con người và phẩm cách của nó.

Hai tuần lễ sau, người ta mở còng cho Lương Việt Cương, dẫn hắn đi tắm gội, liệng cho hắn cục xà phòng và bộ quần áo tù màu cháo lòng. Người ta đưa thuốc ghẻ cho hắn bôi, cho hắn uống. Rồi người ta làm việc với hắn bằng cung cách mới. Công an chấp pháp già dặn hơn, nhã nhặn hơn, nồng nhiệt hơn.

– Anh bớt ghẻ chưa?

Người chấp pháp ân cần hỏi. Ông ta đặt gói thuốc Phù Đổng và hộp diêm Thống Nhất trên bàn, khẽ đẩy sát phía Lương Việt Cương.

– Anh hút thuốc đi. Tôi đã nhờ quản giáo pha cà phê mời anh.

Ông ta cầm lại gói thuốc, tự tay bóc, chiêu đãi tên phản động:

– Mời anh. Xin lỗi nhé, tôi không biết hút thuốc! Tôi nghĩ đến anh nên mua thuốc biếu anh.

Tên quản giáo bưng hai ly cà phê vào.

– Uống đi cho tỉnh táo, anh Cương.

Lương Việt Cương nhìn người chấp pháp mới, mỉm cười:

– Cám ơn anh.

Rồi hắn thản nhiên nhấm nháp cà phê “cho tỉnh táo” và nhả khói thuốc thơm Phù Đổng.

– Lát nữa, anh chuyển sang biệt giam khu C1. Anh ghẻ lở, nên ở biệt giam cho mau khỏi. Tôi đã ra lệnh rồi, mai quản giáo dẫn anh đi cắt tóc, cạo râu. Anh được hưởng tiêu chuẩn bồi dưỡng. Anh sẽ được viết thư, nhận thư và được thăm nuôi. Anh có gì cần hỏi không?

– Không.

– Vậy uống cạn cà phê đi, rồi về chuyển phòng nghỉ ngơi.

Người ta tặng Lương Việt Cương gói thuốc, hộp diêm, chuyển cachot và không còng chân tay hắn nữa. Cachot C1 rộng rãi, thoáng mát. Người ta đang lắp ống nước. Hiện thời, mỗi ngày, người ta đưa vòi nước qua ô cửa cachot hai lần để tù biệt giam tắm giặt, xối cầu tiêu. Khi Lương Việt Cương hết ghẻ lở, hắn đi làm việc liên miên, làm việc phờ phạc. Hoạt động của Cương, Cương khai hết, không thiếu sót một chi tiết nào. Bạn bè của Cương đã bị bắt trọn ổ, cần gì phải dấu diếm. Mà cũng khó dấu diếm. Và nữa, chiến đấu cho tự do, dân chủ là việc làm quang minh chính đại, không cần dấu diếm. Vấn đề đặt ra cho Lương Việt Cương như đặt ra cho tuổi trẻ Sài Gòn lại không phải là sự khai báo thành thật mà ở sự thành thật nhận lỗi và hứa ăn năn sám hối tội lỗi. Với Cộng sản, có lẽ, họ nghĩ rằng, những phong trào, những tổ chức chống đối họ không mấy quan trọng, không thể lay chuyển nổi chế độ của họ. Nhưng họ kiêu ngạo, họ muốn tận diệt lòng tự phụ của tuổi trẻ, họ muốn tuổi trẻ ăn năn sám hối và nhận từ họ sự khoan dung, độ lượng. Đã nhận sự tha thứ của kẻ thù thì hết tự phụ, thì chỉ còn là gục mặt cam đành mãn kiếp và hứng đủ sự khinh bỉ của kẻ thù. Do đó, sư tử lãng mạn chọn lựa con đường như họ đã chọn lựa. Biết chiến đấu là biết ngẩng mặt.

– Anh nhất định không nhận tội?

Người chấp pháp thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy… đều hỏi câu ấy.

– Không, tôi không có tội gì cả. – Lương Việt Cương trả lời.

– Ai đã làm gì anh mà anh chống đối?

– Ai đã làm gì Chủ Tịch Hồ Chí Minh?

– Thực dân, phát xít, đế quốc đã dày xéo quê hương chúng ta.

– Với chúng tôi, bây giờ là Cộng sản.

– Câm cái miệng phản động hôi hám của anh lại.

– Vậy anh đừng nên hỏi tôi nữa.

Người ta không hỏi gì Lương Việt Cương nữa. Cộng sản không dại gì ban phát cho kẻ thù tư tưởng một cái chết dễ dàng, êm ái. Họ để kẻ thù của họ sống mà đếm nỗi chết từng ngày. Họ bắt kẻ thù của họ thèm chết, khao khát nỗi chết. Lương Việt Cương bị nhốt vào phòng đặc biệt. Người ta buộc giây điện vào hai ngón tay cái của hắn, đẩy hắn úp mặt sát tường. Người ta bảo hắn kiễng hai chân lên. Người ta cột giây điện vô thanh sắt trần phòng. Lương Việt Cương đứng kiễng chân, hai tay dơ cao. Nếu hắn để gót châm chạm đất cho đỡ nhức nhối mười đầu ngón chân thì hai ngón tay cái của hắn đau buốt, chịu không thấu. Nếu hắn rướn người thêm một chút cho hai ngón tay đỡ nhức nhối thì mười đầu ngón chân của hắn đau buốt. Hắn đành bất động, tìm quên hình phạt thể xác bằng thiền đứng và ước mơ. Không ai chịu nổi hình phạt này quá một tuần lễ. Lương Việt Cương đã chịu nổi mười hai ngày đêm. Đừng hòng người Cộng sản ưu việt và đầy nhân cách cởi giây cho anh ăn uống, ỉa đái. Một tù nhân khác cho anh ăn, uống. Miệng anh nốc nước, chân anh vẫn kiễng. Răng anh nhai cơm hẩm, tay anh vẫn dơ cao. Anh đái, ỉa, ngủ, chiêm bao, sợ hãi, đau đớn trong hình phạt. Hãy nghĩ anh ỉa đái lên hình phạt. Và nếu hình phạt của thù hận oái oăm này là biểu tượng ưu việt của chủ nghĩa Cộng sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa thì anh đã ỉa đái lên nó. Anh ngờ vực hình phạt và sự chịu đựng hình phạt của con người? Cứ tự do ngờ vực như cái thế giới tự do của anh. Sắp đến lượt Cộng sản nước anh treo anh như nó đã treo Lương Việt Cương. Anh cứ ngoảnh mặt đi. Có ngày anh sẽ tru tréo phân trần: Tôi chẳng có tội gì, tôi chỉ tranh đấu cho nhân quyền. Thưa anh, đòi hỏi quyền làm người, ở thế giới Cộng sản, là tội lỗi phải trừng phạt bằng cách buộc giây điện vào hai đầu ngón tay, kiễng lên với mười đầu ngón chân và treo cao tay lên!

Người ta nghỉ chơi hình phạt này và cho Lương Việt Cương nghỉ ngơi tĩnh dưỡng ít lâu. Rồi có trò chơi khác cho Lương Việt Cương. Khi các thứ trò chơi của chủ nghĩa không làm Cương nhận tội, ăn năn sám hối tội lỗi, người ta xếp Lương Việt Cương vào thành phần “không thể cải tạo”, người ta giả vờ quên Cương. Hai năm sau, người ta gọi Lương Việt Cương ra làm việc. Người ta hỏi Cương có muốn trở về xum họp gia đình không, Cương đáp không, không, không.

– Tại sao?

– Như tổ quốc tôi, thân thể tôi đầy sẹo Cộng sản.

Đó là lần làm việc cuối cùng của Lương Việt Cương, đại biểu của tuổi trẻ việt nam có mặt trong mọi dấy động của đất nước. Những người viết lịch sử sau này sẽ quên tên Lương Việt Cương, thày giáo dạy toán lý hóa. Điều đó chẳng sao và cũng chẳng đáng ngạc nhiên. Bởi vì sử gia của chúng ta đã chạy trốn hết. Và họ đang viết những trang sử ca ngợi sự nghiệp giải thoát dân tộc của các ông trùm công an, các ông cò đã đóng góp nhiều vào các cuộc đàn áp tuổi trẻ việt nam. Hình như Lương Việt Cương chẳng thích ai biết về mình.

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 4 Jan 2026

Chương 8

Diệu Thủ Thư Sinh

Con gà mái vừa rời ổ, nhảy xuống nền đất mới làm cỏ, kêu cục cục. Cô nàng vừa chạy, vừa dang đội cánh, đập đập như muốn bay. Đấy là động tác làm giản gân cốt của con gà mái đang ấp, cũng vô tình báo tin cho Lân biết, cô nàng đang có một ổ trứng. Lân liếc về phía ông vệ binh, rồi liếc nhanh về phía ổ gà nơi chái nhà. Mọi người đang cắm cúi làm việc. Tù làm cỏ. Tù be bờ, để nước mưa có lối thoát. Tù đang sửa lại các bậc tam cấp đã sụp lở, xói mòn. Đây là bộ chỉ huy của ông chín ngón.

Tù lao động ở đây phải chăm chỉ, vì ngoài đôi mắt của ông vệ binh trực tiếp canh giữ, còn có nhiều đôi mắt khác quan sát. Nhất cử, nhất động, đều có thể bị để ý, theo dõi. Một vài tù đói thuốc, lo tìm dế nhưng Lân không để ý đến chuyện đó vì có một việc lớn hơn làm Lân đang suy nghĩ.

Lân cào cào gom đống cỏ lại, rồi đến gần Nghiêm nói thật nhỏ:

– Có ổ trứng.

– Ở đâu?

– Nơi chái nhà.

– Làm cách nào?

– Đặt kế hoạch đi.

Rồi Lân lãng ra xa, dùng tay tơi đất và gom cỏ thành đống, vừa suy nghĩ. Nghiêm dùng cuốc, cào cào cỏ lại chỗ Lân:

– Có cái túi nào không?

– Có cái hồ lô[1]

– Tao tin cho thằng Diệu thủ Thư sinh [2], mày để hồ lô giữa đống cỏ cho nó.

– Tao canh chừng cuối sân đầu bên nầy, mày bên kia.

– Còn trường hợp chúng ở trong nhà nhìn xuyên qua vách?

– Chỉ trời cứu thôi.

– Phải thực hiện ngay kẻo con gà mái quay trở lại ổ thì rắc rối lớn.

Nghiêm ra phía trước sân, gần bậc tam cấp, nơi Diệu thủ Thư sinh đang làm, thông báo kế hoạch. Diệu thủ Thư sinh thêm ý kiến:

– Mầy tìm cách giữ chân thằng vệ binh ở đây cho đến khi tao đặt túi trứng giữa đống cỏ và sau đó thì mầy xin nó cho phép mang cỏ đi đổ. Thằng Lân sẽ bỏ cỏ vô sọt và kêu tao khiêng với nó là êm.

Diệu Thủ Thư Sinh tiếp:

– Còn chuyện đem vô cổng?

– Tao sẽ cho thằng Huỳnh hay, vì nó nuôi heo, ra vô cổng hằng ngày, ít khi bị chận xét.

Trên đường đi đến gặp ông vệ binh ở cuối sân phía bên kia, Nghiêm bắn tiếng để lấy lòng ông vệ binh:

– Anh em cố gắng làm tốt đi, tôi sẽ xin phép cán bộ cho nghỉ giải lao.

Gặp ông vệ binh, Nghiêm nói:

– Thưa cán bộ, xin cán bộ cho biết cách sửa các bậc tam cấp. Cán bộ quản giáo đã chỉ cho tôi sáng nay rồi nhưng có vài trở ngại cần đến ý kiến của cán bộ ở đây.

Ông vệ binh đi với Nghiêm đến nơi bậc tam cấp thì Diệu thủ Thư sinh đang ôm cỏ đi về phía Lân.

Nghiêm kể một vài khó khăn để làm các bậc tam cấp khỏi sạt lở, như cần cây và cọc để đóng cừ, đắp đất. Cần xẻ hai mương ở hai bên cho nước có lối thoát, rồi Nghiêm xin ông vệ binh cho một người đi chặt cây.

Nhiệm vụ của ông vệ binh là chỉ canh giữ tù, còn việc cắt cử tù đi làm việc khác phải do ông quản giáo, cho nên ông vệ binh chưa thể quyết định được. Nghiêm chỉ chờ có vậy để kéo dài thời gian. Ông vệ binh đang phân vân, chợt nhìn thấy ông chín ngón từ xa đang đi về phía bộ chỉ huy. Ông vệ binh nói với Nghiêm:

– Chờ thủ trưởng đến, tôi sẽ hỏi.

Nghiêm hồi hộp vô cùng, nên liếc nhìn về phía Lân. Lân nhìn lại nhưng không thấy Diệu thủ Thư sinh ở đâu cả, Nghiêm đoán chắc đang ở nơi ổ gà. Như vậy thì tai họa sẽ đến. Ông chín ngón là con cáo già chứ không phải đơn giản.

Ông vệ binh đón hỏi ông chín ngón, khi ông vừa lên được mấy bậc tam cấp. Lên đến trên sân, ông chín ngón đứng nhìn bao quát, rồi ra lệnh:

– Cho người làm sạch cỏ hai bên mương rồi đánh sâu xuống. Cắt người đi về khu nhà bếp khung lựa một số củi tốt và thẳng, đem về đây đóng cọc.

Rồi ông quay lại Nghiêm:

– Anh theo tôi ra phía sau các dãy nhà tôi sẽ chỉ việc cho.

Bên trong trái tim Nghiêm như muốn văng ra khỏi lồng ngực nhưng bên ngoài Nghiêm vẫn giữ bình tĩnh:

– Dạ.

Ông chín ngón không đi ngay về phía Lân, nơi đống cỏ, ông đi về cuối dãy phía bên kia. Ông vệ binh và Nghiêm theo sau. Ông chín ngón chỉ vẽ công việc. Nghiêm như chăm chú lắng nghe nhưng mắt liếc về hướng Lân. Nghiêm thấy Diệu thủ Thư sinh và Lân đang hợp tác kéo một số dây leo xuống vung vãi, choán cả lối đi phía sau nhà. Nghiêm hiểu ý, Lân muốn làm cản lối đi của ông chín ngón, nhưng ông chín ngón cứ đạp lên đống dây leo đi tới. Ông đứng lại giây lát, rồi đi vào bên trong chái nhà. Nghiêm phụ với Diệu thủ Thư sinh và Lân gom góp, dọn dẹp trong căng thẳng thần kinh. Lân ra dấu nơi đống cỏ. Cả ba lắng tai nghe từng tiếng động nhỏ từ trong chái nhà vọng ra. Nếu ông chín ngón phát hiện thì diễn biến sẽ như thế nào. Cái gì sẽ xảy ra? Có thể ông sẽ tập họp cả toán rồi kêu các vệ binh lục soát. Có thể những trận đòn sẽ xảy ra để tra hỏi, tìm cho ra thủ phạm. Đống cỏ đang lù lù trước mắt bây giờ như một cái gì ghê tởm mà cả ba đều muốn tránh cho xa.

Chợt tiếng con gà mái kêu lên cục cục trong chái nhà làm cả ba kinh hoảng. Tai họa chắc chắn sắp đến. Có thể ông chín ngón đang kiểm tra ổ trứng. Diệu thủ Thư sinh nói thật khẻ:

– Phải có một đứa hy sinh. Tao chịu cho.

Lân nói:

– Để tao.

Nghiêm nói:

– Bình tĩnh. Có thể chịu càng nhiều, càng tốt. Vì một đứa chúng dễ bắt làm vật hy sinh nhưng đông thì chúng khó giải quyết hơn.

Cả ba cùng im bặt khi nghe tiếng ông chín ngón bước trở ra nhưng không dám quay lại. Cả ba đang nghĩ, chắc ông chín ngón đang nhìn phía sau lưng họ và đang đánh giá ai là thủ phạm. Tình trạng căng thẳng như tử tù chờ nghe tuyên án. Nhưng ông chín ngón không nói gì. Ông chỉ đi đến cuối căn nhà, gần nơi đống cỏ, ông đứng nhìn quanh quất, rồi vòng ra phía trước sân. Chỉ chờ có thế. Gánh nặng căng thẳng cả ngàn cân chợt tan biến mất. Lân nói:

– Trời còn thương nên cho con gà mái về lại ổ kịp lúc. Nó ghiền trứng nên nằm ấp ổ không, chứ nếu không thì tai vạ lớn đang xảy ra. Đã mất ăn mà phải chịu đòn vọt, kiềm kẹp.

Giờ giải lao, Nghiêm xuống suối rửa tay, đón gặp Huỳnh đang gánh đôi thúng dọc suối, tìm lá ráy cho heo và dặn:

– Thoát được vô cổng thì bỏ trong nồi cháo heo luộc ngay trong khi cả trại còn đang ở hiện trường lao động. Vụ nầy lớn nên phần mầy thì thanh toán ngay để nếu có đổ bể thì ít ra cũng có thằng đã nuốt được vô bụng. Còn lại, chia nhỏ giấu ngoài bờ, bụi. Tuyệt đối không để ở trong lán.

[1] Túi thu quyền phép của Thái Thượng Lão Quân trong truyện Tây Du Ký.
[2] Nhân vật có biệt tài ăn cắp, trong truyện Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung.

Ý nghĩ bình dân

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/03/2018   

Post by Sơn râu 3 Jan 2026

Ở biển ngoài, muốn in ra cuốn sách phải chạm mặt bao điều nan giải. Quỵ luỵ, chìu lòn, cực lòng nhờ cậy, dẹp bỏ tự ái, một mực xuống nước. Sách trình làng, tâm huyết bày ra, ruột để ngoài da, ghẻ lạnh. Hòn sỏi ném đi, hờ hững nước trôi chẳng gợn tăm. Thi phú ích gì cho buổi ấy, tiền nhân dạy. Chuyện ngày xưa, chữ chưa phai “văn chương hạ giới rẻ như bèo!” Nói bỏ lỗi ai cầm thước đo hầu quy định và sắp hạng? Mặt trái một tác phẩm có khi giá đắc phỏng tay. Hoặc nôm na khi chào đời nó chịu qua nhiều gió bão, trầy vi tróc vẩy lội lọt khe, đánh đổi bao tổn thất gần ngang tin chiến sự: từ chết tới bị thương đếm không xuể.

Có điều gì gần như khó thông hiểu, mụ mị thần hồn, gạt bỏ hết, tom góp in thành cọc giấy dày mấy trăm trang, cuối cùng bày ra lợn cợn một dấu hỏi, xiết ngậm ngùi: Có đáng chăng khi vất nó ra đời? Mong cầu điều gì? Cho có với anh em? Cho khỏi thẹn với bè bạn? Ai sao ta vậy cho xôm tụ bầu cua tôm nai cá gà? Có thêm lắm câu trả lời vẫn chưa lấp đầy, vẫn thấy thiếu. Thiếu, có nhiều người sinh ra đã phát hiện thiệt thòi, phân bua do hoàn cảnh. Có người đầy đủ nhưng nhìn quanh mình có lắm số phận đớn hèn. Một đứa chính trực sẽ chẳng an toàn khi sống trong xã hội toàn cả bọn bất lương. Những con két biết giả giọng người sẽ căm ghét “con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hót chơi”. Định nghĩa về một loài hoa đẹp, không gì đơn sơ giản dị cho bằng, vì hoa nở lẻ loi, khác thường giữa một rừng bông thuần chủng loại. Chẳng ai ngó lơ được cây mắc cỡ (hổ ngươi) mọc chen giữa luống vạn thọ mãi chăm bón. Vẻ đẹp bất thường của nó khiến đứa thưởng hoa nhàm mắt phải sững sốt. Hậu quả là buộc phải bứng nhổ cái dằm nằm trong con ngươi.

Hải ngoại có lắm đầu sách thuộc dạng vô thưởng vô phạt, có cũng vậy mà không có vẫn thế. Kiểu “ôi ta buồn ta đi loanh quanh bởi vì đâu?” hoặc “trời chợt mưa chợt nắng chẳng vì đâu!” Vì đâu xẩy ra cớ sự này? Giả nhời: Một vài trống canh thôi mà. Năm canh chày thức đủ vừa năm. Và khôi hài: Em ơi, ngày mai trời lại tối! Nhà văn Mai Thảo từng có thơ: “Nơi một ngàn chương thiếu một tờ”. Chữ thiếu-một-tờ cô đọng trong câu ấy là một cánh cửa mở để tuỳ tâm cảm từng cá nhân tìm cách đóng khép ngó sao cho vẹn toàn. E bất khả?

Trong muôn một, cuốn “Chính Trị Bình Dân” của Phạm Đoan Trang tựa một cánh tay (nối dài) với ra để đóng lấy, để lấp đầy, để góp gạo nấu ăn chung, để chất củi thổi lửa, để làm kiềng ba chân, cho dù có cay mắt vì khói vẫn mong tựu thành một sự chín tới, buộc phải thế. (Không có lửa làm sao có khói?) Tựa đề nhằm lưu ý nó không thuần là món ăn tinh thần dễ nuốt. Nó khó nhai bởi hơn một lần nó sống sót trong cuộc chiến có xiết bao kẻ “từ chết đến bị thương” từ vùng chôn nhau cắt rốn của bá tánh giao chỉ.

Con gái đàn bà phụ nữ khắp ba miền nước Việt có rất nhiều người mang tên Đoan Trang từ sống tới bị thương cho đến chết thảy trùng lẩn. Thành ra Đoan Trang có thể gọi là một mỹ từ bình dân. Nhưng ở vào thời điểm này, khởi đầu mùa xuân năm con chó, danh xưng Phạm Đoan Trang đã “vượt lên trên số phận” của bình dân. Vượt lên những định nghĩa thông tục về vẻ đẹp can trường, biệt lệ. Thử đọc lời của nhà thơ Đỗ Trung Quân trên facebook: “Mấy năm trước an ninh chỉ canh giữ cửa nhà và bám theo một thời gian dài, chỉ khủng bố tinh thần tôi ở cấp mẫu giáo mà có lúc tôi đã rơi vào stress nặng cáu gắt lung tung với chung quanh. Việc vờn bắt, thả Phạm Đoan Trang hôm nay ở cấp đại học. Không phải chuyện đùa. Mong cô bình tâm và an lành…”

Đoan Trang có bình tâm và an lành không? Tôi chẳng nghĩ vậy, bởi lời Đỗ Trung Quân chúc hơi bị trái khoáy, ở cấp mẫu giáo mà anh còn bị stress trong khi người ta đang chịu thử thách tới cấp đại học, tìm đâu ra bình tâm và an lành? Chưa nói tới người ta là phận đàn bà con gái trong khi anh đường đường là đấng mày râu. Thân thể anh nguyên vẹn trong khi cô ấy từng bị an ninh “tả xung hữu đột” cho đến nỗi bị thương tật ở đôi chân. Cách so sánh của anh hầu như chỉ để làm rõ thêm sự đớn đau mà Đoan Trang đang phải chịu đương cự và đồng thời nhằm xác định về sự tán dương mà anh thua cô ấy ngay tự cơ bản, cách biệt giữa trường đời: Mẫu giáo- Đại học. Và cá nhân tôi, vì ở xa nửa vòng quả đất, tôi thua kém anh ở mặt “thất học”, chưa mài đít ở trường mầm non, mẫu giáo. Như thế, nói tới Đoan Trang, tôi phải ngước mắt nhìn lên, tự nhủ rằng không phải ai cũng được bình dân như cô ấy. Bình dân từ khuôn mặt, bình dân từ số phận. Bình dân đến độ toả sáng, như ngọn hải đăng lẻ loi cắm giữa tảng đá chịu nhiều vùi dập của sóng biển. Một vẻ đẹp quá ư cần thiết giữa đêm đen kẻ hải hành lỡ mất định hướng.

Tôi chưa đọc cuốn sách “Chính Trị Bình Dân” đang gây tiếng vang do nhà báo Phạm Đoan Trang viết nên. Tôi chỉ mới đọc bài “Chúng sẽ đến trong năm phút nữa” và bài “Họ còn muốn gì nữa?”, chừng đó đã đủ “say sóng”, đã nghiệm thấy trước mắt, chờn vờn mấy chữ vô vàn mến yêu. Đã muốn viết nên một cuốn tiểu thuyết kể chuyện một cô gái xuống tàu thực dân Pháp làm nghề rửa chén, phiêu bạt sang xứ người nếm trải muôn vàn khốn khó hòng mong kíu lấy số phận ám tối của một bộ phận không nhỏ mãi chịu cảnh bị đè đầu cỡi cổ triền miên ở cố hương. Bình dân tới độ muốn sưởi ấm giấc ngủ cơ hàn, nhân vật giả tưởng ấy sẽ đi ăn cắp hai cục gạch, gọi tên là Trường Sa và Hoàng Sa, mang gửi vào lò nướng bánh mì của một tay luôn cổ xuý chuyện đấu tranh giai cấp. Trời ơi, nó đỏ hồng như thế thì biết dùng vật gì để chứa đựng, mang về chêm dưới giường một đêm Paris trời đổ tuyết hờn căm? (Đọc sang hồi sau sẽ rõ). Nếu cuốn fiction ấy có ai chịu xuất bản giúp, trang đầu tôi sẽ trang trọng dành tặng Đoan Trang. Lại mở một cái ngoặc đơn: Theo lẽ tường thì đứa viết văn tự xưng mình ở cấp “đại học” trong khi đứa viết báo lại nằm dưới lớp “mẫu giáo”. Nhưng xin đóng lại ngoặc đơn: Cách nhập cuộc của nhà báo Đoan Trang buộc lắm nhà văn phải đưa tay ra sau ót tự rờ rẫm nếu không tiện soi mặt vào gương.

Tôi cũng ngạc nhiên để ngưỡng mộ về ngón đàn guitar có vẻ dày công học tập của Đoan Trang, những bản nhạc cô trình bày cũng hợp với đôi tai “bình dân” của đứa tự nhận là vịt nghe sấm, ví dụ như các sáng tác của ban nhạc Bread mà năm 1972-73 từng làm mềm lòng tôi qua giọng ca ngọt ngào đầy cảm xúc của David Gates: Everything I Own, Lost Without Your Love, To Make It With You, The Guitar Man… Và Đoan Trang đã hát bài If, là bài sau bao đổi đời tôi vẫn còn nhớ một tiểu đoạn:

If a man could be two places at one time
I’d be with you
Tomorrow and today
Beside you all the way.

Phạm Đoan Trang sinh năm 1978 (năm tôi chuẩn bị vượt biển), cựu học sinh trường Amsterdam, đại học ngoại thương ở Hà Nội. Ra trường lại chọn nghề phóng viên đầu quân vào báo điện tử VnExpress. Lại nhảy sang làm cộng tác viên cho Vietnamnet. Công việc cuối là phóng viên báo Pháp luật TP. HCM tại Hà Nội. Là người tuyên bố câu đáng ghi vào sử sách: “Tôi chấp nhận bị đàn áp, vì tôi chống họ. Nhưng phải kính sợ, nể phục một “cái gọi là nhà nước” hèn như thế thì không. Không bao giờ”.

Nếu tôi biết hát bài “If” như David Gates, tôi sẽ đổi lời: Nếu tôi có thể về quê cũ, tôi sẽ đi thăm Nguyễn Hoàng Vi, Nguyễn Phương Uyên, Phạm Thanh Nghiên, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Phạm Đoan Trang, những bậc quần hồng khiến thế giới phải biết đến thành tích đấu tranh ôn hoà bất bạo động của họ. Thầm lặng tô son vào hình ảnh nữ lưu xứ Việt, chẳng rụt rè trét phấn vào thời cuộc chừng như đang âm thịnh dương suy. Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Sách gối đầu của các nhà làm cách mạng (lạc hậu) đã được con cháu của Hai Bà Trưng viết lại chương mới, hào hùng và đầy oan nghiệt. Tôi không chúc Phạm Đoan Trang bình an và may mắn, tôi cũng chẳng mong mỏi cô chân cứng đá mềm. Bởi cô xứng đáng đứng ở vị thế cao mà những lời chúc khuôn sáo kia sẽ mang đủ cái giới hạn của sự tầm thường, và đời thường. Cô xứng đáng mang hình ảnh của kẻ tử vì đạo, đánh đổi bao thiệt thòi để thắp đỏ ngọn lửa mong manh có tên gọi “Chính Trị Bình Dân”. Cho tôi kết thúc bài viết bình dân này bằng một dấu chấm: Phạm Đoan Trang bị bắt vào ngày 8 tháng 3, ngày Phụ Nữ Quốc Tế.

Hồ Đình Nghiêm

Mùa Đông Giữ Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 3 Jan 2026

Bài 6

NHƯ CỦA MỘT AI KHÁC,

Những ngày ở Mỹ, bất ngờ được đọc người Bạn trẻ Lương Minh Sơn kể lại chuyện của chính bản thân … Người Lính Viết văn có cảm giác sững sở như đang chứng kiến điều quá đỗi đau xót của một “Ngườila- ngoàimình.” Cảm giác của người không tin: “Hóa ra chính mình đã sống như thế. Đau như thế.” Cảm ơn người Bạn Trẻ- Cảm ơn người đã chia cùng một lần đau.

CHIẾN TRANH VIỆT NAM:

NHỮNG CHUYỆN CẦN ĐƯỢC KỂ LẠI.

Lương Minh Sơn

Hai mươi mấy năm về trước, có một sĩ quan của Miền Nam VN đã nhìn cuộc chiến bằng đôi mắt nhân bản.

Mặc dù là sĩ quan tác chiến, đã tham dự nhiều mặt trận đẫm máu, ông còn là một người chuyên viết bút ký chiến tranh. Ông viết:” … Tôi không phải là một hoàng tử văn chương ngoại hạng, xem chuyện viết lách như một  công việc nghiêm trang giữa người và thế giới bí ẩn củachữ nghĩa, viết đối với tôi là cách thoát hơi”. Trong nhu cầu được viết, ông kể về đời lính, về cuộc chiến, và về những nạn nhân trong cơn binh lửa. Ba bút ký chiến trường nổi tiếng của ông là: “Dấu Binh Lửa, 1969″; “Dọc Đường Số Một, 1970″; “Mùa Hè Đỏ Lửa, 1972″.

Năm 1973, ông là thành viên của Ủy Ban Liên Hiệp Quân Sự 4 Bên, có trách nhiệm về vấn đề trao đổi tù binh. Ủy Ban 4 Bên gồm đại diện của Cộng Sản (miền Bắc, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Hoa Kỳ, và Miền Nam VNCH. Trong cuốn bút ký Thứ Tư của ông với nhan đề “Tù Binh & Hòa Bình, 1974”, ông kể lại diễn biến từ lúc người tù binh được ngã giá, thương lượng, cho đến những cuộc trao đổi chính thức ở hai bên bờ sông Thạch Hãn, Quảng Trị cũng như trên các phần đất khác của miền Nam VN.

Sau khi người CS tràn ngập miền Nam từ 30-4-1975, ông là một trong hằng trăm ngàn chiến sĩ VNCH đã bị CS đưa đi tù, trong những cái gọi là trại “Học Tập Cải Tạo”. Mọi người VN đầu biết rằng trong lúc ở tù CS, ông đã từ chối gặp cha ông, một cán bộ CS. Trong quá khứ, cha ông đã bỏ gia đình theo CS, sau khi dắt ông đi xem một phiên hội chợ, lúc ông dưới mười tuổi. Đối với một sĩ quan đã chọn cho mình một chính nghĩa, và cho dù chính nghĩa đó có thất bại đi chăng nữa, ông cũng đã duy trì được tư cách của một Kẻ Sĩ. Tháng Hai, 1989, sau 14 năm tù, trong đó có 8 năm biệt giam, ông được CSVN trả tự do và được Hoa Kỳ cho phép nhập cảnh theo chương trình “Nhân Đạo” (HO). Để hồi tưởng lại một phần nào của những gì đã xẩy ra trong cuộc chiến ở VN, cách đây hơn 20 năm về trước, bài viết này xin được trình bày những kinh nghiệm có thật trong cuộc đời của Phan Nhật Nam, một cựu Đại Úy Nhẩy Dù và là người viết bút ký chiến trường nổi tiếng của miền Nam VN.

CHIẾC QUAN TÀI TRONG THÀNH PHỐ

Phan Nhật Nam sanh ra và lớn lên ở Miền Trung nước Việt, quê hương “đất cầy lên sỏi đá”. Ngoài vấn đề thiên tai và hoàn cảnh phong thổ đã tạo ra nhiều thiếu thốn về những nhu cầu cần thiết cho một đời sống căn bản, người dân miền Trung còn là nạn nhân thường xuyên trực tiếp đầu tiên trong hầu hết các trận chiến đã xẩy ra ở VN. Từ thời Pháp thuộc (1885-1954) cho đến thời chiến tranh Nam-Bắc (1954-1975), rất nhiều người dân miền Trung đã phải gục ngã khi các lực lượng vũ trang của mọi phía thay phiên nhau cầy xới lên vùng đất thân yêu của họ. Hoàn cảnh điêu đứng của người dân miền Trung là những hình ảnh đã ăn sâu vào tâm hồn của Phan Nhật Nam. Khi còn là một cậu bé ở Đà Nẵng vào năm 1954, Phan Nhật Nam đã từng chứng kiến cảnh ba đứa bé mồ côi khoảng mười, mười hai tuổi, kéo lết một chiếc quan tài được đóng sơ sài bằng gỗ của thùng đựng sữa hộp, trong có chứa xác của một đứa bé khác. Tử thi trong quan tài là một đứa bé mồ côi lên sáu, thiếu ăn, bị kiết ly, không được cấp cứu nên đã tiết hết sinh lực trong người cho đến chết. Ba đứa trẻ còn sống kéo chiếc quan tài đi dọc theo những con đường trong thành phố, hướng về phía ngoại ô, nơi có bãi hoang chôn người chết. Trong cơn kiệt lực vì đói khổ, các em đã phải dừng lại nghỉ chân nhiều lần bên lề đường, nơi nhiều người qua lại. Rồi khi đi ngang qua một chiếc xe bán nước mía, các em đã vây quanh, lượm những cục nước đá thừa rơi rớt trên mặt đất. Các em gục đầu ăn những cục nước đá vụn dơ bẩn đó một cách thèm thuồng như chưa từng được ăn. Một đứa trong bọn bỗng dưng ngẩng đầu lên, đi đến cạnh chiếc quan tài nhỏ, đặt thỏi nước đá của mình ngay trên đầu ván thiên, như một cử chỉ “nhường phần ăn cho người đã chết”. Hãy nghe Phan Nhật Nam kể lại cảnh ba đứa bé chôn kẻ xấu số … “Huyệt đào xong, các em đặt nhẹ chiếc quan tài xuống, không quên lấy lại chiếc thừng để còn chôn đứa khác. Ôi, chôn kẻ khác hay là chính thân các em sau nầy? Ngôi mộ được đắp cao khoảng tám phân, em bé nhất tiểu tiện lên đó để giữ cho cát khỏi tụt! Tội ngiệp cho em biết bao, với mười tuổi hơn, em làm sao biết được đó là điều sỉ nhục kẻ chết. Em chỉ biết đem phẩm vật của thân thể, dù là một chất nước thừa, tặng cho người bạn nhỏ đã giã từ cuộc sống. Các em làm dấu Thánh Giá, chấm dứt bài kinh ngắn. Bóng ba đứa bé lũi thủi bước về tội nghiệp như những xác ma lang thang bất hạnh”.

ĐI CHO CÙNG VỚI QUÊ HƯƠNG

Năm 1963, Phan Nhật Nam tốt nghiệp sĩ quan khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (VBQGĐL), một trường đào tạo sĩ quan theo chương trình 4 năm với các môn căn bản không kém gì trường Võ Bị Quốc Gia West Po nt Hoa Kỳ. Theo nguyên tắc, ba sĩ quan đậu cao nhất khóa được quyền ưu tiên chọn binh chủng phục vụ, và theo truyền thống, tất cả đã phục vụ trong các đơn vị thiện chiến nhất của miền Nam VN, như: Nhẩy Dù (ND), Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), Biệt Động Quân (BĐQ), Bộ Binh (BB) .. v.v … Phan Nhật Nam đi Nhẩy Dù, một binh chủng đã có mặt trong hầu hết các cuộc giao tranh đẫm máu của chiến trường VN. Nhưng trong 14 năm trực tiếp góp mặt với khói lửa của quê hương, ông không thấy được “hòa bình trong chiến thắng”. Chung quanh ông chỉ là những cảnh đời tan nát của người lính VNCH nói riêng, và của người dân quê bị kẹt giữa hai lần đạn, nói chung. Ông viết, “… Ở đây chỉ là nỗi nhớ những đời người người tôi chứng kiến, những người tôi không biết có thể gọi đúng nghĩa hay chăng vì những người đã đi qua, đã gặp chỉ gợi lên những thống khổ bi thảm của một con “vật người” gọi là “người việt nam” …Bao nhiêu năm lính đã cho tôi biết được quê hương còm cõi này, những người Việt sống dọc dài con Đường Số 1, là những người mang nỗi bất hạnh vượt lên trên mọi bất hạnh: Hàng “Thánh Nhân” gánh chịu cơn tàn bạo hủy hoại con người.”

Tháng 6-65, Tiểu đoàn 7 Dù, đơn vị đầu đời của Phan Nhật Nam, được lệnh hành quân vùng Đồng Xoài, Bình Dương. Nhiệm vụ chính của cuộc hành quân này là để thâu lượm xác chết của Tiểu đoàn 2/7, Sư đoàn 5 BB bị VC tàn sát trước đó hai ngày. Tiểu đoàn bộ binh này bị CS phục kích tại bãi đáp khi vừa được trực thăng vận tới và đã bị đánh tan ngay từ những giờ phút đầu của cuộc giao tranh. Xác chết nằm rải rác trên hơn một cây số. Người chết trong đủ mọi tư thế; chết như nằm ngủ, chết đứng dựa vào thân cây, hoặc chết ở vị thế ngồi. Tiểu đoàn 7 Dù đã phải mất gần hai ngày mới thâu lượm được hết xác chết. Đêm đầu, họ phải ngủ lẫn lộn với những tử thi nằm ngổn ngang khắp rừng. Mưa xuống làm cho thây người chết bốc hơi sình thối cả một vùng. Sĩ quan và lính đều phải chung vai vác những tử thi ấy từ trong rừng ra bãi đáp để chạy đua với thời gian. Phan Nhật Nam viết, “Hai giờ chiều (ngày thứ hai), xác chết đã được nhặt hết, tôi chà tay xuống mặt đất như muốn bốc lớp mùn trên da. Thèm điếu thuốc lá nhưng không dám đưa bàn tay lên môi.”

Sau cuộc thu dọn xác chết đơn vị bạn, Tiểu đoàn 7 Dù tiến vào đồn điền Thuận Lợi để truy lùng quân địch. Họ không biết được Trung đoàn Q 763 VC đã phục kích sẵn trong đồn điền. Khi Tiểu đoàn bắt đầu đi vào khu sân bay của đồn điền, một tràng đạn đại liên quạt ra và đốn ngã trung đội tiền phương trong khoảng khắc. Sau đó, VC từ khắp phía đứng lên vây kín tiểu đoàn. Họ vừa bắn vừa hô to những khẩu hiệu kêu gọi đầu hàng. Tiểu đoàn chống trả gần hết một ngày nhưng vẫn không làm sao thoát vòng vây. Tối đến, màn đêm trả lại sự tịch mịch của khu rừng với thêm những xác người còn nóng. Trận phục kích đã làm tiêu hao hết nửa quân số của tiểu đoàn. Sau khi bị đạn trúng vào tay và sướt qua mặt, một người bạn của Nam, Thiếu úy Hải vẫn còn tỉnh táo để nằm nghe ngóng. PNN viết … “Tiếng rên la trong đêm tối, lời rên la thảm thiết như âm vọng từ cõi chết. Nước mắt chợt trào ra, nhớ lại những kẻ chết từ buổi chiều, nay tôi chứng kiến thêm giây phút hấp hối của đồng bạn. Người sắp chết trong giây phút cuối cùng của cuộc đời chẳng ai nghĩ đến bản thân, tất cả chỉ nghĩ đến cha mẹ, vợ con. Những tiếng kêu: “con ơi … mình ơi!” như những mũi dao nhọn đâm sâu da thịt, tôi muốn bịt tai lại để khỏi nghe thấy những lời than hấp hối ngân hoài không dứt … “

Màn đêm phủ xuống, nhưng cuộc tàn sát vẫn tiếp tục diễn ra. Lính của Trung đoàn Q.763 VC bắt đầu đi thanh toán chiến trường. Với súng lục và mã tấu trên tay, họ dứt điểm những thương binh Dù nào còn rên rỉ, kêu cứu, “..Lời nguyền rủa chen lẫn tiếng nổ khô và gọn. Chúng chửi mắng hoặc bắn chết thương binh … Người nằm đấy, những người Việt chung một giòng máu, chiến tranh đã biến đổi họ thành thù địch trong trận đánh, nhưng bây giờ còn gì để có nên thù hận. Nhưng rõ ràng tôi nghe trong bóng đêm, những câu chửi tục tĩu, tiếng nấc cuối cùng người chết khi nhận nhát dao tàn bạo hoặc những viên đạn tàn nhẫn chính xác nổ vào đầu … Tôi bò nhanh, đụng vào xác một người. Ai đó …. tôi, Cấm đây, cứu tôi với … Có tiếng chân người chạy đến, một tên VC … Mẹ mày để tao cứu cho. Nó cười hềnh hệch man dã, một viên đạn nổ chát chúa, nó bắn vào đầu anh Cấm. Phi cơ xuất hiện, bom Napalm trút xuống, khu đồn điền rung rinh như cơn động đất, lửa cháy sáng rực. Những người bị thương cố vùng lên để chạy, xong ngã xuống, chập choạng như những xác chết nhập tràng … Sau cuộc không tập, quân VC tập hợp điểm danh ồn ào vang dậy cả khu rừng.”

Trong mười năm cực điểm của cuộc chiến tranh VN (65-75), sức công phá của đạn bom nổ tung trên mảnh đất và da thịt của người VN hiện thực gấp mấy lần trận Đồng Xoài vừa kể. Hãy xem Phan Nhật Nam giải thích tại sao ông chỉ viết bút ký về chiến trường và lính: “Tôi viết về Lính vì tôi không có đời sống nào khác hơn nữa.” Đối với những chiến sĩ Hoa Kỳ, họ có một hy sinh cao cả cho Chính Nghĩa Tự Do ở miền Nam Việt Nam. Trên 58 ngàn tuổi trẻ đã nằm xuống cho một đất nước cách xa họ nửa vòng trái đất. Nhưng trong sự kinh hoàng tột cùng của chiến tranh VN, phần lớn những người chiến sĩ Hoa Kỳ, ít nhất còn có được hy vọng tranh sống trong 365 ngày phục vụ ở VN, để sau đó được trở về xứ sở làm lại cuộc đời mới. Người chiến sĩ VNCH không hề có được ân phúc này. Họ phải chiến đấu theo từng mặt trận để tự vệ như là một điều bắt buộc, nhưng họ không có thẩm quyền giải quyết chiến tranh VN. Bởi thế, quân đội của Miền Nam là tập thể của những cảnh đời khó có thể tưởng tượng. Hãy xem Phan Nhật Nam kể về những người lính mà ông đã từng chứng kiến:

“Có một gã lính trẻ ở đại đội tôi, người thấp bé da xanh mướt ốm yếu, nhưng uống rượu kinh khiếp, hai lít rượu đế nó uống tỉnh bơ, hình như rượu không tạo nên phản ứng nào trong người nó. Ngoài cuộc rượu, nó bình lặng kín đáo như một con ốc. Một hôm đứng gác, sẵn súng ở tay nó bắn vào đầu tự vận. Tôi không biết nỗi thất vọng kinh khủng nào trong đầu một thằng bé 19 tuổi.

“Đức “điên”, quan Ba, Tiểu đoàn phó, đi hành quân mang khẩu M.79(1), chạy trước lính khi xung phong; về Sài Gòn chơi, Đức mặc một chiếc áo bà ba đen, dưới quần lính, chân mang dép Nhật, trang bị thêm một con dao đi rừng. Tôi không hiểu nó nhìn đời như thế nào qua cặp kính trắng dầy cộm khi trên người trang bị thứ phụ tùng như thế.”

“Một người lính già, già đúng nghĩa với những sợi tóc màu trắng, trắng như khoảng trống hư vô đằng sau hai mươi bốn năm lính với một thân thể đầy vết sẹo, mất thị giác và trí nhớ, nhưng vẫn nói đến hoài trận đánh đầu tiên của thời trai trẻ trên chiến trường Bắc Việt – Nhắc lại như vậy để mong đừng bị giải ngũ, hy vọng một ngày xua quân vượt Trường Sơn lùng giặc tại chiến khu”.

“…Người lính nghĩa quân ngồi vuốt tóc đứa cháu vừa tìm được trong lòng địa đạo, mang đứa cháu bé trên vai vượt qua bờ ruộng, khấn vái trời phật che chở cho đứa cháu vừa tìm được sống còn, dù mình có bị tan nát dưới lần đại liên bắn không ngừng nghỉ. Đứa cháu là con ngừời anh vừa chạy theo “bộ đội giải phóng”.

Trong thời gian của cuộc chiến, một số dư luận trên thế giới đã xuyên tạc rằng quân đội Miền Nam không chịu đánh giặc vì sợ chết, sau đây là những hình ảnh trong ký ức của Phan Nhật Nam về những giờ phút cuối cùng của các chiến sĩ của Tiểu đoàn 7 Dù ở trận Đồng Xoài:

“…Địch quân đang cắt đôi tiểu đoàn chúng tôi, Đại Úy Ánh, sĩ quan hành quân đứng thẳng người quan sát và hướng dẫn Gunship (2), bị trúng một viên đạn vỡ tan lồng ngực. Trung úy Ký khóa 17 (VBĐL) trong giây phút cuối cùng của sự sống, thản nhiên đốt cháy tất cả giấy tờ đặc lịnh truyền tin. Đại úy Hợp bình tĩnh hút những hơi thuốc píp cuối cùng trước khi tự bắn vào đầu. Trung úy Kỳ, Đại đội trưởng 71, cởi áo gối đầu cho dễ thở, đuổi lính chạy đi, tự mình chống trả với địch trong cơn hấp hối. Đại úy Hải, Tiểu đoàn phó, chửi vào mặt VC khi chúng bảo đầu hàng, chết với chiếc combiné (3) còn ở trong tay, ngồi tựa vào gốc cây cao su ngang tàng và dũng mãnh … Lưu Diễn, anh lính cao không đầy thước rưỡi, người chỉ mang được ba quả đạn 57 ly (4), hai chân bị bắn nát, dòi bò ra theo vết thương, đã bò bằng hai tay trong năm ngày với đoạn đường dài hơn mười lăm cây số, đói khát và kiệt lực nhưng không ngã lòng. Khi về đến bịnh viện, người anh chỉ còn là một xác ma, dấu vết của sự sống chỉ còn lại ở đôi mắt.”

Chiến tranh là chết chóc. Gần nửa triệu người lính VNCH đã chết trong 30 năm của cuộc chiến (45-75); không phải là một con số ước lượng quá đáng. Người chết đã đành, nhưng những người đã chứng kiến cái chết của những bạn đồng ngũ và trở về, chưa hẳn có thể gọi là còn được sống. Hay nói đúng hơn là họ đã chết một phần đời trong họ.

SỰ NGỘ NHẬN

Chiến tranh VN là một cuộc chiến không có mặt trận rõ rệt. Chiến trường xẩy ra nơi những ngôi làng, bờ ruộng, thôn xóm, đồng hoang. Mảnh đất miền Trung nằm giữa hai miền Nam, Bắc, bị kẹp lại như ổ “sandwich” nên người dân miền Trung phải chứng kiến, chịu đựng đủ mọi thảm cảnh chiến tranh xẩy ra từ, với tất cả thành phần quân đội tham chiến. Sau bao nhiêu lần ruộng vườn của họ cháy ra tro vì những cuộc giao  tranh giữa quân đội Viễn Chinh Pháp và Việt Minh, rồi đến trận chiến CSVN, Miền Nam VN và Hoa Kỳ … Người dân quê hiểu gì về chiến tranh? Hãy theo Phan Nhật Nam trở về Kiến Hòa, trong thời kỳ tháng 8-64. Lúc đó, Tiểu đoàn 7 và 3 Dù vừa đụng trận lớn với VC ở gần Quốc lộ 4. Sau khi thắng trận, lính Dù chia các đại đội lục soát chiến trường. Xác VC được moi lên từ những đụn lúa, bờ ao, con rạch, đặt nằm ngổn ngang trên mặt đất. Khi đi vào một căn nhà đang bị cháy, Phan Nhật Nam bắt gặp một người đàn bà áo trắng quần đen đang ngồi ôm chiếc lẵng mây nhìn ngơ ngác nền gạch trước sân đang cháy đổ. Thấy anh, chị ta đứng bật dậy, một đôi mắt không phản ứng, đưa chiếc lẵng mây ra trước mặt. Gia tài trong chiếc lẫng mây của người đàn bà quê này gồm có hai bộ quần áo, hai sợi giây chuyền vàng và đôi bông tai. Phan Nhật Nam không nhận và đưa trả lại cho người phụ nữ. Chị ta run rẩy đón lấy. Người đàn bà khoảng 27, 28 tuổi, gương mặt trắng trẻo đôn hậu bỗng răn rúm lại vì hốt hoảng, làm rung đôi môi. Chiếc lẵng mây rơi xuống đất; chị đàn bà hai cánh tay buông xuôi đứng tần ngần như một người không hồn. Giòng nước mắt bắt đầu tuôn xuống. Phan Nhật Nam hươi mũi súng trước mắt chị ta, bảo ngồi xuống bậc tam cấp chờ được di tản ra đường lộ. Hãy nghe Phan Nhật Nam kể về sự ngộ nhận của người đàn bà bất hạnh này, “Thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa … Từ từ chị đưa bàn tay lên hai hàng nút trước ngực – Không! Không thể được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp, phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng. Không phải như thế chị ơi … Người đàn bà đã hiểu lầm vì tôi không lấy vàng và bắt chị ta đứng lại chờ di tản. Không, chị ta không hiểu được lời nói của tôi – Một người Việt ở cùng

(1) súng phóng lựu đạn

(2) phi cơ trang bị súng đại liên bắn đạn nồi, bằng điện

(3) bộ phận cầm tay của máy liên lạc, để nói (handset)

(4) đạn súng không giật Bazoka.

chị trên một mảnh đất – Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm?!! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này. Tôi đi lính đánh trận chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm cho tôi biết bao với ngộ nhận tủi hổ này … Thê thảm cho tôi, với những người lính chung quanh vì chúng tôi đâu phải là một thứ lính tẩy trên quê hương; chúng tôi có lòng nào thụ hưởng cảm giác trên xác thân của một người đàn bà Việt Nam đang cơn vỡ nát kinh hoàng đau đớn. Tôi muốn đưa tay lên gài những chiếc nút áo đã bật tung lộ liễu, muốn lau khô những giọt nước trên mặt chị nhưng chân tay tôi cứng ngắc hổ thẹn ….

Quân rút ra khỏi làng, chị đàn bà đi theo chúng tôi, vẫn với những bước đi ngượng ngập, vẫn đôi mắt nhìn vào khoảng trống không cảm giác. Người đàn bà Việt Nam bước đi ngỡ ngàng với hạnh phúc khốn khổ – Hạnh phúc thấy thân thể mình chưa bị xúc phạm. Chị không tin đã được bảo vệ giữ gìn từ người lính đã một lần ngộ nhận”.

THỦ ĐÔ LỪA LỌC

Ngày 2-11-1963, Ngô Đình Diệm, Tổng Thống đầu tiên của miền Nam VN bị tướng lãnh miền Nam lật đổ vì lý do độc tài và gia đình trị. Từ 63-67, miền Nam VN nhận sự chỉ huy của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

Thành phố Sài Gòn trở nên rối loạn với những vụ xuống đường bằng mã tấu, gậy gộc của nhiều phe phái chính trị và tôn giáo. Một vài Tiểu đoàn Dù được bốc từ các mặt trận về để ngăn chận những người biểu tình. Sau đây là ý nghĩ của Phan Nhật Nam, một sĩ quan Dù, khi phải trực diện với cơn sốt chính trị trong một tháng chống biểu tình ở Sài Gòn:

“Một tháng ở Thủ Đô đủ để tạo thành cơn sụp đổ tan hoang trong linh hồn, đủ để thấy rõ sự phản bội của hậu phương, một hậu phương lừa đảo trên nước mắt và máu của người lính. Một tháng đủ để chúng tôi hiểu nỗi ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy thù hận và tham vọng. Sài Gòn với những buổi trưa nóng như thiêu đốt, áo giáp, nón sát, mặt nạ, người lính đứng thật cô đơn trong sỉ nhục căm thù của đám đông nhân danh Tổ quốc và Thượng Đế. Chúng tôi bây giờ đã hiểu rõ: Máu và đời sống của mình đã đổ ra cho một xã hội lừa lọc.”

LÁ CỜ TRONG ĐƯỜNG PHỐ

Tháng 6-66, miền Trung biểu tình nổi loạn chống đối chính phủ Trung Ương. Một lần nữa, Nhẩy Dù lại bị bốc từ mặt trận về để bảo vệ đường phố Đà Nẵng. Lần này, Phan Nhật Nam trở về quê hương tuổi nhỏ, gặp lại một người bạn từ thời thơ ấu, nhưng trong một tình cảnh khác. Ông trở về với tư cách là một sĩ quan, chỉ huy một lực lượng quân đội để chống lại đoàn người biểu tình. Người bạn thuở nhỏ tên Dinh của ông nay là người cầm cờ trong đám biểu tình đang hô hào thay đổi đời sống. Khi phát hiện ra người bạn, Phan Nhật Nam viết:

“Dinh, đúng nó đấy, thằng bạn của tôi, thằng bạn của những ngày còn bé đã nuôi dưỡng hoài bão thay đổi đất nước .. Không phải là một hoài bão viễn vông nhưng là mộtước vọng có thật, và bây giờ, cũng với giọng nói đó, ánh mắt rực lửa đam mê đầy nhiệt tình đó, nó đứng trước mặt tôi! Dinh ơi, mầy có biết cho tao hay không? Lịnh tấn công được ban ra, tiêu lịnh riêng phải bắt cho được gã cầm cờ. Chúng tôi và cảnh sát bắt đầu tấn công. Tôi thấy nó, thằng bạn của tôi, tóc xoả dài xuống trán, tay nâng cao lá cờ lúc chạy lui … Tôi không phải là Napoléon, nhưng cũng là kẻ chiến thắng trên bạo lực. Thằng bạn tôi đang chạy về đằng sau, một viên đạn nào đó đã trúng. Tôi thấy nó ngã quy. Cảnh sát Dã chiến nhào tới, tôi thấy đưa cánh tay nó lên vùng vẫy … Không hiểu vì một chủ quan nào, tôi vẫn nghĩ rằng nó không thể là một người cộng sản được. Đấy chỉ là một “nghệ sĩ mang nhiệt tình vào đời sống và ấp ủ hoài bão dựng lại quê hương lớn lên”. Dinh ơi! Ai có thể biết được tương lai sau này: Tao trở nên người lính thực hiện bạo lực, chứng kiến lúc mày ngã xuống cho một quê hương thật đẹp trong hư vô.”(*)

(*) Phan Chánh Dinh, tức Phan Duy Nhân, thi sĩ, giáo sư; Nay, 1993 là Nguyễn Chính, Phó Ban Tôn Giáo Trung Ương Đảng.

NHỮNG NGƯỜI MỸ KHÁC NHAU

“Nếu có một hạng người nào ở Việt Nam có cảm tình với người Bạn Mỹ thì đấy chính là Người Lính Miền Nam. Những người lính ngủ võng, ăn cơm sấy, uống nước hố bom … Tôi muốn nói đến người lính thật thà chỉ cho một anh Mỹ vào hầm bằng một giọng Việt Nam … “Ê … Ê hầm đây Mỹ!” Trong khi chú GI cuống quít vì phi trường Darkto cháy và nổ như một rừng bom. Tôi muốn nói đến nỗi biết ơn của một người lính nhẩy dù bị thương nằm tênh hênh dưới nắng, trận đánh còn đang tiếp diễn với mức độ tàn khốc, nhưng chiếc trực thăng tải thương của Sư Đoàn 1 Không Ky vẫn lượn vòng trên trời chờ đợi. Sau một cái nheo mắt, anh lính phi công tuổi vừa quá hai mươi làm một “cú rơi” tự do. Sự sống của phi hành đoàn, giá tiền của chiếc tàu bay với mỗi giờ bay gần trăm ngàn đồng tất cả chỉ cốt cứu cho được anh lính Việt nhỏ bé quắt queo đen đúa. Người lính Nhẩy Dù VN đã tỏ long biết ơn khi xuống đến phi trường Tây Ninh, cố đưa bàn tay chào anh phi công khi gã trẻ tuổi này đưa ngón tay cái lên chào giã từ. Chúng tôi biết ơn các bạn vì có chúng tôi mới biết những kinh khiếp từng giờ, từng phút ở Khe Sanh (Tiểu đoàn 3 NDVN và một đơn vị của Sư đoàn 1 TQLCHK chịu trận pháo kích ba tháng dài ở Khe sanh). Tây Ninh, bảy giờ tối ngày Lễ Tạ Ơn, Đại úy Doyle tự động biến thành anh bốc hàng, “thằng mập” lái chiếc Jeep rọi đèn pha làm bãi đáp cho chuyến hook cuối cùng để đem lưới đạn vào rừng cho một căn cứ nhẩy dù VN. Tôi muốn nhớ những cảm tình chân thật đó để xác định một điều với các Chiến Hữu Người Mỹ: Chỉ có những Người Lính VN chúng tôi mới thật sự là kẻ biết ơn các bạn trong cuộc chiến tàn khốc này. Chúng tôi xin tri ân những chiến sĩ HK đã đổ máu và chấm dứt đời sống trên mảnh đất nghèo tên gọi VN … “.

Nhưng khi một Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ tuyên bố: “Quân đội VNCH không góp công vào cuộc chiến đấu,” có cái gì ngưng chảy trong mạch máu. Tại sao có thể có những lời tuyên bố như vậy? Thái độ của Chánh Phủ? Tướng Lãnh? Của báo chí, dư luận trong và ngoài nước? Phản ứng đầu tiên của tôi là phẫn nộ, phẫn nộ vì bị sỉ nhục, bị đánh giá quá thấp và tiếp đến nỗi buồn phiền u uất. “Quân đội VNCH không chịu chiến đấu”- Cách phán xét này như ngọn roi tàn bạo quật vào nỗi xót xa, không phải đối với một cá nhân nhưng là toàn tập thể đã cung hiến đời sống nên nỗ lực cuối cùng đối đầu với CS, bảo vệ Đất, Người Miền Nam”.

NHỮNG GIỢT NƯỚC MẮT CHO HÒA BÌNH

Ngày 27-1-73, bốn bên trong cuộc chiến VN ký Hiệp Định Paris cho cái gọi là “Tái lập Hòa Bình ở VN”.

Hoa Kỳ ký để rút quân trong danh dự. Cộng sản Miền Bắc ký với chủ ý nhìn nhận sự ra đi của quân đội HK, và có cơ hội củng cố lực lượng chuẩn bị cho một thế cờ mới. MTGPMN ký để được chính thức công nhận là một “thực thể độc lập”. (Nhưng tưởng cũng nên nhắc lại, không bao lâu sau khi quân đội CS miền Bắc cưỡng chiếm xong miền Nam, Tháng Tư năm 75, MTGPMN đã bị xóa bỏ ngay. Bị xoá bởi kẻ đã khai sinh ra nó- Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Hà Nội). Miền Nam VNCH miễn cưỡng ký với hy vọng được HK tiếp tục viện trợ trong chương trình “Việt Nam Hóa.”

Vào lúc Lê Đức Tho và Henry Kissinger chia nhau giải thưởng Nobel Hòa Bình, nâng ly chúc tụng nhau cho một nền hòa bình đâu đó, cộng sản miền Bắc bắt đầu tung quân chính quy với quyết định dứt điểm căn cứ Tống Lê Chân. Trong khi toàn thế giới tự do đang vỗ tay hoan hô Hiệp Định Paris thì căn cứ Tống Lê Chân đang đón nhận “nền hòa bình mới” này với những trận pháo kích liên tục từ lực lượng cộng sản.

Nhưng Tống Lê Chân ở đâu? Tại sao phía cộng sản phải dứt cho được căn cứ đó bằng mọi giá? Tống Lê Chân là một trong bẩy tiền đồn nằm dọc theo biên giới Việt-Miên từ Tây Ninh đến Phước Long. Các trại còn lại là Thiện Ngôn, Lộc Ninh, Katum, Quản Lợi, Bến Sỏi, và Bù Gia Mập. Hồi năm 67, các trại này là những căn cứ dân sự chiến đấu thuộc Lực lượng Đặc Biệt do quân đội HK thành lập. Căn cứ Tống Lê Chân nằm trên một ngọn đồi cao năm mươi thước cách biên giới Việt -Miên mười ba cây số về phía Nam, và cách An Lộc mười lăm cây số về phía Đông-Bắc. Ngoài nhiệm vụ theo dõi để báo động và hành quân truy lùng địch dọc theo biên giới, Tống Lê Chân còn là cứ điểm nằm giữa các nút then chốt nối liên hệ thống giao liên miền Đông Nam bộ của lực lượng cộng sản. Dưới chân đồi về phía Bắc của căn cứ là đường 246 nối liền Tây Ninh và Bình Long, một con đường mà bộ đội cộng cần xử dụng để hoạt động giữa hai chiến khu C và D. Tống Lê Chân cũng nằm chắn ngang đường nối liền giữa bản doanh Cục R, và Dầu Tiếng, để từ đó có thể làm bàn đạp xâm nhập vào Bình Dương, Gia Định, Sài Gòn. Đứng ở một vị thế kiểm soát bốn hướng giao liên của địch

thủ, Tống Lê Chân là một sự thách thức quan trọng mà phía cộng sản cần phải đốn ngã trước khi có thể xua đại quân vào các thành phố Miền Nam. Từ ngày thành lập, Tống Lê Chân chưa bao giờ có được một ngày không tiếng súng. Vào khoảng tháng Tư 72, thị xã Lộc Ninh và An Lộc bắt đầu bị đánh lớn. Nhất định là Việt cộng quân sẽ ủi sập hết dãy tiền đồn biên giới để rộng đường tiến quân. Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Quân Khu III quyết định rút hết lực lượng của bốn trong bẩy tiền đồn biên giới Việt-Miên, trong số đó Tống Lê Chân. Thiếu tá Lê Văn Ngôn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng (BĐQBP) của Tống Lê Chân xin được ở lại giữ căn cứ. NGÔN nói: “BĐQBP mà rút lui thì quá yếu … “. Tất cả 259 Biệt Động Quân của Tiểu đoàn 92 cũng quyết tình nguyện ở lại đồn ..

Sau bao nhiêu tháng bao vây và pháo kích vào căn cứ, ngày 25 tháng Giêng 73, ba ngày trước khi có Hiệp định Paris, quân đội CS bắt đầu mở những cuộc tấn công cường tập vào Tống Lê Chân. Theo lời viết của Phan Nhật Nam trong “Tù Binh Và Hòa Bình” tính đến tháng 8-73, Tiểu đoàn 92 BĐQBP báo cáo đã nhận được tổng cộng: 233 lần pháo kích, 20 lần bị tấn công biển người, và 7 lần bị đánh đặc công. Trong tám tháng đầu của cuộc bao vây, Tống Lê Chân đã “hứng” 14,500 quả đạn đủ loại dể chào mừng cho cái gọi là “Hòa Bình” trên đất nước VN. Ngày 10-8-73, chiếc trực thăng UH-1 của Phi đoàn 233 bị bắn rớt trong một chuyến phi vụ xuống Tống Lê Chân để di tản thương binh. Phi hành đoàn bị kẹt ở lại căn cứ. Đầu tháng 9, 73, Thiếu tá Bảo, bạn cùng khóa với Thiếu tá Ngôn liều chết dẫn một phi tuần chui lưới phòng không để vào cho được căn cứ. Khi bắt đầu di tản thương binh, 40 trong 75 thương binh BĐQ vẫn tình nguyện ở lại chiến đấu với đơn vị. Chuyến phi vụ đặc biệt này còn mang theo một cặp lon mới cho Thiếu tá Ngôn như một “Tri Ân Quốc Gia đối với một anh hùng trẻ tuổi”. Lê Văn Ngôn, 28 tuổi, tốt nghiệp sĩ quan khóa 21 trường VBĐL năm 1966, được vinh thăng Trung Tá tại mặt trận năm 1973. Về người Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 92 BĐQBP. Phan Nhật Nam viết:

“Đến một lúc nào đó trong một hoàn cảnh thích hợp, sự can trường đã trở nên một tính chất tổng quát và cộng hưởng”. Ngày 5-4-74, sau nhiều tháng tập trận giã trên sa bàn, Công trường 9 và Trung đoàn 271 CS Bắc Việt, cùng với sự yểm trợ của một trung đoàn pháo, một trung đoàn phòng không và lữ đoàn chiến xa mở cuộc tổng công kích cuối cùng ở Tống Lê Chân. Trung tá Lê Văn Ngôn và 259 chiến sĩ của Tiểu đoàn 92 BĐQBP làm được gì trước định mệnh đó? Phải chăng họ là những giọt nước mắt đã đổ xuống cho giải thưởng “Nobel Hòa Bình”?

Sau bẩy ngày chống trả, Tống Lê Chân bị CS tràn ngập vào lúc 0100 sáng ngày 11 tháng Năm 74. Phan Nhật Nam viết, “Chúng tôi đã chống đỡ bằng thanh kiếm tuyệt vọng trong khi đời vẫn kêu gào tiếng lớn đòi máu chảy.” Bây giờ là Tháng Tư 95. Thấm thoát đã hơn hai mươi năm kể từ khi có những dư luận phản chiến trên thế giới; những người viết về quân sử thế giới hôm nay sẽ nhìn lại vấn đề một cách trung thực hơn. Quân sử thế giới đã ghi chép những chịu đựng oai hùng của: “Quân đội Pháp giữ Điện Biên Phủ 56 ngày; quân đội HK cố thủ Bataan 66 ngày; người Nga bảo vệ Stalingrad 76 ngày; quân đội hoàng gia Anh và khối Thịnh Vượng Chung nơi Tobruk 241 ngày. Quân sử thế giới sẽ ghi chép gì về lần tử thủ của Tiểu đoàn 92 BĐQBP trong 510 ngày ở Tống Lê Chân? Những người viết chuyện thường gọi căn cứ này là căn cứ TỐNG LỆ CHÂN – Sự Thật về những Giọt Nước Mắt Tiễn Biệt. Và tên của Trung Tá Lê Văn Ngôn là “Lời Nói”: Lời quyết không bỏ Tống Lệ Chân.

Khi Sài Gòn thất thủ trong sáng ngày 30-4-75, Miền Nam VNCH đã có hằng trăm ngàn Lê Văn Ngôn (*) đã nằm xuống cho hai chữ “Hòa Bình”. Ngày hôm nay, đất nước Hoa Kỳ đang có gần một trăm ngàn Phan Nhật Nam vừa được qua đến bến bờ tự do-Chính Nghĩa Tự Do mà họ đã bỏ ra hơn phân nửa cuộc đời để tranh đấu. Họ là những người đã phải trả qua ba đến mười bốn, mười lăm năm tù cộng sản. Khi qua đến Mỹ, tuổi đời họ đã giữa 50 đến 60. Hai mươi, ba mươi năm của đời người họ đã bỏ lại nơi trận địa và chốn lao tù. Và gần như mỗi ngày, mỗi tuần, các Đài Phát Thanh tiếng Việt trên đất Mỹ vẫn còn phải loan tin cáo chung về họ: “Đại Úy Nguyễn Văn A, 10 năm tù CS, vừa qua Mỹ được 4 ngày, đứt mạch máu chết, để lại một vợ hai con, đang cần tiền chôn cất, xin làm ơn cứu giúp … Thiếu tá Nguyễn Văn B, 14 năm tù CS, qua Mỹ được 2 tháng, lao phổi chết, con bơ vơ trên xứ lạ quê người, xin làm ơn cứu giúp …”

Chiến tranh VN thật sự đã tàn chưa?

(*) Ngôn chết ở Trại Tù Liên Trại I, Đoàn 776, Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt khoảng 1976, 77 …

Từ Lương Minh Sơn,

Người Trẻ Tuổi lớn lên nơi

Đất Mỹ,

Orange County, Cali.

Nhân Ngày 30 tháng Tư, 1995.

Theo chân những tiếng hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 3 Jan 2026

Chương 7.

Từ phòng trà đến đại nhạc hội.

Chế độ gia đình trị của Ngô Tổng Thống làm cho lòng dân oán hận. Nhưng ai cũng phải nhìn nhận rằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người tốt, thực tâm chống Cộng, thực tâm yêu nước và thực tâm lành mạnh hóa xã hội. Và chẳng ai ghét ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, những sách lược do ông đề xướng nếu thực thi đúng mức biết đâu cuộc xây dựng miền Nam sẽ tiến triển vô cùng tốt đẹp. Trong gia đình họ Ngô, ba người tham vọng làm mất lòng dân là Đức Giám

Mục Ngô Đình Thục, cậu Út Trầu Ngô Đình Cẩn và bà Ngô Đình Nhu khuê danh là Trần Lệ Xuân.

Vào năm 1960 xảy ra cuộc đảo chánh của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Lực Lượng Nhảy Dù và các lực lượng Biệt Động Quân. Cuộc đảo chánh nầy thất bại, các tay chủ chốt đều bay qua bên Căm-bốt xin tỵ nạn. Còn phải kể thêm vụ hai viên phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử dội bom xuống dinh Độc Lập. Xin quý vị hãy đọc đoạn trích dẫn của nhà văn Tạ Ty trong quyển hồi ký Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi như sau:

Cuộc sống của Sài Gòn đang yên lành bỗng một buổi sáng có tiếng phi cơ khu trục rít như xé gió, lượn một vòng quanh thành phố rồi có tiếng bom nổ! Chưa ai hiểu chuyện gì xảy ra, chỉ thấy một cột khói bốc cao từ Dinh Tổng Thống ở Đại Lộ Thống Nhất. Tiếp theo là những tiếng súng lớn từ hướng Bến Bạch Đằng vọng lại. Sau khi thả mấy trái bom, 2 chiếc khu trục lao vút đi, nhưng một chiếc trúng đạn phòng không của Hải Quân đã bị rớt tại khu vực Biên Hòa, còn chiếc kia mịt mù bóng dáng. Mọi người, mọi nhà đều mở đài nghe

tin tức. Lúc đó mới biết có hai phi công tên Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử lái hai chiếc skyraider thay vì ném bom tại cứ điểm trú quân của Việt Cộng, lại dùng trái bom đó ném xuống đầu gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm, không gây thiệt hại nào về nhân mạng, chỉ làm hư hại cánh trái của ngôi nhà, khi xưa là nơi ngự trị của viên Toàn Quyền Đông Dương dưới thời Pháp thuộc. Chiếc phi cơ bị trúng đạn do Phạm Phú Quốc lái. Tuy máy bay rớt, nhưng phi công chỉ bị thương nhẹ, bị bắt ngay, nhốt vào khám Chí Hòa. Còn chiếc do Nguyễn văn Cử lái thẳng qua Cao Miên xin tỵ nạn chính trị. Phạm Phú Quốc ít lâu được phóng thích, rồi chết trong cuộc bay ra Bắc oanh tạc. Anh đã đi vào âm nhạc nhờ bài “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc” của Phạm Duy.

Bài hát cảm khái cuộc đời hào hùng của một người nổi tiếng, được trước tác bởi một nhạc sĩ nổi tiếng trở nên nổi tiếng kinh khủng và làm xao xuyến trong tâm hồn kẻ yêu nhạc rất lâu qua giọng hát của Duy Khánh, Thái Thanh, Hà Thanh … Phải đợi tới ba năm sau, vào năm 1963, cuộc đảo chính của Đại Tướng Dương văn Minh mới thành công và dứt điểm nền Đệ nhất Cộng Hòa của Ngô triều. Nhưng từ đó cuộc xáo trộn chính trị cứ xảy ra liên miên cho tới lúc Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu khai sáng nền Đệ nhị Cộng Hòa, miền

Nam mới có một vài ổn định nhỏ. Tôi còn nhớ vào đêm trừ tịch năm đó (nhưng lọt vào đầu năm 1960 dương lịch), Tổng Thống Ngô Đình Diệm đọc diễn văn trên làn sóng điện, báo cho dân chúng miền Nam biết rằng Cộng Phỉ đã len lỏi vào miền Nam. Tuy rằng tình trạng chưa đến nỗi khẩn trương, nhưng ông khuyên dân chúng miền Nam nên lưu tâm và đề phòng. Tôi biết rằng đây là tiếng chim báo bão. Kể từ đây, mầm mống ác hiểm sẽ tăng trưởng dần trên đất nước. Và rồi đây, sớm hay muộn gì lịch sử cũng sẽ sang trang.

Nhưng rồi Tết năm đó, bên máy transistor, tôi có thể nghe nhạc xuân với các bản “Ly Rượu Mừng”, “Đón Xuân”, “Xuân Tha Hương” của Phạm Đình Chương, “Xuân Ly Hương” của Phó Quốc Thăng, “Xuân Thôn Dã” của Văn Phụng, “Hoa Xuân” và “Xuân Thì” của Phạm Duy, “Xuân Xuân” của Nguyễn Hữu Ba, “Gió Mùa Xuân Tới” của Hoàng Trọng, “Mộng Đêm Xuân” của Tuấn Khanh …

Nền Đệ nhất Cộng Hòa gồm có một chuỗi sách lược thất bại nào là Ấp Chiến Lược, Khu Dinh Điền, Khu Trù Mật, Cải Cách Điền Địa, Bài Trừ Sốt Rét … Thậm chí việc Bộ Canh Nông khuyến khích dân chúng nuôi cá phi cũng thất bại nốt. Bọn Việt Cộng nằm vùng tung ra loạt tuyên truyền đổ hô là thịt cá phi gây bịnh cùi. Thế là việc nuôi cá phi bị quần chúng xếp vào dĩ vãng. Chúng ta đã có một ông tổng thống nhân từ, nhưng không có năng khiếu chánh trị. Hồi còn lưu lạc ở Vĩnh Long, ông Ngô Đình Diệm được Đức Cha Ngô Đình Thục che chở. Ông có tiếp xúc với Bác sĩ Khương Hữu Long, một bậc thân hào nhân sĩ được lòng kính mến của mọi dân chúng trong tỉnh. Sau bao tang thương hưng phế, Bác sĩ Long thường đàm đạo với Bác sĩ Y khoa người Pháp tên Guy Lesage, người đã từng làm việc tại bịnh viện Philippe Minh ở Vĩnh Long, và cũng là tác giả quyển Le Médecin de Vinh-Long. Bác sĩ Long có cho ông bạn đồng nghiệp người Pháp của mình biết: “Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một nhà ái quốc nhân từ. Nhưng giá đương sự làm tới chức Tỉnh trưởng thì hay hơn. Làm vị nguyên thủ quốc gia thì vượt quá khả năng của ông ấy”.

Bước qua năm 1960, nhạc càng đi sâu vào quần chúng hơn. Nhưng đó không phải là điều đáng lạc quan. Vì muốn cám dỗ được quần chúng, cũng như mọi bộ môn nghệ thuật khác, nhạc phải chiều theo thị hiếu quần chúng. Hễ cái gì chiều theo thị hiếu số đông khán thính giả thì phẩm chất trở nên giảm thiểu. Và nhạc dở sẽ là môi trường thích hợp để cho các ca sĩ có giọng hát non kém về kỹ thuật thao túng.

Nguyễn văn Đông, Tuấn Khanh là hai ngôi sao âm nhạc đang lên. Bản “Quán Nửa Khuya” của Tuấn Khanh dù có ăn khách, nhưng vẫn không giá trị bằng bản “Vườn Đời” trước đó của anh. Phải đợi tới bản “Một Chiều Đông”, chúng ta mới càng vững niềm tin cái tài nghệ có căn bản của anh. Cũng vậy, Nguyễn văn Đông với loạt bản “Phiên Gác Đêm Xuân”, “Sắc Hoa Màu Nhớ”, “Chiều Mưa Biên Giới” vẫn không ăn đứt bản “Đôi Bờ” trước đó của anh. Và “Mấy Dặm Sơn Khê” là đợt nhả tơ cuối cùng của con tằm Nguyễn văn Đông, nhưng đây là thứ tơ có phẩm chất bền và đẹp. Bài nầy có chỗ lên cao ở điệp khúc nên khó hát. Tuy nhiên nó vẫn nổi tiếng, thiên hạ vẫn thích nghe Hùng Cường hát nó như thường. Những bài hát được sáng tác sau bài “Mấy Dặm Sơn Khê” như “Hải Ngoại Thương Ca” chẳng hạn, cũng hay, cũng nổi tiếng, nhưng về phẩm chất vẫn không bằng “Mấy Dặm Sơn Khê”. Cho hay cái chất vàng ròng tinh túy từ mạch sáng tác của người nghệ sĩ vốn không căn cứ ở bài bản được phổ thông trong quần chúng là vậy.

Đây là lúc phong trào nhạc ca tụng lính tráng bắt đầu nở rộ. Ca tụng lính tráng bằng nhạc hùng nhạc vui đã có các ông thợ nhạc trong Nha Tâm Lý Chiến đảm nhiệm để rồi tác phẩm của họ sẽ tàn tạ nhanh chóng. Ca tụng lính bằng nhạc hơi mềm mại một chút hoặc bằng nhạc sầu não, nhưng được lồng vào đó những lời yêu thương tổ quốc giống nòi một cách da diết thì dễ được dân chúng hát theo. Trong loại nhạc yêu lính bằng tiết điệu rầu rĩ đã có những bản “Biệt Đô Thành” của Minh Kỳ, “Không Bao Giờ Ngăn Cách” của Trần Thiện Thanh, “Dặn Dò” của Thanh Châu, “Anh Đi Chiến Dịch” của Phạm Đình Chương, “Bức Tâm Thư” của Lam Phương v.v … Loại nhạc vũ trường yêu lính cũng đuợc dân chúng hâm mộ, chẳng hạn như “Anh Là Lính Đa Tình”, “Người Yêu Lý Tưởng” cũng được các cô các cậu choai choai hát nghêu ngao khắp nơi. Người yêu lý tưởng của cô nữ sinh phải là kẻ mặc quân phục, chiến đấu oai hùng ở ngoài mặt trận đã đành, mà còn phải đa tình chút chút, bay bướm sơ sơ. Đó cũng là lúc thơ yêu lính tuôn ra nườm nượp qua các tác phẩm của Lệ Khánh và của Nhất Tuấn, để khơi mào cho mạch sáng tác các nhà thơ nữ yêu lính như Ngô Kim Thu, Lý Thụy Ý, Lê Thị Ý sau nầy … Có nhiều ca sĩ như Hùng Cường, Chế Linh, Nhật Trường mặc quân phục lên sân khấu để hát bài vinh danh lính làm các nữ sinh say mê chết bỏ, rất tiếc mái tóc của họ khá dài chứ không được húi cụt như mái tóc của lính chính cống. Lê Dinh, Hoài Linh, Minh Kỳ, Mạnh Phát sáng tác hăng, nhạc phẩm của họ vừa mới ra lò nóng hổi, chỉ cần có Duy Khánh, Lệ Thanh, Thanh Thúy hát một vài lần là ăn khách ngay. Lại thêm một ngôi sao âm nhạc xuất hiện với hào quang tuy không rộng lớn lắm, nhưng càng lúc càng chiếu rạng ngời. Đó là nhạc sĩ Trúc Phương. Nhạc của anh cũng chỉ là nhạc quần chúng, nhưng lời của anh thì đẹp vượt xa lời hát những nhạc sĩ thuộc giới của anh. Những bản của anh được các ca sĩ đang độ ăn khách đã đành mà còn được giọng chân truyền của Túy Phượng chiếu cố đặc biệt. Những bản của anh trong giai đoạn đầu gồm có “Chiều Làng Em”, “Tầu Đêm Năm Cũ”, “Nửa Đêm Ngoài Phố”. Về sau có hai bản được lính tráng và các em gái hậu phương ái mộ đặc biệt là “Trên Bốn Vùng Chiến Thuật” và “Hai Mươi Bốn Giờ Phép”. Trúc Phương nếu làm thơ cũng sẽ thành công vì lời hát của anh rất thơ, có ngôn ngữ thơ rất đặc biệt.

Từ trước đã có Lê Thương với 3 bài “Hòn Vọng Phu”, Phạm Đình Chương với trường ca “Hội Trùng Dương” đem lại cho kho tàng âm nhạc Việt Nam hai kỳ công vĩ đại nhất. Trong giai đoạn nầy, Phạm Duy với trường ca “Con Đường Cái Quan” cũng đóng góp một đại tác phẩm tích cực huy hoàng không kém. Về sau, anh tung ra thiên trường ca “Mẹ Việt Nam”, trường ca nào cũng được giới sành nhạc đón nhận bằng nhiều niềm nở trọng vọng. Cho nên về sau đó nữa, khi sống ở hải ngoại, Phạm Duy sáng tác thêm thiên trường ca “Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ”.

Vào năm 1960, thiên trường ca “Con Đường Cái Quan” mới sáng tác xong sau 6 năm bỏ dở dang và được đăng trên tạp san Sáng Dội Miền Nam do Võ Đức Diên làm chủ nhiệm. Phần sáng tác nối tiếp được lấy hứng khi anh cùng ông Võ Đức Diên, họa sĩ Tạ Tỵ và một vài văn nghệ sĩ khác làm cuộc viếng thăm từ Sài Gòn ra ngoài Quảng Trị. Về ý nghĩa của thiên trường ca nầy, Phạm Duy có viết trong quyển Hồi Ký (tập III với cái tựa Thời Phân Chia Quốc Cộng) như sau:

Bản CON ĐƯỜNG CÁI QUAN — soạn xong phần đầu ở Paris năm 54 để phản đối ngay lập tức sự chia cắt đất nước — sau sáu năm bỏ dở, bây giờ nhờ chuyến đi rất thanh bình này, được hoàn tất rất nhanh chóng. Trong khung cảnh trời cao biển rộng đường dài, trong hoàn cảnh chung của nước Việt trong thời kỳ đầu của nền độc lập, trong niềm hạnh phúc được tự do sáng tác của riêng mình … tôi có nhiều hứng khởi để diễn tả con đường mạch máu của đất nước và tấm lòng khao khát thống nhất của người dân Việt. Những ca khúc mạnh mẽ trong phần MIỀN BẮC diễn tả sự hào hùng của người đi khai sơn phá thạch. Trong phần MIỀN TRUNG, ca khúc trở nên ngọt ngào, đôi khi xót xa như bước chân Huyền Trân Công Chúa. Phần  MIỀN NAM rất hoan lạc vì đó là những bước chân thành đạt của lữkhách để cùng toàn dân hoàn thành nước Việt.

… Với trường ca CON ĐƯỜNG CÁI QUAN, tôi tiếp nối dòng nhạc xưng tụng quê hương của tôi với một tầm vóc lớn hơn, giống như Văn Cao đã làm trong kháng chiến với bản “Trường Ca Sông Lô”. Sau tôi, Hoàng Thi Thơ cũng soạn một trường ca nhan đề “Ngày Trọng Đại” để xưng tụng chế độ Cộng Hòa do Ngô Tổng Thống lãnh đạo.

Trường ca CON ĐƯỜNG CÁI QUAN là bài hát lên đường. Trước đây, tôi đã chủ trương xưng tụng những cuộc lên đường rồi. Hoặc lên đường tâm tưởng như “Lữ Hành”, “Viễn Du”. Hoặc đi trên những nẻo đường kháng chiến như “Khởi Hành”, “Đường Về Quê”. Rồi còn phải đi trên con đường tình ái rất ướt át của mình nữa, với những bài “dìu nhau đi trên phố vắng” hay “Đường Em Đi”. Đi thêm trong mộng mị với “Mộng Du” … Trường ca CON ĐƯỜNG CÁI QUAN có tới ba, bốn cuộc lên đường gom lại, vì lữ khách bây giờ đi trên con đường quê hương gấm vóc, đi trong lịch sử kiên cường, đi trong tình yêu, còn đi cả trong lòng nhân dân nữa …

“Con Đường Cái Quan” được trình diễn tại phòng trà Anh Vũ, sau đó lại được trình diễn trong chương trình Văn Nghệ Phong Lan của Bác sĩ Trương Ngọc Hơn. Nghệ sĩ Hoàng Long đóng vai chàng lữ khách đi từ Bắc vào Nam. Còn Kiều nữ Bích Sơn đóng vai Huyền Trân Công Chúa từ Thăng Long đến Kinh đô Đồ Bàn hát bài “Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi”. Giữa lúc nền Tân nhạc bắt đầu xuống giốc, sự xuất hiện “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy há không đủ gieo năm ba mớ lạc quan cho giới sành nhạc lẫn những thức giả mang sẵn tấm lòng ưu tư cho hậu vận của Tân nhạc hay sao? Song song với công trình vĩ đại kia, Phạm Duy trở lại công việc phổ nhạc cho thơ như anh đã từng phổ các bài “Cô Hái Mơ” (của Nguyễn Bính), “Tiếng Thu” (của Lưu Trọng Lư) trước kia. Trong thời kỳ nầy, anh phổ “Vầng Thơ Sầu Rụng”, “Hoa Rụng Ven Sông”, “Thú Đau Thương” (của Lưu Trọng Lư), “Ngậm Ngùi” (của Huy Cận), “Mộ Khúc” (bài “Chiều” của Xuân Diệu), “Tỳ Bà” (của Bích Khê). Riêng bài “Ngậm Ngùi” của Huy Cận trước đó do Lê Thương phổ nhạc thành bài “Tiếng Thùy Dương” được Anh Ngọc và Minh Trang hái đôi lần rồi chìm vào quên lãng. Trong khi đó, bài “Ngậm Ngùi” được Phạm Duy phổ nhạc và giữ nguyên tựa, được Lệ Thu hát nên nổi tiếng như cồn. Phạm Duy còn chọn một số dân ca cổ truyền để phóng tác thành cái mà anh gọi là “dân ca phục hồi” (sic). Đó là các bài dân ca mà anh đặt thêm lời, thêm nét nhạc vào để cho bài hát được mặn nồng tình ý hơn, đi sâu vào cảm quan người nghe hơn. Đó là “Lý Cây Đa”, “Qua Cầu Gió Bay”, “Cây Trúc Xinh”, “Se Chỉ Luồn Kim”, “Trấn Thủ Lưu Đồn”, “Hái Hoa”, “Nước Chảy Bon Bon”. Anh còn hiện đại hóa các bài hát của loại nhạc bộ lạc của các sắc tạo Jarai, Bahnar, Rhađê, H’rê, Kùa … trong đó có bài “Một Mẹ Trăm Con” được giới trẻ hát nhiều nhất. Những bài “dân ca phục hồi” và “nhạc bộ lạc” được Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương và Mai Trường hát trên làn sóng điện, nhạc dù cũ nhưng đem sinh khí mới bất ngờ cho giới thưởng ngoạn. Phạm Duy trong giai đoạn nầy nào phải làm khách lữ hành men theo con đường cái quan từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà còn làm kẻ viễn du trong cổ nhạc bằng thần trí sáng tạo mãnh liệt nhất, bằng trái tim mẫn cảm nhất.

Trong môi trường âm nhạc, nhạc phẩm tuy có chỗ bi quan, nhưng vẫn có chỗ đáng lạc quan. Nhưng còn giới ca hát thì sao? Các ca sĩ càng lúc càng đông. Đài phát thanh thì kén chọn những giọng hát có kỹ thuật cao. Những giọng hát tuy có đẹp, có gợi cảm độc đáo thế nào đi nữa, nhưng nếu kém về phương diện kỹ thuật cũng thì khó chen chân lọt vào đài. Cho nên có người phải nghĩ cách vừa hốt bạc, vừa tìm môi trường hoạt động cho các giọng hát non kém kỹ thuật hơn những giọng hát chân truyền ở đài phát thanh kia. Đó là lúc phòng trà ca nhạc bắt đầu hình thành để rồi phát triển rộ lên như rau hoang dại gặp mùa mưa.

Trong bộ ba Mộc Lan, Châu Hà, Kim Tước thì Mộc Lan có một dạo hát nhiều phòng trà. Chị hơi lớn tuổi so với các nữ ca sĩ phòng trà đồng thời với chị, nhưng nhờ sắc đẹp nồng mặn nên vẫn chị có một số khách ái mộ riêng. Lúc chị hát ở phòng trà Văn Cảnh thì có một tối, nhà văn Thanh Tâm Tuyền đến xem, gặp chị hát bài “Tiếng Thời Gian” của Lâm Tuyền. Cho nên anh sinh hứng, viết một bài về tiếng hát của chị trên tờ tuần san Kịch Ảnh số 1 (bài “Mộc Lan, Tiếng Hát Cô Đơn”). Trong giai đoạn nầy, giọng hát của Anh Ngọc bắt đầu lu chìm. Một là tại giọng hát đó theo kỹ thuật sát nút, không được người hát rải một chút tình cảm nào nên nó không trơn ngọt ướt át, khó đi sâu vào tâm hồn khách mộ điệu. Hai là anh bị một vố “xì-căn-đan”. Số là Anh Ngọc đã ly dị nữ kịch sĩ Giáng Hương từ lâu và cùng nữ ca sĩ Thái Xuân chung sống theo kiểu già nhân ngãi non vợ chồng. Tuy nhiên khi hát chung với nữ ca sĩ Diệu Anh ở phòng trà Bồng Lai, anh “cua” được cô ca sĩ xinh xắn như một quả tim kia và sẵn sàng đi tới hôn nhân với cô. Nhưng mẹ của Diệu Anh hết sức ngăn cản cuộc hôn nhân đó vì bà cho rằng Anh Ngọc quen thói nòi tình, hết buông cô nầy bắt cô nọ, vả lại không có nghề nghiệp đảm bảo. Diệu Anh tuyệt vọng dùng thuốc ngủ để quyên sinh. Báo chí khai thác vụ tự tử nầy triệt để, đặt điều vu cáo bất lợi cho Anh Ngọc khá nhiều. Có kẻ dám viết rằng mẹ của Diệu Anh trước kia là tình nhân của Anh Ngọc bị Anh Ngọc đá đít nên bà nuôi mối tử thù với Anh Ngọc, cho nên bà không muốn con bà đi theo vết xe của bà.

Anh Ngọc phải bay lên miền cao nguyên mượn gió núi trăng ngàn để hàn gắn vết thương. Nhưng cuộc dưỡng thương của anh không lâu. Anh trở về Sài Gòn hát lại trên làn sóng điện với cái tên mới là Huy Phong. Tuy nhiên, khán thính giả bốn phương chẳng buồn chú ý Huy Phong là ai, cho nên ít lâu sau, anh lấy lại cái nghệ danh Anh Ngọc.

Phòng trà lúc đầu với các danh ca như Thái Thanh, Mộc Lan, Ngọc Hà, Thanh Xuân và Huỳnh Hiếu … nên không thể gây một phong trào lớn mạnh và huyên náo được. Phải đến đợt ca sĩ Lệ Thanh, Thanh Thúy, Thu Hương, Thùy Hương thì nó mới sống vững được. Thái Thanh, Mộc Lan, Ngọc Hà chưa chi đã bị liệt vào hạng chị Hai của khán thính giả phòng trà rồi, như thế thì làm sao phòng trà đông khách cho được? Về sau, vũ trường được mở cửa trở lại thì Ngọc Hà vẫn hát cho một vài vũ trường để cho khách khiêu vũ cùng với đào. Nhưng chị hát có đèn rọi sáng để khách có thể chiêm ngưỡng nhan sắc tươi thắm của chị. Nhưng Châu Hà khi hát vũ trường cho khách khiêu vũ thì lúc chị xuất hiện trên sân khấu, đèn rọi phía trước tắt đi, đèn rọi từ sau lưng chị để cho khách nhảy chỉ thấy cái bóng đen như mực tàu của chị mà thôi.

Phụ diễn tân nhạc cho các buổi chiếu bóng, chương trình Đại nhạc hội đâu có thể được tổ chức hằng tuần huống chi hằng ngày. Những danh ca ăn khách của hai hình thức trình diễn đó vẫn là ban Thăng Long, Quái Kiệt Trần văn Trạch, Kim Hoàng, Túy Phượng, Ánh Tuyết, Tuyết Mai, Duy Khánh, Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết, Thần Đồng Quốc Thắng và Thần Đồng Phương Lan …

Ngoài ra, từ năm 1957 cho tới 1960, có một vài ca sĩ đáng được nói tới như sau:

* Ban Tam Ca A.V.T:

Đây là ban Tam Ca hài hước hát theo nhạc chầu văn, lúc đầu gồm có Anh Sinh, Vân Sơn và Tuấn Đăng. Vân Sơn và Tuấn Đăng rất lém lỉnh, rất quấy nhộn nổi bật hơn Anh Sinh. Rồi Anh Sinh tách rời khỏi ban, kịch sĩ Hoàng Hải nhảy vào thay thế và đổi tên là Anh Hải. Anh Hải cũng bị Vân Sơn và Tuấn Đăng nhận chìm. Được ít lâu, Anh Hải cũng rút lui nốt. Thế là Lữ Liên nhảy vào. Cả ba đều ngang tài chọc cười như nhau, đem lại không khí vui nhộn phơi phới cho tiết mục trình diễn của họ.

Những bản do ban A.V.T trình bày đều là những bản bài xích cái lố lăng lẫn tệ đoan của xã hội rất hợp cảm quan quần chúng. Đã vậy sự diễn tả của bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng thật nhộn, thật linh hoạt làm cho sân khấu bừng bừng ngọn lửa hào hứng. Đôi lúc cao hứng bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng dùng nhạc khí cổ truyền như đàn nhị, nguyệt cầm, tỳ bà hòa tấu bản “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss nghe thật sướng tai. Vào ngày chung cuộc của Miền Nam, Lữ Liên mau chân chạy thoát khỏi bức màn tre, còn Vân Sơn nhảy xuống song Thị Nghè tự trầm. Riêng Tuấn Đăng thì không nghe nói tới. Tuy nhiên trên đất Cờ Hoa, Lữ Liên gom Hoàng Long và Trường Duy để tái lập ban A.V.T. Khi để ria mép tỉa mỏng Trường Duy cũng tạm giống Vân Sơn. Còn Hoàng Long thì hao hao giống Tuấn Đăng bởi hàm răng vẩu. Tuy nhiên, Lữ Liên đã bị tuổi đời cướp mất âm lượng trong giọng hát và cái nhanh nhẹn trong cử chỉ. Còn Trường Duy cao lớn và đẹp trai hơn Vân Sơn nhưng diễu không tươi, cách diễn tả bài hát không dí dỏm bằng Vân Sơn. Còn Hoàng Long thì ngang tài ngang sức với Tuấn Đăng, nhưng nhìn người nay khán giả càng thêm nhớ tiếc người xưa với biết bao cảm hoài sắt se ngùi ngậm.

* Đôi song ca Nguyễn Hữu Sáng & Mỹ Thể:

Nhận thấy cặp song ca Nguyễn Hữu Thiết và Ngọc Cẩm ăn khách kinh khủng nên người em của Nguyễn Hữu Thiết là Nguyễn Hữu Sáng cùng cô vợ Mỹ Thể nhảy ra thành lập đôi song ca Nguyễn Hữu Sáng & Mỹ Thể. Dù tiếng hát của Nguyễn Hữu Sáng sang hơn tiếng hát của Nguyễn Hữu Thiết, dù Mỹ Thể về kỹ thuật hát rựa ràng hơn Ngọc Cẩm, nhưng đôi song ca đàn em nầy không thể chinh phục khán giả bằng đôi song ca đi trước. Giọng Nguyễn Hữu Sáng không điêu luyện và nồng mặn bằng giọng Nguyễn Hữu Thiết. Giọng Mỹ Thể không mạnh và ăn micro bằng giọng Ngọc Cẩm. Vả lại khi bước ra sân khấu, Ngọc Cẩm sáng đẹp như một vầng thái dương và có phong cách như một vương phi mệnh phụ xứ Huế. Mỹ Thể dù là một tôn nữ nhưng không đẹp và sang như chị dâu mình. Mặt cô hao hao như mặt đệ nhất phu nhân xứ Hoa Kỳ là Jackie Kennedy, tức là một khuôn hơi cứng vì chiếc hàm vuông, dù có duyên dáng nhưng không nổi bật dưới ánh đèn sân khấu. Mỹ Thể có giọng ngọt hơn giọng Ngọc Cẩm nhiều, nhưng trên sân khấu, tiếng hát cô bị lu mờ cho nên không chài bẫy được khán thính giả.

Đôi song ca Nguyễn Hữu Sáng & Mỹ Thể trình diễn vài lần rồi tan rã, chồng vợ chia tay. Nguyễn Hữu Sáng rút lui vào bóng tối, còn Mỹ Thể tiếp tục hát phòng trà. Chính phòng trà mới là môi trường thích hợp với cô. Về sau tại phòng trà Queen Bee, tôi được nghe Mỹ Thể với chiếc áo dài màu thúy lam điểm những chấm hoa linh lan trắng, với mái tóc cắt theo kiểu Jackie Kennedy Onassis hát bài “Serenata” của Enrico Toselli rất ngọt, lên cao cũng ngọt luôn.

* Thanh Xuân:

Nữ ca sĩ Thanh Xuân có một giọng kim thật khỏe, nổi tiếng ở phòng trà Văn Cảnh. Đây cũng là giọng hát quý giá, càng lên cao càng ngọt ngào vang dội. Thanh Xuân hơi thấp người một chút, nhưng vóc dáng xinh đẹp, khuôn mặt ăn ánh đèn sân khấu và ăn ảnh trước ống kính quay phim. Cô đã xuất hiện trong phim Bạch Viên Tôn Các, thủ vai công chúa nước Tề, bên cạnh Hùng Cường (trong vai Tôn Các) và Kim Cương (trong vai Bạch Viên). Nhận thấy môi trường phòng trà không thích hợp với óc phiêu lưu của mình nên Thanh Xuân học ca Vọng Cổ và các bài bản ca kịch cải lương rồi đầu quân cho gánh Thống Nhất do hai kép Út Trà Ôn và Hoàng Giang làm giám đốc. Nhưng trong gánh Thống Nhất, bên giàn đào có Diệu Hiền và Bạch Tuyết chia nhau thủ vai chính, còn đào Ngọc Hoa thì thủ vai đào nhì. Cho nên Thanh Xuân phải thủ vai đào độc. Nhưng soạn giả Mộc Linh cho những vai đào độc do cô đảm nhiệm có những lúc ai hoài về cảnh ngộ bi đát của tha nhân, về thân phận của mình để cô hát vài câu Vọng Cổ mùi rệu. Nhưng có một điều, dù Thanh Xuân có làn hơi phong phú và dù khi lên cao, tiếng hát cô vút lên như pháo thăng thiên, nhưng cô chỉ hát được những cái huê dạng phù phiếm của Vọng Cổ, chứ không đạt được cái lắt cái tế nhị của Vọng Cổ như Út Bạch Lan và Ngọc Giàu. Đã vậy, về phương diện diễn xuất, cô không có gì đặc biệt. Thế có nghĩa là cố gắng lắm, cô chỉ diễn tả tròn vai mà thôi, không thể nắm bắt được cái éo le uyển chuyển trong tâm trạng của nhân vật.

Về sau, khi Bạch Tuyết, Diệu Hiền chia tay với gánh Thống Nhất, Thanh Xuân lại phải rớt xuống hàng đào ba, sau Ngọc Bích, Ngọc Kim và tên tuổi dần dần phai lạt trong tâm tưởng mọi kẻ ái mộ cũ của cô.Thanh Xuân được báo chí nói tới nhiều qua các tuồng Tiếng Hát Muồng Tênh, Mắt Em Là Bể Oan Cừu, hai tuồng nầy đều của Mộc Linh.

* Trọng Nghĩa:

Xin các bạn đừng lầm Trọng Nghĩa nổi danh hát nhạc Pháp cho phòng trà Queen Bee vào 5 năm đầu của thập niên 70, chồng của nữ dương cầm kiêm nữ nhạc sĩ Mộng Lan. Ở đây là ca sĩ Trọng Nghĩa vốn là chồng của nữ kịch sĩ Hồng Lan và cũng là em rể của nữ kịch sĩ Túy Hoa. Hồng Lan là một trong bốn cây đinh trong ban Bốn Phương gồm Túy Hoa, Minh Nguyệt, Hoàng Yến và Hồng Lan. Trọng Nghĩa nầy có giọng hát rất vững, thường hát song ca với nữ danh ca Ngọc Hà. Anh hát bằng giọng Nam cho nên ít ăn khách. Trọng Nghĩa thường hát trên đài phát thanh, ít khi chường mặt trên sân khấu. Giọng hát anh êm đềm, óng chuốt và khoẻ khoắn. Anh ít khi rải tình cảm vào giọng hát. Nhưng đó là thứ trà tàu, càng uống càng đậm vị ngát hương, dành cho giới sành điệu. Anh đến ca giới nhạc trường không xôn xao và lặng lẽ rút lui êm đềm như một chiếc bóng.

* Nhật Trường:

Sự xuất hiện của ca sĩ Nhật Trường (và cũng là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh) cũng khá xao động, kể từ năm 1958. Anh đến từ Phan Thiết vào tới Sài Gòn với giọng hát trau chuốt và nồng mặn, chỉ trong một sớm một chiều trở thành đối thủ lợi hại của Duy Khánh. Anh rất sáng sân khấu, vóc vạc khá cao lớn. Khuôn mặt anh tuy hơi thỏn, hàm răng anh tuy hơi vẩu, hai cái đó chỉ hơi hơi thôi, chỉ nhẹ phơn phớt thôi, nhưng vẫn tạo cho anh cái xinh đẹp bất ngờ. Và cũng nhờ thần thái sáng mát, dù đã trải qua chặng đường thanh xuân khi khởi nghiệp ca hát ở chốn Hòn Ngọc Viễn Đông, nhưng anh vẫn là thần tượng của giới trẻ, là ông hoàng mộng tưởng của các cô nữ sinh. Nhạc của anh đa số chiều theo thị hiếu quần chúng, bản nào cũng ăn khách, trong đó có “Không Bao Giờ Ngăn Cách”, “Hoa Trinh Nữ”, “Rừng Lá Thấp”. Nhưng anh vẫn có những bài khá hay như “Khi Người Yêu Tôi Khóc”, “Anh Không Chết Đâu Em” …

Giọng Nhật Trường có thể hát những bài đứng đắn và có giá trị nghệ thuật để trở thành tiếng hát của kẻ sành điệu. Nhưng anh cần quần chúng, chứ đâu cần nghệ thuật. Nghệ thuật chân chính không thể nuôi sống kẻ sống chết nhờ ca hát như anh. Cho nên anh sáng tác những bản có âm hưởng nhạc Vọng Cổ hoặc nhạc của ca kịch cải lương để thấm sâu và chan hòa vào khiếu thưởng ngoạn của quần chúng vốn còn tiêm nhiễm dai dẳng điệu nhạc cải lương.

Vào năm 1972, tôi cộng tác với chương trình “Nhạc Chủ Đề Mộc Lan”, có mời Nhật Trường hát bài “Bướm Hoa” của Nguyễn văn Thương. Quả nhiên, anh hát bài nầy rất điệu nghệ. Anh cũng có lập ban Tứ Ca Nhật Trường gồm có các nữ ca sĩ Như Thủy, Vân Quỳnh, Diễm Chi. Trong ban Tứ Ca nầy chỉ có mình anh hát từ đầu tới đuôi. Ba cô thiếu nữ thì cứ u ú phụ hoạ hoặc hát vuốt đuôi theo anh. Khi Vân Quỳnh ly khai ban nầy, anh đem Hồng Tước vào thay thế. Như Thủy là em gái của Nhật Trường. Còn Hồng Tước là em gái của Kim Tước. Anh cũng thích dựng những nhạc cảnh để anh đóng vai anh lính chiến, còn Thanh Lan đóng vai em gái hậu phương; anh ả ca hát ve vãn và khóc lóc nhau thật xuất sắc biến nhạc cảnh thành tiết mục ăn khách trong các chương trình tạp lục chiếu trên Tivi.

Có một lần vào cận Tết, Đại Úy Đinh Thành Tiên, Trưởng Phòng Văn Nghệ Cục Tâm Lý Chiến (tức nhà thơ Tô Thùy Yên) cùng các nhân viên của ông trong đó có nhạc sĩ Anh Việt Thu, nhạc sĩ Phạm Minh Cảnh, nhà thơ Phạm Lê Phan, ca sĩ Nhật Trường bỏ tiền ra thực hiện tạp san Bông Hồng. Tôi được giao mục phỏng vấn các ca sĩ, các đạo diễn điện ảnh, các nhà văn nữ thời danh. Phỏng vấn lung tung lang tang người nầy người nọ mà tôi quên phắt đi một ca sĩ đang hồi ăn khách kinh khủng là Nhật Trường. Sau đó, tôi có mời anh hát cho Nhạc Chủ Đề Mộc Lan. Gặp nhau ở tại đài truyền hình, tôi có xin lỗi anh. Nhật Trường cười thông cảm:

— Không sao đâu. Tôi bỏ tiền ra thực hiện tờ đặc san Bông Hồng để cùng vui với anh em trong Phòng Văn Nghệ Cục Tâm Lý Chiến chứ có phải để ông viết về tôi đâu. Sau đó, để hết áy náy, tôi viết một bài khá dài về tiếng hát của Nhật Trường trên tuần san Minh Tinh.

* Thanh Vũ:

Anh có dáng dấp cao sang, mặt khôi ngô, hơi đượm vẻ buồn dìu dịu, cặp mắt đăm chiêu, cái nhìn mênh mông xa vắng. Những nét khôi ngô ở trên vầng trán cao và sáng nhuận, trên sống mũi dọc dừa và ở chiếc cằm cương quyết. Trông anh hao hao giống tài tử Laurence Harvey. Trong lãnh vực dĩa nhựa, anh thường song ca với Thanh Tuyền. Trên màn ảnh Tivi, anh xuất hiện với tất cả vẻ sáng mát. Có một dạo anh cùng Anh Ngọc, Duy Khánh, Nhật Trường cùng hợp ca trên các sân khấu Đại nhạc hội. Nhưng có lẽ nhờ hợp ca với Thanh Tuyền mà anh nổi tiếng hơn. Thanh Vũ có một giọng rất vững vàng và đặc biệt. Anh giát mỏng ở những chỗ hát ngang ngang, nhưng khi lên hơi cao anh hát rất ngọt, rất tròn tiếng. Riêng bài “Hoa Mimosa” của Ngọc Sơn, khi lên cao anh lại giát mỏng giọng thật tuyệt diệu. Đây là giọng có thể lên cao xé lụa, hoặc lên cao bào mỏng như the như voan. Một giọng có âm sắc đẹp, thủ thỉ, âu yếm dễ làm mềm lòng nữ khán thính giả, lúc thì như tiếng gờn gợntrong chiêm bao, lúc thì như thì thầm bên gối.

Thanh Vũ có làn da ngăm, có vài chấm mụn đen. Tuy nhiên khuôn mặt nầy khi hóa trang để xuất hiện trên màn ảnh nhỏ Tivi rất quyến rũ, cũng bởi anh ăn ảnh lạ lùng, sáng mát như trăng. Có lần anh hát trên Tivi bản “Hình Ảnh Một Buổi Chiều” của Lâm Tuyền. Bản nầy có chỗ thật trầm và có chỗ thật cao, lọt ra khỏi hai bên âm vực của giọng hát anh, cho nên khi anh xuống trầm, giọng anh bời rời tản mạn như khói, còn khi lên quá cao, giọng anh mỏng lét như một vệt sương trên cỏ. Gặp mấy chỗ hiểm lộ đó, gặp mấy cái tử huyệt đó anh đành thúc thủ đầu hàng. Cũng có một dạo, Thanh Vũ khi ngân nga thường tuột xuống một bán cung như trường hợp ca sĩ Ngọc Long. Nhưng Thanh Vũ cương quyết phải khắc phục cái khuyết điểm ấy với bất cứ giá nào. Và anh cố gắng tập luyện giọng lại với tánh kiên nhẫn đáng quý. Và trong một thời gian không mấy xa xôi lâu lắc, anh ngân nga rất vững chãi, ngang với những danh ca cừ khôi như Anh Ngọc, Duy Trác, Phượng Bằng.

* Hoàng Long:

Đây là Hoàng Long ca sĩ gốc người Bắc chứ không phải Hoàng Long diễn viên của ca kịch cải lương gốc người Nam. Hoàng Long có giọng hát vững vàng, chuỗi ngân thoải mái. Anh là một nghệ sĩ đa diện, hát hay, ngâm thơ truyền cảm, đóng kịch rất nghề. Anh không đẹp trai, hàm răng hơi vẩu, tuy nhiên khuôn mặt tràn đầy nam tính. Nhưng anh không gặp thời cho nên anh không nổi tiếng. Hoàng Long lúc đầu là một trong ba cây đinh của ban Số Dzách. Khi ra hải ngoại, anh lại gia nhập vào ban A.V.T do Lữ Liên tái lập.

Mãi tới bây giờ, sau 20 năm định cư bên Hiệp Chủng Quốc, anh vẫn hoạt động các bộ môn trình diễn và thỉnh thoảng xuất hiện trong ban A.V.T với Trường Duy và Lữ Liên.

Từ đầu ba năm chót của thập niên 50. Dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, bởi có chủ trương lành mạnh hóa xã hội nên các chốn yên hoa đều bị cấm nhặt, các vũ trường đều bị đóng cửa. Cho nên kẻ sành tâm lý phải tìm một chỗ du hí cho kẻ thích chơi đêm. Do đó mà phong trào phòng trà nở rộ lên, đầu tiên là phòng trà Đức Quỳnh ở đường Cao Thắng, sau đó có nhiều phòng trà khác nhưng chỉ có ba phòng trà nổi tiếng là Hòa Bình ở gần Bùng Binh Sài Gòn (về sau đổi tên là Công trường Quách thị Trang), phòng trà Anh Vũ ở đường Bùi Viện, phòng trà Trúc Lâm ở đường Ngô Tùng Châu. Còn các vũ trường như Văn Cảnh, Tự Do, Tabourin, La Cigale, Baccara cũng đổi thành phòng trà. Các nữ ca sĩ phòng trà nổi tiếng như Lệ Thanh, Thanh Thúy, Thu Hương, Thùy Hương, Bích Chiêu, Bạch Yến, Thu Hương, Tuyết Hương, Kim Chi, Tâm Đan, Băng Tâm, Mỹ Hòa, Mai Ly, Linh Đa, Thùy Nhiên, Yến Hương, Thái Xuân, Ngân Hà, Bạch Quyên … kết thành hiện tượng trăm hoa đua nở. Bạch Yến và Bích Chiêu là hai thần đồng ca nhạc vừa kịp trưởng thành trong khi phong trào phòng trà thịnh hành. Lệ Thanh, Yến Hương cũng đã có nhiều lần hát trên làn sóng điện. Ngoài ra còn toàn là những khuôn mặt mới. Thái Thanh, Ngọc Hà, Ánh Tuyết, Tuyết Mai cũng cộng tác với phòng trà mới sống dư giả được. Bên nam có Anh Ngọc, Việt Ân, Cao Thái, Thanh Hùng, Duy Mỹ … Sau đây tôi xin điểm từng khuôn mặt của các ngôi sao đang chói sáng các phòng trà:

* Lệ Thanh:

Đây là một giọng hát có âm lượng vang lộng và một âm sắc thật ngọt ngào. Cô được đào tạo bởi nhạc sĩ Hùng Lân chung một lò với Ngọc Loan và Thu Hà. Cuộc đời đi hát của cô không xảy ra một điều tiếng điếm nhục nào dù vào những năm từ 1958 cho tới 1963, cô nổi tiếng như cồn. Cuộc đời của một nghệ sĩ nổi tiếng thường thu hút những cái nhìn soi bói và những cặp mắt tò mò của những thứ ký giả đói tin, sẵn sàng khai thác tỳ vết cùng các bí ẩn đời tư của những người được quần chúng ái mộ, trong số đó có Lệ Thanh. Nhưng các ký giả không thể tìm được ở Lệ Thanh những gì họ sẵn sàng khai thác và làm rùm beng để khuấy động dư luận quần chúng được. Bởi cô ngoan hiền quá, sống giản dị và khiêm tốn quá, luôn tránh né đám đông tối đa, không thích tuyên bố vung vít trên báo chí.

Trong các nữ nghệ sĩ nổi danh, Lệ Thanh là kẻ độc nhất không thích đăng ảnh trên báo chí. Cô bảo là tại mình không ăn ảnh. Nhưng đó chỉ là một cách nói thôi. Có lần Trung Tâm Điện Ảnh của Bộ Thông Tin có quay một phim tài liệu về sinh hoạt các phòng trà. Lệ Thanh không bằng lòng cái cảnh mà cô hát bài “Tiễn Em” của Phạm Duy trong phòng trà Anh Vũ được đưa lên màn ảnh. Nhưng cô buồn rầu bảo:

— Giá họ quay cảnh đó bằng cách chỉ trình bày cái bóng dáng cùng tiếng hát của Lệ Thanh thôi thì hay hơn là lấy cận ảnh khuôn mặt của Lệ Thanh. Tuy không thích đăng ảnh trên báo chí và không thích xuất hiện trên màn ảnh, nhưng Lệ Thanh vẫn xuất hiện trên sân khấu phòng trà hằng đêm và xuất hiện trên sân khấu Đại nhạc hội lai rai. Cô khá sáng sân khấu. Dù không đẹp lắm, dù không có nhiều nét hài hòa trên khuôn mặt, nhưng đây là một nhan sắc có thể chưng bày được. Đã vậy cái vẻ thông minh ngoan hiền ở nụ cười thùy mị, ở cái nhìn thẳng thắn, ở cung cách yểu điệu tạo cho cô một vẻ đài trang đặc biệt. Trên sân khấu, Lệ Thanh trang điểm tuy phơn phớt dịu nhẹ mà vẫn không bị ánh đèn lấn át hoặc nuốt chửng. Không khi nào Lệ Thanh mặc áo hoa hòe hoa sói. Thường thì cô mặc một màu thuần nhất, nhưng là màu tái và màu nguội: hường tái, vàng nâu, xanh pha chút xám bạc như lá liễu, lục pha chút nâu bạc như vỏ trái táo … Nếu mặc áo thêu hoặc áo in hoa thì hoa phải nhỏ cỡ như hoa linh lan, hoa ti-gôn, hoa hường tiểu muội, những chấm hoa phải rời xa chứ không chen khít vào nhau. Lệ Thanh tuy là ca sĩ, nhưng cô bám chặt vào hình ảnh một cô nữ sinh thơ mộng cho nhân dáng của mình. Giọng ca Lệ Thanh nghẹt mũi. Chính ra ở ngoài đời, giọng nói cô cũng nghẹt mũi như vậy. Có người bảo rằng không phải Lệ Thanh có chứng thịt thừa trong lỗ mũi mà là trong mũi cô có thứ nấm làm cho nước mũi cứ rịn mãi không thôi. Ý là giọng nghẹt mũi như thế mà tiếng cô vẫn sang sảng và chắc nịch. Lệ Thanh không điệu đà õng ẹo ở nhân dáng, nhưng khi hát, giọng cô điệu và ẹo khủng khiếp. Cô không cần lắc lư mình xà uốn khúc trong khi hát, cô chỉ cầm khăn mu-soa và đứng cứng ngắc như trời trồng trước máy vi âm. Rồi giọng cô cất lên quằn quại như rắn trườn, quấn quít như một chùm lải đũa. Bất cứ lúc nào cô cũng có thể uốn éo lươn lẹo một nốt nhạc. Cô láy từng tiếng hát ở cuối câu hát bất chấp cái nhăn nhó của tác giả bài hát. Đã vậy cô ưa chẻ từng câu hát, chỗ không phải ngừng mà cô ngừng để rồi đấp qua chỗ khác lung tung. Bởi cô chơi fantaisie một cách bừa bãi như thế nên ý nhạc sai lệch hẳn đi. Lệ Thanh có chuỗi ngân cũng rập rờn óng ả. Nhưng cô không ngân liền được mà phải kéo một hơi khá dài để lấy trớn. Dù sao, Lệ Thanh cũng đã làm cho những bản sau đây trở thành nổi tiếng như: “Tiễn Em” của Phạm Duy, “Chiều Mưa Biên Giới” và “Sắc Hoa Màu Nhớ” của Nguyễn văn Đông, “Gặp Nhau” và “Tà Áo Cưới” của Hoàng Thi Thơ. Ngoài ra cô hát bài “Tà Áo Xanh” của Đoàn Chuẩn và Từ Linh, bài “Gợi Giấc Mơ Xưa” của Lê Hoàng Long, bài “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” đều truyền cảm.

Trong khoảng thời gian nổi danh, cũng như Thanh Thúy và Duy Khánh Lệ Thanh hát vào dĩa nhiều lắm. Đang lúc danh vọng lẫy lừng, Lệ Thanh bỏ đi lấy chồng. Cô chọn hạnh phúc gia đình và thật tâm xa lánh ca trường nhạc giới, không hề nuối tiếc danh vọng phù phiếm.

* Thanh Thúy:

Cô đến ca trường nhạc giới sau Lệ Thanh, nhưng nổi tiếng một lượt với Lệ Thanh. Từ phòng trà Đức Quỳnh sang phòng trà Anh Vũ rồi ngự trên sân khấu các Đại nhạc hội, Thanh Thúy trở thành ngôi sao ca nhạc lấn lướt hào quang của Thái Thanh, Ánh Tuyết và Tuyết Mai. Bởi giọng hát cô độc đáo. Bởi nhân dáng cô thấm nhuần chất mộng, chất thơ. Nổi tiếng đồng thời với Thanh Thúy còn có Bạch Yến và Bích Chiêu. Nhưng Bạch Yến và Bích Chiêu tượng trưng cho sức sống dạt dào và cho dòng nhạc sống động, còn Lệ Thanh tượng trưng cho nếp sống thục nữ ngoan lành. Trong khi đó, Thanh Thúy là biểu tượng của nàng Thơ thật sầu mộng và thật trữ tình. Cô có hình vóc mảnh khảnh như cành hoàng mai, thướt tha như như nhánh thùy dương và mềm mại như cành lệ liễu. Nhưng khuôn mặt cô không có vẻ buồn như cúc đâu. Đây là khuôn mặt đoan trang thùy mị với cặp mắt hiền từ cùng với nụ cười thật điềm đạm và đằm thắm.

Dòng suối tóc của cô xõa ngang vai, có một nhánh thả trước ngực, tạo cho cô vẻ Liêu Trai thật huyền ảo nên cô có một vẻ thu hút lạ lùng. Ngắm Thanh Thúy, chúng ta không thể bắt gặp đây là chân dung của những nhân vật yểu mệnh bạc phước như Lâm Đại Ngọc trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần, như Phùng Hồng Ngọc trong Kinh Hoa Yên Vân của Lâm Ngữ Đường hay như Bạch Lê Ảnh trong Tuyết Hồng Lệ Sử của Từ Trẩm Á được. Bởi cái vẻ điềm đạm và trầm lặng của cô báo cho ta biết cô là người có tình lý đồng cân. Bởi cặp môi cô khi ngậm chỉ đẹp có một, còn khi cười thì đẹp tới hai ba và bởi sống mũi cô thả giọt mật tạo cho cô những cái gì thật trội ở tướng số. Ba cái quý tướng kia hiện lồng lộng và sáng rỡ trên khuôn mặt cô báo hiệu cho chúng ta biết rằngcon người nầy sẽ leo lên tuyệt đỉnh vinh quang và ngự trị trên cái cương vị đó rất lâu dài. Khi còn giữ mái tóc Liêu Trai bất hủ kia, Thanh Thúy ăn mặc rất đơn giản. Áo thường là màu tươi phơn phớt như hồng đào, hoàng yến, hồ thủy, lam ngọc, thiên thanh, thanh liễu, thúy trúc. Nhưng có lẽ khán thính giả thích cô mặc chiếc áo dài trắng hơn. Áo dài trắng tạo cho cô tấm chân dung cô nữ sinh trinh khiết hơn. Nó làm cho suối tóc đen nhánh như mực Long Tể kia có vẻ huyền ảo và trữ tình biết mấy!

Thanh Thúy có giọng hát nồng đậm, khi xuống trầm thì vang rền, khi lên hơi cao thì ẻo lả. Chuỗi ngân của giọng hát ấy không vững lắm, khi thì đều đặn và óng ả, khi thì thô rít khó khăn. Cái hơi đáng phiền là cô ưa vặn vẹo giọng hát để cho có vẻ ai oán não nùng. Cái buồn trong giọng hát của cô không phải là cái buồn tự bản chất. Đó là cái buồn do tài nghệ của một nhà ảo thuật âm thanh biến chế ra đúng hơn. Bởi cô ưa rú, ưa quằn quại giọng hát nên giọng hát trở nên tật nguyền khủng khiếp. Nhưng biết sao hơn! Bởi đa số thính giả

thích cô làm nhà phù thủy tiết điệu như thế, nên cô mới bày những lối fantaisie kỳ hoặc như thế. Giọng hát cô tự bản chất đã là một giọng hát đẹp và quý báu. Nếu cô trình bày một bài hát đơn giản hơn thì chắc sẽ đi sâu vào tâm hồn và cảm quan của khách sành điệu hơn. Thanh Thúy không thể như Hùng Cường. Người nam ca sĩ nầy thừa biết lúc nào cần làm quỷ làm yêu, ụa mửa rên rỉ khi hát trước số đông khán thính giả có khiếu thưởng ngoạn kém, nhưng anh vẫn có lúc biết chọn bài hát có giá trị nghệ thuật để hát cho giới sành điệu nghe, và trong những lúc hát đó, anh biết dùng nghệ thuật chân truyền để diễn tả tình ý bản nhạc. Còn Thanh Thúy thì chỉ đến mọi hạng khán thính giả bằng lối trình diễn độc nhất, trước sao sau vậy, nên càng lúc cô càng rời xa giới thưởng ngoạn cao. Thức giả ai ai cũng tiếc rằng chỉ cần một chút ý thức, một chút cố gắng thôi, Thanh Thúy có thể vừa vét cạn túi lớp khán thính giả có trình độ kém và cũng vừa chinh phục khán thính giả có trình độ cao.

Nhưng dù sao, đây là giọng hát vẫn có bản sắc độc đáo và quyến rũ. Nếu nỗi buồn trong giọng hát Thanh Thúy là cái buồn bẩm sinh thì đó là điềm xui xẻo và báo trước cái tài hoa bạc mệnh của cô về sau nầy. Trái lại, cô có sự nghiệp ca hát vừa sáng chói vừa bền bỉ là nhờ những quý tướng mà tôi vừa kể. Nhưng nếu gạn lọc hết cái buồn giả tạo trong giọng hát đó thì cô lấy gì để chài bẫy quần chúng, để hớp hồn họ đây? Chỉ tiếc một điều là nếu cô đã nghĩ tới quần chúng thì cũng nên nghĩ tới khách sành điệu, như vậy cô sẽ bước qua cái vòng thương mãi để vươn tới nghệ thuật chân chính. Với giọng hát quý báu sẵn có, cô chỉ cần ý thức lúc hát, tôn trọng tình ý của bài hát, loại bớt những sướt mướt bịnh hoạn qua một bên thì đây là một giọng hát tuy khàn đục nhưng đẹp như một phiến ngọc thạch.

Có lần, giáo sư Nguyễn văn Trung đem Triết học ra để viết về giọng hát Thanh Thứy. Giới sành nhạc tuy thấy ông quá méo mó nghề nghiệp, nhưng vẫn mỉm cười thông cảm. Dẫu sao, cái chiêu cảm của một nhà giáo mắc bịnh gàn Triết kia đối với giọng hát của cô vẫn có cái chiêu cảm khá đặc biệt và cũng khá mới lạ, khác biệt cái cảm nhận của kẻ giỏi thẩm âm. Cũng có một lần một nhạc học giả tên Trần Nhật Quang đem kỹ thuật ra mổ xẻ tơi bời hoa lá giọng hát Thanh Thúy làm cô khóc ròng và dọa sẽ đi kiện đương sự.

Những bản của Trúc Phương như “Tàu Đêm Năm Cũ”, “Nửa Đêm Ngoài Phố”, “Bóng Nhỏ Đường Chiều” nhờ giọng hát Thanh Thúy mà nổi tiếng. Riêng tôi, tôi yêu mến giọng hát cô khi cô mới xuất hiện trên sân khấu Đại nhạc hội vào năm đầu tiên (năm 1960). Lúc đó cô hát thận trọng, không chơi nhiều fantaisie. Và tôi thích nhất bài “Chờ Em Bên Đồi” của Xuân Tiên và “Nhạt Nắng” của Xuân Lôi được cô diễn tả bằng một giọng gừng cay muối mặn rất thắm thiết tâm tình. Thanh Thúy có một dạo bỏ mái tóc thơ mộng của mình, uốn quăn để đi lấy chồng. Chồng cô là Thiếu tá không quân Ôn văn Tài. Đây là một cặp đẹp đôi. Chàng hùng tráng như trái núi, còn nàng ẻo lả thướt tha như một dải suối trong ngời. Sau đó, ít lâu Thanh Thúy trở lại nghiệp cầm ca và vẫn ăn khách như thuở đầu. Trong 3 năm liền (từ 1971 cho tới 1974), nhật

báo Trắng Đen mở cuộc trưng cầu dân ý về những giọng hát thời danh thì Thanh Thúy dẫn đầu bên phái nữ trong khi đó Elvis Phương dẫn đầu bên phái nam. Thanh Thúy có đóng vai chính trong phim Mưa Trong Bình Minh bên cạnh Bạch Tuyết, Kim Cương, Nguyễn Trần Quý, Huỳnh Thanh Trà; phim do Nguyễn văn Trường đạo diễn. Trong phim nầy cô đóng rất vững và có dịp hát bản “Làng Tôi” của Chung Quân. Riêng Ôn văn Tài cũng được đóng vai chính trong phim Bão Tình bên cạnh Kiều Chinh, Kiều Phượng Loan và Hùng Cường; phim do Lưu Bạch Đàn đạo diễn. Hiện nay, Thanh Thúy vẫn ca hát và giữ phong độ như thuở xưa. Vóc mình cô đầy đặn hơn, cho nên có vẻ liền lạc vàgợi cảm hơn xưa nhiều. Nhưng cô đánh mất cái gầy gò thơ mộng cũ đã từng ăn sâu vào tâm tưởng lớp khán giả trưởng thành trong thập niên 60.

* Minh Hiếu:

Xuất thân là cô gái vùng Đất Đỏ, tỉnh Bình Long. Minh Hiếu đến làng ca nhạc như một cơn lốc. Cô xuất hiện ở phòng trà chưa được bao lâu thì Lệ Thanh đi lấy chồng.  Dù giọng của cô khác biệt giọng Lệ Thanh, nhưng cô có thểtrám vào chỗ khuyết từ khi Lệ Thanh bỏ nghề. Từ đó, ngôi sao của cô rực sáng trên chót đỉnh vinh quang. Cô bay từ phòng trà nầy sang phòng trà nọ, nhào vào các hãng dĩa nhựa, xuất hiện ở hầu hết các buổi Đại nhạc hội ở đô thành và ở các vùng ngoại ô Sài Gòn. Buổi Đại nhạc hội nào muốn hốt bạc thì phải hội đủ Thanh Thúy, Minh Hiếu, Thái Thanh, Duy Khánh, Nhật Trường, Hùng Cường thì ông bầu tổ chức kia mới hốt bạc.

Minh Hiếu có khuôn mặt đẹp, hao hao giống khuôn mặt minh tinh điện ảnh Elizabeth Taylor, cực kỳ thanh tú. Nhưng vóc dáng cô hơi nhỏ, vai cô hơi xuôi, nây bụng hơi phồng tròn nên cô mặc áo dài không đẹp lắm. Giọng hát của hơi khàn, chân phác, nhưng lại thô tháp. Tuy nhiên, giọng nầy ăn micro. Ai đó đến xem cô hát ở phòng trà và ở các buổi Đại nhạc hội đều hài lòng. Cô ngân nga không vững vàng lắm, nhưng không đến nỗi chao đảo hay lượn nét răng cưa. Trên làn sóng điện hay trong dĩa nhựa, cô không sao che giấu nét thô tháp căn bản của giọng mình. Song đây là giọng thật gần gũi cảm quan của quần chúng. Nó sưởi ấm biết bao trái tim và tâm hồn người nghe từng đợt sóng âm thanh nồng nàn như khói hương trong đêm trừ tịch.

Có một dạo anh chàng kịch sĩ Nguyễn Long say mê Thanh Thúy. Rồi bị Thanh Thúy hất hủi sao đó cho nên anh chạy chọt các nhà Mạnh Thường Quân giàu sụ bỏ vốn cho anh làm phim. Đó là phim Thúy Đã Đi Rồi. Vai Thúy dĩ nhiên làm sao giao cho Thanh Thúy được? Cho nên Nguyễn Long phải nhờ Minh Hiếu thay thế. Phim dở quá vì Nguyễn Long chưa có kinh nghiệm làm đạo diễn. Minh Hiếu cũng tỏ ra có khả năng diễn xuất, nhưng không cứu vãn được gì. Phim chiếu vài rạp nhỏ ở Sài Gòn, bị khán giả làm dữ đòi trả vé lại. Có kẻ độc miệng sửa lại là cái tựa là “Thúi Đã Đi Rồi” thay thế cho “Thúy Đã Đi Rồi”. Thế là Minh Hiếu thề sẽ không bao giờ đóng phim nữa. Khi trở thành phu nhân của Trung tướng Vĩnh Lộc rồi, Minh Hiếu giải nghệ luôn.

* Trúc Mai:

Đây là một trong bốn ngôi sao của phòng trà Hòa Bình gồm có Bạch Yến, Bích Chiêu, Thùy Nhiên và Trúc Mai. Trúc Mai thuở đó đẹp mũm mĩm, hao hao giống vương phi Diana nước Anh. Chỉ tiếc cô không được cao như Diana thôi. Vào năm 1959, Trúc Mai gợi nên hình ảnh trẻ trung, có dáng dấp nữ sinh nhiều hơn là dáng dấp nữ ca sĩ. Cô ưa mặc áo dài bằng thứ lụa mềm nhưng không mỏng, màu tươi ấm như màu hồng đào, hồng phấn, hoàng cúc … Cô uốn tóc kiểu thường nhưng rất hợp với khuôn mặt tròn của cô. Cô đeo hoa tai nhỏ và xinh cùng sợi giây chuyền với chiếc mề đay hình chữ Thọ, tất cả đều bằng vàng. Với lối phục sức khá đơn sơ như thế, nhưng cô vẫn đẹp. Cô trang điểm vừa phải để tạo lấy sự tươi mát nuột nà. Cô hát bài “Bambino” thật vang lộng, hát bản “Kiếp Hoa” của Dương Thiệu Tước rất ngọt. Nếu Bạch Yến và Bích Chiêu đến bục ca như cơn lốc thì Trúc Mai đến bục ca gieo cái mát dịu tươi hiền như gió xuân mát rượi và như nắng mai tươi nõn.

Vào năm 1965, Trúc Mai càng nổi tiếng hơn khi cô trình bày bản “Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh trên sân khấu Đại nhạc hội tại rạp Thanh Bình do Duy Ngọc tổ chức. Bài nầy nhờ cô mà đi sâu vào quần chúng. Các cô các câu cậu choai choai đến đâu cũng hát:

Ai mua trăng, tôi bán trăng cho

Trăng nằm yên trên cành liễu đợi chờ.

Lính tráng cũng thích bài nầy. Hễ bài hát nào được quần chúng càng thích thì bị sửa lời. Mấy chị em ta bán snack bar cho các chú lính Mỹ G.I cũng hát:

Ai mua trinh, tôi bán trinh cho

Trinh nằm yên trên nệm mousse đợi chờ.

Giọng Trúc Mai chân phác và mộc mạc. Cô ca nhẹ nhàng đơn giản, không chút cố gắng. Vậy mà giọng cô vẫn ấm như khói nhang bạch đàn và ngọt nồng như quế. Tiếc một điều là cô ưa trình bày những bản phổ thông hợp với khiếu thưởng ngoạn thấp kém của quần chúng nên ít khi hát những bản có giá trị. Nhưng có lần tôi nghe cô hát trong một cuốn băng nhạc nào đó bản “Chiều Tàn” của Lam Phương. Bản nầy tương đối có đôi chút nghệ thuật. Khi lên chỗ cao, cô hát khá trơn và không có chỗ nào gãy vụn. Bản “Tuyết Trắng”

của Anh Chương được cô diễn tả khá ngậm ngùi. Bởi cô ưa hát bằng giọng thờ ơ uể oải, đôi khi có vẻ trong suốt nguội lạnh nên không ai chê trách cô õng ẹo làm dáng. Nhờ cái giọng có ngân vang, khá ấm áp, khá ngọt ngào nên cô có một số khán thính giả khá hùng hậu giúp cô đeo đuổi nghề hát khá lâu, gần 30 năm chứ không chơi đâu. Tôi còn nhớ vào năm 1972, tôi đến cư xá Nguyễn Thiện Thuật để viếng Mỹ Thể thì lúc đó có Trúc Mai tới thăm. Cô mặc quần tây, áo sơ mi cổ bẻ bằng hàng mỏng vẽ những nét kỷ hà màu vàng in trên nền nâu đậm, điểm lác đác những tảng đỏ. Màu áo choáng lộn làm tăng màu son hồng đào và màu phấn hồng man mác trên làn da nõn nà trắng mịn của cô, đem lại cho tôi một ấn tượng tươi sáng hơn bao giờ. Hôm đó, vì có chuyện phải đi, tôi đành kiếu từ Mỹ Thể và chào Trúc Mai rồi dông mất. Đó là hình ảnh cuối cùng mà tôi gặp Trúc Mai trên đất nước quê hương.

* Thu Hương:

Trong các nữ ca sĩ phòng trà thuở đó, vừa đẹp mặt vừa đẹp vóc dáng chỉ có Kim Vui và Thu Hương là trội nhất. Thu Hương hơi từa tựa Khánh Ngọc. Khánh Ngọc tươi sáng và duyên dáng hơn trong khi đó Thu Hương lại mềm mại, thanh tú và gợi cảm hơn. Khánh Ngọc cười thật tươi trong khi Thu Hương lúc cười hay lúc ngậm miệng đều có vẻ buồn man mác. Hơn Khánh Ngọc, Thu Hương có sống mũi thanh tú. Thua Khánh Ngọc, Thu Hương không biết làm vẻ lẳng lơ khi hát một bản nhạc vui. Khi chị xuất hiện trên sân khấu hay trên bục ca thì khán thính giả có cảm tưởng đây là vầng nguyệt bạch đêm rằm hiện ra bằng tất cả vẻ đẹp tròn đầy, phì mỹ và tươi mát. Người ta thích ngắm chị hát hơn thích nghe chị hát vì chị đẹp quá làm khán thính giả có cảm tưởng rằng Trời cho chị tấm nhan sắc như vậy là hậu hĩ quá rồi, tặng thêm chị một giọng hát nữa thì thừa thãi và quá bất công với các cô thiếu nữ khác.

Thu Hương có một giọng êm dịu trong sáng, một chuỗi ngân nhỏ mức và đều đặn. Nhưng thật sự giọng chị yếu và không ăn micro lắm. Một giọng hát rất thạo, rất nhà nghề, nhưng không có gì đặc biệt. Giọng chị khiêm tốn như những bông hoa đổng thảo màu tím thơ mộng, chỉ thích núp dưới chùm lá rậm, khách vãng cảnh phải vạch lá mới chiêm ngưỡng sắc lịch màu xinh của nó. Có một lần tôi đến phòng trà Anh Vũ để xem chương trình ca nhạc ở đây. Thu Hương xuất hiện với chiếc áo lục ngọc dệt lộn với những sợi ngân tuyến rập rờn ánh sáng. Chị đeo đôi hoa tai và sợi giây chuyền bướm nạm hột thủy tinh lấp lánh, đôi chân chị đi giày cao gót nhưng quai bằng da tô ngân nhũ bóng ngời ánh bạc lỏng. Chị vẫn giữ nụ cười điềm đạm. Cặp môi tô son màu hồng hạnh của chị thật chói bóng, móng tay chị gọt dũa khéo léo cũng được phết lớp sơn cùng màu với màu môi. Tuy nhiên lượt phấn hồng tô trên má của chị không gắt, lại còn tươi thật là tươi, gieo cho khán thính giả một cảm giác dịu mát. Hôm đó chị hát bài “Lỡ Chuyến Đò” của Anh Việt bằng một giọng khá ngọt. Sau đó, chị trình bày thêm bản “Hoa Bướm Ngày Xưa” của Nguyễn Hiền.

Thu Hương có góp mặt trong ban Đỗ Thiều, mỗi tuần trình diễn trên làn sóng điện đài Sài Gòn một lần. Ban nầy có Bạch Yến, Bích Chiêu, Thùy Nhiên, Thùy Hương và Thu Hương. Có lần, Thu Hương có đóng vai người mẹ tội lỗi trong phim Tiếng Hát Học Trò do Thái Thúc Nha đạo diễn. Phim nầy phỏng theo quyển tiểu thuyết cùng tựa của Văn Quang, vai chánh do Thanh Lan đảm nhiệm.

Vào năm 1992, nhà thơ nữ Bích Xuân có tổ chức Đêm Văn Nghệ tại quán Majesty ở quận 13, kinh thành Paris. Tôi có đảm nhận buổi thuyết trình mục “Ca Dao và Câu Hò Miền Nam”. Thu Hương có đến đó với tư cách khán giả. Rất tiếc hôm đó tôi không có dịp tìm gặp chị để cùng chị nhắc nhở chuyện xưa.

* Thùy Nhiên, Thùy Hương:

Thùy Nhiên có vóc người hơi nhỏ bé. Khuôn mặt cô không xấu không đẹp. Cô không khéo tay trang điểm nên trông da mặt cô hơi khô. Cô uốn tóc kiểu ngắn rất tầm thường, lại không chải ở tiệm nên tóc không óng rờn vóc nhung. Cô lại mặc màu tối, quá nhã đạm nên cô có vẻ gái Lục Tỉnh lạc loài ở Sài Gòn. Cô quá khiêm tốn, quá giản dị, nhưng trông cô rất dễ mến, khuôn mặt không sáng mát nhưng được cặp mắt thông minh và nụ cười hiền hậu chiếu rạng. Cô giữ phần hát thường trực cho phòng trà Hòa Bình. Trong khi đó Bạch Yến và Bích Chiêu đến hát dăm ba bản rồi bay đến phòng trà khác. Giọng Thùy Nhiên là giọng cao xé lụa, càng lên cao càng lồng lộng như ngọn cờ gấm tung bay trên vút cao cánh gió. Cô hát bài “Trở Về Mái Nhà Xưa”, nhạc Ý của De Curtis do Phạm Duy phổ lời Việt làm cho khán thính giả ngập tràn khởi hứng. Ngoài ra những bản “Sầu” của Chopin do Phạm Duy phổ lời Việt là môi trường để giọng cô chuyển cánh hoàng hạc bay lên cõi tiên chập chùng nghìn trùng mây trắng. Giọng sao mà càng lên càng ngọt lịm như nhãn Hưng Yên, như cam Bố Hạ nơi quê hương miền Bắc của cô.

Thùy Nhiên có cộng tác với ban Đỗ Thiều trên đài Sài Gòn. Cô còn cộng tác nhiều ban ở đài để có dịp hát chung với Nhật Thiên Lan, Thương Hà, Mai Hương. Từ dạo năm 1961, Thùy Nhiên vắng bóng nơi chốn ca trường nhạc giới. Thỉnh thoảng có vài ký giả kịch ảnh gặp cô, kháo nhau rằng cô béo đẹp hơn xưa và đang sống hạnh phúc với người chồng Mỹ.

Thùy Hương có khuôn mặt sáng mát và dịu dàng như mặt nước ao trải rộng dưới bầu trời xuân êm ả. Cô thích mặc áo dài trắng, uốn tóc cao để phơi chiếc gáy nõn nà. Khuôn mặt của cô hiền, tuy không lạt lẽo, nhưng vẫn không có chút đậm đà. Đã vậy cô trang điểm quá gượng tay, quá phơn phớt lại không tô viền mắt để cho mắt thêm sâu kín và huyền hoặc hơn chút nào chăng. Môi cô hơi mỏng, cô cũng không tô son leo ra ngoài vành môi một tí cho môi rõ nét và cho gợi cảm hơn. Cô cũng không vẽ nét mày cong theo uốn viền trăng mỏng để tạo một nét duyên dáng. Trông cô có vẻ một cô giáo làng quá ngoan hiền, phúc hậu, và cô được coi như biểu tượng một khối băng thanh sáng mát thì có nhưng ý nhị mặn mà thì không.

Giọng hát của Thùy Hương yếu, hơi lại ngắn, nên chuỗi ngăn chỉ lăn tăn vài gợn khi có khi không. Cô đã trải qua chứng bịnh lao, nhưng khi lành bịnh thì làn hơi cô sa sút, không có cơ hội phục hồi như buổi đầu. Có một thời cô thay thế Tuyết Nhung để song ca với Thanh Thoại, nhưng cũng không gặt hái thêm một chút thành quả tốt đẹp nào. Cô rút lui âm thầm. Như một bóng mây lạc loài, cô đến không ai niềm nở và đi cũng chẳng ai buồn. Cô đi mà không để lại trong long khách thưởng ngoạn một chút dư vang say đắm nào ngoài hình ảnh tà áo trắng mềm mại mà cô thường mặc lúc trình diễn và khuôn mặt trắng trẻo hiền lành.

* Tâm Đan, Băng Tâm:

Tâm Đan nhỏ nhắn và xinh đẹp, khuôn mặt tròn và mái tóc xõa dài. Cô mặc loại áo đỏ, nhất là áo gấm màu đại hồng hay áo nhung màu hồng phấn đều nổi. Cô đóng rất nhiều phim tố cộng do Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh sản xuất. Cô hát khá nhiều phòng trà. Cô xinh xắn, khuôn mặt có nhiều nét kết hợp hài hòa và cô trang điểm rất thạo. Cho nên dưới ánh đèn sân khấu trông cô nổi hẳn lên. Những màu đỏ mà cô mặc gồm có màu phi hồng tươi sáng ánh ráng chiều, màu hồng đan gồm màu hồng tươi pha chút xám bạc, màu hồng hạnh gồm màu đỏ ửng ánh vàng kim nhũ, màu yên chi thắm thiết sắc đỏ bông vang. Giọng Tâm Đan dù không có nét đặc thù nhưng rất nhuyễn, rất ngọt, rất khỏe với chuỗi ngân điêu luyện. Cô có tài nhưng không được người đời biết đến nhiều. Đúng là số phận kẻ mặc áo gấm đi đêm, số phận của ngọc ẩn trong đá.

Băng Tâm có vóc mình khá cân đối, hơi cao một chút để có vóc dáng cao sang, dáng đi đài các. Cô có khuôn mặt ăn son phấn nên cách trang điểm choáng lộn làm cho nhan sắc của cô nồng mặn và đậm đà hẳn lên. Trên các sân khấu phòng trà, cô sáng đẹp không kém Kim Vui và Thu Hương, nhưng cô thuộc loại người vóc liễu mình mai, chứ đâu được sexy như hai người kia. Khuôn mặt cô dù có trang điểm rực rỡ cho đến mấy, nhưng vẫn có chút gì cao ngạo như một quả cô sơn và lạnh lùng như một vầng trăng. Về ngoại mạo, Băng Tâm cho khán giả thấy cô là mẫu người lý vượt tình. Băng Tâm thích mặc những màu tươi sáng và đậm đà. Đó là màu tể hồng của hoa phượng, hoa vông đồng. Đó là màu tể thanh như màu da trời sau cơn mưa. Đó là màu cát thúy của lông chim trả hoặc của ngọc sa-phia. Và đó là màu hoàng yến của hoa mướp trong miền quê thơ mộng. Giọng Băng Tâm cũng nhuyễn như giọng Tâm Đan. Khi diễn tả một bài hát, cô biết bào mỏng giọng hát để cho khan thính giả có cảm tưởng rằng cô đang thì thào với riêng họ. Bài “Tà Áo Xanh” của Đoàn Chuẩn và Từ Linh được cô trình bày rất đạt. Hình như loại nhạc kể lể thì thầm rất hợp với cô. Chẳng hạn như trong bài “Tà Áo Xanh” có đoạn thay vì hát thì cô chỉ nói thì thào và ở hai ba chữ chót của câu cô mới chịu ca và ngân ở chữ cuối câu một chuỗi dài gợn nét thu ba, gieo bàng hoàng tê điếng cho người nghe.

Em còn nhớ anh bảo rằng

Khi nào em đến với anh,

Xin đừng quên chiếc áo xanh

Anh ơi, đâu có ngờ đến rằng

Có tình nào không phai như màu xanh ái ân.

Băng Tâm vẫn là ngôi sao phòng trà khá rực sáng, nhưng cô thừa biết rằng ngành Tân nhạc đang xuống giốc, rằng giọng cô rồi đây sẽ bị chìm lấp giữa những giọng hát lố lăng khác. Vả lại, phòng trà không phải là địa bàn hoạt động rộng lớn cho cô. Cho nên cô đi lấy chồng để có cuộc sống ổn định. Cô bỏ nghề trước khi nghề ruồng rẫy cô.

* Yến Vĩ:

Xuất hiện vào năm 1958, cô hiện thân là một nữ ca sĩ chanh cốm, một mẫu femme-enfant làm cho biết bao chàng phong lưu mã thượng thèm khát. Cô có mái tóc rối rắm một cách nghệ thuật như mái tóc của Brigitte Bardot. Cô mặc áo dài thật xinh, nhất là những chiếc áo dài màu cam hoặc màu hồng nhạt và tươi như màu hoa dâm bụt. Những chiếc đó thường thêu chồng lên những bông hoa trắng, lớn cỡ hoa nguyệt cúc, nhỏ cỡ hoa linh lan. Khuôn mặt cô không đẹp lắm, nhưng rất ý nhị, gợi cho người ngắm một thoáng say sưa bàng hoàng và một thoáng ấm áp dễ chịu. Môi cô thuộc loại cặp môi nũng nịu làm cho cô biến thành mẫu người như sẵn sàng làm nũng với cuộc đời. Sống mũi cô hơi thô. Chính cái khuyết điểm đó làm mặt cô trở nên đậm đà. Yến Vĩ hát nhạc ngoại quốc sành sỏi. Tiếng cô khá nồng nàn. Bản ruột của cô là “Ciao Ciao Bambina”. Bởi cô hát toàn là nhạc thời trang nên không lưu lại trong lòng khách mộ điệu chút xao xuyến lâu dài. Năm 1959, cô đoạt giải nhì trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do đoàn Văn Nghệ Phong Lan tổ chức.

Không biết ai xúi dại Yến Vĩ mà cô giải phẩu chiếc mũi thô của cô thành sống mũi dọc dừa. Nghiệt thay! Cái duyên trời cho cô qua sống mũi thô kia bị khoa giải phẩu thẩm mỹ cướp mất đi. Trông cô lạt lẽo và già sọm hẳn. Bắt đầu từ đó cô xuống giốc thảm thê. Cô qua bên Pháp định cư năm 1978, nhưng không tiếp tục hành nghề nữa.

* Thái Xuân, Diệu Anh:

Đây là hai người nữ ca sĩ đã từng đi qua cuộc đời của nam ca sĩ Anh Ngọc. Thái Xuân nhỏ nhắn, không đẹp, nhưng cực kỳ cao sang thanh thoát. Vóc mình cô thật gợi cảm, mềm mại mà nồng nàn. Khuôn mặt cô chỉ có một cái défaut là chiếc miệng không tươi vì hàm rang dưới đưa ra hơi nhiều. Bù lại môi cô rõ nét. Cô mặc áo dài rất đẹp. Da cô khá mơn mởn nên không kén màu, màu nguội màu nóng, sắc đạm sắc nồng gì cũng làm cho màu da và vóc mình cô đẹp hẳn lên. Thái Xuân hát nhạc ngoại quốc hoặc nhạc Việt đều rựa ràng, dù giọng cô không đặc sắc, không gợi một ấn tượng kỳ thú trong tâm hồn khán thính giả. Có một dạo cô cộng tác với phòng trà Hòa Bình. Khách mộ điệu thích cô hát bài “Sayonara”.

Cô dan díu với Anh Ngọc rất thầm lặng. Khi báo chí khai thác vụ tự tử của Diệu Anh thì cô chỉ được họ nhắc tới một hai dòng, và không ai cào sướt đời tư của cô cả. Và cô không hề tuyên bố sự liên hệ giữa Anh Ngọc và cô. Báo chí cho cô là nạn nhân của anh chàng Don Juan Anh Ngọc. Diệu Anh trẻ trung nồng mặn, có giọng hát khá quyến rũ khi cô hát bài “Trăng Sáng Vườn Chè” của Văn Phụng. Cô có cái đẹp nửa ngây thơ nửa bốc lửa. Màu áo lam ngọc, thiên thanh và hồ thủy rất hợp với cô. Hôm nào cô định hát bài “Tà Áo Xanh” của Đoàn Chuẩn và Từ Linh là cô nhất định phải diện chiếc áo xanh. Trong dáng dấp phơi phới và trong sáng của cô không ai có thể ngờ đây là một mẫu hồng nhan mệnh yểu. Giọng hát và nhân dáng cô có thể giúp cô đi xa trên con đường danh vọng nếu cô không tìm cách xa lánh cõi đời.

Cuộc tự tử bi đát của cô đã làm đổ lệ biết bao nữ đồng nghiệp của cô và biết bao nữ khán thính giả đã từng xem cô trình diễn. Nói cho cùng, trong cái chết của cô, chẳng ai có lỗi và ai cũng đáng thương cả. Đó là một mối oan nghiệt mà sức con người chỉ có giới hạn nên không thể tránh khỏi. Khi quan tài Diệu Anh quàn tại nhà riêng của cô thì Anh Ngọc có đến khóc than thảm thiết. Vậy mà báo chí vẫn không tha anh, viết nhiều lời tổn thương cho anh.

* Mai Ly:

Mai Ly với vóc dáng nho nhỏ xinh xinh. Khuôn mặt cô chỉ có cặp môi nũng nịu và gợi cảm là nổi bật, còn ngoài ra những chi tiết khác thì cũng chỉ xinh vừa phải, duyên dáng có chừng mực để làm một bố cục hài hòa trên khuôn mặt cô. Mai Ly mặc áo dài hay mặc Âu phục đều giống nữ sinh, nhất là khi cô cột túm tóc đuôi ngựa. Giọng Mai Ly thanh tao, ngọt ngào, nhưng chẳng có gì đặc biệt cả. Một giọng hát đủ khả năng để cô hát trong các phòng trà nho nhỏ, không mấy nổi tiếng, chứ không thể tháp cặp hia bảy dặm để cô tiến xa hơn, bay đến sân khấu Đại nhạc hội qui mô.

Nhưng ông Thần Định Mệnh giúp cô nổi tiếng ở một lãnh vực nghệ thuật trình diễn khác. Đó là điện ảnh. Phim đầu tiên do cô đóng là phim Mưa Lạnh Hoàng Hôn do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn. Cô đóng vai chính bên cạnh tài tử Nguyễn Long. Phim được thực hiện bằng một ngân khoản quá khiêm tốn, lại được thực hiện bết bát nên có nhiều anh ký giả độc miệng bảo rắng đây là “Mưa Lạnh Hoảng Hồn” đúng hơn là “Mưa Lạnh Hoàng Hôn”. Tuy nhiên, trong phim, Mai Ly đóng thật truyền cảm làm báo chí khen ngợi nồng nhiệt. Cho nên nghệ sĩ Năm Châu khi thực hiện phim Tơ Tình với Thẩm Thúy Hằng và La Thoại Tân có mời Mai Ly thủ vai nhì, có nhiều chỗ để cô diễn xuất và để cô hát bài “Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn” của Văn Phụng. Sau đó, khi Lê Mộng Hoàng thực hiện phim Con Gái Chị Hằng với Kim Cương, La Thoại Tân, Vân Hùng, Minh Đăng Khánh và Đoàn Thiên Kim cũng có mời Mai Ly đóng vai cô con gái. Mai Ly hễ đảm nhận vai nào là diễn tròn trịa vai ấy. Dường như trong huyết quản cô có luân lưu giòng máu diễn viên điện ảnh.

Sau đó, Mai Ly giới hạn mọi sinh hoạt trình diễn để rút lui êm ái trong khi tài nghệ cô vẫn còn phong độ.

* Tuyết Hương:

Ở bước đầu, khi cộng tác với phòng trà Ly Lan ở đường Lý Thái Tổ, Tuyết Hương còn ăn mặc hơi quê quê, trang điểm diêm dúa mà không bắt mắt. Tuyết Hương có một khuôn mặt sáng sủa thông minh, nụ cười cởi mở, ánh mắt hơi lẳng. Vóc dáng cô khá thanh cảnh, dáng đi và cử chỉ cô khá yểu điệu. Về sau, cô sành ăn mặc, thường mặc bộ Âu phục với chiếc jupe bó mông khi bước ra sân khấu. Cô luyện được dáng đứng một cách sang trọng và khêu gợi của nữ tài tử Ava Gardner, hơi tréo chân và hơi ưỡn ngực. Trông cô như lột xác hẳn, mỗi cử động khi diễn tả bài hát làm cho cô có chiều phong vận, có chiều thanh tân lạ lùng. Cô hát nhạc ngoại quốc khá nghề, nhất là bài “It’s Now or Never”, “Bambino” …

Theo lời của ca sĩ Mỹ Hòa thì Tuyết Hương rất sành nhạc ngoại quốc, xứng đáng là bậc đàng chị của mình.

Về sau Tuyết Hương thành lập Tam Ca Ba Trái Táo với Vi Vân và Tuyết Loan.

* Linh Đa, Mary Linh, Phương Tâm (*):

Đây là ba giọng hát nhạc ngoại quốc. Linh Đa có vẻ đẹp cao sang thanh thoát, trang điểm rất ít. Khuôn mặt cô thông minh và trong sáng nên kém phần gợi cảm. Tuy nhiên đối với những người chuộng cái đẹp trong trẻo, tươi sáng và mềm mại thì Linh Đa là một mẫu đối tượng lý tưởng của họ. Cô gợi nên một tấm nhiễu trắng dệt hoa sáng, một đợt gió mát thoang thoảng mang lại một chút hương man mác mơ hồ. Giọng cô trong và ngọt. Cô hát bản nào cũng dễ dàng tuy không để lại một ấn tượng nào sâu đậm trong lòng khán thính giả, nhưng vẫn là một giòng nước suối rót qua tâm hồn khô cằn của họ từng đợt mát rười rượi. _

Mary Linh có vẻ đẹp man dại, tiếng hát nồng nàn có thể làm xao xuyến trong lòng khách mộ điệu rất lâu. Cô mặc áo đầm cũng đẹp như mặc áo dài, loại áo nào cũng có thể làm tôn cái quyến rũ của thể chất nồng nàn sinh lực của cô. Nét man dại đó làm cô vừa xuất hiện trên bục ca là như bừng dậy một cơn hỏa hoạn, chẳng những làm ấm nóng sân khấu mà còn hơ nóng những tâm hồn cô đơn giá lạnh. Tiếng hát khan khàn, đôi lúc gào thê thiết, đôi lúc cuồng nhiệt khích động như dìm căn phòng trà vào không khí sực nức mùi hoa dại của đêm nhiệt đới.

Linh Đa đeo đuổi nghề ca hát trong thời gian quá ngắn, còn Mary Linh đeo đuổi nghề hơn cả 3/4 cuộc đời cô. Tấm lòng yêu nghệ thuật của cô luôn bền sắt tươi son. Khi ra hải ngoại, cô đã hát một thời tại Kinh Đô Ánh Sáng Paris và giờ đây lại hát trên một vài tiểu bang ở Hợp Chúng Quốc, nhất là ở Texas.

Phương Tâm không có thân hình bốc lửa như Mary Linh, nhưng có mái tóc rối và man dại. Có người bảo rằng cô dùng mái tóc đó để che một vết sẹo in khá rõ bên má trái của cô. Dù gì thì dù mái tóc vẫn làm cho cô thêm gợi cảm, thêm duyên dáng mặn mà. Cô không đẹp lắm, nhưng rất ăn ánh đèn sân khấu, và có một cái duyên đằm thắm thâm trầm. Càng nhìn cô khán thính giả càng khám phá thêm cái hấp dẫn kỳ diệu của cô. Thân hình cô không sexy, chỉ được cái vẻ thanh tân yểu điệu trong những chiếc áo dài màu sắc khiêm tốn lặng chìm. Giọng của Phương Tâm khàn. Mỗi khi cô gào rống, giọng trở nên bào buốt ruột gan khán thính giả. Đó là một giọng tượng trưng cho sự khát vọng cuồng nhiệt. Bản ruột của cô là “I Will Follow Him”, bản nhạc đã đưa nữ danh ca Petula Clark gốc người Anh lên đài vinh quang rực rỡ trong thập niên 60. Và cũng như Petula Clark, cô có thể hát bài nầy bằng tiếng Pháp (khi chuyển qua tiếng Pháp, bài nầy có cái tựa là “Chariot”). Phương Tâm là nghĩa nữ của nữ nghệ sĩ Túy Hoa.

Theo lời bà Túy Hoa thì cô rất ngoan hiền. Phương Tâm không đeo đuổi nghiệp cầm ca lâu. Vì đó không phải là cái chân hạnh phúc của cô.

* Bạch Quyên, Ngân Hà:

Đây là hai giọng hát nòng cốt của phòng trà Hòa Bình. Bạch Quyên phương phi. Khuôn mặt phúc hậu của cô được chiếu sáng bởi thần thái tươi rạng ánhbình minh. Da cô ngăm đen, nồng mặn. Cô trang điểm khéo, kín đáo nhưng bắt mắt. Cô không hề diện áo màu tươi, màu nóng. Những màu lu chìm như uất lam, nâu hoặc xám ngọc trai không thể biến cô thành mẫu người u buồn. Cô có vẻ hiền dịu đoan trang dễ làm say lòng người. Giọng hát của Bạch Quyên trong ấm. Cô thích hát bài “Đêm Này Nghỉ Đỡ Chân” và bản “Chiều Biên Khu” của Tuấn Khanh.

Mối tình giữa cô và nhà văn Thanh Nam là mối tình không khua động. Cô bỏ nghề cũng không gây âm vang. Ngân Hà có một vóc dáng mảnh khảnh mỏng manh.  Khuôn mặt cô hơi mỏng, môi cô cũng hơi mỏng nên trông côkhông gợi cảm. Đây là một khuôn mặt lồ lộ ánh sắc thông minh. Nụ cười cô biểu dương một tâm hồn già dặn để chịu đựng mọi bất hạnh do cuộc đời đưa đến. Cô có lần tuyên bố trên tuần san Kịch Ảnh rằng cô tự tử hụt mấy lần. Ngân Hà không khéo ăn mặc. Cô thường diện chiếc áo dài cổ hở do bà Ngô Đình Nhu sáng chế ra. Áo màu chàm đậm in bông trắng hay áo màu hường tái pha xám làm cô trở nên trơ trẽn với ánh đèn. Ngân Hà có giọng hát vững vàng, trong và ấm. Cô hát bản “Mộng Dưới Hoa” của Phạm Đình Chương rất sành điệu. Tại phòng trà Hòa Bình, cô và Thùy Nhiên chia nhau hát tram khoảng thời gian Bạch Yến và Bích Chiêu chưa đến. Có lần, vì nghe Ngân Hà hát bảy tám bản gì đó suốt ¾ buổi tối trình diễn nên có vài ba khán giả cục súc vừa nghe cô hát xong bản thứ chín liền hét:

— Cút đi! Cút đi cho khuất mắt!

Ngân Hà bình tĩnh bảo:

— Xin cám ơn tấm thịnh tình của một số quý vị.

Cô bước xuống bục ca, đến chỗ chiếc bàn dành cho ca sĩ, tuy có vẻ buồn đậm nhưng cô vẫn không khóc tủi thân. Từ đó cho tới xong buổi tối trình diễn, Ngân Hà nhất định chỉ để cho Thùy Nhiên và Bạch Quyên thay phiên nhau hát, còn cô ngồi yên lặng như pho tượng tại chỗ dành cho cô, dù bọn “lâu la” kia rút lui từ lâu.

* Ly Lan, Thanh Lan, Lệ Hoa:

Đây là ba giọng hát không thiện nghệ lắm, nhưng cũng dễ nghe. Tôi được xem Lệ Hoa hát ở phòng trà Ly Lan. Cô ăn diện rất tươi thắm, áo nhiễu màu san hô đỏ tía, tóc cuộn lên cao rồi buông xõa. Cô trang điểm thật ăn son phấn. Màu phấn hồng rực sáng và màu son môi ngọt lịm tạo cho cô một khuôn mặt nổi bật bên cạnh Kim Chi và Tuyết Hương. Giọng Lệ Hoa trong và ấm, nhưng cô không biết ngân nga. Tuy nhiên, bản “Đường Xưa Lối Cũ” của Hoàng Thi Thơ được cô hát bằng một tình cảm se sắt ngậm ngùi.

Tôi cũng có xem Thanh Lan một lần tại phòng trà Kim Điệp vào năm 1960. Ở đây, xin quý vị độc giả đừng lộn với nữ ca sĩ Thanh Lan kiêm nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng trong thập niên 70. Thanh Lan ở chương nầy xuất thân là nữ vũ công trong ban vũ của đoàn ca kịch Kim Chung. Cô có khuôn mặt có duyên dù cặp mắt lá răm của cô hơi nhỏ trong khi đó miệng cô hơi rộng. Vai cô hơi xuôi, nhưng thân hình cô thật đẹp. Giọng Thanh Lan hơi yếu, nhưng cô hát bài “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” nghe cũng điệu nghệ.

Thanh Lan kết hôn với một chính khách nổi danh, đó là ông Cao Xuân Vỹ. Tuy đã leo một cái rột lên địa vị một phu nhân, nhưng thỉnh thoảng cô chường mặt trong vài cuốn phim xã hội của hãng Mỹ Vân do Năm Châu đạo diễn. Ly Lan được giới mộ điệu biết đến nhờ cô công tác với ban Dân Nam. Trong ban nầy, cô đóng kịch lai rai và hát cũng lai rai. Cô có vóc mình nhỏ nhắn và cân đối, khuôn mặt tròn. Cô đẹp chỉ có ba, nhưng xinh tới bảy. Giọng cô ấm áp và thanh tao, nhưng lối ngân nga của cô lượn nét răng cưa.

Ly Lan đóng vai công chúa nước Tống trong phim Thoại Khanh Châu Tuấn bên cạnh Kim Cương, Yến Hương, Vân Hùng, Ngọc Phu. Và cũng như Yến Hương cô không thành công ở địa hạt thứ bảy.

* Jeannot:

 Anh là một ca sĩ lai Tây, hát bản Tây rất hay. Anh để tóc dài, thỉnh thoảng để râu rậm. Khi lên bục ca, anh đánh phấn thoa son và sơn móng tay. Thỉnh thoảng anh cạo râu, cạo lông chân, mặc áo xường xám, đi giày cao gót, tóc chải bồng để đi bát phố ở đường Lê Lợi và chung quanh chợ Bến Thành. Anh cũng thường hóa trang các mụ đàn bà nhà quê để đi dạo khắp xóm của anh trên vùng Tân Sơn Hòa. Lúc đó, anh bới đầu rồi giắt móc tai, mặc áo bà ba lụa và quần sa teng cắt theo kiểu lá nem dành cho đờn bà. Những sở thích kỳ cục của anh chẳng làm ai khó chịu vì anh cư xử mềm mỏng, chẳng làm mất lòng ai. Anh qua đời tại Vũng Tàu vào năm 1969.

CHÚ THÍCH: (*)

Xin đừng lầm lộn với nữ ca sĩ Phương Hoài Tâm xuất thân từ ban nhạc Thiếu Nhi của Nguyễn Đức. Phương Tâm là ca sĩ nhạc rock và ưa hát bằng tiếng Mỹ, trong khi đó Phương Hoài Tâm chuyên hát nhạc tình cảm bằng tiếng Việt.