This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bệnh tật là một điều tốt hay xấu? Chắc chắn là một điều xấu, ai cũng nghĩ như vậy. Nhưng những nhà ngụy biện của nước Cổ Hy Lạp, đã đón biết trước câu trả lời của mỗi người, đáp lại: “Không, không xấu đối với những nhà y sĩ!” Qua lời nói ấy người ta có thể hiểu rằng những nhà y sĩ sống nhờ vào người bệnh, chỉ mong người đời mắc thật nhiều bệnh để mong có dịp hành nghê kiểm tiền sinh sống. Suốt một đời Socrates đã chống lại lối suy tưởng bằng nghịch lý ấy. Y sĩ cũng chỉ là người, sớm muộn cũng phải mắc bệnh; bởi vậy bệnh tật quả là một điều xấu đối với con người, điều ấy không ai có thể chối cải được nữa.
“Đau đớn là một điều tốt hay xấu?” Ngay trong định nghĩa sự đau đớn đã có câu trả lời. Thật vậy, cho đến nay, trong phạm vi tâm lý học cũng như sinh lý học, người ta không đưa ra được một định nghĩa khoa học về sự đau đớn. Đau đớn là một tình trạng khó chịu mà người ta muốn chấm dứt. Người bệnh thường thường tới phòng mạch y sĩ cũng vì đau đớn và muốn được chữa khỏi ngay tức khắc. Tuy nhiên từ lúc khám bệnh cho đến lúc uống thuốc chữa bệnh không phải ngắn ngủi chỉ có năm phút biên toa. Người bệnh nào cũng muốn kể lể, mô tà cái đau của mình, đau lên đau xuống. đau ngắn đau dài … Lâu dần người y sĩ có kinh nghiệm, nghe kể bệnh xong đã đoán đúng căn bệnh đến chín phần mười. Sự đau đớn biến thành một triệu chứng quý báu để chẩn bệnh. Bổn phận của người y sĩ ngày nay, khi gặp người bệnh lần thứ nhất là tìm hiểu cái đau đớn của người bệnh. Nhiều khi nhà y sĩ còn đòi hỏi bệnh nhân làm một số động tác gây đau đớn để chẩn bệnh. Ở ngay khởi điểm, như vậy, hình như đã có một sự bất đồng quan điểm giữa y sĩ và người bệnh về sự đau đớn. Đối với người y sĩ, đau đớn là một lợi khí vì nó là một triệu chứng thông thường nhất của bệnh tật.
Giá trị của lợi khí ấy, thật ra, rất tương đối. Trong việc chẩnbệnh, nhà y sĩ còn có nhiều phương cách khác: nghe tim, gõ ngực, chiếu điện, thử nước tiểu, thử đàm … Trái lại, kéo dài quá hay quá dữ dội, đau đớn làm thể xác hao mòn, tinh thần mệt mỏi vì lo âu sợ hãi; đau đớn trở nên một chướng ngại lớn cho việc điều trị, một thứ bệnh cấp cứu mà người thấy thuốc phải tìm đủ mọi cách để chế ngự tức khắc.
Cuộc chiến đấu chống đau đớn, cùng với lịch sử bệnh tật, bắt đầu ngay từ những thời thượng cổ. Sau những phương pháp thô sơ do bản năng và kinh nghiệm như đấm bóp, đắp lạnh, đắp nóng …con người lần đầu tìm ra những thuốc trấn đau hiệu nghiệm hơn. Người cổ sơ chắc đã nhiều lần ngẩm nghĩ khi thấy vơi “đau bụng” chạy đi ăn đất sét, để chúng ta ngày nay uống Kaolin, Bismuth. Và có phải ngẫu nhiên con người uống chung với sư tử trong những hồ nước đầy cây ký ninh rữa nát để khỏi phải khổ sở vì nóng, lạnh và mồ hôi? Nhờ những khám phá ấy, y học ngày nay có thêm những phương tiện chống đau. Rồi với tiến triển của các khoa học y khoa như cơ thể học, sinh lý học, vi trùng học … khoa thủ thuật cũng được hướng vào công cuộc khắc phục đau đớn. Tiến thêm một bước, con người mong sẽ phòng ngừa được đau đớn. Dự tính này mới chỉ được phần nào thể hiện trong khoa đánh thuốc mê, một nhành phụ của khoa giải phẩu. Ước vọng của con người là sẽ có ngày diệt hết mọi đau đớn bằng cách ngăn chặn, không để bệnh tật tới được những giai đoạn “bất trị” mà đau đôn lúc ấy trở thành mối kinh hoàng khủng khiếp của con người.
Dưới mắt nhà sinh lý học, đau đớn thể xác là một giác quan đặc biệt, có “những đường dây riêng” trong hệ thần kinh, Nơi người đau, đau đớn là một trạng thái tri thức rất khó chịu, làm ta mệt nhọc, bắt ta rên rỉ kêu la. Nó là một thực trạng hoàn toàn chủ quan, chỉ người đau mới biết đau và chưa có cách gì đo lường được.(1)
Tất cả những từ ngữ người đau dùng để tả cái đau của mình, chẳng hạn: đau như xé, như cưa, như lửa đốt, như kìm kẹp, chỉ lànhững hình ảnh tưởng tượng, vì thực ra người đau ấy chắc có khi nào bị xé, bị cưa, bị đốt, bị kẹp đâu. Và đến khi quá đau, thì người đau chỉ còn mấy ý tưởng là: đau, đau và đau. Như thế đau đớn phụ thuộc nhiều yếu tố chủ quan: sức chịu đựng, trạng thái tâm thần, ký ức, ý chí … Thêm vào đó còn có rất nhiều yếu tố của môi trường người đau đang sống: phong tục, khí hậu, đồ ăn … khiến cho việc phân tích đau đớn rất khó khăn hay không thể được. Trong y học cách chữa bệnh hay nhất vẫn là cách chữa tận gốc. Vì thế, trước đau đớn, y học phải gắng tìm ra khởi nguyên của nó, và theo Leriche, một thủ thuật gia của đau đớn, thì chỉ có vị thế của đau đớn là giúp ta làm sáng tỏ được điểm này. Leriche phân tích hai loại đau đớn thể xác. Nếu như cảm giác đau hình như cố định một chỗ, không lan rộng ra chỗ khác, không bị ảnh hưởng bởi những kích thích ngoại lai từ ngoài chỗ đau: ấy là cái đau của những dây thần kinh não tủy. Đối lại có thứ đau lan man, không có giới hạn rõ rệt trên thân thể, hay lan rộng, dễ chịu ảnh hưởng của các kích thích ngoại lai, kèm theo nhiều hiện tượng sinh lý khó chịu khác, làm cho thể xác hao mòn, tinh thần căng thẳng vì lo sợ: ấy là đau đớn của hệ giao cảm. Nhờ sự phân biệt này, Leriche đã chứng tỏ được sự hiện hữu của cảm giác đặc thù nơi một số tổ chức xưa kia coi như vô tri giác (xương, mạch máu … ) Những yếu tố thể dịch như lượng calcium, lượng các kích thích tố thượng thận, kích thích tố sinh dục … trong máu, cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát sinh ra đau đớn thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (ngứa cũng là một loại đau đớn). Công cuộc khắc phục đau đớn vì thế gặp nhiều khó khăn. Hai thứ dược thảo đầu tiên làm dịu đau ghi trong lịch sử y học là cây ngải sâm (mandragore) và cây gai Ấn độ (haschich). Người Ai Cập cổ tin rằng cây ngải sâm là quà tặng nhân gian của Thần Mặt Trời; và người La Mã đã sớm biết xắt cỏ này với rượu nho uống cho bớt đau trong khi mổ xẻ. Mãi đến thời Trung Cổ, cỏ ngải sâm vẫn còn được dùng làm thuốc an thần. Cây gai Ấn độ hay haschich, mặc dầu chỉ xuất hiện trong kho thuốc từ cuối thế kỷ 19, đã được các dân Tiểu Á, Ba Tư, Ai Cập rất ưa dùng từ nhiều trăm năm trước công nguyên, vì tính chất làm say lơ mơ và cho những ảo giác rất thú vị.
Nha phiến, thuốc trị đau thần hiệu trong phần lớn trường hợp đau ghê gớm, dưới nhiều hình thức chế hóa khác nhau, cũng có một lịch sử rất dài. Biết thưởng thức nha phiến đầu tiên hẳn là người Trung Hoa. Trong thang ma-phế của Hoa Đà đời Tam Quốc dùng làm thuốc mê, chắc có cả nha phiến lẫn haschich. Bên trời tây, Hippocrates dùng nha phiến trong các chứng đau tử cung và đau ruột; Galien dè dặt hơn, rất ít dùng, lại cấm cho trẻ con uống. Thời cực thịnh của nha phiến trong y học vào khoảng thế kỷ 16 với Sylvius de la Boe, đồ đệ của Paracelse và được biệt hiệu là “bác sĩ nha phiến” (doctor opiatus). Nha phiến có tác dụng làm teo các tua dây thần kinh, do đó cản trở sự dẫn truyền các cảm giác đau đớn. Nhưng chỉ sau các thí nghiệm của Magendie và của Claude Bernard, giới y sĩ mới để ý tới hậu quả tai hại của sự lạm dụng nha phiến trong việc điều trị đau. Tuy thế “y sĩ nào lại không dùng nha phiến để trị liệu? Vì không những nó làm hết đau mà còn nâng cao tinh thần người đau, làm cho cái chết trong những trường hợp thiên định hóa ra êm dịu nhẹ nhàng”. (Hufeland) Trái lại, lịch sử những thứ “thuốc cảm” loại aspirin – kiệt phẩm của nhân loại (2)– chỉ bắt đầu từ hạ bán thế kỷ 19. Công dụng đầu tiên của acide salicylique lại là sát khuẩn cho những người mắc bệnh đậu mùa. Và khi đã nghiên cứu kỹ càng rồi đem thuốc này chữa chứng phong thấp khớp cấp tính vào năm 1877, Germain de Sée đã gây ra nhiều cuộc bàn cãi sôi nổi, trong đó có cả Bouillot, người đầu tiên mô tả bệnh phong thấp khớp. Sau những cuộc tranh luận ấy và nhiều cuộc khảo sát chứng tỏ rằng acide salicylique làm giảm hoạt động quá đáng của tế bào trong các chứng viêm, acide salicylique mới được công nhận làm môn thuốc chính thức của chứng phong thấp. Chúng ta cũng nên để ý rằng tất cả các thứ thuốc “giải cảm, thối nhiệt” đều có ít nhiều tác dụng chỉ thống, nhưng thường thường tác dụng này chỉ có khi dùng những liều khá mạnh.
Bên cạnh hai loại “lớn” kể trên, còn nhiều thứ trị đau loại “nhỏ”, dùng trong vài trường hợp riêng. Một giọt aconitine đặt trên lưỡi, làm tê liệt các đầu dây thần kinh ba chẽ (trigeminal nerve) trong chứng nhức của thần kinh này, một chút colchique làm dứt cơn đau bệnh “gút” tức thì, trong khi các thuốc khác đều vô hiệu.
Bệnh đau thần kinh phù thũng vì thiếu sinh tố B1, chỉ hết đau khi được điều trị bằng sinh tố B1; cũng thế, đau đớn trong bệnh hoại huyết, chỉ hết với sinh tố C.
Mới hơn cả, có lẽ là những kích-thích-tố, dùng trị đau của ung-thư vú hay ung-thư nhiếp-hộ-tuyến. Và nói cho cùng thì mọi thứ thuốc đều có tác dụng chỉ thống cả, vì đau đớn dù sao cũng chỉ là một triệu chứng của bệnh tật. Thế nên nỗ lực của nhân loại trong công cuộc chống đau phải tiến vào chiều sâu, tìm đến căn nguyên của đau đớn. Từ những phương pháp và thuốc men chỉ có thể làm dịu đau trong khi chờ đợi hay tiến hành song song một trị liệu tận gốc, con người đã sớm biết rằng chỉ có trị tận căn nguyên chứng bệnh làm đau mới là phương cách hữu hiệu nhất để khắc phục đau đớn. Tuy nhiên, trong tình trạng hiện tại của sự vật, có những bệnh, tỉ dụ như ung thư, diễn tiến một cách âm thầm và đến khi nhận được định rõ thì quá muộn rồi: bệnh đã vào giai-đoạn “bất-trị”. Đau đớn lúc ấy là tất cả, người bệnh là hiện thân của đau đớn, chỉ biết có đau đớn, không cần để ý đến sự tàn phá trong cơ thể, đang đưa dần mình về cõi chết. Vì hiệu quả có hạn, những thuốc chỉ thống cho người đau ảo tưởng một êm dịu thoáng qua, để sau đó lại nổi lên những cơn đau mãnh liệt gấp bội. Con người đành tạm quên căn bệnh, đi tìm một cách trị đau hữu hiệu hơn. Chính trong những hoàn cảnh tuyệt vọng ấy mà khoa thủ thuật chống đau đớn ra đời.
Tên gọi tuy mới, nhưng việc làm thì đã cũ. Y học thế-kỷ XVII đã biết cắt lấy thần kinh ba chẽ để chữa chứng nhức thần kinh ở mặt. Nhưng phải đợi đến khi có thể giải phẫu được trong những điều kiện hoàn hảo về kỹ thuật, về khử trùng … khoa thủ thuật chống đau đớn mới chính thức khai sinh. Từ đấy, các nhà thủ thuật không ngừng kiện toàn hay đặt thêm kỹ thuật. Trong số đông đảo các nhà thủ thuật này, phải kể đến Weir Mitchell đầu tiên tả chứng đau đốt; Harvey Cushing nghiên cứu chứng nhức thần kinh; Abbe, người
thứ nhất cắt các dây sau tủy sống; Ruggi có sáng kiến cắt hệ giao-cảm; Von Oppel nêu rõ vai trò các tuyến nội-tiết trong sự phát sinh đau đớn; Leriche nới rộng tầm hoạt động của thủ thuật chống đau ra ngoài khu vực hai hệ thần kinh não tủy và giao cảm. Một cách đại cương, nguyên tắc của thủ thuật chống đau là làm gián đoạn luồng thần kinh dẫn cảm giác đau đớn về trung khu thần kinh. Yếu tố nhận thức đau đớn của cơ thể bị loại trừ; người đau hết đau vì không biết đau nữa. Áp dụng nguyên-tắc này, nhà thủ thuật sẽ cắt, tùy theo trường-hợp, hoặc dây thần-kinh não tủy (radicotomie), hoặc tủy sống (myélotomie, cordotomie), hoặc ngay tại não bộ (thalamotomie, lobotomie) hoặc cắt hạch và các dây của hệ giao cảm (stellectomie, sympathectomie). Vì áp dụng ngay trên hệ thần kinh, những cuộc giải phẫu này không phải là không nguy hiểm. Làm mất đau đớn, lưỡi dao giải phẫu có thể cho thêm tê bại, cho tim đập nhanh, cho trán đổ mồ hôi, cho chân tay lạnh ngắt; khốc hại hơn nữa là làm thay đổi tính tình người đau, những khi động chạm đến thị giác não. Điều này hiển nhiên, vì đau đớn là hiện tượng chủ quan trong đó thể hiện phần nào cá tính con người. Diệt được đau mà phương hại đến cá tính tức là diệt luôn giá trị của người đau. Bởi thế, ngoài những trường hợp thủ thuật có giá trị không thể chối cãi, như trong chứng nhức thần kinh, chứng đau đốt, đau mạch máu v.v … lưỡi dao giải phẫu chỉ rạch vào chất xám, chất trắng sau khi nhà thủ thuật đã đắn đo cân nhắc kỹ càng. Còn khi một căn bệnh đã hoàn toàn biến thành đau đớn, lưỡi dao thường chỉ được sử dụng để làm êm dịu những giây phút cuối cùng của đời người đau.
Đau là khổ. Và trên cái Hạnh phúc trần gian ngắn ngủi nhưng chính đáng của con người, đau đớn thể xác vẫn là một vết xám bẩn cần phải tẩy sạch. Nếu “vui quá hóa buồn” là một trạng-thái tâm lý hợp lý, thì trái lại không ai muốn được đau đớn, dù trong chốc lát, vì đã lâu không bị đau khổ e đời tẻ nhạt. Tạm gác một bên những ý niệm tôn giáo, thần bí, khắc kỷ, hoặc lấy đau đớn để hy sinh đền tội, hoặc cho rằng đau đớn để giao tiếp với thần linh, hoặc khinh bỉ coi thường đau đớn cho tâm hồn thêm cao cả, và gạt bỏ ý muốn tìm lạc thú trong đau đớn của những kẻ suy biến thác loạn, y học lúc nào và ở đâu cũng quan niệm rằng “đau-đớn là một tai ương của con người, làm giảm giá-trị con người và làm con người bệnh hoạn thêm lên” (3). Do đó, y học luôn luôn tìm mọi cách để hoàn tất công cuộc khắc phục đau đớn thể xác, khởi từ những giây phút đầu tiên của đời sống nhân loại trên mặt trái đất. Và nếu thuở xưa, làm hết đau đớn được coi như một việc “thiêng liêng”, thì ngày nay, làm hết đau đớn lại chính là bổn phận thiêng liêng tối thiểu của người y học.
NGHIÊM-SỸ-TUẤN
[Tình Thương Số 3-4, tháng 3-4,1964]
(1) Một phương pháp đo lường đau đớn đang được thí nghiệm: điện-bì động ký (électrodermographie)
(2) “kiệt phẩm của nhân loại / chef d’oeuvre humain” (R. Leriche)
(3) “đau-đớn là một tai ương của con người, làm giảm giá-trị con người và làm con người bệnh hoạn thêm lên / la douleur est toujours un cadeau sinistre qui diminue l’homme, qui le rend plus malade qu’il ne serait sans elle.” (R. Leriche)
Như tất cả công an chìm làm công tác tình báo truy lùng, săn đuổi bọn chống phá cách mạng do CIA gài lại Sài Gòn, anh mặc áo sơ mi trắng, quần màu xám tro may tại Sài Gòn. Anh là người Sài gòn, còn trẻ, khoảng 19, 20 tuổi. Không ai nghĩ anh từ rú về. Người ta đoán chắc anh đã hoạt động trong vùng địch và nhiệm vụ của anh khá quan trọng. Vì anh đeo khẩu K54 sau lưng, loại súng ngắn dành riêng cho cấp chỉ huy. Cái nón cối trên đầu, túi xà cột da đen máng vai, đôi giép râu dưới chân, người công an K3 lái chiếc Honda 90 đến phường 2, quận 4 bên Khánh Hội.
Người trưởng đồn công an phường 2 đứng dậy, dơ tay chào. Anh rút tấm thẻ hành sự đưa cho người trưởng đồn.
– Đồng chí cần chúng tôi giúp việc gì? Người trưởng đồn hỏi.
– Người các đồng chí bắt sáng sớm nay còn ở đây không? Anh hỏi.
– Thưa đồng chí còn.
– Hoàn tất hồ sơ của hắn chưa?
– Dạ, rồi ạ!
– Báo cáo lên quận chưa?
– Thưa chưa.
– Lên Sở chưa?
– Chưa. Thưa đồng chí, khai thác thêm, chúng tôi sẽ dẫn nó lên quận với hồ sơ và quận sẽ báo cáo lên Sở.
– Anh công an K3 thở phào nhẹ nhõm:
– Tôi muốn xem hồ sơ.
Người trưởng đồn tưởng thộp được tên gián điệp, mừng ra mặt. Y ngỡ mình sắp được biểu dương. Y trịnh trọng lấy từ ngăn keo bàn ra một tập hồ sơ đựng trong tấm bìa đỏ. Người công an K3 xem xong, mỉm cười:
– Dẫn hắn ra đây!
Trưởng đồn sai thuộc hạ. Can phạm vừa ở phòng nhốt dưới nhà đi lên, người công an K3 đã vụt đứng dậy, bắt tay vồn vã và hỏi:
– Đau không?
– Sắp ốm đòn.
Người trưởng đồn công an ngơ ngác. Cả công an phường ngơ ngác. Người công an K3 nói:
– Người của ta. Các đồng chí bắt lầm. “Can phạm” muốn thử tài các đồng chí. Sở sợ các đồng chí mạnh tay nên chỉ thị tôi đến lãnh ra gấp.
Trưởng đồn tỏ vẻ lo sợ. Người công an K3 trấn an:
– Nội vụ kể như không có. Tôi đốt hồ sơ nhé!
Người công an K3 châm lửa đốt hồ sơ. Anh bình tĩnh ngồi nhìn ngọn lửa thiêu hết lý lịch của can phạm rồi mới bắt tay người trưởng đồn:
– Sẽ gặp lại đồng chí. Có dịp lên Sở, ghé văn phòng tôi nhé!
Người trưởng đồn công an phường 2 niềm nở:
– Vâng, mong gặp lại đồng chí.
Trưởng đồn tiễn hai đồng chí của mình ra tận đường. Y líu ríu quên xin lỗi sự bắt lầm, đánh lầm đồng chí. Honda 90 rồ máy. Nó phóng ra đường Trịnh Minh Thế rồi hướng về phía Cầu Quay. Đến chợ trời Hàm Nghi, xe rẽ vô con hẻm nhỏ. Lát sau, hai người tuổi trẻ đã có thể chuyện trò.
– Thẻ hành sự của mày đâu?
– Bị móc túi mất chiều qua.
– Bỏ mẹ. Đồ dỏm để mất phiền lắm. Lọt vào tay công an, nó điều tra là vở ổ.
– Tại sao mày biết tao bị vồ?
– Thằng Tài loan báo. Nó thấy công an phường vồ mày ở quán bà Tư. Mày cứ ngồi ì một nơi, đúng giờ giấc, nó nghi là đúng. Bây giờ mày phải né miệt Khánh Hội. Mỗi lần “cứu bồ” là mỗi lần tim tao muốn phóng ra khỏi lồng ngực.
– Mày bình tĩnh ghê.
– Không bình tĩnh nó nghi là… lúa! Tui công an ngày càng cáo. Mai mốt nó thay thế hết Bắc kỳ thì gián điệp màn ảnh cũng thua luôn. Mày nghỉ ngơi xoa bóp đi, tao dzọt đây.
Chiếc Honda 90 đã lăn bánh trên đường phố Sài gòn. Người lái xe là cậu Nguyễn Khánh Long. Bỏ túi xà cột, bỏ súng, bỏ giép râu, bỏ nón cối, cậu trẻ măng, khác lạ đến nỗi nếu gã trưởng đồn công an phường 2 quận 4 gặp cậu đi bộ cũng sẽ khó lòng nhận ra cậu. Mười bảy tuổi, học sinh trường Nguyễn Trãi, nhờ to xác và cao, lại mang dáng dấp nông dân nên cậu già dặn hơn tuổi của cậu và mọi người đều tưởng cậu phải cỡ hai mươi. Gia đình Nguyễn Khánh Long ở Phú Xuân, Nhà Bè. Cha mẹ cậu làm ruộng. Từ lớp 6, cậu thi vào trường Nguyễn Trãi, đạp xe từ Phú Xuân lên Khánh Hội mỗi ngày. Anh cả của Nguyễn Khánh Long đi kháng chiến khi cậu chưa ra đời. Lớn lên, nghe cha kể Thanh niên tiền phong đánh thực dân Pháp bằng gậy tầm vông ở Sài Gòn, cậu thích lắm. Cậu hình tưởng anh trai cậu, 18 tuổi, tham dự các trận Cầu Quay chống liên quân Anh Pháp Ấn, trận Rạch Đỉa, Bình Xuyên… A, một thời hào hùng của tuổi trẻ đi làm lịch sử. Cậu rất tiếc mình không trưởng thành trong tiếng súng Nam bộ. Cậu ao ước có ngày gặp gỡ anh Hai. Và, như cha mẹ cậu, như họ hàng cậu, như những người miền Nam chân thật còn nhấp nhổm hào quang kháng chiến, cậu vọng tưởng xa xôi, cậu mong Mỹ sớm cút, Ngụy sớm nhào.
Mỹ đã cút năm 1972. Ngụy đã nhào năm 1975. 30 tháng 4 là ngày vui ở gia đình Nguyễn Khánh Long. Cậu chờ anh Hai cậu về. Tháng 5. Tháng 6. Tháng 7, một người anh họ của cậu về. Người này tập kết ra Bắc năm 1954 cùng anh Hai của Nguyễn Khánh Long. Anh ta xâm nhập miền Nam năm 1966 và hoạt động ở cục R. Anh ta là cán bộ cấp cao của ngành công an tình báo.
– Anh Hai tôi không về được.
Nguyễn Khánh Long kể chuyện với một người tù ở phòng 3 khu C1 đề lao Gia Định.
– Tại sao? Người tù hỏi.
– Anh họ tôi bảo anh tôi không có đường về, không bao giờ có đường về nữa. Anh tôi đã ly khai hàng ngũ tập kết, chống lại đảng và nhà nước từ năm 1958. Hiện nay, anh tôi đang chiến đấu ở miền thượng du Bắc bộ và được đồng bào sơn cước nuôi dưỡng. Anh tôi đã muốn về từ năm 1958, bây giờ, anh tôi còn muốn về. Anh tôi phải chiến đấu để về. Anh tôi bị lừa gạt niềm tin. Anh tôi trở thành kẻ thù của đảng và nhân dân! Anh họ tôi nói thế.
– Rồi sao nữa?
– Rồi tôi cũng bị lừa gạt niềm tin. Cả nhà tôi bị lừa gạt niềm tin. Cả nước bị lừa gạt niềm tin.
– Và đó là lý do em chiến đấu?
– Vâng. Tôi chiến đấu để có đường cho anh tôi vê, cho nhiều người về.
– Em khai với công an như thế?
– Vâng. Có sợ gì mà không khai sự thật. Mình người đàng hoàng mà, anh!
– Công an tỏ thái độ gì khi nghe em khai?
– Nó đánh tôi thừa sống thiếu chết ở quận Nhà Bè. Nó đưa tôi lên Sở Công An thành phố, tống tôi vào cachot, còng tay treo tôi hai ngày đêm. Rồi nó bịt mắt dẫn tôi tới đề lao Gia Định. Tôi nằm cachot 11 tháng liền.
– Làm cách nào em có K54 và giấy giả?
– Tôi đã toan tính trước nên tôi lợi dụng lúc anh họ tôi ngủ, tôi cuỗm cả súng lẫn túi đựng giấy tờ của y. Y là kẻ thù của anh tôi, của tôi, chưa giết y là phúc cho y rồi. Cuỗm xong, tôi chuồn luôn, không về nhà nữa. Tôi sang Sài Gòn sống với bạn. Chúng tôi tổ chức Phục Quốc. Nhóm tôi có thằng khắc con dấu tài tình, có thằng mạo chữ ký thật giỏi, có thằng làm nghề in. Chúng tôi in thẻ hành sự của công an tình báo, thẻ đảng viên, giấy công tác và thẻ phục quốc. Chúng tôi còn định in bạc giả nữa.
– Tổ chức của em đã hoạt động những gì?
– In truyền đơn tố cáo sự lừa bịp của cộng sản, rải khắp Sài Gòn.
– Gì nữa?
– Chúng tôi mặc quần áo công an, xông vào trụ sở phường khóm, đốt hết hồ sơ, tài liệu của chúng nó. Chúng tôi rình bộ đội, công an đi lẻ phố vắng, cướp súng và đánh chúng ngã gục. Nếu cướp được nhiều súng đạn, chúng tôi sẽ tấn công Sở Công An.
Người tù vấn cho Nguyễn Khánh Long một điếu thuốc rê Vĩnh Hảo. Dựa lưng vào tường, Long nhả khói thuốc nhớ những thằng bạn sống chết của mình chẳng biết trôi giạt đến nhà tù nào. Thằng thứ nhất có cái tên nghe đã… huy hoàng: Nguyễn Chiến Thắng. Biệt tài của thằng này là nghiên cứu chữ ký trên giấy tờ thật rồi ký trên giấy tờ giả y như thật. Nó đã ký hàng trăm chữ ký của Cao Minh Chiếm giúp các sĩ quan trốn học tập có giấy tờ học tập ba ngày của lính để tạm dung chờ vượt biên. Bực nỗi bố di tản bỏ lại gia đình, công an tịch thu nhà nó làm trụ sở, đổi cho mẹ con nó căn nhà nhỏ xíu trong hẻm, nó hận thù cộng sản và theo Nguyễn Khánh Long. Theo rồi nó mê say. Nó trách bố nó đánh giặc dở, bị đuổi chạy văng cả vợ con. Nó chán ngán cảnh sống tạm bợ không ngày mai. Lý tưởng đánh cộng sản hợp với nó. Và nó nhập cuộc. Nó luôn luôn đi đầu mỗi vụ cướp súng đạn. Nó khoái chơi tiêu trụ sở công an đồn trú nhà nó. Nguyễn Chiến Thắng bị công an quận 3 đánh gãy hai răng, vẫn ngậm miệng chịu đòn. Thằng thứ hai là Lê văn Chí. Miệng nó loe ra như miệng loa nên có hỗn danh là Chí loa. Bố nó có cái nhà in nhỏ ở quận 2. Nhà in đã bị kiểm kê, chờ tịch thu hoặc vào công ty quốc doanh. Anh nó đi cải tạo rồi. Chưa có tin tức về. Bố nó bảo anh nó muôn năm ở trại tập trung thôi vì anh nó là sĩ quan chiến tranh chính trị. Chí loa có một tương lai đầy hứa hẹn. Đậu tú tài xong, nó sẽ du học bên Mỹ về ngành ấn loát. Tốt nghiệp, nó sẽ về nước khuếch trương nghề in tồi tàn, sẽ xuất bản sách báo. Nó ôm mộng làm báo. Giai phẩm cuối năm của lớp do Chí loa viết, trình bày, sắp chữ và in một mình. Cuộc đời thay đổi cái rụp, mộng của Chí loa tan tành. Nó cay lắm, cay đủ thứ. Được Nguyễn Khánh Long “kết nạp”, nó nhận lời ngay. Nó muốn tạo dựng cuộc đời khác, nơi đó, ước mơ của nó không dang dở. Chí loa bí mật in thẻ, in truyền đơn. Khi nó bị bắt, công an tịch thu luôn nhà in của bố nó và bắt cả bố nó nữa. Thằng thứ ba là Phạm Tài, rất mả về nghề khắc dấu. Nó và Nguyễn Chiến Thắng là cặp bài trùng. Dấu đúng mà chữ ký không đúng là vất đi. Tài bị đuổi khỏi trường. Bố nó làm chức lớn trong ngành cảnh sát đặc biệt, bị bắt ngay đêm 30-4. Tự nhiên người ta dồn Tài vào con đường chống đối. Và nó đã chống đối. Nó bị bắt cùng với Nguyễn Chiến Thắng.
Bốn đứa: Nguyễn Khánh Long, Nguyễn Chiến Thắng, Lê văn Chí, Phạm Tài là bốn cái đầu của một tổ chức Phục Quốc. Bốn cái đầu chui vào tù hết, mỗi cái một nhà lao. Tới nay, hơn một năm rồi, bốn đứa chưa hề trông thấy mặt nhau. Nguyễn Khánh Long dập điếu thuốc. Cậu nhìn người tù lớn tuổi:
– Anh nghĩ gì về chúng tôi?
Người tù cười:
– Nghĩ gì? Với các em, tôi lạc hậu rồi. Một người lạc hậu thì không có quyền nghĩ gì cả.
– Nếu anh bằng tuổi tôi?
– Tôi sẽ theo em.
– Anh nói thật chứ?
– Thật.
– Anh muốn nghe chuyện tôi nữa không?
– Muốn quá.
– Tôi không biết kể, anh hỏi tôi trả lời nhé!
– Ừ.
– Anh hỏi đi!
– Tại sao em bị công an Nhà Bè đánh? Em bỏ nhà đi hoạt động rồi mà.
– Thằng anh họ tôi lấy tôi từ quận Tân Bình về. Hình ảnh, lý lịch tôi nó gởi cùng khắp các quận, phường. Nó đánh tôi kỹ nhất. Nó đánh tôi một trận đoạn tình nghĩa.
– Tại sao bị bắt ở Tân Bình?
– Tôi đi cứu một thằng trong nhóm. Nó khai tùm lum, tôi bị dính liền. Kế đó, ba đứa thân thiết của tôi dính. Rồi cả lũ. Anh thấy chưa, chúng tôi hăng saynhưng khù khờ dễ sợ.
– Khi em bỏ nhà ra đi, em có nghĩ rằng em chiến đấu cô đơn không?
– Còn ai dám chiến đấu nữa mà mình không cô đơn. Nhưng vào tù thì hết cô đơn.
– Tại sao?
– Vì gặp nhiều người giống mình. Anh thừa biết, tội phản động rặt bọn nhóc chúng tôi. Người lớn toàn tội cũ kỹ, tội vượt biên, tội trốn cải tạo, tội tư sản mại bản…
– Nếu họ thả em ra, em làm gì?
– Đó là vấn đề.
– Vấn đề?
– Phải. Nó quản lý tôi chặt chẽ, tôi hết cục cựa. Nó tống tôi vào thanh niên xung phong, tôi phải theo nó. Tôi sẽ buồn lắm. Vì thế, tôi rất sợ nó thả tôi. Tôi mong nó sớm cho tôi đi lao cải thật xa. Tôi không thể về bây giờ. Về bây giờ quê chết. Tôi thà ở tù suốt đời hoặc là về vinh quang. Họ hàng tôi đầy dẫy cách mạng, giải phóng, tôi không về để chúng nó chế nhạo tôi. Tôi muốn về để dẹp chúng nó.
Người tù vấn cho Nguyễn Khánh Long điếu thuốc rê thứ hai. Anh ta quẹt diêm cho Long mồi thuốc. Rồi anh pha nước chanh mời Nguyễn Khánh Long uống.
– Lần đầu tiên tôi biết một người tù không muốn về. Tôi rất xấu hổ vì tuổi trẻ ngày qua của tôi rỗng tuếch. Em đã nhìn rõ, rất nhiều thằng tù nằm thở dài suốt tháng, suốt năm. Ngày thăm nuôi, gọi tên nó có quà, mắt nó sáng rực, nó chạy nhảy loăng quăng. Quà vào, nó lục tung khoe khoang, ngồi ăn ngấu ăn nghiến, khinh bỉ người không ai thăm nuôi. Những thằng ấy thèm được tha lắm. Và ra ngoài chúng sẽ nói phét đã từng làm anh hùng trong tù và chửi người này hèn, người kia ăng ten. Em nhận xét đúng, tội của chúng nó đâu được phép phán xét ai. Tôi thành thật quý trọng em. Tôi nghĩ, với tâm hồn em, em sẽ về vinh quang. Nhưng mà cuộc chiến đấu còn dài lắm, còn gay go lắm. Nếu bốn mươi năm nữa mới có vinh quang, liệu em dám chờ để về không?
Nguyễn Khánh Long dốc cạn ca nước chanh, đáp ngọt:
– Tôi chống gậy trở về.
– Nhỡ ngày mai có vinh quang, trở về em làm gì?
– Đi học.
– Không ra ứng cử dân biểu, nghị sĩ à?
– Thứ đó không phải mục đích của tôi.
Những người tuổi trẻ của thế hệ biết đau niềm đau bị lừa gạt niềm tin đều không ham quyền bính. Họ hiểu lúc nào họ cần tiêu pha nhiệt tình của họ và tiêu pha cho mục đích gì. Sự liều lĩnh, gan dạ của Nguyễn Khánh Long khác hẳn sự liều lĩnh của những tay giang hồ đâm thuê chém mướn. Đó là cung cách hành hiệp của hiệp sĩ, không phải dễ tìm thấy, dễ nhận ra. Thời đại nào cũng đầy dẫy đạo tặc và hiếm hoi hiệp sĩ. Giá trị tột đỉnh của người hiệp sĩ là hành hiệp trong cô đơn, là tuốt gươm dưới nắng, dưới trăng, rồi đi vào hiu quạnh. Đạo tặc thì ồn ào và chỉ rình tung ám khí trong bóng tối để ra ánh sáng vênh vang. Rất dễ phân biệt hành động của hiệp sĩ và đạo tặc, của người công chính và bọn giả hình. Nguyễn Khánh Long, Nguyễn Chiến Thắng, Lê văn Chí, Phạm Tài là những hiệp sĩ. Họ đã tuốt gươm, đã mua cho sự cần thiết của người khác trong gian nan, khốn khổ. Khi ấy, quần hào đã tan rã, cao thủ đã phong kiếm quy ẩn và đám ma giáo chạy trốn tới một nơi chốn mà kẻ thù không thể tìm kiếm, huênh hoang thách thức!
Người tù lớn tuổi vỗ vai Nguyễn Khánh Long, thân mật:
– Lịch sử này của các em, đất nước này của các em, hãy làm lại bằng tâm hồn ngọc của các em.
Nguyễn Khánh Long mỉm cười, luôn luôn mỉm cười:
– Anh nói cao xa quá, chúng tôi đâu có nghĩ ghê gớm thế, chúng tôi bình thường thôi.
Người tù lớn tuổi nói:
– Những người tưởng mình bình thường đều đã làm nên những việc phi thường. Bọn tưởng mình phi thường thì chỉ làm nên những việc tầm thường.
Nguyễn Khánh Long im lặng. Cậu thả hồn theo khói thuốc rê. Khói thuốc dẫn cậu bay ra miền thượng du Bắc bộ. Nơi ấy, anh cậu đang tìm một lối về, một lối về đầy ắp ước mơ của đầu đời chiến đấu. Khói thuốc dẫn cậu trở lại một xóm quê Nhà Bè. Nơi ấy, cha mẹ cậu đang đợi hai đứa con cùng về. Rồi cậu sống với hiện tại, hiện tại của đề lao Gia Định, của cái vẻ bệ rạc trong cảnh đời xã hội chủ nghĩa âm u bao trùm khắp quê hương. Tuần lễ trước, công an chấp pháp gọi cậu ra làm việc. Nó dọ dẫm sự diễn biến của tâm hồn cậu. Nó tuyệt vọng vì tâm hồn cậu càng ngày càng khởi sắc. Người hiệp sĩ không bao giờ phải ăn năn sám hối. Người hiệp sĩ chỉ buồn vì chưa diệt hết đạo tặc cho đời sống mà đã bị trói tay. Nguyễn Khánh Long nhớ lời dọa dẫm của công an chấp pháp: “Anh thì cứ nằm đây, 20 năm nữa hãy tính chuyện về”. Cậu lẩm nhẩm: Ừ, 20 năm, có sao đâu.
* Tặng các bạn tù đã đặt chân đến An Thới, Phú Quốc, buổi sáng ngày 27 tháng Chạp năm Ất Mão (27-1-1976) trên Dương Vận Hạm HQ 503 của Hải Quân VNCH bỏ lại. *
Đi làm cỏ ở Trung Đoàn Mẫn đem về một cây ổi con. Gốc nó được bó một nắm đất bằng ngón tay cái. Mẫn xem lá xem nhánh thế nào đó và kết luận đây là ổi xá lị.
– Vài hôm nữa về tôi sẽ trồng nó trước sân nhà!
Hợp có chút mỉa mai:
– Nhà nào?
Mẫn cam phận:
– Thì nhà ở kinh tế mới cũng được.
Tín xen vào:
– Thôi đi cha nội. Đem nó trồng đàng sau hè ở đây đi. Bao giờ có trái thì trèo lên cây hái, mang về nhà làm quà biếu vợ con, mừng ngày sum họp!
Câu nói phang ngang của Tín như một gáo nước lạnh tạt ngay vào mặt. Không phải mặt của riêng Mẫn, mà cả mọi người đang huyên náo về tin đồn. Mẫn là một trong số người tích cực tiếp hơi cho tin đồn lan truyền nhanh hơn. Cứ như là càng rùm beng thì sẽ nhanh chóng biến thành sự thật!
Những chiếc bánh vẽ đôi lúc cũng giúp làm đã cơn thèm trong giây lát!
Chương trình học mười bài mới nửa chừng nhưng Tết thì chỉ còn chưa tới mười ngày nữa. Nội việc tù lán phó đi họp nhưng chưa nghe hậu cần thông báo kế hoạch Tết, cũng là một tin đồn loại sốt dẽo:
– Nếu còn ở lại thì chắc phải có kế hoạch Tết rồi!
– Chương trình học mười bài, nếu học ở đây chưa kịp thì về học tại địa phương. Kế hoạch đồng nhất và mấy ổng nói thì trước sau như một mà!
Mỗi người đều lý luận sao cho hợp với mong muốn của mình. Nếu mọi người được cho về thì hơn cả tháng dài, cả trại đi gỡ PSP ở phi trường trực thăng khiêng về, làm cái hội trường đồ sộ để làm gì? Hình như không ai muốn đặt câu hỏi kiểu nầy!
Sau giờ thảo luận buổi chiều, mọi người đang lu bu lo chuyện cơm nước thì tiếng còi tập họp bất ngờ nổi lên. Từng ông quản giáo đến ngay lán kêu khẩn trương nhanh lên tập họp. Tù nhìn nhau với nhiều thái độ. Mẫn hớn hở, lớn giọng và kéo dài từng tiếng một:
– Tới. . . rồi . . .!
Tín thì bình tĩnh, cũng lớn tiếng, nhưng gãy gọn:
– Tới rồi!
Mẫn tới rồi với cây ổi xá lị sẽ đem về trồng trước sân nhà. Tín thì tới rồi với tư thế sẵn sàng đi đến bất cứ một nơi nào trên con đường vạn dặm. Xám xịt! Tín mang tâm trạng của Thúy Kiều sau khi ra khỏi nhà: cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần tới đâu! Cho dù hiện tại chưa thấy bóng dáng chàng Thúc Sinh mà đang trong vòng tay họ Sở!
Những người bị đọc tên vội vàng quay vô thu dọn đồ cá nhân. Nghiêm trong nhóm ba người bị gọi tên. Bố Tôn phụ giúp Nghiêm gom góp đồ đạt:
– Bố có nhớ địa chỉ nhà tôi ở Sài Gòn không?
– Cậu cũng còn nhớ địa chỉ nhà tớ ở Thị Nghè chứ ? Còn có ngày về thì liên lạc với nhau.
Đàng kia Tín phụ giúp Mẫn. Khi nghe gọi tên mình trong danh sách toàn an ninh, tình báo, chiến tranh chính trị, Mẫn hụt hẫng. Tái xanh. Mẫn như không còn nhớ cả những đồ đạt cá nhân, vì đối với Mẫn thì đây là chuyện không thể tưởng tượng được. Thư của vợ Mẫn cho biết, cha mẹ vợ Mẫn là người của cách mạng, đã bảo lãnh cho Mẫn rồi, nên Mẫn chỉ chờ đợi được gọi tên cho về. Cây ổi bao giờ sẽ có trái, không ai biết, nhưng trái tình yêu đầu tiên của vợ chồng Mẫn thì hai tháng nữa ra đời! Tuy tính tình khác biệt nhưng Tín và Mẫn lại chơi rất thân. Tiễn Mẫn, Tín mới lộ chút xúc động. Cắn răng, quai hàm bạnh ra. Bắt tay Mẫn khá chặt:
– Nhớ giữ gìn sức khỏe!
Đám tù ra đi lặng lẽ khuân vác đồ đạt. Căng thẳng nên không nói với nhau một lời nào. Di chuyển đến trung đoàn. Đoàn molotova khá dài đã vén bạt phía sau đang chờ sẵn. Mỗi xe có hai ông bộ đội súng đạn sẵn sàng. Hình ảnh nầy đã giết chết suy nghĩ còn sót lại của vài người ngây thơ, vẫn bám víu hy vọng được cho về ăn Tết! Tù ngồi từng cụm với đồ đạt lộn xộn, đợi các ông cán bộ bàn giao cho nhau.
Bóng tối chụp xuống. Mấy chiếc xe nổ máy, mở đèn chiếu vào đám tù để các ông cán bộ tiếp tục làm việc. Khẩu phần lương khô do Trung Quốc cung cấp cho bộ đội miền Bắc, được đem phân phát cho tù. Mỗi người nhận ba ngày ăn. Khẩu phần lương khô của Trung Quốc như một chiếc bánh in phong kín bằng giấy thô, khác hẳn với lương khô của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, có gạo sấy đựng trong bọc plastic trắng trong và thịt hộp.
Với ba ngày lương khô thì tù sẽ bị đưa về đâu? Tù lại suy nghĩ, lại đoán mò!
Có thể lên cao nguyên Trung phần, nhưng lực lượng Fulro còn đó và đang chống họ. Họ không thể thả hổ về rừng?
Đi Bắc chăng? Xe cộ họ đang rất cần để chở tài sản của miền Nam ra Bắc có đâu để chở bọn tù?
Khoảng chín giờ đêm, từng toán khoảng ba mươi người với đồ đạt cá nhân nhồi nhét lên từng chiếc molotova. Tấm vải bạt được trùm xuống. Đời tù lại ngộp thở, tối tăm. Xe dằn, xóc. Quẹo phải, quẹo trái, lầm lũi trong đêm. Thỉnh thoảng có vài ánh đèn lọt được vào bên trong cho tù biết xe đã gần vào một thị trấn nào đó. Tù tìm cách đâm thủng bạt để xem đường. Từng chặng, từng chặng đều có tù âm thầm thông báo nhau. Khi nghe thông báo xe trực chỉ về Sài Gòn thì mọi người đều tỉnh ngủ hẳn. Nôn nao và chờ đợi. Ai cũng muốn nhìn lại được cảnh đường phố Sài Gòn như thèm được nhìn lại khuôn mặt người tình sau mấy tháng dài xa cách. Chỉ cần nhìn thấy bất cứ góc phố hay con đường nào của Sài Gòn cũng được. Sài Gòn, người tình yêu dấu. Sài Gòn, người tình với nỗi khát khao mong đợi. Sài Gòn, người tình trăm năm. Bây giờ người tù có được cái lỗ trên tấm bạt để thấy tí chút bên ngoài, đang làm thông tín viên, là người hạnh phúc nhất. Sài Gòn về đêm thênh thang ngày xưa, đủ loại ánh đèn với những dòng xe xuôi ngược, không bằng Sài Gòn sắp xuất hiện qua cái lỗ nhỏ như đầu ngón tay trên tấm bạt bây giờ!
Nếu xe chạy về hướng bà Quẹo, xuống ngã tư Bảy Hiền, quẹo trái qua Lăng Cha Cả thì sẽ gần nhà Nghiêm lắm. Nghiêm chỉ nghe thông báo, không thấy gì bên ngoài nhưng cũng mong xe chạy về hướng nhà mình. Nhà Nghiêm nằm sâu trong hẽm nên tấm bạt xe nếu có vén lên, có được ngồi nhìn thỏa mái chung quanh cũng không thể nhìn thấy. Nhưng từng góc phố, từng trụ đèn đường Nghiêm cũng có thể hình dung ra được. Trụ đèn đường xéo cửa nhà Nghiêm bị bể mất một miếng bên góc để lộ một cộng sắt cỡ bằng ngón tay, mấy mươi năm rồi cũng như vậy. Nơi đó, đêm đêm có chiếc xe phở của đôi vợ chồng bán đến khuya. Người chồng dùng hai thanh gỗ gỏ vào nhau như tiếng vang của con chim gỏ kiến về đêm để rao hàng. Âm thanh đó đã trở nên quen thuộc trong cả xóm. Tuổi học trò, những đêm thức học thi, đói bụng nhưng lười xuống tầng dưới mở cửa, Nghiêm có thể ra trước hiên lầu mua, rồi thòng một sợi dây xuống kéo cái xô có đựng tô phở với đầy đủ gia vị lên. Góc bên phải nhà Nghiêm có một bụi biện lý, hoa nở quanh năm, hai màu đỏ trắng, tàng lá sum suê rợp bóng, đủ để bà Tư già với chiếc bàn nhỏ ngồi bán lặt vặt, trái chuối, cái kẹo. Xa hơn là căn nhà lầu ba tầng của ông Hợp, có cái xe Lam ba bánh, mỗi 3 giờ sáng là bắt đầu rời nhà chạy ra bến đón khách. Tiếng máy nổ dòn tan trong khi cả khu phố còn say ngủ, đã đánh thức cả xóm, nhưng không ai phàn nàn. Cái xóm lao động ồn ào náo nhiệt nầy càng ồn ào náo nhiệt hơn sau ngày 30-4-1975. Mọi sinh hoạt đều đảo lộn. Xe phở biến mất. Đôi vợ chồng nầy cùng con cái, nghe đâu đã tháo chạy di tản. Người thì bảo đi thoát, người lại bảo bị chết, không thể nào xác định được. Chỉ biết, trước ngày đi họ còn kịp cho tất cả vật dụng cho vài người thân trong xóm. Chiếc xe phở và những dụng cụ mấy mươi năm cần mẫn, chắc chắn là những mảnh đời gắn liền với nhau, như là một phần của da thịt để lại. Chiếc xe Lam vẫn còn đó. Tiếng nổ dòn dả trong đêm về sáng vẫn còn đó, nhưng tiếng vang của nó không còn đánh thức mọi người mà lại như một nhắc nhở của quá khứ, vì mọi việc rồi sẽ đổi thay. Tiếng hai thanh gỗ gỏ vào nhau của xe phở đã mất, chỉ còn lại tiếng máy xe Lam như một cái gì đơn lẻ, thiếu vắng. Nhưng dưới bóng mát của chùm hoa giấy, với thúng quà vặt, bà Tư già vẫn còn ngồi lại một mình. Mọi người đem ra đường tất cả bàn ghế, tủ giường bày bán khắp nơi. Bán đổ bán tháo! Bán cho trống nhà để trở thành vô sản! Vô sản chuyên chính. Nghiêm vẫn còn nhớ giọng bà Tư già nói với Nghiêm, khi bà chỉ vào tấm ảnh màu của ông Hồ Chí Minh đã được bày bán khắp nơi:
– Bán, bán cho sạch nhà, sạch cửa để rước ông Nội tôi vô ở!
Khi nghe tù thông tín viên cho biết xe không về hướng Bà Quẹo, nhưng ra ngã xa lộ Đại Hàn, thì mọi người trong xe mới trở về thực tại. Một thực tại ê chề mà tù chỉ mới vừa quên đi trong giây lát. Về đâu?
Vẫn có tù chưa chịu chấp nhận sự thật:
– Có chắc xe đang chạy trên xa lộ Đại Hàn không?
Giấc mơ được nhìn một góc phố, một con đường Sài Gòn về đêm không còn nữa. Một giấc mơ quá ngắn. Tù thông tín viên thông báo tiếp. Xe quẹo vào Xa Lộ Biên Hòa. Cầu Sài Gòn. Và sau đó là hai tiếng New Port. Không còn tù nào thắc mắc, nhưng tù thông tín viên cũng quan sát lại thật kỹ, rồi tái xác nhận lần nữa:
– Đúng rồi! Tân Cảng New Port!
Hai tiếng New Port, Tân Cảng được lặp lại như có echo cứ vang vang lùng bùng trong lỗ tai, thốn đến màng nhĩ!
Cả xe tù chết lặng!
Đêm đã vào khuya. Sương xuống lạnh. Cái pha đèn từ con tàu khổng lồ đang há mõm chiếu sáng cả một khu vực rộng lớn. Người và người lố nhố. Tù và tù nhợt nhạt, xanh xao, dưới ánh đèn pha chói chang. Bộ đội dày đặc, súng cầm tay cô lập từng đám tù. Dòng sông đêm trước mặt, nước đen quánh, vẫn cuồn cuộn trôi. Còn đâu những chiều vàng ngồi với người tình trong chiếc lều quán bên xa lộ Biên Hòa, nhìn dòng sông đục ngầu phù sa, kể chuyện về lính, nói chuyện tương lai, những yêu thương đằm thắm, mộng mơ? Còn đâu những hàng dừa nước hai bên bờ sông thơ mộng, in trong màu mắt biếc của người tình, cùng nhau nghe tiếng xành xạch của những chiếc ghe máy, tiếng mái chèo quẫy nước, con thuyền rẻ sóng lướt đi?
Dòng sông trôi ra biển có bao giờ quay lại? Đời tù theo dòng nước sẽ trôi về đâu?
Cả 2000 tù yên lặng. Chỉ có tiếng tu huýt ré lên liên tục. Tù lần lượt bước xuống cầu thang. Chiếc cầu thang không còn mang ý nghĩa của sự nối liền nhưng là sự chia cắt. Chia cắt với đất liền. Chia cắt giữa hiện tại và tương lai. Chia cắt giữa Sài Gòn thân yêu, gia đình, vợ con, với đọa đày trước mắt.
Bộ đội ghìm súng đứng hai bên sẵn sàng bắn vào tù nào dám phản ứng. Mẫn biết, nhưng hoảng loạn trong tuyệt vọng, bất ngờ hét lớn: “Bắn đi. Bắn đi…” rồi lao mình xuống dòng sông đêm.
Súng nổ.
Những tràng AK vang dội. Mọi khẩu súng khác đều hướng vào tù sợ bạo loạn.
Chuyện vừa xảy ra của Mẫn, với chuyện về cây ổi xá lị, rơi lại phía sau lưng. Tù bị đẩy nhanh về phía trước.
Con quái vật khổng lồ đang há mõm thật lớn nuốt vội vàng đám tù! Ngậm miệng, rồi vẫy sóng xa bờ.
Tù chen chúc nhau trong hầm tàu. Hầm tàu là một hộp sắt vuông vức, rộng như một hội trường lớn, vách bằng thép dày, han rĩ màu nâu đỏ. Về phía đuôi tàu, có một hành lang duy nhất với song sắt thưa ở trên cao thông vào buồng lái và boong tàu, nơi đó mấy ông bộ đội đứng ghìm súng nhìn xuống.
Những cửa liên lạc với hầm tàu bên dưới đều đóng kín. Im ỉm.
Cả 2000 tù cộng với hành trang, chêm chặc như nêm. Thế ngồi co cụm, không đủ chỗ để duỗi chân. Có người ngồi trên sàn, có người ngồi trên túi quần áo, có người đứng để dễ thở hơn, nhưng nằm thì không đủ chỗ. Ngồi xuống sàn thì đầu gối gấp lại chân sẽ bị tê rất nhanh. Ngồi trên túi áo quần có chút thư giãn hơn nhưng cơ thể thì nghiêng ngửa không có điểm tựa. Có người thử tựa lưng vào nhau nhưng cũng không thể chịu đựng lâu. Đứng thì cũng không thể đứng hoài một chỗ không cử động. Cứ thế, hết ngồi lại đứng, hết đứng lại ngồi, tại một chỗ cố định. Người nào có nhu cầu tiêu tiểu thì cả một cực hình. Cái đệ tứ khoái của con người, giờ đây là một tai họa. Phải chen chân vào chỗ người khác ngồi, để lần từng bước, đi về hướng mấy cái buồng xí ở trung tâm hầm tàu. Nơi đó được che sơ sài, tạm bợ bằng vải bạt, chứa một số thùng phuy cắt ngắn, hai miếng gỗ đậy lên mặt có chừa một khe trống ở giữa. Nhiều người phùng mang trợn mắt, không còn ai giữ gìn ngôn ngữ trong tình huống nầy. Loại tử tế nhất là: đừng đạp lên đầu con nghe cha nội!
Khi càng âu lo về nhu cầu tiêu tiểu thì cơ thể hình như bị kích thích ngược lại. Cho nên nhu cầu sẽ nhiều hơn! Cố gắng ngồi yên thì có chút dễ chịu, nhưng đến khi buồn tiểu không thể nín được nữa thì cũng không thể đứng thẳng người lên được, vì bọng đái căng cứng, đau đớn . Ráng cố gắng lần mò đến được buồng xí thì mãi mười, mười lăm phút cũng không thể tiểu ra được, trong lúc cả hàng dài chờ đợi phía sau với đầy đủ điệu bộ, ngôn ngữ thô lỗ nhất!
Khi xuống tàu phải theo hướng dẫn của mấy ông cán bộ, đã chia thành từng ô cho từng đơn vị tù. Những đơn vị tù nào phải chịu vòng quanh khu mấy cái buồng xí thì quả thật là đại họa!
Con tàu đang đi về đâu? Với ba ngày lương khô thì có thể đi về đâu?
Ánh nắng buổi sáng chiếu lọt vài tia lẻ loi vào hầm tàu như những sợi chỉ lân tinh đầy sinh động. Mấy điểm sáng hình bầu dục rơi trên đám tù hay đọng trên vách hầm tàu, thu hút nhiều suy diễn về hướng đi của con tàu. Tù loại hải quân có thể ước tính thời gian tàu còn ở trong sông hay đã ra biển, đi về hướng nào, thời gian bao lâu.
Ra Bắc, Côn Đảo hay Phú Quốc?
Những khuôn mặt hốc hác, bơ thờ. Những đôi mắt của loài thú bị đông lạnh, sâu trũng, thâm quầng. Tuyệt vọng. Đã biết là tù, đi đâu cũng là tù, đến đâu cũng là tù, thế giới của tù thì nơi nào cũng như nhau, bị hăm dọa, đày ải giống nhau, nhưng tù vẫn mong được ra Côn Đảo hoặc Phú Quốc hơn là đi Bắc, dù Côn Đảo đã nổi tiếng trong lịch sử. Cái bén nhạy của tù cho biết dù là Côn Đảo vẫn còn hơn thiên đường ở miền Bắc. Trong lúc nầy, chỉ cần một địa danh nào đó còn liên hệ với miền Nam cũng là điểm bám víu trong bước khốn cùng!
Buổi chiều, khi thấy những giọt nắng bò dần trên vách trái về hướng mũi tàu, tù hy vọng sẽ được ra Côn Đảo hay Phú Quốc.
Cũng buổi chiều, quang cảnh trung tâm của hầm tàu bắt đầu đổi khác. Khu vực quanh các buồng xí dần dần trở nên mất trật tự. Những dòng tù hướng về đó vì nhu cầu khẩn thiết, đều bị cự tuyệt, phản đối. Đám tù quanh các buồng xí la ó, kêu gào. Những tù đã giải quyết xong nhu cầu, trên đường về trở lại, cũng bị la ó, phản đối. Phân người và nước tiểu tràn dần ra, chảy ướt chung quanh. Những đôi bàn chân tù đến đó hoặc trở về đều ướt đẫm. Cứ thế. Cứ thế. Nhầy nhụa từ từ lan dần khắp nơi. Tiếng văng tục, kêu gào, la ó từ trung tâm hầm tàu cũng lan dần, lớn dần ra chung quanh.
Mấy ông bộ đội ở trên cao vẫn ghìm súng nhìn xuống. Họ điếc đặc như những bức tượng! Người lái tàu chỉ có nhiệm vụ lái con tàu. Người cầm súng canh giữ chỉ có nhiệm vụ canh giữ. Không có ai giải quyết chuyện dưới hầm tàu hoặc đã được quyết định từ trên với ông hạm trưởng rồi (?) Tất cả đều im lặng như những con người máy. Tù chưởi rủa: tù nghe. Tù kêu gào, la ó : tù khô hơi tắc tiếng. Những con người máy vẫn đứng ở trên cao với khẩu súng! Đám tù vẫn kêu gào từ địa ngục. Địa ngục không thể cao dần lên. Địa ngục chỉ có chiều sâu. Thăm thẳm. Chiều sâu không bao giờ thấy đáy!
Sức khỏe cạn kiệt. Phải vật lộn với nhầy nhụa hôi thối mấy ngày đêm, đôi bàn tay không thể còn sạch nhưng không có nước để rửa. Chính mình phải sợ hãi đôi bàn tay của mình như của một người xa lạ! Đầu óc tù đã hoảng loạn hoặc đã thành đá, thành băng. Lũ tù là lũ heo đang ở trong chuồng, không phải là loại heo nuôi theo công nghiệp, nhưng là loại heo nuôi để lấy phân ở các chuồng vùng quê! Không cần biết nơi nào sẽ đến. Côn Đảo, Phú Quốc hay thiên đường miền Bắc, nơi nào cũng được. Phải đến. Con tàu phải dừng lại trước khi mọi người đi vào hôn mê.
Số tù di chuyển cùng xe với Nghiêm có chút may mắn hơn là được sắp xếp ở cạnh bên hông tàu, gần phía sau cùng. Độ nhầy nhụa, ướt át ít hơn. Dù vậy, mọi người đều phải ngồi lên túi áo quần và bên dưới đã bắt đầu ngấm nước! Khi không còn sức để gìn giữ, mọi việc đều phải buông trôi.
Không còn sức để lên tiếng, không còn nghe tiếng sóng vỗ bên ngoài, chỉ có tiếng máy tàu nổ đều đều ghê khiếp. Tiếng máy như lớn dần, lớn dần. Có phải tiếng T 54, tiếng M 113 hay là M 48 đang chồm tới, sắp cán qua người… trong hôn mê, hoảng loạn! Lượng nhầy nhụa và nước lại từ từ dâng lên, dâng lên gần đến mắt cá chân. Rồi lại từ từ rút dần xuống chỉ để lại nhớp nháp, nhèm nhẹp. Thì ra chiếc tàu đang chuyển mình! Nghiêng qua, đảo lại. Hai bên hông hầm tàu cứ như triều dâng, lúc đầy lúc vơi.
Lại đến lúc mấy chiếc quạt khổng lồ đang hút gió từ đại dương, thổi vào hầm tàu, bổng im bặt! Không còn dưỡng khí, tù ngạt thở. Không khí như đặc lại. Mọi người đang liệm đi. Một số tù nào đó ở phía đuôi tàu, đang cố gắng kêu gào lần cuối cùng. Họ đang nâng một xác người trần truồng, mềm nhão, lên khỏi đầu, như đang dâng một con vật trong lễ tế thần. Ở hành lang phía trên kia, vẫn những bức tượng cầm súng. Điếc đặc!
Hơi người đọng lại chảy thành dòng trên vách sắt.
Khi ngạt thở con người thường dướn cổ dài ra hoặc chúi mũi vào góc kẹt tìm chút sinh khí. Hình ảnh con người trong các lò hơi ngạt thời Đức Quốc Xã đang bắt đầu.
Trong giây phút tử thần xuất hiện thì cánh cửa sắt khổng lồ trước mũi tàu từ từ mở ra. Một mảnh trời trong xanh cứ lớn dần, lớn dần. Luồng sinh khí tràn vào.
Biển nước trong xanh, trời trong xanh, không khí trong lành. Giây phút cõi thiên đường mở cửa!
Những chiếc quạt lớn để thông gió trong hầm tàu ngưng lại, không phải vì lý do kỹ thuật khi mở cửa con tàu![1] Chắc ông hạm trưởng đã nhận được lệnh trên, làm tù hoàn toàn kiệt sức, để tránh mọi phản ứng tuyệt vọng của tù khi đổ bộ lên bờ (?) Tù dắt dìu nhau lội xuống biển. Tầm nước ngang ngực. Hành trang nổi lềnh bềnh trên sóng nước. Là không khí. Là nước. Là gió. Chưa bao giờ, tuyệt đối chưa bao giờ, tù cảm thấy tuyệt vời như vậy! Không một ai có thể hình dung ra được niềm hạnh phúc lớn lao nầy!
Nhìn lại, đây không phải là 2000 tù đang đổ bộ lên đảo! Là một đàn chim biển bị ô nhiểm sinh thái, do một chiếc tàu dầu khổng lồ nào đó bị tai nạn gây ra! Tù lần lượt về các trại, trong liên trại tù binh Cộng Sản trước kia. Đơn vị tù bọn Nghiêm vào trại 11, liên trại 3. Hệ thống nước cũ trong trại đã bị phá hỏng. Mỗi người chỉ được cấp phát một ca nước làm vệ sinh cá nhân. Hành trang ba ngày đêm ướt đẫm không thể nào giặt, đành trải ra phơi. Không đủ chỗ, tù phải phơi cả trên nền cát. Cả trại tù như không phải của con người, là mùi vị, hang ổ của một loài thú ăn thịt sống lâu ngày!
Vào buổi chiều, ba ngày sau, bọn Nghiêm mới được dẫn ra ngoài tắm giặt. Đám tù vác toàn bộ hành trang đi trên con đường mòn, khúc khuỷu hơn hai cây số để ra biển. Vài căn nhà lá lụp xụp bên đường đã đốt hương đèn trên bàn thờ. Một bà mẹ quê đang ngồi làm thịt gà bên lu nước, cạnh bụi chuối. Mấy em bé đã mặc đồ mới, ngơ ngác nhìn tù. Ai đó trong đám tù mới sực nhớ ra, lên tiếng:
– Ba mươi Tết, chuẩn bị đón ông bà.
Một người khác tiếp:
– Không biết người Cộng Sản có ông bà không nhỉ?
[1] Người viết đã phối kiểm với vài vị Sĩ Quan Hải Quân, được biết, không có lý do kỹ thuật nào bắt buộc khi mở cửa tàu phải tắt.
Một trong những cây viết trong nước tôi thích tìm đọc là BS. Ðỗ Hồng Ngọc. Tôi không bỏ bớt hai chữ BS. trước tên ông, là vì văn tức là người, ông là một người thầy thuốc và lấy cái tâm của người thầy thuốc để nhìn cuộc đời, nhận xét về cuộc sống chung quanh và cho chúng ta những lời khuyên rất bổ ích. Cách đây hơn 15 năm, có lẽ thấy tôi đã già, một cô cháu ở Việt Nam gửi biếu tôi hai cuốn sách của BS. Ðỗ Hồng Ngọc “Già Ơi… Chào Bạn!” (Xb 1999) và từ đó đến nay tôi đã theo dõi khi được, khi không, những bài viết của BS. Ðỗ Hồng Ngọc trên net được bạn bè chuyển đến.
Tôi không mong được là một người đồng hội, đồng thuyền với ông. Ông sinh năm 1940, như vậy khi viết “Già ơi…Chào Bạn” ông chỉ có 59 tuổi! Tốt nghiệp khoa Nhi tại Ðại học đường Y khoa Saigon năm 1969, không biết thời ấy ông có bị trưng dụng vào ngành quân y không, nhưng tiểu sử của ông không nghe nói gì về tù đày hay vượt thoát khỏi Việt Nam sau năm 1975. Sau tháng 4-1975, ông phục vụ tại Phòng khám Cấp Cứu BV Nhi Ðồng đến 10 năm, sau đó là Giám đốc Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe, Bác sĩ chuyên khoa Nhi, thỉnh giảng Bộ môn Nhi, Ðại học Y dược TP.HCM, Trưởng Bộ môn Khoa học “hành vi” và Giáo dục sức khỏe, Trung tâm Ðào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ y tế Thành phố HCM và đã tu nghiệp Y tế Cộng Ðồng tại Ðại Học Harvard (Hoa Kỳ) và Giáo Dục Sức Khoẻ tại CFFS tại Pháp, nghĩa là không dính tay đến việc “được” chữa bệnh hay đeo được cái ống nghe!
BS. Đỗ Hồng Ngọc
Là một bác sĩ, dù giỏi hay dở, nhưng ông không may mắn được đào tạo trong trường lớp của XHCN, nên cam chịu cảnh kỳ thị vì có chuyên mà thiếu hồng, không vinh dự được làm người thầy thuốc của nhân dân.
Với bút hiệu Ðỗ Nghê, từ năm 1999 đến nay, ông là tác giả của gần 40 tác phẩm viết cho quý vị cao niên, những bà mẹ sinh con và cho tuổi mới lớn, những chuyện trong đời thường nhưng đem lại những tư tưởng rất quý giá. Ðó là những tác phẩm làm cho người ta nhìn lại mình và đi kiếm một đời sống bổ ích, thanh thản cho mình và đem hạnh phúc cho người khác. Ông cũng đã nghiên cứu về Thiền, Phật Giáo và đã có nhiều buổi thuyết trình cho quần chúng tại Chùa Xá Lợi, Việt Nam.
Con người và tác phẩm của ông bảo đảm cho ông có khả năng để dạy “y đức” trong các trường đào tạo bác sĩ, y tá cho Việt Nam hiện nay. Trong một xã hội mà bác sĩ, lỡ tay làm chết bệnh nhân rồi đem vất xuống sông, hay theo quan niệm “tiền trước, mổ sau” thì môn dạy “y đức” của ông (cũng như môn “lương tâm chức nghiệp” trong ngành giáo dục ngày xưa) phải chăng là một món “trang trí” không tác dụng trên lương tâm người thầy thuốc đã tha hoá nhiều trong thời đại này. Liệu có lúc nào, BS Ðỗ Hồng Ngọc chợt thấy mình rao giảng những điều đạo lý này như một người đang lội nước ngược không?
Tuần trước, mới ở bệnh viện ra, đang loay hoay lo lắng những việc chưa làm xong hay những việc đang dang dở, thì đọc phải câu thơ của Trịnh Công Sơn mà BS Ðỗ Hồng Ngọc trích trong “Luận về tuổi già:”“Về thu xếp lại/ Ngày trong nếp ngày!” mà lòng nghe rười rượi buồn!
Lâu nay có bao giờ nghĩ mình đã thu xếp hay cố gắng sẽ thu xếp lại những gì đang bận rộn, loay hoay, bề bộn chung quanh mình, mà sự chết và sự sống không cách nhau bao xa.
Một gánh xiệc lưu diễn với kèn trống, màu sắc với cả trăm diễn viên rộn ràng trong khu phố, rồi cũng phải đến lúc tắt đèn, hạ rạp, sắp xếp nhung y, son phấn, người và vật xếp hàng…lên đường giã từ.
Bạn thử coi, gánh hát “sơn đông mãi võ” ở bãi cỏ đầu chợ, với tiếng trống, tiếng chiêng inh ỏi, với con khỉ áo đỏ, áo xanh nhăn nhở làm trò, với những món võ, đường đao, của các võ sĩ, vai u, thịt bắp, quy tụ cả trăm người của quận lỵ, rồi cũng đến lúc tan hàng, khi trời bắt đầu tối “về thu xếp lại,” lặng lẽ như tất cả buổi chiều của cuộc đời.
Công hầu khanh tướng cũng đến lúc đi vào đoạn cuối. Hãy để người lính chết đi, chứ đừng để hình ảnh họ phai mờ đi theo năm tháng!
Ðỗ Hồng Ngọc còn trích mấy câu thơ của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, tuy ở Huế đã lâu, mà lần đầu tiên tôi được biết, nói về cái sân khấu của những vở tuồng đời:
…“Biết đủ dầu không chi cũng đủ,
Nên lui đã có dịp thì lui!”.
Một lời khuyên chí lý mà mấy ai làm được.
Tranh Bảo Huân
Lúc nào là lúc nên lui. Người nghệ sĩ già còn mê ánh sáng sân khấu và tiếng vỗ tay của khán giả, không nghĩ đến cái lúc mình nên lui, để giữ xuân sắc và âm thanh lại cho lòng người. Chúng ta nghĩ đến hình ảnh của tài tử Charlie Chaplin trong vai một nghệ sĩ hài hước về chiều, tài năng đã đến lúc tàn tạ trong phim “Limelight”.
Ðã biết bao nhiêu nghệ sĩ đã không thấy mình, cố kéo dài vai diễn trên sân khấu, trong khi nhan sắc đã phai tàn theo thời gian, tài năng mai một, tiếng vỗ tay hay tiếng cười của khán giả chỉ là một món quà khuyến khích gượng gạo.
Có những vị dân cử xem những chức vụ gọi là “phục vụ quần chúng” của mình như một cái nghề kiếm ăn, không biết mỏi mệt. Họ vào ra sân khấu cuộc đời rất nhiều lần, không còn khả năng đóng vai chính được thì đóng vai phụ. Cơ hội đóng vai Vua đã hết, thì họ sẵn sàng sắm vai quan. Hết thời thì làm lính hầu cũng được, miễn là còn đứng được trên sân khấu mãi mãi cho đến hơi thở cuối cùng.
Ðã thấy bao nhiêu khuôn mặt “cộng đồng” chạy tới chạy lui, hết là Chủ Tịch thì đến Cố Vấn, không có chức bên này thì cũng có phần bên nọ, mà quên câu: “Thuở ra sân khấu không làm rộn, khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi.”(Ưng Bình Thúc Giạ Thị.) Họ sợ người ta quên!
Biết hổ ngươi thì quần chúng đỡ khổ biết mấy!
Tác giả Ðỗ Hồng Ngọc đã “về thu xếp lại” chưa?
Năm 59 tuổi, ông đã viết “Già Ơi…Chào Bạn!” vậy mà năm nay đã 77 tuổi rồi, tôi có thấy ông còn đi dạy “đạo làm người cho thầy thuốc,” còn thuyết trình về Phật Giáo và Thiền, còn là ký giả giữ mục thường xuyên hàng tuần cho báo Doanh Nghiệp, và bao nhiêu công việc không có tên và tất nhiên là bận rộn nữa.
Dễ gì cho người ta “về thu xếp lại!”
Người xưa cho đó là món “nợ,” nợ đời và nợ người! Nợ thì phải trả. Trả xong mới có quyền “về thu xếp lại!”
Vào hạ tuần tháng 8 năm 1963, trong khi ở Việt Nam tự do, sinh viên nổi dậy chống đàn áp tự do tín ngưỡng của một chế độ độc tài, thì ở trời Âu, các tổ chức sinh viên của 15 quốc gia trên thế giới, họp tại Leysin, Thụy Sĩ, cùng nhau thảo luận về để tài “Phong trào sinh viên quốc tế trong quá khứ, hiện tại và tương lai”.
Trong những diễn văn của các sinh viên từ Phi, Á, Âu, Nam Mỹ và trong những cuộc thảo luận của mọi người tham dự hội thảo, những chủ đích và sự phát triển của Tổ chức Hội nghị Sinh viên Quốc tế từ khi thành lập năm 1950 đã được đề cập tới. Một dự định đã được đề nghị qua sự phân tích kỹ lưỡng những vấn để hiện nay và sự khả hữu của một hợp tác giữa sinh viên trên toàn thế giới trong tương lai.
Kết quả, toàn thể Hội thảo đã đồng thanh chấp thuận bản Tuyên ngôn Leysin, ghi lại sự tán đồng ý kiến của những người tham dự về những điểm sau đây:
Mục đích của Phong trào Sinh viên Thế giới. Cuộc chiến đấu chống áp bức. Quyền hạn và trách nhiệm của các Tổng hội Sinh viên Quốc gia. Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hội nghị Sinh viên Quốc tế.
Để xiến dương Tinh thần Đại học và để các bạn sinh viên nhận định rõ hơn về quyền hạn và bốn phận mình trong giai đoạn hiện tại, chúng tôi dịch nguyên văn dưới đây bản Tuyên ngôn Leysin.
Họp tại Hội thảo Sinh viên Quốc tế thứ 14 ở Leysin, Thụy Sĩ, từ 18-8 đến 2-9-1963, chúng tôi, những tổ chức Sinh viên ký tên dưới đây, long trọng cam kết đem hết năng lực và tinh thần phụng sự công cuộc khẩn cấp là thực hiện những nguyện vọng của nhân loại để ra trong Bản Tuyên ngon Quốc tế Nhân quyền.
· Chúng tôi tin tưởng rằng sự nhìn nhận phẩm giá cố hữu và những quyền đồng đều bất khả xâm phạm của mọi phần từ trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.
· Chúng tôi tin tưởng rằng tất cả các quốc gia đều có trách nhiệm như nhau để thăng tiến những tiến bộ xã hội và những tiêu chuẩn sinh hoạt tốt đẹp hơn, để cùng nhau làm việc cho những nguyện vọng cao nhất của quần chúng là: một thế giới trong đó con người sẽ hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, trút bỏ được mọi sợ hãi, thiếu thốn.
· Chúng tôi tin tưởng vào một nền pháp trị che chở con người, chống lại bất công, và bảo đảm – một cách hòa bình, qua sự thi hành vô tư của công lý – việc cáo chung của chế độ chuyên chế và việc khai sáng một cộng đồng thế giới, trong đó, mặc dầu còn nhiều khác biệt về chủng tộc, về ý thức hệ, về tôn giáo, con người vẫn có thể đoàn kết trong hòa bình, trong tình huynh đệ và tỉnh thần dân chủ.
. Chúng tôi tin tưởng nơi Hiến chương của Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi cũng tin tưởng rằng Liên Hiệp Quốc là cơ cấu duy nhất hiện nay có thể một ngày kia thiết lập một nền pháp trị trên toàn thế giới.
· Chúng tôi tin tưởng rằng mỗi dân tộc, trong những điều kiện hoàn toàn tự do, có quyền chọn một hệ thống xã hội và chính trị dân chủ tương ứng với nhu cầu và nguyện vọng của mình.
· Chúng tôi tin tưởng rằng cá nhân chỉ chịu những giới hạn về quyền lợi và tự do theo luật định, và như thế, chỉ là để bảo đảm sự tôn trọng những quyền lợi và tự do của đồng loại và công ích xã hội.
· Chúng tôi nhấn mạnh vào tính cách khẩn cấp của sự khuyến khích một cộng tác rộng lon hon giữa những sinh viên thế giới. Chúng tôi nhìn nhận rằng một cộng tác được khuyếch trương như thế là điều kiện tiên quyết cho sự gánh vac hữu hiệu hơn của Sinh viên trong việc kiện toàn trật tự của một thế giới đoàn kết và hòa bình, nguyện vọng chung của mọi dân tộc trên trái đất.
· Chúng tôi thinh cầu các Tổng hội Sinh viên Quốc gia hãy mở rộng sự cộng tác của họ giữa nhiều nước, giữa hai nước và ở địa phương, không kể đến những quan hệ quốc tế. Chúng tôi khẩn thiết xin Hội nghị Sinh viên Quốc tế lần thứ 11 (11* ISC) và Phối trí Thư ký đoàn (COSEC) hãy nhiệt liệt khuyến khích những sáng kiến này với tất cả hiệu lực có thể có được. Chúng tôi nhìn nhận bất cứ một khuếch trương nào trong sự hợp tác giữa Sinh viên như một bước tiến toi việc kiện toàn sự thống nhất Sinh viên Thế giới.
· Hơn thế nữa, chúng tôi nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự thấu hiểu rõ ràng và sự xét lại thường xuyên những đối tượng tích cực của hợp tác Sinh viên Quốc tế, cũng như những nỗ lực của sinh viên trên toàn thế giới chống lại sự đàn áp dưới mọi hình thức.
· Chúng tôi những người tham dự ký tên dưới đây, xác nhận nhiệt tâm của chúng tôi đối với lý tưởng hợp tác Sinh viên Quốc tế và với sự tranh đấu của Sinh viên song song với dân tộc họ; chống lại mọi hình thức đàn áp cho dù là thực dân hay tần thực dân, chính thể toàn nhất hay chủ nghĩa đế quốc, kỳ thị chủng tộc, độc tài hay bất công xã hội. Sự hợp tác Sinh viên Quốc tế, để có thể phản ảnh trung thực được những mục đích của Sinh viên thế giới, phải đặt nền tảng trên một triết lý xuất phát từ vai trò căn bản của người Sinh viên trong xã hội. Chúng tôi, những người tham dự Hội thảo Sinh viên Quốc tế thứ 14 ký tên dưới đây đã tìm tòi để định rõ những mục đích của hợp tác Sinh viên Quốc tế trong phạm vi của tổ chức Hội nghị Sinh viên Quốc tế. Phù hợp với những lời nguyện hứa với hy vọng của chúng tôi và tinh thần của Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền, chúng tôi cần phải bắt đầu bằng một ý niệm về vai trò đó.
MỤC ĐÍCH CỦA PHONG TRÀO SINH VIÊN QUỐC TẾ
Người Sinh viên của thế giới ngày nay không phải chỉ là một nơi tiếp nhận thụ động những phương pháp giáo dục, biệt lập khỏi những vấn để xã hội và đại học của họ. Do bản chất, họ là những thanh niên trí thức đi tìm chân lý. Với tư cách một thanh niên họ có những lợi khí sắc bén nhất để giải quyết những vấn để quốc gia và quốc tế của họ. Với tư cách một người trí thức họ phải phát huy mọi khả năng để phân tích và thấu hiểu những vấn đề đó. Với tư cách người đi tìm chân lý, họ luôn luôn bị thử thách để kịp thời thấy những góc cạnh chính xác hơn của thực tại và những quan niệm về công lý, vốn đã là một phần của chân lý. Công cuộc kiếm tìm ấy đưa họ đến sự tự do trao đổi tư tưởng, phương tiện duy nhất để làm nẩy ra những quan niệm tinh nhã hơn về chân lý. Công việc ấy cũng đưa họ tới phần trách nhiệm họ phải lãnh trong mỗi liên hệ, để áp dụng hữu hiệu thành quả của những nỗ lực lớn lao hầu minh định lý tưởng của chân lý và công lý.
A. Từ những nhận định này nẩy ra ý niệm của một nền đại học tự do, một nơi tập trung những trao đổi cởi mở của ý tưởng, một phương tiện để nghiên cứu cho có hệ thống những vấn để xã hội mà đại học là một thành phần và là một trung tâm trong đó xã hội có thể tự kiểm thảo thường xuyên qua sự thẩm sát những phần việc quy định làm nền tảng cho mỗi cơ cấu đại học. Bởi vậy Đại học phải được tự trị đối với những quyền lực định can thiệp vào để nắm lấy những quyền hành Đại học.
Đại học phải đảm nhận ba nhiệm vụ: văn hóa, kinh tế và xã hội. Đại học phải bảo dảm sự tiến triển văn hóa của mỗi sinh viên, cho họ phương tiện để có thể đứng vững trong nền kinh tế quốc gia, và sắp sẵn cho họ trách nhiệm để họ sẽ gánh vác trong xã hội. Tại nhiều nước trên thế giới, chính sự khuyếch trương và dân chủ hóa nền giáo dục là vấn để khẩn cấp nhất mà người sinh viên phải đương đầu. Sinh viên từ mọi giai cấp xã hội, từ mọi tư thế, chủng tộc, chính trị, tôn giáo, quốc gia và kinh tế đều bình đẳng tham dự vào Đại học trên căn bản những thích ứng cá nhân về việc học. Đó phải là một Đại học xây dựng trên nền giáo dục dân chủ, để bảo đảm sự gia nhập tùy theo khả năng cho tất cả mọi thành phẩn xã hội. Đó phải là một Đại học được xã hội ủng hộ đầy đủ về kinh tế, cần thiết để điều hành các nhiệm vụ sống động của nó trong xã hội ấy, và trong đó những nhu cầu lợi ích căn bản của Sinh viên được tiếp nhận một cách thỏa đáng. Tiếng nói của Sinh viên, con người nhiều liên hệ đến nhất và ý thức được nhiều nhất những vấn để của diễn tiến giáo dục, phải được lắng nghe ngay khi chính sách liên hệ tới diễn tiến ấy được thành lập.
B. Từ những ý niệm trên nẩy ra ý niệm xã hội tự do, bởi lẽ chỉ trong một xã hội như thế, sự tìm kiếm chân lý và công lý – nhiệm vụ của Đại học tự do – mới có thể theo đuổi một cách hữu hiệu. Một xã hội tự do hoàn toàn độc lập với mọi hình thức thống trị và kiểm soát ngoại lai; và dân chúng được tự do tổ chức đời sống quốc gia theo đường lối thích hợp với nhu cầu và nguyện vọng của họ. Trong xã hội ấy, mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế, xã hội đều được tổ chức theo đường lối dân chủ và như thế mỗi thế hệ mới có thể áp dụng những quan niệm riêng của mình cho cả dân tộc.
Nền dân chủ chính trị chỉ có thể hoàn thành khi quyền lực chính trị chịu sự kiểm soát tối hậu của toàn dân, vì chỉ như vậy mới có thể bảo đảm rằng quyền hành đã được thực thi theo quyền lợi của tất cả chữ không phải của một phần nhỏ trong xã hội; và khi đã có đầy đủ tự do ngôn luận, tự do phát biểu chính kiến, với điều kiện là những tự do đó không đương nhiên nguy hại tới sự toàn vẹn và an ninh của xã hội. Chính những điều này – chứ không phải những đòi hỏi tổ chức, hình thức – là tiêu chuẩn theo đó trình độ dân chủ của một hệ thống chính trị, đa đảng, lưỡng đảng hay đơn đảng, phải được xét xử. Sự công bằng về kinh tế chỉ có thể hoàn thành qua sự bình đẳng của những thích nghi kinh tế và sự phân phối vô tư những sản phẩm kinh tế. Những chính sách thuế khóa, định gia hay điều chỉnh tiền tệ, an ninh xã hội và công ích từ thiện, kế hoạch kinh tế, cải cách điển địa và những hình thức tư hữu các xí nghiệp, tất cả đều phụ thuộc về sự thực hiện những mục đích ấy. Mỗi quốc gia, được lịch sử cùng tin tưởng và đặc tính riêng hướng dẫn, sẽ chấp nhận một phối hợp nhiều chính sách riêng biệt thích hợp với nhu cầu chung. Đối với những xã hội chậm tiến vì kinh tế thiếu mở mang, kế hoạch trung ương về phân phối và sử dụng tài nguyên có thể là con đường duy nhất để phát triển nhanh chóng, điều cốt yếu để có một công bằng về kinh tế.
Công bằng xã hội chỉ có thể hoàn tất khi có sự nhìn nhận trọn vẹn những phẩm giá co hữu và những quyền bình đẳng bất khả xâm phạm của mọi phần tử trong gia đình nhân loại, như đã được để ra trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Công lý xã hội được biểu hiện trong bình đẳng về cơ hội và sự đối xử trước pháp luật cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, hoàn cảnh kinh tế, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, khuynh hướng chính trị hay tôn giáo; trong tự do trọn vẹn về tư tưởng, hiệp hội, phát biểu; trong sự giải thoát khỏi sợ hãi và thiếu thốn.
C. Từ những nhận định này nẩy ra quan niệm trật tự quốc tế, ngõ hầu vạch ra những đường lối cho sự kiện toàn tự do quốc gia và công lý xã hội; mang đến những tiên quyết cho một hòa bình thật sự và bền vững, một trật tự bảo đảm hòa bình thế giới tiên quyết cho tiến bộ quốc gia và hạnh phúc nhân loại. Hòa bình không phải chỉ có nghĩa là không có những xung đột võ trang: hòa bình có nghĩa là diệt trừ tất cả những hình thức đàn áp và thống trị ngoại lai, có nghĩa là phát triển song phương hay đa phương sự hợp tác quốc tế trên căn bản bình đẳng, tôn trọng độc lập quốc gia và nhân quyền cá nhân.
Hòa bình chỉ có thể đặt nền tầng trên sự thỏa thuận của tất cả các quốc gia về việc đình chỉ các thí nghiệm nguyên tử, kể cả những thí nghiệm sâu dưới đất và qua sự hoàn thành việc tài giảm binh bị toàn thế giới, dành lại những nguyên liệu dồi dào, hiện nay lãng phí vào công cuộc võ trang, cho những vấn để cần thiết về phát triển kinh tế, xã hội hay giáo dục. Ở quan điểm này, sự hòa dịu của tình hình quốc tế nhờ việc đồng lòng ngưng các thí nghiệm nguyên tử, của một số lớn quốc gia trên thế giới, được coi như một đóng góp đáng kể cho hòa bình thế giới. Nhưng đấy chỉ là bước đầu; nhiều bước tiến xa hơn cần được thúc đẩy ngay để giữ vững và mỡ rộng đà tiến triển này. Hòa bình chỉ có thể được đảm bảo nhờ sự lớn mạnh của Liên Hiệp Quốc, trong đo cac quốc gia dù lớn hay nhỏ, đều có đồng quyền đề nghị việc xác định vận mệnh của nhân loại. Liên Hiệp Quốc phải là một trung gian làm trọng tài và giải quyết những tranh chấp quốc tế lớn, và phải trở nên căn bản của trật tự thế giới tương lai. Hòa bình chỉ có thể cứu văn bằng cách xây dựng một nền pháp luật quốc tế vô tư, che chở cho mọi người, mọi quốc gia chống lại bất công và xâm lăng, để vạch ra những con đường hòa bình cho sự thực thi vô tư của luật pháp, để thúc đẩy sự cáo chung của nạn chuyên chế và để khai sáng một thế giới thống nhất trong tình huynh đệ, dân chủ, mặc dầu những dị biệt về ý thức hệ, chủng tộc, tôn giáo.
II. CUỘC CHIẾN ĐẤU CHỐNG ĐÀN ÁP
Chống lại những quan niệm kể trên về đại học tự do, xã hội tự do và trật tự thế giới trong hòa bình, có rất nhiều hình thức đàn áp. Tận diệt những đàn áp này phải là mục đích đầu tiên của sự hợp tác sinh viên quốc gia hay quốc tế: đế quốc, thực dân, tân thực dân, chính thể toàn nhất, kỳ thị chùng tộc, độc tài và bất công xã hội. Cuộc chiến đấu chống những hình thức đàn áp này không thể để bị lợi dụng cho bất cứ mục đích chính trị hay ý thức hệ nào. Hơn nữa ta phải bắt đầu bằng phần đoán khách quan và cương quyết xem rằng những gì đã gây hay không gây ra đàn áp. Chi khi đã thấu hiểu rằng đàn áp có thể khởi phát ở bất cứ lãnh vực nào, rằng nó không phải chỉ đặc biệt về chính trị, kinh tế, xã hội hay ý thức hệ, thì cuộc chiến đấu những dân tộc bị đàn áp của chúng ta mới được hướng dẫn một cách sáng suốt, chân thành và mạnh mẽ. Bởi vậy, với tư cách Sinh viên, chúng tôi tự nguyện chiến đấu chống lại:
A. Đế quốc chủ nghĩa:
Đó là hành động một nước xâm lăng lãnh thổ một nước khác, hay thống trị nước ấy, nói riêng về phương diện kinh tế, nhưng cả về phương diện chính trị hay quân sự nữa. Đế quốc chủ nghĩa là một hiện tượng lâu đời, co the mang nhiều hình thai, và được nhiều cường quốc Đông Tây thực hành, và không thể được coi là một cực điểm của một hệ thống kinh tế đặc biệt, hay là biểu hiện tự nhiên của một ý thức hệ đặc biệt. Sự xâm lấn của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vào Ấn Độ là một minh chứng rõ ràng của đế quốc chủ nghĩa, cũng như sự xâm lấn của Pháp ở Bizerta, sự can thiệp chính trị và quân sự của Xô Viết ở Hung Gia Lợi năm 1959 và vụ Cuba năm 1961.
B. Thực dân chủ nghĩa:
Đó là sự tiêu diệt một nước toàn thể chủ quyền kinh tế, chính trị và văn hóa một nước khác, không đếm xia gì đến quyền tự quyết cố hữu của nước này. Thực dân chủ nghĩa là một vi phạm nhân quyền trắng trợn, và làm ngăn trở mọi phát triển đầy đủ về kinh tế, xã hội và văn hóa của nước bị thực dân. Thực dân chủ nghĩa hệ thống hóa tàn phá nhân cách con người và hằng tính của quốc gia bị thực dân, cung cấp cho tân thực dân chủ nghĩa một nền móng để nẩy nở và xây dựng. Đơn cử một thí dụ: thực dân chủ nghĩa trong hình thức thô bạo nhất đang được nhà cầm quyền Bồ Đào Nha thi hành ở Angola để lại một di sản đẫm mầu cho cái thực tại là tiếng nói của dân chủ và độc lập quốc gia không thể im lặng được. Nam Rhodesia là một thí dụ nóng bỏng khác của một hình thức thực dân chủ nghĩa tương tự.
C. Tân thực dân chủ nghĩa:
Đó là sự thống trị, trước về kinh tế, nhưng cũng có thể văn hóa, chính trị hay quân sự, thi hành phần lớn nhưng không phải chỉ bởi những cường quốc thực dân cũ đối với những lãnh thổ có hình thức độc lập mà không có thực chất độc lập. Tân thực dân chủ nghĩa là một sự đàn áp tỉnh vi, làm tiêu hao chủ quyền quốc gia, tự do hành động và kiểm soát tài nguyên kinh tế của chính quốc gia đó. Nó trá hình ra một hợp tác kinh tế, văn hóa hay chính trị, đôi bên đều được hưởng lợi, căn cứ trên sự thỏa thuận tự do, trên sự tương kính và bình đẳng đôi bên. Cuộc bang giao của Pháp và nhiều thuộc địa cũ ở Tây Phi hiện nay là một thí dụ của tân thực dân chủ nghĩa.
D. Toàn nhất chính thế:
Sự cưỡng bách hệ thống hóa tất cả những khía cạnh của đời sống dân tộc vào một chủ thuyết hay một tín điều. Nếu nhà nước cưỡng bách phố biến trong khắp xã hội một chủ thuyết ngược lại ý muốn toàn dân đã mất quyền tự do phát biểu ý kiến, xã hội ấy là một chính thể toàn nhất. Chính thể toàn nhất không nhất thiết chỉ hiện hữu ở những quốc gia đơn đảng, thi hành một triết lý chính trị riêng biệt, nếu hệ thống và triết lý đó dân chúng có thể chấp nhận được. Cũng như đế quốc chủ nghĩa, chính thể toàn nhất có nhiều hình thức – thí dụ nó có thể có tính cách kỳ thị chủng tộc như Đức ở trong kỷ nguyên phát-xít của Hitler, hay ở Nam Phi ngày nay; hay có tính cách một ý thức hệ như ở Tây Ban Nha, và ở Đông Đức.
E. Kỳ thị chủng tộc:
Đó là sự vi phạm quyền được đối xử bằng nhau và có nhiều cơ hội bằng nhau của mọi người căn cứ trên tài năng của họ. Đặt nền móng trên sự ngu dốt và thù ghét, kỳ thị chủng tộc tìm cách phá hủy phẩm giá và làm hư hỏng nhân cách con người. Thành kiến chủng tộc phải được hiểu khác với phân biệt chủng tộc; trong khi thành kiến chủng toc chỉ bieu hiện một lòng hẹp hòi mù quáng, thì kỳ thị chủng tộc là một hệ thống khai thác chính trị, kinh tế và xã hội. Kỳ thị chủng tộc hiện hữu ở bất cứ xã hội nào, dù kinh tế ở đó đã phát triển thế nào chăng nữa. Thí dụ như ở Hoa Kỳ, tất cả những biện pháp chống kỳ thị chủng tộc chưa đủ để tiêu diệt nó. Ở Nam Phi, một quốc gia cuồng nhiệt của thuyết kỳ thị chủng tộc và toàn nhất chính thể đương đàn áp đa số dân chúng, nhất là quần chúng da đen, với những biện pháp càng ngày càng thêm tàn bạo, mất hết nhân tính, coi thường sự chống đối cương nghị của sinh viên và dân chúng.
F. Chế độ độc tài:
Đó là sự thống trị dân chúng về kinh tế, chính trị, quân sự bởi một chế độ không đại diện cho dân chúng – hành động nhân danh một cá nhân, một giai cấp hay một đảng phái đại diện cho một thành phần ít ỏi trong dân chúng – chế độ ấy cố gắng duy trì quyền hành của mình bằng cái giá của sinh mạng và tự do con người. Cộng Hòa Dominica với Trujillo, Nam Việt Nam với Diệm, Irak voi Kassem, Á Can Đình với Peron, Paraguay với Stroessner, Haiti với Duvalier, và Nicaragua với Somoza, tất cả đều là những trường hợp độc tài rõ ràng. Ở Ba Tư và Ma Rốc, người ta thấy một hình thức thống trị khác: nền quân chủ đã mang hình thức độc tài chống lại nguyện vọng của dân chúng, và để những kể trục lợi ngoại bang khai thác sự phong phủ của cộng đồng ấy.
G. Bất công xã hội:
Một thành phần dân chúng hưởng không xứng đáng và không bình đẳng những lợi ích kinh tế, giáo dục xã hội hay văn hóa. Nạn mù chữ, đói kém, nghèo khổ, bệnh tật rải rác khắp nơi làm hại những thành phần dân chúng đáng kể trong phần lớn các quốc gia trên thế giới, chứng tỏ tầm quan trọng và khẩn cấp của vấn đề này. Nguyên nhân một phần do nền kinh tế thiếu mở mang tại những quốc gia ấy, một phần do sự khai thác một thành phần xã hội bởi một thành phần khác. Sự hiện hữu của những hình thức đàn ap kể trên là một đe dọa liên tục đối với đại học tự do, xã hội tự do và hòa bình thế giới, làm nguy hại đến quyền của người sinh viên trong khi tìm tòi để minh định tính cách những trách nhiệm của họ trong công cuộc chiến đấu cho công lý. Nói riêng, sự kiểm soát của thực dân, hay đế quốc chủ nghĩa tạo thành một nguy hiểm cổ hữu cho hòa bình. Cuộc chiến đấu thực sự của một dân tộc bị đàn áp để giải phóng quốc gia họ, bằng sức mạnh của khí giới, nếu quả là cần thiết, như hiện đang xảy ra ở Angola và Guinea thuộc Bồ Đào Nha, sẽ tích cực góp phần vào hòa bình thế giới.
III. QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TỔNG HỘI SINH VIÊN QUỐC GIA
Tổng hội Sinh viên Quốc gia là kết quả của tự nhiên của nhu cầu tổ chức của Sinh viên để tranh thủ quyền hạn và nhận định trách nhiệm với tư cách là sinh viên và là phần tử của xã hội. Trong khi minh định quyền hạn và trách nhiệm của Tổng hội Sinh viên Quốc gia, chúng tôi xác nhận một lần nữa lòng tin tưởng của chúng tôi rằng những mục tiêu đề ra trong bản Tuyên ngôn này chỉ có thể hoàn thành nhờ những tổ chức sinh viên tích cực tiến bộ và dân chủ, đặt căn bản trên ý nguyện cùng cần lao của chính người Sinh viên, và đại diện thực sự những mối quan tâm của Sinh viên. Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm thúc đẩy hội viên của họ tham gia nhiệm vụ tiến bộ xã hội: trừ tiệt sự đói kém, nghèo túng, bệnh tật và nạn mù chữ, bất cứ nguyên nhân của sự chậm tiến này hiện hữu ở đâu. Mỗi Tổng hội Quốc gia có trách nhiệm hoạt động để thiết lập một nền hòa bình trường cứu trong một cộng đồng thế giới gồm những quốc gia dân chủ hoạt động cho sự cáo chung của mọi hình thức đau khổ và mọi hình thức đàn áp.
Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm thăng tiến tự do và bảo trợ kinh tế của đại học, để giữ vững một đối thoại hằng cửu với những ngành khác của cộng đồng đại học, để hoạt động cho công ích của sinh viên, cho tự do báo chí sinh viên, và bảo đảm rằng giáo dục mở rộng cho tất cả mọi người căn cứ trên khả năng của họ.
Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm quan tâm tới sinh hoạt chính trị và kinh tế của nước nhà và cố gắng để bảo đảm rằng hệ thống chính trị và kinh tế, trong đó Tổng hội sinh hoạt, được xây dựng trên những ý nguyện tự do bày tỏ của dân chúng. Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có quyền tự tổ chức không có sự can thiệp ngoại lai và có quyền xuất bản mọi ý kiến riêng không sợ một ai bắt bớ. Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm luôn luôn thức tỉnh để kịp thời chống lại sự thủ tiêu tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do di lại, của chính quyền hay của những nhà cầm quyền khác.
Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm suy xét, tỉ như những hội nghị hay những buổi họp mặt, tổ chức một cách dân chủ và cời mở, qua những người thừa hành và nhân viên quản trị để tìm ra những nguyện vọng và cảm hứng thật sự, đặc biệt khởi phát từ cộng đồng sinh viên do Tổng hội ấy đại diện, ngõ hầu không một lực lượng bên ngoài nào có thể đặt ý thức hệ riêng hay chính sách riêng của họ lên Tổng hội, vi phạm những quan niệm đã được giữ vững một cách tự do của các hội viên. Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có quyền giữ vững độc lập hoàn toàn đối với những đoàn thể không phải sinh viên, dù là chính phủ, một lực lượng ngoại bang, một đảng phái chính trị hay một tổ chức thanh niên; cũng như mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có quyền hợp tác chặt chẽ với tất cả hay một lực lượng nào đó, khi sự hợp tác ấy phản ánh và thăng tiến ý nguyện được xác định một trong các tự do của hội viên Tổng hội. Chúng tôi tin tưởng rằng, trong sự hợp tác giữa các Tổng hội Sinh viên Quốc gia, căn bản tuyệt đối là sự tán đồng những nguyên tắc phổ quát. Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia nên có trách nhiệm tích cực thăng tiến những nguyên tắc ấy.
Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia đã chấp nhận và thăng tiến những nguyên tắc ấy, được hưởng sự liên kết và hợp tác của những Tổng hội Sinh viên Quốc gia bạn, và được họ tôn trọng chủ quyền của Tổng hội mình.
Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm thăng tiến những nguyên tắc ấy một cách hữu hiệu ở trong cũng như ngoài nước, mặc dù hoạt động ấy có thể nguy hại đến tình trạng tài chánh hay bất cứ gì khác do chính phủ gây ra. Một Tổng hội Sinh viên Quốc gia không có quyền liên kết và cộng tác với các Tổng hội bạn với lý do giản dị rằng mình là một tổ chức sinh viên toàn quốc. Tư cách đại diện của một Tổng hội Sinh viên Quốc gia phải được xét đoán ở sự tán đồng và thăng tiến những nguyên tắc phổ quát để ra ở trên. Tư cách ấy là một yếu tố quan trọng cần xét đến, vì họ có quyền ứng cử để chia se quyền hạn và trách nhiệm của hợp tác sinh viên quốc tế. Trách nhiệm của mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia là tân đồng những nguyên tắc phổ quát này, là làm việc tiến tới một thống nhất cuối cùng của phong trào sinh viên thế giới.
IV. VAI TRÒ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỘI NGHỊ SINH VIÊN QUỐC TẾ VÀ NHỮNG CHI CUỘC PHỤ THUỘC.
Sự tự nguyện phục vụ những nguyên tắc dân chủ của sinh viên và của xã hội là động lực thúc đẩy Tổng hội Sinh viên Quốc gia hoạt động trong nước và hợp tác với nước ngoài. Trong phạm vi tổ chức một cộng tác đa phương có ý nghĩa, đặt nền tảng trên những nguyên tắc phổ quát đã được chấp nhận, những tổ chức sinh viên, đại diện cho toàn thể sinh viên bằng một cuộc bầu cử tự do, sẽ cử những đại diện toàn quyền để bàn cai một cách coi mở những vấn đề thông thường hay những quan hệ, hoàn toàn tránh được kiểm soát ngoại lai; và sẽ đem áp dụng những nguyên tắc ấy trên toàn thế giới. Được như thế, tính cách hữu hiệu của hợp tác sinh viên quốc tế chỉ phụ thuộc trương độ của những nguyên tắc do chính hoạt động của hợp tác đưa ra.
Kiểm điểm lại phiên họp của Hội nghị Sinh viên Quốc tế, chúng tôi ghi nhận rằng những căn bản hợp tác và những quyết định đặc thù đề ra, luôn luôn phản ảnh một quan điểm không đảng phái. Những căn bản và quyết nghị ấy càng ngày càng phản ảnh được nhiều thêm sự tham gia hăng hái của sinh viên vào những vấn đề xã hội – mà chính họ là một phần. Chúng tôi xác nhận một lần nữa sự tán đồng tầm quan trọng của những nguyên tắc ấy trong tương lai. Đồng thời, phải ghi nhận rằngnhiều cơ cấu tổ chức của Hội nghị Sinh viên Quốc tế đã được bắt nguồn trong một thời kỳ mà những quan hệ rộng lớn này chưa được sinh viên khắp nơi trên thế giới cảm thấy rõ ràng.
Phái đoàn các Tổng hội Sinh viên Quốc gia chỉ còn phải kiểm điểm lại sự thích ứng giữa những mục tiêu, những cơ cấu của tổ chức và những cơ quan trung gian của Hội nghị Sinh viên Quốc tế có thể hoàn thành những mục tiêu đó. Chúng tôi tin tưởng rằng những nguyên tắc và những mục tiêu được các Tổng hội Sinh viên Quốc gia tham dự Hội nghị Sinh viên Quốc tế xác nhận giúp cho Hội nghị dễ tổ chức các cuộc hợp tác hơn. Nhưng chúng tôi cũng nhận định rằng thống nhất sinh viên quốc tế phải được tìm kiếm ở ngoài phạm vi tổ chức của những cơ quan quốc tế hiện hữu. Hội nghị Sinh viên Quốc tế chỉ có thể cùng lắm là đảm nhiệm được công việc duy nhất của họ trong giới sinh viên. Hội nghị hết lòng hiến mình vào những cơ quan phụ thuộc cho công cuộc tuyên truyền và hoàn thành một số nguyên tắc thường được chấp nhận do những nhu cầu đặc thù, những nguyện vọng của sinh viên và của nhiều dân tộc ở mỗi lục địa.
Chúng tôi ý thức lòng ước ao tràn trể nơi các Tổng hội Quốc gia muốn nhờ hợp tác sinh viên quốc tế để thăng tiến sự hợp quần toàn thể, ngõ hầu đối phó với những vấn đề khẩn cấp đương đặt ra cho sinh viên và những cộng đồng có thành phần sinh viên. Hợp quần ấy có thể đem đến một viện trợ thực tiễn cho công cuộc phát triển quốc gia hay cho Tổng hội Quốc gia họ, trong cuộc chiến đấu xây dựng một xã hội và củng cố độc lập, chính trị, kinh tế. Trong kỳ hội thảo, một số để nghị đã được đưa ra cho những hợp tác sinh viên quốc tế sau này. Đó là:
1. Những cuộc hội kiến song phương hay đa phương giữa sinh viên sống trong các quốc gia khác nhau về hệ thống xã hội
2. Những dự định liên hợp của nhiều Tổng hội Sinh viên Quốc và chính trị gia hiện đương là hội viên những tổ chức quốc tế.
3. Những cuộc tiếp xúc địa phương tích cực khuyến khích sự thống nhất sinh viên trên nền tảng địa phương để nghiên cứu những vấn đề của địa phương ấy (Á châu, Phi châu và Nam Mỹ châu).
4. Những Hội thảo Quốc tế để thảo luận về các dị biệt căn bản trong giới sinh viên hiện đương bị chia rẽ.
Chúng tôi cùng nhận thấy rằng, một khi những Tổng hội Quốc gia đã tích cực ủng hộ và khuyến khích sự thực hiện những mục tiêu đó, một Hội Nghị Bàn Tròn có thể sẽ triệu tập được nhờ một Hội đồng Dự bị Quốc tế phản ảnh những khuynh hướng khác nhau và sự phân bố địa dư trong giới sinh viên.
Hội thảo cũng bàn cãi về cơ cấu và tổ chức phụ thuộc của Hội nghị Sinh viên Quốc tế. Mọi người đã thỏa thuận rằng những chỉ cuộc của Hội nghị sẽ có đủ quyền hạn để hành động trong mọi trường hợp mà đường lối vẫn theo đúng nguyên tắc, quyết nghị và tinh thần của Hội nghị. Những chi cuộc có thể thực sự thăng tiến những nguyên tắc của Hội nghị, áp dụng những nguyên tắc ấy theo một đường lối không đảng phái và các trường hợp phát triển lớn trên thế giới, và bảo trợ cho mọi hoạt động có cùng những nguyên tắc trên. Các chi cuộc có thể khuyến khích giúp đỡ những phần từ của giới sinh viên hoạt động cho những nguyên tắc ấy mà không cần biết đến những quan hệ của họ với các tổ chức quốc tế đặc biệt. Một trong những đặc điểm của tổ chức Hội nghị Sinh viên Quốc tế vẫn là khả năng thích ứng với những đòi hỏi mới cho hoạt động sinh viên thế giới. Chúng tôi luôn luôn tin rằng tổ chức ấy sẽ tiếp tục biến đổi với thời gian, sẽ mang đến một phương tiện hữu hiệu hơn cho việc cố gắng áp dụng một cách vô tư các nguyên tắc phổ quát để giải quyết những vấn đề khó khăn của sinh viên và của các quốc gia trên thế giới.
USI Ái Nhĩ lan, UNEA Angola, NEWSEWNI Anh, Wales Bắc Ái Nhĩ Lan, OH Áo, NCUSI Ấn Độ, CIS Ba Tư, CUB Bolivia, NUIS Do Thái, DSP Đan Mạch, VDS Đức, NUGS Ghana, NFCUS Gia Nã Đại, USNSA Hoa Kỳ, NSR Hòa Lan, UFHS Hung, HKFS Hương Cảng, NUIS Irak, PKPTM Mã Lai, NSS Na Uy, USAsNam Phi, NUSRS Nam Rhodesia, NUNS Nigeria, SYL Phần Lan, UNEF Pháp, KUSU Sudan, TMTF Thổ, FFS Thụy Điển, VSS Thụy Sĩ, SUS Tô Cách Lan, UGET Tunesia, NUAUS Úc, UNURI Ý.
[Student Mirror, số 283 ngày 16.10.1963,
và số 284 ngày 1.11.1963, Hà Ngọc Thuần dịch)
TÌNH THƯƠNG VÀ TUYÊN NGÔN LEYSIN
Khi tiếng súng cách mạng đã im, trường Đại học được giải tỏa, anh em sinh viên hân hoan gặp nhau tay bất mặt mừng dưới mái trường thân yêu. Hai số báo Student Mirror đã tới tay chúng tôi vào lúc đó, cùng với hai phụ bản đăng trọn Tuyên ngôn Leysin. Thực là cảm động khi thấy sinh viên Việt Nam chiến đấu chống sự xâm phạm tự do và nhân quyền, sinh viên quốc tế đã họp mặt và ủng hộ sinh viên Việt Nam rõ rệt. Trong hứng khởi đó, chúng tôi đã mạo muội dịch Tuyên ngôn này sang Việt văn, công việc đáng lẽ phải nhường cho các bạn Văn khoa hay Luật khoa. Thế nên bản dịch còn nhiều sơ sót và lúng táng. Tuy nhiên sự vội vã ấy không phải là vô lý. Ngay trong vòng tháng 11 năm 1963, anh em Y khoa đã sửa soạn một nguyệt san: lúc ấy thì Ban Chi đạo, Đại diện Sinh viên Lâm thời, vì quá nhiều công việc và vì tính cách lâm thời,chưa nghĩ đến việc có một cơ quan ngôn luận chính thức. Vì vậy trước hết chúng tôi đăng tải bản dịch Tuyên ngôn này làm tài liệu. Thứ hai là sau Cách mạng, hình thành một Tổng hội Sinh viên Quốc gia, và sự gia nhập hàng ngũ Sinh viên Quốc tế lại được đặt ra. Phần 4 của bản Tuyên ngôn đã định rõ nhiều mục tiêu có thể làm căn bản để tháo luận, Sau cùng bản Tuyên ngôn, trong nguyên bản Anh văn, có lẽ là một ángvăn chương có giá trị. Đặc biệt là báo Etudiant đã ra một số đặc biệt dành cho Tuyên ngôn ấy với nhiều hình ảnh của cuộc hội thảo ở Leysin. Chúng tôi rất tiếc không đủ phương tiện thực hiện điều đó.
Tổng hội Sinh viên Quốc gia sẽ được thành lập và sẽ định thái độ: hoặc chấp thuận – một phần hay toàn thể – hoặc phán đối bán Tuyên ngôn. Sau đó Tổng hội sẽ quyết định gia nhập Hội nghị Sinh viên Quốc tế hay không. Chúng tôi trong phạm vi báo chí, chí có mục đích phổ biến Tuyên ngôn Leysin.
Student Mirror, số 283 ngày 16.10.1963 và số 284 ngày 1.11.1963
– Vâng, lâu hơn bất cứ một lãnh tụ Cộng sản nào nằm cachot. Về phương diện nằm cachot, tôi ăn đứt các ông. Tôi nhất định phá kỷ lục cachot.
Người công an vẫn nhỏ nhẹ:
– Anh bị còng chân tay bao lâu rồi?
Đinh Vượng nhìn thẳng vào mắt người công an chấp pháp:
– Ông gọi tôi ra làm việc chỉ hỏi vậy thôi ư?
Người công an gật đầu:
– Phải, chỉ có vậy. Anh bị còng tay bao lâu? Anh cứ thong thả trả lời rồi sẽ đến những câu hỏi mà anh mong đợi.
Đinh Vượng vuốt tóc:
– Tám tháng còng tay.
– Mấy tháng còng chân?
– 8 tháng còng chân.
– Mấy tháng còng cả tay lẫn chân?
– Hai.
– Từ ngày bị bắt là anh đeo dính còng?
– Ông lạ à?
– Lạ chứ. Anh làm việc với bao nhiêu cán bộ rồi?
– Mười, kể luôn ông.
– Anh cảm thấy ra sao khi bị còng quá lâu?
– Cảm thấy mình anh hùng.
– Anh nghĩ gì khi ngồi còng?
– Không nghĩ. Tôi chửi những đứa chế ra còng!
– Anh biết còng còng anh, đứa nào chế ra không?
– Mỹ!
– Anh đã chửi Mỹ?
– Và tôi chửi những đứa chửi Mỹ mà lại dùng còng Mỹ còng tay chân tôi.
Người công an khựng lại. Bỗng ông ta mỉm cười, nụ cười của chó sói. Ông ta bỏ rơi chuyện còng.
– Tại sao anh khước từ sự can thiệp của Bộ trưởng Nguyễn thị Bình?
Đinh Vượng liếm mép:
– Vì tôi không thích mang ơn Cộng sản!
– Còn chú ruột anh, đại tá Đinh Khang?
– Ông ấy cũng là Cộng sản.
– Anh thù hằn Cộng sản hả?
– Dĩ nhiên.
– Cộng sản đã làm gì gia đình anh, đã làm gì anh? Tự anh, anh dấn thân vào tù rồi tự anh, anh không thích được thả. Nếu anh thành khẩn làm tờ tự khai, chúng tôi đâu có còng anh ở biệt giam. Sự còng chân tay anh không phải là một hình phạt, một trừng trị mà chỉ là một đòi hỏi thành khẩn khai báo. Đinh Cường, Đinh Dũng đã thành khẩn khai báo, đã ăn năn sám hối, đã chấp nhận sự can thiệp của chú thím anh và đã về. Họ đang tự do. Còn anh?
– Còn tôi? Tôi không phải là em tôi. Cộng sản đã làm gì tôi à? Đâu cần Cộng sản làm gì tôi. Tôi đi chiến đấu vì mọi người, vì cuộc đời mà tôi muốn nó thật tốt, thật đẹp. Thế thôi. Ông bắt tôi thành khẩn nhận tội, tôi không có tội, nhận cái gì? Ông đánh Mỹ, ông có lý tưởng của ông. Tôi đánh cộng sản, tôi có lý tưởng của tôi. Tôi thua ông keo đầu, tôi cam đành chịu tù đày, cùm xích. Nhận lý tưởng của mình là tội thì không bao giờ. Không bao giờ cả.
– Anh ngoan cường, không, anh cường điệu quá đà đấy.
– Ông có quyền chụp đủ thứ tội. Tôi không xin tha đâu.
– Anh biết tại sao cha anh chết không?
– Chắc ông biết rõ.
– Cha anh chết vì thương nhớ anh, vì giận anh bướng bỉnh.
– Điều này thì ông cường điệu hơi lố lăng. Cha tôi chết vì thấy tôi chưa kịp đánh nát Cộng sản đã sa cơ thất thế.
Người công an mời Đinh Vượng hút thuốc. Thản nhiên, Đinh Vượng rút một điếu Thăng Long, thứ thuốc thơm cao cấp của Hà Nội. Người công an bật diêm cho Đinh Vượng mồi thuốc. Ông ta ngắm nghía cung cách cầm điếu thuốc, hút và nhả khói của Đinh Vượng. Người công an thân mật:
– Đọc kỹ nội quy chưa?
– Rồi.
– Điều xưng hô giữa tù nhân và cán bộ?
– Tù nhân gọi cán bộ bằng anh xưng tôi. Cán bộ gọi tù nhân bằng anh xưng tôi.
– Tại sao anh gọi tôi bằng ông?
– Vì ông có vẻ nhiều tuổi hơn tôi.
– Tôi đề nghị chú gọi tôi là anh cho nó thân mật nhé!
– Để ra đời, dù ông thua và tôi thắng, tôi sẽ gọi ông bằng chú xưng cháu, bằng anh xưng em. Bây giờ giữa ông và tôi có biên giới, không thể thân mật được.
– Cũng tốt thôi. Này nhé, tôi sẽ không còng anh nữa, sẽ đưa anh ra phòng tập thể ngay sau khi ở đây về. Ta sẽ không làm việc luôn, ta nói chuyện mưa nắng thôi.
– Ông lãng mạn quá!
– Hơn cả lãng mạn, tôi chiêm ngưỡng tâm hồn của anh, đảng đang cần những tâm hồn như anh. Đảng viên cũ đã lạc hậu, đảng viên già thì ì ạch, đảng viên trẻ thì suy thoái mất phẩm chất, đảng viên mới thì giá áo túi cơm. Những người như anh rất cần thiết cho đảng trong thời đại mới.
Đinh Vượng dập điếu thuốc:
– Những người như tôi cũng rất cần thiết cho sự khôi phục lại đất nước đã bị bằm vặp nát bấy bởi phỉ quyền và ngụy quyền.
Người công an cau mày:
– Đừng gọi chính quyền Cộng sản là phỉ quyền. Đừng để thành kiến che lấp lương tri. Thế này nhé, tôi tự giới thiệu với chú, tôi mới ở Hà Nội vào, chúng ta sẽ mạn đàm hàng ngày. Anh em mình sẽ hiểu nhau. Tôi rất thông cảm chú, rất dễ dãi với chú, chú thấy đó. Nếu tôi đủ thẩm quyền, tôi chẳng đòi hỏi chú làm bản tự khai làm gì. Đọc những bản tự khai của các bạn chú, cộng thêm sự làm việc của các bạn chú với cán bộ, tôi đã biết hêt, đã nắm gọn vấn đề. Nhưng mà nguyên tắc, cấp trên chỉ thị cho tôi phải có tờ tự khai của chú. Để nghiên cứu trường hợp của chú mà trả tự do cho chú. Để tôi đun nước pha trà mời chú uống. Trà móc câu Thái Nguyên, tuyệt lắm.
Đinh Vượng lặng thinh nghe người công an Hà Nội nói. Ông ta không có thái độ thù hằn Đinh Vượng, không dọa nạt, quát tháo, đập bàn như những người công an đã từng gọi Đinh Vượng làm việc. Ông ta quá ngọt ngào, cởi mở nên Đinh Vượng không có cớ để trút nỗi tức tối bị còng ròng rã 540 ngày đêm. Đinh Vượng chợt nhớ câu mật ngọt chết ruồi. Cậu bỗng giật mình. Được, mày muốn tự khai thì ông tự khai. Ông chán nằm ngủ đeo còng rồi. Nằm ngủ đeo còng chân dính tay như con tôm, ông càng chán. Lâu lắm ông không uống nước trà, ông thèm lắm. Trà móc câu Thái Nguyên à, tốt tốt.
Sau tuần trà, Đinh Vượng về cachot thu dọn hành lý. Người cán bộ Hà Nội giữ đúng lời hứa. Đinh Vượng ra phòng tập thể. Người ta phát cho cậu hai mươi trang giấy, bảo cậu cứ từ từ tự khai ở ngay phòng, nếu hết giấy thì báo cáo cán bộ xin thêm. Mỗi ngày, người ta tặng cậu một ca nước trà và một gói thuốc lá Vàm Cỏ. Đinh Vượng viết tự khai nửa tháng. Cậu nộp tự khai buổi sáng thì buổi chiều rời phòng tập thể vào cachot nằm tiếp. Lần này, hai tay cậu bị còng chéo sau lưng. Còng chỉ mở mỗi bữa ăn mười phút. Lý do: Đinh Vượng chưa thành khẩn khai báo. Tự khai của cậu vỏn vẹn ba trang giấy và không phải là mẫu tự khai của chế độ.
Bản tự khai bất hủ của Đinh Vượng:
“Tôi đã đọc Ngục trung nhật ký của chủ tịch Hồ Chí Minh và tôi thích nhất bốn câu này:
Ở đời trăm sự đều cay đắng
Cay đắng không bằng mất tự do
Mỗi lời mỗi việc thiếu tự chủ
Để chúng dắt đi tựa trâu bò
Thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng ra cái gì cả. Tôi thích vì nó hợp với hoàn cảnh và tâm trạng của tôi hiện thời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hạnh phúc hơn tôi nhiều. Trước hết, ông nằm ngục bên Tàu. Ông chỉ có mỗi một nỗi cay đắng là không dám tuyên truyền bậy bạ và yêu sách lăng nhăng. Ông cam đành làm kiếp trâu bò để cai ngục dẫn đi đâu thì đi đấy, bắt làm gì ông làm nấy. Ông đã thành khẩn khai báo và làm thơ vinh tôn sự thành khẩn đó. “Để chúng dắt đi tựa trâu bò”, ông hơi hèn. Nhưng ở tù mà hùng thì chết ngu. Nhờ chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi hiểu rõ niềm bí mật: Tất cả những vị anh hùng Cộng sản vào tù đều hèn hết. Do đó, đã không vị nào dám phán xét những anh bị nằm tù cả. Bí mật ấy cho tôi hiểu thêm, các nhà cách mạng vào tù biến thành trâu bò để cai ngục dẫn dắt. Vậy đứa nào thoát khỏi cảnh ngục tù mà nói mình làm anh hùng trong nhà tù tức là nó nói phét. Đứa nào không ở tù mà phán xét người ở tù này nọ là đứa vô liêm sỉ. Đứa nào ca tụng hồ chủ tịch rất anh hùng trong nhà tù là đứa siêu vô liêm sỉ. Đất nước ta có khá đông bọn siêu vô liêm sỉ. Lãnh tụ đã thú nhận lãnh tụ làm trâu bò trong nhà tù mà chúng nó cứ hô hoán lãnh tụ vĩ đại, vĩ đại!
Tôi bất hạnh hơn chủ tịch Hồ Chí Minh, dĩ nhiên. Trước hết, tôi nằm ngục ở ngay quê hương tôi, ở quê hương đã sạch bóng quân xâm lược, đã giải phóng, đã cách mạng thành công, đã hòa bình hòa giải dân tộc, đã dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Người ta bảo, trong xã hội xã hội chủ nghĩa không có nhà tù. Vậy mà tôi bị nhốt ở đề lao Gia Định vốn là nhà tù của thực dân, đế quốc. Tôi bị còng chân, còng tay nằm khổ sở trong cachot hôi hám, ẩm ướt 540 ngày ròng rã. Nhưng, có điểm, tôi hạnh phúc hơn chủ tịch hồ chí minh. Là mỗi lời, mỗi việc của tôi, tôi đều tự chủ. Tôi không hạ mình làm kiếp trâu bò. Không ai có thể dắt tôi đi tựa trâu bò được. Do đó, tôi khước từ làm bản tự khai.
Tự khai. Tự khai cái gì? Đó là dấu ấn ô nhục hằn lên chủ nghĩa mà người ta tự hào là chủ nghĩa ưu việt, cái nôi của loài người. Tự khai dành cho những thằng ăn cắp, những thằng ăn cướp, những thằng tham nhũng, những thằng hiếp dâm. Tự khai không thể, không được phép dành cho người yêu nước, cho những người làm đẹp đời sống, cho những người bất đồng quan điểm, tư tưởng. Những thằng ăn cướp, ăn cắp nên tự khai tội lỗi của chúng và hứa ăn năn sám hối. Những người yêu nước luôn luôn khước từ khai báo, hô hoán. Những người yêu nước chân chính, thật lòng, ở bất cứ thời đại nào, đều im lặng. Sự vỗ ngực khoe mình yêu nước dành độc quyền cho chủ tịch hồ chí minh và công ty và lũ chính khách chuyên nghiệp múa may và đám thống trị Sài Gòn cùng bầy tay sai cầy cáo. Nếu yêu nước là tội lỗi ngang hàng với tội lỗi của ăn cướp, ăn cắp thì quý vị lãnh đạo đảng và nhà nước phải thành khẩn tự khai nêu gương đầu. Vì quý vị là những người yêu nước nhà nghề, những người đòi độc quyền yêu nước. Nếu yêu nước là bổn phận của mỗi công dân thì sự bắt con người khai báo mình yêu nước ra sao, mình yêu nước bao nhiêu là một sự sỉ nhục không thể tha thứ.
Người cộng sản, cứ mở miệng là đề cao phẩm cách làm người. Con người có phẩmcách là con người biết tôn trọng giá trị của người khác. Giá trị con người của tôi là sự làm đẹp cho đời sống trong im lặng. Bắt tôi tự khai truy nã sự im lặng của tôi là tiêu diệt giá trị con người của tôi. Như thế, phẩm cách làm người mà người Cộng sản hãnh diện chỉ mình có, nó ở chỗ nào? Nó ở sự cưỡng bách tự khai nhận tội? Nó ở cachot hôi hám, ẩm mốc? Nó ở những đêm còng chéo tay vào chân? Hay nó ở trong cái xô phân tiểu đầy giòi ở góc tối biệt giam? Bất cứ một biệt giam nào của đề lao và trại tập trung thời đại khốn khổ này. Hãy hỏi lãnh tụ nằm trong hòm kính xem, thuở nhục nhằn của lãnh tụ ở ngục tù Trung Hoa, lãnh tụ có bị cưỡng bức tự khai không? Nếu có và nếu lãnh tụ đã khai thì lòng yêu nước của lãnh tụ chỉ là lòng yêu nước phường tuồng diễn trên sân khấu, sơn đông mại võ rao hàng ngoài chợ. Nhưng vẫn bỏ qua được, vì lãnh tụ đã nhận mình là trâu bò và cai ngục cưỡng bức lãnh tụ tự khai không phải là người Việt Nam.
Đó, anh muốn biết chính xác về chúng tôi, tôi đã thành khẩn khai báo. Sau hết, vì anh nói “những người như tôi rất cần thiết cho đảng trong thời đại mới” và tôi cũng đã nói: Những người như tôi cũng rất cần thiết cho sự khôi phục lại đất nước bị bằm vặp nát bấy bởi phỉ quyền và ngụy quyền. Tôi giải thích thêm: Từ bamươi năm nay, tuổi trẻ việt nam chưa hề được tự quyết định thân phận mình và thân phận dân tộc mình. Từ ba mươi năm nay, tuổi trẻ việt nam đã tiêu pha hết nhiệt tình và lòng tự phụ cho những âm mưu đê tiện của đàn anh, của lãnh tụ; cho những thủ thuật tranh giành quyền bính thống trị. Tuổi trẻ miền Bắc bị phù thủy Cộng sản gian ác huyễn hoặc thành âm binh lao vào lửa, phóng lên rừng, tụt xuống biển, leo đỉnh núi, giết người, giết người để chết thảm hại, để no đầy tham vọng vĩ đại của lãnh tụ. Tuổi trẻ miền Nam bị đạo diễn mù đeo kính đen xúi dục xuống đường hit lựu đạn khói, hứng phi tiễn, ăn dùi cui của bạo lực và bị bạo lực đẩy vào cuộc chơi chiến tranh vô tích sự. Rốt cuộc, tuổi trẻ đầy thương tích sống sót nhìn quê hương thoi thóp, rã rượi.
Hôm nay hoàn toàn khác. Cuộc đổi đời đã làm một dâu biển trong tâm hồn chúng tôi, tuổi trẻ thế hệ sau 30-4-1975. Trước đây, chúng tôi nhìn rõ ngụy quyền, nhìn rõ tư bản, nhìn rõ một nửa trái đất. Bây giờ, chúng tôi nhìn rõ phỉ quyền, nhìn rõ Cộng sản, nhìn rõ nửa trái đất bên kia. Chúng tôi tự hào nhìn rõ cả trái đất. Chúng tôi giành toàn quyền quyết định thân phận chúng tôi và thân phận Việt Nam. Chúng tôi chiến đấu không để khôi phục dĩ vãng buồn thiu và quyền bính tôi đòi nhơ nhớp mà chiến đấu cho ngày mai của Việt Nam rạng rỡ, Việt Nam thật tươi, thật mới, Việt Nam toàn chân toàn thiện toàn mỹ, Việt Nam hạnh phúc, thương yêu chan chứa, vĩnh cửu.
Và đó, chúng tôi dấn thân.
Đề lao Gia Định, ngày sinh nhật tôi
Đinh Vượng.”
Trên trang đầu của bản tự khai bất hủ của người tuổi trẻ Đinh Vượng, sinh viên năm thứ hai Luật khoa, một hàng chữ bút lông màu đỏ ghi đậm nét: Xếp vào thành phần cải tạo trường kỳ!
Nghiêm trong nhóm viết biểu ngữ và vẽ trang trí hội trường. Đây là công việc thuộc về mỹ thuật, tương đối nhẹ nhàng và làm việc ở trong nhà. Các ông cán bộ của tiểu đoàn không có việc, thường đến ngồi xem, thưởng thức và thăm hỏi. Tù khác đang đói thuốc, phải đi lượm dế [1] về sao chế hút cho đỡ cơn ghiền nhưng nhóm Nghiêm thì đầy đủ thuốc điếu lẫn thuốc lào. Lại có cả nước trà!
Vừa ngồi vẽ, viết, vừa suy nghĩ. Chính mình viết, vẽ những biểu ngữ cho lớn, cho đẹp, để chửi lấy chính mình!
Yên nắn nót viết xong câu khẩu hiệu không có gì quý bằng độc lập tự do, lấy làm đắc ý lắm! Gật gù, thỏa mãn với nét viết của mình. Yên kéo một hơi thuốc lào thật sâu, nuốt hết cả khói vào trong. Tỏ vẻ ngất ngưởng, khoái lạc lắm. Yên đang đợi một tiếng khen của hai ông cán bộ mới bước vào. Trên nét mặt hai ông cán bộ cũng tỏ vẻ thán phục nghệ thuật viết chữ của Yên lắm. Nhưng một lúc sau, một ông đột ngột phát hiện:
– Không, thế nầy nà thế nào? Anh dám sửa chữ của nãnh tụ đấy à?
Yên ngỡ ngàng. Xanh mặt. Chưa biết bị sai chỗ nào. Chưa biết phải phản ứng ra sao. Ông cán bộ tiếp:
– Không thể nào bằng được. Phải hơn cơ!
Rồi ông nhấn mạnh:
– Không có gì quý hơn độc nập tự do. Đấy nà nời của Hồ Chủ Tịch kính yêu. Đấy nà chân ný. Anh không thể nào sửa nại nời khác được.
Hơi thuốc lào tan biến mất. Yên toát mồ hôi. Tội sửa lại lời của lãnh tụ là nặng lắm. Vì có bao giờ tù quan tâm là viết hay vẽ cái gì đâu. Chỉ viết là viết. Vẽ là vẽ. Là thợ, thế thôi. Cũng may cho Yên, chữ bằng hoặc chữ hơn câu nói đều cùng nghĩa nên chỉ phải xóa và viết lại chứ nếu không thì chắc chắn phải lãnh hậu quả nặng nề.
Bản chất thực thà trong ngôn ngữ đã thể hiện rõ nét trong đời sống người miền Nam, nhưng cách dùng từ lươn lẹo, là cách dùng bình thường của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc. Cứ xem cái thông cáo về tập trung cải tạo sau ngày 30-4-1975 sẽ rõ ràng thôi. Cũng vì thế, cho nên họ luôn luôn bất an về cách dùng từ của người khác. Họ luôn luôn muốn kiểm soát tư tưởng, ngôn ngữ của người khác và dễ dàng kết án tội xỏ xiên, dù chỉ là vô tình.
Tâm bất chính, nên lòng luôn bất an.
Từ viết khẩu hiệu, vẽ trang trí, dần dần các ông cán bộ bắt đầu áp phe. Các ông thấy vẽ đẹp, viết đẹp, nên móc trong túi ra một tấm hình dúm dó của người thân, rồi nhờ họa lớn ra. Khi ông cán bộ nầy nhờ, luôn dặn dò, đừng cho ông cán bộ khác biết. Đến ông cán bộ khác nhờ, lại dặn đừng cho ông cán bộ kia hay.
Chính các ông cán bộ lại sợ nhau!
Khi một ông đã nhờ được rồi thì thường ít lai vãng. Hình như sợ bị lộ bí mật. Chỉ thỉnh thoảng thoáng qua, hỏi đôi ba câu, như nhắc nhở khéo, cho chút thuốc lào hoặc thuốc điếu, rồi đi ngay. Chưa bao giờ giá cả nghệ thuật lại rẻ đến như vậy. Nhưng ngược lại, nhóm Nghiêm cũng cảm thấy thỏa mãn vì có cơ hội tiếp trợ chất khói cho tù bạn bè hoặc cho tù cùng lán.
Cứ sau mỗi buổi làm ở tiểu đoàn về, thế nào cũng có tù khác đón đợi chất khói. Trông như trông mẹ đi chợ về!
Cộng sản đã đổi đời con người thật nhanh. Nấc thang xã hội, trèo lên, phải vắt cả tim óc và mồ hôi, nhưng tuột xuống, thì chỉ trong nháy mắt. Giông bão làm bật gốc cây cối nhưng rêu cỏ thì lại vươn cao.
Một buổi chiều, trời đang nắng nóng, bỗng dưng mây đen vần vũ. Rồi từng cơn gió mang hơi nước ẩm ướt, lành lạnh tràn về. Cảm giác con người cũng mang mang. Buồn buồn. Nỗi buồn như se lại. Hắt hiu. Rồi cơn mưa ập đến. Nghiêm dời chỗ vẽ ra xa khung cửa, nhưng từng giọt mưa từ mái tôn đổ xuống, là từng giọt buồn, thánh thót rơi trong tâm hồn. Cái cọ chấm sơn không buồn nhúc nhích. Những hơi thuốc được kéo dài. Phổi có ấm nhưng không thể nào ngăn được những tiếng thở dài cứ theo nhau, như lượng trời mưa. Sài Gòn-Tây Ninh, không gian sao vời vợi!
Một ông cán bộ đội mưa bước vào làm Nghiêm trở về thực tại. Ông đứng ở ngưỡng cửa vung vung thân người cho văng bớt nước. Cái xắc cốt da nâu, ướt nước nên đậm hơn, cũng được ông lúc lắc. Ông bước vào bên trong không mạnh dạn, tự nhiên như những ông cán bộ khác đối với tù. Ông nhìn Nghiêm, ý ông muốn hỏi mượn cái điếu cầy. Nghiêm lên tiếng và ra dấu xin mời:
– Dạ.
Lần đầu tiên Nghiêm thấy một cử chỉ văn minh nơi một ông cán bộ. Biết hỏi mượn đồ vật của người khác, mà lại của tù! Điều nầy làm Nghiêm để ý ngay. Men chiến thắng, men anh hùng, men Đảng ta, chưa thấy trong con người nầy. Ông mân mê bi thuốc lào như gửi gắm vào đấy chút suy nghĩ. Ông cời cời cái nõ điếu với chút khoan thai. Cái đóm đang có lửa được ông giấu trong lòng bàn tay, tránh gió thật kín. Ông tiêm tí lửa, bập bập mấy cái, mân mê sửa lại bi thuốc, rồi mới kéo một hơi dài thật sâu làm cái nõ điếu kêu rít lên, rồi đột ngột tắt hẳn. Ông không nuốt khói, chỉ nén giữ giây lát, rồi từ từ thở ra. Khuôn mặt ông hơi ngước lên, được vây phủ bởi làn khói trắng như tiêu diêu vào cõi xa xăm. Cách sử dụng điếu cầy của ông có nét nghệ thuật. Ông mở đầu câu chuyện khi nhìn Nghiêm:
– Buồn nhỉ.
– Dạ, trời chợt mưa, cái lạnh chợt đến nên cảm giác con người cũng dịu vợi đôi chút.
– Anh đã lập gia đình chưa?
– Dạ. Vợ hai con.
– Trông anh còn trẻ hơn tuổi gia đình của anh. Vợ con anh đang ở đâu?
– Dạ, Sài Gòn.
– Tôi vừa ở Sài Gòn lên.
Vừa nghe ông cán bộ nói ở Sài Gòn lên, lòng Nghiêm như thắt lại. Nơi đó có gia đình và vợ con Nghiêm. Trời Tây Ninh đang mưa, liệu Sài Gòn có đang mưa không? Khung cửa sổ trên lầu, nơi mà mỗi lần mưa Nghiêm thường ngồi nhìn qua cây xoài bên nhà hàng xóm. Ngày đó, Hoàng thường đứng ở phía sau, vòng hai tay qua cổ Nghiêm thì thầm. Hoàng có cái gì đó như nhỏ nhoi. Như yếu đuối. Liệu Hoàng có qua nỗi cơn sóng gió nầy không? Nghiêm thở dài. Từ Tây Ninh về lại Sài Gòn phải tốn bao nhiêu thời gian? Thời gian sẽ tính bằng tháng, bằng năm hay sẽ không bao giờ? Nghiêm muốn kéo dài câu chuyện về Sài Gòn, nên hỏi ông cán bộ:
– Cán bộ đi công tác ở Sài Gòn?
– Vâng.
– Sài Gòn, cán bộ thấy như thế nào?
– Sài Gòn lớn và văn minh hơn tôi nghĩ trước kia.
– Dạ, theo cán bộ, Sài Gòn trước kia và thực tế có khác nhau lắm không?
Ông cán bộ có chút suy nghĩ:
– Một đêm khi tôi cùng đơn vị nằm chờ lệnh tiến công, chúng tôi cứ nhìn vô Sài Gòn như là thành phố của ánh sáng. Tôi không tưởng tượng được sự to lớn của nó. Và đặc biệt, tiếng ô tô rầm rập không ngừng. Tôi không nghĩ Hà Nội có thể nhớn hơn, nhưng trong đời tôi, lần đầu tiên tôi thấy được cái ánh sáng to nhớn đó là của Sài Gòn.
Nghiêm cố gợi thêm:
– Thưa cán bộ, theo đài thì Sài Gòn chỉ có bên ngoài. Phồn vinh giả tạo mà thôi.
– Vâng. Nhận xét của trên là vậy. Nhưng đi giữa Sài Gòn tôi thấy Sài Gòn có chất sống. Ý tôi muốn nói, nó như có cái gì ấm cúng chứ không khô cứng và lạnh. Hà Nội thì khác hẳn. Hà Nội và con người chịu kham khổ với nhau và lại cắn đắn với nhau.
– Thưa cán bộ, ý cán bộ muốn nói, đi giữa Sài Gòn có vẻ thỏa mái hơn về tinh thần?
– Cũng có thể là vậy.
– Thưa cán bộ, còn mức độ văn minh?
– Sài Gòn có quá nhiều nhà cao tầng hiện đại và tôi không hiểu xe ở đâu mà nhiều lắm thế.
Nghiêm không muốn câu chuyện đi xa hơn nên quay qua đề tài khác:
– Thưa cán bộ chắc đã có gia đình?
Ông chợt yên lặng. Cái yên lặng của ông không có nghĩa là không đồng ý câu hỏi về đời tư của ông, nhưng cái yên lặng trong khoảnh khắc nầy như câu hỏi vô tình đụng vào nơi sâu thẳm và hoang vắng nhất trong tâm hồn ông. Ông nén lại một vết thương. Nén lại một tiếng thở dài.
– Vâng, tôi còn độc thân, nhưng sự độc thân không trọn vẹn.
Nghiêm biết ông sẽ nói tiếp, nên kiên nhẫn chờ đợi.
– Tôi đã có người yêu và chúng tôi cùng trên đường vô Nam nhưng người yêu của tôi đã chết trong trận bom Mỹ oanh kích ở Trường Sơn. Chúng tôi ở hai đơn vị khác nhau, nên mãi mấy tháng sau tôi mới nhận được tin buồn nầy. Chúng tôi đã có những ước mơ thật bình thường của tuổi yêu đương. Nhưng tiếc là những cái bình thường nhất của đời sống, trong chiến tranh, lại là những cái phải mơ ước! Và cái mơ ước trong tình yêu đó của chúng tôi không còn bao giờ đến nữa. Giá bây giờ người yêu tôi còn sống.
– Xin lỗi cán bộ, vô tình tôi đã khêu dậy một vết thương.
– Không sao. Tôi đã hỏi anh về gia đình thì anh cũng đã hỏi lại như vậy. Không có gì, chỉ có khác là hoàn cảnh riêng mà thôi.
Nghiêm thấy có chút bình đẳng và tự nhiên trong cách nói chuyện của ông cán bộ. Từ lúc ông bước vô, cho đến bây giờ, nếu ông cán bộ không mặc đồ bộ đội, không mang dép râu, xắc cốt thì có thể nghĩ ông là một người bạn bình thường khi nói chuyện với nhau. Không có cái khô cứng trong ngôn ngữ, không có cách biệt trong giao thiệp và cái chất tình cảm rất là người, không bị o ép, khuôn đúc như hầu hết các ông khác.
Nghiêm nghĩ nếu ông cán bộ nầy đi nói về chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội gì đó thì may đâu bài học có chút sinh khí để bàn cãi.
Ông hỏi Nghiêm:
– Vào trại tập trung anh có mang theo hình ảnh của gia đình không?
– Dạ có.
– Hẳn những lúc mưa buồn như thế nầy, nhìn vào đấy, để thấy tha thiết phải không?
Nghiêm trả lời có chút bài học:
– Phải khắc phục thôi, cán bộ.
– Điều đó tốt thôi, nhưng hy vọng anh không tự dối lòng. Tôi đã chia tay với người yêu và tôi đã mất người yêu trong chiến trận. Tôi hiểu sự đau đớn nầy. Mất mát là mất mát. Là vĩnh viễn không còn tìm lại được. Đất nước là đất nước. Đất nước là để con người sinh sống, nhưng khi con người mất đi thì đất nước để làm gì? Dĩ nhiên là cho người khác, cho thế hệ nối tiếp, nhưng trong chỗ riêng tây mình cũng cảm thấy hụt hẫng. Trái tim không còn chút tình cảm riêng tây thì trái tim đó đã chết. Cho nên, nếu nói mình vì mọi người hoàn toàn, tôi thấy câu nói không có nhiều thuyết phục. Chỉ là những đóa hoa kết thêm trên tà áo cưới cô dâu nhưng lòng dạ không phải vậy.
– Thưa cán bộ, cách mạng đang chiến thắng. Đang đạt được những gì mong muốn và cũng phải có cái giá để trả.
– Vâng, tôi hiểu ý anh. Song thời gian mới thật sự là câu trả lời. Người miền Nam di tản nhiều quá! Nếu chỉ là số ít thì có thể họ sai lầm, nhưng không lẽ đông người sai lầm đến như vậy. Trong lúc đài kết án họ là phường đĩ điếm, ma cô. Đó chính là câu hỏi lớn hiện tại. Còn sự phồn vinh của miền Nam tôi nghĩ là thật, chứ không phải giả tạo.
Nghiêm nghe và yên lặng. Không dám có thêm gợi ý gì. Ông cán bộ tiếp:
– Cách mạng bây giờ có thể kể trên các anh hàng trăm thứ tội nhưng chắc gì bên trong các anh chấp nhận. Đôi khi các anh nghĩ có tội chỉ vì các anh là người chiến bại. Cái khó là trong thâm tâm chúng ta, tìm hiểu nhau và có chấp nhận nhau được không.
Thấy ông cán bộ nầy rất cởi mở và thẳng thắn nên Nghiêm muốn nhân dịp nầy tìm hiểu chút tin tức về học tập mà có rất nhiều tin đồn đãi khác nhau:
– Thưa cán bộ, tôi biết học tập để biết đường lối chính sách, rất cần thiết, nhưng thưa cán bộ khoảng bao lâu sẽ hoàn tất?
Ông có chút suy nghĩ trong câu trả lời.
– Tôi cũng không biết. Kế hoạch đều do trên cả!
– Thưa cán bộ, có nhiều tin nói rằng học xong mười bài sẽ được cho về?
Ông cán bộ không trả lời thẳng câu hỏi nầy.
– Theo tôi, cách tốt nhất là chuẩn bị cho chính mình. Không chuẩn bị tốt thì cho dù hoàn cảnh nào cũng khó thể vượt qua.
Qua đối thoại, Nghiêm thấy ông cán bộ khá thành thật trong chỗ riêng tư nhưng lại né tránh chuyện liên quan đến tù. Ông cũng mù mờ về đường lối chính sách của Đảng. Sự tráo trở trong ngôn ngữ không chỉ đánh lừa người dân nhưng cũng đánh lừa ngay trong hàng ngũ cán bộ. Đến giai đoạn nào, thì giải thích theo giai đoạn đó. Mọi việc không đặt trên nền tảng chân thật, nên mọi người phải linh động theo từng diễn biến. Sự linh động giải thích nầy dần dần biến thành thói quen, nói để vừa lòng người nghe chứ không phải nói sự thật. Mọi người đều lừa dối nhau, từ gia đình, cha mẹ, con cái, bè bạn, chỉ vì Bác và Đảng đang đứng ở sau lưng!
Con người ông cán bộ có hai thế giới. Thế giới riêng tư, âm thầm và khép kín, nhưng sôi bỏng. Thế giới công tác, thì nói và làm theo lệnh trên, mù mờ, nhưng không dám đối diện sự thật. Nhưng cái mù mờ, không thật nầy, lại quyết định đời sống từng cá nhân như ông.
Có thể tâm tình của ông, ông không thể san sẻ cùng đồng đội vì có thể bị làm công tác tư tưởng nên có dịp, lại sẵn sàng cho nó thoát ra với người khác, như Nghiêm, người tù mới của chế độ.
Đảng và công việc, như chiếc áo phải khoát vào khi đi ra khỏi cửa, nhưng thế giới riêng tư thì lại mâu thuẫn với những cái gì hàng ngày phải nói hoặc phải làm. Cuộc tranh chiến dai dẳng nội tâm, tạo nên một bộ mặt mới, bộ mặt hư ngụy!
Một xã hội lại được xây dựng bởi những bộ mặt hư ngụy thì tương lai sẽ đi về đâu?
Những đoản khúc của người góa phụ can đảm này được cất lên cùng với tiếng thở dài và những dòng nước mắt lặng lẽ trong những đêm thanh vắng, của những ngày tháng cũ, và của cả những ngày tháng hiện tại. Tôi đã nghe những đoản khúc nhẹ nhàng ấy nhiều lần trên làn sóng phát thanh của Đài Văn Nghệ Truyền Thanh và sau này trên các luồng sóng của một vài đài phát thanh khác. Nhưng khi đọc lại Lối Cũ Chẳng Sao Quên của Bích Huyền mới thấy trọn vẹn được bối cảnh những tùy bút mà bà mô tả. Một điều dễ hiểu: tôi, chúng tôi, cũng như chồng bà đã trải qua, đã sống trong những bối cảnh ấy.
Bởi vậy, những ngôn ngữ mà bà sử dụng trong mẩu ký ức nhẹ nhàng về cả một quãng đời đau khổ của bà chính là một nỗi dằn vặt đối với chúng tôi. Vâng, tại sao chúng tôi lại không giữ nổi một mảnh đất đáng giữ như vậy, để cho sau khi đã hòa bình rồi còn có những người trở thành goá phụ? Không những thế, biến cố và những biển dâu mà chúng tôi góp phần tạo nên, nó đã biến những người phụ nữ như Bích Huyền, cũng như hàng triệu phụ nữ Việt Nam khác phải nối thêm cuộc đời bằng một đoạn đường long đong, cay đắng.
Phu quân của Bích Huyền là một sĩ quan cấp tá, giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng trường Đại Học CTCT Đà Lạt, ông và nhiều sĩ quan khác, dù đau khổ trong bao nhiêu năm lưu đầy, dù kẻ chiến thắng để lên vai ông cũng như trên vai chúng tôi cái gánh trĩu nặng của thù hận, nhưng ông vẫn còn được chút hạnh phúc để mà vượt lên: còn người vợ. Tôi không có cái may mắn như Trung tá Nguyễn Quang Hưng và nhiều sĩ quan khác. Nhưng nghĩ cho cùng, thì, cũng chính vì không có được cái hạnh phúc cần thiết ấy mà tôi hiểu được vai trò của người vợ quan trọng như thế nào trong cảnh hoạn nạn của chúng tôi. Khi còn mũ cao áo dài, có thể ít người nhìn ra những vị trí quan trọng của phụ nữ trong cuộc đời mình. Nhưng khi rơi xuống vực thẳm, mới thấy cái cần thiết của lòng chung thuỷ.
Tôi đã trải qua một câu chuyện cảm động và cho tới bây giờ tôi vẫn chưa quên được người bạn ấy. Anh là một Tiểu Đoàn Trưởng, suốt cả một đời trận mạc, không tơ hào của ai một đồng. Lương lính tháng nào xào tháng ấy, cho nên gia đình đã gần như khánh kiệt ngay sau khi Cộng quân chiếm được thành phố Huế. Tôi gặp lại anh vào năm 1985, trong một trại tù khác nằm trên đường mòn Hồ Chí Minh. Người vợ lặn lội từ Huế vào để thăm chồng. Quà cáp, chỉ là một vài gói cám rang trộn gừng và đường cùng một gói thuốc. Khi gặp nhau ở nhà thăm nuôi, hai vợ chồng chỉ ngồi nhìn nhau trong nước mắt…
Tôi hỏi anh, thì được trả lời: “Tao không thể nói được gì, dù tao rất muốn nói để xin lỗi vợ tao là chúng mình chưa chiến đấu hết mình nên đến nay nàng mới khổ. Mày biết không, một nách bốn đứa con, vợ tao làm sao sống nổi trong cái thành phố ấy.”
Những lúc như thế, tôi biết rằng bạn tôi nói thật. Người bạn đời của bạn tôi, vẫn sống được để đón người lính trở về. Nhưng người phụ nữ can đảm ấy chỉ được hưởng hạnh phúc còn sót lại đúng ba tháng trời trong cơn đau đớn của chứng ung thư. Rồi qua đời, rồi đem đi trái tim đã tan vỡ trong lòng người lính già nay đang định cư tại vùng hoang dã phía Bắc Minnesota.
Tôi không biện bạch cho chúng tôi trong thời kỳ đen tối ấy, thời kỳ mà cho đến nay, 25 năm đã qua, tôi cũng muốn quên đi để làm được những chuyện khác, nhưng nó vẫn như một vết thương , lúc nào cũng chỉ chực sưng tấy lên mỗi khi nhớ tới. Bởi vậy Lối Cũ Chẳng Sao Quên của Bích Huyền, là một tập hợp của nhiều đoản khúc góp lại thành một bi hùng ca của giới phụ nữ trong những năm tháng đen tối và vỡ vụn sau 30/4. Trường ca ấy, Bích Huyền không phải chỉ viết cho riêng bà, viết cho người con gái duy nhất của bà, Nguyễn Quang Diễm Uyển, mà cho biết bao nhiêu người phụ nữ đồng cảnh với bà trong những năm tháng khốn đốn, thay chồng nuôi con, gánh bớt cho chồng bao nhiêu nhọc nhằn.
Nuôi con. Vâng, hai từ ngữ đó là một âm điệu cổ điển từ ngàn xưa, thời mà chốn nhân gian hay hát những khúc hát nhẹ nhàng và thấm đượm của lòng từ mẫu. Cái khó khăn của công việc này cũng chỉ giản dị như cách diễn tả một trạng thái tự nhiên, không nói ra, không hát lên những điệu ru bên chiếc nôi đong đưa, người ta cũng biết, cũng hiểu. Nhưng nuôi con ở giai đoạn sau 30/4/1975 đã trở thành những thử thách. Người phụ nữ có chồng bị đẩy vào những trại tập trung không những phải gánh chịu những mỉa mai, trì siết của cuộc đổi đời cay đắng, mà còn gặp phải những khó khăn sập xuống từ lòng thù hận, khi họ chưa bao giờ biết buôn chui bán lậu,phải lăn lưng xuống đường phố buôn lậu bán chui, chưa bao giờ biết nói dối cũng phải nói dối, để cố bơi qua một dòng sông đầy những rác rến của một xã hội tan hoang, dối trá và lừa đảo. Trên dòng sông ây, có người phụ nữ vượt thoát được và cũng không thiếu những người phải buông trôi …
Nhưng cũng chẳng có người phụ nữ nào đáng trách trong hoàn cảnh ấy. Bởi vì, những khúc bi hùng tráng mà họ hát lên không phải là những biến khúc của sự tuẫn tiết, cũng không phải là những ngày tháng hào hùng của những nhân vật lịch sử như Trưng Triệu, mà đó là những biến khúc của sự nhẫn nại, khôn ngoan, chịu đựng trước những sóng gió khi không còn người đàn ông trong nhà.
“Trong gió bụi, tôi vẫn nhìn thấy một đôi mắt đẹp…”. Hình như Ernest Hemingway viết câu văn này khi mô tả những phụ nữ Tây Ban Nha bị kẹt giữa cái không khí đậm đặc oán thù của thời kỳ hậu nội chiến, tôi thấy thấm hơn là câu “Thân gái dặm trường”. Cái thấm hơn đó, không phải là do hình ảnh mà Hemingway đưa ra lãng mạn hơn, mà là vì hoàn cảnh của những người phụ nữ Tây Ban Nha những năm đầu thế kỷ 20 không khác gì hoàn cảnh của Bích Huyền 50 năm sau. Mỗi một kỷ niệm có liên hệ với đời sống Bích Huyền từ thời thơ ấu ở miền Bắc cũng như những năm tháng sau này ở miền Nam đều xuất hiện trong câu chuyện, giống như nó được trao cho vai trò tạo những hình ảnh phản diện để bà có thể vẽ lên được những bức tranh của sự thay đổi về cả không gian và thời gian. Giữa những hình ảnh đối chọi đó, người ta thấy hình ảnh nhỏ bé của người đàn bà trong cơn giông bão của lịch sử. Chỉ cần một mẩu nhỏ ký ức của Bích Huyền trong Đường Ra Vĩnh Phú, chúng ta có thể có được một bản vẽ chính xác:
“Ngồi trong toa con tàu Thống Nhất, tôi vẫn chưa hoàn hồn. Tay khư khư ôm chặt túi xách trong lòng, tôi nhìn theo Nụ len lỏi tìm lối ra giữa những người đang đứng lố nhố tranh giành nhau xếp đồ đạc. Gần tới cửa, Nụ còn ngoảnh lại nhìn tôi, mắt đỏ hoe. Nước mắt tôi làm nhòa đi hình ảnh Nụ trong phút giây ngắn ngủi chia tay. Nụ như bị xô xuống khỏi tầu. Xa xa, sân ga Bình Triệu dưới những ngọn đèn không đủ sáng, cảnh tượng vô cùng hỗn độn… Tiếng còi tàu hú vang báo hiệu đến giờ khởi hành. Tiếng còi dài văng vẳng trong đêm tối. Ngày xưa, khi còn bé, tôi đã từng được học những bài văn tả cảnh sân ga. Niềm vui xum họp, nỗi buồn chia ly, tiếng còi tàu lanh lảnh âm vang trong lòng, tùy theo tâm trạng mỗi người.”
“…Lòng tôi hôm nay, tiếng còi tàu nghe ghê rợn quá! Như tiếng rú, tiếng thét đe doạ con người thất thế, một thân một mình đi thăm nuôi chồng “học tập cải tạo”. Không có một bóng người đứng trên thềm ga tiễn đưa, không có một ngọn đèn vàng lẻ bóng hắt hiu, chỉ có hàng ngàn những con người lam lũ, hối hả, vội vàng trên sân ga, giành giựt từng miếng cơm thừa, từng manh áo rách…”.
Hoặc chúng ta có thể đọc một đoạn khác khi nhà văn, nhà giáo này gặp được mặt chồng:
“Bốn năm xa cách, chúng tôi nhận ra ngay những thay đổi của nhau. Thời gian và khổ cực. Cuộc sống bên ngoài cũng không mấy tự do. Khóc thì sẽ bị đuổi ra. Nhưng những giọt nước mắt vẫn lặng lẽ rơi.”
“Năm phút. Mười phút. Gần hết giờ thăm. Những câu hỏi, câu trả lời lạc lõng. Toàn những chuyện đã viết trong thư. Mấy cái gai nhọn lúc nào cũng muốn như đâm vào da thịt. Đi suốt cả chiều dài đất nước để có được mười lăm phút gặp nhau. Quà thăm được sắp lên xe trâu. Tôi nhìn theo chồng đứng vào hàng để giải về trại. Chồng tôi theo ra cổng nhà thăm nuôi, nhưng chỉ được đứng bên hàng giậu nhìn theo cho đến khi toán người đã khuất vào lùm cây …Thuở còn đi học, nghe cô giáo Tỉnh giảng Kiều say mê, nhưng lại chỉ thích Chinh Phụ Ngâm, để rồi ngày nay phải mang nỗi sầu cô phụ. Tôi nuốt nước mắt và bỗng dưng vạn vật mờ tất cả…”
Trong cái xã hội hoang nát, tiêu điều của bao nhiêu năm phải gò lưng dưới cái ách Cộng Sản, người ta vẫn có thể tìm lại được khá nhiều tấm lòng, những tấm lòng không bị chai mòn bởi hà khắc, bởi những cái đói khổ vô lý mà những người Cộng Sản mang cho họ. Điển hình của những người đó là ông Tuyển trong câu chuyện Lối Cũ Chẳng Sao Quên. Những tấm lòng ấy chẳng phải là di sản của một chủ nghĩa nào tạo nên cả. Nhưng khi đọc Lối Cũ Chẳng Sao Quên, tôi vẫn cứ tin rằng phải có điều gì linh thiêng lắm nên ở miền đất nước ấy, người ta vẫn có thể nhìn thấy những cánh hoa của tâm hồn người Việt mọc lên từ sỏi đá. Hãy nghe Bích Huyền mô tả về ông Tuyển:
“Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi. ‘Được biết cô về đây bốc mộ chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi sẽ hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây.’ Vầng trán cao, khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tốn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.”
Cũng do tấm lòng này mà công cuộc bốc mộ chồng của Bích Huyền xuông sẻ vào những phút chót:
“Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp được bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ. Suốt đêm qua, người anh lớn cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt anh tôi xúc động.Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bạn bè đã dồn tất cả cho người chết mang theo. Nước mắt tôi dàn dụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng gửi trong 5 ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ mi trắng ngà, có từng sợi chỉ xanh, hồng nhạt sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta…tất cả tôi đã tự tay xếp vào chiếc ba lô trước ngày anh đi trình diện…”
Khi đọc mẩu ký ức này trong Lối Cũ Chẳng Sao Quên của Bích Huyền, hình ảnh làm tôi chú ý chính là chiếc chăn đỏ. Chiếc chăn này trại tù thường phát cho những người tù. Nó dệt bằng một loại len làm từ những mẩu vải vụn ở những đống rác, do Trung Cộng dệt và sản xuất. Chăn rất nặng nhưng không được ấm lắm. Hành trang này để người tù đắp, gối đầu hay lót sàn nằm, và khi người tù chết, các bạn bè thường dùng nó để quấn xác người đồng cảnh xấu số. Ở trại tôi, do không có áo quan, nên chỉ quấn như thế và đem chôn. Những bộ quần áo trận đã vá đùm vá chặp cũng được bạn bè mặc vào hết cho đồng đội qua đời. Và cũng chính vì thế mà khi bốc mộ chồng, Bích Huyền mới nhìn thấy chiếc chăn đỏ ấy.
Khi còn chiến trận, người nằm xuống được đồng đội quấn bằng tấm poncho. Khi thua trận, lâm vào cảnh tù đầy, bạn bè dùng tấm chăn đỏ của nhà tù để quấn cái thân xác tả tơi của người lính. Nhưng chúng tôi vẫn gọi chiếc chăn đỏ là “da xích thố”. Không biết khi còn sống, Nguyễn Quang Hưng có khi nào nói tới chữ nghĩa đau đớn và bi hùng ấy, khi gặp vợ không? Dù sao, tôi vẫn nghĩ, những hình ảnh ấn tượng và xót xa nhất trong mẩu ký ức này là tấm chăn đỏ bọc thi thể của Hưng.
Dĩ nhiên trong Lối Cũ Chẳng Sao Quên, chúng ta còn bắt gặp không thiếu những hình ảnh nhẹ nhàng, mà phần lớn còn đọng lại từ tuổi thơ của nhà văn nữ này về đời sống thực, thiếu thốn, nhếch nhác, thiếu văn minh, văn hóa của một xã hội sau mấy chục năm bị những người Cộng Sản làm cho tha hóa, mai một. Những liên tưởng của Bích Huyền được mô tả một cách tự nhiên, và cũng chính vì thế nó tạo được ảnh hưởng trên toàn bộ tác phẩm của bà. Nó chợt đến chợt đi như tương lai chẳng bao giờ chắc chắn mà người dân miền Nam Bắc dường như đã quen mòn rồi. Cái khổ đã hằn lên khuôn mặt người dân như những nhát dao chém xuống đá, và con đường mà cả dân tộc bị buộc phải bước đi trên đó sẽ chỉ là một con đường cụt. Nó giống như những con đường mà Bích Huyền đã từng bước lên để theo dấu chân chồng. Nó cũng giống như những con đường đầy lau lách mà Bích Huyền trở lại để khai quật và chuyển hài cốt của chồng vào trong Nam. Đó là hai khối màu chính của bức tranh. Những con đường ấy dẫn đến thảm kịch cho Hưng. Không những Bích Huyền chẳng bao giờ quên mà còn nhiều phụ nữ ở đây chắc cũng có những con đường không quên được của một giai đoạn buồn bã trong đời họ.
“Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi cho kịp chuyến đò cuối cùng…”
Đó là câu kết của Lối Cũ Chẳng Sao Quên. Câu văn buồn man mác. Bởi vì, cũng chẳng biết cả dân tộc này rồi có kịp được chuyến đò cuối cùng hay không?
Bản tiếng Anh là của Quỳnh Diễm, một luật gia trẻ tuổi vừa mới tốt nghiệp. Quỳnh Diễm định cư tại Úc châu khi mới lên hai tuổi, nhưng tiếng Việt vẫn còn chảy mạnh trong trái tim người phụ nữ thế hệ thứ hai này. Cô đã tự nguyện dịch Lối Cũ Chẳng Sao Quên ra tiếng Anh “The Trail I Will Never Forget” để cho lớp trẻ có thể đọc được. Bản tiếng Anh khá hoàn chỉnh, nhưng tôi vẫn ngại rằng nếu không thêm phần chú thích thì các em sẽ không hiểu những từ ngữ mà chỉ có tù nhân và thân nhân mới hiểu được. Dù sao, tôi cũng vẫn nghĩ rằng, lớp trẻ sẽ rất hoan nghênh The Trail I Will Never Forget và cả người dịch nữa.
MỘT hiện tượng đáng được nhắc đến là những ban kịch lưu động của Nha Tâm Lý Chiến chia nhau đi trình diễn khắp miền Nam đất nước, từ Bến Hải đến Cà Mau. Những ban kịch nầy chuyên diễn những hài kịch tố Cộng, nhưng vẫn có phần đơn ca, song ca và hợp ca những bài hát bài tố Cộng. Tuy những vở kịch mà họ trình diễn dù không sâu sắc, nhưng thu hút quần chúng mãnh liệt. Những nghệ sĩ hài hước như Kim Bảng, Ngọc Trai, Hồn Nhiên (em trai của Ngọc Hà) và nhất là Xuân Phát làm cho ấm nóng sân khấu lộ thiên của các ban kịch ấy. Khán giả cứ tự tiện mà đến xem, không mất tiền mua vé. Về phần ca hát, những ban kịch nầy đã giới thiệu được những giọng hát sáng chói như sau:
* Kim Chi, Mỹ Hòa:
Kim Chi và Mỹ Hòa sau khi thôi cộng tác với các ban kịch lưu động trở thành các ca sĩ phòng trà. Kim Chi ở đây không phải là Thần đồng Kim Chi, bạn song ca với Thần đồng Quốc Thắng. Kim Chi ở đây có dáng dấp mỏng mảnh, giọng ca cũng mỏng mảnh. Khuôn mặt cô đẹp tươi sáng, nhưng vóc dáng cô mảnh khảnh và kiều nhược. Tuy nhiên, cô hát vài bài rumba khá hay, nhất là bài “Thuyền Về Bến Xưa” của Anh Việt.
Mỹ Hoà xinh xắn, duyên dáng, giỏi trang điểm, dù cô có màu da hơi ngăm đen nhưng cô có nét tươi trẻ nồng mặn qua màu sắc trang điểm tươi thắm. Mỹ Hòa có giọng hát trong trẻo, nhưng khi áp dụng giọng ngực thì giọng cũng khào khào và nồng ấm. Về sau, vào năm 1970, cô cùng hai chị em Uyên Ly và Kim Anh (hai cô nầy là em của nữ ca sĩ Minh Tuyết) lập thành Tam Ca Ba Con Mèo và chuyên hát nhạc Mỹ.
Mỹ Hòa có đóng một vai quan trọng trong phim Hoa Mới Nở (phỏng theo quyển tiểu thuyết Cô Hippy Lạc Loài của Nhã Ca) do Lê Dân đạo diễn. Cô đóng bên cạnh Bạch Liên, Cát Phương và Vũ Thái Bình. Lần đầu tiên đến với điện ảnh, cô tỏ ra thoải mái và thao túng, diễn xuất rất truyền cảm.
Khi ra hải ngoại, Mỹ Hòa chuyển qua hát cải lương bên cạnh Hữu Phước, Dũng Thanh Lâm, Chí Tâm, Minh Đức, Ngọc Lưu, Hương Lan, Hà Mỹ Liên, Kiều Lệ Mai … Dù có hơi yếu về nhịp, nhưng khi hát Vọng Cổ, cô có thừa những cái huê dạng và bay bướm để mê hoặc khán giả. Cô đóng vai thương đã hay, mà nhào qua đóng vai lẳng cũng rựa ràng lắm. Hiện nay, bắt đầu từ đầu năm 1977, mỗi xế Chúa nhật, cô làm mưa làm gió trong chương trình ca nhạc tại quán Đào Viên (quận 13, Paris).
Giao tình giữa Mỹ Hòa và tôi từ 1977 cho tới nay bao giờ cũng tốt đẹp, dù cả hai vì đa đoan công việc nên ít khi gặp nhau. Nhưng khi gặp nhau, cả hai đấu láo thật nhộn để rồi khi chia tay lại lười điện thoại cho nhau. Ở cô, tôi bắt gặp sự thông minh sâu sắc, những kinh nghiệm về cuộc đời rất chin chắn, niềm thông cảm thật bao la. Có một thời cô hơi đẫy người. Nhưng giờ đây cô lấy lại vóc mình thanh cảnh và sự tươi mát trẻ trung; dù chỉ nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng trông cô trẻ hơn tôi ít nhất 10 tuổi.
* Bích Huyền:
Khi chưa lấy chồng, Bích Huyền có vóc mình tuy hơi nhỏ nhắn, nhưng tròn lẳn và xinh xắn. Khuôn mặt chị có những nét đều đặn: mũi dọc dừa, mắt tròn bồ câu, đôi môi rõ nét và gợi cảm. Giọng của chị nồng ấm mềm mại. Chị hát và diễn kịch đều thu hút khán thính giả. Khi thôi cộng tác với ban kịch lưu động và trở thành vợ Xuân Phát, thỉnh thoảng Bích Huyền có hát trên sân khấu Đại nhạc hội do Kim Cương tổ chức. Nhưng không hiểu vì sao khi đứng trên sân khấu lớn trong một hí viện, chị lại mất hết sức thu hút dù giọng chị vẫn không mất âm lượng và dù nhan sắc của chị vẫn không suy giảm, vóc mình của chị không lệch lạc sau những lần sinh nở.
* Bích Sơn:
Bích Sơn là cháu kêu nữ danh tài Bích Thuận bằng dì. Cô có vẻ đẹp của một cô gái Nhật Bản, hao hao giống nữ hoàng điện ảnh Kim Ô Phương Tử (Kyo Machiko). Cô có một suối tóc dài bất hủ, một khuôn mặt đầy đặn, và cặp môi mũm mĩm. Giọng hát của cô hơi khàn nhưng làn hơi thật mướt, chuỗi ngân rập rờn. Khi thôi cộng tác với ban kịch lưu động, Bích Sơn học hát Vọng Cổ cùng một số bài bản cổ nhạc Nam Kỳ rồi đầu quân cho đoàn ca kịch cải lương Thúy Nga và trở thành nghệ sĩ ca kịch cải lương luôn. Sau gánh Thúy Nga, cô cộng tác các gánh Bích Thuận, Bích Sơn & Ngọc An, Thanh Minh, Bạch Vân … Cô đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1962. Cô có đóng các phim như Thế Hệ 20 do Năm Châu đạo diễn bên cạnh La Thoại Tân, Thẩm Thúy Hằng, Bích Thủy, Phương Mai, như Ngàn Năm Mây Bay do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn bên cạnh Lê Quỳnh, Bích Thủy. Thập niên 50, thời đại thanh bình. Mọi bộ môn trình diễn bắt đầu vươn lên trên đà phát triển mạnh, trừ ngành điện ảnh. Khắp các nơi đô thị, cuộc sống ăn chơi làm cho thị dân quên phắt đi những mầm mống ác hiểm ở nông thôn. Khi Việt Minh tập kết ra Bắc có để lại một số cán bộ nằm vùng khắp nơi, từ trong nội bộ của các cơ quan của chính quyền, từ mọi hoạt động văn hóa ở thành thị cho tới các sinh hoạt khác ở nông thôn. Nhất là nông thôn, một vị trí hoạt động rất lý tưởng cho họ để sau nầy khi lực lượng quân sự của họ từ Bắc len lỏi vào Nam thì đồng bằng miền Nam sẽ là cái bàn đạp để họ mở những mũi tấn công về phía đô thị.
Chính phủ của nền Đệ nhất Cộng Hòa vẫn không ngừng nghĩ những mưu kế để bứng trọn gốc những kẻ địch nằm vùng. Cảnh sát hương thôn chưa đủ hiệu lực phanh phui và tiêu diệt họ nổi. Thế là có tổ chức những cái gọi là Cải Cách Điền Địa và Diệt Trừ Sốt Rét. Những cán bộ của hai chiến dịch đó len lỏi vào trong nông dân và dân miệt vườn, mặt ngoài là cố giúp đỡ dân cải thiện nếp sống ở bùn lầy nước đọng, nhưng thực ra là dò xét và phăng tìm dấu vết bọn Cộng Sản nằm vùng. Nhưng hai chiến dịch nầy không bao lâu bị bãi bỏ vì các cán bộ của chúng ta bị bọn Cộng Sản nằm vùng bắt đem thủ tiêu. Chánh sách Ấp Chiến Lược cũng không tồn tại lâu vì gây ra nhiều oán ghét trong lớp nông dân, một phần vì họ bị Việt Cộng tuyên truyền bất lợi cho chánh sách, một phần dân chúng bị gom vào ấp không được bồi hoàn thiệt hại xứng đáng cơ nghiệp mà họ bỏ lại ngoài vòng đai của ấp. Cho nên mầm mống ác hiểm của Việt Cộng càng ngày càng bành trướng.
Nha Tâm Lý Chiến và Nha Thông Tin đã chỉ thị một số nhạc sĩ trong nha sáng tác những bài hát tuyên truyền ca tụng nào là Ấp Chiến Lược, nào là Khu Dinh Điền, nào là Khu Trù Mật để nói lên cái thắng lợi giả tạo của nhà cầm quyền trung ương lẫn nhà cầm quyền địa phương. Dĩ nhiên những bài hát đó chỉ tổ làm bực mình người nghe, trước hết là nhạc dở tồi dở tệ, sau đó là dân chúng oán ghét chế độ gia đình trị của anh em nhà họ Ngô. Tuy nhiên, ở những khu định cư dành cho người Bắc di cư như Hố Nai, Gia Kiệm, Cái Sắn, cuộc sống
được ổn định và trở nên trù phú. Vào thuở đó, chỉ có bài hát tuyên truyền “Ai Về Miền Cái Sắn” của Nguyễn Việt là được thính giả đón tiếp nồng hậu. Bài nầy thường được nữ danh ca Thái Thanh hát trên làn sóng điện. Đây là một bài hay; tài hoa của tác giả đã đưa công cuộc tuyên truyền vào lãnh vực nghệ thuật. Điều nầy rất hiếm xảy ra.
Mai nầy mùa lúa mới đơm bông
Tôi về tìm sức sống
Bên bờ giòng nước trong
Gió chiều đùa trăng thanh ngát hương
Sống hòa nhịp bốn phương
Cho lòng tràn mến thương.
Trong khoảng thời gian đó, có một vận sự và cũng là một hiện tượng đáng kể xảy ra trong khoảng gần cuối thập niên 50. Đó là vụ nữ nghệ sĩ cải lương Kim Hoàng ly khai gánh cải lương Nam Phi để lao vào lãnh vực Tân nhạc. Vận sự nầy, tôi đã tường thuật ở quyển Sàn Gỗ Màn Nhung, nhưng cũng xin nhắc lại ở đây cho có đầu có đuôi. Kim Hoàng là gái mồ côi cha mẹ được nữ hoàng sân khấu Năm Phỉ nhận làm dưỡng nữ.
Bà đã từng nuôi chị từ lúc chị hãy còn thơ bé và bà gắng công rèn luyện chị trở thành đào hát. Khi chị vừa lớn lên thì các chị em bà Năm Phỉ dùng lời ngon tiếng ngọt sao đó để đùn chị cho cậu Lê Tấn Để, em út của bà Năm. Chị tuy lấy chồng mà không yêu chồng. Trên sân khấu, chị bị nữ nghệ sĩ Bảy Nam, em của bà Năm Phỉ và cũng là mẹ ruột của Kim Cương chèn ép, không cho mặc trang phục hào nhoáng hơn Kim Cương, không cho đóng những vai trội hơn Kim Cương. Thật ra, Kim Hoàng diễn xuất thua Kim Cương, nhưng sáng đẹp sân khấu hơn Kim Cương. Lại nữa, về ca hát, Kim Cương không có giọng đẹp, lại nghẹt mũi, làn hơi hao hụt trong khi đó Kim Hoàng có giọng kim cao vút và làn hơi vừa dũng mãnh vừa phong phú. Tuy nhiên, vì gặp anh chồng Út Để đã nhu nhược hiền lành, lại sống nhờ nghề vẽ phông và áp-phích cho đoàn hát nên Kim Hoàng không dám phản đối kêu ca. Rồi một ngày kia nữ vô địch bóng bàn Như Mai xuất hiện. Chị Như Mai vốn là một người đồng tính luyến ái. Lúc đầu, chị ve vãn Kim Cương. Nhưng Kim Cương chướng mắt, gạt chị qua một bên. Cho nên chị xoay qua xun xoe Kim Hoàng. Thế rồi Kim Hoàng bỏ gánh theo Như Mai. Lúc đó, bà Năm Phỉ chết đã được 4 năm rồi. Bà Bảy Nam và cậu Út Để làm dữ, phanh phui với báo chí chuyện tình trái cựa của cặp Kim Hoàng & Như Mai. Tuy nhiên, Kim Hoàng vẫn cương quyết theo tiếng
gọi của trái tim và nhất là trốn thoát khỏi cái tánh khống chế nhỏ mọn của bà Bảy Nam. Khi chung sống với Như Mai, Kim Hoàng được bạn của mình nâng đỡ để có dịp trau giồi nghệ thuật và được tập cách sống theo một mẫu người đàn bà thanh lịch. Như Mai vận động cho Kim Hoàng hát trên sân khấu Đại nhạc hội. Không ngờ, chị ăn khách kinh khủng. Giọng hát vang lộng như tiếng Đại hồng chung và ngọt lìm lịm của chị làm cho khán thính giả trong hí viện như bị điểm huyệt. Bản “Nắng Đẹp Miền Nam” của Lam Phương nhờ Kim Hoàng mà trở nên nổi tiếng và bán chạy như tôm tươi. Sở trường của Kim Hoàng là hát những bản có hai câu thơ lục bát mở đầu để chị ngâm sa mạc như “Quê Mẹ” của Thu Hồ, “Bức Tâm Thư” của Lam Phương, “Quê Hương” của Hoàng Giác và “Nắng Đẹp Miền Nam” của Lam Phương. Mỗi khi xuất hiện trên sân khấu Tân nhạc, Kim Hoàng hiện thân là một nàng tiên, nhan sắc thùy mị dịu hiền, cung cách quý phái hơn Kim Cương nhiều. Như Mai đã gột rửa rất nhiều những cái vụng về quê mùa trong cách ăn mặc trang điểm, trong ngôn ngữ, cử chỉ, cách hành xử của Kim Hoàng. Do đó, Kim Hoàng lần hồi trở thành mẫu người phụ nữ thanh nhã và lịch lãm, không mặc cảm, biết tự tin. Do đó mà chị có thể đứng ngang hàng với Bích Thuận và Túy Hoa vốn là hai cô đào cải lương biết ca Tân nhạc. Và hơn thế nữa, thập niên 50 là thời đại vàng son
của Kim Hoàng trong khi đó Túy Hoa chớm già và Bích Thuận không hoạt động nhiều ở mọi bộ môn trình diễn được nữa.
Vận sự giữa Như Mai & Kim Hoàng khiến cho giới sành kịch ảnh và tân nhạc liên tưởng tới vận sự của đôi nghệ sĩ “gay” nước Pháp là thi sĩ kiêm điện ảnh gia Jean Cocteau và tài tử điện ảnh Jean Marais. Nhờ tình yêu của thi sĩ lỗi lạc Jean Cocteau mà anh chàng vô danh tiểu tốt ở giai cấp thấp là Jean Marais trở thành minh tinh điện ảnh hàng đầu của Pháp. Jean Cocteau hướng dẫn Jean Marais xem sách, tập viết văn, tập môn hội họa. Khi về già, Jean Marais viết được vài cuốn sách, vẽ tranh và nắn tượng để triển lãm.
Trên sân khấu Đại nhạc hội, Trần văn Trạch bớt ăn khách vì anh cứ trình diễn một số bài bản cũ nên khán giả bắt đầu nhàm chán. Minh Trang chớm già, vóc mình trở nên khô sau nhiều lần chửa đẻ. Tâm Vấn vì kết hôn với Thanh Nghị nên ít khi xuất hiện trên sân khấu. Những cây đinh sáng chói trên sân khấu Đại nhạc hội gồm có Khánh Ngọc, Ngọc Hà, Linh Sơn, Vũ Huyến, Mộc Lan, Anh Ngọc, Tuyết Mai & Duy Khánh, Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết, Kim Hoàng, Túy Phượng & Hoàng Cầm. Riêng nhạc sĩ Hùng Lân có đào tạo được ba cô nữ sinh là Ngọc Loan, Thu Hà và Lệ Thanh. Hát xướng chưa được bao lâu thì Ngọc Loan và Thu Hà giải nghệ. Thu Hà tiếp tục việc học để sau nầy đỗ Tú tài, lên học trường Đại Học Y Khoa. Chỉ có Lệ Thanh tiếp tục ca hát. Nhưng về sau, song song với việc theo đuổi khoa danh ở trường Đại học, Thu Hà gia nhập vào ban Tam Ca Đông Phương để hát chung với Tuyết Hằng và Hồng Vân.
Còn về sinh hoạt của giới sáng tác thì sao?
Kế tiếp đợt Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Nhật Bằng, Lê Trọng Nguyễn, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Trịnh Hưng là đợt Lê Dinh, Minh Kỳ, Hoài Linh, Song Ngọc … Đây là đợt có nhiều nhạc phẩm ăn khách, nhưng lại hiếm nhạc phẩm có giá trị.
Minh Kỳ có ba nhạc phẩm hay là “Giòng Thời Gian”, “Nha Trang”, “Nhớ Nha Trang”, Lê Dinh có “Người Em Xứ Thượng” … Về sau cả hai hợp cùng với Anh Bằng thành Lê Minh Bằng sáng tác bừa bãi những bản nhạc chạy theo thị hiếu quần chúng theo thể điệu boléro. Chính thật ra Anh Bằng vẫn có những bản khá độc đáo, chẳng hạn như “Nếu Vắng Anh”, “Sầu Lẻ Bóng” …
Sự xuất hiện của Nguyễn văn Đông cũng là một hiện tượng đáng kể. Bản “Đôi Bờ” của anh là một bản hay, nhưng nó không nổi tiếng. Phải đợi những bản “Phiên Gác Đêm Xuân”, “Sắc Hoa Màu Nhớ”, “Chiều Mưa Biên Giới”, anh mới nổi tiếng khắp mọi tầng lớp thính giả. Nhưng có lẽ bản “Mấy Dặm Sơn Khê” mới là một tuyệt chiêu của anh. Để lượm bạc, Nguyễn văn Đông sáng tác loại nhạc chiều theo thị hiếu quần chúng trong đó có bài “Khi Đã Yêu” và anh lấy biệt hiệu là Phượng Linh khi cho xuất bản những loại bài ca rẻ tiền ấy.
Đây là giai đoạn hiếm hoi những nhạc phẩm có giá trị. Những nhạc sĩ chân chính tuần tự rút lui vào bóng tối, để cho phường lái nhạc lộng hành. Nhưng Phạm Duy vẫn cứng cựa và vẫn đương đầu với sóng gió. Những bản “Tôi Còn Yêu Tôi Cứ Yêu”, “Hẹn Hò”, “Vần Thơ Sầu Rụng”, “Hoa Rụng Ven Sông” … Đặc biệt nhất là anh phổ thơ của Cung Trầm Tưởng, cống hiến cho khách sành điệu những bài thật đặc sắc nhưng cũng phổ thông trong quần chúng như “Tiễn Em”, “Chiều Đông”, “Mùa Thu Paris” v.v … Và tuyệt vời nhất là bản trường ca “Con Đường Cái Quan” gồm 19 ca khúc. Riêng Phạm Đình Chương thì có những bài như “Ly Rượu Mừng”, “Đón Xuân”, “Màu Kỷ Niệm”, “Mộng Dưới Hoa”, “Xóm Đêm” … Tuấn Khanh tung ra “Quán Nửa Khuya”, “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”, “Đêm Nầy Nghỉ Đỡ Chân” dù ăn khách kinh khủng đi nữa, nhưng có lẽ các bài “Mộng Đêm Xuân”, “Dưới Giàn Hoa Cũ”, “Chiếc Lá Cuối Cùng”, “Một Chiều Đông” mới chứng tỏ được cái tài hoa chân chính của anh. Lê Hoàng Long với “Gợi Giấc Mơ Xưa”, Huỳnh Anh với “Mưa Rừng” và “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” (phổ thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà), Nguyễn Hữu Thiết với “Màu Áo Thiên Thanh”, Hoàng Thi Thơ với “Phố Chiều”, “Tà Áo Cưới” đều là những bản nhạc không đến nỗi rơi vào quỹ đạo thương mại của bọn lái nhạc bắt đầu lộng hành. Tóm lại, Tân nhạc trong giai đoạn nầy không còn thu mình vào giới sành nhạc chọn lọc nữa mà nó bung ra quần chúng. Nhưng được cái nầy thì phải mất cái kia. Những nhạc sĩ bất tài nhưng biết nắm thị hiếu quần chúng dìm nhạc vào thị trường hạ cám quá ê hề và bừa bãi trong khi nhạc sĩ có tài năng căn bản đưa nhạc vào thị trường thượng vàng thì chẳng có bao nhiêu.
Đồng thời, nhạc ngoại quốc nhập cảng vào Việt Nam. Những nhạc phẩm được những giọng chân truyền của Mỹ như Nat King Cole, Andy Williams, Patti Page, Jo Stafford, Doris Day diễn tả những “Mona Lisa”, “Too Young”, hoặc “I Went to Your Wedding”, “Love Is a Many Splendored Thing”, “Que Sera Sera”, “Secret Love”, “The River of No Return”, đều là những bản nhạc có nhiều nề nếp chân truyền. Nhưng những bản “Mambo Italiano”, “Calypso Italiano”, “Banana Boat Song”, “Venus” đều là nhạc thời trang. Pat Boone, Ricky
Nelson, Paul Anka, Elvis Presley, Dalida đều là những ca sĩ thời trang và đều là thần tượng của giới trẻ Việt Nam. Pat Boone thì hơi khác là anh có thể hát những bản chân truyền như “Love Letter in the Sand”, “April Love”, nhưng anh cũng biết quấy nhộn qua các bản “Bernadine” hay “Why Baby Why” … Những ban hợp ca thì có ban The Platters, Trio Los Pechos, The Golden Gate là được giới trẻ thích hơn cả.
Cuộc tuyển lựa ca sĩ do đài phát thanh tổ chức tại rạp Thống Nhất đã giới thiệu được Thanh Sơn, Vũ Thành An và Nhật Thiên Lan. Thanh Sơn đỗ đầu trong kỳ chung kết vì anh biết xướng thanh. Vũ Thành An có giọng đẹp hơn Thanh Sơn, nhưng lại đứng hạng nhì vì anh xướng thanh không vững bằng Thanh Sơn. Còn Nhật Thiên Lan đỗ hạng sáu. Về sau, Thanh Sơn lẫn Vũ Thành An đều trở thành nhạc sĩ. Thanh Sơn sáng tác loại nhạc chiều theo thị hiếu quần chúng trong đó có bài “Màu Hoa Anh Đào” được các học sinh dùng làm nhạc cho các màn vũ của họ trên sân khấu học đường. Còn Vũ Thành An sáng tác những bản nhạc tình rất đẹp, được giới trẻ có khiếu thưởng ngoạn cao hâm mộ, trong đó có bài “Tình Khúc Thứ Nhất” và “Bài Không Tên Số 2″. Về sau, Vũ Thành An sáng tác thêm chín bài “Không Tên” nữa, nhưng chúng vẫn không có cái hấp lực nồng đậm bằng hai bài đầu của anh. Trong 3 năm cuối của thập niên 50, Mai Hương, Mai Hân, Bạch Yến và Bích Chiêu đã bắt đầu trưởng thành. Đoan Trang thì vừa đeo đuổi môn dương cầm ở trường Quốc Gia Âm
Nhạc vừa đeo đuổi việc sách đèn nên không còn hát ở đài Sài Gòn nữa. Quốc Thắng hãy còn là thần đồng hợp cùng Kim Chi, Tuyết Phương thành ba ca sĩ tí hon thao túng trên các sân khấu Đại nhạc hội. Kim Chi và Tuyết Phương ngân nga rựa ràng lắm. Lê Phi, Lê Út, Huỳnh Mai hoàn toàn rút lui vào bóng tối. Mai Hương càng lớn càng hát vững chãi với nội lực thâm hậu dọn một chỗ ngồi sáng chói trong hàng ngũ ca sĩ thượng thặng với nghệ thuật hát chân truyền sau nầy. Mai Hân càng lớn lên thì giọng hát càng lu, làn hơi không còn
phong phú. Bạch Yến bỏ đi theo đoàn môtô bay một thời gian rồi cùng Bích Chiêu làm mưa làm gió ở phòng trà Hòa Bình vào khoảng năm 1957 cho tới 1960. Sau đây tôi xin điểm mặt từng giọng hát:
* Mai Hương, Mai Hân:
Tuy hai cái tên có chữ Mai khởi đầu, tuy cả hai có bước khởi hành trong sự nghiệp ca hát giống nhau, nhưng tài nghệ lại khá xa cách nhau. Mai Hương có vóc người mảnh mai, vóc vạc mỏng mảnh ốm yếu, khuôn mặt mỏng, đôi mắt hơi nhỏ, cặp môi hơi dầy. Nhưng cô trang điểm và ăn mặc khéo nên vẫn có cái dễ nhìn riêng và nhất là có cái cốt cách riêng. Mai Hương có giọng lu và mỏng yếu. Nhưng âm sắc của giọng thì đẹp. Chuỗi ngân của cô nhỏ mức và tỉ mỉ như những nét thêu tuyệt xảo. Cô dàn trải làn hơi thật điêu luyện và tinh vi, không chỗ nào gãy và hụt hơi. Âm vực trong giọng hát của cô hẹp, nhưng cô lên cao hoặc xuống thấp dù không vang lộng, nhưng hát tới nơi tới chốn ở những chỗ hóc búa. Nếu gặp một kẻ không có kỹ thuật lão luyện như cô thì với tiếng hát dù có mềm mại nhưng bạc nhược như thế đó khó mà giúp đương sự hành nghề ca sĩ. Nhưng Mai Hương vẫn có ý chí, vẫn biết luyện giọng theo phương pháp chân truyền nên vẫn là một ca sĩ thượng thặng. Cô hát những bản “Hương Xưa” của Cung Tiến, “Serenata” của Enrico Toselli (Phạm Duy phổ lời Việt đặt cái tựa là “Chiều Tà”), “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss (tức “Le Beau Danube” mà do Phạm Duy phổ lời Việt) là những bản có nhiều chỗ lên cao, nhưng cô vẫn hát trôi chảy, dù rằng khi lên cao giọng cô mỏng như mạng nhện nhưng không tắc tịt, không tét, không chua, đã vậy cô còn hơi sức để ngân nga lăn tăn. Nhưng coi chừng đó, cô hát mà khán thính giả run sợ theo cô, chỉ sợ cô vấp bẫy ngã ngựa, vậy thì cô nên lựa những bản nằm trong âm vực của cô mà hát thì hay hơn. Bản “Hương Xưa” dù đã được Lệ Thu và Thái Hiền hát bằng giọng kim cao vút và phong phú, nhưng họ hát không sành điệu bằng Mai Hương.
Dù có tiếng hát kém về âm lượng, nhưng Mai Hương có kỹ thuật thâm hậu hơn Thái Thanh. Mai Hương hát dân ca và loại ca khúc âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương đều hay.
Đây là giọng rất kén người nghe. Nhưng nói cho cùng, Mai Hương chỉ hát hợp với làn sóng điện, băng nhạc, dĩa nhạc hơn là sân khấu Đại nhạc hội hay sân khấu phòng trà. Bởi cái nhan sắc khiêm tốn của cô không ăn đèn. Giọng cô đã lu mà cô lại cứ cầm khăn mù-soa đứng trước máy vi âm, hát mà không biết diễn tả sao cho sống động khi gặp bản vui hay không biết diễn tả niềm cảm xúc lâm ly khi gặp bản buồn. Cho nên xem Mai Hương hát, khán thính giả chỉ ước mong cô hát cho mau xong để họ thưởng thức tiết mục ca nhạc kế tiếp.
Mai Hương có người em gái tên Bạch Tuyết, cũng võ vẽ hát xướng, nhưng không có giọng tốt. Nhận thấy con đường ca hát không mở cho mình một tương lai sáng sủa nên cô cố gắng học ngành Dược để trở thành dược sĩ. Khi trở thành vợ của Ngọc Giao, Mai Hân ít ca hát. Vả lại cô không có làn hơi phong phú. Mai Hân thuở còn con gái chỉ xinh thôi chứ không đẹp. Về sau, khi có vài mặt con với chồng và vào tuổi ba mươi trở lên cô ăn diện thật diêm dúa, trang điểm thật thắm thật đậm. Giọng hát cô lại không có âm sắc đặc biệt. Cô không có cái ma lực đặc biệt để khuấy động sự thờ ơ của quần chúng và cũng không có kỹ thuật thâm hậu để làm cho khách sành điệu phải thán phục. Cho nên cũng như Tuyết Anh, cô chỉ hát trên làn sóng điện.
* Quỳnh Giao:
Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang vốn là hậu duệ của ngài Tuy Lý Vương Miên Trinh. Cô đã trưởng thành kịp lúc trong đầu thập niên 60 để hát chung với Mai Hương với cái biệt hiệu là Quỳnh Giao. Đây là một giọng kim cực kỳ phong phú, tươi non mươn mướt. Cũng như Mai Hương hay như Mộc Lan, Quỳnh Giao ngân nga thật vững vàng thoải mái. Giọng cô trong trẻo, nhưng sao mà có vẻ như giọng cô trinh nữ, không một chút gợi cảm nào. Nó còn gợi nên hình ảnh một thiên thần cánh trắng, một tiên nữ trinh khiết thơ ngây. Đôi lúc cô hát bằng một giọng gượng nhẹ làm người nghe có cảm tưởng đó là một phiến mây phiêu diêu hay một sợi tơ trời mong manh, không biết tan rã lúc nào. Nhưng coi chừng đó, giọng ấy khi vút lên cao thì vang lộng và ngời sáng, chuỗi ngân kéo dài theo ý muốn. Đây là một giọng có nội công thâm hậu, có một kỹ thuật già dặn. Hồi ở quê nhà, cô có lần lên đài truyền hình hát bài “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss. Cô hát thật dễ dàng, thoải mái, không chút cố gắng, tới chỗ ngân bằng nguyên âm (vocaliser) cô làm cho khán thính giả thỏa mãn ở làn hơi phong phú như thác nước Cam Ly và chuỗi ngân óng ả rập rờn. Mọi người đều thích Thái Thanh hát bài “Dòng Sông Xanh” và cho rằng chị hát bài nầy hay nhất. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng Quỳnh Giao hát đạt hơn. Tại sao? Bởi vì giọng của Thái Thanh hát theo lối nhấn từng chữ, hát theo điệu chầu văn quen thói quen nết rồi. Khi hát một bản nhạc cổ điển Tây phương, chị thả lối hát chầu văn vào đó dù là một chút xíu đi nữa thì có khác nào thả một thìa mắm tôm vào món “ra-gu” hay món sườn rô-ti của Tây. Quỳnh Giao có thể hát không tới nơi tới chốn những bản nhạc của Phạm Duy (về tình ý), nhưng những bản có âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương thì cô ăn đứt Thái Thanh ở cách trình bày trong suốt, không gợn đục bởi mắm tôm và tương Cự Đà. Quỳnh Giao là một nàng tôn nữ nhưng từ thuở nhỏ sống ở Sài Gòn. Cho nên cô nói giọng Nam. Khi kết hôn với anh Dương Ngọc Hoán vốn là người Bắc nên cô nói tiếng Bắc. Cô có vóc vạc mảnh mai, khuôn mặt thông minh và đoan trang thùy mị. Cô có học thức, lại tốt nghiệp môn dương cầm. Cho nên cô vẫn giữ cốt cách và phong thái của một quận chúa. Khuôn mặt cô có đôi lưỡng quyền hơi cao, nhưng không vì lẽ đó mà nó tối tăm. Thần thái cô sáng rỡ rỡ. Nụ cười của cô đằm thắm, cái nhìn đoan nghiêm. Cô ăn mặc nhã đạm, trừ lúc lên sân khấu sau nầy. Mà dù có ăn mặc diêm dúa và choáng lộn đi nữa, cô vẫn có cái sang trọng quý phái đặc biệt. Là trưởng nữ của nữ danh ca Minh Trang nên cô hát có đôi chút hơi hướm của giọng chị Minh Trang. Giọng cô trong quá có nhiều lúc hơi chát. Chỉ thiếu một chút khàn khàn thôi, cái giọng ấy mới lột xác giọng trinh nữ hay giọng thiên thần để trở thành gợi cảm như giọng chị Minh Trang. Điều đó, các bạn khỏi lo, trong hai dĩa nhạc “Khúc Nguyệt Quỳnh” và “Tiếng Chuông Chiều Thu”, cô hát cực kỳ điêu luyện như tự xưa giờ và cực kỳ gợi cảm ở chỗ khàn khàn khi xuống một nốt hơi trầm. Bước vào tuổi tứ tuần, cô có cái giọng thật thiếu phụ, ấm áp và nồng mặn hơn. Nhưng từ căn bản, đó vẫn là giọng hát trong như pha lê và sáng như gương báu. Chút khan khàn kia như một nét vân mềm làm cho phiến ngọc thạch thêm duyên dáng, thêm hoa mỹ vậy thôi.
Tôi quen với Quỳnh Giao vào năm 1971, khi tôi cộng tác với tờ tuần san Minh Tinh. Từ đó, có vài lần tôi đến tư thất của bà Ngọc Thuyền để viếng cô. Thuở đó, vợ chồng cô ở chung với bà, tại đường Trần Quang Khải (Tân Định). Sau nầy, vào năm 1977, tôi mới rời khỏi Việt Nam và định cư trên nước Pháp. Nhưng mãi tới năm 1985, tôi mới liên lạc được với cô qua sự trung gian của nhà văn nữ Vi Khuê. Từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi có viết thư cho nhau. Được biết cô thích văn chương và sốt sắng theo dõi văn chương Việt Nam ở hải ngoại, tôi rất mừng. Năm 1989, tôi có dịp qua Washington D.C ra mắt sách, vợ chồng cô có mời tôi lại nhà cô chơi. Thuở đó cô còn chung sống với anh Ngọc Hoán. Cả ba đưa nhau đi chơi núi, có trăm ngàn việc để kể cho nhau nghe, cùng hát những bản nhạc xưa ơi là xưa. Tối hôm đó cả ba cứ thức kể lể đủ thứ chuyện, và khi nhìn ra ngoài trời thì đã lờ mờ sáng. Tôi được gia chủ đãi một bữa điểm tâm thịnh soạn trước khi chuẩn bị khăn gói quả mướp qua viếng nhà chị Vi Khuê ở thành phố Burke.
* Bạch Yến:
Sau khi bỏ nghề môtô bay, Bạch Yến khởi nghiệp ca hát ở phòng trà. Dạo đó, cô có thân hình đầy đặn và nồng nàn, khuôn mặt dù không đẹp nhưng xinh tươi và duyên dáng. Với đôi vai hơi xuôi, cô mặc áo dài thật bắt mắt. Cái duyên dáng đậm đà nhất của cô là chiếc răng hơi khểnh bên mép trái. Giọng Bạch Yến có âm vực hơi hẹp, nếu cô không xử dụng thành thạo thì lên cao sẽ tét, xuống trầm sẽ nghẹt. Hồi cô còn son trẻ, tiếng hát của cô đã hơi khao khao rồi. Khao nhưng chẳng những không khô, mà trái lại còn dẻo mềm quyến rũ nữa. Sau nhiều năm trôi nổi ở hải ngoại, trước ngày chung cuộc của miền Nam đất nước, Bạch Yến luyện được một giọng óc vừa dũng mãnh vừa mượt mà óng ả. Bởi đó, khi hát bản nhạc Nam Mỹ “Malagueña”, khi lên cao cô chẻ qua giọng óc một cách khéo léo và ngân nga trác tuyệt làm khách mộ điệu phải mê mẩn rụng rời. Phải nói là Bạch Yến có cách diễn tả bài hát thật quyến rũ. Cô cùng Bích Chiêu là linh hồn của phòng trà Hòa Bình. Khách đến đó chỉ cốt nghe cả hai hát mà thôi. Hễ cô vừa xuất hiện trên sân khấu là như mang theo một cơn lốc bừng bừng phấn khởi. Đã vậy giọng hát cô như ướp bùa ướp ngải làm mọi người như bị thôi miên.
Nhắc tới Bạch Yến là giới sành điệu cũ nhớ tới những bản nhạc ngoại quốc thịnh hành trong hai năm cuối của thập niên 50 và hai năm đầu của thập niên 60 như: “Bernadine”, “Secret Love”, “The River of No Return”, “Calypso Italiano”, “April Love”, “It’s Now or Never”, “Diana” … Những bản “Hoa Xuân” hoặc “Yêu Tinh Tình Nữ” của Phạm Duy và nhất là bản “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương cũng được cô trình bày một cách điệu nghệ. Vào đầu thập niên 1962, Bạch Yến sang Pháp được mời hát nhà hàng ca nhạc Les Mandarins,
được hát trên Đại hí viện Olympia ở Paris, được mời thu vào dĩa Polydor. Đây là thời gian cô leo lên tuyệt đỉnh vinh quang vậy. Sau đó, nhận thấy khán giả người Pháp ăn xổi ở thì, chỉ thích cô hát qua một vài bản trong một thời gian nhai chưa dập bã trầu, cho nên Bạch Yến qua Mỹ hành nghề, sống lây lất đó đây theo kiểu những nghệ sĩ gạo chợ nước sông xứ mình, không gây được một chút tên tuổi ở địa danh nhỏ bé nào lâu.
Nhưng có lần Bạch Yến bảo tôi:
— Đáng kể nhất là nhờ hát bản “Đêm Đông” trên đài truyền hình ở New York, Yến đã chinh phục 40 triệu khan thính giả Hoa Kỳ.
Có lần tôi viết bài “Bạch Yến, Tiếng Hát Ngậm Ngùi” đăng trên tạp san Quê Mẹ số 25 (ngày 16/9/78), Bạch Yến chê:
— Bài viết còn quá nhiều thiếu sót. Thành tích của tôi cầu phải có một cuốn sách dầy cộm mới nói đủ. Hôm nào tôi sẽ cho anh xem những bài báo bên Mỹ viết về tôi. Tôi nghẹn lời, biết nói sao cho phải. Ở Pháp, báo vùng có hai ba tờ nhật báo. Nước Mỹ vốn rộng mênh mông, báo địa phương mỗi tiểu bang phải có cả hàng trăm nếu kể cả tạp chí lẫn nhật báo. Báo vĩ đại Mỹ nào viết về một ca sĩ của nước Việt Nam qua Mỹ hành nghề với tính cách tư nhân chứ không phải qua công việc trao đổi văn hóa như Bạch Yến đây?
Sau ngày cáo chung của miền Nam, Bạch Yến phải đi hát ở các nước Á Châu cho khách du lịch nghe để rồi trở về định cư ở Pháp và kết hôn với nhạc học giả Trần Quang Hải vào năm 1978. Từ đó, dù được Trần Quang Hải dìu dắt vào lãnh vực hát dân ca, nhưng với tiếng khao khao, cô hát dân ca không gợi cảm, dù cô nắm bắt được nhiều bí quyết hát dân ca đi nữa. Nói chung, suốt 15 năm qua, từ năm 1981 cho tới 1996, Bạch Yến tài nghệ giảm sút, tiếng hát trở nên hơi khô, thời đại hoàng kim chỉ còn là kỷ niệm xa lơ xa lắc. Đã bao lần cô bị chứng đau cổ, phải giải phẫu. Nhưng cô vẫn kiên trì luyện giọng.
Dù sao xét qua công trạng và thành tích trên 40 năm hành nghề ca hát, Bạch Yến vẫn là một danh ca hạng cừ, có nội lực thâm hậu trong giọng hát. Bạch Yến đã tạo được một vài thành tích hiển hách khi đem chuông đi đấm xứ người dù rằng tại xứ người tiếng chuông không vang xa đối với khán giả ngoại quốc và không lâu dài lắm. Nhưng tiếng hát của cô có một chỗ đứng riêng, có một sắc thái độc đáo, không ai chối cãi điều đó. Nó đến mỗi chúng ta bằng vẻ nồng đượm như mùi hương khói chiên đàn. Nó trải dài nỗi bàng hoàng trên băng nhựa, dĩa nhựa và trải rộng ở các phòng trà Hòa Bình, Kim Điệp, Tự Do. Làn hơi ngao ngán u hoài của giọng hát cô như lời than thở cô đơn của nữ danh ca Julie London. Cũng như Julie London, Bạch Yến có một chuỗi ngân điêu luyện và cách giát mỏng giọng hát thật trác tuyệt. Và vượt cả Julie London, Bạch Yến còn biết xử dụng giọng hát đó để đôi lúc hát nhạc kích động, làm nổi sóng cả một buổi trình diễn.
Vào năm 1966, Bạch Yến có cho thu giọng của mình vào một dĩa nhạc. Cô hát những bài nổi tiếng của Pháp như “Ne Me Quitte Pas”, “La Vie en Rose”, “Les Feuilles Mortes”, hoặc bản nhạc Ý như “Mama” hoặc bản Nam Mỹ như “Malagueña” với cái accent khá vững vàng. Dù rằng làn hơi cô kém phong phú, nhưng kỹ thuật vẫn khá điêu luyện, lối trình diễn cũng còn đôi chút quyến rũ.
* Bích Chiêu:
Cô không đẹp nhưng có duyên. Cô có hàm răng vẩu và lưỡng quyền hơi cao. Nhưng vẻ thông minh tinh quái chiếu sáng chan hoà khuôn mặt cô. Đã vậy, cô rất hồn nhiên, không hề che đậy khuyết điểm của mình. Thân hình của Bích Chiêu khá nồng nàn và khá cân đối. Đã vậy cô biết hóa trang và ăn mặc nên trên sân khấu cô có nét gợi cảm và thu hút riêng. Giọng Bích Chiêu phong phú và hơi khàn. Chuỗi ngân cô rập rờn và óng ả. Cô hát những bản “Mustapha”, “Diana”, “Innamorata”, “Histoire d’un Amour”, “Le Gitan”, “Never on Sunday” rất điệu nghệ. Về các bản Việt, cô xuất sắc ở bài “Mùa Hoa Phượng” của Lê Đô, “Nỗi Lòng” của Nguyễn văn Khánh. Buồn cười nhất là ở bài sau, cô khởi đầu bằng ba tiếng “I love you … ” tới đây cô ngừng lại. Khán thính giả tưởng đâu ai đó đặt lời tiếng Anh cho bản nầy để cô ca, nhưng cô lại tiếp theo: “ … cả một đời”. Mọi người bị xí gạt cười rùm lên tán thưởng cái thông minh tinh quái của cô.
Bích Chiêu hát rất trội, rất ngậm ngùi những ca khúc tình ái như “You Don’t Know Me” hay “I Went to Your Wedding” dễ làm say lòng người. Tôi còn nhớ Nguyên Sa có câu thơ “trải dài đại lộ bằng tiếng hát Bích Chiêu”. Bên cạnh Bạch Yến, Bích Chiêu vẫn là thần tượng lộng lẫy của giới trẻ vào cuối thập niên 50. Cô không để hào quang của Bạch Yến lấn áp hào quang cô một chút nào. Thấy báo chí quảng cáo việc Bạch Yến đem chuông đi đấm nước người thật huy hoàng hiển hách cho nên Bích Chiêu bèn khăn gói quả mướp dông qua bên Pháp. Than ôi, chuyến đi nầy cô chôn sống sự nghiệp ca hát của cô. Lúc cô qua bên Tây mong lập nghiệp thì Bạch Yến cũng đang cụ bị hành trang đi Mỹ để tìm môi trường sinh hoạt mới. Cuộc hôn nhân giữa cô và chàng trai nước Ý chẳng những làm chướng ngại cho sự nghiệp ca hát của cô mà còn làm cô dở sống dở chết vì cảnh vợ chồng đồng sàng dị mộng vì canh không ngọt mà cơm cũng không lành.
Năm 1972, Bích Chiêu về nước, được trình diễn một buổi dành riêng cho cô, để rồi âm thầm trở về Ý không trống không kèn. Cái hướng vọng ngoại bắt cô trả giá hơi nhiều. Vào hè 1996, tôi được gặp Bích Chiêu trong phần phụ diễn ca nhạc cho buổi lễ chào mừng Văn Bút Âu Châu (thuộc phe cánh Viên Linh). Cô vẫn giữ vẻ mặn mà mà gợi cảm ở sắc vóc. Khi hát bài “Summertime”, cô biểu diễn một làn hơi dũng mãnh như làn hơi nữ nghệ sĩ Liza Minnelli làm cho khan giả hoan nghinh nồng nhiệt. Bích Chiêu ngân nga thua Bạch Yến, nhưng làn hơi cô phong phú hơn làn hơi của Bạch Yến.
Đã vậy cô còn giữ âm sắc trẻ trung trong tiếng hát. Sau đó vài tháng, Bích Chiêu qua bên Hoa Kỳ tái xuất giang hồ được báo chí cổ võ lắm. Cô lại còn hát cho cuốn băng hình Thúy Nga, nghe nói cũng gặt hái ít nhiều thành công.
Trong giai đoạn năm năm cuối của thập niên 50, trong ca trường nhạc giới xuất hiện những khuôn mặt như Việt Ân, Thanh Hùng, Mai Trường, Duy Mỹ (bên nam), Kim Vui, Minh Tuyết, Tuyết Hằng (bên nữ) … Đó không phải là lực lượng hùng hậu lắm, nhưng vẫn có một vài chân tài, dù các tài năng đó không chói sáng và không tồn tại lâu dài đi nữa. Riêng ban Dân Nam đào tạo thêm nữ kịch sĩ Túy Hồng. Cô nầy chẳng những đóng kịch hay mà còn ca hát tiến bộ vùn vụt để trở thành một giọng hát có bản lĩnh vượt xa những giọng hát nữ bên ban Sầm Giang.
* Kim Vui:
Trước khi trở thành ca sĩ, Kim Vui là một nữ vũ công đồng thế hệ với Mỹ Á Lan, đồng thế hệ với vũ bộ Hoa Lư gồm Anh Thư, Lan Hương và Băng Tâm. Kim Vui cao lớn, đẹp bỏng cháy. Chị có khuôn mặt hao hao như khuôn mặt của nữ minh tinh gốc Thụy Điển Anita Ekberg pha khuôn mặt của nữ minh tinh Ý-đại-lợi Sophia Loren. Có lẽ trong hàng ngũ các nữ ca sĩ, các nữ kịch sĩ, các nữ minh tinh màn bạc, Kim Vui đẹp bốc lửa nhất, đa tài đa diện nhất. Có một dạo chị chụp ảnh cười phơi bày hai hàm răng ngọc trai khít khao và đều đặn để làm quảng cáo cho hãng kem Leyna. Chị cũng như Kiều Chinh trội hơn đồng nghiệp ở cặp giò dài. Chị hơn Kiều Chinh ở bộ ngực đồ sộ và tài ca hát có chân truyền. Chị thua Kiều Chinh là đóng phim quá ít và không đóng phim ở ngoại quốc, không được kiên nhẫn để đeo đuổi sự nghiệp đến tận cùng.
Ít lâu, Kim Vui chán nghề vũ. Dù là ở những màn vũ Ai cập, chị hiện thân là một thần nữ lướt mướt lụa the dệt kim tuyến lấp lánh. Nhưng chị nhìn xa hơn vì chị có giọng tốt. Nghệ thuật trình diễn nếu mất đi nữ vũ công Kim Vui thì lại được thêm một nữ ca sĩ có đủ nội lực thâm hậu hát bằng lối chân truyền song song với lối hát nhạc kích động của giới trẻ đương thời. Giọng hát Kim Vui ngọt và khỏe, tuôn thao thao lai láng như một trận mưa hè. Chuỗi ngân của chị cũng tinh luyện. Chị hát những bài nhạc Pháp bằng tiếng Pháp như “Bambino”, “Histoire d’un Amour”, “Le Gitan” đều hay, phát âm tiếng rựa ràng. Trong phim Chân Trời Tím, đạo diễn Lê Hoa Hoàng cho Thái Thanh hát “đúp” cho chị qua hai bản “Nửa Hồn Thương Đau” và “Người Đi Qua Đời Tôi” của Phạm Đình Chương. Tôi nghĩ họ Lê làm thế tức là chưa thưởng thức nổi một giọng hát cỡ cao như giọng hát của chị Kim Vui. Nhân dáng, cử chị của Kim Vui thật vương giả, thật tự nhiên, cao sang từ bản chất, không õng ẹo điệu đà. Khi tiếng hát Thái Thanh với cách ngoai mồm và nghiến từng tiếng trám vào họng Kim Vui, tôi e tiếng và người chẳng đi đôi. Vả lại, Kim Vui thừa sức hát hai bản đó, hát hay cũng như Thái Thanh, tuy không theo phong cách hát của Thái Thanh.
Kim Vui mặc áo dài thì áo dài phải mang ơn chị, vì nhờ chị mà áo mới đạt được cái đẹp trong công việc bợ ngực bó eo người mặc. Cái eo của chị thon, lưng chị dài, đùi chị cũng dài, ngực và mông chị đều cao và lồng lộng nét tròn mê hoặc. Chị mặc áo đầm hở vai, và mang găng tay kéo lên khuỷu tay, áo và găng đều bằng nhung đỏ hay nhung đen thì quá choáng lộn, quá bốc lửa như Rita Hayworth trong phim Gilda. Kim Vui cuốn tóc từng lọn boucles anglaises thì đẹp và sang như bà hoàng. Rất tiếc, khán thính giả thích xem nhan sắc của chị lúc chị hát chứ không kể số gì tới giọng hát có căn bản của chị. Có một dạo, Kim Vui theo ban Thoại kịch Kim Cương, đóng vai độc rất tới trong hai vở kịch Lỡ Một Bước Đường, Tôi Là Mẹ. Nhận thấy rằng trong ban Thoại Kịch Kim Cương, Kim Cương giành hết những vai thương cảm, còn vai độc vai lẳng dành cho mình, cho nên chẳng bao lâu Kim Vui tách khỏi ban kịch ấy.
Về phim ảnh, Kim Vui đóng ba phim như Thương Hận, Chân Trời Tím và Cúi Mặt. Chính nhờ vai Liên trong Chân Trời Tím, chị đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc. Trong phim nầy, chị có dịp mặc áo tắm và có dịp khỏa thân trước giá vẽ của nhân vật họa sĩ để phô bày đường cong nét lượn tuyệt mỹ trên thân thể chị. Hùng Cường, bạn đồng diễn của chị trong phim Chân Trời Tím có lần tuyên bố với báo chí rằng về điện ảnh, Kim Vui là bạn đồng diễn lý tưởng nhất của anh.
Ngoài tài năng nghệ thuật trình diễn đa diện, Kim Vui còn biết vẽ tranh sơn dầu.
* Túy Hồng:
Tên thật của chị là Trương Ánh Tuyết, quê ở Bình Dương. Thuở còn con gái, chị có khuôn mặt tròn thật ăn ảnh và thật duyên dáng cùng vóc mình nhỏ bé và xinh xắn. Trên làn sóng điện, Túy Hồng thủ những vai nhì sau Túy Phượng trong các vở thoại kịch do Anh Lân biên soạn cho ban Dân Nam. Nhưng khi các vở những kịch nầy được đưa lên sân khấu thì các vai của Túy Phượng lại giao cho Kim Cương, nhưng Túy Hồng vẫn giữ vai cũ của mình. Túy Hồng lúc khởi nghiệp hát không hay. Về sau, nhờ có nhạc sĩ Lam Phương chỉ dẫn nên chị hát rất nghề. Những bản nổi tiếng của Lam Phương như “Chiều Tàn”, “Đèn Khuya”, “Mộng Ước”, “Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi” được chị trình bày thật truyền cảm. Và nhất là bản “Phút Cuối” mà chị cùng hát với Diên An và được thu thanh vào dĩa Việt Nam loại 45 tours phải nói là tuyệt chiêu. Giọng Túy Hồng trong và hơi chát, nhưng chị biết xử dụng làn hơi để che lấp cái âm sắc chát chát đó để rồi thả vào giọng những tình cảm nồng mặn đậm đà. Chuỗi ngân của chị rất điêu luyện. Tiếc thay về sau người ta chỉ mến chị qua vai nữ kịch sĩ Túy Hồng chứ không mến chị qua nữ ca sĩ Túy Hồng. Chị ca hát hay mà rồi rốt cuộc như người mặc áo gấm đi đêm. Về điện ảnh, Túy Hồng có đóng ba phim: Gác Chuông Nhà Thờ (do Lê Hoàng Hoa đạo diễn), Nhà Tôi (do Lê Dân đạo diễn) và sau hết là phim hài hước Lệnh Bà Xã …
* Minh Tuyết:
Chị xuất hiện ở các phòng trà, các quán ăn ca nhạc từ năm 1955. Mặt chị trái soan, sóng mũi dọc dừa, cặp mắt hơi nhỏ, chiếc miệng hơi rộng, nhưng thân hình khá nồng nàn sinh lực. Minh Tuyết có cái duyên thâm trầm. Mới nhìn thì thấy chị không đẹp, nhưng nhìn chị lâu, chúng ta thấy chị đậm hẳn lên. Giọng hát của Minh Tuyết hơi yếu, làn hơi không dồi dào. Nhưng chị biết gói ghém dè sẻn làn hơi để khi lên cao và xuống trầm không hụt hơi một cách sỗ sàng lộ liễu. Tóm lại, Minh Tuyết hát chỉ nghe được mà thôi chứ không mê hoặc được ai. Minh Tuyết là chị ruột của hai con mèo Uyên Ly và Kim Anh trong ban Tam Ca Ba Con Mèo.
* Tuyết Hằng:
Chị có nhân dáng một người nội trợ thuộc giai cấp trung lưu hơn là nhân dáng một nghệ sĩ. Chị có vẻ hiền lành phúc hậu, khuôn mặt đoan trang và rực rỡ thần thái thông minh. Nhưng đây là một giọng hát chân truyền được rèn luyện đúng mức, có thể được xếp vào hạng thượng thặng như Kim Tước, Châu Hà, Mộc Lan, Mai Hương, Quỳnh Giao.
Tuyết Hằng cởi mở mà không lố lăng, cách ăn nói khiêm tốn. Chị có thể thay thế một trong bộ ba Kim Châu Mộc để tam ca với hai người kia. Tiếng hát chị theo nề nếp khít khao, đạt đến kỹ thuật cao. Khi cùng Thu Hà và Hồng Vân thành lập Tam Ca Đông Phương, Tuyết Hằng cộng tác với phòng trà Đêm Mầu Hồng, tên tuổi chị mới vang xa. Chị hát trội hơn Thu Hà và Hồng Vân về kỹ thuật, nhưng thua Hồng Vân về nghệ thuật trình diễn vì Hồng Vân có cái lẳng lơ tuyệt xảo khi diễn tả một bài hát. Chị đẹp hơn và sắc sảo hơn Thu Hà, nhưng không sáng hơn Hồng Vân vì Hồng Vân có nụ cười dí dỏm và rạng rỡ cùng ánh mắt loáng gương.
Vào năm 1971, khi tôi cộng tác với tuần san Minh Tinh, có thường đến phòng trà Đêm Mầu Hồng và có dịp trò chuyện với Tuyết Hằng, có dịp nhắc đến anh Nguyễn văn A, giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc đã từng đỗ bằng hòa âm và đối điểm. Anh A là bạn hàng xóm của tôi khi cả hai cùng ở dưới mái đông lang của Thánh Thất Cao Đài Từ Vân ở đường Nguyễn Huệ trên Phú Nhuận. Chính anh A đã khuyên chị Tuyết Hằng ghi tên học âm nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc để mở rộng kiến thức và để luyện giọng cho đến mức tinh xảo.
* Việt Ấn:
Là người Việt lai Ấn nên anh có mầu da sậm, thân vóc to lớn, cặp mắt hơi trố. Nhưng mặt mũi anh thấm nhuần vẻ hiền lành, hễ ai gặp anh là có cảm tình với anh ngay. Việt Ấn đi hát từ thời nhạc sĩ Lê Thương lập ban nhạc kịch gồm có Mộc Lan, Bích Giang (sau đổi lại là Tuyết Vân), Yến Hương, Phạm Đức, Dương Ngô Cầm. Giọng anh rất phong phú về âm lượng, lại sang sảng như chuông. Chỉ tiếc một điều là anh không ngân nga vững vàng, khi có khi không. Việt Ấn thường hát “Tiếng Hát Dân Chàm” của Châu Kỳ, “Hận Đồ Bàn” của Xuân Tiên. Bài sau đưa tên tuổi anh sáng rực trên đài danh vọng, nhưng sau đó Tổng Thống Thiệu lại cấm bài đó được trình diễn vì ông cho rằng đó là nhạc vong quốc.
Tội nghiệp cho Việt Ấn, anh chết vì tay một tên cao bồi du đãng mà chính quyền không thể truy nã được dấu vết của tên hung thủ ấy. Anh chết giữa lúc anh bước vào tuổi tứ tuần và giữa lúc danh vọng anh chưa hề giảm thiểu ánh hào quang.
* Thanh Hùng:
Anh đến ca trường nhạc giới bằng vóc dáng thư sinh, bằng khuôn mặt khôi ngô, bằng giọng hát cực kỳ dũng mãnh, cao vút và vang lộng với một chuỗi ngân trác tuyệt. Đây là giọng ténor mà chỉ có Lê Mộng Hoàng và Cao Thái mới có. Bởi có giọng quý giá như hoàng kim bảo ngọc ấy nên Thanh Hùng thường chọn những bản có chỗ lên cao như “Vọng Ngày Xanh” của Khánh Băng, “Tiếng Dương Cầm” của Văn Phụng, “Tình Không Biên Giới” của Văn Lương. Ngoài ra anh chọn những bài hát cao vút đã giúp cho ca sĩ Tây-ban-nha Luis Mariano nổi tiếng trong đó có bài “Le Chanteur de Mexico”. Ở bài nầy, Luis Mariano khi đến câu chót chẻ qua giọng óc mỏng và dẻo nghe mà mê luôn! Lúc đầu Thanh Hùng không chẻ được qua giọng óc như Luis Mariano, nhưng anh đâu có chịu khuất phục dễ dàng như vậy. Anh gia công tập luyện để chừng một thời gian ngắn sau, anh biểu diễn giọng óc vang lộng và tinh xảo của mình không kém Luis Mariano bao nhiêu.
Về âm lượng phong phú, tiếng hát của Thanh Hùng làm thính giả có cảm tưởng đó là con sông Cửu Long, con song Hồng Hà cuồn cuộn láng lai vào mùa nước nổi. Nó còn gợi luôn cái dũng mãnh ào ạt của thác Cam Ly ở làn hơi thật mạnh và thật phong phú.
Thanh Hùng thường được ký giả Trọng Minh (Vũ Trọng Chất) mời đóng loại roman-photo đăng từng kỳ trên các loại báo phụ nữ (Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai … chẳng hạn) vì khuôn mặt anh rất ăn ảnh và nhất là anh ăn mặc rất bảnh bao.
Dù gì thì dù, tiếng hát của Thanh Hùng khá phổ thông trong giới khán thính giả chọn lọc và trong quần chúng. Khác với trường hợp của Kim Vui, anh có tài ca hát và được đời đãi ngộ xứng đáng. Vào năm 1965, Thanh Hùng được bầu làm nam ca sĩ ăn khách nhất, trong khi đó Phương Dung được bầu là nữ ca sĩ ăn khách nhất.
Hè 1993, khi Trọng Minh qua Paris ra mắt sách, tôi có gặp Thanh Hùng đến dự. Anh cho biết rằng anh được phép qua Pháp thăm người con trai và tháng sau phải trở về Việt Nam. Kỳ đó anh cùng ca sĩ Cao Thái hát những bản ruột của cả hai. Tôi cũng có dịp cùng anh nhắc nhở tới sinh hoạt của giới ca nhạc vào hai thập niên 50 và 60. Và chúng tôi có dịp nhắc tới hai danh ca lừng lẫy Mario Lanza và Luis Mariano vốn có giọng ténor sáng giá đã từng mê hoặc khán thính giả hoàn cầu trong các thập niên 40, 50 … Thanh Hùng cho biết:
— Anh biết chứ, thuở mới lớn tôi coi Lanza và Mariano như thần tượng. Phim nào mà họ đóng, tôi tìm xem cho bằng được. Tôi cũng sưu tầm dĩa hát của họ để nhái theo họ mà hát. Năm 1965, Thanh Hùng chiếm Huy Chương Vàng giải ca sĩ ăn khách nhất, bên nữ thì có Phương Dung.
* Duy Mỹ:
Phòng trào nghe dĩa ngoại quốc để hát được nhạc ngoại quốc đã quyến rũ chàng nam sinh Duy Mỹ trước đó là học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Nhưng trước khi chuyển qua lãnh vực hát xướng, Duy Mỹ hợp cùng Duy Thanh và Bạch Yến thành Vũ Bộ Bạch Yến, chuyên ăn mặc trang phục Tây-ban-nha và vũ theo điệu múa flamenco của Tây-ban-nha. Khi Bạch Yến ly khai thì hai chàng Duy Thanh, Duy Mỹ đưa Mai Ly vào thay thế. Giọng hát của Duy Mỹ rõ và khỏe. Khán thính giả chỉ thích anh hát những bài nhạc ngoại quốc hợp với giới trẻ chứ không thích anh hát loại nhạc cây nhà lá vườn. Anh rất trắng trẻo xinh trai, chẳng những không “bột” mà còn khôi vĩ nên rất được các khán giả nữ sinh ái mộ. Đây là giọng nam ăn khách ở phòng trà và ở sân khấu Đại nhạc hội. Có một dạo, anh cộng tác với phòng trà Tùng Lâm & Lệ Liễu ở đường Chi Lăng (Phú Nhuận), vào năm 1961 thì phải. Anh vẫn hát nhạc ngoại quốc ở đó và đôi khi cao hứng anh nhào qua đóng kịch với Tùng Lâm và Bạch Lan Thanh. Duy Mỹ về sau lập ra ban Tam Ca Sao Băng với Thanh Phong và Phương Đại. Nhưng anh lu mờ trước hai chàng ca sĩ kia.
* Ngọc Phu:
Anh có vóc vạc vừa tầm, mảnh khảnh mà rắn rỏi, khuôn mặt khôi ngô, sống mũi dọc dừa, nụ cười ngạo nghễ, ánh mắt dò xét. Anh không “đô” con, không có bắp thịt nổi cuồn cuộn. Nhưng trông anh vẫn tràn ngập nam tính. Trên màn ảnh, anh rất ăn ảnh và rất điển trai. Giọng anh cũng thường thôi, hát trơn ngọt, nhưng không có âm sắc đẹp. Đã vậy anh không biết ngân nga. Trên sân khấu anh mê hoặc khán thính giả qua bài “Banana Boat Song” theo thể điệu Calypso. Anh cũng thường hát những bài theo thể điệu nầy, đó là những bản đã từng được ca sĩ da đen Harry Belafonte diễn tả. Thường anh xuất hiện với chiếc quần màu xám ngọc trai, áo veste bằng nhung đen có rắc bột sáng lấp lánh nhiều màu xanh đỏ như áo của các ảo thuật gia.
Về điện ảnh, Ngọc Phu đã đóng vai chính trong phim Người Vợ Hiền bên cạnh nữ nghệ sĩ Kim Lan, do Trần văn Trạch đạo diễn. Anh còn đóng các vai then chốt trong loạt phim do Trần văn Trạch đạo diễn như Thoại Khanh Châu Tuấn (bên cạnh Kim Cương, Yến Hương và Vân Hùng), My Nương Trương Chi (bên cạnh Kim Cương, Trang Thiên Kim và La Thoại Tân), Tam Tạng Xuất Gia (bên cạnh Kim Hoàng). Về sau, anh và Ngọc Đức là hai tài tử lớn chuyên thủ vai phụ rất đạt trong nhiều cuốn phim danh tiếng, tạo được một hào quang riêng biệt trên vòm trời điện ảnh. Có một dạo Ngọc Phu đeo đuổi nghề nhiếp ảnh và trở thành tay nhiếp ảnh khá thành công.
* Mai Trường:
Đây là một giọng hát nhẹ nhưng vang lộng. Tuy thế, phần ngân nga của anh không vững vàng lắm. Tiếng hát anh chẳng có gì đặc biệt, nhưng cũng tạm gọi là một tiếng nghe được, đẹp và sáng hơn tiếng hát của Thanh Thoại và của Nhật Bằng.
Mai Trường có khuôn mặt thật trí thức, thần thái sáng lồng lộng. Thân hình anh hơi nhỏ, nhưng có một dạo anh tập thể dục thẩm mỹ để trở thành lực sĩ đẹp theo kiểu Steve Reeves (người đã đóng vai Hercule trong nhiều cuốn phim thần thoại). Quả nhiên, anh có thân hình đáng đem dự cuộc tuyển chọn lực sĩ đẹp. Tuy nhiên, bắp thịt anh nở nang quá mức, không cân đối với tầm vóc hơi thấp của anh. Nhưng dù sao trông anh vẫn đẹp: hai tảng ngực căng phồng như hai cánh buồm lộng gió, hai cái dorsaux vạm vỡ, bắp tay và bắp đùi nổi cuộn cuộn. Mai Trường có đóng một vai quan trọng trong phim Nước Mắt Đêm Xuân do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn bên cạnh Nguyễn Long, Lệ Quyên và Giáng Hương. Chính trong phim nầy, anh hát nhạc phông bản “Ngày Đó Chúng Mình” của Phạm Duy. Anh cũng sáng tác nhiều bản nhạc ướt át, nhưng chỉ có bản “Hồn Bướm Mơ Tiên” mà anh soạn chung với Tô Vân mới được nhiều người biết đến qua giọng hát diễn tả của Tuyết Mai.
Mai Trường kết hôn với bà chủ thầu may quân phục ở đại lộ Trần Hưng Đạo, đối diện với Công Trường Quách thị Trang (Sài Gòn). Bà vợ của anh vốn kém sắc và có vẻ lớn tuổi hơn anh, lại có vẻ quê quê. Anh đành giải nghệ, cam phận ngồi ở xưởng nhà để may quân phục. Vào năm 1973, tôi tháp tùng theo nhạc sĩ Tô Vân đến viếng anh. Anh mập ú và trắng bủng beo đang ngồi kết mũ lưỡi trai, vẻ mặt mệt mỏi sật sừ, khuôn mặt lúc nào cũng trĩn ướt mồ hôi. Anh nhắc lại thuở còn theo nghề hát của mình bằng giọng thờ ơ, không có vẻ gì xót xa tiếc nuối.
* Quang Minh:
Quang Minh xuất hiện trong đầu thập niên 60 trên sân khấu Đại nhạc hội Kim Cương. Anh rất khôi ngô, khuôn mặt hóa trang của anh rất ăn ánh đèn sân khấu. Anh hát rất vững, ngân nga tinh vi, rõ ràng đây là giọng được luyện tập theo phương pháp chân truyền. Nhưng than ôi, ở đời làm gì có nhiều tri âm đối với một giọng hát hao hao như giọng Anh Ngọc ấy? Bởi anh hát đơn giản quá, bởi anh dựa trên kỹ thuật mà hát, không biết uốn éo làm duyên nên giọng anh chuồi qua tâm hồn khán thính giả bằng những bước chân rón rén âm thầm để rồi trôi vào niềm lãng quên của họ. Về sau, Quang Minh xoay qua ngâm thơ trong ban Tao Đàn và ban Thi Nhạc Giao Duyên do Đinh Hùng phụ trách. Với giọng phong phú, với chuỗi ngân dễ dàng và trác tuyệt, cộng thêm một chút tình cảm nồng đậm trong khi diễn tả một bài thơ, chẳng mấy chốc mà anh nổi tiếng trong địa hạt mới nầy. Và chẳng mấy chốc mà anh vượt cả Hoàng Thư, Quách Đàm và luôn cả Tô Kiều Ngân.
Dù gì thì dù, anh vẫn thích ca hát, nhưng khán giả sành điệu quá ít. Tiếng hát chân phương của anh không thể khua động vào khiếu thưởng ngoạn của đa số quần chúng nên tên tuổi anh đành mai một ngày khi anh tách rời ban Tao Đàn và ban Thi Nhạc Giao Duyên.
Năm 1973, tôi tình cờ gặp anh trong một buổi tối ca nhạc bỏ túi ở Phú Nhuận do nhạc sĩ Hoàng Bá tổ chức. Nhờ nghệ sĩ diễn ngâm Đoàn Yên Linh mà tôi được hầu chuyện với anh. Hôm đó anh tới chơi chứ không có hát xướng gì cả. Anh có vẻ xanh xao bịnh họan, vai co rút, lưng còng. Trời đất ơi, thần thái sáng lộng lẫy như gương của anh chỉ còn là kỷ niệm. Mặt anh mờ nhạt lu câm, cái nhìn mệt mỏi. Tôi đến bên anh để tỏ lòng ngưỡng mộ giọng hát của anh mà giới sành điệu cho rằng đó là giọng hát Anh Ngọc thứ hai.
Năm 1989, vào đầu hè, tôi sang Washington D.C ra mắt sách. Trong thời gian ở chơi tại Hoa Đô, tôi được nhà thơ nữ Lê thị Ý ở Maryland mời đến ăn tiệc sinh nhật của chị. Hôm đó có nhà thơ Vĩnh Liêm, vợ chồng nhà văn Trần Long Hồ, nghệ sĩ thổi sáo Thanh Hà, anh Quang Minh và tôi. Tiệc tổ chức ở sân sau, chỗ dùng đặt bếp than để nướng thịt và đặt những chiếc bàn cây dài. Quang Minh có cho tôi biết hôm tôi ra mắt sách anh cũng có đến dự. Cả bọn nhẩn nha ăn uống từ lúc bóng hoàng hôn chói rực trên những ngọn cây cao cho tới
lúc bóng đêm kéo về. Tiệc tan, cả bọn leo lên phòng khách uống trà. Chúng tôi yêu cầu Quang Minh hát và ngâm thơ. Thanh Hà đến bên cây dương cầm dạo nhạc. Quang Minh chỉ có thể ngâm thơ bằng giọng truyền cảm như thuở nào. Nhưng anh không thể hát suông sẻ dễ dàng như xưa nữa. Anh bỏ hát quá lâu, trên 20 năm có lẻ. Nhưng được cái anh không già hơn bao nhiêu. Anh lấy lại đôi chút thần sắc sáng rỡ, nhưng có vài nếp nhăn đã gợn trên vầng trán sáng nhuận của anh.
Sau hết, tôi xin nói thêm đôi chút sinh hoạt ca trường nhạc giới trong thời gian nầy. Quốc Thắng có cô bạn đồng diễn của mình là Thần Đồng Phương Lan. Phương Lan xinh tươi mũm mĩm như búp bê chứ hát không hay, nhưng đóng kịch thì truyền cảm lắm. Đã có Phương Lan thì phải có một nữ thần đồng khác có cái tên khởi đầu bằng chữ Phương ra đời. Vậy là đến lúc Phương Mai xuất hiện do sự bảo trợ của nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và nữ ca sĩ Mai Hương. Phương Mai hát điêu luyện lắm, xuất hiện trên các sân khấu Đại nhạc hội liên miên. Về sau, cô đóng một loạt phim như Thế Hệ 20, Mười Năm Giông Tố … bên cạnh nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng do Năm Châu đạo diễn.
Trưởng ban Thiếu Nhi là nhạc sĩ Nguyễn Đức đã đào tạo một loạt thần đồng, nhưng sáng giá nhất chỉ có Hoàng Oanh, Thanh Lan và ba cô Vân là Bích Vân, Ngọc Vân và Phước Vân. Khi năm cô nầy trưởng thành thì anh đào tạo các cô Phương khác như Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc …
Trong thời gian nầy, tên tuổi Thái Thanh sắp bị lu chìm. Nếu không nhờ báo chí hết lòng bảo vệ và quảng cáo cho chị thì nhà văn Mai Thảo không có cơ hội đã tặng cho tiếng hát chị một cụm từ quý giá: “Tiếng Hát Vượt Thời Gian”. Còn Minh Trang vì uống thuốc suyễn quá dược lượng nên tiếng bị hư hao khá nhiều. Giọng chị vừa khô vừa chát và khi lên cao thường bị tét. Cho nên chị phải dùng biệt hiệu Lai Hồng để hát. Rồi chị xoay qua đóng kịch nhiều hơn. Phong trào phòng trà dâng lên cao từ năm 1958 như một ngọn sóng thần. Những giọng hát nổi danh ở phòng trà gồm có: Lệ Thanh, Thanh Thúy, Thu Hương, Thùy Hương, Thùy Nhiên, Trúc Mai, Băng Tâm, Tâm Đan, Diệu Anh, Yến Hương, Thái Xuân, Tuyết Hương, Mỹ Hòa, Kim Chi, Mỹ Thể,
Lệ Hoa, Thiên Nga. Bên đực rựa có Việt Ấn, Duy Mỹ, Thanh Hùng, Jeannot, Ngọc Phu, Hoàng Cầm … Tôi sẽ nói tới các ca sĩ phòng trà ở chương sau (tức chương 7 của quyển Theo Chân Những Tiếng Hát nầy).
Cũng trong thời gian nầy, ở rải rác ngoài Sài Gòn có những giọng hát quý giá khác như Cao Thái và Thiên Hương ở bên Pháp, như Hà Thanh và Thương Hà ở ngoài Huế.
* Cao Thái:
Anh về nước trước Thiên Hương và ở lại nước hát đôi ba năm mới trở qua bên Pháp. Cao Thái có vóc vạc vừa tầm, nhưng dáng điệu đường bệ. Anh có nụ cười tươi và ngạo nghễ phơi hàm răng ngọc trai dưới hàng ria mép tỉa mỏng. Mái tóc anh dồi dào và rậm rạp ăn nhịp với nét mày sắc sảo của anh. Mặt anh hiền, anh ăn nói mềm mỏng, cư xử hòa nhã. Giọng anh cũng thuộc loại giọng ténor, nhưng mạnh và lẫm liệt khi lên cao, có phần sắc sảo hơn giọng Thanh Hùng đôi chút. Những bài ruột của anh là “Le Chanteur de Mexico” và “Malagueña” là những bài mà anh có thể áp dụng giọng ténor của anh và để anh biểu diễn giọng óc tinh luyện của anh. Giọng óc sao mà như xé lụa, chẳng những không chua không chát mà lại còn ngọt lịm như suối và ngời sáng như một dải Ngân Hà. Thỉnh thoảng trên sân khấu anh mặc quần áo và đội nón theo kiểu Mễ-tây-cơ có thêu những nét hồi văn bằng chỉ màu tuyệt đẹp.
Tôi chỉ mới quen Cao Thái vào năm 1994, trong dịp ký giả Trọng Minh ra mắt quyển Vẻ Vang Dân Việt (quyển hai). Tuy anh đã bước vào tuổi lục tuần, nhưng trông anh vẫn dẻo dai cường tráng, tay chân cứng cáp. Chiếc cổ anh gân guốc và khỏe mạnh có đeo sợi giây chuyền với miếng mề-đay bằng ngọc thạch chạm tượng Phật. Sau đó, cũng trong dịp nhà thơ nữ Bích Xuân ra mắt tập thơ Bao Giờ Em Quên, tôi có dịp chuyện trò với anh nhiều hơn. Anh có khoe anh vừa sáng tác một tập thơ thiền và có hứa trong dịp đến viếng một người bà con ở Troyes, anh sẽ đến Cổ Nguyệt Đường thăm tôi và sẽ tặng tôi tác phẩm thi ca của anh. Nhưng rồi anh bận việc sao đó đến nỗi quên mất chuyện viếng thăm tôi cũng như chuyện cho tôi được ghé mắt đọc qua tác phẩm của anh. Ít lâu, tôi tình cờ gặp anh ở quán ăn Thiên Cơ tại quận 13 Paris, anh cho tôi biết anh Trần văn Trạch đau nặng, đang nằm nhà thương đợi giải phẩu chứng ung thư ruột. Anh buồn rầu bảo:
— Bịnh nầy nặng lắm, tôi e cuộc giải phẩu sẽ không thành công. Tôi có thang thuốc gia truyền đưa cho vợ ảnh, mong ảnh chịu thuốc và sẽ qua khỏi căn bịnh ngặt nghèo kia.
* Thiên Hương:
Khi vào ca trường nhạc giới Pháp, chị lấy biệt hiệu là Tiny Young. Chị về nước vài lần ngắn ngủi và xuất hiện vài lần trên Tivi. Đây là một tôn nữ sớm rời đất Thần Kinh để định cư bên Pháp, đã khởi nghiệp qua lời giới
thiệu của danh ca thượng thặng Henri Salvador: “Permettez-moi de vous présenter une fleur que j’ai cueillie au hasard d’une promenade dans le jardin de la Chanson. C’est une fleur d’ailleurs qui a poussé sur la terre de France, permettez-moi de vous l’offrir. Elle s’appelle Tiny Young”. (“Xin cho phép tôi được giới thiệu một bông hoa mà tôi đã tình cờ hái trong vườn ca nhạc nhân một chuyến nhàn du. Đó còn là một bông hoa đã mọc lên trên đất Pháp, xin cho phép tôi trình hiến các bạn. Hoa ấy tên là Tiny Young.”)
Thiên Hương có một giọng trong sáng nhưng lại đượm một chút khàn khàn ở một vài chỗ làm cho ý nhạc các bài hát du dương và êm ái do chị diễn tả thoáng một chút ngậm ngùi cực kỳ gợi cảm. Giọng chị được thu vào nhiều dĩa 33 tours lẫn nhiều dĩa 45 tours. Hiện giờ tôi có 6 dĩa 45 tours và 1 dĩa 33 tours của chị. Chị hát nhiều bản do Henri Salvador sáng tác như: “Le Carrosse Blanc”, “Ma Poupée”, “Syracuse”, “Je t’Attendrai”, “Mon Chien et Moi”, “Aime-moi”, “C’est Fini Nous Deux”, “Tout Ce qui Fut l’Amour”, “Tu es le Roi des Menteurs” … Ngoài ra chị cũng có hát bài “Eight Days a Week” do hai chàng John Lennon và Paul McCartney trong ban Tứ Quái the Beatles soạn. Bản nầy được phổ lời Pháp với tựa “Huit Jours par Semaine”. Trong năm năm đầu của thập niên 60, Thiên Hương được xếp vào hạng 6 trong 10 ca sĩ trẻ được thính giả Pháp ái mộ nhất.
Vào năm 1972, Thiên Hương có về thăm Sài Gòn và xuất hiện trong chương trình của Ngọc Chánh trên đài truyền hình Việt Nam qua hai bản “Biệt Ly” của Dzoãn Mẫn, “Em Gắng Chờ” của Huỳnh Anh. Chị hát bằng một giọng thì thào gượng nhẹ, được âm sắc khàn đục nồng ấm phớt nhẹ nên dễ làm say lòng người. Tiếng hát sao mà như thoảng từ một cảnh giới mơ hồ huyền bí nào hay như đồng vọng từ cõi chiêm bao đưa về.
Chị có vóc mình mảnh khảnh, dáng điệu thật vương giả, khuôn mặt tuy không đẹp nhưng có chất thơ, chất mộng. Mái tóc chị đen như một giòng suối mực Huy Châu Hào xõa óng ả hai bên tai và phía sau, nhưng cắt mành tương trước trán làm cho khuôn mặt chị hơi giống khuôn mặt nữ ca sĩ Pháp Juliette Gréco, tuy nhiên chị trẻ trung tươi mát và khi ca còn biết ngân nga, về kỹ thuật hơn người nữ danh ca thời danh nầy nhiều. Giờ đây, bên điện ảnh, có hai nghệ sĩ Kiều Chinh và Dustin Nguyen (con trai của nghệ sĩ Xuân Phát) hành nghề
trong môi trường điện ảnh Hoa Kỳ. Nhưng Dustin Nguyen đóng loại phim đấm đá có bắn súng đùng đùng; do đó những vai của anh không cần diễn xuất nhiều. Còn Kiều Chinh đóng những vai quá ngắn, cũng không cần đòi hỏi tới tài diễn xuất vốn tiềm tàng ở chị. Ôi, một bà hoàng điện ảnh của miền Nam Việt Nam trên bước lưu vong xứ người không có đất dụng võ, và cũng như Dustin Nguyen khó đem chuông đấm tại xứ người. Đó không phải là niềm hãnh diện của kiều bào của chúng ta ở hải ngoại. Nhưng Thiên Hương thì lại là trường hợp khác. Chị dùng tiếng hát chân truyền của mình để xuất hiện trên sân khấu, trên đài truyền hình và tung hoành trong các hãng dĩa cho người Pháp thưởng ngoạn suốt cả một thập niên. Chị mới là niềm hãnh diện của dân tộc. Tuy nhiên, có điều hơi đáng tiếc rằng chị không thể giới thiệu được nhạc dân tộc cùng các bài hát của các tác giả Việt Nam với khán thính giả người Pháp.
* Thương Hà:
Chị từ Huế vào Sài Gòn vào năm 1959. Chị không đẹp nhưng có duyên, răng hơi vẩu mà người miền Nam gọi là hô duyên. Khuôn mặt chị hơi xương xương, nhưng vẫn thông minh rạng rỡ. Chị thích mặc Âu phục với áo sơ-mi cụt tay màu trắng và chiếc váy kẻ ô đen. Trông chị không giống một nghệ sĩ chút nào. Đã vậy chị không biết xài son phấn, cứ trang điểm quá phơn phớt, quá gượng nhẹ nên không nổi bật dưới ánh đèn sân khấu dù là sân khấu phòng trà đi nữa.
Thương Hà thường hát chung với Mai Hương và Nhật Thiên Lan trên đài Sài Gòn. Giọng chị khá điêu luyện, rất ngọt ngào trong sáng, rất lảnh lót thanh tao với chuỗi ngân thật tinh xảo như xâu chuỗi hổ phách, với lối phát âm trau chuốt và hơi điệu đà một chút. Chị cũng có hát một dạo tại phòng trà Hòa Bình. Những bản ruột của chị là “Aime-moi” của Henri Salvador và “Histoire d’un Amour” (bản nầy đã đưa tên tuổi nữ danh ca Dalida lên đài danh vọng một cách rạng rỡ). Sự nghiệp ca hát của Thương Hà quá ngắn. Vào năm 1964, không ai biết chị ở đâu, và cũng ít ai còn nhớ tới chị.
* Hà Thanh:
Tên thật là Trần thị Lục Hà. Trước khi vào Sài Gòn lập nghiệp, Hà Thanh đã nổi danh là Chim Họa Mi Xứ Huế. Giọng hát của chị trong sáng, lả lướt và mềm mại, khi lên cao chẳng những không mỏng không chua mà trái lại còn vang lồng lộng và ngọt như quít Hương Cần hoặc như mía Mỹ Lợi, hai món thổ sản của xứ Thần Kinh. Đó là giọng kim rất quý phái và cũng rất Huế. Hà Thanh hát dân ca rất đạt, nhất là những bài âm hưởng nhạc xứ Huế như “Đêm Tàn Bến Ngự” và “Tiếng Xưa” của Dương Thiệu Tước, “Nhớ Huế” của Lê Mộng Nguyên, “Ai Ra Xứ Huế” của Duy Khánh, “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy” của Trầm Tử Thiêng. Ngoài ra, chưa có nữ danh ca nào hát hai bản “Dứt Đường Tơ” của Văn Thủy và “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục bằng chị. Trước đó, đã có Minh Diệu và Kiều Nga hát bản “Dứt Đường Tơ”, nhưng cả hai diễn tả bài hát quá trong suốt cho nên hơi nguội lạnh. Hà Thanh thì vốn có sẵn cái nữ tính hơi ẻo lả và hơi điệu đà vừa phải để làm cho giọng hát mình trở nên đẹp hơn và quyến rũ hơn. Trước chị đã có Anh Ngọc và sau chị đã có Quỳnh Giao hát bài “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục. Nhưng Anh Ngọc hát chân phương quá, khi lên cao phải cố gắng dùng làn hơi từ bụng đưa lên khá gian nan, còn Quỳnh Giao không có sẵn chất ngọt trong giọng hát dù lên cao tiếng hát cô vang dội sang sảng. Trong khi đó, Hà Thanh cất giọng lên cao thật dễ dàng thoải mái và hát bằng một âm sắc ngọt lịm như rót vào tai khán thính giả một dòng cam lộ mát rượi.
Hà Thanh khi còn ở trong nước có dáng dấp mảnh mai, cung cách ngoan ngùy của phần đông cô gái Huế. Khuôn mặt chị khá đẹp, nụ cười thật huyền hoặc và duyên dáng một cách kín đáo thâm trầm. Chị lại rất ăn ảnh khi chường mặt trên Tivi. Chị mặc áo màu dịu và sáng thì lại đẹp và sang hơn mặc áo in hoa sói hoa hòe.
Năm 1991, tôi qua chùa Viên Giác ở tỉnh Hannover bên Đức để hành hương trong kỳ Phật Đản thì Hà Thanh, Lệ Thu và Kim Anh cũng đến Hannover trình diễn trong buổi tối văn nghệ do chùa tổ chức. Cả ba và tôi cùng các bà sư nữ được thầy Viện chủ cho ở trên tầng lầu hai của một khách sạn. Trong dịp nầy, tôi có dịp chuyện vãn cùng chị và cùng nhắc nhở những nhà văn nhà thơ nữ như Nguyễn thị Hoàng, Túy Hồng, Nhã Ca, Hoàng Hương Trang. Tối hôm đó, trong buổi trình diễn văn nghệ, chị xuất hiện với tấm áo dài gấm màu hồng hạnh rực rỡ, nhưng mái tóc chị chải không khéo trông có vẻ lười xười luộm thuộm, không ổn mắt cho khán giả. Sau đó, khi về tới khách sạn, chị than với tôi là hôm đó nhằm Chúa Nhật nên chị không thể đến tiệm chải tóc nên chị phải tự chải lấy rồi xịt keo. Bởi đó mà mái tóc của chị mới vụng về như vậy.
Tôi ngứa miệng:
— Chị phải sắm vài ba mái tóc giả. Khi đến chỗ nào trình diễn, chị chỉ tròng tóc giả lên đầu là xong, cần gì đến tiệm chải tóc cho tốn tiền và mất thời giờ.
Hà Thanh vỗ tay:
— Ý kiến của anh rất hay! Từ khi ra hải ngoại, dạo trước tôi ít đi trình diễn ở ngoài chỗ tôi đang định cư nên tôi không nghĩ tới điều đó. Bậy thật!
Kỳ gặp Hà Thanh tại Hannover, tôi thấy chị hơi mập hơn dạo trước, khuôn mặt trắng trẻo và sáng hồng. Trông chị có tướng mệnh phụ phu nhân lắm. Chị hát vẫn hay vẫn ngọt như thuở nào. Đã vậy chị thuộc lòng những bài kinh ngắn, những bài thần chú nhật tụng. “Đại Bi Thần Chú” vốn khá dài, khó mà học thuộc lòng. Vậy mà chị thuộc như cháo. Nhà chùa hành lễ bao lần là có chị đến dự. Sau đó, chị xin thắp hương các bàn Phật. Trong dịp trình diễn, chị có hát một bản nhạc phổ bài thơ Thiền của Thầy Nhất Hạnh.
Sáng hôm sau buổi trình diễn, chị cùng nhóm nhà văn gồm có anh Phạm Thăng, anh Vũ Nam và tôi chụp chung một tấm ảnh trước khi chia tay.
Tôi rất kinh ngạc khi đọc bài viết của ông Kỳ Văn Nguyên lên án Phan Nhật Nam “thân cộng”. Vì thế tôi phải tìm đọc lại những bài viết của Phan Nhật Nam từ khi ra hải ngoại, nhất là bài nói chuyện của ông tại Chi Hội Sinh Viên Sĩ Quan trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Houston, Texas ngày 23-4-95 trước khi trình bày cảm nghĩ riêng liên quan đến chuyện đáng tiếc đã xẩy ra.
Tôi vốn không hề quen biết hai ông Nguyên và Nam, kể cả một lần đối mặt bắt tay nói vài câu xã giao. Xuyên qua các tác phẩm và giới thiệu trên sách báo, tôi biết họ đều là hai nhà văn quân đội, chống Cộng quyết liệt. Vì thế, bài viết này không bị chi phối bởi tình cảm bạn bè, quen biết. Tôi chỉ muốn trình bày một lối nhìn khác qua cùng những sự việc mà ông Kỳ Văn Nguyên đã mổ xẻ ông Phan Nhật Nam.
Tôi không làm công việc biện minh cho Phan Nhật Nam vì quan niệm rằng chính những quan điểm, hành vi của Phan Nhật Nam từ quá khứ, hiện tại và tương lai là người luật sư đích thực của Anh.
“Không khai sinh, căn cước, thẻ sĩ quan, chưa hề có tài sản nào quá 10 đô-la. Giấy tờ hộ tịch có được đầu tiên: Giấy Ra Trại do công an cộng sản Việt Nam cấp. Tài sản lớn nhất là phụ cấp xã hội do chính phủ Liên Bang Bắc Mỹ cấp phát khi đến Mỹ tháng 11-93″.
Qua những giòng chữ trên, ông Nguyên cho rằng ông Nam cố tình khai báo, thú nhận với cộng sản ViệtNam:
“Chối bỏ nguồn gốc của bố mẹ; không thừa nhận là công dân của nước Cộng Hòa Miền Nam cũ; chối bỏ là sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng Hòa; vinh dự được nhận làm đứa con của Cộng Sản sinh ra; thuộc giai cấp vô sản; cam kết sống bằng tiền Mỹ để tuyên truyền cho cộng sản ở đất Mỹ. (Nguyên văn của ông Nguyên)
Phần tự mô tả chân dung của Phan Nhật Nam để lại trong lòng tôi hai ấn tượng sâu đậm:
(1)- Nam thuộc thành phần “Người-lính-chiến-trẻ” đã từng đem sinh mạng bảo vệ miền Nam vĩ tuyến 17. Họ không màng đến tiền tài, danh vọng, địa vị. Họ chiến đấu trong thiếu thốn thường xuyên đối với bản thân và gia đình. Đôi khi họ bị miệt thị từ mọi phía (kẻ thù, đồng minh, một số đồng bào phè phỡn nhờ những chiếc “khiên thịt” của “tụi lính”). May ra chỉ có thời gian từ 1958 đến 1963 “Người Lính Chiến” mới được tôn trọng đúng nghĩa của nó. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào người-lính-chiến-trẻ cũng chiến đấu với tâm niệm Vị Quốc An Dân. Họ không bị bẩn vì tiền tài, danh vọng cá nhân. Họ xứng đáng được lưu danh muôn thuở mặc dù ít người biết đến tên tuổi của họ.
(2)- Dưới chế độ Tự Do Nhân Bản, nếu thiếu giấy tờ hộ tịch một người cũng có thể sống và được thừa nhận.
Nhưng trong xã hội cộng sản, với “chủ nghĩa lý lịch, hộ khẩu.” nghiệt ngã, con người phải giữ giấy tờ hộ tịch như mạng sống dù cho đó chỉ là Giấy Ra Trại. Thiếu hộ tịch thì không được coi là con người: Không có chỗ dung thân ngoài xã hội và bị đưa vào các trại tập trung cải tạo bất cứ lúc nào. Thảm cảnh cuộc chiến Việt Nam chỉ có người Việt chúng ta thấu hiểu và cũng chỉ có người Việt Nam phải chịu đựng cảnh trái ngang nhất trong mỗi gia đình.
Người cùng chung núm ruột cố tình lừa gạt nhau, thản nhiên giết nhau nơi trận địa vì “lý tưởng” của riêng mỗi cá nhân. Từ khởi đầu cho tới khi tàn cuộc chiến tranh nóng (lạnh đối với thế giới nhưng nóng đối với Việt Nam), mãi đến bây giờ Phan Nhật Nam vẫn phân biệt rạch ròi giữa lý tưởng và tình nghĩa gia đình. Người cha là cán bộ cộng sản theo lệnh Tổ Chức đã không chiêu dụ được Anh từ bỏ lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc. Và Phan Nhật Nam, một trong những người Lính bại trận, bị lăng nhục cũng không thiết nhờ vả người cha ruột hầu có thể tránh những ngón đòn thù của cộng sản Việt Nam.
Ông Kỳ Văn Nguyên viết: “Tôi thực sự khinh miệt những kẻ nào đã một thời đề cao chính nghĩa Quốc Gia,ca tụng người Chiến Sĩ Cộnhg Hoa trong nhiều vụ chống lại bọn Cộng sản xâm lăng miền Bắc, mà nay, nếu không muốn nói đã ngã theo cộng sản, thì cũng đương dùng ngòi bút của mình để làm lợi cho cộng sản”. Chúng ta thử xem từ những đoạn văn nào mà ông Kỳ Văn Nguyên đã cáo buộc Phan Nhật Nam.
Trong bài “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung” Phan Nhật Nam viết: “Tôi đã có ý quyết không viết về chiếntranh, một đề tài sở đắc, bởi đã quá não nề với cảnh lửa đạn; cũng có hẳn cảm giác ghê ghê khi nhìn thấy bất kỳ một loại vũ khí nào, cho dù chỉ con dao nhỏ nhọn …
Cũng không muốn viết, kể chuyện tù tội, dù đã có đủ “kinh nghiệm” về nó, một thứ tài sản khốn nhục mà tôi tin đến giờ nằm xuống, phút lâm chung, tâm cảnh kinh hoàng về cách “hiện sống” giữa những chiếc hộp dựng đứng đầy bóng tối kia vẫn còn đọng chặt lại nơi mỗi tế bào não bộ; cũng một phần không muốn điều mình viết lên như một lối thở than hèn mọn. Thế nhưng, cuối cùng tôi vẫn tiếp tục viết về Người Lính. Viết về Chiến Tranh và Nỗi Đau. Những CON NGƯỜI KHỔ ĐAU. Tôi không thể viết gì khác. Không có gì khác. Bởi nếu không, sẽ là bội bạc vong ân rất đáng nguyền rủa. Chúng ta sống hôm nay từ máu của Người Lính. Máu của người đã chết”.
Phân tích đoạn vặn trên, ông Kỳ Văn Nguyên viết, “Đấy là lời ông (PNN) nhận tội với cán bộ quản giáotrong trại tù cải tạo về những điều ông viết đề cao các chiến binh Cộng Hòa xưa kia là sai lầm, là phản lại Cách Mạng là phản lại Nhân Dân, Tổ quốc … Ông thật sự là một con người khiếp nhược, sợ hãi đến cùng độ. Khi còn ở trong tù, hay là khi ông bị kiên giam, ông sợ hãi, đau đớn đến cùng cực, ông khiếp nhược trước mọi thủ đoạn hành hạ độc ác, tôi không nói làm chi … Nhưng nay sống ở bên Mỹ, xa lìa bọn cộng sản ông không đủ ý chí chống lại bọn cộng sản thì cũng thôi, việc gì mà ông phải sợ hãi như thế … Ông đau đớn về xác thân, quằn quại trong tâm hồn, sống trong cảnh Địa Ngục Mê Loạn mà bọn cộng sản tạo ra cho ông, ông chỉ còn một cách biến mình thành một cái bóng hình đen tối của cộng sản mà thôi, nghĩa là ông đã bị cộng sản hoàn toàn khuất phục và lột xác ông. Câu văn chứa đầy máu và lời nguyền rủa, từ đáy linh hồn bắn tóe ra như một lời kêu gào của quỷ dữ”.
Suốt chiều dài cuộc chiến Việt Nam, chúng ta những con người Việt Nam đã được những gì? Kẻ thắng, người thua chỉ được một mớ danh từ hão (mũi nhọn của Chủ Nghĩa Quốc tế Vô sản, tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do). Chúng ta đã mất ba triệu người cùng chung dòng máu để đổi lấy một đất nước tụt hậu thê thảm và một xã hội tồi tệ nhất so với các quốc gia khác trên thế giới. Tàn cuộc chơi, hai phe tư bản và cộng sản cụng ly chúc mừng nhau. Họ chỉ mất có tí nước bọt xui nguyên dục bị. Còn người Việt Nam chúng ta tiếp tục ôm một núi hận thù. Cuộc cờ Tư Bản-Cộng Sản đã tàn, nhưng cuộc chiến vì “Tự Do Dân Chủ Phú Cường cho Quê Hương” giữa những người Việt Nam vẫn còn tiếp diễn.
Vì thế Phan Nhật Nam không thể quẳng bút chiến tranh để bình thản ngồi gọt giũa những áng văn tình tứ, lãng mạn. Nhất định phải viết về những người đã góp công thực sự (vì họ đã hiến dâng cho Tổ Quốc bằng máu, bằng khối óc của họ) trong trận chiến vì Tự Do Dân Chủ Từ đó sẽ nung nấu tinh thần chiến đấu, nối gót tiền nhân cho thế hệ trẻ Việt Nam. Với lý lịch Phan Nhật Nam (cha là cán bộ cộng sản) chỉ cần thỏa thuận bằng lời thôi cũng đủ cho ông ta “bắt” được cái chức “Thi Đua Thường Trực” (1) hoặc Văn Hóa; hoặc Đội Trưởng trong các trại tập trung cải tạo. Điều này chắc Phan Nhật Nam không thể không biết. Nhưng ông chấp nhận đối đầu hơn là thỏa hiệp theo phong cách của con người quen lối sống ngang tàng. Thái độ đó đã bị phê là “sĩ quan kém tác phong” trong đời binh ngũ với cấp bậc Đại úy nhiệm chức sau 14 năm xuất thân từ Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
Việc kiên giam của ông Nam xẩy ra trước mắt mọi người, không phải kiểu đi “tù lèo” tại Bộ Nội Vụ.
Trường hợp này không thể coi như một kiểu “trá hàng”. Không ai chấp nhận 8 năm kiên giam để đóng vai trá hàng. Nhiều lắm chỉ là một trận đòn như Hoàng Cái trong trận Xích Bích. Phan Nhật Nam đã thách thức “Bạolực tuyệt đối” trước mặt kẻ thù thì không vì lý do gì lại tỏ ra khiếp nhược khi cách xa quân thù bằng nửa vòng trái đất. Chắc tất cả chúng ta đều biết nếu ông Nam chịu để cho cộng sản lột xác thì ông ta đã không phải chịu kiên giam suốt 8 năm trời. Nếu ông Nam “khiếp nhược trước mọi thủ đoạn hành hạ độc ác” của cộng sản thì họ chẳng tốn công kiên giam ông ta lâu đến như vậy. Trong “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung” Phan Nhật Nam viết: “Này đây, hình ảnh chiếc xe hàng chất lấp bởi trẻ con, người già và phụ nữ … Nhưng bởi chiếc xe kia đi ra từ An Lộc và rơi vào tầm đạn pháo kích của lực lượng cộng sản … Trái mìn không phân biệt được xe dân sự hay nhà binh; người lính cộng sản cũng không nhận được lệnh phải tránh tấn công vào một loại mục tiêu, đối tượng nào. Anh ta bình yên giật trái mìn. Và cuối cùng anh ta với đồng đội thản nhiên tiến ra lục soát mục tiêu. Nhưng nguyên do đầu tiên gây ra đám cháy nhân tạo tàn nhẫn này lại thuộc về một điều kiện tâm lý, đấy là:”Những con người đi trên chuyến xe oan khốc kia đã hoàn toàn bị khinh miệt.”
Ông Kỳ Văn Nguyên nhận định: “Việc gì phải lý luận lôi thôi như vậy. Giản dị là bọn cộng sản đã tấn côngbừa bãi vào cả xe dân sự gồm đàn bà, trẻ con và người già, như chúng ta đã từng ném bom, ném lựu đạn, pháo kích vào chợ và trường học mà ai cũng biết, ông Phan Nhật Nam bênh vực cho cộng sản mà bảo rằng đó là một điều kiện tâm lý thì thật là buồn cười.”
Phan Nhật Nam đã mô tả người lính cộng sản như một chiếc máy phi nhân sẵn sàng thi hành lệnh của đảng không do dự trong bất cứ tình huống nào. Và đảng cộng sản Việt Nam cũng chẳng buông tha cho bất cứ người nào không theo chúng kể cả thường dân muốn tránh xa móng vuốt cộng sản. Người cán binh cộng sản lạnh lùng giật mìn những chiếc xe chở đàn bà con nít; thản nhiên lục soát những thây người vô tội. Ngòi bút Phan Nhật Nam đã “lột trần bản chất người lính cộng sản” dấu kín sau lớp áo anh bộ đội “giải phóng quân.” Và cũng chỉ rõ dã tâm của đảng cộng sản Việt Nam núp sau tấm chiêu bài vì dân chiến đấu.
Trong “Nhìn Lại … Tháng Ba”, Phan Nhật Nam viết: “Sư đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản. Đó là lệnh của Văn Tiến Dũng cho Kim Tuấn, Tư lệnh Sư đoàn 320: “Nếu đồng chí để vuột mất đoàn di tản thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.” Lính còn có phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo đất bay bay.”
Trong “Sứ Mạng Người Lính Việt Nam” Phan Nhật Nam viết: “Nhưng oan nghiệt thay, đây cũng là đầu mối của bao nhiêu tệ hại sai lầm trong sách lược của phương Tây (toàn phương Tây chứ chẳng giới hạn trong một giới, một chính phủ, một tập thể, cá nhân riêng rẽ nào) khi đối đầu với người cộng sản Việt Nam, một thứ cộng sản được “đông phương hóa” ở những khía cạnh ác hiểm và xảo biện nhất. Người cộng sản Việt Nam là một yếu tố chính trị, một công cụ của bạo lực để thực hiện Mục Đích Yêu Cầu của Tổ Chức. Con người hoàn toàn triệt tiêu, xóa sạch. Thế nên chúng ta đừng bao giờ kỳ vọng quá nhiều về sự đổi thay (cho là có thật) từ, của một cá nhân đảng viên cộng sản … Và đừng bao giờ, dù chỉ một lần (một lần cũng quá đủ) tin một người cộng sản trên tư cách, giá trị riêng của người ấy. Họ chỉ thật sự phê phán chế độ đó vì họ là sản phẩm của chế độ đó. Họ chỉ tồn tại khi chế độ đó tồn tại.”
Trong bài thơ “Nhân xem phim Trời và Đất,” Phan Nhật Nam viết: “Từ Hùng Vương nhẩy vào thời đại hôm nay. Với sức đẩy khởi đầu …. Hồ Chí Minh, Lenin, Karl Marx. Giết người không hề nên tội ác. Khi Đảng hạlệnh khai đao. Đứa bé vượt biên trong tay mẹ khối thịt đỏ au. qui tội ngang tầm bọn Đế Quốc Tư Bản.”
Ông Nguyễn Văn Thuận đã gặp gỡ tướng Trần Văn Đôn nhân dịp Tết Tân Mùi (1991), đăng tải trên Nhật báo Người Việt ngày 8,9-6-95 có ghi lại lời nói của ông Đôn:
“Theo tôi thì chỉ có giải pháp thứ ba, có nghĩa là chính cán bộ, bộ đội, công an cộng sản sẽ nổi dậy làm cái công việc mà chúng ta chờ đợi để có một chế độ thích hợp cởi mở hơn và cho người dân dễ thở hơn. Theo nguồn tin tôi biết, người được thế giới chọn lựa là Võ Nguyên Giáp.” Sự tương phản về nhận thức và quan điểm đối với chủ nghĩa và con người cộng sản của một sĩ quan cấp úy và một sĩ quan cấp tướng khác xa một trời một vực. Nhận thức Phan Nhật Nam trưởng thành trong binh đao, hun đúc trong lửa đạn với bè bạn đồng đội khi trực diện với quân thù nơi trận địa. Nhận thức đó cũng được kiểm nghiệm suốt quãng đời dài hơn binh nghiệp trong các trại tập trung cải tạo khi “người lính chiến” bị hạ nhục thậm tệ. Nhận thức của tướng Trần Văn Đôn kiêm chính trị gia Đệ Nhị Cộng Hòa thành hình qua hơi hám đàn bà cùng sự vuốt ve, hứa hẹn (hão huyền) của những con cáo già cộng sản. Nhận thức đó dẫn tới các kết quả tất yếu. Người-lính-chiến-trẻ, khi lâm chiến, lúc tù tội, trở về đời sống dân sự bất đắc dĩ, luôn luôn suy tư, tìm tòi phương pháp thắng giặc. Trong khi đó vị tướng lãnh lo đi cầu cạnh người khác kể cả kẻ cựu thù hoặc nằm há mồm chờ sung rụng!
Với những giòng chữ viết lột trần bản chất cố hữu của người cộng sản theo kiểu rọi kính chiếu yêu, liệu Phan Nhật Nam sẽ làm lợi những gì cho đảng cộng sản và cán bộ đảng viên đang tìm cách ẩn mình trong các màu áo khác nhau nơi hải ngoại này.
PHAN NHẬT NAM NHỤC MẠ NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA?
Trong “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung” Phan Nhật Nam viết: “Này đây, những người lính của các tiểu đoàn 33, 52 … thuộc Liên đoàn 5 Biệt Động Quân, những lính Sư đoàn 5 Bộ Binh, lính Tiểu Khu Bình Long … lẫn khuất, trườn bò, thất thần, nháo nhác dưới đạn pháo, đứng núp mình sau những bức tường sụp đổ bốc khói mù. Này đây, những binh nhì, trung sĩ quen thuộc của Đại Đội 62, 64 … của Tiểu đoan 6 Nhẩy Dù với Vinh “con,” Phạm Tường Tuấn, Bằng “Bùi Đăng” … đang ngồi nhai nắm cơm sấy dưới hố bom, chạy tấn công vào mục tiêu với chiếc nồi lủng lẳng bên tay. Có người lính nào tội nghiệp thế hở trời?! Có người lính nào trong dòng binh lửa của thế gian phải chiến đấu trong hoàn cảnh khốn khổ tang thương đến như vậy. Nhưng người lính ấy đã chiến đấu như thế trong thời gian dài. Dài suốt trí nhớ của một dân tộc điêu linh … Chắc chắn không vì số tiền chỉ mua đủ tạ gạo và vài món quân-tiếp-vụ … Từ tuổi trẻ, qua những giòng chữ viết, tôi đã đặt một nền móng xác tín cao cả, bi hùng: “Người Lính đã chiến đấu cho Tự Do. Người Lính đã chiến đấu cho một mục đích tự thân – Chiến Đấu Bảo Vệ Phẩm Giá Con Người!”.
Và ông Kỳ Văn Nguyên viết: “Ông (PNN) kể chuyện, gần đây ông được xem cuốn phim tài liệu về chiến trường An Lộc. Trước kia với nhãn quan của một chiến binh chiến đấu cho Tự Do, cảnh cùng cực chết chóc ở chiến trường được ông ghi nhận để nói lên sự dũng cảm oai hùng của người lính Cộng Hoà Miền Nam (chữ của ông Nguyên). Bây giờ hai mươi hai năm sau nhãn quan của ông đã thay đổi một cách đáng sợ”.
Người lính nơi chiến địa không thể đứng xổng lưng, mắt long lanh đưa tình, miệng cười duyên, vung tay hùng dũng, ca nhạc lính như trên sân khấu hay trong truyền hình. Người lính chiến phải biết ẩn núp để sống còn, để tiếp tục chiến đấu. Ai cũng sợ chết kể cả người lính chiến. Can đảm hay hèn nhát là do thái độ dám xông vào nơi lửa đạn, đối đầu từng giờ từng phút với thần chết; hoặc tìm cách lo lót, chạy chọt để thành lính kiểng, lính ma, lính thành phố. “Người lính-chiến-trẻ” biết rõ có nhiều kẻ dựa hơi lính để vinh thân phì da, núp sau chiếc mộc che của lính chiến để hưởng thụ. Ai đã từng là một đơn vị trưởng có lương tri ắt phải xót xa và phẫn nộ khi cùng thuộc cấp, cũng là đồng đội thân thiết, chiến đấu trong hoán cảnh thiếu thốn mọi bề. Ai có đủ trâng tráo để nói rằng “Người-lính-chiến Việt Nam” đã xông pha nơi trận tiền với sự hổ trợ đầy đủ từ hậu phương? Nhưng “người-lính-chiến” vẫn tình nguyện chiến đấu vì Tự Do của đất nước, để bảo vệ phẩm giá con người. Khi “người-lính-chiến” buông vũ khí cũng là lúc Quê Hương chúng ta mất Tự Do và người Việt Nam mất phẩm giá. Ai có can đảm nói khác hơn điều này? Phan Nhật Nam viết: “Các anh đánh đấm làm sao để gây họa cho chúng tôi. Lão nhân vùng thung lũng Hoàng Liên Sơn đã nói cùng chúng tôi lời bừng bừng phẫn nộ … Quả thật Người Lính Miền Nam đã đồng thời gây nên vô vàn đau xót không đường giải cứu, đánh vỡ toàn thể Hy Vọng Quốc Dân từ cuộc thất trận oan nghiệt của chính mình.”
Ông Kỳ Văn Nguyên cho rằng: “Đó là lý luận cộng sản được Phan Nhật Nam trình bày trên đất Mỹ với đồngbào hải ngoại và với cảc chiến hữu của ông ta. Buộc tội người lính Cộng Hòa Miền Nam chưa đủ, ông còn hạnhục người lính miền Nam bằng cách phang cho một câu thật xỏ lá để xóa cho thật hết danh dự. Bởi PNN đã viết:
“Vào ngày 30-4-75, khi những người lính thuộc đoạn phim nói trên tự lột truồng trước đám đông dưới ánh mặt trời, đập gẫy súng, vứt bộ máy cò xuống sông, hất bỏ chiếc nón sắt, cởi dây ba chạc mang đạn … ”. KVN đặt vấn đề: “Tôi muốn hỏi ông, ông nhìn thấy bao nhiêu người lính tự lột truồng trước đám đông hay đó chỉ là trút bỏ bộ quân phục mặc quần áo thường dân để tìm lối thoát thân khi Quân Đội tan rã. Ngòi bút ông thật là độc ác và đê hèn.”
Trang bị của người lính chiến gồm quân phục, vũ khí, đạn dược, tạo nên hình ảnh người lính chiến trước mắt mọi người. Nay phải tự cởi bỏ có khác chi trần truồng trước mắt tha nhân. Thực tế, có nhiều người lính chiến sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh họ chỉ còn độc nhất chiếc quần đùi dính vào thân thể còn đầy mùi thuốc súng, đi chân đất trên đường tìm về với vợ con. Không phải ai cũng sẵn quần áo dân sự để trau chuốt trên đường thoát thân.
Ai đã bị lùa ra Bắc năm 1976 ít ra cũng từng đích thân nghe, hoặc được kể lại lời thống trách của một số đồng bào mạnh miệng, bạo phổi ở miền Bắc. Quả thực có nhiều người đã mong đợi Quân Đội Miền Nam ra giải phóng miền Bắc, trả lại cho họ phẩm giá con người. Nhưng họ thất vọng não nề khi thấy chúng ta đến với họ trong tư thế hàng binh của Hà Nội. Không ai trong chúng ta phiền trách họ, mà cùng nhau chia xẻ cuộc sống bị hạ nhục bởi người cộng sản. Quả thật, chúng ta đã đánh mất niềm hy vọng ấp ủ, nuôi dưỡng bao nhiêu năm khi họ phải sống dưới chế độ đầy tủi nhục. Trên Nguyệt San Quốc Dân số Tháng 3-95, Phan Nhật Nam đề nghị chọn ngày 30-4 làm Ngày Vinh Danh Người Lính Việt Nam: “Ngày 30-4-75, đánh dấu sự đau khổ tột cùng của Quốc Dân Việt Nam nói chung và người lính VNCH nói riêng … Nhưng cũng là ngày khởi đầu của trận chiến khác, trận chiến không bao giờ tàn của đại đa số quân nhân Việt Nam, một trận tuyến khốc liệt hơn, ngay trong tâm khảm của mỗi người, giữa những trại tù mệnh danh là “cải tạo” hay vùng kinh tế mới. Trong sự lãng quên hững hờ của dư luận thế giới”.
Ông Kỳ Văn Nguyên viết: “Ông (PNN) muốn nói gì đây trong đoạn này. Đó là thủ thuật chính trị của nhà văn Phan Nhật Nam mà bọn cộng sản muốn đem ra xử dụng. Nói trắng ra, ông muốn nhắn các cựu tù nhân chính trị rằng: “Từ ngày các anh thua trận phải đi học tập cải tạo, dưới sự giáo dục của Đảng và Nhà Nước, các anh phải đấu tranh liên tục với chính bản thân, phải tự lột xác, để từ một kẻ phản quốc có nợ máu với nhân dân, trở thành một người lao động khổ sai mới được hưởng sự khoan hồng của đảng. Đây là một trận chiến khốc liệt không bao giờ tàn, diễn ra trong tâm khảm các anh, các anh phải tự lột xác và lột xác mãi mãi, dù các anh đã được Nhà Nước khoan hồng cho phép sang định cư tại Hoa Kỳ, vẫn cứ phải tuân theo những lời Đảng đã chỉ dậy. Dư luận thế giới đã bỏ quên các anh rồi, không còn ai biết đến các anh là người chiến sĩ Cộng Hòa nữa đâu mà ham.”
Sau ngày 30-4-75 Người Lính VNCH đứng trơ vơ trên một trận địa đã tàn. Cấp trên (Tổng tư lệnh, Tổng tham mưu trưởng … ) bỏ chạy, cấp dưới tự động tan hàng, bạn bè lưu lạc, gia đình nheo nhóc, bơ vơ. Trước đây cả Quân Lực đương đầu với địch quân trên chiến tuyến địa dư, giờ đây chỉ trơ trọi người lính bại trận phải đối diện với quân thù. Phải làm sao đương đầu với kẻ địch để sống còn. Mỗi người tự chọn cho mình một cách xử thế. Đó là một cuộc đấu tranh gay go giữa Thiện và Ác; giữa Can Đảm và Hèn Nhát. Chiến tuyến giữa Ta và Địch ngày càng rõ nét theo với thời gian bị giam giữ. Từ thâm tâm những người cộng sản cũng biết rằng không thể “cải tạo” được đám “ngụy quân”. Tư tưởng đối kháng lớn mạnh biến thành hành động chống đối dưới muôn vàn hình thức khác nhau. Và chúng ta đã tự vạch lấy chiến tuyến đối đầu với người Cộng sản. Cá nhân chống với tập đoàn lấy bạo lực làm phương tiện duy nhất là một cuộc chiến không cân sức và khốc liệt.
Người lính bại trận không chiến đấu trên DANH TỪ QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA mà với, TINH THẦN QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA: BẢO QUỐC AN DÂN.
Đối với đại đa số Người Lính Việt Nam, quả thật trận chiến với người cộng sản không bao giờ tàn. Có súng cũng đánh. Bại trận cũng chống. Trở thành dân sự lại tiếp tục đấu tranh. Không bao giờ thỏa hiệp. Đó là một thực tế không thể chối cãi được. Trong “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung,” Phan Nhật Nam viết: “Phần chúng ta, Người Lính Miền Nam, dù không đi hết bổn phận cho đến ngày toàn thắng, đã có nhiều sơ sót, vụng về, khiếm khuyết trong sứ nhiệm xả thân, nhưng quả thật chúng ta đã làm đúng chức năng cao quý: VỊ QUỐC AN DÂN.”
Trong “Người Lính Không Hề Chết,” Phan Nhật Nam viết “Chúng ta đã mất những chiến hữu với phẩm chất rất cao cả, những người chỉ huy đáng phần kiêu hãnh, những đơn vị không hề thua sút so với bất cứ quân đội nào trên thế giới.”
Trong “Chân Dung Cần Phải Viết Lại”, Phan Nhật Nam viết: “Người Lính Việt Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa gánh chịu phần nặng nề, thua thiệt và đau đớn nhất. Gần hai mươi năm sau cuộc chiến kia chấm dứt, vết thương bị lăng nhục vẫn còn tươi máu, trên tất cả những vùng đất, thị trấn, xóm làng, thành phố tan tác, loang lỗ khắp Miền Nam hôm nay vẫn nguyên độ nóng của dấu bom miểng đạn, vẫn hằng hằng những người tóc ngã mầu mệt nhọc cúi mình trên tập vé số, tì tay lăn chiếc xe phế binh hoen rỉ, bên trên lề đường đặc lềnh bụi khói mờ mờ che màu cờ đỏ của một buổi đổi thay tàn nhẫn. Nơi Nghĩa Trang Quân Đội Long Bình lũ chó hoang kéo lê những lóng xương rã mục, Trung Liệt Đài sụp xuống chiếc mái, biến thành nơi tích chứa phân của đơn vị bộ đội cộng sản … Người lính và con của họ vẫn bị coi là đám “ngụy tiện dân” xếp hạng thứ 13 … Chân dung của Người Lính đó từ lâu đã bị ngộ nhận. Hôm nay chúng ta nên viết lại. Phải vẽ lại đúng vóc dáng kỳ vĩ nỗi chịu đựng lặng lẽ đầy bi tráng này.”
Thế hệ thanh niên Việt Nam ở các thập niên 1940-50-60-70 đa số bị cuốn hút vào quân đội. Khi đã vào quân ngũ họ rẽ theo hai hướng khác nhau. Một thiểu số nhỏ nhoi coi Quân Đội là nơi tiến thân. Họ xoay sở trăm chiều tùy theo như cầu và quyền lợi cá nhân bất chấp quyền lợi của Tổ Quốc, Đồng Bào, Đồng Đội. Họ đã trở thành một số “Tướng hèn, Tá bẩn” trong tập thể Quân Đội kiêu hùng, trong sáng. Danh từ “tướng hèn, tá bẩn” không phải do Phan Nhật Nam sáng tác. Đó là tiếng thét phẫn nộ, lời nguyền rủa của Quốc Dân, Toàn Quân đối với hạng người bất xứng. Đại đa số lấy quân đội làm nơi tập trung sức mạnh để thực hiện hoài bão VỊ QUỐC AN DÂN. Họ không màng tiền tài, danh vọng, địa vị. Họ chiến đấu trong thiếu thốn (trang bị vật chất, hổ trợ tình thần từ hậu phương), tận gian khổ khó khăn để giữ từng tấc đất quê hương. Họ giương cao sĩ khí khi bại trận. Họ âm thầm trong cuộc đấu tranh tư tưởng dai dẳng để không bị lột xác. Hiện nay họ vẫn kiên trì tiếp tục công cuộc đấu tranh hầu duy trì ngọn lửa bền bỉ của Dân Tộc.
Phan Nhật Nam có mặt trong số những người này.
(1) Thường Trực Thi Đua: Ban Đại diện Tù nhân ở các trại cải tạo do cán bộ cộng sản chỉ định.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.