Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 4 Jan 2026

Bài 8
Những Ám Ảnh của Chứng Nan Y: Nan Y hay Dịch Tễ Xã Hội

TỪ JOB ĐẾN NHỮNG NGƯỜI CÙI TRÊN VỈA HÈ
Đời xưa, ở vùng Idumée, có một người cùi tên Job. Quần áo tả tơi, chấy rận nhung nhúc, da thịt nứt nẻ, lở loét từ đầu đến chân, Job ngồi trên đống tro tàn của cơ nghiệp mình, một mảnh bát vỡ cào gãi mụn nhọt trên thân thể. Job ngồi đấy tro trọi, cô đơn. Vợ con, cháu chắt, bạn bè, tôi tớ … thảy đều trở mặt quay đi. Ngày tháng qua mau như thoi cửi, không một chút hy vọng. Và những nỗi đau khổ của Job còn nặng hơn cát biển.
Mấy nghìn năm sau, vào thời Trung Cổ, cảnh tượng thảm thương không mảy may bất nhẫn này lại diễn ra, khi những “trận dịch đen” bùng lên ở Âu Châu. Người chết từng loạt, con số lên tới hàng trăm ngàn. Người ta ào ào chạy trốn Thần Chết. Bạn bè bỏ nhau, vợ bỏ chồng, anh bỏ em, và hơn thế nữa, cha mẹ bỏ ngay con cái mình. Tử khí lan tràn thành phố. Người bệnh la liệt trong nhà, ngoài đường, nằm hấp hối chờ chết với nhau. Sợ hãi tới mức kinh hoàng. Làm sao giải thích nổi những cái chết tập thể, trong khoảnh khắc, nếu không kêu gọi đến một thần quyền. Tội lỗi quá nhiều. Job kia còn bị các bạn buộc tội, huống hồ con người của hàng nghìn năm sau. Luật lệ và hình phạt được đặt ra. Người cùi phải tập trung vào một nơi. Người mắc dịch bị vứt bỏ ngoài đồng vắng. Người có bệnh mà trốn tránh, cũng như người lành giấu giếm, chứa chấp người bệnh, đều bị trừng trị nặng nề. Nỗi kinh hoàng cùng với dịch tễ rồi cũng qua đi. Những người nan y đã quen và cam chịu sống riêng rẽ, tự tổ chức thành những xã hội nhỏ riêng rẽ. Ở Việt Nam trước kia đã có những “làng” người cùi. (Văn Môn, Khuya ở Bắc Việt) với lý trưởng, trương tuần cẩn thận. Sự hiện diện của họ chỉ còn được nhắc nhở tới bằng mấy tiếng lục lạc báo hiệu, hay cái bóng quái dị, nghiêng ngả, trong đống quần áo rách nát, bất chợt nghe, bất chợt gặp trên đường. Chúng ta tránh mặt họ, không muốn dây dưa với họ. Sự sợ hãi thuở xưa đã nhường chỗ cho một cảm giác ghê tởm với lòng khinh bỉ, tất nhiên, đi kèm.
Y học tiến bộ, ngăn chặn dịch tễ lan tràn, cản các chứng nan y bành trướng. Chẳng ai sợ nữa, khi thấy những bệnh kỳ quái, hao mòn cơ thể, biến dạng hình hài. Tổ chức Y tế xã hội chu đáo hơn. Với những trại cùi, làng tế bần, viện bài lao, viện ung thư. Người bệnh ngày nay có nơi ăn, chốn nghỉ, yên tâm điều trị. Ai cũng mong, tin thế. Cho đến một ngày. Một ngày nắng ráo, một ngày lễ trên hè phố đông đúc, như những vết bùn đất của mấy ngày mưa dầm còn sót lại, giữa bao màu sắc rực rỡ linh động, loáng thoáng một vài người cùi ngồi ăn xin. Họ ngửng lên nhưng khuôn mặt không lông mày, không sống mũi; những mí mắt những vành tai dầy cộm, sần sùi. Họ giơ lên những bàn tay không ngón, loang lồ, cong queo. Chúng ta đi qua, đi lại ngay trước mặt họ, sát bên lưng họ. Mắt chúng ta nhìn mà không thấy, tai chúng ta lắng mà không nghe. Họ ngồi xệp dưới đất thấp quá. Vả lại họ có nói gì đâu. Họ là những gốc cây, những cột đèn, những ghế đá hay một thứ cồng kềnh nào đó trên mặt lộ. Cần gì phải la hét, trốn chạy, cần gì phải khinh bỉ, hắt hủi. Cứ tự nhiên mà bước, linh tính sẽ khiến ta không đụng phải họ. Họ là những gốc cây …
THỊT XƯƠNG LÀ SÔNG NÚI
Nhưng họ vẫn phải hiện diện, vẫn phải sống. Dù đau đớn, dù hao mòn, dù biến dạng. Trong thế giới riêng của họ với những ý nghĩ và mặc cảm đặc thù do bệnh tật gây ra. Ý nghĩ nan y, ý nghĩ thân mình tàn phế. Mặc cảm ký sinh, mặc cảm bị ruồng rẫy, mặc cảm tội lỗi. Với một ám ảnh lớn đè nặng tâm hồn. Sự chết.
Thời gian điều trị và nghỉ ngơi lâu dài cộng với việc phải chăm chút tẩm bổ – điều kiện cần thiết để lành hai lá phổi – tạo cho người lao phổi một mặc cảm ký sinh nặng nề. Ở trong một hình hài bề ngoài nguyên vẹn là một cơ thể đã bị gậm nhấm suy yếu. Dù có khỏi hẳn, cũng không xốc vác nổi những công việc đòi hỏi một sức khỏe dồi dào. Trong một giới hạn nào đó, người ấy vẫn có thể mãi mãi là ký sinh.
Người phong cùi cũng đau khổ về hình hài, nhưng ở đây là một hình hài không nguyên vẹn. Mặt mũi biến dạng, tay chân rụng rời, và cả xác thân ô uế. Tiếng kêu “Tôi ô uế! tôi ô uế!” của người cùi thuở xưa mỗi khi ra đường, vọng qua ngàn năm, hiện vẫn còn vang bên tai họ. Thực sự hay tưởng tượng, họ luôn luôn là những người bị rẫy ruồng, hắt hủi. Và đi dần đến chỗ cô đơn. Cùng chia sẻ với họ nỗi tủi nhục của tấm thân ô uế, họa chăng có những người hoa liễu. Bệnh phong tình, tự bao giờ đến giờ và ở đâu cũng vậy, vẫn là một bệnh đáng xấu hổ. Người ta che giấu nó nhân danh luân lý, đuổi bắt nó nhân danh thuần phong. Vì nó trái với đạo đức và làm bại hoại xã hội, người ta chỉ biết kết tội như thế. Những ý nghĩ như thế châm ngòi cho những phản ứng khác nhau nơi người bệnh. Một người mềm yếu, kém ý chí, thì chỉ nghĩ nan y với hệ luận là cái chết sớm muộn không thể tránh, cũng đều cho người ấy đi đón trước Tử thần. Mạnh hơn một chút, người ta coi thường tất cả. Can đảm, liều lĩnh, ca hát, vui đùa hôm nay, thực ra chỉ để quên đi ý nghĩ cái chết cô đơn, lạnh lẽo ngày mai. Đó là những phản ứng một chiều, phản ứng có thể gọi là hướng nội.
Phản ứng hướng ngoại, ở một mức độ thấp chỉ có tính cách phá phách gây đổ vỡ. Lợi dụng tình trạng “bất khả xúc” của mình, người bệnh làm sống lại và đem gieo rắc sự kinh hoàng của thời dịch Trung Cổ. Những đoàn người cùi hành khất ở miền Bắc trong thế kỷ trước là một thí dụ. Họ quấy nhiễu các đám hiếu hỉ, vầy vò đồ ăn thức uống trong mâm tiệc, để đòi hỏi bạc tiền và lương thực. Ở mức cao nhất của ý chí, người bệnh chế ngự mặc cảm, biến nó thành động cơ sản sinh ra những năng lực khác thường. Nhưng dù ở mức độ nào, từ những người tự đi tìm cái chết đến những bậc thiên tài bệnh hoạn, phản ứng hướng nội hay hướng ngoại, chỉ làm dầy thêm bức tường bao quanh thế giới những người bệnh hoạn, được xây bằng những ý nghĩ và mặc cảm hằn in trong tiềm thức họ. Vô tình, chính những người bệnh cũng góp phần vào sự cách biệt giữa họ và những người lành mạnh. Trong thế giới của họ, ta xa lạ, bỡ ngỡ. Bầu trời điên loạn, đầy trăng sao và lạnh buốt dưới bàn tay không ngón của Hàn Mặc Tử, những phong cảnh hoặc ảm đạm, hoặc rực rỡ, mang những màu nét rung động, quần quại như hờn giận, đau thương, thoát ra nơi đầu bút của Van Gogh (1); bậc siêu nhân đầy nghị lực, thông minh và kiêu hãnh trong con người tê liệt, yếu ớt như trẻ sơ sinh của Nietzsche. Tất cả đều mang một sắc thái khác thường, khó cảm thông, nếu không như có lực mạnh, đẩy bật ta ra.
Hình hài thay đổi, sinh lý xáo trộn, chính là những nguyên nhân đầu của sự xa cách, về cả hai phía, bệnh và không bệnh. Thịt xương ở đây còn hơn là sông núi (2). Đó là vực sâu đầy gai góc, rắn rết; là vũng lầy không đáy, chướng khí mịt mù.
NHƯNG LÒNG NGƯỜI KHÔNG NGẠI NÚI E SÔNG
Bây giờ chúng ta muốn hai phía lại gần nhau? Còn gì giản dị và hợp lý hơn là lấp phẳng cái hố sâu ngăn cách kia. Hãy sửa lại hình hài và đem quân bình sinh lý, tâm lý về cho người nan y. Giữ lại, hay bù đắp vào, những đường nét, hình thể và những cơ cấu Tạo hóa đã ban cho người. Bổn phận thiêng liêng của mỗi người – tự giữ cho mình và bù đắp cho người – mà sự chu toàn đòi hỏi bao nhiêu cố gắng, kiên nhẫn và hy sinh.
Những tháng năm cặm cụi trong phòng thí nghiệm, đun nấu, ghi chép, tính toán của những Koch, Hansen, Pasteur, Virchow …rồi của những Flemming, Waksman, Bửu Hội, Umezawa … đã đem lại nhiều khám phá, đáp ứng, có thể nói là trọn vẹn, cho những toan tính phá tan mặc cảm và trung hòa phản ứng nơi người nan y. Con người hôm nay tha hồ chết vì bom đạn, xe cộ, nhưng không được chết vì lao phổi nữa. Streptomycin, Isoniazid, PAS. Cũng không có lý gì tồn tại, những cơn tê liệt toàn thân của bệnh giang mai thời kỳ thứ ba. Penicillin, Bismuth. Phong cùi ư? Sulfones. Ung thư ư?
Thì đây, bao nhiêu là thuốc, là chất phóng xạ, là quang tuyến, lại đây nữa, bao nhiêu phương thức thực nghiệp tinh vi, ngõ hầu phát giác ra những trường hợp mới chớm. Bỏ đi một mảnh phổi chai đá, cắt đi một bướu nham ruột già, bây giờ là việc thông thường của khoa thủ thuật. Lưỡi dao thuần thục hơn, uyển chuyển hơn, tế nhị hơn. Lưỡi dao tạo hình, ghép da, nắn mũi, sửa tay. Ấy là thủ thuật cho bệnh cùi. (3)
Tâm hồn lành mạnh trong thân thể hùng cường. Bây giờ phải đảo ngược mệnh đề lại và nói: thân thể lành mạnh chứa đựng tâm hồn hùng cường. “Tứ chứng nan y” rồi đây chỉ còn là một từ ngữ thuộc vào y sử.
TRỜI XANH IM LẶNG
Vấn đề “nan y” xem ra như thế dễ dàng giải quyết, với những khám phá tiến bộ của y học. Một xã hội không còn người lao cùi … đâu phải là một điều không tưởng. Còn lại có vấn đề thời gian. Bao giờ? Bao giờ, khi những người lao còn phải cong lưng, vừa ho vừa làm, mà vẫn không đủ tiền mua một miếng thịt nhỏ mỗi ngày? Bao giờ, khi người ta cứ phải ở chung lộn, chồng chất, chui rúc, trong những túp nhà lụp xụp, tối tăm, bên cạnh rác rưởi và sình lầy? Bao giờ, khi những người mua dâm và bán dâm, không những không kiểm soát được, lại còn tăng số mãi lên? Bao giờ, khi người ta vẫn chưa biết đường lối và chưa có phương tiện để dò ra một ung thư mới chớm ngay chính nơi thân thể mình? Bao giờ …?
Đấy là thảm trạng của những nước chậm tiến. Ở Đông Nam Á, ở Phi Châu, ở Nam Mỹ Châu. Và có gì lạ đâu, nếu đủ các thứ bệnh tật thi nhau phát triển. Nghèo khổ vật chất. Nghèo khổ cả tinh thần. Thiếu ăn, thiếu mặc đã đành. Mà lại thiếu cả một gáo nước rửa mặt, cả đến thước khối khí trời để thở, cả đến ánh sáng mặt trời để ngẩng đầu cao. Hãy nghe lời một người lao phổi thời tiền chiến nói với bạn trước khi tắt thở: “Nếu mỗi ngày tôi có được một miếng thịt bò, thì đâu có đến nỗi chết”. Hãy nghe tiếng kêu cứu tuyệt vọng của một bà mẹ mắc chứng bạch huyết với bầy con nhỏ bên tay. Bà van xin những nhà thông thái, khẩn cầu các nhà hảo tâm. Bây giờ bà còn sống hay đã chết? Và chẳng biết có ai đáp lại lời kêu cứu của bà không? Chắc nó chìm ngay trên trang nhật báo, giữa những dòng rao bán chó, bán nhà, dạy khiêu vũ, sửa sắc đẹp … (4)
Chưa đủ. Thêm vào đó còn có mù chữ, thất học, mê tín, dị đoan. Và những tín điều viển vông, cao vời của những người quá yêu mến đồng bào. Bao nhiêu điều kiện thuận lợi, nuôi dưỡng, làm nẩy nở mọi mầm mống vi trùng, tạo nên môi trường thích hợp để “bảo tồn” bệnh tật. Có ích gì khi chữa lành một, hai lá phổi, để lại trở về thở hít chung bầu không khí với một hai chục người khạc nhổ suốt ngày? Có ích gì khi cứ ba bốn ngày mới chích được phân nửa liều thuốc, trong khoảng năm ba tháng, để trở lại bệnh viện với những con vi trùng mạnh mẽ hơn, dai dẳng hơn? Lưỡi dao giải phẫu thôi đành xếp lại trước những cục bướu nham lớn bộn, rắn chắc, kèm thêm ít nhiều hạch ung thư chuyển đi khắp cơ thể.
Đúng là những chứng nan y, không chữa được. Không chữa được, không phải vì chữa không được, mà vì chữa không đúng, không đủ, không nhanh, không kịp thời. Những chứng nan y đã khoác một bộ mặt mới. Bây giờ chúng không còn là “nan y” nữa, chúng là những dịch tễ xã hội.
Ở Việt Nam tự do, dân số 14 triệu, có 45.000 đến 50.000 người lao xác chứng (active tuberculosis). 70% trẻ em trên 15 tuổi có triệu chứng nhiễm lao rõ ràng. Và mỗi năm, cứ 1000 dân lại có một người chết vì lao. Tổng số người cùi vào khoảng 50.000 (5).
Còn những người hoa liễu? Ung thư? Chưa ai biết con số đích xác. Từng ấy con người đau đớn. Những cơn ho vỡ cổ, đôi gò má điểm hồng. Những trận “mê man chết điếng cả làn da”. Cuồng điên, mất trí, tay chân run rẩy. Da dán vào xương, hơi thở hôi hám, bướu lớn dầy đặc trong miệng, khuôn mặt mất rồi những nét đều đặn nhịp nhàng. Bốn bề là bóng tối và im lặng. Cái im lặng ghê rợn, nặng nề của Tạo vật.
MỘT BUỔI LẠC QUYÊN KHÔNG KẾT QUẢ
Vậy chỉ còn lại những người với nhau. Để tự giải quyết lấy thân phận cho nhau. Để vượt, không phải ra khỏi, mà là vượt lên cái thân phận con người. Đã từ lâu, người ta toan tính giải quyết bằng lòng từ thiện, dẫn
xuất từ tính trắc ẩn trước khổ đau của đồng loại. Tổ chức những buổi từ thiện. Lập cơ quan từ thiện. Đi làm việc thiện. Có người chuyên môn, có người tài tử. Quyên tiền bạc, xin cơm áo, nhân danh người đau khổ. Rồi có một buổi đi thăm viếng trại lao, trại cùi. Những ông, những bà khỏe mạnh, quần áo tươm tất, đường bệ đi vào. Người bệnh xếp hàng: hai tay tuy đã hết ngón mà vẫn chẳng biết cất đâu, nét mặt chẳng biết nên vui hay nên buồn. Đôi lời ngỏ ra, đôi lời đáp lại. Cảm tạ. Biết ơn. Những tiếng chào từng loạt. Những ông, những bà bèn đi vòng, xem xét; để ra về. Như đi dự một buổi tiếp tân, như đi coi hát bóng. Và những cái bóng nói, cười, yêu đương trên tấm vải căng trong buồng tối kia có khác gì. Ở đây, người bệnh cũng là những cái bóng. Đủ hay, đủ lạ, để người khác nhìn xem trong chốc lát.
Rồi người ta mệt mỏi dần, dù chỉ là đi thăm viếng suông. Chán nhìn những hình hài bệnh hoạn, chán nghe những nỗi khổ đau diễn tả bởi những người không đau khổ. Người ta muốn được “yên thân” -như Scrooge, vì – cũng như Scrooge – đã “giúp đỡ nhiều cơ quan từ thiện. Như thế đủ tốn cho tôi lắm rồi” (6). Lời từ chối thật đủ lý lẽ, đủ công bằng, để mắt khỏi nhìn, tai khỏi nghe, mà lòng vẫn bình yên trong im lặng đồng lõa.
TRÁI ĐẤT LÀ CỦA CHÚNG TA
Nhưng có nhiều người cho thế là chưa đủ. Những người thực sự muốn con người vượt lên trên thân phận con người. Những người yêu mến, nâng niu, kính trọng sự sống. Họ dang hết hai tay, mở rộng tâm hồn, phát triển cùng trí lực để đón nhận cuộc sống, với tất cả thương yêu, hoan hỉ. Họ dấn thân vào đám người bệnh hoạn, nghèo khó, đau khổ để những tình cảm thương yêu tràn đầy trong họ – tràn sang những người đang cần tình cảm ấy; để giải thích ý nghĩa cuộc sống – cho những người đang mất tin tưởng; để phá tan cái im lặng ghê rợn – đang bao phủ những người anh em ấy. Họlà những linh mục Pierre, những Schweitzer, những Follereau, là những người hiểu rằng Trái Đất là của Con Người. Trái Đất là của Con Người. Trên đó sự sống là của tất cả, dù bệnh hoạn hay không. Mỗi người phải là một nghệ sĩ của cuộc sống để tô điểm cho nó tươi sáng, rực rỡ thêm lên. Không phải chỉ bằng những công trình kiến thiết đồ sộ, những tiện nghi tối tân, những
ánh sáng điện năng hay nguyên tử năng. Mà còn và cần phải bằng những con người khỏe mạnh không mặc cảm, chuộng công bằng và biết thương yêu. Hãy đến cùng người “nan y” trong ý niệm ấy. Với thiện tâm nhân ái, với thiện cảm hoạt động. Tự giải thoát mình khỏi những cảm giác ghê sợ giả tưởng; giải thoát người khỏi những mặc cảm yếu kém, thiệt thòi – để chấp nhận và thích hợp hóa người “nan y” vào cuộc sống bình thường. Mỗi người phải là một người thợ cần mẫn của cuộc sống để xây dựng cho nó ngày thêm giàu mạnh, phong phú. Trái Đất như một bà mẹ giàu có, rộng rãi, không hề tiếc gì với con người. Trở về với Đất, hai bàn tay chắc chắn, lòng yêu chuộng giản dị và sự làm việc – để sản xuất và cung cấp, đủ cho mình, đủ cho người. Kho vựa đầy, y thực đủ, nhiên hậu mới nghĩ tới thuốc men, đến thủ thuật trong những khi đau ốm, tai nạn, vốn bất trắc và phi lý của con người.
Mỗi người phải là một tiên tri cho cuộc sống để đoán biết tương lai, ngõ hầu áp dụng những cải cách thích nghi. Trong mọi lãnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế. Với lòng khiêm tốn, thanh bạch, cúc cung tận tụy. Những gốc dâu của Khổng Minh. Những luống cày của Cincinnatus. Cần chi đâu những tín điều viển vông, cao vời. Trên mặt trăng hay trên thượng tầng khí quyển. Mỗi người phải là tất cả mọi người trong cuộc sống. Để cảm thông, hòa đồng, để khoan dung, tha thứ, để chung vui, xẻ buồn. Để sẽ tới ngày mà “con vua và hành khất đều trở thành anh em” như lời thơ Schiller.
Một thế giới không còn bệnh nặng, làm ngạt thở vì đau đớn và kinh hoàng, không còn những giọt nước mắt ngây thơ vô tội, làm ta băn khoăn; không còn những cái chết non dại, mệt nhọc và xấu xa. Một thế giới trong đó đôi ba ngày nhức đầu sổ mũi chỉ là cái cớ để người ta thương yêu nhau hơn lên. Với những tiếng cười pha lê, làm ngơ ngác muôn ngàn tinh tú. Và sự chết lúc đó mang trọn vẹn ý nghĩa của hạt thóc gieo vào lòng đất. Chết không phải là chấm dứt sự sống. Mà là khởi đầu sự sống. Là móc nối liền những sự sống.
Tất cả, hãy sẵn sàng ngay tự bây giờ.
NGHIÊM SỸ TUẤN
[Tình Thương Số 10, tháng 10,1964]
1. Đoàn Thêm – Tìm Hiểu Hội Họa
2. … thịt xương là sông núi
Chia biệt người ra từng xứ cô đơn (Huy Cận)
3. André Carayon – Chirurgie de la Lèpre.
4. Lời viết bằng tiếng Pháp đăng trên một nhật báo Thủ đô, cách đây chừng năm,
5. Theo các bác sĩ Gilbert (OMS) và Nguyễn Văn Ái (Viện Pasteur Saigon) sáu tháng.
6. Dickens – A Christmas Carol.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.