vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 3 Jan 2026

Bài 6
NHƯ CỦA MỘT AI KHÁC,
Những ngày ở Mỹ, bất ngờ được đọc người Bạn trẻ Lương Minh Sơn kể lại chuyện của chính bản thân … Người Lính Viết văn có cảm giác sững sở như đang chứng kiến điều quá đỗi đau xót của một “Ngườila- ngoàimình.” Cảm giác của người không tin: “Hóa ra chính mình đã sống như thế. Đau như thế.” Cảm ơn người Bạn Trẻ- Cảm ơn người đã chia cùng một lần đau.
CHIẾN TRANH VIỆT NAM:
NHỮNG CHUYỆN CẦN ĐƯỢC KỂ LẠI.
Lương Minh Sơn
Hai mươi mấy năm về trước, có một sĩ quan của Miền Nam VN đã nhìn cuộc chiến bằng đôi mắt nhân bản.
Mặc dù là sĩ quan tác chiến, đã tham dự nhiều mặt trận đẫm máu, ông còn là một người chuyên viết bút ký chiến tranh. Ông viết:” … Tôi không phải là một hoàng tử văn chương ngoại hạng, xem chuyện viết lách như một công việc nghiêm trang giữa người và thế giới bí ẩn củachữ nghĩa, viết đối với tôi là cách thoát hơi”. Trong nhu cầu được viết, ông kể về đời lính, về cuộc chiến, và về những nạn nhân trong cơn binh lửa. Ba bút ký chiến trường nổi tiếng của ông là: “Dấu Binh Lửa, 1969″; “Dọc Đường Số Một, 1970″; “Mùa Hè Đỏ Lửa, 1972″.
Năm 1973, ông là thành viên của Ủy Ban Liên Hiệp Quân Sự 4 Bên, có trách nhiệm về vấn đề trao đổi tù binh. Ủy Ban 4 Bên gồm đại diện của Cộng Sản (miền Bắc, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Hoa Kỳ, và Miền Nam VNCH. Trong cuốn bút ký Thứ Tư của ông với nhan đề “Tù Binh & Hòa Bình, 1974”, ông kể lại diễn biến từ lúc người tù binh được ngã giá, thương lượng, cho đến những cuộc trao đổi chính thức ở hai bên bờ sông Thạch Hãn, Quảng Trị cũng như trên các phần đất khác của miền Nam VN.
Sau khi người CS tràn ngập miền Nam từ 30-4-1975, ông là một trong hằng trăm ngàn chiến sĩ VNCH đã bị CS đưa đi tù, trong những cái gọi là trại “Học Tập Cải Tạo”. Mọi người VN đầu biết rằng trong lúc ở tù CS, ông đã từ chối gặp cha ông, một cán bộ CS. Trong quá khứ, cha ông đã bỏ gia đình theo CS, sau khi dắt ông đi xem một phiên hội chợ, lúc ông dưới mười tuổi. Đối với một sĩ quan đã chọn cho mình một chính nghĩa, và cho dù chính nghĩa đó có thất bại đi chăng nữa, ông cũng đã duy trì được tư cách của một Kẻ Sĩ. Tháng Hai, 1989, sau 14 năm tù, trong đó có 8 năm biệt giam, ông được CSVN trả tự do và được Hoa Kỳ cho phép nhập cảnh theo chương trình “Nhân Đạo” (HO). Để hồi tưởng lại một phần nào của những gì đã xẩy ra trong cuộc chiến ở VN, cách đây hơn 20 năm về trước, bài viết này xin được trình bày những kinh nghiệm có thật trong cuộc đời của Phan Nhật Nam, một cựu Đại Úy Nhẩy Dù và là người viết bút ký chiến trường nổi tiếng của miền Nam VN.
CHIẾC QUAN TÀI TRONG THÀNH PHỐ
Phan Nhật Nam sanh ra và lớn lên ở Miền Trung nước Việt, quê hương “đất cầy lên sỏi đá”. Ngoài vấn đề thiên tai và hoàn cảnh phong thổ đã tạo ra nhiều thiếu thốn về những nhu cầu cần thiết cho một đời sống căn bản, người dân miền Trung còn là nạn nhân thường xuyên trực tiếp đầu tiên trong hầu hết các trận chiến đã xẩy ra ở VN. Từ thời Pháp thuộc (1885-1954) cho đến thời chiến tranh Nam-Bắc (1954-1975), rất nhiều người dân miền Trung đã phải gục ngã khi các lực lượng vũ trang của mọi phía thay phiên nhau cầy xới lên vùng đất thân yêu của họ. Hoàn cảnh điêu đứng của người dân miền Trung là những hình ảnh đã ăn sâu vào tâm hồn của Phan Nhật Nam. Khi còn là một cậu bé ở Đà Nẵng vào năm 1954, Phan Nhật Nam đã từng chứng kiến cảnh ba đứa bé mồ côi khoảng mười, mười hai tuổi, kéo lết một chiếc quan tài được đóng sơ sài bằng gỗ của thùng đựng sữa hộp, trong có chứa xác của một đứa bé khác. Tử thi trong quan tài là một đứa bé mồ côi lên sáu, thiếu ăn, bị kiết ly, không được cấp cứu nên đã tiết hết sinh lực trong người cho đến chết. Ba đứa trẻ còn sống kéo chiếc quan tài đi dọc theo những con đường trong thành phố, hướng về phía ngoại ô, nơi có bãi hoang chôn người chết. Trong cơn kiệt lực vì đói khổ, các em đã phải dừng lại nghỉ chân nhiều lần bên lề đường, nơi nhiều người qua lại. Rồi khi đi ngang qua một chiếc xe bán nước mía, các em đã vây quanh, lượm những cục nước đá thừa rơi rớt trên mặt đất. Các em gục đầu ăn những cục nước đá vụn dơ bẩn đó một cách thèm thuồng như chưa từng được ăn. Một đứa trong bọn bỗng dưng ngẩng đầu lên, đi đến cạnh chiếc quan tài nhỏ, đặt thỏi nước đá của mình ngay trên đầu ván thiên, như một cử chỉ “nhường phần ăn cho người đã chết”. Hãy nghe Phan Nhật Nam kể lại cảnh ba đứa bé chôn kẻ xấu số … “Huyệt đào xong, các em đặt nhẹ chiếc quan tài xuống, không quên lấy lại chiếc thừng để còn chôn đứa khác. Ôi, chôn kẻ khác hay là chính thân các em sau nầy? Ngôi mộ được đắp cao khoảng tám phân, em bé nhất tiểu tiện lên đó để giữ cho cát khỏi tụt! Tội ngiệp cho em biết bao, với mười tuổi hơn, em làm sao biết được đó là điều sỉ nhục kẻ chết. Em chỉ biết đem phẩm vật của thân thể, dù là một chất nước thừa, tặng cho người bạn nhỏ đã giã từ cuộc sống. Các em làm dấu Thánh Giá, chấm dứt bài kinh ngắn. Bóng ba đứa bé lũi thủi bước về tội nghiệp như những xác ma lang thang bất hạnh”.
ĐI CHO CÙNG VỚI QUÊ HƯƠNG
Năm 1963, Phan Nhật Nam tốt nghiệp sĩ quan khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (VBQGĐL), một trường đào tạo sĩ quan theo chương trình 4 năm với các môn căn bản không kém gì trường Võ Bị Quốc Gia West Po nt Hoa Kỳ. Theo nguyên tắc, ba sĩ quan đậu cao nhất khóa được quyền ưu tiên chọn binh chủng phục vụ, và theo truyền thống, tất cả đã phục vụ trong các đơn vị thiện chiến nhất của miền Nam VN, như: Nhẩy Dù (ND), Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), Biệt Động Quân (BĐQ), Bộ Binh (BB) .. v.v … Phan Nhật Nam đi Nhẩy Dù, một binh chủng đã có mặt trong hầu hết các cuộc giao tranh đẫm máu của chiến trường VN. Nhưng trong 14 năm trực tiếp góp mặt với khói lửa của quê hương, ông không thấy được “hòa bình trong chiến thắng”. Chung quanh ông chỉ là những cảnh đời tan nát của người lính VNCH nói riêng, và của người dân quê bị kẹt giữa hai lần đạn, nói chung. Ông viết, “… Ở đây chỉ là nỗi nhớ những đời người người tôi chứng kiến, những người tôi không biết có thể gọi đúng nghĩa hay chăng vì những người đã đi qua, đã gặp chỉ gợi lên những thống khổ bi thảm của một con “vật người” gọi là “người việt nam” …Bao nhiêu năm lính đã cho tôi biết được quê hương còm cõi này, những người Việt sống dọc dài con Đường Số 1, là những người mang nỗi bất hạnh vượt lên trên mọi bất hạnh: Hàng “Thánh Nhân” gánh chịu cơn tàn bạo hủy hoại con người.”
Tháng 6-65, Tiểu đoàn 7 Dù, đơn vị đầu đời của Phan Nhật Nam, được lệnh hành quân vùng Đồng Xoài, Bình Dương. Nhiệm vụ chính của cuộc hành quân này là để thâu lượm xác chết của Tiểu đoàn 2/7, Sư đoàn 5 BB bị VC tàn sát trước đó hai ngày. Tiểu đoàn bộ binh này bị CS phục kích tại bãi đáp khi vừa được trực thăng vận tới và đã bị đánh tan ngay từ những giờ phút đầu của cuộc giao tranh. Xác chết nằm rải rác trên hơn một cây số. Người chết trong đủ mọi tư thế; chết như nằm ngủ, chết đứng dựa vào thân cây, hoặc chết ở vị thế ngồi. Tiểu đoàn 7 Dù đã phải mất gần hai ngày mới thâu lượm được hết xác chết. Đêm đầu, họ phải ngủ lẫn lộn với những tử thi nằm ngổn ngang khắp rừng. Mưa xuống làm cho thây người chết bốc hơi sình thối cả một vùng. Sĩ quan và lính đều phải chung vai vác những tử thi ấy từ trong rừng ra bãi đáp để chạy đua với thời gian. Phan Nhật Nam viết, “Hai giờ chiều (ngày thứ hai), xác chết đã được nhặt hết, tôi chà tay xuống mặt đất như muốn bốc lớp mùn trên da. Thèm điếu thuốc lá nhưng không dám đưa bàn tay lên môi.”
Sau cuộc thu dọn xác chết đơn vị bạn, Tiểu đoàn 7 Dù tiến vào đồn điền Thuận Lợi để truy lùng quân địch. Họ không biết được Trung đoàn Q 763 VC đã phục kích sẵn trong đồn điền. Khi Tiểu đoàn bắt đầu đi vào khu sân bay của đồn điền, một tràng đạn đại liên quạt ra và đốn ngã trung đội tiền phương trong khoảng khắc. Sau đó, VC từ khắp phía đứng lên vây kín tiểu đoàn. Họ vừa bắn vừa hô to những khẩu hiệu kêu gọi đầu hàng. Tiểu đoàn chống trả gần hết một ngày nhưng vẫn không làm sao thoát vòng vây. Tối đến, màn đêm trả lại sự tịch mịch của khu rừng với thêm những xác người còn nóng. Trận phục kích đã làm tiêu hao hết nửa quân số của tiểu đoàn. Sau khi bị đạn trúng vào tay và sướt qua mặt, một người bạn của Nam, Thiếu úy Hải vẫn còn tỉnh táo để nằm nghe ngóng. PNN viết … “Tiếng rên la trong đêm tối, lời rên la thảm thiết như âm vọng từ cõi chết. Nước mắt chợt trào ra, nhớ lại những kẻ chết từ buổi chiều, nay tôi chứng kiến thêm giây phút hấp hối của đồng bạn. Người sắp chết trong giây phút cuối cùng của cuộc đời chẳng ai nghĩ đến bản thân, tất cả chỉ nghĩ đến cha mẹ, vợ con. Những tiếng kêu: “con ơi … mình ơi!” như những mũi dao nhọn đâm sâu da thịt, tôi muốn bịt tai lại để khỏi nghe thấy những lời than hấp hối ngân hoài không dứt … “
Màn đêm phủ xuống, nhưng cuộc tàn sát vẫn tiếp tục diễn ra. Lính của Trung đoàn Q.763 VC bắt đầu đi thanh toán chiến trường. Với súng lục và mã tấu trên tay, họ dứt điểm những thương binh Dù nào còn rên rỉ, kêu cứu, “..Lời nguyền rủa chen lẫn tiếng nổ khô và gọn. Chúng chửi mắng hoặc bắn chết thương binh … Người nằm đấy, những người Việt chung một giòng máu, chiến tranh đã biến đổi họ thành thù địch trong trận đánh, nhưng bây giờ còn gì để có nên thù hận. Nhưng rõ ràng tôi nghe trong bóng đêm, những câu chửi tục tĩu, tiếng nấc cuối cùng người chết khi nhận nhát dao tàn bạo hoặc những viên đạn tàn nhẫn chính xác nổ vào đầu … Tôi bò nhanh, đụng vào xác một người. Ai đó …. tôi, Cấm đây, cứu tôi với … Có tiếng chân người chạy đến, một tên VC … Mẹ mày để tao cứu cho. Nó cười hềnh hệch man dã, một viên đạn nổ chát chúa, nó bắn vào đầu anh Cấm. Phi cơ xuất hiện, bom Napalm trút xuống, khu đồn điền rung rinh như cơn động đất, lửa cháy sáng rực. Những người bị thương cố vùng lên để chạy, xong ngã xuống, chập choạng như những xác chết nhập tràng … Sau cuộc không tập, quân VC tập hợp điểm danh ồn ào vang dậy cả khu rừng.”
Trong mười năm cực điểm của cuộc chiến tranh VN (65-75), sức công phá của đạn bom nổ tung trên mảnh đất và da thịt của người VN hiện thực gấp mấy lần trận Đồng Xoài vừa kể. Hãy xem Phan Nhật Nam giải thích tại sao ông chỉ viết bút ký về chiến trường và lính: “Tôi viết về Lính vì tôi không có đời sống nào khác hơn nữa.” Đối với những chiến sĩ Hoa Kỳ, họ có một hy sinh cao cả cho Chính Nghĩa Tự Do ở miền Nam Việt Nam. Trên 58 ngàn tuổi trẻ đã nằm xuống cho một đất nước cách xa họ nửa vòng trái đất. Nhưng trong sự kinh hoàng tột cùng của chiến tranh VN, phần lớn những người chiến sĩ Hoa Kỳ, ít nhất còn có được hy vọng tranh sống trong 365 ngày phục vụ ở VN, để sau đó được trở về xứ sở làm lại cuộc đời mới. Người chiến sĩ VNCH không hề có được ân phúc này. Họ phải chiến đấu theo từng mặt trận để tự vệ như là một điều bắt buộc, nhưng họ không có thẩm quyền giải quyết chiến tranh VN. Bởi thế, quân đội của Miền Nam là tập thể của những cảnh đời khó có thể tưởng tượng. Hãy xem Phan Nhật Nam kể về những người lính mà ông đã từng chứng kiến:
“Có một gã lính trẻ ở đại đội tôi, người thấp bé da xanh mướt ốm yếu, nhưng uống rượu kinh khiếp, hai lít rượu đế nó uống tỉnh bơ, hình như rượu không tạo nên phản ứng nào trong người nó. Ngoài cuộc rượu, nó bình lặng kín đáo như một con ốc. Một hôm đứng gác, sẵn súng ở tay nó bắn vào đầu tự vận. Tôi không biết nỗi thất vọng kinh khủng nào trong đầu một thằng bé 19 tuổi.
“Đức “điên”, quan Ba, Tiểu đoàn phó, đi hành quân mang khẩu M.79(1), chạy trước lính khi xung phong; về Sài Gòn chơi, Đức mặc một chiếc áo bà ba đen, dưới quần lính, chân mang dép Nhật, trang bị thêm một con dao đi rừng. Tôi không hiểu nó nhìn đời như thế nào qua cặp kính trắng dầy cộm khi trên người trang bị thứ phụ tùng như thế.”
“Một người lính già, già đúng nghĩa với những sợi tóc màu trắng, trắng như khoảng trống hư vô đằng sau hai mươi bốn năm lính với một thân thể đầy vết sẹo, mất thị giác và trí nhớ, nhưng vẫn nói đến hoài trận đánh đầu tiên của thời trai trẻ trên chiến trường Bắc Việt – Nhắc lại như vậy để mong đừng bị giải ngũ, hy vọng một ngày xua quân vượt Trường Sơn lùng giặc tại chiến khu”.
“…Người lính nghĩa quân ngồi vuốt tóc đứa cháu vừa tìm được trong lòng địa đạo, mang đứa cháu bé trên vai vượt qua bờ ruộng, khấn vái trời phật che chở cho đứa cháu vừa tìm được sống còn, dù mình có bị tan nát dưới lần đại liên bắn không ngừng nghỉ. Đứa cháu là con ngừời anh vừa chạy theo “bộ đội giải phóng”.
Trong thời gian của cuộc chiến, một số dư luận trên thế giới đã xuyên tạc rằng quân đội Miền Nam không chịu đánh giặc vì sợ chết, sau đây là những hình ảnh trong ký ức của Phan Nhật Nam về những giờ phút cuối cùng của các chiến sĩ của Tiểu đoàn 7 Dù ở trận Đồng Xoài:
“…Địch quân đang cắt đôi tiểu đoàn chúng tôi, Đại Úy Ánh, sĩ quan hành quân đứng thẳng người quan sát và hướng dẫn Gunship (2), bị trúng một viên đạn vỡ tan lồng ngực. Trung úy Ký khóa 17 (VBĐL) trong giây phút cuối cùng của sự sống, thản nhiên đốt cháy tất cả giấy tờ đặc lịnh truyền tin. Đại úy Hợp bình tĩnh hút những hơi thuốc píp cuối cùng trước khi tự bắn vào đầu. Trung úy Kỳ, Đại đội trưởng 71, cởi áo gối đầu cho dễ thở, đuổi lính chạy đi, tự mình chống trả với địch trong cơn hấp hối. Đại úy Hải, Tiểu đoàn phó, chửi vào mặt VC khi chúng bảo đầu hàng, chết với chiếc combiné (3) còn ở trong tay, ngồi tựa vào gốc cây cao su ngang tàng và dũng mãnh … Lưu Diễn, anh lính cao không đầy thước rưỡi, người chỉ mang được ba quả đạn 57 ly (4), hai chân bị bắn nát, dòi bò ra theo vết thương, đã bò bằng hai tay trong năm ngày với đoạn đường dài hơn mười lăm cây số, đói khát và kiệt lực nhưng không ngã lòng. Khi về đến bịnh viện, người anh chỉ còn là một xác ma, dấu vết của sự sống chỉ còn lại ở đôi mắt.”
Chiến tranh là chết chóc. Gần nửa triệu người lính VNCH đã chết trong 30 năm của cuộc chiến (45-75); không phải là một con số ước lượng quá đáng. Người chết đã đành, nhưng những người đã chứng kiến cái chết của những bạn đồng ngũ và trở về, chưa hẳn có thể gọi là còn được sống. Hay nói đúng hơn là họ đã chết một phần đời trong họ.
SỰ NGỘ NHẬN
Chiến tranh VN là một cuộc chiến không có mặt trận rõ rệt. Chiến trường xẩy ra nơi những ngôi làng, bờ ruộng, thôn xóm, đồng hoang. Mảnh đất miền Trung nằm giữa hai miền Nam, Bắc, bị kẹp lại như ổ “sandwich” nên người dân miền Trung phải chứng kiến, chịu đựng đủ mọi thảm cảnh chiến tranh xẩy ra từ, với tất cả thành phần quân đội tham chiến. Sau bao nhiêu lần ruộng vườn của họ cháy ra tro vì những cuộc giao tranh giữa quân đội Viễn Chinh Pháp và Việt Minh, rồi đến trận chiến CSVN, Miền Nam VN và Hoa Kỳ … Người dân quê hiểu gì về chiến tranh? Hãy theo Phan Nhật Nam trở về Kiến Hòa, trong thời kỳ tháng 8-64. Lúc đó, Tiểu đoàn 7 và 3 Dù vừa đụng trận lớn với VC ở gần Quốc lộ 4. Sau khi thắng trận, lính Dù chia các đại đội lục soát chiến trường. Xác VC được moi lên từ những đụn lúa, bờ ao, con rạch, đặt nằm ngổn ngang trên mặt đất. Khi đi vào một căn nhà đang bị cháy, Phan Nhật Nam bắt gặp một người đàn bà áo trắng quần đen đang ngồi ôm chiếc lẵng mây nhìn ngơ ngác nền gạch trước sân đang cháy đổ. Thấy anh, chị ta đứng bật dậy, một đôi mắt không phản ứng, đưa chiếc lẵng mây ra trước mặt. Gia tài trong chiếc lẫng mây của người đàn bà quê này gồm có hai bộ quần áo, hai sợi giây chuyền vàng và đôi bông tai. Phan Nhật Nam không nhận và đưa trả lại cho người phụ nữ. Chị ta run rẩy đón lấy. Người đàn bà khoảng 27, 28 tuổi, gương mặt trắng trẻo đôn hậu bỗng răn rúm lại vì hốt hoảng, làm rung đôi môi. Chiếc lẵng mây rơi xuống đất; chị đàn bà hai cánh tay buông xuôi đứng tần ngần như một người không hồn. Giòng nước mắt bắt đầu tuôn xuống. Phan Nhật Nam hươi mũi súng trước mắt chị ta, bảo ngồi xuống bậc tam cấp chờ được di tản ra đường lộ. Hãy nghe Phan Nhật Nam kể về sự ngộ nhận của người đàn bà bất hạnh này, “Thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa … Từ từ chị đưa bàn tay lên hai hàng nút trước ngực – Không! Không thể được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp, phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng. Không phải như thế chị ơi … Người đàn bà đã hiểu lầm vì tôi không lấy vàng và bắt chị ta đứng lại chờ di tản. Không, chị ta không hiểu được lời nói của tôi – Một người Việt ở cùng
(1) súng phóng lựu đạn
(2) phi cơ trang bị súng đại liên bắn đạn nồi, bằng điện
(3) bộ phận cầm tay của máy liên lạc, để nói (handset)
(4) đạn súng không giật Bazoka.
chị trên một mảnh đất – Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm?!! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này. Tôi đi lính đánh trận chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm cho tôi biết bao với ngộ nhận tủi hổ này … Thê thảm cho tôi, với những người lính chung quanh vì chúng tôi đâu phải là một thứ lính tẩy trên quê hương; chúng tôi có lòng nào thụ hưởng cảm giác trên xác thân của một người đàn bà Việt Nam đang cơn vỡ nát kinh hoàng đau đớn. Tôi muốn đưa tay lên gài những chiếc nút áo đã bật tung lộ liễu, muốn lau khô những giọt nước trên mặt chị nhưng chân tay tôi cứng ngắc hổ thẹn ….
Quân rút ra khỏi làng, chị đàn bà đi theo chúng tôi, vẫn với những bước đi ngượng ngập, vẫn đôi mắt nhìn vào khoảng trống không cảm giác. Người đàn bà Việt Nam bước đi ngỡ ngàng với hạnh phúc khốn khổ – Hạnh phúc thấy thân thể mình chưa bị xúc phạm. Chị không tin đã được bảo vệ giữ gìn từ người lính đã một lần ngộ nhận”.
THỦ ĐÔ LỪA LỌC
Ngày 2-11-1963, Ngô Đình Diệm, Tổng Thống đầu tiên của miền Nam VN bị tướng lãnh miền Nam lật đổ vì lý do độc tài và gia đình trị. Từ 63-67, miền Nam VN nhận sự chỉ huy của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.
Thành phố Sài Gòn trở nên rối loạn với những vụ xuống đường bằng mã tấu, gậy gộc của nhiều phe phái chính trị và tôn giáo. Một vài Tiểu đoàn Dù được bốc từ các mặt trận về để ngăn chận những người biểu tình. Sau đây là ý nghĩ của Phan Nhật Nam, một sĩ quan Dù, khi phải trực diện với cơn sốt chính trị trong một tháng chống biểu tình ở Sài Gòn:
“Một tháng ở Thủ Đô đủ để tạo thành cơn sụp đổ tan hoang trong linh hồn, đủ để thấy rõ sự phản bội của hậu phương, một hậu phương lừa đảo trên nước mắt và máu của người lính. Một tháng đủ để chúng tôi hiểu nỗi ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy thù hận và tham vọng. Sài Gòn với những buổi trưa nóng như thiêu đốt, áo giáp, nón sát, mặt nạ, người lính đứng thật cô đơn trong sỉ nhục căm thù của đám đông nhân danh Tổ quốc và Thượng Đế. Chúng tôi bây giờ đã hiểu rõ: Máu và đời sống của mình đã đổ ra cho một xã hội lừa lọc.”
LÁ CỜ TRONG ĐƯỜNG PHỐ
Tháng 6-66, miền Trung biểu tình nổi loạn chống đối chính phủ Trung Ương. Một lần nữa, Nhẩy Dù lại bị bốc từ mặt trận về để bảo vệ đường phố Đà Nẵng. Lần này, Phan Nhật Nam trở về quê hương tuổi nhỏ, gặp lại một người bạn từ thời thơ ấu, nhưng trong một tình cảnh khác. Ông trở về với tư cách là một sĩ quan, chỉ huy một lực lượng quân đội để chống lại đoàn người biểu tình. Người bạn thuở nhỏ tên Dinh của ông nay là người cầm cờ trong đám biểu tình đang hô hào thay đổi đời sống. Khi phát hiện ra người bạn, Phan Nhật Nam viết:
“Dinh, đúng nó đấy, thằng bạn của tôi, thằng bạn của những ngày còn bé đã nuôi dưỡng hoài bão thay đổi đất nước .. Không phải là một hoài bão viễn vông nhưng là mộtước vọng có thật, và bây giờ, cũng với giọng nói đó, ánh mắt rực lửa đam mê đầy nhiệt tình đó, nó đứng trước mặt tôi! Dinh ơi, mầy có biết cho tao hay không? Lịnh tấn công được ban ra, tiêu lịnh riêng phải bắt cho được gã cầm cờ. Chúng tôi và cảnh sát bắt đầu tấn công. Tôi thấy nó, thằng bạn của tôi, tóc xoả dài xuống trán, tay nâng cao lá cờ lúc chạy lui … Tôi không phải là Napoléon, nhưng cũng là kẻ chiến thắng trên bạo lực. Thằng bạn tôi đang chạy về đằng sau, một viên đạn nào đó đã trúng. Tôi thấy nó ngã quy. Cảnh sát Dã chiến nhào tới, tôi thấy đưa cánh tay nó lên vùng vẫy … Không hiểu vì một chủ quan nào, tôi vẫn nghĩ rằng nó không thể là một người cộng sản được. Đấy chỉ là một “nghệ sĩ mang nhiệt tình vào đời sống và ấp ủ hoài bão dựng lại quê hương lớn lên”. Dinh ơi! Ai có thể biết được tương lai sau này: Tao trở nên người lính thực hiện bạo lực, chứng kiến lúc mày ngã xuống cho một quê hương thật đẹp trong hư vô.”(*)
(*) Phan Chánh Dinh, tức Phan Duy Nhân, thi sĩ, giáo sư; Nay, 1993 là Nguyễn Chính, Phó Ban Tôn Giáo Trung Ương Đảng.
NHỮNG NGƯỜI MỸ KHÁC NHAU
“Nếu có một hạng người nào ở Việt Nam có cảm tình với người Bạn Mỹ thì đấy chính là Người Lính Miền Nam. Những người lính ngủ võng, ăn cơm sấy, uống nước hố bom … Tôi muốn nói đến người lính thật thà chỉ cho một anh Mỹ vào hầm bằng một giọng Việt Nam … “Ê … Ê hầm đây Mỹ!” Trong khi chú GI cuống quít vì phi trường Darkto cháy và nổ như một rừng bom. Tôi muốn nói đến nỗi biết ơn của một người lính nhẩy dù bị thương nằm tênh hênh dưới nắng, trận đánh còn đang tiếp diễn với mức độ tàn khốc, nhưng chiếc trực thăng tải thương của Sư Đoàn 1 Không Ky vẫn lượn vòng trên trời chờ đợi. Sau một cái nheo mắt, anh lính phi công tuổi vừa quá hai mươi làm một “cú rơi” tự do. Sự sống của phi hành đoàn, giá tiền của chiếc tàu bay với mỗi giờ bay gần trăm ngàn đồng tất cả chỉ cốt cứu cho được anh lính Việt nhỏ bé quắt queo đen đúa. Người lính Nhẩy Dù VN đã tỏ long biết ơn khi xuống đến phi trường Tây Ninh, cố đưa bàn tay chào anh phi công khi gã trẻ tuổi này đưa ngón tay cái lên chào giã từ. Chúng tôi biết ơn các bạn vì có chúng tôi mới biết những kinh khiếp từng giờ, từng phút ở Khe Sanh (Tiểu đoàn 3 NDVN và một đơn vị của Sư đoàn 1 TQLCHK chịu trận pháo kích ba tháng dài ở Khe sanh). Tây Ninh, bảy giờ tối ngày Lễ Tạ Ơn, Đại úy Doyle tự động biến thành anh bốc hàng, “thằng mập” lái chiếc Jeep rọi đèn pha làm bãi đáp cho chuyến hook cuối cùng để đem lưới đạn vào rừng cho một căn cứ nhẩy dù VN. Tôi muốn nhớ những cảm tình chân thật đó để xác định một điều với các Chiến Hữu Người Mỹ: Chỉ có những Người Lính VN chúng tôi mới thật sự là kẻ biết ơn các bạn trong cuộc chiến tàn khốc này. Chúng tôi xin tri ân những chiến sĩ HK đã đổ máu và chấm dứt đời sống trên mảnh đất nghèo tên gọi VN … “.
Nhưng khi một Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ tuyên bố: “Quân đội VNCH không góp công vào cuộc chiến đấu,” có cái gì ngưng chảy trong mạch máu. Tại sao có thể có những lời tuyên bố như vậy? Thái độ của Chánh Phủ? Tướng Lãnh? Của báo chí, dư luận trong và ngoài nước? Phản ứng đầu tiên của tôi là phẫn nộ, phẫn nộ vì bị sỉ nhục, bị đánh giá quá thấp và tiếp đến nỗi buồn phiền u uất. “Quân đội VNCH không chịu chiến đấu”- Cách phán xét này như ngọn roi tàn bạo quật vào nỗi xót xa, không phải đối với một cá nhân nhưng là toàn tập thể đã cung hiến đời sống nên nỗ lực cuối cùng đối đầu với CS, bảo vệ Đất, Người Miền Nam”.
NHỮNG GIỢT NƯỚC MẮT CHO HÒA BÌNH
Ngày 27-1-73, bốn bên trong cuộc chiến VN ký Hiệp Định Paris cho cái gọi là “Tái lập Hòa Bình ở VN”.
Hoa Kỳ ký để rút quân trong danh dự. Cộng sản Miền Bắc ký với chủ ý nhìn nhận sự ra đi của quân đội HK, và có cơ hội củng cố lực lượng chuẩn bị cho một thế cờ mới. MTGPMN ký để được chính thức công nhận là một “thực thể độc lập”. (Nhưng tưởng cũng nên nhắc lại, không bao lâu sau khi quân đội CS miền Bắc cưỡng chiếm xong miền Nam, Tháng Tư năm 75, MTGPMN đã bị xóa bỏ ngay. Bị xoá bởi kẻ đã khai sinh ra nó- Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Hà Nội). Miền Nam VNCH miễn cưỡng ký với hy vọng được HK tiếp tục viện trợ trong chương trình “Việt Nam Hóa.”
Vào lúc Lê Đức Tho và Henry Kissinger chia nhau giải thưởng Nobel Hòa Bình, nâng ly chúc tụng nhau cho một nền hòa bình đâu đó, cộng sản miền Bắc bắt đầu tung quân chính quy với quyết định dứt điểm căn cứ Tống Lê Chân. Trong khi toàn thế giới tự do đang vỗ tay hoan hô Hiệp Định Paris thì căn cứ Tống Lê Chân đang đón nhận “nền hòa bình mới” này với những trận pháo kích liên tục từ lực lượng cộng sản.
Nhưng Tống Lê Chân ở đâu? Tại sao phía cộng sản phải dứt cho được căn cứ đó bằng mọi giá? Tống Lê Chân là một trong bẩy tiền đồn nằm dọc theo biên giới Việt-Miên từ Tây Ninh đến Phước Long. Các trại còn lại là Thiện Ngôn, Lộc Ninh, Katum, Quản Lợi, Bến Sỏi, và Bù Gia Mập. Hồi năm 67, các trại này là những căn cứ dân sự chiến đấu thuộc Lực lượng Đặc Biệt do quân đội HK thành lập. Căn cứ Tống Lê Chân nằm trên một ngọn đồi cao năm mươi thước cách biên giới Việt -Miên mười ba cây số về phía Nam, và cách An Lộc mười lăm cây số về phía Đông-Bắc. Ngoài nhiệm vụ theo dõi để báo động và hành quân truy lùng địch dọc theo biên giới, Tống Lê Chân còn là cứ điểm nằm giữa các nút then chốt nối liên hệ thống giao liên miền Đông Nam bộ của lực lượng cộng sản. Dưới chân đồi về phía Bắc của căn cứ là đường 246 nối liền Tây Ninh và Bình Long, một con đường mà bộ đội cộng cần xử dụng để hoạt động giữa hai chiến khu C và D. Tống Lê Chân cũng nằm chắn ngang đường nối liền giữa bản doanh Cục R, và Dầu Tiếng, để từ đó có thể làm bàn đạp xâm nhập vào Bình Dương, Gia Định, Sài Gòn. Đứng ở một vị thế kiểm soát bốn hướng giao liên của địch

thủ, Tống Lê Chân là một sự thách thức quan trọng mà phía cộng sản cần phải đốn ngã trước khi có thể xua đại quân vào các thành phố Miền Nam. Từ ngày thành lập, Tống Lê Chân chưa bao giờ có được một ngày không tiếng súng. Vào khoảng tháng Tư 72, thị xã Lộc Ninh và An Lộc bắt đầu bị đánh lớn. Nhất định là Việt cộng quân sẽ ủi sập hết dãy tiền đồn biên giới để rộng đường tiến quân. Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Quân Khu III quyết định rút hết lực lượng của bốn trong bẩy tiền đồn biên giới Việt-Miên, trong số đó Tống Lê Chân. Thiếu tá Lê Văn Ngôn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng (BĐQBP) của Tống Lê Chân xin được ở lại giữ căn cứ. NGÔN nói: “BĐQBP mà rút lui thì quá yếu … “. Tất cả 259 Biệt Động Quân của Tiểu đoàn 92 cũng quyết tình nguyện ở lại đồn ..
Sau bao nhiêu tháng bao vây và pháo kích vào căn cứ, ngày 25 tháng Giêng 73, ba ngày trước khi có Hiệp định Paris, quân đội CS bắt đầu mở những cuộc tấn công cường tập vào Tống Lê Chân. Theo lời viết của Phan Nhật Nam trong “Tù Binh Và Hòa Bình” tính đến tháng 8-73, Tiểu đoàn 92 BĐQBP báo cáo đã nhận được tổng cộng: 233 lần pháo kích, 20 lần bị tấn công biển người, và 7 lần bị đánh đặc công. Trong tám tháng đầu của cuộc bao vây, Tống Lê Chân đã “hứng” 14,500 quả đạn đủ loại dể chào mừng cho cái gọi là “Hòa Bình” trên đất nước VN. Ngày 10-8-73, chiếc trực thăng UH-1 của Phi đoàn 233 bị bắn rớt trong một chuyến phi vụ xuống Tống Lê Chân để di tản thương binh. Phi hành đoàn bị kẹt ở lại căn cứ. Đầu tháng 9, 73, Thiếu tá Bảo, bạn cùng khóa với Thiếu tá Ngôn liều chết dẫn một phi tuần chui lưới phòng không để vào cho được căn cứ. Khi bắt đầu di tản thương binh, 40 trong 75 thương binh BĐQ vẫn tình nguyện ở lại chiến đấu với đơn vị. Chuyến phi vụ đặc biệt này còn mang theo một cặp lon mới cho Thiếu tá Ngôn như một “Tri Ân Quốc Gia đối với một anh hùng trẻ tuổi”. Lê Văn Ngôn, 28 tuổi, tốt nghiệp sĩ quan khóa 21 trường VBĐL năm 1966, được vinh thăng Trung Tá tại mặt trận năm 1973. Về người Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 92 BĐQBP. Phan Nhật Nam viết:
“Đến một lúc nào đó trong một hoàn cảnh thích hợp, sự can trường đã trở nên một tính chất tổng quát và cộng hưởng”. Ngày 5-4-74, sau nhiều tháng tập trận giã trên sa bàn, Công trường 9 và Trung đoàn 271 CS Bắc Việt, cùng với sự yểm trợ của một trung đoàn pháo, một trung đoàn phòng không và lữ đoàn chiến xa mở cuộc tổng công kích cuối cùng ở Tống Lê Chân. Trung tá Lê Văn Ngôn và 259 chiến sĩ của Tiểu đoàn 92 BĐQBP làm được gì trước định mệnh đó? Phải chăng họ là những giọt nước mắt đã đổ xuống cho giải thưởng “Nobel Hòa Bình”?
Sau bẩy ngày chống trả, Tống Lê Chân bị CS tràn ngập vào lúc 0100 sáng ngày 11 tháng Năm 74. Phan Nhật Nam viết, “Chúng tôi đã chống đỡ bằng thanh kiếm tuyệt vọng trong khi đời vẫn kêu gào tiếng lớn đòi máu chảy.” Bây giờ là Tháng Tư 95. Thấm thoát đã hơn hai mươi năm kể từ khi có những dư luận phản chiến trên thế giới; những người viết về quân sử thế giới hôm nay sẽ nhìn lại vấn đề một cách trung thực hơn. Quân sử thế giới đã ghi chép những chịu đựng oai hùng của: “Quân đội Pháp giữ Điện Biên Phủ 56 ngày; quân đội HK cố thủ Bataan 66 ngày; người Nga bảo vệ Stalingrad 76 ngày; quân đội hoàng gia Anh và khối Thịnh Vượng Chung nơi Tobruk 241 ngày. Quân sử thế giới sẽ ghi chép gì về lần tử thủ của Tiểu đoàn 92 BĐQBP trong 510 ngày ở Tống Lê Chân? Những người viết chuyện thường gọi căn cứ này là căn cứ TỐNG LỆ CHÂN – Sự Thật về những Giọt Nước Mắt Tiễn Biệt. Và tên của Trung Tá Lê Văn Ngôn là “Lời Nói”: Lời quyết không bỏ Tống Lệ Chân.
Khi Sài Gòn thất thủ trong sáng ngày 30-4-75, Miền Nam VNCH đã có hằng trăm ngàn Lê Văn Ngôn (*) đã nằm xuống cho hai chữ “Hòa Bình”. Ngày hôm nay, đất nước Hoa Kỳ đang có gần một trăm ngàn Phan Nhật Nam vừa được qua đến bến bờ tự do-Chính Nghĩa Tự Do mà họ đã bỏ ra hơn phân nửa cuộc đời để tranh đấu. Họ là những người đã phải trả qua ba đến mười bốn, mười lăm năm tù cộng sản. Khi qua đến Mỹ, tuổi đời họ đã giữa 50 đến 60. Hai mươi, ba mươi năm của đời người họ đã bỏ lại nơi trận địa và chốn lao tù. Và gần như mỗi ngày, mỗi tuần, các Đài Phát Thanh tiếng Việt trên đất Mỹ vẫn còn phải loan tin cáo chung về họ: “Đại Úy Nguyễn Văn A, 10 năm tù CS, vừa qua Mỹ được 4 ngày, đứt mạch máu chết, để lại một vợ hai con, đang cần tiền chôn cất, xin làm ơn cứu giúp … Thiếu tá Nguyễn Văn B, 14 năm tù CS, qua Mỹ được 2 tháng, lao phổi chết, con bơ vơ trên xứ lạ quê người, xin làm ơn cứu giúp …”
Chiến tranh VN thật sự đã tàn chưa?
(*) Ngôn chết ở Trại Tù Liên Trại I, Đoàn 776, Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt khoảng 1976, 77 …
Từ Lương Minh Sơn,
Người Trẻ Tuổi lớn lên nơi
Đất Mỹ,
Orange County, Cali.
Nhân Ngày 30 tháng Tư, 1995.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.