Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Bài 9.

Thịt Chuột và Văn Hóa

Văn hóa vốn là sản phẩm tinh hoa nhất của loài người. Mỗi dân tộc có một văn-hóa riêng. Theo ông, lấy văn-hóa của kẻ khác làm của mình phải rất thận trọng kẻo không sẽ bị bội thực vì không tiêu hóa nổi. Nhân một người bạn thân của ông viết về văn hóa Việt Nam, Nghiêm Sỹ Tuấn đã góp ý dưới hình thức một chuyện phiếm “Thịt chuột và văn-hóa”.

Con chuột ví với ông, là những kỷ niệm bình dị của thời thơ ấu xa xưa nơi thôn dã. Ông tuổi Tý, cầm tinh con chuột, sống ở nhà quê ăn thịt chuột, thưởng thức tranh vẽ đám cưới chuột, lớp học chuột, v.v …

Vì thế chuột với ông hay rộng ra với người Việt Nam có một liên hệ tinh thần thật đẹp. Con chuột đã mang trên nó một văn-minh, văn-hóa đặc thù Việt Nam vậy. Bởi thế ông không thích truyện “Dịch hạch” của Camus, truyện “Của chuột và người” của Steinbeck. Nói rõ ra văn-hóa ngoại lai nó thô bạo và kịch cỡm với ông cũng như trò khâu đít chuột của một học giả (Lê văn Siêu) bày ra vậy.

Nghĩ cho cùng, lời nói của ông hữu lý phần nào. Bởi vì nếu cứ ăn, cứ nhập mãi văn-hóa người khác, rất nghèo cái của mình và giàu những cái của người khác do mình tự cầm tới.

Tôi sinh năm Tý. Theo lời mẹ tôi, thì sinh tôi được một ngày là hết năm. Thành thử mới sống trên đời hai ngày, tôi đã mang nặng trên vai hai tuổi. Có lẽ vì thế mà vóc người tôi nhỏ bé, nhưng lại sớm ra vẻ già. Dầu vậy, tôi đã sống những ngày thơ ấu đầy đủ vô tư nơi quê ngoại. Đấy là một làng hiền lành nằm kề một con sông rộng mười lăm nhịp cầu tre, với khá nhiều vó bè hai bên bờ và thuyền nan trái sắn chèo xuôi ngược, nối liền sinh hoạt dân làng với sinh hoạt tỉnh ly. Ruộng thường cấy hai mùa, chen giữa là những vụ trồng bông, ngô, khoai, gọi chung là trồng mầu. Mực sống tương đối khá, nhờ thêm nghề đan cót. Có cả một bến nứa suốt ngày tấp nập. Mùi nứa ngâm lâu dưới nước khiến không khí trong làng nhiễm mùi đặc biệt, vừa nồng vừa ngái, vừa thoảng hương nước nắm Nghệ. Nhưng cót đan xong phơi khô, lại trở thơm mộc mạc. Gặt hái rồi, lúa mới thật nỏ quây trong cót mới tạo nên mùi ấm áp dịu dàng, cảm thấy dễ chỉ có những bàn chân gót dầy nứt nẻ vì lội nước gieo cấy mùa đông.

Vào khoảng ấy thường có những người đi bán thịt chuột. Chuột đây là chuột đồng, suốt mùa lúa, từ lúc trổ đòng xanh đến khi chín vàng, đã vụng trộm gậm nhấm của người. Bây giờ, trên đồng chỉ còn gốc rạ, người ta mới đem rạ hun bắt chúng ăn thịt trả thù. Con nào con nấy béo mẫm, thui vàng da cam, moi hết gan ruột, buộc túm đuôi lại từng chùm thịt chuột thui như thế, chặt con cờ, rang ăn với lá chanh tươi thái nhỏ như chỉ rối, là một món rất khoái khẩu. Không hiểu sao những nhà văn sành ăn lại quên, không ghi món thịt chuột rang này trong các tác phẩm ẩm thực của mình. Tôi cho rằng các vị ấy sống nơi thành thị quá nhiều, chỉ biết

có chuột cống rãnh, chuyên sống chui rúc nơi tối tăm, nhờ rác rưởi và thức ăn thừa, nên trông bộ bẩn thỉu hôi hám. Chẳng ai thèm bắt ăn thử xem sao. Cũng như các vị ấy cứ nhất mực tán tụng không khí trong lành nơi thôn quê, cứ thi vị hóa những buổi cấy, buổi gặt, mà quên bẳng đại khái cái mùi nứa đặc biệt tôi vừa nói trên cùng những gót chân dầy nứt nẻ sưng giá đi cấy, những lưng đẫm mồ hôi dầu muối đủ loại và những con đỉa trâu khổng lồ trong mùa gặt nắng lửa chói chang. Thịt chuột cũng thế. Nó là món ăn của dân quê, vua chúa trên đời không hề biết đến. Tôi sinh nhằm tuổi Tý, nên rất háu ăn, gặp được món thịt chuột rang, còn gì thích thú cho bằng. Con chuột vô tình đã đóng một vai trò khá quan trọng trong đời sống dân ta. Ngay từ lúc còn mặc quần thủng đáy, chúng ta đã được thưởng thức tranh vẽ đám cưới chuột, lớp học chuột khăn

đóng, áo dài, đi đứng hai chân, trịnh trọng như người. Nó lại đứng đầu trong đám con vật biểu tượng mười hai địa chi, trên cả con rồng, con hổ. Ây vậy mà các ông vua, ông tướng của ta từ xưa tới nay cứ để yên thứ tự đó, kể cũng lạ. Nhất là bây giờ chuột đồng không có, chỉ có toàn chuột hôi, mang đầy mầm mống dịch hạch trên mình.

Tôi khởi sự đi học hơi muộn, hương vị thịt chuột rang hồi nhỏ nhờ đó đôi khi còn thức dậy nơi đầu lưỡi, làm tôi nhìn giống chuột với cặp mắt bao dung. Vì thế tôi cứ đận đà, không muốn xem những truyện Dịch Hạch của ông C .. , truyện Chuột và Người của ông S, mặc dù nhiều người văn-hóa, trong đó có cả anh bạn học thân của tôi, nghiền ngẫm, dịch giải một cách say mê. Nghĩ rằng giống vật ăn thịt được hẳn là giống hiền. Ăn thịt nó cũng quá rồi, nỡ nào đem ra bới lông tìm bọ chét. Ác hơn nữa có nhà văn-hóa lại bày trò khâu đít chuột, làm chúng mắc chứng táo bón cấp tính, sinh cáu kỉnh, cắn hại lẫn nhau mà tự tiêu diệt.

Ngẫm cho cùng, chuột thời buổi này khổ cực nào kém chi người. Bắt buộc, chúng phải làm chuột thành phố hết thẩy. Còn đâu đòng đòng non ngọt ngào, lúa chín vàng chắc nịch, cùng với không gian khoảng khoát nơi đồng ruộng. Hết ăn được chúng, loài người thù ghét chúng thậm tệ. Giả sử hiểu được tiếng nói, văn tự của người, chắc chuột sẽ là những đệ tử trung thành của ông lão Nam Hoa. Ông này vốn chỉ biết chuột đồng, không bao giờ ngờ rằng lại có thứ chuột thành phố. Chen chúc, tranh giành cơm thừa, canh cặn, còn bị đuổi xua giết chóc, chạy đâu cũng lủng củng những vỏ chai, vỏ hộp. Thét rồi chúng trở nên tình ranh hơn, né tránh lẩn trốn tài tình và đúng lúc. Thành ra mẹo khâu đít chuột tuy hay mà chưa ai thực hiện nổi. Tôi nghĩ mừng riêng cho chuột. Nhưng người chủ mưu kia khổ nỗi lại là người văn hóa khác, nghiện nặng sách của ông C., truyện của ông S., thấy mẹo hay hay, bèn đem áp dụng làm chính sách văn-hóa cho người mình, thì thật là tai họa lớn.

Các cụ nhà ta ngày xưa, mỏi miệng tử viết, thi văn thật nhưng ít ra còn biết đọc theo giọng của mình. Chứ bây giờ trẻ con mới ráo máu đầu đã uốn lưỡi tập nói giọng hầu, giọng mũi, tin ngây thơ theo các quảng cáo hùng hồn dán trên vách các nhà tiểu công cộng, rằng: chắc chắn nói được! cam đoan nói được! Tôi tinh nghịch đã tính bữa nào giả câm, giả ngọng lần đến các lớp ấy xin học thử xem có nói được không. Nhưng thấy nếu mình đã giả đò ú ớ, chắc gì mấy vị giáo sư kia hiểu nổi ý mình, đâm ra ú ớ thật theo luôn, tôi lại thôi. Trở về chuyện văn-hóa, anh bạn tôi cứ loay hoay mãi, không biết nên dịch thuật trước hay sống và suy tưởng trước. Tôi thích ăn thịt chuột, nên không có ý kiến gì, ngoài việc nghĩ rằng làm gì thì làm, văn hóa cũng là một món ăn, cần phải tiêu được trước đã. Còn cái kiểu năng nhặt chặt bị của anh, theo thiển kiến, chẳng qua cũng chỉ là một lối khâu đít chuột. Tôi vừa nói trên kia, học vấn của tôi khởi sự muộn màng lại thiếu sót ngay từ căn bản, nên tôi đã từng choáng váng ngây ngất trước những lâu đài văn hóa rực rỡ cổ kim.

Đông cũng như Tây. Khi được đi học, tôi vội vàng thu lượm, và chính anh bạn đã cười thấy tôi ngồi tỉ mỉ vạch từng nét ngang, nét sổ. Rút lại bây giờ cũng chỉ tạm đủ để đọc Đồ Long Đao với Thiên Long Bát Bộ hoặc ngâm nga mấy bài thơ quen thuộc cũ mèm viết tự đời Đường, đời Tống. Còn Văn-hóa thực ra là cái chi chi tôi vẫn mờ mịt như thuở nào.

Tội tôi thật đáng đánh đòn, biết chỉ một dúm mà cũng dám nói chuyện văn-hóa. Gia dĩ còn đem thịt chuột ra bàn lẫn vào, bạo gan hơn cả nhà thơ Ngỗng Trắng rượu say xáo trộn văn chương với chả cá. Song tôi trộm nghĩ, một mảnh bát vỡ còn được các nhà khảo cổ, lau chùi nâng niu, câu sáu tám nắm xôi thằng Bờm còn được đem làm đề tài cho bao phiên khảo luận tràng giang đại hải, không lẽ món thịt chuột rang thơm như thế, ngậy như thế, lại không dám nói tới. Cảm quan đại chúng thật ra đã cao lắm và đặt trên những nền tảng đơn sơ mộc mạc mà vững chắc. Nay bỗng dưng có vấn đề nâng cao cảm quan ấy, tôi hoang mang không hiểu nguyên do tại đâu. Cái này chắc phải đợi mấy ông Nghè Tây, Nghè Mỹ xứ mình trở về học thêm tiếng mẹ đẻ, rồi nghiên cứu lại ca dao cùng những điệu lý, điệu hò, mới có thể giải thích nổi. Đến chuyện thời gian và không gian của văn-hóa nói chung, của văn-nghệ nói riêng, tôi càng bỡ ngỡ hơn. Một nhà văn lão thành, có tinh thần cách mạng, – cách mạng theo kiểu nghệ sĩ, cố nhiên – hồi sinh tiền đã chủ trương văn nghệ phải phi thời gian và phi không gian, nhưng đồng thời lại tự ví mình với con voi già Sở Thú nằm lù lù một đống. Khiến tôi thắc mắc không ít, chẳng hiểu thời gian của ông dài hay ngắn hơn tuổi con voi già, không gian của ông rộng hay hẹp hơn Sở Thú. Nhưng giờ này hương hồn ông, vốn nặng tình văn hóa, chắc cũng ngậm cười, thấy chủ trương của mình đã được các nhà văn trẻ noi theo, dù là vô tình phần lớn. Phi thời gian và phi không gian đến cái độ dám in rõ ràng trên bìa báo rằng “đọc văn ông X”, trong khi ông X. chết cách đây đã cả chục năm có lẽ và chắc ông ngoại quốc X. ấy, trước khi thở hơi cuối cùng, vẫn chưa hề biết chữ S là hình thể nước ta, nói chi đến biết có một thứ văn tự dùng mẫu tự la tinh ở góc Đông Nam Á. Còn Văn Chương sáng tác, thời gian và không gian thu hẹp hơn, giới hạn trong một ngày xe đò hay mấy giờ máy bay, trong một quán kem, tiệm phở, hay trong một thân thể nào đó, nhưng lại hơn được điểm phi lý. Phi lý tất cả mọi chuyện. Ăn, ngủ, tiêu hóa, làm ái tình, đánh giết nhau. Đâm ra tôi cứ có mặc cảm tội lỗi, thấy mình hay nghĩ tới những chuyện không đâu, chuyện thịt chuột hôm nay chẳng hạn. Được cái may tôi không phải người làm văn hóa, nên lương tâm đỡ cắn rứt phần nào. Nhưng mới đây, một anh bạn giỏi Đức ngữ kể cho nghe một câu chuyện chuột ăn thịt người chết hồi thế chiến thứ II, tôi tự bảo, thôi phen này hết bênh vực chuột nữa nhá. Lũ này thật lộng quá rồi, ngạo mạn chúng ta hết mực. Nhớ khi còn ở trường bộ binh, đi giầy da cao cổ, nện gót cồm cộp, mà chúng nó cứ vọt qua mặt tôi như thường. Dù thế mặc lòng. Tôi vẫn tự an ủi là chuyện chuột ăn thịt người đó xảy ra ở bên Đức. Nước ta tuy cũng bị chia cắt như nước này, song tôi chưa thấy ai viết những truyện loại ghê gớm đó. Tinh thần Đông phương sâu sắc hơn, chuyện ấy chắc bị coi là tầm thường kém xa chuyện làm văn-hóa khâu đít chuột. Một anh bạn khá giả khác của tôi, có vợ ba con, làm nghề gõ đầu trẻ, hiện đang đợi ngày trình diện, đã lo lắng rằng nếu ở cả hai miền đất nước ta, người ta cứ lầm hoài văn-hóa kiểu khâu đít chuột này, thì chỉ mươi mười năm nữa, lớp con anh lớn lên sẽ thành cáu kỉnh hết, lúc ấy không biết thế nào là thịt chuột rang, chúng nó không suy nghĩ gì cả khi gặp những lớp người đồng lứa tuổi với chúng vượt sông rúc bụi qua đây với súng đạn cầm tay. Tôi mới chỉ thất tình sơ sơ, nên cũng thấy hơi lo lo, e nếu tình cảm con người sau này biến đổi như thế, chắc tôi sẽ thất tình nặng mất. Viễn ảnh một phá sản tinh thần và truyền thống đang đe dọa lớp thiếu niên vừa lớn.

Trách nhiệm của những người làm văn hóa, như anh bạn tôi đây, rồi sẽ rất nặng nề. Tôi gửi đến anh những dòng này, như lời cầu kiên nhẫn cũng như ông cha ta khi còn mang tên Giao Chỉ đã kiên nhẫn mở mang bờ cõi từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cũng như thiên hạ bây giờ vẫn kiên nhẫn chen nhau mua xe gắn máy, mua sữa, mua đường, kiên nhẫn chen nhau lên xe buýt, chen nhau đi coi chớp bóng ở Lê Lợi và lời chúc thành công. Để ít ra tôi còn được thưởng thức thịt chuột rang với lá chanh tươi thái chỉ rối một lần nữa trong đời.

NGHIÊM SỸ TUẤN

[Trích Thung Lũng Hoàng Hôn, Nxb Y Tế 2002]


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment