Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 4 Jan 2026

Bài 7

NGƯỜI LÍNH CỘNG HÒA THIỆN CHIẾN

LTS: Nhà văn Phan Nhật Nam, sau khi thoát khởi những ngày tù ngục đen tối ở quê nhà, sau những đón tiếp ồn ào náo nhiệt của đồng đội, thân hữu và độc giả khắp nơi …. Anh đã bắt đầu thấm “đòn … Tự Do”. Xuất hiện trong một buổi hội thảo chính trị, sinh hoạt nội bộ của Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt tại Houston, Phan Nhật Nam đọc bài thuyết trình một đề tài do anh soạn từ đồng thuận của Ban Chấp Hành, Hội Đồng Tư Vấn gồm các niên trưởng của anh trong vùng Houston.

Do tính nhậy cảm của một số cựu sinh viên sĩ quan, những người đi từ 1975, “ở lâu”nơi đất Mỹ, không đồng ý với cách” ẩn dụ tượng trưng”của phần dẫn nhập bài thuyết trình, cũng như một vài ý kiến “giải thích”về thân bài, đã chỉ trích dẫn “vài câu này, nọ- Không nằm trong văn bản”mà không lý hội gì đến nội dung toàn bài văn (SỨ MẠNG NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM, Từ trang 78-150, MĐGL), thêm tiếp tay “đánh hôi” của một vài tờ báo quảng cáo thương mại địa phương – Việc đả kích nhà văn Phan Nhật Nam khởi sự và lan khắp những nơi có đông Người Việt cư ngụ, chủ yếu là Houston, TX và Quận Cam, Cali.

Cách đây không lâu, trong một cuộc phỏng vấn với tờ New York Times, mà trong đó người ký giả phong vấn Phan Nhật Nam nêu lên một điểm đáng chú ý: “Ông đã sống sót 14 năm trong chiến tranh và kế đó là 14 năm trong ngục tù Cộng Sản. Liệu ông có sống sót được trong đời sống xã hội này hay không?”. Không hiểu khi nêu nghi vấn này, người ký giả kia muốn nói tới xã hội Hoa Kỳ hay cộng đồng Việt Nam trong xã hội Hoa Kỳ?!.Người Việt trích đăng một bài về những dư luận xoay quanh Phan Nhật Nam. Bài của Lính Chiến, một chiến hữu cùng xuất thân Trường Võ Bị, chung đơn vị Nhảy Dù, cũng một lần tù ngục Trại 5 Lam Sơn, Thanh Hoá với anh. Bài viết của một nhà văn có “tăm tiếng” Kỳ Văn Nguyên đã mở đầu bằng những lời tuyên bố: “thương hại cho vô vàn văn, thi sĩ vì cơm áo và đời sống bản thân mà phải làm văn nô cho “Cộng Sản,” và ông lại “thực sự khinh miệt những kẻ nào” đã một thời đề cao chính nghĩa quốc quốc gia, ca tụng người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa” trong “nhiều” vụ chống lại cộng sản xâm lăng miền Bắc”.

Sau khi trích dẫn một cách vắn tắt để khỏi làm mất thì giờ của quý vị độc giả và tiết kiệm giấy mực tòa báo, Lính Chiến tôi lại còn cẩn thận gạch dưới những hàng chữ: “thương hại cho (cho đến đoạn) … văn nô cộng sản” và “khinh miệt những kẻ (cho đến đoạn) … chống lại bọn xâm lăng Miền Bắc” và phần nội dung nghiêm khắc lên án PNNam là đã bị cải tạo tư tưởng triệt để đến nỗi bây giờ đang ở đất tự do vẫn còn sợ CS. Sau đó để biểu lộ sự phẫn nộ tột cùng với “kẻ phản bội (PNN)” của tác giả bài viết, Lính Chiến xin kể lại nhóm chữ “ông ta đã bán rẻ linh hồn cho quỷ sứ, bản chất ông rất xấu xa, phản phúc, nham hiểm, đểu cáng”. Đồng thời tôi cũng cần lập lại những “lời của Kỳ Văn Nguyên nhắn các cựu tù nhân chính trị” rằng: “Từ ngày các anh thua trận phải đi học tập cải tạo, dưới sự giáo dục của Đảng và Nhà Nước, các anh phải đấu tranh liên tục với chính bản thân, phải tự lột xác, để từ một kẻ phản quốc có nợ máu với nhân dân, trở thành một người lao động khổ sai mới được hưởng sự khoan hồng của Đảng.” Hoặc là … “Các anh … vẫn cứ phải tuân theo những lời Đảng chỉ dạy. Dư luận thế giới đã bỏ quên các anh rồi, không còn ai biết đến các anh là người chiến sĩ Cộng Hòa nữa đâu mà ham!”. Tôi “có thể hiểu và có quyền hiểu rằng”, KVN ấy chỉ mượn cớ chỉ trích PNN để “thành khẩn” làm cái điều mà bọn Cộng Sản Việt Nam “thực sự muốn làm”, nghĩa là muốn lợi dụng sự việc KVN sẵn sàng nổi nóng và chửi rủa ngay không tiếc lời (đối với PNN), để chửi thẳng vào mặt những người Chiến Binh Cộng Hòa chúng tôi, nhất là đoạn văn ông ta dùng để cáo buộc PNN: “Ông ta dùng một thủ thuật rất ư là xảo quyệt” khi “mập mờ đánh lận con đen”, dùng khổ nhục kế mà chửi tập thể Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: “là một tập thể quân đội đã bị thua trận, thân làm kẻ chiến bại, mãi đến tận ngày hôm nay vẫn là kẻ thua trong trận chiến 1975. Không cần ai vinh danh chúng tôi cả, khi chúng tôi chưa làm tròn nhiệm vụ …”. Tại sao lại không vinh danh được những vị tướng đã LINH THIÊNG VONG THÂN TUẤN QUỐC, những sĩ quan anh hùng nêu cao khí tiết sĩ phu ngay tại pháp trường, trước mũi súng tiểu đội hành quyết? Có phải vì họ “đã thua trận” và “vẫn còn thua trận” theo cách hiểu “ma giáo để sỉ nhục quân đội Việt Nam Cộng Hòa” của ông “cựu nhà văn quân đội KVN” nói trên? Chẳng lẽ bao chiến công anh hùng, bao tấm gương oanh liệt của một thời nào chúng ta cùng hiên ngang đứng dưới Ngọn Cờ Vàng, hãnh diện làm những người trai thời chiến xông pha đạn bom bảo vệ tổ quốc, đều phải bị nhận chìm không bao giờ được nhắc nhở đến, vì chúng ta đã thất bại trong một trận đánh không công bằng? Rồi ông ta (KVN) sẽ nói sao với con cái chúng ta khi chúng hỏi về sự kiện 1975, sự kiện cả một quân đội kéo nhau vào các trại tập trung để bị đọa đầy, bị lăng nhục? Liệu ông có lại lăng nhục những trang thanh niên đã liều thân cứu nước nhưng đành bó tay buông giáo chỉ vì trời chẳng chiều người nên tài bất thắng thời?…

Thành thật xin quý vị độc giả và tác giả Kỳ Văn Nguyên thứ lỗi khi đã không nói trước rằng, tất cả đoạn bài viết trên đây chỉ là “một giả dụ,” và là “một giả dụ cố làm như thật” (như cách KVN hạ nhục PNN) để ông Nguyên may ra có thể cảm nhận và hiểu thấu nỗi phẫn nộ của người bị nhục mạ một cách vô lý là PNN, lẫn phần bực dọc của thành phần độc giả chúng tôi vì phải thưởng thức lối văn nghị luận chỉ dẫn dụ “một mặt, một khía cạnh”. Thật độc hại cho người “bị phê bình, PNN”, khi “người phê bình, KVN” đành đoạn làm lơ, cố tình quên rất nhiều điều khác trong toàn bộ tác phẩm. Và những ngôn từ nhục mạ được in nghiêng trong ngoặc kép ở đoạn trên cũng là “những gì của chính ông Nguyên”, đã được chúng tôi “dùng lại” để thử xem tác giả lúc bình tâm có nhận ra đó là chữ nghĩa của mình không: “Một người lớn tuổi, có giáo dục, lớn chức trong quân đội, đã là nhà văn tăm tiếng?!”. Khi xỉ nhục người khác, tác giả tất nhiên không cảm thấy bị xúc phạm như khi chính mình phải hứng chịu những lời lẽ đó. Như tổng thể một bức tranh nói lên một chủ đề hay gợi lên một cảm tưởng cho người thưởng thức, cho nhà phê bình nghệ thuật, phải được ngắm nhìn toàn diện, không thể đem cắt một phân vuông có màu đen để hô hoán lên rằng họa sĩ chỉ biết bôi đen cuộc đời. Cũng thế, nói về một nhà văn, ngay cả chỉ một tác phẩm, người nhận định cũng cần phải cẩn trọng đích thân nghe, đọc, nghiên cứu tường tận trước khi đặt bút phê phán, nhất là lại phê phán một cách quyết liệt bằng sự lăng mạ với những chữ nghĩa thô bạo nhất mà một người có học, có lương tri khó có thể nghĩ ra, viết nên. Tác giả Kỳ Văn Nguyên đã, “xây dựng nhận định của mình căn cứ trên một bài nhận định của một phóng viên nào đó về một bài thuyết trình của Phan Nhật Nam”, trong đó phóng viên kia đã “viết rõ ràng” rằng: “Phan Nhật Nam đã lệch hướng” vì theo ông phóng viên kia nhận định thì bài nói chuyện của ông Nam đã có những nội dung như thế này như thế khác, kết thúc bằng những chữ v .. v .. Những điều trình bày của PNNam đã được báo Xây Dựng, Houston “tóm lại” như trên, (không phải là nguyên văn lời nói, chữ viết của PNN), cũng đủ để tác giả Kỳ Văn Nguyên “kết luận” rằng, đó là luận điệu của một “cán bộ cộng sản … ” và ông phải “viết một đôi điều” chỉ vì Phan Nhật Nam là một người đã từng được “nhiều người mến mộ”. Có lẽ ý ông muốn cảnh tỉnh nhiều người khác đừng vì tăm tiếng sẵn có của ông Nam mà lầm mưu cộng sản!! Thật đáng ngạc nhiên khi một “cựu nhà văn quân đội tăm tiếng, từng trải”, một người chắc đã nhiều kinh nghiệm về truyền thông và chiến tranh chính trị, lại có thể chỉ do căn cứ vào những điều “kể lại” từ một loai phóng viên hạng ba, hạng tư nào đó của một thứ báo chợ địa phương nói về một bài thuyết trình (đúng ra là một bản tham luận chính trị, quân sự nghiêm túc, có tầm cỡ) được “tóm tắt” theo cách hiểu của nhà phóng viên kia! Bài viết “được” (đúng ra là “bị” một cách oan uổng và bất cân xứng) kết luận và lên án qua những kể lại lặt vặt về câu trả lời ngớ ngẩn, về điếu thuốc lá trong trại tù Cộng Sản … Những điều vụn vặt tầm phào nầy đã có thể khiến ông Nguyên “kết luận” ngay tức khắc về “bản chất” của nhà văn Phan Nhật Nam, khiến chúng tôi không khỏi liên tưởng đến bọn quản giáo Việt Cộng nói vanh vách như vẹt về cái được mệnh danh là “bản chất tay sai bán nước” của những người chiến sĩ quốc gia khi lỡ sa vào tay chúng, và ông Nguyên cũng “suy” ngay ra rằng: “Phan Nhật Nam đã bị cộng sản khuất phục, đã quên mất Đại Nghĩa, bỏ tất cả chí khí anh hùng của người chiến binh Cộng Hòa, bỏ mất cả lương tâm của người cầm bút, sẵn sàng bán rẻ linh hồn để lấy đô-la do “ai đó”‘ đưa ra mua chuộc !”

Người cầm bút ai cũng hiểu rằng “dịch là diệt”. Có người nói hơi quá đáng rằng đọc văn dịch đã là “uống nước bọt” của người khác, nhưng quả thật văn dịch dù có cẩn trọng đến đâu cũng ít nhiều mang dáng dấp cá tính, và có thể cả suy tưởng của dịch giả lồng vào nguyên bản, vì khi đọc một tác phẩm, mỗi người đọc có thể có một cách hiểu khác nhau tùy trình độ, cá tính, căn bản suy tưởng và căn bản đạo đức, tư tưởng chính trị, tôn giáo, xã hội. Trái lại, ở trường hợp nầy, chỉ căn cứ một bài “tóm tắt,” rồi một loạt “nhận định riêng” của một cá nhân (không được mấy bảo đảm phẩm hạnh, khả năng), được gọi là “viết rõ ràng như sau”. Tất nhiên, phóng viên nào đã chẳng viết ra mà không “rõ ràng”, kể cả “rõ ràng sai lẫn rõ ràng đúng”; nhưng lại căn cứ vào những cái của một “kẻ thứ hai chứ không là PNN” để “tái nhận định”, đặt trên nhận định của một người khác mà không quan tâm đến tiên kiến, thiên kiến, thiện cảm, ác cảm hay mưu đồ (có thể có) của kẻ thứ hai nầy, thì có lẽ còn đi xa hơn là đọc bản dịch. Nhưng đi quá xa hơn nữa là do cái máu Trương Phi của vị cựu sĩ quan chắc đã một thời quen lệch lạc sai phái chỉ thị, khiến ông vội mang một “tiên kiến vô cùng sai trái” đối với người bị phê bình, không được kể ra, nói đến một cách công bằng lương thiện. Tác giả Kỳ Văn Nguyên quá giận dữ vì ác cảm tiên khởi đó, nên đã chỉ lăm lăm quan sát Phan Nhật Nam qua chiếc lăng kính của sự nóng nảy tột cùng, biểu lộ bằng những ngôn từ nhục mạ thậm tệ mà một nhà văn từng trải, một sĩ quan Cộng Hòa lớn tuổi khó có thể nghĩ ra khi còn đủ bình tĩnh tình cảm, cân bằng lý trí và lương thiện trí thức. Thành thật mà nói, chúng tôi vẫn kính trọng sự nóng nảy phát khởi vì một lý do “có vẻ đầy chính nghĩa” như ông Nguyên đã biểu lộ, cũng như vẫn luôn kính trọng những người Quốc Gia cùng chung chiến tuyến, dù cung cách hành sử trước sự việc của họ có rất nhiều dị biệt và vì không phải ai cũng vạn toàn. Nhưng khổ nỗi, ông lại trút cơn thịnh nộ lên “một người được nhiều đồng ngũ biết đến như một trong những ánh đuốc leo lét thắp sáng niềm tin không hề tắt nghỉ của những người chiến sĩ quốc gia bất khuất kiên cường trong tay giặc”, niềm tin vào Chân Lý Chính Nghĩa mà rất đông những Người Lính chúng ta vẫn luôn chắt chiu ấp ủ sâu kín tận đáy tim trong những tháng năm bi thiết nhất của đời người.

Nếu bài này có vinh dự được KVN để mắt tới thì cũng xin ông khoan nổi giận đùng đùng mà đẩy luôn cả người viết bài này vào chiến tuyến “cộng sản” với Phan Nhật Nam. Mong ông đừng quá giận mất khôn đến nỗi “xô đẩy dân về phía Việt Cộng là tự sát,” ông Nguyên nhé! Nói như vậy không có nghĩa là tôi sẵn sàng bênh vực Phan Nhật Nam về những điều “được nghe nói rằng” anh đã làm. Chuyện đâu cũng còn đó. Chúng ta đã có kiên tâm và nhân ái chiêu hàng cả những kẻ thù từng bắn thẳng vào đồng bào quê hương ta, như chính sách chiêu hồi dẫu có đưa về một số cộng quân “ngụy hồi”, cũng đã từng giải trừ hằng sư đoàn địch, thì tại sao không thể ôn tồn chiêu dụ những người của chính chúng ta “mới được nghe nói rằng “có lẽ” sa chân, lệnh hướng,” mà cũng chưa kịp hại đến tinh thần hay vật chất của bất cứ ai trong cộng đồng hải ngoại nầy?

Sự kêu gọi lấy ngày 30 tháng Tư làm vinh danh “Người Lính Việt Nam” quả thật là một sơ thất hay một sai lầm chính trị khó dung thứ, nhưng xin đừng vội xô đẩy ngay người bạn cũ vào phía cộng thừ. Ta có thể phê phán gay gắt đến đâu cũng được trong chân tình và ngay cả trong sự nóng giận giữa những người quốc gia với nhau. Ai đó có thể gọi sở thất đó là ngây thơ hay ngay cả lập dị vì điên loạn, kiêu ngạo vì dại khờ, cũng vẫn là cãi vã đầy chân tình, vẫn là một cách uốn nắn thẳng thắn của những người vốn là chiến hữu, đã có nhiều lúc văng tục chửi thề với nhau, nhưng bởi đã cùng nhau nằm gai nếm mật, còn hơn là đẩy hẳn bạn ta sang phía thù nghịch một cách tức tưởi mà cũng không kém phần nông nổi. Bài viết của ông Nguyên Huy trên báo Sài Gòn Nhỏ về Phan Nhật Nam là một điển hình của một cây bút chừng mực, khoan hòa bao dung nhưng không kém phần sắc bén và thẳng thắn, đúng là tình cảm đồng đội tha thiết đậm sâu mà vẫn mang nỗi âu lo đầy tính thuyết phục, đã gây sự cảm mến và xúc động trong chúng tôi bao nhiêu, thì những lời lẽ nóng nảy của ông Nguyên (không có Huy!) đem lại thất vọng về một cây bút chính trị bấy nhiêu. Những “nhận định trực tiếp” của chính tác giả (không phải “tái nhận định” nấu lại từ người khác) ở một bài khác mà tôi có đọc qua, về những bài viết của Phan Nhật Nam, lại cũng gây ngạc nhiên không ít. Quả thật, cách dùng chữ của Phan Nhật Nam trong những bài viết gần đây cũng có chỗ thiếu khúc chiết, không còn là loại văn được gọi là “trong văn có lửa” như những ngày mùa hè năm xưa, mà còn lẩn thẩn với những nét huyền hoặc khó cảm thông. Quả là Phan Nhật Nam có thể bị coi là “chao đảo” do cái “tình thương” lập dị, kiểu nhân nghĩa rởm được phùng xòe quá đáng trong một số bài viết của ông. Nhưng những nỗi “bi thương có thật”, những xúc cảm có thật” trong toàn bộ văn chương ấy đã gợi lại cho người đọc những phút giây xúc động, gợi lại những hờn căm đã bao năm trường nung nấu chưa hề nguội tắt trong quay cuồng tù ngục năm xưa và quay cuồng sinh kế ngày nay. Những lời kêu “… anh lính cộng hòa ơi …” của người dân An Lộc trong cơn tuyệt vọng đã từng gợi lên trong lòng chúng tôi và những người bạn từng cầm súng ra vào nơi khói lửa đau thương ấy những thống thiết xót xa của hai chữ trách nhiệm rền rĩ, đồng thời cũng như một xác quyết của dân tộc Việt rằng VỊ QUỐC AN DÂN là điều chúng ta, vàchỉ chúng ta, những người Chiến Sĩ Cộng Hòa, phải giương vai gánh vác. Và người dân đã xác nhận điều ấy trong cơn tuyệt vọng khốn cùng, chỉ còn biết kêu lên “anh lính cộng hòa” như tận trong tiềm thức, như từ một niềm tin sâu kín, họ vẫn tâm niệm rằng đó là người che chở bảo vệ cứu vớt họ. Người Lính Cộng Hòa nào đã từng cầm súng xông pha chiến trận mà không cảm thấy niềm hãnh diện pha lẫn đau xót cay đắng khi không còn cách nào làm tròn sứ mạng vị quốc an dân. Nhưng ông Kỳ Văn Nguyên cảm thấy đó là sự “đổ vấy trách nhiệm cho Người Lính Cộng Hòa” về sự khổ đau của dân chúng là điều khó hiểu. Nói về tên lính cộng sản thản nhiên khai hỏa trái mìn giết dân, theo chữ nghĩa của PNN, tôi cảm thấy những lời văn mô tả sự thản nhiên đó lại chính là bức tranh đen trắng không tô màu, vẽ lại trọn vẹn chân dung những kẻ vô thần, vô hồn, những thây ma mà linh hồn đã bị lấy mất đi để bị sai khiến làm những điều tàn ác một cách vô thức-Vô thức đối với lương tâm bình thường của một con người bình thường trên quả đất. Còn lời mô tả một tên Cộng Sản nào có thể chân xác hơn hình ảnh đó? Hay là ta cứ phải bắt các nhà văn hô to khẩu hiệu chống cộng, viết văn tố cộng thật rõ rang để cho đa số quần chúng hiểu được, vì e rằng quần chúng không đủ trình độ cảm nhận những lối diễn tả gián tiếp, gợi nhiều suy gẫm, có tác dụng sâu đậm hơn là những lời nguyền rủa ầm ĩ? Một văn nô viết theo chỉ thị sẽ buộc phải viết đoạn văn đó như sau: “Tên Việt Cộng mặt mũi dữ tợn, đúng là một kẻ uống máu người không tanh, lăm lăm trên tay bộ phận kích hỏa của trái mìn giết người do Nga Xô việt trợ, hí hửng chờ chiếc xe đang chạy lại càng lúc càng gần. Mắt nó đỏ rực như mắt loài chó dại. Chiếc xe vừa chạy đến đúng chỗ hẹn của tử thần là kẻ giết người tàn ác kia sung sướng cười ha hả cho nổ trái mìn. Một tiếng nổ rùng rợn vang lên rền rĩ khắp khu rừng. Tiếng người già, con trẻ kêu khóc trong mùi xăng dầu và da người cháy khét vang cả một khoảng không. Tên Việt Cộng đứng thẳng người lên, hân hoan tay giơ cao nắm đấm và hô vang “Hồ Chủ Tịch muôn năm; Đả đảo bọn Mỹ Ngụy vừa bị trừng trị đích đáng!!” Hắn quả là một kẻ vô thần tàn ác nhất trên đời, chúng là một cái máy giết người không hề biết suy nghĩ, chỉ làm theo những gì đảng cướp của chúng ép phải làm. Chúng ta cần suy nghĩ và học tập về câu chuyện này để hiểu Cộng Sản là tàn ác bất nhân và phải căm thù chúng, phải căm thù chúng đến đời đời con cháu mai sau!!! “Tôi chắc rằng ông Nguyên cũng không ưa nổi loại tả chân rẻ tiền kiểu đó, dù rằng kiểu văn tuyên truyền như vậy (hẳn ông đã từng thực hiện qua chức vụ hoặc trong những “tác phẩm” nào đó của ông trước đây), cũng vẫn có thể làm một số người thỏa mãn lòng căm thù Cộng Sản.

Nhưng đối với rất nhiều người khác, nhất là những người trẻ chưa hiểu được bộ mặt thật của Cộng Sản, và những người trẻ sớm được hưởng cuộc sống tự do công bằng hạnh phúc ở xứ văn minh như Hoa Kỳ này, nơi mà nhiều người dân không thể tin được trên đời có thể có những kẻ tráo trở gian manh như Cộng Sản Việt Nam, thì e rằng tác dụng tuyên truyền lại trở thành một trò cười tầm phào mạt hạng. Y như học sinh miền Nam đã thật thà hỏi thầy cô giáo về một đoạn thơ Tố Hữu viết kể đặc công Nguyễn Văn Trổi lúc ở pháp trường đã bị trói quặt tay ra sau lưng, bịt mắt, bịt miệng thật chặt mà vẫn có thể dơ tay hô lớn “Hồ Chủ Tịch muôn năm!? “.

Hoặc sẽ có tác dụng giống như màn diễu dở trong đoạn văn, kịch tả Võ Thị Sáu ra pháp trường còn dừng lại ngắt hoa ven đường cài lên mái tóc! Các nhà văn của chúng ta không viết theo lệnh, không viết theo đơn đặt hàng nên chúng ta có tác phẩm được lưu truyền cho hậu thế, trong khi miền Bắc suốt bao năm chìm ngập trong bóng đêm xã hội chủ nghĩa kiểu cộng sản không hề có được một tác phẩm văn học thực sự. Ta nên bắt chước kiểu văn học Việt Cộng chăng? Có phải vì đường lối văn hóa nghệ thuật có chỉ huy đó mà chúng đã thắng trận đánh 1975? Ta có phải làm đúng như chúng về mọi điều mọi việc thì mới thắng lại được chúng không? Sự thắng trận 1975 của Việt Cộng cùng những điều chúng ta hiểu biết về Cộng Sản Việt Nam qua bao năm trường tù đầy có cần được xem là những điều cần học hỏi và rập khuôn như là tấm gương của kẻ thắng trận chăng? Nếu không thì đâu là phương sách hữu hiệu để tiếp tục cuộc đấu tranh còn dang dở, nối tiếp sự nghiệp chính nghĩa còn dở dang? Khi trả lời đứng đắn những vấn nạn nêu trên là chúng ta đã có câu trả lời xác đáng cho nhiều vấn đề ung nhọt của Cộng Đồng Người Việt hải ngoại, nhất là tại California, Hoa Kỳ.

Với một đoạn khác về những người lính cộng hòa xung phong lên tuyến địch mà tay còn lủng lẳng nồi cơm nấu dở, Phan Nhật Nam lại bị chỉ trích là đã đưa ra “những hình ảnh tầm thường để bêu xấu Người Lính Cộng Hòa.” Thật đáng lấy làm sửng sốt khi nghe một điều nghịch lý đến như vậy. (Và một lần nữa chúng tôi lại rợn da, khi không khỏi liên tưởng đến luận điệu tanh mùi máu trong quyển sách “Những Tên Biệt Kích Văn Hóa” của Việt Cộng viết ra để cho lũ đảng viên, đoàn viên cùng “quần chúng nhân dân” học tập phê phán các văn nghệ sĩ miền Nam trước 1975). Đọc lại đoạn văn trên của PNN, những người thật sự cầm súng băng rừng lội ruộng, thực sự lăn mình gian khổ trong hàng trăm cuộc hành quân không ngưng nghỉ mới thấy không những tất cả nỗi thương cảm đối với người Lính Chiến Cộng Hòa, mà còn cả sự kiêu hùng thực sự của những con người bình thường hằng có trong cuộc chiến. Họ vào gian nguy sống chết như trong trò chơi đuổi bắt của trẻ em hay cuộc đánh lộn của tuổi trẻ hiếu động. Đúng là những người lính của chúng tôi đã vừa lội nước rừng Tây Ninh vừa nấu cơm để vừa nghỉ quân là có cơm chín ăn liền. Không, chúng tôi lính chiến không phải những người hùng không cần ăn uống, không cần đi vệ sinh, chỉ vì hình ảnh ăn uống và đi vệ sinh không có tí gì là “anh hùng” cả. Đúng là trước một lần xung phong quyết tử giải tỏa đường An Lộc về Suối Tầu Ô, một người lính đã chia cho tôi nửa bao cơm sấy trộn mắm ruốc kho và dặn rằng: “Ông ráng ăn một chút để lỡ có gì cũng còn sức chờ tản thương, mà không có gì thì cũng có sức chơi với tụi nó trong cái rừng tre kia tới tối mai không chừng, không còn thì giờ nấu cơm đâu.” Đúng là trong đêm bị cắt đoạn và vây bọc tứ bề trên quốc lộ 13, có người lính của trung đội tôi còn lén che pông-sô nấu nước dưới hầm chiến đấu, trộn cơm sấy, pha cà phê ngay lúc Việt Cộng đang rình rập trinh sát quanh phòng tuyến đại đội. Đúng là người lính đánh giặc với nồi cơm trên tay, hay miếng cơm sấy trong mồm là những hình ảnh sống thực.

Và đối với tôi, đó là hình ảnh hết sức nhân bản của những người coi cái chết nhẹ như lông hồng, nhưng một cái gì đó trước và sau bữa ăn vẫn là điều tối cần thiết. Họ cũng chẳng cần biết đến câu “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”, nghe khó hiểu và xa lạ quá. Những người lính thiện chiến đã chai lỳ trận mạc từng thản nhiên đi vào nơi sống chết như thế đó. Hạ Sĩ Nguyễn Hiền của trung đội tôi, người quê Quảng Trị, một mình đứng song lưng bắn đại liên M 60 với tôi làm phụ xạ thủ, đẩy lui cả một đợt xung phong của địch qua mặt lộ đường 13, cứu sống một trung đội. Sau đó anh giao đại liên cho tôi, rút M 72 bắn tung cả một ổ DKZ 75 đang lăm le quất sụm cây đại liên quá sức anh dũng, vừa kịp thì giờ cho tôi điều chỉnh phi pháo đập tan trận tấn công sinh tử của địch. Vào An Lộc , một mình anh bắn tỉa chín tên địch chuyên bắn tỉa quân ta. Người lính thiện chiến đến mức huyền thoại ấy không bao giờ gây gỗ với đồng đội. Giờ rảnh rỗi giữa các trận đánh chỉ được anh dùng để lau chùi vũ khí, chăm chút từng viên đạn để sẵn sàng đặt vào đầu mỗi địch quân một và chỉ một viên M 16 hay viên M 60 bắn phát một không bao giờ trật. Anh anh dũng đền nỗi tôi buộc anh phải về nấu cơm ở tuyến trừ bị, ở mặt sau nhà thương An Lộc, không dám cho giáp mặt địch quân vì sợ mất đi một chiến binh tự mình vượt qua mức một chiến binh lý tưởng. Hình ảnh và tên tuổi người lính anh hùng thần thoại ấy không bao giờ phai mờ trong tim tôi dù ở bất kỳ mặt trận nào, bất kỳ trại cải tạo sát nhân nào, bất kỳ nơi an lành sung túc nào trên mảnh đất tự do ngày nay. Người chiến sĩ thứ thiệt như Nguyễn Hiền rất cần no bụng, không “cắm hoa đầu súng,” và “vừa làm thơ vừa đánh giặc” như những nhà văn, thi sĩ, nhạc sĩ ở hậu phương tưởng tượng để ca ngợi họ. Người lính của chúng ta có lãng mạn thật, thích những hình ảnh thơ mộng ấy thật, biết ơn các chiến hữu tâm lý chiến đã vẽ lên hình ảnh dễ thương của họ, nhưng thực tế, họ anh hùng hơn tất cả những gì mà ngành chiến tranh chính trị từng nói đến. Nhiều vị sĩ quan chỉ biết đến chữ “đói” khi bị đi cải tạo, nhưng người lính chiến chúng tôi hiểu rõ trước 1975; hiểu từ lâu rằng, bụng đói gây chậm chạp và cáu kỉnh dễ làm mồi cho AK, B40 lắm. Cái bụng no cùng sức vóc cường tráng của người chiến binh quan trọng không kém những vũ khí cá nhân và cộng đồng của đơn vị luôn phải được lau chùi, thông nòng, vô dầu mỡ hằng ngày dưới sự kiểm soát trực tiếp của các sĩ quan chỉ huy, cũng quan trọng không kém những hầm hố phòng thủ đêm phải được đào đủ độ sâu để ẩn núp chiến đấu. Không phải những hình ảnh mình đồng da sắt, khơi khơi xung phong trong mưa đạn, vừa tác chiến vừa “ngắt hoa ép vào lưới mũ sắt để đem về tặng em” như các chiến hữu ở hậu phương tô vẽ. (Lính tác chiến không bao giờ đội nón sắt có lưới ngụy trang!). Và làm sĩ quan chỉ huy ở mặt trận thì ai cũng hiểu tiếp tế lương thực và tổ chức dừng quân trong các bữa ăn là quan trọng hơn những bài thơ văn hùng hồn đến đâu …

Đó là cái nhìn của một người lính chiến về những điều đã viết về lính chiến. Đó là cái nhìn theo khía cạnh của riêng tôi mà tôi cho là chân xác. Những hình ảnh lính chiến có vẻ không được “đẹp trai oai hùng” trong bộ quần áo ủi hồ giầy bóng loáng do Phan Nhật Nam thật thà đưa ra mới đây đã thấm thía vào đâu so với những hình ảnh sống thực đến đau lòng trong “Tháng Ba Gẫy Súng” của Cao Xuân Huy? Mà có ai lên án Cao Xuân Huy bôi nhọ Người Lính Cộng Hòa đâu? Chưa kể đến biết bao tác phẩm Việt-Mỹ khác nói đến người lính Cộng Hòa chúng ta bằng những lời thóa mạ. Tại sao không dành tim óc để trả lời, để phản bác, để khai hóa bọn xuyên tạc. Và sự bất công bắt nguồn từ một nguyên do sâu kín nào? Thưa chỉ có tác giả Kỳ Văn Nguyên hiểu rõ, chẵng dám lạm bàn nơi đây.

Chúng tôi không đủ thì giờ và có lẽ cũng không cần dẫn chứng thêm những bài viết khác của Phan Nhật Nam trong hai quyển sách ông mới ra mắt đồng bào Quận Cam. Độc giả hẳn đã có cái nhìn và sự nhận định đứng đắn về những suy tưởng ông Nam đã dành cho những người Chiến Sĩ Cộng Hòa qua những câu chuyện về những người biệt kích, về những cấp chỉ huy anh dũng trong quân đội chúng ta. Hãy đọc hết, đọc trọn vẹn tác phẩm của một tác giả với tâm tư thư thái, với óc phê phán chừng mực và khách quan. Đừng bỏ quên những bài những đoạn không phù hợp với tiên kiến hay ác cảm sẵn có của mình. Hãy chỉ dùm hạt bụi trong mắt người khác khi nào cái xà nhà tiên kiến trong mắt mình đã được bình tâm cất bỏ. Hãy khoan hòa chỉ ra những sai lầm yếu kém về hình thức và nội dung, về văn chương cũng như tư tưởng. Đừng nhận diện anh em như nhận diện kẻ thù. Ở đất nước tự do, thành trì chống cộng hữu hiệu, mà anh em chúng ta vẫn đang “phòng thủ đêm” đó. Thật vậy, đừng bắn loạn xạ vào nhau chỉ vì những ảo giác trong bóng đêm. Hãy làm người lính thiện chiến- Chỉ khai hỏa chính xác vào đúng dăm ba tên đặc công Việt Cộng đang cười thầm khoái chí, vì chúng chỉ cần ném hỏa mù, hô hoán dọa nạt là anh em ta đã vội tưới đạn vào nhau. Chỉ những người “lính tồi” mới bắn lầm quân bạn!! Người lính thiện chiến và tự tin không bao giờ bắn vãi đạn vào chỗ nghi ngờ, mà chỉ cần một viên đạn cho một quân thù. Họ còn có thể chỉa súng bắt đầu hàng, hoặc bắn bị thương để bắt sống địch quân.

Xin hãy nhớ nơi đây đội ngũ chúng ta đông đảo, tinh thần chúng ta vững mạnh, tư tưởng chúng ta đồng nhất.

Kẻ địch chỉ là rất ít những tên gián điệp chuyên chú vào việc gây chia rẽ để ta tự diệt nhau, một ít những tên

thân cộng vì lợi ích kinh doanh làm giàu cho cá nhân, cùng dăm ba kẻ đón gió trở cờ âm thầm nối giáo cho

giặc, thâm độc múa may khi nhìn thấy anh em chúng ta chia rẽ và tự diệt. Hãy nhớ dùm bọn chúng chỉ là thiểu số đang ngu dại phù trợ một chế độ trên bước suy vong. Nay đâu còn những đêm bị buộc phải đem bạn tù ra mổ lên mổ xuống chỉ vì miếng khoai củ sắn LẤY CỦA VIỆT CỘNG để sinh tồn, mổ đến nỗi nạn nhân phải tự phê nhận mọi tội lỗi ghê gớm như là “phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa là phản động, là chống cải tạo, chống nhân dân, chống đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa là đáng tội … tử hình, hay khoan hồng chăng thì cũng cải tạo suốt đời …!!” Hãy quên những cơn ác mộng ấy đi, ít ra cũng đừng gieo cho người khác nơi đây. Đừng mang thứ “sinh tử phù” của những trò “cảnh giác đấu tranh, phê bình, kiểm điểm từ các trại cải tạo” sang đến tận nơi đây để “cùng tiến bộ đến hố diệt vong”, làm trò cười cho chính con cháu chúng ta, những thế hệ đang hân hoan hấp thụ những giá trị tinh thần và vật chất của một xã hội thượng tôn luật pháp, lấy trí thức, khai phóng, tự do, dân chủ, công bằng, bác ái làm tôn chỉ cho toàn xã hội, dẫu chưa thể vẹn toàn nhưng cũng vẫn là gương sáng để noi theo mà xây dựng Tổ Quốc Việt Nam mai sau. Mong sao những điều tâm huyết chân thành này của Người Lính Chiến được đón nhận bằng tâm huyết chân thành. Nếu có điều gì khiếm khuyết trong cách trình bầy, hay đã tỏ ra không tự chế, chúng tôi thành tâm xin quý độc giả, xin các chiến hữu, và mong ông Kỳ Văn Nguyên thứ lỗi. Nếu muốn, xin hãy phê phán nhau trên cương vị những người quốc gia cùng chung mục đích cao cả đối với quê hương, với lòng nguyện ước cuối cùng, không còn tập đoàn băng đảng tội ác Việt Cộng trờikhông dung, đất không tha, chẻ trúc Trường Sơn làm bút, chấm nước biển Đông làm mực cũng chưa ghi hết tội ác- Tội ác đoạ đầy một Dân Tộc vào cơn cùng khốn của hơn nửa thế kỷ … Từ rất lâu, trước cả 1945!!

NGƯỜI LÍNH CHIẾN,

Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù,

Tù Binh,

Trại 5 Lam Sơn, Thanh Hoá.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment