Nữ Đại tá Elizabeth Phạm (gốc Việt), Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, Giám đốc kế hoạch, phối hợp tác chiến, Trường NATO Oberammergau (NSO)

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on January 7, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 8 Jan 2026

Đại tá Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ Elizabeth Phạm (hình của vietculturalfest.org).

Nữ Đại tá Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ Elizabeth Phạm là Sĩ quan cao cấp, Chuyên viên kế hoạch tác chiến liên hợp Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), hiện là Giám đốc kế hoạch tác chiến liên hợp của Trường NATO Oberammergau (NSO), Đức, kiêm Sĩ quan cao cấp đại diện Quốc gia Hoa Kỳ trong khối NATO. Bà được bổ nhiệm vị trí trên sau khi được thăng cấp Đại tá hồi tháng 2 năm 2024. Trong vị trí hiện tại, Đại tá Elizabeth Phạm, được giao trách nhiệm đào tạo và phát triển Sĩ quan và Chuyên viên cao cấp của hơn 32 Quốc gia đồng minh hoạt động trong khối NATO và các Quốc gia thuộc Chương trình đối tác vì hòa bình chiến lược tác chiến toàn diện, nhằm tăng cường Liên minh phòng thủ Minh ước Bắc Đại Tây Dương. Trường NATO Oberammergau (NSO) toạ lạc tại miền nam nước Đức, là cơ sở hàng đầu của khối NATO, đào tạo và giáo dục ở cấp độ tác chiến. Trường NSO tiến hành hàng trăm chương trình đa Quốc gia mỗi năm để hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động, chiến lược, chính sách, học thuyết hiện tại và đang phát triển. Hàng năm, Trường NSO đón tiếp 10.000 học viên và Sĩ quan/Chuyên viên tham dự hội nghị.

Đại tá Elizabeth Phạm sinh năm 1978, bà tốt nghiệp ưu hạng Đại học University of San Diego qua Chương trình Sĩ quan Hải quân trừ bị (NROTC) năm 2000. Cô theo thụ huấn khoá căn bản Sĩ quan TQLC và được tuyển chọn thụ huấn ngành Phi công TQLC tốt nghiệp mang cánh bay Gold Wing năm 2003. Sau đó cô xuyên huấn chiến đấu cơ F/A-18 thuộc Phi đoàn huấn luyện VMFAT-101.

Sau khi trở thành Phi công chiến đấu cơ F/A-18, Thiếu uý** Elizabeth Phạm được chỉ định phục vụ tại Phi đoàn VMFA(AW)-242, cô được điều động đến Al Asad, Iraq, thi hành hơn 130 phi vụ chiến đấu và 450 giờ bay yểm trợ Chiến dịch Tự do Iraq (OIF). Từ năm 2005 đến năm 2007, Trung uý** Elizabeth Phạm giữ chức Sĩ quan phụ tá và Sĩ quan Tình báo đơn vị. Đến năm 2008, Đại uý** Elizabeth Phạm trở lại Iraq với tư cách là Sĩ quan tăng cường thuộc Không đoàn 3 TQLC (3rd Marine Aircraft Wing)*** điều phối hơn 180 lệnh điều động hành quân Không quân, cho phép thực hiện 4.800 phi vụ chiến đấu khắp tỉnh Al Anbar. Cô cũng thực hiện các phi vụ chiến đấu với Phi đoàn VMFA(AW)-225 và Phi đoàn VMFA-115, tổng cộng 155 phi vụ chiến đấu trong 1.000 giờ bay an toàn trên chiến đấu cơ F-18 Hornet.

Đại uý Elizabeth Phạm** và các nam nữ phi công TQLC Hoa Kỳ (hình của media.defense.gov).

Sau thời gian chiến đấu tại Irag. Đại uý Elizabeth Phạm được chỉ định phục vụ tại Bộ Tư lệnh TQLC, phụ trách Phòng năng lực, giải quyết và cung cấp năng lực tác chiến yểm trợ OIF/OEF. Từ năm 2011 đến năm 2014, Thiếu tá** Elizabeth Phạm được thuyên chuyển đến nhận nhiệm sở tại Căn cừ Không quân TQLC Iwakuni (MCAS Iwakuni) tại Nhật Bản, nơi đây bà đảm nhận nhiều vị trí chỉ huy khác nhau bao gồm: Sĩ quan huấn luyện, Sĩ quan tác chiến và Sĩ quan thanh tra. Bà đã hoạt động 600 giờ bay trên phi cơ UC-12W, tham gia yểm trợ các cuộc tập trận khu vực như: BALIKATAN, COBRA GOLD và ULCHI FREEDOM GUARDIAN, cũng như các nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo/cứu trợ thảm họa, bao gồm Chiến dịch DAMAYAN tại Phi Luật Tân.

Năm 2017, Thiếu tá** Elizabeth Phạm tốt nghiệp Văn bằng Cao học nghiên cứu an ninh Quốc gia từ Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ và được chỉ định là Sĩ quan khu vực Đông Á. Từ năm 2017 đến năm 2020, bà giữ chức Giám đốc hợp tác an ninh khu vực cho Lực lượng viễn chinh TQLC 1 (I Marine Expeditionary ForceI (MEFI)****, chỉ huy các cuộc tập trận và các hoạt động hợp tác đa Quốc gia với các đồng minh. Từ năm 2020 đến năm 2022, Trung tá Elizabeth** Phạm là Sĩ quan tác chiến của Liên đoàn Truyền tin của Lực lượng viễn chinh TQLC 1, tích hợp các năng lực chiến tranh thông tin trên không gian mạng, không gian vũ trụ, chiến tranh điện tử, chiến dịch tâm lý, hoạt động dân sự-quân sự và tình báo.

Từ năm 2022 đến năm 2023, Đại tá Elizabeth Pham thụ huấn tại Trường Đại học hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval War College) và tốt nghiệp Văn bằng Cao học nghiên cứu chiến lược an ninh Quốc gia.

Đại tá Elizabeth Phạm là nữ phi công gốc Việt đầu tiên bay loại chiến đấu cơ F/A-18 của Không quân TQLC và là nữ Phi công F/A-18 thứ tư trong Không quân TQLC Hoa Kỳ, bà dẫn đầu phi hành đoàn Phi công F/A-18 nữ đầu tiên trong Chiến dịch Tự do Iraq. Sĩ quan chỉ huy chiến đấu xuất sắc, thi hành 155 phi vụ chiến đấu với hơn 1.000 giờ bay chiến đấu cơ F/A-18 không gặp bất cứ trỡ ngại nào, bà được trao nhiều giải thưởng “E” về oanh kích mục tiêu và xuất sắc trong tấn công chính xác giành giải thưởng “Top Hook” cho thành tích đáp trên Hàng không mẩu hạm. Bà là Sĩ quan ủng hộ phát triển lãnh đạo chỉ huy–sáng lập và điều hành hội thảo lãnh đạo chỉ huy nữ của Căn cứ Không quân TQLC Iwakuni (MCAS Iwakuni) năm 2013–2014, thúc đẩy hoạt động cố vấn và phát triển nghề nghiệp cho các nữ quân nhân TQLC Hoa Kỳ.

Trung tá** Elizabeth Pham (hình của Mrs. K Tran via Mr. BMH chuyển).

Đại tá Elizabeth Phạm tốt nghiệp các Văn bằng: Văn bằng Cử nhân lịch sử ngành hóa sinh, Đại học San Diego (University of San Diego); Văn bằng cao học nghiên cứu an ninh Quốc gia (vùng Đông Á), Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School); Văn bằng nghiên cứu Chiến lược an ninh Quốc gia, Trường Đại học hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval War College); Tốt nghiệp xuất sắc, Trường Đại học chỉ huy và tham mưu TQLC Hoa Kỳ (U.S. Marine Corps Command and Staff College).

Trong suốt thời gian phục vụ Quân chủng TQLC, bà được ân thưởng nhiều giải thưởng và các loại huy chương cao quý như: 4 huy chương Meritorious Service Medal with gold star in lieu of fourth award; 6 Huy chương Air Medal Strike/Flight with numeral; 2 huy chương Navy/Marine Corps Achievement Medal with gold star in lieu of second award. Tháng 6 năm 2023, bà thắng giải thưởng danh dự nghiên cứu AFCEA về đề tài: “Khám phá hệ thống vũ khí an ninh mạng xã hội: Phòng thủ chống lại ‘Vũ khí thuyết phục đại chúng” của Trung Quốc, từ giải thưởng học thuật cho niên khoá 2022–2023 của Trường Đại học hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval War College) và Giải thưởng soạn thảo xuất sắc về chỉ huy và kiểm soát thông tin tác chiến của Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School).

Đại tá Elizabeth Phạm thuyết trình trước Sĩ quan khối NATO theo tu nghiệp tại trường NATO Oberammergau (hình của linkedin.com).

Đại tá Elizabeth Phạm được thăng cấp Thiếu tá năm 2011, Trung tá năm 2019. Đại tá năm 2024. Bà là phụ nũ gốc Việt thứ hai mang cấp Đại tá TQLC, trước bà là Đại tá Ly T. Fecteau, nay đã hồi hưu. Đặc biệt, phu quân của Elizabeth Phạm cũng mang cấp bậc Đai tá cùng phục vụ trong Quân chủng TQLC. Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Quân chủng TQLC hiện nay gồm có (không tính sĩ quan cấp Trung uý và Thiếu uý): 1 Thiếu tướng (hồi hưu), 4 Đại tá (1 hồi hưu), 7 Trung tá (5 vị hồi hưu), 26 Thiếu tá và khoảng 40 Đại úy.

Cho đến nay vẫn chưa có phụ nữ gốc Việt mang cấp Tướng trong quân đội Hoa Kỳ, nhưng có một số vị nữ công chức cao cấp liên bang Hoa Kỳ (Senior Executive Service (SES)) gốc Việt đã và đang phục vụ trong các ngành an ninh và Quốc phòng Hoa Kỳ như bà Elizabeth Phu, bà Giao phan, bà Dương Nguyệt Ánh, và một số phụ nữ khác đang phục vụ tại các Bộ, Sở Liên bang Hoa Kỳ. Ngạch công chức cao cấp liên bang Hoa Kỳ (SES) tương đương với cấp tướng trong Quân đội Hoa Kỳ, tuỳ theo thứ bậc và ngạch thâm niên của họ. Họ đảm nhận những chức vị quan trọng trong Quân đội như những vị Tướng, như trường hop của bà Giao Phan, nguyên là cấp chỉ huy thứ hai trong Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), vị trí của bà chỉ sau Phó đô đốc James P. Downey. Bà Giao Phan về hưu hồi tháng 3 năm 2023.

Hiện nay có 25 nữ Đại tá gốc Việt (không tính 8 vị hồi hưu) đang phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân, Thuỷ quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ. Chúng ta hy vọng sẽ có nữ tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong thời gian sắp tới.

Chúc Đại tá Elizabeth Phạm thăng tiến binh nghiệp.

Chú thích: *Khoảng 70-80% Sĩ quan TQLC và 60% Sĩ quan Hải quân tốt nghiệp Chương trình Sĩ quan Hải quân trừ bị (NROTC) sẽ được phục vụ toàn thời sau khi tốt nghiệp; **Ghi theo thời gian mang cấp bậc; ***Không đoàn 3 TQLC (3rd Marine Aircraft Wing) tương đương cấp số một Sư đoàn; ****Lực lượng viễn chinh TQLC 1 (I Marine Expeditionary ForceI (MEFI) tương đương với cấp số một Quân đoàn.

Nguyễn Quân

Nguồn tài liệu: aviation.marines.mil; NATO SCHOOL OBERAMMERGAU; linkedin.com; vietculturalfest.org; bienxua-Nữ Trung tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ gốc Việt Elizabeth Phạm được đề cử thăng cấp Đại tá; bienxua-Những Nữ Đại tá Hải, Lục, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt.

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 7 Jan 2026

Bài 10

Đá Nát Vàng Phai

Nguyễn Tường Phong

Ngửa mặt lên cao đối mặt trời

Nhỏ dòng máu khổ tuôn cho đời

Một nỗi đau riêng đành khép lại

Nghìn thu sang sảng tiếng Con Người.

Khi cầm bút viết bài này quả thật lòng tôi chất đầy phẫn nộ. Rất đơn giản, tôi vừa chứng kiến một đường chém hiểm và bẩn, chứa đầy ác tính của một số người gọi là Việt Nam, tự mệnh danh và tự mạo nhận là người Quốc Gia, lên cổ một người Việt Nam tử tế, phẩm cách; thứ người vốn đã quá hiếm hoi trong oán nghiệt chất chồng của đất nước hơn một thế kỷ loạn tâm vừa qua. Con người tử tế, phẩm cách đang phải nhận đường chém nhẫn tâm ấy không ai khác: Chính là Phan Nhật Nam- NgườiLính-Viết Văn Phan Nhật Nam.

Tôi thật vẫn không hề cho nhát kiếm kia hồ dễ chỉ là thứ ti tiện “ghen tài ghen sắc” thường tình của đám sâu bọ rác rưởi bởi cái ác tính có pha lẫn lối ngang ngược, độc đoán, thù vặt và xem thường dư luận ấy, ẩn chứa trong tâm địa của lũ thảo khấu tâm bệnh, mệnh danh này nọ quả đã đến độ kiệt cùng tính NGƯỜI. Nhưng tôi phải đau đớn thú nhận một điều, một điều tôi vẫn hằng tin tưởng và tôn trọng là Sự Thật và Lẽ Phải- Hiện nay, đang bị thách đố, khinh miệt một cách nghiêm trọng đáng sợ. Quả thật, sau bao năm chiến tranh, cái xã hội phó sản của cuộc chiến cưu mang quá nhiều con bệnh tâm thần nguy hại, cố chấp và đê tiện đã đến độ “đá nát lẫn vàng phai.”

Tôi thành thật gióng lên tiếng nói ngày hôm nay, không phải để đối chất vặt vãnh với những hạng người đang thủ đắc thứ não trạng tật nguyền không thuốc chữa kia, nhưng để gửi một thông báo đến khối đa số mà trong đấy còn biết bao con người tử tế, vẫn giữ nguyên vẹn được phẩm cách và tâm hồn trong sáng sau cơn tàn phá dập vùi của buổi lềnh dầy binh đao khói lửa. Cũng để cảnh cáo rằng những người tử tế phẩm cách sẽ phải cùng nắm tay nhau đứng thẳng người thách đố thói độc đoán hèn kém ti tiện, những trò vấy bẩn đã và đang tiếp diễn từ hai mươi năm qua. Chỉ vì, những người có lòng, tử tế và phẩm cách đã bị những lực bẩn giăng mắc khắp nơi được kết tập bằng phó sản của chiến tranh, gồm lòng ti tiện, ghen ghét, cực đoan, thù hận, độc đoán ám hại liên tục trong suốt thời đại trước sự chứng kiến của chúng ta. Từ Phùng Quán, Trần Dần, đến Ngô Đình Diệm, Hà Thúc Nhơn, Chu Tử, tiếp tục đến Nguyễn Chí Thiện, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế … Và hiện nay, ở đây, nơi hải ngoại nầy là Phan Nhật Nam. Tôi tự nhận thấy có trách nhiệm để viết những dòng chữ này, để Sự Thật được sáng tỏ, để những tiếng gào thét mồm loa mép giải vô căn cứ, không xác đáng và ngập đầy thù hằn ti tiện kia phải cúi mặt trước sự cao thượng của một người cầm bút chân chính và phẩm cách. Một người với khối lượng tác phẩm trong hơn hai mươi năm qua chỉ biết hòa mình với nỗi đau chập chùng oán hờn của dân tộc. Người kêu tiếng thét về những thương đau uất hận của dân, của lính, của tập thể quân đội và những con người nhỏ bé bất, lực bị chiến tranh tàn phá. Người hằng xúc động trước cái chết của con người, của máu đỏ da vàng, của một người lính chết lòi ruột cùng vợ con được gói chung trong tấm “pông sô,” hay một xác tên du kích Việt Cộng chương cứng lềnh bềnh trôi trong đám lục bình trên giòng nước quê hương. Một người từng sống giữa đạn bom, sờ thấy máu, nhìn thấy giòi bọ lúc nhúc nơi xác người dân bỏ mặc bên bờ đường. Một người biết sức công phá của tầm đạn và cũng từng chịu đựng hoàn cảnh tự tay lên đạn, lẩy cò, nín thở chờ sức bộc phá theo tầm đạn vút về thân xác của đối phương, một người Việt Nam khác. Phan Nhật Nam là người ngập chìm những xúc cảm phẫn uất nhìn đồng đội ngã gục trong khi một số khác tiếp tục tàn phá đất nước và quân đội. Và anh đã mang nỗi đau của cả dân và lính Miền Nam mà quên khuấy đi nỗi đau riêng của chính mình.

Thật vậy, ba mươi năm trước, Phan Nhật Nam đã hào sảng bước vào đời bằng tất cả nhiệt tình và ý thức của người trai trẻ giữa cơn cuồng nộ tai ương đất nước. Nhưng thế đã đáng gì. Người cha của anh, trên quan điểm dân tộc, đã bỏ vợ con, gia đình, hiến thân cho cuộc kháng chiến chống thực dân của toàn dân từ 1945, 1950, rồi sau đó ông trở thành một người Cộng Sản người Việt Nam tin theo Chũ Nghĩa Cộng Sản. Và đấy là bắt đầu cho một chuỗi chập chùng oan nghiệt. Từ ngày khởi đầu nghiệp vận, người cầm bút phẩm cách Phan Nhật Nam cũng chẳng khá gì hơn kẻ “phản loạn” Hà Thúc Nhơn, một kẻ sĩ đã vì nỗi đau của dân, của lính, đã đứng lên kình chống cả một tập đoàn tham hũng VùngII (Vùng Duyên Hải, Miền Trung) của quân đội và bị chính tập đoàn sâu mọt ẩn nấp trong quân đội trù dập, triệt hạ. Riêng Phan Nhật Nam, sau khi trải tuổi trẻ mình theo ngày tháng lăn lộn gian nguy ngoài chiếntrường, anh may mắn một cách đau đớn hơn. Thật thế, xuất thân là một sĩ quan chuyên nghiệp, nhưng tương lai của một người như anh được chuẩn bị kỹ lưỡng với hàng chữ “sĩ quan kém khả năng, thiếu tác phong” trong quân bạ, chính vì những hành động phải làm của một người tử tế và phẩm cách. Rồi anh tiếp tục bị trù dập vì dám đứng thẳng người trước những hiện tượng tiêu cực tồi tệ ẩn hiện trong tập thể quân đội. Một quân đội có tờ giấy khai sinh bằng tiếng Pháp, và được hoàn toàn ủy quyền cho những cấp chỉ huy, thuộc phó sản phẩm thặng dư của đoàn quân viễn chinh Pháp. Riêng anh, với trình độ và phẩm chất, anh tự trang bị cho mình một kiến văn bao quát, một nhận thức sắc bén để thấy rõ nét những nhược điểm của tập thể quân đội. Bắt đầu từ đấy, anh mang hết sức lực của một thân hình không quá năm mươi ký lô, với khối óc đơn độc không hơn một nắm tay để thét lên tiếng lời dõng dạc … Một người thiên vị nhất cũng không thể phủ nhận công trạng mà chỉ mình anh. Đúng! Chỉ mình anh đã làm được: Khai triển và trang bị Lòng Tự Tin, Niềm Tự Hào Chính Nghĩa cho một đạo quân bị thời thế đẻ ngược với tập thể người lính có số lương ngang với tiêu chuẩn khẩu phần hằng ngày của các quân đội thế giới văn minh. Thế nhưng, quân đội khốn khổ ấy đã trội vượt để đảm trách một nhiệm vụ cao cả, cùng lúc bị gặm nhấm soi mòn bởi một thế hệ chỉ đạo mà kiến văn phổ thông không vượt quá đỉnh đầu ruồi trên mũi khẩu FM đầu bạc.(*) Chúng ta hãy thử nhìn lại. Chiến thắng An Lộc, KonTum; lá cờ dựng trên cổ thành Quảng Trị năm 72; sức chịu đựng vô biên của căn cứ Tống Lê Chân không phải tự nhiên mà thành. Hẳn không phải do tài năng của các “ông tướng” của quân lực VNCH. Đó là kết quả từ máu xương của Người Lính Việt Nam, chỉ huy bởi những sĩ quan trẻ tuổi ưu tú ngoại hạng của quân đội. Tuy nhiên, nói thế quả chỉ nhìn trên một tầm nhìn phiến diện. Kết quả vĩ đại ấy, đã buộc phải xuất phát từ lòng tự tin, phấn khởi, tự hào của quân dân miền Nam sau hơi phả nhiệm mầu của Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số Một và Mùa Hè Đỏ Lửa. Chân dung Người Lính Nam Việt Nam và lòng hy sinh cao cả của quân đội được đồng bào khắp nơi tuyên dương, đặt trọn niềm tin và cảm tình không phải tự nhiên xẩy đến một sớm một chiều do phép lạ. Lại càng hoàn toàn không phải do những cái loa phát ong ỏng vô hồn của một guồng máy cấp bộ như bộ Dân Vận, cũng chẳng thể được quảng bá do công lao và chính sách của một cơ quan cồng kềnh vĩ đại gồm hàng nghìn sĩ quan từ cấp tướng cho đến binh sĩ các cấp như Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị của Bộ Tổng Tham Mưu.

Công lao ấy, chắc chắn không phải riêng của một cá nhân nào, nhưng dù với lòng ngụy tín cao độ nhất, chúng ta khó mà phủ nhận được sức mạnh của ngòi bút Phan Nhật Nam đã dự phần tạo nên những thành quả to lớn ấy. Trước tập thể quân đội và đồng bào Miền Nam, Phan Nhật Nam quả đã vượt quá những gì xứng đáng nhất đểlãnh nhận một phần vinh dự, cùng những chiến thắng lẫy lừng của người lính VN trong quân sử, kể từ chính nghĩa cao cả để chiến đấu đã được nhiệt tình của anh tiếp hơi thắp bùng lên giữa đêm đen của đạo tặc, rác rưởi, ô uế của những năm 63-73. Cuối cùng cái phần thưởng cao quý mà một người phẩm cách và nhiệt tình như anh nhận được, sau khi vắt óc và máu, góp phần thực hiện những thành quả to lớn cho đất nước và quân đội, là cái nghị định giáng cấp từ đại úy xuống trung úy, bị đuổi khỏi binh chủng và đầy xuống một đơn vị Địa Phương Quân tại Long An năm 1972. Vài ngày sau, anh trở thành một người lính đào ngũ. Nhưng, kẻ đào ngũ Phan Nhật Nam không chạy trốn bom đạn và gian khổ chiến trường do ươn hèn sợ hãi, nhưng tên sĩ quan đào ngũ khốn khổ ấy quay về với tiếng gọi của tập thể quân đội với nhiều ưu ái lẫn bạc tình. Anh trở lại chiến trường trong vị thế độc lập, với “khả năng tác chiến sắc bén” và hiệu quả gấp nghìn lần hơn vị trí của một đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng ngay đến cả tư lệnh sư đoàn, tư lệnh quân đoàn … Anh theo những đơn vị tổng trừ bị, xử dụng ngòi bút để viết lại toàn cảnh cuộc chiến can trường cùng tâm tư đau đớn của mỗi người lính, từng người dân trên khắp bốn vùng chiến thuật, bốn quân khu. Ngòi bút Phan Nhật Nam với Mùa Hè Đỏ Lửa vang dội không chỉ làm phấn khởi toàn Miền Nam, nhưng dưới ngòi bút của anh, chân dung bi phẫn và hung tráng của Người Lính Nam VN gây xúc động khắp dư luận thế giới đến nỗi tờ Paris Match phải thốt lên: “Mùa Hè Đỏ Lửa là bút ký chiến trường tuyệt vời nhất từ trước đến nay.

Và anh tiếp tục đi lên con đường đã chọn, để làm tròn sứ mệnh của một người lính, một người cầm bút, một trượng phu giữa cơn binh đao tàn phá của đất nước. Sau khi Hiệp Định Ba Lê được ký kết, cả một Cục Chiến Tranh Chính Trị đầy đủ bá quan văn võ cùng những cấp tướng tá chỉ đạo ấy đã không có nổi, ngay chỉ một cá nhân, đủ khả năng, lẫn kiến thức về chiến tranh, và chính trị đối với người Cộng Sản hơn anh để đảm nhiệm những pha tranh cãi sắc bén, gay gắt khi giải thích việc áp dụng bản Hiệp Định Hòa Bình trong ban Quân Sự Liên Hợp Bốn Bên, nơi những địa điểm trao trả. Cùng đành, người ta đành phải lôi tên lính đào ngũ Phan Nhật Nam về giao trách nhiệm nặng nề khó nuốt và không chút sơ múi tơ hào gì với quyền lợi tương xứng. Lại một lần nữa, quân đội cần anh, nhưng những người trách nhiệm vẫn không có đủ công bằng để phục hồi danh dự cho Phan Nhật Nam. Họ cho anh “nhiệm chức” cấp đại úy để thay họ chống đỡ với những người cộng sản lão luyện cơ mưu. Năm ấy, 1973, trong một lần ra Hà Nội theo ban Liên Hợp Bốn Bên, người Cộng Sản Việt Nam đã xử dụng tình cha con, mang mối liên hệ gia đình để tuyên truyền vận động lôi kéo anh. Nhưng Phan Nhật Nam thẳng thắn, quyết liệt giữ vững lý tưởng chính nghĩa tự do của mình. Giai đoạn này, Tù Bình và Hòa Bình là một viên ngọc ngời sáng của những dòng bút ký, dựng nên cái nhìn toàn diện về nỗi đớn đau của tất cả con dân Việt Nam trong bi kịch chiến tranh và hòa bình.

-Một nhận xét sâu sắc về Người Cộng Sản, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Thành Phần Thứ Ba và tâm trạng não nề của những người Việt Nam trước một nền hòa bình không hề có thật. Ai có thể nói hơn anh về lời báo động khẩn thiết, chính xác nầy … Những lãnh đạo, kẻ làm chính trị, những “cách mạng” và cả đám … cò mồi! Năm 1975, tháng Tư tàn cuộc. Anh đi tù. Trong thời gian đầu, năm 1976, vì tình huyết thống, gia đình anh lại thêm một lần đối đầu với nghịch cảnh. Anh đã từ khước gặp lại cha già, một người cộng sản, sau một phần tư thế kỷ máu huyết phải chia lìa vì cuộc chiến, để tiếp tục cảnh tù tội với nhục nhằn đầy ãi. Năm 1990, sau mười bốn năm tù đầy (phần lớn là kiên giam) trở về, gia đình anh vẫn chưa thoát khỏi cảnh tàn phá phẫn hận của chiến tranh dù tiếng súng đã chấm dứt từ mười lăm năm trước. Cô em ruột trong gia đình họ Phan đã dùng hai mươi viên thuốc ngủ cực mạnh để tự mình giải quyết êm thắm cuộc xung đột ý thức của cha và của anh mình trong một gia đình đã quá nhiều đóng góp, chịu nhiều thống khổ chia lìa vì chiến tranh của đất nước trong suốt bốn mươi năm dài binh lửa. Nỗi đau riêng ấy được anh nén chặt trong tâm khảm của một đời khổ nhục với mười tám năm cách trở, tù tội, oan nghiệt. Lòng Hy Vọng, Đức Tin Thượng Đế tưởng có thể giúp anh tìm được bình an cho đoạn cuối phần đời khi anh lên đường sang Mỹ cuối năm 1993. Nhưng không phải vậy … Thực tế đời sống không như lòng người mong mỏi. Và anh vẫn câm lặng nén chặt nỗi đau riêng, ngửa mặt cao thượng để lòng bừng cháy với thống khổ trầm luân của dân tộc, đất nước. Nỗi đau nầy tràn dâng lớn lao hơn gấp bội phần so với cào xé cá nhân, đã hình thành hai tác phẩm mới nhất trong năm 1994. Đối với đa số độc giả, tinh thần tác phẩm rực sáng chính nghĩa dân tộc, nổi bật cái tâm của kẻ sĩ, cái dũng lược quân từ. Anh phóng bút với phong thái độc nhất Phan Nhật Nam, chữ nghĩa trong sáng, thẳng thắn và rõ ràng đúng phong thái người phẩm cách. Nhưng người viết văn nhiều khổ nạn vẫn ngập đầy gian nan trước những thói vấy bẩn hèn hạ, vu vạ với cách ngớ ngẩn, dốt nát, nghi ky của một vài cá nhân. Chưa hết, bản thuyết trình công phu “Sứ Mệnh Người Lính” phản ảnh nhận thức tinh tế, sự am hiểu tình hình với tầm nhìn sách lược của anh trong buổi hội thảo của Gia Đình Võ Bị đã bị bóp méo, đánh lạc hướng vì thành kiến mục nát, thể cách bịp bợm và lớn tiếng chụp mũ, bắt chẹt trên bình diện công tâm thì không có, mà chỉ thật ra do bệnh hoạn tâm thức và lòng chật hẹp, kém phẩm cách, kiến thức mới là điểm tẩy của vấn đề.

Ngày hôm nay, Tháng Sáu, 1995. Người viết văn nhiệt tình và phẩm cách Phan Nhật Nam tiếp tục bị chính “những kẻ. nhân danh chiến hữu – Bởi quả thật, ngay chính người cộng sản khi tấn công anh cũng không dám thẳng thắng tuyên bố chống đối anh về ý hệ- Bởi nền tảng của con người ấy là-Tính Thiện và Lòng Thành .. ” triệt hạ, chụp mũ vô lối, vô căn cứ qua cách thức vô học, vô ơn và bẩn thỉu. Con người ấy bị cả kẻ thù lẫn đồng đội triệt hạ. Gia đình ấy đã lãnh nhận đủ thương đau. Xin tất cả hãy một lần cẩn trọng. Đừng để kẻ đã mang cả cuộc đời quá khứ, hiện tại và tương lai cho đất nước thêm phần đau đớn- Chúng ta phải thực công bằng. Tôi xin nhắc lại một lần. Chúng ta cần tỉnh thức xét lại chính mình. Đừng để trời đất phải nổi cơn thịnh nộ vì một số trong chúng ta quả đã quá ác, tàn ác hơn cả chính cuộc chiến mà chúng ta đã hứng chịu. Thay vì chúng ta phải tuyên dương và chia sẻ niềm đau của riêng anh, nỗi đau to lớn gấp bội lần những tàn phá của chiến tranh trên bình diện cá nhân con người. Nỡ nào chúng ta vô tâm đứng nhìn cảnh “đá nát vàng phai”?

II,

Ngửa mặt lên cao ngất ngất trời

Tìm trong lịch sử bóng từng người

Nỗi đau kẻ sĩ bừng lên lửa

Viết dòng văn tựa, gió tơi bời.

Trong thực tế, một số người khắp nơi trên đất Mỹ đã rất hoang mang sau một loạt bài báo, truyền thanh có tính cách chụp mũ, vu vạ nhà văn Phan Nhật Nam. Sự thật, đa số mọi người phải bận rộn vì sinh kế và chỉ quan tâm một phần đến vấn đề nên không cần tìm hiểu sự việc cho cặn kẽ. Đây là kẽ hở duy nhất để thiên kiến của những kẻ chụp mũ, vấy bẩn người tử tế hoành hành. Điều này là nguyên cớ đưa đến tâm trạng não nề chán ngán khi bản thân nhận thấy Sự Thật và Lẽ Phải bị thương tổn – Điều mà tôi hằng tin tưởng từ ngày bắt đầu cầm bút. Với tâm trạng ấy, tôi đã không muốn viết gì nữa. Tuy nhiên, bài này thành hình là do nhận định của anh Trần Bích San như sau:

… Văn chương với Tấm Lòng sẽ lên đường cùng Sự Thật và Lẽ Phải. Giữa buổi điêu tàn này, bọn lưu manh ti tiện, đám rác rưởi ngụy tín có thể hoành hành tác động. Vận Nước đang suy, bao người tử tế, phẩm cách, đều bị trù dập, triệt hạ … Nhưng không lâu … Không lâu đâu, những tâm hồn trog sáng sẽlấy lại đất đứng. Thời gian sẽ làm công việc ấy, rác rưởi, ti tiện sẽ trôi đi để đá vàng hiện rõ. Đất nước sẽ có ngày … Phải Có Ngày.

Và tôi viết được đến những dòng chữ này vì còn tin tưởng vào Sự Thật và Lẽ Phải. Đá có thể nát, vàng có thể phai, nhưng chỉ nát phai vì vận nước đang thời suy mạt chứ không thể vì sâu bọ rác rưởi và lòng ti tiện.

Thế nên tôi vẫn mạnh dạn tin tưởng và tiếp tục ngửa mặt bước trên những thứ cặn bã phế thải, để cùng với những tấm lòng trong sáng, đóng góp cho một ngày mai với một quê hương có nhiều, có thật nhiều người tử tế và phẩm cách.

III,

Vì Sự Thật và Lẽ Phải, tôi khơi lại một cuộc đời riêng. Phần đời đã và hiện đang đau đớn cùng cực, được chôn chặt trong lòng mà chưa hề lần than vãn. Nam, Tôi thành thật mong Anh …

Ngửa mặt giăng tay lửa ngợp trời

Gió lên phần phật … Vẫn môi cười

Cùng nỗi đau chung rền đất nước

Giữa bóng Đêm …

Có Anh – Có Tôi.

New Orleans, 19- 6-95

Ngày Quân Lực,

Vẫn dậy lửa lớn của năm xưa

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 7 Jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ

tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975

Bài 11

– Du đãng có thể phục quốc không nhỉ?

Đó là câu hỏi của Dzũng quan tài. Tên thật của nó: Phan Tiến Dzũng. Trong tù nó nói Phan Tiến Dzũng ngon hơn Văn Tiến Dũng. Anh có ở phòng 6 khu C đề lao Gia Định năm 1976 không ? Nếu đã ở đó, anh phải biết Dzũng quan tài. Hoạ sĩ Choé, sau phiên họp phòng cuối tuần, đã mượn bút làm biên bản của thư ký tù, và tặng Dzũng quan tài bức hí hoạ chân dung nó. Dzũng nhỏ con, trông rất thư sinh, nhưng phong cách của nó là tay du đãng xịn , đại ca của nhiều thằng du đãng khác. Ngực nó không hề có xâm quan tài có hình cây nến cháy với giòng chữ : “Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ”. Nó xác định tên giang hồ của nó vì nó không sợ quan tài.

– Du đãng có thể phục quốc không nhỉ?

Quý dao khó chịu:

– Mày hỏi hoài câu này. Thằng nào mà chẳng phục quốc được. Du đãng phục quốc mới sôi nổi. Việt cộng nó chơi võ, các bố phục quốc lớn bé chỉ chơi văn. Văn chống võ là kềnh. Truyền đơn thì nhằm nhò con mẹ gì! Phải dùng cái thuật của nhà Mộ Dung.

Dzũng quan tài búng mẩu thuốc văng xa:

– Đúng, lấy AK của nó bắn vô đầu nó. Cám ơn cách mạng, du đãng lại có trò chơi mới hay hơn trò chơi của Trần Đại, James Dean Hùng. Nhưng mà trò chơi nguy hiểm đấy. Nghìn lần bù chưa chắc có một lần chín. Mày nghĩ sao?

Qúy dao nhổi toẹt bãi nước miếng:

– Bọn tướng lãnh bỏ lính cút hết; bọn thủ tướng, bộ trưởng, nghị sĩ, dân biểu, bỏ dân cút hết; bọn lãnh tụ đảng phái bỏ đảng viên cút hết, du đãng rất nên gánh trách nhiệm đánh cộng sảng cứu nước . Lúc này thằng nào đám phất cờ lạm lại lịch sử thằng ấy mới ngon.

Dzũng quan tài chép miệng:

– Mình vẫn chỉ là du đãng!

Quý dao đưa ngón tay quẹt mép:

– Quan trọng con mẹ gì! Nữa mày có ứng cử tổng thống không mà lo sửa chữa tiểu sử? Biết chọn đường đi thì du đãng là anh hùng hơn cả anh hùng. Đâm thuê chém mướn cho dân tộc cũng là sự nghiệp phi thường. Giết ba cái thằng cường hào ác bá, ăn trộm ăn cướp của dân chúng, in lậu sách của các nhà văn mới được gọi là những trang hảo hán của thời đại thôi. Giết cộng sản, đập nó tan nát sẽ được phong làm Đấng Cứu Thế.

Dzũng quan tài khen bạn:

– Về quân sự, mày lúc nào cũng số một. Vậy mình chơi, chơi thật bạo.

Qúy dao vuốt tóc:

– Dĩ nhiên. Mình chơi cả văn lẫn võ. Văn với đồng bào. Võ với cộng sản. Dân Sàigòn lao đao hết rồi. Sau vụ đổi tiền, xóm tao nghèo mạt. Nó hốt tiền của dân, mình đòi lại giùm họ. Đấy, văn chương cho đồng bào để lấy điểm và để lẩn trốn dễ dàng. Tao đã nghiên cứu ngân hàng của nó. Ngon hơn ăn hủ tíu Thanh Xuân. Vẫn dùng cái thuật Mộ Dung Cô Tô thôi.

Dzũng quan tài quẹt que diêm châm điếu thuốc mới:

– Chiều nay gom anh em của mình lại.

Qúy dao gật đầu:

– Sống với cộng sản là chờ đi tập trung cải tạo là kể như chết rồi… Chơi bạo chết bạo sướng nhiều. Đồng ý, chiều nay…

Buổi chiều tháng 12 năm 1975, một nhóm thanh niên tụ tập ở căn nhà gần cổng xe lửa số 6, đường Nguyễn Hùynh Đức. Họ đàn sáo, ca hát như thể họ tập dượt để liên hoan chào mừng hai ngày lễ lớn sắp tới. Nhạc cách mạng vang vang lối xóm. Công an khu vực ngang qua, bằng lòng lắm. Phần mở đầu của bản trường ca không đến nổi dở. Dzũng quan tài vỗ tay ba tiếng:

– Qúy dao muốn nói chuyện với chúng mày. Tao cần nói trước , sẽ không có ân oán giang hồ gì giữa anh em nếu thằng nào bỏ cuộc chơi. Tao làm khá mà nói dở. Qúy dao nói giùm những điều tao muốn nói.

Qúy dao nhả khói thuốc:

– Chuyện bình thường thôi. Trước kia mình làm du đãng, bây giờ mình làm anh hùng. Trước kia mình chống cảnh sát, bây giờ mình chống cộng sản . Từ thảo khấu bước lên hàng hảo hán, con đường ngắn xỉn à. Nếu chúng mày đã đọc Thủy Hử, tất chúng mày đều rõ. Vậy đó, chỉ cần dựng lá cờ khởi nghĩa, bọn thảo khấu chống luôn triều đình, vì hạnh phúc của toàn dân, đâu thèm chống ba thằng quan lại địa phương nữa. Bọn cộng sản cũng giống nhu bọn Thủy Hử, cũng biết dựng lá cờ khỏi nghĩa. Cứ đọc tiểu sử của anh hùng cộng sản đi. Hồ Chí Minh là bồi tầu thủy. Tôn Đức Thắng là bồi tầu thủy, khác chi thằng Thiên Thời ăn trộm gà, thằng Trương Thanh bán bánh bao nhân thịt người . Những thằng tài ba lỗi lạc, tư cách đàng hoàng cỡ Trương Xung, Võ Tòng…thì bị cái triều đình thối nát dồn chúng nó lên Lương Sơn Bạc hoặc bị bọn Lương Sơn Bạc bầy mưu bẩn giết hết vợ con người ta, vu vạ triều đình để người ta phải …vô Đảng! Cộng sản rập khuôn Lương Sơn Bạc Cái hay của chúng nó là biết dựng cờ khởi nghĩa. Hễ biết dựng cờ khởi nghĩa thì thằng ăn cướp thành vị anh hùng. Ba cái thằng quốc gia đếch biết dựng cờ khởi nghĩa. Chúng nó chỉ biết vẽ cờ, may cờ, kéo cờ, chào cờ thôi. Do đó,chúng nó chuồn sang Mỹ hết rồi. Cái thế dân tộc hôm nay rơi xuống vai bọn trẻ. Khắp Sàigòn, Phục Quốc nổi lên chống chế độ cộng sản . Mấy em nữ sinh chân yếu tay mềm còn dám đương đầu với cộng sản, du đãng đành uống rượu chửi thề sao? Chiều nay tụ tập ở đây để trả lời câu hỏi ấy.

Hạnh búa nói:

– Tao trả lời ngay đây. Tao đã là Phục Quốc nhưng rắc truyền đơn mà không chết cộng sản, tao thèm chơi búa.

Tâm xích nói:

– Tao khoái siết cổ cộng sản.

Tất cả đồng ý chơi cuộc chơi mới. Qúy dao vê nát cái đầu lọc điếu thuốc đã hút hết:

– Du đãng bị xếp vào tội hình sự, hèn mọn lắm. Vậy nếu dính bẫy nhớ khai tôi chống phá cộng sản, sẽ được xếp vào hàng ngũ tù nhân chính trị. Điều thứ hai: từ nay không chơi dao bút, xích khoá nữa mà chơi bằng đầu và súng. Súng giết cộng sản ít, đầu tiêu diệt luôn cộng sản. Nhưng rất cần súng để hậu thuẫn đầu. Chúng ta cũng cần tiền,không phải để uống rưọu, chơi gái mà để làm sáng tỏ cuộc chơi. Nên, sẽ cướp các ngân hàng nhỏ. Mỗi thằng mày đều có một lô đàn em, hướng dẫn chúng nó trò chơi mới. Chúng ta cần súng. Có tiền tha hồ mua súng của bộ đội vì bộ đội ham radio, đồng hồ… Nếu phải giết người cướp súng thì giết công an, đừng giết bộ đội tốt dỉn khù khờ. Tao sẽ thảo một bức Chiến Thư, in đàng hoàng rồi rắc vung vít thành phố. Thế là du đãng dựng cờ khởi nghĩa vì dân tộc, tổ quốc, tự do, dân chủ mà đánh cộng sản. Có thằng nào phản đối không? Nếu không thì về sửa Honda cho ngon lành. Châm ngôn của chúng ta: “Xe trục trặc trong cuộc chơi là mình chết”.

Sau này, lịch sử sẽ ghi rõ về buổi chiều tháng 12 năm 1975, buổi chiều du đãng lãnh trách nhiệm đánh cộng sản thay thế bọn tướng tá đào ngũ trước 30-4-75; thay thế bọn dân biểu, nghị sĩ bỏ nước, bỏ đàn em chạy trốn ra ngoại quốc. Và thay thế luôn cả người Mỹ đã đầu hàng tủi nhục.

Chiến Thư của du đãng:

“Hãy nhìn Sàigòn hiện tại, bọn cộng sản xâm lược! Chúng mày bảo Mỹ nó muốn đưa dân tộc ta trở về thời kỳ đồ đá. Chúng mày bảo Mỹ nó tạo dựng phồn vinh giả tạo ở Miền Nam. Chúng mày bảo Mỹ nó đầu độc Miền Nam bằng tư tưởng thực dân mới. Chúng mày bảo Ngụy tay sai gian ác, tiếp tay Mỹ lập ra những nhà tù để giam nhốt các nhà ái quốc, để tra tấn các nhà ái quốc bằng những dụng cụ phi nhân bản. Nói tóm lại, chúng mày đẩy Mỹ Ngụy xuống hầm phân, xã hội Mỹ Ngụy là địa ngục, xã hội chúng mày là thiên đàng. Chúng mày nói nhiều quá vì chúng mày là vẹt. Đủ nghe rồi, bây giờ nghe chúng tao nói.

Từ chúng mày vào Sàigòn thì chỉ có nước mắt và nước mắt. Chúng mày, từ biển máu, sáng tạo ra đại dương nước mắt và Sàigòn đã ngụp lặn giữa đại dương nước mắt sóng gió chủ nghĩa cộng sản. Trong biển máu, con người chết ngon lành bằng viên đạn, bằng lưỡi mã tấu. Giữa đại dương nước mắt, con người chết sặc sụa, chết sợ hãi, chết kinh hoàng, chết tính từng giây. Chúng mày phi nhân bất nghĩa trong bóng tối để đại nghĩa ngoài ánh sáng. Chúng mày cướp nhà cướp của thì nói là tiếp thu, tiếp quản. Chúng mày bắt bỏ tù thì nói đưa đi học tập. Chúng mày bòn rút thì nói thay thế. Chúng mày độc tài, áp bức,x xiềng xích thỉ nói dân chủ cộng hoà, độc lập, tự do, hạnh phúc. Từng ấy tội là tạm đủ, nói rông dài sẽ biến thành bầy vẹt chủ nghĩa.

Chúng tao, vốn là những thằng tuổi trẻ bất mãn cuộc đời vì chúng tao thiếu lý tưởng để làm đẹp cuộc đời nên đành đi hoang và bị cuộc đời ngộ nhận gọi chúng tao là du đãng. Bọn thống trị Sàigòn cũ chẳng ưa gì chúng tao. Chúng nó truy nã chúng tao ráo riết. Tuy nhiên, chúng tao thấy chúng mày tố cáo tội ác Mỹ Ngụy mà chính chúng mày ác độc gấp mười lần Mỹ Ngụy nên chúng tao bốc máu nghĩa hiệp, quyết vì lương dân mà dựng cờ thế thiên diệt bạo.. Ấy là chúng tao cho chúng mày biết Miền Nam hào kiệt cơ man như lá rụng,chưa phải lúc nên chưa vùng dậy thôi, chúng tao chỉ là thứ tốt dỉnh trong rừng hào kiệt Miền Nam..

Báo cho chúng mày, bọn cộng sản xâm lược hay, đấng trượng phu không ưa đánh lén, chúng tao công khai gửi chiến thư. Để đồng bào trong nước , ngoài nước hiểu rõ tấm lòng của du đãng. Để thế giới hiểu rõ rằng, người Mỹ đầu hàng ở Việt Nam không có nghĩa là cuộc chiến đấu tiêu diệt cộng sản ở Việt Nam đã chấm dứt. Sau hết, để chúng mày chuẩn bị giao tranh.

Ngày cuối tháng 12 năm 1975

Nhóm du đãng Bảo Quốc”

Với Dzũng quan tài và Qúy dao không cái gì là không thể làm được. Chiến thư đã sắp chữ, đã ấn loát tại một nhà in nhỏ quốc doanh miệt Phú Nhuận. Chủ nhà in bị trói lại. Công nhân răm rắp tuân lệnh khẩu súng của Hạnh búa. Ngay cửa nhà in, các hiệp sĩ Bảo Quốc canh gác. Chiến thư chở đi sau khi hoàn tất. Ngay buổi tối, Sàigòn, Gia Định, Chợ Lớn đầy chiến thư. Những ngày kế tiếp, truyền đơn ném ngay tại Nhà Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy doạ cho nổ cái nhà này khiến Nhà Triển Lãm vắng vẻ. Rồi truyền đơn kết án xử tử bọn Tin Sáng, bọn nằm vùng.. Truyền đơn hẹn ngày giờ đánh phá Sở Công An.. Dân Sàigòn say mê đọc những loại truyền đơn có lửa của nhóm du đãng Bảo Quốc. Hôm trước , một ngân hàng nhỏ ở Tân Định bị cướp, hôm qua đã có truyền đơn loan báo số tiền cướp được trả về cho dân chúng. Công an bị ám sát mỗi đêm. Cửa hàng quốc doanh bị ăn lựu đạn. Xe hàng Thống Nhất từ Hà Nội vào bị đốt cháy. Mật vụ ngoài Bắc vô phối hợp với mật vụ cục R ở đường Yên Đổ và Sở Công An thành phố ráo riết.

Chiến dịch càn quét những người có tiền án, tiền sự về trộm cướp, du đãng bắt đầu.. Tướng cướp Điền Khắc Quang dính mẻ lưới đầu, bị đưa ra Thanh Hoá. Du đãng về hưu, du đãng hết thời, thanh niên vô gia cư, vô nghề nghiệp bị bắt hết. Đại Cathay đã chết lâu, ba đàn em cự phách Tì,Cái, Thế gẫy cánh. Những Hùng phốc, Hùng sư tử, Mậu già..bị quét sạch.. Tất cả bị đưa đi Bù Gia Mập, bị chết dần, chết mòn. Nhưng du đãng Bảo Quốc còn nguyên vẹn vì họ chưa ai có tiền sự, tiền án, vì họ không thuộc hạng du đãng đầu trộm đuôi cướp, tống tiền, hãm hiếp. Chiến dịch cứ diễn tiến, du đãng Bảo Quốc không ngừng chơi.Nhiều truyền đơn của nhiều tổ chức sinh viên, học sinh Phục Quốc tiếp tay Bảo Quốc, ký tên Bảo Quốc mặc dù họ chưa hề quen nhau, gặp nhau. Phục Quốc mong Bảo Quốc rảnh tay chơi bạo hơn nữa. Một sự gắn bó rất âm thầm, rất đẹp. Trong nguy hiểm và vì đại nghĩa thật sự, người ta không phá nhau, không bôi bẩn nhau. Sàigòn phấn khởi, đặt niềm tin vào du đãng. Là đúng. Khi các vị anh hùng, các nhà ái quốc đã rủ nhau cút hết khỏi Việt Nam, kẻ nào dám ở lại chống cộng sản , kẻ ấy là hào kiệt, là vĩ nhân, là cứu tinh của dân tộc, dẫu kẻ ấy là du đãng đê tiện.

Chiến dịch càn quét du đãng thành phố chuyển sang giai đoạn càn quét sinh viên, học sinh không chịu đi học. Không đi học là không chấp nhận mái trường xã hội chủ nghĩa, là chống chế độ. Đến cao điểm của chiến dịch, Qúy dao bàn với Dzũng quan tài tạm ngưng.

– Tạì sao?

– Đó là binh pháp. Lùi ba bước tiến chín bước . Tiến trong lúc địch quyết tử là thua.

– Rồi làm gi?

– Hoạt động tích cực cho Cờ Đỏ,văn nghệ phường, thông tin văn hoá phường. Cái súng nghỉ thì cái đầu làm việc. Nó biết nằm vùg, mình tha gì nằm vùng. Áp dụng đúng thuật Mộ Dung Cô Tô. Mộ Dung Bác hơn hai chục năm nằm vùng ở Thiếu Lâm mưu đồ phục quốc. Tiêu Viễn Sơn hơn hai chục năm nằm vùng chùa Thiếu Lâm mưu đồ phục hận. Nằm đi, nằm chán thì vụt dậy.

– Tùy mày vì mày là cái đầu của anh em.

– Trước hết, mình tự dẹp cái Nhóm Du Đãn Bảo Quốc đi.

– Tại sao?

– Để nó tưởng mình tiêu rồi.

– Sau đó?

– Mình trưng bảng hiệu mới.

Qúy dao soạn Tuyên Ngôn khác cho Nhóm Tuổi Trẻ Chống Cộng Sản. Hai tháng ẩn mình, du đãng Bảo Quốc chơi lại. Đã được “học tập”, nếu bị bắt sẽ chịu đòn mà chối dài Bảo Quốc. Phường khóm không tin nhóm của Dzũng quan tài là du đãng. Chúng nó biết cách chơi. Từ trước ngày cộng sản vào Sàigòn, ở nơi chúng cư ngụ, chúng hiền lành, ngoan ngoãn và thường bị du đãng khu vực bắt nạt. Du đãng xịn là du đãng hoạt động trên đất người. Hoạt động trên đất mình là du đãng hạng bét, du đãng cướp giật.

Cuộc chơi sang giai đoạn thứ hai chỉ có mặt Dzũng quan tài , Qúy dao, Hạnh búa và Tâm xích. Bốn thằng trên hai chiếc Honda 90 xoáy thêm nòng máy. Bốn khẩu AK và đạn trong bốn cái hộp đàn guitare. Ai cũng có thể nghĩ bốn thằng à nhạc sĩ trình diễn. Chúng chạy theo chiếc xe chở tiền phát lương cho công nhân Vicasa ở khu kỹ nghệ Biên Hoà. Qúy dao đã nghiên cứu tình hình kỹ lưỡng. Chúng nó sẽ chơi ở nghĩa trang quân đội. Cách chơi ra sao, bốn đứa đã bàn nhau. Một điều quan trọng Qúy dao chưa hề biết là chiều hôm trước đã xẩy ra vụ bắn nhau giữa công anh tuần cảnh xa lộ với mấy tay hảo hán xa lộ. Hảo hán phóng Honda thoát hiểm. Sở Công An chỉ thị ngăn chặn tất cả Honda 90, kiểm soát giấy tờ, kiểm soát xe, kiểm soát người, kiểm soát hành lý. Gần đến ngã tư Thủ Đức, thấy công an làm hàng rào khám xét dân đi Honda, Qúy dao ra hiệu quay về Sàigòng, bỏ rơi cuộc chơi. Công an nhìn thấy, nghi ngờ, rượt theo.

Đến cầu sông Sàigòn, Hạnh búa bảo Tâm xích chạy chậm lại. Nó nhảy xuống, hô các bạn thẩy đồ chơi đi. Hạnh búa lượm nhanh và vất xuống sông. Nhiều người chứng kiến nhưng công an trên chiếc jeep còn chạy cách đầu cầu quá xa. không thể nhìn rõ sự việc ở giữa cầu.. Hạnh búa may mắn.Những người chứng kiến hành động của nó đều là ngụy dân Các bạn nó bị chặn tại ngã tư Hàng Xanh với những họng súng AK nhắm sẵn. Tâm xích không thèm đếm xỉa những họng súng. Nó rú ga lao đi. Tâm xích bị hạ. Chiếc Honda xoay tròn nhiều vòng trên thân thể đẫm máu của nó. Qúy dao và Dzũng quan tài bị bắt tại trận. Người ta tình nghi hai đứa là tàn quân và đồng bọn có đứa tẩu thoát nên giao chúng nó cho Quân Báo cục R ở đường Tô Hiến Thành Sàigòn khai thác. Qúy dao nhận mình là thủ lãnh Nhóm Tuổi Trẻ Chống Cộng Sản gồm bốn đứa. Dzũng quan tài không chịu khai. Hạnh búa thương bạn không chịu nổi đòn tra tấn nên tự ý nạp mạng. Khai thác chán chê và gom đủ ba đứa, Quân Báo cục R quy định tội của chúng nó là phản động, chống phá cách mạng và thẩy sang đề lao Gia Định. Vì Dzũng quan tài bị đánh gẫy răng, què chân nên nó được ở phòng tập thể. Hạnh búa bị đưa về Đại Lợi. Qúy dao nằm cachot khu B đề lao Gia Định.

Các bạn của chúng nó vẫn hoạt động bí mật bên ngoài . Nhưng không còn đánh lớn. Bởi thiếu cái đầu Qúy dao.

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 7 Jan 2026

Chương 11

Ông Lái Đò Làng Cỗ Phúc

Trời mùa đông, ngày ngắn đêm dài nên đêm ở rừng xuống khá mau. Tù không có đồng hồ (vì cái gì có thể gọi là tư trang, kể cả cái cắt móng tay, dao cạo râu… đều phải nộp cho trại cất giữ) nên đời tù sống theo tiếng kẻng. Kẻng báo thức. Kẻng lao động. Kẻng trưa. Kẻng chiều. Kẻng tối học tập, phê bình. Kẻng điểm danh trước khi đi ngủ. Khi nghe ba tiếng kẻng sau cùng trong ngày, vô chuồng, thì đêm như đã vào khuya.

Đêm nay, Nghiêm thấy khó ngủ. Cái bụng lép kẹp, cồn cào, xay xát về đêm gây khó ngủ là chuyện bình thường nhưng chiều nay Khoa và Nghiêm đã có tăng cường thêm được một gô măng luộc ở ngoài rừng mà sao vẫn không ngủ được, hay là bị măng hành? Tiểu tổ hái măng không có vệ binh theo giữ nên trại ấn định chỉ tiêu và khu vực để vào đó đi tìm măng bẻ đem về. Sáng nay Khoa đem theo một cái gô, ngụy trang đựng nước uống, nhưng dùng để luộc măng. Nghiêm thì lo chỉ tiêu cho cả hai. Công việc nào cũng khó khăn. Phải lo chỉ tiêu cho cả hai người, không dễ, đã hẵng rồi, nhưng chuyện Khoa tìm cách đốt lửa luộc măng cũng không đơn giản chút nào! Củi vì mưa và sương đêm nên bị ẩm ướt, rất khó nhóm lửa. Phải thổi ù cả tai may đâu lửa mới bén. Khi lửa cháy thì phải lo quạt khói cho tan mỏng ra kẻo bị lộ mục tiêu mà củi càng ướt, khói càng nhiều. Tù thì không có quyền dùng lửa hộp quẹt. Tù nào giấu giữ hộp quẹt là có âm mưu trốn trại! Có vô số lý do để quy kết cho cái tội tày trời nầy. Chiều nay trước khi về trại, Khoa và Nghiêm chia nhau ăn gô măng lạt vì không có muối. Măng luộc không muối, nếu nhai kĩ sẽ bị ngấy đến tận cổ họng, không thể nào nuốt, cho nên chỉ nhai dập dập, lấy lệ, rồi ráng nuốt. Nửa gô măng nầy đêm nay lại hành hạ cái bao tử một cách khác, làm Nghiêm không ngủ được, cứ muốn ói ra. Nghiêm trở dậy, lần ra đầu hồi. Một bóng đen khác đã thu lu ở đó rồi. Nghiêm giật mình, cứ tưởng là cán bộ vô rình! Thì ra là Khoa. Khoa hỏi nhỏ:

– Măng hành?

– Tao nghĩ vậy.

– Có thể bụi măng mọc ngay gò mối hoặc ổ kiến.

– Ai nói với mầy là măng mọc ngay gò mối hay ổ kiến thì bị nhiễm độc?

– Tao đoán.

– Kim Dung cho các cao thủ võ lâm ăn nhiều độc vật nên có công lực thâm hậu mà!

– Vậy thì tao và mầy ráng chịu qua đêm, ngày mai mình sẽ có nội công thâm hậu.

– Mày vẫn còn đùa được, chưa sao!

– Ráng giữ, đừng cho ói. Ói là chén khoai mì buổi tối trào ra luôn.

Đêm lạnh. Tiếng chim lạ bỗng kêu trong đêm. Lẻ loi.

Khoa nói:

– Ráng vô ngủ, kẻo ăng tên báo cáo tụi mình bàn chuyện trốn trại.

Khoa và Nghiêm lò mò trở về chỗ ngủ.

Vừa chợp mắt thì Nghiêm giật mình thức giấc. Ánh đèn pin quét những tia sáng vào một số mùng ngủ. Việc nầy khá lạ, rất ít khi xảy ra. Ánh đèn pin soi khá kĩ nơi mùng Hải, bên cạnh Nghiêm, rồi đến một cái mùng khác ở khoảng gần giữa lán. Không một lời nói. Chắc chắn có nhiều tù thức giấc nhưng nhắm mắt giả vờ như say ngủ. Rồi ánh đèn pin mất hút.

Sáng đi lao động ngoài rừng, Khoa nói:

– Đêm qua họ vào kiểm soát thật kĩ mùng thằng Hải và thằng Chân.

– Chắc họ nghi hai đứa trốn trại.

– Hai đứa nó trốn hụt một lần ở trong Nam. Tao ở chung trại.

– Chắc họ đọc hồ sơ nên theo dõi kĩ?

– Cũng có thể là do ăng tên.

– Biết đâu họ nghe tiếng chim rừng kêu giống như báo động vì có người hay thú đi đến gần, lúc mầy và tao còn ở ngoài đầu hồi?

Nghiêm tiếp:

– Cái hộp quẹt của mầy phải giấu cho thật cẩn thận nếu họ phát hiện là bầm mình.

– Tao biết, nên không giấu trong người đâu. May lắm thì dùng thêm được một tháng nữa là cùng. Khô dầu là phải quăng thôi.

– Lúc đó gạ đổi cho dân địa phương. Zippo mà!

– Mày có lý. Để xem sao.

– Nhưng cũng thật nguy hiểm vì cán bộ trại hầu hết là người địa phương, vừa rành thổ nhưỡng, vừa có gia đình, dòng họ, anh em. Họ tự động quản lý tù vòng bên ngoài, vì tù sổng, cán bộ trại là thân nhân của họ sẽ bị khiển trách!

Buổi tối, tập trung điểm danh sớm hơn thường lệ. Ông cán bộ quản giáo phụ trách lán, dạy dỗ tù kĩ hơn:

– Đảng cho các anh ra đây nà để học hỏi nếp sống văn minh, nành mạnh. Đêm qua tôi và một một số các đồng chí nán khác vào kiểm tra đột xuất thì thấy một số các anh chưa chấp hành tốt đường nối chính sách. Cụ thể nán ta có anh Nguyễn Văn Hải, ngủ gì mà anh để tồng ngồng ra như vậy! Cái đẹp của người Việt ta nà kín đáo, không như văn hóa đồi trụy Mỹ-Ngụy đầu độc ở miền Nam.

Bây giờ thì cả lán mới biết Hải ở truồng ngủ nhưng không ai dám cười! Vấn đề nầy không biết ai là người có văn hóa, văn minh? Người ngủ hay người rọi đèn pin vô mùng?

Tản hàng, Hải tâm sự riêng:

– Tao biết, họ kín đáo kiểm tra quần áo, chỗ ngủ của tao nhiều lần để canh chừng việc trốn trại, nên lần nầy vừa thấy ánh đèn pin bên ngoài, ráng chịu lạnh một chút, tao tuột quần xuống bày nguyên con, nhắm mắt nằm im cho họ ngắm thỏa thích! Chỉ tiếc là không có cán bộ gái!

***

Không có bản đồ nên không biết làng Cỗ Phúc nằm ở nơi nào trong khu vực nông trường trà Trần Phú, huyện Văn Chấn, tỉnh Hoàng Liên Sơn, chỉ biết là làng Cỗ Phúc cách nơi trại tù số 5 khoảng ba tiếng đồng hồ đi bộ. Làng nằm bên kia một dòng sông lớn (có thể là sông Hồng hoặc một nhánh của sông Hồng) nước chảy xiết về xuôi. Trời mùa đông. Lạnh. Gió heo may. Đám tù rách rưới, bị gậy như đám hành khất Cái Bang trong truyện võ hiệp của Kim Dung! Có khác chăng là Cái Bang của Kim Dung thì võ nghệ cùng mình và tự chọn một lối sống không bị ràng buộc trước những thế lực thống trị, còn đám tù cải tạo là một loại động-vật-mới của chế độ mà họ không dám minh bạch cho thế giới biết một tên gọi rõ ràng!

Như vừa trải qua những trận chưởng kinh thiên động địa trong hắc bạch giang hồ, đám tù Cái Bang tơi tả, thoát ra đến bìa rừng, thì bắt gặp một phong cảnh thật êm đềm, hoang vắng. Một dòng sông lớn trước mặt! Đường dẫn đến bến sông bên dưới ngoằn ngoèo như ruột dê với lau lách đìu hiu. Bầu trời mùa đông thật ảm đạm. Một chiếc thuyền nhỏ từ phía bên kia sông nhấp nhô, đang băng qua lượn sóng về phía bên nầy. Con thuyền nhỏ tròng trành như chiếc lá đang trôi giữa dòng, thật mong manh. Ông lái đò ngồi chèo với một cây dầm nhỏ, khuấy nước, rồi kẹp theo mạn thuyền giữ tay lái, khác hẳn với hình ảnh thật đẹp của cô lái đò đứng đàng sau ghe, lấy chân điều khiển bánh lái, hai tay giữ hai mái chèo hai bên, nhún nhảy, nhịp nhàng cho con thuyền rẽ sóng ở miền Nam. Phải chờ khá lâu đám tù Cái Bang mới từ từ nhận ra được chiếc nón lá cời, bộ đồ nâu bạc phết và khuôn mặt cháy nắng, teo tóp nhăn nheo như hột xí muội của ông lái đò. Hình ảnh ông lái đò trong một bài thơ nổi tiếng được nhiều người ngâm tao đàn ngày xưa đang ở ngay trước mặt. Ông lái đò trong bài thơ có cái bi tráng tiễn người đi chiến chinh. Ông lái đò trước mặt thì đưa khách qua lại sang sông, ở một vùng quê hoang dã, quạnh vắng.

Thuyền nan nhỏ, mỗi chuyến đò ngang chỉ có thể chở được bốn đến năm người nên cả đội tù Cái Bang là khách ngoại lệ. Ông quản giáo ra lệnh và chọn một nhóm tù trẻ, khỏe để sang sông, còn tất cả chờ đợi ở bên nầy. Ai không biết bơi thì đổi người khác. Bên kia sông có tre làng, có những thân cau cao vút vươn trên nền trời xám lẻ loi. Làng vắng vẻ, không thấy bóng người. Tĩnh mịch của vùng quê thật gợi nhớ. Tuổi học trò của Nghiêm cũng gắn bó với đò ngang. Quê nghèo được bao bọc bằng những dòng sông. Mỗi lần muốn ra phố đều phải qua đò ngang. Mỗi bến nước, một con đò. Đò Giữa, đò Dọc, đò Điện Bình, đò Hoa Trà, đò An Trường, đò Kẻ Thá, đò Hà Mật… Bao nhiêu bến đò ngang là bấy nhiêu kỷ niệm. Mùa mưa phùn gió bấc, gió chướng, thì mọi người ru rú trong cái tơi bằng lá hoặc chiếc áo mưa. Nam sinh quần xắn đến gối, dép móc trên ghi đông xe đạp gọn gàng nhưng nữ sinh thì áo dài vướng víu, dễ bị bùn dơ. Làm sao giữ chiếc cặp sách vở cho khỏi ướt, phải che chắn làm sao khi phải xắn quần đến gối khoe cặp bắp chân nõn nà. Quần áo dài trắng mà bị ướt, vải dính vào da thì da thịt như khỏa thân trước những cặp mắt hau háu của bọn con trai. Mùa hè đùa giỡn, nghịch nhau với làn nước hai bên mạn thuyền, đầy ắp tiếng tru tréo, cười đùa. Giọng con trai vỡ tiếng, giọng con gái trong vắt. Người lớn thường mắng mỏ, càu nhàu đám nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò! Tuy là quê nghèo nhưng một chuyến đò ngang cũng lớn, chở được mười mấy người. Quê nghèo đó đã hơn mấy mươi năm không gặp lại. Mấy mươi năm người khách qua đò ngày xưa bị nổi trôi theo dòng đời, đã quên hẳn bến sông! Nghiêm lặng người với kỷ niệm.

Bố Thục cũng có vẻ thẫn thờ. Ông vuốt chòm râu dài, lốm đốm sợi bạc. Chòm râu mà ông đã bị hạch sách đủ điều chỉ vì một lý do vô cùng đơn giản mà không ai giải quyết được. Lệnh của trại thì cấm để râu, tóc nhưng dao cạo râu thì bị tịch thu. Quản giáo bắt ông cạo râu. Ông nói không có dao. Quản giáo bảo hỏi tù văn hóa phụ trách hớt tóc. Tù văn hóa hớt tóc trả lời chỉ có một tông đơ cùn phải hớt cho 300 người. Chuyện râu cứ thế lòng vòng. Cuối cùng thì râu bố Thục cứ dài ra cho ông vuốt. Ông thấy mình già như ông già Cái Bang vuốt râu. Quê bố Thục ở ngoài nầy, bố di cư vô Nam năm 1954. Tuổi thanh niên của bố may mắn còn hưởng được chút tự do, tuổi già của lại phải quay trở về quê hương. Hành trình về cõi chết. Bố tâm sự:

– Tôi thì lá rụng về cội, cũng được đi! Nhưng mấy cậu thì… giải thích làm sao đây?

Ông lái đò cũng có chòm râu bắp. Loài dán dùng râu để nói chuyện, ông lái đò và bố Thục nhìn râu để hiểu ra nhau. Một ông đang sống trên sóng nước, nắng mưa. Một ông đang tù đày, khổ ải.

Ông quản giáo đi theo toán sang sông để vào làng mua bắp cải. Tù Cái Bang còn lại tìm chỗ nghỉ chân, chờ đợi. Ông vệ binh chiếm một gốc cây có vị thế tốt để quan sát, gà gật tựa lưng, còn tù Cái Bang thì tản mát, ngồi nhìn cây cỏ đìu hiu.

Qua hai chuyến để chở hết toán tù sang bên kia sông không ai hiểu tại sao ông lái đò không ở lại nơi cái chòi lá đơn sơ của ông bên đó để chờ toán mua bắp cải quay về,ông có thể tiết kiệm được sức lực khi phải chèo qua dòng sông rộng? Ông lại chèo ghe trống sang sông. Vào bến, cắm thuyền, ông lên bờ. Dáng ông còm cõi, lưng còng, bộ đồ nâu bạc phết. Áo ông dày cộm và vá chùm đụp. Cái quần dài xắn ngang gối khoe đôi ống chân đen đủi, khẳng khiu như hai thanh củi, đôi chân trần không có dép. Đến ông vệ binh, nói mấy câu mồi điếu thuốc vấn, rồi ông ra phía sau gốc cây đi thẳng vào lùm bụi . Ông có việc sinh lý cá nhân! Ông chậm rãi trở ra, có vẻ khoan khoái nhìn bố Thục, rồi ngoái đầu vào lùm cây, ông nói thật nhỏ chỉ vừa đủ nghe :

– Đừng cho nó thấy, xuất trưa của tôi để ở trong đó. Ông vào ăn cho khéo, tôi cảnh giác cho.

Ông lái đò trở lại gốc cây. Ngồi hút thuốc và nói chuyện với ông vệ binh để câu giờ.

***

Sau bữa sắn cơm tối, bố Thục kéo một hơi thuốc lào dài, ếm khói. Bố về chỗ nằm, vắt tay lên trán. Không nằm được bố lại trở dậy, ra ngoài đầu hồi, nhìn mông vô rừng. Bóng tối nhòe nhoẹt. Hải tắm dưới suối lên, ngừng lại chỗ bố, gợi chuyện:

– Đường xa quá, nên mệt hả bố?

– Oải chứ, nhưng ông lái đò cứ làm tôi nghĩ quẩn.

Hải yên lặng, bố tiếp:

– Ông dấm dúi cho tôi khẩu phần của ông. Chỉ cơm độn với dưa muối thôi. Tôi ăn nhưng xót lắm! Nghĩ đến hoàn cảnh của mình và tình thương lớn của ông.

***

Câu chuyện được kín đáo truyền miệng trong một số tù thân thiết nhau là mỗi đợt tù đi ngang qua bến sông, ông lái đò đều âm thầm quan sát tù nào già yếu nhất, để tìm cách dấm dúi một phần cơm.

Dũng biết ngày mai lán của Hải đi mua bắp cải. Tìm gặp Hải, Dũng giãi bày tâm sự:

– Cũng như bố Thục mấy tuần trước, tao đã nhận được một phần cơm của ông lái đò. Tao không biết lấy gì để bày tỏ cho ông lão biết tụi mình mang ơn ông về chuyện nầy! Ông lão thì già yếu quá, tao cũng muốn ông chống chỏi với cái lạnh khắc nghiệt trên sông nước, kéo dài mạng sống thêm chút nữa để thỉnh thoảng giúp đỡ bọn mình. Tao chỉ có mỗi cái áo lạnh đang mặc trên người, là của vợ tao đưa khi thăm nuôi ở trong Nam. Tao biết sẽ không còn dịp đi đến làng Cỗ Phúc lần thứ hai nên phải nhờ mầy. Mầy tìm cách theo toán qua bên kia đò, rồi quăng chiếc áo nầy vô túp lều nhỏ của ông lão nơi bến sông. Chắc chắn ông cũng không biết ai đã biếu ông chiếc áo ấm nầy, cũng như ông sẽ không bao giờ biết tên những người ông đã dấm dúi phần cơm, nhưng chắc ông hiểu được lòng biết ơn, tình nghĩa của tù miền Nam! Trái tim nhân hậu của ông sẽ kể cho con cháu ông, là những chứng nhân thầm lặng của cuộc đổi đời. Đường tù con dài, đói lạnh còn nhiều, nhưng nếu không làm được điều nầy thì lương tâm tao không thể nào yên được. Vợ tao sẽ tha thứ cho tao lý do bị mất cái áo.

Dũng vừa nói xong, để lại cái áo, rồi đứng dậy quay về lại lán ngay như sợ Hải không nhận lời. Hải một mình, trầm ngâm, rồi lấy khoát vào người.

Đây là một vật chứng tự nguyện trao đổi, nó thật nhỏ nhoi trong đời sống hàng ngày nhưng vô cùng quan trọng trên bước đường tù vô định của một tù đói! Một dấu ấn đậm nét trong nhau của những kẻ khốn cùng, của những con người mà Đảng muốn họ hận thù nhau!

***

Hai tuần nữa đến Tết, lán 8 được lệnh cho nghỉ làm buổi chiều, chuẩn bị cơm nước sớm để đi lao động ban đêm, khiêng mấy tạ nếp đi xay tại nhà máy của một nông trường trà. Không thể dùng quang gánh khiêng vì đường ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, lại đi ban đêm, chắc chắn sẽ vấp té và tai nạn. Không ai quan tâm đến thương tật của tù nhưng họ lo nếp sẽ bị đổ làm thiệt hại kinh tế. Do đó họ hướng dẫn tù dùng túi đựng quần áo cá nhân hoặc dùng quần dài cột chặt hai ống chânđể đổ nếp vào rồi cột lưng lại. Cái quần dài sẽ biến thành hình chữ U, vác trên hai vai vòng qua cổ. Vác theo cách nầy dễ chịu hơn là đeo ba lô, khi đi phải khom người về phía trước để cân bằng cơ thể. Nhưng đường xa, hai ống chân đầy thóc sẽ ép hai bên ngực gây khó thở.

Nhà máy xay nông trường có lẽ làm việc 24/24. Tù vác lúa nếp đến nơi khá khuya, nhưng nhà máy vẫn đông người. Đổ thóc chung vào những cái thúng đan bằng tre khá lớn rồi tù tản ra khắp nơi. Đây là lần đầu tiên tù có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với sinh hoạt của công nhân nông trường. Tiếng gọi là nhà máy, nghe thật quan trọng nhưng vô cùng thô sơ, từ trang thiết bị đến cách tổ chức thật nghèo nàn. Mấy bóng đèn điện tù mù không đủ sáng, bụi cám, thóc, bay mù trong không khí. Công nhân lam lũ, mệt nhọc, không thấy được chút sinh khí hay nụ cười. Những bài hát đầy xung động, những nụ cười rạng rỡ, những ánh mắt ngời sáng tương lai của công nhân trên những bích chương và phim ảnh thật mỉa mai với thực tế ở đây! Hải, Nghiêm ra bên ngoài dù lạnh, đểdễ thở hơn. Một chị đi ngang qua, Hải hỏi xin nước uống. Trong bóng tối không nhìn rõ mặt, chị hỏi:

– Các anh ở trại nào? Đợi đây. Cẩn thận, chúng quan sát đấy!

Chị hỏi, không đợi câu trả lời, rồi bỏ đi rất nhanh.

Hải nói:

– Có ý tốt. Không xấu.

Nghiêm:

– Có thể. Chờ xem.

Hải, Nghiêm còn dò dẫm, nghi ngờ. Những bài học chính trị tù được biết là người dân miền Bắc rất căm thù Mỹ-Ngụy miền Nam mà!

Một lúc sau, một anh công nhân đi đến gần, nói nhỏ, rồi cũng bỏ đi ngay:

– Hai anh lại đằng ấy, vợ tôi đã để nước và hai xuất cơm tối của chúng tôi, gói trong lá chuối. Các anh cẩn thận đấy!

Anh không đợi nghe lời cám ơn, rồi mất hút.

Những con người xa lạ, lại nhịn cả phần ăn tối để cho tù trong một trạng thái căn thẳng tự nó nói lên rất nhiều điều!

***

Hình như những bài học tù đã bị nhồi nhét từ Nam ra Bắc có cái gì đó ở phía đàng sau!

Một buổi chiều khi lán 7 trên đường đi lao động về, vừa lội qua dòng suối cạn, đến khúc quành có gờ đất dựng đứng do xe ủi làm đường bên dưới tạo nên, thì bị phục kích. Đá, sỏi từ trên đồi quăng xuống như mưa. Đường độc đạo không lối thoát nên tù chỉ còn cách lấy hai tay che đầu, chạy thoát về phía trước và la lớn báo động cho nhau. Những viên đá lớn nhỏ, đủ loại quăng xuống và tiếng đám con nít léo nhéo bên trên rượt theo đám tù. Hai ông vệ binh đứng lại nơi suối, nhìn và vỗ tay cười lớn. Một số tù bị u đầu, trầy trán, trầy tay nhưng thương tích không nặng.

Buổi tối, ông quản giáo vào sinh hoạt đặc biệt. Ông giải thích:

– Các anh nà tội đồ của dân tộc, theo Mỹ-Ngụy giết hại nhân dân, nên cách mạng đưa các anh đến vùng đất hẻo nánh nầy nà để bảo vệ mạng sống cho các anh. Dù chúng tôi đã giải thích với các em về chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước dành cho các anh, nhưng rất tiếc nà các em ở đây cũng ném đá các anh để trả thù việc các anh đã giết cha, chú, thân nhân của các em. Do đó, từ nay các anh không được đi riêng nẻ vì có thể bị giết chết bất cứ ở nơi nào. Các anh phải đi chung, về chung để được chúng tôi bảo vệ. Trẻ em vô tư mà còn căm thù, huống chi nà người nhớn! Trẻ em thì chỉ có đá sỏi vớ vẩn nhưng người nhớn thì có dao rựa, vũ khí trên tay… Hàng rào nứa quanh trại chỉ nà tượng trưng nhưng hàng rào nhân dân mới quan trọng. Chiều nay các anh học được bài học nhỏ để thấy hết mọi nguy hiểm của bản thân.

Ông quản giáo lý luận thật hùng hồn. Ông quên là ông đang nói chuyện với đám tù chứ không phải ông đang dàn dựng cho đám trẻ con. Ông lú lẩn. Sự dối trá đã trở thành đạo lý trong ngôn ngữ hàng ngày của ông. Đạo lý của chủ nghĩa của ông.

Một ngày nào đó ông mới có được kinh nghiệm của ông lái đò, của anh chị công nhân nhà máy xay ở nông trường trà Trần Phú. Ông sẽ kinh nghiệm được những kẻ trọn đời nghèo khó và chịu đựng. Những kẻ bị Đảng nhân danh!

Bi kịch là chính ông. Đảng nhân danh ông và ông cũng nhân danh Đảng!

Trong tận cùng của khổ đau và chịu đựng, trái tim nhân ái đã lớn dậy. Sự dối trá, gian ác và bạo ngược là những lớp phân lá mục phủ lên trên, và âm thầm ở bên dưới, hạt giống của những ông lái đò, anh chị công nhân nông trường sẽ nẩy mầm!

Những Mùa Xuân Qua

dongsongcu.wordpress.com

Út Bạch Lan

Posted on December 31, 2025

Post by Sơn râu 6 Jan 2026

Google image

Thuở lên 5 lên 6, cứ mỗi độ gió chướng từ biển Gò Công rào rạt thổi vào thành phố đìu hiu nghèo nàn ở quê tôi, cảm giác Xuân về làm tâm hồn tôi cứ lâng lâng, nôn nao, rạo rực đợi chờ từng ngày và từng ngày…! Tuần lễ trước Tết cuối năm âm lịch, Mẹ và Chị tôi tất bật với bếp lò, nào bánh chưng, bánh tét, bánh ú, bánh ít, dưa giá củ kiệu, nồi thịt kho nước dừa thơm phưng phức béo ngậy mùi mỡ, hương nồng nồng nồi canh khổ qua nhồi thịt xông lên mũi ôi sao mà tưởng chừng như muốn ăn cho no nê nức lòng, thoả dạ…!

Tất cả người thân yêu trong gia đình cứ hân hoan vẻ mặt xuôi ngược với chợ Tết mua sắm nhang đèn, hoa quả và quần áo mới cho các anh chị em tôi. Mấy anh em trai tôi thì hì hục lau chùi đánh bóng 3 bộ lư, chân đèn, mâm đồng, mấy bộ tủ bàn ghế cẩn xa cừ, phụ Cha tôi dựng cây nêu trước sân nhà trong không khí náo nức chờ đợi đêm giao thừa với món bánh tráng cuốn thịt kho tàu dưa giá với tô nước thịt làm nước chấm có ớt cay tới xé lưỡi và nhất đám trẻ con chúng tôi được thay quần áo mới chờ bố mẹ lì xì tiền Tết… Chúng tôi chơi lô tô, chờ nửa đêm tới giờ giao thừa, kéo nhau ra sân bắn ống tre hơi khí đá thay cho pháo nổ đì đùng… !!!

Thiệp chúc Tết của Trường Võ Bị Quốc Gia.

Này mẹ có nghe xôn xao lá thay màu,

Này mẹ có nghe chim đua hót trên cành,

Này mẹ thấy chăng ngoài sân kia đàn bướm đang nhởn nhơ đùa vui!

Này mẹ thấy chăng cây mai trước sân nhà nụ vàng ấp yêu như cô gái đương thì,

Này mẹ thấy chăng trời trong xanh,

Đàn én đang nhởn nhơ dập dìu…

Mẹ hay chăng mùa xuân vui đã sang,

Mẹ hay chăng khổ đau xưa đã chìm

Mẹ thấy chăng phố vui chân người về!

Mẹ thấy chăng thôn xóm rực đèn treo…

Nụ cười bỗng tươi trên môi đã khô cằn,

Mẹ mừng thấy con xa xôi đã quay về,

Mẹ mừng mái tranh từ bao năm quạnh vắng đã có thêm người thân…

Rộn ràng tiếng ca cô con gái bên nhà.

Hồng hồng nét môi khi thấy bóng trai về,

Dập dìu áo hoa từ thôn trên làng dưới đi rước Xuân về nhà.

(Xuân Về Với Mẹ – Nhật Ngân)

Theo thời gian… rồi cũng qua đi, tôi lớn dần cho đến khi lên trung học, rồi đại học, dường như tôi không còn cái cảm giác Xuân về Tết đến như lúc còn ấu thơ với gia đình và cho đến khi vào lính! Sau 2 năm học tập, tôi luyện vất vả ở Quân Trường Võ Bị Đà Lạt, tốt nghiệp ra trường lại đúng vào Tết Mậu Thân (tháng 12 cuối năm 1967- đầu năm 1968) là “cái” Tết tang thương đẩm máu và nước mắt trên khắp mọi nẻo đường đất nước…! Có cần nhắc lại ở đây hay không? Dạ thưa không! Vì có lẽ ai ai đang thời sống trong thời điểm lúc bấy giờ cũng biết, đã trải qua và chắc không thể quên những ngày Tết bi thảm đó! Ôi… Tết Mậu Thân với bao nỗi chết như vết thương hằn sâu vào tiềm thức của mọi người thì làm sao quên cho được? Ngay ngày Tết mà bọn khát máu man di mọi rợ Việt Cộng năng nổ, xông xáo, lùng sục đạp cửa từng nhà dân lành vào đêm giao thừa, sáng mùng 1 Tết và cả thời gian sau đó tại vùng chúng chiếm đóng, chúng trốc nã lôi cả cha mẹ vợ con, bạn bè, thân bằng quyến thuộc ra trước cửa nhà rồi qui tội và hành quyết tại chỗ, mặc cho tiếng kêu gào thảm thiết của người thân…!

Thiệp chúc Tết Xuân Mậu Thân 1968 của Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt.

Làm sao tôi quên được cái Tết đó, cái Tết mà tôi vừa mới “đăng quang” thiếu úy sữa, tưởng rằng “áo gấm về làng vinh quy bái tổ” thì mùng 2, mùng 3 Tết lại phải đi gát hòm cho vị Tiểu Đoàn Trưởng của đơn vị và vị Đại Đội Trưởng khác của Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù – Lực Lượng Đặc Biệt) (TĐ91BCD/LLĐB) vừa ngã quỵ trên đường phố Độc Lập- Thị Xã Nha Trang đúng vào lúc giao thừa Tết Mậu Thân, đơn vị mà tôi mới vừa đáo nhậm chưa tới 10 ngày! Thời gian sau.. cứ liên tiếp là những cái Tết: Kỷ Dậu (1969), Canh Tuất (1970), Tân Hợi (1971), Nhâm Tý (1972), giày saut mòn gót, áo trận bạc màu thay mới đã bao lần, miệt mài hành quân tới tận rừng sâu núi thẳm săn lùng, giết giặc chí cho tới những mặt trận khốc liệt trên khắp vùng chiến thuật. Chẳng có dưa hành thịt mỡ, chẳng có bánh chưng bánh tét mà chỉ có gạo sấy thịt hộp ba lác, rau rừng mọc dại dọc theo bờ suối,ven sông dưới chân đồi. Cũng chẳng có rượu nếp thang hay rượu đậu nành là đặc sản của Gò Công- Mỹ Tho quê tôi, mà chỉ có nước hố bom chứa sẵn trong bidong… Không còn nghe tiếng pháo đón giao thừa quen thuộc, thay vào đó là tiếng rít của hỏa tiễn 122 ly, đại pháo 130 ly và đạn AK47 veo véo bay ngang qua đầu mà thân còn đang lội bì bõm dưới giao thông hào, hố cá nhân lầy lội bùn sình, lấp xấp nước… Chiến Tranh mà! Chiến tranh sát hại sinh linh, chiến tranh tàn phá vạn vật thì huống hồ chi tuổi trẻ của tôi. Chiến tranh cũng không cần biết Xuân Hạ Thu Đông, Tết nhất sinh nhật giỗ kỵ gì hết, cũng không phân biệt già trẻ bé lớn, chỉ có bắn giết lẫn nhau để đoạt chiến thắng với bất cứ giá nào, dù cái giá phải trả bằng hằng vạn mạng sống của người dân lành vô tội!

Thiệp chúc Tết Xuân Quý Sửu của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.

Tết Quý Sửu năm 1973:

“Hiệp định Paris” hoặc hiệp định Paris 1973 (ở miền Nam còn gọi là Hiệp định Ba Lê) là hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam do 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Cộng Hòa Miền Nam và Việt Nam Cộng Hòa ký kết tại Paris ngày 27/1/1973. Về mặt công khai thì đàm phán có 4 bên và nội dung chính thức của bản Hiệp định cơ bản dựa trên Tuyên bố 10 điểm ngày 08/05/1969 của phái đoàn Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam nhưng việc đàm phán để đạt được nội dung hiệp định lại chủ yếu được quyết định bởi các phiên họp kín giữa 2 đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Hoa Kỳ… (Trích Từ Báo Chính Luận Sài Gòn Phát Hành.

Ngày 29 Tháng 1 Năm 1973:

Ngày thứ bảy 27 tháng 1 năm 1973, ngày lịch sử 4 bên tham chiến cùng ký kết ngưng bắn, tái lập hòa bình cho cả hai miền Nam – Bắc Việt Nam sau hơn 20 năm chiến cuộc huynh đệ tương tàn! Ngày lịch sử này nhằm ngày 24 tháng chạp năm Nhâm Tý. Tết Quý Sữu! Đêm hôm trước là ngày đưa ông táo về trời, mà trong đầu cứ phải nhớ những tọa độ để xin Pháo Binh bắn phản pháo. Sáng ngày 28/1/1973, tôi đứng trên một ngọn đồi thấp bên bờ Nam sông Thạch Hãn- Quảng Trị, dùng ống nhòm quan sát bên kia bờ Bắc. Thường thì chúng (quân Cộng Sản Bắc Việt) ẩn nấp sâu, lặn kỹ, không thấy một bóng dáng nào di chuyển trên mặt đất, tăng (tank) pháo (cannon, đại bác, súng lớn) thì được ngụy trang bằng lưới chụp, cày kết cành lá như bụi cây di động để tránh những cặp mắt cú vọ của phi cơ quan sát OV10 thường trực từ ở đâu đó trên bầu trời săn lùng, phát hiện và chỉ điểm mục tiêu để cho quân ta thanh toán. Hôm nay thì hoàn toàn khác, lệnh ngưng bắn toàn phần đã được ban hành lúc 0 giờ đêm hôm qua, chiếu theo điều luật của Hiệp Định Paris, sự việc ngưng bắn phải được cả hai bên Bắc – Nam tuân thủ là không được động binh hay di chuyển quân, không được vô cớ nổ súng khi chạm mặt dù đang ở trong thế cài răng lược.

Xuyên qua làn sương không dầy trôi lãng đãng trên sông Thạch Hãn, tôi thấy bọn chúng đang hì hục khiên súng ống, đạn dược xuống bờ sông chất lên xuồng và có vẽ như đang chờ đợi để vượt sông? Tôi làm chỉ huy đơn vị Đại Đội 2 Trinh Sát Nhảy Dù (ĐĐ2/ TSND) này hơn 5 năm, là đơn vị mà Đại Tá Trần Quốc Lịch-Lữ ĐoànTrưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù (LĐTLĐ2ND) đặt cho 1 cái tên mỹ miều là “đầu trâu mặt ngựa” vì hầu hết các ông thần bán trời không mời thiên lôi quy tụ về đây quậy tới bến, đánh giặc gan dạ, liều lĩnh và tinh ranh như ma quỉ, đánh nhau với địch thù “trên cơ” và xem trò chơi như đùa giởn với tử thần và khi được nghỉ dưỡng quân, về phép trong thành phố thì hay kiếm chuyện ăn quỵt phá quán là chuyện thường như cơm bữa… Nhiều trường hợp vi phạm kỷ luật nặng nề, Trung Đội Trưởng không giải quyết nỗi phải giải giao lên cho tôi, thì các “ông thiên lôi ba búa” này tỏ ra khúm núm, khoanh tay, gãi đầu gãi tai ca “bài con cá sống vì nước, em sống còn là ở Đại Uý” rất ư là “giáo khoa thư hiếu để,Lương Sơn Hảo Hớn” ăn năn hối cải, tội nghiệp quá đi thôi với nỗi oan thị Mầu..!Tuy vậy tôi chỉ phạt nhẹ rồi tha và vài 3 ngày sau thì chính mấy “ông cố nội” này lại làm chuyện khác còn động trời hơn lần trước, nhất quá tam! Tôi gom lại cho đủ các “hảo hớn lục lâm thảo khấu” rồi lập thành 1 toán xâm nhập đặc biệt thả vào hậu tuyến của địch để “lập công chuộc tội”…! Tôi cư xử “thân thương” dễ dãi với thuộc cấp rồi bị họ lừa gạt dài dài… khiến tôi sinh ra nghi ngờ đủ thứ và nhiều lần suýt bị treo áo lột lon vì cả tin thuộc cấp! Nay có lệnh ngưng bắn tức cấm cả đôi bên động binh mà chính mắt tôi đã nhìn thấy bọn chúng chuẩn bị vượt sông, thì không còn gì nghi ngờ nữa là giặc vi phạm điều luật “Hiệp Định Ngưng Bắn” và do dự là 1 yếu tử của binh pháp đối với kế sách “Tiên Hạ Thủ Vi Cường”! Tôi gọi ngay Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù (BCH/LĐ1ND) xin cung ứng khẩn cấp 20 cuộn kẽm gai (Concertina) và 100 hỏa tiễn chống Tank M72… Thời gian này, ĐĐ2TSND đang tăng phái hành quân cho Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù) (LĐ1ND). Tôi bố trí 3 trung đội tiền phương của ĐĐTS2ND đóng án ngữ cách bờ sông Thạch Hãn khoảng 50 mét, từ bên phải của chúng tôi kéo dài lên tới cầu Thạch Hãn do Tiểu Đoàn Biệt Động Quân TĐBĐQ) từ Vùng IV tăng cường, phía sau lưng là Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù (TĐ1ND) dưới quyền Trung Tá Lê Hồng chỉ huy. Nếu địch cố tình vi phạm lệnh ngưng bắn trong Hiệp Định Paris tấn tới lấn đất giành dân thì khoảng cách giữa ta với địch chỉ có 50mét ngắn ngủi và nếu cứ để yên cho chúng ngang nhiên sang sông thì tuyến của TS2ND bị chọc thủng và BCH/LĐ1ND sẽ bị đe dọa ngay!

Quả thật như tôi đã cảnh giác, nhưng phía quân ta không được động thủ vì phải tuyệt đối tuân lệnh ngưng bắn?! Vào lúc nửa đêm Bắc Quân âm thầm vượt tuyến sang sông không một tiếng động và sáng ngày hôm sau 29/1/1973 thì ta và địch “bốn mắt nhìn nhau trào máu họng” ta với địch chỉ cách nhau có 10m! Làm gì nhau?Chẳng ai làm gì nhau, chỉ còn nhìn nhau cười ruồi…! Tôi cảm thấy hụt hẩng, thua trí chúng nó và cũng vì “tuyệt đối thi hành lệnh cấp trên” mà bị bọn quỉ quyệt Bắc Cộng này chơi cho 1 vố “kèo trên” tưng tức cành hông! Tới buổi trưa Đại Đội 2 Công Binh Nhảy Dù (ĐĐ2CBND) mang tới những cuộn kẽm gai, tôi liền cho lệnh binh sĩ căng ngay kẽm gai phân ranh giới, quân địch cũng tham gia phụ kéo kẽm gai phân ranh giới với sự hoan hỷ biểu đồng tình rất vui và rất vui với rộn rã tiếng cười, giọng nói rặc Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ huyên náo trộn lẫn vào nhau ì xèo ỏm tỏi trong niềm vui là từ nay cả hai bên Bắc – Nam chúng ta không còn có ai là “kẻ” thù “địch” nữa…! Hòa bình mà ! Hòa Bình thì phải sống chung với nhau chứ, chân không còn đạp mìn, đầu không còn đội pháo, không còn nhã đạn, đấm đá, đâm lút lưỡi lê vào thân thể nhau khi xáp lá cà cận chiến, không còn cơm gạo sấy với nước hố bom nữa..và bây giờ là thức ăn rau cải xanh tươi, gà vịt, thuỷ sản được tiếp tế hằng ngày…Phe “địch” đem cốm lương khô của Trung Cộng trao đổi gạo sấy, thịt hộp của phe ta, thuốc lào Bắc Việt trao đổi “hữu nghị” với thuốc lá Ruby Quân Tiếp Vụ, trà Lạng Sơn trao đổi với cà phê gói Ration C Mỹ quốc, anh anh tôi tôi trong niềm vui tưởng như chiến tranh đã lùi vào quá khứ xa xôi nào đó, và cả 2 bên quên đi chỉ vài ngày trước đã tận tình rình rập lẫn nhau để hạ thủ vô tình vì Ta và Địch!

Tôi đứng đó, chứng kiến và quan sát hiện trạng, nhưng tận trong tâm trí vui buồn, mừng lo lẫn lộn. Vui vì thấy dưới hòa nhưng chắc gì trên thuận, trên ở đây là bọn chóp bu ma đầu Chính Trị Bộ Hà Nội tráo trở, lường gạt vẫn còn ôm mộng xâm lăng, cố chiếm cho bằng được phần đất nước giàu có màu mở miền Nam. Mừng vì cuối cùng “Hiệp Ước Hòa Bình” đã được 4 bên ký kết! Nhưng cũng lo lắng vì chắc gì bọn chúng tôn trọng, bởi Cộng Sản đã định nghĩa: “hòa bình là khi Tư Bản bị tiêu diệt”! Tại Paris hoa lệ mà các phe phái Quốc – Cộng bàn cải chỉ vì hình dáng cái bàn hội nghị vuông hay tròn mà phải đôi co, kèn cựa cải vả suốt gần cả 2 năm,trong 2 năm đã có biết bao nhiêu xương máu, thân xác đã ngã gục trước họng súng ngút ngàn thù hận của cả hai bên, trong khi những thương thuyết “da” vẫn chểm chệ an bình ngồi salon phì phà điếu Cigar và nốc rượu Vine ở Paris! Nếu phải sống chung đề huề với nhau thì ai sẽ hoá ai, ai sẽ thu tóm ai, quân cờ nào thua thiệt và bọn chóp bu Hà Nội với những thủ đoạn gian xảo, quỉ quyệt, lừa đảo vô nhân tính đang lom khom cúc cung thi hành theo chỉ thị của các quan thầy Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa là phải nhuộm đỏ toàn thể Á Châu và thế giới chứ không riêng gì Việt Nam. 2 ngày sau, tôi ra lệnh cho Trung Đội Chỉ Huy, dọn đất bằng phẳng để làm một sân bóng chuyền, làm xong cho binh lính ngõ lời mời phía bên kia qua bên này đấu bóng chuyền giao hữu Bắc – Nam cho vui. Khai trương sân bóng chuyền, lính ta đóng kịch với những trận đấu hào hứng la hét cổ võ của mấy ông chầu rìa đứng ngoài sân, sau đó gà nướng, sà lách trộn dầu dấm bày biện ra sân, khiến cho bên kia Bắc Quân chỉ biết đứng nhìn thèm thuồng nuốt nước miếng rõ dải!

Ngày 1/2/1973, tức chỉ mới sau 5 ngày Hiệp Định Paris về Chiến Tranh Việt Nam được phổ biến trên toàn thế giới, phái đoàn Liên Hiệp Quân Sự 4 Bên hình thành, Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến cũng lần lượt đến Việt Nam và trú ngụ ở khách sạn Hương Giang-Huế. Chúng tôi, bên ta bên địch sống kề cận nhau, tay bắt tay, trao đổi với nhau thân mật những chuyện bá vơ rồi cuối cùng bên kia đồng ý gửi những cao thủ bóng chuyền sang đấu giao hữu với phe ta. Như vậy nhịp “Cầu Ô Thước” đã được bắt qua hàng rào kẽm gai concertina để cho “Ngưu Lang” Trinh Sát 2 Nhảy Dù “tao ngộ” “Chức Nữ” Việt Cộng răng hô mã tấu thi nhau nâng banh đập bóng bình bịch, đùng rầm, bốp chát… Hai phe Nam – Bắc chầu rìa cổ võ la ó, vổ tay chan chát vang dội góc trời !!! Mỗi lần sau khi thi đấu xong, không cần biết thắng bại, phe ta khoản đãi phe địch 1 chầu cháo vịt còn nóng hổi rất ư là “đồng bào” một bọc 100 trứng chính hiệu made in Âu Cơ. Các ông quan to, mặt bự của Ủy Ban Liên Hiệp Quân Sự 4 Bên (UBLHQS4B), các vị lớn có chức của Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến (ICCS) đang ở đâu, hãy đến đây mà chụp ảnh quay phim, rồi trở về căn phòng có máy lạnh mà múa bút, khoe khoang viết phét, tuyên bố láo lếu…!

Cuộc vui của nền “ngoại giao bóng chuyền” giữa ĐĐ2TSND và Đại Đội Trinh Sát Đặc Công của SĐ 325CSBV (Sư Đoàn 325B Cộng Sản Bắc Việt) chỉ kéo dài được 5 ngày, thì một biến cố dở cười dở mếu bất ngờ xảy đến suýt chút nữa tôi bị truy tố ra tòa án quân sự vì tội bất tuân thượng lệnh! Chẳng là vào ngày 3/2/1973 nhằm ngày 30 Tết Quý Sửu và cũng đúng là ngày sinh nhật 28 tuổi của tôi, trước đó mấy ngày tôi đã căn dặn Thượng Sĩ Nhất, Tá – Hạ Sĩ Quan tiền trạm ở Huế ra chợ đặt cho tôi 2 con heo quay cở lớn nhất, hậu cứ SàiGòn đả gửi ra cho chúng tôi 10 con khô vịt và bánh mì, bánh hỏi rau sống để lần đầu tiên đơn vị ăn Tết trong hòa bình vai kề vai bên cạnh kẻ thù không đội trời chung mà không có tiếng súng. Trưa nay, trận đấu bóng chuyền giao hữu đôi bên chấm dứt, 1 buổi tiệc tất niên linh đình được bày ra sân, ta với địch ôm eo ếch nhẩy sol đố mì cùng với 2 can rượu đế Cầu Bạch Hổ.Tan tiệc dã chiến, ai về nhà nấy với lời chúc Tết của tôi và nhớ là ngưng giao chiến trong 2 ngày Tết, vì bắt đầu ngày mai mùng 1 Tết, các binh sĩ sẽ lần lượt thay phiên nhau nhận sự vụ lệnh nghĩ phép về Sài Gòn thăm gia đình 10 ngày. Ngày mùng 1 Tết Nhâm Tý (4/2/1973) trôi qua trong cái lạnh giá buốt của vùng địa đầu giới tuyến, Tết này con không về được để ngắm những cây mai vàng mà Ba đã trồng trước ngõ, không ăn được món giò thủ mà Mẹ đã bó bằng những sợi dây lạc dừa, con chỉ ngồi đây mở radio ấp chiến lược nghe Hoàng Oanh hát:

Xuân vừa về trên bãi cỏ non

Gió Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn

Hoa cùng cười tia nắng vàng son

Lũ ong lên đường cánh tung tròn

Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi

Muốn yêu anh vác cầy trên đồi

Hay là yêu chiến sĩ ngàn nơi…!

(Hoa Xuân – Phạm Duy)

Tôi hướng đôi mắt về phía bên kia bờ Bắc trong lo âu hồi hộp canh chừng biến cố địch phản thùng như vụ Tết Mậu Thân! Khoảng gần nửa đêm thì Hạ Sĩ Nhất, Sơn Nhung gốc Khmer trung tín của tôi trình báo:

– Thưa Đại Úy,Trung Sĩ Nhất Triết muốn xin gặp Đại Úy.

Lê VănTriết tốt nghiệp trường Hạ Sĩ Quan ĐồngĐế cuối năm 1971, vốn là “dân Bắc Kỳ di cư” chính cống, sau 1 năm chết sống với Toán 3 Viễn Thám, được thăng cấp Trung Sĩ Nhất và làm Toán Phó choThiếu Úy Đoàn Kiên Em. Tôi đưa tay ra hiệu cho Triết vào gặp tôi và hỏi:

– Có chuyện gì quan trọng không mà anh muốn gặp tôi giờ này?

– Thưa Đại Úy, thật tình đối đế lắm, tôi mới xin gặp Đại Úy để giải quyết dùm cho tôi việc khó xử này!

– Anh cứ nói đi!

– Thưa đại úy, gia đình bố mẹ của em là dân miền Bắc di cư năm 1954 lúc em khoảng độ 1, 2 tuổi. Gia đình người chú ruột của em còn bị kẹt ở lại miền Bắc với 4 người con, trong số này có 2 người con trai bị xung vào bộ đội năm 1972 tên là Châu và Phong, 1 người phục vụ ở Đại Đội Đặc Công thuộc Sư Đoàn 325 và người nữa là bộ đội ở Trung Đội Phòng Không của Trung Đoàn 95 cũng trực thuộc SĐ 325CSBV. Định mệnh run rủi trớ trêu, 3 anh em họ chúng em gặp lại nhau qua những trận đấu bóng chuyền “ngoại giao bóng chuyền” vừa qua do Đại Úy tổ chức và sau trận đấu trưa ngày 30 Tết, chúng em nhận ra nhau và 2 anh em họ của em quyết ở lại với phe ta, nhất định không trở về lại bên kia dù có bị xử bắn tại chỗ hay bất cứ hình phạt nào của cả hai bên dành cho 2 đứa em họ của em!

Tôi cho mời 2 anh em họ Triết vào. Trước mặt tôi, Triết hỏi 2 người em họ Phong và Châu và cả 2 trả lời:

– Trước khi vào Nam, Bố có dặn là phải tìm anh (Triết)… và tìm cách liên lạc với anh cho bằng được… Có lẽ Ông Bà Nội linh thiêng đã phù hộ cho giòng họ nhà mình mà tụi em đã nhận ra anh trong những lần “đánh bóng trao” vừa qua…!

Nhìn vào ánh mắt lo âu bối rối của Triết, tôi thấy phảng phất nét van lơn cầu khẩn xin giúp đỡ. Triết thương tình anh em họ chú bác ruột thịt đã cùng nhau trải qua một đoạn đường ấu thơ trong thời kỳ “cải cách ruộng đất” máu thấm đẫm ruộng vườn của cha ông để lại, Triết mong đợi ở tôi có giải pháp giúp đỡ mà tình thật rất khó giải quyết sao cho êm xuôi! Tôi ngồi trầm ngâm như một pho tượng đá không biết phải nói sao với Triết! Sau ngưng bắn,lệnh cấp trên là không được nhận hồi chánh viên, đầu thú, hay trong trường hợp chạm súng bất đắc dĩ bắt được tù binh, ngay chính cả hàng binh thì phải “giải giao tại chổ” có nghĩa bắn bỏ, không báo cáo, không giải giao. Trong trường hợp của Triết tôi phải làm sao đây? Tôi không thể vâng lệnh cấp trên làm như thế, vì là người sinh trưởng tại miền Nam hiền hòa hấp thụ nền giáo dục đề cao nhân phẩm, văn hóa, đạo đức, hướng thượng cho dù đang cầm súng chiến đấu bảo vệ dân lành và phần đất miền Nam trù phú, tôi cũng không thể đánh mất lương tri cũng là lương tâm để ra lệnh bắn bỏ 2 cán binh Bắc Quân là anh em họ với Triết trong tình cảnh chẳng đặng đừng này được, và tôi biết chính cái nhất điểm lương tâm này sẽ đeo đuổi dày vò tâm thức mình suốt cuộc đời còn lại, nếu tôi ra lệnh cho binh sĩ thi hành lệnh “giải giao tại chỗ”! Tôi nói:

– Thôi các cậu về ngủ đi, sáng mai tất cả lên gặp tôi… Tôi sẽ có quyết định.

Trong căn bạt hành quân dã chiến được ngụy trang hoa lá cành và nằm dưới mặt đất khoảng 1 mét, Châu và Phong gầy gò ngồi xổm khúm núm dưới đất bên cạnh Triết, đầu cuối gầm, thỉnh thoảng ngước nhìn lên với đôi mắt lo âu, e dè, sợ sệt, vẽ mặt xanh xao vì ăn uống thiếu dinh dưỡng lâu ngày.! Tôi ngồi trên cái chỏng tre gọi Sơn Nhung:

– Anh pha cho tôi 4 ly cà phê sữa “cứt chồn” nóng!

Rồi quay sang nói với Châu và Phong:

– Tối qua, tôi đã nghe thấy sự tình của 3 anh em cậu. 2 cậu nhất định ở lại với Triết, không trở về lại đơn vị của mình bên kia nữa dù có phải chết cũng không về. Thế bây giờ tôi không chấp nhận và dùng vũ lực để đẩy 2 cậu qua hàng rào kẽm gai, nếu 2 cậu kháng cự hoặc chạy trở qua bên này, tôi ra lệnh bắn 2 cậu ngay tại chỗ, thì 2 cậu nghĩ sao?

Phong từ tốn trả lời:

– Thưa Đại Úy,tụi em cũng biết nếu trở về thì sớm muộn gì cũng chết với chúng nó, vì em nghe lóm được chúng nó kháo nhau rằng chẳng còn bao lâu nữa mình cũng sẽ tới Sài Gòn. Tụi em nghĩ thà chết ở đây có mặt của anh Triết, ít ra tụi em cũng có được 1 nấm mộ và 1 cái bia, để mai kia bố mẹ tụi em biết được tụi em đang ở đâu. Còn nếu Đại Úy tha cho thì tụi em được sống với anh Triết trong tình thương yêu đùm bọc có nhau mà xây dựng lại cuộc đời mới!

Thật ra là từ đêm qua tôi đã có quyết định rồi nhưng còn do dự không nói ra, bây giờ tôi không quan tâm tới những lời chân thật cầu khẩn của Phong và Châu mà chỉ hơi giật mình vì câu nói: “Chúng nó kháo nhau rằng chẳng còn bao lâu nữa cũng tới Sài Gòn”. Như vậy là quá rõ ràng ý đồ của Hà Nội qua Hiệp Định Paris mà chúng mới ký xong chưa tròn 1 tháng! Thật là bọn giảo quyệt với kế gian: giai đoạn đầu vừa đàm vừa đánh, giai đoạn sau ký kết là giả hòa để lấn chiếm, chiếm đất giành dân rồi tấn tới chiếm luôn cả nước…! Tin tức này tuy chỉ nghe từ 1 lời tâm sự của cán binh Việt Cộng tép riêu, nhưng rất quan trọng trên tầng chiến lược. Chắc chắn thượng cấp của tôi cũng hiểuđược “thế hạ phong” của mình trong tình trạng đình chiến da beo trộn trấu như thế này: Nam Quân chỉ giữ được thành, Bắc Quân giữ đất đai lãnh thổ, núi rừng, sông biển, ruộng đồng thì cái chuyện phản bội bất ngờ đánh úp của đối phương dễ như trở bàn tay. Tôi ngưng dòng suy nghĩ và nói tiếp với họ:

– Thôi các cậu trở về vị trí đóng quân đi, trong thời gian chờ đợi lệnh cấp trên, tôi giao trách nhiệm cho Triết, Chuẩn Úy Em và cả Toán 3 Viễn Thám, ngay bây giờ tôi không thể quyết định được gì cả, ngày nào hay ngày nấy, nếu có chuyện gì bất trắc xãy ra thì chính các cậu sẽ nhận lãnh hậu quả trước tiên. Có vậy thôi.

Tôi gọi ngay BCH/LĐ1ND đang trú đóng ven quốc lộ 1 phía đông La Vang khoảng vài ba cây số và xin trình diện Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Lê Văn Ngọc (Ngọc Kiến) ngay ngày hôm nay và cũng xin có sự hiện diện của Trung Tá Nguyễn Văn Be đang kiêm Trưởng Phòng 2 SĐND. Lời yêu cầu được chấp thuận ngay. Lúc 5 giờ chiều ngày mùng 2 Tết Quý Sữu (4/2/1973), một chiếc M113 chở tôi đến BCH/LĐ1ND khi nhị vị này đã có mặt. Tôi chỉ trình vắn tắt gọn gàng câu chuyện “hồi chánh” của Châu và Phong cùng sự liên hệ ruột thịt với Trung Sĩ Nhất Triết TS2ND, đồng thời cũng bày tỏ nỗi khó xử của tôi giữa tình và lý trong nghịch cảnh này.

Trung Tá Be lên tiếng trước:

– Cái vụ này cả tôi và Đại Tá Ngọc (LĐT/LĐ1ND) cũng không dám quyết định gì lúc này được. Trước đây thì dễ ợt rồi, không có gì phải bàn cải trình lên trình xuống mất công, chỉ làm biên bản giải giao qua Bộ Chiêu Hồi là phủi tay. Đại Tá nghĩ sao?

Trầm ngâm suy nghĩ một lát, Đại Tá Ngọc LĐT/LĐ1ND chậm rải trả lời:

– Chà… cái vụ này hơi rắc rối à nha! Xử theo tình thì Đại Úy Út lãnh cán búa, xử theo lý thì… thì… thất nhân tâm quá! Thôi hay là anh Be thử gọi hỏi Lê Lợi (Tướng Lê Quang Lưỡng – Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù) và xin quyết định xem sao!

Trung Tá Be rời ghế ngồi, bước vào căn hầm kế cận, nơi đặt máy siêu tần số Hot Line để liên lạc riêng với Tư Lệnh. 5 phút sau Ông trở ra chỉ với 1 câu nói ngắn gọn: “chẳng lôi thôi gì cả, giải giao tại chỗ”! Như thế là xong, lệnh là lệnh, cái lệnh dù có có thất nhân tâm mấy chăng nữa cũng là quân lệnh và kỷ luật! Bài toán nan giải giữa lý và tình của tôi đã được Tướng Tư Lệnh cho đáp số thì chẳng còn gì để phân giải nữa!Ngồi trên tháp chiếc thiết vận xa M113 trở về vị trí đóng quân, tâm hồn lãng đãng mù sa không biết phải giải quyết ra sao khi mà những đôi mắt van lơn khẩncầu của 3 anh em Triết, Châu, Phong như đang chập chờn lãng vãng trên cành cây ngọn cỏ ven đường về.

Trải qua bao nhiêu chiến trận, tôi đã từng lấy mạng sống của mình trêu đùa với định mệnh, cái sống cái chết như nhau trong những lúc dầu sôi lửa bỏng, giờ đây trước 2 kẻ thù với thân thể gầy còm, da xanh xao với ánh mắt hiền lành e dè, sợ sệt đang khép nép quay đầu về với Ta, mà cảnh ngộ đưa đẩy tôi phải ra lệnh giết chết họ thì quả thật là trớ trêu! Tôi suy tư: “Ta không phải là định mệnh, là thần chết để gặt lưỡi hái tử thần lấy đi sinh mệnh của Phong và Châu trong hoàn cảnh này éo le đáng thương này”! Đêm mùng 2 Tết, tôi ngồi một mình bên chai Remy Martell với cái đùi vịt quay nồng mùi dầu ẩm mốc của ba Tàu Chợ Lớn, trong căn chòi dã chiến chỉ cách Bắc Quân khoảng 50 mét. Trước khi đi ngủ, tôi đã tự quyết định là chẳng làm gì cả. Lại một lần nữa tôi đang trêu đùa với định mệnh! Tôi cứ làm thinh, làm ngơ coi như chẳng có chuyện gì xãy ra cả, nhưng tự trong đáy lòng có nỗi ngỗn ngang không biết xử trí như thế nào cho hợp lý hợp tình với 2 “ông cố nội” báo cô này?May mắn thay,trưa ngày 6/2/1973 nhằm ngày mùng 4Tết, ĐĐ2TS được lệnh di chuyển về phíaNam Sông Bồ (An Lỗ-Huế) Tiểu Đoàn Biệt Động Quân sẽ trám tuyến cho ĐĐ2TSD nội trong ngày. Nhá nhem chiều hôm đó bầu đoàn thê tử của tôi phải lội bộ hơn 3 cây số ra QuốcLộ 1 để quân xa GMC chở về An Lỗ… dĩ nhiên phải cõng theo 2 ông Việt Cộng ốm o gầy còm xanh như tàu lá chuối này! Cá tính của tôi là khi suy tính 1 chuyện gì mà chưa tìm ra 1 giải pháp để thực thi thì trong dạ cứ nôn nao khó chịu, nhưng lại cứ nhởn nha cù cưa không dứt khoát liền, nhưng khi có giải kết rồi thì..trời cản cũng không được!

ĐĐ2TSD được nhét vào phòng tuyến giữa TĐ3ND và TĐ9ND dọc từ trên núi xuống tận cầu An Lỗ, phía Nam Sông Bồ, bờ sông phía Bắc là Trung Đoàn 95 của SĐ325CSBVchiếm giữ chỉ cách Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của SĐND hơn 1 km về hướng Tây- Nam. Cả hai bạn- địch cùng tắm giặt nấu ăn cùng một dòng sông oan nghiệt chia cách đôi bờ! Sau 2 ngày phối trí quân tạm ổn định, tôi gọi Trung Sĩ Nhất Triết trình diện:

– Tôi thông cảm tâm trạng khó xử của cậu, tôi tạm thời giải quyết như thế này. Tôi biết gia đình và cha mẹ của cậu đang sống trong giáo sứ Khiết Tâm – Thủ Đức, một giáo xứ có tới 100% người Bắc di cư 1954, cha của cậu hiện là thầy bốn, thầy năm gì đó của giáo xứ, có nhiều uy tín với Linh Mục chánh xứ tại đây, có phải đúng như vậy không?

– Dạ đúng như vậy thưa Đại Úy.

– Vậy thì như thế này. Tôi cho cậu đi phép 2 tuần, ứng trước cho cậu 2 tháng lương, tôi cũng cấp giấy phép (giả) cho Châu và Phong cùng đi với cậu.Cậu có nhiệm vụ đưa 2 đứa em nó về giao cho Cha cậu, và xin Cha cậu liệu bề cưu mang tụi nó vì là cháu con. Tôi nghĩ với uy tín và công quả, mục vụ của ông đối với giáo xứ, Cha cậu có thể giải quyết được chuyện này, và lại nữa với tình ruột thịt chú bác như Cha… Ông có thể sẽ hết lòng lo cho tụi nó. Lo như thế nào tôi không biết, nhưng tôi chắc chắn rằng ông sẽ lo được. Khi về đến nhà, cậu phải xé bỏ và đốt ngay 2 cái giấy phép giả này, và nhớ 1 điều tối quan trọng là: căn dặn gia đình nói rằng 2 tụi nó là lao công đào binh của SĐ3BB với 2 cái tên mới. Chỉ có vậy thôi, cậu đã hiểu và thông suốt những gì tôi căn dặn chưa? Tôi tin ở cậu chuyện này, nhớ rằng nếu có chuyện tráo trở, đổ bể sau này, tôi sẽ là người chịu trách nhiệm trực tiếp và chuyện tốt lành trở thành xấu dữ… sẽ đem tai họa cho tôi và anh em cậu, cậu hiểu không?

Triết nghe qua và như ngẩn người ra, có lẽ Triết không bao giờ nghĩ tôi lại đi đến quyết định liều lĩnh như vậy! Một quyết định khá táo bạo gần như trêu đùa với định mệnh về tương lai và số phận của mình! Triết lí nhí cám ơn và trở về nơi đóng quân của toán. 2 ngày sau họ đã ở Thủ Đức, và 3 tháng sau Triết báo cho tôi biết, Châu và Phong đã trở thành dân quân Xã Khiết Tâm thuộc Quận Thủ Đức với giá 100.000$ (một trăm ngàn đồng tiền VNCH-1973) cho mỗi người.

Tôi nghĩ trong mỗi một con người đều có “cái thước” để đo chính lương tâm của mình, dài hay ngắn, căng hay chùng là tùy vào mức độ lượng khoan dung, tha thứ của mỗi cá nhân. Khoan dung, tha thứ tuy chưa chắc và có thể không thay đổi được hận thù địch – bạn trong quá khứ, nhưng nó có khả năng mở rộng cho tương lai những con đường tốt đẹp khác? Tôi đã không thi hành nghiêm khắc quân lệnh “giải giao tại chỗ” mà còn âm thầm lén lút giúp cho 2 cán binh Cộng Sản Bắc Việt một con đường sống, một lối sống. Trong trường hợp và tình cảnh của Triết, Phong, Châu thật đáng được giúp theo lương tâm là người đã khó mà làm Người (viết Hoa) vốn tự là nhân phẩm của Người ngay lành lại còn khó hơn vạn lần sinh ra. Tôi chẳng có gì phải thù hận họ và cần thiết đến nỗi phải mang Phong – Châu bắn bỏ bằng 1 phát đạn thù! Nếu có thù hận chăng và qui tội đám chóp bu quyền bính lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Bắc Việt chúng nó là: Hồ, Đồng, Chinh, Duẫn, Giáp… đã tha cái học thuyết Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản là thứ rác rưỡi lịch sử khốn nạn và rước giặc vào nhà giết dân lành, cướp của, dày xéo quê hương điêu linh, chinh chiến hoang tàn, đỗ nát! Trái tim của tôi có chỗ bao dung, uẩn lương dành cho những kẻ thù đã sa cơ thất thế muốn tìm 1 con đường sống lương thiện và sự tha thứ! Chẳng những tôi đã tha cho Phong, Châu mà còn giúp cho họ làm lại cuộc đời vốn dĩ đã không may trong suốt quảng đời tuổi trẻ dưới chế độ dã man cùng cực tại miền Bắc nước Việt Nam. Lý lẽ từ ái và độ thương cảm tha nhân của tôi “bảo” tôi phải làm như vậy dù lý trí có phân vân, đắn đo hơn thiệt khi tính cá cược thân phận của mình.

Cuối tháng 10 năm 1973, tôi được lệnh trình diện Phòng An Ninh Quân Đội Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù để làm phúc trình về vụ việc “tha Tào” này vì tin tức đã thấu đến tai của An Ninh Quân Đội (ANQĐ). Trong cuối bản phúc trình tôi đã viết: “… hận thù như 1 viên đá đè nặng trong hồn tôi! Trong tình huống đáng thương tâm của tha nhân và của anh em Triết, Phong, Châu! Tôi quyết định vứt bỏ sự hận thù sinh tử trên chiến trường Quốc – Cộng để tha chết và mở cho họ con đường sống kể từ sau khi có lệnh ngưng bắn chẳng phải là dễ chịu hơn không! Tại sao tôi cứ phải để 1 viên đá vô hình như sự tàn bạo đè nặng lên tâm hồn vốn tự có nhiều nhân ái trong những trường hợp phải tha hay phải giết…”? Sau đó, tôi không thấy phòng ANQĐ và Phòng Nhì của SĐND đá động gì tới nữa vụ việc này nữa. Điều nầy cũng tự “nói” lên tính cách Nhân Đạo (viết Hoa) của cơ quan hữu trách và cấp chỉ huy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Thuở nhỏ, Ông Ngoại tôi cứ căn dặn rằng con cháu rằng: “… ai cho con 1 chén cơm, manh áo thì các con, cháu phải nhớ ơn suốt đời nhưng con cho ai chén cơm, manh áo thì con, cháu phải suốt đời quên đi”..! Tôi đã vi phạm quân lệnh tha cho Châu và Phong tôi đã quên, nhưng Châu, Phong không quên. Tết Bính Thìn năm 1976, tôi đang bị giam giữ ở trại tù tập trung Hốc Môn, thì tôi nhận được 1 thùng quà Tết nặng tới 3 ký lô, người gửi là Lê Thanh Triết – Thủ Đức, gồm có: 1 tấm chăn dầy, 1 ký thịt bò khô xào mắm ruốt xã ớt, bàn chải kem đáng răng,xà bông cô ba, trộn lẫn trong ruốt là 2 tờ giấy 50$ (tiền Hồ) kèm theo dòng chữ: “tụi em sẽ cố gắng lo cho anh “đi” càng sớm càng tốt”. Tuy rất đổi mừng vui vì bị giam tù mà nhận được quà của người thân không bao giờ nghĩ tới, nhưng tôi cũng rất bình thản với “đi đâu” và dù có đi được hay không tôi dám nghĩ tới, chỉ thở “khì” một tiếng thì ra nhân – quả là đây! 4 tháng sau, tức tháng 5 năm 1976 tôi vượt ngục (trại tù Long Giao) rồi đi tới Xã Khiết Tâm tìm nhà ông Lâm cha của Triết cũng là chú ruột của Châu và Phong nhờ liên lạc với gia đình cha mẹ tôi ở Tiền Giang. Bấy giờ anh em Châu, Phong đã có giấy tờ hợp lệ sau “giải phóng”, họ đi làm phụ hồ cho những nhà thầu xây cất nhà cửa, riêng Triết đã có vợ và 2 con, vợ chồng cùng đi làm chung ở 1 hãng dệt tại Thủ Đức.

Cuộc sống bình thường của họ cứ thế mà trôi dần với thời gian, giờ đã gần nửa thế kỷ, 44 năm từ sau 1975 rồi còn gì…. Nhân dịp cuối năm và còn mấy ngày nữa là Tết Kỷ Hợi 2019 và cũng như thường lệ mọi năm, từ Việt Nam họ đều gửi thiệp chúc Tết cho gia đình tôi tại Mỹ, trong thiệp thư thăm hỏi không quên nhắc lại câu nói mà tôi đã từng nói với họ khi xưa: “tha thứ cho kẻ làm bạn tổn thương là món quà dành cho họ…!” Quà Tết hằng năm của vợ chồng Triết và 2 em Phong, Châu luôn là 3 hủ mắm tôm chà Gò Công, loại mắm mà tôi ưa thích nhất, 3 con thỏ nhà phơi khô ướp xã ớt được bọc gói cẩn thận giấu trong các hành lý của người thân từ Việt Nam sang Mỹ thăm thân nhân. Cuộc sống là tiếng vọng của luật nhân quả? Những gì tôi “gửi” đi nay quay trở lại, những gì tôi đã gieo trồng nay tôi đang gặt hái, những điều tôi cho đi nay tôi nhận lại và quan trọng trong tình người tôi đang nhận lại những trái tim chân tình yêu thương vượt qua thù hận của người bênkia chiến tuyến đã có một thời bắn giết nhau trong quá khứ, nhưng cảnh ngộ trớ trêu xưa như 1 định mệnh an bày qua biến thiên thời thế đổi thay mà tôi với gia đình Triết, Phong, Châu lại thương mến nhau như cùng 1 mái ấm gia đình tình thâm.

Năm cũ sắp hết, năm mới sắp đến, những cành đào sau nhà đã trổ nụ, tôi chợt nhớ đến quê tôi xứ Gò Công nước mặn đồng chua với những cánh đồng lúa chín ngút ngàn,những vườn mãng cầu, cerise chín đỏ mọng, khi đông tàn Xuân đến, hằng chục chiếc ghe bầu khẩm nặng với dưa hấu, dừa xiêm ghé bến sông nước đục ngầu chảy xiết, chợ búa tấp nập ngược xuôi, người mua kẻ bán, trong đó có Mẹ và Chị tôi, buôn tảo bán tần nuôi 5 chị em tôi ăn học và như còn nghe văng vẳng đâu đây tiếng của Ông Ngoại dặn dò Mẹ tôi: “Nghèo Mà Biết Cho Đi Là Giàu Hơn Tất Cả, Giàu Mà Không Muốn Bỏ Ra Là Thiếu Tận Cùng”. Tôi đã giúp cho Châu và Phong 1 cuộc sống mới. Giờ đây tôi được 1 cuộc sống mới bình an.

Mũ đỏ Trương Văn Út

(Út Bạch Lan)

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 6 Jan 2026

Bài 9

Nghĩ về Phan Nhật Nam

PHAN NHẬT NAM VÀ NHỮNG CHUYỆN CẦN ĐƯỢC KẾ LẠI

Thái Nguyên- Montréal, Canada

Phan Nhật Nam, người viết cuốn bút ký chiến trường nổi tiếng “Mùa Hè Đỏ Lửa”, ghi lại những câu chuyện bi tráng hào hừng của người lính chiến thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong trận chiến tàn khốc mùa hè năm 1972, với những tình tiết xoáy động vào tâm tư người đọc, đã đến thành phố Montréal vào một ngày mùa thu vàng úa, để nói chuyện về đề tài: “Tại sao người lính lại phải cầm bút”. “Người Lính” ở đây được dùng như một danh từ chung, nhưng nên được hiểu rằng không phải bất cứ một người lính nào đó, vì nghề lính đâu phải là nghề cầm bút, mà đấy là Người Lính Phan Nhật Nam, tự mang sứ mạng nói lên tiếng nói của cả một tập thể đông đảo lính, một tập thể luôn chịu đựng và chấp nhận mọi thua thiệt, mà không hề thở than, đòi hỏi một đền trả nào.

Montréal là chặng cuối trong cuộc hành trình kéo dài mấy tháng vừa qua mà Phan Nhật Nam đã đi như một tông đồ rao giảng, để tìm gặp “Người Bạn Đọc” mà Phan Nhật Nam đã ân cần dặn dò trong những dòng cuối của lời mở đầu cuốn sách mới xuất bản giữa năm 1995, “Những Chuyện Cần Được Kể Lại,” và một lần nữa được ân cần nhắc nhở trong cùng một vị trí của cuốn sách kế tiếp, “Đường Trường Xa Xăm, như một lời trần tình, một lời tâm sự thành khẩn nhất của “Người Viết Văn” mong mỏi tìm được “Người Bạn Đọc” để chia xẻ mối u uẩn canh cánh với mình:

“… Cuối cùng, Người Bạn Đọc – Xin tin cậy và thúc dục lòng thành cùng Người Viết Văn. Bởi một điều giản dị -Viết không người đọc thì viết làm gì?!!” Đó là những điều gì đã thôi thúc Phan Nhật Nam phải một mình một xe, vượt ngàn dặm“đường trường xa xăm” sau một thời gian ngắn đến Hoa Kỳ, vừa được tự do, thoát khỏi vòng kiềm chế của cộng sản, đã tiếp tục lại công cuộc tranh đấu lấy lại “danh dự xứng đáng cho người lính”, mặc dù tại các thành phố lớn đông người Việt như Houston, Santa Ana, một chiến dịch đã được dấy động lên để triệt hạ uy tín anh qua cái cáo buộc:

“Phan Nhật Nam nay đã chao đảo.”

Phan Nhật Nam không đi để ra mắt sách, để tìm kiếm thêm một chút danh vọng hão huyền, một chút lợi nhuận cỏn con nào hay để bào chữa chống lại một cái dư luận “chao đảo” bị gán ép. Phan Nhật Nam đã đi vì cần phải tìm gặp cho được những “người bạn đọc,” để nói về “những câu chuyện cần được kể lại”. Kể lại một cách từ tốn, không cần cường điệu hóa qua lời lẽ bài nói chuyện, cũng như cung cách trình bầy.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một tiêu mốc thời gian rất quan trọng trong lịch sử cận đại của Dân Tộc Việt.

Tầm ảnh hưởng của các biến cố liên quan đến ngày lịch sử này thật sâu rộng khôn lường, chỉ sau này người ta mới có thể thẩm định, khi những đám mây mù của phản ứng tình cảm nhất thời, cách nhận định chủ quan, cách được thổi tan đi … Lúc đó, những gì thuộc lịch sử sẽ được mưu đồ chính trị đen tối do quyền lợi phe phái thiển cận trả về “Thật Lịch Sử”. Nhưng các dữ kiện lịch sử nếu không được kịp thời ghi lại, sẽ bị mai một đi, thất lạc đi, bị trộn lẫn với các dữ kiện sai lạc, ngụy tạo khác. Sứ mạng một “người viết văn” là làm sao viết lại được một cách trung thực và đầy đủ, tuy phải nhìn qua cái lăng kính chủ quan của chính cá nhân mình. Nhưng các dữ kiện này vẫn đủ “khách quan tính” để tái tạo các giai đoạn lịch sử. Một trong những điểm quan trọng nhất để đạt được thành quả này trong tác phẩm là sự trung trực của người cầm bút khi ghi lại những biến cố cũng như các rung động tình cảm chân thành. Đây là đặc trưng luôn thấy được qua các tác phẩm vĩ đại của kho tàng văn học thế giới. Nguyễn Du đã cùng tâm tình và cuộc đời gian truân của nàng Thúy Kiều để nói lên tâm sự kẻ sĩ trong xã hội nhiễu nhương thời Lê Mạt. Leo Tolstoy với tác phẩm “Chiến Tranh Và Hòa Bình,” qua đôi mắt ngây thơ của Natacha, đã minh hoạ nên toàn cảnh nước Nga thời tao loạn khi vó ngựa viễn chinh đoàn quân bách thắng Nã Phá Luân Đại Đế ào ạt tấn công, chiếm đóng vào sâu đất Nga, nhưng sau cùng thảm bại vì mùa đông bang giá trên vùng đất tuyết bao la. Lịch sử cuộc nội chiến Hoa Kỳ được tái tạo dựng một cách sống động với

Thiếu mất 2 trang 232 & 233 trong bản Pdf

với cách nghịch ngợm phá phách. Phan Nhật Nam đã lao vào tìm kinh nghiệm sống bằng cách tình nguyện đi

lính lần đầu năm 17 tuổi, nhưng bị từ chối vì chưa đủ tuổi, và chỉ được nhận vào trường Võ Bị Đà Lạt năm sau khi tròn 18 tuổi. Phan Nhật Nam đã ghi lại “dấu binh lửa” còn hằn khắc trên tâm tư của mình:

“ … Tôi tự động hăng hái, hãnh diện để trở thành một sinh viên sĩ quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình hướng đi, một chỗ dưới ánh mặt trời.”  Nhưng sau quyết định ảnh hưởng sâu xa đến cả cuộc đời, những giây phút băn khoăn vẫn thường xẩy ra trong tâm tư người lính trẻ,” … Đây cũng là một thời gian thật khủng hoảng, mỗi đêm nhìn về thành phố đầy ánh đèn tôi không ngủ được, tưởng như có tiếng gọi của đời sống bên ngoài quân ngũ đang nhắc nhở thúc giục, một đời sống thực sự mà tôi không có. Những lúc ấy, tôi thấy được con người thật của mình- Một gã trai trẻ vô định hướng …. “

Năm hai mươi tuổi ra trường, xông vào nơi chiến địa, để thấy quê hương oằn mình lên trong lửa đạn:

…. Sáng đổ trực thăng, đêm phục kích

Hàng dừa vun vút đạn găm ngang

Bom xối giòng sông lửa cháy tràn

Bờ kinh lạch suối vật mình than

Dân che tay nhỏ ngăn nhà cháy

Quân hai bên, đầm đìa máu loang,

Sau vài năm xông xáo thử thách mình, Phan Nhật Nam đã ngồi lại tự kiểm, tìm biện minh cho hành vi dấn thân của bản thân, nhưng có điều gì không ổn, có điều gì vô nghĩa, vô lý trong chiến tranh … “Năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba, tôi sống thoải mái, vì đã đi đủ, nhìn đủ. Tôi cũng chấp nhận về lần góp mặt để chấm dứt chiến tranh. Thắng bại không kể, nhưng cốt yếu không ở ngoài, không chạy trốn khi bạn bè, những người cùng trang lứa đang tham dự, đang ngã chết … Dù chết bên này hay bên kia, chết trrong thù hận hay chết trong tình cờ. Những người tìm cái chết để biện giải cho đời sống. Tôi tham dự vào cuộc hành trình khốn nạn này. Giải thích này cho tôi yên ổn”. Những thời gian kế tiếp, trực diện với cái chết, nhìn bạn đồng đội gục ngã hàng loạt trước mặt, anh tự hỏi số phận mình sẽ ra sao nếu lần đạn lệnh đi qua một chút. Giữa sống chết, con người như say cơn mộng ảo, hò hét, bắn giết trong phản xạ, bắn người để mình không bị bắn, để mình được sống sót. Sau trận chiến, tỉnh dậy như sau cơn ác mộng, chợt khám phá ra một con người lạ trong mình: “Như vậy là đụng độ lớn, người bị thương nằm la liệt ở dưới các rãnh dừa nước. Toàn đang đứng trong một giao thông hào chỉ trỏ quát tháo. Phía trái có tiếng lựu đạn nổ và lời hô xung phong. Trung đội tôi ép phải, hướng tiến bây giở thẳng góc với các con kinh nhỏ, nên chúng tôi chỉ có thể nhẩy từng bước thật dài trên bờ kinh … Một cái nhẩy hụt, tôi rơi vào đường mương cùng hai người khinh binh …. Tôi chửi mắng om sòm. Trung đội đến bờ làng dừng lại bố trí trông ra khoảng đồng trống. Ngồi dựa vào một gốc dừa, tôi thấy mệt vì phải quát tháo quá nhiều, nhớ lại lời chửi tục. Tôi đã thành một người lạ nào đấy.”

Những người lính bên này hay bên kia có chết đi thì cũng là lẽ đương nhiên, vì họ đã được trang bị và chấp nhận tham dự cuộc chơi ác độc và bất hạnh kia, nhưng những thường dân, phần đông người già, đàn bà và trẻ em là những nạn nhân oan nghiệt đau thương nhất … Chết không được biết nguyên do, sống với nhục nhằn sợ hãi:

Tên lính lanh lẹ bắn xuống một tràng Thompson, có tiếng rên khe khẽ.

– Lên không bắn nữa. Đưa tay lên trước …Tôi nín thở, một chiếc đầu bạc phơ từ từ nhô khỏi miệng hầm, ông lão bế bà lão lên theo. Vừa ra khỏi hầm ông lão chấp tay xá bốn hướng xụt xùi khóc lóc, bà lão nằm vật xuống, ở đầu có một vết thương. Đến buổi trưa, tôi hoàn toàn kiệt lực như một mũi tên rơi xuống cuối đường bay. Hình ảnh hai mái tóc bạc nhô lên từ miệng hầm; nét mặt hốt hoảng của hai tên địch chưa quá mười sáu tuổi lôi lên từ một đám bèo, một tên còn đang ngậm một búng cơm … Những hình ảnh đó bây giờ được cộng thêm cảnh chết của hai vợ chồng và ba đứa con ở trước mặt tôi. Họ chết từ ngày hôm kia, khi địch đặt bộ chỉ huy ở khu nhà thờ, cả gia đình trốn dưới cái bệ Thờ Chúa (Ất họ đã nghĩ rằng Cung Thánh là nơi sự Ác không được với tới) …. Tượng Chúa ngã nghiêng, tượng Thiên Thần vỡ tung tóe, hai bàn tay trắng bằng đất rụng lăn lóc trên sàn nhà. Khi tôi cúi xuống nhặt hai bàn tay này thì khám phá ra xác chết trên. Họ chết ngồi, hai vợ chồng ngồi sát ôm ba đứa con trước ngực. Họ chết vì sức ép nên thân thể vẫn còn nguyên vẹn, nét mặt in vẻ hốt hoảng. Tôi ra lệnh kéo xác họ ra sân.”

Thân phận yếu đuối của người đàn bà trong thời loạn ly thật đau đớn, xô đẩy họ chấp nhận số phận hằn sâu trong vô thức, được hình thành qua những động tác cùng đành khi đem thân thể hứng chịu nhục nhã, như là cái gia sản cuối để trao đổi cho được phần nhỏ sống còn, đã nói lên điều tận cùng vô nhân của chiến tranh:

“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chởng hỗn độn bốc khói xám … Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẳng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch, mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi vào, chị ta đứng dậy, đứng thẳng như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác. Tôi đi đến trước chị đàn bà ..

-Làm gì chị ngồi đây, không biết đánh nhau sao?

Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẳng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên, tôi đưa tay đón lấy … Hai bộ quần áo, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng giây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai.

…

Ê! Đi .. đi. Tên lính xua đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng. Chị kia quay lại đây tôi trả cái này … Tôi nói vọng theo. Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng bây giờ đôi mắt vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hoảng thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi … Chị ta còn trẻ lắm, khoảng trên dưới 27, 28 tuổi, da trắng mát tự nhiên, một tí tóc xỏa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú. Tôi đưa trả chiếc lẳng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẳng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc, song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta. Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bậc tam cấp. Khi nào tụi tui đi thì chị đi theo … Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ … Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa … Từ từ chị đưa tay lên hàng nút áo trước ngực … Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi … Người đàn bà hiểu lầm tôi.

Chẳng mấy chốc chiến tranh đã biến con người thành chai lỳ không còn cảm xúc, con người dần quen đi với bạo động, tàn bạo và điều chua xót nhất cho người trong cuộc là vẫn còn ý thức được tình cảnh thoái hóa trong con người của chính mình:… “Tám năm lính, tôi hai mươi sáu tuổi, số tuổi gần ba mươi, không bạn bè, xa bằng hữu, số tuổi với nỗi cô đơn kinh khiếp biến con người hững hờ, tàn ác như một lát dao. Tôi hai mươi sáu tuổi để thấy rõ cái mặc cảm phạm tội trước kia chỉ là một ảo tưởng xa xỉ của tuổi mới lớn, ảo tưởng về trách nhiệm con người đối với nhau … Sau tám năm ở lính, tôi hết là vùng đất để nghiệm và chịu ảnh hưởng. Tám năm ở lính để biết mình là một cánh chim tự do nhưng đã bị chặt cánh. Chính thương tích này đã làm sáng tở khả năng tự do bi đát của đời người.”

Ảo tưởng của người thanh niên nước Việt mang lòng nhiệt huyết dấn thân với hoài bão thực hiện những lý tưởng cao đẹp dần tàn lụi đi với thực tế phũ phàng. Tầng lớp thanh niên ưu tú dám nhập cuộc trở thành nạn nhân của chính ảo tưởng của mình, khi nhìn rõ được bản chất vô lý của cuộc chiến tranh ủy nhiệm, một cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam, Bắc của nước Việt, mỗi miền đều được khoác lên những chiêu bài to tát của những ý thức hệ ngoại lai và được thực thi bằng những người lãnh đạo mù quáng vì tham vọng cá nhân nên vô hình chung bị điều khiển từ bên ngoài mà có thể chính họ cũng không ý thức được. Do đó sự hy sinh của hàng triệu mạng sống thật là vô ích. Phan Nhật Nam đã trở thành con người nổi loạn chống lại những guồng máy đè chặt lên thân phận của con người. Và cả guồng máy đó đã được vận chuyển để nghiến nát cá nhân con người viết văn này.

Những năm kế đời binh nghiệp của Phan Nhật Nam lại còn xuống dốc thê thảm hơn nữa. Guồng máy quân đội đã được các cấp chỉ huy bất xứng dùng để đè sập xuống người viết nổi loạn này, Phan Nhật Nam bị bắt buộc rời khỏi binh chủng Mũ Đỏ, rời khỏi chiến trường sôi động để thành kẻ đứng bên lề, đau xót nhìn bạn bè đồng ngũ từ từ rơi rụng trong chiến trận của mùa hè đỏ lửa. Được đổi về một đơn vị an toàn có thể là niềm mong ước của nhiều người khác, nhưng đối với Phan Nhật Nam, đó là một vết thương không thể nào quên được .. “Trong một thoáng thật ngắn, tôi nhớ những ngày đầu vào lính khi nhìn những sườn đồi đất vừa vỡ tươi, sương núi bốc mờ qua rừng thông, chiếc tàu chậm rãi từ trạm Sông Pha đưa chúng tôi lên cao nguyên. Cảm giác năm xưa sao hào hùng say đắm. Tôi đi lính hay đi nhận nhiệm vụ huy hoàng và cao cả. Nhiệm vụ đẹp như định nghĩa rực rỡ của các Người Lính ngoại hạng – Người lính lý tưởng của Mac Arthur, De Lattre. Cảm giác năm xưa trở lại độc ác, sắc nhọn như tiếng bật khô se của kíp lựu đạn vừa mở. Tôi chỉ có trước mặt một anh “sĩ quan hương chức” cho những ngày cuối cùng binh nghiệp. Binh nghiệp, ai sinh ra danh từ sao cay đắng, sao “không là nghề mà là nghiệp” – Đúng, chỉ vì nghiệp dĩ mà ra.”

Mùa hè năm 1972, mùa hè kinh hoàng đỏ lửa bởi trận Tổng Công Kích của Bắc quân trên ba vùng chiến thuật. Ngòi bút của Phan Nhật Nam vẫy vùng bén nhọn ghi những cảnh địa ngục có thật trên trần gian xẩy ra những nơi chốn gọi là … Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị – Huế; tuyệt lộ Kontum – Pleiku với điểm chặn Chu Pao; đoạn đường máu và nước mắt An Lộc – Chơn Thành, Bình Long- Bình Dương … của người dân đau thương chạy loạn, nỗi bi tráng của người lính tuyệt vọng tìm đường sống trong cảnh chết tại những địa danh không tên, lần lượt được ghi vào quân sử như Dẫy Phố Buồn Thiu nơi địa đầu giới tuyến miền Trung, cứ điểm Charlie chốn rừng thẳm non cao dải Trường Sơn thăm thẳm, suối Tầu Ô trên con đường vào Bình Long để trở thành: “An Lộc địa, sử ghi chiến tích. Biệt Kích Dù vị quốc vong thân.”

Hòa bình giả tao năm 1973, chỉ là một giai đoạn xả hơi để lũ người cuồng tín sửa soạn cho một cuộc chiến mới. Năm 1975, địa ngục trần gian lại càng trở nên bi thảm hơn, kinh hoàng hơn với lần xâm tràn ngang ngược của Bắc quân, quyế định phủi tay của nước bạn “đồng minh,” và bày ra trọn vẹn ích kỷ tàn tệ của lớp người cầm quyền: Chiến tranh đã đi đến độ tận cùng của vô lý và vô ích với lần kết thúc vô vàn bi thảm của NGÀY 30 THÁNG TƯ 1975.

Sống thật với kinh nghiệm bản thân, từ những hoài bão vút trời của tuổi trẻ, những giây phút hào khí chất ngất xông pha nơi chiến trận, những lúc chứng kiến cảnh sinh ly tử biệt của người bạn đồng ngũ, tuy không phải ruột thịt nhưng thật quá hơn thân thiết, rồi những đau thương của người dân trong cơn bão loạn, và những đắng cay cho chính mình trong đời binh nghiệp không làm Phan Nhật Nam chối bỏ đời lính. Những kinh nghiệm này trở thành những chất liệu sống động cho ngòi bút và là lý do tại sao người lính Phan Nhật Nam lại cầm bút trước năm 1975.

“Trước năm 1975, viết như một cách giải tỏa uất hận, phẫn nộ – Do cảnh sống quá đỗi khắc nghiệt, tàn nhẫn của chiến trường vây chặt, tác động … Từ tuổi trẻ, qua những dòng chữ viết, tôi đã đặt nền móng đúng về một xác tín cao cả, bi hùng – Người lính đã chiến đấu cho Tự Do. Người lính đã chiến đấu với một mục đích tự thân -Chiến đấu bảo vệ phẩm giá con người.” Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, người lính thất trận bị bó thân trong tù đầy. Nhưng những lời trách cứ của dân chúng miền Bắc “Các anh đánh đấm ra làm sao để gây họa cho chúng tôi!” như những nhắc nhở khó quên. Sự giam cầm thể xác cũng không ngang bằng sự ray rứt trong tâm tư: “… Quả thật Người Lính Miền Nam đã đồng thời gây nên vô vàn đau xót không đường giải cứu, đánh vỡ toàn thể Hy Vọng Dân Tộc từ cuộc thất trận oan nghiệt của chính mình.”

Như là một cách tự thử thách sự kiên cường vào những điều tin tưởng của mình, Phan Nhật Nam đã chấp nhận sự hành hạ về thể xác và tinh thần của phe thắng trận lặng lẽ đi vào phòng kiên giam hơn nửa thời gian tù đầy 14 năm dài, tiếp tục chiến đấu giữa bóng tối: “Cửa phòng kỷ luật mở ra. Nhân bước vào. Cửa đóng lại. Phòng chìm trong bóng tối, im lặng ẩm mốc, không khí cảnh sắc của sự chết, nhà mồ. Thêm một cửa nữa được mở, cửa cuối cùng, và anh bước vào căn phòng, đúng hơn một cái hộp, dài hai thước, rộng khoảng một thước, cao ba thước, chiếc bệ đất tráng xi măng, phần cuối có thanh sắt chắn ngang bên trên lủng lẳng hai vòng cùm, hình chữ U. Nhân đút hai chân vào cùm, nằm xuống. Trời tháng Hai lạnh cóng, căn phòng sũng ướt như một hầm nước đá.

… Nhân nằm như thế bao lâu, không biết bên ngoài trời sương mù hay ửng nắng, trưa, chiều, tối, khoảng mấy giờ …Chỉ thấy tối mờ mờ lầy lầy, lạnh tanh và im lặng. Hình như chung quanh có âm động, tiếng nói nào đó …Thoảng nghe xa … từ xa dội lại. Đầu và chân mình ở hướng nào? Nhân cố gắng xác định nhưng nhưng vô hiệu. Những cơn mê ngắn nối tiếp giấc ngủ chập chờn và khoảng thức ngây ngây. Thân thể rất lạnh, cái lạnh dị thường từ thời tiết bên ngoài, lạnh giữa bốn bức tường thẫm tối và bên trong từ gan ruột, dưới lớp da. Lạnh khiếp sợ của thần kinh bị tê liệt, tổn thương, nhưng bên ngoài da thịt hầm hập nóng như lên cơn sốt, hai hàm rang dẫu nghiến chặt vẫn đập cầm cập vào nhau. Thôi, tất cả đã hết … Vậy ta cho xong luôn! Nhân quyết định đời sống bản thân ở bước chót – Nhịn đói để chết”.

Nhưng một sự việc xẩy ra đã làm người viết văn như chợt bừng tỉnh, nhự người đi trong hầm tối, chợt qua một khúc quanh thấy được ánh sáng cuối đường hầm, như một thiền sư luyện tập lâu năm gặp cơ duyên ngộ đạo khi chợt thấy được một việc ngoại thân xẩy ra:

“…Việc nhịn ăn quả tình không khó lắm khi đã qua hai, ba ngày đầu, những ngày sau Nhân chỉ có cảm giác trống  rỗng, người như bay bềnh bồng giữa khoảng không.Nhiệt lượng trong người bốc ra hừng hực để giữ thân nhiệt ở mức cần thiết, chống chỏi, vượt qua cái lạnh kỳ dị. Anh chìm dần vào cơn mê mờ nhạt, lãng đãng, nhưng hình như các giác quan tinh tế, sắc sảo hơn. Và trong trạng thái tỉnh thức bất định này anh nghe vang vang một chuỗi âm động từ bên ngoài, nhưng cũng từ bên trong vang lên. Tiếng động bàn chân người dậm mạnh lên bệ nằm theo nhịp đi … “Bảo vệ làng thôn quân lực Việt Nam Cộng Hòa … Nhân dân chờ mong, không nề hiểm nguy …” Nhịp hát một lúc một phấn khởi, người hát như đang được thôi thúc bởi một nguồn sinh lực mạnh mẽ, tuy âm lượng không dấu nét mệt mỏi, cằn cỗi, tắt nghẹn ở những nốt cao, ngân. Và để bù trừ cho phần khuyết điểm này, người hát chuyển qua hành khúc quen thuộc “…Đường trường xa, ta quyết ta quyết đi cho đến cùng … Đoàn hùng binh say sưa trong gió reo vang …”. Đến điệp khúc “Đời đời Lục Quân Việt Nam …” thì lời hát đã thành tiếng hét vang dội, và không chỉ với bàn chân dậm trên bệ đá nằm mà nắm tay hình như đang xử dụng để đập vào vách tường thay nhịp trống, chêm giữa những âm sắc khắc nghiệt của tiếng cùm chạm lanh canh lên thanh sắt chắn ngang …

“Chào cờ! Nghiêm!! Này công dân ơi! Đừng lên đáp lời sông núi…” Tiếng hát vang vang tràn vỡ căn phòng trùm bóng tối. Người hát hình như đang tận dụng hết sức lực của cánh tay, bàn chân bị cùm để nâng cao, đẩy mạnh lên lời hát hào hùng phơi phới … Thanh âm, ngôn ngữ đã một lần vang dội Miền Nam. Của Việt Nam.

Những bàn chân rất đông người chạy rần rật (có vẻ đã chuẩn bị sẵn cho tình thế), cửa vào phòng kỹ luật bị tống mạnh, ánh sáng lùa vào … Những người tù đồng bật dậy, sắt cùm kéo lê xoen xoét, cánh cửa các buồng giam lay động … Hình như toàn phòng sẵn sàng chờ đợi diễn tiến sắp xẩy ra … Ầm! Một cánh cửa nào đó bị mở tung và âm động của xương thịt người trong cơn cấu xé, dầm dập … địt mẹ … cho mày còn hát được không nào … Đánh cho chừa thói phản động đi … Chen giữa tiếng chửi và chuỗi đòn thù, Nhân nghe lời thét gào đứt khúc,” … Các ông hèn … hèn lắm!! Hèn là thế nào … Mày trả lời đi … Đánh người đang bị cùm thì giỏi giang gì, đánh thằng già đang bị cùm thì còn hèn hơn … Mày già nhưng còn chống đối, mày ngu thì phải dậy cho mày khôn ra. Tiếng cười nhạt .. Ai dậy ai, mấy mươi năm các ông biết đã dậy được ai không rồi chứ. Mày câm mồm đi … Ông lại cho thêm một trận nữa bây giờ. Nếu các ông đánh tôi chết được thì nên đánh, bằng không vô ích thôi. Giọng trả lời tỉnh như không. Được, ngày mai mày trả lời với ban (Ban giám thị trại giam). Cửa phòng đóng lại, bóng tối chụp xuống. Nhân biết được trời đang trong buổi trưa nhờ liếc bóng nắng đổ chéo qua ngạch cửa. Một thế giới với những con người kỳ lạ, không thấy mặt, có thật ở đây.”

Tinh thần kiên cường chiến đấu không chịu thua trước bạo lực của người tù kiên giam kỳ lạ này, càng trở nên kỳ lạ hơn khi Phan Nhật Nam biết được rằng anh ta chỉ là một người lính biệt kích, binh nhì Nguyễn Công Thành, xâm nhập bằng cách nhẩy dù xuống Ninh Bình, Bắc Việt, bị lộ tại chỗ, bị săn đuổi hai ngày và bị bắt sau khi bắn hết đạn. Anh bị tù kiên giam từ ngay lúc đầu, năm 1964, vì không chịu chấp nhận đầu hàng, và cho đến nay … 1995, có thể anh vẫn còn bị giam ở một phòng cấm cố nào đó hoặc đã chết – Không ai có thể biết. Người lính có cấp bậc thấp nhất của quân đội có được gì không mà mà phải chịu hành hạ thể xác và tinh thần trong thời gian dài dặc như truyện không tưởng?! Câu hỏi này được nghiền ngẫm, suy tưởng, đối chiếu với những điều hằng kinh qua, và anh tìm ra được câu trả lời: “Người lính đã chiến đấu cho Tự Do. Người lính đã chiến đấu với một mục đích tự thân: Chiến đấu bảo vệ phẩm giá con người.” Và, Quân Đội là tập thể những người lính hào hùng này, chứ không phải là thiểu số các cấp chỉ huy bất xứng. Người Lính Phan Nhật Nam đã tiếp tục cầm bút để tiếp tục lý tưởng này. Phan Nhật Nam còn đi xa hơn một bước nữa, khi bị hành hạ thân xác và tinh thần, người viết văn đã nghiệm ra chữ Nhân, cái tình người đối với người, đã bị mất đi, khi con người bị mù quáng trong ý thức hệ để tạo nên hận thù vô lý. Cái vòng nhân quả này lại làm hận thù giữa những người cùng một nước ngày càng chồng chất thêm. Hậu quả là đất nước thêm đắm chìm trong tranh chấp triền miên một cách vô lý và vô ích. Người Lính Miền Nam đã chịu biết bao oan khiên ngộ nhận, nhưng lý tưởng tranh đấu cho tự do thật sự càng ngày càng sáng tỏ, trong khi đó Người Lính miền Bắc đã là công cụ thực hiện tham vọng của giai cấp lãnh đạo, xử dụng ý thức hệ làm chiêu bài. Với chữ Nhân, Phan Nhật Nam mở rộng vòng tay, xóa bỏ tị hiềm giữa những người lính hai miền, vì thật ra họ cũng chỉ là nạn nhân của thời thế như nhau, đem sinh mạng phí phạm trong cuộc chơi mà cả hai đồng nhận phần tàn hại, trừ một thiểu số lãnh đạo do quyền lợi thúc dục từ ngoại bang. Và đó cũng là một lý do mà người lính vẫn hằng phải cầm bút, vì ngòi bút sẽ là một vũ khí bén nhọn để tranh đấu, để xây dựng một đất nước tự do ấm no.

Sau hơn nửa đời người mà trong đó 14 năm lính, 14 năm tù, có dịp nhìn lại quãng đường đã qua, mặc dù phải hứng chịu nhiều bất khứng trong suốt đời binh nghiệp, Phan Nhật Nam vẫn luôn xác nhận với hãnh diện là Người Lính Viết Văn, kẻ chiến đấu cho lý tưởng tự do, với vũ khí trường cửu bền bỉ- Cây bút. Con đường trước mặt còn lắm gian truân, những tấn công với luận điệu “chao đảo”chỉ là một dấu hiệu. Điều đáng phàn nàn và bất nhẫn là xẩy ra từ phía sau lưng, do những người nại đến khối từ ngữ, danh xưng cảm xúc … Quân Đội, Dân Tộc, Tổ Quốc … Những người không một ngày chiến trận, không một lần tù tội, cũng không hề giao tiếp, kình chống với kẻ nghịch … Những người vô cùng bình an và hưởng lợi từ khổ nạn Việt Nam!! Nhưng người lính cầm bút vẫn mãi kiên cường như trong quá khứ, như nghĩa vụ thường hằng mà người cựu SVSQ khóa 18 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đã sống cùng và luôn gìn giữ … Lời nguyện ước năm xưa đã một lần vang dội màn đen lung linh ánh nến Chiêu Hồn Tử Sĩ đêm mãn khóa nơi Vũ Đình Trường

Lê Lợi: “Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng, mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm …”

Cảm nghĩ sau lần gặp mặt

với Phan Nhật Nam

ngày 22/10/95

Montréal, Canada.

Bầy Sư Tử Lãng Mạn

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 6 Jan 2026

Bài 10

Người chấp pháp lắc đầu:

– Em chưa tiến bộ chút nào!

Trí ghẻ đưa tay ra sau lưng gãi xoàn xoạt:

– Tôi thấy chú cũng chưa tiến bộ chút nào! Ba lần rồi, chú gọi tôi làm việc chỉ hỏi mỗi một câu.

Người chấp pháp cười:

– Tại em không chịu thành khẩn. Cứ thành khẩn khai báo đi, sẽ về sớm sum họp gia đình.

Trí ghẻ bỉu môi;

– Gia đình! Gia đình! Gia đình tôi tan nát rồi, chú ạ! Tôi không còn chốn thèm về nên không cần về.

Trí ghẻ nói đúng. Nó không còn gia đình nữa. Cuộc đời nó sẽ là một cuốn tiểu thuyết đầy tình tiết lâm ly hằn rõ dấu tích của thời đại, nếu nó kể cho một nhà văn. Hơn cả David Copperfield của Dickens, Rémy của Malot về hẩm hỉu ấu thời và, dĩ nhiên, Tom Sawyer, Huckle Berryfinn của Twain không được quyền ví với nó. Trí ghẻ, tù danh của Vũ Đình Trí, sinh năm 1958. Nó vừa biết nói thì bố nó đã bỏ mẹ nó đi giang hồ tuyệt tích. Hai tuổi, mẹ nó gửi bà con nuôi nó rồi đi luôn. Sáu tuổi, mẹ nó về dẫn nó đến giới thiệu với một người đàn ông và bảo người này là bố nó. Vậy thì Vũ Đình Trí đã có bố, một ông bố ít nói mà tốt. Nó được cắp sách tới trường. Tám tuổi, Trí đã thấy người ta đảo chính, chỉnh lý, xuống đường, tự thiêu, đàn áp răm rắp. Muời tuổi, nó thấy Việt cộng đánh Sàigòn, người chết, nhà cháy. Riêng những biến cố lịch sử tang tóc ấy đã khiến nó ăn đứt các “nhân vật tuổi thơ” trên thế giới. Qua vụ Mậu Thân, bố nó bị động viên vì bố nó lỡ tự học và đậu bằng tú tài. Cứ để làm anh thư kýquèn ở Thư Viện Quốc Gia lại khỏi phảiđi lích. Thư viện thiếu nhân viên rành việc, mãn khoá Thủ Đức, bố nó được biệt phái về nhiệm sở cũ.

Trí không có em nên bố nó thương nó lắm. Trí được bố dắt vào thư viện chơi. Cậu bé mê không khí thư viện. Ngoài giờ học, Trí đóng đô ở thư viện, đọc sách báo say sưa như một độcc giả lớn tuổi. Nó lén bố, đọc cả những cuốn sách mà nó chẳng hiểu gì. Riết rồi nó bị “tẩu hoả nhập ma”, mở miệng toàn danh từ hóc búa. Nó lây bệnh nghĩa, lầm lỳ như những trang sách. Ngày 30-4-1975, Vũ Đình Trí 17 tuổi. Nó đi xem giải phóng. Nó sợ hãi cờ giải phóng. Và nó cảm giác cái gì thật xót xa khó diễn tà khi nhìn người ta xé lá cờ quen thuộc mà nó gọi là quốc kỳ.

Nửa tháng sau giải phóng, một người đàn ông đội nón cối, mang giép râu, đeo súng lục đến nhà nó, xưng là cha đẻ của nó. Bố nó không chối cãi Mẹ nó không chối cãi. Mẹ nó khóc sưng mắt. Vậy là Vũ Đình Trí có bố Việt cộng. Nó nhất định không tin. Bố nó, mãi mãi, chỉ là ông thư ký thư viện.

Tháng 7-1975, ông bố thư viện của nó đi học tập cải tạo. Tháng 8, ông bố Việt cộng “tiếp thu” nhà nó. Tháng 9, mẹ nó tự tử. Tháng 10, nó bỏ nhà đi hoang, tham gia tổ chức “đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất” bị bắt và kết tội “đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất”. Bị nhốt ở quận 3 hai tuần, bị đánh đập sưng vù mặt mũi, bị ghẻ lở. Chuyển sang đề lao Gia Định tháng12-1975, ghẻ lở đầy mình. Có tù danh Trí ghẻ. Đã làm bản tự khai. Hôm nay là lần thứ ba làm việc với công an chấp pháp.

– Em nghĩ lại coi, Trí.

– Nghĩ gì?

– Ba em là người chiến sĩ cách mạng. Gia đình em vẻ vang quá.

– Ba tôi là ngụy. Gia đình tôi tan nát vì cách mạng. Tôi không thích làm con Việt cộng!

– Nhưng em vẫn là con em cách mạng.

– Không, tôi ngụy.

– Em ngụy bao giờ nào?

– Tôi ngụy từ sơ sinh. Trên ngụy địa, tôi là ngụy dân. Ngụy dân hèn mạt vẫn hơn Việt cộng.

– Chắc em giận vì má em chết. Có lẽ, đó là lỗi của ba em, không phải lỗi cách mạng.

– Việt cộng không là cách mạng. Tôi biết đọc sách, đừng tưởng tôi nhóc con ngu đần.

– Theo em, thế nào là cách mạng?

– Giản dị lắm, theo tôi và theo dân chúng Sàigòn, Việt cộng cút về Bắc kỳ hết là cách mạng.

– Em gàn dở quá.

– Vậy đừng gọi tôi làm việc nữa.

– Cách mạng muốn giúp em trở về đời sống bình thường. Do đó cần làm việc với em. Em bị bọn phản động đầu độc nặng nề.

– Tôi tình nguyện đi theo phản động.

– Em chống cả ba em à?

– Ba nào?

– Ba ruột thịt của em.

– Sinh tôi ra, vất tôi sống lây lất là một tội ác, là kẻ thù của tôi, là Việt cộng. Chưa đủ sao, còn bắt bố tôi bỏ tù, bắt mẹ tôi chết. Tôi khước từ ruột thịt với Việt cộng.

– Ba em vì Đảng, vì Cách Mạng, vì Nhân Dân đành tâm bỏ em.

-Bỏ tôi cho ngụy nó nuôi dưỡng tôi, thương yêu tôi hả?

– Ba em sắp đến đây gặp em.

-Tôi không thèm gặp ông ta.

– Em dã man, không tình phụ tử gì à?

– Phụ vô lương thì tử vô tình!

Người chấp pháp xoay qua chuyện khác:

– Em định đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất?

Trí ghẻ luôn tay gãi gáy:

-Phải.

Người chấp pháp cười thành tiếng:

– Làm sao em đánh nổi phi trường Tân Sơn Nhất?

Trí ghẻ nhún vai:

– Nếu không bị bắt, tôi đã đánh rồi.

– Mà thắng nổi không?

– Cứ đánh đã, thắng bại tính sau

– Bây giờ thả em ra, em còn nghĩ chuyện đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất không?

– Tiếp tục đánh phá.

– Đánh phá cách nào?

– Cứ thả ra coi.

– Thả thì sẽ thả nhưng em đánh phá với ai?

Trí ghẻ khựng lại. Nó suy nghĩ vài giây rồi nói:

– Tôi đã khai hết. Họ cũng bị bắt một lượt với tôi. Chú có đầy đủ tên tuổi họ mà.

Người chấp pháp gật gù:

– Ừ nhỉ! Em không được thả ra, một mình em ra ngoài, em đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất với ai?

Trí ghẻ cười:

– Tôi đi kiếm người đánh. Thiếu gì. Dân Sàigòn đông lắm. Chừng hết Việt cộng mới hết người đánh.

Người chấp pháp ngọt ngào:

– Tôi cho em đi biệt giam em sẽ hết bị lũ phản động trong phòng tập thể rỉ tai nhồi nhét tư tưởng xấu xa. Em phải nhớ em mang giòng máu cách mạng. Máu cách mạng không thể xen lẫn máu phản động hôi hám.

Trí ghẻ về cachot. Nó vừa gãi ghẻ vừa hát nhảm, Những khi nó chán nằm ngủ. Rồi người ta lại gọi nó làm việc. Đây là lần thứ tư. Trí gặp ông bố Việt cộng ngồi ở phòng chấp pháp. Nó tỉnh bơ nói với chấp pháp:

– Làm việc thì tôi làm, gặp ai khác thì tôi về biệt giam. Tôi con mồ côi, mẹ chết, bố đi tù rồi. Tôi chẳng còn liên hệ gia đình gì với ai cả.

Người chấp pháp dụ dỗ:

– Mình làm việc, Trí ạ!

Trí ghẻ nói:

– Tôi định khai báo thêm nhưng chỉ khai báo với riêng chú thôi.

Ông bố Việt cộng buồn bã:

– Ba mang quần áo, thuốc ghẻ, thuốc bổ và quà cho con.

Trí ghẻ nín thinh.

– Ba mong con thành khẩn nhận tội để về sống với ba, ba sẽ săn sóc con. Rồi con sẽ đi Liên Xô học.

Trí ghẻ vẫn nín thinh. Một lát, nó hỏi người chấp pháp:

– Ông này làm việc với tôi hả chú?

Người chấp pháp vỗ vai nó:

– Cháu đừng giận ba cháu nữa

Trí ghẻ hất tay người chấp pháp khỏi vai mình:

– Tôi đã nói với chú, tôi không hề có bố Việt cộng. Bố tôi là sĩ quan ngụy, đi tù rồi. Mười lăm năm tôi sống bằng cơm nước ngụy, thuốc thang ngụy, tình nghĩa ngụy. Ngụy đi tù, tôi đi tù theo. Tôi không cần sự thương hại của Việt cộng.

Ông bố Việt cộng nổi giận:

– Mày dám nói thế sao?

Trí ghẻ tỉnh bơ:

– Tù thì gì mà không dám!

Người chấp pháp yêu cầu ông bố Việt cộng bình tỉnh. Rồi ông mời ông bố Việt cộng ra khỏi phòng. Bắt đầu màn giáo dục luận lý cộng sản.

– Con chim có tình, con chó có tình, em nghĩ kỹ đi.

– Con chim mớm mồi cho con nó, dẫn con nó đi kiếm mồi, chỉ dẫn con nó cách kiếm mồi. Con chó cho con nó bú, bao vệ con nó tới khi khôn lớn. Nó có tình, dĩ nhiên.

– Ba em vì nhiệm vụ cách mạng.

– Ba tôi là ngụy.

– Là cách mạng!

– Là quốc gia.

– Là ngụy!

– Đúng là ngụy, tôi đã nhận mà!

– Em bị mất trí chăng?

– Tôi tỉnh như sáo sậu,

– Thôi em về, hôm khác làm việc. Mangbị quà của ba em về biệt giam luôn.

– Tôi không nhận quà cáp của Việt cộng.

– Của ba em, của tình thương yêu đấy.

– Không phải! Của Việt cộng, của mua chuộc.

Trí ghẻ về tay không. Người quản giáo xách bị quà theo sau nó. Cửa cachot mở ra. Người quản giáo đẩy bị quà vào trước. Ổ khoá bóp lại. Trí ghẻ đập cửa, báo cáo ầm ỷ.

Cửa cachot vừa hé mở, nó tung cái bị đổ tung toé phía ngoài.

– Tôi không thích thọ ơn Việt cộng!

Nó làm việc lần thứ năm, thứ sáu, thứ bẩy… Thái độ của nó trước sau như một. Đến nỗi chấp pháp tưởng Trí ghẻ nửa điên nửa khùng. Nhưng người ta vẫn không tin mấy thằng nhãi ranh dám âm mưu đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất. Người ta nghĩ rằng chúng nó có lãnh đạo hẳn hoi. Người ta muốn khai thác Trí ghẻ. Hễ Trí ghẻ thành thật khai báo là xong hết. Đồng bọn của nó, trước sau, thú nhận làm theo sự chỉ đạo của Trí ghẻ. Vậy tạm coi là Trí ghẻ là kẻ chủ xướng vụ đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất. Nó nổi tiếng ở đề lao Gia Định. Trí ghẻ là một triết tai chống lại thuyết…”Lá rụng về cội!” Các nhà nghiên cứu Mác-xít sẽ phải nghiên cứu nó. Và thế giới tự do cũng sẽ phải nghiên cứu trường hợp của nó. Những ông cò kháng chiến chắc chắn sẽ chán nó lắm. Vì nó mới đích thực anh hùng. Còn họ chỉ là những anh hùng tự phong xuôi giòng chiến đấu trên sông Potomac, trên sông Mississipi, trên sông Seine, trên sông Danube và chỉ biết nghĩ đến phương thức đàn áp tuổi trẻ Việt Nam mai này. Lịch sử nào cũng có những người nuôi chí chiến đấu trong ngục tù và, luôn thể, những người nuôi chí trong các hộp đêm hải ngoại. Những người nằm tù thì đói khổ nhưng không hề lên tiếng xin ăn. Những người bên ngoài thì phè phỡn nhưng không quên lạc quyên, xổ số chíến đấu! Sự khác biệt bên ngoài và bên trong ở đó. Và đau đớn hơn một chút, bên ngoài tự do, bên ngoài chưa dám ở lại nhìn rõ mặt kẻ thù, chưa biết nỗi ê chề của những người trong tù mà cứ lên tiếng đánh giá, phán xét, mỉa mai,thị phi, bêu nhục. Không, đó chẳng phải là sự đau đớn. Mà là sự khốn nạn không thể tha thứ. Những người ấy không thể ví với mụn ghẻ của Trí ghẻ. Khốn nạn hơn, hạng người ở lại, cam đành cộng tác với kẻ thù, nhận ân huệ của kẻ thù, hoan hỉ nhận thêm ân huệ chót của kẻ thù là khúm núm cầm miếng giấy xuất cảnh ra đi chính thức rồi cũng vỗ ngực mình căm thù cộng sản và bày đặt thị phi những người khắc khoải trong tù ngục quê nhà. Hạng người này tanh tưởi hơn mùi ghẻ mủ của Trí ghẻ! Có lẽ, phải dùng một pho Xú Thư ghi rõ tên tuổi, hành động của bọn gián đêm để phân biệt rõ ràng người công chính với bọn giả hình trên bước đường tạm dung buồn bã.

Lịch sử, nhất là ở khúc rẻ ghê gớm của nó, thường làm con người lớn lên, khôn ra. Và lịch sử sau 30-4-75 đã làm tuổi trẻ Việt Nam lớn lên, khôn ra. Tuổi trẻ Việt Nam sáng mắt nhìn suốt kính đen của lãnh tụ phù thủy đạo diễn để biết đạo diễn mù mà tự mình quyết định lấy thân phận mình, thân phận dân tộc mình. Buồn thay, bên ngoài quê hương quằn quại dưới gót thù, một số những người tuổi trẻ xa xứ từ lâu; những người tuổi trẻ không hề trực diện chiến tranh Việt Nam 20 năm; những người tuổi trẻ không hề nếm mùi dùi cui,phi tiễn, lựu đạn cay của bọn bảo vệ chế độ đàn áp tuổi trẻ xuống đường đòi hỏi tự do dân chủ, công bình, quyền sống… lại suy tôn, ủng hộ bọn đã đàn áp thế hệ mình nghiệt ngã. Số người tuổi trẻ ấy rất nhiệt tình nhưng họ chưa thể nhìn suốt kính đen của phù thủy để biết mặt phù thủy là mắt cò, mắt cớm! Trí ghẻ còn nhỏ bé, nó đã nhìn suốt kính đen của cộng sản.

Lần cuối cùng, Trí ghẻ làm việc với người chấp pháp từ Hà Nội vào. Ông ta ngụy trang công an. Thực ra, ông ta là người nghiên cứu tâm lý tuổi trẻ Sàigòn. Trung ương Đảng Cộng Sản và Viện Kiểm Sát nhân dân cử ông vô gặp Trí ghẻ.

– Em không muốn về, tại sao vậy?

– Vì tôi không có chỗ về.

– Chỗ nào em mong muốn về?

-Nó ra sao?

– Nó không còn cộng sản!

– Này em, em đừng nuôi ảo tưởng. Với cộng sản, một là em đầu hàng, hai là em nằm mãi trong tù, không ai đánh thắng nổi cộng sản đâu. Mỹ còn phải thua nữa là em.

– Vậy thì tôi cần cố gắng hơn.

– Em đánh cộng sản bằng cái gì?

– Tôi sẽ cho chú biết khi tôi đánh.

– Bao giờ?

– Bao giờ tôi rời đây.

– Không bao giờ cả đâu.

– Có chứ. Đã 30-4-75, sẽ 30-4 sắp tới.

– Ai bảo em thế?

– Trái tim tôi bảo tôi thế. Tôi đánh Cộng sản vì tôi thích. Ngoài ra không vì cái gì cả.

– Những đứa bằng tuổi em đều giống em à?

– Cái đó chú hỏi từng đứa. Tôi chỉ biết tôi thôi.

– Tại sao em chọn phi trường Tân Sơn Nhất là mục tiêu khởi sự?

– Vì lão Việt cộng nhận tôi là con làm việc ở đó!

– Em có nghĩ em sẽ chết trong tù không?

– Sức mấy mà chết. Tôi đi chiến đấu sớm hơn ông Hồ Chí Minh nhiều năm, tôi sẽ về sớm hơn ông ấy.

Cộng sản chịu thua Vũ Đình Trí, tù danh Trí ghẻ. Từ đấy, Trí ghẻ không còn cơ hội nào làm việc với chấp pháp nữa. Nó nằm cachot 14 tháng. Lần cuối, vì Trí ghẻ dám ví mình như Hồ Chí Minh nên nó bị còng cả chân lẫn tay 2 tháng. Sau đó, Trí ghẻ ra phòng tập thể. Nó không tin rằng nó sẽ chết rũ trong tù. Trí ghẻ nuôi mộng đánh thắng Cộng sản. Cộng sản bảo nó nuôi ảo tưởng vì không ai đánh thắng nổi Cộng sản. Trí ghẻ đã khiêm tốn hứa hẹn: Vậy thì tôi cần cố gắng nhiều hơn.

Trí ghẻ giữ đúng lời hứa.

Những chuyện chưa quên

Hồ Phú Bông

Post by Sơn râu 6 Jan 2023

Google image

Chương 10

Con Vật Thời Tiền Sử

Huỳnh, tuổi chưa đầy bốn mươi, ngồi làm việc trong yên lặng. Tóc anh rụng gần hết. Hai trũng mắt sâu hoắm. Đôi gò má tóp lại làm hàm răng rụng lỗ chỗ nhô ra. Anh ngồi yên trên một khúc gỗ mục. Hai đầu gối gấp lại giống như hai ống dang dập, kẹp lấy thân người. Đôi tay xương xẩu, cục cựa trong hai ống tay áo rộng thùng thình. Hai bàn tay anh ôm lấy con dao cùn, cố bằm cho nhuyễn đống lá ráy đặt trên một khúc cây làm thớt mà anh hái về. Công việc của anh là lo nuôi con heo, tài sản của trại tù. Hàng ngày anh vô ra nhà bếp để tìm chút thực phẩm rơi rớt, nấu với củ và lá ráy để nuôi heo. Cả cái bếp lớn nấu cho ba trăm người, anh cũng không thể nào tìm được chút thức ăn nào rơi rớt. Anh chỉ lọc được chút nước rửa của cái chảo nấu sắn lát có màu giống như màu nước bùn non, bốc mùi đến lợm giọng. Đem chút nước nầy về cái bếp riêng nơi chuồng heo, trộn chung với củ và lá ráy anh đã bằm, nấu lên thành cháo cho con heo. Anh không thể nào tìm được bất cứ một loại rau nào khác chung quanh trạiđể phụ thêm vào. Anh cũng không thể nào tìm được chút gì để cải thiện cho chính anh.

Buổi sáng gánh đôi thúng ra khỏi cổng trại, đi dọc theo bờ suối, thỉnh thoảng anh gặp vài chú nhái bén, nhưng chúng nhanh vô cùng. Chỉ thoáng thấy bóng anh thì anh đã nghe một tiếng “chũm” nho nhỏ là chú nhái bén đã lao mình xuống suối nước rồi. Lâu lâu, Huỳnh mới tóm được một chú cào cào. Nhưng cào cào cũng có hai loại. Một loại màu nâu, hung hung đỏ và một loại màu xanh lá cây. Tù đặt tên cào cào là tôm bay dù thật sự con cào cào cũng không giống gì mấy với con tôm. Bắt được con cào cào, ngắt khúc đít, từ từ nặn kéo bộ đồ lòng ra, rồi đưa lên lửa than. Đến khi đôi cánh mỏng của con cào cào vừa cháy xong thì gần nơi cổ nó có những tăm nước sôi lên là chín. Ngắt cái đầu quăng, bỏ vô miệng nhai. Dòn và thơm. Cào cào không có vị béo hay ngọt của thịt mà có vị tanh tanh, xốp xốp. Đấy là món tôm bay của tù.

Tháng trước, khi còn ở trại cũ, Bảy, người có thành tích ăn tôm bay, bỗng dưng bị dị ứng. Lần đó Bảy bắt được một chú tôm bay màu xanh thật lớn. Bảy cười nói và quảng cáo món tôm bay hết lòng. Vừa quảng cáo, cũng vừa tạo thêm can đảm cho chính mình. Nhiều người ở nương sắn, giờ giải lao hôm đó, đều thấy Bảy nhai rất ngon miệng. Nhưng bất ngờ, chỉ mười, mười lăm phút sau, da Bảy đang sưng sưng chì chì bỗng đỏ au rồi từng hạt mận lớn, cỡ đầu ngón tay út, thi nhau nổi lên khắp người. Đôi mắt đỏ ngầu. Bảy gãi đến muốn rách cả da, rồi ói mữa. Đội trưởng phải báo cáo đặc biệt với quản giáo, xin cho Bảy về vì bệnh bất ngờ, giấu không cho biết sự thật, để Bảy khỏi bị viết kiểm điểm. Tù biết chuyện đó, nhưng không rõ tại con cào cào xanh hay lý do nào khác. Tù bắt đầu sợ sợ con cào cào. Nhưng cơn đói làm mờ cả mắt nên có tù vẫn ao ước món tôm bay! Con cào cào đỏ. Chút protein!

Mủ ráy rất ngứa. Củ ráy lại càng ngứa hơn. Huỳnh cẩn thận từng chút nhưng cũng không thể nào thoát được ngứa. Đó là lý do da tay anh lúc nào cũng sần sùi. Đôi lúc ngứa quá, anh dìm hai cánh tay xuống dòng suối đang chảy sát chuồng heo. Nước suối mùa này rất lạnh, giúp cho đôi cánh tay anh dịu bớt cơn ngứa. Huỳnh rất cần mẫn trong công việc vì đây là công việc tốt nhất trong trại tù. Anh được phép ra vô nhà bếp mà không ai có quyền báo cáo anh. Anh có thể tự mình xin phép cán bộ gác cổng, ra trại để tìm rau cho heo. Anh lại có cái bếp riêng tại chuồng để nấu cháo cho heo. Được làm chủ cái bếp riêng là một quyền lợi vô cùng to lớn vì tất cả những thứ gì quơ quào được bên ngoài, anh có thể lén lút nấu cải thiện và không mấy ai để ý. Nhưng sự cố gắng của Huỳnh cũng không làm thay đổi được hoàn cảnh. Nước lã không thể khuấy nên hồ! Cả người chăn lẫn heo vẫn mỗi ngày một tiều tụy. Heo phải ăn ráy nên miệng sưng vù và lở lói. Giống heo của người miền núi nầy lại có cái mõm dài khuằm, đoạn trong giống cái vòi con voi, đoạn ngoài lại giống cái mõm con cá sấu con, bè ra làm lộ cả hàm răng. Đầu heo to hẳn, gấp đôi cả thân hình, đặc biệt cái trán nó giống hệt như cái trán con voi già, da căng và gồ hẳn lên. Đôi mắt heo nhỏ, ẩn trong hai hốc mắt u tối, sâu hoắm. Hai chân trước con heo như cao hơn chân sau, đang chống đỡ sức nặng của cái đầu và nửa thân hình phía trước. Hai chân sau cong và thấp xuống sau cái bụng lép xẹp. Xương sườn lộ rõ từng cái một, được bọc trong lớp da sần sùi lông, mốc thếch. Con heo bước đi lọm khọm, xiêu vẹo, rất dị dạng. Thoạt nhìn con heo giống như chú voi già được thu nhỏ cả ngàn lần. Chỉ có hai cái tai là khác, vẫn còn đứng và nhọn. Con heo không còn là con heo. Con heo như con vật thời tiền sử nào đó còn sót lại mà loài người chưa phát hiện nên chưa có tên gọi. Cả tiếng kêu của con heo cũng không còn nghe ụt ịt hay eng éc khi đòi ăn. Con heo yếu đến độ không còn sức để kêu tiếng kêu bình thường của nó. Những ngày đầu, tiếng kêu còn nghe eng éc, khàn khàn, rồi mỗi ngày một yếu đi. Những ngày cuối chỉ còn lại tiếng rên. Đêm thanh vắng cả trại đều nghe tiếng rên của con heo rất rõ. Đó là tiếng rên rĩ khàn đục. Đó là thứ tiếng trẻ sơ sinh bị bệnh nặng, khóc đêm. Nghe khằn khặc, đứt quảng, ba hồi im ắng, ba hồi lại nổi lên. Khi tiếng rên của con heo hòa lẫn với tiếng kêu ú ớ trong cơn ác mộng của những tù đói là một hợp âm kỳ quặc như từ mộ địa.

Buổi chiều cuối cùng, Huỳnh cố gắng đỡ con heo đứng dậy, anh đưa đồ ăn sát mõm nó nhưng cái mõm nó không còn kêu hích hích như thường ngày được nữa, nó đang đi vào tình trạng hôn mê. Huỳnh nói một mình:

– Mày đi trước, rồi cũng đến phiên tao thôi.

Thấy tình trạng nguy ngập của con heo, Huỳnh báo cáo lên hậu cần. Cán bộ xuống quan sát rồi báo cáo lên thủ trưởng. Đêm đó chuồng heo bỗng im ắng lạ lùng. Cả trại không còn nghe tiếng rên rĩ của con heo nữa nên tờ mờ sáng vừa thức dậy, Huỳnh vội vàng ra thăm. Con heo đã nằm bất động. Một dòng máu rĩ ra nơi hốc mắt. Hình như là chuột rừng hoặc một con vật nào đó tấn công để lại nhiều dấu răng nhọn và con heo bị mất một con mắt. Bầy kiến đen đặc đang lấp vào hốc mắt trống ấy nhưng con heo vẫn chưa chết, da còn ấm. Tám giờ sáng cán bộ hậu cần lại vô quan sát thêm lần nữa trước khi quyết định, vì đây là tài sản của cả trại tù dành để làm thịt trong các lễ hội. Cuối cùng ông cũng phải ra lệnh làm thịt.

Nếu con heo bị bệnh, bỏ ăn và chết, hẳn không gây xúc động nhiều. Nhưng con heo nầy đang khỏe mạnh đã phải chống chọi dai dẳng với cái đói gần cả hai tháng dài để cuối cùng bị con vật khác tấn công mang đầy thương tích nằm chờ chết, đã làm cả trại bàng hoàng.

Toán nhà bếp vì không thể chia da, thịt, xương của con heo sắp chết cho ba trăm người, nên bằm vụn rồi cho vào chảo nấu canh, chia cho cả trại.

Tù cũng đói bơ phờ, vàng mắt, nhưng có tù không thể ăn chút canh nầy nên gạ gẫm tù khác với giá rẻ, một bi thuốc lào!

Cái quyết định tưởng rất đơn giản đến khôi hài nhưng cũng là một tiếng nói của lương tâm, là thà nhịn ăn để ém chút khói thuốc vào phổi cho ngất ngưỡng, mà nhẹ nhõm hơn trong tâm hồn.

Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Chương 7

Bàn Phiếm Trở Lại Chén Trà Đại Tống Còn Tàng Trữ Tại Nhà Tôi

Ở đời, có vay có trả. Sau tám năm (1963-1971) im hơi lặng tiếng, tôi phải trả lời. Đúng ra cũng không phải trả lời, vì biết hai ông bạn tri-kỷ bây giờ ở đâu? Ông Nguyễn-Văn-Thư thì chắc chắn đường mây nhẹ gót, địa-chỉ ông còn dễ kiếm; cho như ông Huỳnh-Đắc-Ứng ở Nha Trang, bặt vô âm tín, mới khó làm sao?

Câu chuyện « Từ chén trà Đại Tống đến tích trảm Trịnh-Ân », tôi tưởng đã lui vào dĩ-vãng, không dè đến nay anh em bạn gặp tôi còn nhắc, nhứt là ông Huỳnh-Đắc-Ứng đã khơi từ năm 1963 về cái chết của tướng Trịnh-Ân, theo ông, là « tử tại trận tiền », thế là «hy sinh vì chúa », chết danh dự vì một mũi tên của Lư Táng bên phe Bắc-Hán, chết như vậy phải nhắc lại đề nhớ đời chớ há nào để mai một.

Huỳnh tiên-sinh đã dạy cho như vậy và khiêm tốn hơn nữa, tiên-sinh gọi rằng « bàn phiếm » mà thôi, chẳng qua là một việc « đọc sách cũ, nói chuyện xưa », chớ « đúng hay sai không cần thiết lắm.

Bởi ỹ y « không cần thiết », nên tôi mới dám « neo » tới ngày nay và vì tiên-sinh chỉ dạy «bàn phiếm », vậy tôi cũng xin « bàn phiếm » cho vui câu chuyện. Tóm tắt lại, thuyết của Huỳnh tiên-sinh là thuyết vừa nêu cao gương trung-liệt của Trinh-Ân, vừa gỡ gạc cho Tổng Thái-tổ, cả hai đều được danh thơm. Thuyết ấy, tôi có khảo cứu rồi, chẳng qua là của nhà Nam-Tống, sửa lại cho « xuôi chèo mát mái », Tống Thái-tổ khỏi mang tiếng, nhứt là vì không « ăn thua » gì với cái chén « trước rượu, sau trà », nên tôi mạn phép đã lướt qua độ nọ cho khỏi rậm rà câu chuyện. Người Tàu họ hay lắm: sử của họ nhiều khi họ không nhắc, vì sợ đụng chạm đó đây; họ có cách nói khều, họ chế ra tuồng hát, « bình dân hơn » và bởi vì « ngoại sử » nên mặc tình thêm mắm thêm muối …

Và dầu cho tích trảm Trịnh-Ân rất xa sự thật, nhưng nó đã bị đóng đinh vào đầu anh thợ đồ gốm nhà Tống quá sâu, nên hễ có dịp là anh thợ ấy, nặn cái chén theo sự hiểu biết rất « bình dân » của mình, để coi mở chút lòng, vì từ xưa đến nay, có chánh phủ nào được dân chúng bằng lòng, nhứt là vua chúa thì thường hay « độc tài », dân không nói được nên lời, thì để cho bọn nghệ-sĩ tỏ ra lòng ấm ức, tội tình gì ta « vua hơn vua » (plus royaliste que le roi), nghe theo sử là thuyết của vua tuy nhiều khi cũng đúng sự thật, nhưng cũng có khi, vua sai viết để che lấp những gì muốn được che lấp. Truyện rất khác với sử: Tam- hạ Nam-Đường và Nam-Tống diễn nghĩa, đều mot thứ, binh vực mỗi một ý nghĩa, người đọc truyện cần tìm cho thấy, thì mới thú vị, như giải được một bài toán đố. Khi cầm cái chén Temmoku trên tay, thấy nó nhỏ nhít, uống rượu cũng được mà uống trà cũng xong, thêm càng đọc sách nghiên cứu về đồ gốm Tống và càng đọc sách Pháp viết về đoạn sử nhà Tống, tôi mới viết năm đó dựa theo tuồng hát bội: chuyện « Xich-tu-long túy tửu, Hắc-hổ qui thần », tôi viết bài luận nhỏ như đã thấy, ngụ ý ngầm chỉ trích một ông vua có tiếng là minh-quân (mà năm 1963 tôi từng cung chiêm chơn-dung trên bức tranh lụa qui tàng trữ tại viện bảo-tàng Đài-Bắc và lúc nhỏ khi đọc Phi-long diễn nghĩa, tòi quí trọng như thần thánh), thế mà có một án mờ ám giết bạn, sát thê, say thiệt, say giả?

Lời tục nói: « không có lửa, làm sao có khói?», và «có tích mới dịch ra tuồng ».

Còn việc đời vua Thanh nói xấu đời vua Tống, là thế-gian thường tình, nhà viết văn đời Tống viết đặng có bay đầu? Và dẫu cho bịa, cũng có một phần nào gần với sự thật. Tôi kính ông Huỳnh-Đắc-Ứng như bạn tri-kỷ, nên tốt hơn thuyết của ai thì nấy giữ, thêm nữa về phần tôi, chữ Nho tịch mù, tôi rất sợ cuộc bút chiến, Nhưng thằng đui nhờ có giác-quan thứ sáu, tôi không đui, nhưng dốt chữ Hán thì tôi đọc và tìm hiểu qua chữ Tây, vừa sách nghiên cứu nghệ thuật, vừa sách khảo về lịch-sử. Tôi sẵn long phục thiện, chuyện chén trà hay chén rượu, xin để y như vậy, không tội gì làm cho « bình địa khởi phong ba » trong một cái chén lớn không hơn tròng mắt con trâu, nhứt là Trịnh-Ân đã chết, và « tử giả biệt luận. »

Duy đã gọi bàn phiếm, trên chiếu đi tìm hiểu nghệ thuật có xin hãy tha thứ cho nhau và trong khi đi khai thác để hiểu, xin cho phép tôi kể lại như sau, – gọi để thêm vui câu chuyện, – những gì tôi đã khám phá trong khi đọc sách, một phần thuộc chánh sử, một phần thuộc sử của nghệ-thuật (histoire de l’Art) và những khía cạnh tôi đã học lóm với cô bác và ngoài đường ngoài sá, vì lớp tôi, không có truờng dạy và không có thầy hay như bây giờ. Nếu tôi nói sai, xin chư tôn chỉ giáo, tôi xin vạn tạ.

(Trong bài đăng B.K. 89, mấy câu « có lẽ, … » « tôi tưởng … » là một cách nói để đặt người đọc ngang hàng với mình, cho câu chuyện dễ trị, chớ hể mình quả quyết, thì một là mình vô duyên, hai là độc giả đâm ra nghi ngờ, tôi khai huych tẹt, không phải tôi làm phách mà vốn muốn gởi gắm chút gì cho các anh học trò cũ, nếu đã ra trường mà còn tìm đọc sách của tôi.

Một điều tối quan trọng, là trong tầm mắt chuyên môn mặc dù có gàn đôi chút là đến nay tôi còn tin chắc đến gần dám quả quyết, cái chén tàng trữ trong tủ nhỏ tại tệ  xá, vốn thật là một di vật đời Đại Tổng. Xét ra nó cũng không qui hồ gì lắm, vì vẫn nhiều người có, chớ không phải một mình tôi. Nhưng bởi ngày nay có một đại quốc gần Trung-Hoa, chuyên làm chén giả, khó phân biệt xưa nay, cho nên tôi mới dám lấy chút hiểu biết riêng, tường thuật ra đây, dặn bà con khá nên đề phòng, không nên quá ham mà mua lầm đồ giả. Chỉ có thế thôi. Đó là chén « bol Song, fourrure de lièvre », nay mới biết dịch « chén Tống, Thố- hào- trản » (xin xem bộ « Khảo về đồ sứ cổ Trung-Hoa » và bộ « Cảnh-Đức-Trấn đào-lục », nói rành rẽ hơn).

Chén nầy, năm 1960, tôi định làm vào đời Tống Thái tổ, lối khoảng năm 960, tức được 1011 tuổi có dư (1971-960). Nhưng năm nay, với chút kinh nghiệm già hơn, dựa theo danh từ ngày nay cũng gọi chén Kien (tasse Kien), nghiệm ra « Kien » là chữ tắt trong «Kien-ngan » (Kiến-An) hoặc «Fou-kien » (Phước-kiến) là nơi sản xuất loại chén nầy, vậy thì chén thuộc đời Nam-Tống (1127-1279) và có ít nữa 844 tuồi (1971-1127). (Sở dĩ tôi không kể năm 1279, vì năm nầy nhà Tống mất nước, làm gì chế tạo đồ từ-khí nữa). Phàm, trong nghề khảo cổ, tuồi của mỗi món cổ-vật, đều được phép dời qua xít lại theo lập luận khá vững chắc và mớ kinh nghiệm đích xác của mình, chớ không ai dám dùng những danh từ quả quyết, như « rựa chém đất » bao giờ. Trừ phi, gặp lại những món quá quen thuộc, từng nghiên cứu rồi, thì mới dám định tuổi món đồ liền khi đó, để lấy le, cho người ta thấy mình lão luyện. Một điều thứ nhì là tôi thấy chén tại nhà, nơi đáy và chung quanh phía ngoài có một thứ ẩn-quang sáng sáng, chỗ mờ lu, chỗ chớp chớp, đó là cái mà Pháp gọi « traces d’irisation », trong sách Tàu có khi gọi « thủy-ngân-tầm », (traces mercurielles), đó là triệu-chứng chén lâu đời lắm, đã cao niên lắm. Tiện đây, trong B.K. 92, thầy Nguyễn-quân dạy rằng « đồ Tống mát và nặng, vì nguyên liệu chế-tạo là một thứ sa-thạch » (tr. 14). Tôi không dám cãi với Nguyễn-quân và xin ghi nhớ để học thêm. Riêng đây, tôi từng nói trong bộ «khảo về đồ sứ cổ Trung-Hoa» là số 4 trong bộ Hiếu-Cổ Đặc-San đã phát hành. Trong ấy, tôi có mạn phép ông Đào-Duy-Anh, vắng mặt, rằng: trong Tự điển Pháp-Việt do Đào-quân soạn, nhà Minh-Tân xuất bản lần hai tại Paris, thì Đào-quân dịch:

«Grès n.m. Đá sỏi, sa-thạch. – 2 Đồ, bình bằng sa-thạch. Gres flammes ou flambes: đồ gốm bằng sa – thạch.

Về nghĩa số 1, tôi xin đồng ý với Đào-quân. Còn về nghĩa số 2, tôi xin mời nhị vị lật cuốn Petit Larousse, sẽ thấy: Gres n.m. (empr. au francique).

1. Roche sédimentaire formée de grains de quartz réunis par un ciment silicenx ou calcaire, utilisée pour la construction ou le pavage (grès des Vosges).

2. Poterie très dure, opaque, formée d’argile plastique, de sable et de bases (chaux, baryte, etc), appelée encore grès cérame.

Về danh từ 2, Đào-quân định nghĩa như trên: «Đồ, bình bằng sa-thạch » lại thêm: grès flammés ou flambés:

« Đồ gốm bằng sa-thạch. » Tôi lấy làm ngờ, vì dịch như vậy, e hiểu lầm, tai hại về sau cho người ít học tiếng Pháp. Dựa theo câu diễn của Petit Larousse, poterie très dure, … , tôi hiểu: trong loại grès, có đất sét dẻo (argile plastique) có cát (sable), vôi (chaux) và base (trọng thổ, loại đất rất nặng như baryte) như vậy mà Đào-quân dịch « đồ, bình bằng sa-thạch ». Và Nguyễn-quân ở đày cũng day rằng về chén Tống, «nguyên liệu chế-tạo là một thứ sa-thạch. »

Tôi xin nhị vị, học nhiều hơn tôi, xem lại và dạy cho. Tôi không nói khiêm và thật tình muốn thỉnh giáo.

Cũng trương 14 B.K. số 92, Nguyễn-quân nói gốm Tống chế-tạo rất ít, thỉnh thoảng, vua ban cho các đại-thần và các quan cho lại thân thích đề truyền tử lưu tôn, làm kỷ vật. Tôi đồng ý với Nguyễn-quân rằng gốm Tống làm ra rất ít và các quan khi được thì cất để dành làm kỷ vật truyền tử lưu tôn. Nhưng đọc trong bộ Cảnh-Đức-Trấn đào-lục, một chỗ có nói: mỗi lần lò nào làm đồ ngự dụng nếu nạp vào cung vua, thì có lệ « một trăm món dâng vô, lựa lấy mười » trả lại « chín chục», và « một ngàn món nạp, thì trong Nội-phủ trả ra chín trăm », như vậy người chủ lò cũng khôn quá, có lỗ lã chi mà sợ, vì các món sa thải được miễn thuế mà chớ, lại dầu hèn cũng thể, cũng là đồ đặc biệt « ngự dụng », bán rất chạy, ế ẩm chi mà ngại. Tôi không biết đời Tống đã có phong tục này chưa, xin mời Nguyễn-quân mua giùm một cuốn Khảo về đồ sứ cổ Trung-Hoa và một cuốn Cảnh-Dức-Trấn đào-lục, một ông Tòa không đến nổi nghèo, mà thằng già mửa máu viết sách, đỡ biết mấy.

Chừng ấy, Nguyễn-quân sẽ đọc và dạy cho. Nếu muốn chữ ký, tôi sẽ không tính tiền thêm. Xin Nguyễn-quân đừng giận. Tôi cũng ngừng nơi đây, nhưng cũng nói vói rằng Nguyễn-quân dùng danh từ « đồ sứ Tống », tôi không dám thổi lông tìm vết, nhưng riêng phần tôi, vì sách cũ đã dạy, nên cũng vì « méo mó nghề nghiệp », xin thầy lấy:

T’ao = đào, là danh từ dùng đến đời Đường.

Yao = Dao, điêu, danh từ có từ Đường về sau, để thay cho « đào ».

Yeou = Diêu và Yeou = dứu, vân vân (tôi gần điên cũng vì mấy chữ này, nay không tiện viết ra Hán-tự vì tốn kém) đều dùng để gọi poterie, porcelaine, còn chữ « Sứ » (do từ-khí) thì có từ đời Minh, hoặc đời Thanh đây thôi, mà tôi riêng muốn để dành dùng gọi « đồ sứ là đồ đi sứ mang về = porcelaine diplomatique, ou porcelain d’ambassade. (Trong Nam, porcelaine là đồ sành, tốt hơn nữa là đồ kiểu (đề làm kiểu: porcelaine d’échantillon); tốt hơn hết là «đồ sứ: porcelaine d’ambassade). Về Poterie Song, tôi dịch là đồ gốm đời Tống.

Nãy giờ tôi nói nhiều, là vì lâu ngày nhớ Nguyễn-quân nên muốn giải bày những gì tìm tòi được bấy lâu chớ không khi nào dám múa rìu qua mắt thợ, đúng hơn không dám «đánh trống trước cửa nhà sấm» vì Nguyễn – quân vốn là một vị cầm cân nảy mực bên Pháp-đình. Và tôi vẫn: thành tâm thỉnh giáo.

Đề vui câu chuyện, gồm trong hai chữ « bàn phiếm », tôi xin dọn đường bằng cách trình bày ra đây những tài liệu tôi thâu hái được trong khi đọc vài sách Pháp. Nhưng tôi xin thanh minh: các tài liệu nầy nghiêng nhiều về khía nghệ thuật đồ gốm đồ sành gọi Tống-diêu hơn là sử đời Tống. Tôi cố ráng giải thích theo sức tôi, vài đoạn sử của nghệ thuật Tống. Phàm muốn nghiên cứu một đề tài sử-liệu gì cho chu đáo, ít nhứt phải thông thạo và lão luyện chữ nghĩa cổ-văn, kim-văn của nước đó. Nay lấy chuyện Trung-Hoa đời Tống ra nói như tôi đang làm, mà không đọc được chữ Hán và cũng không đi được đến tận chỗ thấy tận mặt những đồ gốm, chén bát, di tích các lò đời Tống sót lại bên Trung-quốc, chỉ dựa theo một bản dịch từ Hán-tự qua Pháp-văn của cố Wieger, gọi textes historiques, in năm 1905, dịch lại lần nữa như tôi đây mà vẫn có chỗ dịch chưa bằng bụng vì không đủ tài, có chỗ lại tự thêm phần nghe thấy của mình vào cho sáng câu chuyện, kể ra một bản Hán-văn dịch qua Pháp-văn rồi dịch lai lần nữa từ Pháp-ngữ ra Việt-văn, tôi thú nhận là đã làm một việc « bạo hồ bằng hà »1; nhưng tôi có chỗ miễn thứ là tuổi đã không cho ngày chết, tài liệu này lấy cuốn kèn cũng không đủ liệm, thôi thì cứ in ra mặt giấy, mong các bạn có dịp sẽ bổ túc giùm những sơ sót không thể tránh.

Trong những bài lần lượt kể sau đây, tôi cố gắng viết lại những chuyện tôi thấy biết có ảnh hưởng nhiều vào mỹ-thuật Trung-Hoa, nhứt là về đồ gốm đồ sành của các vua:

– nhà Hậu-Chau, từ Quach-Oai, Sai-Vinh, …

– nhà Đại-Tống: Triệu-Khuông-Dẫn, Triệu – Quang-Nghĩa, Huy-Tôn, Cao-Tôn, v.v …

Đời Hậu-Châu (951-960)

Tai-tsou (Thai-tổ) (951-954) .- Châu Thái-tổ, Quách-Oai, từng nói với tề-tướng Vương-Tuấn (Wang-tsounn):

«Trẩm từng sanh trong cảnh hàn-vi, sống trong cảnh hoạn nạn, nay được làm vua do một cuộc khởi nghĩa từ bình-dân đưa đẩy lên, bởi vậy nay trẫm không lòng nào quên gốc nguồn và dám phạm đến « dân đen con đỏ »

Khanh hãy ra truyền rao cho dân chúng biết từ nay trẫm bãi bỏ tục cũ bắt dân nạp lễ vật cho vua chúa. »

Một khi khác, ông lại nói: «Trẫm xuất thân võ-tướng,. kém học, nên không rõ đạo trị dân. Phàm chư khanh, văn quan cũng như võ thần, người nào biết cách đem lại cho lê dân sự ấm no, hạnh-phúc, thì cứ tâu bày cho trẫm rõ. »

Khi Thái-tổ thấy các món ngoạn-phầm xinh-tốt sót lại trong cung vua Hậu-Hán, thì phán rằng: « Nực cười các vua chúa lớp trước khéo say mê những vật vô dụng như mấy món này. Hãy dẹp và hủy bỏ hết cho trẩm đừng thấy nữa. Tự hậu trẫm không muốn ai đem vào đây, những vật xa-xí-phầm, đẹp mắt thì có chớ không dùng được chỗ nào, gọi rằng có ích. »

Năm 952, Châu Thái-tồ cầm binh đi dẹp giặc, binh đến Khúc-Phụ (K’iù-fou), Thái-tổ vào khấu-bái trước bài- vị đức Thánh-Khổng. Khi vua toan sụp lạy, can thần ngăn lại, rằng: « vua không phép lạy tôi ». Thái-tổ nạt:

« Khồng-phu-tử là thầy của vua chúa trong muôn đời. Tại sao trẫm kbông lạy được? »

Lạy nơi thờ bài-vị rồi còn ra lạy trước lăng mộ và truyền rao không cho phá phách động đến lăng. Năm 953, Thái-tổ phong Sài-Vinh làm thái-tử, cho ăn họ, đổi là Quách-Vinh (Koùo-Joung). Từ trước, có lệ tế trời tại Lạc-Dương (Lao-yang). Thái-tổ khởi tiên bày tế tại Khai-phong-phủ (K’ai-fong-fou) là kinh đô của Hậu-Châu. Thái-tổ dạy lập hai đàn, một thờ thần đất đai, một thờ thần mùa màng và dạy lập miếu thờ tổ tiên họ Quách. Năm 954, Thái-tồ yếu nhiều, không bồn thân đứng chủ tế được và cho Thái-tử Quách – Vinh thay. Khi lâm bịnh nặng, bèn đòi Thái-tử đến gần long-sàng mà phán rằng:

«Trẫm từng thấy mười tám lăng các vị đế-vương Đại Đường bị quật lên, bày xương cốt tồi tàn, chẳng qua vì theo tục cũ, ham chôn nhiều châu báu theo xác chết. Khi trẫm băng rồi, hãy liệm thây trong y phục giấy, dùng hòm quách bằng đất nung, cấm dùng đá xa-hoa xây huyệt mả, nên dùng loại gạch tầm thường, nếu có đào cũng không dùng lại được nữa. Khi táng cũng đừng ép dân khiêng vác nặng nề, hãy lựa chọn ba mươi gia đình gần lăng giao việc coi sóc quét tước sạch sẽ và được miễn thuế đời đời. Cũng đừng chon người sống và sinh thú theo trẫm, duy đặt trước mộ người đá, hồ, ngựa, dê bằng đá là được. Nếu sau nầy có ai chỉ trích vương-nhi là bỏn sẻn, thì hãy trả lời, đó là lịnh của phụ – vương trối lại. Nếu con cãi lời này, phụ-vương dưới Suối Vàng, sẽ không ban phước cho con đâu ». Câu chót như trước đã có nói, là: «Con nhớ chạm trên bia trước mộ hai câu:

«Châu thiên-tử bình sanh háo kiệm,

Di mạng dụng bố-y ngõa-quan ».

Lời bàn của tôi.

– Vua Châu Thái-tổ là người có bản lĩnh. Dốt thì xưng rằng dốt, đủ thấy sự anh hùng. Không thâu lễ vật của dân là liêm, lạy trước bài-vị Khổng-Tử là lễ, ghét đồ xa-xí-phẩm là giàu kinh nghiệm, bày sự cúng tế tổ-tiên, là hiếu, bãi lệ chôn người sống, thú vật sống là nghĩa. Về phương diện chôn tro xác trong quách bằng đất nung, phải chăng ông là người chế ra tục lệ nầy (urnefuneraire), hay tục này đã có từ đời Đường, theo đạo Phật, nên dùng hỏa-táng. Một ý nghĩa khác của sự chôn trong quách sành, là đời ấy loạn ly không ngớt, chọn có xây mộ lớn, sợ giặc đào, chi bằng thâu gọn xác chết vào tiểu sành dễ giấu, sau này sẽ mai táng trọng thể hơn. Ông vua nối ngôi, lại còn đi xa về cải cách hơn nữa, và ấy là:

Châu Thế-tôn Sài-Vinh (Cheu-tsoung) (954-959). Sài-Vinh, sau đổi là Quách – Vinh (Koùo – joung), nối ngôi Quách-Oai (Kouo-Wei) năm 954 s.T.I. Vua này có can đảm làm nhiều việc phi thường:

– năm 955, Châu Thế-tông ra lịnh, ngoại trừ binh-khí, lễ-khí, chưng kiểng nhà chùa, còn lại nào tượng cốt Phật bằng đồng, đều phải nạp vào kho nấu thét lấy chất đồng đề đúc tiền, vì thuở ấy hút kém tiền đồng dữ lắm. Nhưng mặc dầu lịnh nghiêm, dân mãi mê tín, không dám xài tiền do cốt Phật nấu ra, và đồng Châu-Nguyên thông-bửu, dân không xài, và cất giữ lên để đeo làm bùa hộ mạng, tiền tệ lại càng thêm hút kém hơn trước. (Về sau thấy lợi, bọn trục lợi làm tiền Châu-Nguyên giả hiệu rất nhiều).

— Sài Thế-tôn sáng chế gồm Sài-diêu (Tchaï-yao) (Về tiền Châu – Nguyên và gốm Sài – diêu, xin xem trở lại bài đầu, đăng trong tập nầy từ trương 70. Năm 958, Thế-tông ngự giá thân chinh, đánh dẹp Nam-Đường. Rồi ông lại hưng binh đánh phạt Khiết-đơn (les Tongouses K’i-tan), nhưng nửa đường thọ bịnh rồi băng, tuổi chưa đầy ba mươi chín.

Năm 959, Triệu-Khuông-Dẫn (Tchao-k’oang yinn) còn giữ chức Tiết-độ-sứ tại Qui-Dức-phủ (prefet de Koei-tei), kiêm Điện-tiền Đổ-kiểm-điểm.

Châu Cung-đế (Koung-ti) (960).

Sài-Vinh mất rồi, con trai là Quách Tông-Huan (Kouo-tsoung-hunn), vừa bảy tuổi đầu1, lên nối ngôi cha. Các tướng võ, trong thâm tâm, không phục một ông vua còn trứng nước làm vậy, làm sao biết xét công lao của mình. Giặc Khiết-Đơn nổi dậy, Triệu kiểm-điểm được lịnh kéo binh đi tiểu trừ. Binh mã vừa đến cầu Trần-kiều thì trời cũng vừa tối. Truyền đóng trại nghỉ ngoi. Chiều hôm ấy, mặt trời hiện ra hai quầng trên không -trung (Pháp gọi parélie, parhélie). Ngày nay, ta biết đó là một hiện tượng thiên nhiên hằng thấy, do hào-quang phản chiếu vào một đám mây có nhiều giá tuyết rọi ngược tia sáng lại nhau. Nhưng vào giữa thế kỷ thứ X, lòng người con tin nhiều vào điềm lạ (nhựt thực, sao chỗi, v.v … ), quân-sư là Miêu Huan (Miao-hunn-hao) bàn rằng mặt trời sanh đôi là điềm phải thay vua khác, vì đời sắp đồi mới. Các tướng-sĩ trong lúc ấy không ngớt xầm-xì xậm-xịt, dụm năm dụm ba, bàn tán về việc hai mặt trời, trọn đêm không ngủ … Nhóm nầy nghĩ Cung-đế bé thơ e không biết xét công-lao; nhóm khác phê bình chỉ có Khuông -Dẫn là bấy lâu rất được lòng tướng-sĩ … Trong khi ấy, sau rõ lại có em Khuông-Dẫn là Triệu-Quang-Nghĩa (Tchao k’oang-i) dọn đường, làm tay trong, am trợ đủ mọi cách và một mặt Quang- Nghĩa sai người thân-tín bay ngựa về kinh đem tin sắp đặt cho các tướng còn ở tại triều rõ tự sự, một mặt khác, Quang-Nghĩa dẫn đầu, thừa lúc trời nhá nhem chưa sáng, kéo róc bộ-hạ chư tướng vào trung-dinh, đỡ xóc Khuong-Dẫn dậy, -lúc ấy hơi men còn nồng, khoác huỳnh-bào lên vai, rồi chư tướng lạy mọp tung hô vạn tuế. Xong rồi, đỡ Khuông-Dẫn lên ngựa, kéo binh trực chỉ trở lại kinh đô. Khuông-Dẫn đêm qua say vùi, nay tỉnh rượu, ngồi trên tuấn-mã, gò cương la lớn: « Chư hiền-đệ làm việc nầy chẳng qua vì mấy chữ « Phú-Quí Công – Danh ». Để cho ta nói đôi lời như thuận tình thì luôn luôn phải nghe lời ta, bằng ngày sau đổi ý bất tuân lịnh ta, thì thà hôm nay các em lựa người khác, chớ ta không ưng làm điều trái ngược như vầy. »

Các tướng sĩ, một lần nữa, thề quyết không nhị tâm. Khi ấy Khuông – Dẫn đưa ra bốn điều: thứ nhứt, không phạm đến Sài mẫu-hậu, vợ Sài-Vinh, là chị dâu mình; thứ nhì, Cung-đế vốn gọi ta bằng chú, tức cháu của ta, các em không quyền sát hại; ba là các quan lớn nhỏ tại triều, vốn cùng ta là cố-tri bạn cũ, phải để sanh tồn; bốn nữa, các cung điện lăng tẩm Hậu-Châu, không nên phá phách. Binh kéo về Khai-Phong-phủ, mọi việc đều dàn xếp ổn thỏa, quả nhiên không tốn một sanh mạng nào. Đến đây, nhà Hậu – Châu đếm được ba vua: Quách-Oai, Sài-Vinh, Sài Tống-Huân, chia nhau trị vì được mười năm (951-960).

Đời Ngũ Đại Tân Đường, cộng năm triều đại, được mười ba vua, kể tám họ khác nhau, trị vì năm mươi bốn năm, thì dứt, nhường cho cho nhà Đai Tống. Trong số, Châu Thế – tôn Sài- Vinh được tiếng thơm là hoàn toàn nhứt, hiền, sáng suốt, nhơn đức, đáng là một bực minh-quân. Ông mất rồi, nhơn dân đều mến tiếc.

  1. Yểu số, mất năm 973, thọ 22 tuổi.

Đại Tống, nhà Triệu (Dynastie SONG, famille Tchao) (960-1279)

Triệu-Khuông-Dẫn, xích-diện liên mi, nay viện bảo-tàng Đài-Bắc còn giữ một bức chơn dung tôi từng được thấy, nguyên quán ở Trác-quận (Tchouo-tcheou). Khi lên ngôi, đóng đô tại Khai – Phong – phủ như trước. Việc làm đầu tiên là lập miếu thờ tổ-tiên và tuyên bố chọn Khồng-giáo làm quốc đạo. Thái-tổ dạy mở thêm trường học. Từ trước thờ chư Thánh bằng bài-vị gỗ, nay chế ra đúc tượng và vẽ hình bày nơi các học-viện trong nước. Thái-tổ giữ thói quen như cũ, ban đêm thường giả-dạng thường dân ra ngoài phố vừa ngao du chen lộn trong chúng dân y như buổi thiếu thời, bôn ba khắp xứ, khi bị vua Hậu-Hán họa đồ hình lùng bắt, vừa dùng dịp ấy dò xét dân tình. Các quan thường hay can gián, rằng buổi giao thời, nhơn-tâm chưa ổn định, không nên đặt mình rồng chung sống với tép tôm. Nhưng Thái – tổ gạt ngang, đinh ninh «đã là bực chí tôn, đi đâu đã có bá linh phò trợ, nếu xảy ra việc gì, không qua mạng trời. »

Năm 961, mẹ là Đỗ – thị, nay là Thái – hậu, đau nặng. Thái-tổ vốn là người con chi hiếu, ngày đêm săn sóc mẹ không rời. Khi biết mình khó thoát, Thái – hậu dạy đòi Triệu-Phổ (Tchao-pou) vào viết tờ di-chiếu.

Thái-hậu hỏi vua: « Vương-nhi có biết nhờ gì ngôi báu về tay con chăng? ».

– Nhờ đức dày của tổ-tiên để lại; nhờ phúc đức của mẫu-hậu, nên con mới được như vầy.

– Vương-nhi xét như vậy cũng phải đôi chút, nhưng phần khác, là vì nhà Hậu-Châu cạn xét, đặt ngôi báu trong tay ấu – chúa còn trứng mén ngây thơ. Bởi vậy không đủ gây tín nhiệm. Nếu lúc trước Cung – đế đã trưởng thành, chưa chắc ngôi cửu-ngũ về tay Vương-nhi. Vậy nay ta hãy lấy gương ấy làm răn. Theo ý mẹ ao ước cho đến nay, con nên lần lượt sau nầy truyền ngôi tỷ như cho các em, luân chuyển từ con qua tay Quang-Nghĩa, rồi qua tay Quang-Mỹ, đến chừng Đức- Chiêu (con của Thái -tổ) khôn lớn, Quang-Mỹ sẽ giao quyền cai-trị trở lại. Như vậy ngôi báu luôn luôn luân phiên được ở trong tay người trưởng thành kinh nghiệm đủ tài đủ trí, thì khỏi lo sự phế lập ấu quân. Thái-tổ mỗi mỗi đều vâng lời, khóc lạy mẹ, sai Triệu-Phổ quì, ghi chép lời di chúc, mà sau nầy Quang -Nghĩa bội tín chẳng vâng theo. Thái-hậu trối rồi thì tắt hơi.

Sự thiển cận của Thai-tổ là đầu mối của sự lụn bại của Trung-quốc sau này.

Thái-tổ thấy cái họa phiên trấn đời Đường và đời Ngũ-Đại, lòng hằng lưu ý. Thái-tổ rất ghét cái gương tướng sĩ mạnh thế, tự chuyên, thường làm cái việc ủng-lập Hoàng-đế, mà chính mình cũng là do binh lính tôn lên; nên khi lên ngôi và bề thế vững chắc rồi, thi Thái-tổ tìm hết cách để giảm binh quyền các tướng ngoài phiên – trấn, và làm cho quyền ở trung-ương được vững mạnh thêm. Vì vậy, khi các chức phiên – trấn có khuyết, Thái – tổ cho các quan văn ra thay lại đặt ở các chân, chức Thông-phán coi việc quân chính và dân-chính, phải tâu mọi việc về triều đình biết; đem các quận trước kia thuộc các Tiết-độ-sứ về trực thuộc quyền cai – trị của chính – phủ trung-ương; đặt ra ở các lộ chức Chuyển-vận-sứ trông nom về tài chánh, số thu được, trừ số chi-tiêu trong lộ, còn lại bao nhiêu đều gom hết về triều đình; sai các châu chọn lính mạnh đem về kinh cho nhập

  1. Đây là kế gọi « bôi tửu truất binh quyền » của Tống Thái-tổ (vẫn giả say để dễ nói chuyện). Một hôm vua thiết tiệc rượu, mời Thạch-Thư-Tín, Vương-Thẩm-Kỳ … Tiệc vừa mềm môi, Thái-tổ sai đuổi kẻ tẻ hữu ra, rồi nói với bọn Tín, Kỳ: «Làm thiên-tử coi vậy mà khó khăn, chớ không đuợc vui sướng luôn như lúc làm Tiết-độ-sứ. Trẩm thường ăn ngủ không yên. Thủ-Tín hỏi vì sao; Thái-tổ thở dài đáp: Ngôi cao quí này, ai lại không muốn? Thủ-Tín lật đật tâu: « Bệ-hạ sao lại nghĩ thế? Thiên mạng đã định. Ai còn dám nhị

tâm? » Vua nói: «Các khanh thì cố nhiên, trẩm tin được. Nhưng bọn thủ-hạ, ai là không ham phú quý? Phỏng như một ngày kia, họ đem hoàng-bào đắp vào mình khanh, khanh không muốn cũng không được! Việc binh biến Trần-Kiều trước kia phải đề phòng ». Thach-Thủ-Tín và Vương-Thẩm-Kỳ hiểu ý, sáng ngày cáo bịnh, xin giải chức từ quan. Thái-tổ chấp thuận và an ủi: «Nay chư khanh còn khương kiện, hãy cùng trẩm tận hưởng chuỗi ngày còn lại. Chư khanh về làng thủ vai hương-lão, việc nuớc dã có đoàn hậu tân gánh vác. Rồi đây chúng ta đời đời kết làm thông-gia, cha truyền con nối, chẳng hơn là nay còn bôn vào đạo cấm-quân, còn lính già yếu thì ở lại các châu làm sương-quân, cứ mỗi năm cho lính cấm-quân và lính thú ở biên trấn đổi chỗ nhau một lần, đề cho các tướng sĩ khỏi quen thân nhau mà được mạnh thế, kết vây kết cánh, phép ấy gọi canh-nhung. Các tướng công thần như Thạch – Thủ – Tín (ông Huỳnh-Đắc-Ứng gọi Thạch-Như-Tín), như Vưong-thẩm-Kỳ là những cố nhân có công trận lớn với vua, được giao giữ cấm-quân, nhưng sau đó, Thái-tổ dùng lời nói khéo làm cho các tưởng ấy phải tự xin giải tước binh quyền1.

Các chánh sách ấy tuy nhất thời trừ được các tích-lệ (như ngày nay họa đảo chánh của bọn quân phiệt), nhưng về sau kết quả rất tai hại:

1) Cứ theo phép canh-nhung, binh lính thay đổi nhau luôn, thành thử không hiểu rõ tình thế địa – phương nơi

biên trấn, thêm nữa các văn-thần lại không thể luyện tập, khi lâm sự không thể chỉ-huy, vì vậy khi chinh-chiến, chưa gặp địch, đã tan vỡ trước khi giao chiến.

2) Các quyền binh đều thu về trung-ương cả, khiến nên những người có tài ở các địa-phương không có chỗ dùng, phải rút về kinh đô, nhưng ở đây chức vị đã có hạn, một là không cất đầu lên được, hai là có nạn tranh giành rồi kết thành phe đảng khuynh loát nhau từ chút;

3) Thâu những kẻ thất nghiệp, du đãng dữ tợn làm lính, gặp lúc đói kém, thường dùng cách chiêu binh để làm chánh sách cứu – hoang, – tuy cũng có chỗ hay, -nhưng về lâu số linh tăng lên mãi, phí tổn cho chánh phủ thêm nhiều, tài chánh trở nên kiệt quệ. Cho nên đời Tống, chỉ có hai đời vua Thái-tổ và Thái-tông, khoảng mấy chục năm là dân chúng tận hưởng thái-bình, qua các triều đại sau, các bộ lạc Liêu – Kim – Hạ, Mông-cổ xâm phạm bờ cõi, các địa-phương mất lực lượng tự vệ, không chống cự nổi. Về sau, hai vua Tống bị binh Phiên bắt đi hành hạ đến mất nửa phần giang san phương Bắc, nhà Tống chạy dồn về Nam, cái kế « bôi tửu trích binh quyền » chỉ tránh nạn gần mà nạn xa không thấy, vua Thái-tổ mưu sâu hóa ra cạn là vì vậy.

Năm 962-963, Thái-tổ ra lịnh cấm thiêu xác (hỏa-táng). Do điển nay, ta biết từ đời Ngũ-Đại Tân-Đường, loạn lạc không dứt, nên dân gian theo Phật-giáo, dùng hỏa-táng cho gọn và theo tôi, những hũ đựng cốt (urnes funéraires) rất thịnh hành vào đời Ngu-Đại Tân-Đường này. Từ 960, thái bình trở lại, Khổng-giáo lại được chọn làm quốc-giáo nên Thái-tổ cấm hỏa-táng là phải. Theo sách Pháp của cố Wieger, đạo sắc chỉ thứ hai của Thái-tổ lại càng chứng to sự anh minh của vua này. Nguyên trong công-thần-miếu, có bài-vị của tướng Bạch-Khởi được thờ từ vua Đức-tông nhà Đường. Thái-tổ viếng miếu, lấy tay chỉ bài-vị Bạch-Khởi mà phán rằng: «Thân làm đại tướng mà đang tay sát hại đám ba quân đã quì lạy đầu hàng thì không phải mặt anh hùng. Hãy dẹp bài-vị này và từ đây không thờ Bạch-Khởi trong Công-thần-miếu nữa. »

Năm 968, nhơn dự buổi tế-tự tổ-tiên, Thái-tổ thấy bày đồ từ-khí theo cổ-lệ, phán: « Tổ-tiên trẫm vốn hàng thứ dân, làm sao dám hưởng vật cúng bày trong chén dĩa sang trọng nầy? Hãy dẹp, dẹp hết đi, và mau mau dọn tế-vật trong chén dĩa tầm thường, y như buổi sanh-tiền của tổ-tiên trẫm đã dùng thuở trước». (Lời nói đúng của một người chơn thật và giàu kinh nghiệm, phong-trần đã trải). Năm 972, mưa lớn và lụt nhiều nơi. Quan thiên-văn bàn vì âm thịnh, nên có lịnh sa-thải nhiều cung nữ. Năm 973, Cung-đế (con vua Sài-Vinh) tỵ trần. Thái-tổ dạy chôn theo bực Vương-lễ. Những nét đặc sắc nhứt của Tống Thái-tổ la lòng hiếu với mẹ và rất thương em là Triệu Quang-Nghĩa, vì đoạn này rất quan trọng, tôi xin được dài dòng, trước lược thuật hành vi của Thái-tổ, sau chép lại bản Hán-văn và bản dịch Pháp-văn ghi trong bộ Textes historiques của Wieger,

trương 1826, để chư tôn mặc tình xét đoán:

Phần dịch đại lược:

Thái-tổ rất mến Quang-Nghĩa. Thường hay đến nhà, thăm viếng và ban cho nhiều báu-vật. Quang-Nghĩa đau,

danh trục lợi, quên cái già lẩn thẩn theo sau ». Thái-tổ ban thuởng cho các tướng rất hậu. Còn truyền tụng, đời Tống, Thái-tổ miễn thuế dời đổi hòn Hoa-sơn cho tiên đế Trần-Đoàn vì năm xưa thua một ván cờ. Cũng đời Tống chế ra lệ ban « đơn thơ » (bằng cấp bằng son), và « thiết-khoản » (bằng khoản bằng sắt), « kim sách » (sách bằng vàng thật) đề con cháu công thần (như Sài-Tấn trong truyện Thủy-Hử), cứ giữ và trao lại con cháu những báu vật ấy mà hưởng lộc Tống-tộ cha truyền con nối. Lời ước thề của Thái-tổ giao kết với các công thần cũng rất nên thơ. Đó là câu «Đái-lệ san-hà », (tức khi nào Hoàng-hà nhỏ còn bằng giải thắt lưng, Thái-san bé còn như vien đá mài, khi ấy dòng họ trẩm mới có thể quên công ấn khai quốc) – lời thề thiệt là thống thiết vì đai là đai áo, lệ là đá mài.

có lần phải dùng đến ngải-cứu (moxa), Thái-tổ tự đốt ngải trên da mình cho em thấy không đau và bớt sợ nóng. Thái-tổ thường khen em có tướng tốt: « long hành hồ bộ » (tướng đi như rồng, bộ như hồ).

Tháng mười năm 976, Thái-tổ băng, Quang-Nghĩa nối ngôi. Đoạn này gay cấn nhut, tôi xin đọc nguyên văn dưới đây chữ Hán (phiên âm) và bản Pháp-văn, chỉ dịch thoát để cùng nhau chiêm nghiệm và độ chừng những bí-ẩn còn nhiều chung quanh cái chết của vị anh hùng Triệu-Khuông-Dẫn (xem hai bản nơi sau).

Cứ như đoạn Hán-văn ấy, Tổng Thái-tổ chết một cách mờ ám, sử không dám nói rõ.

Phần Hán-văn (Textes historiques, Wieger, page 1826). – (Bản phiên âm).

« Đế hữu ái Tân-Vương Quang-Nghĩa sở hạnh kỳ đệ. An lễ thậm hậu. Quang – Nghĩa thường hữu tật thân vì « chước ngại. Quang-Nghĩa giác thống Đế diệc thủ ngại tự viêm. Mỗi đối cận thần ngôn Quang-Nghĩa long « hành hổ bộ. Tha viết tất vi thái bình thiên tử. Phúc đức phi ngô sỡ cập dã. Thập ngoạt đế băng, Tân-Vưong « Quang-Nghĩa tức vị. Lý Đạo Vân. Thượng bất dư dạ triệu Tân-Vương.  Thuộc dĩ hậu sự tả hữu giai bất đắt « văn đãng diêu kiến chúc ảnh hạ Tấn-Vương thời hoặc ly tịch. Nhược hữu sõ tốn ty chi sàng. Ký nhi thượng dẫn trụ phủ trịch địa. Đại thánh vị Tân-Vương việt. Hão vi chi. Dĩ nhi đế bang. Cố mạng. Đại sự dã. Thật luc chánh sử giai bất năng ký.

« Tích tai. »

Bản trích Pháp-văn (L. Wieger, Textes historiques, page 1826).

« Quelques historiens non classiques ont voulu voir du mystere dans la mort de Tchao k’oang yinn. Son frere «Tchao koang i l’aurait achevé, ou aurait déterminé sa mort en le mettant en colere, pour s’assurer le trone.

« Ces racontars, répétés par beaucoup de lettrés modernes, s’appuient plutôt sur ce que Tchao-koang i fit plus tard à son frère cadet et à ses neveux, que sur les circonstances de la mort de T’ai-tsou. Voici le texte: « Etant

«tombé malade à l’improviste, l’empereur fit appeler au milieu de la nuit son frère Tchao-koang i, pour lui inti-

«mer ses dernières volontés. Les deux frères se virent en tête à tète. Du dehors, on vit seulement l’ombre de K’oang i qui se mouvait. Ses gestes etaient d’un homme qui refuse et s’excuse. Puis l’empereur saisit la hache d’armes suspendue à une colonne près de son lit, et la lui jeta en disant: « Fais bien la chose! » Le testantent d’un empereur, ajoute l’historien, est chose tres importante.

«Cet acte doit donc avoir des témoins. Il est regrettable que les Annalistes n’aient pas été à même de nous laisser sur la mort de T’ai-tsou, des documents bien authentiques … De ces paroles obscures, les uns infèrent que Tchao-k’ouang i voulut céder le trone au fils de l’empereur, et que celui-ci l’obligea à regner, conformement aux dernieres volontes de leur mere. Fais bien la chose, signifierait Sois un bon empereur! La hache jetee, exprimerait la remise du pouvoir. L’histoire officielle interprète ainsi … Les autres pensent

que le mourant demanda à son frère de se désister en «faveur de son fils, et que celui-ci refusa, s’appuyant sur le testament maternel. La hache jetée, serait un acte agressif. La dernière parole, serait une exclamation de dépit: Règne donc, puisque je ne puis pas t’en empêcher! Cette interprétation parait bien tourmentée; mais, comme elle est romanesque, elle a eu du succès … En tout cas, quand Tchao-k’ouang i sortit de la chambre de son frère, celui-ci était mort. Il avait cinquante ans.

Cứ như hai bản trên đây thì Thái-tổ mất một cách khá mờ ám. Mấy hàng dịch phiên âm bản Hán văn và bản

nguyên văn Pháp-ngữ cho ta thấy nhiều sử-gia phe nghịch thấy trong cái chết của Thái-tổ còn nhiều bí ẩn, đến nay chưa dứt khoát. Theo họ, Quang-Nghĩa hình như đã chọc tức anh, làm cho giận dữ và mau chết, hầu dễ đoạt ngôi báu. Những giả – thuyết và lời đồn vô căn cứ này, càng được các tân-sử-gia khai thác và nhắc đi nhắc lại do lời thuật của Quang-Nghĩa nói cho con cháu nghe sau này:

«Thái-tổ thình lình ngọa bịnh. Nửa đêm lật đật vời em là Quang – Nghĩa đến nghe lời chỉ huấn. Hai đàng giáp mặt nhau, trong một vuông phòng kín, không một nhân chứng nào khác chứng kiến. Những kẻ đứng ngoài phòng, chỉ thấy bóng Quang-Nghĩa tỏ vẻ khúm núm nửa như từ chối nửa như tạ tội. Về sau nghe thuật lại, Thái-tổ lúc đó vói chụp cái búa (phủ) treo nơi cột điện gần bên long sàng, quăng ra và nói lớn ngay mặt em:

« Hão vi chi! » Theo các sử – gia, thì di – chiếu của một ông vua như Thái-tổ là một việc tối quan trọng, cần phải có mặt nhiều nhân chứng. Cớ sao về mấy phút cuối cùng của Thái-tổ, Thật-lục chánh sử, không ghi chép đầy đủ, lại viết vỏn vẹn ba chữ: « Hão vi chi! » Và tùy thời, tùy cảnh ngộ, ba chữ « Hão vi chi » muốn cắt nghĩa làm sao, cũng được.

1) Có người bàn, lúc Thái-tổ ngặt mình, vời Quang-Nghĩa nói chuyện trao ngôi, ý muốn nhượng ngôi báu cho em, y như lời mẹ dặn, nên Thái-tổ quăng cây búa (phủ), tượng trưng sự giao quyền bính và như vậy, khi phán câu: « Hão vi chí », là muốn nói: «Hãy nối ngôi báu nầy và rán làm cho nên việc ». (Đây là thuyết chánh-thức được công nhận).

2) Thuyết khác nghĩ rằng Thái-tổ tỏ ý muốn thấy em mình nhường ngôi cho con của mình, nhưng Quang-Nghĩa viện lời mẹ trối, không nhận lời Thái-tổ (nên thấy bóng Quang-Nghĩa lom khom vừa xin lỗi vừa tạ tội), và vì vậy, cây búa (phủ) quăng ra nên hiều sự tức giận gây hờn, câu «Hão vi chi » có nghĩa : «Nay anh chẳng còn cản trở nữa được, thi đây búa này giữ lấy, ngồi kia cứ lên, hảo lắm, tốt lắm ! Thuyết sau tuy kiểu sức, khấp khênh, nhưng đượm mùi « tiều thuyết » và mộng ảo, nên được nhiều người truyền tụng … Khi Quang-Nghĩa trong phòng buớc ra thì Thái-tổ đã tắt thở. Triệu – Khuông – Dẫn thọ năm mươi tuổi.

3) Một thuyết thứ ba, tôi không đảm bảo, vì đọc ở đâu không nhớ, rằng Khuông-Dẫn đau mục nhọt sau lưng, hình như đau gan làm độc, xì « phát bối », như vậy Quang-Nghĩa chọc tức thì chết liền. Lại nữa ông thọ có năm mươi tuổi, lại ưa giải quyết nhiều việc khó bằng rượu: trảm Trịnh-Ân, bôi tửu trích binh quyền, không kể lúc thiếu thời, trôi nổi khắp xứ thì rượu uống là sự thường, rồi sau làm vua thì tửu sắc đến dâm, khó tránh, cho nên làm sao thọ lâu được, và khi hiểu việc, giới tửu uống trà là thậm phải. Theo tôi nhớ mại mại, sách tôi đọc còn quả quyết Tống Thái-tổ đau abcès du foie mà chết, nhưng xin các bạn đừng tin mà bán lúa giống!

Việc nên tin là sử chép lại và khen Thái-tổ có nhiều đức tinh tốt: biết tiết kiệm của công và bình sanh không thích sự se sua. Sử chép ngày nọ có một bà công chúa được vua yêu dấu, đến triều bái vua cha, mình mặc một chiếc áo rất đắt giá. Thái-tổ lập tức sai về thay bộ áo khác, rằng: « Con không nên khoe áo đẹp. Không khéo các em con mỗi đứa xin một chiếc như vậy thì tốn kém biết sao mà đội »

Một hôm khác, cũng một bà công chúa đến xin vua cha cho thợ thếp vàng một chiếc phụng – sang. Thái – tổ phán: « Vàng trong kho không thiếu, nhưng đó là của công. Phụ-vương không quyền lấy của công làm của tư và làm vừa lòng con được. »

Một ngày nọ, Thái-tổ đi điền điệp. Ông phi ngựa theo thỏ rừng, ngựa làm ông té, sẵn kiếm báu trong tay, ông đâm ngựa chết. Hết giận, Thái-to lấy làm hối hận và từ ấy bãi tục đi săn. Ấy là sự tích nhón lại của một ông vua mà tôi mê từ thuở nhỏ và nay nếu có xúc phạm là cũng vì muốn định nghĩa một cái chén trước dùng uống rượu sau dùng uống trà. Nếu không phải vậy thì cũng kiếm được một thiên phiếm luận đủ tiền tạm sống.

Nay xin bắt qua tìm hiểu tánh tinh Triệu Quang-Nghĩa, người em đã được vua anh thương nhiều, hằng khen hơn mình nhiều lẽ: « Long hành hồ bộ », « tất vi thái-bình thiên-tử, phúc đức phi ngô sở cập. »

Tống Thái – tông (Triệu – Quang – Nghĩa) (976 – 997). -L’empereurT’ai-tsoung des Song.

Theo tôi, Thai-tổ thương Quang-Nghĩa vì đã thay cho minh, ở gần cha mẹ lo việc phụng dưỡng thế cho mình,

mắc tội bỏ nhà chạy trốn, người đi xa thường thương người thân và mến trọng người thân, chớ dưới mắt tôi,

Quang-Nghĩa thua xa anh.

Năm 978, Thái-tông sắc phong Khổng-Nghi (K’oung-i) là cháu đời thứ 44 của đức Khổng-Tử làm Văn-Tuyên-công (propagateur des Lettres). Năm 979, vô cớ Thái-tông hưng binh đánh Khiết-đơn, đánh không lại, đến đỗi phải bỏ long-xa, trốn trên xe của thường dân mới thoát khỏi nạn nguy. Trong khi vua trốn, Khiết-đơn phong con vua Khuông – Dẫn, là Đức – Chiêu (Tchao-teitchao) làm nhiếp-chánh-vương. Khi Thái -tông trở về kinh, Đức-Chiêu tâu xin thăng-thưởng các tướng hữu công, vua phán giọng lẫy: «Hãy chờ khi lên ngôi, sẽ phong lấy! » Đức-Chiêu buồn rầu, về cắt cổ chết. Thái-tông điếu tang, khóc: « Cháu sao dại dột và cạn xét như vầy ». (Trong Wieger nói: « Bớt một mũi nhọn thứ nhứt. »

Năm 981, Triệu – Đức – Phương (Tchao – teifang) là em của Đức-Chiêu, bỗng chết, – không rõ vì bịnh hoạn hay vì cớ nào khác, Wieger lại phê: «Bớt một mũi nhọn thứ nhì. »

Còn lại người con út Thái-tổ là Triệu-Đình-Mỹ (Tchao T’ing-mei), được Thai-hậu di-chiếu cho hưởng ngôi kế vị Thái-tông sau nầy. Thái-tông vấn kế Trieu-Phổ, Phổ tâu:

« Vua trước xét cạn: cha truyền ngôi cho con mới gọi là đúng chánh-pháp. »

Năm 982, Đình – Mỹ phạm tội, bị đày và năm 984 Đình – Mỹ thác, thế là dòng giống Triệu – Khuông – Dẫn

không còn người nào để tranh chấp ngôi vua với con của Quang – Nghĩa.

Năm 983 đê Hoàng-Hà vỡ, ngập lớn vùng Khai-phong- phủ, nước sông Hoàng chảy phủ tới sông Hoài, lut lớn

khắp nơi, dân chết đến số triệu.

Năm 997, Tống Thai – tông thăng hà, con là Huyền (Heng) ba mươi tuổi, lên nối ngôi, ấy là vua Chơn-tông.

Công lao của nhà bác, bác nghe lời mẹ, nay chú và dòng chú hưởng. Nói cho công bình, đời Thái-tông được thái bình, vì Thái-tổ và ông, đã dẹp được «an bốn biền », vua lại hay giảng võ, khuyến nông thương, lại biết yêu chuộng văn chương, kính sĩ dụng hiền và Thái-tông có lập một kho sách, hơn tám mươi muôn cuốn.

Đúng với lời tiên tri của Trần-Đoàn, khi gặp bà Đỗ-thị trong buổi chạy giặc, gánh hai thúng đựng vua  Khuông-Dẫn và vua Quang-Nghĩa, Trần-Đoàn đã cười ngất mà gọi « thái bình đã đến rồi » và tích nầy đã ghi trong một dĩa trà có thơ nôm hai câu « Mó rận luận chơi thời-sự », «Ngã lừa mừng thuở thái bình » (văn Tây – sơn, tôi sẽ nói khi viết đến thủ chơi ấm chén và đồ sứ men lam Huế, sau nầy).

(tập số 7).

Tống Chơn-tông (998-1022).

– L’empereur Tchenn-tsoung. Thái-tông mất, không lập con nhà bác, dòng Khuông-Dẫn và lập con ruột là Chơn-tông, dòng nhà chú. Vua nầy mê tín lắm. Wieger kể lại đời vua nầy cho phổ biến thuyết  trên trời, cao hơn hết có Thượng-đế, kế đó là Ngọc-Hoàng đại-đế và hai ông giáng sắc phong trên cõi dương-thế đại diện là Hoàng-đế Tống Chơn-tong, cai trị dân gian. Đời vua nay nhìn nhận trong nước có ba đạo chánh: Nho, Thích, Lão và phân ra có: lạc-thổ (le paradis), địa- ngục (l’enfer), ngạ quỷ (les démons affamés, prêtas), tội-hồn (les âmes pécheresses), và luyện ngục (le purgatoire) v.v … Nên nhớ năm Cảnh-Đức (1004), Chơn-tông dạy xây lò làm gốm tại Cảnh-Đức-Trấn.

Năm 1006, trung-thần Khấu – Chuan (K’eou-tchounn), người mình biết hơn dưới đại danh là ông Bao-Công, bị nịnh sàm tấu, vua dạy ra trấn ở Đại-Danh-Phủ (T’ai-ming-fou), ông lại được người Khiết-đơn rất mến phục, khi họ vào triều thấy vắng mặt Bao-Công, nay gặp ở đây, lấy làm * lạ hỏi, ông cuời bịa rằng « vì trong triều vô sự, nên vua sai ông ra chăn dân và trấn ải địa đầu này!

Tống Nhân-tông (1023-1063). – L’empereur Jenn-tsoung.

Năm 1022 vua Chơn-tông băng. Thái-tử Trinh (Tcheng), chỉ được muời ba tuổi, lên kế vị, xưng Nhơn-tông. Vua nay có phước, văn có Bao-Công, võ có Địch-Thanh hết lòng phụ bậc. Tôi rất phục dòng Khuông-Dẫn không tranh giành làm vua (hoặc vì thiếu phe đảng, biết tranh cũng không lại, bị giết oan mạng), thà giữ địa vị Bác-Vương (vua anh) và sau con cháu phong Lộ-Huê-Vương, tức ông vua ra đường có rắc hoa cho đạp lên hoa mà đi, như vậy mà sướng hơn!

Nhơn-tông là con của bà Ly-thần-phi, khi nhỏ nhờ bà Nam-cung Dịch Thái-hậu là đầu dòng Khuông – Dẫn giấu nuôi, sau có Bao-Công tra án Quách-Hòe mới lòi ra manh mối tích «ly miêu hoán chúa» và tích «xử án Bàng quí-phi » rất ly kỳ thống thiết, nên tìm truyện Tàu đời Tống mà đọc: – (truyện Vạn-Huê-lầu, v.v…)

Vua Nhơn-tông đáng được gọi ông vua biết lễ nghĩa. Năm 1024, ông viếng nhà Đại – Học, bổn thân khấu bái trước bàn thờ đức Khổng-Tử.

Đời nầy thiên hạ thải bình. Các danh thần, văn nhân rất nhiều, xin lượt kể không phân biệt thứ-tự và tôn-phái:

Âu-dưong-Tử (Neouyang-siou) (1007-1072); Phạm-Trọng-Yêm (Fn-tchoungyen) (989-1052); Hàn-Kỳ (Han-K’i) (1008-1075); Phú-Bậc (Fóu – pi, mất năm 1083); Tư – mã Quang (Seuma-koang) (1019- 1086);

Thiệu – Hùng (Chao – young) (1011-1077); Trình-Hạo (Tch’eng-hao) (1032-1085) ; Trình-Di (Tch’eng- i) (1033- 1107); Vương – An – Thạch (Wangnancheu (1020-1086); Thái-Kinh (Ts’ai-king) (1046 – 1126);

Tô – Tuấn (Sou – sunn) (1009- 1066); Tô – Thức (Sou – cheu) (1036-1101);

Tô-Triệt (Sou- tchee) (1039-1112); Châu – Hy (Tchou-bi) (1130-1200), v.v …

Năm 1052, đời vua Nhân-tông này, có Nùng-Trí-Cao (Noung – tcheu – kao) làm phản gần ranh Bắc – Việt, tướng Địch-Thanh (Ti-ts’ing) dẹp xong gặp bà Thoại – Ba công-chúa, hai người kết duyên (xem tuồng Ngũ hồ bình Tây của Trần-Văn-Hưởng và Lê- Ngọc- Trụ hai ông này sao chép và trình bày, còn đặt đề là do Cụ Tú Nguyễn-Diêu, hiệu là Nhơn-Ân (có Cụ Đào-Tấn sửa một đoạn).

Tống Anh-tông (1064-1067). – L’empereur Ying-tsoung.

Năm 1063, Nhơn-tông băng. Vua nầy không con, nuôi con nhà thúc bá, tên Thự (Chòu) 32 tuổi, truyền ngôi, xưng Anh-tông. (Tiếng rằng con nhà thúc-bá, nhưng có nghĩa dòng Quang-Nghĩa chớ không phải dòng Khuông-Dẫn). Vua này ở ngôi được bốn năm thì mất, thọ 36 tuổi, con được 20 tuổi, kế vị, ấy là vua Thần-tông.

Tống Thần-tông (1068-1085). – (L’empereur Chênn-tsoung).

Vua Thần-tông được tiếng là ăn cần ở kiệm và biết kính hiền trọng sĩ. Nhưng ông không được thọ, trị vì được mười tám năm thì băng (thọ 38 tuổi). Con tên là Hù, mười tuổi, nối ngôi.

Tống Triết-tông (1086-1100). – (L’empereur Tchée-tsoung).

Vua Triết-tông lên ngôi, chỉ có mười tuổi, nên có bà Cao-hậu dự chánh. Trong nước may không có nịnh thần, và các ông Tư-mã Quang, Lữ – công – Trụ và các tôi hiền khác giúp vua nên nước đặng yên. Triết-tông băng năm 1100, tuổi vừa hai-mươi-bốn. Bởi không có con kế vị, nên em là Kiết (Ki) nối ngôi.

Tống Huy-tông (1101-1125). – (L’empereur Hoei-tsoung).

Đây là ông vua tài-tử nhứt đời. Ông là con thứ 10 của Thần-tông, tước phong Thoại-Vương, nối ngôi anh năm 1101, thường xưng mình là Ngọc-Thanh giáo-chủ hạ giáng. Huy-tông ngày nay kẻ khen người chê, dư luận không đều. Chê là vì đời ông, ninh-thần đầy triều: Cao Cầu, chỉ giỏi đá cầu mà được phong Thái-úy, Thái-Kinh, văn hay chữ tốt, ngặt ham ăn hối lộ nhất đời, và giặc loạn Lương-sơn-bạc, 108 vị anh hùng do Tổng- Giang cầm đầu, chống chánh-phủ cũng vào đời nay (xem truyện Thủy-Hử). Khen là vì ông là một họa sĩ đại danh, tranh ông ngày nay bên Mỹ giành mua giá trên nhiều triệu đô-la, Huy-tông biết sưu tầm ngọc báu, nâng cao mỹ-thuật, nâng cao nghề chế bức tranh « Cầm điều » ký « Tuyên-Hòa ngự bút » của ông đồ gốm celadon, ham chơi tranh, chơi cổ ngoạn và nếu Nguyễn-Văn-Thư nói trong Bách-Khoa số 92 kể nơi bài của ông, nếu nay ông còn giữ và nếu đó thiệt đúng ngự bút của Huy – tông, thì trên cõi Việt-Nam nầy, không ai có phước và giàu hơn Nguyễn-quân vậy.

Năm 1104, phương-sĩ Nguy Hon – Tan (Wei-hantsiun) tuân lịnh Huy-tông, đúc chín đỉnh đồng thật lớn, đến năm 1105 mới xong. Tể-tướng đời ấy là Thái-Kinh, sùng bái đao Lão, gây nhiều ảnh hưởng tốt đối với mỹ-thuật, nghệ thuật, nhứt là ngành đất nung, gốm, céladon, ngọc chạm, v.v …Một quốc-gia chỉ lo việc trong nhà, sợ việc phế tập vì phe đảng, mà quên sức mạnh đang dấy lên như nước thủy-triều của các phiên-quốc vây chung quanh, một ông vua có nhiều máu phong-lưu tài-tử, nghệ-sĩ tới chót đầu móng tay, tội nghiệp thay Huy-tông đã dốt chánh trị thêm lười, lại quá tin và giao hết việc nước cho hai tham quan nịnh-thần cỡ Cao-Cầu và Thái-Kinh, nên về sau ông Huy-tông tuy thoái vị năm 1125, mà vẫn tránh không khỏi năm 1127 bị Kim-Phiên bắt đày lên phương Bắc, nhốt hay cầm tù trong một cái giếng loạn tại Ngũ – quốc – thành (Ou – kouo tch’eng, nay là Ninh-cổ-tháp ở Cát-lâm), và nhịn đói nhịn khát, kéo dài đời sống đến năm 1135 mới chết lạnh tại đây, tuổi được năm mươi tư. Tôi nói Tống Thai-tổ không thấy xa và cái họa của kế « bôi tửu trích binh quyền », chẳng phải báo hại chỉ hai vua Huy-tông và Khâm-tông, mà còn di hại đến đời Thanh với bọn xâm lăng da trắng nữa là khác.

Tống Khâm – tông hoàng đế (1126 – 1127). – L’empereur K’inntsoung.

Ông vua chia hoạn nạn với Huy – tông là Khâm tông hoàng-đế, con của Huy-tông, được cha nhường ngôi năm 1125. Huy-tông lên ngôi Thái-thượng-hoàng. Năm 1126, trời lạnh đến nước sông đặc thành giá, binh Kim – Phiên thừa dịp tràn qua nước Tống, độ binh qua Hoàng-hà, đến gần Khai-phong-phủ. Thế giặc dữ quá, Huy-tông phải chạy xuống Trấn-giang, trên sông Dương-tử. Quân Kim bắt Túc-vương Triệu -Xu về làm con tin, mới chịu rút lui. Huy – tông trở về triều, đày Thái – Kinh xuống cù – lao Hải Nam, nhưng dọc đường Thái – Kinh từ trần.

Tống Huy-tông, chưa biết binh Kim lợi hại thế nào, chẳng lánh thì chớ, lại sai binh rượt đánh tập hậu, ấy là công khai bội ước và tự chiêu kỳ họa. Quân Kim đùn đùn nổi giận, quày đầu trở lại, Tống binh đại bại.

Vua Tống hạ mình tạ tội, nhưng đã muộn, Kim buộc Tông-đế Khâm-tông và Thái-Thượng-Hoàng Huy-tông nạp mình và cũng bắt luôn vừa hoàng thân quốc thích, vừa văn võ quan viên hơn ba ngàn người, giải về Phụng-thiên-phủ (Kiết-lâm).

Khâm-tông, lên ngôi năm 1125, nhưng kể từ 1126. Đến năm 1127, bị Kim bắt về Phiên-quốc, cầm tù một chỗ với Huy-tông và đến năm 1156, mới từ trần, thọ 61 tuổi.

Nhà Bắc-Tống (960-1127), tuy tổ chức binh – bị kém, nhưng văn-hóa, triết-học, lên rất cao. Nghệ thuật chế tạo đồ gốm, đồ céladon, đồ độc sắc (monochromes) đều lên đến tuyệt đỉnh, các đời sau không theo kịp.

Nam Tống (les Song du Sud) (1127-1279).

Thái-tử Triệu-Cấu, con thứ 9 của vua Huy-tông, cũng bị binh Kim bắt đem về Phiên-quốc, nhưng trốn được về Nam, bay ngựa qua sông Dương-tử (huyền thoại để tuyên truyền thuở ấy cho đồn ông có bá linh phù trợ, nên có tích « nê-mã độ Khương-vương », con ngựa ông cỡi qua sông Hoàng-bà, qua được rồi thì rã rớt ra thành đất cục, vì là ngựa bằng đất thờ trong miễu, nhờ phép linh biến ra thần mã độ ông qua sông lớn). Đến Nam-kinh, ông tức vị xưng Cao-tông hoàng-đế (1127-1162). Đến năm 1162, ông nhường ngôi cho con, và còn sống thêm cho đến năm 1187 mới từ trần, thọ 81 tuổi. Năm 1138, định đô tại thành Hàng-châu. Năm 1135, được tin từ Bắc-Phiên cho hay Huy-tông đã mất. Đến năm 1142, cốt hài tiên đế và của hai bà Tống-hậu, được đưa về Trung-hoa mai táng. Vua Khâm-tông vẫn bị sanh cầm trên cõi Bắc, mãi đến năm 1156 mới từ trần.

Muốn biết các việc xảy ra đời này, xin xem bộ Thủy-Hử và bộ Nhạc-Phi diễn-nghĩa. Để giúp tài liệu đích xác, đây là vài chi tiết đã thấy trong sách Pháp:

– Nhạc-Phi, đầu phe chủ chiến, bị Tần-Cối sai giết tại Phong-ba-đình, năm 1140, (thọ 39 tuồi);

– Ngột – Truật (Ou-tchou), địch thủ của Nhạc- Phi, nguyên-soái Kim-Phiên, mất năm 1148;

– Tần-Cối (Ts’inn-koei), cầm đầu phe nghị hòa, chết năm 1155.

Từ nhà Tống dời đô về Nam, Trung-quốc ở vào thế người bại trận, vì binh Kim lấy mất phân nửa giang-san miền Bắc. Trong miền Nam lại chia ra hai phe rõ rệt:

a) phe chủ chiến, cầm đầu là Nhạc-Phi. Nhưng đánh thì bất phân thắng bại, vì vừa thắng thế thì bị triều đình, do Tần – Cối ăn của hối bên Phiên, làm mất cơ hội tốt: lương thực tiếp tế không đúng thời, tướng giỏi bị kiều-chiếu đòi về bắt giết, …

b) phe nghị hòa, cam đầu là thua -tướng Tần-Cối, theo truyện Tàu, là nịnh – thần, ham ăn hối lộ của Kim-

Phiên đút lót, quyết lòng mãi quốc cầu vinh. Nhưng trong sách Pháp, thì đấy là nhóm chiến bại, gồm bọn làm giàu về mễ cốc, về tơ lụa, muốn nghị hòa với Phiên, bỏ phứt Bắc-kinh là kinh-đô xa xôi, chỉ giữ kỹ miền Nam lấy Hàng-châu làm đô, tức là bọn kinh tài tư bản, chỉ biết sự nghiệp tiền bạc làm trọng, không thiết gì quốc – gia bị chúng chia cắt.

Vì thế, trong nước sanh ra chủ nghĩa yếm thế, mặc cho đời, tởi đâu hay đó.

Sở dĩ Nhạc – Phi bị hại, một phần cũng tại hay tỏ ý muốn một hai đánh thấu lên Bắc-Phiên, rước nhị đế về, – mà như vậy Cao – tòng đâu còn làm vua được, – hai nữa, tánh Nhạc-Phi thích kết giao với các tướng về hàng để đồng lòng trừ giặc, nên bọn nịnh sàm tấu làm cho Cao-tông nghi ky, nên Tần-Cối giết tướng giỏi mà vua giả bộ không hay.

Đạo yếm thế là do đạo Lão chủ trương. Văn chương yếm thế là văn khóc mây bay thương nước mất, tìm cao siêu trong chút dư vị thanh thanh của trà. Vì đó sanh ra thú hay nghệ thuật uống trà. Mỹ-thuật cũng yếm thế, luyện cho được cái biến hóa bất thường: đồ từ khí đẹp như ngọc chuốt (céladon, monochromes), không đẹp thì kỳ hình dị tướng (chén trà đất nung, bình tích da chu, bầu rượu dị hình, hoặc bị lửa già nên đổi dạng, hoặc kinh niên nên trỗ màu biến sắc, hoặc nứt rạn khác thường … Kiểng vật thì ưa phong cảnh đẹp tươi, hoa kiểng thì thích uốn nắn cụm trúc hóa long, cây mai chiếu thủy. Thuật yếm thế tuy vậy có chỗ hay vì đã đem một sinh lực khác thường vào văn hóa Trung-hoa quá cũ kỹ.

Đạo-gia, tu-sĩ, triết-gia, ai ai cũng đều muốn thoát tục. (Vì thế ngày nay tôi muốn đổi lại, không nói chén trà Đại Tống có từ Tống Thái-tổ, mà muốn nói chỉ có từ dời đô về Nam, lấy đất sét đen và nặng của vùng Phước-kiến chế ra, nên cũng gọi « kiên » là chén trà màu lông thỏ tôi đã kể năm 1960. Cho hay, trong nghề khảo cổ, được phép viết lập luận lại nếu mình thấy sai sự thật, miễn sao đừng lấy nai làm ngựa, và đừng uốn sừng sửa xoáy, phải thấy sao nói vậy và từ khoảng 1960 đến 1971, kinh nghiệm cho phép tôi trình bày một cách khác hơn năm 1960, chung quanh câu chuyện « từ chén trà Đại Tống, đến tích trảm Trịnh-Ân ».

Một mấu chốt khác tôi tìm ra là nhơn đọc bộ « Cảnh-Đức-Trấn đào-lục » (Tập 5) tôi thấy có câu: « Quan Đại-phu Thiệu-Thành-Chương (Chao-tch’ing-tchang) khi theo vua về Nam, ông muốn gây dựng cổ tục phương Bắc, nên dạy xây lò hầm đồ gốm trong « Nội-Phủ », chế ra một loại gốm gọi « Nei-yao » (Nội-diêu), gốm nầy dùng đất sét chọn lọc và chế tạo công phu, không thua đồ gốm Bắc-Tống ».

Nếu vậy, danh từ « đồ Nội-Phủ » có lẽ phát sanh từ Nam-Tống phải không?

Nhơn tiện, tôi xin trả lời cùng ông Nguyễn-Văn-Thư, rằng: «sở dĩ đồ Tống tìm gặp ở Thanh-hóa, nhẹ hơn đồ

Tống-diêu làm ben Trung-quốc, va đều rạn «mạng nhện », màu da trắng ngà (B.K. 92 ngày 1-11-60), Nguyễn-quân gọi đó là «đồ Tống Thanh-hóa », theo tôi, gọi làm vậy cũng được, nhưng muốn đúng thời gian, ý tôi muốn gọi đó là « đồ gốm do người di-thần đời Tống về làm tại Thanh-hóa trong khoảng 1279-1368, vì khoảng ấy Trung-hoa bị quân Mông-cổ (nhà Nguyên) chiếm, nên họ kéo về Thanh-hóa lánh nạn, đến năm 1368, nhà Minh dẹp được quân Nguyên, đuồi về Mông-cổ, thì đám nghệ sĩ di-thần nhà Tống cũng rút về Tàu, vì đã phục hồi độc lập được rồi, cho nên từ năm 1368, ta không thấy vùng Thanh – hóa chế tạo gốm post – Song (hậu Tống) này nữa. Việc gốm nặng hay nhẹ, mỗi người mỗi « cân » theo ý riêng, không thành vấn đề, bài nầy viết trả lời Nguyễn-quân sau mười năm cách mặt là để nhớ nhau, chớ không dám làm cho giận.

Tống Hiếu-tông (1163-1189). – L’empereur Hiao-tsoung.

Vua Cao-tông trị vì đến năm 1162, thì nhường ngôi cho con, và tiếp tục sống đến năm 1187 mới mãn phần, thọ 81 tuổi. Vua Hiếu-tông, rất tôn súng Khổng-giáo, nhưng nghe lời Nho-sĩ, đánh thuế thầy chùa và đạo-sĩ, chỉ làm mất nhơn-tâm, vô ích.

Năm 1189, ông thoái vị và mất năm 1194, thọ 68 tuổi.

Tống Quang-tông (1190-1194). – L’empereur Koang-tsoung.

Năm 1189, Hiếu -tông nhường ngôi cho con (xưng Quang-tong), để lên làm thái-thượng-hoàng. Quang-tôngtức vị, lại không thuận thảo với thượng-hoàng, vua cha và hoàng-đế không hề thấy mặt nhau cũng vì hoàng-báu, họ Lý, phao vu tin đồn thượng-hoàng-tiếc hối, muốn thuốc vua đề lấy ngôi báu lại. Bà Lý-hậu nầy, nước ghen không chỗ nới. Sử chép có một bà phi một hôm dâng rượu cho vua được vua khen có hai bàn tay xinh tốt; qua bữa sau vua nbận được của Lý-hậu một hộp dâng đồ ngự tiến: mở ra xem thì đó là hai bàn tay ngọc của bà phi vô phước có chồng là một ông vua mắc chứng sợ vợ. Năm 1194, thượng-hoàng Hiếu-tông đau nặng, Quang-tông giả cớ cũng đau nên viện lẽ ấy không đến viếng thượng-hoàng. Đến khi Hiếu-tông băng, Quang-tông không đứng chủ tang, để cho thái-tử, 27 tuổi, thay thế. Bà Thái-hậu đã ghét sẵn, lấy cớ nầy, hài tội bất hiếu của Quang-tông mà truất ngôi tôn. Thái – tử có công đứng chủ tang thượng – hoàng, nay được nấy trao quyền bính, ấy là Ninh-tông.

Tống Ninh-tông (1195-1224). – L’empereur Ning-tsoung.

Ninh-tông lên ngôi, nhưng cũng không được thấy mặt cha là Quang-tông. Năm 1200, Lý-hậu từ trần. Chừng ấy cha con Ninh-tông mới diện kiến nhau, nhưng chẳng bao lâu thì vua cũ Quang-tông nhắm mắt lìa đời.

Năm 1204, Hàn Đà-Tru (Han-l’ouotcheou) tâu vua xin với phong Nhạc-Phi và làm tội Tần-Cối.

Năm 1206, Hàn Đà-Trụ mật sai chỉnh tu binh mã, dự bị phạt Kim, nhưng cơ mưu bại lộ, binh Tống vừa ra quân, binh Kim đánh thua xiểng liểng. Năm 1208, Hàn Đà-Trụ bị xử trảm, đầu lâu bị lấy ra khỏi hòm, bêu giữa chợ rồi gởi nạp vua Kim. Tần – Cối, chết năm 1155, lại được phục vị như cũ. Năm 1206, bên nước Kim, Thiết-mộc-chơn (T’ie-mou-tchenn) (Temudjin), tức vị xung đế xứ Mông-cổ. Ông này có nhiều tên để lại trong sử sách: Thành – Cát – Tư – Hãn (Tch’êng- ki -seu – han), (Djenguiz khan, Gengis-khan, le Khan des Forts), tên khác nhau nhưng người vẫn một. Yelu-tch’outs’ai, quân sư của Thành-Cát, có nói một câu bất hủ, theo Pháp-văn, là nhu vầy: «C’est en chevauchant que vous avez conquis l’empire; c’est en l’organisant que vous le conserverez ». (Bệ-hạ ngồi trên lưng ngựa (nhiều công hạn mã) mà gây dựng nghiệp-đế; nay muốn giữ đế-nghiệp cho vững bền thì phải ra công sắp đặt trong ngoài cho có trật tự, mới được).

Yelu-tch’outs’ai (Du-Lục-Sở-Tài), mất năm 1243, làm tôi được hai triều, quân sư của Gengis-khan và của Ogotai. Khi lâm chung, có người dèm pha nên bà hoàng-hậu nhà Nguyên, la reine Tourakina, sai khám xét dinh-thự, thì chỉ thấy vỏn vẹn một cây cithare (một loại luc-huyền-cầm), còn sách vở thì không biết bao nhiêu mà đếm. Du-Luc-Sở-Tài để lại ơn lớn cho quan lại nhà Tống. Không thì bọn này đã bị tàn sát hết rồi. Lão thông Hán-văn, ông từng tâu với Nguyên-chúa Ogotai, rằng: «Muốn giữ vững nền cai trị cõi Trung-hoa, thì phải tín dụng bọn Nho-gia và dung dưỡng đám Nho-thần. » Lời nói có nhân đạo ấy vừa giải nguy cho bọn di thần nhà Tống, vừa đặt ấn triều đại mới trên lãnh thổ Trung-nguyên. Cái gì có hại, cũng có lợi một bề nào. Đó là luật bù trừ. Nhờ Mông-cổ là dòng du-mục, xâm chiếm Trung-hoa, mà mỹ thuật, âm nhạc và văn hóa của nước Tàu cũng chịu ảnh hưởng một phần nào. Đồ sành da trắng vẽ men lam, có lẽ là do binh Nguyên đem sang Trung-hoa.

Tống Lý-tông (1225-1264). – L’empereur Li-tsoung.

Vua này nối ngôi Ninh-tông. Năm 1237, vua truyền chỉ các trường phải dùng bộ sử ký Tư-mã Quang (le Miroir historique de Seuma-koang), làm sách học. Bộ sử này Châu-Hy dọn lại. Nhưng việc làm của Lý-tông, tai hại nhứt cho vận mạng về sau của nhà Tống, là liên hiệp với Nguyên để tiêu diệt nước Kim; thế ba chân vạc: Tống-Nguyên-Kim không thủ, nay làm cho Kim mất, dè đâu Tống cũng không còn. Sơ khởi, binh Nguyên mượn đường nước Tống, để tiến quân đánh Kim. Tống không cho. Nguyên cứ kéo binh tràn qua

Trung quốc đến giao chiến với quân Kim, kế hai bên nghị hòa. Sau đó, Mông-cổ sai sứ qua xin Tống hiệp binh đánh Kim, chuyện này Tống nghe theo … Nước Kim vi vậy, mất năm 1234, tính ra được chín đời vua, trị vì 120 năm. Từ đó Mông-cổ càng ngày càng thạnh, năm 1237 kéo quân sang đánh Âu-châu, rồi đánh Cao-ly và đánh Tống. Năm 1251, Mông-kha lên làm Đại-Hãn, sai em là Hốt-tất-liệt (Koubilai) bình nước Đại-Li (Ta-li), trước kia gọi Nam-Chiêu (Nan-tchao), rồi bình vùng T’ou-fan (Tho-Phồn), Tây-tạng (Tibet), đến năm 1255 giao tranh cùng nước ta, Giao-Chỉ. Năm 1260, Koubilai tức vị xưng Đại Chúa khắp Mông-cổ (Grand Khan). Cũng từ đây Mông-cổ đổi lại xung Đại-Nguyên (Yuan).

Tống Độ-tông (1265-1274). – L’empereur Toú-tsoung.

Kế vị cho Lý-tông là vua Độ-tông. Ông rất tôn sùng

Khổng-giáo. Năm 1267, bổn thân đứng chủ tế đức Khổng-Tử. Năm 1274, Độ-tông băng.

Tống Cung-đế (1275-1276). L’empereur Koung-ti.

Khi lên ngôi, Cung-đế vừa được năm tuổi đầu. Kế bị Mông-cổ bắt và giam cầm tại Hàng-châu một lượt với bà

Thái-Hậu (la Regente) và các hoàng tộc. Trạng-nguyên Văn-Thiên-Tường (Wenn-t’iensiang) sau làm Thừa-tướng, tận trung cùng Tống, phò hai vị hoàng tử chạy về Phước-châu (Fou-tcheou), và lập hoàng-tử lớn, vừa được tám tuổi, nối ngôi. Đó là Đoan-Tông.

Tống Đoan-tông (1276-1278). – L’empereur Toan-tsoung.

Đoan-tông không làm gì được, phần tuổi bé thơ, phần vận nước đã suy vi, vô phương cứu chữa; thêm  Koubilaï khôn khéo, biết thừa cơ hội, dựng đạo Lão, Thích ngang hàng đạo Nho, đặt người cầm đầu Lão-giáo, Thích-giáo, chống Khổng-giáo do Tống đặt làm quốc giáo. Năm 1274, gần Hàng-châu, hòn Thiên-mẫu-san (T’ien-mou-chan) bỗng gãy sụp một góc lớn. Nhơn đó, người mê tín bàn rằng vận nước Tống đã đến lúc mạt vận. (Nên nhớ do núi nay, người Nhựt đặt tên các chén do họ chế tạo nhái chén Tống là Temmoku). (Sách The ceramic wares of Siam của Ch. Nelson, tr. 34 dịch Thiên-muc-thủ (Tem-moku-te), tưởng nên đọc theo thuyết sau). Năm 1278, Đoan-tông băng, tuổi vừa mười một.

Đế Bính (1278-1279) .- L’empereur Pìng, dernier roi des Song.

Nước Tống đã hết thời, đến đỗi có một tăng nhơn tên Dưong-liễn-trinh-gia (le bonze Yang-lien-tchenn-kia), lưu manh đào quật cả thảy 101 lăng tẩm các vua nhà Tống chôn tại Thiệu-hưng-phủ (Tchaohing-fou).

Năm 1279, một đại thần ôm vua Đế Binh nhảy xuống sông, nhà Nam Tông dứt.

Kết luận. — Nhà Tống trị vì ba trăm hai chục năm, gồm:

– Bắc-Tổng, đô là Khai-phong-phủ: 9 đời vua, trị vì 167 năm (960-1127);

– Nam-Tống, đô Hàng-châu, 9 đời vua, trị vì 153 năm (1127-1279).

Nếu luận về tài cai trị, thì quả đời Tống, vua và quan, phần đông không biết sắp đặt việc nước. Cái họa mất nước bắt đầu từ trái lời Thái-Hậu, không luân phiên chọn người lớn tuổi và thông minh làm vua, lại để vua bé thơ giữ ngôi báu, khiến cho ninh thần lộng hành, lại thêm lựa thuyết yểm võ tu văn, đến lúc hữu sự, trước nạn xâm lăng, cây bút lông không thay cây kiếm sắt. Nhưng luận về các phương diện khác, triết lý, văn học, mỹ thuật, nghệ thuật, nghề điêu khắc, chạm ngọc, chạm ngà, chạm gỗ, làm đồ gốm, Nho, Thích, Giáo, đua nhau nảy nở, gây một tiếng dội rất lớn khắp hoàn cầu, đến nay tiếng dư âm vẫn còn chưa dứt. Ngày nay, đồ gốm Tống, nhứt là đồ celadon, các hũ đựng cốt, tranh đời Tống, ngọc cổ, đồ sơn mài, chữ đại tự Tổng, v.v .. , để tiếng thơm cho đời Tống, chứng minh đến ngày nay, với khoa học hiện đại, các nước Âu-Á-Mỹ, vẫn chưa theo kịp. Có thể nói từ khi gay chiến với Khiết-đơn rồi Mông-cổ (Kim và Nguyên), mà có sự trao đồi nghệ thuật văn hóa: ảnh hưởng nước ngoài nhiễm vào Trung-quốc không ít. Nếu Huy-tông xa hoa, ham chơi ngọc, thì nghề chạm ngọc tự nhiên được nâng cao. Bởi Huy-tông ham đá cầu, ham vẽ tranh mà trong nước biết trao giồi các môn ấy. Nghệ thuật Bắc-Tông có vẽ đoan trang thêm đượm màu Nho-Thích. Từ Cao-tông di đô về Nam, các đạo sĩ trong núi tìm được nhiều giống trà, nên có nghề trồng trà, nghề làm chén trà và thú uống trà được nâng lên làm một nghệ thuật, hơn nữa làm một đạo thuật (như ngày nay người Nhật-Bản còn truyền giữ), quả hoàn cầu thọ hưởng văn minh đời Tống không ít. Nghệ-thuật Nam-Tông chuộng và gần Nho-Lão hơn đạo Thích. Nhưng chuộng văn đến quên việc võ, quên sự phòng bị biên cương, tập luyện quân sĩ, thì cái hại mất nước đã kề, và cái triết lý yếm thế, đóng cửa tham thiền, không đủ ngăn giặc dữ bên ngoài. Rồi dữ lắm cũng phải có ngày tàn, luật thiên địa tuần huờn là như vậy.

Sau Tống, nhà Nguyên trị vì Trung-hoa chưa đầy một trăm năm, thì vì nhiễm văn minh của nước bị chiếm, mà bị nhà Minh đuổi trở về vùng du-mục.

21-3-1963/2-11-1971

Lời bàn thêm. – Theo quyển «Céramique ancienne de l’Asie » của ông Fujio Koyama (do bà Daisy Lion-Goldschmidt dịch ra Pháp-văn), thì tác giả Nhựt định đồ gốm Bắc-Tông chịu ảnh hưởng của Khổng-giáo (xem đồ bản ở sau) và đồ gốm Nam-Tống, trái lại, chịu nhiều ảnh hưởng của Phật-giáo (tr. 64 sách dẫn thượng). Thuyết này, các chuyên gia Âu-châu cho quá thiên về bí truyền, bí giáo (ésothérique) và không công nhận. VHS

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Bài 8

Không Gian,

Với Bằng Hữu,

Không là khoảng cách.

Từ chuyến đi ngắn hạn một vài ngày, trong tuần, với chiều rộng dăm tiểu bang, mà thật sự cũng hơn hai vòng Việt Nam, nam-bắc ra vào … Người Lính Viết Văn dần dà dự phần vào tầm cỡ suốt hai trục Đông-Tây, Nam-Bắc quả đất, dầu không hề chuẩn bị. Anh chỉ có thể đi lên chiều cao, rộng kia từ một lực yểm trợ có thật, bất khả thay thể – Vòng Đai Bằng Hữu toàn thế giới. Anh hiện thực nên thành một Người vui sướng sống động ngay nơi đời sống nhiều khắc nghiệt khó khăn nầy. Anh cũng chứng nhận ra nỗi huyền nhiệm mà đã nhiều phen ứng xử nơi vũng lửa, tràn bóng tối tù ngục- Điều cảm động bừng bừng ấy là: Khi anh sống hết lòng cùng Bạn- Bạn ắt cho lại toàn phần chân thật. Bạn gọi Anh: Anh tới. Tự nhiên như sóng, như gió … đâu dây là bài viết của Hai Người Bạn- Người tận hai dầu địa cực, chưa hề gặp gỡ …. Nhưng không nề gì …

CHUYỆN, NGƯỜI LÍNH BỊ NÉM ĐÁ, HAI LẦN.

* BÙI XUÂN VŨ- Sydney, Australia.

Dù khá muộn màng, tôi vẫn viết những đề tài có liên quan đến người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trước hết, viết để vinh danh công việc của họ đã làm cho quê hương Việt Nam; kế đến, viết vì lòng ngưỡng phục và biết ơn họ. Từ nguyên ủy này, tôi đã viết về Cương, một người lính, bạn cuả tôi, tuổi đời tuy còn non trẻ, nhưng sức sống của anh đã trổi vượt lên trên sự chết với Một Bản Án. Anh là một biểu tượng cuả Người Lính Trẻ Việt Nam, dám đem tim gan mình thách đố với cuộc cơ cầu của non sông. Anh đã kháng lệnh đầu hàng và quyết không rời tay súng. Hơn thế, anh đã tiếp tục chiến đấu, tiếp tục hiện thực giấc mơ tìm ngày Hòa Bình cho Việt Nam. Súng đã nổ rền vang giữa đêm Giao Thừa mùa Xuân năm 1977, khơi dậy niềm tin, nỗi ước mơ dù mong manh trong những đôi mắt đứng tròng trước cơn bão loạn màu cờ đỏ đang đè nặng trên quê hương. Vào lúc ấy, những đôi mắt trắng trông chờ kia, thêm một lần hăm hở bàng hoàng, vội chắp đôi tay, cầu mong sự an bình cho người đi làm sứ mệnh và khấn nguyện cơn quốc nạn sớm chuyển mình để người người đón nhau về trong ngày hòa bình thật sự cuả quê hương.

Đến sáng hôm sau, một bản án tin về … Huyện Ủy Thống Nhất (Trãng Bom, Biên Hòa) thuộc Tỉnh Đồng

Nai đã bị bắt và bị kết án treo cổ. Xác hắn treo lơ lửng trên cành cây cao su cách huyện không đầy hai trăm

thước. Trớ trêu thay, định mệnh ác độc, tháng Sáu cùng năm, Cương bị bắt. Sang mùa Xuân năm sau, Cương tự kết liễu đời mình trong ngục cải hối ở Tân Hiệp, Biên Hòa. Rồi đến Nguyễn Quý Cương, một người lính và cũng là thầy của tôi trong lớp áo người phu xe! Có lẽ thầy Nguyễn Quý Cương không phải là người xa lạ với Tiểu đoàn 52 Biệt Động. Nghiệt ngã thay, thầy tôi đã trở thành một người phu xe sau ngày đổi màu cờ, thay sắc áo. Và còn nhiều nữa, những người lính bên giòng sông Ba, trên một đoạn đường.! Đến hôm nay, tôi lại được thôi thúc phải viết về một chuyện có lẽ không vui như một việc chẳng đặng đừng:

“Chuyện Người Lính Việt bị Người Mỹ gốc … Việt ném đá trên nước Mỹ!”. Thật ra, sự kiện Người Lính Việt Nam bị ném đá không phải là điều quá lạ. Ngay sau ngày họ mất toàn bộ môi trường chiến đấu, tan tác ước mơ hoài bão cho ngày toàn thắng cuả quê hương, thì họ đã không còn, dù chỉ một lối về. Họ như cánh lá lìa cây cành …

Ngửa lên chỉ thấy trời xanh ngắt

Cúi xuống ta nghe giọt lệ đầy

Và họ biết tìm đâu một ước hẹn, tìm đâu một con đường để nối kết niềm tin?

Mảnh tình này, ta không xé sao vội rách,

Quân phục ấy, ta vốn mặc giờ lại tan!

Trên chặng đường long đong ấy, những Người Lính tìm lối riêng để tự cứu:

-Chào nhé, thôi vùng đất trắc trở,

Xa nhau, xin gởi lại một làn hơi!

Từ đó, đàn Chim Việt chia lìa, tan tác, lạc bầy. Riêng những người, mà cuộc đời của họ đã trải dài và kéo

căng cùng thống khổ quê hương, thì định mệnh lại thêm một lần chờ đón họ ở cuối đường nghiệt ngã … Những nhà giam mọc lên cùng khắp với vây bũa, đe doạ mũi súng. Cho rằng nước hết chiến chinh.

Riêng trên đất Bắc, vào những ngày trước khi đoàn tù Miền Nam ra đến, cán bộ cộng sản đã cẩn thận giáo dục nhân dân địa phương trò chơi biểu lộ lòng hận thù … Đất bùn được nặn thành những cục, phơi nắng khô, chờ bọn “lính Ngụy” đi qua … Ai ném nhiều và trúng đích sẽ được “biểu dương”. Theo đó, đám người đói, già, trẻ chen nhau, đứng chờ sẵn ven đường, bãi ruộng. Họ ngần ngại gì không ném vài hòn đất, cục đá để cán bộ tang cường “công điểm” thêm lưng chén gạo, củ khoai! Cuộc “chơi” toàn phần hứng khởi. Hòn đá, cục đất từ tay nhân dân ném đi, hẳn nói lên ý trời? Có ai ngờ, giữa lúc cán bộ cười rơi nón cối vì viên đá trúng vào bọn “lính Ngụy”, thì cũng cùng lúc hàng nước mắt đã vội trào ra, chảy xuống trên những gò má hom hem nắng cháy … Sao lại khóc? Ai không khóc khi thấu tận niềm đau! Ai biết họ đã vỡ nát niềm tin? Biết bao tháng đợi năm chờ … Những thế hệ người Bắc từ 1945, từ 1954 …Những tưởng có được ngày “người trong ấy” ra ngoài này … Ngờ đâu, những hình ảnh tả tơi trước mặt đã chứng minh một điều không muốn tin cũng phải nhận: Có lẽ lần này chúng không nói điêu: “ta” đã thắng trận rồi!! Từ đó, “viên đá học tập” kia biến thành “viên đá ngậm ngùi”, họ “uất hận vì “người Miền Nam” đã làm rụi tàn niềm mơ ước được tự do – Họ thống trách vì “trong ấy” không chịu thắng! Ai hiểu được lòng người đang chịu đựng cơn đau xé ruột kia?

Cùng lúc ấy ở Miền Nam, khi đoàn tù binh thất thểu đi qua, lẽ tất nhiên không có một viên đá học tập nào ném vào họ, mà chỉ những giòng lệ rơi không che dấu … Nước mắt của Người Dân có chung nỗi xót xa với Người Lính bị hạ nhục. Hỏi có Người Miền Nam nào khi qua Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nhìn thấy tượng Người Lính bị kéo đổ, gục đầu bên vệ đường mà long không nặng xuống? Hỏi có còn niềm đau nào, đau hơn cho người Dân Việt Miền Nam khi tượng hình chiến sĩ hằng lâm cơn khổ nạn. Hồn thiêng sông núi, anh linh người đã chết vì quê hương về đâu theo giông bão …

Linh hồn tử sỹ ở đây chăng?

Đất lạnh chôn đời bao dối giăng?

Tượng đá hôm nào ôm súng gác,

Ấm hồn kẻ chết những đêm trăng!

Tuy thế, những điều tôi đã viết, hầu như chỉ gói trọn trong màu cờ tổ quốc với thân xác của người đã khuất, ít khi tôi dám viết đến những người còn sống. Tôi không viết, không phải vì không muốn tán dương hoặc cám ơn họ, nhưng sợ ngòi bút làm hư đi hình ảnh …Nhưng đến hôm nay, có thể là một lần phá lệ. Tôi viết về người lính có thật, còn sống. Hơn thế nữa, Người Lính ấy đang cố sức đi nốt đoạn đường làm giảm nỗi đau cho hơn 70 triệu con người. Đường đi ấy có đến hay không, tôi không biết trước được, tôi không nói đến. Tôi chỉ nói những điều Người Lính ấy đã viết, đã làm …

Ngược dòng thời gian cách đây hơn ba mươi năm, người thanh niên ấy đã giã từ bút nghiên, dấn thân vào cơn bão lửa. Khi ấy, chiến tranh chưa lớn, chưa lan rộng, nhưng chắc lòng anh hẳn đã mang hoài bão … Anh là người nhỏ tuổi nhất trong hai trăm khoá sinh nhập Khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia? Mộng chẳng biết “lớn” thế nào nhưng ngày ra trường thứ hạng của anh “không nhỏ”– Anh đứng thứ 189 trên 191 sĩ quan mãn khoá. Đến khi bắt thăm về đơn vị, phải vất vả xin đổi chỗ Truyền Tin để lấy phần số Nhẩy Dù. Về Nhẩy Dù, anh những tưởng sẽ được theo cánh dù mà lên cùng rộng rãi trời cao. Nhưng thực tế, mặt đất đã làm anh kinh hãi bàng hoàng … Bạn bè chết không kịp chôn, đâu đâu cũng đàn kiến, lũ ruồi dậy lên theo mùi máu tanh, thịt cháy. Và tên người thì được ghi theo từng dấu địa danh … Những nơi đi không ngày về … Bình Đại, Đồng Xoài, Bình Giả … Những ai đang yên ngủ trong thành phố có biết chăng Dấu Binh Lửa đã ngập tràn trên quê hương với những đớn đau khôn cùng … Những dấu vết như dấu chân oan khiên, không phải của người lính mà mẹ già từ bãi ruộng trở về đạp trúng quả mìn trên bước đường trước mặt anh!!

Ở Việt Nam, có một con đường dài nhất-Đường Số Một, chạy dọc từ Bắc chí Nam. Đúng ra đấy là con đường nối liền, chuyên chở tình thương, ước mơ của hai miền và của lòng người. Nhưng không, nó bị chém đứt đôi, hằn lên nỗi hận hai bờ sông Gianh mới …

– Sông Gianh thiên tạo đã bao đời,

Tháng Bảy năm nào phải cắt đôi !

Ngó Bắc đau lòng xưa đất cũ

Nhìn Nam tan tác mới dân trôi!

Để rồi, Dọc Đường Số Một, trên đoạn đường khổ nạn ấy, tất cả những người Việt, không trừ ai, đều Dựa Lưng Nỗi Chết … Mỗi tấc đường ngấm một lượng máu khô. Những cũng đến một ngày, mẹ già, em bé được thông báo … Đã có Hoà Bình!! Câu hát đồng dao “Hòa Bình” chưa kịp cất, mẹ lại phải nghẹn ngào hai tiếng “Tù Binh”. Lần chiến tranh vừa qua trong buổi cầu kinh, mẹ thấp thỏm từng phút … Mẹ từng phút đợi con về. Sau chiến tranh, mắt mẹ thêm độ mù lòa vì khóc tiễn con lên đường lưu đày tù tội. Từ hoàn cảnh khắc nghiệt nầy, người lính chiến cũng đành xuôi theo vận nước nổi trôi. Mất đơn vị, bỏ gia đình, anh nhận lấy một tên gọi mới:

Học tập cải tạo!!

Còn lại gì cho kẻ chiến bại?

Những viên đá ném tới tấp lên anh. Anh hay người ném đá chịu đau hơn? Rất khó trả lời, chỉ thấy người tù binh cúi đầu lặng lẽ và thấy nước mắt hoen úa trên mặt người vừa tung viên đá khỏi tay. Vào trại giam, anh nhận thêm những điều cay đắng.. Tù binh được phân chia thành phần khác nhau … Đám đông hưởng quy chế chung, một mình anh hứng chịu riêng cách khắc chế tàn nhẫn khác … Cứ thế, ngày thêm dài và đêm tối vô cùng, vô tận. Cái chết luôn chực sẵn! Một trái bắp vừa cổ tay thường có từ mười hai đến mười bốn hàng, và mỗi hàng có trên dưới bốn chục hột. Theo đó, trái bắp có khoảng 600 hột. Người tù của tình trạng kiên giam được miễn đi lao động (còn có tên gọi khác, biệt giam, kỹ luật, tùy theo lối xử dụng từ ngữ của mỗi trại), được hưởng chế độ “đãi ngộ đặc biệt”, với tiêu chuẩn cơm bưng nước rót, ngày hai lần. Một lần, mỗi chén bắp được đếm kỹ, trung bình có từ 280 đến 300 hột, muỗng nước muối và một bát nước lạnh. Bữa nào quá 300 hột, phải được kể là lần “tiệc lớn”! Tuy thế, đói riết rồi cũng quen … Anh nhận ra điều cùng đành và người tù binh ấy không chết vì khẩu phần “tiêu chuẩn” này. Tuy nhiên, anh vẫn sống là vì còn nghe được âm thanh quen thuộc của những người đồng cảnh ngộ bên cạnh … Anh Còn Bạn … Anh Còn Sống! Anh còn sống để chờ dịp Tết. Chờ Mùa Xuân. Mùa Xuân của anh bắt đầu khi cánh cửa phòng kiên giam mở ra, viên trại trưởng theo thông lệ, bước vào nghiêm trang hỏi anh:

– Anh có khỏe không?

Xong câu hỏi thứ nhất, không một thắc mắc về hình hài như nắm xương của người tù. Gã hỏi tiếp:

– Anh có nhận được thư nhà không?

Cảnh thâm u hôi hám của phòng kiên giam thúc dục người nầy “hỏi mau”, không cần anh gật đầu chào hay trả lời … Gã tiếp câu thứ ba:

– Thôi anh vào nghỉ đi!!

Và mùa Xuân đã hết sau câu nói ấy, để người tù lại tiếp tục ngồi đếm từng hột bắp trong mỗi bữa ăn, chờ 365 ngày nữa … Một mùa Xuân tiếp sẽ đến! Anh qua đời tù mười bốn năm không kẻ hở. Cơn ác mộng những tưởng qua theo, quên đi với mười bốn năm khốn cùng kia … Nhưng không, khi trở về, đời sống có nhiều bất hạnh hơn anh dự tưởng. Tuy thế, nỗi đau trong thâm tâm người lính năm nào lại không biến thái nên thù hận. Trái lại, anh mở lòng, trang bị cho mình tâm thức mới- Tính NHÂN là sức mạnh lớn nhất Ở anh, rõ ràng người ta không hề bắt gặp một lần tức giận đối với những người ngày trước, từng ra oai, ký cho anh nhiều ngày phạt, những nhận xét hàm hồ,”sĩ quan kém khả năng … “. Thay vào đó, ngoài việc chấp nhận phần riêng của mình trong nỗi đau chung; anh không hề lên án, thúc dục thù hận. Và đối với những người một lần khác chiến tuyến, anh mở lòng thân ái, quên đi nhục khổ (mà những kẻ ấy, dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp cũng dự phần trong lần hành hạ anh của suốt mười bốn năm qua). Anh lấy cách chí nhân trả lời cho lòng oán hận! Anh xử dụng khoan dung (của người bị đánh giá là thua trong cuộc chiến) để đối với nỗi bất hạnh của người được coi là đoạt phần thắng lợi … Câu chuyện hai nhân vật anh chở trên đường khuya, từ cầu Ba Thôn, Lái Thiêu về ngã tư An Xương (Hai Người Lính Sau Một Lần, Đường Trường Xa Xăm).

Với bài viết này của anh, tôi nghĩ:” Chưa có một người nào chống Cộng rõ ràng, dứt khoát và khôn ngoan như anh. Trước kia, anh chống địch ngay trong lòng địch, cấp trên của anh không … thích. Kết quả anh nhận 60 ngày trọng cấm.

Lúc này, anh tiếp tục đường riêng … Đường của lòng Nhân, tính Thiện, cách Bao Dung của người Miền Nam để tha thứ, làm nhẹ đi một phần nào thống khổ của những: “Dũng sĩ diệt Mỹ, anh hùng quân đội nhân dân” của đang trên đường khất thực với cây gậy mò mẫm trong đêm thay cho đôi mắt … Quả thật, không mấy người làm được và chắc không ai có thể lên tiếng trách cứ anh? Trước nghĩa cử này, những kẻ mù trong chế độ cộng sản, dĩ nhiên không thể nhìn được, nhưng với những kẻ còn đôi mắt … Họ nghĩ gì? Họ sẽ tìm cách tẩy trừ những dòng chữ viết đậm nét kia của anh chăng? Hay họ sẽ tìm đủ mọi cách để xóa đi tội lỗi của bản thân trước phê phán lịch sử của dân tộc này?

Và khi ra khỏi nước, những người, theo một mẫu số chung, cùng chiến tuyến với anh, họ sẽ nghĩ gì và làm gì đối với anh? Hát bài ca tụng chăng? Chờ tí! Lý do:

Bài hát ấy chỉ dành riêng cho những người đi không trở lại như: Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Nguyễn Đăng Vỹ và Hồ Ngọc Cẩn … Một con số quá khiêm tốn so với cái tỷ số đông đảo đang còn hiện diện Như thế, làm gì có bài hát dư dật dành cho một … đại úy? Lại nữa, “ba cây-một người ty nạn- chụm lại”, đến đây rồi ai hơn ai? Ngày xưa thời, thế khác nhau; nay“ông”, ty nạn; “tôi”, một người lao động mất xứ sở và phải nương nhờ đất người … Ai hơn ai? Riêng về nỗi đau trong lòng … Cũng không biết ai đau hơn ai? Ông “làm quan” mất phần xôi thịt! Còn tôi dân đen, cũng mất mảnh đất, khúc ruột quê nhà!!

Thêm vào đó, năm năm, hoặc mười năm tù đổi lấy cái giấy H.O … Trong đời ai còn muốn nhìn ai? Người đi trước, tự cho mình cái “khôn ngoan” tài giỏi!! Kẻ đến sau, ôm một bụng thương đau! Ai sẽ nói chuyện với ai? Ai nhường ai? Chữ “tập hợp” đã đi đến chỗ tận cùng lối rẽ, không thể gặp nhau. Ai đứng ra nối lại vòng Và ai sẽ tin ai thực tình vẽ lại mảnh dư đồ? (ít ra là ở trong tâm nguyện?). Còn ai sẽ cho ai những cái mũ rớt bên đường? Nhưng trường hợp của anh, có lẽ là một ngoại lệ. Cái Dũng của anh đã vượt thoát ngục tù, xâm nhập vào thớ thịt, tấc lòng không những chỉ riêng bạn tù nơi nhà giam mà còn làm cho kẻ thù phải căm giận, phải khuất phục. Một chiến dịch lớn, cầm đầu bởi những “công thần văn hóa” … Chế Lan Viên, Tô Hoài cốt hạ nhục anh trong đợt học tập dài suốt 1978, trước ngày Tàu đánh Việt Nam. Sức mạnh Tính Nhân, nó không còn là một chuyện dấu kín trong lòng, nhưng giống như một ngọn đèn sáng đã đặt trên giá, để chính những kẻ cựu thù của anh cũng thấy lòng dịu đi …. Rồi đến Trí Lực, anh đã nhìn đến vận mạng của cả dân tộc hơn là nhìn đến một hoàn cảnh bi đát theo một góc độ riêng. Phải chi, tác giả của những quả cảm ấy, ngày trước có được một vài ông sao trên cổ áo. Hay hơn thế, cầm cái gậy tổng chỉ huy quân đội trong tay thì chả cần phải nói thêm nửa lời. Anh muốn nói dơi nói chuột cũng khối người nghe! Khốn nỗi, trên cổ áo anh lúc trước không có ngôi sao, và hào quang quanh anh chỉ có mấy cuốn sách thay vì cây gậy chỉ huy. Trong khi đó, tướng, tá trong quân đội ngày xưa còn nhiều. Họ chưa làm anh hùng, thì chừng nào mới “cho phép” viên đại úy có cả trăm ngày trọng cấm trong hồ sơ quân bạ? Bá Vương có khi nào nhìn ra Hàn Tín?

Anh bị ném đá như một điều tất nhiên! Phải, vì lần thứ nhất thì được coi như lẽ bắt buộc, nhưng quả thật lần thứ hai này nghe ra có nhiều xót xa quá. Xót xa vì người chủ mưu và kẻ dự phần ném đá anh rất mực hăng hái – Họ đã cùng anh chung chiến tuyến- Họ ném đá với danh xưng, chủ đích, tư cách …

NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

Viết đến đây, tôi không thể không đặt nên câu hỏi:

– Thứ nhất, những người chủ mưu và vận dụng cuộc ném đá nhà văn Phan Nhật Nam có những toan tính gì ?

– Thứ hai, những người này đã nhân danh việc riêng hay việc công để ném đá Nam?

Nếu vì việc riêng, cho tôi rút lại những câu hỏi này. Còn nếu bảo là “việc chung” thì xin quý vị hãy nghĩ và dừng ngay tay lại. Lý do, tuổi trẻ Việt Nam đã gần như thiếu cạn những tấm gương rọi sáng. Đã gần như khánh kiệt niềm tin trong những trò chơi múa rối của những ngày qua. Đến lúc này, quý vị lại tính diệt cho bằng hết một chút gì cần phải lưu nhớ nữa hay sao? Há những người chủ mưu trong vụ này không biết rằng, càng ném đá Phan Nhật Nam nhiều bao nhiêu, bọn Cục Tình Báo Hải Ngoại, bọn Phòng Phản Gián văn nghệ sĩ tại Sái Gòn, tại Hà Nội lại mừng bấy nhiêu hay sao? Nói như thế, tôi không dám nghĩ đến việc, người này, người kia trong nhóm ném đá, đã được học tập và chỉ đạo để ném đá Nam. Không tôi không nghĩ như vậy.

Tôi chỉ muốn nhấn mạnh: Phần ưu thắng của chính nghĩa đã đến mức phải báo động. Chúng ta đã quá nhiều nhầm lẫn với anh em ta. Những ngày còn giam Nam trong tù, người cộng sản Hà Nội đã từng nghiến răng trợn mắt, muốn ăn tươi nuốt sống anh, muốn giết anh đi để trừ cái họa về sau, nhưng không dám … Họ cũng đủ khôn ngoan để không cần thiết vấp phạm khuyết điểm trước lương tri, phán xét của những con người thế giới. Hơn nữa, họ đã có quyết định tập thể: Giam giữ có lợi hơn giết bỏ .. Và đó là một lý do duy nhất để những người như PNNam, như Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện được còn sống.

Đến hôm nay; quý vị, những người được coi như đã từng tranh đấu cho PNNam, đứng chung chiến tuyến với Nguyễn Chí Thiện lại bắt đầu ném đá vào Nam và bôi bẩn Nguyễn Chí Thiện bằng những luận điệu kiểu Nhật Tiến hay sao? Hỏi còn nỗi vui mừng nào lớn hơn nữa, mà những người này chưa dành cho tập đoàn cường quyền Hà Nội, là những kẻ đang ghìm chặt áp bức trên sinh mệnh khốn khó của toàn dân tộc. Chắc họ đang chờ ngày Bác Sỹ Nguyễn Đan Quế, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt đến đây. Họ sẽ kết thúc bài ca tranh đấu của những người chịu đựng khổ nạn với những viên đá kế tiếp hay sao?

Ném đi! Ném nữa đi! Ném để được trọn vẹn mối nghi nan, dố kỵ hung hiểm và hèn mạt … Tôi muốn hỏi những người ném đá khi tôi đối diện với Nam. Nhà Văn Người Lính Phan Nhật Nam.

Anh Phan Nhật Nam thân mến,

Không phải đến lúc này tôi mới biết tên anh. Nhưng biết ngay từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, trước cuộc bể dâu 30 tháng 4 năm 1975. Dĩ nhiên, lúc ấy, tôi chỉ biết anh qua những bút tích của anh. Phải chờ đến ngày 5-1-96, nghĩa là sau ngày anh bị ném đá lần thứ hai tại Mỹ khá lâu, tôi mới có hân hạnh diện kiến anh lần đầu tại nhà anh Đoàn Lưu Em, người cùng khóa Võ Bị với anh. Theo đó, sự biết của tôi về anh chắc không đầy đủ. Tuy nhiên, tôi vẫn quyết định viết về anh sau lần gặp mặt tình cờ này. Viết từ điều tôi đọc, thấy và nghe từ, của Anh. Tôi không có ý định viết để “ca tụng” anh, nhưng bởi nhiệm vụ (chẳng ai bó buộc ai) phải bảo vệ lấy “nghĩa đồng bào” và “niềm tin” cho tuổi trẻ … Những yếu tố cần thiết cho sự tự tồn vong bản ngã, tính chất Người Việt ở Hải Ngoại.

Có mây nào tụ mãi … Cũng thế, những kẻ ném đá anh rồi cũng tàn lụi vào bóng tối với nguyên trạng tốt hoặc xấu của riêng nó. Với anh, vấn đề có còn lại với thời gian hay không, không tùy thuộc vào những bài viết và những viên đá tung ra ấy-Nhưng từ sức vươn tới của anh. Đường trường tuy có xa xăm … và có làm anh mỏi mệt hay không thì chúng tôi phải chờ xem … Anh đồng ý chứ?