vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 6 Jan 2026

Bài 9
Nghĩ về Phan Nhật Nam
PHAN NHẬT NAM VÀ NHỮNG CHUYỆN CẦN ĐƯỢC KẾ LẠI
Thái Nguyên- Montréal, Canada
Phan Nhật Nam, người viết cuốn bút ký chiến trường nổi tiếng “Mùa Hè Đỏ Lửa”, ghi lại những câu chuyện bi tráng hào hừng của người lính chiến thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong trận chiến tàn khốc mùa hè năm 1972, với những tình tiết xoáy động vào tâm tư người đọc, đã đến thành phố Montréal vào một ngày mùa thu vàng úa, để nói chuyện về đề tài: “Tại sao người lính lại phải cầm bút”. “Người Lính” ở đây được dùng như một danh từ chung, nhưng nên được hiểu rằng không phải bất cứ một người lính nào đó, vì nghề lính đâu phải là nghề cầm bút, mà đấy là Người Lính Phan Nhật Nam, tự mang sứ mạng nói lên tiếng nói của cả một tập thể đông đảo lính, một tập thể luôn chịu đựng và chấp nhận mọi thua thiệt, mà không hề thở than, đòi hỏi một đền trả nào.
Montréal là chặng cuối trong cuộc hành trình kéo dài mấy tháng vừa qua mà Phan Nhật Nam đã đi như một tông đồ rao giảng, để tìm gặp “Người Bạn Đọc” mà Phan Nhật Nam đã ân cần dặn dò trong những dòng cuối của lời mở đầu cuốn sách mới xuất bản giữa năm 1995, “Những Chuyện Cần Được Kể Lại,” và một lần nữa được ân cần nhắc nhở trong cùng một vị trí của cuốn sách kế tiếp, “Đường Trường Xa Xăm, như một lời trần tình, một lời tâm sự thành khẩn nhất của “Người Viết Văn” mong mỏi tìm được “Người Bạn Đọc” để chia xẻ mối u uẩn canh cánh với mình:
“… Cuối cùng, Người Bạn Đọc – Xin tin cậy và thúc dục lòng thành cùng Người Viết Văn. Bởi một điều giản dị -Viết không người đọc thì viết làm gì?!!” Đó là những điều gì đã thôi thúc Phan Nhật Nam phải một mình một xe, vượt ngàn dặm“đường trường xa xăm” sau một thời gian ngắn đến Hoa Kỳ, vừa được tự do, thoát khỏi vòng kiềm chế của cộng sản, đã tiếp tục lại công cuộc tranh đấu lấy lại “danh dự xứng đáng cho người lính”, mặc dù tại các thành phố lớn đông người Việt như Houston, Santa Ana, một chiến dịch đã được dấy động lên để triệt hạ uy tín anh qua cái cáo buộc:
“Phan Nhật Nam nay đã chao đảo.”
Phan Nhật Nam không đi để ra mắt sách, để tìm kiếm thêm một chút danh vọng hão huyền, một chút lợi nhuận cỏn con nào hay để bào chữa chống lại một cái dư luận “chao đảo” bị gán ép. Phan Nhật Nam đã đi vì cần phải tìm gặp cho được những “người bạn đọc,” để nói về “những câu chuyện cần được kể lại”. Kể lại một cách từ tốn, không cần cường điệu hóa qua lời lẽ bài nói chuyện, cũng như cung cách trình bầy.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một tiêu mốc thời gian rất quan trọng trong lịch sử cận đại của Dân Tộc Việt.
Tầm ảnh hưởng của các biến cố liên quan đến ngày lịch sử này thật sâu rộng khôn lường, chỉ sau này người ta mới có thể thẩm định, khi những đám mây mù của phản ứng tình cảm nhất thời, cách nhận định chủ quan, cách được thổi tan đi … Lúc đó, những gì thuộc lịch sử sẽ được mưu đồ chính trị đen tối do quyền lợi phe phái thiển cận trả về “Thật Lịch Sử”. Nhưng các dữ kiện lịch sử nếu không được kịp thời ghi lại, sẽ bị mai một đi, thất lạc đi, bị trộn lẫn với các dữ kiện sai lạc, ngụy tạo khác. Sứ mạng một “người viết văn” là làm sao viết lại được một cách trung thực và đầy đủ, tuy phải nhìn qua cái lăng kính chủ quan của chính cá nhân mình. Nhưng các dữ kiện này vẫn đủ “khách quan tính” để tái tạo các giai đoạn lịch sử. Một trong những điểm quan trọng nhất để đạt được thành quả này trong tác phẩm là sự trung trực của người cầm bút khi ghi lại những biến cố cũng như các rung động tình cảm chân thành. Đây là đặc trưng luôn thấy được qua các tác phẩm vĩ đại của kho tàng văn học thế giới. Nguyễn Du đã cùng tâm tình và cuộc đời gian truân của nàng Thúy Kiều để nói lên tâm sự kẻ sĩ trong xã hội nhiễu nhương thời Lê Mạt. Leo Tolstoy với tác phẩm “Chiến Tranh Và Hòa Bình,” qua đôi mắt ngây thơ của Natacha, đã minh hoạ nên toàn cảnh nước Nga thời tao loạn khi vó ngựa viễn chinh đoàn quân bách thắng Nã Phá Luân Đại Đế ào ạt tấn công, chiếm đóng vào sâu đất Nga, nhưng sau cùng thảm bại vì mùa đông bang giá trên vùng đất tuyết bao la. Lịch sử cuộc nội chiến Hoa Kỳ được tái tạo dựng một cách sống động với
Thiếu mất 2 trang 232 & 233 trong bản Pdf
với cách nghịch ngợm phá phách. Phan Nhật Nam đã lao vào tìm kinh nghiệm sống bằng cách tình nguyện đi
lính lần đầu năm 17 tuổi, nhưng bị từ chối vì chưa đủ tuổi, và chỉ được nhận vào trường Võ Bị Đà Lạt năm sau khi tròn 18 tuổi. Phan Nhật Nam đã ghi lại “dấu binh lửa” còn hằn khắc trên tâm tư của mình:
“ … Tôi tự động hăng hái, hãnh diện để trở thành một sinh viên sĩ quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình hướng đi, một chỗ dưới ánh mặt trời.” Nhưng sau quyết định ảnh hưởng sâu xa đến cả cuộc đời, những giây phút băn khoăn vẫn thường xẩy ra trong tâm tư người lính trẻ,” … Đây cũng là một thời gian thật khủng hoảng, mỗi đêm nhìn về thành phố đầy ánh đèn tôi không ngủ được, tưởng như có tiếng gọi của đời sống bên ngoài quân ngũ đang nhắc nhở thúc giục, một đời sống thực sự mà tôi không có. Những lúc ấy, tôi thấy được con người thật của mình- Một gã trai trẻ vô định hướng …. “
Năm hai mươi tuổi ra trường, xông vào nơi chiến địa, để thấy quê hương oằn mình lên trong lửa đạn:
…. Sáng đổ trực thăng, đêm phục kích
Hàng dừa vun vút đạn găm ngang
Bom xối giòng sông lửa cháy tràn
Bờ kinh lạch suối vật mình than
Dân che tay nhỏ ngăn nhà cháy
Quân hai bên, đầm đìa máu loang,
Sau vài năm xông xáo thử thách mình, Phan Nhật Nam đã ngồi lại tự kiểm, tìm biện minh cho hành vi dấn thân của bản thân, nhưng có điều gì không ổn, có điều gì vô nghĩa, vô lý trong chiến tranh … “Năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba, tôi sống thoải mái, vì đã đi đủ, nhìn đủ. Tôi cũng chấp nhận về lần góp mặt để chấm dứt chiến tranh. Thắng bại không kể, nhưng cốt yếu không ở ngoài, không chạy trốn khi bạn bè, những người cùng trang lứa đang tham dự, đang ngã chết … Dù chết bên này hay bên kia, chết trrong thù hận hay chết trong tình cờ. Những người tìm cái chết để biện giải cho đời sống. Tôi tham dự vào cuộc hành trình khốn nạn này. Giải thích này cho tôi yên ổn”. Những thời gian kế tiếp, trực diện với cái chết, nhìn bạn đồng đội gục ngã hàng loạt trước mặt, anh tự hỏi số phận mình sẽ ra sao nếu lần đạn lệnh đi qua một chút. Giữa sống chết, con người như say cơn mộng ảo, hò hét, bắn giết trong phản xạ, bắn người để mình không bị bắn, để mình được sống sót. Sau trận chiến, tỉnh dậy như sau cơn ác mộng, chợt khám phá ra một con người lạ trong mình: “Như vậy là đụng độ lớn, người bị thương nằm la liệt ở dưới các rãnh dừa nước. Toàn đang đứng trong một giao thông hào chỉ trỏ quát tháo. Phía trái có tiếng lựu đạn nổ và lời hô xung phong. Trung đội tôi ép phải, hướng tiến bây giở thẳng góc với các con kinh nhỏ, nên chúng tôi chỉ có thể nhẩy từng bước thật dài trên bờ kinh … Một cái nhẩy hụt, tôi rơi vào đường mương cùng hai người khinh binh …. Tôi chửi mắng om sòm. Trung đội đến bờ làng dừng lại bố trí trông ra khoảng đồng trống. Ngồi dựa vào một gốc dừa, tôi thấy mệt vì phải quát tháo quá nhiều, nhớ lại lời chửi tục. Tôi đã thành một người lạ nào đấy.”
Những người lính bên này hay bên kia có chết đi thì cũng là lẽ đương nhiên, vì họ đã được trang bị và chấp nhận tham dự cuộc chơi ác độc và bất hạnh kia, nhưng những thường dân, phần đông người già, đàn bà và trẻ em là những nạn nhân oan nghiệt đau thương nhất … Chết không được biết nguyên do, sống với nhục nhằn sợ hãi:
Tên lính lanh lẹ bắn xuống một tràng Thompson, có tiếng rên khe khẽ.
– Lên không bắn nữa. Đưa tay lên trước …Tôi nín thở, một chiếc đầu bạc phơ từ từ nhô khỏi miệng hầm, ông lão bế bà lão lên theo. Vừa ra khỏi hầm ông lão chấp tay xá bốn hướng xụt xùi khóc lóc, bà lão nằm vật xuống, ở đầu có một vết thương. Đến buổi trưa, tôi hoàn toàn kiệt lực như một mũi tên rơi xuống cuối đường bay. Hình ảnh hai mái tóc bạc nhô lên từ miệng hầm; nét mặt hốt hoảng của hai tên địch chưa quá mười sáu tuổi lôi lên từ một đám bèo, một tên còn đang ngậm một búng cơm … Những hình ảnh đó bây giờ được cộng thêm cảnh chết của hai vợ chồng và ba đứa con ở trước mặt tôi. Họ chết từ ngày hôm kia, khi địch đặt bộ chỉ huy ở khu nhà thờ, cả gia đình trốn dưới cái bệ Thờ Chúa (Ất họ đã nghĩ rằng Cung Thánh là nơi sự Ác không được với tới) …. Tượng Chúa ngã nghiêng, tượng Thiên Thần vỡ tung tóe, hai bàn tay trắng bằng đất rụng lăn lóc trên sàn nhà. Khi tôi cúi xuống nhặt hai bàn tay này thì khám phá ra xác chết trên. Họ chết ngồi, hai vợ chồng ngồi sát ôm ba đứa con trước ngực. Họ chết vì sức ép nên thân thể vẫn còn nguyên vẹn, nét mặt in vẻ hốt hoảng. Tôi ra lệnh kéo xác họ ra sân.”
Thân phận yếu đuối của người đàn bà trong thời loạn ly thật đau đớn, xô đẩy họ chấp nhận số phận hằn sâu trong vô thức, được hình thành qua những động tác cùng đành khi đem thân thể hứng chịu nhục nhã, như là cái gia sản cuối để trao đổi cho được phần nhỏ sống còn, đã nói lên điều tận cùng vô nhân của chiến tranh:
“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chởng hỗn độn bốc khói xám … Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẳng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch, mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi vào, chị ta đứng dậy, đứng thẳng như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác. Tôi đi đến trước chị đàn bà ..
-Làm gì chị ngồi đây, không biết đánh nhau sao?
Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẳng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên, tôi đưa tay đón lấy … Hai bộ quần áo, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng giây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai.
…
Ê! Đi .. đi. Tên lính xua đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng. Chị kia quay lại đây tôi trả cái này … Tôi nói vọng theo. Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng bây giờ đôi mắt vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hoảng thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi … Chị ta còn trẻ lắm, khoảng trên dưới 27, 28 tuổi, da trắng mát tự nhiên, một tí tóc xỏa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú. Tôi đưa trả chiếc lẳng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẳng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc, song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta. Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bậc tam cấp. Khi nào tụi tui đi thì chị đi theo … Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ … Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa … Từ từ chị đưa tay lên hàng nút áo trước ngực … Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi … Người đàn bà hiểu lầm tôi.
Chẳng mấy chốc chiến tranh đã biến con người thành chai lỳ không còn cảm xúc, con người dần quen đi với bạo động, tàn bạo và điều chua xót nhất cho người trong cuộc là vẫn còn ý thức được tình cảnh thoái hóa trong con người của chính mình:… “Tám năm lính, tôi hai mươi sáu tuổi, số tuổi gần ba mươi, không bạn bè, xa bằng hữu, số tuổi với nỗi cô đơn kinh khiếp biến con người hững hờ, tàn ác như một lát dao. Tôi hai mươi sáu tuổi để thấy rõ cái mặc cảm phạm tội trước kia chỉ là một ảo tưởng xa xỉ của tuổi mới lớn, ảo tưởng về trách nhiệm con người đối với nhau … Sau tám năm ở lính, tôi hết là vùng đất để nghiệm và chịu ảnh hưởng. Tám năm ở lính để biết mình là một cánh chim tự do nhưng đã bị chặt cánh. Chính thương tích này đã làm sáng tở khả năng tự do bi đát của đời người.”
Ảo tưởng của người thanh niên nước Việt mang lòng nhiệt huyết dấn thân với hoài bão thực hiện những lý tưởng cao đẹp dần tàn lụi đi với thực tế phũ phàng. Tầng lớp thanh niên ưu tú dám nhập cuộc trở thành nạn nhân của chính ảo tưởng của mình, khi nhìn rõ được bản chất vô lý của cuộc chiến tranh ủy nhiệm, một cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam, Bắc của nước Việt, mỗi miền đều được khoác lên những chiêu bài to tát của những ý thức hệ ngoại lai và được thực thi bằng những người lãnh đạo mù quáng vì tham vọng cá nhân nên vô hình chung bị điều khiển từ bên ngoài mà có thể chính họ cũng không ý thức được. Do đó sự hy sinh của hàng triệu mạng sống thật là vô ích. Phan Nhật Nam đã trở thành con người nổi loạn chống lại những guồng máy đè chặt lên thân phận của con người. Và cả guồng máy đó đã được vận chuyển để nghiến nát cá nhân con người viết văn này.
Những năm kế đời binh nghiệp của Phan Nhật Nam lại còn xuống dốc thê thảm hơn nữa. Guồng máy quân đội đã được các cấp chỉ huy bất xứng dùng để đè sập xuống người viết nổi loạn này, Phan Nhật Nam bị bắt buộc rời khỏi binh chủng Mũ Đỏ, rời khỏi chiến trường sôi động để thành kẻ đứng bên lề, đau xót nhìn bạn bè đồng ngũ từ từ rơi rụng trong chiến trận của mùa hè đỏ lửa. Được đổi về một đơn vị an toàn có thể là niềm mong ước của nhiều người khác, nhưng đối với Phan Nhật Nam, đó là một vết thương không thể nào quên được .. “Trong một thoáng thật ngắn, tôi nhớ những ngày đầu vào lính khi nhìn những sườn đồi đất vừa vỡ tươi, sương núi bốc mờ qua rừng thông, chiếc tàu chậm rãi từ trạm Sông Pha đưa chúng tôi lên cao nguyên. Cảm giác năm xưa sao hào hùng say đắm. Tôi đi lính hay đi nhận nhiệm vụ huy hoàng và cao cả. Nhiệm vụ đẹp như định nghĩa rực rỡ của các Người Lính ngoại hạng – Người lính lý tưởng của Mac Arthur, De Lattre. Cảm giác năm xưa trở lại độc ác, sắc nhọn như tiếng bật khô se của kíp lựu đạn vừa mở. Tôi chỉ có trước mặt một anh “sĩ quan hương chức” cho những ngày cuối cùng binh nghiệp. Binh nghiệp, ai sinh ra danh từ sao cay đắng, sao “không là nghề mà là nghiệp” – Đúng, chỉ vì nghiệp dĩ mà ra.”
Mùa hè năm 1972, mùa hè kinh hoàng đỏ lửa bởi trận Tổng Công Kích của Bắc quân trên ba vùng chiến thuật. Ngòi bút của Phan Nhật Nam vẫy vùng bén nhọn ghi những cảnh địa ngục có thật trên trần gian xẩy ra những nơi chốn gọi là … Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị – Huế; tuyệt lộ Kontum – Pleiku với điểm chặn Chu Pao; đoạn đường máu và nước mắt An Lộc – Chơn Thành, Bình Long- Bình Dương … của người dân đau thương chạy loạn, nỗi bi tráng của người lính tuyệt vọng tìm đường sống trong cảnh chết tại những địa danh không tên, lần lượt được ghi vào quân sử như Dẫy Phố Buồn Thiu nơi địa đầu giới tuyến miền Trung, cứ điểm Charlie chốn rừng thẳm non cao dải Trường Sơn thăm thẳm, suối Tầu Ô trên con đường vào Bình Long để trở thành: “An Lộc địa, sử ghi chiến tích. Biệt Kích Dù vị quốc vong thân.”
Hòa bình giả tao năm 1973, chỉ là một giai đoạn xả hơi để lũ người cuồng tín sửa soạn cho một cuộc chiến mới. Năm 1975, địa ngục trần gian lại càng trở nên bi thảm hơn, kinh hoàng hơn với lần xâm tràn ngang ngược của Bắc quân, quyế định phủi tay của nước bạn “đồng minh,” và bày ra trọn vẹn ích kỷ tàn tệ của lớp người cầm quyền: Chiến tranh đã đi đến độ tận cùng của vô lý và vô ích với lần kết thúc vô vàn bi thảm của NGÀY 30 THÁNG TƯ 1975.
Sống thật với kinh nghiệm bản thân, từ những hoài bão vút trời của tuổi trẻ, những giây phút hào khí chất ngất xông pha nơi chiến trận, những lúc chứng kiến cảnh sinh ly tử biệt của người bạn đồng ngũ, tuy không phải ruột thịt nhưng thật quá hơn thân thiết, rồi những đau thương của người dân trong cơn bão loạn, và những đắng cay cho chính mình trong đời binh nghiệp không làm Phan Nhật Nam chối bỏ đời lính. Những kinh nghiệm này trở thành những chất liệu sống động cho ngòi bút và là lý do tại sao người lính Phan Nhật Nam lại cầm bút trước năm 1975.
“Trước năm 1975, viết như một cách giải tỏa uất hận, phẫn nộ – Do cảnh sống quá đỗi khắc nghiệt, tàn nhẫn của chiến trường vây chặt, tác động … Từ tuổi trẻ, qua những dòng chữ viết, tôi đã đặt nền móng đúng về một xác tín cao cả, bi hùng – Người lính đã chiến đấu cho Tự Do. Người lính đã chiến đấu với một mục đích tự thân -Chiến đấu bảo vệ phẩm giá con người.” Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, người lính thất trận bị bó thân trong tù đầy. Nhưng những lời trách cứ của dân chúng miền Bắc “Các anh đánh đấm ra làm sao để gây họa cho chúng tôi!” như những nhắc nhở khó quên. Sự giam cầm thể xác cũng không ngang bằng sự ray rứt trong tâm tư: “… Quả thật Người Lính Miền Nam đã đồng thời gây nên vô vàn đau xót không đường giải cứu, đánh vỡ toàn thể Hy Vọng Dân Tộc từ cuộc thất trận oan nghiệt của chính mình.”
Như là một cách tự thử thách sự kiên cường vào những điều tin tưởng của mình, Phan Nhật Nam đã chấp nhận sự hành hạ về thể xác và tinh thần của phe thắng trận lặng lẽ đi vào phòng kiên giam hơn nửa thời gian tù đầy 14 năm dài, tiếp tục chiến đấu giữa bóng tối: “Cửa phòng kỷ luật mở ra. Nhân bước vào. Cửa đóng lại. Phòng chìm trong bóng tối, im lặng ẩm mốc, không khí cảnh sắc của sự chết, nhà mồ. Thêm một cửa nữa được mở, cửa cuối cùng, và anh bước vào căn phòng, đúng hơn một cái hộp, dài hai thước, rộng khoảng một thước, cao ba thước, chiếc bệ đất tráng xi măng, phần cuối có thanh sắt chắn ngang bên trên lủng lẳng hai vòng cùm, hình chữ U. Nhân đút hai chân vào cùm, nằm xuống. Trời tháng Hai lạnh cóng, căn phòng sũng ướt như một hầm nước đá.
… Nhân nằm như thế bao lâu, không biết bên ngoài trời sương mù hay ửng nắng, trưa, chiều, tối, khoảng mấy giờ …Chỉ thấy tối mờ mờ lầy lầy, lạnh tanh và im lặng. Hình như chung quanh có âm động, tiếng nói nào đó …Thoảng nghe xa … từ xa dội lại. Đầu và chân mình ở hướng nào? Nhân cố gắng xác định nhưng nhưng vô hiệu. Những cơn mê ngắn nối tiếp giấc ngủ chập chờn và khoảng thức ngây ngây. Thân thể rất lạnh, cái lạnh dị thường từ thời tiết bên ngoài, lạnh giữa bốn bức tường thẫm tối và bên trong từ gan ruột, dưới lớp da. Lạnh khiếp sợ của thần kinh bị tê liệt, tổn thương, nhưng bên ngoài da thịt hầm hập nóng như lên cơn sốt, hai hàm rang dẫu nghiến chặt vẫn đập cầm cập vào nhau. Thôi, tất cả đã hết … Vậy ta cho xong luôn! Nhân quyết định đời sống bản thân ở bước chót – Nhịn đói để chết”.
Nhưng một sự việc xẩy ra đã làm người viết văn như chợt bừng tỉnh, nhự người đi trong hầm tối, chợt qua một khúc quanh thấy được ánh sáng cuối đường hầm, như một thiền sư luyện tập lâu năm gặp cơ duyên ngộ đạo khi chợt thấy được một việc ngoại thân xẩy ra:
“…Việc nhịn ăn quả tình không khó lắm khi đã qua hai, ba ngày đầu, những ngày sau Nhân chỉ có cảm giác trống rỗng, người như bay bềnh bồng giữa khoảng không.Nhiệt lượng trong người bốc ra hừng hực để giữ thân nhiệt ở mức cần thiết, chống chỏi, vượt qua cái lạnh kỳ dị. Anh chìm dần vào cơn mê mờ nhạt, lãng đãng, nhưng hình như các giác quan tinh tế, sắc sảo hơn. Và trong trạng thái tỉnh thức bất định này anh nghe vang vang một chuỗi âm động từ bên ngoài, nhưng cũng từ bên trong vang lên. Tiếng động bàn chân người dậm mạnh lên bệ nằm theo nhịp đi … “Bảo vệ làng thôn quân lực Việt Nam Cộng Hòa … Nhân dân chờ mong, không nề hiểm nguy …” Nhịp hát một lúc một phấn khởi, người hát như đang được thôi thúc bởi một nguồn sinh lực mạnh mẽ, tuy âm lượng không dấu nét mệt mỏi, cằn cỗi, tắt nghẹn ở những nốt cao, ngân. Và để bù trừ cho phần khuyết điểm này, người hát chuyển qua hành khúc quen thuộc “…Đường trường xa, ta quyết ta quyết đi cho đến cùng … Đoàn hùng binh say sưa trong gió reo vang …”. Đến điệp khúc “Đời đời Lục Quân Việt Nam …” thì lời hát đã thành tiếng hét vang dội, và không chỉ với bàn chân dậm trên bệ đá nằm mà nắm tay hình như đang xử dụng để đập vào vách tường thay nhịp trống, chêm giữa những âm sắc khắc nghiệt của tiếng cùm chạm lanh canh lên thanh sắt chắn ngang …
“Chào cờ! Nghiêm!! Này công dân ơi! Đừng lên đáp lời sông núi…” Tiếng hát vang vang tràn vỡ căn phòng trùm bóng tối. Người hát hình như đang tận dụng hết sức lực của cánh tay, bàn chân bị cùm để nâng cao, đẩy mạnh lên lời hát hào hùng phơi phới … Thanh âm, ngôn ngữ đã một lần vang dội Miền Nam. Của Việt Nam.
Những bàn chân rất đông người chạy rần rật (có vẻ đã chuẩn bị sẵn cho tình thế), cửa vào phòng kỹ luật bị tống mạnh, ánh sáng lùa vào … Những người tù đồng bật dậy, sắt cùm kéo lê xoen xoét, cánh cửa các buồng giam lay động … Hình như toàn phòng sẵn sàng chờ đợi diễn tiến sắp xẩy ra … Ầm! Một cánh cửa nào đó bị mở tung và âm động của xương thịt người trong cơn cấu xé, dầm dập … địt mẹ … cho mày còn hát được không nào … Đánh cho chừa thói phản động đi … Chen giữa tiếng chửi và chuỗi đòn thù, Nhân nghe lời thét gào đứt khúc,” … Các ông hèn … hèn lắm!! Hèn là thế nào … Mày trả lời đi … Đánh người đang bị cùm thì giỏi giang gì, đánh thằng già đang bị cùm thì còn hèn hơn … Mày già nhưng còn chống đối, mày ngu thì phải dậy cho mày khôn ra. Tiếng cười nhạt .. Ai dậy ai, mấy mươi năm các ông biết đã dậy được ai không rồi chứ. Mày câm mồm đi … Ông lại cho thêm một trận nữa bây giờ. Nếu các ông đánh tôi chết được thì nên đánh, bằng không vô ích thôi. Giọng trả lời tỉnh như không. Được, ngày mai mày trả lời với ban (Ban giám thị trại giam). Cửa phòng đóng lại, bóng tối chụp xuống. Nhân biết được trời đang trong buổi trưa nhờ liếc bóng nắng đổ chéo qua ngạch cửa. Một thế giới với những con người kỳ lạ, không thấy mặt, có thật ở đây.”
Tinh thần kiên cường chiến đấu không chịu thua trước bạo lực của người tù kiên giam kỳ lạ này, càng trở nên kỳ lạ hơn khi Phan Nhật Nam biết được rằng anh ta chỉ là một người lính biệt kích, binh nhì Nguyễn Công Thành, xâm nhập bằng cách nhẩy dù xuống Ninh Bình, Bắc Việt, bị lộ tại chỗ, bị săn đuổi hai ngày và bị bắt sau khi bắn hết đạn. Anh bị tù kiên giam từ ngay lúc đầu, năm 1964, vì không chịu chấp nhận đầu hàng, và cho đến nay … 1995, có thể anh vẫn còn bị giam ở một phòng cấm cố nào đó hoặc đã chết – Không ai có thể biết. Người lính có cấp bậc thấp nhất của quân đội có được gì không mà mà phải chịu hành hạ thể xác và tinh thần trong thời gian dài dặc như truyện không tưởng?! Câu hỏi này được nghiền ngẫm, suy tưởng, đối chiếu với những điều hằng kinh qua, và anh tìm ra được câu trả lời: “Người lính đã chiến đấu cho Tự Do. Người lính đã chiến đấu với một mục đích tự thân: Chiến đấu bảo vệ phẩm giá con người.” Và, Quân Đội là tập thể những người lính hào hùng này, chứ không phải là thiểu số các cấp chỉ huy bất xứng. Người Lính Phan Nhật Nam đã tiếp tục cầm bút để tiếp tục lý tưởng này. Phan Nhật Nam còn đi xa hơn một bước nữa, khi bị hành hạ thân xác và tinh thần, người viết văn đã nghiệm ra chữ Nhân, cái tình người đối với người, đã bị mất đi, khi con người bị mù quáng trong ý thức hệ để tạo nên hận thù vô lý. Cái vòng nhân quả này lại làm hận thù giữa những người cùng một nước ngày càng chồng chất thêm. Hậu quả là đất nước thêm đắm chìm trong tranh chấp triền miên một cách vô lý và vô ích. Người Lính Miền Nam đã chịu biết bao oan khiên ngộ nhận, nhưng lý tưởng tranh đấu cho tự do thật sự càng ngày càng sáng tỏ, trong khi đó Người Lính miền Bắc đã là công cụ thực hiện tham vọng của giai cấp lãnh đạo, xử dụng ý thức hệ làm chiêu bài. Với chữ Nhân, Phan Nhật Nam mở rộng vòng tay, xóa bỏ tị hiềm giữa những người lính hai miền, vì thật ra họ cũng chỉ là nạn nhân của thời thế như nhau, đem sinh mạng phí phạm trong cuộc chơi mà cả hai đồng nhận phần tàn hại, trừ một thiểu số lãnh đạo do quyền lợi thúc dục từ ngoại bang. Và đó cũng là một lý do mà người lính vẫn hằng phải cầm bút, vì ngòi bút sẽ là một vũ khí bén nhọn để tranh đấu, để xây dựng một đất nước tự do ấm no.
Sau hơn nửa đời người mà trong đó 14 năm lính, 14 năm tù, có dịp nhìn lại quãng đường đã qua, mặc dù phải hứng chịu nhiều bất khứng trong suốt đời binh nghiệp, Phan Nhật Nam vẫn luôn xác nhận với hãnh diện là Người Lính Viết Văn, kẻ chiến đấu cho lý tưởng tự do, với vũ khí trường cửu bền bỉ- Cây bút. Con đường trước mặt còn lắm gian truân, những tấn công với luận điệu “chao đảo”chỉ là một dấu hiệu. Điều đáng phàn nàn và bất nhẫn là xẩy ra từ phía sau lưng, do những người nại đến khối từ ngữ, danh xưng cảm xúc … Quân Đội, Dân Tộc, Tổ Quốc … Những người không một ngày chiến trận, không một lần tù tội, cũng không hề giao tiếp, kình chống với kẻ nghịch … Những người vô cùng bình an và hưởng lợi từ khổ nạn Việt Nam!! Nhưng người lính cầm bút vẫn mãi kiên cường như trong quá khứ, như nghĩa vụ thường hằng mà người cựu SVSQ khóa 18 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đã sống cùng và luôn gìn giữ … Lời nguyện ước năm xưa đã một lần vang dội màn đen lung linh ánh nến Chiêu Hồn Tử Sĩ đêm mãn khóa nơi Vũ Đình Trường
Lê Lợi: “Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng, mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm …”
Cảm nghĩ sau lần gặp mặt
với Phan Nhật Nam
ngày 22/10/95
Montréal, Canada.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.