vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 5 Jan 2026

Chương 7
Bàn Phiếm Trở Lại Chén Trà Đại Tống Còn Tàng Trữ Tại Nhà Tôi
Ở đời, có vay có trả. Sau tám năm (1963-1971) im hơi lặng tiếng, tôi phải trả lời. Đúng ra cũng không phải trả lời, vì biết hai ông bạn tri-kỷ bây giờ ở đâu? Ông Nguyễn-Văn-Thư thì chắc chắn đường mây nhẹ gót, địa-chỉ ông còn dễ kiếm; cho như ông Huỳnh-Đắc-Ứng ở Nha Trang, bặt vô âm tín, mới khó làm sao?
Câu chuyện « Từ chén trà Đại Tống đến tích trảm Trịnh-Ân », tôi tưởng đã lui vào dĩ-vãng, không dè đến nay anh em bạn gặp tôi còn nhắc, nhứt là ông Huỳnh-Đắc-Ứng đã khơi từ năm 1963 về cái chết của tướng Trịnh-Ân, theo ông, là « tử tại trận tiền », thế là «hy sinh vì chúa », chết danh dự vì một mũi tên của Lư Táng bên phe Bắc-Hán, chết như vậy phải nhắc lại đề nhớ đời chớ há nào để mai một.
Huỳnh tiên-sinh đã dạy cho như vậy và khiêm tốn hơn nữa, tiên-sinh gọi rằng « bàn phiếm » mà thôi, chẳng qua là một việc « đọc sách cũ, nói chuyện xưa », chớ « đúng hay sai không cần thiết lắm.
Bởi ỹ y « không cần thiết », nên tôi mới dám « neo » tới ngày nay và vì tiên-sinh chỉ dạy «bàn phiếm », vậy tôi cũng xin « bàn phiếm » cho vui câu chuyện. Tóm tắt lại, thuyết của Huỳnh tiên-sinh là thuyết vừa nêu cao gương trung-liệt của Trinh-Ân, vừa gỡ gạc cho Tổng Thái-tổ, cả hai đều được danh thơm. Thuyết ấy, tôi có khảo cứu rồi, chẳng qua là của nhà Nam-Tống, sửa lại cho « xuôi chèo mát mái », Tống Thái-tổ khỏi mang tiếng, nhứt là vì không « ăn thua » gì với cái chén « trước rượu, sau trà », nên tôi mạn phép đã lướt qua độ nọ cho khỏi rậm rà câu chuyện. Người Tàu họ hay lắm: sử của họ nhiều khi họ không nhắc, vì sợ đụng chạm đó đây; họ có cách nói khều, họ chế ra tuồng hát, « bình dân hơn » và bởi vì « ngoại sử » nên mặc tình thêm mắm thêm muối …
Và dầu cho tích trảm Trịnh-Ân rất xa sự thật, nhưng nó đã bị đóng đinh vào đầu anh thợ đồ gốm nhà Tống quá sâu, nên hễ có dịp là anh thợ ấy, nặn cái chén theo sự hiểu biết rất « bình dân » của mình, để coi mở chút lòng, vì từ xưa đến nay, có chánh phủ nào được dân chúng bằng lòng, nhứt là vua chúa thì thường hay « độc tài », dân không nói được nên lời, thì để cho bọn nghệ-sĩ tỏ ra lòng ấm ức, tội tình gì ta « vua hơn vua » (plus royaliste que le roi), nghe theo sử là thuyết của vua tuy nhiều khi cũng đúng sự thật, nhưng cũng có khi, vua sai viết để che lấp những gì muốn được che lấp. Truyện rất khác với sử: Tam- hạ Nam-Đường và Nam-Tống diễn nghĩa, đều mot thứ, binh vực mỗi một ý nghĩa, người đọc truyện cần tìm cho thấy, thì mới thú vị, như giải được một bài toán đố. Khi cầm cái chén Temmoku trên tay, thấy nó nhỏ nhít, uống rượu cũng được mà uống trà cũng xong, thêm càng đọc sách nghiên cứu về đồ gốm Tống và càng đọc sách Pháp viết về đoạn sử nhà Tống, tôi mới viết năm đó dựa theo tuồng hát bội: chuyện « Xich-tu-long túy tửu, Hắc-hổ qui thần », tôi viết bài luận nhỏ như đã thấy, ngụ ý ngầm chỉ trích một ông vua có tiếng là minh-quân (mà năm 1963 tôi từng cung chiêm chơn-dung trên bức tranh lụa qui tàng trữ tại viện bảo-tàng Đài-Bắc và lúc nhỏ khi đọc Phi-long diễn nghĩa, tòi quí trọng như thần thánh), thế mà có một án mờ ám giết bạn, sát thê, say thiệt, say giả?
Lời tục nói: « không có lửa, làm sao có khói?», và «có tích mới dịch ra tuồng ».
Còn việc đời vua Thanh nói xấu đời vua Tống, là thế-gian thường tình, nhà viết văn đời Tống viết đặng có bay đầu? Và dẫu cho bịa, cũng có một phần nào gần với sự thật. Tôi kính ông Huỳnh-Đắc-Ứng như bạn tri-kỷ, nên tốt hơn thuyết của ai thì nấy giữ, thêm nữa về phần tôi, chữ Nho tịch mù, tôi rất sợ cuộc bút chiến, Nhưng thằng đui nhờ có giác-quan thứ sáu, tôi không đui, nhưng dốt chữ Hán thì tôi đọc và tìm hiểu qua chữ Tây, vừa sách nghiên cứu nghệ thuật, vừa sách khảo về lịch-sử. Tôi sẵn long phục thiện, chuyện chén trà hay chén rượu, xin để y như vậy, không tội gì làm cho « bình địa khởi phong ba » trong một cái chén lớn không hơn tròng mắt con trâu, nhứt là Trịnh-Ân đã chết, và « tử giả biệt luận. »
Duy đã gọi bàn phiếm, trên chiếu đi tìm hiểu nghệ thuật có xin hãy tha thứ cho nhau và trong khi đi khai thác để hiểu, xin cho phép tôi kể lại như sau, – gọi để thêm vui câu chuyện, – những gì tôi đã khám phá trong khi đọc sách, một phần thuộc chánh sử, một phần thuộc sử của nghệ-thuật (histoire de l’Art) và những khía cạnh tôi đã học lóm với cô bác và ngoài đường ngoài sá, vì lớp tôi, không có truờng dạy và không có thầy hay như bây giờ. Nếu tôi nói sai, xin chư tôn chỉ giáo, tôi xin vạn tạ.
(Trong bài đăng B.K. 89, mấy câu « có lẽ, … » « tôi tưởng … » là một cách nói để đặt người đọc ngang hàng với mình, cho câu chuyện dễ trị, chớ hể mình quả quyết, thì một là mình vô duyên, hai là độc giả đâm ra nghi ngờ, tôi khai huych tẹt, không phải tôi làm phách mà vốn muốn gởi gắm chút gì cho các anh học trò cũ, nếu đã ra trường mà còn tìm đọc sách của tôi.
Một điều tối quan trọng, là trong tầm mắt chuyên môn mặc dù có gàn đôi chút là đến nay tôi còn tin chắc đến gần dám quả quyết, cái chén tàng trữ trong tủ nhỏ tại tệ xá, vốn thật là một di vật đời Đại Tổng. Xét ra nó cũng không qui hồ gì lắm, vì vẫn nhiều người có, chớ không phải một mình tôi. Nhưng bởi ngày nay có một đại quốc gần Trung-Hoa, chuyên làm chén giả, khó phân biệt xưa nay, cho nên tôi mới dám lấy chút hiểu biết riêng, tường thuật ra đây, dặn bà con khá nên đề phòng, không nên quá ham mà mua lầm đồ giả. Chỉ có thế thôi. Đó là chén « bol Song, fourrure de lièvre », nay mới biết dịch « chén Tống, Thố- hào- trản » (xin xem bộ « Khảo về đồ sứ cổ Trung-Hoa » và bộ « Cảnh-Đức-Trấn đào-lục », nói rành rẽ hơn).
Chén nầy, năm 1960, tôi định làm vào đời Tống Thái tổ, lối khoảng năm 960, tức được 1011 tuổi có dư (1971-960). Nhưng năm nay, với chút kinh nghiệm già hơn, dựa theo danh từ ngày nay cũng gọi chén Kien (tasse Kien), nghiệm ra « Kien » là chữ tắt trong «Kien-ngan » (Kiến-An) hoặc «Fou-kien » (Phước-kiến) là nơi sản xuất loại chén nầy, vậy thì chén thuộc đời Nam-Tống (1127-1279) và có ít nữa 844 tuồi (1971-1127). (Sở dĩ tôi không kể năm 1279, vì năm nầy nhà Tống mất nước, làm gì chế tạo đồ từ-khí nữa). Phàm, trong nghề khảo cổ, tuồi của mỗi món cổ-vật, đều được phép dời qua xít lại theo lập luận khá vững chắc và mớ kinh nghiệm đích xác của mình, chớ không ai dám dùng những danh từ quả quyết, như « rựa chém đất » bao giờ. Trừ phi, gặp lại những món quá quen thuộc, từng nghiên cứu rồi, thì mới dám định tuổi món đồ liền khi đó, để lấy le, cho người ta thấy mình lão luyện. Một điều thứ nhì là tôi thấy chén tại nhà, nơi đáy và chung quanh phía ngoài có một thứ ẩn-quang sáng sáng, chỗ mờ lu, chỗ chớp chớp, đó là cái mà Pháp gọi « traces d’irisation », trong sách Tàu có khi gọi « thủy-ngân-tầm », (traces mercurielles), đó là triệu-chứng chén lâu đời lắm, đã cao niên lắm. Tiện đây, trong B.K. 92, thầy Nguyễn-quân dạy rằng « đồ Tống mát và nặng, vì nguyên liệu chế-tạo là một thứ sa-thạch » (tr. 14). Tôi không dám cãi với Nguyễn-quân và xin ghi nhớ để học thêm. Riêng đây, tôi từng nói trong bộ «khảo về đồ sứ cổ Trung-Hoa» là số 4 trong bộ Hiếu-Cổ Đặc-San đã phát hành. Trong ấy, tôi có mạn phép ông Đào-Duy-Anh, vắng mặt, rằng: trong Tự điển Pháp-Việt do Đào-quân soạn, nhà Minh-Tân xuất bản lần hai tại Paris, thì Đào-quân dịch:
«Grès n.m. Đá sỏi, sa-thạch. – 2 Đồ, bình bằng sa-thạch. Gres flammes ou flambes: đồ gốm bằng sa – thạch.
Về nghĩa số 1, tôi xin đồng ý với Đào-quân. Còn về nghĩa số 2, tôi xin mời nhị vị lật cuốn Petit Larousse, sẽ thấy: Gres n.m. (empr. au francique).
1. Roche sédimentaire formée de grains de quartz réunis par un ciment silicenx ou calcaire, utilisée pour la construction ou le pavage (grès des Vosges).
2. Poterie très dure, opaque, formée d’argile plastique, de sable et de bases (chaux, baryte, etc), appelée encore grès cérame.
Về danh từ 2, Đào-quân định nghĩa như trên: «Đồ, bình bằng sa-thạch » lại thêm: grès flammés ou flambés:
« Đồ gốm bằng sa-thạch. » Tôi lấy làm ngờ, vì dịch như vậy, e hiểu lầm, tai hại về sau cho người ít học tiếng Pháp. Dựa theo câu diễn của Petit Larousse, poterie très dure, … , tôi hiểu: trong loại grès, có đất sét dẻo (argile plastique) có cát (sable), vôi (chaux) và base (trọng thổ, loại đất rất nặng như baryte) như vậy mà Đào-quân dịch « đồ, bình bằng sa-thạch ». Và Nguyễn-quân ở đày cũng day rằng về chén Tống, «nguyên liệu chế-tạo là một thứ sa-thạch. »
Tôi xin nhị vị, học nhiều hơn tôi, xem lại và dạy cho. Tôi không nói khiêm và thật tình muốn thỉnh giáo.
Cũng trương 14 B.K. số 92, Nguyễn-quân nói gốm Tống chế-tạo rất ít, thỉnh thoảng, vua ban cho các đại-thần và các quan cho lại thân thích đề truyền tử lưu tôn, làm kỷ vật. Tôi đồng ý với Nguyễn-quân rằng gốm Tống làm ra rất ít và các quan khi được thì cất để dành làm kỷ vật truyền tử lưu tôn. Nhưng đọc trong bộ Cảnh-Đức-Trấn đào-lục, một chỗ có nói: mỗi lần lò nào làm đồ ngự dụng nếu nạp vào cung vua, thì có lệ « một trăm món dâng vô, lựa lấy mười » trả lại « chín chục», và « một ngàn món nạp, thì trong Nội-phủ trả ra chín trăm », như vậy người chủ lò cũng khôn quá, có lỗ lã chi mà sợ, vì các món sa thải được miễn thuế mà chớ, lại dầu hèn cũng thể, cũng là đồ đặc biệt « ngự dụng », bán rất chạy, ế ẩm chi mà ngại. Tôi không biết đời Tống đã có phong tục này chưa, xin mời Nguyễn-quân mua giùm một cuốn Khảo về đồ sứ cổ Trung-Hoa và một cuốn Cảnh-Dức-Trấn đào-lục, một ông Tòa không đến nổi nghèo, mà thằng già mửa máu viết sách, đỡ biết mấy.
Chừng ấy, Nguyễn-quân sẽ đọc và dạy cho. Nếu muốn chữ ký, tôi sẽ không tính tiền thêm. Xin Nguyễn-quân đừng giận. Tôi cũng ngừng nơi đây, nhưng cũng nói vói rằng Nguyễn-quân dùng danh từ « đồ sứ Tống », tôi không dám thổi lông tìm vết, nhưng riêng phần tôi, vì sách cũ đã dạy, nên cũng vì « méo mó nghề nghiệp », xin thầy lấy:
T’ao = đào, là danh từ dùng đến đời Đường.
Yao = Dao, điêu, danh từ có từ Đường về sau, để thay cho « đào ».
Yeou = Diêu và Yeou = dứu, vân vân (tôi gần điên cũng vì mấy chữ này, nay không tiện viết ra Hán-tự vì tốn kém) đều dùng để gọi poterie, porcelaine, còn chữ « Sứ » (do từ-khí) thì có từ đời Minh, hoặc đời Thanh đây thôi, mà tôi riêng muốn để dành dùng gọi « đồ sứ là đồ đi sứ mang về = porcelaine diplomatique, ou porcelain d’ambassade. (Trong Nam, porcelaine là đồ sành, tốt hơn nữa là đồ kiểu (đề làm kiểu: porcelaine d’échantillon); tốt hơn hết là «đồ sứ: porcelaine d’ambassade). Về Poterie Song, tôi dịch là đồ gốm đời Tống.
Nãy giờ tôi nói nhiều, là vì lâu ngày nhớ Nguyễn-quân nên muốn giải bày những gì tìm tòi được bấy lâu chớ không khi nào dám múa rìu qua mắt thợ, đúng hơn không dám «đánh trống trước cửa nhà sấm» vì Nguyễn – quân vốn là một vị cầm cân nảy mực bên Pháp-đình. Và tôi vẫn: thành tâm thỉnh giáo.
Đề vui câu chuyện, gồm trong hai chữ « bàn phiếm », tôi xin dọn đường bằng cách trình bày ra đây những tài liệu tôi thâu hái được trong khi đọc vài sách Pháp. Nhưng tôi xin thanh minh: các tài liệu nầy nghiêng nhiều về khía nghệ thuật đồ gốm đồ sành gọi Tống-diêu hơn là sử đời Tống. Tôi cố ráng giải thích theo sức tôi, vài đoạn sử của nghệ thuật Tống. Phàm muốn nghiên cứu một đề tài sử-liệu gì cho chu đáo, ít nhứt phải thông thạo và lão luyện chữ nghĩa cổ-văn, kim-văn của nước đó. Nay lấy chuyện Trung-Hoa đời Tống ra nói như tôi đang làm, mà không đọc được chữ Hán và cũng không đi được đến tận chỗ thấy tận mặt những đồ gốm, chén bát, di tích các lò đời Tống sót lại bên Trung-quốc, chỉ dựa theo một bản dịch từ Hán-tự qua Pháp-văn của cố Wieger, gọi textes historiques, in năm 1905, dịch lại lần nữa như tôi đây mà vẫn có chỗ dịch chưa bằng bụng vì không đủ tài, có chỗ lại tự thêm phần nghe thấy của mình vào cho sáng câu chuyện, kể ra một bản Hán-văn dịch qua Pháp-văn rồi dịch lai lần nữa từ Pháp-ngữ ra Việt-văn, tôi thú nhận là đã làm một việc « bạo hồ bằng hà »1; nhưng tôi có chỗ miễn thứ là tuổi đã không cho ngày chết, tài liệu này lấy cuốn kèn cũng không đủ liệm, thôi thì cứ in ra mặt giấy, mong các bạn có dịp sẽ bổ túc giùm những sơ sót không thể tránh.
Trong những bài lần lượt kể sau đây, tôi cố gắng viết lại những chuyện tôi thấy biết có ảnh hưởng nhiều vào mỹ-thuật Trung-Hoa, nhứt là về đồ gốm đồ sành của các vua:
– nhà Hậu-Chau, từ Quach-Oai, Sai-Vinh, …
– nhà Đại-Tống: Triệu-Khuông-Dẫn, Triệu – Quang-Nghĩa, Huy-Tôn, Cao-Tôn, v.v …

Đời Hậu-Châu (951-960)
Tai-tsou (Thai-tổ) (951-954) .- Châu Thái-tổ, Quách-Oai, từng nói với tề-tướng Vương-Tuấn (Wang-tsounn):
«Trẩm từng sanh trong cảnh hàn-vi, sống trong cảnh hoạn nạn, nay được làm vua do một cuộc khởi nghĩa từ bình-dân đưa đẩy lên, bởi vậy nay trẫm không lòng nào quên gốc nguồn và dám phạm đến « dân đen con đỏ »
Khanh hãy ra truyền rao cho dân chúng biết từ nay trẫm bãi bỏ tục cũ bắt dân nạp lễ vật cho vua chúa. »
Một khi khác, ông lại nói: «Trẫm xuất thân võ-tướng,. kém học, nên không rõ đạo trị dân. Phàm chư khanh, văn quan cũng như võ thần, người nào biết cách đem lại cho lê dân sự ấm no, hạnh-phúc, thì cứ tâu bày cho trẫm rõ. »
Khi Thái-tổ thấy các món ngoạn-phầm xinh-tốt sót lại trong cung vua Hậu-Hán, thì phán rằng: « Nực cười các vua chúa lớp trước khéo say mê những vật vô dụng như mấy món này. Hãy dẹp và hủy bỏ hết cho trẩm đừng thấy nữa. Tự hậu trẫm không muốn ai đem vào đây, những vật xa-xí-phầm, đẹp mắt thì có chớ không dùng được chỗ nào, gọi rằng có ích. »
Năm 952, Châu Thái-tồ cầm binh đi dẹp giặc, binh đến Khúc-Phụ (K’iù-fou), Thái-tổ vào khấu-bái trước bài- vị đức Thánh-Khổng. Khi vua toan sụp lạy, can thần ngăn lại, rằng: « vua không phép lạy tôi ». Thái-tổ nạt:
« Khồng-phu-tử là thầy của vua chúa trong muôn đời. Tại sao trẫm kbông lạy được? »
Lạy nơi thờ bài-vị rồi còn ra lạy trước lăng mộ và truyền rao không cho phá phách động đến lăng. Năm 953, Thái-tổ phong Sài-Vinh làm thái-tử, cho ăn họ, đổi là Quách-Vinh (Koùo-Joung). Từ trước, có lệ tế trời tại Lạc-Dương (Lao-yang). Thái-tổ khởi tiên bày tế tại Khai-phong-phủ (K’ai-fong-fou) là kinh đô của Hậu-Châu. Thái-tổ dạy lập hai đàn, một thờ thần đất đai, một thờ thần mùa màng và dạy lập miếu thờ tổ tiên họ Quách. Năm 954, Thái-tồ yếu nhiều, không bồn thân đứng chủ tế được và cho Thái-tử Quách – Vinh thay. Khi lâm bịnh nặng, bèn đòi Thái-tử đến gần long-sàng mà phán rằng:
«Trẫm từng thấy mười tám lăng các vị đế-vương Đại Đường bị quật lên, bày xương cốt tồi tàn, chẳng qua vì theo tục cũ, ham chôn nhiều châu báu theo xác chết. Khi trẫm băng rồi, hãy liệm thây trong y phục giấy, dùng hòm quách bằng đất nung, cấm dùng đá xa-hoa xây huyệt mả, nên dùng loại gạch tầm thường, nếu có đào cũng không dùng lại được nữa. Khi táng cũng đừng ép dân khiêng vác nặng nề, hãy lựa chọn ba mươi gia đình gần lăng giao việc coi sóc quét tước sạch sẽ và được miễn thuế đời đời. Cũng đừng chon người sống và sinh thú theo trẫm, duy đặt trước mộ người đá, hồ, ngựa, dê bằng đá là được. Nếu sau nầy có ai chỉ trích vương-nhi là bỏn sẻn, thì hãy trả lời, đó là lịnh của phụ – vương trối lại. Nếu con cãi lời này, phụ-vương dưới Suối Vàng, sẽ không ban phước cho con đâu ». Câu chót như trước đã có nói, là: «Con nhớ chạm trên bia trước mộ hai câu:
«Châu thiên-tử bình sanh háo kiệm,
Di mạng dụng bố-y ngõa-quan ».
Lời bàn của tôi.
– Vua Châu Thái-tổ là người có bản lĩnh. Dốt thì xưng rằng dốt, đủ thấy sự anh hùng. Không thâu lễ vật của dân là liêm, lạy trước bài-vị Khổng-Tử là lễ, ghét đồ xa-xí-phẩm là giàu kinh nghiệm, bày sự cúng tế tổ-tiên, là hiếu, bãi lệ chôn người sống, thú vật sống là nghĩa. Về phương diện chôn tro xác trong quách bằng đất nung, phải chăng ông là người chế ra tục lệ nầy (urnefuneraire), hay tục này đã có từ đời Đường, theo đạo Phật, nên dùng hỏa-táng. Một ý nghĩa khác của sự chôn trong quách sành, là đời ấy loạn ly không ngớt, chọn có xây mộ lớn, sợ giặc đào, chi bằng thâu gọn xác chết vào tiểu sành dễ giấu, sau này sẽ mai táng trọng thể hơn. Ông vua nối ngôi, lại còn đi xa về cải cách hơn nữa, và ấy là:
Châu Thế-tôn Sài-Vinh (Cheu-tsoung) (954-959). Sài-Vinh, sau đổi là Quách – Vinh (Koùo – joung), nối ngôi Quách-Oai (Kouo-Wei) năm 954 s.T.I. Vua này có can đảm làm nhiều việc phi thường:
– năm 955, Châu Thế-tông ra lịnh, ngoại trừ binh-khí, lễ-khí, chưng kiểng nhà chùa, còn lại nào tượng cốt Phật bằng đồng, đều phải nạp vào kho nấu thét lấy chất đồng đề đúc tiền, vì thuở ấy hút kém tiền đồng dữ lắm. Nhưng mặc dầu lịnh nghiêm, dân mãi mê tín, không dám xài tiền do cốt Phật nấu ra, và đồng Châu-Nguyên thông-bửu, dân không xài, và cất giữ lên để đeo làm bùa hộ mạng, tiền tệ lại càng thêm hút kém hơn trước. (Về sau thấy lợi, bọn trục lợi làm tiền Châu-Nguyên giả hiệu rất nhiều).
— Sài Thế-tôn sáng chế gồm Sài-diêu (Tchaï-yao) (Về tiền Châu – Nguyên và gốm Sài – diêu, xin xem trở lại bài đầu, đăng trong tập nầy từ trương 70. Năm 958, Thế-tông ngự giá thân chinh, đánh dẹp Nam-Đường. Rồi ông lại hưng binh đánh phạt Khiết-đơn (les Tongouses K’i-tan), nhưng nửa đường thọ bịnh rồi băng, tuổi chưa đầy ba mươi chín.
Năm 959, Triệu-Khuông-Dẫn (Tchao-k’oang yinn) còn giữ chức Tiết-độ-sứ tại Qui-Dức-phủ (prefet de Koei-tei), kiêm Điện-tiền Đổ-kiểm-điểm.
Châu Cung-đế (Koung-ti) (960).
Sài-Vinh mất rồi, con trai là Quách Tông-Huan (Kouo-tsoung-hunn), vừa bảy tuổi đầu1, lên nối ngôi cha. Các tướng võ, trong thâm tâm, không phục một ông vua còn trứng nước làm vậy, làm sao biết xét công lao của mình. Giặc Khiết-Đơn nổi dậy, Triệu kiểm-điểm được lịnh kéo binh đi tiểu trừ. Binh mã vừa đến cầu Trần-kiều thì trời cũng vừa tối. Truyền đóng trại nghỉ ngoi. Chiều hôm ấy, mặt trời hiện ra hai quầng trên không -trung (Pháp gọi parélie, parhélie). Ngày nay, ta biết đó là một hiện tượng thiên nhiên hằng thấy, do hào-quang phản chiếu vào một đám mây có nhiều giá tuyết rọi ngược tia sáng lại nhau. Nhưng vào giữa thế kỷ thứ X, lòng người con tin nhiều vào điềm lạ (nhựt thực, sao chỗi, v.v … ), quân-sư là Miêu Huan (Miao-hunn-hao) bàn rằng mặt trời sanh đôi là điềm phải thay vua khác, vì đời sắp đồi mới. Các tướng-sĩ trong lúc ấy không ngớt xầm-xì xậm-xịt, dụm năm dụm ba, bàn tán về việc hai mặt trời, trọn đêm không ngủ … Nhóm nầy nghĩ Cung-đế bé thơ e không biết xét công-lao; nhóm khác phê bình chỉ có Khuông -Dẫn là bấy lâu rất được lòng tướng-sĩ … Trong khi ấy, sau rõ lại có em Khuông-Dẫn là Triệu-Quang-Nghĩa (Tchao k’oang-i) dọn đường, làm tay trong, am trợ đủ mọi cách và một mặt Quang- Nghĩa sai người thân-tín bay ngựa về kinh đem tin sắp đặt cho các tướng còn ở tại triều rõ tự sự, một mặt khác, Quang-Nghĩa dẫn đầu, thừa lúc trời nhá nhem chưa sáng, kéo róc bộ-hạ chư tướng vào trung-dinh, đỡ xóc Khuong-Dẫn dậy, -lúc ấy hơi men còn nồng, khoác huỳnh-bào lên vai, rồi chư tướng lạy mọp tung hô vạn tuế. Xong rồi, đỡ Khuông-Dẫn lên ngựa, kéo binh trực chỉ trở lại kinh đô. Khuông-Dẫn đêm qua say vùi, nay tỉnh rượu, ngồi trên tuấn-mã, gò cương la lớn: « Chư hiền-đệ làm việc nầy chẳng qua vì mấy chữ « Phú-Quí Công – Danh ». Để cho ta nói đôi lời như thuận tình thì luôn luôn phải nghe lời ta, bằng ngày sau đổi ý bất tuân lịnh ta, thì thà hôm nay các em lựa người khác, chớ ta không ưng làm điều trái ngược như vầy. »
Các tướng sĩ, một lần nữa, thề quyết không nhị tâm. Khi ấy Khuông – Dẫn đưa ra bốn điều: thứ nhứt, không phạm đến Sài mẫu-hậu, vợ Sài-Vinh, là chị dâu mình; thứ nhì, Cung-đế vốn gọi ta bằng chú, tức cháu của ta, các em không quyền sát hại; ba là các quan lớn nhỏ tại triều, vốn cùng ta là cố-tri bạn cũ, phải để sanh tồn; bốn nữa, các cung điện lăng tẩm Hậu-Châu, không nên phá phách. Binh kéo về Khai-Phong-phủ, mọi việc đều dàn xếp ổn thỏa, quả nhiên không tốn một sanh mạng nào. Đến đây, nhà Hậu – Châu đếm được ba vua: Quách-Oai, Sài-Vinh, Sài Tống-Huân, chia nhau trị vì được mười năm (951-960).
Đời Ngũ Đại Tân Đường, cộng năm triều đại, được mười ba vua, kể tám họ khác nhau, trị vì năm mươi bốn năm, thì dứt, nhường cho cho nhà Đai Tống. Trong số, Châu Thế – tôn Sài- Vinh được tiếng thơm là hoàn toàn nhứt, hiền, sáng suốt, nhơn đức, đáng là một bực minh-quân. Ông mất rồi, nhơn dân đều mến tiếc.
- Yểu số, mất năm 973, thọ 22 tuổi.
Đại Tống, nhà Triệu (Dynastie SONG, famille Tchao) (960-1279)
Triệu-Khuông-Dẫn, xích-diện liên mi, nay viện bảo-tàng Đài-Bắc còn giữ một bức chơn dung tôi từng được thấy, nguyên quán ở Trác-quận (Tchouo-tcheou). Khi lên ngôi, đóng đô tại Khai – Phong – phủ như trước. Việc làm đầu tiên là lập miếu thờ tổ-tiên và tuyên bố chọn Khồng-giáo làm quốc đạo. Thái-tổ dạy mở thêm trường học. Từ trước thờ chư Thánh bằng bài-vị gỗ, nay chế ra đúc tượng và vẽ hình bày nơi các học-viện trong nước. Thái-tổ giữ thói quen như cũ, ban đêm thường giả-dạng thường dân ra ngoài phố vừa ngao du chen lộn trong chúng dân y như buổi thiếu thời, bôn ba khắp xứ, khi bị vua Hậu-Hán họa đồ hình lùng bắt, vừa dùng dịp ấy dò xét dân tình. Các quan thường hay can gián, rằng buổi giao thời, nhơn-tâm chưa ổn định, không nên đặt mình rồng chung sống với tép tôm. Nhưng Thái – tổ gạt ngang, đinh ninh «đã là bực chí tôn, đi đâu đã có bá linh phò trợ, nếu xảy ra việc gì, không qua mạng trời. »
Năm 961, mẹ là Đỗ – thị, nay là Thái – hậu, đau nặng. Thái-tổ vốn là người con chi hiếu, ngày đêm săn sóc mẹ không rời. Khi biết mình khó thoát, Thái – hậu dạy đòi Triệu-Phổ (Tchao-pou) vào viết tờ di-chiếu.
Thái-hậu hỏi vua: « Vương-nhi có biết nhờ gì ngôi báu về tay con chăng? ».
– Nhờ đức dày của tổ-tiên để lại; nhờ phúc đức của mẫu-hậu, nên con mới được như vầy.
– Vương-nhi xét như vậy cũng phải đôi chút, nhưng phần khác, là vì nhà Hậu-Châu cạn xét, đặt ngôi báu trong tay ấu – chúa còn trứng mén ngây thơ. Bởi vậy không đủ gây tín nhiệm. Nếu lúc trước Cung – đế đã trưởng thành, chưa chắc ngôi cửu-ngũ về tay Vương-nhi. Vậy nay ta hãy lấy gương ấy làm răn. Theo ý mẹ ao ước cho đến nay, con nên lần lượt sau nầy truyền ngôi tỷ như cho các em, luân chuyển từ con qua tay Quang-Nghĩa, rồi qua tay Quang-Mỹ, đến chừng Đức- Chiêu (con của Thái -tổ) khôn lớn, Quang-Mỹ sẽ giao quyền cai-trị trở lại. Như vậy ngôi báu luôn luôn luân phiên được ở trong tay người trưởng thành kinh nghiệm đủ tài đủ trí, thì khỏi lo sự phế lập ấu quân. Thái-tổ mỗi mỗi đều vâng lời, khóc lạy mẹ, sai Triệu-Phổ quì, ghi chép lời di chúc, mà sau nầy Quang -Nghĩa bội tín chẳng vâng theo. Thái-hậu trối rồi thì tắt hơi.

Sự thiển cận của Thai-tổ là đầu mối của sự lụn bại của Trung-quốc sau này.
Thái-tổ thấy cái họa phiên trấn đời Đường và đời Ngũ-Đại, lòng hằng lưu ý. Thái-tổ rất ghét cái gương tướng sĩ mạnh thế, tự chuyên, thường làm cái việc ủng-lập Hoàng-đế, mà chính mình cũng là do binh lính tôn lên; nên khi lên ngôi và bề thế vững chắc rồi, thi Thái-tổ tìm hết cách để giảm binh quyền các tướng ngoài phiên – trấn, và làm cho quyền ở trung-ương được vững mạnh thêm. Vì vậy, khi các chức phiên – trấn có khuyết, Thái – tổ cho các quan văn ra thay lại đặt ở các chân, chức Thông-phán coi việc quân chính và dân-chính, phải tâu mọi việc về triều đình biết; đem các quận trước kia thuộc các Tiết-độ-sứ về trực thuộc quyền cai – trị của chính – phủ trung-ương; đặt ra ở các lộ chức Chuyển-vận-sứ trông nom về tài chánh, số thu được, trừ số chi-tiêu trong lộ, còn lại bao nhiêu đều gom hết về triều đình; sai các châu chọn lính mạnh đem về kinh cho nhập
- Đây là kế gọi « bôi tửu truất binh quyền » của Tống Thái-tổ (vẫn giả say để dễ nói chuyện). Một hôm vua thiết tiệc rượu, mời Thạch-Thư-Tín, Vương-Thẩm-Kỳ … Tiệc vừa mềm môi, Thái-tổ sai đuổi kẻ tẻ hữu ra, rồi nói với bọn Tín, Kỳ: «Làm thiên-tử coi vậy mà khó khăn, chớ không đuợc vui sướng luôn như lúc làm Tiết-độ-sứ. Trẩm thường ăn ngủ không yên. Thủ-Tín hỏi vì sao; Thái-tổ thở dài đáp: Ngôi cao quí này, ai lại không muốn? Thủ-Tín lật đật tâu: « Bệ-hạ sao lại nghĩ thế? Thiên mạng đã định. Ai còn dám nhị
tâm? » Vua nói: «Các khanh thì cố nhiên, trẩm tin được. Nhưng bọn thủ-hạ, ai là không ham phú quý? Phỏng như một ngày kia, họ đem hoàng-bào đắp vào mình khanh, khanh không muốn cũng không được! Việc binh biến Trần-Kiều trước kia phải đề phòng ». Thach-Thủ-Tín và Vương-Thẩm-Kỳ hiểu ý, sáng ngày cáo bịnh, xin giải chức từ quan. Thái-tổ chấp thuận và an ủi: «Nay chư khanh còn khương kiện, hãy cùng trẩm tận hưởng chuỗi ngày còn lại. Chư khanh về làng thủ vai hương-lão, việc nuớc dã có đoàn hậu tân gánh vác. Rồi đây chúng ta đời đời kết làm thông-gia, cha truyền con nối, chẳng hơn là nay còn bôn vào đạo cấm-quân, còn lính già yếu thì ở lại các châu làm sương-quân, cứ mỗi năm cho lính cấm-quân và lính thú ở biên trấn đổi chỗ nhau một lần, đề cho các tướng sĩ khỏi quen thân nhau mà được mạnh thế, kết vây kết cánh, phép ấy gọi canh-nhung. Các tướng công thần như Thạch – Thủ – Tín (ông Huỳnh-Đắc-Ứng gọi Thạch-Như-Tín), như Vưong-thẩm-Kỳ là những cố nhân có công trận lớn với vua, được giao giữ cấm-quân, nhưng sau đó, Thái-tổ dùng lời nói khéo làm cho các tưởng ấy phải tự xin giải tước binh quyền1.
Các chánh sách ấy tuy nhất thời trừ được các tích-lệ (như ngày nay họa đảo chánh của bọn quân phiệt), nhưng về sau kết quả rất tai hại:
1) Cứ theo phép canh-nhung, binh lính thay đổi nhau luôn, thành thử không hiểu rõ tình thế địa – phương nơi
biên trấn, thêm nữa các văn-thần lại không thể luyện tập, khi lâm sự không thể chỉ-huy, vì vậy khi chinh-chiến, chưa gặp địch, đã tan vỡ trước khi giao chiến.
2) Các quyền binh đều thu về trung-ương cả, khiến nên những người có tài ở các địa-phương không có chỗ dùng, phải rút về kinh đô, nhưng ở đây chức vị đã có hạn, một là không cất đầu lên được, hai là có nạn tranh giành rồi kết thành phe đảng khuynh loát nhau từ chút;
3) Thâu những kẻ thất nghiệp, du đãng dữ tợn làm lính, gặp lúc đói kém, thường dùng cách chiêu binh để làm chánh sách cứu – hoang, – tuy cũng có chỗ hay, -nhưng về lâu số linh tăng lên mãi, phí tổn cho chánh phủ thêm nhiều, tài chánh trở nên kiệt quệ. Cho nên đời Tống, chỉ có hai đời vua Thái-tổ và Thái-tông, khoảng mấy chục năm là dân chúng tận hưởng thái-bình, qua các triều đại sau, các bộ lạc Liêu – Kim – Hạ, Mông-cổ xâm phạm bờ cõi, các địa-phương mất lực lượng tự vệ, không chống cự nổi. Về sau, hai vua Tống bị binh Phiên bắt đi hành hạ đến mất nửa phần giang san phương Bắc, nhà Tống chạy dồn về Nam, cái kế « bôi tửu trích binh quyền » chỉ tránh nạn gần mà nạn xa không thấy, vua Thái-tổ mưu sâu hóa ra cạn là vì vậy.
Năm 962-963, Thái-tổ ra lịnh cấm thiêu xác (hỏa-táng). Do điển nay, ta biết từ đời Ngũ-Đại Tân-Đường, loạn lạc không dứt, nên dân gian theo Phật-giáo, dùng hỏa-táng cho gọn và theo tôi, những hũ đựng cốt (urnes funéraires) rất thịnh hành vào đời Ngu-Đại Tân-Đường này. Từ 960, thái bình trở lại, Khổng-giáo lại được chọn làm quốc-giáo nên Thái-tổ cấm hỏa-táng là phải. Theo sách Pháp của cố Wieger, đạo sắc chỉ thứ hai của Thái-tổ lại càng chứng to sự anh minh của vua này. Nguyên trong công-thần-miếu, có bài-vị của tướng Bạch-Khởi được thờ từ vua Đức-tông nhà Đường. Thái-tổ viếng miếu, lấy tay chỉ bài-vị Bạch-Khởi mà phán rằng: «Thân làm đại tướng mà đang tay sát hại đám ba quân đã quì lạy đầu hàng thì không phải mặt anh hùng. Hãy dẹp bài-vị này và từ đây không thờ Bạch-Khởi trong Công-thần-miếu nữa. »
Năm 968, nhơn dự buổi tế-tự tổ-tiên, Thái-tổ thấy bày đồ từ-khí theo cổ-lệ, phán: « Tổ-tiên trẫm vốn hàng thứ dân, làm sao dám hưởng vật cúng bày trong chén dĩa sang trọng nầy? Hãy dẹp, dẹp hết đi, và mau mau dọn tế-vật trong chén dĩa tầm thường, y như buổi sanh-tiền của tổ-tiên trẫm đã dùng thuở trước». (Lời nói đúng của một người chơn thật và giàu kinh nghiệm, phong-trần đã trải). Năm 972, mưa lớn và lụt nhiều nơi. Quan thiên-văn bàn vì âm thịnh, nên có lịnh sa-thải nhiều cung nữ. Năm 973, Cung-đế (con vua Sài-Vinh) tỵ trần. Thái-tổ dạy chôn theo bực Vương-lễ. Những nét đặc sắc nhứt của Tống Thái-tổ la lòng hiếu với mẹ và rất thương em là Triệu Quang-Nghĩa, vì đoạn này rất quan trọng, tôi xin được dài dòng, trước lược thuật hành vi của Thái-tổ, sau chép lại bản Hán-văn và bản dịch Pháp-văn ghi trong bộ Textes historiques của Wieger,
trương 1826, để chư tôn mặc tình xét đoán:
Phần dịch đại lược:
Thái-tổ rất mến Quang-Nghĩa. Thường hay đến nhà, thăm viếng và ban cho nhiều báu-vật. Quang-Nghĩa đau,
danh trục lợi, quên cái già lẩn thẩn theo sau ». Thái-tổ ban thuởng cho các tướng rất hậu. Còn truyền tụng, đời Tống, Thái-tổ miễn thuế dời đổi hòn Hoa-sơn cho tiên đế Trần-Đoàn vì năm xưa thua một ván cờ. Cũng đời Tống chế ra lệ ban « đơn thơ » (bằng cấp bằng son), và « thiết-khoản » (bằng khoản bằng sắt), « kim sách » (sách bằng vàng thật) đề con cháu công thần (như Sài-Tấn trong truyện Thủy-Hử), cứ giữ và trao lại con cháu những báu vật ấy mà hưởng lộc Tống-tộ cha truyền con nối. Lời ước thề của Thái-tổ giao kết với các công thần cũng rất nên thơ. Đó là câu «Đái-lệ san-hà », (tức khi nào Hoàng-hà nhỏ còn bằng giải thắt lưng, Thái-san bé còn như vien đá mài, khi ấy dòng họ trẩm mới có thể quên công ấn khai quốc) – lời thề thiệt là thống thiết vì đai là đai áo, lệ là đá mài.
có lần phải dùng đến ngải-cứu (moxa), Thái-tổ tự đốt ngải trên da mình cho em thấy không đau và bớt sợ nóng. Thái-tổ thường khen em có tướng tốt: « long hành hồ bộ » (tướng đi như rồng, bộ như hồ).
Tháng mười năm 976, Thái-tổ băng, Quang-Nghĩa nối ngôi. Đoạn này gay cấn nhut, tôi xin đọc nguyên văn dưới đây chữ Hán (phiên âm) và bản Pháp-văn, chỉ dịch thoát để cùng nhau chiêm nghiệm và độ chừng những bí-ẩn còn nhiều chung quanh cái chết của vị anh hùng Triệu-Khuông-Dẫn (xem hai bản nơi sau).
Cứ như đoạn Hán-văn ấy, Tổng Thái-tổ chết một cách mờ ám, sử không dám nói rõ.
Phần Hán-văn (Textes historiques, Wieger, page 1826). – (Bản phiên âm).
« Đế hữu ái Tân-Vương Quang-Nghĩa sở hạnh kỳ đệ. An lễ thậm hậu. Quang – Nghĩa thường hữu tật thân vì « chước ngại. Quang-Nghĩa giác thống Đế diệc thủ ngại tự viêm. Mỗi đối cận thần ngôn Quang-Nghĩa long « hành hổ bộ. Tha viết tất vi thái bình thiên tử. Phúc đức phi ngô sỡ cập dã. Thập ngoạt đế băng, Tân-Vưong « Quang-Nghĩa tức vị. Lý Đạo Vân. Thượng bất dư dạ triệu Tân-Vương. Thuộc dĩ hậu sự tả hữu giai bất đắt « văn đãng diêu kiến chúc ảnh hạ Tấn-Vương thời hoặc ly tịch. Nhược hữu sõ tốn ty chi sàng. Ký nhi thượng dẫn trụ phủ trịch địa. Đại thánh vị Tân-Vương việt. Hão vi chi. Dĩ nhi đế bang. Cố mạng. Đại sự dã. Thật luc chánh sử giai bất năng ký.
« Tích tai. »
Bản trích Pháp-văn (L. Wieger, Textes historiques, page 1826).
« Quelques historiens non classiques ont voulu voir du mystere dans la mort de Tchao k’oang yinn. Son frere «Tchao koang i l’aurait achevé, ou aurait déterminé sa mort en le mettant en colere, pour s’assurer le trone.
« Ces racontars, répétés par beaucoup de lettrés modernes, s’appuient plutôt sur ce que Tchao-koang i fit plus tard à son frère cadet et à ses neveux, que sur les circonstances de la mort de T’ai-tsou. Voici le texte: « Etant
«tombé malade à l’improviste, l’empereur fit appeler au milieu de la nuit son frère Tchao-koang i, pour lui inti-
«mer ses dernières volontés. Les deux frères se virent en tête à tète. Du dehors, on vit seulement l’ombre de K’oang i qui se mouvait. Ses gestes etaient d’un homme qui refuse et s’excuse. Puis l’empereur saisit la hache d’armes suspendue à une colonne près de son lit, et la lui jeta en disant: « Fais bien la chose! » Le testantent d’un empereur, ajoute l’historien, est chose tres importante.
«Cet acte doit donc avoir des témoins. Il est regrettable que les Annalistes n’aient pas été à même de nous laisser sur la mort de T’ai-tsou, des documents bien authentiques … De ces paroles obscures, les uns infèrent que Tchao-k’ouang i voulut céder le trone au fils de l’empereur, et que celui-ci l’obligea à regner, conformement aux dernieres volontes de leur mere. Fais bien la chose, signifierait Sois un bon empereur! La hache jetee, exprimerait la remise du pouvoir. L’histoire officielle interprète ainsi … Les autres pensent
que le mourant demanda à son frère de se désister en «faveur de son fils, et que celui-ci refusa, s’appuyant sur le testament maternel. La hache jetée, serait un acte agressif. La dernière parole, serait une exclamation de dépit: Règne donc, puisque je ne puis pas t’en empêcher! Cette interprétation parait bien tourmentée; mais, comme elle est romanesque, elle a eu du succès … En tout cas, quand Tchao-k’ouang i sortit de la chambre de son frère, celui-ci était mort. Il avait cinquante ans.
Cứ như hai bản trên đây thì Thái-tổ mất một cách khá mờ ám. Mấy hàng dịch phiên âm bản Hán văn và bản
nguyên văn Pháp-ngữ cho ta thấy nhiều sử-gia phe nghịch thấy trong cái chết của Thái-tổ còn nhiều bí ẩn, đến nay chưa dứt khoát. Theo họ, Quang-Nghĩa hình như đã chọc tức anh, làm cho giận dữ và mau chết, hầu dễ đoạt ngôi báu. Những giả – thuyết và lời đồn vô căn cứ này, càng được các tân-sử-gia khai thác và nhắc đi nhắc lại do lời thuật của Quang-Nghĩa nói cho con cháu nghe sau này:
«Thái-tổ thình lình ngọa bịnh. Nửa đêm lật đật vời em là Quang – Nghĩa đến nghe lời chỉ huấn. Hai đàng giáp mặt nhau, trong một vuông phòng kín, không một nhân chứng nào khác chứng kiến. Những kẻ đứng ngoài phòng, chỉ thấy bóng Quang-Nghĩa tỏ vẻ khúm núm nửa như từ chối nửa như tạ tội. Về sau nghe thuật lại, Thái-tổ lúc đó vói chụp cái búa (phủ) treo nơi cột điện gần bên long sàng, quăng ra và nói lớn ngay mặt em:
« Hão vi chi! » Theo các sử – gia, thì di – chiếu của một ông vua như Thái-tổ là một việc tối quan trọng, cần phải có mặt nhiều nhân chứng. Cớ sao về mấy phút cuối cùng của Thái-tổ, Thật-lục chánh sử, không ghi chép đầy đủ, lại viết vỏn vẹn ba chữ: « Hão vi chi! » Và tùy thời, tùy cảnh ngộ, ba chữ « Hão vi chi » muốn cắt nghĩa làm sao, cũng được.
1) Có người bàn, lúc Thái-tổ ngặt mình, vời Quang-Nghĩa nói chuyện trao ngôi, ý muốn nhượng ngôi báu cho em, y như lời mẹ dặn, nên Thái-tổ quăng cây búa (phủ), tượng trưng sự giao quyền bính và như vậy, khi phán câu: « Hão vi chí », là muốn nói: «Hãy nối ngôi báu nầy và rán làm cho nên việc ». (Đây là thuyết chánh-thức được công nhận).
2) Thuyết khác nghĩ rằng Thái-tổ tỏ ý muốn thấy em mình nhường ngôi cho con của mình, nhưng Quang-Nghĩa viện lời mẹ trối, không nhận lời Thái-tổ (nên thấy bóng Quang-Nghĩa lom khom vừa xin lỗi vừa tạ tội), và vì vậy, cây búa (phủ) quăng ra nên hiều sự tức giận gây hờn, câu «Hão vi chi » có nghĩa : «Nay anh chẳng còn cản trở nữa được, thi đây búa này giữ lấy, ngồi kia cứ lên, hảo lắm, tốt lắm ! Thuyết sau tuy kiểu sức, khấp khênh, nhưng đượm mùi « tiều thuyết » và mộng ảo, nên được nhiều người truyền tụng … Khi Quang-Nghĩa trong phòng buớc ra thì Thái-tổ đã tắt thở. Triệu – Khuông – Dẫn thọ năm mươi tuổi.
3) Một thuyết thứ ba, tôi không đảm bảo, vì đọc ở đâu không nhớ, rằng Khuông-Dẫn đau mục nhọt sau lưng, hình như đau gan làm độc, xì « phát bối », như vậy Quang-Nghĩa chọc tức thì chết liền. Lại nữa ông thọ có năm mươi tuổi, lại ưa giải quyết nhiều việc khó bằng rượu: trảm Trịnh-Ân, bôi tửu trích binh quyền, không kể lúc thiếu thời, trôi nổi khắp xứ thì rượu uống là sự thường, rồi sau làm vua thì tửu sắc đến dâm, khó tránh, cho nên làm sao thọ lâu được, và khi hiểu việc, giới tửu uống trà là thậm phải. Theo tôi nhớ mại mại, sách tôi đọc còn quả quyết Tống Thái-tổ đau abcès du foie mà chết, nhưng xin các bạn đừng tin mà bán lúa giống!
Việc nên tin là sử chép lại và khen Thái-tổ có nhiều đức tinh tốt: biết tiết kiệm của công và bình sanh không thích sự se sua. Sử chép ngày nọ có một bà công chúa được vua yêu dấu, đến triều bái vua cha, mình mặc một chiếc áo rất đắt giá. Thái-tổ lập tức sai về thay bộ áo khác, rằng: « Con không nên khoe áo đẹp. Không khéo các em con mỗi đứa xin một chiếc như vậy thì tốn kém biết sao mà đội »
Một hôm khác, cũng một bà công chúa đến xin vua cha cho thợ thếp vàng một chiếc phụng – sang. Thái – tổ phán: « Vàng trong kho không thiếu, nhưng đó là của công. Phụ-vương không quyền lấy của công làm của tư và làm vừa lòng con được. »
Một ngày nọ, Thái-tổ đi điền điệp. Ông phi ngựa theo thỏ rừng, ngựa làm ông té, sẵn kiếm báu trong tay, ông đâm ngựa chết. Hết giận, Thái-to lấy làm hối hận và từ ấy bãi tục đi săn. Ấy là sự tích nhón lại của một ông vua mà tôi mê từ thuở nhỏ và nay nếu có xúc phạm là cũng vì muốn định nghĩa một cái chén trước dùng uống rượu sau dùng uống trà. Nếu không phải vậy thì cũng kiếm được một thiên phiếm luận đủ tiền tạm sống.
Nay xin bắt qua tìm hiểu tánh tinh Triệu Quang-Nghĩa, người em đã được vua anh thương nhiều, hằng khen hơn mình nhiều lẽ: « Long hành hồ bộ », « tất vi thái-bình thiên-tử, phúc đức phi ngô sở cập. »
Tống Thái – tông (Triệu – Quang – Nghĩa) (976 – 997). -L’empereurT’ai-tsoung des Song.
Theo tôi, Thai-tổ thương Quang-Nghĩa vì đã thay cho minh, ở gần cha mẹ lo việc phụng dưỡng thế cho mình,
mắc tội bỏ nhà chạy trốn, người đi xa thường thương người thân và mến trọng người thân, chớ dưới mắt tôi,
Quang-Nghĩa thua xa anh.
Năm 978, Thái-tông sắc phong Khổng-Nghi (K’oung-i) là cháu đời thứ 44 của đức Khổng-Tử làm Văn-Tuyên-công (propagateur des Lettres). Năm 979, vô cớ Thái-tông hưng binh đánh Khiết-đơn, đánh không lại, đến đỗi phải bỏ long-xa, trốn trên xe của thường dân mới thoát khỏi nạn nguy. Trong khi vua trốn, Khiết-đơn phong con vua Khuông – Dẫn, là Đức – Chiêu (Tchao-teitchao) làm nhiếp-chánh-vương. Khi Thái -tông trở về kinh, Đức-Chiêu tâu xin thăng-thưởng các tướng hữu công, vua phán giọng lẫy: «Hãy chờ khi lên ngôi, sẽ phong lấy! » Đức-Chiêu buồn rầu, về cắt cổ chết. Thái-tông điếu tang, khóc: « Cháu sao dại dột và cạn xét như vầy ». (Trong Wieger nói: « Bớt một mũi nhọn thứ nhứt. »
Năm 981, Triệu – Đức – Phương (Tchao – teifang) là em của Đức-Chiêu, bỗng chết, – không rõ vì bịnh hoạn hay vì cớ nào khác, Wieger lại phê: «Bớt một mũi nhọn thứ nhì. »
Còn lại người con út Thái-tổ là Triệu-Đình-Mỹ (Tchao T’ing-mei), được Thai-hậu di-chiếu cho hưởng ngôi kế vị Thái-tông sau nầy. Thái-tông vấn kế Trieu-Phổ, Phổ tâu:
« Vua trước xét cạn: cha truyền ngôi cho con mới gọi là đúng chánh-pháp. »
Năm 982, Đình – Mỹ phạm tội, bị đày và năm 984 Đình – Mỹ thác, thế là dòng giống Triệu – Khuông – Dẫn
không còn người nào để tranh chấp ngôi vua với con của Quang – Nghĩa.
Năm 983 đê Hoàng-Hà vỡ, ngập lớn vùng Khai-phong- phủ, nước sông Hoàng chảy phủ tới sông Hoài, lut lớn
khắp nơi, dân chết đến số triệu.
Năm 997, Tống Thai – tông thăng hà, con là Huyền (Heng) ba mươi tuổi, lên nối ngôi, ấy là vua Chơn-tông.
Công lao của nhà bác, bác nghe lời mẹ, nay chú và dòng chú hưởng. Nói cho công bình, đời Thái-tông được thái bình, vì Thái-tổ và ông, đã dẹp được «an bốn biền », vua lại hay giảng võ, khuyến nông thương, lại biết yêu chuộng văn chương, kính sĩ dụng hiền và Thái-tông có lập một kho sách, hơn tám mươi muôn cuốn.
Đúng với lời tiên tri của Trần-Đoàn, khi gặp bà Đỗ-thị trong buổi chạy giặc, gánh hai thúng đựng vua Khuông-Dẫn và vua Quang-Nghĩa, Trần-Đoàn đã cười ngất mà gọi « thái bình đã đến rồi » và tích nầy đã ghi trong một dĩa trà có thơ nôm hai câu « Mó rận luận chơi thời-sự », «Ngã lừa mừng thuở thái bình » (văn Tây – sơn, tôi sẽ nói khi viết đến thủ chơi ấm chén và đồ sứ men lam Huế, sau nầy).
(tập số 7).
Tống Chơn-tông (998-1022).
– L’empereur Tchenn-tsoung. Thái-tông mất, không lập con nhà bác, dòng Khuông-Dẫn và lập con ruột là Chơn-tông, dòng nhà chú. Vua nầy mê tín lắm. Wieger kể lại đời vua nầy cho phổ biến thuyết trên trời, cao hơn hết có Thượng-đế, kế đó là Ngọc-Hoàng đại-đế và hai ông giáng sắc phong trên cõi dương-thế đại diện là Hoàng-đế Tống Chơn-tong, cai trị dân gian. Đời vua nay nhìn nhận trong nước có ba đạo chánh: Nho, Thích, Lão và phân ra có: lạc-thổ (le paradis), địa- ngục (l’enfer), ngạ quỷ (les démons affamés, prêtas), tội-hồn (les âmes pécheresses), và luyện ngục (le purgatoire) v.v … Nên nhớ năm Cảnh-Đức (1004), Chơn-tông dạy xây lò làm gốm tại Cảnh-Đức-Trấn.
Năm 1006, trung-thần Khấu – Chuan (K’eou-tchounn), người mình biết hơn dưới đại danh là ông Bao-Công, bị nịnh sàm tấu, vua dạy ra trấn ở Đại-Danh-Phủ (T’ai-ming-fou), ông lại được người Khiết-đơn rất mến phục, khi họ vào triều thấy vắng mặt Bao-Công, nay gặp ở đây, lấy làm * lạ hỏi, ông cuời bịa rằng « vì trong triều vô sự, nên vua sai ông ra chăn dân và trấn ải địa đầu này!
Tống Nhân-tông (1023-1063). – L’empereur Jenn-tsoung.
Năm 1022 vua Chơn-tông băng. Thái-tử Trinh (Tcheng), chỉ được muời ba tuổi, lên kế vị, xưng Nhơn-tông. Vua nay có phước, văn có Bao-Công, võ có Địch-Thanh hết lòng phụ bậc. Tôi rất phục dòng Khuông-Dẫn không tranh giành làm vua (hoặc vì thiếu phe đảng, biết tranh cũng không lại, bị giết oan mạng), thà giữ địa vị Bác-Vương (vua anh) và sau con cháu phong Lộ-Huê-Vương, tức ông vua ra đường có rắc hoa cho đạp lên hoa mà đi, như vậy mà sướng hơn!
Nhơn-tông là con của bà Ly-thần-phi, khi nhỏ nhờ bà Nam-cung Dịch Thái-hậu là đầu dòng Khuông – Dẫn giấu nuôi, sau có Bao-Công tra án Quách-Hòe mới lòi ra manh mối tích «ly miêu hoán chúa» và tích «xử án Bàng quí-phi » rất ly kỳ thống thiết, nên tìm truyện Tàu đời Tống mà đọc: – (truyện Vạn-Huê-lầu, v.v…)
Vua Nhơn-tông đáng được gọi ông vua biết lễ nghĩa. Năm 1024, ông viếng nhà Đại – Học, bổn thân khấu bái trước bàn thờ đức Khổng-Tử.
Đời nầy thiên hạ thải bình. Các danh thần, văn nhân rất nhiều, xin lượt kể không phân biệt thứ-tự và tôn-phái:
Âu-dưong-Tử (Neouyang-siou) (1007-1072); Phạm-Trọng-Yêm (Fn-tchoungyen) (989-1052); Hàn-Kỳ (Han-K’i) (1008-1075); Phú-Bậc (Fóu – pi, mất năm 1083); Tư – mã Quang (Seuma-koang) (1019- 1086);
Thiệu – Hùng (Chao – young) (1011-1077); Trình-Hạo (Tch’eng-hao) (1032-1085) ; Trình-Di (Tch’eng- i) (1033- 1107); Vương – An – Thạch (Wangnancheu (1020-1086); Thái-Kinh (Ts’ai-king) (1046 – 1126);
Tô – Tuấn (Sou – sunn) (1009- 1066); Tô – Thức (Sou – cheu) (1036-1101);
Tô-Triệt (Sou- tchee) (1039-1112); Châu – Hy (Tchou-bi) (1130-1200), v.v …
Năm 1052, đời vua Nhân-tông này, có Nùng-Trí-Cao (Noung – tcheu – kao) làm phản gần ranh Bắc – Việt, tướng Địch-Thanh (Ti-ts’ing) dẹp xong gặp bà Thoại – Ba công-chúa, hai người kết duyên (xem tuồng Ngũ hồ bình Tây của Trần-Văn-Hưởng và Lê- Ngọc- Trụ hai ông này sao chép và trình bày, còn đặt đề là do Cụ Tú Nguyễn-Diêu, hiệu là Nhơn-Ân (có Cụ Đào-Tấn sửa một đoạn).
Tống Anh-tông (1064-1067). – L’empereur Ying-tsoung.
Năm 1063, Nhơn-tông băng. Vua nầy không con, nuôi con nhà thúc bá, tên Thự (Chòu) 32 tuổi, truyền ngôi, xưng Anh-tông. (Tiếng rằng con nhà thúc-bá, nhưng có nghĩa dòng Quang-Nghĩa chớ không phải dòng Khuông-Dẫn). Vua này ở ngôi được bốn năm thì mất, thọ 36 tuổi, con được 20 tuổi, kế vị, ấy là vua Thần-tông.
Tống Thần-tông (1068-1085). – (L’empereur Chênn-tsoung).
Vua Thần-tông được tiếng là ăn cần ở kiệm và biết kính hiền trọng sĩ. Nhưng ông không được thọ, trị vì được mười tám năm thì băng (thọ 38 tuổi). Con tên là Hù, mười tuổi, nối ngôi.
Tống Triết-tông (1086-1100). – (L’empereur Tchée-tsoung).
Vua Triết-tông lên ngôi, chỉ có mười tuổi, nên có bà Cao-hậu dự chánh. Trong nước may không có nịnh thần, và các ông Tư-mã Quang, Lữ – công – Trụ và các tôi hiền khác giúp vua nên nước đặng yên. Triết-tông băng năm 1100, tuổi vừa hai-mươi-bốn. Bởi không có con kế vị, nên em là Kiết (Ki) nối ngôi.
Tống Huy-tông (1101-1125). – (L’empereur Hoei-tsoung).
Đây là ông vua tài-tử nhứt đời. Ông là con thứ 10 của Thần-tông, tước phong Thoại-Vương, nối ngôi anh năm 1101, thường xưng mình là Ngọc-Thanh giáo-chủ hạ giáng. Huy-tông ngày nay kẻ khen người chê, dư luận không đều. Chê là vì đời ông, ninh-thần đầy triều: Cao Cầu, chỉ giỏi đá cầu mà được phong Thái-úy, Thái-Kinh, văn hay chữ tốt, ngặt ham ăn hối lộ nhất đời, và giặc loạn Lương-sơn-bạc, 108 vị anh hùng do Tổng- Giang cầm đầu, chống chánh-phủ cũng vào đời nay (xem truyện Thủy-Hử). Khen là vì ông là một họa sĩ đại danh, tranh ông ngày nay bên Mỹ giành mua giá trên nhiều triệu đô-la, Huy-tông biết sưu tầm ngọc báu, nâng cao mỹ-thuật, nâng cao nghề chế bức tranh « Cầm điều » ký « Tuyên-Hòa ngự bút » của ông đồ gốm celadon, ham chơi tranh, chơi cổ ngoạn và nếu Nguyễn-Văn-Thư nói trong Bách-Khoa số 92 kể nơi bài của ông, nếu nay ông còn giữ và nếu đó thiệt đúng ngự bút của Huy – tông, thì trên cõi Việt-Nam nầy, không ai có phước và giàu hơn Nguyễn-quân vậy.
Năm 1104, phương-sĩ Nguy Hon – Tan (Wei-hantsiun) tuân lịnh Huy-tông, đúc chín đỉnh đồng thật lớn, đến năm 1105 mới xong. Tể-tướng đời ấy là Thái-Kinh, sùng bái đao Lão, gây nhiều ảnh hưởng tốt đối với mỹ-thuật, nghệ thuật, nhứt là ngành đất nung, gốm, céladon, ngọc chạm, v.v …Một quốc-gia chỉ lo việc trong nhà, sợ việc phế tập vì phe đảng, mà quên sức mạnh đang dấy lên như nước thủy-triều của các phiên-quốc vây chung quanh, một ông vua có nhiều máu phong-lưu tài-tử, nghệ-sĩ tới chót đầu móng tay, tội nghiệp thay Huy-tông đã dốt chánh trị thêm lười, lại quá tin và giao hết việc nước cho hai tham quan nịnh-thần cỡ Cao-Cầu và Thái-Kinh, nên về sau ông Huy-tông tuy thoái vị năm 1125, mà vẫn tránh không khỏi năm 1127 bị Kim-Phiên bắt đày lên phương Bắc, nhốt hay cầm tù trong một cái giếng loạn tại Ngũ – quốc – thành (Ou – kouo tch’eng, nay là Ninh-cổ-tháp ở Cát-lâm), và nhịn đói nhịn khát, kéo dài đời sống đến năm 1135 mới chết lạnh tại đây, tuổi được năm mươi tư. Tôi nói Tống Thai-tổ không thấy xa và cái họa của kế « bôi tửu trích binh quyền », chẳng phải báo hại chỉ hai vua Huy-tông và Khâm-tông, mà còn di hại đến đời Thanh với bọn xâm lăng da trắng nữa là khác.
Tống Khâm – tông hoàng đế (1126 – 1127). – L’empereur K’inntsoung.
Ông vua chia hoạn nạn với Huy – tông là Khâm tông hoàng-đế, con của Huy-tông, được cha nhường ngôi năm 1125. Huy-tông lên ngôi Thái-thượng-hoàng. Năm 1126, trời lạnh đến nước sông đặc thành giá, binh Kim – Phiên thừa dịp tràn qua nước Tống, độ binh qua Hoàng-hà, đến gần Khai-phong-phủ. Thế giặc dữ quá, Huy-tông phải chạy xuống Trấn-giang, trên sông Dương-tử. Quân Kim bắt Túc-vương Triệu -Xu về làm con tin, mới chịu rút lui. Huy – tông trở về triều, đày Thái – Kinh xuống cù – lao Hải Nam, nhưng dọc đường Thái – Kinh từ trần.
Tống Huy-tông, chưa biết binh Kim lợi hại thế nào, chẳng lánh thì chớ, lại sai binh rượt đánh tập hậu, ấy là công khai bội ước và tự chiêu kỳ họa. Quân Kim đùn đùn nổi giận, quày đầu trở lại, Tống binh đại bại.
Vua Tống hạ mình tạ tội, nhưng đã muộn, Kim buộc Tông-đế Khâm-tông và Thái-Thượng-Hoàng Huy-tông nạp mình và cũng bắt luôn vừa hoàng thân quốc thích, vừa văn võ quan viên hơn ba ngàn người, giải về Phụng-thiên-phủ (Kiết-lâm).
Khâm-tông, lên ngôi năm 1125, nhưng kể từ 1126. Đến năm 1127, bị Kim bắt về Phiên-quốc, cầm tù một chỗ với Huy-tông và đến năm 1156, mới từ trần, thọ 61 tuổi.
Nhà Bắc-Tống (960-1127), tuy tổ chức binh – bị kém, nhưng văn-hóa, triết-học, lên rất cao. Nghệ thuật chế tạo đồ gốm, đồ céladon, đồ độc sắc (monochromes) đều lên đến tuyệt đỉnh, các đời sau không theo kịp.
Nam Tống (les Song du Sud) (1127-1279).
Thái-tử Triệu-Cấu, con thứ 9 của vua Huy-tông, cũng bị binh Kim bắt đem về Phiên-quốc, nhưng trốn được về Nam, bay ngựa qua sông Dương-tử (huyền thoại để tuyên truyền thuở ấy cho đồn ông có bá linh phù trợ, nên có tích « nê-mã độ Khương-vương », con ngựa ông cỡi qua sông Hoàng-bà, qua được rồi thì rã rớt ra thành đất cục, vì là ngựa bằng đất thờ trong miễu, nhờ phép linh biến ra thần mã độ ông qua sông lớn). Đến Nam-kinh, ông tức vị xưng Cao-tông hoàng-đế (1127-1162). Đến năm 1162, ông nhường ngôi cho con, và còn sống thêm cho đến năm 1187 mới từ trần, thọ 81 tuổi. Năm 1138, định đô tại thành Hàng-châu. Năm 1135, được tin từ Bắc-Phiên cho hay Huy-tông đã mất. Đến năm 1142, cốt hài tiên đế và của hai bà Tống-hậu, được đưa về Trung-hoa mai táng. Vua Khâm-tông vẫn bị sanh cầm trên cõi Bắc, mãi đến năm 1156 mới từ trần.
Muốn biết các việc xảy ra đời này, xin xem bộ Thủy-Hử và bộ Nhạc-Phi diễn-nghĩa. Để giúp tài liệu đích xác, đây là vài chi tiết đã thấy trong sách Pháp:
– Nhạc-Phi, đầu phe chủ chiến, bị Tần-Cối sai giết tại Phong-ba-đình, năm 1140, (thọ 39 tuồi);
– Ngột – Truật (Ou-tchou), địch thủ của Nhạc- Phi, nguyên-soái Kim-Phiên, mất năm 1148;
– Tần-Cối (Ts’inn-koei), cầm đầu phe nghị hòa, chết năm 1155.
Từ nhà Tống dời đô về Nam, Trung-quốc ở vào thế người bại trận, vì binh Kim lấy mất phân nửa giang-san miền Bắc. Trong miền Nam lại chia ra hai phe rõ rệt:
a) phe chủ chiến, cầm đầu là Nhạc-Phi. Nhưng đánh thì bất phân thắng bại, vì vừa thắng thế thì bị triều đình, do Tần – Cối ăn của hối bên Phiên, làm mất cơ hội tốt: lương thực tiếp tế không đúng thời, tướng giỏi bị kiều-chiếu đòi về bắt giết, …
b) phe nghị hòa, cam đầu là thua -tướng Tần-Cối, theo truyện Tàu, là nịnh – thần, ham ăn hối lộ của Kim-
Phiên đút lót, quyết lòng mãi quốc cầu vinh. Nhưng trong sách Pháp, thì đấy là nhóm chiến bại, gồm bọn làm giàu về mễ cốc, về tơ lụa, muốn nghị hòa với Phiên, bỏ phứt Bắc-kinh là kinh-đô xa xôi, chỉ giữ kỹ miền Nam lấy Hàng-châu làm đô, tức là bọn kinh tài tư bản, chỉ biết sự nghiệp tiền bạc làm trọng, không thiết gì quốc – gia bị chúng chia cắt.
Vì thế, trong nước sanh ra chủ nghĩa yếm thế, mặc cho đời, tởi đâu hay đó.
Sở dĩ Nhạc – Phi bị hại, một phần cũng tại hay tỏ ý muốn một hai đánh thấu lên Bắc-Phiên, rước nhị đế về, – mà như vậy Cao – tòng đâu còn làm vua được, – hai nữa, tánh Nhạc-Phi thích kết giao với các tướng về hàng để đồng lòng trừ giặc, nên bọn nịnh sàm tấu làm cho Cao-tông nghi ky, nên Tần-Cối giết tướng giỏi mà vua giả bộ không hay.
Đạo yếm thế là do đạo Lão chủ trương. Văn chương yếm thế là văn khóc mây bay thương nước mất, tìm cao siêu trong chút dư vị thanh thanh của trà. Vì đó sanh ra thú hay nghệ thuật uống trà. Mỹ-thuật cũng yếm thế, luyện cho được cái biến hóa bất thường: đồ từ khí đẹp như ngọc chuốt (céladon, monochromes), không đẹp thì kỳ hình dị tướng (chén trà đất nung, bình tích da chu, bầu rượu dị hình, hoặc bị lửa già nên đổi dạng, hoặc kinh niên nên trỗ màu biến sắc, hoặc nứt rạn khác thường … Kiểng vật thì ưa phong cảnh đẹp tươi, hoa kiểng thì thích uốn nắn cụm trúc hóa long, cây mai chiếu thủy. Thuật yếm thế tuy vậy có chỗ hay vì đã đem một sinh lực khác thường vào văn hóa Trung-hoa quá cũ kỹ.
Đạo-gia, tu-sĩ, triết-gia, ai ai cũng đều muốn thoát tục. (Vì thế ngày nay tôi muốn đổi lại, không nói chén trà Đại Tống có từ Tống Thái-tổ, mà muốn nói chỉ có từ dời đô về Nam, lấy đất sét đen và nặng của vùng Phước-kiến chế ra, nên cũng gọi « kiên » là chén trà màu lông thỏ tôi đã kể năm 1960. Cho hay, trong nghề khảo cổ, được phép viết lập luận lại nếu mình thấy sai sự thật, miễn sao đừng lấy nai làm ngựa, và đừng uốn sừng sửa xoáy, phải thấy sao nói vậy và từ khoảng 1960 đến 1971, kinh nghiệm cho phép tôi trình bày một cách khác hơn năm 1960, chung quanh câu chuyện « từ chén trà Đại Tống, đến tích trảm Trịnh-Ân ».
Một mấu chốt khác tôi tìm ra là nhơn đọc bộ « Cảnh-Đức-Trấn đào-lục » (Tập 5) tôi thấy có câu: « Quan Đại-phu Thiệu-Thành-Chương (Chao-tch’ing-tchang) khi theo vua về Nam, ông muốn gây dựng cổ tục phương Bắc, nên dạy xây lò hầm đồ gốm trong « Nội-Phủ », chế ra một loại gốm gọi « Nei-yao » (Nội-diêu), gốm nầy dùng đất sét chọn lọc và chế tạo công phu, không thua đồ gốm Bắc-Tống ».
Nếu vậy, danh từ « đồ Nội-Phủ » có lẽ phát sanh từ Nam-Tống phải không?
Nhơn tiện, tôi xin trả lời cùng ông Nguyễn-Văn-Thư, rằng: «sở dĩ đồ Tống tìm gặp ở Thanh-hóa, nhẹ hơn đồ
Tống-diêu làm ben Trung-quốc, va đều rạn «mạng nhện », màu da trắng ngà (B.K. 92 ngày 1-11-60), Nguyễn-quân gọi đó là «đồ Tống Thanh-hóa », theo tôi, gọi làm vậy cũng được, nhưng muốn đúng thời gian, ý tôi muốn gọi đó là « đồ gốm do người di-thần đời Tống về làm tại Thanh-hóa trong khoảng 1279-1368, vì khoảng ấy Trung-hoa bị quân Mông-cổ (nhà Nguyên) chiếm, nên họ kéo về Thanh-hóa lánh nạn, đến năm 1368, nhà Minh dẹp được quân Nguyên, đuồi về Mông-cổ, thì đám nghệ sĩ di-thần nhà Tống cũng rút về Tàu, vì đã phục hồi độc lập được rồi, cho nên từ năm 1368, ta không thấy vùng Thanh – hóa chế tạo gốm post – Song (hậu Tống) này nữa. Việc gốm nặng hay nhẹ, mỗi người mỗi « cân » theo ý riêng, không thành vấn đề, bài nầy viết trả lời Nguyễn-quân sau mười năm cách mặt là để nhớ nhau, chớ không dám làm cho giận.
Tống Hiếu-tông (1163-1189). – L’empereur Hiao-tsoung.
Vua Cao-tông trị vì đến năm 1162, thì nhường ngôi cho con, và tiếp tục sống đến năm 1187 mới mãn phần, thọ 81 tuổi. Vua Hiếu-tông, rất tôn súng Khổng-giáo, nhưng nghe lời Nho-sĩ, đánh thuế thầy chùa và đạo-sĩ, chỉ làm mất nhơn-tâm, vô ích.
Năm 1189, ông thoái vị và mất năm 1194, thọ 68 tuổi.
Tống Quang-tông (1190-1194). – L’empereur Koang-tsoung.
Năm 1189, Hiếu -tông nhường ngôi cho con (xưng Quang-tong), để lên làm thái-thượng-hoàng. Quang-tôngtức vị, lại không thuận thảo với thượng-hoàng, vua cha và hoàng-đế không hề thấy mặt nhau cũng vì hoàng-báu, họ Lý, phao vu tin đồn thượng-hoàng-tiếc hối, muốn thuốc vua đề lấy ngôi báu lại. Bà Lý-hậu nầy, nước ghen không chỗ nới. Sử chép có một bà phi một hôm dâng rượu cho vua được vua khen có hai bàn tay xinh tốt; qua bữa sau vua nbận được của Lý-hậu một hộp dâng đồ ngự tiến: mở ra xem thì đó là hai bàn tay ngọc của bà phi vô phước có chồng là một ông vua mắc chứng sợ vợ. Năm 1194, thượng-hoàng Hiếu-tông đau nặng, Quang-tông giả cớ cũng đau nên viện lẽ ấy không đến viếng thượng-hoàng. Đến khi Hiếu-tông băng, Quang-tông không đứng chủ tang, để cho thái-tử, 27 tuổi, thay thế. Bà Thái-hậu đã ghét sẵn, lấy cớ nầy, hài tội bất hiếu của Quang-tông mà truất ngôi tôn. Thái – tử có công đứng chủ tang thượng – hoàng, nay được nấy trao quyền bính, ấy là Ninh-tông.
Tống Ninh-tông (1195-1224). – L’empereur Ning-tsoung.
Ninh-tông lên ngôi, nhưng cũng không được thấy mặt cha là Quang-tông. Năm 1200, Lý-hậu từ trần. Chừng ấy cha con Ninh-tông mới diện kiến nhau, nhưng chẳng bao lâu thì vua cũ Quang-tông nhắm mắt lìa đời.
Năm 1204, Hàn Đà-Tru (Han-l’ouotcheou) tâu vua xin với phong Nhạc-Phi và làm tội Tần-Cối.
Năm 1206, Hàn Đà-Trụ mật sai chỉnh tu binh mã, dự bị phạt Kim, nhưng cơ mưu bại lộ, binh Tống vừa ra quân, binh Kim đánh thua xiểng liểng. Năm 1208, Hàn Đà-Trụ bị xử trảm, đầu lâu bị lấy ra khỏi hòm, bêu giữa chợ rồi gởi nạp vua Kim. Tần – Cối, chết năm 1155, lại được phục vị như cũ. Năm 1206, bên nước Kim, Thiết-mộc-chơn (T’ie-mou-tchenn) (Temudjin), tức vị xung đế xứ Mông-cổ. Ông này có nhiều tên để lại trong sử sách: Thành – Cát – Tư – Hãn (Tch’êng- ki -seu – han), (Djenguiz khan, Gengis-khan, le Khan des Forts), tên khác nhau nhưng người vẫn một. Yelu-tch’outs’ai, quân sư của Thành-Cát, có nói một câu bất hủ, theo Pháp-văn, là nhu vầy: «C’est en chevauchant que vous avez conquis l’empire; c’est en l’organisant que vous le conserverez ». (Bệ-hạ ngồi trên lưng ngựa (nhiều công hạn mã) mà gây dựng nghiệp-đế; nay muốn giữ đế-nghiệp cho vững bền thì phải ra công sắp đặt trong ngoài cho có trật tự, mới được).
Yelu-tch’outs’ai (Du-Lục-Sở-Tài), mất năm 1243, làm tôi được hai triều, quân sư của Gengis-khan và của Ogotai. Khi lâm chung, có người dèm pha nên bà hoàng-hậu nhà Nguyên, la reine Tourakina, sai khám xét dinh-thự, thì chỉ thấy vỏn vẹn một cây cithare (một loại luc-huyền-cầm), còn sách vở thì không biết bao nhiêu mà đếm. Du-Luc-Sở-Tài để lại ơn lớn cho quan lại nhà Tống. Không thì bọn này đã bị tàn sát hết rồi. Lão thông Hán-văn, ông từng tâu với Nguyên-chúa Ogotai, rằng: «Muốn giữ vững nền cai trị cõi Trung-hoa, thì phải tín dụng bọn Nho-gia và dung dưỡng đám Nho-thần. » Lời nói có nhân đạo ấy vừa giải nguy cho bọn di thần nhà Tống, vừa đặt ấn triều đại mới trên lãnh thổ Trung-nguyên. Cái gì có hại, cũng có lợi một bề nào. Đó là luật bù trừ. Nhờ Mông-cổ là dòng du-mục, xâm chiếm Trung-hoa, mà mỹ thuật, âm nhạc và văn hóa của nước Tàu cũng chịu ảnh hưởng một phần nào. Đồ sành da trắng vẽ men lam, có lẽ là do binh Nguyên đem sang Trung-hoa.
Tống Lý-tông (1225-1264). – L’empereur Li-tsoung.
Vua này nối ngôi Ninh-tông. Năm 1237, vua truyền chỉ các trường phải dùng bộ sử ký Tư-mã Quang (le Miroir historique de Seuma-koang), làm sách học. Bộ sử này Châu-Hy dọn lại. Nhưng việc làm của Lý-tông, tai hại nhứt cho vận mạng về sau của nhà Tống, là liên hiệp với Nguyên để tiêu diệt nước Kim; thế ba chân vạc: Tống-Nguyên-Kim không thủ, nay làm cho Kim mất, dè đâu Tống cũng không còn. Sơ khởi, binh Nguyên mượn đường nước Tống, để tiến quân đánh Kim. Tống không cho. Nguyên cứ kéo binh tràn qua
Trung quốc đến giao chiến với quân Kim, kế hai bên nghị hòa. Sau đó, Mông-cổ sai sứ qua xin Tống hiệp binh đánh Kim, chuyện này Tống nghe theo … Nước Kim vi vậy, mất năm 1234, tính ra được chín đời vua, trị vì 120 năm. Từ đó Mông-cổ càng ngày càng thạnh, năm 1237 kéo quân sang đánh Âu-châu, rồi đánh Cao-ly và đánh Tống. Năm 1251, Mông-kha lên làm Đại-Hãn, sai em là Hốt-tất-liệt (Koubilai) bình nước Đại-Li (Ta-li), trước kia gọi Nam-Chiêu (Nan-tchao), rồi bình vùng T’ou-fan (Tho-Phồn), Tây-tạng (Tibet), đến năm 1255 giao tranh cùng nước ta, Giao-Chỉ. Năm 1260, Koubilai tức vị xưng Đại Chúa khắp Mông-cổ (Grand Khan). Cũng từ đây Mông-cổ đổi lại xung Đại-Nguyên (Yuan).
Tống Độ-tông (1265-1274). – L’empereur Toú-tsoung.
Kế vị cho Lý-tông là vua Độ-tông. Ông rất tôn sùng
Khổng-giáo. Năm 1267, bổn thân đứng chủ tế đức Khổng-Tử. Năm 1274, Độ-tông băng.
Tống Cung-đế (1275-1276). L’empereur Koung-ti.
Khi lên ngôi, Cung-đế vừa được năm tuổi đầu. Kế bị Mông-cổ bắt và giam cầm tại Hàng-châu một lượt với bà
Thái-Hậu (la Regente) và các hoàng tộc. Trạng-nguyên Văn-Thiên-Tường (Wenn-t’iensiang) sau làm Thừa-tướng, tận trung cùng Tống, phò hai vị hoàng tử chạy về Phước-châu (Fou-tcheou), và lập hoàng-tử lớn, vừa được tám tuổi, nối ngôi. Đó là Đoan-Tông.
Tống Đoan-tông (1276-1278). – L’empereur Toan-tsoung.
Đoan-tông không làm gì được, phần tuổi bé thơ, phần vận nước đã suy vi, vô phương cứu chữa; thêm Koubilaï khôn khéo, biết thừa cơ hội, dựng đạo Lão, Thích ngang hàng đạo Nho, đặt người cầm đầu Lão-giáo, Thích-giáo, chống Khổng-giáo do Tống đặt làm quốc giáo. Năm 1274, gần Hàng-châu, hòn Thiên-mẫu-san (T’ien-mou-chan) bỗng gãy sụp một góc lớn. Nhơn đó, người mê tín bàn rằng vận nước Tống đã đến lúc mạt vận. (Nên nhớ do núi nay, người Nhựt đặt tên các chén do họ chế tạo nhái chén Tống là Temmoku). (Sách The ceramic wares of Siam của Ch. Nelson, tr. 34 dịch Thiên-muc-thủ (Tem-moku-te), tưởng nên đọc theo thuyết sau). Năm 1278, Đoan-tông băng, tuổi vừa mười một.
Đế Bính (1278-1279) .- L’empereur Pìng, dernier roi des Song.
Nước Tống đã hết thời, đến đỗi có một tăng nhơn tên Dưong-liễn-trinh-gia (le bonze Yang-lien-tchenn-kia), lưu manh đào quật cả thảy 101 lăng tẩm các vua nhà Tống chôn tại Thiệu-hưng-phủ (Tchaohing-fou).
Năm 1279, một đại thần ôm vua Đế Binh nhảy xuống sông, nhà Nam Tông dứt.
Kết luận. — Nhà Tống trị vì ba trăm hai chục năm, gồm:
– Bắc-Tổng, đô là Khai-phong-phủ: 9 đời vua, trị vì 167 năm (960-1127);
– Nam-Tống, đô Hàng-châu, 9 đời vua, trị vì 153 năm (1127-1279).
Nếu luận về tài cai trị, thì quả đời Tống, vua và quan, phần đông không biết sắp đặt việc nước. Cái họa mất nước bắt đầu từ trái lời Thái-Hậu, không luân phiên chọn người lớn tuổi và thông minh làm vua, lại để vua bé thơ giữ ngôi báu, khiến cho ninh thần lộng hành, lại thêm lựa thuyết yểm võ tu văn, đến lúc hữu sự, trước nạn xâm lăng, cây bút lông không thay cây kiếm sắt. Nhưng luận về các phương diện khác, triết lý, văn học, mỹ thuật, nghệ thuật, nghề điêu khắc, chạm ngọc, chạm ngà, chạm gỗ, làm đồ gốm, Nho, Thích, Giáo, đua nhau nảy nở, gây một tiếng dội rất lớn khắp hoàn cầu, đến nay tiếng dư âm vẫn còn chưa dứt. Ngày nay, đồ gốm Tống, nhứt là đồ celadon, các hũ đựng cốt, tranh đời Tống, ngọc cổ, đồ sơn mài, chữ đại tự Tổng, v.v .. , để tiếng thơm cho đời Tống, chứng minh đến ngày nay, với khoa học hiện đại, các nước Âu-Á-Mỹ, vẫn chưa theo kịp. Có thể nói từ khi gay chiến với Khiết-đơn rồi Mông-cổ (Kim và Nguyên), mà có sự trao đồi nghệ thuật văn hóa: ảnh hưởng nước ngoài nhiễm vào Trung-quốc không ít. Nếu Huy-tông xa hoa, ham chơi ngọc, thì nghề chạm ngọc tự nhiên được nâng cao. Bởi Huy-tông ham đá cầu, ham vẽ tranh mà trong nước biết trao giồi các môn ấy. Nghệ thuật Bắc-Tông có vẽ đoan trang thêm đượm màu Nho-Thích. Từ Cao-tông di đô về Nam, các đạo sĩ trong núi tìm được nhiều giống trà, nên có nghề trồng trà, nghề làm chén trà và thú uống trà được nâng lên làm một nghệ thuật, hơn nữa làm một đạo thuật (như ngày nay người Nhật-Bản còn truyền giữ), quả hoàn cầu thọ hưởng văn minh đời Tống không ít. Nghệ-thuật Nam-Tông chuộng và gần Nho-Lão hơn đạo Thích. Nhưng chuộng văn đến quên việc võ, quên sự phòng bị biên cương, tập luyện quân sĩ, thì cái hại mất nước đã kề, và cái triết lý yếm thế, đóng cửa tham thiền, không đủ ngăn giặc dữ bên ngoài. Rồi dữ lắm cũng phải có ngày tàn, luật thiên địa tuần huờn là như vậy.
Sau Tống, nhà Nguyên trị vì Trung-hoa chưa đầy một trăm năm, thì vì nhiễm văn minh của nước bị chiếm, mà bị nhà Minh đuổi trở về vùng du-mục.
21-3-1963/2-11-1971
Lời bàn thêm. – Theo quyển «Céramique ancienne de l’Asie » của ông Fujio Koyama (do bà Daisy Lion-Goldschmidt dịch ra Pháp-văn), thì tác giả Nhựt định đồ gốm Bắc-Tông chịu ảnh hưởng của Khổng-giáo (xem đồ bản ở sau) và đồ gốm Nam-Tống, trái lại, chịu nhiều ảnh hưởng của Phật-giáo (tr. 64 sách dẫn thượng). Thuyết này, các chuyên gia Âu-châu cho quá thiên về bí truyền, bí giáo (ésothérique) và không công nhận. VHS
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.