Một thời để yêu & Một thời để chết.

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 18 May 2026

Yêu và chết của một người trên mặt đất, nhất là trên mặt đất đầy lửa và máu, hoài vọng và thất vọng cay đắng. Một thời yêu và một thời chết, chỉ một thời thôi đời sống của con người kéo dài trong tiếng rạn nức của diêm sinh bắn lửa trên đầu que diêm. Một thời để yêu và một thời để chết, một quyển tiểu thuyết dầy trên năm trăm trang, làm máy động lên những vùng tóc tơ của tình yêu và những tiếng kêu chiều của sự chết. Một người đàn ông mang tên X, gặp cô gái mang tên Y, gặp nhau tình cờ trong bối cảnh, mang tên Z.

Tên X ấy có thể là Ernst Graber và cũng có thể là Xuân, Minh, Vinh hay Tâm; tên Y ấy có thể là Elisabeth Kruse và cũng có thể là Vi, Thủy, Ngọc hay Lan, tên Z kia có thể là một thành phố Đức giữa thời đại chiến mà cũng có thể là một thành phố nào đó. Tình yêu giữa thời chiến, đây là câu chuyện muôn đời xảy ra muôn lần trên lịch sử muôn năm của muôn triệu con người, nhưng đọc một thời để yêu và một thời để chết của Erich Maria Remarque, chúng ta mới thấy rằng có một thời tình yêu và chiến tranh lại trở thành những đề tài sáo cũ và lỗi thời, mà cũng có một thời tình yêu và chiến tranh lại trở lại thành những tiếng gọi thầm thì và những tiếng thống thiết đồng vọng lên hơi thở không ngừng của trái tim. Remarque đưa mình vào một buổi chiều phiêu lãng có mây nhẹ bay qua trên đống gạch vụn điêu tàn của một nền văn minh giẫy chết. Remarque không làm văn chương; chất thơ phớt nhẹ vào quyển tiểu thuyết ông như một chút nước mát từ đồi cao rưới xuống mặt đất cháy đen của thời chinh chiến.

Lối văn giản dị, không tô đậm những thông điệp của một sứ giả hay một tiên tri từ vùng trời lý tưởng trở về thế gian hữu hạn để cất tiếng nói lên kêu gọi một cái gì đó. Không, Remarque không phức tạp như một André Malraux không chua xót hận thù như Malaparte, không lạnh lùng tàn nhẫn như Norman Mailer, không thất vọng bơ vơ như Hemingway. Người về từ chiến tranh. Trong tiểu thuyết của Remarque, không về trong sự lạc loài thờ ơ của Faulkner, mà trở về với hoài tưởng tới những con chim sơn ca ở đầu làng, về trong tình yêu và ra đi trong sự chết, dó là một chút khói thuốc mà Remarque gởi tặng cho chúng ta, vì như một nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết khác của Remarque “người ta chỉ có thể tìm được thanh bình trong khói thuốc”. Sự trở về kêu gọi quê hương, tình yêu, thanh bình; sự ra đi kêu gọi sự chết chiến tranh, hận thù, ngộ nhận, hư vô. Đó là một cội cây anh đào trổ bông mà Remarque đem về tặng cho mỗi người trong chúng ta, những người đang sống qua kẽ nứt của mái nhà tranh quê mẹ. Trong một quyển tiểu quyết khác của Remarque, mang tên là Mặt trận miền Tây đều yên lặng, một nhân vật nào đó không ngừng ám ảnh trí nhớ của mình, đó là một anh tân binh quân dịch, một hôm, khi ngoài cửa sổ trại lính anh bỗng nhìn thấy cây anh đào trổ bông bừng lên cả khung cửa, suốt đêm đó, anh trằn trọc ngủ không được, anh nhớ đến cây anh đào ở quê nghèo, và sáng hôm sau, người ta không còn tìm ra hành tung anh nữa. Anh đã trở về.

Ra đi và trở về. Ra đi trong trầm uất và trở về trong liều lĩnh rạo rực. Sống rạo rực và chết như khói bay lên trời. Mộ thời để yêu và một thời để chết. Yêu một lần và chết một lần. Chỉ một lần. Remarque trao tặng chúng ta một thời để yêu và một thời để chết. Từ mặt trận ở Nga, Graber trở về nghỉ phép ở quê hương, chàng đã chờ dợi hai năm rồi mới được dịp may bất ngờ này. Về tới quê nhà, chàng không còn thấy, không còn nhìn ra mái nhà xưa nữa, bom đạn đã làm tan nát tất cả: cha mẹ chàng mất tích, chàng bơ phờ tìm kiếm hành tung của cha mẹ, nhưng rồi tình cờ gặp cô Elisabeth Kruse, họ yêu nhau, yêu nhau đến độ cao cuối cùng của phong vũ biểu, vì họ chỉ biết rằng mọi sự đều chỉ đến có một lần thôi. “Thực là lạ, anh nhỉ, Elisabeth nói, có lẽ là mùa xuân đang tới, em có cảm giác là đâu đây thoảng thoảng mùi hoa đồng thảo…”.

Và thỉnh thoảng Graber còn nghe được tiếng chim họa mi vô hình kêu hót, dù bao nhiêu sự việc đã trôi qua từ bao giờ. Nhưng giữa cánh đập của con én liệng ở lầu chuông, Graber cũng thể quên hẳn kỷ luật quân đội và chàng phải trở ra trận, để rồi sau cùng bị bắn chết, lúc chàng mở cửa tù cho tội nhân trốn thoát. Lòng nhân đạo của chàng đã bắn chàng chết: chàng muốn giải tỏa tù nhân và chính tù nhân được trả tự do đã quay ngược lại chĩa súng bắn vào chàng. Câu chuyện chấm dứt bằng một câu đơn giản: “và đôi mắt chàng đóng khép lại”, thế mà chúng ta có cảm tưởng rằng câu nói ấy về sự đóng khép của một vũ trụ nào đó, một vũ trụ mà: “một cụm mây bay chậm qua bầu trời. Những con chim kêu ríu rít trong rìhững cội phong già. Một con bướm xanh lơ lảo đảo từ đóa hoa này đến đóa hoa khác và bay lượn trên những hô lạc đận. Một chặp sau đó, một con bướm khác bay tiếp theo với con bướm xanh kia. Hai con bướm vui đùa với nhau và săn đuổi nhau. Tiếng ì ầm ngoài mặt trận vang động lớn dần. Hai con bướm giao cấu nhau và bay cao lên chậm chạp trong không khí ấm và sáng. Graber nằm ngủ”.

Erich Maria Remarque, nhà văn Đức sinh năm 1898, bị thương năm lần tại mặt trận, sống ở Mỹ quốc trong thời đại chiến 1939-1945, đồng thời sống ở Pháp và Thụy Sĩ. Ông là một tiểu thuyết gia nổi danh của văn học Đức hiện đại, nhiều quyển tiểu thuyết của ông bán chạy nhất thời hậu chiến. Những quyển tiểu thuyết của ông đều nói lên sự tàn phá của nền văn minh Tây phương, của chiến tranh và hận thù. Tình yêu và tình thương vẫn là đề tài muôn thuở mà ông không bao giờ viết lên với những tiết nhịp dễ dãi của thứ văn chương lãng mạn hời hợt. Tính cách lãng mạn trữ tình của Remarque là một đóa hoa mọc lên từ máu và bùn. Đọc Remarque, chúng ta cảm thấy niềm tin vào cuộc đời vẫn còn đó rạng rỡ như một cơn lửa chiều. Chúng ta khó quên một đoạn trong một thời để yêu và một thời để chết:

– Không nên bao giờ cứu vớt những giấc mộng.

– Nên chứ, nếu không cứu vớt những giấc mộng thì cứu vớt gì bây giờ?

– Cứu vớt Niềm tin. Còn những giấc mộng thì tự chúng sẽ hồi sinh lại.

Giấc mộng này đi qua, nhưng giấc mộng khác sẽ đến và sống lại. Chỉ có Niềm tin là đáng nuôi dưỡng khi bóng tối vây phủ trên giấc mộng loài người.

Con chim bay lạc

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 18 May 2026

Tiếng động bên ngoài cửa sổ làm tôi giựt mình thức giấc. Hồi chiều làm việc mệt quá, tắm xong lên giường đánh một giấc thẳng cẳng, lúc ngủ tôi quên kéo màn cửa và quên tắt đèn nên khi mở mắt ra thấy ánh sáng tràn ngập căn phòng. Tuy mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cũng thấy bóng của con chim đập cánh phành phạch bên ngoài khung kiếng. Tốc mền ngồi dậy, tôi bước xuống giường, đi nhanh ra ngoài. Không kịp bận đồ ấm nên vừa mở cửa bước ra boong, khí lạnh tạt vào người làm nổi da gà, gồng mình chịu lạnh, tôi bước nhanh ra phía ngoài cửa sổ để cứu mạng con chim. Tới nơi tôi thấy con chim vẫn còn vẫy cánh phành phạch như muốn tông bể cửa kiếng để chui vào trong, tôi bèn đưa hai bàn tay hốt lấy con chim. Khi tôi day trở lại, vô ý vấp phải cái nắp hầm té nhào. Vẫn cầm chặt con chim trong hai lòng bàn tay, tôi chống cùi chỏ, lồm cồm đứng dậy và đi nhanh trở vô trong phòng.  Một tay cầm con chim, một tay vuốt bộ lông mướt rượt của nó, thấy nó còn khoẻ mạnh, tôi buông nó ra, nó liền bay đậu trên kệ sách. Cho nó đậu nghỉ mệt, tôi xem lại mình mẩy của mình, cùi chỏ bị trầy một chút nhưng không bị thương tích gì hết, chỉ có áo quần bị ướt và lấm lem, tôi đi lại mở hộc tủ lấy áo quần sạch ra thay. Thay đồ xong tôi đi tới kệ sách đưa tay định bắt con chim, nhưng nó né ngang và quạt cánh một cái, bay phóng xuống đậu trong góc phòng. Tôi nghĩ, chắc tại nó còn sợ nên hốt hoảng, tôi không đụng tới nó nữa. Tôi ngồi chồm hổm quan sát con chim, trông nó mập mạp, đuôi dài xoè ra, lông màu xám trông cũng khá đẹp. Nhìn hai bàn chưn tôi biết nó không phải là loài chim sống trên biển, những loài chim sống trên biển thường có bàn chưn da liền ngón, giống như chưn con vịt. Nhưng bàn chưn chim này giống chưn gà, đôi chưn khẳng khiu, hơi dài và thân hình nó lớn hơn con chim sẻ. Có lẽ đây là chim nhại, loài chim có biệt tài bắt chước tiếng hót của những loài chim khác rất hay, không phá hoại, không hận thù chỉ biết tập trung nhiều tiếng hót bằng cả tấm lòng thành những khúc nhạc cho người ta thưởng thức… Để nó ở đó, tôi đứng dậy, tắt đèn, leo lên giường nằm. Biết chim không thể nào hót được trong lúc này, nhưng tôi hy vọng nghe tiếng của nó. Chờ một hồi tôi ngủ thiếp đi hồi nào và bao lâu hổng biết. Tới khi con chim làm gì mà phát ra tiếng ực ực ực ực… cứ liên tiếp làm tôi chợt thức và không sao ngủ lại được. Tôi ngồi dậy mở đèn, cúi xuống nhìn con chim, không nghe tiếng ực ực nữa, trông nó có vẻ rụt rè sợ sệt, nhưng không có vẻ bịnh đau gì hết. Tôi bận quần dài và choàng áo ấm, đi xuống kho chứa đồ tìm lấy thùng giấy đem lên và bắt con chim nhốt lại. Tôi bưng thùng chim ra để sau lái tàu, chỗ khuất gió, chờ trời sáng thả nó đi.  Tôi đứng lên nhìn ra biển, không biết mấy giờ mà mặt biển tối đen, bầu trời đầy sao. Hồi sớm thấy trăng lưỡi liềm, nhưng bây giờ trăng lặn đâu mất. Mới qua tết tây hơn một tuần, năm nay tết ta nhằm cuối tháng một tây, vậy là hết con trăng này thì tới tết Nguyên Đán rồi.   Xa xa về phía đất liền, đèn của làng xóm thì tỏa ra chòm sáng yếu ớt, đèn của thành phố lớn thì tỏa ánh sáng rực rỡ hơn và dải đất liền thì còn ẩn trong bóng tối. Biển lặng im phăng phắc, không khí lạnh của mùa đông ven bờ biển nước Ý không quá khắc nghiệt như trong vùng Baltic. Lạ thiệt, không hiểu sao đêm nay không thấy bóng đèn của tàu buôn nào và luôn cả những ghe đánh cá cũng biến đâu mất hết, làm cho biển vắng vẻ trầm buồn càng buồn thêm. Lâu lắm rồi tôi không có cảm giác nhớ nhung, nhưng đêm nay, có lẽ vì con chim và sự quạnh hiu của biển đã gợi trong tôi niềm nhớ. Nhớ mấy năm trước tôi có về Việt Nam, cũng vào những ngày này, nghĩa là trước Tết ta vài tuần. Tôi ở nhà thằng cháu họ, nhà nó ở miệt vườn miền Tây Nam phần. Nó là một Phật tử nhưng không ăn chay trường, cuộc sống giống như một cư sĩ, hay giúp đỡ người khốn khó, nhưng ai gọi nó là người tu hành nó hổng chịu. Nó không bao giờ vào những ngôi chùa nào có tổ chức lễ phóng sanh, nó nói: – Phóng sanh gì chú ơi, sát sanh thì có. Chú tới những ngôi chùa có lệ phóng sanh nhằm ngày rằm, ngày lễ lớn, chú sẽ thấy từ trong sân chùa ra tới ngoài cổng chùa cá nước, chim trời nằm chết ngổn ngang. Những ngày thường nó thấy ai bán chim là nó mua đem về thả. Những ngày lễ lớn, nó cũng bỏ ra một số tiền, mua những con chim người ta bán để phóng sanh đem về thả ra sau vườn, con nào còn khoẻ mạnh thì cho bay đi, con nào bị người ta nhổ lông cánh thì nó cho bay nhảy sau vườn, nó để thóc gạo cho ăn, khi nào lông mọc lại đầy đủ và khoẻ mạnh thì cứ tự nhiên bay đi đâu thì bay. Nó nói: – Những con chim bị người ta cắt cánh hổng bay được xa, để người ta thả ra và dễ dàng bắt lại.  – Phóng sanh rồi bắt lại, đạo lý gì ở đây?  – Đạo gì chú ơi, toàn là rác rến của Tàu đem qua nước mình đổ đó thôi. Câu nói của thằng cháu làm cho tôi nghĩ tới sự mê tín dị đoan tràn lan trên đất nước quê hương này…  Vườn nhà của thằng cháu có rất nhiều chim, ngoài những con chim bị người ta cắt lông cánh bay không được xa ra, có lẽ những con chim khác nó thả không chịu bay đi vì còn lưu luyến mảnh đất lành, “Đất lành chim đậu.” là lẽ đương nhiên. Những ngày mới về mỗi sáng, mỗi chiều tôi nghe tiếng chim kêu om xòm trời đất làm tôi có hơi bực bội, nhưng ở vài tuần thì nghe quen, cảm thấy vui tai, tâm trí rất thoải mái và rất bình an. Những tháng ngày đi xa, mỗi khi nhớ quê, cũng như đêm nay, tôi lại nhớ tiếng chim kêu rộn rã vào buổi sáng và buổi chiều nơi miền quê ấy.  Lại nhớ miên man tới những cái am trên trên đỉnh núi, những ngôi chùa ngoài hải đảo xa xôi. Tôi rất thích những ngôi chùa nép mình bên đồi núi, thấp thoáng trong rừng cây, có mây mù bao phủ. Nơi đó có những người tu hành áo lam, áo nâu bạc màu, sờn vai cũ kỹ. Suốt ngày lam lũ, cuốc đất trồng khoai, tỉa hành, tỉa rau, tưới đậu và sống cuộc đời đạm bạc. Ăn cơm rau rừng, uống nước mưa, tắm nước suối, trông rất hiền từ, không toan tính nọ kia. Nơi núi rừng đó chim muôn, chuột, thỏ, gà rừng sống rất yên bình. Chúng không sợ những tên đồ tể, đầu trọc lóc, đội mão quốc sư, tay cầm tích trượng, bận áo cà sa, ăn, uống cho cố, tên nào tên nấy mập như heo, có gái đẹp đi theo hầu hạ. Đã vậy còn bày vẽ tùm lum, biến chùa chiền thành nơi buôn bán thú vật, thành lò sát sanh. Nghĩ tới đây, tôi phát rùng mình, nổi da gà. Tôi ngó vô bờ, trong kia là dải đất liền của nước Ý, dân Ý theo đạo Thiên Chúa, đạo Chúa không cấm ăn thịt thú vật, không bắt buộc tín đồ ăn chay. Nhưng chim chóc nơi đây có đời sống bảo đảm và rất an toàn.  Nghe thấm lạnh, tôi day lưng định đi vô, chợt nghe tiếng con chim vùng vẫy rột rẹt trong thùng. Hổng được! Chợt nhớ ra, tôi đã từng chứng kiến nhiều con chim chết trên thành cửa sổ cũng vì lao vào ánh sáng đụng phải cửa kiếng hoặc bị nhốt trong chỗ chật hẹp, chúng đập cánh tìm cách thoát thân, vật vã đến khi mệt mỏi rồi chết. Tôi day lại, cúi xuống mở thùng ra, nhè nhẹ bắt con chim trong hai lòng bàn tay. Tôi đứng lên đưa thẳng hai tay về phía đất liền và nói với con chim: – Mày bay vô đất liền đi, những nhà thờ ở trong đó hổng có lệ phóng sanh, dù sao trong đó cũng an toàn hơn, đừng bay ra biển, biển hổng phải là môi trường sống cho loài chim như mày, nguy hiểm lắm. Buông con chim ra: – Gút bay chim nhé. Chim liền vụt bay lao vào bóng tối, mãi tới giờ tôi mới nghe tiếng nó kêu. Tiếng kêu rộn ràng âm vang giữa bóng đêm. Tôi có cảm tưởng như con chim vui mừng lắm và làm tôi cũng vui lây.     
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 18 May 2026

Tôi ở đậu nhà bà Ba. Nhà có hai gian, cất theo kiểu nhà ngang. Gian bên trái, làm nơi thờ Phật. Phía trong, có căn phòng nhỏ là chổ ngủ của bà, Cửa trước, luôn luôn đóng kín. Ngọn đèn dầ nhỏ trên bàn thờ Phật, soi một thứ ánh sáng mù mờ huyền ảo. Mọi sự ra vô đều dùng cánh cửa ăn thông qua gian bên trái. Gian bên trái là nơi sinh hoạt, cũng là chổ ngũ và bàn học của tôi.

Bà Ba là nhân vật lạ. Tuổi sáu mươi tư. Thân hình đẫy đà cao ráo. Tôi hình dung, lúc xuân thời bà là một giai nhân. Tôi không thấy chồng con. họ hàng thân thuộc, cũng chẳng khi nào nghe bà nhắc tới. Bà sống rất thảnh thơi. Ngoài chuyện đi chùa, và tụng kinh hằng đêm, bà không làm gì cả. Đôi lần nghc nói, bà có nhiều ruộng đất ở Lương Sơn. Bà bán tất. Có lẽ, số tiền đủ để bà thong dong suốt quãng đời còn lại. Nhiều người đàn bà năng đi chùa, trong đó có bác Huế, quen biết bà Ba. Nhưng không ai ghé nhà bà, dù một lần cũng không. Bà sống rất cô độc. fi nói đến độ dị thường. Tôi là người duy nhất gần gũi với bà. Dù thế, cũng chỉ trao đổi những câu cần thiết. Bác Huế nói, nghe đâu thời trẻ bà Ba đã từng làm cho nhiều đàn ông tan nhà nát cửa, Bây giờ, bả chịu tu rồi. Bà Ba cho tôi ở đậu với điều kiện, tôi phải ăn chay trường như bà. Tôi nghĩ, thế cũng tốt. Ăn chay là thể hiện tinh thần bác ái với muôn loài. Tránh dược cai họa sát sinh, có dịp làm lành lánh dữ, Phật sẽ gia hộ độ trì cho tôi được may mắn trên đường đời. Tôi chịu tiền ăn cơm chung với bà. Quanh năm suốt tháng, chỉ một món ăn. Cải bẹ xanh luộc, chấm với nước tương. Thỉnh thoảng, bà luộc thêm những bông hoa huệ trắng lấy xuống từ bàn thờ Phật. Mỗi tuần, bà uống thêm một thang thuốc Bắc tẩm bổ, sắc từ chiếc ấm đất. Ăn uống như thế, bà vẫn mạnh khỏe phây phây. Tôi ăn như thế, nhưng không uống như thế. Người cứ trơ xương, mất máu dần. Mỗi tháng lãnh tiền kèm trẻ, trước khi vào tiệm phờ, tôi khấn thầm, xin phép Phật cho con nửa giờ ăn mặn. Tôi gọi tái chín gân sách gầu nạm nước béo hành trần đủ thứ, đớp một bụng nó nê. Vừa về nhà, bà Ba biết ngay rằng tôi vừa “phá giới”. Mặt bà lạnh đi. Bà nói, kẻ ăn mặn không được bước chân lên bậc thềm nhà bà. Tôi năn nì, bà Ba ơi, trước khi ăn mặn con đã xin phép Phật rồi. Bà hỏi, Phật nín thinh, phải không? Tôi thưa, đúng vậy, im lặng là bằng lòng. Bà nói, trong thinh lặng có biết bao nhiêu lời vô ngôn Phật dạy bảo. Con đừng lý luận theo kiểu phàm phu. Những lần sau lén ăn mặn, tôi đánh răng súc miệng thật kỹ, nhưng bà cũng biết. Bà nói, thân thể của người ăn mặn toát ra mùi tanh, làm bà buồn nôn không chịu được.

Mỗi tối. Bà Ba gọi tôi lên nhà thờ Phật, ngồi gõ mõ cho bà tụng kinh. Đó là lý do duy nhất, tôi được lên gian nhà này. Bình thường bà cấm, vì nơi thờ phụng không thể ra vô làm khuấy động chốn trang nghiêm. Mới đầu, tôi ngồi bán già, gõ không đều, lúc chậm lúc mau. Bà Ba dạy mãi, tôi cũng ngồi được kiết già, gõ đúng theo ý bà. Lúc bà tụng, tôi gõ cốc cốc cốc … , nhẹ, đều. Khi nghe chuông ngân một tiếng boong, có nghĩa là vừa dứt một đoạn, tôi gõ cốc cốc cốc … , mạnh hơn. Đêm nào bà cũng lặp lại, tuần tự đúng theo một nghi thức.

Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn. Tịnh thân nghiệp chân ngôn. Tịnh tâm nghiệp chân ngôn. Sau đó, bà bắt đầu khai kinh, đọc chú. Tôi vừa gõ mõ, vừa ngủ gục. Nghe bà lên giọng, bại xà ra báng ni phấn, hủ hàm tô rồ ung phấn, sa bà ha, tôi biết thời tụng sắp xong. Chỉ ráng vài phút nữa thôi. Đến khi, nga đằng giữ chúng sinh, giai cộng thành Phật đạo và ba tiếng chuông boong boong boong, là xong hoàn toàn. Tôi ưỡn mình, hít một hơi dài thoải mái. Đứng dậy cung kính xá Phật ba xá, trở về bàn học. Khi mở quyển sách ra. tôi bắt đầu ngáp. Chữ nghĩa nhập nhòa, Đầu óc lơ mơ. Đồng hồ chỉ đúng mười môt giờ khuya.

Tương truyền, thời gian chín năm tổ Dạt Ma diện bích, mỗi khi buồn ngủ, ngài đưa tay lên mắt rút “con buồn ngủ” ném ra ngoài, Lâu ngày chầy tháng, trước hiên thiền phòng mọc lên một loại cây lạ, Người ta hái lá cây này, nấu nước uống, có công dụng làm tỉnh táo, xua tan cơn buồn ngủ. Từ đó, đặt tên là cây trà, Thấy tôi dật dờ, bà Ba bảo nên uống nước trà. Lúc đầu uống tra làm tôi tỉnh ngủ, nhưng cái đầu mệt mỏi, học chẳng nhớ được gì. Những lần sau, tôi uống trà, vẫn ngủ. Bà Ba nói tôi bị lờn trà, giống như người ta lờn thuốc vậy.

Tôi học hành ra sao, bà Ba không quan tâm, Bà cho rằng học là lo chuyện thế gian. mà đời người ngắn lắm. Tôi nghĩ, với số tuổi sáu mươi tư của bà thì đời còn lại ngắn thật. Nhưng tôi mười tám, đời còn đài. Bà khnyên, nên mau tu hành keo muộn. Tôi nghĩ, còn những đứa con gái như Phương Nghi lao xao trên cõi đời, làm sao tôi tu được? Nhất là khi tôi khám phá ra thân thể kỳ diệu của đàn bà qua chị Triều, thì lên Niết Bàn chắc gì đã sung sướng hơn sở hữu một nữ nhân?

Bà Ba thương tôi, lo cho kiếp sau tôi trầm luân trong bể khổ. Còn kiếp này? Bà nói, như chiếc áo mặc tạm, xấu đẹp không cần.

Học phí năm đệ nhị khá cao. Tôi không đủ khả năng đóng tiền trường, chỉ ghi đanh học cua toán lý hóa. Tất cả các môn khác, tội mua sách về tự học. Thời gian này, tôi quen với thằng bạn tên Ẩn. Nó học cao hơn tội một bậc, đang chuẩn bị cho chương trình đệ nhất, thi tú tài toàn phần. Nhà nó ở Xóm Bóng, rất nghèo. Ngoài những giờ học cua, nó không đến trường nào cả. Thằng này thông minh dễ sợ. Ít thấy nó để mắt vào quyển sách, nhưng hỏi điều gì nó cũng thông suốt. Nó là thằng hướng dẫn thêm bài vỡ cho tôi. Và cũng là thằng hay rủ rê toi đạp xe long nhong trên đường Duy Tân, dọc theo bờ biển. Nó bảo, phải đi chơi cho đầu óc thanh thản. Gầm đầu hoài vô sách vở như tôi, chỉ có nước ăn cám heo. Nó nói đúng. Nhiều khi tôi học bài như đọc thần chú, chẳng hiểu nghĩa lý ra sao.

Ấn có thằng bạn tên Đăng, Đăng có thằng bạn tên Tưởng. Hai thằng này là con nhà giàu. Chúng tôi quen dây chuyển thành bộ bốn. Bà Ba cấm tuyệt, không thằng bạn nào của tôi được dến nhà bà. Mỗi lần muốn rũ tôi di chơi, một thằng chạy xe dạp ngang nhà, huýt gió tò tí te … to tò tò te … Tôi đáp lại tò tí te … tò tò tờ te … , và xách xe đạp ra đi. Bà Ba là người tụ hành yên tịnh, không chịu nổi sự phóng đãng của tôi, nhưng không hề năng lời phiền trách.

Bà nói: “Con tu không ra tu, học không ra học. gõ mõ thì ngủ gục. Bà tụng kinh trì chú cho con nghe, mơng kinh chú thấm nhuần tâm con. Vậy mà tâm con không chuyển.”

Tôi nói: “Kinh bằng tiếng Hán, chú là ngôn ngữ của Phật. Cả hai, con đều không hiểu.”

“Tu hành cốt ở niềm tin. Chúa Giê Su cũng phán, phúc cho ai không thấy mà tin. Bất cứ tôn giáo nào cũng đặt niềm tin lên yếu tố hàng đầu.”

“Đức Phật không chủ trương cuồng tín. Ngài bảo, đừng vội tin những gì ta nói, mà hãy suy nghiệm xem có đúng hay không” Đại nghi ắt đại ngộ là thế.”

“Con ơi, những lời con vừa nêu là để dành cho bậc thiền đức. Bà với con nghiệp dày phận mỏng sơ cơ, làm sao thấu đáo lời Phật day? Đọc sách thánh hiền nhằm hiểu ý chứ không nắm lời. Phật bảo, kẻ nào theo sát từng lời từng chữ của ta là phỉ báng ta.”

Tôi tiếp theo liền: “Nhưng Phật cũng lại bảo, kẻ nào xa rời một chữ của ta là phá hoại Phật pháp ta. Như thế, con phải hiểu theo nghĩa nào đây?

Bà nói: “Bà cũng là người đang mò mẫm trên đường đi. Điều gì biết thì nói, không biết mà tự ý giải nghĩa sai, mắc tội đọa địa ngục. Con hỏi khó làm gì?”

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Tôi không biết ai là tác giả câu nói “nếu biết đi, cái cột đèn cũng đã ra đi”, nhưng lời nói này đã mô tả thảm trạng khốn nạn, khổ đau của dân tộc chúng ta sau ngày 30 tháng 4-1975. Kể từ ngày miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, hàng triệu người đã tìm cách bỏ nước ra đi, chấp nhận chết chóc, tù đày để tìm tự do. Các nguồn tin đều phỏng định có hằng trăm người vượt biển ra đi, cứ một người đến đất liền thì có một người chết trên biển cả. Bao gồm cả những thuyền nhân vượt biển, các đợt “bán chính thức” khi chính phủ Cộng Sản công khai đẩy Hoa Kiều ra khỏi nước, khiến cho ngày nay, ở chân trời góc biển nào cũng có người Việt Nam lưu vong. Đến nước Mỹ thì có chương trình con lai “tìm về đất cha”, chương trình định cư của những người tù “cải tạo”, chương trình “Ra Đi Có Trật Tự”, và chương trình bảo lãnh thân nhân của gia đình định cư tại Mỹ. Vì vậy cho đến ngày nay, nước Mỹ là nơi có đông người Việt định cư nhất trên thế giới, con số đó là một triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn, chín trăm năm mươi người (1,642,950), chỉ mới tính đến năm 2007. Thời gian nào được xem như thời gian chấm dứt cuộc trốn chạy chế độ Cộng Sản được xem như là dài nhất trong lịch sử loài người. Phải chăng là cho đến lúc Cộng Sản tuyên bố giai đoạn “mở cửa” và những người ra đi vội chóng quên đã trở về vui vẻ trong ngày lễ hội mới trên nền đất xưa, vốn một thời đã đầy dẫy xương máu, thù hận, xót xa của một thời chưa lấy gì làm xa lắm. Nhưng về, mà không ở lại, làm một người du khách mang hộ chiếu ngoại quốc thì dễ, nhưng làm một công dân bình thường trong chế độ Cộng Sản mới là khó. Ngày nay đã không còn những cuộc vượt biển trong bóng đêm. lén lút, nguy hiểm đến tính mạng cho người đi, nhưng không phải là những cuộc ra đi từ bỏ đất nước, hay nói cho đúng đắn hơn, chạy trốn chế độ Cộng Sản đã chấm dứt. Không một nơi nào dọc trên con “đường chết” từ Việt Nam đến Mỹ ngày nay chấp nhận cứu vớt bạn trên những con thuyền mỏng manh nữa và nước Mỹ cũng ngưng tiếp nhận người Việt vào đất liền, nếu bạn không đi qua ngã Đại Sứ Quán Mỹ ở Việt Nam. Cuộc ra đi ngày nay không phải lội sông, qua biển, chịu đói khát mà trái lại một cuộc ra đi có đón đưa, có tràng hoa mừng người mới đến. Và dù nói thế nào đi nữa, nước Mỹ vẫn là nơi người ta mơ ước được đặt chân tới, dù được ở lại thăm viếng một thời gian hay phải trở về. Có người vui vẻ đến Mỹ và được sinh sống mãn đời ở đây và cũng có người chỉ mong được vui chơi trong một thời gian ngắn, vì nước Mỹ không chấp nhận cho họ ở lại.

Có sinh viên, học sinh nào ở Việt Nam mà không muốn được đi du học tại Mỹ không? Có cán bộ “nhà nước” nào mà không mong con mình được xuất ngoại đến Mỹ, có thương gia nào mà không muốn gởi con vào các trường Đại học Mỹ? Đó là giấc mơ của tuổi trẻ và các bậc cha mẹ tại Việt Nam, nhưng không phải dễ thành sự thật, vì chi phí cho một du học sinh đến Mỹ quá cao: $25,000.00 học phí cho một năm chưa kể các chi phí ăn ở, y tế, phương tiện di chuyển, vui chơi giải trí, thủ tục xuất, nhập cảnh.

Vào niên khoá 2007-2008, số du học sinh từ Việt Nam đến Mỹ, xếp hạng thứ tự trên số du sinh toàn thế giới đang đứng hạng thứ 20 lên đến hạng thứ 13, nhờ chế độ qua thời “bao cấp” và bước vào thời “mở cửa”, nhờ ăn nên làm ra, nên cán bộ nhà nước và những người có “máu mặt” phải nghĩ đến việc gởi con ra ngoại quốc và chính phủ Mỹ cũng muốn tăng con số du học sinh Việt Nam đến Mỹ. Niên khoá 2009-2010, số sinh viên Việt đến Mỹ tăng 20% so với năm 2008 và 45% so với năm 2007. Theo con số được ghi nhận ngày 15 tháng 11-2010, hiện nay số sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ là 13,112. Phải công nhận rằng, ngày nay không phải tất cả du sinh Việt Nam tại Mỹ đều là con cái đảng viên, nói nôm na là “con ông cháu cha”, mà những ai phất lên trong cuộc “đổi đời” hiện nay tại Việt Nam, trong đó có cả những người của chế độ miền Nam trước đây đều cố gắng “hy sinh đời bố, củng cố đời con”, tìm cách cho con cái đi học ở nước ngoài, đương nhiên đi Mỹ là ưu tiên. Chúng ta nên lấy làm mừng trước phong trào du học sinh Việt đến Mỹ càng ngày càng đông, nhưng chúng ta lấy lý do gì để nói đây là một cuộc bỏ nước ra đi thầm lặng, không khác gì những cuộc vượt biên ngày trước. Bạn thử làm một cuộc nghiên cứu về tâm lý sinh viên Việt Nam ở Mỹ, phỏng vấn hàng nghìn phụ huynh có con em là du học sinh, để có thể có một kết luận không xa thực tế mấy là xem như hầu hết sinh viên sau khi tốt nghiệp, hay chưa tốt nghiệp cũng chắng sao, tìm cách ở lại nước Mỹ hợp pháp. Cha mẹ nào cũng trông mong con cái được lập gia đình, kết hôn với công dân Mỹ để có quyền ở lại Mỹ, gây được cơ sở làm ăn và đặt một nhịp cầu cho việc di dân của họ mai sau. Một số sinh viên sau thời gian du học, phải trở về để quản lý tài sản của cha mẹ, điều hành cơ sở thương mãi của giòng giõi, nhưng không về cũng chẳng sao, vì bây giờ là lúc chuyển tài sản, tiền bạc sang nước Mỹ không còn là chuyện gì khó khăn. Có lẽ nước Mỹ cũng trông mong và khuyến khích việc này, chỉ mong đồng đô la mà người Việt tỵ nạn đã có quyền tự do, phung phí tiếp máu cho chế độ trong nước, có dịp trở lại nằm trong các trương mục ngân hàng của Mỹ.

Ai không có điều kiện được thân nhân bảo lãnh, hay xuất ngoại du học thì có chút tiền cũng tìm cách du lịch sang Mỹ một lần cho biết mặt “tên sen đầm quốc tế” ra sao. Bây giờ là thời đại bốn biển một nhà, ở Việt Nam, bây giờ người ta đi Hồng Kông, Trung Cộng, Thái Lan, Kampuchea, Singapore, Nam Dương, Nam Hàn, Mã Lai … dễ dàng như đi chợ, còn anh Tàu Cộng thì vào ra đất nước ta đêm hôm thế nào cũng được, vì “nhà nước ta” đã gỡ phên dậu, bỏ hàng rào cho người anh em hàng xóm “môi hở răng lạnh”, lúc nào muốn sang thì cứ sang. Nhưng quái lạ, là nước Mỹ vẫn giữ giá cao, vào ra nước Mỹ còn phải qua bao nhiêu thủ tục nhiêu khê, dù là đi chơi vài ba tháng cũng phải qua một cuộc phỏng vấn, tuy không khó khăn chỉ tóm gọn trong vài ba phút với một câu hỏi, nhưng cũng không phải là chuyện dễ dàng như lấy đồ trong túi.

Hiện nay có bốn thành phần vào nước Mỹ qua ngã Đại Sứ Quán Mỹ: – Du Học,- Du Lịch,- Công Tác,- Di Dân. Tại Toà Tổng Lãnh Sự Mỹ ở số 4 trên đường Lê Duẫn (đại lộ Thống Nhất cũ), năm ngày trong tuần, mỗi ngày ba đợt, mỗi đợt các viên chức Mỹ phỏng vấn khoảng 150 người, dù rớt dù đậu, mỗi người phải đóng lệ phí $140.00 (đô la Mỹ). Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Saigon đã có được số thu hàng tháng phỏng định:

$140.00 X 600 người X 3 đợt mỗi ngày X 20 ngày = $4,400,000.00 (4 triệu, 400 nghìn đô la). Số người qua các cuộc phỏng vấn của các viên chức Bộ Ngoại Giao Mỹ tại Saigon chỉ có 20% được cấp visa, có nghĩa là 80% “tái đăng ký” phỏng vấn vì còn nuôi hy vọng vào Mỹ. Nếu một ngày nọ, lệ phí phỏng vấn tăng lên gấp đôi hay gấp ba, số người muốn ra đi cũng không hề thuyên giảm.

Ngày xưa nước Mỹ chấp nhận người ty nạn nên phải lo mọi thủ tục, nuôi ăn nuôi ở, cho huấn nghiệp, phiếu y tế, tiền trợ cấp … Ngày nay nước Mỹ mở cửa cho người Việt tự nguyện đem đồng đô la vào. Thành phần di dân chắc chắn sẽ sinh con đẻ cháu trên đất Hiệp Chủng Quốc này, thành phần du học muốn lập nghiệp ở Mỹ, không muốn trở về, du lịch và diện công tác không thể ở lại đất Mỹ. Nhưng cứ nhìn cái cảnh nhộn nhịp mỗi ngày trước cổng toà nhà số 4 Lê Duẫn Saigon mới thấy cơn sốt “Mỹ du” đang lên cao. Bà Dương Quỳnh Khanh, đã ghi lại những ý tưởng của bà trên “net” sau một chuyến du lịch ba tháng đến Mỹ do con gái bà bảo lãnh. Bà cho rằng “không phải ai cũng dễ dàng đặt chân đến vì đó là một nơi xa xôi, người dân bình thường, không họ hàng, không ai bảo lãnh, có tiền cũng khó đến được”. Nhận xét về người Việt đang sinh sống tại đây, bà Khanh đã nói: “Hiện nay, người Việt tại Mỹ ăn nên làm ra, thành đạt được sống trong tự do nhân quyền, họ đã khẳng định nước Mỹ là quê hương thứ hai, không thấp thỏm lo âu bị ai tước đoạt tài sản, không lo sợ bị khống chế tự do, nhân quyền, do đó họ sống thật bình yên.” Bà có kết luận: “Tôi chưa thấy bóng dáng thiên đường trên cao, nhưng đất nước nào giàu có, dân sống sung sướng lạc quan, không sợ hãi, không lo âu thì đó là thiên đường.” Còn phần bạn, hiện nay đang sinh sống trên đất Mỹ, bạn có cảm thấy hạnh phúc hơn bao nhiêu người khác? Và bạn có biết bây giờ ở Việt Nam đang có một cuộc vượt biên lặng lẽ đang bùng phát không?

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 18 May 2026

Nếu anh có một gia đình êm ấm, đồng lương ổn dịnh, sức khỏe tốt, không có tham vọng thay đổi cuộc sống để lảm giàu, cũng không có điều gì lo sợ, tôi nghĩ anh không bao giờ cần phải xin một cái hẹn với nhà tướng số hay gõ cửa nhà một bà bói bài tây hay bài Taro. Con người ta thưởng yếu đuối không tin ở mình hay không tin số mệnh đã dành cho mình, phải tựa vai bà bói bài hay đưa tay cho ông chấm tử vi dẫn dường mới chịu yên tâm. Có những thầy bói ngồi ở gốc cây đa, bến đò, cồng chùa nhưng cũng có những nhà tướng số tiếp khách trong những ngôi nhà lộng lẫy. Tuỳ theo vị trí của thầy, khách xem có thể là anh chàng cùng đinh, mà cũng co thể là một viên tướng lãnh hay ông đầu tỉnh. Ngày xưa, dân gian đã mỉa mai nghề bói toán qua những câu ca dao:

“Số cô không giàu thì nghèo

Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà.

Số có có mẹ có cha,

Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.

Số có có vợ có chồng

Sinh cơn đầu lòng không gái thì trai.”

Tuy vậy, Việt Nam trong vòng nửa thế kỷ nay đầy rẫy những tai ương, chết chóc, chia lìa, tù dày, phiêu bạt, đôi khi đêm nay ngủ không biết số phận ngày mai của mình ra sao, nên con người yếu đuối phải nhờ đến một nhà tiên tri đọc được những vì sao trên trởi hay những con bài quái dị, những con bích, chuồn, rô, cơ … số phậnđời mình. Nếu nói rằng miền Nam trước tháng 4-1975 là vùng đất có nhiều thầy bói nhất thì cũng không sai. Sau thời gian này, dù nghề bói toán không thể công khai, nhưng còn phát triển gấp bội. vì nghề này đã có thêm nhiều thân chủ mới. Khi anh chi có đôi dép râu, cái nón cối, cái xắc cột, miếng vải dù, cái chén nhôm và đôi đũa, thì chẳng cần coi bói lảm gì, vì quá khứ, vị lai thi cũng ngần chừng dó. Nhưng khi anh cướp được chính quyền, có nhà đất, có của cải, địa vị, cần thăng quan tiến chức, cần mưu đồ chuyện tương lai, thì phái nhờ đến những vị cố vấn dường phố xem đến tử vi, bàn tay, thậm chí đến mồ mã của ông cha anh.

Tháng 4 năm 1975, sau khi cộng sản vào Saigon, không gia đình nào ở miền Nam không chịu cảnh ly tán, tù đày, mất mát. Gần như một trăm bà vợ có chồng đi tù thì có đến chín mươi chín bả đi gặp thầy bói toán, hoặc là ông thầy mù xủ quẻ dịch, boặc là cô xem chỉ tay, hay bà bói bải, với duy nhất một câu hói: “Bao giờ thì chồng tôi được về hả thầy?

Nếu thầy hiểu bài bản của nhà tù tập trung của cộng sản và trả lời theo bải học tập lên lớp, thì câu trả lời là:

“Bao giờ ông nhà học tập tốt, lao động tốt thì sẽ được Cách Mạng khoan hồng cho về sum họp với gia đình!”

Nhưng dủ thầy có học hành đôi chút, hay bà bói bài mù chữ ở cạnh Lăng Ông, chưa hề một ngày sống với cộng sản, chẳng hiếu cộng sản là gì, thì câu trả lời ăn tiền chung chung để cho người xem nuôi hy vong, vẫn là mùa Xuân. mùa Hạ, Thu nảy, Đông tới … hay đến trăng tròn, trăng khuyết. Nếu thầy thật giỏi, nói như dóng đinh vảo cột là “mười bảy năm nữa, may ra ông nhà mới có ngày ra tù … ” thì Thầy sẽ không có tiền mua gạo, mà mang thêm tội khi người vợ tù tuyệt vọng đi tìm cái chết, Làm sao một người đàn bà yếu  đuối có thể vượt qua sự sợ hãi, khi nghĩ đến tương lai mở mịt, phải nuôi bầy con dại, trong một xã hội bất an, cướp bóc, nghèo đói, kỳ thị như thế để chờ chồng mười bảy năm dài. Nếu ngày ra tù, anh còn được gặp vợ con, gia đình nguyen vẹn, thì anh cũng nên cám ơn ông thầy bói, không có thầy sò mu rùa, phán là anh sẽ về trong cuối năm nay, làm sao chị còn hy vọng mà sống. Cuối năm anh không về, chị lại tim một bà thầy khác gieo quẻ bảo mùa Hạ sang năm, Tỉnh cờ anh ra tù đúng lời thẩy thì cũng tốt, không thì cũng chẳng sao. Cơm áo cũng cần, nhưng hy vọng lại cần hơn. Tuyệt vong làm cho con người ta héo hon, đau khổ.

Sau năm 1975, khi “cái cột đèn có chân cũng vượt biên,” thì gia đình nào có chút tiền cũng muốn tìm cách ra đi. Nhưng biết tin ai bây giờ trước một quyết định một sống, hai chết. Chuyến này, tuổi này, thời gian này đi có an toàn không? Đó là câu hỏi được mọi người lén lút nhờ thầy. sau khi tinh toán, gieo quẻ, mở lời khuyên giúp. Ông chủ ghe, dù đã tính toán, mua bãi, đút lót công an, đã chọn một đêm tối trời cũng không quyết định được thắng bại, huống chi ông thầy bá vơ, mà thời gian tranh tối tranh sáng này, đua nhau mở cửa hàng bói toán. Chuyến đi thành công tốt đẹp, năm mười ngày sau có “mật mã” đem về thì nhất định thầy được thường mà tiềng đồn cũng lan xa, nhưng nếu chẳng may chuyến đi bị bể, tiền mất tật mang, phải vảo nhà tủ, thi không có lẽ đi “níu áo” bắt dền ông thầy.

Vào thời gian chuyện vuợt biên lên cao điểm, tôi biết một người thanh niên trẻ tuổi không có tiền nhưng muốn tìm đường vượt biển, anh ta bèn chuyển nghề coi bói, mà là sở trường coi bói chuyện vượt biên. Một ông chủ ghe đến tìm thầy, nghe thầy tán tụng tuổi và vận hạn của mình, tháng năm, địa điểm xuất phát dều hanh thông, có “quý nhơn phò trợ” thì mừng rơn, giữ cho thầy một chổ ra đi khỏi mất tiền. Tôi thực không biết giờ này thầy ở đâu, chết hay sống? Đánh đúng tâm lý người đời, hy vọng giờ này, còn sống ở đâu đó trên dất người, ông thấy bói trẻ tuổi năm xưa cũng đã có một đời sống tươm tất. Thầy càng giỏi khoa tâm lý chừng nào, càng đông than chủ từng đó. Thầy biết khai thác như khai thác tin tức tình báo, mới vào đầu câu chuyện, khách dã bày tỏ hết chuyện mình, thì lời khuyên hay câu giải đáp của thầy không còn là chuyện khó khăn.

Đưa chồng con ra biển rồi thì lo lắng, pha lẫn niềm hy vọng chờ tin vui. Thời gian kéo dài thêm nữa thì bồn chồn, lo sợ, đành gỏ cữa nhờ thầy. Trăm thầy bà coi bói, không có ông bà nào dám nói chuyện xui xèo, cho là người ra đi gặp nạn, mà dùng những đáp số chung chung, người ngoài cuộc thì cho là vô lý, nhưng người trong cuộc, vì sống nhờ hy vọng, nên vẫn tin lời thầy. Đó là “gian nan nhưng đến nơi dến chốn, chậm vì trở ngại nhưng sẽ có tin về. ” Bản thận người viết bải này, sau khi con ra đi, ngoài việc cầu nguyện, còn tìm đến quý ông bà xem từ vi, bói bài, gieo quẻ, coi chỉ tay … nhớ lại mình đã gỏ cửa không dưới mười lăm người, nhưng chưa hề nghe ai nói đúng một câu. Những người nhận đuợc mật mã của thân nhân chắc chắn sẽ có quà hậu hỹ cho thầy, nhưng những gia dình có người mất tích, tháng ngày biền biệt, tuyệt vọng, đâu cỏn bụng dạ nào trở lại nhà thầy để nói một đôi câu trách móc.

Trở lại câu chuyện ngày xưa, cũng vì chuyện thích “coi bói” của dân chúng, quan chức miền Nam, nên chắc chắn là cộng sản đã đào tạo một đội ngũ tình báo qua mạng lưới thầy bói, từ vi thâm nhập, tiếp cận ngay cả những viên chức cao cấp trong chinh quyền. Có những ông thầy bói dược trực thăng chờ từ Đà Lạt về “dinh.” Không ít những ông tư lệnh cầm quân, trước khi đi đánh trận, hỏi thẩy đi hướng nào tốt, ngày lành tháng tốt ra sao. Ở cấp chỉ huy nhò hơn, cấp quận, tỉnh cũng thường xuyên lui tới lấy lời cố vấn của thầy, đổi lại là số mạng của bao nhiêu binh sĩ! Không biết sau này, trong đám bói toán này, có ai được đảng phong tặng danh hiệu “Thầy Bói Anh Hùng” hay “Thầy Bói Nhân Dân” chưa, những lực lượng thầy bói này đã góp công vào việc tan rã của miền Nam không phải là ít. Nhiều người có cá tính mạnh mẽ, tự tin nhưng cũng có người yếu duối, không nghị lực cần nương tựa vào người khác, mà thẩy bói toán là một ưrong những người họ muốn tìm đến. Tôi thường không thích và không hề tin chuyện bói toán, nhưng đã nhiều lần gỏ cửa họ, không phải vì mình mà vì lo cho người khác hay đi tìm sự yên tâm cho gia đình. Lũ trẻ ngày nay, nhất là những em lớn lên trên đất Mỹ, chắc không hề biểt đến chuyện bói toán mà cũng chẳng bao giờ cần đến chuyện này. Đất nước chúng ta đã khổ vì chuyện bói toán quá nhiều rồi! Trong các chuyện bói toán, bói Kiều là chuyện bói khá tao nhã, mà các cụ văn nhân ngày xưa, khi gặp gỡ nhau, nhân chuyện thắc mắc, khó xử vẫn cầu dến “Vua Từ Hải, Vãi Giác Duyên, Tiên Thuý Kiều,.” cố vấn. Trong nghịch cảnh của gia đình Vương Viên Ngoại, tiếp đến cuộc đời mười năm lưu lạc của nàng Kiều, trong 3,254 câu thơ của Nguyễn Du đã mô tả biết bao nhiêu thăng trầm, hoạn nạn rồi vinh quang, chia ly rồi kết hợp, câu nào trong chuyện Kiểu cũng có thể đúng với hoàn cảnh riêng biệt của chúng ta, nên người bói Kiều rất dễ tin tưởng.

Ngày xưa thời ở Trung học, lo lắng trước kỳ thi. bắt chước bạn bẻ, tôi lấy tập Kiều của hai ông Bùi Ký và Trần Trọng Kim (hiệu đính) ra, bằng hai tay, trân trọng nâng cuốn Kiều lên ngang chân mày, lâm râm khẩn vái, mở cuốn Kiều ra đặt một ngón tay vào giữa trang sách. Hai câu thơ cô Kiều “ban” cho tôi là:

“Đường xa chớ ngại Ngô Lào

Trăm điều hãy cứ trông vào một ta!”

Những Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt, phục vụ Lực lượng tàu ngầm hạt nhân Hải quân Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on May 16, 2026 by dongsongcu

Nguyễn Quân.

Post by Sơn râu 17 May 2026

Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975, khiến nhiều người Việt Nam phần đông là Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hoà phải rời khỏi Việt Nam và đã được chính phủ Hoa Kỳ giúp di tản, sau đó họ được tái định cư tại Hoa Kỳ. Tiếp theo là những đợt thuyền nhân tị nạn vượt biên thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển, từ đó đến nay có trên 2,2 triêu người Việt sinh sống tại khắp các tiểu bang và lãnh thổ Hoa Kỳ. Từ những Cộng đồng người Việt lớn mạnh và phát triễn, nhiều nam nữ thanh niên người Việt đã gia nhập và phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, tuy chưa có thống kê chính thức, nhưng ước đoán có thể có trên 10000 quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân đội hiện đại và hùng mạnh hàng đầu thế giới, họ mang cấp bậc từ Binh sĩ, Hạ sĩ quan, Sĩ quan lên đến cấp Tướng.

Riêng Quân nhân gốc Việt phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ có thể lên đến vài ngàn, tương đương với số Quân nhân gốc Việt phục vụ trong Quân chủng Không quân, nhưng ít hơn một chút so với Quân chủng Lục quân. Họ mang cấp bậc từ Thuỷ thủ lên đến Phó Đề đốc phục vụ các ngành tác chiến, yểm trợ và chuyên môn trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ. Riêng ngành tàu ngầm, Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Lực lượng tàu ngầm, Hạm đội Đại Tây Dương (COMSUBLANT) và Lực lượng tàu ngầm, Hạm đội Thái Bình Dương (COMSUBPAC) được ghi nhận qua các tài liệu tổng hợp sau đây:

HQ Trung tá Henry Tran (hình của linkedin.com).

HQ Trung tá Henry Tran, nguyên là Sĩ quan tàu ngầm chiến lược hạt nhân USS PENNSYLVANIA SSBN-735 Blue, từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 4 năm 2012. Ông hiện là Giám đốc Chương trình trừ bị (RPD) của Liên đoàn 9 và Liên đoàn 10 tàu ngầm (SUBGRU 9/10). Ông giữ vai trò là Sĩ quan liên lạc chính, cung cấp Sĩ quan chỉ huy, lập kế hoạch chiến lược và hỗ trợ hoạt động cho các đơn vị Hải quân trừ bị cho cả hai Bộ chỉ huy Liên đoàn 9 và 10 tàu ngầm.

***

HQ Đại uý Chris Huynh (hình của .linkedin.com).

HQ Đại uý Chris Huynh, Sĩ quan tàu ngầm tấn công hạt nhân USS ANNAPOLIS (SSN-760) từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 5 năm 2020. Hiện là Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ phục vụ tại Washington.

*

Tuan Phan, Sĩ quan* tàu ngầm từ năm 2014 đến năm 2017. Nay là Sĩ quan tuyển mộ Hải quân tại Los Angeles

*

Nguyen Pham (hình của linkedin.com).

Nguyen Pham, Sĩ quan* tàu ngầm (kế hoạch hành quân) từ năm 2004 đến năm 2014. Hiện là Chỉ huy phó Feb 2023 – Trung tâm huấn luyện chiến đấu viễn chinh – Tiểu đoàn Bravo.

*

HQ Đại uý Ben Đang (hình của linkedin.com).

HQ Đại uý Ben Đang, Sĩ quan tàu ngầm tấn công hạt nhân USS Santa Fe (SSN 763).

*

HQ Trung uý Clifford Vuong (hình của linkedin.com).

HQ Trung uý Clifford Vuong, Sĩ quan tau ngầm chiến lượt hạt nhân USS NEVADA GOLD (SSBN 733)

HQ Đại uý Nguyen Nguyen (hình của linkedin.com).

HQ Đại uý Nguyen Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.

*

HQ Đại uý Huy Nguyen (hình của linkedin.com).

HQ Đại uý Huy Nguyen, Sĩ quan tau ngầm USS NEBRASKA. Hiện là Sĩ quan tác chiến tại Hải đội Aggressor, Trung tâm phát triển tác chiến dưới nước. Thực hiện chương trình huấn luyện nâng cao với mô phỏng đối phương thực tế cho Thủy thủ đoàn tàu ngầm nhằm nâng cao khả năng tiêu diệt mục tiêu và khả năng sống sót. Phát triển và trình bày các tường trình và bài thuyết trình dựa trên thông tin tình báo cho các hội nghị huấn luyện toàn căn cứ.

HQ Trung uý Matt Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm tấn công hạt nhân lớp Virginia (Virginia-class submarine).

*

HQ Trung uý Keith Tran (hình của linkedin.com).

HQ Trung uý Keith Tran, Sĩ quan phụ tá vũ khí tàu ngầm hạt nhân, Tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 2022.

HQ Trung úy Daniel T Duong (hình của facebook.com/JohnDawsonFOX26).

HQ Trung úy Daniel T Duong, Sĩ quan tàu ngầm chiến lược hạt nhân USS West Virginia (SSBN 736).

***

HQ Thiếu uý Dan Huynh được trao tặng giải thưởng Liên đoàn tàu ngầm Hải quân trong bưởi lễ tốt nghiệp khóa huấn luyện Sĩ quan tàu ngầm của Trường Tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ ngày 7 tháng 2 năm 2025 (hình của facebook.com/navalsubmarineschool).

HQ Thiếu uý Dan Huynh, Sĩ quan tàu ngầm tấn công USS Illinois (SSN-786).

*

HQ Trung uý Donny Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.

*

HQ Thiếu uý William Nguyen (hình của linkedin.com).

HQ Thiếu uý William Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.

*

HQ Đại uý Faith N. Huynh (hình của linkedin.com).

Nữ Hải quân Đại uý Faith N. Huynh, Sĩ quan huấn luyện kỹ thuật tàu ngầm hạt nhân.

*

Hải quân Đại uý Lillian Ngo Usad được Đô đốc Tư lệnh Hải quân gắn huy hiệu Sĩ quan tàu ngầm (hình của linkedin.com).

Nữ HQ Đại uý Lillian Ngo Usadi, Sĩ quan tác chiến tàu ngầm hạt nhân.

*

HQ Đại uý Sarah Nguyen, Sĩ quan ngành tàu ngầm (hình khi còn mang cấp Trung uý của scontent.fmel16-1.fna.fbcdn.net).

Nữ HQ Đại uý Sarah Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.

HQ Đại Uý Phung Duong (hình của dvidshub.net)

Nữ HQ Đại Uý Phung Duong, Sĩ quan tiếp liệu tàu ngầm (SRS-32),

*

HQ Trung uý Y Quan (hình của linkedin.com).

Nữ HQ Trung uý Y Quan, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.

*

Ông Bo Pham, Công chức cao cấp ngành nguyên tử lực Hoa Kỳ, cựu Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.

Ông Richard Nguyen, cựu Sĩ quan tàu ngầm tấn công USS Alexandria (SSN 757).

Cựu HQ Đại uý Ryan Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm chiến tấn công USS Columbia (SSN 771).

Tony Pham, cựu Sĩ quan tàu ngầm hat nhân từ năm 1988 đến năm 1996.

Cựu HQ Đại uý Richard Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân.

Hoang Nguyen, cựu Sĩ quan tau ngầm hạt nhân từ năm 2019 đến năm 2024. Và còn một số Sĩ quạn gốc Việt khác phục vụ trong Lực lượng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ đang được cập nhật.

Tóm lượt về Lực lượng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ (SUBFOR), tính đến tháng 5 năm 2026. Hải quân Hoa Kỳ vận hành Lực lượng tàu ngầm hoàn toàn chạy bằng năng lượng hạt nhân, bao gồm khoảng 68 chiếc đang hoạt động được phân loại thành 14 chiếc lớp Ohio mang hoả tiễn đạn đạo (SSBN), dùng để răn đe hạt nhân; 4 chiếc tàu ngầm mang tên lửa dẫn đường (SSGN) dùng để tấn công và 48 tàu ngầm tấn công (SSN), dùng cho các nhiệm vụ chiến thuật. Các lớp tàu chủ lực bao gồm lớp Virginia hiện đại, lớp Seawolf chuyên dụng và lớp Los Angeles mạnh mẽ. Phó Đô đốc Richard E. “Rick” Seif lả Tư lệnh Lực lượng tàu ngầm (COMSUBFOR), ông được chỉ định làm Tư lệnh Lực lượng tàu ngầm Hạm đội Đại Tây Dương (COMSUBLANT) và kiêm luôn chức Tư lệnh, Bộ Tư lệnh tàu ngầm đồng minh từ tháng 2 năm 2026. Ông chịu trách nhiệm về chiến lược, huấn luyện và bảo trì tất cả các tàu ngầm Hoa Kỳ đóng tại vùng biển Đại Tây Dương. Đề đốc Christopher Cavanaugh, Tư lệnh Lực lượng tàu ngầm, Hạm đội Thái Bình Dương (COMSUBPAC), ông cũng là Tư lệnh phó Lực lượng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ (COMNAVSUBFOR). Nhiệm vụ của Lực lượng tàu ngầm Hạm đội Thái Bình Dương là cung cấp huấn luyện, kế hoạch tiếp liệu, nhân lực và kế hoạch hoạt động cũng như hỗ trợ và phát triển chiến thuật cần thiết để duy trì khả năng của Lực lượng đáp ứng cả nhu cầu thời bình và thời chiến. Hai Bộ Tư lệnh Lực lượng tàu ngầm Hạm đội Đại Tây Dương và Thái Bình Dương cung cấp các loại tàu ngầm tấn công, tàu ngầm mang hoả tiễn đạn đạo và tàu ngầm mang hoả tiễn dẫn đường cho các Bộ Tư lệnh tác chiến thống nhất (Unified combatant command) bao gồm: Bộ Tư lệnh miền Bắc Hoa Kỳ (United States Northern Command), Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (United States Indo-Pacific Command); Bộ Tư lệnh Châu Âu của Hoa Kỳ (United States European Command); United States Southern Command (United States Southern Command); Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (United States Central Command) và Bộ Tư lệnh Châu Phi của Hoa Kỳ (United States Africa Command); Bảo đảm năng lực răn đe chiến lược và năng lực tác chiến bí mật.

Chú thích: *Sĩ quan Hải quân, nhưng không thể xác định được cấp bậc.

Bài viết không sao tránh khỏi những thiếu sót ngoài ý muốn, Nguyễn Quân thành thật xin lỗi.

Nguồn: mynavyhr.navy.mil; sublant.usff.navy.mil; csp.navy.mi; linkedin.com; en.wikipedia.org; Naval Submarine School; bienxua-Hải Quân Trung tá Henry Tran (gốc Việt), Chỉ huy trưởng Chương trình trừ bị Liên đoàn 9 tàu ngầm hạt nhân (COMSUBGRU NINE) Hải Quân Hoa Kỳ.

Mặt trân miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Giờ là sang thu. Lính cũ chẳng còn mấy tay. Tôi là thằng cuối cùng trong số bảy thằng cùng một lớp. Ai cũng bàn tán hoà bình với đình chiến. Tất cả đều chờ đợi. Nếu lại là một ảo ảnh, thì chắc họ sẽ tuyệt vọng; hy vọng dâng cao, không thể làm mất mà không có một cuộc hỗn loạn. Nếu không có hoà bình thì phải có cách mạng.

Tôi được nghỉ phép hai tuần, vì nuốt phải it hơi độc; trong một ngôi vườn nhỏ tôi ngồi suốt ngày dưới nắng. Đình chiến sắp đến, giờ đây đến tôi cũng tin. Thế là chúng tôi sẽ được về. Đến đây thì ý nghĩ tôi dừng lại và không muốn đi xa hơn nữa. Tất cả những gì gặp tôi, tất cả những gì trào lên tôi chỉ là những cảm xúc – ham sống, yêu nhà, cái khát khao của máu, cái làm độc của giải thoát. Nhưng không mục đích. Phải chi chúng tôi về năm 1916, với cái đau khổ cái sức mạnh của kinh nghiệm của mình chúng tôi không chừng đã khơi ra một cơn giông tố. Còn bây giờ có trở về chúng tôi cũng đã mệt mỏi tan nát, thiêu rụi, bật rễ, và vô vọng. Chúng tôi chẳng còn biết đường nào mà lần. Và thiên hạ cũng lại chẳng hiểu chúng tôi – vì cải thế hệ lớn trước chúng tôi, mặc dầu cùng trải qua các năm này với chúng tôi ở đây, cũng đã có gia đình có nghề nghiệp; giờ thì họ sẽ trở về với các công việc trước kia của họ, và rồi chiến tranh sẽ được quên lãng – còn cái thế bệ lớn lên sau chúng tôi sẽ xa lạ với chúng tôi và gạt bỏ chúng tôi. Chúng tôi sẽ là những kẻ thừa ngay cả đối với chinh mình, có thẳng hẳn sẽ chỉ cầm đầu quy thuận, còn phần lớn chúng tôi sẽ lạc lõng bơ vơ; – năm tháng trôi qua và rút cuộc chúng tôi sẽ rơi vào tàn tạ. Nhưng có lẽ tất cả những gì tôi nghĩ đây chỉ là đau buồn và chán nản, rồi nó sẽ bay đi như gió bụi, khi tôi lại đứng lại dưới rặng bạch dương nghe tiếng lá xạc xào. Không thể bảo là nó đã đi, cái khát khao nó làm máu chúng tôi bồn chồn, những cái mình không biết, những cái làm mình hoang mang, những cái sắp đến, hàng ngàn bộ mặt của tương lai, các điện du dương trong mơ mộng trong sách vở, các thù thỉ và đùa đoán của đàn bà, không thể bảo rằng tất cả những cái này đã biến tan thành pháo kích, thành tuyệt vọng, thành các ổ điếm. Ở đây cây cối tốt tươi vàng rực, các chùm thanh lương đỏ ối giữa lá, các con đường quê trăng trắng chạy đến tận chân trời và các quản rượu rì rầm như tổ ong với những tin đồn hòa bình.

Tôi đứng lên. Tôi rất bình tĩnh. Mặc cho năm tháng trôi đi, chúng chả mang lại cho tôi được gì, chúng chả mang lại cho tôi được gì thêm. Tôi cô đơn quá đi, lại quá vô vọng đề có thể đương đầu với chúng mà không sợ sệt. Cái sống nó đã mang tòi suốt mấy năm nay vẫn còn trong tay tôi trong mắt tôi. Phải chăng tôi đã chinh phục được nó, tôi cũng chẳng biết. Nhưng ngày nào nó còn có đấy nó sẽ tự tìm đường thoát ra, bất chấp cái ý chí ở trong tôi.

Hắn gục vào tháng Mười, 1918 vào một ngày đến là êm ả và yên tĩnh trên khắp mặt trận, khiến bản tin quân đội chỉ ghi vỏn vẹn có một câu: Mặt trận miền Tây hoàn toàn yên tĩnh.

Chuyện cũ chuyện mới

vanchuongviet.org
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 17 May 2026

  Sesung, tên thủy thủ người In Đô, vì muốn học nghề bếp nên mỗi sáng nó ráng thức sớm hoặc ngoài giờ làm việc nó vô bếp phụ tôi. Sáng nay cũng vậy, nó vô bếp mở điện lò và đứng chờ. Thấy tôi xuống nó chào buổi sáng và chỉ tay ra ngoài trời lúc tuyết đương rơi trắng xóa. Nó nói: – Mùa đông tới rồi chú. Cùng lúc thuyền phó từ trên phòng lái xuống kêu Sesung ra boong chuẩn bị thang để đón hoa tiêu. Sesung day qua nói với tôi: – Lát con vô phụ chú. Nói xong nó vội vàng day lưng bước xuống phòng thay áo quần và bận thêm đồ ấm. Tàu rời cảng St. Petersburg nước Nga tối hôm qua và sáng nay sắp ghé Kotka của Phần Lan. Thuyền phó ló đầu vô bếp hỏi: – Ông chiên cho tôi trứng và thịt ba rọi được không? Tôi nhìn lên đồng hồ trên vách, thấy chưa tới giờ ăn, nhưng bếp lò đương cháy và tôi cũng không làm gì. Tôi nói:  – Dĩ nhiên. Tôi chiên trứng và thịt ba chỉ đưa ra cho thuyền phó, hắn cầm lấy nhưng chần chờ một chút rồi kêu tôi: – Ông ra uống cà phê cho vui, còn sớm mà. Hắn đem dĩa trứng và thịt để lên bàn rồi lấy tách rót cà phê đưa tôi và khoe: – Hè qua tui có đi Việt Nam. – Du lịch hả? Hắn ngước mặt hãnh diện: – Dĩ nhiên. – Mày đi đâu? – Mũi Né. – Vui hông? – Vui lắm, tui có ăn phở. Tôi cười: – Cũng lại phở. Bộ Mũi Né chỉ có phở không sao? – Có nhiều thức ăn biển, nhưng tui thích phở, phở Việt Nam ngon tuyệt vời. Ông biết nấu phở không?  – Dĩ nhiên. – Hôm nào ông nấu cho mọi người ăn nhe. Tôi chỉ ngón tay trỏ gõ gõ lên đầu, nói: – Bộ mày khùng hả, trên tàu lấy đâu ra gia vị phở mà nấu. Hắn cười hì hì rồi hỏi qua chuyện khác: – Hôm qua ông đi chơi vui không? Tôi cười: – Vui mẹ gì, tao với Sesung lên chờ xe bus mất một tiếng, đi bộ lên bến xe điện mất nửa tiếng, tới nơi tuyết đổ ngập đầu, trời tối thui nên trông cái gì cũng mờ mờ, khi ra tới phố thì tiệm đóng cửa hết. – Sao ông hổng đi tắc xi. Tôi trợn mắt nhìn viên thuyền phó, nói: – Tắc xi nước Nga của mày hả? Gọi cả ngày chưa thấy bóng. – Tại ông hổng biết, nếu ông ra giá trước, trả một trăm đô la thì nó tới liền. – Thiệt vậy hả? – Thiệt. – Tự nhiên tuyết đổ ào ào, ngập đầy đường, xe cộ nào chạy được. Bận về tao với Sesung phải đội tuyết đi bộ từ Abtobo xuống tàu mất cả tiếng đồng hồ. Thiệt tình thì tao muốn lang thang chơi cho vui, chớ hổng có ý đi đâu hết, nhưng Sesung muốn tao dẫn nó đi tới quảng trường Cách Mạng Tháng Mười…. Thuyền phó nhún vai. – Ở đó có gì đâu mà coi, ngoài cái tượng. – Sesung nghe quảng cáo quảng trường Cách Mạng Tháng Mười có tượng ông Lenin, nó chỉ muốn tới coi cái tượng cho biết. – Tượng Lenin thiếu gì. Ông không thích sao? – Oh! Thích khỉ gì, nước tao tượng đài tùm lum, tượng nào cũng lộng lẫy, mắc tiền. Tao thấy tượng nào cũng như tượng nấy, tạc bằng đồng đen, bằng xi măng, tiện bằng cây, lớp ngồi trong nhà, lớp đứng ngoài trời phơi nắng, giăng mưa và để làm toilet cho chim ỉa. – Haha…, nhưng ông tới St. Petersburg có nhiều lần không?  – Tao tới đây từ hồi thành phố St. Petersburg còn là Leningrad. – Ông thấy thế nào? – Dĩ nhiên, bây giờ St. Petersburg rất đẹp, vừa cổ kính vừa hiện đại. – Ông có ấn tượng gì không? Tôi chưa hiểu ý nó muốn hỏi gì nên hỏi lại: – Về chuyện gì? – Chuyện ông tới Leningrad. – Ấn tượng về thời thành phố còn là Leningrad à? Thuyền phó gật đầu. Tôi nói như thuộc lòng: – Nói chung ấn tượng về Liên Bang Xô Viết nó luôn ở trong lòng tao. Hổng phải ấn tượng về một đất nước giàu đẹp, vĩ đại hoặc thiên đường, trên thế giới này nhiều quốc gia còn giàu đẹp hơn nước Nga của mày nhiều. – Dĩ nhiên rồi. Tôi day qua đổi giọng khôi hài nói với viên thuyền phó: – Tao có cảm tưởng có một thời gian thành phố không được sửa chữa nên trông cũ kỹ bèo nhèo giống như cô gái đẹp bị bọn cướp hãm hiếp tơi bời hoa lá… – Haha… Đợi nó cười xong, tôi nói: – Tao có ấn tượng sâu đậm nhứt là lần đầu tiên ghé một sạp bán bia ngoài đường. Tôi đứng dậy đi vô trong bếp lấy một keo đựng dưa chua, tôi nói tiếng Anh không tự tin lắm nên tôi hay quơ tay ra dấu hoặc lấy một cái gì đó có liên quan tới câu chuyện ra minh họa, tôi đưa keo dưa chua ra trước mặt nó, nói: – Tao nhớ lúc đó mua khoảng hai đô la Mỹ, họ rót ra đầy sáu keo như vầy nè… Thuyền phó ngắt ngang: – Bây giờ đâu có nữa. – Dĩ nhiên, nhờ mấy mươi năm đổi mới nên St. Petersburg trông sáng sủa, trẻ đẹp như phụ nữ vừa từ thẩm mỹ viện bước ra. Phố xá xôn xao, có McDonalds và có siêu thị đầy nhóc hàng hóa. Đặc biệt cái là… Nó thấy tôi ngập ngừng nó hỏi: – Cái gì? – Phần lớn đồ dùng sản xuất ở Trung Cộng. Nhưng dù sao đi nữa dân St. Petersburg cũng có đồ xài, hổng còn uống bia trong những cái keo như thời thành phố mang tên ông Lenin. Hắn cười ha ha rồi nói: – Hàng hóa Trung Cộng tràn lan khắp thế giới mà.  – Ờ, tao biết. Ở Âu Châu cũng đầy nhóc đồ Trung Cộng. Con gái tao nhờ tao mua con Matryoshka sản xuất ở Nga, nhưng vô tiệm tao thấy con nào cũng Made in China nên tao hổng mua. – Tại ông hổng biết chỗ, để hôm nào tui mua tặng con gái ông một con Matryoshka Made in Russia đẹp tuyệt vời. – Cám ơn mày, nhưng tao thắc mắc. – Gì nữa? – Nước Nga của mày chế vũ khí đủ loại và bom nguyên tử, bom hạt nhân được mà sao hổng chế được ly để uống bia. Hắn cãi lại: – Ông nói vậy chớ đồ dùng nước Nga cũng có nhiều lắm, ở Việt Nam cũng xài đồ của Nga mà. – Hèn chi đồ của nước mày bán mắc bỏ mẹ. – Hì hì… Sao ông chê nước Nga hoài vậy? – Thấy sao nói vậy, chê khen khỉ gì. Sesung đón hoa tiêu xong vô bếp đứng chờ tôi. Tôi đứng lên cười và nói: – Giỡn chơi thôi, St. Petersburg và nước Nga của mày có nhiều thứ tao ngưỡng mộ, nhưng hổng có vĩ đại và thiên đường gì ráo. – Tui đâu có nói nước Nga là thiên đường là vĩ đại. – Người Nga mày tao hổng nghe nói. Nhưng các ông, các bà ở nước tao qua Nga học tập, nghiên cứu sao hổng biết, trở dìa nước hô hào om sòm, cho tới nay vẫn có người tâng bốc nước Nga là vĩ đại, là thiên dường. – Thiệt hả? – Thiệt. À, đúng ra dân Nga phải mang ơn đám học giả, nhà thơ, nhà văn Việt Nam mới phải, nhờ họ mà nước Nga trở thành great country và paradise. – Oh! – Thôi mày ăn đi, tao đi làm đây. Sesung đứng đưa hai bàn tay hơ hơ lên bếp. Thấy tôi vô nó rút tay lại và day qua nói: – Lạnh quá. Tôi nhìn ra ngoài khung cửa kiếng, tuyết rơi mù mịt, không thấy được đồi núi của hải đảo hay dải đất liền như mọi hôm. Tôi day lại cười nói với Sesung: – Nếu chúng ta di chuyển từ Nam Baltic lên phía bắc Baltic bằng máy bay, thì từ mùa thu sang mùa đông chỉ trong vòng một tiếng, còn đi tàu thì mất một ngày. – Vậy ở Nga bây giờ là mùa đông hả chú? – Mấy hôm truớc ở Hòa Lan, trời lúc mưa lúc nắng, khi qua Đức và Ba Lan trời vẫn còn không khí man mát của mùa thu, từ lúc tới Phần Lan và qua Nga thì trời lạnh và có tuyết rơi. – Vậy ở đây là mùa đông? – Nói chơi vậy thôi, theo mùa màng thì ở đây tên gọi vẫn là mùa thu. – Mùa thu gì mà lạnh quá.  – Lạnh như vầy nhằm nhò gì. – Chú tới đây lần nào chưa? – Nhiều lần rồi. – Chú thấy sao? – Thấy gì? – Bất an. – Ồ, trước kia tao thấy bất an nhiều lắm, nhưng giờ thì tao hổng thấy gì hết. – Mỗi lần tới đây con lo sợ và hổng an tâm khi thấy công an dẫn chó xuống lục xét phòng. – Trong phòng mầy có rượu mạnh, thuốc lá quá lượng qui định và cần sa không? – Hìhì… làm gì có. – Vậy mầy sợ gì? – Hổng hiểu sao thấy mặt ông, bà công an dẫn chó xuống tàu thì con sợ. – Lâu lâu họ mới lục xét một lần, nói chung những chế độ còn lạc hậu, độc tài và Cộng Sản nước nào cũng vậy, chớ hổng phải chỉ có nước Nga. – Nhưng Nga khác hơn các nước khác là mỗi lần tới họ bắt thủy thủ đoàn đứng sắp hàng cho họ xem mặt rồi mới đóng dấu cho nhập cảnh. Con bực mình nhứt là lúc giữa khuya, đương ngủ bị kêu dậy, hổng kịp bận đồ, rửa mặt gì hết, chạy xuống cho mấy con mẹ công an hải quan coi mặt. – Mấy bà coi lúc mình bận đồ ngủ chắc cũng khoái mà. – Kỳ quá à chú. – Mấy bà hổng kỳ thì thôi, mầy kỳ khỉ gì, hôm nào bị đánh thức giữa khua mày chọc cho con cu của mày ngóc lên, biết đâu mấy bà thấy khoái. – Haha… Chú có vậy không? – Tao già rồi, giống củ cà rốt héo, hết hấp dẫn rồi, mấy bà đâu thèm. – Chú còn ngon lắm mà. – Ngon khỉ gì. À, mày nói sợ mà sao hôm qua còn kêu tao dẫn mày đi coi tượng ông Lenin. – Nghe quảng cáo nhiều quá, muốn xem cho biết.  – Những nước Cộng Sản họ thường xây tượng đài hoành tráng của những lãnh tụ để tuyên truyền. Sesung nói: – Công ty du lịch quảng cáo những thắng cảnh của thành phố trong đó có tượng Lenin đứng trước quảng trường Cách Mạng Tháng Mười. Nghe nó phân bua tôi chợt nhớ lại những tượng đài của vài nước Cộng Sản mà tôi đã đi qua. Ở nước tôi người ta xây tượng ông Hồ Chí Minh, Cu Ba xây tượng ông Ché, Trung Cộng xây tượng ông Mao, Nga xây tượng ông Lenin…, nói chung thì nước Cộng sản nào cũng có tượng của lãnh tụ oai nghi, hoành tráng, mắc tiền, trước kia để tuyên truyền bây giờ thì dành quảng cáo cho du khách. Tôi day ngang gật đầu: – Ờ… mày có lý, nước Nga bây giờ là thời đại ông Putin, chớ hổng còn thời Lenin nữa, tượng đài lãnh tụ dành quảng cáo du lịch, dân chúng Nga cũng có lợi. Sesung gật nhè nhẹ cái đầu ngẫm nghĩ: – Ammm… – Thiệt ra thì lần đầu tao tới đây, nhứt là lúc thành phố St. Petersburg còn mang tên Leningrad tao cũng sợ cách hành xử của mấy ông, bà công an xứ này. – Bây giờ hết sợ hả chú? – Làm gì phải sợ, dù sao mình tới đây làm việc một vài ngày hoặc vài tháng thì đi rồi. Lúc đó chuông dưới hầm máy báo bị trục trặc gì đó. Thợ máy bên ngoài hấp tấp mở cửa bước vô, hắn gầm đầu, chạy thẳng xuống hầm máy, không kịp đóng cửa làm hơi lạnh ùa vào. Sesung thấy vậy đi ra đóng cửa lại rồi trở vô, càu nhàu: – Thợ máy luôn nhắc nhở mọi người đóng cửa, nhưng tự hắn thì quên hoài. – Tội nghiệp, thợ máy thằng nào cũng như thằng nấy, đầu óc lúc nào cũng lăng xăng lộn xộn.  Thợ máy xuống hầm máy thì tiếng chuông im bặt, một lát sau ông trở lên phòng ăn. Sesung bưng chén trứng luộc ra để lên bàn. Một lát Sesung trở vô nói: – Ông thợ máy thấy thuyền phó ăn trứng chiên ốp la và thịt ba rọi, ông cũng muốn ăn. – Mày chiên trứng cho ông ta xong rồi vô xắt thịt, tao lột củ hành. Sesung chiên trứng bưng ra cho ông thợ máy, lát sau trở vô mặt mày nhăn nhó và chưởi thề, tôi day qua hỏi: – Gì vậy?  – Thợ máy ăn hết chén trứng luộc và ăn luôn hai trứng chiên với thịt ba rọi. –Vậy thì ông ta ăn tổng cộng bốn trứng gà, cho ông tự sướng xỉu luôn. – Ha ha… – Thôi mày tháo bịch thịt ra xắt đi. Sesung lấy bịch thịt vừa tháo ra vừa càu nhàu: – Chú hiền quá, chớ gặp đầu bếp khác họ chưởi đó. – Mấy mươi năm làm đầu bếp tàu buôn, tao đã từng nghe và thấy người ta chưởi bới, đánh nhau lỗ đầu chảy máu, thậm chí giết nhau cũng vì cái trứng, miếng thịt. – Ừa, con cũng có nghe. – Nhưng chưởi bới làm gì, chuyện như hồi nãy mày chỉ cần đừng dọn trứng ra bàn trước, người nào ăn thì hỏi mới đưa, như vậy là yên rồi. – Con thấy người Nga ăn nhiều quá. – Văn hóa ăn uống mỗi nước mỗi khác, hổng phải chỉ có người Nga, người nước nào cũng thích ăn ngon và ăn nhiều. – Văn hóa người Nga là ăn nhiều hả chú? Tôi định nói người Nga cũng giống như dân In Đô nhưng sợ chạm tự ái dân tộc của nó, tôi nói: – Cũng giống như con người sống trong những nước kém văn minh, nói một đàng làm một nẻo, không biết tôn trọng ai. Nhìn cách sống, cách ăn uống của họ thì biết, lấy đồ ăn đầy dĩa, ăn hổng hết liệng bỏ. – Nước Nga bây giờ hết Cộng Sản rồi mà chú. – Vật đổi sao dời còn dễ hơn con người thay đổi. Người Cộng Sản tánh tình bừa bãi, vô kỷ luật, hổng tôn trọng giờ giấc, mày nhìn người Nga sống như thế nào thì văn hóa Cộng Sản như thế. Đây là tao nói thành phần trung lưu mà tao với mày tiếp xúc, còn dân nghèo thì khác hơn. Sesung ỡm ờ không nói. Hình như nó cũng không hiểu ý tôi và tôi cũng không muốn tiếp tục câu chuyện. Sẵn thấy miếng thịt nó xắt hơi bự, tôi chỉ miếng thịt, nói: – Mày xắt miếng nhỏ lại. – Hôm nay chú làm món gì mà lột củ hành nhiều vậy? – Hachée. – À, món hachée của Hòa Lan, con biết rồi, món này một ký củ hành, một ký thịt hầm chung với nhau. – Ừa đúng rồi, món truyền thống của Hòa Lan, lát nữa tao chỉ cách nấu mày nhớ ghi công thức lại để sau nấu cho tụi nó. – Okay, món này con ăn thấy ngon, những người In Đô ăn hơi khó. – Tại dân In Đô mày hổng chịu tập ăn, tối ngày chỉ cơm, cá, ketjap. Ở đời chuyện gì cũng phải tập, ăn uống cũng vậy. Tôi day ngang chỉ mấy củ hành đã lột xong, nói:   – Trước kia tao lột củ hành thường bị cay mắt nên tao vừa lột vừa xả qua vòi nước, nhưng hông biết từ bao giờ tao hổng còn bị cay mắt khi lột củ hành nữa. – Chú nói đúng, hồi mới qua Hòa Lan con ăn hachée cũng hổng được, nhưng ăn riết rồi thấy ngon, nhứt là khoai tây luộc, bắp cải đỏ hầm với táo, chan sốt hachée lên ăn ngon bá chấy. Thiệt vậy, tất cả theo dòng thời gian thay đổi, mọi việc sẽ dịu lại thành thói quen và những cay cú cuộc đời không còn làm cho người ta khó chịu nữa. Dronten 17-3-2018  
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi gữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 17 May 2026

Tôi làm phu lục lộ, tu sửa quốc lộ 1, đoạn đường Ba Ngòi, Cam Ranh. Việc của tôi là gánh đá, nấu hắc ín, làm người sai vặt. Xe chở đá, xe hủ lô lăn bánh rằm rập suốt ngày. Trời nắng chang chang, nhựa dường bốc hơi rát mặt. Tôi đuối sức vì công việc năng nhọc. Mồ hôi đầm đìa trên trán. Lưng áo không lúc nào khô, Tôi hay lấy cớ đi tiểu, lủi vào bụi rậm, trốn bớt việc. Mấy chị đàn bà làm chung, hỏi mày ỉa ra cây hay sao mà lâu thế? Có người trêu, công tử thấm đòn rồi. Mọi người đều một mỏi. Ít ai nở dược nụ cười thoải mái. Sự sống cùn mằn. tâm địa cũng thu hẹp. Người ta hay nhắc về miếng ăn, tiền bạc, sự giàu sang, và chửi đổng cuộc đời.

Tôi ở đậu nhà anh tài xế xe chở đá. Anh tên Rạng, Nhà chật, lại thêm đàn con nheo nhóc, Tôi trải chiếc ghế bố nằm ngoài hàng hiên, Chị Rạng ái ngai nói, hoàn cảnh eo hẹp chẳng biết làm sao. Tôi nói, có được chổ nằm là tốt rồi, xin đừng lo cho tôi. Giấc ngũ rất cần thiết để lấy sức cho công việc ngày mai. Tôi it nghĩ ngợi mông lung. Nhưng hình bóng Phương Nghi vẫn thấp thoáng. Niềm tuyệt vọng đối với thân phận cu li thấp kém của mình. Chech phía bên bên kia nhà anh tài xế, ngăn cách một vườn dừa, có căn nhà gạch thoáng mát. Người chủ căn nhà này là bạn của chị Rạng. Hai người ban với nhau, để tôi sang bên kia ở đậu. Tôi mừng có nơi tránh được sương gió ban đêm.

Chị chủ nhà tên Triều, có dứa con sáu tuổi. Do gần gũi, tôi biết đứa con này không cha. Chưa một lần chị chính thức lấy vợ của người đàn ông nào. Hiện nay chị đang là tình nhân của một ông lớn nào đó. Mỗi tháng, đôi lần chị ăn mặc thật đẹp. đi vắng vài ngày. Tôi đoán là đi thăm ông lớn. Khi về, chị tiêu pha rộng rãi. Chị hỏi tôi về công việc đang làm. Tôi nói về sự vất vả của người phu lục lộ. Chị thương hại, muốn giúp tôi làm một chân thư ký tại Cam Ranh, Tôi cám ơn và từ chối, rằng hết mùa hè tôi phải trở lại Nha Trang tiếp tục sự học. Chị Triều thường mời tôi ăn quà vặt. Chúng tôi thích bàn về những quyển sách đã đọc, nhất là phong tục tập quán dị biệt của các dân tộc nơi bốn phương trời xa lạ. Có lần, khi đang ăn cam, chị cúi xuống nhặt những vỏ cam rơi rớt dưới sàn. Tôi nhìn thấy cặp vú trắng nõn, qua viền cổ rộng của chiếc áo cánh sát nách. Có lẽ do linh tính, chị ngước lên bắt gặp đôi mắt gian tà của tôi. Chị mim cười như vừa chế nhạo, vừa tha thứ. Tôi ngượng quá, nín thinh bỏ về chổ nằm. Đêm sau, chờ cho thàng bé vào buồng ngủ. Tôi nói, chị Triều ơi, chuyện đêm trước là em vô tình, xin chị bỏ qua. Chị nói, chị không vô tình, em nghĩ sao? Tôi nói, như vậy không phải lỗi tại em. Chị dí ngón tay vào trán tôi, thằng ngốc! Tôi nói, bây giờ thì em yên tâm, vì dù sao cũng dã có lời xin lỗi. Tôi đứng dậy, tính về chổ ngủ. Chị níu tay tôi, ngốc ơi là ngốc! Em đáng bị đuổi ra ngủ ngoài sân. Tôi chợt hiểu ý chị muốn gì, và tôi cũng chợt khởi lòng ham muốn. Chính vì chợt khởi lòng ham muốn làm tôi mất tự nhiên, không biết xử sự ra sao. Tôi bối rối đứng im. Chị xô tôi vào phòng, nói nhỏ, thằng bé bên kía chưa ngủ đâu. Tôi đồng lõa, coi chừng nó biết. Chị cù nách tôi, đồ nhát như cáy. Tôi không nhột, mà cảm thấy thích đụng chạm nbư thế. Chưa hao giờ, tôi được nằm trên giường nệm rất êm, và gối đầu lên chiếc gối trắng tinh sạch sẽ thế này. Mền gối lại có hơi hướm đàn bà, càng làm tôi thích thú. Nhưng tôi vẫn hồi hộp. Không biết tại sao lại hồi hộp. Tôi nằm nghiêng vào vách. Chị Triều choàng tay qua tôi, kéo siết. Ngực chị êm ái, ép sát lưng tôi. Cảm giác đó, suốt đời tôi không tìm lại được với ai, Chị bảo, cởi đồ ra. Tôi riu ríu vâng lời. Thân thể chị trống trải. Thân thể tôi cũng không còn gì che. Tôi mắc cỡ không dám nhìn chị. Tôi quay mặt hướng khác, nằm co quắp, hai bàn tay kẹp vào đùi. Chị vuốt bụng tôi, vuốt tóc tôi. Chị nói, suốt ngày làm ngoài trời, cái đầu, còn khét nắng. Bộ không tắm hả? Tôi nói, tắm rồi. Chị hỏi, có gội đầu bằng xà phòng không? Tôi nói, không. Chị nói, hèn gì … Rồi chị kéo tay tôi ra khỏi cặp đùi, xoay tôi lại. Chị bảo, nằm thẳng người ra, đừng ẹo như con tôm vậy. Chị sờ hạ bộ tôi. Tôi ngượng điếng người trong sướng cảm. Chị bảo, lên mình chị đi. Tôi run lẩy bẩy, lồm cồm bò lên nằm sấp trên mình chị. Thân thể chị êm, và ấm vô cùng. Sự kích thích quá độ, làm tôi rùng mình. Chưa chi tội đã tháo đổ hết cả dục tình lên bụng chị. Cả người tôi tê rần, tưởng có thể ngất đi. Chị sững một lúc rồi vỗ lưng tôi, em ơi, em làm ăn cái kiểu gì kỳ vậy? Tôi úp mặt vào cổ chị, thở hổn hển. Chị nhè nhẹ đẩy tôi xuống. Bụng chị trơn nhớt. Tôi nói, để em lau cho chị. Chị bảo, thôi. Tôi về chỗ nằm, căng mắt ra tới sảng. Hình dung ra thân thể chị Triều. Dù trong bóng tối mờ mờ, tôi không nhìn rõ, nhưng tôi tin rằng, trên đời này không có điều gì tuyệt diệu hơn thân thể đàn bà.

Sau một đêm mất ngủ, tôi làm việc một cách uể oải. Những gánh đá đè nặng trên vai dưới trời nắng như thiêu, có lúc làm tội hoa mất. Mấy chị đàn bà chê, con trai mà yếu như bún. Thường khi ngồi ăn cơm và nghỉ trưa dưới bóng cây, họ nói chuyện rất bạo. Có tôi hay không, cũng không đáng bận tâm, Một chị nói, tao bị thằng chồng mắc dịch nó quần cả đêm, chẳng ngủ nghê gì được. Chị khác nói, bọn đàn ông là thứ lợn lòi, hăng tiết lắm. Thêm một chị góp ý, thằng nào càng hăng tiết, càng hộc máu sớm, Họ cười gọi tôi, ê cậu nhỏ, nghe lời đàn chị chưa? Nhớ rút kinh nghiệm. Tôi cười, làm ra vẻ ngớ ngẩn dại khờ. Thầm nghĩ. tôi cũng là một thứ lợn lòi hăng tiết. Cuối ngày, tôi theo xe anh tài xế Rạng trở về.

Anh nói: “Trông mày có vẽ nhuốm bệnh. Mai nghỉ một ngày đi. Đừng ráng. Tao nói với trưởng ban vẫn ghi tên mầy đi làm.”

Tới nhà, tôi đuối quá, đi nằm sớm. Chị Triều hỏi: “Em sao thế, hở Hiên?”

Tôi nói: “Không sao cả.”

Buổi tối, chị Rạng đem cho tôi hai viên Aspirine. Tôi uống thuốc, nằm im. Nghe hai chị nói chuyện ở nhà sau.

Tiếng chị Rạng: “Ông xã mình nói nó bệnh. Tội nghiệp, nó không có ai.”

Tiếng chị Triểu: “Hoàn cảnh nó đáng thương. Mình muốn giúp nó công việc nhẹ nhàng hơn, nhưng nó từ chối. Nếu nó chịu ở đây luôn, mình sẽ nhận làm em nuứi.”

“Sợ ông Quảng ghen chứ?”

“Ối, ghen cái nỗi gì. Nó đáng tuổi em út. Đừng nói thế, tội!”

“Mình thấy nó hiền lành. Chỉ ngại ông Quảng mê Triều quá, rồi nghĩ bậy cho nó.”

“Dẫu nó có ba đầu sáu tay cung không dám làm hỗn với mình đâu. Lạng quạng mình tống ra khỏi nhà tức khắc. Còn ông Quảng hả? Muốn giữ mình làm của riêng, thì đuổi con vợ già của ổng đi đi. Thứ đàn ông sợ vợ, cũng bày đặt ghen tuông.”

Lời qua tiếng lại to nhỏ giữa hai người dàn bà, nghe nhức xương. Ông Quảng là ai, mà tham lam khốn nạn? Tôi là ai, mà vụng trộm đê hèn?

Nửa khuya đêm đó. Chị Triều lay tôi: “Em cảm thấy bớt bệnh chưa?”

Tổi nói:”Em chỉ hơi mệt, đã khỏe lại rồi.”

Chi hỏi thầm:”Muốn vào với chị không?”

Tôi tung mền ngồi dậy, thay câu trả lời. Sợ chị đổi ý, tôi đi trước vào phòng.

Chị khép cửa: “Nếu còn mệt thì thôi đi. Không khéo lại phạm phòng.”

Tôi hỏi: “Phạm phòng là gì vậy?”

Chị cười ỡm ờ, không nói.

Tôi nói nhỏ: “Em say nắng thội. Nằm nghỉ chút xíu là khỏe ngay.”

Chị ôm tôi .. Tôi vùi mặt vào ngực chị, Đam mê. Háo hức.

“Em còn là trai tân phải không?”

Tôi ngúc ngoắc cái đầu.

Chị nói: “Chị gặp hên.”

“Sao hên?”:

“Gặp trai tân là hên. Mai chị mua vé số.”

Hôm sau. Tôi dậy muộn, nghỉ việc. Chị Triều dẫn con đi ăn điểm tâm buổi sáng. Chị mua về cho tôi dĩa bánh bèo. Tay chân tôi rời rã. Miệng đắng nghét, ăn không thấy ngon. Tôi bệnh thật rồi.

Từ đó, vài đêm tôi lại ăn nằm với chị Triều một lần. Tôi ghiền cải hơi hướm, và mê thân hình bốc lửa của chị. Tuy thế, nếu chị không gọi, không bao giờ tội dám tự động vào phòng.

Một hôm, trước khi đi làm.

Tôi nói: “Chị Triều ơi, cho em thơm chị.”

Chị chưa trà lời, tôi đã mở nút áo, chúi mũi vào khe ngực căng đầy của chị. Hít thở.

Chị ôm đầu tôi: “Thích chị không?”

Tôi nói: “Thích,”

“Chị cm mình dẫn nhan vô Sài gòn nhé?”

“Sao không về Nha Trang’!”

“Em khờ lắm. Nha Trang nhỏ hẹp, con chó nằm còn ló đuôi. Thằng cha Quảng sẽ tìm ra. Em là hạng tép riu. Thằng chả muốn hại em lúc nào cũng được,”

“Thằng chả là ai mà dữ vậy?”

“Em không cần biết. Nhưng thằng chả chỉ cần búng ngón tay, em không vào nghĩa địa. cũng sặc máu mủi.”

“Cái thằng cường hào ác bá lưu manh, Chị đan díu với nó làm gì?”

Chị nói: “Cuộc đời không đơn giản như em nghĩ.” Chị đẩy tôi ra, “Thôi, đi làm di. Nhớ ý tứ giữ mồm giữ miệng. Bể chuyện là mang họa đó.”

Tôi nóng tnáu: “Em không ngán thằng chả đâu. Cùng lắm là đổi mạng.”

Chị cười: “Gà con vỗ cánh gáy bình minh, chưa biết sợ chó sói.”

Mùa học mới. Tôi chuẩn bị trở lại Nha Trang, Chị Triều đặt may cho tôi bộ quần áo mới. Chị nói, quần áo của em nhăn nhíu như cái nhau meo hành khất. Tôi nói, tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Chị nói, nhưng cũng phải mặc sao coi cho được chứ? Chị lại dặn, khi nào có dip lễ, hãy về đây thăm chị, cho chị dịa chỉ ở Nha Trang. Tại nơi, em sống lông bông chẳng có nơi nào chắc chắn. Tôi cho chị địa chỉ nhà bác Huế, nhưng dặn đừng tìm tội ở đó. Trên đường đưa tôi ra bến xe. Chị Triều nhìn tôi bằng đôi mắt đẹp hết sức đa tình. Tôi cũng bồi hồi lưu luyến. Chị nói, nếu chị mang thai, đó là con của em. Tôi nhìn bụng chị. Lòng hoang mang. Không biết chị nói thật hay nói chơi?

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 17 May 2026

Trong mục Tạp Ghi tuần trước, nhân ngày 1 tháng 4, theo truyền thống trò chơi “Cá Tháng Tư” của báo chí phương Tây, chúng tôi có viết một bài báo nhan đề “Cao Niên và Câu Chuyện Tháng Tư,” “đưa tin” rằng:

“Cao niên được nhận lãnh một lần số tiền $30,000 nếu đồng ý trở về sinh sống tại quốc gia nguyên thủy của họ.” Phần thật 100% của câu chuyện là vấn đề ngân sách nước Mỹ thiếu hụt trầm trọng, ngay “Tiểu Bang Vàng” California cũng đã thâm thủng 42 tỷ đô la, trong khi đó, ngân sách giáo dục phải cắt giảm 1,200 triệu Mỹ Kim, cho nghỉ việc hàng nghìn cô thầy giáo, lớp học sẽ đông học sinh hơn, và con em chúng ta phải thu ngắn niên học. Phần “joke” giả tưởng mà chúng tôi đưa ra là theo một đạo luật mới được Quốc Hội thông qua, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1, 2012 là, cho đỡ gánh nặng của nước Mỹ, các cụ sẽ được lãnh trọn số tiền 30,000, nếu đồng ý “quy cố hương.” Ngại rằng chuyện “đùa” sẽ có người tin, chúng tôi đã mạn phép ghi rõ ràng ở cuối bài là “Nửa phần bài tạp ghi hôm nay, viết vào những ngày đầu tháng 4 theo truyền thống “Cá Tháng Tư” (April Fools’ – Poisson d’Avril), hy vọng không ai mừng hụt và cũng không hy vọng đạo luật này sẽ thành hình.” Nhưng tiếc thay, trong tuần qua, mặc dầu tác giả đã ghi chú rõ ràng như thế, mà các cụ vẫn cứ tin rằng đây là chuyện thật, dù đã được con cái giải thích rằng đây chỉ là chuyện đùa “Cá Tháng Tư” Bức thư đầu tiên là của con một vị cao niên như sau:

“Sau khi đọc xong bài tạp ghi trên, Ba cháu đã gọi điện thoại cho tất cả bạn bè ở Mỹ và Việt Nam để truyền đạt thông tin này. Cháu có giải thích đây chỉ là chuyện “Cá Tháng Tư” nhưng Ba cháu vẫn không tin cháu. Ông nói chuyện này sẽ áp dụng vào năm 2012 và tiếp tục truyền miệng tin này cho các bạn bè khác của mình.”. Chiều qua, một thanh niên, cũng đã điện thoại cho tác giả than phiền rằng, bài báo đã làm cho thân phụ anh mừng hụt, vì ông cụ đau yếu luôn, muốn đỡ gánh nặng cho con cháu, nên bây giờ với số tiền được lãnh một lần như thế, ông sẽ về Việt Nam sống luôn. Tôi hỏi vì sao em không giải thích cho ba em biết, em nói em đã giải thích cho ông cụ, nhưng vì ông không biết “Cá Tháng Tư” là gì cả!

Một ông bạn già khác thì lại gọi cho tôi: “Ông ơi! Lũ con tôi nó mới đọc bài của ông, chúng gọi tôi bảo Ba có $30,000 rồi, vậy Ba có về Việt Nam sống không? Tôi trả lời: Cho tao một triệu, biết tao đã về chưa, đừng nói 30,000!” Tôi không dám nghĩ bài báo thành công khi thả cá mà có nhiều người tin thật là thả cá thành công.

Chuyện “Cá Tháng Tư” khác với “Tin Vịt,” “Tin Vịt Cồ” là tin không có, tin bày đặt, nếu cơ quan truyền thông loan tin, phải cải chính, trái lại chuyện “Cá Tháng Tư” là chuyện đùa trong ngày đầu của tháng 4, mặc dầu theo văn hóa Âu Mỹ, nhưng không lạ gì đối với người Việt Nam. Đài BBC năm 1980, đã loan tin rằng tháp đồng hồ Big Ben ở Luân Đôn sẽ bị thay thế bằng một chiếc đồng hồ điện tử! Dân chúng Luân Đôn nhốn nháo tức giận vì vội tin. Một biểu tượng lâu đời đẹp đẽ của Luân Đôn như thế mà thay bằng một chiếc đồng hồ điện tử ư? Cũng trò chơi tương tự, năm 1986, tờ The Parisien thả cá tháng 4 cho rằng chính phủ sẽ tháo gỡ tháp Eiffel để cho công ty Disney của Mỹ xây công viên Euro Disney. Những tin mới nghe qua vô lý, nhưng cũng rất có thể vì biết đâu chính phủ Pháp lại ham tiền. Vào ngày 1 tháng 4 những năm qua, cũng có nhiều tờ báo đưa những nguồn tin ai cũng trông mong trở thành sự thật, nên dễ tin như chuyện UBND Thành Phố Hồ Chí Minh chấp thuận đổi tên thành phố lại Saigon hay Đảng CS sửa Hiến Pháp, chấp nhận đa nguyên. Ký giả Thanh Toàn của SBTN đầu tháng 4 năm nay, đã đưa tin SBTN sẽ phát hình ở Việt Nam 24 tiếng, trụ sở đài đặt tại đại lộ Thống Nhất cũ, đối diện với Tòa Đại Sứ Mỹ, Việt Dzũng và Thanh Toàn sẽ về Saigon để điều hành công việc. Mặc dầu ngay trong bản tin chiều đó, xướng ngôn viên Diệu Quyên đã nói rõ đây là tin “Cá Tháng Tư” nhưng nhiều người đã vội tin. Người thương thì cho rằng với lập trường chống Cộng của SBTN làm gì có chuyện đó, người ghét thì nghi ngờ cho rằng SBTN bắt tay làm ăn với Việt Cộng!

Về câu chuyện tạp ghi tuần rồi, chúng tôi không ước tính được câu chuyện “cao niên được lãnh $30,000 đô la nếu bằng lòng trở về sinh sống ở nguyên quán” đã chạm đến nỗi đau của một số vị cao niên trên đất Mỹ. Chúng ta đã bỏ hết nhà cửa, sự nghiệp để ra đi, sang đây, bây giờ nhất là đến tuổi già, mỗi người một cảnh. Cũng có người hạnh phúc, sung sướng, nhưng cũng có người đau khổ, bệnh tật, cô đơn. Cũng có người thề không trở về Việt Nam khi còn cộng sản ở đó, nhưng cũng có những người trong thực tâm muốn về sống những ngày cuối cùng để chết trên quê hương. Chỉ khó một nỗi về làng thì phải có áo gấm, vì sĩ diện không có lẽ quy cố hương mà chỉ có hai bàn tay trắng. Qua những phản ứng của câu chuyện “Cá Tháng Tư” vừa rồi, tôi có nhận ra một điều khá đau xót, là, không phải người ta yêu nước Mỹ đến phải chết sống cho nước Mỹ, thề không trở về sống ở Việt Nam, mà chỉ vì nước Mỹ còn giúp cho chúng ta có cuộc sống lành lặn, tử tế. Nói đến chuyện có nên về Việt Nam “dưỡng già” như có một số cụ mong muốn, thì vào cuối tháng 3 vừa rồi, có một câu chuyện, mà tôi nghĩ cũng tương tự “Cá Tháng Tư” là trang Web Vnexpress vừa đăng một bức thư, nói là của một ông “Việt Kiều” Mỹ, muốn hỏi ý kiến độc giả Việt Nam, xem ông nên về hưu ở Bến Tre, Phan Thiết, Cần thơ hay Nha Trang … Ông này cho biết ông có vợ Lào và 3 đứa con đều lớn, đã sống riêng và dự định ba năm nữa về hưu, ông sẽ về ở luôn Việt Nam. Lý do của ông đưa ra là:

– Ở Mỹ vật chất rất là đầy đủ, dư thừa nhưng thiếu tình người. Ở Việt Nam tình người đậm đà hơn ở Mỹ.

– Cần bạn bè, hàng xóm người Việt Nam (ông ít bạn Việt Nam ở Mỹ, hàng xóm người Mỹ) để hàn huyên tâm sự.

– Ông muốn chính ông sẽ giúp đỡ những người nghèo, trích trong số tiền hưu của ông. Ông này cũng nói thêm mấy lời khen ngợi cái trang web ở Việt Nam là một trong những website ông thích nhất. Một ngày, nếu ông không xem những tin tức trên trang này thì ông cảm thấy như thiếu một cái gì đó. Bức thư này vừa tung lên net đã bị bà con đả kích dữ dội. Chỉ nội việc ông này đòi bỏ bà vợ già và ba đứa con ở lại Mỹ mà về Việt Nam nghỉ hưu thì cũng thấy cái “tình người” của ông rộng lớn vĩ đại như thế nào. Khách trong net đã đưa ra nhiều ví dụ, nêu ra những lý do chúng ta không nên sống dưỡng già ở Việt Nam, nhất là cái “tình người” khốn nạn giữa mẹ con, anh em, bạn bè, tình nhân với nhau, tráo trở, lừa bịp nhau giết nhau vì đồng tiền, và cứ nghĩ lúc ông hết đô la thì có còn cái tình người đó không? Tôi đồ chừng có ông Việt Kiều nào đó đã đùa dai mà Vnexpress bị mắc lỡm, hay cũng có thể đây là một bức thư do trang báo này làm “cò mồi” đưa lên, đem cái tình người “Việt-Nam-Duyên-Dáng” ra mà quyến dụ chúng ta chăng?

Nếu bài tạp ghi tuần rồi có loan một cái tin “Cá Tháng Tư để một số vị cao niên vội tin là thật rồi sau đó thất vọng, thì tác giả xin nhận lỗi, nhưng nếu cái ý tưởng này, xét ra cũng có cơ sở, thì chúng ta sẽ vận động quý vị dân cử làm dự luật trình lên Quốc Hội. Trong tình trạng cạn kiệt, chính phủ liên bang sắp đóng cửa này, bất cứ một sáng kiến nào đưa ra nhằm cứu nước Mỹ qua cơn hoạn nạn, chắc chắn đều được tuyên dương công trạng. Mong lắm thay!

***