Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 20 May 2026

Căn nhà lá, vách phên xập xệ. Một bên là bếp lò, nồi niu ám khói. Một bên kê những tấm gỗ thông, làm giường ngủ. Kê giường ngủ là chiếc bàn, cũng bằng gỗ thông. Sát vách căng sợi dây, máng quần ẩo. Khi tôi đến, trong nhà chỉ có thế. Nói là nhà thì cũng hơi quá. Đúng hơn, đó là cái chòi của hạng cùng đinh, thuộc khu nghĩa địa, không gần với nhà nào cả.

Phía sau nhà là bãi tha ma hiu quạnh. Mộ mới mộ cũ. Mộ lớn mộ nhỏ, Những ngôi mộ gần nhau, im lặng. Ai cũng có một chỗ nằm nhất định. Không bon chen giành giật lấn đất của nhau. Thế giối của hòa bình bi thảm. Tuy nhiên, nhìn vào xã hội người chết, có thể phân biệt được kẻ giàu người nghèo. Kẻ giàu thì mộ xây xi măng đá xanh sững sững, chắc chắn. Ảnh mộ chủ gần âm vào mặt đá. Anh nào mặt cũng vô hồn ngơ ngáo, Phia dưới ghi ngày sinh, ngày tử. Phía trên gần cây thập giả, hoặc bánh xe hình chữ Vạn. Mộ người nghèo thì đơn sơ, với bộ táng bằng đá ong, đặt bốn cạnh. Có khi chỉ là gò đống nhô lên, mọc đầy cỏ dại. Thằng Ẩn nói, nhà này của một ông già bán hàng mã, giấy tiền vàng bạc và nhang đèn cho người viếng mộ. Sau, ông nhượng lại cho bà cô của Ẩn rồi bỏ đi mất. Cô của Ẩn ở một thời gian, rồi cũng khép cửa bỏ đó. Bà chyển về gần Chợ Mới, Nha Trang. Buôn bán trầu cau, bình vôi, ống ngoáy, ống nhổ, những thứ cần thiết cho người ăn trầu. Ẩn xin bà cụ cho tôi ở đây. Càng lúc tôi càng đi gần về thế giới người chết. Tôi ở Cam Ranh một tuần, trước khi về nương thân trong căn nhà hoang tàn bên nghĩa địa ..

Chị Triểu xin được việc trong một công ty xuất nhập căng ở Sài Gòn. Chị nói, lần gặp này coi như lần cuối. Chị phải làm lại cuộc đời trước khi quá muộn. Tôi đau lòng như sắp đánh mất một tình cảm lớn lao. Chị phân tích, tôi chỉ mê chị mà không yêu. Tôi nói, em yêu chị, Chị cười, yêu mà hơn năm tháng trời, không một lá thư thăm chị. Nếu không bị người ta đuổi đi, thì Tết này em đâu có mặt ở đây. Tôi vẫn nói, cm yêu chị. Đừng ngờ oan cho em. Chị nói, cái thứ tình nhục dục của em, là tình yêu địa ngục. Tôi nói, gần chị em cảm thấy ở thiên đường. Chị nói, thiên đường rất mong manh. Sẩy chân một cái là rớt ngay xuống địa ngục. Lòng chị là phong ba bảo táp. Chị dám cùng em dắt tay vào địa ngục, đạp lên trên dư luận mà di. Em dám không? Tôi ôm cổ chị, hôn tới tấp. Trên da thịt chị Triều, chổ nào hôn cũng ngon. Tôi nói, nếu chị là địa ngục thì em lao vào, chết bỏ. Chị rủ tôi vào Sài Gòn với chị. Tôi nói, chị em mình về Nha Trang sống với nhau. Chị bực, về đó thằng cha Quảng sẽ biết. Tôi cũng bực, nó là thằng nào, mà chị sợ dữ vậy? Chị nói, chị không sợ cho chị, mà sợ cho em. Tôi nói, nếu thằng khốn nạn đó đụng tới em, em sẽ thí mạng cùi, chén sành đổi chén kiểu. Chị nói, em chưa sở dược sợi lông chân của thằng chả, thì đã đi chầu Diêm Chúa. Tôi hỏi, thằng chả không cho chị lấy chống? Chị nói, lấy chồng thì được. Tôi nói, cm là chồng của chị. Nói xong, chợt thấy khôi hài. Cái mặt tôi mà làm chồng chị Triều ư? Chị khôn như trời, tôi là thằng em dưới tay. Tôi đến với chị bằng tẩm lòng cuồng mê, không hề nghĩ chuyện tương lai. Chi Triều đùa, ông chồng bé bỏng của tôi ơi … Hai chị cm cười ngất.

Ngày đưa tôi ra bến xe. Chị Triều nói, lâu nay chị sống bằng tiền của ông Quảng. Chi sẽ về Sài Gòn tự lập. Đời chị không còn nhiều thì giờ nữa. Chị cũng muốn kết hợp lâu dài với tôi. Nhưng qua vài câu thử thách, chị biết tội chỉ đam mê nhất thời. Tôi thể bán mạng, rằng tôi yêu chị. Chị nói, chị hiểu lòng tôi hơn tôi hiểu lôi. Tôi lên xc, ngồi gần cửa sổ. Chị Triều đứng hên hông xe. Mắt chị ướt. Khuôn mặt yêu kiều của chị cũng nhòa trong mắt tôi. Tôi buồn qua đỗi, chia tay là mất chị Triểu, Tôi muốn trì hoãn thời gian gần gủi, và đòi xuống xe. Chị bảo, đừng làm chị khó xử. Hãy cứng rắn với chinh mình.

Trước kia, anh Kỳ nói lòng tôi mềm quá, sẽ khổ vì đàn bà. Lời đó ám mãi vào tôi. Mất chị Triều, tinh thần tôi sa sút thảm hại, Tôi nghĩ về Phương Nghi với nhiều kỷ niệm đep, mong tìm thấy ở dó một chút ấm lòng. Nhưng Phương Nghi chỉ còn là ấn tượng của cánh chim trời khuất biệt. Tôi bơ phờ đi tìm thằng Ẩn, xin được chỗ ở kế bãi tha ma. Tôi buồn rầu nghĩ, tôi cũng là một con ma, nên càng lúc càng đi gần về cõi chết.

Tôi lại nhà bác Huế đem đồ về chỗ ở mới. Bác nói, đã gặp bà Ba và hỏi sao bất ngờ đuổi tôi đi? Bà Ba cho biết, tôi nhất định đi, bà không giữ được. Bác Huế nói với tôi, con đi, người ta tu hành, đừng gieo tiếng oan. Tôi phân trần, bác thử nghĩ coi, con dù có điên cũng không dám bỏ đi trong đêm giao thừa. Bác nói, chuyện đã qua. Tôi, bây chừ ở lại đây. Đừng đi mô nữa. Tôi nói, con đã có chổ ở mới, thích hợp cho việc học hành.

Thấy tôi đã quyết, bác Huế bảo bé Đông đạp xe theo tôi cho biết chỗ ở mới. Đồng thời, cũng mang cho tôi ít đồ ăn tạm. Chúng tôi tới căn nhà lá, lúc thàng Ẩn đang quét dọn bui bặm rác rến trong ngoài, sau một thời gian nhà không người ở. Bé Đông di một vong quanh nhà, quan sát. Gió hắt hiu thổi vào từ hướng nghĩa địa. Mặt trước, mặt sau nhà mọc đầy cỏ dại. Căn nhà càng thêm cái vẻ hoang vắng thê lương.

Bé Đông rụt vai: “Căn nhà ma.”

Tôi nói: “Anh ở với ma.”

“Gần bên cái nghĩa địa. Ghê quá.”

“O phụ giúp tôi dem đồ vào. Đừng có đứng đó mà nói này nói nọ.” Mỗi lần bực mình, tôi hay gọi nó bằng o.

Nộ vào nhà, tôi giới thiệu thằng Ẩn: “Bạn anh.” Và quay qua nó, tôi nói, “Còn đây, cô Bạch Tuyết của bảy chú Lùn.”

Nó hỏi: “Anh tên là chi?”

Ẩn nói: “Lương Sơn Bá,”

Nó cười: “Tên đẹp như trong tuồng cải lương.”

Rồi nó săm soi từng chiếc nồi, góc bếp. Tò mò, ngạc nhiên vì những đồ vật chỉ còn giá trị như những món đồ phế thải.

“Chủ nhà mô?”

“Không biết.”

“Rứa là đã ra nằm ngoài nghĩa địa.”

Tôi la: “Cái mồm tía lia, O làm ơn để tội yên.”

“Anh nì lạ. Nói chi cũng nổi cáu.”

Chợt thấy mình vô lý, tôi dịu giọng: “Anh đang mệt và có chuyện buồn,”

“Chuyện buồn chi?”

“Con nít biết gì chuyện người lớn?”

Nó đãi, ngoe nguẩy bỏ về.

Tôi dặn: “Về đừng nói với mạ, anh ở nhà ma nhé.”

Nó vênh mặt: “Em nói thật hết. Anh làm chi được cm?”

Tôi quay lưng: “Lì lợm. Bướng không không chịu nổi.”

Thằng Ẩn nhìn theo: “Con nhỏ đẹp.”

Tôi nói: “Nó còn nhỏ. Mày tán tỉnh nó, tao từ mày.”

“Dành cho mày hả?”

“Tao coi nó như em ruột.”

Ẩn đùa dai: “Chừng một năm nữa thôi. Anh trai Tây Ninh núi Bà Đen, cũng động lòng trắc ẩn vì em gái Huế sông Hương”

Tôi nạt: “Đừng nói bậy!”

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 20 May 2026

Cách đây vài năm, tại một tiệm phở quen, tôi  thường gặp một ca sĩ khá nổi tiếng thường đưa bà mẹ già của cô đến đây dùng bữa. Tôi đã nhìn thấy cảnh cô mở cửa xe, dìu mẹ đi từng bước chậm chạp, đỡ cánh cửa cho mẹ, kéo ghế ngồi cho mẹ. Nhìn cách cô chăm  sóc bà cụ một cách chu đáo trong lúc ăn, tôi bỗng nhớ đến bà mẹ tôi đã qua đời, và tôi ước ao phải chi tôi cũng còn mẹ. Nhưng phải hổ thẹn để nói thêm rằng, nếu còn mẹ, tôi có chịu khó dắt mẹ tôi, một khi đã đi đứng khó khăn, run rẩy ra ngoài, vào tiệm ăn như cô ca sĩ kia đã làm không, hay chọn cách để bà ở nhà và mang về cho bà một món ăn “to go” cũng gọi là đã quá hiếu thảo. Tôi biết bà mẹ già kia hẳn lấy làm vui được cô con gái đưa đi ra ngoài, nhìn cảnh phố xá và sinh hoạt như một người trẻ tuổi, khoẻ mạnh. Tôi chưa gặp lần nào cô đi với bạn trai hay bạn gái đến tiệm ăn này mà lúc nào cũng gặp cô đi với bà mẹ già. Mấy ai đã làm được điều đó. Chúng ta thường thấy trong các tiệm ăn, cha mẹ dắt bế con nhỏ theo, có ghế cao dành cho trẻ, choàng khăn vào cổ cho con, đút cho con từng muổng cơm hay phở, chịu cảnh đổ tháo vương vải mà vẫn vui vẻ, nhưng ai đã chịu săn sóc cha mẹ già trong tình huống như thế. Con người có hai giai đoạn yếu đuối nhất là lúc trẻ  thơ và lúc đến tuổi già. Tuổi thơ không có kinh nghiệm sống và sống theo bản năng, chưa có trí tuệ, không biết hồi tưởng. Tuổi già có kỷ niệm, có cuộc đời đã trải, thiếu thốn biết đau khổ vì có sự so sánh và cũng yếu đuối, đôi khi trở thành ngờ nghệch như đứa trẻ: “người già bằng ba con nít” và cũng thật thà: “ra đường hỏi người già, về nhà hỏi con nít.” Cả hai đều đáng cho xã hội lo âu chăm sóc, vì vậy mà chúng ta có nhà giữ trẻ, hay viện dưỡng lão. Trên xe bus, xe lửa có chỗ cho người già, các tiệm buôn giảm giá cho các vị cao niên. Cổ nhân có câu: “kính lão đắc thọ” vì tuổi già là nơi chúng ta sẽ đến, không ai tránh được, đạo lý ấy rất đáng được cho chúng ta lưu tâm. Ông Mạnh Tử thì lại có câu: “Người tóc bạc không phải đội nắng ở ngoài” (Ban bạch giả bất phụ đái ư đạo lộ hĩ). Một đứa trẻ đói, lạnh hay gặp điều bất như ý không cảm thấy khó chịu và khổ tâm bằng người già, nên người già đáng được xã hội quan tâm hơn con trẻ, và tôi thà có một tuổi ấu thơ nhọc nhằn hơn là một tuổi già vất vả, nghèo đói và khổ tâm. Chúng ta đã thấy cảnh những bà cụ gìa ở Việt Nam vào tuổi 80 còn buôn thúng bán bưng, vất vả ở vệ đường hay khuya sớm mò cua bắt ốc, tội nghiệp và xót xa biết chừng nào. Đó là hoàn cảnh những người già neo đơn trong một xã hội chưa có điều kiện hay thiếu sót sự quan tâm đối với lớp người già. Ông bà cũng phải cấy cày mữa mật ra mới có cái ăn trong bài hát của nhi đồng miền Bắc: “Cháu lên ba. Cháu vô mẫu giáo. Cô yêu cháu vì cháu không khóc nhè. Không khóc nhè để mẹ trồng cây trái, ba vào nhà máy, ông bà vui cấy cày. Là lá la la.”

Là người, ai cũng được dạy dỗ phải biết thương yêu, dạy dỗ và bảo vệ con cái, trượng trưng là con gà mẹ kiếm mồi nuôi con, xoè đôi cánh để bảo vệ sự tấn công của con diều hâu hay cảnh con chim mẹ tha mồi về tổ mớm cho con, nhưng không có thấy hình ảnh đẹp đẽ nào để nói đến con cái lo chăm sóc cho cha mẹ đã già cũng yếu đuối không thua gì trẻ thơ. Cổ nhân thường nói “nước mắt chảy xuôi” để diễn tả hoàn cảnh này. Người đời ai cũng thương yêu con, nhưng phải là người có giáo dục, văn hóa lắm mới biết hết lòng, chiều chuộng cha mẹ. Người phương Đông có đạo hiếu, nhưng người Tây phương không có chương mục nào nói đến chuyện con phải có bổn phận đối với cha mẹ.

Người phương Tây đến tuổi hưu rồi vẫn còn chịu khó đi làm việc cũng như những đứa trẻ mới qua tuổi mười tám đã muốn ra khỏi gia đình, cả hai đều có tinh thần tự lập, không muốn dựa vào ai. Con cái thì không muốn nhờ cha mẹ, ông bà già thì không muốn nhờ đến con, mà cả hai có muốn nhờ cũng không được. Cha mẹ lo cho con cái đến 18 tuổi là hết bổn phận, cũng như con cái chẳng có bổn phận gì với cha mẹ già. Vứt con dưới 18 tuổi ra đường là ở tù tức khắc, nhưng bỏ cha mẹ ra đường cũng chẳng có tội gì. Gần đây có một gia đình ở Mỹ bị truy tố về tội bỏ bê một bà mẹ già, không được tắm rửa, không được săn sóc cho ăn uống đầy đủ. Nhưng điều này có nghĩa gì đối với vấn đề đạo lý, khi chúng ta biết rằng ở xứ này, bỏ đói một con chó, làm nó gầy trơ xương, ghẻ lỡ, cũng bị đưa ra toà, đâu cần đến việc đối xử tệ bạc với một bà mẹ già! Việc này chỉ có nghĩa là gia đình ấy lãnh tiền trợ cấp của bà mẹ nhưng không dùng số tiền ấy cho việc ăn uống, sinh sống của bà. Cách đây vài năm một ông bạn vong niên có gởi cho tôi một bài thơ tiếng Anh, không có tên tác giả. Bài thơ của một bậc cha mẹ nào đó viết cho con, bằng những lời lẽ đơn giản, rất chân tình không có ý trách móc nhưng bàng bạc trong đó dấy lên một nỗi xót xa, buồn phiền không sao dấu được. Bài thơ viết với những lời mộc mạc, rất dễ hiểu, nói về ngày thơ ấu khi con thơ đang còn măng sữa, yếu đuối cha mẹ hết lòng lo cho con, nhưng khi cha mẹ gìa, trở lại với thân thể và cả trí tuệ của những đứa trẻ, thì con cái thấy đó là một gánh nặng phiền hà cho mình. Bây giờ các con thường than phiền về việc cha mẹ ăn uống đổ tháo, vụng về nhưng không nhớ thời mình ấu thơ. Bây giờ con cái than phiền cha mẹ lẩm cẩm, nói dai nhưng quên ngày còn nằm trong nôi, chúng đã bắt bà mẹ kể đi kể lại từng đêm và nhiều đêm, lặp đi lặp lại mỗi cái chuyện Tấm Cám hay Cô Bé Choàng Khăn Đỏ. Bây giờ mỗi lần phải chỉ dẫn cho cha già việc xử dụng máy móc như máy conputer, thấy cha chậm hiểu thì đâm ra gắt gỏng, khó chịu mà không nhớ ngày cha ngồi bên chúng cầm tay nắn nót từng chữ thuở ban đầu hay kiên nhẫn sửa cho con những chữ đọc sai. Bây giờ cha mẹ có khó khăn phải nhờ con, chung dưới mái nhà của con, thì xem đó là một gánh nặng, khiến cha mẹ tủi thân, mang mặc cảm chịu cảnh “ăn đậu, ở nhờ”, không nhớ ngày nào “nhà của cha mẹ là nhà của con”.

Ngay bên Tàu, ca tụng tấm lòng con đối với cha mẹ, ngoài “hai mươi bốn câu chuyện hiếu” (nhị thập tứ hiếu) còn có nhiều gương hiếu tử như của Mẫn Tử Khiêm hay chuyện thầy Tử Lộ đội gạo nuôi cha mẹ, nhưng ngày nay, nhất là qua nửa thế kỷ dưới chế độ Cộng Sản, nhân tâm ly tán, đạo đức suy đồi, người ta phải dùng đến biện pháp hành chánh để trừng phạt những đứa con bỏ bê cha mẹ.

Bây giờ ngày lễ Vu Lan, bắt chước người Nhật cài hoa cẩm chướng trong ngày Mother’s Day, mới gần nửa thế kỷ nay, chúng ta có tập tục cài hoa hồng lên áo. Ai còn mẹ thì cài bông hồng đỏ, ai mất mẹ thì mang bông hồng trắng. Nhưng còn mẹ đó, còn được mang bông hồng đỏ thì chúng ta sẽ làm gì cho mẹ vui, để khi mẹ đã qua đời, chúng ta không có điều gì phải hối hận. Hay mới ở chùa đọc nghìn câu kinh trở về nhà, thấy mẹ vụng về ra mở cửa, nói những lời không vừa ý, chúng ta đã có điều phật ý, chau mày. Bây giờ ngày lễ Vu Lan lại về, nếu ngày lễ này là ngày để cho chúng ta nghĩ đến mẹ, thì cô ca sĩ tôi nói chuyện ở đầu bài hắn nhớ đến mẹ rất nhiều, nhất là mỗi lần có dịp trở lại tiệm ăn này. Thỉnh thoảng tôi vẫn trở lại đây, nhưng đã lâu tôi không hề gặp cô. Tôi nghĩ là mẹ cô đã qua đời hay đã lúc mê lúc tỉnh trong nhà dưỡng lão.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 20 May 2026

“Ba thằng đánh một, không chột cũng què: Mười anh mà bâu vào khen, ca tụng một anh, thì anh này không thành Thánh cũng thành Kiệt Xuất, Hào Kiet, Anh Hùng, Xuất Chúng …, nếu không hóa thành khủng!” Câu ví von này chắc chắn là khập khễnh, què quặt, chẳng mấy ai ưa, nhưng sự thật đây là một sự thật phũ phảng đã xầy ra từ lâu trong cộng dồng người Việt hải ngoại của chúng ta. Lâu lâu người ta kiếm một nhân vật quen biết, vẫn xuất hiện thường hay không, như khuân một cai lư đồng trong kho ra, vào những ngày giáp Tết Nguyên Đán, kỳ cọ, chùi rửa, đánh bóng rồi đưa lên bàn thờ, đèn nến sáng choang, hì hụp khấn vái.

Thứ văn hóa mà người ta cứ gán cho văn hóa Việt Nam, mà dân miền Bắc Việt Nam ngày nay vẫn thường cử hành trong các lễ hội, như là một loại văn hóa phường chèo, là cứ cho ăn mặc cho hoa hòe vào, như kiểu mấy bà đồng cốt, y phục đủ màu xanh đò tím vàng, thêu đù loại hoa văn, có long-ly-quy-phụng rồi hô hào, hãnh diện khoe khoang, cho đây là bản sắc văn hóa Việt Nam, phong phú, đa dạng, đầy màu sắc dân tộc.

Nhớ hồi Cộng Đồng người Việt mới thành lập trên đất Bolsa, ba ông Chủ Tịch trong ba cơ chế Hội Đồng Giám Sát, Cố Vấn, Điều Hợp khi ra hội họp hay tế lễ thì mang ba cái áo màu đỏ, màu vàng, màu xanh, gọi là tượng trưng cho ba ngành quyền lực nhất, để truyền thông địa phương quay phim chụp ảnh xem đó là đặc trưng của một nền văn hóa mới du nhập vào đất Mỹ, mà không cần phải một lời giải thích.

Chúng ta cũng biết thời đệ I Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đương kim nguyên thủ quốc gia, cũng chỉ mới khiêm nhường mặc một chiếc “áo rộng” xanh trong những ngày lễ lớn hay vào dịp về chúc thọ thân mẫu ông. Ông đã từng phục vụ với triều Nguyễn, hẳn ông dư biết nhà Vua có thể mặc hoàng bào bằng gấm thêu rồng, nhưng ông đã không làm. Vậy mà bây giờ, thời buổi này. một Chủ Tịch Cộng Đồng người Việt ở đâu đó đã có thể mặc áo vàng thêu rồng như nhà Vua ngày trước, mà không cần đếm xỉa gì dến cái gọi là văn hóa Việt Nam. Còn như một người được mời đứng ra cho trăm người khen mà không biết được tài trí của mình, không tự lượng được sức mình, thì đó là một điều xấu hổ. Luận về đức khiêm cung, Đức Khổng Tử đã nói: “Dầu mình thông minh trí tuệ hơn người cũng phải coi mình như ngu dốt vậy; dầu mình công lao đầy đủ trong thiên hạ. thì cũng phải kính nhường người; mình có sức mạnh hơn đời cũng phải coi mình như kẻ mềm yếu vậy; dầu mình giàu có bốn biển, thì cũng xem mình như người nghèo khổ vậy.”

Nói về chuyện chúc Thọ, ngày xưa sống trên 60 đã cho là thọ, dưới 60 chỉ mới dược hưởng dương. Sống đến 70 đã cho là ghê gớm lắm, người đời hiếm có (thất thập cổ lai hy.) Từ 80 tuổi trở lên là Thượng Thọ,” từ 90 tuổi trở lên “Đại Thọ,” “Vạn Thọ” hay “Trường Thọ”, để chỉ những bậc đã sống từ trăm tuổi trở lên. Nhưng Thọ có là vinh hay không, còn là điều phài xét lại. Các quốc gia châu Âu thường giữ vị tri cao trong các chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc, tuổi thọ trung bình của các nuớc này cũng rất cao. Tuổi thọ trung bình của các quốc gia thuộc top 10 nước có tuổi thọ trung bình cao nhất châu Âu đều hơn 80 tuổi. Nhưng ngày ngày thực phẩm đầy đủ, nền y tế tiến bộ, thuốc men đầy đủ, nhất là ở Mỹ, tuổi thọ trung bình của người Mỹ xếp hạng “thượng thọ (80).” Một người lính miền Nam, sau ngày nước mất, nhà tan, chịu cảnh ngục tủ đau đớn bao nhiêu năm, trải qua bao nhiêu phong ba của những ngày vượt biển, đến Mỹ cũng còn sống thọ đến hơn 80. Ngày nay chữ Thọ không còn là điều hiếm hoi nữa!

Nói về tải, tài năng bao nhiêu cho đù. Nói về dóng góp cho đất nước, cho dân tộc thì bao nhiêu cho vừa, và nếu có một chỉ tiêu, định mức thì cần phải cân đo với ai. Sau hết chúng ta cũng nên so sánh việc làm bàn giấy của một công chức bàn giấy với hoạt động của một con người tranh đấu cho việc cải tiến đem lại lợi ích cho xã hội và những hoạt động không có tính cách bắt buộc, làm nhiệm vụ của một viên chức chính phủ.

Nhưng khi nói về sự tương đối, thi tất cả mọi sự tương đối không đủ cho một sự vinh danh. Một người làm thơ gọi là tương đối thì không hao giờ được gọi là thi hào. Một người viết văn gọi là tạm được nhất dịnh không phải châu báu của quốc gia. Một quân nhân chỉ biết tiến lùi theo lệnh của cấp chỉ huy đâu phải là chiến sĩ! Vinh danh phải dành cho những cống hiến vượt trội, xuất chủng. Ngày xưa Quân Vương được triều đình quỷ lạy, vì đức của đấng Thiên Tử, cũng phải khiêm cung đứng dậy cho bầy tôi miễn lễ và gọi người bình thân, người khiêm nhường không thể chễm chệ ngồi trên ghế chủ tọa để cho người khác tung hô, hay nghe nhã nhạc, phát biểu lời xu nịnh, tán dương mà không biết đỏ mặt. Đối với tiền nhân, liệt sĩ có công gầy đựng đất nước, hậu thế vênh vang chút tài mọn là thiếu lễ nghĩa. Đối với lũ trẻ chưa ra đời và tuổi trẻ tài năng hôm nay đã cống hiến nhiều sự nghiệp cho đất nước, mà hãnh tiến vô lý là bất nhân.

Áo thụng vái nhau ở chỗ riêng tư, không ai biết, thì còn mình biết, trời biết! Áo thụng vái nhau ở chỗ công cộng, trăm người nghe, nghìn người thấy. coi như dưới mắt mình chẳng còn ai là người (mục hạ vô nhân,) hiu hiu tự đắc, hẳn không phải là việc làm của kẻ sĩ. Một ký mục gia nói về tỉnh trạng “hổn loạn” này đang xảy ra trong cộng đồng hải ngoại là một thái độ “tự sướng!” Thiên Chủa Giáo đã nói: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,9-14). Ông Khổng Tử lại cho rằng: “Người bác học mà biết khiêm nhượng thì kẻ tài sơ mới hết lòng mến phục, còn kẻ tài sơ mà biết khiêm nhượng, thì người bác học mới vui lòng hướng dẫn.” Còn với Lão Tử. khiêm tốn được khai quật lên thành cái “Đạo” của con người thông minh, cái đạo không thể thiếu trong xử thế. Trong bảy đức hạnh của người tu theo Phật giáo thì dức hạnh thứ năm là: “Không tự khoe khoang trong khi mình thiếu đức!”

Thật ra có một điều mà ai cũng biết, nhưng rất khó tránh: là bị người chê trách, không giận là dễ, nhưng ai khen mình mà mình tránh được “phễnh mũi” mới là khó!

Pedestrians with umbrellas walking on a wet London street in rain with Big Ben in the distance

Nước

baotreonline.com

Ngọc Diệp

November 14th, 2025

Post by Sơn râu 19 May 2026

Pedestrians with umbrellas walking on a wet London street in rain with Big Ben in the distance
London’s raining

Vào thập niên 80, ở thôn quê Việt Nam không có nước fontaine như Sài Gòn hay thị xã, (nơi mà chỉ cần mở vòi là nước chảy ồ ạt), vậy người dân quê tôi đã sinh hoạt như thế nào? Khi ao hồ, sông rạch nhiều vô số kể, con người đã tận dụng thiên nhiên ra sao? Người viết xin lượm lặt trí nhớ để kể về những nguồn nước tiêu dùng một thời ở miền quê Việt Nam.

Ao làng (do AI của Google vẽ)    

Với người dân thôn quê, mẹ thiên nhiên là nguồn sống vô tận. Họ tận dụng tối đa nước mưa, nước sông và nước ao hồ. Những khi Trời hạn hán, nắng dai dẳng, nóng oi bức, ao hồ cũng khô cạn, người dân ở thôn quê rất trông mưa. Hai câu trong bài ca dao “Gọi Mưa” sau đây đủ nói lên nỗi “khổ vì nước“:

Lạy trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Kìa, Nội tôi mặc áo túi ngắn tay, quần lãnh ống xăn, ống xổ, đang ngồi trên ghế đẩu, cạnh bộ ván nhà dưới, lau mồ hôi thấm đượm trên trán bằng khăn rằn, rồi tặc lưỡi, nói từng chữ, chậm rãi sau cơn thở dài:

Tst.. tst… Trời nóng nực quá đỗi! Ông mưa đám cho mát đi Ông!

Khác xa với đời sống thành thị có nước fontaine, người dân quê tôi phải đi gánh hoặc chở nước từ giếng hay ao hồ, chắt chiu từng giọt, rất ư cơ cực! Nhà ở thôn quê phần nhiều lợp bằng lá dừa nước, nên không thể sử dụng nước mưa để uống hay nấu nướng. Thay vào đó là nước ao, hồ, cùng với nước sông để tắm, gội, giặt giũ.

Những nhà khá giả, có mái lợp tole hay ngói, thường sẽ xây hồ chứa nước. Người dân thường bỏ cơn mưa đầu mùa để  cho bụi đất trôi đi hết. Vô mùa mưa, nước của những cơn mưa lớn sau đó thường được hứng vô hồ hay lu bằng máng xối. Nhà Ngoại tôi có một hồ nước cao hơn đầu người. Vậy mà bọn trẻ chúng tôi hay leo lên đó, chơi đủ loại trò chơi dân gian như ô quan, đánh đũa. Đối diện nhà Nội tôi là nhà chú thím Sáu, có cô bạn tên Yến Oanh mà thủa nhỏ người hàng xóm hay gọi tôi với cổ là cặp bài trùng. Tuổi thơ của chúng tôi gắn liền với cái hồ nước nhà chú thím Sáu. Mỗi hồ nước có một nắp đậy ở trên và vòi vặn ở gần dưới đáy, được gắn liền vô hồ và một chỗ được xây âm dưới đất, vừa đủ để đặt một cái xô, hay thùng để lấy nước.

Nguồn: vanhoavaphattrien

Nước mưa còn được chứa trong lu. Nhà ở thôn quê không có của cải, tiền bạc chi cả nhưng lại rất giàu lu. Mỗi nhà có tới mấy hàng lu. Lu nước mưa để ở nhà bếp của Ngoại tôi dùng để uống, có một ca nhôm để trên nắp. Bọn tôi ăn cơm xong, tạt qua lu, tu thêm một bụng nước đầy, kêu ừng ực, no hai lần nên bụng căng cứng, bước đi nghe kêu óc ách. Bọn trẻ chúng tôi thì tinh nghịch, cứ hay bày nhau nhúng bánh tráng vô đó để ăn vặt. Bánh tráng bủn ra, rớt lềnh bềnh, trăng trắng trong lu, báo hại ông Ngoại tôi phải bao lần súc lu!

Uống nước lu lâu lâu gặp phải con lăng quăng loi nhoi, sẵn sàng bơi vào miệng thì thấy ơn ớn, làm người uống phải phun nước ra mà hất đổ ca nước! Mấy con muỗi hay đậu trên mặt nước trong lu, đẻ trứng vô những lu nước mưa vì là nước ngọt, chúng không thèm đếm xỉa đến những lu nước sông (nước lờ lợ) bao giờ. Hàng lu nước mưa nhà tôi chỉ để uống, nấu ăn, hay khách quý từ Sài Gòn về tiêu dùng.

Ngoài nước mưa, nguồn nước thứ hai là nước ao. Hẳn quý độc giả còn nhớ bài ca dao Hạt Mưa Hạt Móc

Tôi ở trên trời

Tôi rơi xuống đất

Tưởng rằng tôi mất

Chẳng hóa tôi không

Tôi chảy ra sông

Nuôi loài tôm cá

Qua làng qua xã

Theo máng theo mương

…

Vậy chớ khinh tôi

Hạt mưa hạt móc.

Nguồn: daohieu.com

Hạt mưa ấy hoà chảy vô mương hay ao, nuôi sống người dân quê chúng tôi. Ao của nhà ông Ba Tôn là nguồn nước chánh của cả làng trên xóm dưới, gồm xóm chợ, xóm bánh và xóm chài. Chiều chiều, nhà nhà trong xóm đi gánh hoặc chở nước về bằng xe đạp. Ao ông Ba đúng với định nghĩa ao làng trong văn thơ. Nó thật sâu, có hình tròn và một thùng câu nước nho nhỏ, cột vào dây thật dài để thả xuống.

Nước câu lên được đổ vô cặp thùng lớn, thả một ít lá bình bát vô để nước không bị tạt ra khi di chuyển, rồi gánh bằng đòn gánh hoặc chở ngoài sau ba ga xe đạp. Nước rỉ ra thành 2 lằn, in dấu xuống đường đất đỏ như làm dấu, chạy dài từ ao làng về tới nhà theo người gánh nước.

Thay vì cặp gióng, người ta sẽ làm cặp móc bằng kim loại để móc, rồi móc vô cặp quai thùng.

Có khi, người dân xóm tôi chở nước lúc trời chạng vạng tối, hay những ngày có trăng thanh, mát mẻ. Những đôi trai gái xóm tôi chắc cũng có không ít kỷ niệm hẹn hò khó quên về thời  gánh nước. Vào mùa hè, ao được tàn cây xanh dày đặc, có tàn to bao phủ, nhưng nước ao bốc hơi gần như cạn sát đáy, cùng với việc cất nước, thành thử chung quanh bờ ao tròn vành vạnh, bờ ao nứt nẻ cùng với rễ cây cằn cỗi, đâm ra lởm chởm và phần nước còn lại nằm sâu ở dưới đáy. Vào thập niên 80, quê tôi cũng có nghề gánh hay chở nước mướn. Nhà nào đơn chiếc có thể mướn họ để có nước mà sử dụng.

Nước sông cũng là một nguồn nước vô tận khác, nhưng vệ sinh hay không thì còn phải xét lại. Con sông Vàm Cỏ Tây nuôi người dân quê tôi bằng tôm cá đủ loại, ngoài ra còn cung cấp nguồn nước tiêu dùng. Tôi không hề đùa khi nói rằng “cầu tiêu cũng được làm ngay bên bờ sông”. Thưa phải! Ở xóm tôi, cầu đó được bắc ngay bên bờ sông cái, cạnh cây bần, ngó qua Đức Tân. Những lúc nước ròng sẽ chỉ nhìn thấy sình dưới đáy, nhưng khi nước lớn, con nước sẽ mang ô uế ấy đi khắp nơi, tận những con mương, con rạch, nơi nào nước đến. Cũng cùng nguồn nước đó, người dân xách lên, đổ vào lu hay chậu để lắng cặn và phèn, một thời gian sau sẽ sử dụng được. Nhà Nội tôi sát sông cái nên mỗi ngày, Nội hay sai tôi xách nước khi nước lớn để lóng rồi tắm và rửa chén. Cầu cá tra (bắc trên ao nuôi cá tra) cũng là một cách đi cầu khó quên cho những ai từng sử dụng qua mỗi khi về quê.

Sàn nước, thuyền tam bản và dừa nước (Do AI của Google vẽ)

Nhiều nhà làm sàn nước ngay tại bến sông hay bờ ao. Có lúc, khi đang rửa chén trên cầu sàn nước, tôi nhìn thấy nguyên cả bầy cá bơi tung tăng, đớp những hột cơm rơi xuống. Tôi không hề nói ngoa khi kể rằng người dân xóm tôi phóng uế xuống sông, rửa chén, giặt giũ, đãi đậu, rửa khoai, cũng tại bờ sông, rồi xách nước lên sử dụng cũng như tắm giặt, rửa ráy… Đám trẻ con thì bơi lội, lặn ngụp như rái cá trên sông. Tôi không được nhà cho lội ngoài sông cái, chỉ đứng trên bờ nhìn tụi nhỏ bơi mà thèm thuồng. Có khi, tôi được Mẹ cho đập bùm bũm bằng bập dừa ở trong rạch nhà.

Có người xóm tôi còn thấy cả “thằng chỏng”, là người chết trôi lềnh bềnh trên sông; nghe đâu đàn ông trôi úp, đàn bà trôi ngửa. Mỗi lần như thế, nhà nhà ngưng lấy nước vài ngày. Nước sông này lờ lợ vì sông đổ ra biển tại cửa Soài Rạp.

Người dân thôn quê dùng gáo múc nước  trong lu hay khạp thay cho ca nhựa như sau này. Đây là hình ảnh rất thân thương của thủa xa xưa. Gáo được làm bằng sọ dừa. Người ta gọt sọ dừa cho nhẵn nhụi, cưa bỏ đi một phần ba trên đầu, nạo sạch cơm dừa bên trong, nướng khoan sắt để khoan 2 lỗ, vừa vặn với cán, rồi khéo lắp cán vô. Nhà Ngoại tôi thì múc nước bằng gàu mo cau do bà Cố làm. Khi múc nước, ta có thể ngửi  được mùi thơm thoang thoảng của hương cau.

Sau đó không lâu, có lẽ vào cuối thập niên 80 hay đầu những năm 90. Xã tôi đào được vài giếng nước bơm tay, một ở xóm chợ và một ở gần kho lúa. Bà con xúm lại bơm rồi gánh hay chở về tiêu dùng. Nước fontaine thì mãi sau này, khi gia đình tôi đi Mỹ rồi, mới có.

Ao làng sâu lắng hồn quê đã nuôi chúng tôi lớn theo tháng ngày. Vùng đất bao la, hiền hòa này cũng đã hun đúc những người con quê chúng tôi thành chơn chất, mộc mạc; một khi bị đời bạc đãi, những người con mang đậm hồn quê này cũng tự lau nước mắt rồi đứng dậy bằng đôi chưn của chính mình, rồi ngang nhiên mà sống. Những khốn khó, cực khổ của ngày xưa mà thế hệ chúng tôi đã trải qua, những giọt nước quê hương đã nấu thành những củ khoai, hột bắp, hột cơm nuôi chúng tôi lớn, cùng với sự dưỡng dục của gia đình, và với sự cố gắng không ngừng của bản thân, chúng bạn đồng cam cộng khổ của xóm tôi ngày xưa cũng đều thành đạt cả! Tôi rất hãnh diện về chúng!  Dù chúng tôi đều sống xa quê cả nhưng tình làng nghĩa xóm bao đời nay vẫn thế. “Bà con xa không bằng láng giềng gần”. Xin trân quý từng giọt nước quê hương đã nuôi chúng tôi lớn.

Ngày nay, tôi đã có nước dồi dào nhưng vẫn thấy trân quý từng giọt nhỏ. Cũng xin biết ơn sự nể trọng của chòm xóm về cả 3, 4 thế hệ của gia đình tôi.

Gáo dừa trên khạp nước. (Internet) 

Một thời để yêu & Một thời để chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 19 May 2026

Suốt đêm, tiếng súng thêm mạnh mẽ ở phía chân trời. Trời đỏ ối, lửa sáng, bom đạn nổ đã trông thấy rõ hơn. Đội quân đã rời mặt trận được mười ngày, bây giờ đang lúc nghỉ ngơi. Nhưng quân Nga vẫn tiến. Mỗi ngày phòng tuyến lại đổi khác. Không còn ranh giới hỏa lực nhất định. Quân Nga tấn công. Họ tấn công từ mấy tháng nay và đội quân cũng rút lui từ mấy tháng nay. Graber tỉnh giấc. Y lắng tai nghe tiếng súng xa xa một lát rồi ráng ngủ lại. Nhưng không ngủ được, y trở dậy, mang giầy và bước ra ngoài. Đêm nay sáng nhưng không lạnh. Tiếng súng nổ hình như ở một khu rừng đứng ngăn như bức tường dầy đặc ở phía tay mặt. Trái sáng tạo ra những hình khum khum trong suốt trong suốt trên nền trời đen, xa xa, ở hậu phương, tia đèn rọi quệt từng vệt sáng.

Y dừng lại, ngửng đầu lên. Trời không trăng, cao vằng vặc lấp lánh trong đêm trường. Graber không trông thấy sao, y chỉ nhận thấy trời rất thuận lợi cho hoạt động không kích.

Có người đứng sau cất tiếng nói :

– Trời này mà nghỉ phép thì tuyệt!

Người ấy là Immermann đang giờ gác. Đơn vị không hoạt động, nhưng ở hậu phương này nhiều quân du kích cho nên phải đặt lính canh xung quanh đồn. Immermann bảo Graber :

– Mầy dậy sớm quá, còn một giờ rưỡi nữa mới đến phiên mày. Trở vào ngủ đi, tao sẽ gọi. Tuổi trẻ như mầy dễ ngủ mà. Năm nay bao nhiêu tuổi rồi? Hăm ba chưa?

– Hăm ba.

– Sao không đi ngủ.

– Ngủ không được.

– Mày nóng ruột về nghỉ phép chứ gì. Chà! Nghỉ phép! Khoái quá ta!

– Nhưng tao vẫn ở đây. Rồi sẽ thấy, đến lúc cuối cùng lại hủy bỏ hết nghỉ phép cho mà coi. Tao đã bị ba lần như thế rôi.

– Rất có thể. Đáng ra phải được nghỉ từ bao lâu rồi?

– Sáu tháng. Lần nào cũng bị hủy bỏ. Lần cuối cùng thì bị một vết thương nhẹ không đáng cho thuyên chuyển về hậu phương.

– Không may. Nhưng ít ra người ta cũng kể đến lượt mày, còn tao thì không bao giờ đến lượt! Tao bị tình nghi chính trị. Người ta để cho tao vừa đủ may mắn để chết làm anh hùng mặt trận.

Graber lo ngại nhìn quanh mình. Immermann cười:

– Mày sợ tai mắt của Bá Linh à? Đừng lo! Steinbrener cũng ngủ như người khác rồi.

– Không, tao không sợ.

Graber bực tức mà trả lời như vậy, nhưng thực ra y sợ.

Y đã qua nhiều phút xao xuyến như vậy, thỉnh thoảng lòng người tự dưng xao xuyến không có duyên cớ rõ rệt. Trong một thế giới hỗn loạn, đã từ bao lâu con người không thấy còn gì đáng tin cậy nữa thì lòng người trắc ẩn cũng không có gì là lạ.

Graber đứng dậy. Tại sao y lại ra đây? Y ra ngoài không phải để tán chuyện, mà để được yên thân một mình. Giá mình được nghỉ phép thì hay biết mấy! Rồi y chỉ nghĩ đến sự nghỉ phép. Y muốn sống biệt tích một nơi ở xa chiến địa trong vài tuần lễ, để được yên ổn mà suy nghĩ về cuộc đời mình, thế thôi.

– Đã đến giờ đổi phiên gác rồi. Tao trở vào lấy đồ đạc và gọi Saure.

***

Tiếng súng đạn vẫn vang lên trong đêm trường. Tiếng nổ và tia sáng làm rung động chân trời. Graber nhìn ra vùng khói lửa xa xa. Mùa thu năm 1941, Quốc trưởng tuyên bố là quân Nga đã bị đánh bại hẳn, bề ngoài thì có vẻ đúng. Mùa thu năm 1942, ông nhắc lại lời chiến thắng, lại một lần nữa, mọi việc đều có vẻ chứng thực lời nói của ông. Bây giờ mới bắt đầu xảy ra vụ Mạc Tư Khoa và Stalingrad khó hiểu. Mọi việc đều không trôi chảy nữa, đã có bàn tay quỷ nhúng vào đây! Một ngày kia quân Nga lại dùng trọng pháo. Một tiếng súng vang trời che lấp cả tiếng nói của Quốc trưởng, rồi từ đấy tiếng súng không ngừng. Quân Đức bắt đầu thoái lui, hàng ngũ xáo trộn. Không ai hiểu gì cả, hết lời đồn đại nọ đến lời đồn đại kia, hình như cả từng sư đoàn bị bao vây và cầm tù. Rồi chẳng bao lâu ai cũng biết rằng cuộc tiến quân biến thành sự tan rã. Bên Phi châu cũng vậy, giữa lúc trông thấy kinh đô Ai Cập thì hàng ngũ rối loạn và thoái lui. Graber đi vào con đường mòn chạy quanh làng. Dưới ánh sáng sao, mắt nhìn không đích. Ánh sao phản chiếu xuống tuyết làm cho mắt người ước lượng sai hết. Nom nhà cửa như xa hơn và khu rừng như gần hơn. Bầu không khí nặng nề, nguy hiểm và quái dị.

Mùa hè năm 1940 tại nước Pháp là cuộc tiến quân vào thành phố Ba Lê, chiến xa hét vang xông vào thành phố không người. Dọc đường ngổn ngang dân cư tị nạn và từng đám tàn quân. Trời trong tháng sáu, đồng ruộng rừng rú, cuộc tiến quân qua những làng mạc không dấu vết tàn phá, rồi đến thành phố sáng trưng ánh đèn, hàng quán, nhà cửa bỏ trống không có một tiếng súng chống cự. Tiến quân dễ dàng như vậy y có cần suy nghĩ gì không? Y có một chút nghi ngờ nào không? Không, tất cả đều thuận lợi cho quân Đức. Y cũng không nghĩ đến sự mâu thuẫn sau đây: chả nhẽ địch lại không sửa soạn khi chấp nhận cuộc chiến để đến nổi chóng thua như vậy?

Rồi đến lượt Phi châu, qua những giai đoạn tiến quân, chiến xa rầm rộ trong những đêm oi bức, y có kịp suy nghĩ gì không? Không. Đến lúc bắt đầu lui binh y cũng không kịp suy nghĩ. Nước Đức còn xa, còn cách Phi châu, biển và nước Pháp địch không thể làm gì được, vả chăng một vài cây số sa mạc hẻo lánh này thì có làm gì, để cho địch chiếm cũng không sao.

Nhưng giờ của nước Nga đã điểm. Đến lượt Đức thua chạy, bây giờ thì biển cũng không che chở được Đức nữa; tất cả quân đội đều kéo về.

Bây giờ Graber mới sáng mắt ra cũng như người khác. Bây giờ thì ai cũng có thể nghĩ đến sự thảm bại được. Trong khi đang thắng hết trận nọ đến trận kia thì cái gì cũng thuận lợi để người ta tin tưởng ở sự đắc thắng. Đành rằng cũng có những điểm đen tối giữa bức tranh vàng son nhưng người ta không cần để ý tới, người ta cho rằng cứu cánh đã huy hoàng thì dầu phương tiện có khi kém cỏi cũng không đáng kể. Nhưng nói cho cùng thì đâu là cứu cánh? Phải chăng bao giờ cứu cánh cũng có hai mặt, mà một mặt đẫm máu, vô nhân đạo? Không biết sao y lại không nghĩ đến mặt trái vô nhân đạo ấy? Hay là đã hơn một lần y bị nao núng bởi ngờ vực và chán nản?

Graber thấy Sauer ho, y đi vòng qua một dãy nhà đã đổ nát để tìm bạn, Sauer đưa tay chỉ phía Bắc. Một đám cháy lớn đỏ rực chân trời. Có tiếng nổ, từng ngọn lửa vọt lên trời.

– Quân Nga chắc?

Sauer lắc đầu:

– Không phải. Công binh của ta. Họ phá các chiến lũy.

– Như thế nghĩa là vẫn tiếp tục rút lui.

– Chắc thế.

Sauer vẫn nhìn những ngọn lửa lan rộng trong đêm:

– Nhiều khi mình cứ nghĩ đến những sứ phá hoại xảy ra cho nước Nga, mình cũng thấy rùng mình. Nếu quân Nga vào được nước Đức, họ sẽ trả thù mình thế nào? Mày có nghĩ đến điều ấy không?

– Không.

– Tao thì tao nghĩ đến. Tao có nhà đất ở Đông Phổ. Tao còn nhớ năm 1914 đã chạy giặc Nga. Bấy giờ tao mới có mười tuổi. Nếu quân ta cứ lùi mãi về biên giới thì đành phải ký hòa ước.

– Sao vậy?

– Để địch không tràn sang phá nhà mình như mình đã phá nhà họ.

– Nhưng ngộ họ không muốn giải hòa thì sao?

– Họ là ai vậy?

– Quân Nga chứ còn ai nữa.

Sauer hoảng sợ nhìn Graber.

– Họ phải nhận giải hòa chứ. Hết chiến tranh chúng ta sẽ thoát nạn.

– Họ chỉ chấp thuận nếu chúng ta đầu hàng vô điều kiện. Họ sẽ chiếm cả nước Đức. Nhà đất của mày cũng không còn. Hẳn mày không muốn mất nhà.

Sauer ra vẻ ngờ vực:

– Hẳn rồi. Nhưng nếu giải hòa rồi thì họ không thể làm gì được mình, họ không có quyền tàn phá nữa.

Bất thần y nheo mắt lại. Nom y rõ ra người dân quê :

– Thế thì quê tao không bị tàn phá. Kẻ khác bị tàn phá chứ mình khỏi! Nói thật cho mày biết: như vậy là chúng ta vẫn thắng trận, mặc dù ta thua.

Graber không trả lời. Y nghĩ: “Tại sao ta lại còn đi nói chuyện với họ! Lời nói bây giờ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Đã nhiều năm nay trong nước Đức người ta không biết bao nhiêu là lời. Bây giờ có còn lại gì không? Bây giờ còn nói nữa, chỉ có hại chứ không có lợi gì cả. Tương lai kia cứ yên lặng mà sừng sững đi tới, tương lai như cái bóng mờ mịt đe dọa, ở ngoài tầm ngôn ngữ của loài người”.

Sauer nhìn bốn nấm mồ người Nga bị xử bắn:

– Những người này ít ra họ cũng có quyền được một cái huyệt chôn.

– Thì họ đã tự đào hố chôn của họ đó.

Sauer nhổ nước miếng:

– Nói cho cùng tao cũng không hiểu được mấy người khốn nạn này, chúng ta xâm lăng nước của họ…

Graber nhìn Sauer. Ban đêm người ta có những ý nghĩ mà lúc ban ngày người ta không nghĩ đến. Tuy nhiên Sauer là một tên lính già không bận tâm đến vấn đề tình cảm. Graber hỏi:

– Sao mày lại nói thế? Vì chúng ta rút lui à?

– Dĩ nhiên, vì chúng ta rút lui, mày thử tưởng tượng ra xem, nếu họ đến nước ta họ cũng tàn phá như ta đã tàn phá nước họ.

Ciraber lặng yên một lát. Y tự nghĩ: “Mình cũng không hơn gì hắn. Mình cũng vẫn ráng sức không nghĩ đến những điều ấy”. Y nói:

– Lạ thật! Người ta chỉ nghĩ đến cảnh ngộ người khác khi nào người ta bị ngập tới cổ. Những lúc chơn lông đỏ da nào ai nghĩ đến!

– Dĩ nhiên! Ai mà nghĩ đến.

– Ừ! Nhưng cái đó không vinh dự gì cho ta cả.

– Chiến tranh thì còn ai nghĩ đến danh dự.

Sauer nhìn Graber vừa ngạc nhiên vừa bực tức và nói:

– Tụi học thức chúng mày, chúng mày nghĩ ra đủ mọi chuyện. Dù sao thì cũng không phải tụi mình quyết định chiến tranh. Tụi mình chỉ thi hành bổn phận. Mệnh lệnh là mệnh lệnh, ai dám trái?

– Phải rồi! – Graber uể oải trả lời.  

Cuối năm trên biển Bắc

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 19 May 2026

Google image

 Người xưa có nói: “Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.”. Trước kia tôi cũng nghĩ vậy, nên có thành kiến với những người hay có tánh xấu trong bữa ăn hoặc mỗi khi ăn hay đòi thêm này thêm nọ. Nhứt là những năm sau này, thủy thủ đến từ nhiều nước, có khi trên tàu chỉ có hơn chục người mà tới năm, sáu quốc tịch khác nhau. Đi chung chuyến tàu của Hoà Lan, dĩ nhiên phải ăn uống theo thực đơn của Hoà Lan. Theo luật trên tàu thì đầu bếp nấu món nào thì thủy thủ đoàn phải ăn món đó, hổng được ọ ẹ phàn nàn, nhưng nếu đầu bếp không sáng tạo và chỉ nấu hoài một loại thức ăn thì sẽ làm nhiều người ăn hổng được, thức ăn dư ra đổ bỏ uổng lắm. Nghĩ vậy nên tôi tìm học vài món ngon tiêu biểu của những vùng, miền nào mà nhiều người biết tiếng. Ban đầu tôi sợ lãng phí thức ăn nên cố công học hỏi những thực đơn cho nhiều người ăn được, cũng nhờ vậy tôi khám phá ra, ngoài chuyện ăn ngon miệng, món ăn có thể gây phiền phức cho người ham ăn, nhưng cũng có thể hoá giải được những xích mích và làm cho người với người gần gũi nhau hơn.

Không biết tôi có thói quen từ hồi nào, cứ mỗi năm vào tháng Mười Hai dương lịch là tôi thích nấu những món ăn đặc biệt của vùng miền nào mà tàu chúng tôi đang đi ngang. Tôi chọn món ăn sao cho hợp với thời tiết và khẩu vị của nhiều người. Hôm nay là trung tuần tháng Mười Hai, tàu tôi hiện hải hành vùng Bắc Đại Tây Dương, mùa này nơi đây trời lạnh lắm, nên tôi chọn nấu món súp khá thịnh hành của vùng Baltic. Tôi đang đứng xắc rau, củ để ra dĩa, chợt nghe sau lưng có tiếng hô với giọng vui mừng:

– Oh, borsch!

Tôi ngước lên thấy Liubomir đứng cạnh bên, nó xoa hai bàn tay vào nhau và hỏi:

– Ông cũng biết nấu soup borsch?

Tôi ngước nhìn nó cười, hất mặt ra vẻ kiêu hãnh và hỏi lại:

– Sao không?

– Món này đặc biệt của nước Nga.

Chuyện của con người, dù là người Á Châu hay người Âu Châu gì cũng vậy. Từ lãnh thổ, thiên nhiên, cây cối, lá hoa, con người cho tới thức ăn, thứ gì có vẻ đặc biệt, nổi tiếng mà ở cạnh bên thì dành cho là của mình. Như cái món rendang, người In Đô thì nói xuất xứ từ In Đô, người Mã Lai nói của Mã Lai rồi tranh cải om xòm trên báo. Món soup borsch cũng vậy. Tôi sắp phần củ dền tím vừa xắc xong để vô chiếc dĩa bầu dục cùng với những loại rau khác, trắng, xanh, cam, vàng, tím trông cũng bắt mắt. Tôi bưng dĩa rau lên, day qua đưa trước mặt Liubomir, cười nói:

– Đẹp hông?

– Oh, đẹp tuyệt.

Tôi nói:

 – Chẳng những tao biết nấu borsch mà tao còn biết lai lịch của borsch nữa. Mày người Nga thì nói borsch của Nga, nếu là người Ukraine thì nói borsch của Ukraine. Tao là người Việt Nam thì tao nói Borsch là một món súp rau, củ bắt nguồn từ các bộ lạc xa xưa nằm về miền bắc Phần Lan và Nga. Nhưng ngày nay borsch rất thịnh hành trong vùng Baltic, nhứt là trong các nước lân cận Đông Bắc Âu Châu.

Liubomir gật gật đầu, nói:

– Ông nói đúng.

Nó lân la đứng lại khoe cái kiến thức nấu ăn của nó:

– Có những nơi thích nước súp loãng, trong và màu tím lợt, có những nơi thích nước súp màu tím đậm đặc hơn. Nhưng quan trọng là nước dùng.

Trước khi tiếp câu chuyện, tôi xin kể lại cái nguyên nhân tôi quen với Liubomir. Cách đây cũng hơn hai năm rồi, lần đầu tôi đi chung với nó trên chiếc Tina. Trưa hôm đó tôi làm món khoai tây chiên bột có tên là derung. Mọi người ăn xong và ra khỏi phòng ăn hết rồi, nó vô trễ nhưng tôi cũng có chừa phần cho nó, tôi sắp khoai thịt và rau vô dĩa đưa ra. Nó lấy dĩa thức ăn để lên bàn mà chưa chịu ăn, hổng biết mắc chứng gì mà mặt mày nó nhăn nhó giống như giẻ rách, nó nhào vô bếp lục tủ lạnh. Thấy chướng mắt, tôi hỏi:

– Mày tìm cái gì?

Nó day qua hỏi:

– Ông có kem chua hông?

– Hông.

– Sao ông hổng đặt.

Tôi bực mình chỉ tay ra cửa, ý kêu nó đi ra ngoài:

– Hổng có là hổng có, mày ra ăn với mayonaise, hổng ăn thì thôi.

Với giọng kẻ bề trên, nó nói:

– Tui cũng là đầu bếp, tui có nhà hàng, nếu có gì hổng biết thì ông hỏi, tui dạy cho.

Bình thường chắc tôi cho qua, nhưng nó dùng câu “I teach you.” làm tôi hơi khó chịu. Tôi hất mặt hỏi lại:

– Dạy cái gì?

– Thì… nấu…

Tôi đổi sắc mặt, nhìn nó cười khẩy và nói:

– Oh. Tưởng chuyện chế thuốc độc hoặc bom hạt nhân, bom nguyên tử, xe tăng, súng, đạn… những thứ giết chết người của nước Nga mày thì tao hổng biết, chớ còn thực đơn để nuôi sống con người thì nước Nga của mày có con c. gì mà dạy tao.

Có lẽ thấy mặt mày và giọng nói khó chịu của tôi nên nó ngán, nó hầm hầm cái bản mặt thịt và miệng sịt một cái rồi bỏ ra bàn ăn.

Trước buổi ăn chiều hôm đó, thuyền trưởng người Hoà Lan, xuống hỏi tôi:

– Ông nói gì mà thuyền phó nói ông châm biếm nó vậy?

Có chút chuyện mà nó cũng lên mét thuyền trưởng. Tôi biết thuyền trưởng người Hoà Lan cũng không ưa gì người Nga. Nhưng tôi hổng có tánh a dua, dựa vào đó mà nói xấu thuyền phó. Nhưng nó đã mét với thuyền trưởng rồi thì tôi cũng phải phân trần cho ông rõ. Tôi nói:

– Thiệt ra vì tánh cao ngạo của thuyền phó, cũng như cách sống của nhiều người Nga khác, tự nó đã là châm biếm rồi. Tui chỉ nói sự thật cho nó biết thôi.

– Nhưng chuyện gì?

Tôi kể với thuyền trưởng chuyện xảy ra hồi sáng xong và tôi nói:

– Có món Hamburger mà Nga cũng làm hổng được, dân Nga phải chờ gần một thế kỷ mới được ăn. Vậy mà nó đòi dạy tui nấu ăn.

– Thiệt hả?

– Thiệt, ngày đầu McDonald’s khai trương ở St. Petersburg dân Nga đứng sắp hàng dài cả cây số chờ mua ăn.

Thuyền trưởng cười ha hả rồi bỏ đi. Ông lên nói gì với nó hổng biết mà sáng hôm sau nó xuống mặt mày vui vẻ đứng trước phòng bếp ló đầu vô, nói:

– Ông là người Hoà Lan.

Tôi đáp:

– Không, tao là người Việt.

– Tui tưởng ông người In Đô.

– In Đô thì đã sao?

Nó đưa ngón tay lên giữa miệng làm giấu bí mật và nói.

– Người In Đô ngu lắm, bếp In Đô nấu ăn hổng được.

Trơ trẽn như vậy là cùng, tôi có hơi khó chịu, nhưng muốn lên lớp cho nó biết chút ít về chuyện làm người, nên tôi dịu giọng, nói:

– Mày lầm rồi, mầy đừng tưởng là mầy thuyền phó và người Nga là thông minh. Thật tình thì bếp In Đô nào cũng có bằng cấp nấu ăn hết, tại mày hổng quen ăn thức ăn In Đô thôi, còn thủy thủ In Đô nhiều người có bằng đại học, nhưng vì ở bên nước nó hổng có việc làm thích hợp và lương bổng hổng bao nhiêu nên mới qua đây làm thủy thủ.

Hình như nó dè dặt trước những gì tôi nói, nên nó mới đổi sang chuyện khác:

– Ông viết sách hả?

– Hobby của tao. Có vấn đề sao?

– Ông viết về chuyện gì?

– Thì chuyện của tao với mày đương nói nè. – Oh. Có lẽ nó ngại trò chuyện với một tên già dặn và có tánh móc lò như tôi nên nó chào tôi và bỏ đi ra ngoài. Đúng là tư cách của người Cộng Sản, trước khi muốn cư sử với người nào phải tra lý lịch người đó. Nhưng đỡ cái là từ đó trở đi, thái độ hống hách tự cao tự đại của nó không còn và hổng dám léo hánh vô bếp hỏi này hỏi nọ nữa.

Sau chuyến đó, cũng hơn hai năm rồi, tôi không gặp lại nó. Chuyến này gặp lại tôi, nó bắt tay mừng rỡ, làm như là bạn bè thân nhau lâu lắm vậy. Nó khoe với tôi, nó đi du lịch Việt Nam mới về, đi tour và có ăn phở. Tôi nói:

– Phở là món rẻ tiền, bộ tụi Nga mày hổng có tiền ăn món nào đắt giá hơn sao mà thằng nào đi du lịch qua đó trở về tao cũng nghe ăn chỉ có phở.

Nó cười hì hì:

– Phở ngon mà.

Kỳ này trên tàu thuyền trưởng và phụ máy là người Ukraine, chỉ có phụ thuyền phó là người Hoà Lan và tôi người Hoà Lan gốc Việt.

Tôi trở lại câu chuyện. Day qua nói với Liubomir:

– Dĩ nhiên nước dùng là nền tảng của các loại súp, nhưng sự kết hợp củ dền tím, bắp cải trắng, cà rốt, cọng cần và khoai tây nấu chung với nước dùng xương bò làm cho súp ngọt và thanh, hương vị và màu sắc củ dền làm cho borsch có màu tím và mùi thơm đặc biệt.

– Người Nga và người Ukraine thường trang trí nguyên cọng thìa là, kem chua hoặc maiyones và ăn với loại bánh nướng bột gạo nhân thịt, tiếng Nga gọi là pirozhki.

– Nhưng trên tàu chỉ có maiyones và bánh mì thôi.

– Ờ, trời lạnh ăn Borsch rất ngon.

Tôi nói:

– Soup borscht nấu đặc thích hợp cho mùa lạnh, mùa nóng nấu loãng một chút, mùa nào ăn soup borsch cũng được và ăn nóng hay nguội gì cũng ngon. Nhưng theo tao biết thì cách ăn borsch cũng khá quan trọng.

– Oh, vậy sao?

Tôi cười dí dỏm:

– Theo truyền thống cổ xưa, ăn soup borscht với cái tô bằng đất nung và muỗng gỗ. Thực khách phải trần truồng, ngoài tấm khăn che phía dưới ra, đàn ông, đàn bà, con nít hổng bận áo, quần gì hết.

– Thiệt hả?

– Thiệt, mày hổng tin thì tìm hiểu lịch sử borsch biết liền.

– Nhưng borsch cũng là một trong những món ăn truyền thống Giáng Sinh của nước Nga.

– Ờ, đúng rồi. Theo lịch chính thống của nước Nga, lễ Giáng Sinh ở Nga vào ngày bảy tháng Giêng.

– Nhiều người Nga vào những ngày đầu tháng Giêng, trước Giáng sinh đã tổ chức ăn uống rồi. Nhưng hổng phải người Nga nào cũng tổ chức Giáng Sinh vào ngày đầu tháng Giêng.

– Vậy hả?

– Nhiều người tổ chức Giáng Sinh bắt đầu ngày hai mươi lăm tháng Mười Hai. Trong thời gian này, tất cả cây cối trồng những nơi công cộng cũng trang trí đèn màu, giống như cây thông Noel, đó cũng là biểu tượng cho năm mới.

– Vậy là nước Nga có hai ông Jêsu.

– Ha ha.

– Cười gì, hổng lẽ hai ngày sanh mà chỉ có một Jêsu? Nhưng…

– Gì?

Tôi cười, nói:

– Hai chúa Jêsu dùng một Thánh Kinh nên xã hội nước Nga lộn xộn thấy mẹ.

Liubomir lại cười ha hả:

– Vậy đạo Phật có mấy ông Phật?

Tôi hô:

– Oh, a lot of Budha’s! (vô số Phật).

– Vậy nước Việt Nam có lộn xộn hông?

– Có chớ, đạo Phật ở nước tao lộn xộn quá xá luôn.

– Ông đạo Phật mà.

– Cũng vì tao theo đạo Phật nên mới thấy nước Việt Nam tao nhiều Phật và lộn xộn giống như một đống phế thải. Mày đi khắp nước Việt Nam, nếu để ý thì thấy chỗ nào cũng có Phật và lủ khủ thầy chùa.

– Đúng rồi, tui tới Bình Định thấy tượng Phật trên núi lớn lắm.

– Tao biết, tượng Phật ở Bình Định lớn nhứt Đông Nam Á. Tuy đạo Phật nước tao có lộn xộn nhưng dù sao cũng đỡ hơn nước Nga mày.

– Sao vậy?

– Bên Nga có hai ông Jêsu mà chơi hổng lại ông Lenin, để ông ta biến nước Nga thành một quốc gia vô thần, hổng tôn giáo gì hết. Trong thế kỷ hai mươi, Người Nga hổng được mừng Giáng Sinh công khai, thời gian đó cũng có nhiều người Nga tự nhận mình là con cháu của bác Lenin, hổng thần, hổng Phật, hổng Chúa, hay Allah gì ráo. Chuyện tín ngưỡng bị dẹp qua, nhiều người cũng chẳng biết Giáng Sinh là gì, chỉ ăn mừng ngày Giáng Sinh của ông Lenin thôi.

– Nhưng bây giờ hết rồi.

– Từ ngày chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, người Nga mới được phục hồi tín ngưỡng, chủ yếu là tôn giáo chính thống của Nga. Cả nước Nga, nhứt là tần lớp trung lưu trở lên, nô nức ăn mừng Giáng Sinh, tiệc tùng rất long trọng. Cũng có một số người theo Kitô giáo chính thống, bắt chước những truyền thống Giáng sinh ở các nước Đông Âu. Ví dụ, biểu tượng khăn trải bàn màu trắng và rải cỏ khô lên mặt bàn để nhắc nhớ đêm chúa Giáng sinh nằm trong máng cỏ. Ngày hai mươi bốn tháng mười hai, họ chuẩn bị một bữa ăn hổng có thịt và cả gia đình ra sân ngồi ngước mặt lên trời, chờ cho tới khi nào thấy ngôi sao đầu tiên xuất hiện của trên bầu trời, lúc đó mới ôm nhau chúc mừng và sau đó mới vào bàn nhập tiệc.

– Ha ha… Ông nói chuyện mắc cười quá.

– Bộ hổng đúng sao?

– Đúng, nhưng làm gì có chuyện cả gia đình ra sân ngồi ngước mặt lên trời.

– Nếu hổng ra sân nhìn cho kỹ thì làm sao biết được ngôi sao nào mọc trước.

– Tui cũng hổng biết, nước Nga hổng có phong tục này, hình như đó là phong tục của Ukraine.

– Ô kê. Phong tục nước Ukraine. Tao có nghe nói đên Giáng Sinh những nhà thờ chính thống Nga hành lễ rất long trọng và Tổng thống Nga cũng tham dự lễ này trong nhà thờ lớn ở Moscow.

Nó ngước mặt hãnh diện:

– Dĩ nhiên, nhưng Svyatki và Christmastide của Nga, sau những lễ lạc tiệc tùng Giáng sinh người Nga vẫn còn ăn nhậu cho đến ngày mười chín tháng Giêng.

Như chợt nhớ ra nó nói luôn:

– À, vậy là hai ông Jêsu thắng rồi.

– Đúng đúng, chuyện này mày đúng, cái tốt luôn lúc nào cũng thắng cái xấu, nhưng…

– Gì nữa ông?

– Mất hết một thế kỷ, cũng hơi lâu.

Tôi tiếp luôn:

– Nhưng lâu còn hơn không?

Chúng tôi cùng nhau cười thành tiếng. Liubomir là thuyền phó, khi tàu hải hành, nó trực lái từ bốn giờ tới tám giờ sáng, nên nó ăn sáng trễ hơn thủy thủ đoàn.

Hổng muốn lôi thôi mất thì giờ nữa, tôi nói:

– Mày ra ăn đi.

Bây giờ Liubomir mới chợt nhớ ra là giờ ăn của nó:

– À, ông luộc cho tôi hai trứng được hông?

– Dĩ nhiên, mày muốn luộc chín hay nửa chín nửa sống?

– Ông luộc chín phân nửa được rồi:

– Ok, chờ tao năm phút.

Luộc trứng cho Ivan xong, tôi sắp xếp lại mọi thứ và bắt đầu nấu soup borsch.

Tới bữa ăn trưa, mọi người trầm trồ vui vẻ với cái món soup borsch tuyệt vời do tôi nấu. Liubomir kể với mọi người chuyện hồi sáng, cả bàn cười rộ lên. Rồi nó day qua tôi nói:

– Ông nghe đó, tui kêu mọi người trước khi ăn soup borsch phải cởi áo quần rồi lấy giấy lau miệng che phía dưới lại nhưng hổng ai chịu hết. Cả bàn cười rộ lên. Tui cũng cười theo và nói:

– Nhưng phải có muỗng gỗ và tô đất nung nữa mới được. Dĩa sành, muỗng i-nốc thì bận đồ ăn cũng ngon…

Bắc Đại Tây Dương 25 -11- 2018

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 19 May 2026

Đêm giao thừa. Lòng tôi rộn rã. Tôi cùng mấy thằng bạn đạp xe đi lòng vòng thành phố, nghe thiên hạ đốt pháo vui tai. Rồi kéo nhau ra bãi biển ngồi cười giỡn, tán đóc. Thằng Đăng đọc thơ.

Trời den như mực tối ba mươi

Em trốn nhà sang để gặp tôi

Hai dứa cùng ngồi trên đệm rạ.

Lắng nghe nồi bánh rộn ràng sôi

Dần dần em xít lại gần tôi

Nắm lấy tay tôi khẽ thở dài

Anh ạ, bao giờ thì bánh được?

Thưa anh, em lấy một chồng thôi!

Tôi hỏi: “Thơ của ai mà dễ thương vậy?”

Đăng nói: “Không biết.”

Bài thơ làm tôi nhớ Phương Nghi. Hơn nửa năm không nhìn thấy bóng dáng nó, vết thương gần thành sẹo. Đêm nay, cơ hồ lại rướm máu. Từ ngày chung đụng với chị Triều, tôi thường nghĩ về thân thể chị, nhòa dần hình bóng Phương Nghì. Chị Triều dến với tôi như cơn lốc cuồng điên dữ dội,

Phương Nghi là ngọn gió êm à dịu dàng. Đôi khi tôi cũng so sánh hơi hướm chị Triều với Phương Nghi. Cái mùi đàn bà nồng nàn thoảng chút nước hoa của chị, có sức thu hút mãnh liệt. Mùi con gái của Phương Nghi nhẹ nhâng goi cảm thương yêu. Tâm sự này, bạn tôi không hề biết. Những thằng quỷ sứ mà biết, tụi nó cười chết bỏ. Không phải tụi nó còn trẻ con. Tất cả đều biết thưong thức cái vẽ yêu kiều của loài động vật mà người ta gọi là phái yếu. Chúng tôi thường rủ nhau đi ngắm con gái tan trường. Nhưng trước sau, chắng thằng nào quen được con nhỏ nào. Bọn con gái thấy những cái mặt mốc và cáp mất hau háu của chúng tội, nó lãng xa như tránh hủi.

Có thằng nói, tao mà chinh phục được con nào. sẽ cho nó biết tay. Thằng khác hỏi, biết tay thế nào? Trả lời, tao sẽ phá tan nát đời hoa của nó, rồi bỏ rơi để trả thủ cái tội làm kiêu. Ngoài mặt tôi cũng tán đồng, nhưng thâm tâm nghĩ khác. Nếu gặp người như Phưng Nghi thì cớ gì thù hận? Dẫu có muốn trả thù, chắc gì nó dã chịu? Có thể mình chưa kịp làm khổ nó, dã bị nó làm khổ mình rồi. Chia tay với tụi bạn, tôi về lúc hai giờ khuya. Rón rén thò tay vào phía trong rút chốt cửa. Tôi chưa mở, cánh cửa bật mở. Bà Ba đứng đấy như đã chờ sẵn.

“Con nên di luôn. Bà không muốn chứa con nữa.”

Bà nói rất nhỏ, bao giờ cũng thế. Kẻ tu hành đã dập tắt ngọn lửa tham sân si. Dầu có điều gì không ưng ý, bà cũng không tỏ thái độ nổi giận. Tôi biết bà đã quyết định, năn nỉ vô ích. Tôi nói: “Vâng. Con di ngay, nhưng còn đồ đạc xin cho sau Tết con đến lấy.”

“Con dọn luôn đi. Đầu năm mới đừng bước chân vào nhà bà xui xẻo.”

“Bà quyết định đột ngột. Đêm giao thừa, con biết gởi đồ cho ai?”

“Gởi ai tùy con, nhưng không được gởi nhà bà.”

Tôi thu dọn mấy bộ quần áo, sách vỡ vào hai thùng carton. Chất cả lên xe đạp. Trước khi đi, tôi nói; “Con cảm ơn bà cho con ở đậu thời gian qua. Chúc bà năm mới sức khỏe và may mắn.”

Bà lạnh lùng: “Được rồi.” Và thản nhiên đóng cửa. Tôi đạp xc về nhà bác Huế. Trong cơn cùng quẩn, còn biết cậy nhờ ai nữa? Bác Huế thương tôi. Và tôi cũng tự coi đây là điểm thối lui mỗi lần hoạn nạn. Có lần bác nói, bác biết tính con không chịu đuợc sự kềm thúc của ai cả. Con ở mô thì ở, nhưng phải gắng học. Chừng nào bí lối thì quay về đây. Đừng lây lất bên ngoài, làm bác mất công lo lắng. Tôi cảm động, ôm vai bác trìu mến như mẹ ruột của mình. Nhà bác Huế đã tắt đèn, Đêm khuya im lặng. Tôi để hai thùng đồ ngoài cửa sau, kèm theo lá thư. Đại ý nói, bà Ba đuổi đi trong đêm Giao Thừa. Gởi tạm đồ đạc ở đây. Tôi lên bến xe Nguyễn Hoàng, ngồi dựa cột đèn chờ sảng. Gục đầu tủi thân, Năm giờ sáng ngày mồng một, tôi đáp xe đi Cam Ranh.

Thấy mặt tôi, chị Triều reo lên: “Trời ơi, tưởng em quên chị rồi chứ.”

Tôi cười. Nghĩ thầm, mình là thằng khốn nạn. Nếu không bị đuổi, thì Tết này mình đâu về thăm chị.

Chị quan sát: “Em sống thế nào, mà mặt xanh xao gầy rac?

Tôi làm bộ buồn buồn: “Em khổ lắm.”

Lại nghĩ thầm, mình là đứa vô liêm sỉ. Lúc nào cũng làm ra vẽ thống khổ gợi lòng thương cảm.

Chị mắng yêu: “Khổ hả? Đáng đời em! Ai bảo không nghe lời chị.”

Tôi vừa ngồi xuống, chị bảo: “Coi kia, ngày Tếl mà áo quần nhàu nát, tớc tai bờm xờm. Đi tắm ngay đi.”

Tôi tắm xong. Chị Triểu đưa ba cái phong bao màu đỏ: “Cầm lấy. Đi qua nhà ông Rạng tài xế. Chúc Tết vợ chồng ổng, lì xì cho ba đứa nhỏ. Luôn tiện, nói chị mời ông bà sang ăn cơm ngày mồng hai.”

“Sao chị không mời?”

“Em thiệt là ngáo. Chuyển lời của chị là để có chuyện mà nói. Chẳng lẽ chúc Tết xong, rồi ngồi trơ ra đó à?” Chị xuống giong. “Muốn có chứng minh cho mọi người biết sự có mặt của em ở dây, là vì tình chị em quang minh chính đại. Chứ không phải lén lén lút lút, để làm người ta nghĩ bậy.” Nói xong, chị gõ đầu tôi.

Tôi gật đầu mấy cái: “Em hiểu rồi.”

Chị Rạng đi vắng. Anh Rạng ở nhà với con. Tôi chúc Tết bằng những sáo ngữ quen thuộc mà người đời giả dối thường cho nhau. Những đứa con anh, nhận Iì xì mững rỡ.

Anh Rạng mời tôi ăn bánh, mứt, thèo lèo.

“Dạo này, mày làm gì?”

“Đì học.”

“Trông mày ốm nhách, giống thằng hút á phiện đói cơm.”

“Chắc do thức đêm. Bài vỡ nhiều quá, học không xuể.”

Lại nói láo. Từ lúc chen chân vào xã hội, tôi hay nói láo như một cần thiết trong giao tế.

Anh Rạng nói: “Hoàn cảnh khó khăn. Học làm đéo gì cho khổ. Mây về đây, tao xin mày làm phụ xế cho tao.”

“Chuyện này quan trọng. Anh dể tôi nghĩ lại.”

Nếu không phụ xế thì làm việc khác. Con Triều rất tốt, Nó biết thương người. Thay hòan cảnh của mày. nó muốn giúp. Tao nói thật, nhiều thằng có máu mặt mê nó. Nó nhờ vã một tiếng là xong ngay.”

Tôi giả vờ ái ngại: “Vì tôi, mà chị Triều phải luồn cúi người ta. Phiền lắm.”

Phiền chi Những thằng mê lồn, chỉ mong được con Triều nhờ vã.”

Anh Rạng vẫn thuờng ăn nói mạnh bạo như thế. Tôi ngượng. Những thằng có máu mặt thì mê, tôi tái mặt cũng mệ. Hóa ra, tất cả cùng mê một thứ,

Chị Triều rất thương con, Dạy nó gọi tôi bằng cậu. Tôi cũng thương nó, gọi bằng em, xưng anh, Chị Triều không chịu lối xưng hô này. Chị nói, gọi thế là tréo cẳng ngỗng. Đêm nằm thủ thì, tôi gối đầu lên tay chị Triều như nép mình dưới sự hao dung che chở của chị. Cánh tay như loài bạch tuộc cuốn hút tôi vào nỗi đam mĉ. Tôi kể về đời sống, và ăn uống kham khổ. Không nhắc chi đến những thằng bạn quỷ sứ đã cùng tôi rong chơi lêu bêu ngoài phố, do đó, bị bà Ba đuổi ra khỏi nhà, Chi Triều xót cho tôi. Chị trách kè tu hành nhẫn tâm xố tội vào thế khó. Bà Ba bi trách oan. Nếu tôi lên tiếng bào chữa, là lự nhận mình có lỗi. Tôi ngu, nhưng không ngu đến mức làm giảm lòng thương xót của chị Triều.

Chị nói: “Chị sẽ trở lại Sài Gòn. Nếu cm đi cùng, chị sẽ nuôi cm ăn học.”

Tôi nằm nín thinh.

Chị so sánh: “Năm nay em vừa mười chín, chị đã ba mươi tuổi rồi. Chị già lắm phải không?”

Tôi ôm chị, không trả lời. Xác nhận một sự thực, sẽ đau lòng. Chị chưa già, nhưng chênh lệch với tôi. Tôi mê chị Triều, không muốn nghĩ điều gì xa hơn. Chị tâm sự, quê ở Biên Hòa, học trường Gia Long, Sài Gòn. Chị sa ngã vì mội người đàn ông và bỏ học. Mối tình sớm tan, khi biết người ấy có vợ. Mọi chuyên đã lở, chị không thể quay về. Từ đó, chị sang qua tay nhiều đàn ông. Thằng Muôn, con chị là kết quả những ngày đi hoang. Chị Trieu nói như than thở với chính mình: “Chị hư quá, cm ơi. Đời chị gặp ai cũng là vụng trôm. Với em, chị cũng vụng trộm.”

Tôi nghe tiếng nấc của chị. Thương cuộc đời chị. Chị Triều đẹp. Chính vì nhan sắc quyến rũ mà ong bướm dập dìu làm chị nổi trôi.

Chị hỏi: “Em nghĩ sao về chị!”

Tôi nói: “Em thương chị. Chị nhớ câu thơ này không?

Lạ gì bì sắc tư phong.

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.”

Chị bảo: “Chị ở vào giai đoạn nàng Kiều gặp Thúc Sinh.”

“Giai đoạn nào chị gặp em?”

“Ông Nguyễn Du không viết hậu truyện Kiều. Chị em mình tự viết.”

Tôi cảm dộng, rúc đầu vào nách chị. Đêm đó, khi chị Triều vào giấc ngủ, tôi trở dậy chong đèn, Viết bài thơ không niêm luật vần điệu, tặng chị.

chị đâu phải Kiều nương

mà nói chuyện giang hồ lưu lạc?

mười năm bỏ trường đi

đời xô giạt

gót son đà lấm bụi

mười năm

nhan sắc trêu ngươi phường kẻ chợ

chị đâu phải tiểu thư lầu son khuê các

mà gieo cầu chọn ý trung nhân

chị đâu phải cành vàng lá ngợc

còn niêm phong kín cổng cao tường

chuyện trăng gió mù sương lả tả

bông hoa xưa chị lụy vì tình

em phất phơ đi giữa cõi người

túi rỗng không đời cũng nhẹ tênh

cánh hạc buồn muốn tếch lên mây

mà cơm áo giữ chân người ở lại

buổi gặp chị đầu tiên em choáng váng

chuyện tình cờ mà khốn đốn trăm năm

ai chiếu hoa trải đường chị đi?

ai lót tay nhung gấm lụa là?

em chỉ có bài thơ

rút ra từ xương tủy

cuộc trẩm luận mấy ai ngờ được

chốn bồng lai xa quá là xa

chị và em dắt tay vào địa ngục.

Sáng ra, tôi trao chị bài thơ. Đọc lần đầu, chị rơm rớm nước mắt. Lần thứ hai, chị khóc thực sự. Tôi không biết nói lời gì an ủi. Chị ngồi rũ, trông như canh hoa huệ lã xuống một chiều xuân.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 19 May 2026

Những cuộc hôn nhân không dựa trên yếu tố hiểu biết, tình yêu và có sự kết hợp của gia đình hai bên, đều là những việc mua bán người như chuyện mua tì thiếp, nàng hầu ngày xưa và chuyện mua vợ ngày nay. Vào mùa hè năm nay, tại Trung Cộng, trên nhiều trang “net”, chuyện mua vợ Việt Nam lại được đem ra bàn thảo, cho rằng trong khi đàn ông Trung Cộng thiếu đàn bà, thì con gái Việt lại nghèo khó, hiền lành, ngoan ngoãn và họ rất mong lấy được một tấm chồng … Tàu. Một bài viết đăng trên trang tin điện tử nngo.com, ca tụng người đàn bà Việt Nam là “hoàn hảo” và khuyến khích đàn ông Trung Cộng nên lên đường sang Việt Nam tìm người vợ: “Chỉ cần 35.000 nguyên (nhân dân tệ- khoảng 5,000 đô la) bạn có thể trở thành một người đàn ông tự hào đứng bên cạnh một cô gái trẻ, xinh đẹp và nhu mì.” Miền đất có nhiều cô vợ tương lai mỹ miều ấy chính là Việt Nam và chuyện đi mua vợ Việt trở thành một đề tài nóng bỏng trên rất nhiều trang web phổ biến ở Trung Cộng.

Chuyện các anh Tàu Cộng sang kiếm vợ Việt Nam không là chuyện mới lạ gì từ nhiều năm nay, nhưng qua chiến dịch này, truyền thông Trung Cộng mô tả con gái Việt như là những người của một đất nước nghèo khó, nơi mà những cô gái xinh đẹp mong muốn được sống và làm vợ Trung Cộng, thậm chí lại nói rằng: “Đàn bà Việt Nam bây giờ muốn lấy chồng Trung Cộng không khác gì đàn bà xứ này thích lấy chồng … Mỹ.”

Một thuy thủ đã nói như vậy. “Tôi đã đến Việt Nam nhiều lần. Đất nước này quá nghèo và phụ nữ Việt Nam muốn lấy chồng Trung Cộng.”

Cũng dẫn chứng cho chuyện này, một bài viết trên trang Xici Hutong mô tả việc các cô gái Việt Nam tìm cách lấy chồng ở nước ngoài để thoát khỏi cảnh nghèo khó, và đã nói rằng: “Trong một lần tôi tới Việt Nam, một cô gái Việt Nam 26 tuổi, là hướng dẫn viên du lịch của chúng tôi nói với tôi rằng mơ ước của cô ấy là lấy được một người chồng Trung Cộng.” Một anh chàng Trung Cộng tên Đới nào đó đã viết trong câu chuyện “3 vạn rưỡi, 15 ngày, lấy được cô vợ Việt”, đã khen ngợi hết lời người vợ mới mua được của anh ta: “Không tham, không lười, không tùy tiện, không kiêu kì, không mê tiền, trẻ trung xinh đẹp, chăm chỉ hiền thục, quan trọng là biết nghe lời … “. Đã thế, anh chàng Đới này còn đem một cô vợ Việt ra so sánh với một cô vợ Thượng Hải: “Vợ Việt Nam ngoại hình 75 điểm giá chỉ 3.5 vạn, trong khi lấy vợ Thượng Hải phải chi ít nhất cũng 2 triệu; vợ Việt Nam làm hết việc nhà, không cần mua nhà, không thu lương của chồng; lấy vợ Việt Nam có cảm giác được làm ông chủ; con cái có thể mang quốc tịch Việt Nam, vợ có thể sinh nhiều con, không chịu ảnh hưởng của kế hoạch hóa gia đình; có thể lấy nhiều vợ, công khai có bồ”.

Chuyện khen đàn bà Việt là một cách nói, vì nhu cầu thiếu đàn bà Trung Cộng đã đến hồi gay cấn. Mặc dù chính sách mỗi gia đình một con đã coi như chấm dứt, nhưng hiện nay, qua các cuộc khảo sát, vì chuyện kinh tế, nuôi con tốn kém và khó có nhà ở, 50% dân Trung Cộng không muốn có đứa con thứ hai. Vì số con phải hạn chế, mà dân tộc Trung Hoa lại có thói tục trọng Nam khinh nữ “nhất nam viết hữu, tam nữ viết vô”, ngày xưa sinh ra con gái thì bóp mũi, thả sông, nhưng ngày nay nhờ khoa học tiến bộ 90% phụ nữ nhờ “ultrasonic scanning” có thể biết trước mình sinh con trái hay con gái để phá thai trước khi quá muộn.

Chính sách bạo tàn “kế hoạch hoá gia đình” hay nói nôm na là “cai đẻ” dưới chế độ Trung Cộng đã đưa đến tấn thảm kịch cho nhiều gia đình. Chỉ mới năm 1998 mới đây thôi, một thiếu phụ ở quận Huangmei thuộc tỉnh Hubei, đã có hai con gái và rất ao ước sinh được một mụn con trai. Chị phải lên thành phố Wuhan làm việc, khi có thai chị đã dấu kín vì hy vọng nó là con trai. Uỷ Ban Xã sau khi biết được việc này đã chỉ định cho ba cán bộ xã lên Wuhan lôi chị về, bắt chị phá thai, mặc dầu lúc đó cái thai đã được 8 tháng. Nó là con trai. Nếu gia đình chị có đủ $2,400 đô la để nộp phạt cho chính quyền, chị đã có thêm một cháu trai.

Những chiến dịch kiểm soát sinh nở rất gắt gao ở Trung Cộng. Cũng tại ở quận Huangmei này, một thiếu phụ phải đi làm ăn xa trong thời gian ở xã có cuộc kiểm soát thai nghén, họ bắt bà phải về quê để kiểm tra, nhưng vì ông chủ hãng không cho bà nghỉ việc. Khi bà về không kịp ngày ấn định, xã đã bắt gia đình bà nộp số tiền phạt $36 quan và khiêng cái TV duy nhất của nhà bà đi mất. Khi bà về trình diện để đặt vòng ngừa thai, xã mới trả lại cái TV, nhưng số tiền phạt gia đình bà đã đóng không bao giờ được trả lại.

Chỉ trong vòng 5 năm từ năm 1979 đến 1984, tước quyền dân chúng có hơn một con, Trung Cộng đã giết 250.000 bé gái. Chính hậu quả của những vụ phá thai để chọn giới tính cũng như việc giết hàng loạt trẻ gái sơ sinh đã gây nên tình trạng mất cân bằng giới tính càng ngày càng gia tăng ở Trung Cộng. Trên thế giới hiện nay tỷ lệ sinh trai là 105 hay 106 so với 100 bé gái, nhưng ở Trung Cộng trong vài lứa tuổi, có 122 trai/100 bé gái. Rõ ràng là không phải đợi hai mươi năm nữa, mà từ lâu, Trung Cộng đang cần thêm khoảng 25% đàn bà nữa, nếu không có kế hoạch quân bình được sự chênh lệch này, 1/5 đàn ông Trung Quốc sẽ không tìm ra ai để làm vợ, không lẽ ai cũng làm đơn xin Chủ Tịch Nước lấy một con bò cái như anh chàng nông dân vùng Kemerovo, Serbia đã xin với thủ tướng Putin nước Nga trước đây. “Quang côn” là cành cây trụi lá, danh từ dùng để nói đến những anh chàng độc thân không kiếm được vợ. Con số đáng sợ là hiện nay Trung Quốc có đến 40 triệu “quang côn”. Vậy chuyện đàn ông Trung Cộng nhắm vào Việt Nam để kiếm vợ là chuyện đương nhiên, vì lý do địa lý, chủng tộc không có cách trở bao nhiêu, số tiền tốn phí để mua một người vợ lại quá rẻ. Ngày nay đàn ông Tàu phải tính toán con đường chọn phương Nam để mua vợ. Tuy nhiên, “vơ đũa cả nắm”, để nói rằng đàn bà Việt Nam, ai cũng muốn lấy chồng Trung Cộng như đàn bà Trung Cộng thích lấy chồng Mỹ là một suy nghĩ chủ quan khá lố bịch. Nhận định này chỉ đúng cho một số phụ nữ nông thôn, nghèo khó, thất học, không kiếm ra công ăn việc làm và nhất là không biết an phận trong hoàn cảnh hiện tại. Nếu nại ra lý do nghèo, vì sao trong chế độ trước năm 1975, trước ngày phụ nữ Việt Nam được “giải phóng”, đàn bà lấy chồng ngoại quốc vẫn bị xã hội kỳ thị. Đàn bà Việt Nam quả là tội nghiệp, mang danh là thích lấy chồng Trung Cộng vì lớn lên trong một chế độ tệ hại như chế độ Cộng sản ngày nay, không hề có chút tương lai, phải “bán thân” như nàng Kiều thuở trước, “cũng đành nhắm mắt đưa chân/ thử xem con Tạo xoay vần nơi nao?” Hiện nay rõ ràng Trung Cộng đang thiếu đàn bà, đang có nhu “cầu” thì Việt Nam có “cung”, cũng là thuận lẽ, nhưng người phụ nữ không phải là món hàng sản xuất như tôm cá đông lạnh hay quần áo vải vóc. Phải đi xa, lấy chồng xứ lạ, ngôn ngữ bất đồng “Má ơi đừng gả con xa/Chim kêu mà vượn hú biết nhà má đâu?”chẳng qua vì đồng tiền phải “bán thân” cho đúng với vế “mua vợ” của ngoại bang, xót xa biết là ngần nào. Từ năm 1999, Giang Trạch Dân đã hô hào 16 chữ vàng “Mục lân hữu hảo – Toàn diện hợp tác – Trường kỳ ổn định – Diện hướng vi lai “, được dịch ra là: “Láng giềng hữu nghị – Hợp tác toàn diện – Ôn định lâu dài – Hướng tới tương lai “. Việc mua vợ của trai Tàu Cộng và bán thân của gái Việt đúng là hữu nghị, toàn diện, lâu dài, và tương lai. Trung Cộng đã viện trợ súng đạn, lương khô, nón cối, dép râu cho Việt Cộng thôn tính miền Nam, đền đáp phần nào khuyết điểm của người anh em, đâu có là chuyện lớn.

Chúng ta chưa có con số tỷ lệ gái/trai ở Việt Nam, tuy vậy việc các cô ồ ạt ra đi lấy chồng Đài Loan, Trung Cộng, rồi Đại Hàn chứng tỏ con số đàn bà Việt Nam thặng dự đủ cung cho bọn buôn người. Hàng hoá lưu giữ thì có kho, đụn, vựa .. Đau lòng cho thân phận Việt Nam, nếu Trung Cộng coi đây là cái “vựa” gái, đủ cung cấp bốn mùa cho bọn đàn ông “láng giềng hữu nghị” đang có nhu cầu đi “mua vợ”, nhưng liệu phụ nữ Việt Nam ngày nay có đủ số cho hiểm hoạ 40 triệu “quang côn”, từ phương Bắc tràn xuống hay không?

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 19 May 2026

“Trước khi trở thành linh mục,tôi là một người Việt Nam!”

LM. Nguyễn Hữu Lễ

Thú thật với quý vị. từ khi khôn lớn tôi không có cơ hội hay có ý muốn quen biết một ông Sư hay một ông Cha nào, trong lòng cũng chẳng mấy lảm thích được gần gũi với Quý Ngài và luôn luôn muốn giữ một khoảng cách, nều cổ “kính” đi nữa thi cũng “nhi viễn chi.” Mặc dầu đạo Phật cho rằng “trọng Phật Kính Tăng,” Thiên Chúa Giáo thì Linh Mục là “Linh Hướng,” là “Chủ Chăn,” nhưng chúng tôi vẫn thường trông thẩy cái khoảng cách giữa Linh Mục đối với Con Chiên. Hòa Thượng đối với Phật Tử khá xa, mỗi khi thường ngày, thấy tín đổ khúm núm kính cẩn quá đáng đối với những vị Linh Mục, Mục Sư hay Hòa Thượng, Thượng Toạ, Vậy mà lần đầu gặp Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ cách đây hơn mười năm, tôi có cảm tường như gặp gỡ một người bạn cũ, một người lính cùng đơn vị hơn là một ông Cha đứng trên toà giãng, Thẳng thắng, bộc trực và cời mở ngay từ cái bắt tay chặt chẽ đầu tiên, nhất là khi biết ông đã mang thân phận một người tủ tập trung dười chế độ Cộng sản 13 năm, không vì chức vụ của ông là Tuyên Uý trong quân đội mà vì “tội chống chế dộ.” làm sao không thấy cảm tình và quý mến ông được.

Lễ phép, tôi kính trọng gọi ông bằng danh từ “Linh Mục,” cố tránh né cái tiếng “Cha,” mà tôi vẫn muốn dành riêng cho bố đẻ của tôi. Nhưng quả là ngạc nhiên và ngỡ ngàng hơn nữa, chuyện mà tôi chưa bao giờ thấy xẩy ra cho một ông Cha, ông Sư nào, khi nghe ông bằng lòng nhận tiếng gọi “Cậu Bày” khá thân mật từ bạn bè của tôi, những cựu tù nhân của chế dộ Cộng Sản từ Việt Bắc trở về. trong khi anh cm cựu học sinh Nguyễn Trường Tộ, Vĩnh Long ngày xưa học trên ông vài lớp, còn hạ vai vế ông xuống, bằng cách kêu ông là “Chú Út!” Điều đó có sai với giáo điều tổ chức của các tôn giáo lớn không? Tôi nghĩ là không, vì đây là không gian ngoài vị tri của nhà thờ và những người quen biết, bạn bè ông không hề ràng buộc bởi bất cứ điều gì hay danh xưng nào của tôn giảo. Cũng cho đến nay chưa ai gọi ông Nguyễn Hữu Lễ bằng hai tiếng “nhà văn,” nhưng cuốn hồi ký “Tôi Phải Sống” của ông, trong vòng 2 năm 2003-2004, với tình trạng số người đọc hạn chế ở hải ngoại, với 17.000 cuốn đã bán sạch, ông đã có khả năng vượt qua số lượng sách bán được của những nhà văn nối tiếng nhất Việt Nam, kể cả các tác phẩm trong nước, mà nơi đó, dận số gấp 40 lần ở hài ngoại.

“Tôi Phải Sống” là một cuốn hồi ký về trại lù Thanh Cầm, nơi mà LM, Nguyễn Hữu Lễ, đã trải qua nhiều năm đoạ đày, nạn nhân sống sót sau những trận đòn điên cuồng. khát máu của Bùi Đình Thi, một cựu sĩ quan, lảm “thi đua” cho trại tù đã lạm dụng quyền hành để tra tấn và đánh chết cựu Dân Biểu Đặng Văn Tiếp và bỏ đói dến chết ông Lâm Thành Văn. Câu chuyện đã đưa đến kết quả là Bùi Đình Thi bị cơ quan toà án di trú San Pedro, California. Vào tháng 4-2014, công bố lệnh truc xuất về Việt Nam. Trong khi chờ đợi thỏa hiệp nhận và trao giữa hai chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ, ông Thi đã được giam giữ tại Quần Đảo Marshall (Republic of Marshall Islands) và đã qua đời tại đây khoảng hai năm sau đó.

Bản ản của Bùi Đình Thi đem đến hai nguồn dư luận trái ngược, một bên cho Thi xứng đáng để lãnh bản án trục xuất, một bên chê trách LM. Nguyễn Hữu Lễ đã không đủ bác ái để tha thứ cho Thi. Tuy nhiên bác ái cũng cần có công bằng và LM Nguyễn Hữu Lễ không phải là nguyên đơn để đưa Bùi Đình Thi ra tòa mà người đứng kiện là Boat People SOS. LM Nguyễn Hữu Lễ có thể tha thứ cho Bùi Đinh Thi là chuyện giữa hai con người, nhưng còn gia đình những người dã bị bách hại, những người đã chết như Đặng Văn Tiếp, Lâm Thành Văn và những người còn sống như Trịnh Tiếu, Nguyễn Sĩ Thuyên, còn lại là lẽ công bằng cũng như pháp luật của nước Mỹ. Trong tận cùng của nổi đau đớn tuyệt vọng, trên bệ đá của trại kiên giam, trong khi hai cổ tay còn bị củm, người tu khốn khổ Nguyễn hữu Lễ đã phẩn nộ hét lên: “Tôi Phải Sống!” Câu nói này đã được đem dùng làm nhan đề cuốn sách thuộc loại best-seller của ông.

Sự sống phải mang nhiệm vụ của nó, chắc chắn khó khăn hơn cải chết. Người sống mang nghĩa vụ của những người chết dã giao phó, vì sống không có nghĩa là chết mòn. L.M. Nguyễn Hữu Lễ dã sống còn và trôi giạt đến Tân Tây Lan năm 1990. Chỉ hai năm sau, LM Nguyễn Hữu Lễ dã tham gia sinh hoạt với Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ, Hội Đồng Việt Nam Tự Dọ. Năm 1994, ông thành lập Ủy Ban Nhân quyền và Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam, ông đã đi thuyết trình tại các cộng đồng người Việt ở 9 quốc gia Âu Châu, 15 tiều bang tại Hoa Ký và tại Canada, Úc, Thái 1.an.

Năm 2006, LM. Nguyễn Hữu Lễ thành lập “Phong Trào Đòi Trả Tên Saigon.” Năm 2008, Phong trảo này phát hành DVD tài liệu “Sự Thật về Hồ Chí Minh.” Năm 2010, ông kết hợp với Tổ Chức Phuc Hưng Việt Nam, Tập Họp Đong Tâm Úc Châu thành lập Lực Lượng Dân Tộc Cứu Quốc (gọi tắt là Lực lượng Cứu Quốc.)

Năm 2011, Lực Lượng này tổ chức Đài Phát Thanh “Đáp Lời Sông Núi” phát thanh về Việt Nam mà LM. Nguyễn Hữu Lễ là Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn & Yểm Trợ. Khai sinh ra chương trinh “Đáp Lời Sông Núi” là dễ nhưng duy tri để tiếng nói này sống còn là một điều khó, ông Nguyễn Hữu Lễ nay như người mẹ chạy ăn cho con từng bữa. LM. Nguyễn Hữu Lễ là linh muc người Việt duy nhất tại New Zealand từ trước đến nay và từ năm 2007. Ông không còn giữ chức vụ nào tại các giáo xứ của nước này, và hiện chỉ còn giữ chức Tuyên Uý Cộng Đồng Công Giáo VN tại đây, Thời gian ông đi, ở và hoạt dộng ở nước ngoài, những nơi có cộng đồng người Việt ty nạn có lẽ cũng tương đương với thời gian ông làm việc ở Tân Tây Lan. LM. Nguyễn Hữu Lễ đã đi nhiều nơi trên thế giới, gặp gỡ các cộng đồng người Việt ty nạn, đem ngọn lữa đấu tranh, chuyển dến cho mọi người để nhắm đến mục dich đòi hỏi tự do nhân quyền cho Việt Nam. Cũng vì vậy, ông không tránh khỏi sự lăng mạ, chỉ trích của một số người không đồng ý với ông khi ông đi làm chính trị trong lúc mặc áo giòng, nhất là sau khi DVD tài liệu “Sự Thật về Hồ Chỉ Minh” phát hành và qua internet được chuyển về trong nước. Để trả lời dứt khoát, câu nói xác định của LM. Nguyễn Hữu Lễ đã được nhắc lại nhiều lần là: “Trước khi trở thành linh mục, tôi là một người Việt Nam!”

Nói đến chuyện chia rẽ tôn giáo tại hài ngoại vào mỗi cuối năm. LM. Nguyễn Hữu Lễ đã cho rằng: Những ai dùng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, đều có tội với tổ quốc!” Trên dường hoạt động, mỗi lần ghé qua Little Saigon. “Cha” Nguyễn Hữu Lễ thường ghé thăm các giáo dân ngày trước ở Vĩnh Long của ông, trong đó có ông Nguyễn Nhi, xã trưởng, trước khi đến Mỹ theo diện HQ. đã bị đi tủ 7 năm. “Cậu Bảy” thì không quên các bạn tù Thanh Cẩm, trung dó có cựu Đại Uy Thiết Giáp Lê Sơn, sau này đã kết thông gia với gia đình họ Nguyễn của ông. “Chú Út,” cựu học sinh trung học Nguyễn Trường Tộ năm xưa thì lúc ghé về đây không quên các bạn học cũ hơn 50 năm về trước và ông Thầy duy nhất trên dất Mỹ còn lại là thầy Nguyễn Đức Hạnh, nguyên giáo sư Anh Ngữ nay đã 84 tuổi.

Ông Nguyễn Hữu Lễ quả là một linh mục binh thường. nhưng là một người Việt Nam tị nạn xuất sắc. Ông gần gũi và đi bên cạnh những con người bị bứt rời khỏi quê hương, côn thiết tha với đất nước hôm nay. Câu nói của ông, tôi còn nhớ, ngày ông tái bản cuốn hồi ký “Tôi Phải Sống” để lấy tiền trang trãi cho việc điều hành tiếng nói “Đáp Lời Sông Núi.”- “Nếu không nói chuyến đất nước thì còn chuyện gi để nói? Không lẽ đem chuyện ăn ngon mặc đẹp, cơn cái thành công và những chuyến du hí ra để nói với nhau!”

Hình ảnh và những lời nói của ông làm cho chúng tôi nhớ dến LM. Nguyễn Văn Lý đang bị cầm tù ở Việt Nam và I.M. Nguyễn Văn Nghị ra pháp trường cát sau vụ án Nhà Thờ Vinh Sơn năm 1975. Phải chăng họ cũng như “Cậu Bảy:”- Trước khi trở thành linh mục, họ là một người Việt Nam!

Một thời để yêu & Một thời để chết.

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 18 May 2026

Cái chết ở đất Nga khác mùi cái chết ở Phi châu. Ở Phi châu trọng pháo của quân Anh cũng giết người như rạ, xác chết nằm phơi giữa hai phòng tuyến, nhưng ở đây trời nóng làm cho chóng tiêu hết. Thây người chết rã ra, hơi bốc lên, ban đêm gió đưa lại một mùi hôi thối nồng nặc buồn nôn mửa, hơi đó làm trương phình xác chết, dưới ánh sao người ta trưởng như thây ma nhỏm dậy đánh một trận cuối cùng vô vọng nữa, nhưng ngày hôm sau thây ma lại xẹp đi, teo lại, dán chặt xuống đất lồi lõm như đã mệt nhoài, như muốn tự động chui xuống dưới đất. Khi đến lượm đi người ta thấy có cái thây nhẹ bổng, khô đét, nếu để lâu độ vài tuần, thây chỉ còn là bộ xương bọc da, khô dòn, kêu rắc rắc như củi khô dưới những bộ nhung phục rộng quá. Cát, mặt trời và gió làm cho xác chết ở đây khô ráo sạch sẽ, còn xác chết ở bên Nga trương sình thối kinh hồn.

Trời đã mưa từ mấy hôm nay. Tuyết tan thành bùn lầy. Một tháng trước tuyết còn dày đến một thước. Làng bị tàn phá mới đầu chỉ còn sót lại một vài nóc nhà cháy đen, mỗi đêm hiện rõ ra thêm một chút trên bãi tuyết đang tan. Phía trên cửa sổ hiện ra trước, vài đêm sau trông thấy vòng cung cửa ra vào, rồi đến thềm nhà xuất hiện dần từng bậc một giữa đống tuyết trắng hôi hám. Tuyết vẫn tan, bây giờ đến lượt những xác chết xuất hiện.

Đây là những xác chết từ những trận đánh trước. Làng đã lần lượt bị phe này hay phe kia chiếm đóng nhiều lần, vào tháng một, tháng chạp, tháng giêng, mới đây vào tháng tư. Quân chiếm đóng, rồi bỏ đi, rồi trở lại chiếm đóng, tuyết rơi từng đợt kế tiếp nhau lấp kín xác chết, nhiều khi lớp tuyết dày quá, lính cứu thương không biết mà đem chôn. Mỗi ngày lại thêm một lớp tuyết trắng phủ lên cảnh đổ nát, khác nào một cô khán hộ phủ một tấm vải trắng tinh lên một cái giường vấy máu và nhơ nhớp bùn.

Thây người chết hồi tháng giêng, hiện ra trước nhất. Những xác này nằm ở lớp trên, ngày tuyết tan vào đầu tháng tư đã làm xuất lộ. Khí lạnh đã làm cho xác cứng lại, mặt như tạc bằng sáp. Người ta khiêng đi coi như những hình nộm bằng gỗ. Trên một gò cao phía sau làng, lớp tuyết phủ không dày như những nơi khác, người ta hốt sạch tuyết, định đào huyệt chôn. Công việc lâu lắc và khó khăn, vì thế người ta định chỉ chôn những xác chết người Đức mà thôi. Xác người Nga chất đống lại chất đống lại trong một cái chuồng bò trống ngoài trời. Khi bớt lạnh, hơi hám xông lên quá, lại phải lấy tuyết phủ đi. Người ta không muốn chôn vì người ta biết rằng chẳng còn chiếm được làng này trong bao lâu. Quân ta đang rút lui, quân Nga đang tiến, để họ chôn lấy người của họ.

Súng của người chết vào tháng giêng lún dần xuống chỗ người chết trước vào tháng chạp nằm ở dưới. Súng và lựu đạn chìm xuống sâu hơn xác người, thỉnh thoảng mũ chiến cũng vậy.

Nước làm cho áo quần mềm nhũn ra, rất dễ cắt phanh quần áo để xem dấu vết thi hài người chết. Miệng họ đầy tuyết đã tan ra nước, nom họ như chết đuối vậy. Có khi chân tay tan tuyết trước thân mình, có khi khiêng xác đi, một cái tay hay một cái cẳng đong đưa lủng lẳng với điệu bộ thản nhiên ghê tởm, gần như bỉ ổi. Khi có tia nắng chiếu vào thì hai mắt rã tuyết trước nhất, mắt không còn sắc trong vắt của người chết, con ngươi trở thành keo. Những giọt nước mắt đặc quánh ứa dần ra.

>Bất thần trở lại rét trong vài ngày. Trên mặt tuyết đóng một lớp băng, và tuyết ngưng lại không sụt xuống nữa. Nhưng chẳng bao lâu gió nồm lại thổi.

Mới đầu chỉ thấy một chấm xám trên mặt tuyết trắng lem nhem bẩn. Chỉ một giờ sau, một bàn tay co quắp hiện ra.

– Lại một cái nữa.

– Đâu?

– Ngoài kia, trước nhà thờ. Thử moi ra xem sao.

– Không cần, gió này chẳng mấy chốc lòi ra hết. Ít ra cũng còn một hay hai thước tuyết. Cái làng khốn nạn này ở một chỗ đất thấp. Nếu mày muốn múc lấy mười lít nước vào mỗi chiếc giầy thì cứ ra mà đào.

– Thế thì tao chịu thôi!

Sauer nhìn xe lương thực.

– Mày có biết hôm nay có gì ăn không? – Lời Immermann.

– Củ cải. Củ cải nấu thịt heo, khoai tây và nước lã. Xin đính chánh: không có thịt heo.

– Lại củ cải? Tuần này ăn đến lần thứ ba rồi đó!

Sauer mở cúc quần để đi tiểu tiện: “Mới một năm trước tao còn đái vọt xa, đấy mới là đái của lính chính hiệu con nai. Đi thì nhất rồi, một ngày đi không biết bao nhiêu là cây số, tao những tưởng là sắp được giải ngũ rồi. Bây giờ thì xò rồi, đái yếu không còn là đái lính nữa”.

Immermann thọc tay vào trong áo, gãi, khoan khoái hiện ra mặt.

– Tao chẳng cần biết mình đái lính hay đái thường dân, tao chỉ cần sống đời dân sự.

– Tao cũng vậy. Nhưng điệu này thì mình đi lính mãn đời mất!

– Đi lính thì anh hùng thật, nhưng anh hùng để mà chết mất xáp. Chỉ có những thằng mật vụ SS đái xa được mà thôi.

Sauer cài nút quần:

– Họ thì họ làm được. Những thằng khác khó nhọc để cho chúng nó hưởng. Người ta chiến đấu trong hai ba tuần lễ để chiếm lấy một tỉnh rốt cuộc tụi mật vụ SS thổi kèn đánh trống kéo vào đấy làm chủ. Mày có biết tụi nó được ưu đãi như thế nào không? Mũ, giầy, thịt, cá, cái gì tốt nhất là tụi nó hưởng.

Immermann bỗng cười sằng sặc:

– Bây giờ thì tụi nó cũng chẳng kèn trống om sòm tiến vào đâu cả. Tụi nó cũng chạy dài như tụi mình.

Sauer cầm lấy ga men mà rằng:

– Đi ăn, mau lên, đến chậm chỉ còn nước rửa bát.

Một bàn tay dưới tuyết nhô dần lên. Người ta không có cảm tưởng rằng tuyết hạ xuống mà có cảm tưởng rằng bàn tay nhô lên như một cái nấm xám xịt đáng sợ, như là một tiếng kêu cứu giá băng.

Đại úy chỉ huy trưởng Rahe trông thấy lại hỏi:

– Cái gì thế này?

– Có lẽ một cái xác lính Nga, đại úy à.

Rahe mở to mắt. Ông ta trông thấy một chút tay áo màu bạc phếch.

– Không phải lính Nga đâu.

Rồi ông ta về bản doanh trong khi trung sĩ Mucke gọi mọi người lại.

– Lại tất cả đây! Graber! Sauer! Immermann! Steinbrenner! Hirschland! Beming! Mấy người trông thấy cái bàn tay ngoài kia không! Đào lên mà chôn cất tử tế nếu là xác người Đức! Nhưng tôi cá với các người rằng đó là xác lính Nga.

Steinbrenner mới có mười chín tuổi, mặt tròn như mặt một thiên thần trung cổ. Trước y ở trgng hàng ngũ SS và đã có huy chương vàng Thanh niên Hitler. Y được sung vào đội quân này, nhưng ai cũng biết y làm thám tử cho mật vụ.

Mucke lấy trong túi ra một hộp thuốc lá bằng gỗ anh đào chạm trổ rất đẹp.

– Hút một điếu?

– Còn gì bằng!

Immermann nói lướt qua:

– Steinbrenner! Quốc trưởng đâu có hút thuốc?

– Câm mồm mầy!

– Mầy cũng câm mồm đi!

– Chà, cha này coi bộ sống đúng phép tu dưỡng ghê!

Dưới hàng lông mi hung hung, Steinbrenner liếc mắt ngang nhìn người đối thoại :

– Sao trí nhớ của mày ngắn thế!

Immermann cười:

– Ngắn thì ngắn nhưng cũng đủ để hiểu mày rồi. Mày chớ nên quên điều này: Quốc trưởng không hút thuốc. Tao chỉ cần nhắc mày có điều ấy. Tao có bốn nhân chứng. Ai cũng biết rằng Quốc trưởng không hút thuốc.

Họ đã lấy ván để đi tới chỗ xác chết và bới tuyết để lộ ra cánh tay và bán thân người. Đã nom thấy bộ nhung phục ướt sũng nước đồng phục lính Đức.

Mucke ì ạch tiến tới, ghé mắt nhìn xuống hố đang dềnh nước lên.

– Tao không biết vì sao lại còn xác lính Đức. Có lẽ đấy là xác chết đã lâu, hồi tháng chạp, chúng ta đang tiến quân, xác ở lớp tuyết ở dưới cùng.

– Chúng ta đã tiến được hàng trăm cây số rồi kia mà.

– Bây giờ chúng ta lại ở chỗ cũ.

Graber xen vào :

– Vậy là chúng ta rút lui phải không?

Immermann vội lấy khuỷu tay hích Graber nhưng Graber vẫn hỏi Steinbrenner:

– Hay là chúng ta tiến?

Immermann giải thích trong khi nhìn Steinbrenner gay gắt :

– Chúng ta rút ngắn những trục giao thông. Đã một năm nay chúng ta theo chiến lược ấy, chẳng còn bao lâu nữa sẽ thắng trận. Ai cũng biết thế.

Lát sau Immermann rỉ tai Graber rằng :

– Liệu hồn mày, nếu không thằng đểu giả ấy sẽ làm mày mất nghỉ phép. Nó sẽ tố cáo mày chủ bại. Nó chỉ đợi có thế.

Vài phút sau cái thây được lôi lên để trên miệng lỗ. Trong một túi áo còn nguyên cái bóp và giấy tờ. Chữ đã lem nhem nhưng còn đọc được để biết người chết là ai. Đó là trung úy Reike chỉ huy một đại đội quân Đức vào mùa thu năm trước.

Mucke tiến đến căn nhà ở của đại úy Rahe. Làng này chỉ có một căn nhà duy nhất ấy là ở được. Có lẽ trước ngày Cách mạng nhà này là nhà của giáo trưởng giáo hội. Đại úy Rahe ngồi trong phòng lớn. Mucke nhìn lửa cháy trong cái lò sưởi Nga với con mắt thèm thuồng khinh bỉ. Con chó bẹc-dê của Rahe ngủ trên chiếc ghế gỗ dài. Mucke phúc trình rồi cùng đại úy ra.

Rahe đứng một phút yên lặng trước thi hài rồi quay lại nhìn ngôi nhà thờ đã bị phá hết một nửa :

– Khiêng lại kia đợi. Còn cái hòm nào không?

– Những hòm đặc biệt cất riêng đều bị lính Nga chiếm mất cả. Mong rằng họ sẽ có dịp dùng đến.

Immermann bật cười. Đại úy Rahe không cười.

– Không thể làm được một cái à?

– Làm thì lâu lắm – Graber nói – Cái xác đã rữa rồi. Vả chăng trong làng này khó lòng mà tìm được thứ gỗ dùng được.

Rahe đành nghe theo họ.

– Lấy miếng vải tăng mà bọc vậy. Thôi chôn thế cũng được. Đắp đất mồ rồi làm một cây thập tự.

***

>Bốn người du kích Nga bị bắt, Rahe quyết định đem ra xử bắn.

– Đã sâu chưa? – Lão già đang đào huyệt để chôn mình ngừng lại hỏi.

Lão độ bảy mươi tuổi. Bộ râu bạc dơ bẩn, hai mắt thật là xanh. Lão nói được tiếng Đức.

Steinbrenner trả lời lão:

– Câm mồm đi, có ai hỏi mới được nói.

Steinbrenner rất vui vẻ. Hai mắt y không rời khỏi người đàn bà Nga đi theo ba người tù binh kia. Chị ta mạnh khỏe và còn trẻ lắm.

Graber cùng đứng coi tù binh với Steinbrenner và Sauer cũng nói:

– Cứ đào đi.

Lão già lại hỏi :

– Để chôn chúng tôi hả?

Steinbrenner nhảy đến nơi tát lão một cái mạnh như trời giáng.

– Đã bảo câm miệng mà, ông nội! Ông không biết ông ở đâu à? Ở đám hội chắc?

Y mỉm cười quay trở lại. Trên mặt không có vẻ gì độc ác, chỉ có cái thích thú của đứa trẻ ngồi vặt chân con ruồi để chơi.

Graber nói:

– Không, không phải hố chôn ông đâu.

Lão già Nga không nhúc nhích; lão yên lặng nhìn Steinbrenner, Steinbrenner cũng nhìn lão. Mặt y bỗng biến sắc, y chú trọng đến lão già hơn. Y nghĩ rằng lão sắp đánh lại và chỉ đợi lão cử động là đập chết liền. Giết chết lão tại chỗ có sao? Lão bị kết án tử hình, vả chăng cũng chẳng ai buồn để ý đến trường hợp Steinbrenner có thật là trường hợp tự vệ hay không. Nhưng đối với Steinbrenner thì vấn đề hầu như có tầm quan trọng của nó. Steinbrenner tự hỏi không biết y làm lão già phẫn uất đến mất trí chỉ để tiêu khiển hay là y còn muốn làm cho mỗi vụ sát nhân có một cớ khả dĩ chấp nhận được để ra vẻ hợp pháp. Hẳn là cả hai sự kiện ấy đều có và Graber nhận thấy đây không phải là lần thứ nhất mà mình gặp những trường hợp tương tự.

Lão già Nga vẫn đứng yên. Một giọt máu từ mũi chảy xuống bộ râu, Graber tự hỏi không biết mình ở địa vị lão sẽ xử trí ra sao: nhảy đến chỗ Steinbrenner để giết hắn chết ngay lập tức không kịp đụng đến người hắn hay nén giận đi để sống thêm một đêm cuối cùng? Graber cũng không biết trả lời sao.

Lão già thong thả cúi xuống nhặt cuốc rồi giơ cuốc cao lên. Steinbrenner lùi lại một bước, sẵn sàng nổ súng. Nhưng lão không ngẩng đầu lên, lão ngoan ngoãn cuốc đất, Steinbrenner cười gằn:

– Nằm xuống đấy. Y ra lệnh.

Lão đặt cuốc, bước xuống đáy huyệt nằm dài ra đó, không cựa quậy. Khi Steinbrenner đến gần miệng hố, y thấy mấy nắm tuyết rơi xuống người lão già.

– Dài như vậy được chưa? – Y hỏi Graber.

– Được rồi, trung úy Reicke người cũng không lớn con.

Lão già nhìn trời, trời xanh hình như phản chiếu trong mắt xanh của lão. Chỉ có vài sợi râu chung quanh miệng khẽ rung động theo hơi thở. Steinbrenner để lão nằm dưới hố một lúc, sau y mới bảo:

– Đi ra.

Lão bật dậy chạy đến với ba người kia. Đất ẩm dính bết vào quần áo.

Steinbrenner nhìn người đàn bà và nói:

– Bây giờ mấy người tự đào hố để chôn các người, không cần sâu lắm. Đến mùa hạ này cáo có đến ăn cũng thây kệ các người.

***

>Mặt trời mọc. Ánh hồng nhạt ửng chân trời. Tuyết sin sít dưới gót giầy, hồi đêm tuyết lại xuống. Huyệt mới đào coi đen thui.

Sauer chửi thề:

– Mẹ khiếp! Không còn cái gì là tụi nó không bắt mình làm! Tại sao lại đùn cho mình! Tụi S.D. Phải làm chứ, họ thu dọn chiến trường mà.

Graber đong đưa khẩu súng trên tay, thấy thép buốt lạnh y bèn đeo găng tay vào. Y nói:

– Tụi S.D. hoạt động ở hậu cần.

– Dĩ nhiên, họ chẳng dại gì mà ra tuyền tuyến.

– Có phải thằng Steinbrenner trước cũng là S.D. không?

– Trước nó là trưởng khối trong một trại tập trung, hay là cái gì như thế.

Mấy người khác kéo lại. Chỉ có Steinbrenner là tươi tỉnh. Trời rét làm ửng đỏ hai má như trẻ con mới lớn. Hắn nói:

– Con đàn bà để cho tao nghe, tụi mày!

– Mày muốn làm gì nó. Bây giờ thì còn kịp làm gì nữa? Sao mày không làm từ trước?

– Thì nó đã thử rồi đó. – Lời Immermann.

Steinbrenner nổi giận quay lại:

– Sao mày biết, Hội Liên hiệp Quốc tế Lao động cho mày biết phải không?

– Thì nó đã vỡ mũi vì con mẹ đó. – Lời Sauer.

– Mày ra bộ lém lỉnh lắm. Nhưng tao nói cho mày biết, nếu tao muốn nó thì tao làm kỳ được.

– Cái đó cũng còn tùy.

Trời tối sầm xuống. Một người nhìn đồng hồ.

Steinbrenner bảo y:

– Mày nên mừng rằng được chỉ định ra đây. Mày sẽ hết ý nghĩ đen tối. Xử bắn! Đối với tụi này xử bắn thì phí phạm quá. Phí mấy viên đạn thật là uổng. Nên treo cổ chúng thì hơn. Người ta vẫn treo cổ du kích.

– Treo cổ ở đâu? Mày có trông thấy một cái cây nào không? Hay là lại phải làm một cái cột để xử giảo? Mà lấy đâu ra gỗ?

Graber vội la lên:

– Họ đã đến kia.

***

Mucke dẫn bốn người Nga lại. Bốn quân nhân vây lấy họ. Lão già đi đầu, theo sau là người đàn bà rồi đến hai thanh niên. Họ tự ý đến xếp hàng trước miệng hố. Người đàn bà liếc mắt nhìn hố trước khi đứng ra trước mặt lính Đức. Mụ mặc cái váy len đỏ.

Trung úy Muller ở nhà đại úy Rahe bước ra. Y thay mặt Rahe trong những vụ hành quyết. Nghĩ cũng tức cười người ta cũng còn cố giữ hình thức hợp lệ. Ai cũng biết mấy người Nga này không phải là quân du kích, nhưng họ vẫn bị tra vấn và kết án theo đúng thủ tục, họ không chút hy vọng thoát chết. Trên lý thuyết thì họ bị bắt trong khi cầm khí giới. Thế thì sao còn bày đặt ra nhiều chuyện thế này? Họ sẽ bị bắn trước sự hiện diện của một sĩ quan, đúng như luật nhà binh. Chẳng ai ra vẻ cảm động vì cái hân hạnh ấy.

Viên trung úy mới hai mươi mốt tuổi và mới bổ vào đội quân này. Y nhìn tội nhân một lát rồi bắt đầu đọc bản án.

Steinbrenner khẽ nói:

– Để phần tao con đàn bà.

Graber nhìn người đàn bà. Mụ bình thản đứng đợi trước hố. Coi mụ trẻ và khỏe, một người có sức để sinh con và nuôi con. Mụ không biết Mulier đọc gì nhưng mụ biết là bản án tử hình. Mụ biết rằng trong giây lát nữa sinh lực dồi dào trong huyết quản sẽ tiêu tan vĩnh viễn, tuy nhiên mụ chờ đợi một cách bình thản và không run rẩy vì khí lạnh lúc sáng sớm.

Mucke bước tới, ra lệnh cho lão già:

– Bảo người kia cởi giày ra. – Y vừa nói vừa chỉ một trong hai người tù binh.

Ông già nói nhỏ vài tiếng, giọng như hát. Người kia là một thanh niên xanh xao gầy ốm, y ra vẻ không hiểu, Mucke gắt:

– Tháo giầy ra!

Ông già nhắc lại. Người thanh niên bấy giờ mới hiểu, y vội vàng làm ngay như để sửa chữa một lỗi lầm không thể dung thứ được. Y lảo đảo đứng một chân, tay lôi chiếc giầy ở chân kia. Graber tự hỏi: “Tại sao y vội vàng thế? Để chết sớm hơn một phút chăng?” Người tù binh tiến lại chỗ Mucke đưa đôi giầy ra. Đôi giầy còn mới. Mucke nhăn mặt chỉ một chỗ cạnh đấy. Y đem giầy lại rồi về chỗ cũ. Hai chân quấn giẻ nhơ nhớp lún xuống tuyết, ngón chân vàng ệch quắp lại vì lạnh.

Mucke lục soát mấy người Nga khác. Người đàn bà có đôi găng tay, y bắt mang lại để cạnh đôi giầy. Y dừng lại một chút cạnh cái váy đỏ. Vải tốt mà chưa rách. Steinbrenner bụm miệng cười, Mucke đành thôi không bắt mụ cởi váy, có lẽ y sợ đại úy Rahe đứng cửa sổ nom thấy, có lẽ y cho rằng quần áo đàn bà không dùng được. Y lùi lại.

Người đàn bà lẩm bẩm nói vài tiếng Nga. Trung úy Muller ra lệnh:

– Hỏi xem chị ta muốn gì?

Người Muller tái nhợt. Đây là lần đầu y dự cuộc hành quyết.

Mucke nhắc lại câu nói cho lão già nghe. Lão trả lời:

– Nó không muốn gì cả. Nó chửi các người.

Mucke không hiểu quát to:

– Cái gì?

– Nó chửi các người, các người và tất cả quân Đức dày xéo trên đất Nga! Nó chửi các con người! Nó đợi con nó lớn sẽ bắn chết con các người như các người đã bắn nó.

– Đồ hỗn xược!

Mucke sợ hãi nhìn người đàn bà. Lão già lại nói:

– Nó có hai con, tôi cũng có ba đứa!

Muller vội ra lệnh:

– Thôi! Mucke! Chúng ta không phải người đi giảng đạo ở đây. Nghiêm!

Mấy người lính đứng nghiêm. Graber đã bỏ găng tay, thép lạnh làm tê buốt bàn tay và ngón tay. Y định bắn người ở đầu phía trái. Lần đần tiên được cử đi bắn tù nhân y đã bắn lên không. Chẳng bao lâu y bỏ cách ấy vì chẳng giúp ích gì cho tội nhân. Vì những người khác cũng nghĩ như y cho nên loạt súng thứ nhứt không trúng người nào. Phải bắn lần nữa tội nhân bị hành quyết hai lần. Một hôm y dụng ý bắn không trúng một người đàn bà, chị ta chạy đến ôm chân y vừa khóc mếu vừa cảm ơn y đã có lòng từ thiện cho sống thêm một phút. Graber không muốn nghĩ đến người đàn bà ấy nữa. Từ đấy y không muốn để xảy ra chuyện như thế.

– Súng lên vai!

Graber thấy lão già hiện lên trên đường ngắm, lão già mắt xanh, râu lem luốc. Y hạ tầm súng xuống để khỏi bắn vào mặt. Đã có một lần y bắn nát hàm dưới một tù nhân. Ngắm ngực mà bắn thì đích xác hơn. Y chợt nhận thấy một người để tầm súng cao quá đạn sẽ đi ở trên đầu phạm nhân.

Y vội bảo:

– Mucke trông thấy mầy đó. Ngắm thấp xuống nữa! Ngắm thấp xuống nữa! Ngắm vào ngực ấy!

Mucke ra hiệu bắn.

Người phạm nhân chồm lại phía Graber. Toàn thân hắn cong về đằng trước, như đứng trước cái gương lõm làm lệch bóng người. Người hắn vặn đi rồi ngã ra sau.

Lão già té ngay xuống hố, trông chỉ còn thấy hai chân. Những người kia ngã xuống ngay chỗ đứng. Người mất đôi giầy đưa hai tay lên mặt như muốn chống đỡ. Một bàn tay nát bấy còn cái gân dính tòng teng. Không ai nghĩ đến việc bịt mắt trói tay phạm nhân.

Người đàn bà ngã về phía trước. Chị ta chống hai tay ngẩng mặt lên nhìn bọn Graber. Steinbrenner ra bộ hớn hở. Chỉ có mình y bắn vào người đàn bà. Đạn trúng bụng, tuy rằng y là tay thiện xạ.

Hai chân lão già giẫy giụa một lần nữa rồi ngưng lại. Chỉ có người đàn bà còn sống, chị ta vẫn chống hai tay, ngẩng mặt nhìn mấy người lính Đức. Chị ta rít lên từng cơn, nói những tiếng chẳng ai hiểu cả. Người ngồi chồm hổm như một con ếch đỏ lòm bị thương chí tử, miệng lẩm bẩm chửi bới. Không còn ai thông ngôn. Chị ta không chịu quay đi khi Mucke lại gần lấy súng lục ra. Chị vẫn nói không ngớt. Đến lúc cuối cùng chị ta mới trông thấy khẩu súng. Bỗng dưng chị ta vùng dậy lấy răng cắn bàn tay Muller. Muller văng tục và giáng một quả đấm xuống mặt. Chị ta phải buông, y dí súng bắn vào gáy chị ta.

Trung úy Muller tức giận la lên:

– Các anh không biết bắn nữa à? Làm ăn như chó mửa!

Graber nói:

– Thằng Hirschland đấy!

– Im miệng. Ai hỏi mầy mà mầy nói?

Mucke mắng Graber rồi quay lại nhìn Muller, Muller đứng yên lặng, người tái nhợt. Mucke cúi xuống nhìn xác hai người Nga. Y dí súng vào tai người trẻ nhất bóp cò, cái đầu bật lên rất mạnh rồi ngay đơ. Mucke cất súng và nhìn bàn tay rồi lấy khăn tay ra băng lại.

– Đi kiếm chút canh-ti-dốt bôi vào. Trại cứu thương ở đâu?

– Căn nhà thứ ba tay mặt đó, trung úy.

– Đi ngay đi.

Mucke đi khỏi. Muller nhìn mấy cái xác chết. Người đàn bà nằm úp mặt xuống đất.

Muller bảo mấy người:

– Bỏ xuống huyệt lấp đất đi.

Bất thần y run lên vì tức giận, không hiểu tại sao.