Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 17 May 2026

Xem những đoạn phim ngắn quay cánh các cô “bảo mẫu” đối xứ với các cháu trong bữa ăn tại nhà trẻ Phương Anh trong thành phố mang tên “Bác” vừa được đưa lên internet, không ai không khỏi giật nảy mình và sau dó không cầm được nước mắt. Giật nảy mình là vì thấy những cử chi tàn ác quá đột ngột không ai ngờ trước, như bóp mũi em bé, đút liên tục rất nhanh thức ăn vào miệng em và khi phải nói là quá đau đớn khi thấy con nhỏ “trồng người” dốc ngược đầu em bé vào thùng nước. Khốn nạn hơn nữa là con “bảo mẫu” bé kẹp đầu em bé vào chỗ kín của nó dể rảnh tay đánh tới tấp vào lưng đứa trẻ, cũng như một đứa khác lắc cm bé như lắc một con gấu nhồi bông, hay đút chỗ thức ăn trẻ vừa nôn mữa ra vào lại mồm đứa bé! Phán ứng của người xem đoạn phim trên là phải đồng loạt la lên: “Sao lại có loại người ác độc như thế?”

Danh từ Hán Việt “bảo mẫu” mà Việt Nam đang dùng có nghĩa là vú nuôi, bây giờ phải nghĩ đó chính là “ác phụ,” cũng như lối đặt chữ của người trong nước bây giờ: “Lưong Y như Hà Bá – Thầy thuốc kiêm Mẹ Mìn.” Chúng ta đặt hy vọng gì cho thế hệ tương lai. khi một đửa con gái mới 19 tuổi. trong tương lai sẽ là người sinh nở, cho con bú mớm, nuôi dạy con, đã có những lối hành xử như thế:

Nhà trẻ này lấy cớ vì đồng lương của “bảo mẫu” quá ít, cha mẹ mỗi đứa trẻ chì đóng một triệu đồng mỗi tháng, trong khi đó phải chi ra bao nhiêu thứ, tổn phí nhất là tờ giấy phép, hay chưa có phép thì phải chi cho công an, phường khóm để lảm ngơ cho nhà trẻ hoạt động. Nhưng đây chỉ là lý do đưa ra để biện minh cho sự lơ là nhiệm vụ, chứ không thể nào giải thích cho cái ác lộng hành. Một ông bố kết hợp với bà dì ghẻ, đánh một đứa trẻ mởi lên sáu gảy một cái xương sườn, xong bỏ vào bao bố, đem vứt ra nghĩa địa gần nhà, cho nó khóc la hết hơi, gọi là để răn đe. Một “lương y” làm đẹp cho phụ nữ, lỡ tay làm chết khách hàng, thản nhiên mang xác đi vứt xuông sông. Một dứa con bất hiếu đi làm về, thấy mẹ bệnh chưa nấu cơm, nổi giận đánh chết mẹ. một đứa khác đánh chết bố vì không thấy bố sửa soạn gì cho ba ngày Tết. Một bà vợ đánh chồng đến chết. con thắc mắc thì nói dối, bố uống rượu ăn tiết canh bị nôn ra, xong gói xác chồng đi chôn. Một ông sư tằng tịu với tín đồ lỡ mang thai, đem giết người tình rồi chôn sau vườn chùa. Một người chồng ném vợ bị liệt xuống sông. Rất nhiều cô gải lỡ lầm sinh con rồi ném con xuống ao hay vứt vào thùng rác! Những tên công an sẳn sảng đánh chết người vì lý do thi hành nhiệm vụ. Chúng ta kể sao cho hết những cái ác chúng ta đã nghe, thấy mỗi ngày ở Việt Nam?

Chưa lúc nào cải ác hiện hình nhan nhãn và lộng hành trong xà hội như hiện nay, vì nhìn đâu cũng thấy ác, nên con người lâu ngày trở nên chai lỳ và thấy cái ác của người khác là bình thường và sẵn sàng làm điều ác như một bản năng mà không thấy.

Ở Việt Nam, sau khi Saigon đổi tên, có một tờ báo bán chạy nhất là tử “Công An TP Hồ Chí Minh” và có ông ký giả “to lớn” nối tiếng nhất là “ký giả, nhà văn Trung Tướng Hữu Ước “người cầm đầu tờ báo này trong 17 năm. Ông này đã lừng hãnh diện tuyên bố lúc về hưu: “Nhiều báo trên thể giới đã đánh giá hệ thống truyền thông của Bộ Công an Việt Nam là mạnh nhất thế giới so với các hệ thồng truyền thông của các nước, kể cả Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc. Hệ thống truyền thông của công an Việt Nam có ảnh hường xã hội, có tia ra (*) phát hành lớn nhất, kênh truyền hình cũng là một trong những kênh truyền hình có số lượng người xem nhiều nhất. Như vậy thì tôi đã hoàn thành một sứ mệnh lịch sử rất vinh quang.”

Hệ thống truyền thông cua Bộ Công An Việt Nam đã vượt xa các cường quốc văn minh như Mỹ, Nga, Pháp, Tàu … vi các cường quốc khác mãi lo chuyện “vô bổ như phỗ hiến đến quần chúng những thông tin về văn hóa, khoa học, xã hội, tôn giảo, công dân giảo dục … thì báo đài của Bộ Công An Việt Nam chuyên loan tin hiếp dâm, giết người, cướp của và nhũng hành động tàn độc nhất của con người Việt Nam, tập cho độc giả, từ đứa trẻ con đến ông già làm quen với máu me, chết chóc. Tờ “Công An TP Hồ Chí Minh” hãnh diện là tờ báo bán chạy nhất ngày nay đã thành một tờ nhật báo “không thể thiếu trong mọi gia đình” để mỗi buổi sáng thức dậy, bên ly cà phê, người dân bất đầu một ngày với những tin hiếp dâm cắt cổ, đánh mẹ chữi cha, hiếp dâm trè nhỏ.

Trong một đất nước dân trí cao, thì con người có nhu cầu tìm hiểu, học hỏi và khao khát những thông tin về nghệ thuật, văn hóa, chính trị, tôn giáo … còn dân trí như Việt Nam dưới chế độ này thì thích nghe ngóng lượm tin, bàn tán chnyện giết người, hiếp dâm, cắt cổ … qua báo Công An và bặng tần Công An, mà ông Hữu Ước khoe khoang là báo Công An có số lượng nhiều nhất và kenh truyền hình Công An có số lượng người xem nhiều nhất, điều đó có gì đâu để hãnh diện, mà phài thấy xấu hổ. Chúng ta ở Mỹ, không thấy có nhật báo Cảnh Sát, cũng chẳng thấy đài truyền thanh, truyền hình riêng của FBI và người dân mỗi buổi sáng mua tờ nhật báo phải lật xem “Tin Thế Giới” hay mục “Thể Thao” hay trang “Kinh Tế” truớc, phải chăng là một đất nước tụt hậu kém cỏi thua nước CHXHCN Việt Nam?

Ông Cao Tuần, một người trọng nước đã viết trên báo Lao Động là: “Trong khi nhiều người đua nhau thể hiện “đằng cấp” bằng hình ảnh nhà cao, xe đẹp, hàng hiệu .. thì một thông tin từ Bộ Văn hóa – Thể Thao và Du lịch đưa ra khiến dư luận không khỏi giật mình: Người Việt Nam đọc trưng bình 0.8 cuốn sách/người/năm, khá thấp so với các nước trong khu vực. Thông tìn này có thể giúp giải thích đôi điều về cái ác.”

Theo tôi, có lẽ trung bình một năm người Việt Nam không đọc được một cuốn sách nhưng dọc hết 365 tờ báo Công An. Đây là tờ báo chuyên thông tin và đồng lõa với cái ác. Nhà văn Trần Mạnh Hảo đã có lần phát biểu: “Người Cộng Sản vì theo chủ nghĩa Karl Max, một chủ nghĩa “duy Ác”, không phải “duy Tâm,” cũng không phải “duy Vật”, nên đã làm cho đất mước chúng tà lâm vào cảnh điêu tàn … “Trong lịch sử nhân loại vào thể kỷ XX, có ba tên đồ tề lớn nhất, giết hơn 100 triệu người, ngoài Phát Xít Hiller, có hai tên Cộng Sản được thần dân CSVN ca tụng hết mình là Staline giết 12 triệu người từ 1924 đến 1953. Mao Trạch Đông với 65 triệu người chết từ 1949 dến 1976, chưa kể đến tên Hồ Chí Minh và Pol-Pot trong danh sách các ác nhân của thời đại.

Phật Giáo có nói: “Đừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm, thấy điểu ác nhỏ mà làm!”

Công giáo cũng có câu: “Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hây tiếp tục lẩy điều thiện thắng điều ác”.(Rô-Ma 12:21.) Lẽ cố nhiên muốn đẩy lùi cái ác thì xã hội cần phải biểu dương cái thiện, nêu những tấm gương thiện để giáo dục con người về nhân cách sống. Nhưng trong khi BS. Nguyễn Thu Thủy tố cáo vụ tráo đổi thủy tinh thể ở bệnh viện Mắt Hà Nội và của chị Hoàng Thị Nguyệt tố cáo giả mạo kết quả xét nghiệm ở Bệnh viện Đa Khoa Hoài Đức bị gặp rắc rối, thì Dược Sĩ Trần Kiều Oanh đứng lên tố chuyện ăn tiền hối lộ tại phòng Giám Định Y Khoa, Sở Y tế Bình Phước bị đuổi việc.

Ai nói cái Thiện luôn luôn thắng cái Ác?

Có, nhưng không phải dưới chế độ Cộng Sản!

(*)”tia ra:” Ông Hữu Ước không để trong ngoặc kép, chữ “tirage”(tiếng Pháp) là số lượng phát hành!

Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Post by Sơn râu 16 May 2026

Chúng tôi không còn buồn đếm từng tuần nữa. Khi tôi ra lại mặt trận thì vào tiết đông, nên khi bom đạn nổ tung các cục đất băng giá cũng nguy hiểm không kém gì các mảnh miễng. Giờ thì cây cối lại xanh. Đời sống chúng tôi chạy đi chạy lại các nhà trọ và mặt trận. Chúng tôi hầu như đã quen với nó; chiến tranh là một  nguyên nhân chết cũng như ung thư và lao phổi, cũng như cảm cúm và kiết lị. Chỉ có chết thường hơn, biến thiên hơn và khủng khiếp hơn. Tư tưởng chúng tôi là đất sét, chúng được đóng khuôn theo các thay đồi của thời gian; khi nào nghĩ ngơi thì tư tưởng vui; khi nào dưới lửa đạn tư tưởng chết. Những cánh đồng hang hốc ở bên trong và bên ngoài. Ai thì cũng thế, chả cứ gì chúng tôi ở đây – những cái từng sống trước đây hiện giờ không còn giá trị và người ta gần như không còn biết đến chúng. Danh giá, nuôi nấng giáo dục đều thay đồi, hầu như bị xóa bỏ và hầu như không còn được thừa nhận. Đôi khi chúng đưa lại một lợi thế để có một địa vị kiếm chác; nhưng đồng thời cũng mang theo những hậu quả, ở như chỗ chúng thức tỉnh những thành kiến cần được khắc phuc. Giống như thể truớc kia chúng ta là những đồng tiền của những tỉnh khác nhau và giờ đây chúng ta bị nấu chảy và tất cả đều mang chung một dấu. Muốn tìm ra lai các giá trị xưa, chính cái kim khí phải được thử lửa. Trước hết chúng tôi là lính và sau nữa, cũng là những con người theo một cách kỳ dị và xấu hổ.

Đày là một tình huynh đệ vĩ đại, nó thêm cho một hoàn cảnh sống thoát thai từ giữa lòng nguy hiểm, từ cái căng thẳng và tuyệt vọng của sự chết, một cái gì là tình bạn chân thành của dân ca, của cái tình đoàn kết giữa các kẻ tù đầy và của cái lòng chung thủy tuyệt vọng đối với nhau của những con người bị kết án tử hình đi tìm một cách hoàn toàn lạnh lùng một sự hưởng thụ phù du những giờ theo như chúng đến. Nếu người ta muốn ca tụng nó, nó tức thì là anh hùng và tầm thường nhưng ai mà muốn ca tụng nó kia?

Chính sự hưởng thụ phù du này, chẳng hạn, đã khiến Tjaden cầm thìa xúc vội xúc vàng phần súp thịt hầm nấu đậu của mình khi có tin địch tấn công, chỉ vì nó không dám chắc rằng một giờ nữa nó có còn sống hay không. Chúng tôi từng cãi vã nhau rằng làm thế là đúng hay sai. Kat không tán thành, vì, bác nói, mình phải trù tính có thể bị thương ở bụng và trong trường hợp này, dạ dày đầy nguy hiểm hơn là dạ dày rỗng. Những cái như thế là những vấn đề thực sự, là những vấn đề nghiêm trọng đối với chúng tôi, chúng không thể nào khác. Ở đày, ở bên bờ cải chết, cái sống theo một đường hướng giản dị một cách lạ kỳ, nó giới hạn ở cái gì cần thiết nhất, tất cả những gì khác nằm vùi trong giấc ngủ mơ hồ; tính cách man dại và sự tồn tại của chúng tôi là ở đó. Nếu chúng tôi lại phân tách tế nhị hơn thì chúng tôi hẳn đã phát điên từ lâu, hẳn đã đào ngũ hoặc đã ngã gục. Cũng như trong một cuộc thám hiểm bắc cực mỗi một biểu thị sống chỉ nhắm vào sự duy trì sống, và tuyệt đối tập trung vào đấy. Tất cả những gì khác đều bị gạt bỏ vì chúng tất làm hao phí sinh lực một cách không cần thiết. Đó là phương sách duy nhất đề tự cứu mình. Vào những giờ tĩnh lặng, khi cái phản ảnh dị kỷ của ngày trước kia, như một tấm gương mờ, rọi qua tôi cái bóng dáng của tôi hiện giờ, tôi thường đối diện với chính tôi, như trước một kẻ xa lạ, và tự hỏi cái nguyên lý hoạt động không thể có tên, cái nguyên lý nó tự mệnh danh nó là sự sống đã tự thích ứng thế nào ngay cả với cái hình dáng này. Tất cả các biểu thức khác nằm trong một giấc ngủ đông, sự sống chỉ là một sự không ngừng canh chừng sự đe doạ của cái chết:- nỏ đã biến chúng tòi thành những con thú không suy tư để trao cho chúng tôi cái vũ khí bản năng — nó đã tăng cường chúng tôi bằng sự đần độn, để chúng tôi không rã rời trưởc sự khủng khiếp, cái khủng khiếp nó tất tràn ngập chúng tôi nếu chúng tôi lại có một nếp tư tưởng sáng suốt và ý thức nó đã thức tỉnh ở chúng tôi cái ý thức tình bạn, để chúug tôi thoát kbỏi cải vực thẳm cô đơn – nó đã cho chúng tôi mượn cái thờ ơ của những con dã thú nào đề bất chấp mọi sự chúng tôi lúc cũng tri giác được cái thực tế và tích trữ nó như một dự phòng trước sự tàn sát của cái không. Do đó chúng tôi sống một nếp sống kham khổ khép kín hết sức là phiến diện và môt chuyện xảy ra ít khi làm nẩy  lửa. Rồi là bất ngờ một ngọn lửa khao khát phẫn uất ghê gớm bùng cháy.

Đó là những phút nguy hiểm. Chúng cho chúng tôi thấy rằng sự xắp xếp chỉ là giả tạo. rằng sự nghĩ ngơi chẳng phải là nghỉ ngơi, mà là sự tranh đấu ác liệt nhất để tìm nghỉ ngơi, Cứ nhìn cải hình thức bề ngoài của nếp sống chúng tôi, chúng tôi không khác gì giống người man rợ; nhưng trong khi họ lúc nào cũng được là man rợ, vì cái thực chất của họ là thế, và có giỏi ra cũng chỉ phát triển hơn tí nữa bằng cách sử dụng các ma lực của họ; còn như chúng tôi thì ngược hắn lại; – các nội lực của chúng tôi đâu phải được sử dụng đề đi đến tiến hóa, mà để đi đến thoái hóa, Người man rợ vốn dĩ cổ lễ, vì bản chất họ cổ lỗ, còn như chúng tôi cổ lỗ theo một chiều hướng giả tạo và do sự cố tình triệt đề. Và đêm đến, chợt tỉnh giấc chiêm bao, hoang mang ám ảnh bởi hàng ngàn hàng vạn khuôn mặt, thằng lính cảm thấy một cách kinh hoàng rằng sự yểm trợ mới mong manh làm sao, cái giới hạn phân chia nó với tối tăm mới mong manh làm sao. Chúng tôi là những ngọn lửa nhỏ nhoi nép sau những bức vách mong manh trước cơn giòng tố của tiêu tan và điên loạn, trong đó chúng tôi chập chờn le lói và lắm khi gần như phụt tắt. Rồi cái rền rền âm ỉ của chiến trận trở thành một vòng vây bao quauh cbúng tôi, chúng tôi bò vào lên chính chúng tôi và đôi mắt thao láo nhìn chằm chẳm vào đêm tối. Sự phấn khởi duy nhất của chúng tôi là hơi thở đều đều của mấy thằng bạn đang say giấc điệp và cứ thế chúng tôi chờ ban mai đến.

***

Từng ngày từng giờ, từng quả đạn và từng cái chết một chém vào cái yểm trợ mong manh này và năm tháng làm tiêu hao chúng tôi một cách mau lẹ. Tôi thấy nó đang dần dần tan rã quanh tôi. Chuyện thẳng Detering nghe mà phát đièn được.

Nó là một thắng hết sức thận trọng. Vô phúc một hôm lại thấy một cây anh đào trong một ngôi vườn. Chúng tôi vừa ở mặt trận về, và khi rẽ vào con đường đến chỗ trọ mới, trước mặt chúng tôi một cây anh đào xuất hiện, đẹp tuyệt trần dưới ánh bình minh. Không một chiếc lá, cả một đống hoa. Tối đến Detering mất dạng. Mãi mới thấy nó về tay cầm hai nhánh anh đào. Chúng tôi đùa nó, hỏi phải chăng nó đi đám cưới. Nó không đáp, nhưng đặt hai nhánh lên giường. Đêm tôi nghe nó lục đục, hình như gói ghém. Tôi cảm có cái gì bất thường mới đi lại nó. Nó nói có gì đàu và tôi bảo hắn:

«Detering, đừng có làm trò thối nghe. »

«Chà cái gì mà thối – có cái tao đéo ngủ được .- »

«Thế chứ mày đi bẻ anh đào làm gì? »

«Tao còn muốn bẻ thêm, » nó đáp, bâng quơ và sau một lúc: «Chả ở nhà tao có cả một vườn anh đào. Khi chúng nở hoa, đứng trên đống rơm nhìn xuống như cả một tấm vải trắng xoá. Độ này là hoa nở.»

«Biết đâu mày sắp được về phép. Không chừng còn được trả về làm ruộng. »

Nó gật, nhưng óc nó để đâu. Khi hứng lên, mấy cái thằng dân quê này trông mặt thật kỳ, nửa rụt rè nửa khao khát, nửa ngây ngô nửa say sưa. Để đánh trống lãng, tôi xin nó một mẫu bánh mì. Nó lẳng lặng đưa tội. Thật đáng ngại, vì bình thường nó chó đá lắm. Nên tôi mới thức rình xem. Không gì xảy ra; sáng hôm sau nó vẫn bình thường.

Có vẻ như nó nhận thấy tôi rình nó; nhưng sáng hôm sau nó biến mất. Tôi thấy nhưng không nói gì cả, đề cho nó có thì giờ, không chừng nó đang suy nghĩ. Bạn nhiều thằng đã xâm nhập Hoà Lan. Nhưng khi điểm danh thấy vắng nó. Một tuần sau chúng tôi nghe tin nó bị hiến binh dã chiến tóm, cái tụi quân cảnh dễ ghét ấy. Nó đi về phía Đức Quốc, thật là vô phương, dĩ nhiên – và, dĩ nhiên, nó còn làm nhiều cái khác một cách xuẩn ngốc. Ai thì cũng thừa hiểu rằng hắn trốn chỉ vì nhớ nhà và trong một luc loạn thần. Nhưng làm sao một toà án quân sự ở xa mặt trận hàng mấy trăm dặm biết thế? Rồi chúng tôi biệt tăm luôn thằng Detering. Nhưng đôi khi cái nguy hiềm này còn bùng nổ bằng nhiều cách khác, những cái bị dồn ép này, như từ một nồi hơi quá nóng. Chuyện thằng Berger chết thật là thảm thương. Giờ thì các chiến hào của chúng tôi bị bắn tan tành và chúng tôi có một chiến tuyến co dần, cho nên có thể nói là không còn chiến tranh chiến hào. Khi đánh đi đánh lại liên miên, mãi rồi chỉ còn một chiến tuyến nát vụn và ác chiến giành giật nhau từng hố bom một. Chiến tuyến đã bị chọc thủng, và khắp nơi đều tự lập thành những nhóm nhỏ tiếp tục đánh nhau từ các cụm hang hốc. Chúng tôi nằm trong một hốc, quân Anh đang đánh xéo tới, chúng đi vòng hông để đánh tập hậu, Chúng tôi bị bao vây. Muốn hàng không phải dễ, sương mù và khói đạn lơ lửng trên đầu chúng tôi, không ai có thể nhận ra nổi là chúng tôi muốn đầu hàng và không chừng chúng tôi cũng chẳng muốn, những lúc như thế chính thằng lính cũng không biết rỏ ý mình. Chúng tôi nghe tiếng lựu đạn nổ đến phía chúng tôi. Khẩu đại liên chúng tôi quét thành nửa vòng trước mặt. Nước mát bốc thành hơi, chúng tôi vội vã chuyền thùng tay nhau, mỗi thẳng đái vào thùng và như thế lại có nước, súng lại tiếp tục nhả đạn. Nhưng sau lưng chúng tôi đạn nổ mỗi lúc mỗi gần.

Vài phút nữa là chúng tôi đi đời. Rồi, sát bên chúng tôi, một khẩu đại liên khác rền lên. Súng đặt trong một hốc ngang với chúng tôi, Berger đã đi mò được và giờ thì phản công từ sau, thế là chúng tôi được giải tỏa và liên lạc được với hậu quân.

Sau đó, khi nằm ẩn nấp tương đối khá an toàn rồi, một thẳng hỏa đầu vận lương thực cho biết cách đấy chừng hai trăm thước có một con chó đưa tin nằm bị thương.

«Ở đâu? » Berger hỏi. Tên kia chỉ rõ địa điểm, Berger đi một lát đưa con chó về hai là bắn nó chết. Sáu thằng trước kia chắc nó đã khòng bận tâm, nó đã biết điều hơn. Chúng tôi cản nó. Nhưng nó khăng khăng đi, chúng tôi chỉ biết nói: «Mày khùng rồi,» và đành mặc nó. Vì những vụ khùng ở mặt trận như thế này trở thành nguy hiểm nếu mình không đến thằng lính nằm xoài và ghì chặt lấy nó. Khốn nỗi Berger lại cao thước tám và là thằng khoẻ nhất đại đội. Quả tình là nó điên vì nó phải băng qua hàng rào hỏa lực; nhưng cái tiếng sét nó đập xuống đâu đấy trên đầu chúng tôi đã đập trúng nó nên nó nổi cơn điên. Nó cũng đánh trúng mấy thẳng khác nên chúng bắt đầu la hét và bỏ chạy có thẳng còn đưa tay đưa cẳng đưa răng ra cào đất đề vùi mình.

***

Muller đã chết. Một thằng đã bắn thẳng vào bụng nó với một khẩu Verey. Nó sống sót trong nửa giờ, rất tỉnh táo nhưng vô cùng đau đớn. Trước khi chết nó trao sổ tay nó cho tôi và tặng tôi đôi bốt vẫn cái đôi nó thừa hưởng được của Kemmerich. Tôi đi, vì bốt vừa như in. Sau tôi là Tjaden, tôi đã hứa để lại cho nó. Chúng tòi đã chôn cất Muller được xong xuôi, nhưng chắc gì nó nằm được yên xác. Chúng tôi đang tháo lui. Bên kia có quá nhiều quân Anh quân Mỹ. Cũng lại quá nhiều thịt bò hộp và bánh mì trắng. Quá nhiều súng mới nữa. Quá nhiều máy bay. Còn chúng tôi thì hốc hác, đói dở. Lương thực quá tệ lại thêm những thức nhân tạo làm chúng tôi thêm ốm. Các chủ nhà máy ở Đức giàu to; kiết ly tàn phá lòng ruột chúng tôi. Dãy nhà cầu lúc nào cũng đông khách; phải cho những người ở nhà thấy các bộ mặt xám xit, vàng khè, thiên não, tàn tạ ở đây, những thân hình muốn xum này mà ỉa chảy vắt ra từng giọt máu, mà đôi môi run rẩy méo xệch vì đau quặn, nhe răng bảo nhau:

«Kéo quần lên không muốn nổi mày ơi- Trọng pháo chúng tôi khạc chẳng ra, đạn quá ít, nòng đã mòn bắn chẳng đâu vào đâu, mà còn toác ra cho đạn rơi ngay lên đầu chúng tôi. Ngựa lại thiếu. Các lính mới toàn là những thẳng nhóc thiếu máu cần được nghỉ ngơi, vác không nổi ba-lô, chỉ tài biết chết. Chết hàng vạn. Chúng chẳng biết gì là chinh chiến, chỉ biết đi tới để rồi bị bắn gục. Một chiếc máy bay đánh tan hai đại đội như bỡn, chúng vừa chân ướt chân ráo xuống tàu chưa kịp nghe nói đến cái gì gọi là ẩn nấp.

«Chả mấy lúc nước Đức trống rỗng, »

Kat nói.

Chúng tôi không còn hy vọng có ngày kết thúc. Chúng tôi không bao giờ nghĩ xa đến thế. Thằng lính có thể cần một viên đạn và chết tốt, nó có thể bị thương và bệnh viện là chỗ dừng chân. Ở đấy, nếu họ không cưa chân cưa tay nó, thì không sớm thì mnộn nó cũng rơi vào tay một trong số những y sỹ giải phẫu đeo Quân công bội tinh trên ve áo bảo nó: «Ơ kìa, một chân có hơi ngắn? Nếu mày gan chút mày khỏi ra mặt trận. Thằng này số dách. Tan! »

Kat kể lai một chuyện mà suốt từ Vosges đến Flanders không ai không biết, chuyện một lão y sỹ giảo nghiệm đọc các tên trên danh sách và mỗi lần một thẳng đi đến trước lão, lão không buồn nhìn chỉ nói vỏn ven: «Số dách. Ngoài kia cần lính. » Một thẳng lê một chân gỗ đến trước lão, lão nói Số dách «Và rồi, » Kat cao giọng «thằng bia bảo lão: ‘Em đã có một cẳng gỗ rồi, nhưng khi chúng bắn mất đầu em trở lại đây, lúc đó em hẳn được lắp một cái đầu gỗ và được làm y sỹ giảo nghiệm’» Câu đáp làm chúng tôi khoái trá vô cùng.

Cũng có những bác sĩ giỏi và có chứ không phải không; nhiều là khác; nhưng thế đó, bất cứ thằng lính nào một lần nào đó trong hàng trăm lần khám nghiệm vô phúc có thể rơi vào móng vuốt của một trong số những con người thich tạo anh hùng không phải là it ấy, tự hào là mình có thề biến cải những thẳng C3 và B3 thành những A1, biến mấy cũng được. Có nhiều chuyện đại loại như thế, phần lớn còn chua chát hơn. Nhưng thế đó, và chả thấy nói gì là nổi loạn hay xúi giục nổi loạn gì. Những câu chuyện rất chân thật và từng bảo trắng bảo đen: vì trong quân đội thiếu gì chuyện giả mạo, bất công, đê tiện. Vậy chứ hết liên đoàn này đến liên đoàn liên tiếp được tung vào một cuộc chiến đấu mỗi  ngày mỗi vô vọng, hết cuộc công kích này đến cuộc công kich khác dọc theo cái chiến tuyến hao mòn, rút lui, tan nát, không là gì đáng kể sao?

Từ một sự làm trò cười các chiến xa đã trở thành một vũ khí khủng khiếp. Toàn bằng thép chúng lao đến thành những hàng dài và không gì hơn chúng lại hóa thân cho sự khủng khiếp của chiến tranh.

Chúng tôi không thấy những khẩu đại bác pháo kích chúng tôi; các hàng công kích của địch là những thằng bộ binh cũng như chúng tôi; nhưng các chiến xa này là những cái máy, bánh xích chúng chạy không biết ngừng cũng như chiến tranh, chúng là tiêu diệt, chúng lăn vô tri vô giác vào các hang hốc, rồi lại leo lên không ngừng không nghỉ cả một đoàn rầm rồ, phà khói, thép đầy mình, những con vật thép bất khả xâm phạm nghiến nhừ những kẻ chết cũng như bị thương chúng tôi rùng mình dưới lớp da mỏng manh của mình trước chúng, trước cái sức nặng khồng lồ đồ sộ của chúng vũ khí chúng tôi chỉ là những cọng rơm, và lựu đạn chỉ là lửa diêm. Bom đạn, máy hơi ngat, và các đoàn xe tang nghiền nát, đói khát chết chóc. Kiết lị, cảm cúm, thương hàn giết gióc thiêu đốt chết chóc. Chiến lũy, bệnh viện, mồ tập thể chả còn gì khác.

***

Trong một cuộc tấn công, đại đội trưởng chúng tôi, Bertinck, ngã guc. Ông là một trong những vị sĩ quan anh dũng ngoài tiền tuyến lúc nào cũng dẫn đầu vào bất cứ chỗ nào hiểm nguy nhất. Ông xông xáo với chúng tôi đã hai năm không hề bị thương, nên rút cuộc một cái gì phải đến. Chúng tôi chiếm một hố bom và bị vây.

Mùi xăng mùi dầu bốc lên với mùi khói đan. Chúng tôi thấy bai tên với một cái phun lửa, một thằng vác thùng sau lưng, một thằng cầm vòi phun lửa ra. Nếu chúng lại được gần vừa tầm thì chúng tôi đành tới số, chúng tôi chưa thể rút lui. Chúng tôi khai hỏa. Nuưng chúng vẫn lầm lì tiến tới và tình trạng coi mòi nguy kịch.

Bertinck cũng nằm trong hốc với chúng tôi. Khi thấy rằng chúng tôi không thể thoát vì dưới làn hỏa lực bắn rát chúng tôi pbải bám lấy khẩu súng trường, bò ra khỏi hốc, nằm ép người chống củi tay và nhắm. Ông bắn đồng thời một viên đạn găm vào ông, ông bị hạ. Tuy nhiên ông vẫn nằm và lại nhắm;- ông đã lảo đảo nhưng lại nhắm; và rồi súng nổ đảnh tạch, Bertinck buông súng nói «Xong» và trườn lại xuông hốc. Thằng phun lửa đi sau bị trúng đạn, hắn ugã gục, rồi lửa tuột khỏi tay thằng kia, lửa bén tứ phía và hắn bị thiêu.

Bertinck bị trúng ngực. Một lúc sau một mãnh miểng văng trúng cằm và cũng mãnh ấy còn đủ sức mạnh rạch đùi thang Leer.

Leer chống lên cánh tay rên rỉ, máu chảy như xối, không ai còn biết xoay sở cách nào đề cứu hắn. Như một cái ống lủng, chỉ vài phút sau nó lịm. Giờ thì toán tiếc còn ích gì cho nó, thẳng giỏi toán nhất trường?

***

Các tháng trôi qua. Hè 1918 là cái hè  đẫm máu nhất và khủng khiếp nhất. Các ngày đẹp như những thiên thần mặc áo vàng xanh, khó hiểu, đứng trên cái vòng tiêu diệt. Ở đày thằng nào cũng biết là mình sắp phải thua. Chả cần phải nói nhiều, chúng tôi đang tháo lui, sau trận tồng công kích này, chúng tôi không còn đủ sức tấn công nữa, không còn người, không còn đạn dược. Tuy nhiên vẫn hành quân – cái chết vẫn tiếp tục.

Hè 1918 – Chưa bao giờ cái sống dè xẻn đối với chúng tôi lại hấp dẫn như lúc này; – các hoa mào gà đỏ ngoài đồng cỏ quanh chỗ chúng tôi đóng, các con côn trùng êm ả đậu trên các lá cỏ, các buổi tối nóng nực trong các căn phòng tôi tối mát mẻ, các bóng cày đen huyền bí buổi hoàng hôn, các tinh tú cùng các giòng nước chảy trào, các giấc mơ và giấc ngủ dài – Ôi sống, sống, sống!

Hè 1918 – Chưa bao giờ chúng tôi lại âm thầm đau khổ bằng là khi lại lên đường ra mặt trận. Những tin đồn đãi rùm beng ray rứt về một cuộc đình chiến và hòa bình lởn vởn trên không, chúng nằm trong lòng chúng tôi khiến sự trở lại mặt trận càng thêm đau khổ hơn bao giờ hết.

Hè 1918 – Chưa khi nào nếp sống ngoài chiến tuyến lại chua chát hơn lại đầy khủng khiếp hơn là trong những giờ pháo kích oanh tạc, khi các bộ mặt tái xanh nằm vùi xuống đất và các bàn tay níu chặt lại cái ý nghĩ: Đừng! Đừng! Đừng bâygiờ! Đừng bây giờ vào cái phút chót này.

Hè 1918 – hơi thở hy vọng tràn ngập các cánh đồng xơ xác, sự bồn chồn nóng nảy đến điên người, bồn chồn thất vọng, bồn chồn sợ chết đến tê tái tâm can, cái câu hỏi cuồng loạn:

Tại sao? Tại sao họ không kết thúc cho rồi? Và tại sao các tin đồn đãi kết thúc kia lại cứ hay lẩn quẩn?

***

Ở đây đến lắm máy bay, và chúng tự tin đến mức còn bay săn từng thằng lính một, giống như thể săn thỏ. Vì cứ mỗi chiếc phi cơ Đức bay lên là ít nhất có năm chiếc Anh và Mỹ bay lại. Vì cứ mỗi thằng lính Đức đỏi khát, tiều tụy tiến lên thì lại có năm thằng lính địch xông lại, khoẻ mạnh dồi dào. Vì cứ một ổ bánh mì quản đội Đức lại có năm chục hộp thịt bò ở bên kia. Chúng tôi không phải đánh thua, vì là lính, chúng tôi dánh giỏi hơn, kinh nghiệm hơn; chúng tôi bị đánh tan, bị đẩy lui trước quân số đông hơn thập bội. Sau chúng tôi là những tuần mưa gió trời xám, đất cháy xám, chết xám. Bước ra là mưa thấm đẫm áo trong áo ngoài; – và ngoài tiền tuyến lúc nào chúng tỏi cũng ướt đẫm. Chúng tôi không bao giờ lại được khô ráo. Những thẳng đi bốt cao buộc bao cát quanh miệng bốt để cho bùn rớt vào chậm lại. Súng ướt, binh phục ướt, cái gì cũng chảy cũng tan, đất là một đống bầy nhầy sũng nước, trơn bóng với những vũng vàng vàng và những giòng máu đỏ chảy quanh co trong đó nằm co ro những thằng đã chết với những thằng bị thương và những thẳng sống sót,

Giông tố quất xuống chúng tôi, giữa tiếng ầm ầm bỗn độn xám vàng mảnh đạn bay rào rào xen lẫn tiếng kêu như trẻ thơ của những thằng bị thương, và trong đêm tối cái sống tan tác rên rì rụng rơi trong im lặng.

Tay chung tôi là đất, thân xác chúng tôi là đất sét và mắt chúng tôi là vũng nước mưa. Chúng tôi không rõ phải chăng chúng tôi còn sống.

Rồi là hơi nóng chìm nặng vào các hốc bom của chúng tôi như một con sứa âm ẩm làm nghẹt thở và một ngày cuối hè, khi mang thức ăn đến, Kat đã gục ngã. Chỉ có bai thẳng chúng tôi. Tôi băng vết thương cho bác; hình như bác bị dập ống chân. Đạn thấu xương và Kat rên tuyệt vọng: «Mãi rồi cũng nhè ngay cái lúc cuối.

Tôi an ủi bác. «Ai biết được nó còn kéo đến bao lâu! Giờ thế là bác được thoát-»

Vết thương bắt đầu chảy máu xối xả. Tôi không thề bỏ Kat lại một mình đề đi tìm cáng. Dù sao, tôi có biết quanh đây có trạm cáng nào. Kat không năng lắm; nên tôi vác bác lên lưng đề đi đến trạm cứu cấp.

Hai lần chúng tôi phải nghỉ. Dọc đường bác đau buốt. Chúng tôi không nói gì nhiều. Tôi đã mở cổ áo tôi và thở ì ạch, mồ hôi đầm đìa vì vác nặng. Dù sao tôi cũng giục bác phải đi tới, vì chỗ này nguy biểm.

« Ta đi uữa chứ, Kat? »

« Phải đi, Paul. »

« Thế thì đi. »

Tôi đỡ bác lên, bác đứng trên một chân còn lành và tựa mình vào một gốc cây. Tôi nâng cái chân bi thương lên rất từ từ, đoạn bác nhảy một cải và tôi ôm lấy đầu gối của chiếc chân lành dưới cánh tay mình. Đi kbó hơn. Thỉnh thoảng một quả đạn rít qua. Tôi cố đi mau hết sức mình, vì máu ở vết thương của Kat chảy giòng trên đất. Chúng tôi không thể ần nấp tránh các bom đạn; trước khi đến chỗ ẩn thì nguy cơ cũng đã qua.

Chúng tôi nằm xuống một hố đạn nhỏ để nghỉ. Tôi mở bình nước cho Kat uống ít trà. Chúng tôi hút một điếu. « Thế nào, Kat, » tôi nói buồn rầu, « mãi rồi chúng mình cũng đến sắp xa nhau.»

Bác im lặng nhìn tôi.

«Nhớ khòng, Kat, bữa hai thẳng bắt trộm ngỗng? Và cái lần bác đưa tôi ra khỏi một hàng rào hỏa lực khi tôi còn là một thẳng tân binh non choẹt và bị thương lần đầu? Lúc đó tôi khóc dữ. Kat, thế mà đã gần ba năm rồi». Bác gật.

Cái đau khổ phải cô đơn lại dâng lên trong tôi. Kat mà đi khỏi là tôi chẳng còn một thẳng bạn nào.

«Kat, dù sao chúng mình phải còn gặp lại nhau, nếu hoà bình đến, trước khi bác trở lại. »

«Liệu chú mày có cho tao sẽ lại được đánh dấu A1 với cái cẳng này không? » bác hỏi chua chát.

«Được tĩnh dưỡng rồi nó lành. Gân cốt không sao. Không chừng khập khiễng chút đỉnh. »

«Cho tao thêm điếu thuốc, » bác nói.

«Không chừng sau này chúng mình cùng làm gì với nhau, Kat? » Tôi khổ tâm hết sức, không thể nào mà Kat, – Kat bạn tôi, Kat với đôi vai khom khom và bộ râu mép lưa thưa, Kat, mà tôi biết hơn là biết bất cứ ai khác, Kat mà cùng tôi chia sẻ mọi nỗi suốt mấy năm nay – không thề nào mà không chừng tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại Kat.

«Dù sao cũng nhớ cho tôi địa chỉ nhà nghe, Kat. Và đây là địa chỉ tôi, để tôi ghi cho»

Tôi viết địa chỉ bác vào sổ tay. Mới giờ mà tôi đã cảm thấy bơ vơ trơ trọi biết bao, mặc dầu bác vẫn còn ngồi bên tôi. Phải chi mình tự bắn mình vào chân để được cùng đi với bác?

Bỗng Kat khò khè và mặt tái hẳn. «Ta đi thôi, » bác lắp bắp.

Tôi nhảy lại, nóng lòng giúp bác, lai vác bác lên lại cổ chay và rồi bước đều đều chầm chậm, đề khỏi xóc chân bác quá nhiều. Họng tôi rát bỏng; mọi cái nhảy múa đỏ đen trước mắt tôi, tôi cố lảo đảo bước trông đến thiều não và mãi rồi cũng đến trạm cứu cấp.

Vừa đến tôi ngã quị, nhưng còn đủ sức ngã xiên về bên chân lành của Kat. Vài phút sau tỏi lại đứng lên. Chân tay run lầy bẩy. Tôi lần mài mới lấy được bình nước tu một hơi. Moi tôi run ray cố tu. Nhưng tôi mỉm cười – Kat được cứu thoát. Một lúc sau tòi mới dần dần nhận ra các giọng nói hỗn độn bên tai mình.

« Rõ anh phi sức rồi, » một anh y tá nói.

Tôi nhìn anh bàng hoàng.

Anh ta trỏ Kat. «Hắn chết cứng rồi. »

Tôi không hiểu. «Chỉ có trúng ống chân mà,» tôi nói.

Anh ta vẫn đứng yên. «Cả đây nữa. »

Tôi quay lại. Mắt tôi còn mờ, mồ hôi tôi lại toát, nó chảy trên mí tôi. Tôi đưa tay quẹt và nhìn chăm chăm vào Kat. Bác nằm bất động. «ngất, » tôi thốt.

Anh y tá huýt sẽ. «Tôi biết chứ. Hắn chết rồi. Các tiền không nào.»

Tôi lắc đầu: «Không thể thế được. Mới mười phút trước đây tôi trò chuyện với bác ấy mà. Bác ấy ngất đó thôi. »

Tay Kat còn ấm. Tôi luồn tay dưới vai bác để xoa màng tang bác với chút nước trà. Tôi cảm thấy các ngón tay tôi ươn ướt. Khi rút tay ra khỏi sau đầu bác, thấy tay dính máu. «Thấy chưa.» Anh y tá huýt một lần nữa qua hai hàm răng. Dọc đường tôi khòng dè Kat đã bị một mảnh miễng găm vào đầu. Một cái lỗ nhỏ, phải là một mảnh miễng rất nhỏ chạy lạc. Nhưng thế cũng đủ. Kat chết rồi.

Tôi chầm chậm đứng lên.

«Anh lấy sổ lương và các đồ vật của bác ấy đi chứ? anh cai hỏi tôi. Tôi gật và anh ta trao cho tôi.

Anh y tá chưng hửng. «Các anh không họ hàng chứ? »

Không, chúng tôi không họ hàng. Không, chúng tôi không họ hàng. Phải chăng tôi bước? Phải chẳng tôi còn đôi chân? Tôi ngước mắt, tôi để chúng chạy quanh và tôi quay lại với chúng, một vòng, một vòng, và tôi đứng giữa. Mọi vật đều như thường. Chỉ có anh lính Stanislans Katczinsky đã chết. Rồi tôi không biết gì nữa.

Bài thơ dài

http://www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 May 2026

Đó là con đường nhỏ nằm ở ngoại thành, bên hông cài đặt thưa thớt nhà cửa, mái ngói phủ rêu xanh ẩn mình sau những cây lưu niên luôn dày đặc bóng lá bao che, thường trực ôm giữ sự quạnh vắng. Con đường không mấy dài, đã thế nó bị cắt nhiều đoạn bằng sự hiện hữu của một vài am miếu chẳng biết thờ phượng những thần linh nào, kiến trúc cổ xưa, vách vôi bạc màu nhưng những chân nhang thì luôn mới, ít khi nguội lạnh cọng khói xám trườn thân dật dờ, xô đẩy sự doạ dẫm trong câm nín trên từng nấm mồ vô chủ rải rác đó đây. Sánh đôi với đường vắng là con sông ngoài kia tự động bẻ ngoặt chia nhánh vào, đòi vươn mình ra cửa biển, mực nước thấp vào hè và ngấp nghé bờ, dâng cao rất nhanh vào mùa đông để chẳng mấy lâu thuỷ thần giận lẫy phật lòng làm tình làm tội. Bình thường, diện mạo nó chỉ thay đổi vào bốn chữ vĩnh hằng: Nắng đục mưa trong. Ở đâu có nước ở đó có cá, ở đâu có sông ở đó có đò nổi trôi, cắm dùi. Muôn đời sông nước đều thuỷ chung nuôi cá và người, đơn giản để nghĩ vậy. Đò có gái bán hoa, khách làng chơi xuống ngủ qua đêm khám phá thêm chuyện bí mật khác: Mùa đông, những tối mưa nghiêng sợi vãi khói trắng mịt mờ đầy sông, lúc ấy con nước sao ấm lạ. Ấm như thanh củi vừa tàn cháy hết độ dài dưới đít một cái nồi nhôm chưa làm sôi tăm dung dịch đang chứa. Có thể trần truồng dạng chân ra vốc nước kỳ cọ lau mình lau mẩy vệ sinh cheo leo trên trường lưu thuỷ mang tên dòng Hương. Đã là hương thì không hẳn đều là hương thơm. Mọi vật ở đời luôn có hai mặt, sấp ngửa, thiện ác, đẹp xấu.
Không rõ từ bao giờ trên con đường cô tịch dễ đi vào lãng quên ấy hiện mọc lên một võ quán chuyên về Nhu đạo, dựng bảng hiệu mang tên Suzuki. Khác với Không thủ đạo (Karaté) thuần cương, Judo là thứ nghệ thuật mượn nhu để khắc chế cương, lấy tĩnh chế động. Nhờ những môn sinh chí thú việc trau dồi võ thuật siêng giỏi chân tới võ đường, dần dà chính họ đã làm cho con lộ đìu hiu nọ có sinh khí, vơi bớt sự trầm mặc, chộn rộn thong thả ghé ngang.
Võ đường Suzuki cắm đặt nhiều địa bàn mà chốn đây chỉ là một chi nhánh, trao quyền điều hành cho một sư huynh huyền đai đệ nhị đẳng coi ngó, thu nhận môn sinh, truyền đạt công phu với khẩu quyết: Trước là giúp cơ thể khoẻ mạnh, đi tới đích cuối là nguyện giúp đời, nếu có thể. Kỳ dư tuyệt chẳng ỷ mạnh hiếp yếu, đã là con nhà võ thì phải am tường công đạo, rèn luôn ý chí một sự nhịn chín sự lành. Oán thù nên cởi ra chẳng nên trói vào. Đó không phải là tinh hoa của nhu thuật sao?
Tuy mang tên Lực nhưng thể trạng thằng con trai 13 tuổi trông ốm yếu, trắng da dài tóc như bị bà mụ bắt lộn. Mẹ không có ý kiến nhưng cha Lực, người hằng tin khẩu quyết “một tinh thần minh mẫn nằm trong một thân thể tráng kiện”, ốm o xo bại trói gà không chặc là điều ông luôn tuyên án. Giữa mâm cơm chiều, ông tự mình đưa ra phán quyết, ngày mai ta sẽ chở mi tới Suzuki làm lễ nhập môn, có tốn kém tiền nong bỏ ra bao nhiêu ngân lượng ta cũng vui vẻ thuận lòng chẳng lấy đó làm điều, làm trai cho đáng nên trai. Không một ai có ý kiến, anh chị em Lực thảy ngồi êm ru, nhai cơm lặng lẽ. Cha nói với mẹ: Ông Tá, đồng nghiệp trong sở làm cũng đã ghi danh cho con theo học, là con gái, lá ngọc cành vàng nết na thuỳ mị mà cũng xông xáo trui rèn thiệt vàng không sợ lửa, một trang nam tử hán há dễ phải chịu kém thua, mất mặt nai gà tôm cá bầu cua.
Sau khi thoả thuận một số điều lệ căn bản, vì môn sinh còn thuộc hạng tuổi vị thành niên nên cha Lực phải tự tay ký tên vào dưới lá đơn: Nếu nhỡ vô tình bị đui què mẻ sứt trong khi tập luyện thì võ đường hoàn toàn không chịu trách nhiệm, phụ huynh chớ kiện tụng lôi thôi. Cho địa chỉ để tìm mua sắm võ phục, đắt giá khó sờn rách thì made in Japan nguyên bổn, giá cả phải chăng thì hàng nhái sản xuất ở Chợ Lớn, hoặc có thể mướn ngay vàng thau thật giả tại võ quán. Học phí đóng mỗi đầu tháng, nên nhịn ăn trước khi dùi mài võ thuật, đợi tiêu tán hết calories rồi dung nạp ăn trả bữa cũng chưa muộn. Tên Lực được ghi vào sổ, nằm sau số 16. Một dọc dài toàn cả đàn ông con trai, riêng số 13 mỹ danh có lót chữ thị. Trần Thị Trường Thi. Như vậy, cứ theo như truyện chưởng mà luận thì Lực sẽ gọi Thi bằng sư tỷ. Vị sư tỷ này chắc là con ông Tá làm chung chỗ với cha ta. Chứ gì nữa, còn ai trồng khoai đất này?
Cứ theo thứ lớp màu đai thắt quanh bụng mà định rõ học vị: Mẫu giáo mầm non như Lực thì đai trắng, kế đến Vàng, Cam, Lục, Xanh, Tím, Nâu, Đen. Đẳng cấp kia Lực thấy in trên tấm poster dán ở cửa vô ra, đồng môn trong võ đường ngoài vị đại sư huynh thay mặt chưởng môn là nhị đẳng huyền đai, lố nhố trở xuống chưa thấy có ai thắt đai Tím cả, có nghĩa là 15 tên tập họp trên 8 tấm tapis ráp lại kia chưa ai đạt tới 3 phần hoả hầu, thảy đều chân ướt chân ráo mà tới hồi làm chủ được thắt lưng màu đen e đường dài kinh qua nhiều gian khó, lỗ đầu dập trán dễ như chơi, chẳng rõ tính mạng có như ngàn cân treo sợi tóc? Tập té, tập bay người, tập nắm chéo áo ghì siết, tập gạt chân, tập đòn hông, đòn vai, đòn hy sinh. Một món quan trọng không kém: Tập thở, định thần, tránh phân tâm. Có lẽ bỏ suốt cả đời vào việc tầm sư học đạo, Lực sẽ mãi phân tâm rối loạn kinh mạch khi bị kêu ra song đấu với sư tỷ Trường Thi. Vừa mới sửa võ phục cho ngay ngắn, vừa xong nghi thức cúi đầu chào nhau, thoáng cái hai tà áo của sư tỷ đâm xộc xệch hở hang. Phía trong là chiếc áo thun bó lấy hình thể đẫm ướt mồ hôi. Nội quy không cho sư tỷ mặc áo nịt vú cho nên… (thôi, chuyện đồi núi lũng khe của con gái thì ai nấy cũng đã tường, kể ra làm chi cho tốn giấy!).
Lực chỉ ôn luyện môn tập té sao cho đúng cách an toàn, cứ đứng yên cho sư tỷ tha hồ sử dụng đòn hông, đòn vai, quăng, quật, đôi, ném. Lực rất thích một nhân vật trong truyện kiếm hiệp của Cổ Long dàn dựng, nó lập thệ suốt đời hành hiệp quyết không giao đấu cùng mỹ nhân, cho dù người đẹp kia là một trong tứ đại nương gian ác giết người không gớm tay, cần phải trừ khử cho giang hồ bớt cảnh gió tanh mưa máu. Đông phương bất bại là thế mà Tây phương (cực lạc) cũng lập ngôn xêm xêm: Chớ nên uýnh đàn bà dù với một cành hồng. Nhưng mà nguyện làm cái bị thịt mãi cũng không xong với đại sư huynh, ông đứng ngoài tấm thảm rộng vòng tay quan sát nãy giờ. Lực, em phải thi thố tài nghệ lâu nay tích luỹ, phải nương vào sức mạnh của đối thủ để tìm lợi thế phản đòn, cứ trơ trơ mắt thị làm phỗng đá xuôi tay cho mệ nuốt là điều tối kỵ. Cung kính không bằng phụng mạng, Lực nghe theo, thi triển cầm nã thủ, xém chút xâm hại tới nhũ hoa của sư tỷ, ra sức kéo áo đối tượng vào lòng mình, dùng đòn hông không được, lợi dụng sự trì kéo phản xạ của đối phương, Lực dùng chân gạt té sử tỷ xuống, xong cái phủ người nằm lên kẹp cổ khoá cứng toàn bộ khối thịt thơm tho mềm mại ấy. Nạn nhân vùng vằn ngang đâu ta trườn người lấp che ngang tới đó. Gái thở bấn loạn ra sao, trai hút ngay dưỡng khí ngay tắp lự, may mà Judo chẳng dạy môn Hấp Tinh Đại Pháp, chứ nếu có hẳn ta đã vui thú mà môi tìm môi dán cứng sau khi đã sông liền sông núi liền núi cô lại thành hình khối, nhập chung hai lãnh thổ từng đứng riêng biệt. Tóc bối gọn sau ót của sư tỷ bung ra, chảy rối trên tapis êm ái, mặt đỏ hồng nửa hổ thẹn nửa tức tối, tim đập hối thúc bấn loạn về hoạt cảnh có vẻ như chỉ diễn ra trong phòng the và Lực thôi bu như sam khi sư tỷ đập tay xuống mặt thảm ra dấu chịu thua. Đại sư huynh đứng ngoài đấu trường gật gù xem chừng tán thưởng thằng môn sinh sạch nước cản đã xử sự theo kiểu đường đường là danh môn chính phái. Nếu bàng môn tả đạo hẳn hắn đã vung vít ba đường quyền, điểm huyệt các thứ bậy bạ nằm ngoài sách vở cốt nước đục thả câu, mượn gió bẻ măng hoặc mượn đầu heo nấu cháo. Thân thể Trường Thi nhỡ ô uế thì chẳng biết phụ huynh có tới võ đường kiện tụng làm rách việc không? Ô uế cũng tuỳ vào từng giai đoạn sống mà tranh luận, thời nay định ra ô uế thì rùng rợn lắm chứ thời xa xưa chỉ cần nằm đè lên người nhau thì đã là một hư hao đáng phàn nàn dù y phục vẫn còn nguyên vẹn chưa sút một hạt nút, vẫn đậy che kín bưng ngọc thể. Xì, đã mang tiếng là khổ luyện công phu thì vật nhau đụi đụi gát chân chèn tay chỉ là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là hồi nào gióng ra câu hỏi: Thằng súc sinh kia, các hạ có tơ tưởng tình ý sắt son với bổn cô nương chăng? Thích tắm rửa tẩy trần rồi cùng nhau bày nhang đèn quỳ dưới trời rộng mà lập thệ có phúc cùng hưởng có hoạ cùng gánh?
Cuối tuần, học và hành vất vả hơn, thời khoá biểu có khi chấm dứt vào lúc 10 giờ. Tuy con nhà võ, tuy đã thắt đai vàng gần thi lên Cam nhưng người con gái tên Trường Thi vẫn thấy ngán nếu đi đơn thân trên độc đạo ngang qua mấy cái am miếu lập loè những con mắt đỏ của lẻ loi nhang tàn thắp khuya. Ông già của hai đứa mình là bạn đồng liêu, bồ tèo với tui là bạn đồng môn, liên hệ tuy chưa thắm thiết nhưng ngẫm ra cũng có chút gì gắn bó. Trường Thi ra khác, dài dòng văn tự y như truyện của Kim Dung mệt mề lê thê trên từng cây số. Lực nói, tui sẽ đưa Thi về cho dù mưa bão có kéo qua đây, ma quỷ thì nhằm nhò gì. Có sợ thì bấu chặt tay tui, có ú tim thì nhắm mắt lại, hồi nào tui hô xong, thì hãy mở mắt ra. Xét theo đơn trương về mục kê khai ngày sinh tháng đẻ thì ta hơn hiền đệ tới hai tuổi (gái hơn hai trai hơn một?), xét theo thời khắc nhập môn thì ta dài lâu hơn đệ những hai tháng. Ta thắt đai vàng trong khi đệ vẫn còn đai trắng. Tóm lại, theo đạo lý mà luận thì đệ phải khiêm cung gọi ta bằng sư tỷ. Mỗi khi sủ tỷ nói, tiểu đệ phải nghe theo, có đúng không nào? Lực cười: Đúng đứt đuôi con nòng nọc luôn á. Đại trượng phu thì thường tha thứ những lầm lỗi do hồng nhan gây ra. Thằng Dương Quá vì yêu Tiểu Long Nữ mà chín bỏ làm mười khi biết sự thật đau lòng rằng người sở hữu sắc đẹp chim sa cá lặn kia từng bị thằng đạo sĩ thúi phái Võ Đang trấn lột đi cái ngàn vàng vào đêm không trăng sao ở sườn đồi hoang lạnh chẳng có bóng dạ hành xớ rớ ngang qua.
Cái đó người bình dân kêu bằng “quân tử Tàu”. Và văn chương kiếm kiệp bàn thêm tới quân tử: Mười năm trả thù cũng chưa muộn! Ô hô, ai tai, đã là quân tử mà sao thù dai đến thế? Mười năm tình cũ em lên xe hoa mà giờ này tim ta vẫn còn rỉ máu. May mà ta quân tử chứ không thì hẳn đã đi xăm xăm vào tiệm Tattoo mà chơi ngay hàng chữ mực xanh vào bắp tay: “Hận đời đen bạc. Thù này phải trả”. Chưa hết đâu, phải hắng giọng nữa chứ: Hừ, rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt! Sẵn trớn, dông dài thêm: Ta những muốn tha cho các hạ, chẳng muốn động thủ xuống tay nhưng nghiệt nỗi là thanh bảo kiếm này không bằng lòng thế. Âu cũng là số trời đã định, Diêm vương ở địa ngục đang lật sổ chuẩn bị chấm bút vào bình mực để gạch tên các hạ. Còn gì để nói. Kiếm quang vung lên, trùng trùng bao ánh sao phủ chụp. Vị đại hán nọ đổ thân xuống, mắt trừng mở chẳng hiểu ra chiêu thức của thứ kiếm pháp độc tôn kia, hồn du địa phủ.
Khi Lực leo lên tới đai xanh lục thì Trường Thi thích Lực đổi cách xưng hô, bỏ đi sự sáo mòn xa cách sư tỷ cổ xưa. Điền thế, xin hãy gọi cô ấy bằng muội. Lực không rõ vì sao có người kêu hột ô mai thành cục xí muội, dù cả hai thứ đều mặn đều chua giống nhau, khi lè lưỡi ra chát cả miệng màu phẩm hồng ăn bám. Ngon ở chỗ nào? Chẳng phải là con gái nên Lực “thực bất tri kỳ vị”. Tuổi ô mai kéo dài tới ngang đâu thì chấm dứt? Lực bù trất. Thể hình Trường Thi nẩy nở, có thể vì vậy mà cô bỏ ô mai để khoác thân xí muội chẳng chừng?
Huynh cà chớn quá, tuồng như chưa hề đọc qua võ hiệp kỳ tình giả tưởng? Muội này là thế cho em gái và huynh cũng tựa như anh trai. Lực làm bộ gật gù tuồng đã đọc suốt một trang bí kíp, bí cấp kia coi thường sự cách biệt tưổi tác, huynh nhỏ thua muội, muội lớn hơn huynh nhị niên, xưng hô vậy có đúng với tiểu thuyết kỳ tình giả tưởng? Đứa cà chớn còn có khi mang thêm ngoại hiệu đồ cù lần nếu “huynh” không theo kịp cách bày tỏ của muội. Bực cả mình, bổn cô nương vẫn mong kết giao với huynh đài để thọ giáo, nào ngờ các hạ không thuộc danh môn chính phái! Thế thì khi chong đèn huynh gầm đầu đọc sách truyện gì mà lú lẫn thần hồn đến vậy? Thưa cô nương, tại hạ thường khi vẫn đọc Z-28.
Tiểu muội cười một tràng dài nghe như lệnh vỡ, nội lực quả thâm hậu: Ừ, tuy cũng xác chết loạn giang hồ nhưng thức ấy khó mang lại sự lâm ly. Cà chớn cọng với cù lần cọng thêm phàm phu tục tử, ba thứ lăng nhăng nó quấy ta đưa được tiếng thỏ thẻ: Muốn lâm ly thì huynh ôm muội trong vòng tay mắt cận môi kề để khỏi bị mắng “người gì cà chớn quá thể, đã bỏ lỡ biết bao thời cơ, chẳng tiên hạ thủ vi cường gì trơn trọi” Xằng bậy! Muội quát, mày lá liễu nhăn, mắt phượng long lên, ơn trời là trong tay không nắm lệnh bài “Lệnh xé xác”. Lâm ly có năm bảy đường, cớ sao các hạ lại giở thói tà tâm của phường hắc bạch giang hồ?
Trong các pho mang nhãn hiệu cầu chứng Z-28 ít có cảnh bắt bẻ nhau, mồm miệng lý sự lôi thôi rườm rà và dài dòng văn tự, chỉ có bàn tay karaté chém êm vào cổ, thi triển món dao găm hoặc súng ngắn vừa cài ống hãm thanh vào nòng. Kết liễu nhanh chóng, không nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, chẳng có thời gian mà ngắm từ lỗ chiếu môn tới đỉnh đầu ruồi khẩu súng vừa lôi trong nách ra. Ạch, đụi, oái; xong cái đoằng hoặc bụp. Đêm hôm thì lẻn vào đứng sát giường, trước khi lãy cò nhớ chêm gối vào mặt con mồi. Sứ mạng hoàn thành, êm thắm. Cọng lông rơi ra từ chiếc gối chưa rớt xuống mặt nệm thì sát thủ đã biến khỏi căn biệt thự kín cổng cao tường. Như vậy, há chẳng có chút nào lâm ly gay cấn?
Đôi lúc đồ cù lần nhìn ra ở Z-28 chút cà chớn nào đó bèn đổi sang thứ đẳng cấp hơn: The Godfather của Mario Puzo chẳng hạn, Bố Già do Ngọc Thứ Lang chuyển dịch tuyệt cú mèo sang tiếng Việt. Michael, con út cưng của bố nói cùng thuộc hạ: “Mày không hiểu được nỗi đớn đau của sự bội phản đâu. Phản bội chẳng bao giờ đến từ phía kẻ thù”. Một nhân vật khác: “Con cầu xin Chúa cho con được sở hữu một chiếc xe nhưng con biết điều này nằm ngoài khả năng của ngài, vì thế nên con liền đi ăn cắp xe và cầu xin sự thứ tha từ Chúa. Amen”.
Trong võ đường có một sư huynh vừa thắt đai nâu, eo thon ngực nở y như kiến càng. Vị “huynh đài” này coi mòi thầm yêu trộm nhớ tới muội Trường Thi, giận cá chém thớt hay sao đó nên ảnh ưa kèm bài cho Lực, từng thi triển đòn vai đôi Lực xuống cật lực, thấy sao quay mòng, may chưa thổ huyết, thất khếu chưa trào máu. Món công phu nọ kêu bằng đòn ghen tuông, xuất chiêu nhằm dằn mặt con kỳ đà cản mũi. Là quân tử, Lực nói với Thi: Hừ, mười năm trả thù chưa muộn! Thi la lên: Trả thù bằng cách gì? Chẳng lẽ áp dụng hạ sách “nhất đẳng huyền đai không bằng dao phay chém lén”? Huynh đừng khiến muội thất vọng, muội đã bày tỏ thái độ thì ắt anh ta phải thông hiểu. Ai đời mà anh ta ngôn như vầy: Tên em là Trường Thi, thức đó thì anh chẳng ngộ được, nhưng anh biết chắc một điều, con gái mà trường túc thì bất chi lao. Sau này em lấy chồng thì hẳn là vị tình lang đó phải khéo tu ba đời, chàng có gầy rạc mặt xanh nanh vàng thì cũng lấy đó làm hạnh phúc vậy!

Ba mươi sáu kế chỉ tìm ra diệu kế là tẩu vi thượng sách. Nếu cũng thắt đai nâu cùng đẳng cấp không chừng muội sẽ kêu ảnh ra tỉ thí một phen để minh chứng chánh bao giờ cũng thắng tà. Người gì đâu phát ngôn nghe nực gà.
Rồi đến lúc muội bỏ con đường xưa thường đi, như kiểu rửa tay gát kiếm lánh xa chốn giang hồ nhiều ân oán. Vị huynh đài to con thắt đai nâu kia là người buồn bã ra mặt, chận Lực lại trước cổng võ đường cốt truy tầm một lý do khả dĩ tin được, rặn hỏi mãi đành xuôi tay, chỉ ngửa mặt vào đám mây bay trách móc: Lỗi tại mi mọi đàng. Mi quả là đứa trẻ người non dạ, nếu nàng có tình ý với ta thì giờ này võ đường vẫn còn rộn tiếng oanh vàng bóng hồng thoăn thoắt vào ra. Nàng bỏ đi ta thật chẳng còn lòng dạ nào mà vung cước múa quyền. Lực ngó ra dòng sông đổi màu con nước chảy ngang, xém tí nữa làm môn đệ phái Thiếu lâm để đọc khẩu quyết: Tội lỗi! Tội lỗi!
Tội lỗi thường đi với nghiệp chướng? Mới có 19 tuổi, Trường Thi phải lên xe bông. Kiểu cách kêu bằng đường đột sang sông để con sáo bất ngờ sổ lồng bay xa. Em đi sóng gợn xô bờ, bên kia nắng đổ bất ngờ cơn mưa, nghe chừng rất lạ buổi trưa, chiều về đêm trở kinh thưa lời buồn. Giữa mâm cơm cha Lực đưa ra tấm hồng thiệp không quên phụ chú: Điệu bộ thằng cha Tá như gà nuốt giây thun, như ngồi trên trách than đỏ lửa, hoá ra là cục cưng của thằng chả sẽ thành hôn với con trai ông giám đốc sở làm, mặt vênh mày váo hết ca cẩm đời là bể khổ mặc dù con lão dậm cẳng tình là giây oan! Thiệp mời có ghi “sự hiện diện của ông bà là niềm vinh dự của chúng tôi”. Bà nói bà không đi, ông mang thằng Lực theo cùng thì cũng khớp với tình hình, vì dẫu sao hắn với cô dâu là bạn đồng môn một dạo. Để khỏi lôi thôi, mẹ Lực đích thân mang bộ đồ bảnh nhất mà Lực có ra ngồi bên giếng giặt, vò, phơi, ủi. Áo trắng dài tay nhét vô quần màu xanh đậm cứ y như học trò hiền ngoan chuẩn bị bước lên bục nhận phần thưởng cuối niên học. Chỉ nhiêu thôi cũng đã tươm tất trong khi ba Lực thì quá nhiêu khê những vét tông cà vạt, tóc bóng lộn chải tém lui sau. Đỏm dáng đường bệ đèo chở lùi xùi hồn nhiên trên xe gắn máy trực chỉ nhà hàng đã hoàn tất việc trang trí mặt tiền bằng những bông hoa hồng đỏ kết nối búi xờm xờm. Lực như nghe rõ hợp âm có ai vừa cất giọng hát: Hôm nay ngày cưới em… Không có xác pháo tan tành. Nếu vọng ngân tạp âm của chuỗi tiếng nổ nào mơ hồ thì hiểu ngay ra đó là hoả tiễn 130 li, đại bác, sơn pháo, súng cối, súng phóng lựu từ hướng núi rừng tây bắc rót về vô tội vạ, chúng gửi nhanh một thông điệp sắt máu: Sẽ có xác chết loạn giang hồ và môn phái búa liềm sẽ làm bá chủ võ lâm.
Cô dâu trông rất đỗi cô đơn, chừng như cô bị ép đặt vào một tình huống nan giải, tiến thoái lưỡng nan. Khó khăn như nữ Judo bị vây khổn bởi bốn nam Karaté mà theo cách tả của truyện kiếm hiệp là kẻ đứng ngoài có muốn tạt nước vào, áo cô dâu cũng không bị ướt. Nôm na là trùng vây chẳng có khe hở, con ruồi bay vào không lọt. Thế nhưng tia mắt của người mặc áo đầm trắng muốt đã tựa món Nhất dương chỉ vừa xuyên thủng tất cả mọi vật cản khi nhìn ra thằng con trai mà bạch y nữ hiệp từng xem là tiểu đệ có lúc lại đôn lên thành sư huynh. Trong sát na, cả hai như cùng thi triển khinh công ảo diệu, trong một chớp mắt Lương Sơn Bá đã dừng cước bộ sát thân Chúc Anh Đài. Mỵ Nương ngắm Trương Chi, Lan ngó chăm vào mặt Điệp. Hoàng Dung nghía Quách Tĩnh, Trường Thi nhìn Lực: Cảm ơn đã tới với muội, tuy là nhân vật chính nhưng tuyệt đối muội chẳng thấy vui chút nào. Bấy chầy huynh có gì lạ không? Lực ngó mặt hoa da phấn mà ai đã hoá trang vào dung mạo Thi, mỹ phẩm đã tàn phá nét đẹp ướt át của một người nữ vừa vận 12 thành công lực để quăng Lực xuống đất một cú tựa trời sập. Ê ẩm trong sướng sung, tối tăm mặt mũi trong hạnh phúc. Bây giờ Thi đang chuẩn bị thành bà này bà nọ, xin hãy loại bỏ chữ dùng muội huynh đi. Trước đây sợ làm Thi buồn nên chẳng nói ra, rằng những thứ đó nghe nó rất chi cải lương, sến rất mực. Bây giờ mình chúc Thi an vui, tận hưởng cuộc sống mới bên chồng thì liệu Thi có mắng mình là đồ cù lần không? Mình vẫn cà chớn khi tới giờ này có nhiều chuyện vẫn chưa ngộ thấu.

Trường Thi từ tốn cởi đôi găng trắng ra, dùng tay trần để nắm lên mười ngón khờ khạo của thằng con trai kém tới hai tuổi đời. Khi chạm tay vào nhau ở những lần song đấu cứ có ý tưởng rằng đó là một thứ tựa như Thiết sa chưởng, vô tri vô giác, nhưng giờ đây thì rõ là Nhung Lụa chưởng, Ảo diệu công phu, xúc giác đón nhận sự bồi hồi truyền lan và xúc giác muốn thu giữ một cơn sóng dịu dàng vừa tạo ra, tràn bờ. Chỉ riêng hành động tháo găng thôi cũng đủ khiến Lực lao đao. Trong đôi mắt trong veo của cô dâu vẫn nhốt giữ một gương mặt dại khờ chao đảo khổ luỵ. Thi có biết chuyện vừa xảy ra cho anh chàng thắt đai nâu trong võ đường ngày ấy vẫn thầm đeo đuổi Thi? Chuyện chi? Kể cho Thi nghe đi, ảnh đã lấy vợ? Không, mai này chẳng biết đường vợ con có êm chăng, bởi anh ta bị chấn thương nặng ở hạ bộ. Số là khi đi uống cà phê anh gây chuyện cùng người ngồi bàn kế bên, lời qua tiếng lại cuối cùng cả hai đòi ra sân dùng võ lực để giải quyết mâu thuẫn. Không quá năm phút anh ta bị đo mặt đường, khách bàng quan đưa lời bình: Hình như bên thắng cuộc là người của Thất Sơn thần quyền? Kẻ khác nói: Tui ngờ là đệ tử của Vô vi nam, Việt võ đạo. Lại có đứa át giọng: Khờ quá, võ Bình Định đó mấy cha!
Rồi anh ta ra sao giờ này? Đã xuất viện, vị đại sư huynh trông coi võ đường có ghé thăm, nhận định: Nó ra tay quả có tàn độc, nó tung đòn hiểm bằng cước pháp của Taewondo. Nội lực xuất ra có thể làm bể tới hai viên gạch. Có ai ngờ được con đường tu luyện võ thuật của anh ta chấm dứt bằng một kết thúc tồi tệ đến thế! Xa lánh hết để đi lập gia đình như Thi xem ra êm ấm hơn cả! Thi hỏi điều này, Lực phải thực lòng khi trả lời, những ngày vật lộn cùng nhau, đi bên nhau trong đêm trên đường vắng… có gây cho Lực một cảm tình dành riêng cho Thi? Thi không có giác quan thứ 6? Nếu mình đổi tên họ của cô dâu thành Trần Thị Thương Thi thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Thì cô dâu đó sẽ cho người đổi Trường thành Thương những gì mà anh ta muốn sở hữu, tự nguyện trao gửi.
Trước khi mang lại cặp găng trắng vào đôi tay, Thi dùng ngón út móc nghéo vào tay Lực thế một lời hứa. Cô dâu chẳng thể đứng ở vị thế trông bất chính như vậy được lâu, cũng như thành phố không thể kéo dài thêm sự an ổn phút giây nào nữa. Người ta hốt hoảng đồng loạt bỏ trốn, bỏ của chạy lấy người, từ sông Bến hải tới tận cùng Cà Mau mọi thành phố đều bỏ trống, mặc xác. Tại sao khi bị kềm kẹp, sống với áp bức dân chủ bị chà đạp đến khi nghe tin được giải phóng sung túc tự do ấm no mà tất thảy bá tánh đều một mực chối bỏ, mặt cắt không ra giọt máu để tìm sinh lộ trong tử lộ? Chả lẽ bá tánh đều khiếp sợ không muốn bị lùa đi học môn kí kíp Tịch Tà kiếm phổ? Hoặc học ngược Cửu Âm chân kinh từ tờ cuối lần giở lui tờ đầu. Cái thế thiên hạ khi bình thường là người chuyển đổi thành đỉnh cao lông lá của vượn?
Ba mẹ Lực một lần nữa, cực lòng toan tính cho đứa con từng thụ giáo môn Nhu đạo hôm xưa, nay xuất bốn lạng vàng gửi gấm theo ghe thương hồ nổi trôi để hắn có thể gia nhập môn phái Cái bang. Lực cải trang ăn mặc áo xống rách bươm có nhiều túi nửa nằm nửa ngồi trên con đò chở rong xuôi về cửa biển để lên “taxi” nhìn ngó biển rộng cho thoả chí, thôi chôn đời ao tù nước đọng. Trông lên bờ, ngang qua am miếu cỏ xác xơ đã nguội lạnh những chân nhang, ngóng lên võ đường Suzuki buổi nọ đã thấy chủ mới cắm cờ xí quang quác Tổ hợp chăn nuôi heo lợn. Tấm bảng gỗ khắc tên đứa có liên hệ với CIA đã bị lấy xuống chẻ nhỏ làm củi và con đường vốn buồn nay chừng như đắp thêm vào, ghẻ lạnh một nỗi niềm ngó thắt tim.
Sóng gào trong đêm lạnh, táp mạn thuyền vỡ bọt trắng xoá, lênh đênh, chóng mặt. Lực nhớ ngón tay móc vào nhau và tiếc uổng về một lời thề chưa có dịp tôn trọng thực thi, đền bồi, trao gửi, hiến dâng. Người chung cuộc hải hành có bà lâm râm A di đà Phật cứu khổ cứu nạn, mãi miết, dài hơi, không gián đoạn. Nếu vô phúc bị hà bá gọi tên, thuỷ thần chỉ mặt, giao mạng cho cá rỉa thây, Lực vẫn thuần khiết là một đồng tử, một đứa con trai chưa từng nếm trải lạc thú ở đời đầy cám dỗ bày ra. Gái còn trinh mà chết oan, hồn ma ấy thật đáng sợ. Nam còn trinh thành ma, linh hồn nó e sẽ dật dờ tìm về bên Trường Thi nguyện phù hộ cho “muội” được hạnh phúc giữa cuộc sống bị đảo lộn giữa bể dâu. Lực co ro nói vọng ra trùng khơi đen thẳm: Trường Thi, tên em là một bài thơ dài anh mãi viết, nếu bình an đẩy xô về một phương trời chẳng toan tính. Viễn mộng nào mà không ẩn chứa lắm thương đau?

Hồ Đình Nghiêm

Bạn Úc thòi lòi

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 May 202.6

Tranh Bảo Huân

Ôi nhớ xưa! Khi miền Nam bất ngờ lọt vào tay CS Bắc Việt, bà con mình ai nấy cũng bỏ phiếu bằng chân; bằng cách vượt biên, vượt biển.Đi bằng thuyền, làm thuyền nhân, là phải có vàng cây, vàng miếng đóng cho chủ tàu! Tui bộng, một chỉ vàng lận lưng cũng không có; đành chọn cách đi bộ vậy!

Năm 1979, Lê Duẩn rượt đồng chí Pol Pot từ Nam Vang chạy tuốt ra tới tận Poipet, biên giới phía tây giáp với Thái Lan; vì đứa theo Nga cộng; đứa lại theo Tàu cộng!

Chờ chiến sự tạm lắng, tui lò mò qua Châu Đốc, tới Tịnh Biên để tìm cách vượt biên.

Hàng tuần, tui thồ hai cái bao nặng trĩu, đạp ì ạch qua biên giới, vào Takéo bên đất Campuchia.

Tên Công an của đồn biên phòng chận lại, tính kiếm chút cháo bào ngư, ra lịnh: “Xuống xe đạp ngay!” “Chở cái gì?”

“Lúa mà!” Không tin, tên CA nầy đổ tất cả từ bao cát ra xét. Quả nhiên toàn là lúa. Không phải hàng cấm, nên nó trả lại. Rồi tuần nầy, qua tuần khác đều xảy ra như thế. Tên CA nầy, sau rốt, bị về hưu non vì tội tham ô bất kể bao công lao nằm mùng chống Mỹ!

Một hôm đi nhậu trong một nhà hàng xịn ngoài thị trấn, hắn tình cờ gặp lại tui. Cầm ly rượu đến bàn, nó lè nhè hỏi: “Nè ông bạn! Hồi đang tại chức, tớ nghi cậu buôn lậu cái gì đó mà nghĩ hoài không ra? Cậu làm tớ mất ngủ nhiều đêm liền để suy nghĩ, nghĩ mãi vẫn không ra nên đầu bạc trắng như Ngũ Tử Tư hè!”

“Giờ tớ không còn chức quyền nữa; dám nào hỏi cậu hai câu. Một là: Cậu có buôn lậu không?” “Có chớ!” “Vậy cậu buôn lậu cái gì?” “Xe đạp!”

Nói cho cùng, tui cũng hơi khờ dại, rượu vô lời ra, tiết lộ cái bí mật nghề nghiệp nầy thì trước sau gì nó cũng điềm chỉ cho đồng bọn để bắt tui hè.

Nên lần cuối, tui cũng thồ hai bạo gạo; nhưng có  thêm cái nồi nấu cơm treo lủng lẳng trước cái ghi đông, tui dông luôn.

Sau nầy qua đây, một thằng bạn Úc hỏi: “Sao đành bỏ quê hương; sao đành bỏ ruộng vườn, bỏ người thương… bên kia trời lận đận?”

Thì tui kể cho nó nghe một câu chuyện ngụ ngôn như vầy: Một  người Úc và một người Việt từ địa ngục gọi điện thoại về trần thế để than phiền với thân nhân và bè bạn: “Cuộc sống dưới địa ngục nầy, ngày phải lao động là vinh quang, làm quần quật như ngựa, như trâu vẫn không đủ cái bỏ vào mồm. Đêm còn bị  bọn quỷ sứ đến xét hộ khẩu để đòi ăn hối lộ nên dẫu làm đến kiệt sức vẫn không nghỉ ngơi gì được hết ráo hè!”

Quỷ sứ tính tiền cú gọi cho ông Úc là 100 đô. Còn ông Việt chỉ tốn có 20 xu. Nên ông Úc phàn nàn tính tiền như vậy bất công quá!

Diêm Vương cười hè hè giải thích: “Công bằng lắm đó. Gọi về Úc là điện thoại quốc tế, viễn liên.

Gọi về nước Việt, đang chìm đắm trong chủ nghĩa CS độc tài, chỉ là một cú gọi địa phương!”

***

Nói nào ngay những ngày đầu người Việt đến đây tỵ nạn,  Úc nó thấy mấy em Việt Nam đẹp não nùng như Ngọc Trinh nên cứ thò lỏ hai con mắt ra mà dòm; thấy phát ghét.

Chính vì vậy người Việt Nam mình mới thân ái đặt cho Úc cái tên là Úc thòi lòi đó. (Thòi lòi là loài cá có hai con mắt to bằng hai cái tộ, thường hay đeo bập dừa dọc theo sông rạch quê mình!)

Đàn bà con gái Việt Nam là dành cho người Việt vậy mà ỷ là chủ nhà, nó tính ăn cơm hớt hay sao? “Sao tao ghét hai con mắt thòi lòi bự chảng của mầy quá!” “Thì bịt mắt chú mầy lại!”“Bịt bằng cái gì?” “Bằng sợi dây giày của tao đây nè!”

À! Thằng nầy hỗn! Nó dám chê tui mắt hí chớ! “IQ của mấy thằng ngu khoảng 40 mới biết cột dây giày. Hèn chi tao thấy mầy luôn mang dép. Thì dây giày mầy làm gì có?! Ha ha!”

Bị tui chê ngu; nó tìm cách chê lại, hỏi: “Làm thế nào chú mầy biết mấy đứa ăn trộm nầy là người Việt Nam?”

“Nhà khổ chủ lu gạo bị vét sạch không còn một hột. Chục chai nước mắm hiệu ba con cá cơm Phan Thiết cũng biến mất. Và máy thâu hình an ninh trước cửa nhà cho thấy: Bọn chúng loay hoay de xe ra khỏi lối đi; mất tới 3 tiếng đồng hồ mới được đó!”

Thành kiến và thiển cận, thằng Úc nầy nghĩ người Việt mình, ai cũng như ai, ai cũng hẩu xực thịt cầy hết ráo. (Tui đâu có thích ăn thịt người bạn tốt nhất của loài người là con chó đâu mà cũng bị vạ lây?!)

Nó đố: “Ê chú mầy! Ở Úc nầy đây, con chó vùng nào chạy nhanh nhứt?” Tui bí.

Nó cười hè hè trông rất đểu cáng rồi trả lời luôn là: “Springvale!”

(Springvale phía đông, cách thủ phủ Melbourne khoảng 30 km, nơi có rất nhiều người Việt, bà con mình sanh sống!)

Chẳng qua thằng Úc nầy đeo đuổi một em người Việt mình. Một hôm  nó thành thật ngợi khen em thơm mùi nước mắm lắm! Em cho rằng nó chửi xỏ nên cấm cửa, hăm: Còn lạng quạng đến nhà, em sẽ kêu lính bắt!

Nó đành ôm mối hận lòng mà cay cú, văng miểng tới tui.

***

Tuy nhiên người Úc cũng có đứa đàng hoàng dễ thương, chơi được chớ không phải ai cũng cà chớn như thằng nầy đâu!

Đất lạ quê người, hồi mới tới, tui cũng tính tiếp tục việc học vì thời cuộc phải dở dang để có cái bằng Tiến sĩ, ‘nổ’ cho thiên hạ giựt mình chơi!

Nhưng trộm nghĩ còn vợ và hai thằng ‘cu’ đang kẹt lại ở quê nhà, nhai bo bo đến sái cổ; mình lại tìm kiếm công danh hão! Cứ hai tuần lần gạch vào cái đơn xin trợ cấp đi học của chính phủ Úc thì làm sao mà đủ?

Nên tui nộp đơn xin việc. Quản lý công ty lại là một cựu quân nhân Úc đã từng tham chiến tại Việt Nam.

Nó xem cái CV trong hồ sơ xin việc thấy tui cũng đã từng ăn cơm chảo đụn, cá mối  nhà bàn của lính nên nó nhìn là đồng minh nên nhận tui vào làm ‘cu li’ cái rụp!

Chiều, nó còn mời tui đi nhậu để nhắc nhở thời chinh chiến cũ. Nó bảo:  “Bồ hên lắm đó nhe! Chớ tui xuất ngũ về, rầu lắm; vì phong trào phản chiến ở Úc nầy nó theo đuôi bọn Mỹ, dè bỉu tụi mình!

Lúc mình đi lính chống CS; tụi nó phè phè ở nhà  chỉ biết ăn với học nên giờ nó làm ‘boss’ của tụi mình. Thiệt là đời quá bất công!”

Tui trúng tuyển quân dịch, qua cuộc rút thăm, chánh phủ Úc gởi qua Miền Nam Việt Nam để chiến đấu chống lại bọn CS Bắc Việt xâm lược.

Bị thương tật, cấp độ tàn phế tới 50% nhưng vốn là một con người tử tế, dù phụ cấp Cựu Chiến binh cũng đủ sống nhưng ngồi nhà nhậu hoài sanh hư đốn nên tui nộp đơn xin việc.

Thằng boss của công ty hỏi: “Ở Việt Nam, ông có hành quân không?” “Sao không? Tui là lính đặc nhiệm, SASR, của Úc mà! Được hai năm, tui bị thương mới giải ngũ về đây đó chớ!”

“Nếu ông không phiền, cho tôi hỏi: Ông bị thương như thế nào? Ở đâu?”

“Thì ở Việt Nam chớ ở đâu.”

“Ý tôi muốn hỏi là ở đâu trên thân thể của mình đó mà!” “À! Tui đi tuần tra, tảo thanh VC, đạp nhầm trái lựu đạn gài, nổ làm bay mất hai cái ‘dế’ của tui”.

“OK! Đơn xin việc của ông đã thành công! ‘Congratulation’!

Mai, vô nhận việc lúc 10 giờ sáng nhe!” “Nè nè! Là thương binh, là một người lính dũng cảm; tui không muốn vin vào thương tật để nhận đặc ân của ai hết!” Mấy thằng Úc khác 7 giờ sáng đã đi làm! Sao tui lại tới 10 giờ?”

“Đâu có đặc ân gì đâu! Làm ‘cu li’ thì ai cũng như ai. Nhưng mấy thằng Úc khác đến đây lúc 7 giờ sáng, ngồi gãi ‘dế’ để suy nghĩ bữa nay sẽ làm cái gì trước, tới 10 giờ mới bắt tay vào việc!

Thế nên ông đâu cần tới sớm cả 3 tiếng để làm gì? Tới lúc 10 giờ là phải rồi!”

***

Từ độ ấy, tui làm thân với thằng ‘boss’ của tui. Vì công việc tốt không bằng có thằng ‘boss’ tốt!

Cuối tuần nghỉ làm là hai đứa bò ra Footscray để uống beer. Chuyện riêng tư của Úc nó giữ riêng cho mình trong nhựt ký. Sống để bụng chết mang theo. Nhưng với tui là chiến hữu đồng minh; nên buồn trong kỷ niệm, nó đều dốc bầu tâm sự hết ra để tìm sự cảm thông.

Một lần nhậu, mỗi đứa cạn hết gần chục lon, nó rơm rớm kể lại mối tình năm cũ.

Trước khi qua căn cứ Núi Đất, tỉnh Phước Tuy, nó cũng có người yêu bỏ lại Footscray nầy. Sợ em bỏ nó, theo thằng khác. Nó bèn làm thơ gởi về em: “Em ơi đợi anh về/ Đợi anh hoài em nhé/ Mưa có rơi dầm dề/ Ngày có buồn lê thê/ Em ơi em cứ đợi…Lòng ai dù tái tê/ Chẳng mong chi ngày về

Thì em ơi cứ đợi!/ Đợi anh hoài em nghe/ Tin rằng anh sắp về!

Trông chết cười ngạo nghễ/ Tan giặc bước đường quê/ Anh của em lại về”

Rồi một hôm nó nhận được một lượt hai bức thơ từ hậu phương gởi ra tiền tuyến. Một của em yêu. Bức thứ hai của bà nội nó. Cả hai đều kêu hãy gởi hình về để xem dung nhan đó bây giờ ra sao?

Tuy nhiên, nó chỉ có một tấm hình chụp trần truồng trên Bãi Sau ở Vũng Tàu.

Nó bèn cắt tấm hình đó ra làm hai. Phần trên gởi về em yêu dấu. Phần dưới gởi về cho bà Nội dấu yêu vui; vì tuổi già mắt mũi kèm nhèm không thấy gì đâu.

Bà Nội nó nhận được tấm hình, nhìn rồi thở dài: “Ôi tội nghiệp cho thằng cháu cưng cuả tui! Bận hành quân liên miên nên không có thời giờ để cạo mặt nên râu ria xồm xàm. Mà nó giống ông Nội nó biết là bao! Lúc nào cũng ngậm điếu xì gà trên miệng!”

Bị thương không còn ‘dế’ để gãi, em yêu của nó cũng đi xuống thuyền bông lấy chồng từ độ ấy; nên giờ nó rất cô đơn chỉ sống cùng một con chó cưng và bốn bức tường.

Nó khuyên tui là: “Cứ đi nhậu với nó, tiền bạc khỏi phải lo, mà tiếng Anh không cần tới trường cũng giỏi. Học trên bàn nhậu!” Nhậu mà không phải chi tiền! Thiệt là hiếm có!

Em yêu của tui lại không hiểu; cho rằng tui xạo để có cớ mà đi bù khú với bạn bè. Chớ Footscray nầy em đi chợ hà rầm, tiếng Việt mình là sinh ngữ một đó nhe! Cần gì phải học tiếng Anh chi cho mỏi miệng. Cho đến một hôm đứa cháu nội làm em sực tỉnh ra.

Cuối tuần ba má nó chở về thăm. Mới bước vô nhà là: “Hi ông nội!”

Em yêu của tui vội đính chánh ngay lập tức: “Đâu có con! Từ hồi về với ông Nội, dẫu biết bao nhiêu thằng khác đeo đuổi nhưng bà Nội đã thề rằng: “Dẫu ai thêu phượng vẽ rồng. Bà nội chỉ một ông chồng mà thôi!”

Sao giờ con lại nói là ‘hai’ ông nội hả?”

Happy New Year!

Chuyến đi cuối cùng

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 16 May 2026

Sáng hôm đó tôi đứng tầng trên phía sau lái tàu tập phất tay và phất được hai trăm cái thì thấy trên sông sương mù nhiều quá. Lòng chợt nhiên chùng xuống nên tôi ngưng tập và đứng ngó ra dòng sông như tìm một thứ gì mà chính tôi cũng hổng biết? Ánh sáng li ti của những bóng đèn viền theo những sợi dây cáp căng thẳng hai bên thành của chiếc cầu bắc ngang từ bên bờ này Lisbon qua bên kia bờ sông Tagus, vì bị mù sương cản tầm mắt nên chỉ thấy khoảng giữa chiếc cầu lờ mờ như lơ lửng trong mây. Nhìn lên bến cảng, những containers chất chồng và chiếc cần trơi cũng bị sương phủ mờ. Musli đi tới sau lưng tôi hồi nào không biết, tới khi nó lên tiếng chào, tôi mới day ngang chào lại. Nó liền nói:

– Hồi sớm sương mù nhiều quá, công nhân bến cảng không làm việc được.

Tôi cười dí dỏm, nói:

– Oh! Như vậy mới thấy được sức mạnh của sương mù.

Có lẽ Musli vội quá nên không hiểu kịp ẩn ý trong câu tôi nói nên nó vừa day lưng đi vừa đáp:

–  Còn có mười tám containers, cất lên xong tàu sẽ khởi hành.

Nhìn thằng nhỏ bận bộ đồ thủy thủ bước ra boong làm tôi nhớ lại, hồi hôm nó ngồi với tôi trong một quán bar ngoài bến cảng, uống chưa hết ly bia thì có một cô gái trẻ tới gạ gẫm hỏi nó có chịu đi với cô ta không. Nó nhận lời và day qua hỏi tôi:

– Chú chờ một lát được không?

– Dĩ nhiên.

Musli bưng ly ngước cổ ực hết phần bia còn lại rồi đứng lên đi với cô gái. Tôi ngồi chờ cả giờ nó mới nhắn tin xin lỗi và dặn tôi khỏi chờ nó nữa. Tôi đứng lên đi lại quày tính tiền rồi bước ra ngoài. Trên đường về tàu tôi cười thầm trong bụng, mới mấy ngày trước nó với Frans chơi cả đêm ở Vigo, bây giờ chơi nữa, tuổi trẻ sức khoẻ dồi dào, chơi cho đã về già khỏi hối tiếc. Nhớ lại hồi còn trẻ tôi cũng như Musli bây giờ, mỗi lần tàu tới một bến lạ, chiều về lên phòng thay áo, quần bảnh bao rồi vội vã lên bờ chơi suốt đêm, sáng xuống tàu vẫn còn đủ sức làm việc cho tới chiều.

Bao nhiêu quá khứ của hơn bốn mươi năm trước chợt ùa về, mặc dù ở Việt Nam tôi là một ngư phủ đánh cá xa bờ, mang tiếng là đánh khơi nhưng cũng chỉ quanh quẩn trong vùng vịnh Thái, lần đầu tiên tôi lên tàu buôn quốc tế, tôi rất tò mò và lo lắng như thế nào. Lúc đó tôi nghĩ không biết mình có thể vượt qua những tháng ngày dài lênh đênh trên biển mà không gặp bất kỳ rắc rối nào với những thứ mới mẻ mà tôi chưa từng biết qua và làm sao để liên hệ với thủy thủ đoàn toàn người xa lạ, lạ màu da và lạ cả lời ăn tiếng nói. Những cảm xúc lẫn lộn với môi trường mới làm tôi lo sợ, nhưng tánh hiếu kỳ thúc đẩy tôi mạnh dạn bước tới. Lầu đầu bước lên chiếc Elisabeth trên cảng Rotterdam, con tàu không lớn lắm, nhưng vẫn lớn hơn chiếc tàu đánh cá dài hơn hai mươi thước của tôi ở quê nhà, vừa ngơ ngác vừa rộn rã trong lòng vì tôi được đứng trên con tàu buôn quốc tế và đậu trên hải cảng Rotterdam; hải cảng lớn nhứt thế giới nhờ đông đảo tàu bè các nước vô ra. Trong lòng tôi rất lo trước khi trình giấy tờ cho viên thuyền trưởng, nhưng khi ông bắt tay chào với vẻ mặt cười hiền thì tôi cảm thấy nhẹ lòng. Thuyền trưởng lấy giấy tờ của tôi xong, ông giao tôi cho viên thuyền phó, thuyền phó dẫn tôi xuống nhận phòng. Phòng ngủ có một tủ đựng quần áo, một chiếc giường và một bàn viết. Tàu buôn thời đó chưa có tiện nghi như những con tàu hiện đại của thời nay, trong phòng thủy thủ không có toilet và phòng tắm riêng, nhưng đối với tôi có phòng ngủ riêng và giường, nệm đàng hoàng thì quá đầy đủ rồi.

Những bất an lo lắng lúc ban đầu tan biến khi thuyền phó dẫn tôi xuống phòng ăn giới thiệu tôi cho thủy thủ đoàn, thủy thủ toàn là người In Đô, khi biết tôi là người Việt tị nạn thì người nào cũng vui vẻ bắt tay, ân cần chào đón. Giới thiệu mọi người xong, thuyền phó giao tôi cho người phụ lái, anh ta dẫn tôi đi từ sau lái ra trước mũi và xuống hầm máy để cho tôi làm quen với con tàu. Sáng hôm sau, trước khi tàu khởi hành qua Phi châu, thuyền phó đưa tôi một khăn tắm và bộ đồ bảo hộ. Tôi trở về phòng cất khăn và thay đồ, may là cùng cỡ với người In Đô nên bộ bảo hộ tôi bận rất vừa vặn, chỉ có ống quần hơi dài, nhưng không sao, tôi xắn nó lên làm khi xong việc tôi tự cắt cũng được, hồi ở Việt Nam bận đồ cũ đi đánh cá, qua đây bận đồ bảo hộ, làm thủy thủ tôi cảm thấy hảnh diện vô cùng. Khi ra boong Mujono, thủy thủ người In Đô, thấy tôi mang giày bata, anh mới vô lấy cho tôi đôi giày làm việc cũ và kêu tôi vô phòng thay xong rồi ra trước mũi với anh. Như vậy là tàu khởi hành tôi với Mujono và thuyền phó chịu trách nhiệm cuốn dây và khoanh dây trước mũi, đó là bài học đầu tiên của tôi trong đời thủy thủ. Khi tàu tách bến tôi theo thủy thủ người In Đô xịt nước rửa tàu và dọn dẹp xong cũng hết một ngày.

Qua ngày thứ ba tàu đã ra khơi, biển im và nắng ấm, người phụ lái giao cho tôi một cặp bao tay, một cây búa gõ sét và một bàn chải sắt, anh dẫn tôi ra boong nhập bọn cùng với bốn thủy thủ người In Đô, nhiệm vụ chúng tôi hôm đó là gõ, đục, cạo sét và sơn phía sau tàu. Biển đối với tôi phải nói là quen lắm, nhưng lúc tàu ra vùng nước xanh đậm của  Đại Tây Dương, tôi vẫn bị hoang mang. Khi ánh sáng chói chang của mặt trời phản chiếu trên làn nước màu xanh đậm, lúc bây giờ tôi mới cảm nhận được sự khác biệt của biển và đại đương. Có lẽ khi lớn lên tôi gắn bó với biển, cho nên hải hành vài tháng tôi đã quen với cuộc sống trên tàu. Nhờ cái nhãn hiệu thuyền nhân, tị nạn cộng sản nên đồng nghiệp trên tàu ai cũng thương và tận tình giúp đỡ.

Vài ấn tượng đầu tiên của tôi khi tàu tiến xa về vùng Phi châu. Tôi còn nhớ về đêm khung trời đó trong lắm, mặt trăng gần xích đạo trông rất thấp và rất sáng, ánh trăng soi trắng mặt nước biển và thấy rõ đường cong của chưn trời. Lần đầu ghé bến Phi châu, tôi thấy người da đen đông như vậy và tiếp xúc với họ tôi mới biết tuy da người Phi châu đen như tràm cháy nhưng hai hàm răng họ thì trắng như bông gòn… Còn công việc của tôi cũng không có gì khó khăn, nhờ lúc đó tôi còn trẻ làm việc có mệt và đổ mồ hôi nhưng chỉ sau một đêm tôi đã lấy lại sức. Đó cũng là sự trải nghiệm bước đầu làm thủy thủ của tôi với cây búa gõ sét, bàn chải sắt và làm những chuyện lặt vặt trên tàu trong vùng nắng nóng của Phi châu.Tiếng máy tàu nổ cùng tiếng hoạt động của máy cuốn dây sau lái, dấu hiệu cho tàu rời bến, đưa tôi trở về hiện tại. Frans, Eddy và một sinh viên thực tập phụ trách sau lái. Frans điều khiển cần cẩu câu chiếc thang, đường lên, xuống sau lái, hai người kia thì chờ chiếc thang lên tới thì vịn kềm cho ngay vị trí của chiếc thang, xong rồi bắt móc gài chiếc thang lại cho chắc. Nhìn đồng hồ cũng đã gần tới giờ tôi làm việc. Đi vô phòng đánh răng, rửa mặt thay đồ xong thì nghe tiếng máy tàu rú ga mạnh hơn thì biết tàu đã rời bến.

Tàu ra khỏi vàm sông Tagus thì nắng cũng đã lên, trên tàu có Musli và Iwam, hai đứa dọn dẹp và lau chùi trong tàu, thuyền trưởng trực trên phòng lái và tôi là đầu bếp đang soạn cho bữa ăn trưa. Những thủy thủ hồi hôm làm ca đêm được ngủ tới mười hai giờ trưa. Mười giờ tôi pha một bình cà phê và lấy hộp bánh ngọt để lên bàn, tôi Iwan và Musli ngồi uống. Tôi hỏi Musli:

 – Hồi hôm chơi cả đêm giờ không mệt và buồn ngủ sao?

Musli cười nói tỉnh bơ:

– Hồi hôm con cũng có ngủ mà.

Rồi nó khoe với tôi là nó có số điện thoại của cô gái, cô ta rất tốt và hứa kỳ sau trở lại nó sẽ gọi hẹn gặp cô ta. Tôi hỏi:

– Con thích cô nhỏ đó sao?

– Dĩ nhiên.

Theo tôi biết phần đông những người In Đô theo đạo Hồi có đi uống bia, chơi gái thì lén lút và dặn tôi xuống tàu đừng nói lại với ai và nói chuyện chơi bời thì không tự nhiên như những người theo đạo Thiên Chúa. Iwan chen vô nói:

– Tàu đi tuyến này một năm thì Musli có vợ Bồ Đào Nha.

Nói xong Iwan giả giọng dê kêu, cười he he. Tôi day qua nói với Musli:

– Thủy thủ mà vướng tình cảm trên đất liền thì mệt lắm đó.

Musli hỏi:

– Sao vậy chú?

Tôi chưa kịp trả lời thì Iwan chen vô nói:

– Thì sạch túi chớ sao.

Thêm một tràng cười. Musli day qua Iwan nói:

– Tiền không thành vấn đề, vui vẻ là được.

Nó day qua hỏi tôi:

– Phải không chú?

Tôi đáp:

– Phải nhưng lúc con còn độc thân, chớ khi có vợ, có con rồi thì tiền cũng là vấn đề. Chú muốn lưu ý con chuyện tình cảm thôi, thủy thủ như tụi mình mà vướng vào chuyện yêu đương, thương nhớ, đợi chờ mệt lắm đó.

– Chuyện này con học hỏi chú đây.

– Thiệt ra thì trong cuộc sống thì không ai dạy ai và cũng không ai học hỏi ai hết, chuyện gì thì cũng cần trải qua rồi mới biết.

– Oh, chú nói thử con nghe.

– Thủy thủ phải trải qua nhiều con tàu và nhiều khía cạnh khác nhau, không chỉ có chuyện cột dây, gõ sét, sơn tàu, làm chuyện lặt vặt hoặc ghé một vài địa danh và quen biết một vài người là đủ. Là một thủy thủ sẽ đi với những con tàu khác nhau và làm việc trong môi trường cũng khác, ví như đối mặt với những lúc thời tiết không thể đoán trước. Con thấy đó, con mới xuống chưa được hai tháng mà từ  Địa Trung Hải ra Đại Tây Dương, thời tiết khác nhau như thế nào rồi.

Musli hào hứng nói:

– Đúng, chú nói đúng rồi, trong Địa Trung Hải thì nóng còn Đại Tây Dương mát mẻ hơn.

Iwan như sợ tôi nói hết những kinh nghiệm của nó đã trải qua, nên nó cũng háo hức chen vào góp chuyện:

– Nhưng hổng phải lúc nào biển cũng im ru và những cơn gió êm dịu, thổi hiu hiu, dễ chịu giống như hôm nay đâu.

Iwan day qua tôi nói:

– Chú còn nhớ hồi con với chú làm việc bên chiếc Elsa không?

– Nhớ chớ.

– Lúc đó từ Houston qua Nam Mỹ gặp bão, sóng cao trên mười thước, đánh ập vô thành tàu khiến thân tàu lăn lộn dữ dội làm cho thủy thủ đoàn ói mửa quá trời luôn.

– Tại vì lần đó đám thủy thủ toàn là gà chết, gặp sóng to, gió lớn thì ói mửa tùm lum nên con còn ấn tượng đó thôi. Cũng có nhiều lần bị bão trên vùng bắc Đại Tây Dương, sóng cao tới mười bốn thước, thiệt ra thì không có hiện tượng thời tiết nào mà thủy thủ không đương đầu, có những ngày mùa đông trên vùng Bắc cực, nhiệt độ giảm xuống dưới độ không, băng và tuyết phủ từ dưới mặt biển lên tới trên tàu trắng xoá. Cũng có lần trên chiếc Elsa, vượt sông Amazon lên vùng cao nguyên, gần xích đạo, nắng nóng mà máy điều hoà bị hư, nhiệt độ bên ngoài lên tới bốn mươi độ C, trong tàu nóng như trong phòng tắm hơi, còn dưới hầm máy thì giống như là hoả ngục.

Iwan chen vào:

– Con nhớ rồi, kỳ đó chú lấy nước để vô can đem đông đá rồi để can nước đá trước máy quạt trong phòng ngủ cho mát, cả tàu ai cũng bắt chước chú làm theo nên trong phòng đông giữ lương thực lúc nào cũng đầy nhóc can nước.

Musli dùng mình một cái:

– Nghe nói thấy cũng hơi lo nhưng cũng tò mò.

– Yên trí còn đi thì còn gặp.

Tôi chỉ tay lên chiếc đồng hồ treo trên vách, kim đồng hồ chỉ hơn mười giờ rưỡi:

– Lố giờ rồi, con làm việc cho hết lo.

Thấy hai đứa đứng lên cầm tách định đem vô bếp, tôi chặn tại:

– Chỗ này để chú, tụi con làm việc của tụi con đi.

Iwan và Musli tiếp tục lau chùi trong tàu. Tôi lấy bình cà phê và đem mấy cái tách đi rửa. Xong tôi bắt đầu nấu cho bữa ăn trưa. 

Giờ ăn của phụ lái là mười một giờ rưỡi, có lẽ hồi khuya phụ lái mới xuống thay cho phụ lái cũ, nó còn mệt nên ngủ trễ. Gần mười hai giờ mới thấy phụ lái ló đầu xuống, nó bắt tay chào và nói:

– Tuần tới trở lại Bilbao ông về.

–  Bộ mầy xuống báo tin cho tao thôi hả?

Nó cười, chợt nhớ ra:

– Oh, ông có gì cho tôi ăn không?

Nhìn dáng người nhỏ thó nước da ngâm ngâm và tóc đen, tôi đoán nó không phải là người Hoà Lan. Tôi chỉ tay ra bàn ăn và từ tốn nói:

– Dĩ nhiên là có, ra bàn kia ngồi đi.

– Không, trễ giờ rồi, ông cho tôi một đĩa, tôi bưng lên phòng lái ăn.

– Vậy chờ một lát.

Tôi lấy rau, thịt và khoai tây để vào dĩa, định lấy tô múc súp.

Thằng nhỏ ngăn lại:

– Bao nhiêu đủ rồi.

Tôi lấy dao và nĩa và bưng dĩa thức ăn đưa cho nó. Nó liền bưng dĩa đồ ăn quay đi, chợt nhớ quên chén trái cây, tôi kêu nó và nói:

– Còn chén trái dâu nè.

Nó day lại nói:

– Ông để đó, chiều tôi xuống ăn.

Phụ lái đi rồi thì Musli đi vô hỏi:

– Con dọn bàn nghe chú?

– Ô kê.

Musli tới chỗ để dĩa lấy chồng dĩa và kéo học tủ lấy dao, muỗng, nĩa đem ra bàn. Từ lúc Musli quen việc trên tàu tới nay nó thường vô bếp phụ tôi dọn bàn trước khi ăn và phụ tôi dọn dẹp mỗi buổi chiều. Thấy nó gọn gàng, sạch sẽ và thích làm nên tôi để nó tự nhiên. Lúc đó thủy thủ đoàn cũng vô phòng ăn, thủy thủ ăn mười hai giờ mười lăm và đám officers thì ăn mười hai giờ rưỡi. Musli dọn bàn xong vô hỏi tôi:

– Bưng đồ ăn ra được chưa chú?

Tôi ngước mặt lên nhìn đồng hồ, còn năm phút nữa mới tới giờ ăn, nhưng thấy thủy thủ đã vô bàn ngồi chờ tôi mới nói:

– Cũng được.

Thấy tôi mở tủ lạnh lấy tô sà lách ra, Musli trầm trồ:

– Oh, hôm nay có rau tươi.

Tôi nói:

– Mới mua thêm hôm ở Lisbon.

– Trước khi xuống tàu, con nghe nói thức ăn trên tàu cũng không có gì đặc biệt và hay bị thiếu. Nhưng hồi xuống tàu tới giờ ngày nào cũng thấy ăn uống linh đình.

– Chú hổng biết mấy công ty khác ra sao, nhưng công ty này thì chú biết. Thiệt ra trước kia thức ăn rất là phong phú, từ ngày người Nga và Ukraina xuống đây làm việc thì thực phẩm bị cắt giảm gần phân nửa.

– Vậy hả chú?

– Con xuống chiếc Tina này nhờ thuyền trưởng là người Hoà Lan nên hai tuần được mua thêm trái cây, rau cải tươi, thịt, cá dậm thêm. Nếu thuyền trưởng không phải là người Hoà Lan thì thức ăn một tháng lấy một lần và họ đưa gì ăn nấy, có thiếu thì cũng ráng mà chịu.

– Có sự phân biệt sao chú?

– Chú thấy là vậy.

Tôi vừa nói vừa đọn thức ăn để hết ra bàn rồi nói:

– Trên tàu toàn là dân tứ xứ nên hay xảy ra chuyện chướng tai gai mắt, nhưng không đụng tới mình thì thôi, con để ý làm gì. Con bưng đồ ăn ra rồi cùng anh em ăn đi, bàn của officers chú lo được rồi. Giờ làm việc của thủy thủ kết thúc lúc năm giờ chiều. Còn đầu bếp thì lo cho thủy thủ đoàn ăn, uống và dọn dẹp xong thì mặt trời cũng bắt đầu lặn.

Tôi ngồi tầng trên phía sau lái tàu, ngắm hoàng hôn trên đại đương. Phía trời Tây, mặt trời giống như một chiếc mâm sắt nung đỏ, từ từ chìm xuống viền nước, toả lên ánh hồng nhuộm đỏ phía chưn trời. Không bao lâu ánh nắng cuối ngày tắt hẳn, nhường chỗ cho bóng đêm thay vào, không khí lúc này mát mẻ dễ chịu hơn. Musli cầm hai chai bia, đi lên chỗ tôi đứng, có lẽ leo lên hai bậc thang nó bị mệt nên vừa đưa chai bia cho tôi vừa thở hổn hển, nói:

– Hồi nãy con gõ cửa phòng hổng nghe chú trả lời, ra phía sau boong cũng không thấy, thì ra chú đứng trên đây.

Thiệt ra tôi không muốn gặp ai nên mới lên đứng trên này. Tôi cầm chai bia đưa lên cụng, ngước cổ uống một hơi và chỉ tay lên mặt trăng nói:

– Coi kìa, trăng khuyết và trời rất trong.

Musli cũng hớp xong hớp bia, nó ngó quanh rồi nói.

– Đẹp quá hả chú, nhưng trăng mọc sớm quá.

Tôi ừ hử và mặt vẫn hướng về phía mặt trăng. Musli im lặng hồi sau nó mới lên tiếng:

 – Con nghe Frans nói mai tàu tới Casablanca, nhưng không lên bờ chơi được hả chú?

– Lên thì được, nhưng thủ tục rắc rối lắm và lên bờ cũng gặp nhiều phiền phức, vì vậy thuyền trưởng không cho lên đó thôi.

– Vậy, tới Bilbao chú về rồi, chỉ còn có Frans đi chơi với con thôi.

– Có Frans cũng tốt, trên đường đi có người bạn đồng hành hợp nhau cũng đủ rồi.

– Con thích đi với chú.

– Chú già rồi đi với tụi con chỉ có vướng bận.

– Nhưng học hỏi ở chú được nhiều thứ.

– Những chuyện chú nói nó đã qua hết rồi, tương lai con sẽ biết được những thứ mới mẻ hơn. Con không thấy sao, chú đi với các con lúc nào cũng giữa chừng, không bao giờ chơi cho tàn cuộc.

– Tại chú không muốn thôi, chớ con thấy nhiều người lớn tuổi hơn chú cũng còn ăn chơi mà.

– Chú cũng ăn chơi vậy, đi chung với con hoài.

– Chú chỉ xem thành phố, tìm ăn đặc sản và uống bia, rượu.

– Như vậy đối với chú cũng đầy đủ lắm rồi.

– Bộ chú hổng còn thích đàn bà nữa sao?

Đưa bia lên uống, chợt nghe thằng nhỏ hỏi, tôi cười làm cổ họng bị sặc bia, tằng hắng cho qua cơn, tôi nói:

– Thích chớ con, nhưng thích theo kiểu già.

– Là sao?

– Chuyện hổng đáng để thắc mắc đâu, khi nào con lớn tuổi như chú thì con tự biết.

Tôi với Musli uống hết chai bia, đem chai bỏ vô thùng rác, tôi hỏi:

– Con uống nữa không?

– Không, khuya nay con trực. Nghe nói tàu trở lại Bilbao chú về nên muốn gặp chú nói chuyện chơi.

– Vậy con đi ngủ đi.

Musli đi rồi tôi mới day nhìn ra khơi, chưa tới mười giờ mà trăng đã sáng soi trên mặt biển, nhiều ngôi sao cũng đã mọc, trăng tuy khuyết nhưng ánh vẫn toả sáng làm những ngôi sao không được rực rỡ như những đêm tối trời. Thiệt là hấp dẫn khi ánh trăng chiếu sáng xuống mặt biển như đèn pha, đột nhiên đám mây kéo ngang che mặt trăng, trời tối sầm lại làm con tàu nằm trong bóng mờ, mặt nước không còn lấp lánh và đường chưn trời cũng biến mất. Một lát sau mây bay qua, ánh sáng mở rộng ra bốn hướng. Hơn bốn mươi năm qua, không biết bao nhiêu lần, tôi đứng hàng giờ chỉ nhìn chằm chằm vào sự thay đổi của vầng trăng, nhứt là ánh sáng lung linh khi trăng sắp lặn xuống biển, lúc đó nước và trời liền nhau và không còn thấy đường chưn trời nữa. Trăng trong tôi mỗi nơi mỗi khác, biến dạng cũng khác nhau lúc nào cũng đẹp… nó vượt quá khả năng của con người để giải thích cái đẹp và yên bình như thế nào. Không gì thay đổi được quan điểm vô giá khi đứng nhìn và cảm thấy cuộc sống hoà hợp với thiên nhiên hơn bao giờ hết.

Nhưng đêm nay tôi nhìn trời, trăng, mây nước với một tâm trạng bâng khuâng khó tả, khi nhận biết, một cách rõ ràng, là đời thủy thủ của tôi sắp chấm dứt. Tôi sẽ chia tay với biển, với đất trời bao la, với những tối êm đềm trăng sáng. Một sự ngẫu nhiên hay là sự sắp đặt của tạo hoá? Hơn bốn mươi năm trước, chuyến hải hành đầu tiên trong đời qua Phi châu, hôm nay chuyến cuối cùng cũng trên đường qua Phi châu. Sợi dây liên lạc với những người từ khắp bốn phương kéo dài hết một đời rồi. Biết rằng tôi sắp bỏ biển nhưng tôi chỉ thoáng buồn, vì cả đời với kiếp lữ hành vui có, buồn có, nhưng tất cả đều đem tới lưu luyến, nên tôi không muốn nói với mấy bạn trẻ của tôi đây là chuyến cuối cùng. Rồi đây những cái tên Musli, Edy, Iwan, Frans, Mujno, Mohamet… chạy qua trong đầu tôi. Rồi một buổi chiều nào trên một thành phố lạ, chúng nó ngồi nhậu với nhau và nhắc lại: hồi đó có uncle Tan, chú đầu bếp già Việt Nam đã cùng đi với chúng trên một chuyến tàu…

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 16 May 2026

Mùa tựu trường. Thuận và tôi trở lại Nha Trang. Chúng tôi cùng một người bạn tên Kỳ, quê Phú Yên, thuê gian nhà nhỏ phía sau căn nhà lớn của một người đàn bà, Gian nhà nhỏ này, thật ra là nhà bếp và phòng ăn, bà dọn sạch sẽ cho thuê. Bà ở nhà trên với hai đứa con nhỏ. Chồng bà là quân nhân, trấn đóng đâu đó, trên cao  nguyên, Lâu lâu ông về, hay ngồi tán gẫu với chúng tôi. Qua câu chuyện, tôi mường tượng ra một vùng đất đỏ, núi rừng heo hút hoang vu. Thuận và tội học đệ tam. Kỳ lớn hơn tôi ba tuổi, học đệ nhị. Anh học rất chăm, chứ không cà lơ phất phơ như Thuận. Ngay trong lối sống, anh cũng tỏ ra đường hoàng chững chạc. Ban đêm, anh làm cho một lò sản xuất bánh mì. Anh thường đem về những ổ bánh dạt ra vì quá lửa, hoặc không nở đều.

Có khi chúng tôi ăn bánh mì trừ cơm. Anh bảo tôi, mua chiếc xe đạp làm chân, anh sẽ giới thiệu nơi dạy kèm tại tư gia. Số tiền có được trong mấy tháng xịt thuốc Diệt Trừ Sốt Rét, tôi dốc ra một phần mua chiếc xe đạp cũ. Tôi dạy kèm hai nơi, đủ sống và đóng học phí.

Cuối tuần, tôi về nhà bác Huế ăn cơm. Đồng thời cũng hướng dẫn thêm bài vỡ cho hai con bé. Bác Huế nói, chỉ sau mấy tháng hè mà trông con lớn hẳn ra, đen sạm rắn chắc. Bác cho rằng, tôi thi rớt là tại Phương Nghi hớp hồn. Phương Nghi bị hàm oan! Tôi ở riêng, bác Huế lo lắng, sợ tôi thiếu thốn về vật chất. Nhà có món gì ăn ngon, bác sai bé Đông mang dến cho tôi. Tôi cảm động trước tấm lòng trời biển của hác. Nhiều lần tôi nói, con ăn chung với bạn, bác đừng lo cho con nữa. Nhưng bác bảo, một lũ con trai ăn uống hốt trớt, sức mô mà học?

Phương Nghi biết mỗi cuối tuần tôi về nhà bác Huế. Nó đến nhằm lúc có mặt bác. Chúng tôi dè dặt không dám chuyện trò. Nó về. Bác Huế nói, Phuong Nghi là con hồ ly, đàn ông con trai sẽ chết vì nó. Tôi nói, tụi con đã vãn rồi. Bác nói, nó không muốn vãn, răng con vãn được? Nó còn bẹo hình bẹo dạng với con, bác sẽ mách cho mẹ nó. Tôi hoảng, xin bác đừng làm xấu hổ Phương Nghi, tội lắm. Bác bảo, sợ tội con nớ, thì con phải gắng học. Năm ni mà không đậu là không được.

Đến nhà bác Huế bất tiện, Phương Nghi nhờ bé Đông dẫn tới chổ ở của tôi. Lại nhằm lúc tôi đi vắng. Khi tôi về, nghc nói nó ngồi chờ cả tiếng đồng hồ. Thuận phê bình, con nhỏ này dám đi tìm trai, trước sau gì cũng hư hỏng. Anh Kỳ nhận xét, Phương Nghi con nhà giầu lại đẹp. Nó thích mày chỉ vì trông cái mả bề ngoài hiền từ. Nhưng khi lấy chồng, bọn con gái thực tế lắm. Nó sẽ chọn thằng có địa vị danh giá, ngồi không cũng được làm bà. Lẩy thằng khố rách như mày. Để biến thành cái mụ lam lũ chân tay à? Hãy thức tỉnh sớm đi. Dành thì giờ lo học. Tui mình nhà nghèo, cần cái bằng cấp lắm. Nhận xét của anh như dao đâm vào ngực. Tôi ôm đầu khổ sở. Thuận đưa quyển Kinh Thánh, Chúa sẽ an ủi mày. Tôi bỏ ra ba ngày nằm đọc. Gặp câu đắc ý trong chương Diệu Ca, tôi dọc kinh: “Ái tnh ngon hơn rượu.”

Anh Kỳ ứng khẩu: “Mày tưởng thật. Không ngờ, chỉ là men vị đắng.”

Tôi đọc câu khác: “Tình yêu mạnh như tử thần.”

Anh Kỳ lại ứng khẩu: “Nên xa nhau, hằng đêm mày buông mình vật vã.”

Thấy hay hay, tôi góp ý hai câu Diệu Ca, với những lời của anh Kỳ thành bài thơ nhỏ:

ái tình ngơn hơn rượu

tôi tường thật, không ngở

chỉ là men vị đắng.

tình yêu như sự chết

nên xa nhau, hàng đêm

tôi buông mình vật vả.

Tôi dán bài thơ lên tường.

Thuận xé toạc vất đi, chế nhạo: “Mày làm trò cải lương. Trước khi chết, còn ngóc đầu lên ca sáu câu vọng cổ.” Một hôm, tôi dạp xe trên đường phố, nghe tiếng ai kêu tên mình. Tôi quay nhìn. Phương Nghi vẫy gọi. Tôi làm ngơ đi luôn, lòng đau như cắt. Về nhà, tôi nằm thổn thức.

Anh Kỳ nói: “Hành động đứt khoát này, xứng đáng được đãi ăn một tô hủ tiếu”

“Tôi nuốt không vô.”

Anh nói: “Đổng tiền tao làm cực khổ. Tao thưởng cho cái quyết tâm của mày, chứ không phải nổi hứng dẫn tụi mày di ăn đâu.”

Thuận vực tôi dậy: “Dịp may hiếm có. Chần chừ, ảnh sẽ đổi ý. Mau lên!”

Cuối tuần đó, tôi lại nhà bác Huế. Bé Đông lén trao thư của Phương Nghi. Tôi giấu trong áo. Khi về, tôi mở thư.

Anh Kỳ hỏi: “Thư ai?”

Tôi nói: “Phương Nghi.”

Anh giật lấy, ném vào lò lửa.

Tôi sừng sờ: “Sao đốt thư của tôi?”

Anh bảo: “Hiên ơi, quan trọng là cái ở trong đầu của mày, chứ không phải dứt khoát ở ngoài. Đọc thư tình, nó sẽ ám ành hoài. Còn tâm trí đâu mà học?”*

“Nhưng phải cho tôi coi nó viết những gì chứ?”

“Những gi cũng mặc. Không tơ vương rắc rối. Mày không nhìn thấy sự chênh lệch à? Nó có bằng trung học đệ nhất cấp. Mày không có tờ giấy lận lưng. Chuyện này rồi cũng chẳng đến đâu. Dứt sớm đỡ khổ. Kéo dài nhì nhằng đến chừng nó bò rơi, mày chỉ còn nước tự tử.”

Tôi học hành vất vả. Gắng công ôn luyện lại chương trình đệ tứ. Anh Kỳ chỉ dạy thêm những diều tôi còn khúc mắc. Nhiều khi nhìn trang sách, mà tâm trí tận dâu đâu. Trong tôi vẫn không phai nhòa hình bóng Phương Nghi. Năm ấy. Thuân và tôi cùng vào phòng thi trung học đệ nhất cấp.

Chúng tôi thi xong, anh Kỳ hỏi: “Thế nào?”

Thuận nói: “Có lẽ đi tàu suốt.”

Tôi nói: “Bài làm được. Chỉ sợ giảm khảo chấm bài ngủ gục, trông gà hóa cuốc thì bỏ mẹ.”

Ngày niêm yết kết quả. Tôi đậu bình thứ. Thuận rớt. Hắn đọc thơ Tú Xương: “Cải học ngày nay đã hỏng rồi.

Mười người đi học, chín người thôi.”

Thuận bỏ học luôn từ đó. Hắn đăng tên vào lính Không Quân. Sau này, có gặp nhau mấy lần, nhưng không còn thân thiết nữa. Quá khử chỉ còn kỷ niệm. Hắn phong trần dày dạn. Dưới mắt hắn, tôi là một thư sinh yếu đuối, chưa biếi đời là gì.

Bác Huế làm cái tiệc nhỏ, mừng tôi thi đậu. Cả nhà vui vẽ.

Bé Đông nói: “Em bao tin cho chi Phương Nghi.”

Bác Huế trừng mắt, Bé Đông cụt hứng, mặt mày tiu nghỉu. Nhưng chỉ một lúc sau, nó lại vui.

Nó nởi: “Anh Hiên nì, năm ni em lên đệ lục. Đừng gọi em là bé nữa”

“Chứ gọi bằng gì”

“Bằng gì cũng được, nhưng cấm gọi bé.”

“Gọi bằng o, được không?”

Nó cười.

Tôi bĩu môi:”Miệng còn hôi sữa, đã muốn làm người lớn”

Nó chu mỏ: “Nói rứa cũng nói được.”

Lật bật rồi cũng đến ngày thi của anh Kỳ. Anh đâu tú tài. Trông anh vẫn điềm nhiên như không có gì thay đổi. Niềm vui anh giấu ở trong lòng. Tôi lãnh tiền kèm trẻ tại gia, muốn dãi anh một chầu nem nướng Ninh Hòa, Khi vui, tôi kêu thêm mỗi người một chai bia. Ăn xong, anh giành phần trả tiền, Tôi áy náy không yên. Anh nói, bữa ăn hôm nay giá tiền bằng một phần tư tháng lương kèm trẻ của tôi. Hãy để anh trả. Chúng tôi đạp xc ra bãi biển, ngồi nhìn nước, Bóng chiều ngã dài trên hàng dừa, dọc theo bờ cát. Anh tâm sự, cha anh tập kết ra Bắc, biệt tăm không biết sống chết lẽ nào. Nhà anh nghèo lắm. Mẹ anh không đủ khả năng nuôi hai dứa em. Anh không thể tiếp tục học nữa. Phải về Phú Yên để giúp gia đình. Tôi cảm động và buồn muốn khóc. Thuận đi rổi, anh cũng đi. Một mình tôi ở lại với nỗi buồn trống vắng quạnh hiu, Tôi nghì đến thời gian tới. Làm sao tôi đủ sức thuê gian nhà? Anh nói, trước khi đi, anh đã chuẩn bị một dời sống cho tôi xong rồi. Đầu tiên, anh dẫn tôi đến nhà một người đàn bà tu tại gia, Bà ở một mình, không thấy con cái chi cả. Anh giới thiệu và xin cho tôi ở trọ vào niên học tới. Rồi anh lại giới thiệu một người đân ông cùng quê của anh, làm ở ty công chánh. Người này nhận tôi vào làm phu lục lộ với đồng lương công nhật, trong mấy tháng hè. Tôi mua tặng anh Kỳ cái vé xe dò về Phú Yên. Anh tăng tôi chiếc áo còn tốt. Tôi nói, anh nên để lại mà mặc. Anh bảo, về quê anh sắm cải khác, còn tôi cần những chiếc áo thay đổi cho mùa sau đi học.

Ngày anh dọn đồ về quê, tôi bùi ngùi ứa nước mắt. Anh nói, lòng tôi mềm quá, suốt đời sẽ khổ vì dàn bà. Lời anh như một tiên tri. Tôi đưa anh lên bến xe, vào một sáng trời đầy mây. Anh siết nhẹ vai tôi, tụi mình sẽ khó gặp lại nhau, Chỉ mong, nếu có gặp lại không ở thể đối đầu. Anh lên xe. Tôi đứng trông theo. Không có ngọn gió nào cuốn bụi, mà mắt tôi cay. Câu nói lần cuối của anh Kỳ làm tôi nghĩ mãi. Sau này mới hiểu ra. Con lốc thời cuộc dã xô anh và tôi về hai hướng khác.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 16 May 2026

Công dân cao niên nhận lãnh một lần số tiền $30,000 nếu đồng ý trở về sinh sống tại quốc gia nguyên thuỷ của họ. Để giảm bớt gánh nặng trợ cấp cho người già trên đất Mỹ và trước tình trạng ngân sách thiếu hụt của quốc gia này, cuối cùng vào ngày 1 tháng 4 năm nay, Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật chấp thuận cho những người cao niên trên 65 tuổi, không sinh ra tại Mỹ, được lãnh một số tiền quy định đồng đều là $30,000 nếu đồng ý trở về sinh sống tại quốc gia nguyên thuỷ của họ. Đạo luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2012, nhưng chỉ dành cho những người tự ý chấp thuận, không có tính cách bắt buộc hay kỳ thị và công dân cao niên phải làm đơn trong vòng 90 ngày từ ngày đạo luật có hiệu lực tại các cơ quan xã hội quận hạt nơi mình cư ngụ. Cao niên hiện nay ở tại Mỹ, được lãnh đủ số tiền này, một người già sống chung với chồng hay vợ phải mất thời gian gần 42 tháng (nếu tính theo số tiền được quy định từ tháng 3-2011 trở về trước là $703.00 cho một người sống chung với hôn phu hay hôn thê. Nay với số tiền này ($30,000) được lãnh trọn, người trở về nước của họ sẽ có một số vốn làm ăn hay an hưởng Cao niên và câu chuyện cá tháng 4 … tuổi già mà không cần phải ở lại Mỹ để được hưởng hàng tháng số trợ cấp do chính phủ quy định. Đạo luật nay đã được nghiên cứu và cứu xét trong  nhiều năm kể từ tháng 5-1990, theo các bản phúc trình có giá trị, thì những người cao niên như sắc dân Châu Á, mỗi năm đã dành số tiền trợ cấp mười một tháng để đem tiêu xài hết trong một tháng trở về đất nước của họ. Mặt khác số tiền trợ cấp đã thay đổi tùy theo nấc thang thời giá được ấn định lại hằng năm, nhưng  đối với mức sống thấp của những người di dân đến Mỹ, họ còn có khả năng gởi về đất nước của họ hằng tỷ đô-la mỗi năm. Theo con số của Ủy Ban Người Nước Ngoài Việt Nam, mỗi năm Việt Nam nhận 8 tỷ dollars do các di dân gửi về trong đó có 65% số tiền xuất phát từ Mỹ.

Nếu số cao niên Châu Á hay từ các quốc gia sau chiến tranh có sự tham dự của Mỹ đồng ý chọn giải pháp nhận số tiền trợ cấp của đạo luật 1/1/12, như đã ghi trên, nước Mỹ sẽ tiết kiệm được những chi phí sau đây

– Tiền trợ cấp y tế, (thuốc men, bệnh viện, săn sóc tại gia, các chi phí cho dịch vụ cấp cứu): 78 tỷ mỗi năm.

– Tiền day-care cho các cụ (đến ăn trưa, tập thể dục, chơi bài, đấm bóp, xem TV, vào internet): 892 triệu mỗi năm.

– Chi phí về housing: 3 tỷ 2 mỗi năm Hiện nay, theo sự thăm dò của cơ quan Orange County Senior Research (OCSR) cùng một số thiện nguyện viên quan tâm đến vấn đề này, đã tiếp xúc với với các vị cao niên tại các nơi sinh hoạt tôn giáo như  chùa, nhà thờ, tại các dịch vụ day-care, chỗ đông người như chợ, siêu thị, trên các chuyến xe bus hằng ngày chở đi các casino, các quán cà phê có hay không có bàn cờ tướng, các phòng massage. Kết quả tạm ghi nhận được:

– Nhóm thứ nhất- 65% chấp nhận lãnh số tiền trợ cấp một lần $30,000 để trở về nguyên quán không trở lại, (trong số này có:- 21% bệnh tật lâu năm, khó chữa muốn về chết trên quê hương,- 17% hiện có bất động sản đã mua hay của con cái, gia đình làm ăn khá giả, nên muốn về ở luôn, có thể mở tiệm phở, hớt tóc, massage, cà phê đủ loại, – 8% xem Việt Nam ngày nay có tiến bộ, giàu có, có tự do sống thoải mái, – 7% đã mua sẵn đất chôn, mỗi năm đều về Việt Nam và đã có ý định về ở luôn, – 23% bị con cái bạc đãi, không chăm sóc, buồn phiền, trầm uất,- 8% không thích hợp với đời sống, văn hoá Mỹ, không có nhiều bạn bè lui tới, 7% sắp qua đời, muốn về chết ở việt Nam. – 9% đời sống ở Mỹ bó buộc, không có tự do (xử dụng rượu, thuốc lá) phương tiện di chuyển đắt, khó khăn, sẽ làm đơn, nhưng không cho biết ý kiến, sợ đụng chạm.

-Nhóm thứ hai- 10% đang cứu xét và thăm dò, chưa có quyết định.

-Nhóm thứ ba-18% không chấp nhận, dù vì hoàn cảnh khó khăn của nước Mỹ, trợ cấp bị cắt giảm (đã nhận nơi này làm quê hương), không muốn về Việt Nam dù với điều kiện nào.

-Nhóm thứ tư- 7% không có ý kiến.

Chưa bao giờ nước Mỹ thâm thủng và nghèo mạt như hiện nay. Một tiểu bang của Mỹ giàu có đứng vào hàng thứ năm của thế giới đã nghèo hơn bao giờ hết. Theo nguồn tin mới nhất từ thủ phủ Sacramento của California, ngân sách tiểu bang thâm thủng 42 tỷ đô la. Thống đốc Brown của tiểu bang vừa loan báo sự cắt giảm ngân sách giáo dục lên đến 1,200 triệu Mỹ Kim, trong đó, tài khoản của hệ thống CSU (California State University System) sẽ còn dưới 500 triệu Mỹ Kim, hệ thống CU (University of California) sẽ bớt đi 500 triệu cho và 200 triệu ít hơn cho các cơ quan nghiên cứu. Thống đốc cho biết đây là “trong điều kiện thuận lợi nhất và nếu trong kỳ trưng cầu dân ý vào tháng 6 năm 2011 nếu dân chúng không chấp nhận cho gia hạn thuế khoá như hiện nay thì tình hình cắt giảm sẽ nặng nề hơn nữa”.

Không còn giải pháp nào khác có thể cứu vãn tình hình ngân sách thâm thủng. Ở cấp tiểu học và trung học, học khu Westminster đã bớt đi 10 ngày học và học khu Garden Grove giảm 5 ngày. Trong tổng số hơn 200 ngày giảng huấn mỗi năm, sự giáo dục sẽ có những kết quả tai hại nếu trong tương lai số ngày nghỉ học phải tăng lên vì không đủ ngân sách tài trợ từ tiểu bang. Nói chung, giờ học của con em chúng ta ở California chỉ còn 175 ngày, trong khi con số trung bình toàn quốc hiện nay là 180 ngày. Niên học sẽ rút ngắn đi ít nhất là 6 tuần lễ, nghĩa là học sinh, nghỉ hè sau lễ Phục Sinh vào tháng 4, chứ không còn như thường lệ kéo dài đến giữa tháng 6 nữa. Một thành phố của California là Anaheim vừa đi đến một quyết định theo đó tất cả công chức thành phố không sử dụng trong trường hợp khẩn cấp sẽ giảm 5% lương, đồng thời bớt 10% số giờ làm việc và tiền lương của hơn 1,100 công chức thành phố, kể cả ban quản trị sở cứu hỏa, sở cảnh sát và các nhà quản trị khác, sẽ bị cắt lương 5%, giúp tiết kiệm cho thành phố khoảng $3.4 triệu.

Xa hơn nữa, Neward của New Jersey, trong một cố gắng tuyệt vọng để làm giảm mức thâm thủng của thành phố lên tới 70 triệu đô la trong năm 2010, Thị Trưởng của Newark đã cho cắt luôn khoản tiền mua giấy vệ sinh cho các cầu xí của nhân viên, cắt bớt 4 ngày làm việc cho các nhân viên không chính thức, dẹp bỏ các biểu ngữ trang trí lễ lạc, đóng cửa các hồ bơi công cộng và bất cứ hợp đồng nào không cần cho an ninh đường phố, phòng cháy cũng sẽ bị cắt. Các biện pháp này sẽ tiết kiệm từ 10 triệu đến 15 triệu đô là mức thâm thủng của thành phố. Nước Mỹ của chúng ta không còn là một anh chàng công tử nhà giàu nữa, mà là một anh chàng nghèo kiết xác đang giật gấu vá vai để qua hồi suy thoái kinh tế. Nửa phần bài tạp ghi hôm nay, viết vào những ngày đầu tháng tư theo truyền thống “Cá Tháng Tư” (April Fools’ – Poisson d’Avril), hy vọng không ai mừng hụt và cũng không hy vọng đạo luật này sẽ thành hình.

Nửa phần cuối của bài này là chuyện nước Mỹ đang nghèo, con cháu chúng ta phải chịu dốt hơn vì ngân sách giáo dục bị cắt, giờ học bị bớt, lớp học bị dồn lại, ngay cả vòi nước uống, sân chơi cho các em cũng không có tiền tu bổ. Xin quý vị cao niên, nhịn bớt tiêu xài, phá phách, đừng đem tiền ra khỏi nước Mỹ nữa, xin hãy sống với nước Mỹ và yêu nước Mỹ hơn, xin đừng xem đây là nhà trọ, là nơi “share” phòng nữa!

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 16 May 2026

Có những người chết để cho chúng ta sống.

thương tật để chúng ta được lành lặn,

ở lại để cho chứng ta có cơ hội ra đi.

Vào tháng 9 năm 1866, dưới thời Vụa Tự Đức, việc xây dựng lăng tại Vạn Niên, dưới sự cai quan của Thống Chế Nguyễn Văn Xa và Biện Lý Nguyễn Văn Chất quá hà khắc, khiến quân dân làm việc tại công trường bất mãn, ta thán. Lợi dụng việc này, hai anh em Đoàn Trưng và Đoàn Trực lãnh đạo cuộc nổi dậy, gọi là “loạn Chày Vôi,” bắt người chỉ huy công trường, nhờ có nội ứng, kéo nhau về kinh thành, xông vào Đại Nội và Cấm Thành, định bắt giết Vua Tự Đức, Lúc bấy giờ quan Chưởng Vệ Hồ Qại, đang chỉ huy quân tức vệ, tả xung hữu đột để cứu giá. Vua Tự Đức thoát nạn trong gang tấc và cuộc nổi loạn bị dẹp tan, những người lãnh đạo đều bị bắt và xử trảm, Trong lúc cầm gươm bảo vệ nhà Vua, Chưởng Vệ Hồ Oai đã bị Đoàn Trực chém đứt một lỗ tai tay phải. Sau dó ông dược Vua Tự Đức phong chức Đô Thống, phong tước Nghĩa Dũng Từ và cấp thưởng nhiều quý vật, trong dó theo truyền thuyết ở Huế, ông được Vua Tự Dức ban thưởng một lỗ tai giả dúc bằng vàng ròng.

Chưởng Vệ Hồ Oai cẩm gươm bào vệ cho nhà Vua, tránh được một cuộc binh biến cho dất nước, được ân thưởng tượng trưng một cái lỗ tai bằng vàng. Ngày nay anh em thương binh chúng ta. vì tận trung, bảo quốc, mất nhiều thứ trên thân thể, quan trọng hơn cái lỗ tai nhiều như đôi mắt, tứ chi mà chỉ may ra được một cải nạng. Vì sao? Vua Tự Đức còn tại vị và biết chuyện đền ơn đáp nghĩa. Sau tháng 4-1975, vua quan chúng ta không còn tại vị nhưng đã đi ra nước ngoài, còn cả cây kim sợi chỉ, nhưng chỉ tiếc là những người này không có tấm lòng thương xót cho những người đã đổ máu xả thân bảo vệ cho chức tước, địa vị, gia đình, tài sản của họ, được an toàn ra đi, đã bò anh em lại, mà không cần biết hay nhớ đến những người này là ai. Vào những giờ phút cuối cùng khi anh em vẫn còn trên trận tuyến, Tổng Thống đã ra khỏi đất nước, như vị thuyền trưởng tránh trách nhiệm dể khỏi chết theo con tàu. Thủ Tướng cũng ra di. Đại Tướng cũng ra đi. Chi còn lại những con người liêm sĩ chon cái chết dể khỏi sống ô nhục và h àng trăm nghìn thanh niên đã hứng chịu cành tàn khốc củanhững người bị thất trận, nhất là những người với thân thể không còn nguyên vẹn, người cụt chân, kẻ mù mắt. Phải chi anh em được chết trên trận mạc, thân thể dược phủ ngọn cờ ngày trước, cho khỏi khổ đến gia đình vợ con phải hứng chịu những ngày cơ cực khi đất nớc không còn, quân đội không còn, đơn vị không còn.

Giữa bao nhiêu “vạn cốt khô” dã được để lại sau chiến tranh, ba mươi lăm năm nay, chưa hề thấy “tướng công thành” nào hy sinh của cải, thời gian để làm một nghĩa cử mang ơn, chia sẻ với những người lính đã tận tuy một đời, hy sinh một đời để bây giờ phải sống những ngày tàn tạ trên quê hương mình như những kẻ lạc loài, xa lạ. Nếu ngày nay họ được cưu mang phần nào, gọi là chút an ủi cuối đời bằng những món quà nhà nhỏ thì dó chinh là tấm lòng của những đồng đội ngày xưa đã qua thời gian cay đắng tù tội, những đồng bào hậu phương ngày trước đã mang ơn họ.

Có thể dây là một cộng nhân hưu tri, chia món tiền nhỏ nhoi vào mỗi cuối tháng, có thể là những vị cao niên, chắt chiu những dồng tiền trợ cấp, mà không quên những người lính năm xưa, những người trẻ tuổi mới lớn lên khi nghe nói về quả khứ hào hùng của đất nước, xót xa cho thế hệ của cha ông. Động lực nào đã thúc đẩy bao nhiêu người hy sinh thời gian, công sức để vận động những phong trảo đền ơn đáp nghĩa thương binh, gần suốt hơn hai mươi năm nạy, dù sự giúp đỡ như giọt nước trong ngày nắng hạn, như hạt muối bỏ biển hay như ngọn gió thổi vào căn nhà hoang trống trải. Những người có lòng này không phải là những người làm thương mai thành công, cũng không phải là những người ôm được tài sản lớn lúc chạy ra được nước ngoài, cũng không phải là những người đã từng sống trên xương máu của đồng đội. Họ chỉ là những người lính bình thường, những người dân đã chứng kiến những thăng trầm cùa lịch sử, biết ai là người mình phải mang ơn, biết ai là người dã mất mát để cho mình được có cái hôm nay. Nhưng đó chính là ngọn lửa của niềm tin thắp lên trong những dêm dài tuyệt vọng của những người thương binh đã mất một phần thân thể cho tổ quốc, phải sống trong những hoàn cảnh ghẻ lạnh dưới chế độ mới, từ hàng mươi năm nay, đang là một gánh nặng cho gia đình, con cái. Mỗi năm chúng ta có bao nhiêu lần làm lễ vinh danh cho những người tiếng tăm, nơi này và nơi khác, chỉ cho một người, mà vinh quang của họ được xây đáp bằng công trận của hàng vạn người tử sĩ và thương binh vô danh ngày trước. Những người sau này, chết thì mồ mả xiêu lạc, sống thì lây lất qua thời gian đầu đường xó chợ. Những người này bay giờ không còn cần đến một vòng hoa chiến thắng. Ngậm ngủi vì khi biết mình là kẻ chiến bại, hay muốn nghe những bài hát ca tụng họ là anh hùng, vì chính họ thực sự là anh hùng, nhưng đã là anh hùng cùng đường, mạt vận. Bây giờ có thể họ ràn rụa nước mắt, cầm trong tay món tiền nhỏ từ hài ngoại gừi về, từ đám dông những người họ chưa hề quen biết, chưa hề là bạn bè, cấp chi huy hay là tướng lãnh của họ. Một bữa cơm tươm tất chiều nay hay một tấm tôn lợp nhà trong mùa mưa bảo, những mơ ước thật tầm thường mà những người hạnh phúc, no đù nhiều khi không thể nào tưởng tượng ra nổi. Đúng hai mươi năm sau biến cố đổi đời, năm 1995, khi những người linh vừa ra tù, đặt chân dến Mỹ. ngồi lại với nhau để tìm cách gây quỹ giúp cho những người thương binh bất hạnh còn ở lại, anh em dã nhận được $100 đỏ la từ người tổng tư lệnh ngày trước, người đã bò anh em trước khi chiến xa địch vào dến Saigon và dã có những căn nhà trị giá bạc triệu ở từ Anh Quốc đến Hoa Kỳ. Đây không phải là cách biện minh “của ít. lòng nhiều” mà là như hạt muối xát vào vết thương đang còn rỉ máu. Nhưng thôi thì đây cũng là lộc của nhà Vua, anh cm hòa thuận như trong truyện Quốc Văn Giáo Khoa Thư thì mang quả lê bỏ vào nồi “ba mươi” nấu nhừ nát thành nước rổi moi người húp một thìa cho qua cơn hạn khát.

Khi những dòng chữ này đến bạn đọc, thì mới hôm qua dây, tại San José- Bắc California, hải ngoại đã tổ chức một buổi ca nhạc ngoài trời để gây quỹ giúp cho anh em thương binh đang sống cuộc đời khốn khổ ở quê nhà. Mà không phải là lần đầu, trải dài trong mười năm người ta đã làm công việc này lần thứ bảy. Tiền gây quỹ, có năm nhiều năm ít, nhưng tấm lòng của người hải ngoại thì không bao giờ suy chuyển. Sáng kiến được nảy ra từ tấm lòng vị tha, họ ngồi lại với nhau trong khi đang khó khăn làm lại cuộc đời trên mảnh đất mới. Từ đó đã rất nhiều người nhập cuộc biết chia xẻ sự no đủ và hạnh phúc cho những người bất hạnh bơn mình.

Khi chúng ta không có đủ tiền, chúng ta có công sức và tấm lòng. Nhiều nhạc sĩ, ca sĩ, nghệ sĩ, nhiều người cựu chiến binh, thuyền nhân đi tìm tự do và đồng bảo hải ngoại, trẻ già, đã đến dây để cùng chung một tiếng nói, gửi một lời cám ơn đến những người thương binh của chúng ta ở quê nhà.

Xin những người có lòng ở hải ngoại hoan hỷ gửi một chút quà cho những người đã hy sinh cả tuổi thanh xuân vả hôm nay không có cả tuổi già hạnh phúc!

Chuyện đêm giao thừa

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 15 May 2026

Chiều ngày ba mươi mốt tháng Chạp dương lịch. Cơn mưa tuyết kéo về trút xuống thành phố Hamburg, làm đường xá nhầy nhụa ướt át và trời đất thì lạnh căm.

Những cơ sở thương mại và văn phòng hành chánh hai bên đường Reeperbahn đóng cửa im lìm. Còn lại vài tiệm bán sách báo, phim ảnh khiêu dâm mở cửa nhưng vắng khách ra vào. Các cô gái ngồi trong buồng kín với thân hinh trần trụi và chị em bán dâm trong các phòng kiếng hoặc tập trung vô một chung cư, có lẽ đã về nhà đón tết nên không còn đông đúc, xôn xao như những ngày thường. Mỗi đợt xe bus đổ khách xuống ào ạt, trong chốc lát người ta biến hết vô những quán bar, nhà hàng hoặc casino. Ðể lại đường phố thưa thớt bóng người.    

Khi phố xá hực hở nhiều màu sắc, cũng là lúc anh tà tà từ đầu phố đi về cuối phố và từ cuối phố đi ngược lại. Mới hơn mười giờ mà anh đi tới, đi lui không biết bao nhiêu bận rồi. Nghe người thấm lạnh, anh quẹo vào một quán rượu  của Phi Luật Tân. Tony đứng sau quày rót rượu, thấy anh vô nó vẫy tay chào:

–   Hi, tàu mầy mới ghé phải không?

–   Không, ghé hồi sáng.

–   Sao giờ nầy mới trường mặt lên?

–   Tao lên từ hồi chiều, nhưng đi rảo ngoài đường.

–   Ở ngoài giờ nầy đâu có khỉ gì. Mầy uống gì?

–   Cho tao cái cognac.

Tony rót rượu đưa anh:

–   Ly nầy tao đãi mầy.

–   Cám ơn.

Tony day ngang tiếp người khách mới vô. Thường thì anh leo lên chiếc ghế trước quầy ngồi chờ Tony rảnh rang trò chuyện. Ðêm nay Tony bận rót bia, rót rượu túi bụi, cứ cái mửng nầy tiếp tục cho tới khuya chắc gì nó được rảnh tay. Anh bưng ly rượu lại ngồi bên chiếc bàn trống. Ai đó đã bỏ quên cuốn sách khiêu dâm trên bàn, vậy khỏi tốn gói đậu phộng làm mồi, anh móc thuốc châm, hít một hơi dài, phà ra ngụm khói lớn góp phần vào khối hôi hám đầy đặc trong  không khí. Anh tiếp tục lật quyển sách vừa xem hình vừa nhâm nhi congac.

–   Chào ông anh.

      Lẫn trong âm thanh ồn ào tiếng ngoại quốc tự nhiên anh nghe tiếng Việt thanh thao của một người con gái. Cái gì đây? Anh ngó lên, chưa kịp hỏi thì cô ả tiếp:

–   Ông anh còn nhớ em không?     

A, thì ra cái cô người Việt mà anh đã gặp trước đây trong một quán bia ôm ở Bremerhaven, cô “làm ăn” chung với đám phụ nữ Phi Luật Tân. Hôm đó cô tiếp anh, hai người vui vẻ chuyện trò với nhau bằng tiếng Anh, cô có vẻ hơi rụt rè giữ kẽ khi tiếp chuyện, nhưng tiếng Anh cô nói rất lưu loát. Ngồi chơi với anh được một lát, cô giới thiệu cô là người Việt. Vui quá, anh liền hô lên bằng tiếng Việt:

–   Tui cũng là người Việt chánh hiệu con rồng vàng đây.    

Tưởng nói vậy cô ta sẽ mừng rỡ biết bao. Nhưng không, cô biểu lộ tình đồng hương bằng cách xịu mặt xuống, bẽn lẽn đứng dậy mượn cớ đi toilet, rồi cô chuồn đâu mất. Bỗng dưng đêm nay cô xuất hiện trong chiếc áo lông dầy, màu đỏ chói, dài tới đầu gối, vai mang bóp da với phong cách gái giang hồ thứ thiệt.

–   Làm sao quên được.

–   Anh cho em ngồi với nhé.

Anh chỉ chiếc ghế trước mặt nói như ra lịnh:

Cô ngồi xuống đi, nhưng hổng được đi toilet.

–   Ông anh nầy.

–   Anh là anh, ông là ông gọi lộn xộn nghe kì cục thấy mồ. Cô uống gì?

Cô ta dợm ngồi xuống. Nghe anh hỏi cô liền đứng dậy:

–   Để em đi lấy. Anh uống thêm ?

Anh bưng ly ngước cổ nốc hết phần rượu trong ly, giơ ly qua cho cô và kèm theo tờ Đức mác. Cô ta cầm chiếc ly nhưng không lấy tiền.

–   Anh cất tiền đi. 

 Ðúng là tết với nhứt. Ngồi chưa nóng ghế đã được hai ly cognac miễn phí. Hổng biết một lát còn cái gì miễn nữa không? Anh gấp cuốn sách lại, vói tay để qua chiếc bàn bên cạnh. Người vô quán mỗi lúc một đông. Các cô gái Phi Luật Tân đi tới đi lui, lăng xăng chào đón khách, chưa tới giao thừa mà các cô đã chúy choé:    

– Happy new year…

Có hai người đàn ông bao hai cô gái, bày tiệc bàn ở bàn cuối quán. Trong ánh sáng lờ mờ, mỗi anh ôm chặt một cô, tay thọt vô váy mò mẩm và cũng chính bàn tay đó khi cần rút ra bưng bia uống và bốc đậu phộng rang muối bỏ vô miệng nhai rau ráu, sau đó thọt tay dính đầy muối trở lại chỗ cũ. Hai cô gái cứ thản nhiên ngồi dạng chân, uống champagne, miệng phì phà thuốc lá. Trò chơi cứ tiếp tục tới giao thừa thì phần giữa háng của hai cô gái chắc cũng vừa đủ mặn.

     Cô gái bưng rượu để lên bàn, cô uống rượu pha màu trắng đục, anh không biết rượu gì. Thấy anh ngồi trầm ngâm ngó mặt vô góc quán, cô yên lặng cởi áo lạnh vắt lên thành ghế và kéo ghế đối diện ngồi xuống. Anh bưng ly nói lời cám ơn, hít hơi thuốc cuối cùng và dụi tàn vô chiếc gạt.

–   Anh tên Tân phải hông? Cô gái hỏi.

–   Hổng phải, tui tên Đủ.

–   Nhưng sao Tony kêu anh là Tân.

-A, thì ra vậy. Tui tên là Nguyễn Tấn Đủ, nhưng người ngoại quốc phát âm chữ đủ nghe kì cục quá nên tôi mới lấy chữ lót làm tên cho họ dễ kêu.

–   Vậy em phải kêu anh tên nào.

–   Tùy cô, thấy tên nào tiện cứ kêu. Anh Đủ nhé, cho có vẻ miệt “dzườn”.

– Cô người miệt dzườn?

-Tỉnh lẻ chớ dzườn chiếu gì đâu.

-Cô có tên Việt hông, hay vẫn còn mang cái tên ngoại lai nào đó mà tui đã quên mất tiêu rồi?

Em tên Bích và tên ngoại lai thì nhiều lắm, hồi đó giới thiệu với anh tên nào em còn hổng nhớ nữa nói chi anh.

Anh nâng ly:

–   Mời Bích.

Cụng ly nhấp một hớp, để ly xuống, Anh rút thuốc đưa  qua mời.

Bích rút thuốc gắn lên môi. Anh bật lửa châm.

–   Ở đây có còn cô nào người Việt nữa hông?

–   Hông anh.

Người vô quán mỗi lúc một đông, toàn là dân tứ phương, đông nhứt là ngưòi Phi Luật Tân. Tiếng nhạc hoà cùng tiếng người cao giọng ồn ào. Anh và và Bích muốn nói chuyện phải hả họng lớn và kề sát mặt nhau mới nghe được.

–   Nghe Tony nói anh ở Hoà Lan.

–   Thì đã sao?

     Ngồi đây nói chuyện có hơi phiền, mặc dầu cuộc sống của Bích không cần phải che đậy, kể cả thân thể của cô, nhưng đàn bà mà há họng lớn nói to trước đám đông cũng khó coi lắm. Anh chồm qua hỏi lớn:

–   Đêm nay cô có khách hông?

Bích nhíu mày một cái rồi kề miệng sát vô tai anh, nói:

–   Hông, đêm nay anh là khách của em?

–   Chấm mút được gì đâu?

–   Liếm láp chút ít cũng được.

–   Nói chuyện hay quá vậy.

-Nghe Tony nói anh là người đàng hoàng, sao nói chuyện nghe phát  ợm.

–   Ngồi đây hít vô ba cái ám khí, nói ra sao được thơm tho.

Bích nhếch mép cười chua chát. Anh không đùa cợt nữa:

–   Nếu muốn nói chuyện hổng lợm thì cô đi với tôi ra ngoài kia?

–   Đi đâu?

–   Kiếm chỗ sạch sẽ ngồi nói chuyện chơi. Chịu không?

–   Chịu.

   Hai người uống hết rượu, đứng dậy sửa lại khăn cổ, choàng áo lạnh và đi ra khỏi quán. Nhiệt độ xuống thấp, đường dán băng trơn nhớt, pháo nổ xa, gần. Bích nép sát người anh:

–   Em nghe nói bêm Amsterdam cũng có khu như vầy.

–  Bên Amsterdam các cô gái ngồi trong lồng kiếng day mặt ra lộ, cô nào cô nấy gần như trần trụi. Còn ở đây các cô tập trung vô một chung cư, mỗi cô ngồi mỗi phòng, có những ngõ hẻm dành cho các cô ngồi lồng kiếng, người ta ngăn bít hai đầu. Nhờ vậy con đường ngoài thanh lịch hơn và những người chưa quen sinh hoạt ở đây, đi ngang cũng không thấy khó chịu.

      Hai người đi bên nhau nói chuyện trời trăng mây gió một lát thì tới giao thừa. Sớm tới giờ anh cứ nghĩ ngày Tết  ai ai cũng quây quần bên nhau trong căn nhà ấm cúng cho nên ngoài đường phố vắng tanh. Chỉ có những người vô gia cư như anh mới lang thang giữa trời đông giá lạnh. Dè đâu đúng giờ giao thừa trên trời hực sáng, tua tủa pháo bông, dưới đất pháo nổ đùng đùng như trận đánh Mậu Thân. Người ở trong các quán bar, nhà hàng tràn ra đường như ong vỡ tổ. Trong khói pháo mịt mù, người ta vừa đốt pháo vừa uống bia, rượu và hò reo vang dội.

    Anh và Bích đứng bên góc phố coi người ta đón Tết. Anh thấy có một gã con trai đầu trọc lóc, bận áo dầy xanh màu cứt ngựa, vai mang bọc pháo đủ loại, tay cầm súng chỉa lên trời bắn đùng đùng, trông gã hào hùng giống như viên chỉ huy ngoài mặt trận ra lịnh cho lính tấn công. Đợi gã ngưng bắn, anh tới hỏi  chia hai cây pháo cầm tay. Gã lẹ làng móc nắm pháo chìa ra còn kèm theo hai lon bia và nói chúc mừng năm mới. Anh móc tiền trả, gã khoát tay không lấy tiền rồi day qua nạp pháo vô súng tiếp tục bắn. Anh đưa cho Bích nắm pháo, và móc hộp quẹt bật lửa châm. Bích cầm cây pháo bông cháy tua tủa quơ qua quơ lại, cười thích thú. Hết nắm pháo, anh khui bia đưa Bích một lon và giơ lên nói lời chúc mừng. Bích cũng giơ bia lên nói chúc mừng và hai người ôm nhau hôn trong mùi bia nồng nặc.

     Hai người tiếp tục vừa đi vừa uống bia, khi cạn bia họ liệng lon vô thùng rác. Ánh đèn khu phố nhợt nhạt chiếu xuống, hai bên đường phố người ta đông nghẹt. Pháo nổ rời rạc như muốn kéo giờ giao thừa trở lại. Gương mặt Bích thoáng chút u buồn. Cô nắm chặt tay anh thỏ thẻ:

–   Đêm nay  không có anh chắc em… không biết ra sao.

     Anh nghĩ tới mấy cô gái ngồi tiếp khách trong  căn phòng thiếu ánh sáng ban nãy. Anh định nói: thì em cũng như các bạn em đương làm ăn như mọi năm, nhưng thấy tàn nhẫn quá, dù sao cô cũng chịu thiệt  thòi một đêm đi chơi với anh. Anh ân hận nói sang chuyện khác:

–   Không có tui giao thừa cũng qua.

–   Khinh bạc vậy à.

–   Cuộc sống nầy có gì trân trọng.

Bích thở hắt một cái như ra chiều thất vọng. Anh đoán chừng cô ta muốn tâm sự. Anh nói:

–   Mình vô quán ngồi cho ấm.

-Được, nhưng đừng trở lại quán Tony ngột ngạt hơi người em ớn lắm.

-Như vậy ngày mai, ngày mốt, bữa kia nữa thì sao? Chuyện ngày mai để ngày mai tính.Vậy thì đừng thắc mắc, nghĩ ngợi gì hết, đi chơi vui vẻ cho hết đêm nay.   

     Quán không tên, hiệu quán vẻn vẹn hai con số. Bên trong đầy đủ ánh sáng, bàn, ghế sạch sẽ, không khí thoải mái. Đàn ông, đàn bà ngồi dọc theo chiều dài của quày rượu. Người Âu ăn ra ăn, nhậu ra ra nhậu. Ồn ào nhưng không cao giọng, đông đúc nhưng không xô bồ xô bộn như người Á. Anh mua một chai champagne và một dĩa ô-liu. Ôm hết mọi thứ và hai cái ly đi lại để trên chiếc bàn cuối quán, anh day qua phụ Bích cởi áo lạnh máng lên chiếc móc sau lưng. Cô ngồi xuống, kéo tay anh ngồi cạnh bên. Anh cầm chai rượu định mở nút cho nổ lớn. Bích chận tay anh:

-Ðừng anh.

-Tại sao?

-Em hổng muốn thiên hạ ngó chúng mình.

Cô lấy chai rượu vặn nút cho xì hơi và nhè nhẹ mở ra, cô rót đầy hai ly, bưng một ly đưa qua anh:

–    Uống đi anh.

Anh cụng ly với Bich, hai người hớp một hớp đầy, để ly xuống anh mở gói thuốc, còn một điếu. Anh đứng dậy đi qua chiếc thùng bán thuốc tự động, bỏ tiền vô rút ra một gói. Đi lại châm thuốc giơ qua cho Bích và rút điếu thuốc khác ra, ngồi xuống châm rít một hơi phà khói. Anh nhìn qua Bích:

–    Cô giống như người tình.

–    Anh muốn “chim”  em hả?

–    Thấy sao nói vậy chim chóc gì.

Gương mặt rạng rỡ môi điểm môt một nụ cười, Bích nói:

-Trước kia em cũng gặp nhiều người Việt nhưng chưa thấy ai giống như anh.

-Khác chỗ nào?

Khác chỗ đi chơi bời mà làm như con nhà tử tế lắm, người lên giọng đạo đức khuyên nhủ dạy dỗ, kẻ bươi móc đời tư, soi rọi từ lông tơ kẽ tóc, ngồi nói chuyện em nghe như bị mắng vô mặt. Em bán bar mà họ làm như em bán cả bốn ngàn năm văn hiến của họ vậy. Cho nên năm trước gặp anh em bỏ trốn. Từ đó về sau mỗi lần anh đến em đều không ra mặt và dặn mấy nhỏ bạn đừng cho anh biết là có em.

–    Như vậy mỗi lần tui tới cô hổng “mần ăn” gì được hết.

Cô gái nghẽo đầu cười. Anh hỏi tiếp:

–    Sao hôm nay cô hổng trốn nữa?

-Nghe mấy đứa bạn nói anh keo lắm, còn Tony thì khen anh là người đàng hoàng.

–    Keo kiệt mà đàng hoàng sao?

-Mấy bạn em nói hổng khi nào uống của anh một ly cho đáng tiền.

-Tony thì nói anh không bao giờ bậy bạ.

-Nghĩa là sao?

-Nghĩa là anh gần bùn nhưng hổng dính bùn.

-Ðược cao quý như vậy à?

–    Hông biết, nhưng ít ra đi với anh em yên tâm trò chuyện. Vậy thì trò chuyện đi.

Bích nhéo anh một cái:

-Thì em đương trò chuyện với anh đây.

      Một bà già ôm bó bông chìa ra trước mặt hai người và mời mua bằng câu chúc mừng năm mới. Anh rút một cọng bông hồng gói trong giấy kiếng, móc túi đưa cho bà tờ Đức mác, anh khoát tay kêu bà lão đi đi khỏi thối tiền. Anh đưa cọng bông cho Bích:

–    Tặng cô đó.

Bích đưa tay đón nhánh bông, nói:

–    Ðẹp quá.

     Cô day qua hôn anh và cúi xuống hôn bông hồng. Anh nhìn người con gái, đôi mắt lơ là, đôi môi son mỏng, mũi cao, vẻ đẹp của một thời vẫn còn rỏ nét trên gương mặt dạn dày sương gió.

–    Gần sáng rồi, uống hết rượu mình chia tay.

Cô gái giựt mình bấu cánh tay anh.

–    Anh hổng dìa với em sao?

-Tui sợ lâu ngày lênh đênh trên biển, khi gần đàn bà những dồn nén trong người nó cứ trực trào ra.

Cô gái nghiêng đầu tựa vai và tay vuốt vuốt lên ngực anh:

–    Thì anh cứ trút hết sự dồn nén của anh qua em.

–    Để làm gì?

–    Hy vọng có một đứa con cuộc sống em sẽ thay đổi.

–    Muốn thay đổi cuộc sống sao cô không kiếm chồng?

–    Hổng biết còn ai lấy em hông?

–    Tìm sẽ gặp, xin sẽ được.

–    Vậy thì em xin anh một đứa con.

 -Xin gì mà kỳ cục vậy?

 -Lớn tuổi sống mình ên em thấy hụt hẩng.

     Anh cốc nhè nhẹ lên đầu cô gái:

-Đàn bà ngu ngốc, muốn thì đòi chớ khổng biết đo lường hậu quả, cho nên đi tới đâu cũng nghe các bà than khổ.

Bích buông tay anh ra, ngồi chống tay lên càm nhìn thẳng mặt anh, vui vẻ nói:

–    Em hiểu anh nói gì rồi.

–    Cô cũng không đến đỗi đần độn lắm, vậy thì bỏ qua chuyện con cái đi.

Anh mỏ bóp moi ra xắp tiền giấy và trút hết tiền cắc đưa cho Bích:

Ngày mai đổi tiền Euro, tui hông có thời giờ lên nhà băng, nhờ cô đổi dùm.

–    Chừng nào anh trở lợi?

–    Mau thì vài tuần, lâu thì vài tháng cũng có khi vài năm.

–    Có gặp em hông?

–    Nếu cô còn ở đây thì thế nào cũng sẽ gặp.

–    Nếu hông gặp lại số tiền nầy em làm sao đưa cho anh?

–    Thì cô cứ xài.

–    Ðâu được.

-Hổng ấy cô tìm mua một món quà nào đó, coi như tui tặng cô làm kỷ niệm.

–    Anh muốn tặng em cái gì?

–    Tùy cô.

–    Hông, anh chọn cho em.

-Vậy thì như vầy, một cái xú chiêng và một cái quần xì líp loại tốt. Được hông ?  Được, nhưng ý nghĩa gì?

Trên đời nầy hông chuyện nào có nghĩa hết, ý nghĩa do người ta bày đặt ra đó thôi, như chuyện cô đi chơi với tôi nãy giờ cũng chẳng ý nghĩa gì ráo.

–    Nhưng em thấy vui.

-Lát nữa cô sẽ buồn, mai kia mốt nọ cô sẽ quên, mọi chuyện cứ tuần tự đâu vào đó. Vậy tùy cô, cô cho chuyện nầy ý nghĩa gì cũng được.

–    Em có rồi.

–    Gì?

–    Kỷ niệm.

–    Vậy thì cất cái cái kỷ niệm lại đi.

Như vậy cô ta mới chịu bỏ tiền vô bóp.

–    Uống hết rượu anh đưa em về nhà nhé.

–    Tới bến tắc xi thôi.

-Ừ, cũng được.

Tắc xi đậu một hàng dọc nhưng chiếc nào cũng đầy người. Hơn ba giờ sáng, ai cũng muốn về với căn nhà để ngã lưng trên chiếc giường ấm áp của mình. Nhưng Bích thì không chú ý chuyện đón xe, cô đứng ôm anh cứng ngắc, mặt áp sát vào vai anh tìm hơi ấm. Anh đưa hai tay mân mê khuôn mặt từng trải và mệt mỏi của người đàn bà tuổi đã ngoài ba mươi mà lòng anh tràn ngập nỗi buồn. Biết làm sao bây giờ, một mình một thân anh lê đi cùng khắp, đôi khi còn thấy nặng nề thì làm sao anh dám nghĩ tới chuyện ra tay nghĩa hiệp như anh hùng Từ Hải ngày xưa. Hai người đứng như bức tượng đồng giữa đám người loi nhoi lóc nhóc. Một chiếc tắc xi trống ghé lại, Bích thở hắt một cái, hôn anh nồng nàn và vội vàng chui tọt vô xe. Xe rộng quá nên trông Bích nhỏ xíu và chiếc bông hồng trên tay không đủ lấp khoảng không gian lạnh lùng phí băng sau. Anh nhìn lên bầu trời trắng đục. Anh chép miệng: “Chật! Hy vọng mọi chuyện sẽ trôi qua khi trời trở sáng.”

***

Sau sáu tháng hải hành đó đây trên miền nắng nóng Châu Phi. Hôm nay anh trở lại thì trời đất sáng ngời, ngày dài ra và đêm thì ngắn lại. Ðường đi khô ráo, cây xanh lá, bông nở đủ màu. Chiều nay anh ghé vào quán rượu quen thuộc, Tony ngồi chông ngóc sau bar, vừa thấy anh nó chào một cái rồi đi vô trong. Một lát sau trở ra nó không hỏi anh uống gì như thường lệ. Tony bắt đầu câu chuyện bằng cách đưa anh một bao thư.

–  Bích gởi cho mầy đó.

–  Cái gì đây?

-Mở ra thì biết.

Anh mở thư, bên trong có hai tờ Euro mới toan.

Bích đâu?

–  Nó nghỉ làm ở đây rồi.

–  Nghỉ đây rồi cô ta đi đâu?

-Ai biết, nhưng nó có nhắn tao nói với mầy, đây là số tiền mầy nhờ đổi dùm, nó chỉ lấy đủ mua món quà mà mầy tặng cho nó.  

 Anh để bao thư xuống mặt bàn và leo lên chiếc ghế cao cẳng ngồi. Anh móc thuốc đưa qua mời Tony và kêu rượu. Tony vừa rót rượu vừa nói: 

-Con nhỏ cũng ngộ, trước kia thấy người Việt là nó tránh mặt, nhưng không hiểu sao từ khi gặp mầy nó như người mất hồn, cứ hỏi tao một chuyến đi của mầy là bao lâu. Nhứt là thời gian gần nghỉ việc, nó có ý chờ đợi mầy.

–   Chờ tao chi vậy?

–   Mầy hổng biết làm sao tao biết.

–   Đàn bà!      

Hớp rượu và đưa thuốc lên môi hút, anh đảo mắt nhìn chung quanh, ánh sáng trong quán tờ mờ trông lạnh lẽo quá. Hai cô gái Phi Luật Tân, một cô lau sàn nhà, một cô chùi bàn ghế. Nhìn hai cô gái anh chợt nghĩ tới truyện Kiều. Có thật không một nàng Kiều? Ðã mấy trăm năm trôi qua mà thiên hạ vẫn còn nhắc nhở chỉ vì Kiều bán thân, trôi dạt hết mười lăm năm. Ngày nay khắp thế giới nầy có biết bao nhiêu mảnh đời vô định. Như anh với Tony gần hết một đời luân lạc, cho tới bây giờ vẫn chưa trở lại quê hương. Và hai cô gái lui cui đằng kia, bắt đầu cuộc sống tha hương bằng nghề ngày thì quét dọn, lau chùi, đêm về trần truồng tiếp khách. Lòng anh bỗng nhiên chùng xuống. Anh nhớ thương Bích vô cùng, rồi đây dòng đời sẽ đưa cô về đâu trong cái thế giới càng ngày càng xô bồ xô bộn.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 15 May 2026

Tôi chuẩn bị trước, đâu vào dó xong rồi. Ngày niêm yết kết quả kỳ thi, tôi báo tin cho hai bác Huế Quảng rằng tội đã hỏng. Đồng thời, tôi cũng xin rời khỏi nhà bác. Bác Quảng an ủi, khuyên tôi đừng nản. Hãy cố gắng tiếp tục cho mùa thi năm sau. Bác Huế muốn tôi ở lại. Nhưng tôi đã quyết, Bác lo lắng cho những ngày sắp tới của tôi, không biết sẽ ra sao. Tôi nói, có người hứa giúp con việc làm trong mùa hè. Xin hai bác yên tâm. Khi tôi xếp đồ đạc vào thùng carton, hai em Đông, Hà quanh quẩn quyến luyến. Bé Đông thường ngày vui như chim ríu rít trên cành. Hôm nay, nó đứng dựa vách lặng nhin tôi. Mắt nó buồn. Tôi bổng thấy nó lớn hon trong nỗi buồn ấy. Tôi hứa, thỉnh thoảng sẽ quay về thăm. Nó cắn môi làm thinh.

Tôi theo Thuận về nhà. Hắn là người bạn cùng lớp, Trọ học ở Nha Trang. Nhà hắn ở Trường Lạc, quận Diên Khánh. Tôi đã đến chơi vài lần. Sau nhà có con suối, nước xanh trong vắt, nhìn thấy cát sạn dưới đáy. Hai bên bờ suối, cây cối mọc um tùm, tre trúc nghiêng mình ra dòng nước. Cảnh vườn quê tươi mát. Thiên nhiên rợp bóng màu xanh. Tôi thường ngâm mình dưới suối cả buổi, Tâm hồn như tẩy sạch hết những bụi bặm phiền não lo toan.

Bố mẹ của Thuận là người Bắc di cư. Ông làm trong ban Diệt Trừ Sốt Rét. Tính xuề xòa. Thích ăn thịt chó, với vài ba cốc rượu. Ông hay nói, chúng mày học là để có chút chữ nghĩa cho đời đừng khinh bạc. Chứ thời này, muốn làm cha thiên hạ, khó lắm. Lần khác, ông lại nói, học hành đỗ đạt cũng tốt. Không đỗ cũng chẳng sao. Con người sống được, cốt ở hai bàn tay. Những năm mất mùa đói kém, thì bằng cấp cũng vất di. Ông chủ trương tay làm hàm nhai. Sống một đời giản dị, chẳng bon chen với ai. Thằng Thuận giống bố ở tính tình chân chất. Mẹ của Thuận rất cần cù lam lũ, Ngoài việc chăm sóc mảnh vườn liếp rau, bà còn lãnh quần do từ những tiệm giặt ủi đem về làm thêm phụ giúp gia dình. Ở với chồng lâu năm bà cũng ảnh hưởng tính chồng. An phận và làm ngơ trước những nổi bất bình. Chẳng bao giờ nghe bà than phiền ai điều gì.

Thuận và tôi thi rớt, Bố hắn cười hì hì, đỗ cũng thế, hỏng cũng vậy thôi. Ông đưa chúng tôi vào ban Diệt Trừ Sốt Rét. Mới đầu cũng gặp khó khăn, vì tôi chưa đúng tuổi lao động. Nhưng ông tròng tréo thế nào, rồi cũng xong. Mỗi sáng, tôi đội chiếc mủ nhựa màu vàng, ngồi trên xe với những thùng thuốc DDT và bình xịt, đến những vùng thân dã hẻo lánh xa xôi. Mang cái bình xịt nặng nề, nhưng cầm cái vòi xịt quơ qua quơ lại thì như một trò chơi thích thú. Xóm nghèo làng quê cũng giống quê tôi. Thanh bình và cực nhọc. Các cụ già bình dị thương yêu, Những nông dân chất phác. Những cô gai quê mùa mộc mạc. Tất cả đều hòa mình với thiên nhiên, sống hiền từ cùng đất đại cây cỏ. Giờ nghỉ trưa. Tôi hay ngồi nhìn những chùm rong xanh lục dập dềnh dưới dòng nước chẩy, hoặc những con bướm nhỏ nhịp đôi cánh màu vàng bên những bông hoa dại. Tôi nghĩ, nếu được cùng Phương Nghi ngồi ngắm cái cảnh bình yên thơ mộng thế này, thì hạnh phúc biết bao. Bất cứ lúc nào không bận công việc, tôi cũng nhớ nó. Nhớ tiếng nói, nụ cười. Nhớ đôi mất, làn môi. Nhớ bàn tay, vầng trán, Nhớ mùi thịt da, hơi thở trong lần nó cúi sát mặt tôi, tóc nó đồ xuống một vùng bóng tối âm u. Không hiểu sao tâm trí lội không thể dứt rời hình bóng nó. Thật là một điều kỳ lạ không ngờ. Buổi trưa gặp nhau. Buổi tối bắt đầu mơ tưởng. Trưa ngày hôm sau đã cầm tay âu yếm. Có tình yêu nào nhanh đến thế không? Hay chỉ là một thứ tình cảm bồng bột nhất thời? Tôi từng nghe nói tiếng sét ái tình. Lẽ nào mới mười bảy tuổi, tôi đã chạm phải tiếng sét? Tôi tâm sự với Thuận. Hắn gạt ngang, chúng mày chỉ vớ vẫn, chả ra làm sao cả! Cái thằng cục mịch lầm lỳ như con tê giác, không an ủi tôi được một lời. Mỗi cuối tuần, mẹ của Thuận lãnh đồ giặt nhiều hơn. Thuận và tôi mang ra con suối sau nhà, vừa giặt vừa tắm. Bố của Thuận giăng thêm những sợi dây phơi đồ. Quần áo phơi đầy cả khu vườn sau, như một rừng cờ đủ màu phất phới. Bà ủi đến mấy ngày mới xong.

Trưa Chủ Nhật, nếu không kiếm được thịt chó, thế nào bà cũng làm cho chồng một dĩa tiết canh, kèm theo đĩa lòng heo. Ông trải tấm chiếu giữa nhà, gọi chúng tôi cùng ngồi lại, Sau vài ba ly, ông bảo, rượu làm người ta cởi mở tấm lòng, dễ tha thứ cho nhau những lỗi lầm. Lúc hơi men ấm mặt. ông lại bảo, đời này toàn là những thứ chó đẻ. Tao bỏ bao nhiêu của cải, đất đai ruộng vườn chạy vào đây. Nếu không nhanh chân, chắc đã bị đem ra đấu tố địa chủ rồi. Nói quanh co một hồi, hóa ra ông chỉ có mấy sào ruộng con, không đủ để cắm dùi.