Một thời để yêu & Một thời để chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Tầu dừng lại trước ga chói chang ánh sáng. Nhà ga được ngụy trang để tránh công kích. Mấy căn nhà xung quanh chỉ còn trơ đống đá cháy đen; người ta đã cất tạm những căn nhà gỗ, tường và nóc quét sơn xanh và nâu. Vài tù binh Nga đang gỡ mấy toa hàng hóa dừng trên đường ray. Chỗ này là một đường xe lửa nhỏ tiếp vào một đường lớn. Thương binh được đưa vào một trong những căn nhà gỗ ấy. Những người còn đi được đến ngồi trên ghế gỗ mộc mạc. Một vài người về phép đi theo họ. Họ tụ tập lại với nhau, tránh mắt soi mói sợ lỡ ra bị giữ lại đưa ra mặt trận. Trời xám xịt tỏa xuống một thứ ánh sáng mệt mỏi héo hắt, đất phủ tuyết lầy lội dơ dáy. Xa xa tiếng máy bay ầm ì. Tiếng kêu không phải ở phía trên trời, hẳn là phải có một sân bay gần đây. Rồi một đoàn phi cơ bay qua nhà ga, vọt lên cao trông giống một đàn chim sơn ca. Graber thấy mình buồn ngủ mềm người, “Chim sơn ca. Điềm hòa bình”.

Hai người cảnh sát sấn sổ bước vào.

– Cho coi giấy tờ!

Họ có cái vẻ sung sức, tự chủ của những người không biết tới nguy hiểm. Đồng phục của họ tươm tất, súng ống sáng lộn. Ít ra họ nặng hơn những anh nghỉ phép nặng cân nhất đến mười kí-lô.

Mấy người quân nhân lặng lẽ xuất trình giấy phép. Họ xem xét cẩn thận trước khi trả lại. Họ cũng đòi coi sổ quân bạ.

Người già nhất nói:

– Các anh đến lãnh thực phẩm tại trại ba. Mà rửa ráy cho sạch sẽ một chút. Gớm ăn với mặc! Mang y phục ấy về nhà để nhát ai?

Mấy người tiến đến trại ba. Một anh lính râu ria rậm rạp lẩm bẩm:

– Đồ bẩn thỉu! Chỉ nói hoẹt! Nó cho mình là đồ trộm cướp chắc!

– Ở Stalingrad đấy à?

– Nếu tôi ở đấy thì tôi đã chẳng còn ở đây. Đã vào cái hỏa ngục ấy thì đừng có hòng ra thoát.

Một anh hạ sĩ quan tóc đã hoa râm bảo hắn ta:

– Này chú nhỏ, ở ngoài mặt trận chú muốn nói gì thì nói, nhưng ở đây có mồm thì cắp có nắp thì đậy kẻo mà uổng mạng.

Họ đứng nối đuôi nhau tay cầm ga-men. Phải đợi đến hơn một giờ. Ai nấy rét cầm cập, nhưng không ai than thở, họ quen rồi. Sau cùng mỗi người được lãnh một bát canh trong đó có một miếng thịt, một ít rau và vài mảnh khoai tây.

Người nói rằng chưa từng đến Stalingrad cẩn thận nhìn quanh mình rồi mới nói:

– Hẳn là cảnh sát mật vụ họ không ăn như mình đâu.

Một người hạ sĩ quan nhún vai nói :

– Không biết họ nhúng mũi vào đây để làm gì?

Graber ăn canh ngon lành, y nghĩ thầm: “Ít ra canh cũng nóng!”. Thôi về nhà ăn bù lại vậy. Mẹ y nấu nướng rất khéo. Y sẽ bảo mẹ làm cho ăn xúc-xích khoai và hành sốt thật ngon. Mẹ cũng có thể kiếm cách làm cho con món bánh dâu thả kem.

***

Còn phải đợi đến chiều tối. Lúc nào cũng có thương binh đổ đến. Mỗi đoàn xe đến là những người nghỉ phép thêm lo ngại. Mỗi lúc họ thêm sợ rằng với sự khó khăn chuyên chở này, họ có thể bị đẩy trở lại mặt trận. Nhưng rồi đến nửa đêm cũng có chuyến xe. Hàng ngàn ngôi sao lấp lánh trong đêm; mọi người đều nguyền rủa ông trời, sao trời lại tạo ra điều kiện lý tưởng cho cuộc oanh tạc? Đã từ lâu thiên nhiên không còn ý nghĩa gì khác đối với họ ngoài ý nghĩa liên hệ tới chiến tranh, ý nghĩa đe dọa hay che chở họ.

Thương binh được đưa lên tàu. Ba người được trả ngay về trại vì họ chết rồi. Cáng để đầy sân ga và chung quanh nhà ga. Cáng nào không có mền đắp là biết ngay nạn nhân đã chết. Tối âm tối thầm vì cấm ngặt không được có chút ánh lửa.

Rồi đến lượt những thương binh còn đi được. Họ bị kiểm soát gắt gao. Graber tự nghĩ: “Nhiều người quá, có lẽ không có chỗ cho người nghỉ phép”. Y ngẩng mặt nhìn trời, tim đập dồn dập. Trên đầu, tiếng máy bay ầm ầm nhưng mắt nhìn không thấy. Y biết rằng đó là máy bay Đức nhưng y vẫn sợ. Y còn sợ hơn ở ngoài mặt trận. Rồi sau họ gọi đến những người nghỉ phép.

Vài người chạy lại nhưng bị cảnh sát ngăn cản. Phải xuất trình giấy kiểm soát đã cấp cho họ từ trước. Xong việc mới được lên tầu; đã có một vài người bị thương nhẹ ở đấy trước rồi. Tranh giành nhau, văng tục. Cảnh sát bắt họ xuống xếp hàng. Người ta dẫn tới một toa khác đã có vài người bị thương nhẹ nhưng còn chỗ cho người mới đến. Graber kiếm chỗ ngồi giữa toa. Y biết rằng trong trường hợp bị oanh tạc thì ở gần cửa và các góc toa tầu nguy hiểm hơn cả.

Tầu không chạy. Trong toa tối om. Mọi người chờ đợi. Ở ngoài đã yên tiếng ồn ào. Một người lính đi qua, có hai cảnh binh kèm hai bên rồi đến một nhóm tù binh Nga vác những thùng đạn dược, sau đến vài người mật vụ cười nói bô bô. Tầu vẫn không chạy. Thương binh bắt đầu nguyền rủa. Họ đã thành những người chẳng cần gì cả, chẳng sợ gì nữa.

Graber ngồi thu hình trên ghế, cố sức ngủ một chút cho đến lúc tầu chạy. Nhưng dẫu sao y cũng để ý nghe động tĩnh. Trong tối y nhìn mắt chúng bạn phản chiếu lờ mờ ánh tuyết và ánh sao. Trời tối quá không ai nhìn rõ mặt ai. Trong toa tầu chỉ có bóng tối và những con mắt lo ngại. Băng bó vết thương của thương binh điểm những đốm trắng trong chỗ tối đen.

Tầu chuyển bánh rồi lại dừng. Một vài tiếng gọi vang lên. Lát sau, cửa mở, hai cái cáng được khiêng xuống sân ga. Graber nghĩ thầm: lại thêm hai người nữa chết, có thêm hai chỗ cho người sống. Miễn là đến lúc cuối cùng đừng có thêm một đoàn xe thương binh khác khiến cho người nghỉ phép phải nhường chỗ.

Tầu lại chuyển bánh. Ngoài cửa sổ, sân ga lùi dần về phía sau. Cảnh binh, tù binh, lính mật vụ, từng đống thùng và két, rồi bất thần xuất hiện cánh đồng tuyết phủ mênh mông. Mọi người quay ra phía cửa. Không lẽ tầu lại dừng lần nữa. Không, toa tầu bị lôi miết đi nhanh hơn, những tiếng động lần lần thu gọn lại thành từng chuỗi nhịp nhàng. Xe tăng, trọng pháo, lướt qua ngoài cửa, từng đơn vị binh sĩ ngước mắt nhìn xe hỏa đi qua. Bất thần Graber thấy mệt lả: “Về nhà, về nhà. Ta về nhà. Trời ơi sự vui sướng làm mình phát sợ…”

***

Đến lúc mặt trời mọc thì tuyết giáng. Đến một ga, tầu dừng lại để uống chút cà-phê. Tỉnh nhỏ này bị tàn phá gần hết, người ta trông thấy từng đống gạch vụn phía sau ga. Người ta bỏ lại một vài xác người mới chết trên tầu. Graber lãnh chén đồ uống rồi hấp tấp trở lại chỗ ngồi không kịp đi lãnh bánh mì.

Cảnh binh lên từng toa lục soát những người bị thương nhẹ để cho nằm nhà thương tỉnh này. Tin ấy truyền đi khắp chuyến xe. Người ta tranh nhau trốn vào cầu tiêu. Có người kêu:

– Họ tới nơi kìa!

Sau một hồi xô đẩy nhau, cửa cầu tiêu đóng lại, hai anh may mắn chiếm được chỗ. Một thương binh len vào giữa đám đông ấy bây giờ đứng nhìn cánh tay cột dây treo lên cổ: trên miếng băng bó dơ bẩn đã hiện ra một vết máu tươi mỗi lúc một lan rộng. Một anh khác nghĩ ra mưu kế, anh ta mở cửa lén ra ngoài rồi đóng cửa lại, đứng nép vào thành toa tầu ở bên goài. Ai thò đầu ra ngoài một chút có thể nom thấy mặt anh ta tái nhợt giữa đám tuyết bay mù mịt.

Có người nói:

– Đừng nhìn ra thế, họ sinh nghi thì hắn bị bắt mất!

Người thương binh bị vết thương chảy máu nói:

– Tôi thì tôi muốn về nhà, đã hai lần họ tông tôi vào một nhà thương tồi tệ ở nhà quê. Vừa mới khỏi đã bị đưa ra mặt trận không được phép nghỉ dưỡng sức. Dù sao tôi cũng đáng được về nhà ít bữa chớ!

Anh ta nhìn những người nghỉ phép với con mắt hằn học. Không ai trả lời. Còn phải đợi lâu người kiểm soát mới đến nơi. Hai người xét các toa tàu. Hai người nữa đứng dưới sân ga coi những thương binh phải ở lại. Một trong hai người ấy là một y tá trẻ tuổi. Anh ta đưa mắt nhìn qua chứng chỉ của thương binh rồi ra lệnh :

– Đi xuống

Nói xong anh ta thản nhiên soát đến người khác.

Một thương binh bé nhỏ, tóc đã hoa râm vẫn ngồi yên trên ghế. Viên cảnh binh đi theo người y tá nói xẵng:

– Đi xuống! Ông nội! Không nghe thấy à!

Anh thương binh vẫn không nhúc nhích. Anh ta bị thương ở vai. Viên cảnh binh nhắc lại:

– Đi xuống!

Anh ta không hề nao núng. Anh ta mín môi lại nhìn, thẳng ra trước mặt làm như không nghe tiếng. Viên cảnh binh đứng phưỡn người ra giữa toa tầu, dang hai cẳng, nắm hai tay đặt lên háng.

– Có lẽ phải gửi trát viết vào giấy tín chỉ đến thôi thúc chắc! Đứng dậy!

Anh ta vẫn giả điếc. Viên cảnh binh gầm lên:

– Đi ra, anh không biết rằng người trên ra lệnh cho anh à?

Người y tá vội can thiệp:

– Thôi anh! Để rồi y xuống.

Người y tá có cái mặt hồng hào, mắt không có lông mi.

Y bảo người thương binh:

– Vết thương của anh chảy máu, anh phải xuống để người ta thay băng cho chứ.

Người thương binh khẽ mở miệng:

– Tôi…

Nhưng một người cảnh sát nữa đã tiến tới. Họ ôm lấy anh thương binh nhấc bổng lên như một gói đồ. Anh thương binh kêu to lên nhưng nét mặt vẫn không thay đổi. Họ vác anh ta đi không đến nỗi phũ phàng lắm, họ làm một công việc vô nhân tính, hầu như không can dự gì đến họ và người thương binh. Chẳng bao lâu bóng người thương binh bé nhỏ lẫn vào đám đông thương binh khác đứng ngoài sân ga.

Người y tá hỏi một người khác:

– Thế nào? Anh muốn gì?

– Băng bó rồi tôi có thể ra đi được không xếp!

Để rồi xem, trong khi chờ đợi phải xuống đây đã.

Người thương binh đứng dậy, mặt buồn bã. Y đã gọi người y tá bằng xếp nhưng cũng chẳng được may mắn hơn. Người cảnh binh đập mạnh cửa cầu tiêu và nói với giọng khinh bỉ:

– Lần nào cũng giở trò này. Sao mà người nào cũng nghĩ ra kế trốn vào cầu tiêu thế? Mở cửa!

Cửa mở, một anh lính thò ra.

– A! Bây giờ chơi trò ú tim hả?

– Tôi bị tào tháo đuổi. Có phải cầu tiêu để đi tiêu không?

– Sao mà anh chọn đúng lúc này để đi tiêu thế! Anh tưởng như thế là đắc sách rồi hả.

Người lính xoay mũ lại để lộ một cái huy chương hạng nhất. Viên cảnh binh không có huy chương. Người lính có điệu bộ láo xược lặng lẽ trả lời viên cảnh binh:

– Phải, thiết tưởng sẽ đắc sách lắm!

Người cảnh binh đỏ mặt. Người y tá vội nói:

– Thôi đi xuống!

Anh ta cũng chẳng buồn nhìn người thương binh.

– Anh chưa xem vết thương của tôi thế nào!

– Nhìn băng bó cũng biết rồi. Thôi anh cảm phiền đi xuống giùm.

Người thương binh ráng mỉm cười:

– Vâng được, thì xuống!

Người cảnh binh nóng ruột hỏi:

– Đã xong chưa?

– Xong rồi.

Người cảnh binh liếc mắt một lần cuối cùng nhìn mấy người nghỉ phép cầm giấy tờ trên tay rồi theo viên y tá đi xuống. Cửa cầu tiêu mở ra không một tiếng động. Một viên trung sĩ nấp trong ấy suốt thời gian khám xét len lén bước ra ngoài. Mặt y vã mồ hôi. Y ngã xuống ghế. Một lát sau y mới nói được:

– Họ đi rồi chứ?

– Chắc là đi rồi.

Y ngồi yên lặng, nom rõ ra người y đã kiệt lực. Một lát sau y mới lẩm bẩm:

– Tôi cầu nguyện cho hắn.

– Ai? Anh muốn nói thằng cảnh binh khốn nạn đây à?

– Không phải. Tôi cầu nguyện cho thằng bạn cùng nấp trong cầu tiêu. Y bảo tôi ở lại để y ra, y đã có cách đối phó. Bây giờ y đâu rồi?

– Ngoài kia, họ lôi đi rồi. Y làm cho thằng cha cảnh binh tức hộc máu đến nỗi quên không nhìn vào trong cầu tiêu.

– Tôi sẽ cầu nguyện cho y. Tôi cần phải về nhà. Vì vào nằm nhà thương ở thôn quê này thì không được nghỉ phép. Tôi phải trở về Đức. Vợ tôi bị ung thư. Năm nay mới có 30 tuổi. Nó nằm liệt gường đã bốn tháng nay rồi.

Y đưa hai con mắt thú bị người ta săn đuổi nhìn mọi người. Chẳng ai buồn trả lời y.

***

Một giờ sau tàu mới chạy. Người trốn ra ngoài đường rây không thấy trở vào. Graber nghĩ thầm “Có lẽ hắn bị bắt rồi”. Đến trưa một hạ sĩ quan thò mặt vào:

– Có ai muốn cắt tóc không?

– Hả?

– Tôi là thợ cắt tóc. Có xà-bông tốt, xà-bông Pháp đây.

– Tầu chạy thế này mà cắt tóc được à?

– Được chứ. Tôi vừa cắt ở bên toa sĩ quan.

– Bao nhiêu tiền?

– Nửa bảng thôi, giá rẻ mà, công phu lắm, trước hết còn phải lấy kéo cắt râu.

– Được rồi.

Một anh lính nghỉ phép rút bóp ra:

– Nhưng nếu anh làm đứt da mặt thì tôi đòi tiền lại.

Người sĩ quan đặt một chén nước đầy lên chiếc bàn và lấy trong bao ra một cái lược và một cái kéo. Y mang theo một cái bao giấy để đựng tóc. Sau cùng y lấy xà-bông bôi lên mặt. Bột xà-bông trắng toát tưởng như y lấy tuyết để cạo mặt. Y rất khéo tay. Có ba người cắt tóc. Mấy thương binh không muốn cắt. Người thứ ba là Graber. Y nhìn mấy người cắt tóc xong mà ngạc nhiên. Cái mặt ửng đỏ và sạm sỡ lên, phía dưới lộ ra cái cằm trắng và nhẵn. Y có cảm tưởng ấm lòng khi lưỡi dao cạo đưa lên da mặt. Đây là sự tiếp xúc đầu tiên với đời sống dân sự. Nhất là người thợ cạo mặt cho y lại là người ở cấp bậc trên.

Đến quá trưa xe hỏa lại dừng lần nữa. Xe thực phẩm chờ sẵn ở ga. Mọi người bảo nhau mang ga-men ra, chỉ có một người ở lại trong toa. Miệng y mấp máy nói không ra tiếng. Bàn tay mặt còn cử động được để lên bàn tay kia quấn khăn kín mít. Họ được ăn những miếng cải sốt nóng.

***

Lúc qua biên giới thì trời tối. Mọi người phải xuống hết. Lính nghỉ phép được đưa vào trại tẩy uế. Họ cởi hết quần áo cho người giữ việc tẩy uế và để trần truồng như thế ngồi đợi. Căn phòng ấm áp, nước nóng, xà-bông có mùi lưu huỳnh. Từ nhiều tháng nay, đây là lần thứ nhất Graber ở trong một căn phòng sưởi ấm thật sự. Phía trong cùng có hai cái lò sưởi, nhưng chỉ có những phía người quay vào lửa để được ấm mà thôi. Ở đây người ta khoan khoái mà thấy mình ở trong bầu không khí ấm áp, thấy người được giãn xương giãn cốt.

Họ bắt chấy để vào móng tay bóp kêu tanh tách. Graber không có chấy, rận ở người không ăn lên da đầu, người lính biết rõ luật thiên nhiên ấy. Chấy và rận biết tôn trọng lãnh thổ của nhau, chúng không có chiến tranh bao giờ.

Khí ấm áp làm cho y buồn ngủ. Y nhìn thân thể chúng bạn: da thì trắng, chân thì nứt nẻ, sẹo thì đỏ hon hỏn. Đồng phục của họ đem treo vào phòng tẩy uế. Bây giờ họ chỉ còn là những người trần truồng, ngồi bình thản bắt chấy rận, chỉ có thế cũng đủ làm cho câu chuyện đổi chiều hướng. Không còn là chuyện chiến tranh nữa, họ nói đến ăn uống và đàn bà.

– Nhà tôi đã sinh đứa con. – Tiếng nói của một anh lính ngồi cạnh Graber, anh ta đang lấy gương soi để bắt chấy trên lông mày.

– Tôi vắng nhà đã hai năm và đứa bé được bốn tháng. Vợ tôi nó nói con được mười bốn tháng và tôi là cha đứa bé. Nhưng mẹ tôi bảo rằng nó là con một thằng lính Nga. Vả chăng vợ tôi nó mới nói đến đứa bé độ mười tháng nay. Trước kia nó có nói gì đến con với cái. Các anh nghĩ thế nào?

Một anh hói trán trả lời tự nhiên:

– Chuyện đó xảy ra nhiều. Thiếu gì con những tù binh ngoại quốc ở trong nước.

– Ừ! Thế thì như anh, anh xử trí thế nào?

– Tôi thì tôi đuổi người mẹ ra khỏi cửa. Giống heo giống chó chớ không phải người.

– Heo chó gì? Tại sao lại heo chó?

Anh hói trán lắc đầu:

– Thời buổi chiến tranh cái gì cũng khác. Mình phải hiểu như thế mới được. Trai hay gái?

– Trai, nó nói giống tôi lắm.

– Nếu con trai thì anh cứ nuôi, ở quê nhà con trai được việc lắm.

– Nhưng nó lai Nga.

– Rồi sao nữa? Người Nga cũng là giống Aryens. Tổ quốc đang cần lính.

– Đâu có giản dị như thế. Anh nói vậy được vì anh có phải là người trong cảnh ngộ đâu.

– Vậy anh muốn trai nước Đức thuần chủng có chứng chỉ đàng hoàng làm cho vợ anh có con à?

– Đâu có được!

– Thế thì việc gì phải ca thán!

Anh lính ngồi cạnh Graber nói khẽ :

– Ít ra vợ nó cũng phải đợi mình về chứ!

Anh trán hói nhún vai:

– Có người đợi được, có người không đợi được. Khi người ta vắng nhà hàng mấy năm trời thì cũng đừng nên đòi hỏi quá.

– Anh có vợ không?

– Không, thế cũng may!

Một người mảnh khảnh, mặt chuột, miệng dúm, bỗng xen vào một câu làm ai nấy dồn mắt về phía y :

– Người Nga không phải là giống Aryens.

Anh trán hói vội nói:

– Anh lầm. Họ là người Aryens. Chứng cớ là đã có hồi chúng ta đồng minh với họ.

– Họ là giống người hèn kém, giống Bolchevik chứ không phải giống Aryens.

– Anh lầm. Người Ba Lan, người Tiệp Khắc, người Pháp là giống người hạ đẳng. Nhưng người Nga là giống Aryens, chúng ta đến giải phóng họ khỏi ách cộng sản. Hẳn là không phải Aryens thượng đẳng như chúng ta, họ chỉ là Aryens bậc dưới. Mình đánh họ nhưng không tiêu diệt họ.

Anh mặt chuột bỗng trở nên gây gổ:

– Gọi là giống người hạ đẳng. Đúng chủ thuyết là như vậy.

– Phải rồi, nhưng đã thay đổi từ lâu rồi. Cũng như người Nhật ấy. Từ khi chúng ta đồng minh với họ thì họ là Aryens. Người Aryens da vàng chứ còn gì nữa.

– Như vậy thì phải xử trí thế nào với đứa con ấy?

– Giết chết nó đi. Làm cho nó chết mau và không đau đớn. Không có cách nào khác.

– Thế còn người mẹ?

– Nhà nước phải lo. Phải đem cạo đầu. Nung sắt đỏ làm dấu rồi tống vào trại tập trung hay đem treo cổ cho giản dị.

– Nhà chức trách không làm gì cả.

– Hẳn là người ta chưa biết.

– Người ta biết chứ. Mẹ tôi đã nói cho họ biết rồi.

– Như vậy thì nhà chức trách đã ăn hối lộ mà làm lơ. Phải đưa họ đi trại tập trung hay đem xử giảo.

Anh hói trán nói:

– Chẳng thà người Pháp. Theo nghiên cứu mới nhất thì người Pháp cũng có chút máu Aryens.

– Dân Pháp là giống người thoái hóa.

Graber hình như nhận thấy người nói câu ấy có vẻ mỉm cười. Một người khác sốt ruột đi lại trong phòng, hai cẳng anh ta rõ ra vòng kiềng. Anh ta dừng lại phồng bộ ngực gà trống.

– Chúng ta là giống người thượng đẳng, còn các dân tộc khác là giống người nô lệ. Nhưng không biết người thường thôi thì họ thế nào?

Anh hói trán ra vẻ suy nghĩ rồi nói:

– Người Thụy Sĩ hay người Thụy Điển.

– Giống người dã man ấy.

– Giống da trắng làm gì còn người dã man.

– Anh tưởng thế chứ!

Graber thấy buồn ngủ. Y nghe lơ mơ thấy họ nói đến chuyện đàn bà. Những thuyết nhân chủng của nước Đức không phù hợp với quan niệm của y về tình yêu. Y không muốn cho vấn đề tình yêu dính dáng gì đến sự đào thải giả tạo, dòng giống, huyết thống, thụ thai. Vả chăng đời lính chỉ cho y ôm ấp những cô gái điếm ở những nơi xuất trận. Mấy cô gái này cũng không đến nỗi thực tế hơn mấy bà có chân trong hội Phụ nữ Đức quốc: ít ra họ còn được dung thứ vì họ phải làm một nghề không được tự do lựa chọn.

***

Họ lấy lại áo quần để mặc. Bây giờ họ lại trở thành lính, hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ… Người có đứa con dòng giống Nga trở thành một hạ sĩ. Anh lùn cũng vậy. Anh mặt chuột là binh nhì. Anh ta bèn hạ giọng khi thấy những người khác là hạ sĩ quan. Graber nhìn chiếc áo mình. Chiếc áo còn nóng hổi, xông lên mùi lưu hoàng. Dưới ve áo cả một làng rận đã chết ngạt. Y lấy móng tay cạo cẩn thận.

Người ta đưa họ vào một căn nhà gỗ nhỏ nghe một sĩ quan chánh trị giảng thuyết. Ông này đứng trên một cái bục, phía trên là hình Quốc trưởng, cắt nghĩa cho mọi người biết rằng khi trở lại quê hương xứ sở họ có trách nhiệm nặng nề. Họ không được nói gì về những điều tai nghe mắt thấy ngoài mặt trận. Vị trí của quân đội, sự điều động binh sĩ, những nơi chiếm đóng phải giữ bí mật hoàn toàn. Tai mắt kẻ thù ở bất cứ chỗ nào. Phải giữ yên lặng hoàn toàn. Người nào nói ra sẽ bị trừng phạt nặng. Kháng biện không phải lúc cũng là tội phản quốc. Quốc trưởng đích thân chỉ huy các trận chiến, ông hiểu rõ công việc ông làm. Vả chăng tình hình rất khả quan: quân Nga đã hấp hối, kiệt quệ vì tổn thất nặng nề: ta đang sửa soạn một cuộc phản công tất thắng; binh lính được tiếp tế đầy đủ, tinh thần quân đội rất cao. Như vậy, bất cứ sự tiết lộ nào về tình hình mặt trận cũng là tội phản quốc, chỉ trích cũng vậy. Mật vụ vẫn hoạt động, ở đâu cũng có mật vụ, không ai tránh khỏi lưới mật vụ.

Viên sĩ quan ngừng lại một chút, rồi tiếp tục nói một cách thản nhiên. Tuy hai vai gánh nặng quốc gia nhưng Quốc trưởng vẫn đích thân săn sóc anh em binh sĩ. Ông đã quyết định tặng anh em mỗi người một món quà để mang về biếu nhà, như thế để chứng minh rằng ở mặt trận binh sĩ được tiếp tế đầy đủ, họ dư giả để mang về cho dân chúng. Dọc đường ai mà mở gói quà ra sẽ bị trừng phạt nặng. Khi đến ga sẽ có cơ quan kiểm soát lại. Hitler muôn mặt!

Mọi người đều đứng nghiêm. Graber chờ đợi ca bài quốc ca; Đệ tam Đế quốc của nước Đức không hà tiện những bản ca ái quốc. Nhưng không hề có quốc ca, trái lại mới có một mệnh lệnh bất ngờ :

– Những người về nghỉ phép ở Rhénanie bước ra khỏi hàng!

Một vài người bước ra.

Viên sĩ quan nói tiếp:

– Đã bãi bỏ những chuyến xe nghỉ phép đi Rhénanie.

Ông ta hỏi người gần đấy:

– Anh về đâu?

– Cologne.

– Tôi đã nói rằng không được phép về nghỉ ở Rhénanie. Anh lựa nơi khác mà nghỉ.

Anh lính thất vọng vội kêu:

– Quê tôi ở Cologne.

– Tôi nhắc cho anh hay, không được về Cologne, anh có hiểu tiếng Đức không? Anh muốn đến tỉnh nào khác?

– Tôi không muốn đi đâu cả. Vợ con tôi ở cả Cologne. Tôi làm thợ ống khóa ở đây. Giấy phép của tôi cho về Cologne.

– Tôi thấy rồi. Nhưng không được về Cologne! Phải nói bao nhiêu lần nữa anh mới hiểu được là bây giờ tạm thời cấm về Cologne.

– Cấm à? Tại sao lại cấm?

– Anh mất trí rồi à? Ở đây ai là người có quyền hỏi vặn? Anh hay xếp của anh?

Một vị đại úy đến gần viên sĩ quan nói nhỏ mấy tiếng. Viên sĩ quan gật đầu.

– Những người về Hambourg và Alsace nghỉ phép, bước ra khỏi hàng.

Không ai nhúc nhích.

– Những người về Rhénanie đứng lại đây.

Những người khác bước sang bên trái. Tiến, tiến! Lãnh tặng phẩm!.

***

Tất cả đều tụ lại ở sân ga. Những người về nghỉ phép ở Rhénanie cũng trở lại đây sau vài phút.

Anh lùn vội hỏi:

– Có chuyện gì thế?

– Mày nghe rõ cả rồi đấy.

– Mày không được về Cologne, bây giờ mày muốn đi đâu?

– Đi Rothenbourg. Tao có người chị ở đó. Nhưng tao không biết đến Rothebourg để làm gì. Vợ tao ở Cologne. Không biết Cologne làm sao mà cấm không cho ai đến.

Một người trông thấy hai anh mật vụ SS nện gót giày cồm cộp vội kêu lên:

– Coi chừng.

– Tao đếch cần tụi nó! Tao đến Rothenbourg làm khỉ khô gì? Nhà tao ở Cologne cơ mà.

– Có lẽ gia đình mày đã dọn đến Bothebuorg.

– Hẳn là không. Không có chỗ. Vả chăng chị tao và vợ tao hai người không chịu đựng được nhau. Không biết ở Cologne có chuyện gì thế?

Anh thợ khóa nhìn chúng bạn với đôi mắt thất vọng. Mắt anh ta rưng rưng lệ, hai môi dày run run.

– Tại sao ai nấy đều được về thăm nhà mà tôi không được về. Mấy năm trời xa cách. Không biết vợ con ra sao. Thằng con lớn năm nay mười một tuổi rồi!

– Này anh! Anh không làm gì được đâu. Tốt hơn hết là gửi điện tín bảo chị ấy đến gặp anh ở Rothenbourg, không thì khó lòng lắm.

– Thế thì ai chịu tiền tầu? Mà đến đấy thì ăn ở vào đâu?

Anh mặt chuột nói:

– Nếu anh không được phép đến Cologne thì vợ anh cũng không được phép ra khỏi Cologne. Hẳn là phải có lệnh cấm.

Anh thợ khóa mở miệng ra nhưng không nói gì. Sau một phút lặng yên y chỉ nói:

– Có lẽ.

Y quay lại nhìn lần lượt mọi người.

– Không lẽ chỗ nào cũng bị tàn phá cả.

Anh lùn nói:

– Anh nên nghĩ rằng không bị xua trở lại mặt trận cũng là may rồi. Không có gì là lạ hết.

Graber ngồi yên nghe không nói gì cả. Người y run rẩy. Cái lạnh run không phải từ ngoài thấm vào. Sự đe dọa vô hình lẩn quất từ lâu bây giờ lại đè nặng xuống người y. Y cảm thấy nó lại gần, lùi xa rồi trở lại một cách nham hiểm. Nó nhìn y với cả ngàn khuôn mặt mà không có khuôn mặt nào là đích thực. Y đưa mắt nhìn đường rầy chạy biến vào chân trời. Phía chân trời kia là căn nhà ấm cúng, là gia đình sum họp, là yên ổn, là tất cả cái gì còn là vững chắc. Nhưng nhìn về phía tây thì hình như sự đe dọa lại đến với hàng đường rầy thẳng tắp biến vào chân trời. Có lẽ sự đe dọa ẩn náu ở chân trời kia, kinh khủng còn hơn ở tiền tuyến.

Anh thợ khóa than thở:

– Nghỉ phép! Bây giờ còn làm gì được với cái giấy nghỉ phép này!

Mấy người khác nhìn y không nói gì. Có thể nói rằng y mới mắc một bịnh bí hiểm. Hẳn là y không đắc tội, nhưng y đã bị ma trêu quỷ ám, mọi người theo bản năng tìm cách xa lánh. Mọi người mừng rằng không bị tai ách oan trái, nhưng họ cũng cảm thấy bị đe dọa. Tai họa rất hay lây.

Con tàu đi từ từ dưới sân che rồi dừng lại. Thình lình mọi người bị chìm trong chỗ tối mờ, không khác nào người ta vừa kéo màn đen che kín sân ga.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 21 May 2026

Tôi vẫn đi kèm trẻ tư gia, Áo cơm hèn mọn, nhưng lại là mấu chốt vô cùng quan trọng của đời sống. Tôi sợ bị mất việc. Lúc đó, không biết phải làm sao với những bữa cơm hàng ngày. Thời gian lê thê kéo dài buồn nản. Cùng thời gian ấy, tôi lại cảm thấy quá ngắn để chuẩn bị cho một kỳ thi. Tâm hồn lúc nào cũng muốn bay bổng, mà những thứ vặt vãnh cứ níu trì vướng víu. Tôi như con chim không bay được bằng đôi cánh của mình, lại lung tung với đôi chân què quặt. Làm việc này một chút. Mó tay việc kia một ít. Thì giờ bị chia ra nhiều mảnh vụn. Không đi chơi long nhong vô tích sự với mấy thằng bạn như dạo còn ở nhà bà Ba, nhưng cũng chẳng làm được điều gì hoàn hảo. Phần lớn là dở dang. Dỡ dang từ trong tâm  tưởng. Tuần nào tôi cũng đến nhà bác Huế, hướng dẫn bài vỡ cho hai con bé. Bé Hà đã lên lớp nhất. Đôi mắt nó rập khuôn mắt mẹ. Phàng phất nét buồn ngay cả những lúc vui. Không biet phong thổ cảnh sắc đất thần kinh ra sao, mà nó vận vào tiếng nói trầm trầm của con người, không lên giọng nổi. Đội mắt bác Huế và bé Hà, là đôi mắt của hoài cổ nhớ thương một thời xa vắng. Có lần tôi hỏi, bác Huế có chuyện chi buồn dai dẳng? Bác nói, không. Tôi nói, sao con thấy mắt bác buồn quá, Bác ngạc nhiên, rứa à? Tôi nghĩ, có lẽ từ thưở khai sinh, nỗi buồn đã có sẵn trong căn cơ huyết tộc của bác. Còn bé Đông, không giống mẹ, cũng chẳng giống bác Quảng. Mắt sáng long lanh, có pha chút cười cười như chế nhạo. Tính hay hờn dỗi. Nói điều gì động chạm. nó sẽ bỏ ăn. Tôi bảo, khi nào chấm dứt tuyệt thực, phải tuyn bố cho moi người biết. Vài tiếng đồng hồ sau, bé Hà mách nhỏ, chị Đông mang chuối và bánh ngọt vào phòng ăn lén. Tôi cuời nhạo, tuyệt thực kiểu đó thi cả năm cũng không ngất xiu. Nó lại đổi cách khác. Không nói chuyện với tôi, Như thể lại khoe. Để trả lời những câu hỏi rắc rối. Sự học của tôi bị mắc nghẹn. Ban đêm, dù có thức khuya, cũng chẳng thu thập được gì nhiều. Mỗi khi kèm trẻ về, mở cửa vào căn nhà tối thui, nghe rờn rợn, Nếu có một bàn tay bất ngờ vỗ vai, có thể tôi giật mình chết giấc, Trước khi đi, tôi muốn thắp ngọn đèn dầu nhỏ, để khi về có ánh sáng. Nhưng lại ngại chuột làm ngã, cháy nhà. Trong nhà chẳng có góc kẹt nào dể chuột trú ẩn. Chúng chui từ đâu không thấy. Về đêm, nghe kêu rúc rích chổ này, chạy rúc rích chổ kia. Có lẽ, chúng vào từ nghĩa địa. Tôi vốn đã sợ ma, càng sợ thêm. Những tiếng động nhỏ trong bóng tối, tôi tường tượng ra đủ thứ hình dạng của hồn ma bóng quế. Lúc ngồi học bài với ngọn đèn dầu tỏa sáng yếu ớt, luôn luôn tôi cảm giác như có ai đó, im lặng đứng sau lưng nhìn tôi. Tôi lạnh gáy từng hồi. Khốn nạn! Cái cảm giác rờn rợn không xua đi được. Tôi như có con mắt thứ ba, thấy cả ở phía sau lưng, Tưởng tượng, có một khuôn mặt người lạ, lúc nghiêm, lúc cười, lúc chế giễu. Tôi cố tin rằng, con người chết đi là hết. Không có một đời sống bí mật nào ở phía bên kia cửa tử. Không ai thấy người chết còn trở lại dương thế dưới hình bóng một con ma. Nhưng đó là suy nghĩ đánh lừa. Trong thâm căn cổ đế, tôi vẫn tin có chuyện ma quỷ. Niềm tin không thể lý giải. Người đời vẫn tin vào sự tồn tại linh hồn của các giao chủ đã chết mấy ngàn năm rồi. Bao thế hệ ông bà tôi tin thế. Làm sao tôi nghĩ khác? Dù lý luận trấn an thế nào, tôi vẫn sợ ma. Ở gần nghĩa địa, tôi thường thấy những người đi viếng m ộ. Có khi họ ở đến chạng vạng mới về. Trưức khi về, họ đốt nén nhang mới, cắm lên mộ. Trong đêm, những đốm lửa như những con mắt đỏ ma trơi nhìn tôi. Gió thổi, đóm lửa nhấp nháy lập lòe. Tôi không dám nhìn lâu. Nhiều đêm sợ quá, tôi đi qua đi lại, gõ nhịp vào bất cứ vật gì trong nhà, và hát lớn những bài hùng ca nào nhớ được. Tiếng hát, tiếng gõ xua tan bầu không khí ớn lạnh. Nhưng rồi, đâu lại vào dó. Tôi vẫn sợ. Gió rít ban đêm lùa qua khe vách, cũng làm tôi rợn người nổi gai ốc. Tôi năn ni thằng Ấn đến ngủ với tôi. Cách vài đêm, nó đem bài dến học. Nó học cho nó thì ít, dạy cho tôi nhiều hơn. Mươi bữa, Đăng và Tường cũng đến nhập bọn. Hai thằng bạn này học đệ nhị như tôi. Chúng hay nói chuyện bá láp, học là phụ. Dẫu sao, tội cũng cần sự có mặt của ban, Có tụi nó, tôi đỡ sợ ma. Những đêm khuya, chúng tôi hay nấu cháo ăn thêm. Ngoi húp cháo sì xup với bạn thân tình. tôi thấy không khí trong nhà bớt lạnh. Gần đến ngày thi, tôi học chăm như thời còn ở chung với anh Kỳ. Nghĩ đến anh, tôi lại nhớ kỷ niệm cũ. Anh gắng học đến nỗi, khi buồn ngủ anh ngâm chân vào nước đá cho tỉnh ugười. Tôi kể chuyện này với Ẩn. Nó chê, học thế là học nhồi sọ, đầu óc sẽ mụ đi. Tôi nói, chúng tôi cần cái bằng cấp để câu cơm. Nó bảo, muốn câu cơm thì kiếm việc làm, dễ hơn học. Mỗi thằng một cách lý luận, cãi nhau ỏm tỏi. Tôi bênh vực cho hành động ngâm chân vào nước đá của anh Kỳ. Trọng lòng tôi, anh chiếm một tình cảm quý mến đặc biệt. Dù chú tâm vào việc học, thỉnh thoảng tôi cũng ngồi thừ ra, hất động. Đó là lúc Phương Nghi che mờ chữ nghĩa. Nó như sương khói êm đềm lãng đãng, không nắm bắt được. Nó là niềm tuyệt vọng đớn đau. Tôi thương tuởng nó vô cùng. Chẳng biết nó có hiểu điều này không? Hết Phương Nghi ám ảnh thì dến chị Triều, với thân thể ngùn ngụt lửa tình, làm sống dậy những đêm yêu mê cuồng nhiệt. Bây giờ, chị ở đâu, làm gì? Đôi khi, tôi tiếc đã không theo chị về Sài Gòn, Trên đường đời, nếu một ngày vô tình gặp lại, thấy chị hạnh phúc đi hên người đàn ông khác, chắc tôi sẽ rất đau lòng. Tôi muốn lúc nào chị cũng ở một mình. Và bao giờ, chị cũng là của tôi. Như thế là ích kỷ. Có phải tình yêu luôn luôn kèm theo sự ích kỷ? Tôi có yêu chị không, hay chỉ là đam mê xác thịt? Có thể nào cùng một lúc, yêu cả hai người, chị Triều và Phương Nghi? Tôi lùng bùng trong mớ tình cảm hỗn độn. Không biết lòng mình ra sao.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by6 Sơn râu 21 May 2026

Bạn đâu có thể tưởng tượng rằng, 36 năm sau khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam, bao nhiêu xác đồng bào đã dìm sâu xuống đáy biển trong những chuyến vượt biển ra đi tìm tự do, mà bây giờ, trong một bản tin mới toanh, báo chí vừa đưa tin có 64 thuyền nhân Việt Nam mới đến Úc xin tị nạn. Ngày 10 tháng 5-2011 được chính phủ Úc chở những thuyền nhân này đến trại tạm cư Flying Fish Cove trên đảo Christmas Island để chờ làm thủ tục điều tra, phỏng vấn.

Từ 2001 đến nay có khoảng 2,000 người Thượng đã từ Tây Nguyên vượt biên sang Cam Bốt. Báo Nhân Dân, cơ quan của đảng Cộng sản Việt Nam, không thừa nhận lúc họ ra đi, nhưng tường thuật rõ ràng lúc họ trở về: “Huyện Đức Cơ, Gia Lai, tiếp nhận 35 người “vượt biên trái phép” sang Kampuchea trở về quê hương!” Khổ nỗi, không vượt biên qua được Mỹ, Úc, Pháp … mà phải băng đồi lội suối qua Kampuchea, thì cũng biết tình trạng truy bức, đàn áp đã xẩy ra khốn nạn như thế nào! Cũng như hàng trăm nghìn đồng bào từ năm 1975, không chấp nhận sự hiện hữu của chế độ Cộng Sản đã bỏ nước ra đi, cũng không nghe đảng nêu cao thành tích, thống kê về việc trấn lột, bắn giết, bỏ tù, nhưng chắc chắn là đảng có biết, có biết nên đã làm áp lực chính phủ  Indonesia phải đục bỏ tấm bia kỷ niệm thuyền nhân ở Galang. Nhưng bây giờ nhân vài ba cái đại lễ, đảng lại bày trò vinh danh đón tiếp bà con kiều bào (còn gọi là đồng bào ta!) đang sinh sống, làm việc, học tập (chỉ thiếu mấy chữ “theo gương bác Hồ”) ở nước ngoài về, “trong không khí trang trọng, ấm tình quê hương.” Tóm tắt định nghĩa của Liên Hiệp Quốc về người tị nạn như sau: “Đó là người có đủ lý do để sợ rằng bị bách hại vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nay không thể trở về quốc gia đó, hay không muốn trở về quốc gia đó”. Tại các trại tị nạn Đông Nam Á vào những ngày sau năm 2001, chống lại việc cưỡng bách hồi hương, nhiều người đã tự mổ bụng hay tự thiêu, kêu gào, vùng vẫy, la khóc khi bị cảnh sát khiêng lên máy bay. Vậy mà có bao nhiêu người bỏ nước ra đi, sau khi được cứu xét, thanh lọc và nhận vào một nước khác dưới danh nghĩa tị nạn, lúc đã có chút tiền bạc, cơ ngơi, lại khơi khơi trở lại du lịch hay ùn ùn “quy cố hương” mà theo thông báo của nhà nước Việt Cộng, hàng năm có khoảng 500.000 “Việt kiều” về quê ăn Tết, chắc chắn dù có thêm hay bớt, con số này cũng  không chênh lệch bao nhiêu. Giờ này những tiếng vượt biển, tị nạn nghe như một điều mỉa mai, cay đắng.

Hợp pháp hay bất hợp pháp thì trong lòng, đảng cũng muốn cho “chúng bay” vượt biển, vượt biên ra đi càng nhiều càng tốt. Đảng khoe, xuất khẩu lao động của VN tăng nhanh từ năm 2001, chủ yếu sang các nước Đông Á, nhất là Malaysia, Đài Loan và Hàn Quốc. Gần đây, thị trường xuất khẩu lao động mở rộng sang Trung Đông, Tây Âu và Mỹ, bình quân mỗi năm có 70.000 lao động được đưa đi ra nước ngoài. Hiện nay có hơn 400.000 lao động VN làm việc tại 40 nước và lãnh thổ, trong đó riêng tại Malaysia có hơn 100.000 người.

Về chuyện xuất khẩu cô dâu, tính đến năm 2008, đã có hơn 272.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Đó là con số mà Bộ Công an đưa ra tại Hội nghị toàn quốc bàn về hôn nhân và gia đình liên hệ đến ngoại quốc, diễn ra ở Cần Thơ ngày 22.4.08, mà không phải do ai phịa ra. Tuy vậy chưa thấy đảng khoe đã xuất khẩu được bao nhiêu phụ nữ đi ở đợ cho quốc tế. Khoe có người nhà đi ở đợ chỉ thêm xấu mặt, đâu có vinh dự gì! Nhưng đảng vẫn âm thầm cho đi. Đặc biệt trong hình ảnh và câu chuyện 64 thuyền nhân mới đến Úc, khác với những chuyến ra đi tơi tả ngày trước, chỉ có một phụ nữ và một trẻ em, đây là những thanh niên mạnh khỏe, tươi tỉnh, ăn mặc tươm tất như những hình ảnh xuất khẩu lao động mà chúng ta thường thấy. Phải chăng có một chiến dịch mới của Việt Nam đưa người xâm nhập vào các quốc gia tương đối dễ dàng và lỏng lẻo trong việc cho người nhập cư, vừa để gài người xâm nhập vào cộng đồng người Việt hải ngoại, vừa thu lợi cho việc ra đi hay việc gửi ngoại tệ về đất nước sau này. Vì vậy không hề nghe báo đảng kể chuyện những chuyến xe hàng chở đầy người Việt bị bắt tại Anh hay đang dở sống dở chết trong những khu rừng nước Pháp dưới trời lạnh giá vì đã vượt biên hợp pháp qua những dịch vụ đưa người đi nước ngoài được nhà nước bao che. Nếu không được bao che, thì với lưới công an ngày nay, một con ruồi cũng khó lọt. Chuyện đảng cho tổ chức vượt biên để lấy tiền bãi, chận bắt để trấn lột, rồi nhốt vào tù để đòi tiền chuộc, bây giờ ai cũng biết. Đánh tư sản, xua đuổi người Hoa để chiếm nhà, tịch thu tài sản, rồi đóng tàu bán người ra khơi gọi là “bán chính thức”, đảng đã làm giàu trên bao nhiêu nỗi chết chóc, khốn cùng của dân tộc. Sau bao nhiêu năm trồng cây có quả, ngày nay, đảng giăng đèn kết hoa, “thu hoạch” lợi tức trên chiêu bài và khẩu hiệu “quê hương”, đón người đi xa về, nồng ấm biết mấy mùi vị của đồng “đô la”. Bây giờ chuyện vượt biển tị nạn hình như không còn ai nói tới. Các trại tị nạn ở Đông Nam Á đóng cửa từ lâu, các quốc gia trên thế giới không còn ai vớt người trên biển Đông, hằng năm đã có hàng trăm nghìn người trở lại nơi, mà từ đó, họ đã chấp nhận đổi mạng sống để ra đi. Vậy thì chính thức “xuất khẩu” người hay cho người vượt biển cũng là một lối buôn người có lợi. Theo định nghĩa tị nạn thì không có chuyện tị nạn vì đói khổ như sau này, người ta thường nói đến mấy chữ “tị nạn kinh tế”. Mà dù người dân có bỏ nước ra đi vì lý do nào đi nữa thì chính phủ và quốc gia đó đều có trách nhiệm, hoặc là hà khắc thiếu tự do, hoặc là bất tài không lo đủ cơm no áo ấm cho dân.

Tôi không hiểu 64 “thuyền nhân” người Việt vừa mới đến xin tị nạn tại Úc quê quán ở đâu, ra đi từ nơi nào và lý do ra đi của họ. Hàng năm có nửa triệu người, trong đó ít nhất có 3/4 người tị nạn trở về ăn Tết thì áp bức, bất công ở đâu? Việt Nam bây giờ là nước sản xuất gạo đứng vào hạng nhì thế giới, năm 2010, lượng “kiều hối” của VN đã vượt 8 tỷ USD, cán bộ trung ương đảng bạc tỷ trong tay, sao dân không có cơm ăn mà phải bỏ nước ra đi? Chuyện vượt biên, vượt biển đang là chuyện khó hiểu!

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 21 May 2026

Mỗi năm cứ đến Giáng Sinh thì thương xá mọi nơi đầy ắp người mua sắm. Trẻ em phấn khởi chờ dợi những món quà sắp nhận, người lớn tất bật với những ngày cuối tuần, bận rộn nhưng háo hức, coi việc đi sắm quà và tặng quà cho những người thân yêu là một niềm vui. Khộng phải đợi đến bây giờ mà từ Black Friday tháng trước, có người đã thức khuya hay dậy sớm, đợi chờ dưới trời lạnh để mua cho được một món quà vừa ý, lẽ cố nhiên không phải cho mình mà dế trao đến một người khác. Vì sao nói đến Giảng Sinh là phải nói dến những món quà đầy màu sắc vui tươi, để dưới cây thông, cạnh lò sưởi, trong những chiếc vớ de đầu giuờng tre em hay do người phát thư mang đến trưa nay. Giáng sinh cảng ngày càng mờ rộng lừ ý nghĩa của một ngày lễ Ki Tô giáo trợng dại, đi xa hơn, gần gũi hơn với đời sống con người, nghĩ đến nhau và gần lại với nhau bơn nữa.

Và vì sao món quả cho nhau ý nghĩa phải là món quả vào dịp lễ Giáng Sinh mà không phải là một thời điểm nào khác, và vào ngày trọng đại này, vi như thiếu một món quả cho ai đó, lòng chúng ta cảm thấy không vui vù cám thấy thiểu thốn một điều gi. Không phải chi nghĩ đến những người thân yêu trong gia dình, cỏ khi chúng ta cũng nghĩ đến cô giáo của lũ trẻ, người phát thư đến với chung ta mỗi ngày, người dọn vườn, đổ rác … Người san sẽ có thể thấy được niềm vui hơn là người nhận.

Câu chuyện “Món Quà Giáng Sinh” của C’Hlenry viết từ cuối thể kỳ XIX vẫn là một câu chuyện tuyệt đẹp về tình yêu; “Đôi vợ chồng Jim & Della quá nghèo đến nối Giáng Sinh năm nay, họ chang có dược một món tiền nhỏ dề mua cho nhau một món qua. Từ lâu Jìm vẫn mong có tiền để mua cho vợ mua cái lược thật dẹp cho xứng dáng với mớ tóc óng à của nàng, còn Della, từ lâu ao ước mua cho Jim một món quà, một cái dây đồng hồ gia trị cho cái đồng hồ vàng, của gia bảo dể lại từ thời Ông Nội của Jim, nhưng họ quá nghèo. Della dành dụm cho đến ngày Giang Sinh chỉ có $1.87, còn Jim thì cũng với cái áo khoác cũ kỹ và không mua nổi một đội găng tay vào mùa Đông giá lạnh.

Giáng Sinh đã gần kề, Della nhác thấy hinh ảnh mình với mái tóc dài trong chiếc gương lớn, nghĩ dến món quà Giáng Sinh cho chồng, mắt nàng sáng lên. Della xuống phố tìm đến cửa hàng chuyên mua tóc, bằng lòng bán mớ tớc của nàng, sau đó dến một tiệm nữ trang và mua một cái giây dồng hồ hằng bạch kim cho cái đồng hồ gia bảo của Jim, món quà mà từ lâu nàng vẫn ấp ủ, mơ ước mua được để tặng chàng. Tổi nay, Della ngồi ở chiếc ghế cạnh lối mà Jim sẽ trở về, tay cầm sợi giây đồng hồ, hồi hộp nghe tieng chân chồng, chưa bao giờ Jim về trễ như hôm nay. Jim hiện ra trên bậc cửa, sững sờ nhìn hồi lâu, với mái tóc ngắn bất thường, không nói lấy được một lời. Cuối cùng thì Jim tiến lại ôm hôn vợ, mắt rưng lệ, từ từ lấy trong túi áo ra một gói quả chàng đã mua để tặng nàng, sau khi bán chiếc đồng hồ của chàng, đó là bộ trâm cài tóc xinh xắn rất hợp với mái tóc vàng óng à của nàng, Vậy mà giờ đây bộ tóc của nàng không còn nữa! Della cũng trao cho Jim, sợi giây đeo đồng bổ bằng bạch kim mà nàng đã đổi bằng mớ tóc của nàng, nhưng chiếc đồng hồ của Jim cũng đang nằm trong tiệm cầm đồ. Họ cùng nghĩ đến nhau vào ngày Giáng Sinh, và đã đem đổi “gia tài” của họ đề mang về một món quà, không dùng được cho ngày Giáng Sinh năm nay. Nhưng người đọc hy vọng rằng, với thời gian, mái tóc của Della sẽ dài lại và nhoờ dành dụm, Jim sẽ có cơ may chuộc lại được cái đồng hồ của chàng. Họ cùng hạnh phúc vì cả hai cùng nghĩ đến nhau.”

Trong một câu chuyện khác, một thanh niên đến một tiệm bán hoa để mua một giỏ hoa Giáng Sinh tặng mẹ đang ở một thành phố khác, cách xa đó. Tại đây anh gặp một cô bé đang đứng tần ngần vì không đủ tiền để, chì mua một đóa hoa hồng nói là để tặng cho mẹ em. Sau khi được chàng thanh niên giúp tiền mua đủ đóa hoa, cô bé muốn nhớ anh đưa dến nơi mẹ ở. Chàng thanh niên ngạc nhiên khi nhận ra “nơi mẹ cô bé ở” là một ngôi mộ mới đắp trong nghĩa trang gần đó. Chàng thanh niên sau khi dẫn em bé về lại chỗ cũ, đã thôi nhờ  tiệm hoa gửi quả cho mẹ, chàng mang bó hoa đó và ngay trong đêm, lái xc vượt một dặm đường 200 dặm để về thăm mẹ trước đêm Giáng Sinh. Không người mẹ nào cần quà, bà cần và muốn ôm những đứa con vào lòng như thuờ con bà cón ấu thơ.

Gần dây thôi, anh Lawrence DePrimo 25 tuổi là một nhân viên cảnh sát tuần tra ở New York City, hai tuần trước trong khi đi tuần ở khu Time Square trong một đêm giá lạnh, anh dã nhìn thấy một người đàn ông vô gia cư không có giầy đang ngồi co ro bên hè phố, đôi chân bị sưng vù. Động lòng trắc ẩn, DePrimo, chạy tới tiêm bán giầy Skeichers gần đóó dể mua cho người không nhà nay một đôi giầy ủng, không biết số giầy là bao nhiệu cho nên anh lại phải chạy ra chổ người vô gia cư một lần nữa. Chính ông tiệm giầy Jose Cano khi nhận ra điều nảy. đã giúp giảm giá đôi giầy để anh DePrimo chỉ phải trả giá một nữa. Nhưng hành động của anh DePrimo không khỏi lọt vào ống kính của bà Jennifer Foster, ở thành phố Florence, tiểu bang Arizona đang du ljch New York. Chỉ trong mấy ngày tấm hình và bức thư của bà Foster lên trang nhà trong Facebook đã được nửa triệu người trên thể giới vào xem để cùng đồng ý với nhau rằng “lỏng nhân ái của con người vẫn chưa bị mất.”

Nhưng điều ám ảnh tôi trong những câu chuyện mùa Đông, vẫn là câu chuyện “Co Bé Bán Diêm” của nhà văn Đan Mạch Hns Christian Andersen đã gây xúc động cho lòng tôi từ thuờ thơ ấu. “Một cô bé không tên, chỉ gọi là Cô Bé Bán Diêm, đầu trần, chân đất một chiều mùa Đông thật lạnh và tuyết rơi dày đặc, lang thang trên con phố vắng để bán những bao diêm cuối củng, nhưng đường xá vắng ngắt, mọi người ai cũng sum họp trong những gian nhà ấm cúng. Em không dám về nhà với một người cha giận dữ khi em không bán được những bao diêm, căn nhà trống hoác, lạnh lẽo và trên bếp, không có gi đề ăn chiều nay. Trong các gian nhà quanh phố đã sáng đèn và mùi ngỗng quay thơm lừng tỏa ra. Em bật những que diêm để it ra cũng có thể sưởi ấm những ngón tay lạnh buốt. Em bật que diêm đầu tiên lên, một lò sười trang hoàng rực rỡ, ấm áp hiện ra. Em bật que diêm thứ hai, bức tường trước mặt bỗng trở nên biến mất, một bàn ăn phù khan trắng như tuyết với con ngỗng quay nhồi táo và mận khô đang bốc hơi nghi ngút hiện ra. Bé bật một que diêm nữa và thấy mình đang ngồi dưới cây thông Giáng Sinh trang hoàng đầy nến và những món quà xinh xắn. Nhưng những ảo giác đó thoáng qua rất nhanh, mỗi khi que diêm phụt tắt, chẳng còn gì ngoải bức tường dầy tối tăm, ẩm ướt và lạnh lẽo ngay trước mặt. Cộ bẻ bật que diem thử tư, như giữa vầng hào quang, bà ngoại em đang đứng đó, mỉm cười hiền hậu nhìn cô bé. “Bà ơi!”, em khóc nấc lên, “Bà mang cháu đi cùng nhé! Khi que diêm này tắt, bà sẽ bỏ cháu và biến mất như chiếc lò sưỡi ẩm áp kia, như cây thông rực rỡ kia và cả những món ăn trên bàn tiệc. Cô bé vội vàng cho cả gói diêm vào ngọn lửa, ánh sảng bùng lên và bà ôm em trong vòng tay rồi cả hai cùng bay lên, trong ánh sáng và niềm hân hoan, xa dần mãi mặt đất đen tối, đến một nơi không còn đói khát và nỗi khổ đau nữa.

Sáng hôm sau, khách qua đường, thấy em đã chết cóng, tay vẫn nắm chặt những que diêm, nghĩ rằng những que diêm này đã được đốt lên để sưỡi ấm cho em, nhưng không ai biết những que diêm đó đã đem lại cho em nhung điều mơ ước cuối cùng, thực sự không có cho em trên đời này. Em đã đi về một nơi tốt đẹp hơn, mà chúng ta hy vọng đó làThiên Đường.”

Cũng bây giờ, tại một thành phố nhỏ mang tên Newtown thuộc tiều bang Connecticut, rất nhiều gia đình đang trải qua một mùa Giáng Sinh buồn thảm. Những đứa trẻ xinh xắn, ngây thơ, đáng lẽ phải được quây quần bên những cây thông trong ngày Chúa Giáng Sinh đầm ấm năm nay, giờ đang nắm trong huyệt lạnh bởi một thế giới lạnh lùng và điên đảo.

Quái thú Gustav

baotreonline.com

Cẩm Tú

May 13th, 2026
Post by Sơn râu 21 May 2026

Cuối thập niên 1930, tình báo Đức nhận thấy phòng tuyến Maginot (Maginot Line) của Pháp được xây bằng bê tông cốt thép cực dày, tháp pháo bọc giáp và hầm ngầm sâu, vượt quá khả năng xuyên thủng của mọi loại pháo hiện đại. Hitler mật lệnh chế tạo một loại siêu pháo có thể bắn đạn khổng lồ, xuyên tường bê tông 7 mét, từ cự ly an toàn ngoài tầm pháo binh Pháp.Khẩu siêu pháo Schwerer Gustav (còn gọi “Đại pháo Gustav”) được tốc hành thiết kế (ảnh trên). Năm 1937, hãng Krupp, nhận nhiệm vụ thực hiện. Ba năm sau, khẩu pháo khổng lồ cỡ nòng 800 mm, lớn nhất từng được chế tạo trong lịch sử pháo binh ra đời. Đạn xuyên bê tông của Gustav nặng 7 tấn, đủ sức hủy diệt boong-ke chôn sâu dưới lòng đất…

Tuy nhiên, khi Schwerer Gustav hoàn tất (1941), tình hình chiến trường đã thay đổi: trong chiến dịch đánh Pháp năm 1940, Đức không tấn công trực diện Maginot Line mà vòng qua Bỉ và Ardennes, nên Gustav được sử dụng tại Sevastopol (Crimea) năm 1942 nhằm phá các công sự kiên cố của Liên Xô, trong đó có pháo đài Maxim Gorky…

Lò sinh quái thú

Essen, mùa đông 1940

Bên trong xưởng thép khổng lồ của Krupp, không khí đặc quánh mùi kim loại và than cốc. Tiếng búa máy, tiếng rền của máy tiện, tiếng rít của hơi nước hòa thành một bản nhạc không dứt. Ở trung tâm nhà xưởng, một khối thép đỏ rực dài gần bằng tòa nhà ba tầng đang được kéo ra khỏi lò. Sức nóng bốc lên làm méo mó cả không khí, những tia lửa tóe ra như pháo hoa, bắn vào những tấm tạp dề da dày của công nhân. Các kỹ sư đứng ngay ngắn thành hàng, mắt không rời “đứa con” của họ: nòng pháo 800 mm lớn nhất mà loài người chưa bao giờ từng nghĩ đến. Từ những con số khô khan trên bản vẽ giờ biến thành khối kim loại khổng lồ, nặng hàng trăm tấn, chậm rãi được cẩu trục nâng lên và đặt vào giá tiện khổng lồ chính giữa xưởng, nơi sẽ bắt đầu khoan, doa và mài ròng rã hàng tháng trời.

Ở góc xưởng, một nhóm thợ thầm thì: “Cái này bắn xuyên được cả pháo đài Maxim Gorky ở Sevastopol…”. Người khác đáp, mắt dán vào nòng pháo giọng tự hào: “Nếu không phải chiến tranh, chắc trong đời mình không bao giờ  nhìn thấy một thứ như này…”.Bên ngoài, tuyết vẫn  nhẹ rơi đều đều trên mái nhà xưởng, nhưng bên trong, ầm ầm sức nóng và âm thanh báo hiệu một kỷ nguyên mới của pháo binh, nơi kỹ thuật và sức mạnh được đẩy đến cực hạn, và con “quái thú” Schwerer Gustav đang được sinh ra từ lửa và thép.

Hai đường ray song song để di chuyển nhằm phân tán sức nặng của khẩu pháo Gustav

Khai hỏa

Sevastopol, tháng 6 năm 1942,

Cả vùng ven biển Crimea rền vang tiếng tàu hỏa. Từng đoàn toa nặng trĩu rầm rì lăn bánh, chở những phần thân khổng lồ của Schwerer Gustav. Đoàn tàu dài đến mức khi đầu máy đã khuất bóng sau khúc cua, những toa chở bánh xe và giàn nâng vẫn chưa rời khỏi ga. Trên bãi đất trống cách tiền tuyến vài cây số, hàng trăm lính công binh và kỹ sư của Krupp khẩn cấp dựng đường ray kép dài hàng trăm mét, chạy song song và kiên cố như xương sống của một con quái vật. Mỗi thanh ray được lót dày đá nghiền, đóng chặt xuống đất để chịu nổi cú giật khủng khiếp của “quái thú” khi khai hỏa. Ba tuần liên tục, cần cẩu khổng lồ hoạt động không nghỉ: nòng pháo dài hơn 30 mét được hạ xuống giá đỡ, từng chốt thép được siết lại bằng những cờ lê to như mái chèo. Bánh răng nâng hạ nòng được tra dầu sáng loáng, hệ thống thủy lực được thử áp suất nhiều lần. Ở phía sau, một đội khác lo bệ nạp đạn, nơi những quả đạn nặng 7 tấn sẽ được đẩy vào buồng pháo. Buổi sáng ngày thứ tư, trời quang đãng. Gustav được nâng nòng lên một góc nghiêng, hướng về phía pháo đài Maxim Gorky. Lệnh bắn đanh thép vang lên. Cả một vùng đất rung chuyển khi phát pháo đầu tiên gầm nổ, để lại một cột khói trắng mịt mù. Âm thanh ì ì dội lại từ các vách đá, còn bên kia, một phần công sự dày cả mét bê tông bị xé toạc.

Mỗi lần Gustav khai hỏa là cả không gian như bị xé rách. Sóng xung kích lan đi, hất tung lớp bụi trên quần áo lính công binh, khiến những cánh cờ báo hướng gió bay phần phật. Một sĩ quan hãnh diện thốt lên: “Đây là tiếng sấm của chiến thắng!”. Cách đó vài cây số, bên trong pháo đài Maxim Gorky, mỗi tiếng nổ của Gustav như một cơn động đất. Tường rung bần bật, trần hầm rơi ào ào từng mảng vữa. Những người lính Hồng quân Nga, dù quen với bom pháo, vẫn giật thót mình bởi âm thanh dội từ xa, trầm và sâu như tiếng trống tang. Một sĩ quan Nga đã ghi vào nhật ký: “Không thấy nó, chỉ nghe tiếng nổ là đủ lạnh gáy”.

Trong các hầm trú ẩn, người dân Sevastopol bàn tán về “khẩu pháo khổng lồ” mà ai cũng nghe nhưng chưa ai tận mắt thấy. Tin đồn lan nhanh: có người nói nó dài bằng tòa nhà, có người thề đã thấy đầu đạn to như cái thuyền con. Cả hai bên đều hiểu, Gustav không chỉ phá công sự nó còn đánh thẳng vào tinh thần binh sĩ đối phương. Với quân Đức, đó là minh chứng cho sức mạnh công nghiệp quân sự. Với quân Liên Xô, đó là một đối thủ mang cả một “cỗ máy từ địa ngục” nhằm đoạt mạng họ.

Đạn pháo Gustav (so với tỉ lệ chiếc Jeep)

Vận hành quái thú

Gustav có cỡ nòng 800 mm, lớn nhất từng chế tạo trong lịch sử pháo binh. Chiều dài nòng pháo 32 mét. Trọng lượng 1,350 tấn. Viên đạn xuyên bê tông nặng 7 tấn, tầm bắn tối đa 38 cây số. Gustav được đặt trên một bệ pháo kép chạy trên hai đường ray song song dài vài km để di chuyển nhằm phân tán trọng lượng. Cần 250 binh sĩ vận hành, cộng thêm hơn 2,500 lính hỗ trợ hậu cần, bảo vệ, và tiếp liệu. Để bắn một phát đạn, mất đến 45 phút để nạp đạn và chỉnh nòng. Gustav được dùng ở Sevastopol (Liên Xô) năm 1942, phá hủy pháo đài kiên cố ven biển “Fort Maxim Gorky” và nhiều công sự bê tông khác. Tuy nhiên, sau chiến dịch, khẩu pháo trở thành gánh nặng khổng lồ: chậm chạp, dễ bị máy bay trinh sát địch quân phát hiện, và khó bảo vệ trước không quân đối phương.

Vì vậy Gustav luôn nằm sâu trong vùng quân Đức kiểm soát và được bảo vệ bởi nhiều lớp phòng không. Nơi lắp đặt được chọn ở các thung lũng hẹp hoặc có đồi núi bao quanh, để che khuất tầm quan sát từ máy bay trinh sát. Khi không sử dụng, nó được che phủ bằng lưới ngụy trang, hoặc bằng một mái che phủ tấm bạt khổng lồ. Khu vực đặt bệ pháo còn được dựng các công trình giả như nhà kho, toa tàu, nhà xưởng để đánh lừa máy bay do thám đối phương. Khi xong một chiến dịch, Gustav được tháo dỡ và di chuyển bằng tàu hỏa về hậu cứ. Đó cũng là hạn chế của Gustav, quá cồng kềnh, tốn kém, không phù hợp với chiến tranh cơ động hiện đại. Gustav giống một “con khủng long” to lớn nhưng chậm chạp giữa chiến trường tốc độ cao.

Lớp bên ngoài của phòng tuyến Maginot

Thời đó – bây giờ

Hiện nay, chế tạo một khẩu pháo như Gustav là không thực tế vì chiến tranh hiện đại đã chuyển sang hỏa tiễn tầm xa, chính xác cao,  hiệu quả hơn và không đòi hỏi một lực lượng hậu cần khổng lồ. Chưa kể quy trình chế tạo Schwerer Gustav là một chiến dịch công nghiệp quy mô lớn, gần giống một dự án đóng tàu hơn là sản xuất một khẩu pháo. Đây có thể xem là đỉnh cao của pháo binh nhưng cũng là minh chứng cho sự lỗi thời của siêu pháo trong chiến tranh hiện đại.

Vận hành “quái thú” Gustav

Kết cuộc

Mùa hè năm 1942, sau khi Sevastopol thất thủ, Gustav được tháo rời và đưa về Đức bảo dưỡng. Trên các tuyến đường sắt, đoàn tàu chở “quái thú” thu hút ánh mắt kinh ngạc của dân chúng khi tận mắt chứng kiến những toa dài ngun ngút chở nòng pháo, những dầm thép đồ sộ, bánh răng to bằng cối xay gió.

Năm 1943–1944, kế hoạch mang Gustav tới Leningrad và Warsaw bị hủy bỏ vào giờ chót vì tình hình chiến sự bất lợi. Việc vận chuyển và bảo vệ một món vũ khí nặng 1,350 tấn trên đường sắt không chỉ khó khăn mà thậm chí là mồi ngon của không quân Đồng minh.

Đầu năm 1945, khi quân Đồng minh và Hồng quân Nga tiến sát lãnh thổ Đức, Gustav được lệnh phá hủy để tránh rơi vào tay đối phương. Tại một khu rừng gần Auerbach (Bavaria), các công binh đặt thuốc nổ vào nòng và bệ pháo. Một tiếng nổ ùng oàng vang lên, Gustav tan thành những mảnh thép khổng lồ. Không còn nữa tiếng gầm của “quái thú”, chỉ còn những tấm thép lạnh lẽo nằm vương vãi giữa nền tuyết, như bộ xương khổng lồ của một con khủng long đã tuyệt chủng. Vài tháng sau, quân Mỹ tìm thấy phần xác của Gustav. Họ chụp ảnh, đo đạc, rồi đem đi nung chảy. Kết thúc một huyền thoại, một kỳ tích kỹ thuật. Rất tiếc, lúc đó do sự căng thẳng của chiến tranh, người ta muốn hủy diệt tất cả,  nếu “quái thú” Gustav được giữ lại, trưng bày như một vật tích của chiến tranh tại viện bảo tàng, chắc nơi đó sẽ bán vé không kịp thở.

Một chuyên viên vũ khí Mỹ tỉ mỉ ghi chép và đo đạc từng thông số của khẩu pháp Gustav trước khi đưa nó về lò luyện thép

CT

Bà Jennifer Wicks McNamara trở thành nữ đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam – BBC

dongsongcu.wordpress.com

Posted on May 20, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 21 May 2026

Chụp lại hình ảnh, Bà Jennifer Wicks McNamara

Được đăng 19 tháng 5 2026

Thượng viện Mỹ sáng nay 19/5 (giờ Việt Nam) đã phê chuẩn bà Jennifer Wicks McNamara làm tân đại sứ Mỹ tại Việt Nam.

Trang web chính thức của Thượng viện Mỹ cho hay gói phê chuẩn gồm 49 đề cử nhân sự, trong đó có chức vụ đại sứ Mỹ tại Việt Nam, đã được thông qua.Hiện chưa rõ khi nào bà Jennifer Wicks McNamara sẽ đến Việt Nam nhận nhiệm vụ. Đại sứ Mỹ nhiệm kỳ gần nhất là ông Marc E. Knapper đã rời Hà Nội vào đầu năm nay.

Vào thời điểm được phê chuẩn, bà Wicks là quan chức cấp cao của chính phủ Mỹ, giữ chức giám đốc Văn phòng bổ nhiệm của Tổng thống tại Nhà Trắng.

Bà đã giữ vị trí này từ từ năm 2012, qua bốn đời tổng thống Mỹ liên tiếp.

Trong vai trò này, bà thường xuyên làm việc với các quan chức cấp cao tại Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ.

Trang web của Thượng viện Mỹ giới thiệu bà Wicks đã có 31 năm kinh nghiệm trong chính phủ Mỹ và kinh qua nhiều chức vụ trong Bộ Ngoại giao, bên cạnh thời gian công tác tại Lục quân Mỹ.

Bà cũng được giới thiệu là một nhà lãnh đạo có tư duy đổi mới và chiến lược, từng dẫn dắt nhiều sáng kiến liên ngành quan trọng, bao gồm hiện đại hóa chính sách chức danh ngoại giao của Bộ Ngoại giao Mỹ để phản ánh chính xác hơn môi trường ngoại giao đang thay đổi trên toàn thế giới hiện nay.

Bà còn giữ vai trò chủ chốt trong việc lập kế hoạch và triển khai quá trình chuyển giao tổng thống. Bên cạnh đó, bà cũng đảm nhiệm vai trò huấn luyện viên lãnh đạo cấp cao tại Trung tâm Đào tạo Đối ngoại Quốc gia của Mỹ.

Những kinh nghiệm nói trên cùng sự hiểu biết về chính sách và quản lý, khiến bà Wicks trở thành ứng viên phù hợp để giữ chức đại sứ Mỹ tại Việt Nam.

Bà Wicks nhận bằng thạc sĩ khoa học về chiến lược an ninh quốc gia tại trường Đại học Chiến tranh Quốc gia năm 2008 và trước đó là bằng thạc sĩ quản trị công tại Đại học Hoa Kỳ năm 2003.

Trong phiên điều trần phê chuẩn ngày 11/12/2025, bà Wicks cho biết sẽ tập trung vào việc điều chỉnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ – một ưu tiên cốt lõi của chính quyền Trump.

“Mối quan hệ thương mại hiện nay là mất cân bằng,” bà Wicks phát biểu trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện tháng 12/2025.

Khi đó, bà cam kết sẽ “thúc đẩy khả năng tiếp cận thị trường công bằng cho hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, bao gồm công nghệ, năng lượng và nông sản; hỗ trợ phát triển các chuỗi cung ứng đa dạng và có khả năng chống chịu; đồng thời khuyến khích đầu tư của Việt Nam vào Mỹ.”

Trước bà Wicks, đã có 8 đời đại sứ Mỹ tại Việt Nam kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1995, bao gồm:

Như vậy, bà Jennifer Wicks McNamara là nữ đại sứ Mỹ đầu tiên tại quốc gia Đông Nam Á 100 triệu dân.

Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/articles/c4g86vy38w1o

Hải quân Thiếu tá Victor H. Nguyen (gốc Việt), phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”

dongsongcu.wordpress.com

Posted on February 1, 2024 by dongsongcu

Nguyễn Quân
Post by Sơn râu 21 May 2026

Minh hoạ: linkedin.com – HQ Đại uý Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”.

Hải quân Thiếu tá Victor H. Nguyen được tuyển chọn thụ huấn tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy ) năm 2010, và tốt nghiệp năm 2014 với Văn bằng Cử nhân khoa học kỹ thuât cơ khí. Ông là 1 trong 1060 HQ Đại uý được Hội đồng thăng cấp Hải quân chọn đề cử thăng cấp HQ Thiếu tá, và đã được Tổng thống đề cử thăng cấp ngày 6 tháng 9 năm 2023, và Uỷ ban Quân vụ Thượng viện bầu chọn ngày 30 tháng 9 năm 2023.

Sau khi tốt nghiêp Học viện Sĩ quan Hải quân, HQ Thiếu uý Victor Nguyen được tuyển chọn theo học ngành phi công Hải quân (Naval Aviator), ông đã xuyên huấn qua các loại phi cơ T-6 Texan, trực thăng TH-57 Sea Ranger và MH-60R Seahawk từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 5 năm 2017.

Tốt nghiệp và trở thành phi công trực thăng Hải quân, Thiếu uý Victor Nguyễn được thuyên chuyển đến Phi đoàn 37 trực thăng tấn công Hải quân tại căn cứ Thuỷ quân lục chiến Kaneohe, Hawaii từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 7 năm 2020. Trong thời gian 3 năm, 2 tháng phục vụ tại Phi đoàn 37, ông là phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”, kiêm Sĩ quan an phi của Phi đoàn, ông được thăng cấp Trung uý và Đại uý.

Minh hoạ: linkedin.com – HQ Đại uý Victor H. Nguyen và các Sinh viên Sĩ quan khoá 2023, University of Michigan – NROTC.

Từ tháng 7 năm 2020 đến tháng 7 năm 2023, HQ Đại Victor Nguyen được bổ nhiệm chức Phụ tá Giáo sư khoa học Hải quân của chương trình huân luyện Sĩ quan Hải quân trừ bị tại Đại học Michigan (University of Michigan – NROTC). Ông chịu trách nhiệm trực tiếp giảng dạy ngành phi công Hải quân, phát triển chuyên môn và đưa 80 Sinh viên tốt nghiệp trỏ thành Sĩ quan Hải quân thực thụ cho Quân chủng Hải quân, mang lại giá trị giáo dục tổng hợp 17 triệu đô la cho trường Đại học Michigan thông qua các chương trình học bổng và tuyển dụng do Bộ Hải quân Hoa Kỳ tài trợ.

HQ Thiếu tá Victor Nguyen tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân khoa hoc kỹ thuật cơ khí, Học viện Hải quân Hoa Kỳ; Văn bằng Cao học điều hành trường Đại học kinh doanh Fisher, Tiểu bang Ohio. Ngoài ra ông còn thụ huấn và tốt nghiệp các khoá học chuyên môn của Hải quân.

Minh hoạ: navyoutreach.blogspot.com – HQ Đại uý Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”.

Hiện nay HQ Thiếu tá Victor Nguyen là phi công, trưởng phi cơ trực thăng MH-60R, ông đã thi hành nhiệm vụ Chỉ huy 3 đợt khai triển tới vùng Đông Nam Á và Trung Đông. Ông là 1 trong số ít Sĩ quan cấp tá gốc Việt ngành phi công và phi hành đoàn Không quân của Hải quân Hoa Kỳ, các vị khác gồm có: HQ Trung tá Brian Trương, nguyên Chỉ huy trưởng Phi đoàn 14 trực thăng chiến đấu biển; HQ Trung tà Phạm ngọc Tâm, nguyên là Sĩ quan phi hành tác chiến điện tử, nay là Giáo sư trường cao đẳng hải chiến Hải quân Hoa Kỳ; HQ Thiếu tá Phong Nguyễn, Sĩ quan phi hành tác chiến điện tử; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện phi công phi cơ tuần thám duyên hải P-3 Orion; HQ Trung tá Dương Hữu Ngân (Robert), Chỉ huy trưởng Phi đoàn 116, phi cơ Radar tiền thám báo động sớm Hải quân nay đã hồi hưu, và một số Sĩ quan cấp uý phi công Hải quân gốc việt khác đang xuyên huấn và phục vụ tại các đơn vị Không quân của Hải quân Hoa Kỳ.

Theo tài liệu lưu trữ trên trang nhà Navy Personnel Command và Congress.Gov thì có trên 120 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ (Không tính những vị đã về hưu, cũng như được thăng cấp Trung tá).

Chúc tân HQ Thiếu tá Victor Nguyen thăng tiến hải nghiệp.

Nguồn: Navy Personnel Command; congress.gov; navyoutreach.blogspot.com; linkedin.com; navyoutreach.blogspot.com; bienxua-30 Hải Quân đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá năm 2023

Nữ Hải Quân Đại uý Valerie Doan (gốc Viêt), Phụ tá Giáo sư khoa học Hải quân, chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Hải quân, Đại học Washington

dongsongcu.wordpress.com

Posted on May 20, 2026 by dongsongcu

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu

HQ Đại uý Valerie Đoan (hình của linkedin.com).

Nữ Hải Quân Đại uý Valerie Doan được bổ nhiệm chức Phụ tá Giáo sư khoa học Hải quân tại Đại học Washington vào tháng 2 năm 2026, cô chịu trách nhiệm hướng dẫn các Sinh viên Sĩ quan phát triển nghề nghiệp, kỹ năng lãnh đạo chỉ huy và huấn luyện quân sự, đồng thời định hướng sự phát triển về học thuật, thể chất và nhân cách để chuẩn bị cho Sinh viên Sĩ quan này trở thành Sĩ quan phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Với hơn 7 năm kinh nghiệm phục vụ Hải quân, cô đã đảm nhiệm những vị trí khác nhau, bao gồm Sĩ quan trực hệ thống động lực năng lượng hạt nhân.trên Hàng không mẩu hạm USS Nimitz (CVN 68); Sĩ quan tác chiến điện tử, Khu trục hạm USS Ralph Johnson (DDG-114), là những nơi cô trau dồi khả năng lãnh đạo chỉ huy và kỹ thuật. Được thúc đẩy bởi cam kết với giáo dục và sự phát triển chuyên môn, cô hướng đến việc truyền cảm hứng tư duy đổi mới và khả năng lãnh đạo chỉ huy cho Sinh viên, đồng thời không ngừng nâng cao kiến ​​thức và chuyên môn.

Huy hiệu ngành khoa học Hải quân, Trường Đại học Washington của facebook.com/UWnavalrotc.

Trường Đại học Washington (UW), ngành khoa học Hải quân được giảng dạy thông qua chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Hải quân (NROTC). Chương trình học chuẩn bị cho Sinh viên Đại học phục vụ với tư cách là Sĩ quan Hải quân hoặc Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, cung cấp cả chương trình học phụ về Khoa học Hải quân và chương trình huấn luyện sĩ quan chuyên môn. Chương trình khoa học Hải quân yêu cầu Sinh viên phải tham gia các khóa học Khoa học Hải quân chuyên biệt bên cạnh chương trình Đại học thông thường. Chuỗi học tập được thiết kế để xây dựng kiến ​​thức nền tảng về hàng hải và quân sự. Các khóa học Khoa học Hải quân (NAV SCI): Các chủ đề bao gồm tổ chức Hải quân và Thủy quân lục chiến, lịch sử Hải quân, chì huy, hàng hải, chiến tranh đổ bộ, kỹ thuật và hệ thống vũ khí. Các buổi thực hành chỉ huy: Các buổi thực hành hàng tuần cung cấp huấn luyện chỉ huy thực tiễn, bài giảng của diễn giả khách mời và các bài tập quân sự. Huấn luyện thể chất (PT): Các thành viên tiểu đoàn tham gia huấn luyện thể chất buổi sáng hàng tuần. HQ Đại uý Valerie Doan cũng tốt nghiệp chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Hải quân từ Trường Đại học Washington năm 2020.

Valerie Doan gia nhập Thuỷ thủ Hải quân Hoa Kỳ và được thụ huấn các khóa học chuyên môn về toán cao cấp, vật lý, nhiệt động lực học, nguyên lý kỹ thuật điện, hệ thống lò phản ứng vận hành thiết bị đo lường và điều khiển hạt nhân. Sau khi hoàn tất khoá học, cô được chỉ định làm chuyên viên kỹ thuật điện tử hạt nhân phục vụ tại Goose Creek, SC, từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 8 năm 2016.

Từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 12 năm 2018, Valerie Doan thụ huấn chương trình Sinh viên Sĩ quan thế kỷ 21 – Thuỷ thủ lên Đô của Trường Đại học Washington tại Greater Seattle Area.

Từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 4 năm 2020, Valerie Doan được chỉ định làm Phụ tá hành chánh cho chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị (NROTC) của Trường Đại học Washington tại Greater Seattle Area.

Tháng 4 năm 2020, HQ Thiếu uý Valerie Doan được chỉ đĩnh làm Sĩ quan tác chiến điện tử, trên Khu trục hạm USS Ralph Johnson (DDG-114). Cô phục vụ chiến hạm đến đến tháng 5 năm 2022.

Sau nhiệm kỳ phục vụ Khu trục hạm USS Ralph Johnson (DDG-114), HQ Trung uý Valerie Doan được chọn thụ huấn chương trình học chuyên môn về toán cao cấp, vật lý, nhiệt động lực học và hệ thống phụ trợ lò phản ứng, bao gồm cả đào tạo thực hành tập trung vào vận hành động cơ đẩy hạt nhân và ứng phó khẩn cấp thuộc Bộ chỉ huy huấn luyện điện hạt nhân Hải quân.

Tháng 8 năm 2023, HQ Đại uý Valerie Doan được bổ nhiệm làm Sĩ quan phụ trách bộ phận động cơ đẩy và cơ khí lò phản ứng trên Hàng không mẩu hạm USS Nimitz (CVN 68), cô phục vụ đến tháng 2 năm 2026.

Tháng 2 năm 2026, HQ Đại uý Valerie Doan được bổ nhiệm giữ chức Phụ tá Giáo sư khoa học Hải quân, chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Hải quân (NROTC) Đại học Washington cho đên nay.

Nữ HQ Đại uý Valerie Doan là một trong nhiều Nữ HQ Đại uý Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ, một số vị là Sĩ quan tác chiến Hải quân được ghi nhân sau đây: Nữ HQ Đại uý Miahnna Nguyen, Phi công; Nữ HQ Đại uý Amy Khanh Hoang, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Becky Doan, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Sophia Nguyen, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Jennifer Dianne Nguyen, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Đại uý Faith N. Huynh, Sĩ quan huấn luyện kỹ thuật tàu ngầm hạt nhân; Nữ HQ Đại uý Lillian Ngo Usadi, Sĩ quan tác chiến tàu ngầm hạt nhân; Nữ HQ Đại uý Sarah Nguyen, Sĩ quan tàu ngầm hạt nhân; Nữ HQ Đại Uý Phung Duong, Sĩ quan tiếp liệu tàu ngầm (SRS-32) và còn rất nhiều nữ HQ Đại uý gốc Việt ngành tác chiến Hải quân nổi bật khác sẽ được cập nhật.

Chúc HQ Đại uý Valerie Đoan thăng tiến hải nghiệp.

Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Valerie P. Doan, Họ và tên Việt Đoàn Phương.

Nguồn: mynavyhr.navy.mil; linkedin.com; washington.edu.

Một thời để yêu & Một thời để chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 20 May 2026

Người ta đóng trại trong một cái hầm nhà. Chỉ có một cái cửa nhỏ trên trần để lên xuống, ánh sáng cũng do ngã ấy chiếu vào. Bốn người ngồi chung quanh một cái két đặt ngay phía cửa đánh bài. Trong những góc tối hình như có mấy người nằm ngủ. Sauer đang viết thư. Hầm khá lớn và tương đối kín đáo, chắc là trước kia của một nhân vật trong Đảng.

Mucke hiện ra trước cửa:

– Lại có chuyện gì thế?

Không ai buồn trả lời, y nhắc lại:

– Tôi hỏi có chuyện gì thế?

– Không có gì đâu trung sĩ ơi. Họ tán dóc…

– Máy phát thanh vừa phổ biến những tin tức cuối cùng.

Steinbrenner vội đứng dậy nhìn xung quanh. Không ai nhúc nhích cả. Chỉ có Graber ra vẻ để ý nghe. Mấy người đánh bài vẫn tiếp tục chơi, Sauer vẫn cắm cúi vào bức thư và mấy người ngủ vẫn ngáy như sấm. Mucke gắt lên:

– Điếc hay sao cả đấy. Tin tức cuối cùng. Theo luật lệ thì ai cũng phải nghe tin tức cuối cùng.

Immermann vội nói:

– Xin tuân lệnh.

Mucke nhìn anh ta ra vẻ không tin. Anh ta ra vẻ chăm chú nghe nhưng chẳng để ý gì cả. Mấy người đánh bài đặt bài xuống nhưng vẫn giữ nguyên vẹn ván bài không muốn xóa đi. Sauer nhổm dậy một chút. Steinbrenner đứng nghiêm.

Xướng ngôn viên máy phát thanh đọc rành rọt:

“Tin quan trọng! Xin loan báo để đồng bào được biết: tại Hoa Kỳ vừa xảy ra những vụ đình công lớn. Các ngành kỹ nghệ nặng đều bị tê liệt. Phần lớn các xưởng đúc súng đều ngưng làm việc. Người ta cho biết có nhiều cuộc phá hoại trong các xưởng phi cơ. Nhiều cuộc biểu tình đòi hòa bình đã xảy ra ở nhiều nơi. Chính phủ gặp nhiều khó khăn, có thể bị lật đổ bất cứ lúc nào”.

Mucke đứng yên lặng. Không nói câu nào. Mấy người ngủ tỉnh dậy, lấy tay gãi sồn sột. Một giọt nước trên nóc nhỏ mạnh xuống cái hộp thiết, Mucke lại thở đều.

“Tiềm thủy đỉnh của ta phong tỏa hết các bờ biển nước Mỹ. Hôm qua đã đánh chìm hai tầu chở binh lính và ba tầu chở khí giới. Tổng cộng số tầu bị đánh chìm đầu tuần lễ lên tới ba mươi bốn ngàn tấn. Nước Anh bị tàn phá đã lâm vào cảnh đói khát. Những đơn vị xung kích của chúng ta đã làm tê liệt thẳng đường thủy vận. Nhiều khí giới bí mật đang được chế tạo. Trong số ấy có những oanh tạc cơ vô tuyến điều khiển có thể bay qua Đại Tây Dương đã được củng cố thành bức tường vĩ đại. Nếu địch muốn đổ bộ, chúng ta sẽ đẩy lui dễ dàng như năm 1940. Hitler muôn năm”!

– Hitler muôn năm! – Một vài người nhắc lại một cách dửng dưng.

Đám bài lại cầm bài lên. Một nắm tuyết rơi vào hộp đồ ăn bắn tung vào nhiều người.

Steinbrenner đọc thuộc lòng mấy câu sau:

– Việc thu hẹp phòng tuyến đã xong xuôi. Quân Nga tổn thất nặng nề đã kiệt sức rồi. Ta đang tập hợp các lực lượng trừ bị. Cuộc phản công của ta bằng khí giới bí mật sẽ vô cùng lợi hại.

Y giơ tay lên nửa vời nhưng rồi để rơi xuống không nói “Hitler muôn năm”. Ở đất Nga này càng ngày càng khó nói Hitler muôn năm! Mọi người đều hiểu rõ tình thế rồi. Bỗng dưng Steinbrenner giống y như một cậu học trò đi thi biết mình sẽ thi rớt, y vội nói thêm:

– Dĩ nhiên còn nhiều tin tức nữa. Những tin tức quan trọng nhất phải tuyệt đối giữ bí mật, lúc này, không thể nói ra được. Nhưng điều quan trọng tuyệt đối là chúng ta sẽ đánh bại địch trước ngày cuối năm.

Steinbrenner nói rồi đi thong thả ra phía cửa, Mucke cũng đi ra.

– Đồ liếm giầy! – Một anh chàng ngái ngủ phóng ra mấy tiếng ấy rồi nằm quay vào tường.

Mấy người đánh bài lại bắt đầu sát phạt.

***

Chiều hôm ấy nhiều đoàn xe thương binh về đến nơi. Một số người được đưa ngay về hậu phương. Họ đều được chở từ miền trung nguyên Nga mênh mông về đây rồi tiêp tục đi về phía trời Tây đã chạng vạng tối. Có lẽ không bao giờ họ tìm được chỗ nghỉ ngơi, họ sẽ như những cái bóng lang thang, mờ đi trong ánh hoàng hôn. Phần nhiều người yên lặng không nói. Ai nấy đều đói lả.

Những người không đi được và không giành được chỗ trong xe cam-nhông thì được khiêng vào một trại cứu thương lập tạm trong nhà thờ. Người ta che kín những lỗ thủng trên nóc để cho một y sĩ mệt nhoài với hai người y tá làm việc. Cửa để ngỏ cho tới lúc trời tối hẳn; cáng khiêng ra khiêng vào quần quật. Bàn mổ thắp đèn sáng trưng giữa vùng tối sảnh đường. Người ta cũng không nghĩ đến việc thu gọn những bức tường gẫy vụn để ở một xó nhà. Tượng Thánh Mẫu Đồng Trinh dang hai tay đã gãy mất bàn tay ra đón thương binh. Cây thánh giá chỉ còn hình Ki-Tô đã gãy một chân. Ít khi có tiếng người đau la hét, y sĩ vẫn còn thuốc tê để dùng. Nước sôi trong một cái thùng. Chân tay cắt ra dần dần chất đầy một cái bồn tắm kẽm lấy trong nhà đại úy trưởng ra. Một con chó không biết từ đâu xuất hiện quanh những người bị thương rồi đến ngồi đằng cửa. Đuổi không chịu đi.

Con chó chân cao, lông vàng chói như lửa, cái đầu dài và xinh đẹp.

Fresenburg nói:

– Đây không phải là chó nhà quê, con chó thật là đẹp.

Y tặc lưỡi gọi. Chó dõng tai nghe. Fresenburg nói ngọt ngào với con vật.

Graber hỏi:

– Mày tưởng nó đến tìm ăn hả?

Fresenburg lắc đầu:

– Ở chỗ khác chắc không thiếu ăn. Nó đến đây vì lẽ khác. Nó thấy có nhà, có đèn sáng. Tao cho rằng nó đến tìm chỗ có người.

Hai người y tá khiêng một cái cáng ra. Họ khiêng thi hài một người chết trong khi phẫu thuật. Con chó nhảy ra một bên. Nó nhảy lẹ làng như có dây trun kéo. Rồi ngồi yên lặng nhìn Fresenburg. Anh này lại nói, rồi bước tới một bước về phía nó.

Chó lùi lại bước nữa nhưng dừng lại nhìn Fresenburg vẫy đuôi khe khẽ.

Graber nói:

– Nó sợ.

– Ừ nó sợ thật, nhưng nó ngoan.

– Và chuyên ăn xác chết.

Fresenburg quay lại:

– Thì cũng như chúng ta vậy.

– Sao thế?

– Cũng như chúng ta vậy. Chúng ta cũng như con chó này, chúng ta dẫu sao cũng vẫn cho mình là người tử tế, chúng ta tìm một chút ánh sáng, một chút ấm lòng, một chút tình bạn.

Fresenburg mỉm cười với nửa mặt còn lại. Nửa mặt kia bị một cái sẹo lớn làm tê liệt và hầu như chết rồi, người khác vẫn thấy kỳ dị khi trông thấy nụ cười của y như bị gẫy ra khi đụng phải bức thành phía mặt ấy. Điều đó không phải là sự ngẫu nhiên. Y lắc đầu và khúc khích cười làm rơi những bông tuyết xuống đôi ghệt rồi nói:

– Chúng ta mất cả ý thức về sự bình thường rồi. Đã mười năm nay người ta giam hãm chúng ta trong thái độ kiêu căng, vô nhân đạo, tội lỗi, một thái độ vô nhân đạo bốc thấu đến trời. Người ta bảo chúng ta là chủng tộc làm thầy thiên hạ, người khác phải phục tòng chúng ta như những tên nô lệ.

Y cười chua chát.

– Họ tâng bốc tụi mình để dễ bảo tụi mình nghe theo những người ngu muội, những người nói khoác! Đã đẹp mặt chưa, làm thầy thiên hạ! Dĩ nhiên chỉ những thằng vô tội là bị hạ trước tiên!

Graber nhìn y mà lấy làm kinh ngạc. Fresenburg là người bạn đồng đội duy nhất đáng cho y tin cậy thực sự. Hai người quen biết nhau từ lâu, họ cùng sinh trưởng tại một tỉnh nhà.

– Mày đã biết thế thì mày đến đây làm gì?

– Đến đây làm gì? Không đến đây thì đến trại tập trung hay bị xử bắn vì cưỡng lại pháp luật.

– Tao không muốn nói thế. Mày đã lớn tuổi sao lại bị gọi khóa 1939? Trừ khi mày tình nguyện.

– Năm 1939 tao già quá thật. Nhưng sau này đổi khác. Bây giờ người ta gọi đến những người già hơn tao nữa. Thì mình cũng cố gắng đả thông tư tưởng, mình không muốn đào ngũ trong lúc quốc gia hữu sự, mặc dù ai là kẻ trách nhiệm chiến tranh. Việc này quả thật là hèn nhát! Chúng ta đã hèn nhát ngay từ đầu, khi chúng ta bỏ thăm cho Hitler để tránh một sự khốn đốn hơn. Bao giờ mình cũng tìm được cách biện hộ cho mình. Từ trước đến sau chỉ toàn là bào chữa và hèn nhát!

Graber không muốn hiểu. Fresenburg đứng yên một lát rồi nói tiếp giọng bình tĩnh hơn :

– Mày không muốn hiểu. Mày còn trẻ quá. Mày chỉ biết có cái cuồng nhiệt bệnh hoạn tập thể, mày chỉ biết có chiến tranh. Nhưng tao, tao biết trận chiến tranh trước và tất cả thảm họa kế theo. Chúng ta thua trận rồi, ít ra mày cũng biết điều ấy chứ?

– Không.

– Không có vị tướng nào biết trách nhiệm của mình mà không ngưng chiến từ lâu rồi. Chúng ta phí xương máu vô ích.

Y nhắc lại như điên dại:

– Vô ích, vô ích! Cũng không mong đạt được điều kiện hòa ước vinh dự.

Y giơ tay về phía chân trời tối tăm :

– Người ta không buồn điều đình với chúng ta nữa. Chúng ta đã gieo rắc căm thù và sợ sệt như Attila hay Thành Cát Tư Hãn. Chúng ta đã vi phạm những cam kết của chúng ta và chúng ta đã dày xéo lên nhân nghĩa đạo đức…

– Không phải chúng ta, thủ phạm là tụi SS. – Graber thất vọng mà cải chính như vậy.

Graber muốn tìm Fresenburg để tránh mặt Immermann, Sauer, Steinbrenner. Y muốn cùng Fresenburg nhớ lại tỉnh nhà yên tĩnh bên dòng sông xanh, thời niên thiếu của hai người, ấy thế mà bây giờ y lại bị kéo về hiện tại hãi hùng, y không đợi sự giúp đỡ của ai, nếu không phải của Fresenburg, nhưng y đã mất hút Fresenburg ít lâu nay trong lúc lui binh hỗn độn. Chính Fresenburg đã nói toạt ra những sự thật mà y rất sợ nghe nhất, y chỉ muốn để lúc nghỉ phép được yên lặng tĩnh mịch mới để tâm đến.

Fresenburg tỏ vẻ khinh bỉ lính SS:

– Chúng ta đánh trận là đánh trận cho tụi SS. Đánh trận cho tụi SS, tụi mật vụ, tụi lưu manh hèn nhát, tụi sát nhân, cuồng tín và điên rồ, để cho đám cặn bã xã hội nắm quyền hành thêm một năm nữa. Chúng ta đã thua trận từ lâu.

Trời đã tối hẳn. Cửa ngõ nhà thờ đều đóng kín không để lọt ánh sáng ra ngoài. Mấy bóng người kỳ dị lăng xăng trước mấy cái cửa sổ, có người đang lấy mền phù kín. Người ta cũng che kín cả lối xuống hầm và hầm núp. Fresenburg đưa mắt nhìn cảnh quen thuộc:

– Chuột chù! Chúng ta đã trở thành chuột chù. Cả linh hồn chúng ta cũng đã trở thành linh hồn chuột chù. Chúng ta đã thoái hóa quá nhiều.

Graber hút một hơi thuốc dài và thổi khói ra thật xa. Cái vạt nhỏ đang cháy âm ỉ trong tay theo nhịp hút thở của y bây giờ là vật đem lại ấm lòng hơn cả, hơn cả bạn bè. Một cô bạn bé nhỏ xinh xinh, lặng lẽ, chỉ biết đem lại cho y sự yên ổn…

– Mầy cũng đừng bận tâm đến nữa. Từ mười năm nay tuyên truyền đã làm ta ù tai. Khó lòng mà nghe tiếng nói nào khác. Nhất là không nghe thấy tiếng nói của lương tâm và tiếng nói hoài nghi, hai thứ tiếng nói đó không có gì là om sòm. Mày có biết giáo sư Pohlmann không?

– Thầy dạy Sử ký và Tôn giáo của tao đấy.

– Chừng nào mày về, cố mà đến thăm thầy. Có lẽ thầy còn sống. Tao gởi lời về thăm thầy.

– Tại sao lại không còn sống. Thầy có bị động viên không?

– Không

– Thế thì có sao. Thầy chưa ngoài 65 mà.

Fresenburg lội trên tuyết đi về phía làng bên, nơi đồn trú bộ đội của y. Graber nhìn theo cho đến khi y đi khuất trong bóng tối rồi mới quay lại. Y nhìn thấy bóng đen con chó đứng gần tường nhà thờ. Cửa mở, một tia sáng nhỏ lòe ra trong chốc lát. Người ta đã treo những mảnh “bạt” trước cửa vào. Chút lửa sáng thoáng qua cũng đủ ấm lòng trong chốc lát vì dầu sao người ta cũng nghĩ đến một căn nhà rộng dân làng hội họp lúc tối. Graber đến gần con chó. Nó sợ hãi lánh ra xa. Hai pho tượng bây giờ vứt dưới đống tuyết cạnh cái xe đạp hoen rỉ. Người ta phải dẹp tượng ra ngoài vì cần rộng chỗ.

Graber đi về phía cái hầm làm đồn trú cho tiểu đội của y. Bốn cái xác chết xếp hàng cách xa nhà thờ một chút. Người ta lại tìm thấy ba xác chết từ tháng mười vùi dưới tuyết. Xác đã mềm và ướt sũng nước. Cạnh đấy còn nhiều thương binh mới chết hồi chiều. Coi họ xám xịt, gò người như cố sức phấn đấu trước khi chịu chôn vùi dưới đất.

Flevoland & Nỗi nhớ quê

vanchuongviet.org

Thơ Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 20 May 2026

“Flevoland & Nỗi Nhớ Quê” là một bài thơ mang tâm trạng của người Việt xa xứ sống giữa miền đất lấn biển của Hòa Lan. Từ những cánh đồng gió, những con đê hun hút và dòng kinh phẳng lặng của Flevoland, tác giả bất chợt nghe vọng về tiếng mái chèo của tuổi thơ nơi miền Tây sông nước. Hai không gian tưởng như xa lạ lại soi chiếu vào nhau, để cuối cùng nhận ra: quê hương không chỉ là một địa điểm trên bản đồ, mà là dòng chảy âm thầm trong huyết quản mỗi con người.

NT

Tôi sống giữa vùng Flevoland

Mảnh đất do tay người

Nâng lên từ đáy biển.

Cũng bàn tay ấy

Vẽ nên những dòng kinh hun hút

Nước phẳng lặng

Hòa sức gió bầu trời.

Những cánh rừng che chở cánh chim di,

Hoa lá

Cỏ

Cây

Xôn xao mùa xuân tới

Như câu chuyện chẳng bao giờ dứt.

Những turbine gió

Xoay giữa cánh đồng cuối đông

Chậm rãi, khoan thai

Như thấu hiểu nỗi niềm người viễn xứ

Đang quạt lại chút ấm lòng

Cho trái tim đôi khi lạnh giá.

Tôi đi trên những con đê dài

Gió mang mùi cỏ ẩm

Và tiếng vịt gọi bầy

Trong buổi chiều xám bạc.

Bất chợt, giữa miền đất phẳng lặng này

Tôi nghe tiếng quê nhà dội lại

Như tiếng mái chèo khua nước tuổi thơ.

Có những đêm tuyết tan chậm trên mái hiên

Tôi nhìn qua khung cửa kiếng mờ hơi thở

Thấy bóng mình trôi nổi giữa dòng kinh.

Tôi nhớ về một dòng sông khác

Nóng bỏng nắng trưa

Nơi tôi từng trần truồng bơi lội

Để mùi phù sa

Thấm đẫm tuổi thơ.

Bạn bè tôi giờ biền biệt phương trời

Chẳng như cánh chim tránh lạnh biết đường về.

Người bám ruộng đồng

Người bám bãi sông

Giờ mỗi người một ngả.

Còn tôi đứng giữa trời Âu

Mang tiếng gọi Miền Tây sông nước hữu tình

Như nhịp đập

Không bao giờ ngưng nghỉ.

Hòa Lan hiền hòa

Nhưng nỗi nhớ quê thì cao vút.

Nó dâng lên mỗi khi gió tạt cánh đồng

Mỗi khi mặt kinh loang ánh hoàng hôn

Mỗi khi bắt gặp khoảng trời xanh ngắt

Giống đến ngỡ ngàng

In bóng trời quê xưa.

Có một ngày

Tôi lại đứng bên dòng sông của chính mình

Chạm tay xuống làn nước

Dù không còn mát rượi.

Mọi món nợ ân tình

Cũng tan vào dòng chảy

Và nghe lòng mình mở ra

Như miền Flevoland lồng lộng gió.

Quê hương cũ

Dù đã lùi xa

Nhưng đi đến đâu

Ở bất cứ nơi nào

Dòng chảy ấy

Vẫn luân lưu trong huyết quản.

Dronten, 10.3.2026

Nguyễn Lê Hồng Hưng