Huy Phương
Post by Sơn râu 20 May 2026



“Ba thằng đánh một, không chột cũng què: Mười anh mà bâu vào khen, ca tụng một anh, thì anh này không thành Thánh cũng thành Kiệt Xuất, Hào Kiet, Anh Hùng, Xuất Chúng …, nếu không hóa thành khủng!” Câu ví von này chắc chắn là khập khễnh, què quặt, chẳng mấy ai ưa, nhưng sự thật đây là một sự thật phũ phảng đã xầy ra từ lâu trong cộng dồng người Việt hải ngoại của chúng ta. Lâu lâu người ta kiếm một nhân vật quen biết, vẫn xuất hiện thường hay không, như khuân một cai lư đồng trong kho ra, vào những ngày giáp Tết Nguyên Đán, kỳ cọ, chùi rửa, đánh bóng rồi đưa lên bàn thờ, đèn nến sáng choang, hì hụp khấn vái.
Thứ văn hóa mà người ta cứ gán cho văn hóa Việt Nam, mà dân miền Bắc Việt Nam ngày nay vẫn thường cử hành trong các lễ hội, như là một loại văn hóa phường chèo, là cứ cho ăn mặc cho hoa hòe vào, như kiểu mấy bà đồng cốt, y phục đủ màu xanh đò tím vàng, thêu đù loại hoa văn, có long-ly-quy-phụng rồi hô hào, hãnh diện khoe khoang, cho đây là bản sắc văn hóa Việt Nam, phong phú, đa dạng, đầy màu sắc dân tộc.
Nhớ hồi Cộng Đồng người Việt mới thành lập trên đất Bolsa, ba ông Chủ Tịch trong ba cơ chế Hội Đồng Giám Sát, Cố Vấn, Điều Hợp khi ra hội họp hay tế lễ thì mang ba cái áo màu đỏ, màu vàng, màu xanh, gọi là tượng trưng cho ba ngành quyền lực nhất, để truyền thông địa phương quay phim chụp ảnh xem đó là đặc trưng của một nền văn hóa mới du nhập vào đất Mỹ, mà không cần phải một lời giải thích.
Chúng ta cũng biết thời đệ I Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đương kim nguyên thủ quốc gia, cũng chỉ mới khiêm nhường mặc một chiếc “áo rộng” xanh trong những ngày lễ lớn hay vào dịp về chúc thọ thân mẫu ông. Ông đã từng phục vụ với triều Nguyễn, hẳn ông dư biết nhà Vua có thể mặc hoàng bào bằng gấm thêu rồng, nhưng ông đã không làm. Vậy mà bây giờ, thời buổi này. một Chủ Tịch Cộng Đồng người Việt ở đâu đó đã có thể mặc áo vàng thêu rồng như nhà Vua ngày trước, mà không cần đếm xỉa gì dến cái gọi là văn hóa Việt Nam. Còn như một người được mời đứng ra cho trăm người khen mà không biết được tài trí của mình, không tự lượng được sức mình, thì đó là một điều xấu hổ. Luận về đức khiêm cung, Đức Khổng Tử đã nói: “Dầu mình thông minh trí tuệ hơn người cũng phải coi mình như ngu dốt vậy; dầu mình công lao đầy đủ trong thiên hạ. thì cũng phải kính nhường người; mình có sức mạnh hơn đời cũng phải coi mình như kẻ mềm yếu vậy; dầu mình giàu có bốn biển, thì cũng xem mình như người nghèo khổ vậy.”
Nói về chuyện chúc Thọ, ngày xưa sống trên 60 đã cho là thọ, dưới 60 chỉ mới dược hưởng dương. Sống đến 70 đã cho là ghê gớm lắm, người đời hiếm có (thất thập cổ lai hy.) Từ 80 tuổi trở lên là Thượng Thọ,” từ 90 tuổi trở lên “Đại Thọ,” “Vạn Thọ” hay “Trường Thọ”, để chỉ những bậc đã sống từ trăm tuổi trở lên. Nhưng Thọ có là vinh hay không, còn là điều phài xét lại. Các quốc gia châu Âu thường giữ vị tri cao trong các chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc, tuổi thọ trung bình của các nuớc này cũng rất cao. Tuổi thọ trung bình của các quốc gia thuộc top 10 nước có tuổi thọ trung bình cao nhất châu Âu đều hơn 80 tuổi. Nhưng ngày ngày thực phẩm đầy đủ, nền y tế tiến bộ, thuốc men đầy đủ, nhất là ở Mỹ, tuổi thọ trung bình của người Mỹ xếp hạng “thượng thọ (80).” Một người lính miền Nam, sau ngày nước mất, nhà tan, chịu cảnh ngục tủ đau đớn bao nhiêu năm, trải qua bao nhiêu phong ba của những ngày vượt biển, đến Mỹ cũng còn sống thọ đến hơn 80. Ngày nay chữ Thọ không còn là điều hiếm hoi nữa!
Nói về tải, tài năng bao nhiêu cho đù. Nói về dóng góp cho đất nước, cho dân tộc thì bao nhiêu cho vừa, và nếu có một chỉ tiêu, định mức thì cần phải cân đo với ai. Sau hết chúng ta cũng nên so sánh việc làm bàn giấy của một công chức bàn giấy với hoạt động của một con người tranh đấu cho việc cải tiến đem lại lợi ích cho xã hội và những hoạt động không có tính cách bắt buộc, làm nhiệm vụ của một viên chức chính phủ.
Nhưng khi nói về sự tương đối, thi tất cả mọi sự tương đối không đủ cho một sự vinh danh. Một người làm thơ gọi là tương đối thì không hao giờ được gọi là thi hào. Một người viết văn gọi là tạm được nhất dịnh không phải châu báu của quốc gia. Một quân nhân chỉ biết tiến lùi theo lệnh của cấp chỉ huy đâu phải là chiến sĩ! Vinh danh phải dành cho những cống hiến vượt trội, xuất chủng. Ngày xưa Quân Vương được triều đình quỷ lạy, vì đức của đấng Thiên Tử, cũng phải khiêm cung đứng dậy cho bầy tôi miễn lễ và gọi người bình thân, người khiêm nhường không thể chễm chệ ngồi trên ghế chủ tọa để cho người khác tung hô, hay nghe nhã nhạc, phát biểu lời xu nịnh, tán dương mà không biết đỏ mặt. Đối với tiền nhân, liệt sĩ có công gầy đựng đất nước, hậu thế vênh vang chút tài mọn là thiếu lễ nghĩa. Đối với lũ trẻ chưa ra đời và tuổi trẻ tài năng hôm nay đã cống hiến nhiều sự nghiệp cho đất nước, mà hãnh tiến vô lý là bất nhân.
Áo thụng vái nhau ở chỗ riêng tư, không ai biết, thì còn mình biết, trời biết! Áo thụng vái nhau ở chỗ công cộng, trăm người nghe, nghìn người thấy. coi như dưới mắt mình chẳng còn ai là người (mục hạ vô nhân,) hiu hiu tự đắc, hẳn không phải là việc làm của kẻ sĩ. Một ký mục gia nói về tỉnh trạng “hổn loạn” này đang xảy ra trong cộng đồng hải ngoại là một thái độ “tự sướng!” Thiên Chủa Giáo đã nói: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,9-14). Ông Khổng Tử lại cho rằng: “Người bác học mà biết khiêm nhượng thì kẻ tài sơ mới hết lòng mến phục, còn kẻ tài sơ mà biết khiêm nhượng, thì người bác học mới vui lòng hướng dẫn.” Còn với Lão Tử. khiêm tốn được khai quật lên thành cái “Đạo” của con người thông minh, cái đạo không thể thiếu trong xử thế. Trong bảy đức hạnh của người tu theo Phật giáo thì dức hạnh thứ năm là: “Không tự khoe khoang trong khi mình thiếu đức!”
Thật ra có một điều mà ai cũng biết, nhưng rất khó tránh: là bị người chê trách, không giận là dễ, nhưng ai khen mình mà mình tránh được “phễnh mũi” mới là khó!
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.