This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nhớ lại các năm trước 1975, bộ sách của giáo sư Phạm Hoàng Hộ còn mang tên là Cây Cỏ Miền Nam. Cuộc chia cắt đất nước đã giới hạn tầm mức của cuốn sách. Thế nhưng công trình của giáo sư Phạm Hoàng Hộ không phải chỉ được coi là quý đối với các nhà chuyên môn về thực vật học.
Nhà văn Võ Phiến có kể lại trong bộ sách Văn Học Miền Nam, soạn thảo tại hải ngoại của ông sau biến cố 75, nhiều nhà văn đã tìm đọc cuốn Cây Cỏ Miền Nam để biết thêm về một vài loại cây cỏ quanh mình, để khi cần, có thể đưa vào tác phẩm. Nói chung, hình như chúng ta ít chú ý đến hoa cỏ, cây lá quanh mình, ít chú ý tới thiên nhiên.
Đối với rất nhiều người, phân biệt thế nào loại ẩn hoa hay hiển hoa, thế nào là giống một lá mầm với giống hai lá mầm là một việc khó khăn, và e rằng số người hoàn toàn không biết gì còn nhiều hơn nữa. Bác sĩ Mai Kim Ngọc kể về một vài kỷ niệm của ông đối với giáo sư Phạm Hoàng Hộ như sau:
“Tôi có dịp được quan sát giáo sư khá gần trong giai đoạn đầu của cuộc đời sư phạm của ông. Đó là những năm sau hiệp định Genève, miền Nam mới khai sinh như một tân quốc gia, có tổng thống, có tối cao pháp viện, có quốc hội, có viện đại học và có đại học khoa học. Từ thế nhìn của một sinh viên sinh vật học năm thứ nhất, tôi đã quan sát giáo sư vừa tốt nghiệp khoa thực vật tại Pháp trở về. Thầy tôi là tiến sĩ Roger, người Pháp, giản dị, khiêm tốn, hiền từ. Ông mặc quần short và áo sơ mi kaki có cầu vai và nắp túi, kiểu phổ thông bấy giờ. Tôi nhớ giáo sư Hộ rất giống thầy Roger, chỉ khác ở chỗ chủng tộc màu da một Pháp một Việt, ở chỗ tuổi tác một già một trẻ, ở chỗ mái tóc giáo sư còn xanh và dày và trán không hói như trán thày Roger. Nhưng họ vẫn giống nhau như anh em ruột, vì cái thần thức trong sáng của những nhà giáo kiêm khảo cứu gia của thế giới”.
Được biết giáo sư Phạm Hoàng Hộ có ở lại Việt Nam một thời gian sau biến cố 75 và như các đồng nghiệp và những người quen biết của ông cho biết, giáo sư đã ăn cơm hẩm đạp xe cọc cạch để mong cho đất nước đi lên, nhưng cuối cùng ông đã phải gọi đó là thời “ảo vọng”, để bầy tỏ sự cay đắng, thức tỉnh của một người trí thức miền Nam, trước sự lật lọng, độc ác, dốt nát của những người thắng trận, tạo ra một thời đen tối của đất nước.
Giáo sư Hộ đã đề tặng công trình của ông cho:
“Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước. Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà- Nam-Ninh. Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.
Riêng về địa hạt chuyên môn, nhờ sự thống nhất đất nước, ông đã được dịp đi về các tỉnh miền Bắc như Thái Nguyên, Hòa Bình, Quảng Ninh, Lào Cay, Lai Châu và nhất là ngọn Fan-Si Pan ngọn núi cao nhất của bán đảo Đông Dương để nghiên cứu và sưu tập của ông đã tăng thêm được 2500 loại thực vật, và, nó còn được đổi tên là Cây Cỏ Việt Nam.
Cây Cỏ Việt Nam do nhà xuất bản Mekong Printing ấn hành, gồm 3 cuốn, mỗi cuốn 2 tập, tổng cộng 3599 trang chưa kể phần phụ lục và tự vựng, bao gồm thêm cả công trình những năm giáo sư rời bỏ Việt Nam sang Pháp, rồi qua Canada, mặc dầu tuổi đã cao, giáo sư vẫn tiếp tục cặm cụi làm việc. Từ những thành quả đã thâu lượm được giáo sư cho hay, ông cũng đang sắp đặt và khai triển thêm để soạn bộ dược thảo.
Theo bác sĩ Mai Kim Ngọc thì tác phẩm của giáo sư Hộ sẽ không chỉ về dược thảo nói chung mà về dược thảo Việt Nam.
Riêng cuốn Cây Cỏ Việt Nam, với kỹ thuật tin học hiện đại còn có thể sắp xếp thành một bộ tự điển đa dạng dưới hình thức y học. thảo mộc học, kinh tế học, nhân chủng học, thổ ngơi học. Bộ sách còn có thể là món quà vô giá cho những người thiết tha về văn học nghệ thuật mà chuyện đẹp bao gồm thiên nhiên trong đó có hơn vạn cây cỏ mà giáo sư Hộ đã đếm, đã vẽ.
Thật hết sức cảm động khi đọc những cảm nghĩ của bác sĩ Mai Kim Ngọc về cuốn sách. Chúng ta có cảm tưởng được chia sẻ dưỡng khí, sự tôn kính, lòng biết ơn và cái đẹp …những gì thực sự là giá trị của cuộc sống, những thứ chúng ta cứ mất dần đi kể từ sau biến cố 1975.
Bác sĩ Mai Kim Ngọc viết:
“Sách là hình ảnh của một đời tận tụy của một khoa học gia, và mỗi chương là mỗi gian khổ cũng như hoan lạc của một trí thức đàn anh trong những năm lịch sử vừa qua. Trong khi đất nước nổi trôi qua những chặng đường phong kiến, ngoại thuộc, chiến tranh, hòa bình, cộng sản, kinh tế thị trường, kinh tế tư bản, có những người sắt son đầu tư cuộc sống của mình vào những chuyện thầm lặng khiêm tốn mà giá trị vô song, với tham vọng lớn nhất là không bỏ sót một lá cây, ngọn cỏ của kho tàng đất nước, là bảo vệ rừng già, bảo vệ thiên nhiên, là giữ gìn đất đai cha ông để lại cho con
cháu đời đời. Vui về công trình của một nhà thực vật nuôi dưỡng bởi miền Nam nói riêng và thế giới tự do nói chung, đã là một mẫu mực cho sự đóng góp của người trí thức cho đất nước, hay rộng lớn hơn cho đời sống. Giá có một công trình tương tự trong mỗi bộ môn, như bệnh lý Việt Nam, hànhchánh Việt Nam, kiến trúc Việt Nam, đê điều Việt Nam, cầm thú Việt Nam, hành chánh Việt Nam, luật pháp Việt Nam v.v … thì ta đã đương nhiên tạo dựng được một nền tảng cụ thể cho một nền văn hóa văn minh Việt Nam, ngoài chuyện 4000 năm văn hiến và một ít trống đồng, đồ gốm”.
Người Kéo Màn của Nhật Tiến được xuất bản lần thứ nhất tại Sài Gòn khoảng 1962/63, rồi sau đó hình như đã được tái bản nhiều lần. Báo chí và các nhà phê bình văn học thời ấy coi Người Kéo Màn không những là một trong những tác phẩm quan trọng của Nhật Tiến mà còn quan trọng đối với cả nền văn học miền Nam nói chung, lúc bấy giờ.
Người ta cho rằng:
“Nhật Tiến đã dùng một kỹ thuật mới mẻ đối với tiểu thuyết Việt Nam và rất thích hợp cho việc tạo không khí cho Người Kéo Màn, cuốn truyện liên quan nhiều đến sân khấu. Truyện đối thoại xen lẫn những đoạn tả cảnh, gồm có ngoại cảnh, trong hậu trường, trên sân khấu, sau cánh gà, trong phòng hóa trang, tại giàn nhạc, trong phòng xép, ở chỗ kéo màn, dưới hầm nhà v.v … Mỗi góc cạnh đó tựa như một cái cánh của chiếc chong chóng xoay tít trên một cái trục vô hình là cuộc đời”.
Vào những năm 60/70 các nhà văn ở miền Nam đang cố hình thành một nền văn học mới, thoát khỏi mọi ảnh hưởng của lớp nhà văn tiền chiến. Nên người ta chú trọng đến tất cả các khía cạnh đổi mới của người viết, với quan niệm rõ ràng rằng, trong nghệ thuật viết tiểu thuyết, ngoài câu chuyện còn cách kể câu chuyện ấy nữa.
Hay nói cách khác: kỹ thuật viết của nhà văn. Phê bình Người Kéo Màn của Nhật Tiến, nhà văn Dương Nghiễm Mậu cho rằng:
“Chính kỹ thuật làm cho người đọc cảm thấy đến rợn người lên về những khía cạnh ‘thực’ chung quanh vở kịch giả’, mà nếu diễn tả những chỗ đó ra, có khi trở thành lố bịch, ngô nghê”
Nhà phê bình Bùi Đình viết:
“Thể tài này tuy không mới lạ gì với văn gia quốc tế, nhưng ở Việt Nam chưa ai dùng. Nhật Tiến đầu tiên đã dám xử dụng nó và biết xử dụng nó”.
Sau đây là ít dòng trong các trang 95/96 của cuốn Người Kéo Màn, ‘sen’ đối thoại giữa nhân vật có tên là Hằng và ông lão kéo màn:
Hằng: Này cụ kéo màn ơi, cụ có thấy ông tác giả vở kịch hôm nay đang ở đâu không?
Lão kéo màn: Say khướt rồi! Có xin chữ ký thì mai mốt tìm ổng ở nhà riêng.
Hằng: Không! Tôi không cần xin chữ ký. Tôi có việc.
Lão kéo màn: Việc gì cũng phải chờ tới lúc khác. Đã bảo là ông ta say khướt rồi mà.
Hằng: Đâu? Ông ta nằm ở đâu?
Lão kéo màn kéo tay nàng đi về phía một cái phòng xép. Lúc lão mở cánh cửa ra, Hằng thấy con người ngày xa xưa cũ của mình đang nằm sóng sượt dưới sàn, miệng ậm ừ những câu gì nghe chẳng rõ. Có thể hắn đang hát, mà cũng có thể hắn đang kể lể tâm sự với chính mình.
“Thế này thì còn nói năng phải trái gì được nữa?”,
Hằng nghĩ như thế và rút trong bóp ra tờ giấy khai sinh. Nàng lật mặt sau lên, dùng cái bút kẻ lông mày viết nguệch ngoạc lên mấy chữ: “Khai sanh của con anh đây. Muốn đi tìm thì cứ việc tìm”. Rồi nàng gấp mảnh giấy lại, nhét ngay vào túi áo veste của hắn ta.
Hằng: Khi ông ấy tỉnh hẳn, cháu nhờ cụ nói là cháu có gửi cho ông ấy tờ giấy trong túi áo veste.
Lão kéo màn: Được rồi! Được rồi! Tôi sẽ nhớ.
Hằng quay lại nhìn hắn ta một lần nữa rồi quay ra. Trong đầu óc của nàng, hình ảnh hào hoa của gã văn sĩ ngày xưa nay đã bị xóa nhòa hoàn toàn. Bây giờ nó chỉ còn là hình bóng của một kẻ trác táng, bê tha và sa sút một cách
thảm hại. Tuy nàng thương hắn nhưng nàng thấy rõ lòng mình bỗng trở nên nhẹ tênh. Bao nhiêu nỗi nhớ thương, hờn giận ám ảnh trong lòng nàng ròng rã trong bao nhiêu năm trời bây giờ chợt biến mất tong khoảnh khắc. Nàng thực sự đã được giải phóng ra khỏi ngục tù của sự tiếc nuối.
Tính đến ngày cuốn sách được tái bản ở hải ngoại lần này là vừa đúng 40 năm. Bao nhiêu vật đổi sao rời. Những cố gắng của người viết, giá trị của cuốn sách đã được công nhận. Và hiển nhiên cái giá trị ấy đã gia nhập vào hệ thống các giá trị quốc gia.
Không biết những người đọc cuốn sách lần thứ nhất nghĩ gì, nhưng những người đã có dịp đọc nó cách đây bốn chục năm, bây giờ, cầm cuốn sách in lại trong tay, không khỏi cảm thấy buồn. Đằng sau các trang sách là những cơn chấn động của lịch sử mà dư hưởng vẫn còn làm cho người ta dường đứng không vững trên hai chân của mình.
Bao nhiêu những cố gắng tốt đẹp đã bị xóa bỏ. Những giá trị bị xóa bỏ, vậy thì cái gì là giá trị? Trên những trang sách là cái bóng của một người còn đang ở trong tuổi 30, bây giờ quá nửa mái đầu đã bạc. Đáng lẽ cuốn sách phải được in tại nơi nó được viết ra rồi đem tới đây. Bây giờ nó được in ở đây và không biết có lối nào có thể trở về chốn cũ?
Mọi giá trị đều cần được bảo vệ. Nhưng hình như cuốn sách mỏng manh này phải tự bảo vệ lấy giá trị của nó. Đó là những ý nghĩ rời rạc của một vài người đọc, khi cầm cuốn Người Kéo Màn trên tay.
NHỜ bức thư giới thiệu của Prospéri, người Corse bán chạp phô, tám ngày sau tôi được thâu nhận vào làm ở mỏ vàng La Mocupia. Thế là tôi phụ trách điều hành các chiếc bơm hút nước từ các đường hầm.
Mỏ vàng giống một mỏ than đá. Cũng những đường hầm dưới đất vân vân… Không có các mạch vàng, rất ít vàng cục thiên nhiên. Vàng hỗn hợp với đá cứng. Người ta dùng thuốc nổ bắn đá rồi lấy búa đập các cục quá to. Các viên đá có trộn vàng được để vào những chiếc xe, người ta dùng cần trục đưa các xe lên mặt đất. Máy cán biến những viên đá thành một thứ bột nhỏ hơn cát. Trộn vào nước, bột ấy trở thành một loại bùn lỏng, được các chiếc bơm đẩy vào những thùng lớn như các thùng lọc dầu hỏa, có chứa chất cyanure. Vàng tan thành một chất lỏng nặng hơn nước và chìm xuống đáy thùng. Người ta nung nóng, chất cyanure bốc lên, kéo theo những phân tử vàng đông đặc lại và dính vào các tấm lọc. Vàng ấy được gom lại, biến thành khối, tuổi vàng 24 carats được kiểm soát rất kỹ rồi người ta để nó vào một kho canh gác rất chu đáo. Nhưng ai là người canh kho ấy? Tôi không thể ngờ được! Đó là một người tù khổ sai vượt ngục, Simon, bạn vượt ngục của Charlot.
Sau giờ làm việc, tôi đến hưởng cảnh này: nhìn trong kho một đống lớn vàng khối do tay Simon sắp rất ngay ngắn, Simon, một cựu tù nhân. Không có được một phòng kiên cố, chỉ một buồng bằng xi măng, vách không dày hơn thường bao nhiêu, một cánh cửa bằng gỗ.
– Khỏe chứ Simon?
– Khỏe. Còn mày thế nào, Papillon. Ở nhà Charlot vui vẻ chứ?
– Ừ, tốt lắm.
– Tao không biết mày ở El Dorado, nếu biết tao đã đến kiếm mày.
– Cảm ơn mày. Ở đây mày thích chứ?
– Mày biết không, tao có mái nhà không lớn bằng nhà của Charlot, nhưng nhà tao bằng gạch với xi măng. Chính tay tao xây cất. Vợ tao trẻ, dễ thương, vợ chồng tao có hai bé gái. Khi nào tiện, mày đến nhà tao chơi, nhà tao là nhà của mày. Charlot cho tao biết thằng bạn mày đau. Vợ tao biết tiêm thuốc, khi nào cần mày cứ đến.
Chúng tôi nói chuyện. Hắn hoàn toàn sung sướng. Hắn cũng không nói đến nước Pháp, đến Monmartre là nơi hắn đã sống. Chẳng khác nào Charlot. Dĩ vãng không còn nữa, chỉ có hiện tại là đáng kể, vợ, con, mái nhà. Hắn nói hắn lĩnh lương mỗi ngày hai chục đồng bạc. Cũng may là vợ chồng hắn ăn trứng chiên làm bằng hột gà nhà và gà giò là sản phẩm cây nhà lá vườn, nếu không thì thằng Simon với gia đình hắn khó sống đàng hoàng lắm.
Tôi ngắm đống vàng để đó, hết sức cẩu thả, đằng sau cánh cửa gỗ và bốn bức vách dày ba mươi phân. Một cánh cửa mà chỉ cần nhấn chiếc kềm lớn hai lần là mở ra êm như ru. Đống vàng giá mỗi gam là ba đồng bạc hoặc mỗi once là ba mươi lăm mỹ kim, vị chi ba triệu năm trăm ngàn đồng bạc Venezuela hoặc một triệu mỹ kim. Và tài sản khổng lồ ấy ở ngay tầm tay! Đánh cắp nó là một trò chơi con nít.
– Đống vàng khối sắp xếp ngay ngắn ấy đẹp thật, phải không Papillon?
– Có lẽ nếu bọc lại kỹ lưỡng thì sẽ đẹp hơn. Thật là nhiều của!
– Có lẽ, nhưng không phải của mình. Rất thiêng liêng vì người ta giao cho tao giữ.
– Giao cho mày chứ không giao cho tao. Phải công nhận quả là hấp dẫn khi thấy một núi của như vậy bỏ hoang.
– Không phải bỏ hoang vì chính tao canh giữ.
– Có lẽ, nhưng mày không ở đây luôn hai mươi bốn giờ trên hai mươi bốn.
– Không có, chỉ từ sáu giờ tối đến sáu giờ sáng. Nhưng ban ngày có một tên khác giữ, có lẽ mày biết nó. Thằng Alexandre, thủ phạm vụ bưu phiếu giả.
– Thế à, tao biết nó. Thôi, chào mày Simon. Chuyển lời tao thăm gia đình mày.
– Mày đến thăm gia đình tao chứ?
– Rồi!
Tôi đi gấp, rất gấp khỏi nơi quyến rủ ấy. Thật không tưởng tượng nổi! Hình như chúng nó muốn để cho người ta lấy trộm. Một nhà kho không vững vàng gì hết, lại thêm hai tên gian hùng có hạng để giữ kho vàng! Trong cuộc đời giang hồ của tôi, chưa từng thấy chuyện lạ như vậy!
Tôi chậm rãi lần bước trên con đường dốc đi về làng. Tôi phải đi ngang qua hết ngôi làng trước khi đến mỏm đất có nhà của Charlot. Tôi hơi kéo lết đôi chân, vì đã làm việc suốt tám giờ trong ngày rất vất vả. Ở trong đường hầm thứ hai dưới đất, mặc dù có quạt máy, không khí có phần ít, ẩm thấp và nóng. Mấy chiếc bơm hư ba bốn lần, phải sửa luôn. Bây giờ là tám giờ rưỡi và tôi đã chui xuống đất lúc trưa. Tôi đã lãnh mười tám đồng bạc. Nếu tôi có óc công nhân, tiền lương ấy không đến nỗi nào. Mỗi ký thịt giá 2 đồng rưỡi, đường 7 cắc, cà phê 2 đồng. Rau cũng không đắc: 5 cắc 1 ký gạo, đậu khô cũng giá ấy. Đời sống rất rẻ, thật vậy. Nhưng tôi có đủ hiền đức để chấp nhận nếp sống ấy không?
Vừa lên con dốc nhiều sạn lởm chởm một cách dễ dàng nhờ có giày bự đế đinh của hầm mỏ phát cho, dù không muốn và dù cố không nghĩ đến, tôi vẫn thấy hiện ra khối một triệu Mỹ kim bằng thoi vàng chỉ chờ một người gan dạ cướp lấy. Một việc không khó, nhất là về đêm, bất ngờ chụp lấy Simon và cho nó thuốc mê. Sau đó công việc dễ dàng như trở bàn tay, vì họ vô trách nhiệm đến độ để nó gửi chìa khóa của kho vàng phòng khi mưa nó vào trong ấy núp. Quả là vô ý thức! Chỉ còn việc chở hai trăm thoi vàng ra ngoài vùng mỏ để trên một cỗ xe nào đó, xe cam nhông hoặc xe ngựa. Phải sắp sẵn nhiều chỗ giấu trong rừng, dọc theo đường cái, mỗi nơi cất các thỏi vàng chia thành lô nhỏ, mỗi lô một trăm ký. Nếu là một xe cam nhông, một khi đã xuống hàng rồi, phải chạy xa chừng nào hay chừng ấy, tìm một chỗ rất sâu của con sông rồi cho nó nhào xuống đó. Nếu là một xe ngựa thì sao? Ở chỗ chợ không thiếu gì loại xe ấy. Ngựa khó tìm hơn, nhưng không phải không kiếm ra. Giữa tám giờ tối và sáu giờ sáng, một đêm mưa giông lớn, sẽ đủ thì giờ để làm mọi việc, còn có thể về nhà ngủ một giấc ngon lành.
Tôi bước vào vùng ánh sáng ở giữa làng, thế mà tôi vẫn tưởng tượng vụ đánh cắp vàng thành công và tôi đã về nằm trên chiếc giường lớn ở nhà Charlot.
– Chào anh Pháp! Một nhóm người ngồi trước quán rượu trong làng chào tôi.
– Chào các anh! Chào tất cả các anh.
– Hãy ngồi lại với chúng tôi một lúc. Anh uống bia ướp lạnh chứ?
Nếu từ chối sẽ khiếm nhã. Tôi nhận. Thế là tôi ngồi với những con người hiền hòa ấy, hầu hết là thợ mỏ. Họ muốn biết tôi có bình yên không, tôi đã tìm ra một thiếu nữ nào chưa, Picolino có được Conchita săn sóc tử tế không, tôi có cần tiền để mua thuốc men hay mua sắm đồ đạc không. Lòng tốt hồn nhiên ấy lôi tôi về với thực tại. Một người tìm mỏ vàng đề nghị nếu tôi không thích làm ở đây và nếu tôi chỉ làm việc nào mình thích, thì hãy đi với anh ta: “Vất vả thật, nhưng kiếm được nhiều tiền hơn. Và có cơ làm giàu”. Tôi cảm ơn tất cả mọi người và ngỏ ý mời họ một tuần rượu.
– Không được, anh là khách. Đợi một ngày khác khi nào anh giàu có. Xin Chúa phù hộ cho anh.
Tôi đi về “lâu đài” của Charlot. Vâng, thật là một điều dễ dàng nếu muốn trở thành một người khiêm nhường và lương thiện giữa những con người như thế này, sống không cần gì nhiều, hạnh phúc giản dị, và chấp nhận một người mà không cần biết người ấy từ đâu đến, trước đó đã làm gì.
Conchita đón tôi. Chỉ một mình nàng ở nhà. Charlot ở ngoài mỏ. Tôi từ mỏ đi ra thì hắn vào. Conchita hết sức vui vẻ và niềm nở. Nàng đưa guốc tôi mang cho khỏe đôi chân phải mang giày nặng nề.
– Bạn anh ngủ. Anh ấy ăn ngon và tôi đã đi bưu điện gửi thư yêu cầu người ta nhận anh ấy vào nằm bệnh viện tại một thành phố nhỏ cách đây không xa, thị trấn Tumereno.
Tôi cảm ơn rồi ăn bữa cơm nóng sốt đã dọn sẵn. Cách tiếp đón thân mật, giản dị và vui vẻ làm cho tôi thoải mái và bình tâm cần cho tôi sau khi bị đống vàng một tấn quyến rủ. Cánh cửa mở ra.
– Chào tất cả mọi người.
Hai thiếu nữ vào trong phòng rất tự nhiên. Một người tóc hung, dáng mảnh mai, tên là Graciela. Nàng thuộc giòng giống Gitan vì cha nàng người Tây Ban Nha. Cô kia tên Mercedes. Ông nội người Đức nên da nàng trắng và tóc vàng rất mịn. Graciela có đôi mắt đen của người xứ Andalousie pha một chút hương vị nhiệt đới, còn Mercedes thì cặp mắt xanh lục gợi tôi nhớ đến Lali, người thiếu nữ da đỏ, Lali… Lali và em nàng Loraima, bây giờ nàng ở đâu? Bây giờ tôi đã trở về xứ Venezuela, có nên tìm gặp hai chị em nàng không? Lúc bấy giờ vào năm 1945, mười hai năm đã trôi qua. Xa quá rồi, nhưng qua bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn cảm thấy nhói ở tim khi nhớ đến hai người đẹp ấy. Từ ngày đó chắc hẳn họ đã làm lại cuộc đời với một người đàn ông cùng chủng tộc. Không, nếu có lương tri, tôi không có quyền làm cho cuộc đời mới của họ bị xáo trộn.
– Conchita, bạn của chị đẹp rạng rỡ! Cảm ơn chị đã giới thiệu.
– Tôi biết các cô ấy còn tự do, chưa có vị hôn phu.
Đêm qua mau. Tôi và Conchita đưa các cô ấy về đến đầu làng và tôi cảm thấy hai cô tựa mạnh vào tay tôi. Trên đường trở về Conchita cho tôi biết cả hai cô đều thích tôi: “Anh thích cô nào?”, nàng hỏi tôi.
– Conchita, cả hai đều dễ thương, nhưng tôi không muốn gây rắc rối.
– Anh gọi làm tình là rắc rối à? Ái tình không khác gì ăn với uống. Anh muốn sống không ăn không uống à? Tôi thì khi nào tôi không làm tình, tôi sinh đau ốm, thế mà tôi đã hai mươi hai tuổi. Anh thử tưởng tượng đối với các cô ấy chỉ mới 16, 17 tuổi thì thế nào? Nếu họ không hưởng thụ thân xác của họ, họ sẽ chết.
– “Thế còn cha mẹ họ?” Rồi nàng lập lại những điều José đã nói, rằng con gái xứ này yêu để mà yêu. Một cách hồn nhiên, trọn vẹn, họ dâng hiến cho người đàn ông họ thích mà không đòi hỏi gì hơn là làm cho họ rung cảm.
– Conchita, tôi hiểu. Như bất cứ ai, tôi cũng muốn làm tình vì tình yêu. Tuy nhiên nhờ chị nói các cô bạn của chị rằng một cuộc phiêu lưu tình ái với tôi sẽ không ràng buộc tôi gì cả. Một khi đã biết trước như vậy thì là chuyện khác.
Trời ơi! Không dễ gì thoát khỏi tình huống này. Charlot, Simon, Alexandre, có lẽ nhiều người khác nữa đã bị mê hoặc. Bây giờ tôi hiểu tại sao họ hoàn toàn sung sướng trong lòng một dân tộc bao dung và vui vẻ khác hẳn dân tộc chúng ta. Rồi tôi thiếp ngủ.
– Papillon, thức dậy đi, đã mười giờ rồi! Có người đến thăm mày.
– Xin chào ông.
Một người trạc năm mươi, tóc hoa râm, đầu không nón, cao lớn, đôi mày rậm trên cặp mắt ngay thẳng, chìa tay cho tôi.
– Tôi là bác sĩ Bougrat 1. Tôi đến vì được nghe người ta nói một trong hai anh bị bệnh. Tôi đã gặp bạn anh. Nếu không đem nó vào bệnh viện ở Caracas thì vô phương. Và cũng khó chữa cho nó lành bệnh.
– Bác sĩ dùng cơm với chúng tôi chứ, Charlot mời, không kiểu cách.
– Có gì đâu, bác sĩ, tôi tập đi những bước chân đầu tiên trong cuộc đời. Tôi cảm thấy mới vừa sinh ra. Đúng hơn, như một đứa trẻ thơ, tôi bị lạc lõng. Tôi không biết nên đi con đường nào.
– Con đường đi giản dị lắm. Nhìn chung quanh sẽ thấy. Trừ một hai người còn thì tất cả bạn cũ của chúng ta đều đã theo con đường chính đạo. Tôi ở Venezuela từ năm 1928. Theo tôi biết, không người cựu tù nhân nào phạm tội ở đây hết. Hầu hết đã có vợ, có con và sống lương thiện, được xã hội thừa nhận. Họ đã quên quá khứ, đến nỗi có người không thể kể lại cho anh nghe một cách rõ ràng vụ án đã đưa họ vào tù tội. Chuyện cũ quá lu mờ, quá xa vời, đã bị chôn vùi trong một dĩ vãng đen tối, không quan trọng chút nào.
– Bác sĩ ạ, đối với tôi có phần khác. Tôi phải đưa một bản tổng kết khá dài cho những đứa đã làm tôi bị tội oan: mười ba năm tranh đấu và đau khổ. Để bắt chúng trả món nợ này, tôi phải trở về Pháp và phải có nhiều tiền. Nếu chỉ làm thợ thì tôi không thể nào để dành đủ tiền trả lộ phí khứ hồi, nếu có vòng về, chưa kể số tiền cần thiết để thực thi kế hoạch của tôi. Vả lại, kéo dài cuộc đời trong thôn xóm hoang vu hẻo lánh này….. Đô thành Caracas quyến rủ tôi hơn nhiều.
– Anh tưởng chỉ có một mình anh có món nợ phải trả sao? Anh nghe câu chuyện sau đây của một thanh niên tôi quen biết. Nó tên Georges Dubois. Một thiếu niên của xóm lao động La Villette. Ông cha nghiện rượu, lâu lâu bị bắt giam vì mê sảng, bà mẹ với sáu đứa bé sống cùng khổ trong các quán rượu của người Ả Rập trong khu phố. Từ lúc lên tám, Jojo, tục danh của nó, hết ở nhà trừng giới này đến nhà trừng giới khác. Nó bị tội đã nhiều lần ăn cắp trái cây bày bán tại các tiệm. Ban đầu thì bị giữ tại nhà trừng giới của Cha Rollet, rồi đến mười hai tuổi, bị bỏ vào một nhà trừng giới nghiêm khắc hơn. Không cần nói anh cũng biết, đến tuổi mười bốn, chung đụng với bọn thanh niên mười tám tuổi, nó phải lo bảo vệ thân xác nó. Vì gầy ốm, nó chỉ còn biết tự vệ bằng khí giới. Một nhát dao găm vào bụng một trong những thằng con nít hư hỏng, là đủ nhà chức trách đưa nó vào nhà trừng giới nghiêm khắc, nhà trừng giới của những đứa trẻ bất trị ở Esse. Cho đến năm hai mươi mốt tuổi! Tóm lại, tám tuổi bước vào vòng lao lý, rồi cũng được thả ra lúc 19 tuổi, nhưng với một tờ thông hành phải lập tức gia nhập các tiểu đoàn trừng giới ghê gớm ở Phi Châu. Bởi vì, với quá khứ của nó, nó không có quyền đi thẳng vào các đơn vị quân đội chính qui. Người ta cho nó một ít tiền túi và tống khứ nó đi! Khốn nỗi là thằng bé có một tâm hồn. Có lẽ quả tim nó đã chai cứng, nhưng vẫn còn những góc cạnh mềm yếu. Đến nhà ga, trên một đoàn xe lửa, nó thấy tấm bảng đề: Ba Lê. Chẳng khác nào một lò xo bung ra, nó liền nhảy vào toa xe lửa và đến Ba Lê. Khi nó từ ga bước ra, trời đổ mưa. Nó núp dưới một mái hiên để nghĩ đến cách đi đến khu La Villette. Cùng đứng dưới mái hiên, một cô gái cũng đụt mưa. Cô gái nhìn nó với đôi mắt đầy cảm tình. Về đàn bà, nó chỉ biết bà vợ to béo của ông quản đốc nhà trừng giới Esse và những gì mà bọn lớn tuổi ở đó kể cho nhau nghe. Chưa có ai nhìn nó như cô gái này và hai người hỏi chuyện nhau:
– Anh từ đâu đến đây?
– Từ tỉnh lên.
– Tôi mến anh lắm. Tại sao chúng mình không đến khách sạn? Em sẽ chìu anh và chúng ta sẽ sưởi ấm cho nhau.
Jojo hết sức xúc động. Cô gái là một cái gì kỳ diệu, lại thêm nàng đặt bàn tay mềm mại trên bàn tay của nó. Đối với nó, tình yêu vừa khám phá quả là chói lọi. Cô gái trẻ và đam mê. Sau khi đã thỏa mãn, hai người ngồi trên giường để hút một điếu thuốc, cô gái hỏi nó:
– Đây là lần đầu tiên anh ngủ với đàn bà phải không?
– Phải, nó thú nhận.
– Tại sao anh đợi lâu vậy?
– Anh ở trong nhà tù thiếu nhi.
– Lâu không?
– Rất lâu.
– Em cũng đã ở trong nhà trừng giới. Em bỏ trốn.
– Em bao nhiêu tuổi, Jojo hỏi.
– Mười sáu.
– Ở khu nào?
– Khu La Villette.
– Đường nào?
– Đường Rouen.
Jojo cũng ở đường ấy. Nó sợ phải hiểu sự thật. Nó la lên: Em tên gì?
– Ginette Dubois.
Đúng là em ruột nó. Cả hai đều xao xuyến, nổi lên khóc vì xấu hổ và vì cùng cực. Rồi mỗi đứa kể nổi gian truân của mình. Ginette và mấy chị em khác cùng một cảnh ngộ như nó: vào ra nhà trừng giới. Bà mẹ vừa ra khỏi nhà dưỡng lão. Người chị cả làm điếm trong một nhà thổ dành cho người Ả Rập ở khu La Villette. Hai đứa rủ nhau đến thăm người chị.
Vừa ra đến đường phố, một cảnh sát viên mặc sắc phục gọi cô gái:
– Này, con điếm kia, tao không bảo mày đến quấy tao trong vùng này. Rồi hắn bước đến chỗ hai người.
– Đồ bẩn thỉu, lần này tao đánh mày!
Jojo hết chịu nổi. Sau những gì đã xảy ra, nó không biết gì nữa. Nó rút con dao nhiều lưỡi vừa mua để đi vào quân ngũ, đâm vào ngực người cảnh sát. Bị bắt, kết án tử hình bởi một phụ thẩm đoàn mười hai người “đầy đủ thẩm quyền”, nó được Tổng Thống ân xá và đày đi biệt xứ.
Papillon, anh biết không, nó đã vượt ngục, đã lập gia đình và hiện đang sống tại một hải cảng khá lớn, hải cảng Cumana. Nó làm nghề thợ giày, có chín đứa con, ăn mặc tươm tất, đều đi học đàng hoàng. Năm vừa rồi đứa lớn đã vào đại học. Mỗi lần đi qua Cumana, tôi đều ghé thăm nó. Thật là một tấm gương tốt, phải vậy không? Thế mà nó cũng có những món nợ nần phải trả cho xã hội, anh tin tôi đi. Papillon, anh thấy không, anh không phải là một trường hợp ngoại lệ. Đa số trong chúng ta có lý do để trả thù. Không đứa nào từ bỏ xứ này để đi làm việc ấy. Papillon, tôi tin tưởng nơi anh. Nếu thích đô thị Caracas thì anh cứ đến đó, nhưng tôi hy vọng anh biết sống cuộc sống thời thượng ở đó mà không rơi vào cạm bẫy.
Mãi đến chiều tối Bougrat mới ra đi. Gặp anh ấy, tôi hết sức xúc động. Tại sao anh ta làm tôi xao xuyến quá vậy? Dễ hiểu quá! Trong những ngày tự do đầu tiên, tôi đã gặp những cựu tù nhân đang sống hạnh phúc, hòa hợp với hoàn cảnh, nhưng dù sao đời họ không có gì đặc biệt. Chỉ là một đoạn cuối cuộc đời ngoan hiền và khiêm tốn. Họ ở vào địa vị những người nửa công nhân nửa nông dân tầm thường. Bougrat thì không phải như vậy. Lần đầu tiên tôi gặp một cựu tù nhân khổ sai nay trở thành một người có địa vị. Chính điều này làm tôi xúc động. Rồi tôi, tôi sẽ có địa vị hay không? Đối với một bác sĩ, việc ấy tương đối dễ. Đối với tôi, có lẽ sẽ khó hơn, nhưng dù hiện giờ chưa biết làm thế nào cho được, một điều chắc chắn là một ngày kia tôi sẽ trở nên một người có địa vị.
Ngồi trên ghế, cuối đường hầm số 11, tôi canh chừng các chiếc bơm hôm nay chạy đều đặn. Hòa với nhịp máy chạy, tôi lặp lại lời nói của Bougrat: “Tôi tin tưởng nơi anh, Papillon! Hãy coi chừng cạm bẫy của đô thị”. Chắc chắn là cạm bẫy phải có, và thay đổi tâm địa con người không phải là chuyện dễ. Bằng chứng là mới hôm qua đây, nhìn thấy kho vàng là tôi xúc động ngay. Tôi chỉ mới được tự do mười lăm ngày và trong khi bước trên con đường dốc, chưa chi đã chóa mắt vì đống của ngang tầm tay ấy và đã nghĩ cách chiếm đoạt nó. Trong thâm tâm tôi chưa dứt khoát để cho đống vàng được yên.
Đầu óc tôi ngổn ngang trăm mối. “Papillon, tôi tin tưởng nơi anh”. Nhưng tôi có chấp nhận sống như các bạn tôi không? Tôi không tin như vậy. Dù sao, cũng còn nhiều cách để kiếm nhiều tiền. Không bắt buộc phải chấp nhận cuộc sống quá nhỏ bé này. Tôi có thể tiếp tục cuộc phiêu lưu mạo hiểm, trở thành một nhà tìm vàng, tìm kim cương, đi vào rừng sâu để một ngày kia trở ra với một số tiền tương đối lớn hầu tạo một địa vị khả quan.
Vâng, tôi nghĩ từ bỏ phiêu lưu mạo hiểm không phải là chuyện dễ. Tuy vậy, mặc dù đống vàng quyến rủ, nếu mày suy nghĩ lành mạnh, mày không nên làm, mày không thể làm việc như vậy, mày không có quyền làm. Một triệu Mỹ kim… Papillon, mày thấy không? Nhất là vụ này dễ như trở bàn tay. Không cần phải nghiên cứu, chưa bắt đầu đã thấy xong, không thể nào thất bại. Quả thật là hấp dẫn. Trời hỡi! người ta không có quyền để dưới mũi một thằng gian hùng cả một núi vàng hầu như bỏ hoang và nói với nó:“Mày nên nhào vô đi”. Một phần mười số lượng vàng ấy đủ tôi hoàn tất mọi chuyện, kể cả việc trả thù, đủ để cụ thể hóa những gì tôi đã ước mơ trong suốt mấy ngàn giờ tôi bị chôn sống.
Đến tám giờ, chiếc thang máy đưa tôi lên mặt đất. Tôi đi quanh để khỏi đi qua trước kho vàng. Càng ít thấy nó chừng nào càng hay. Tôi đi nhanh về nhà, ngang qua làng, tôi chào mọi người, xin lỗi những người muốn chận tôi lại nói chuyện, lấy cớ rằng tôi bận việc. Conchita đang chờ tôi, vẫn đen và vui vẻ.
– Anh Papillon, khỏe chứ? Anh Charlot bảo tôi đem rượu hồi ngon cho anh uống trước bữa ăn. Charlot nhận thấy anh có điều gì lo nghĩ ấy… Có chuyện gì vậy, anh Papillon? Anh có thể nói chuyện ấy với tôi, vợ của bạn anh. Anh muốn tôi gọi Graciela hay Mercedes nếu anh thích? Anh không nghĩ đó là một điều tốt hay sao?
– Conchita, viên ngọc đen của xứ Callao, chị thật là kiều diễm và tôi hiểu tại sao Charlot quí chị. Có lẽ chị có lý, để cho trí óc tôi thăng bằng, phải có một người đàn bà bên tôi.
– Nhất định rồi. Trừ phi Charlot có lý.
– Xin chị nói rõ thêm.
– Này nhá! Tôi thì nói điều cần là yêu và được yêu. Charlot thì bảo nên chờ trước khi đặt một thiếu nữ vào giường anh, vì có lẽ có chuyện khác.
– Chuyện gì khác?
Nàng ngần ngại một lúc, rồi đột ngột nói: “Mặc kệ, nếu anh nói lại với Charlot, anh ấy sẽ cho tôi một tát tai”.
– Tôi sẽ không nói lại, xin hứa chắc.
– Thế này, Charlot nói anh không thích sống một cuộc sống giống như anh ấy và các anh Pháp khác ở đây.
– Còn gì nữa? Conchita nói hết đi.
– Anh ấy nói chắc anh nghĩ rằng ở cái hầm mỏ này có quá nhiều vàng và anh sẽ dùng vàng ấy vào một việc hay hơn. Vậy đó! Anh ấy nói thêm, anh không phải hạng người sống mà không xài phí nhiều, và anh có một mối thù không thể quên được, mà muốn trả thù phải có nhiều tiền.
Tôi nhìn thẳng vào mắt nàng.
– Conchita, anh Charlot của chị đã cho ngón tay vào mắt! Chính chị mới có lý. Tương lai của tôi không có vấn đề gì hết. Chị đoán đúng, tôi cần yêu một người đàn bà. Tôi không dám nói nhiều về điều này vì tôi nhút nhát.
– Anh Papillon, tôi không tin.
– Được! Chị đi tìm cô tóc vàng cho tôi rồi chị sẽ thấy tôi có vui hay không sau khi đã yêu!
– Tôi đi liền.
Nàng đi vào buồng để mặc một chiếc áo tươi hơn.
– Chắc Mercedes sẽ mừng lắm.
Vừa lúc nàng mặc áo xong, có người gõ cửa. Conchita nói: “Cứ vào”.
Cửa mở và tôi thấy Maria bước vào, có phần e ngại.
– Maria hả, sao em đến giờ này. Quí hóa quá! Conchita, xin giới thiệu Maria, người thiếu nữ đã đón tôi vào nhà khi tôi với Picolino vừa đến Callao.
– Em cho chị hôn em, Conchita nói. Em quả đẹp như lời Papillon.
– Papillon là ai?
– Papillon là anh đó, Henri hay Papillon cũng như nhau. Ngồi bên anh trên chiếc đi văng này và kể cho anh nghe đi.
Conchita cười ranh mãnh nói: “Có lẽ em không cần đi nữa”.
Maria ở lại suốt đêm. Nàng tỏ ra một người yêu còn rụt rè, nhưng toàn thân nàng rung động vì mỗi cử chỉ âu yếm. Tôi là người đàn ông đầu tiên đến với nàng. Bây giờ nàng ngủ, thỏa thích. Hai ngọn đèn cầy tôi thay vào ánh sáng sống sượng của ngọn điện, bắt đầu tàn lụi. Ánh sáng kín đáo càng làm nổi bật vẻ đẹp của thân hình trẻ thơ và ngực nàng còn mang dấu hằn của giờ phút yêu đương. Tôi nhẹ nhàng đứng lên để pha cà phê và xem giờ. Đã 4 giờ. Tôi làm rơi chiếc nồi, khiến Conchita thức dậy. Nàng mặc áo ngủ, từ buồng đi ra.
– Anh uống cà phê?
– Vâng.
– Có lẽ chỉ cho anh thôi, vì cô nàng còn đang ngủ với những thiên thần anh đã đem đến cho nàng.
– Conchita, chị thạo lắm.
— Chủng tộc của tôi có lửa chạy trong huyết quản. Đêm nay chắc anh đã nhận thấy. Maria có một phần da đen, hai phần da đỏ, phần còn lại là Tây Ban Nha. Nếu sự tổng hợp ấy không làm cho anh hoàn toàn sung sướng thì anh nên tự tử cho rồi! Nàng nói thêm và cười tươi.
Mặt trời huy hoàng và khá cao chào mừng Maria thức giấc. Tôi đem cà phê đến giường cho nàng. Tôi nôn nả hỏi:
– Ở nhà, người ta có lo sợ về việc em vắng nhà không?
– Bọn em của em biết em đến đây, như thế là một giờ sau ba em đã biết. Hôm nay anh không đuổi em chứ?
– Em yêu, không bao giờ. Anh nói với em anh không muốn lập gia đình, nhưng từ việc ấy đến việc đuổi em, nếu em ở lại không hại gì, hai việc khác nhau. Em muốn ở lại bao lâu cũng được.
Gần trưa rồi, tôi phải đi ra hầm mỏ. Maria định đón một chiếc cam thông về nhà và tối sẽ trở lại.
– Bạn ơi, thế là bạn đã tự tìm lấy cô gái bạn thích. Cô bé quả là đẹp, tôi khen bạn đó.
Charlot mặc áo ngủ, đứng nơi ngưỡng cửa, nói với tôi bằng tiếng Pháp. Hắn nói thêm, ngày mai là chủ nhật, chúng ta sẽ uống mừng cuộc hợp cẩn này. Tôi đồng ý.
– Maria, cô nói với ông già và các em cô, ngày chủ nhật đến đây ăn mừng chuyện này. Còn cô thì muốn trở lại lúc nào cũng được. Nhà này là của cô. Papillon, chúc anh một ngày lành. Xem chừng chiếc bơm số 3 và sau buổi làm việc, không cần phải đến chào Simon. Không thấy nó canh giữ rất hớ hênh, ta sẽ ít tiếc hơn!
– Mày thật là một thằng gian hùng. Không, tao sẽ không đến thăm Simon. Yên trí, bạn ơi. Chào mày!
Maria với tôi đi ngang qua làng, hai đứa ôm nhau khắn khít để tỏ cho các cô gái trong xóm biết nàng là vợ tôi.
Các chiếc bơm chạy tuyệt hảo, kể cả chiếc số 3. Nhưng cả không khí nóng bức và ẩm ướt, cả tiếng kêu của máy móc cũng không ngăn cản tôi nghĩ đến Charlot. Nó hiểu tại sao tôi có thái độ suy tư quá vậy. Là một tay gian hùng có hạng, nó không cần đợi lâu ngày mới phát giác ra rằng thủ phạm là đống vàng. Dĩ nhiên là cả Simon nữa, thằng này có lẽ đã nói với nó câu chuyện giữa tôi với hắn. Quả là những thằng bạn tốt! Chúng sung suớng thấy tôi đã có một người đàn bà! Chúng kỳ vọng với món quà diễm tuyệt trời cho ấy, tôi sẽ quên câu chuyện đống vàng.
Nhờ lật qua lật lại các ý nghĩ ấy trong đầu, tôi trở nên minh mẫn hơn đối với tình thế. Hiện giờ những người ấy hết sức lương thiện và sống một cuộc đời không chê vào đâu được. Tuy nhiên, mặc dù sống cuộc đời rất lương thiện, họ vẫn còn tâm địa của người trong giới giang hồ và họ không thể tố cáo một người với cảnh sát, dù rằng họ đoán biết ý đồ của người ấy và tin chắc người ấy sẽ đem đến cho họ nhiều phiền lụy. Trong trường hợp xảy ra vụ đánh cướp, hai người bị chú ý trước tiên là Simon với Alexander là hai tên canh giữ kho vàng. Cả Charlot nữa cũng sẽ bị phiền lụy vì tất cả các cựu tù nhân, không trừ ai, đều sẽ bị bắt. Lúc đó sẽ giã từ cuộc sống yên lành, nhà cửa, vườn tược, vợ, con, gà, dê, lợn. Tôi hiểu rõ rằng những cựu tù nhân ấy đã run sợ không phải cho họ mà cho gia đình họ khi nghĩ đến lúc công việc làm của tôi sẽ đạp đổ tất cả những thứ ấy xuống đất. Có lẽ họ tự nhủ: “Miễn sao thằng ấy đừng làm rắc rối cuộc đời mình”. Tôi tưởng tượng họ hợp nhau lại thành một hội đồng an ninh nho nhỏ. Tôi muốn biết họ đã đưa vấn đề và giải quyết như thế nào.
Dứt khoát rồi. Tối nay tôi sẽ đến nhà Simon mời nó cùng gia đình đến dự buổi tiệc mừng trong ngày mai và nhờ nó mời Alexandre. Tôi sẽ cho mọi người cảm thấy rằng, đối với tôi, có một người yêu như Maria là nhất thế gian rồi.
Chiếc thang máy đưa tôi trở về với không khí trong lành. Tôi gặp Charlot sắp sửa bước xuống. Tôi nói với hắn: “Tiệc mừng không gì thay đổi chứ bạn?”
– Chắc rồi, Papillon. Hơn lúc nào hết.
– Tao sẽ mời Simon với gia đình nó. Cả Alexandre, nếu nó đến được.
Charlot thật quá quắt. Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi rồi nói với giọng chế diễu:
– Kia, thật là một cao kiến.
Rồi, không chờ tôi nói gì, hắn chui vào thang máy để đi xuống nơi tôi vừa bò lên đây. Tôi tạt qua chỗ kho để vàng, chào Simon:
– Khỏe chứ?
– Khỏe.
– Tao đến, trước để chào mày và sau nữa để mời mày ngày mai chủ nhật, đến ăn trưa với chúng tao. Dĩ nhiên là mời luôn vợ mày.
– Sẵn sàng. Mày ăn mừng chuyện gì vậy? Mừng được tự do hả?
– Không, đám cưới của tao. Tao tìm được người vợ. Maria ở Callao, con của José.
– Tao thành thật mừng mày. Tao thành thật chúc mày hạnh phúc.
Nó siết tay tôi thật mạnh rồi tôi đi. Đến nửa đường, tôi gặp Maria đến đón tôi. Và hai đứa tôi ôm lưng nhau đi về “lâu đài” của Charlot. Ông già nàng và các em nàng sẽ đến đó lúc 10 giờ để giúp sửa soạn bữa tiệc.
– Càng hay, bởi vì chúng ta sẽ đông hơn đã dự định. Ba em nói gì không?
– Ông ấy bảo: “Ba chúc con hạnh phúc, nhưng không nên có ảo tưởng về tương lai. Chỉ nhìn, ba đủ biết con người như thế nào. Người đàn ông con chọn thật tốt, nhưng nó sẽ không ở đây. Không phải hạng người bằng lòng với một cuộc sống đơn giản như chúng ta”.
– Em trả lời như thế nào?
– Rằng em sẽ làm mọi cách để giữ anh lâu chừng nào hay chừng ấy.
– Maria, lại đây anh hôn, tâm hồn em rất đẹp. Chúng ta hãy sống cho hiện tại, chuyện về sau sẽ do tương lai định đoạt.
Sau khi ăn qua loa, chúng tôi đi ngủ, vì ngày mai còn phải dậy sớm để giúp đỡ Conchita làm thịt thỏ, nướng một chiếc bánh lớn, đi mua rượu vân vân… Đêm hôm nay lại càng đẹp hơn, đam mê hơn, say đắm hơn đêm đầu. Quả thật Maria có lửa trong huyết quản. Nàng mau biết kích thích và gia tăng nỗi khoái lạc của nàng thụ hưởng. Chúng tôi yêu nhau quá mãnh liệt đến độ hai đứa ôm nhau ngủ mùi mẫn.
Ngày hôm sau, chúa nhật, buổi tiệc mừng thành công rực rỡ. José chúc chúng tôi yêu nhau và các cô em Maria rỉ vào tai nàng những câu hỏi mà tôi đoán rất tò mò. Simon đến với cả gia đình. Alexandre cũng có đến, nó đã nhờ người khác thay nó canh giữ kho vàng. Một người vợ dễ thương, một đứa con trai và đứa con gái ăn mặc tươm tất theo nó. Món thịt thỏ rất ngon và ổ bánh ngọt to lớn chỉ trong nháy mắt đã hết nhẵn. Mọi người cũng có ôm nhau nhảy theo tiếng nhạc của máy thu thanh, của một máy hát và một cựu tù nhân đã chơi phong cầm các bản nhạc khiêu vũ cách đây hai mươi năm.
Sau tuần cà phê, tôi tấn công bằng tiếng Pháp các anh cựu phạm:
– Ý kiến các anh thế nào? Các anh có tin rằng tôi âm mưu một chuyện gì không?
– Có, bạn ạ, Charlot nói. Nếu không phải chính mày gợi vấn đề ra, thì không ai nói với mày chuyện này. Mày có ý rinh tấn vàng đi, chuyện ấy chắc quá, phải không? Papillon, mày nên trả lời thẳng thắn đi.
– Các anh cũng biết tôi nghiền ngẫm ý chí phục thù từ mười ba năm nay. Thử nhân 13 năm với 365 ngày, rồi với 24 giờ và mỗi giờ nhân với 60 phút, các anh vẫn chưa có đủ số lần tôi tự hứa phải bắt người ta trả món nợ đau khổ của tôi. Vì thế khi thấy đống vàng trong một chỗ như vậy, đúng, tôi liền nghĩ đến một kế hoạch công tác.
– Rồi sao nữa, Simon hỏi.
– Nhưng sao lại, nhận định tình thế dưới mọi khía cạnh và tôi cảm thấy xấu hổ có lẽ suýt nữa tôi làm tiêu ma hết những gì các anh đã xây cất. Hạnh phúc các anh đang hưởng và tôi hy vọng sẽ hưởng một ngày nào đó, tôi hiểu nó quí hơn tiền của. Thế nên ý đồ lấy cắp số vàng ấy đã bay đi rất xa. Tôi thề với các anh, xin các anh tin chắc rằng ở đây tôi sẽ không làm đâu.
– Được rồi! Charlot vui vẻ nói. Chúng ta có thể ngủ kỹ và yên tâm. Lòng tham sẽ không đánh ngã một cựu tù nhân trong bọn chúng mình đâu. Papillon muôn năm! Maria muôn năm! Tình yêu và tự do muôn năm! Và hiền đức muôn năm! Trước kia chúng ta là gian hùng, chúng ta vẫn là gian hùng, nhưng chỉ với bọn cảnh sát. Bây giờ, kể cả Papillon, tất cả chúng ta đều đồng ý.
Tôi ở đây đã sáu tháng. Charlot có lý. Ngay tiệc mừng, tôi đã thắng trận chiến đầu tiên chống lại sự quyến rủ làm điều bậy. Chắc chắn là sau khi đã trốn thoát khỏi “con đường ô nhục”, tôi đang đi xa dần con đường ấy. Nhờ tấm gương của các bạn, tôi đã thắng một trận chiến quan trọng đối với tôi: từ bỏ ý định chiếm hữu một triệu Mỹ kim ấy. Một điểm không thể chối cãi là trong tương lai không dễ gì tôi bị lôi cuốn vào một vụ mạo hiểm nữa. Sau khi đã từ khước một núi của như vậy, khó mà có một điều gì làm cho tôi đổi ý kiến. Thế nhưng tôi không hoàn toàn yên tâm với chính tôi. Đồng ý là tôi phải kiếm cho ra tiền bằng một cách nào khác hơn phải trộm cướp, nhưng tôi phải có đủ số tiền cần thiết để có thể đi Ba Lê thanh toán món nợ. Việc ấy đòi hỏi phải có một khoản tiền lớn.
Các chiếc bơm của tôi không ngớt hút nước tràn ngập mấy đường hầm. Nóng bức hơn bao giờ hết. Mỗi ngày tôi ở tám giờ trong lòng hầm mỏ. Hiện giờ tôi trực từ 4 giờ sáng đến trưa. Hôm nay, sau khi ra khỏi đây, tôi phải đến nhà Maria ở Callao. Picolino đã ở đó từ một tháng bởi vì ở đó ông bác sĩ có thể thăm nó hằng ngày. Nó đang được chữa trị và được các chị em Maria săn sóc tận tình. Thế nên tôi đến đó thăm nó và làm tình với Maria vì đã tám ngày không gặp nàng, tôi đang cần nàng cả về thể xác lẫn tinh thần. Tôi tìm được một chiếc cam nhông chở tôi đi.
Trời mưa như thác đổ khi tôi đẩy cửa vào nhà lúc một giờ. Mọi người ngồi chung quanh chiếc bàn, trừ Maria đứng tựa cửa chờ đợi.
– Sao anh không đến sớm hơn? Tám ngày lâu quá chừng! Anh ướt hết. Đi thay áo trước đã.
Nàng lôi tôi vào buồng, cởi quần áo cho tôi và lấy một chiếc khăn lớn lau cho tôi.
– Anh nằm lên giường đi anh, nàng nói.
Chúng tôi yêu nhau tại đó, sau cánh cửa ngăn cách chúng tôi với những người đang chờ chúng tôi, mà không bận tâm đến họ đang sốt ruột chờ chúng tôi ra. Chúng tôi ngủ luôn và chính Esmeralda, cô em có đôi mắt xanh lục, mãi đến chiều tối mới vào dịu dàng đánh thức chúng tôi dậy.
Sau bữa ăn tối chung với cả nhà, ông José đề nghị đi dạo một vòng.
– Henri, anh có viết thơ cho ông Chỉ huy hành chánh để ông xin với Caracas chấm dứt thời kỳ quản thúc của anh, phải vậy không?
– Đúng vậy.
– Ông ta đã được Caracas phúc đáp.
– Tốt hay xấu?
– Tốt. Thời kỳ an trí của anh đã hết.
– Maria biết chưa?
– Rồi.
– Nàng nói gì?
– Rằng anh vẫn nói với nó anh không thể ở Callao.
– Anh định khi nào đi, ông hỏi tôi sau khi ngưng một chút.
Mặc dù rất xúc động vì tin ấy, tôi suy nghĩ và nói mau:
– Ngày mai. Chiếc cam nhông đưa tôi đến đây cho biết ngày mai đi luôn đến Ciudad Bolivar.
José cúi đầu.
– Anh giận tôi?
– Không, Henri. Anh vẫn nói anh sẽ không ở đây lâu. Nhưng khổ thân cho Maria và cũng khổ thân cho tôi.
– Tôi xin đi ra để dặn người tài xế nếu tìm được anh ta.
Tôi đã tìm gặp anh tài xế, ngày mai sẽ đi lúc chín giờ. Vì đã có một người hành khách nữa, nên Picolino ngồi trong phòng lái, còn tôi thì ngồi trên các thùng sắt không. Tôi chạy đến văn phòng ông chỉ huy hành chánh; Ông trao cho tôi các giấy tờ; vốn là người rất tốt, ông khuyên tôi vài điều và chúc tôi may mắn. Rồi tôi đi một vòng thăm hết những người ở đây đã có lòng mến tôi và giúp tôi.
Trước hết tôi đến Caratal để lấy đồ đạc. Gặp Charlot, chúng tôi hôn nhau, cảm động. Vợ Charlot khóc. Tôi cảm ơn hai vợ chồng đã quá tốt với tôi.
– Có gì đâu, bạn! Địa vị mày cũng sẽ làm như vậy đối với tao. Chúc mày may mắn! Và nếu mày đi Paname, nhớ chào Montmartre.
– Tao sẽ viết thư.
Rồi tôi đến thăm bọn bạn cựu phạm, Simon, Alexandre, Marcel, André. Xong gấp, tôi về Callao, chào tất cả anh em thợ mỏ, những người tìm vàng hay tìm kim cương đều là bạn bè trong hầm mỏ. Tất cả, đàn ông lẫn đàn bà, đều có một câu thân tình để chúc tôi may mắn. Tôi rất cảm kích và càng hiểu thêm rằng nếu tôi sống chung với Maria, như Charlot và những anh khác, không bao giờ tôi rứt ra khỏi cảnh Địa đàng này.
Đau lòng nhất là từ biệt Maria.
Đêm yêu đương cuối cùng, sung sướng pha trộn với nước mắt, thật là mãnh liệt vô song. Những ve vuốt vẫn xé lòng. Điều bi đát là tôi phải cho nàng hiểu tôi không hy vọng trở về. Trong công việc thi hành mưu đồ của tôi, làm sao biết được số phận của tôi sẽ ra sao?
Một tia sáng mặt trời đánh thức tôi dậy. Đồng hồ chỉ tám giờ. Tôi không đủ can đảm ở thêm trong buồng, dù là trong một lúc để uống cà phê. Picolino ngồi trên ghế, khóc rưng rức không thôi. Esmeralda đã thay áo và rửa cho nó. Tôi tìm các cô em của Maria mà không thấy. Họ đã trốn để khỏi chứng kiến cảnh tôi ra đi. Chỉ có ông José đứng trước ngưỡng cửa. Một tay bắt tay tôi, tay kia ôm vai tôi (theo kiểu người Venezuela) ông siết chặt tôi, cảm động không kém tôi. Tôi im lặng và ông chỉ nói một câu:
– Đừng quên chúng tôi, vì không bao giờ chúng tôi quên anh. Vĩnh biệt! Xin Chúa phù hộ anh.
Picolino đã sắp quần áo sạch sẽ vào trong một cái bao, giờ đang khóc lu bù, nhìn cử chỉ bối rối và nghe tiếng kêu ồ ồ nó phát ra, người ta hiểu nó rất đau khổ vì không thể nói ra hàng triệu lời cảm ơn ấm ức trong lòng. Tôi kéo nó đi.
Chúng tôi đến nhà chủ xe cam nhông với hai bao hành lý. Cuộc hành trình vĩ đại đã thất bại! Chiếc xe bị hỏng máy ngày hôm nay không thể đi được. Phải chờ có một bình xăng mới. Không có giải pháp nào khác, tôi và Picolino phải trở về nhà Maria. Người ta có thể tưởng tượng tiếng reo hò của họ khi trông thấy chúng tôi trở lại.
– Henri, trời có mắt nên đã làm hỏng chiếc xe. Để Picolino ở đây rồi trong lúc em nấu ăn, anh đi một vòng vào làng. Lạ thật, nàng tiếp, hình như số anh không được ở Caracas.
Vừa bước đi tôi vừa nghĩ đến lời nói của Maria. Tôi hơi giao động. Caracas, tôi chưa biết đô thị thực dân ấy, nhưng tôi có thể tưởng tượng vì đã được người ta đã nói đến. Hẳn là nó quyến rủ tôi, nhưng một khi đến đó rồi, tôi sẽ làm gì và làm cách gì để sống?
Tôi chậm rãi bước trên công trường thành phố Callao, hai tay để sau lưng. Trời nắng như thiêu như đốt. Tôi đến gần một cây to lớn cành lá sum xuê để tránh ánh nắng bất nhân. Dưới bóng cây một ông già nhỏ bé đang lấy đồ đạc từ lưng một con lừa. Tôi nhận thấy những cái rây của những người tìm kim cương, những thùng gỗ lọc cát vàng của những người tìm vàng, giống những chiếc nón của người Tàu, dùng để rửa bùn có vàng. Vừa ngắm những vật dụng xa lạ ấy, tôi tiếp tục mơ mộng. Trước cảnh sống cổ xưa êm ả thanh bình ấy, không có một tiếng động nào khác ngoài tiếng động của tạo vật hoặc của một cảnh đời thuần phác, tôi liên tưởng đến đời sống sôi động của đô thành Caracas đang mời gọi tôi. Tất cả những điều tôi được người ta mô tả đã trở thành những hình ảnh rõ rệt. Đã mười bốn năm rồi tôi không thấy một thành phố lớn! Bây giờ tôi có thể làm theo ý muốn của tôi, nhất định tôi sẽ đến đó, rất gấp.
——————————–
1 Thủ phạm một vụ án đại hình nổi tiếng ở Marseille vào những năm 1930. Một người đàn ông đã nằm chết trên tủ phòng mạch của y. Bougrat biện minh rằng đó là một lỗi lầm về nghề nghiệp, vì họ đã chích thuốc quá định phân. Tòa án thì cho rằng một vụ mưu sát. Bị kết tội khổ sai chung thân, y đã vượt ngục Cayenne và lập lại một cuộc đời rất đàng hoàng ở Venezuela.
Bức tượng Thương tiếc tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa cũ. Tác giả: Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu. Nguồn: internet
Một nửa thế kỷ trôi qua sau ngày mất nước. Những cay đắng chua xót đau đớn một thời cũng phai nhạt dần. Thời gian qua đã là liều thuốc chữa những ưu phiền khổ đau một thời. Tôi nhớ lại những ngày đầu bước chân gia nhập quân ngũ. Ở lứa tuổi 20 ngoài suy nghĩ về nghĩa vụ công dân, tôi không có ý niệm sâu sắc gì về tình tự yêu nước thương nòi. Xách chiếc túi nhỏ trong đó có chứa hai bộ đồ lót, một ít vật dụng vệ sinh cá nhân hàng ngày và chục trái cam mẹ cho để ăn khi lên tàu lửa. Tôi đón taxi đến trại Lê Văn Duyệt để trình diện nhập ngũ. Hình ảnh mang theo cùng hành lý chỉ còn lại những giọt nước mắt thương con của Mẹ tôi. Khi tôi từ giã mẹ. Ở lứa tuổi 20, trải qua nhiều dông bão qua chuyến vượt tuyến đầu tiên vào năm 1957 thất bại, cả gia đình bị bắt giữ lại tại gần Hòn Ông Hổ Cửa Tùng rồi thời gian ở trại giam Trần Phú Hải Phòng là những trải nghiệm đầu tiên về sự khổ đau của cuộc sống mà tôi có. Trước đó chỉ là chuỗi ngày sống êm đầm bên mẹ cha cho dù phải chạy tản cư xê dịch tới nhiều nơi nhưng tôi vẫn hồn nhiên vui vẻ chẳng hề bận tâm lo nghĩ gì.
Hôm nay, ngày 10 tháng 11. 1960, tôi thực sự vào đời tạo dựng sự nghiệp cho chính mình. Trên chuyến xe lửa từ Sài Gòn đi Đà Lạt, ngồi chung cùng các bạn bè đồng trang lứa, lần đầu tiên gặp mặt nhau nên cũng chẳng biết tâm sự điều gì. Không khí tĩnh lặng trên toa tầu vừa nặng nề vừa đượm một chút u buồn của những chàng trai phần lớn lần đầu xa nhà khiến cho chúng tôi càng ít trao đổi tâm sự với nhau hơn.
Rồi những ngày học tập rèn luyện tại quân trường, chúng tôi có biết bao nhiêu kỷ niệm không thể quên. Từ cách xưng hô giữa các khóa đàn anh đàn em, những hành vi cử chỉ, tất cả đều mới lạ, quần áo trang phục, cách đi đứng chào hỏi…. tất cả đều đổi khác. Tám tuần lễ sơ khởi huấn nhục đã biến đổi chúng tôi thành một con người khác trước đó. Những tập tành quân sự hàng ngày khiến cho giấc ngủ là thời gian duy nhất chúng tôi có thể coi là nghỉ ngơi. Thời gian còn lại lúc nào cũng bận bịu không chuyện nọ thì chuyện kia, chẳng còn tâm trạng nào mà suy ngẫm lý giải về cuộc đời.
Những người lính VNCH. Hình chụp năm 1970
Cuối năm thứ hai, chúng tôi được chuyển qua trường mới. Một ngôi trường khang trang hiện đại, chỗ ăn ngủ sinh hoạt cũng sạch sẽ thoáng mát rộng rãi hơn. Khoảng thời gian đó có tới 4 khóa cùng hiện diện 15 -16, 17-18. Vị chỉ huy trưởng cũng được bàn giao từ Thiếu tướng Lê văn Kim cho Đại tá Trần Ngọc Huyến. Chương trình huấn luyện cũng được cập nhật thay đổi theo hướng trang bị cả tri thức văn hóa lẫn quân sự cho lớp sĩ quan tưong lai để đáp ứng nhu cầu của một đội quân quốc gia non trẻ trong tình hình mới. Chúng tôi bắt đầu được học tập chính trị về sự tha hóa của chủ nghĩa cộng sản và nguy cơ trước cuộc chiến tranh xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Những giờ Dẫn đạo chỉ huy do chính thầy Huyến giảng dậy là những bài học đầu tiên cho chúng tôi ý thức trách nhiệm và bổn phận của một công dân đối với tiền đồ dân tộc.
Khóa 15 ra trường đầu năm 1961 và cuối năm 1962 là khóa 16; trước đó ít ngày là khóa 19 nhập học. Tình hình quân sự trong nước ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do cộng sản Miền Bắc dàn dựng ra đời vào ngày 20 tháng 12. 1960. Nhu cầu chiến trường ngày càng đòi hỏi sĩ quan chỉ huy tham gia cuộc chiến. Khóa chúng tôi theo kế hoạch dự trù 4 năm nay có lệnh rút ngắn gần một nửa thời gian dự trù để làm lễ tốt nghiệp sớm hơn – thậm chí không có đủ thời gian 3 năm như hai khóa đàn anh trước đó. Ngày 30 tháng 3 1963, Lễ mãn khóa của chúng tôi được Tổng thống Ngô Đình Diệm chủ tọa. Buổi chiều cùng ngày, Tổng Thống đã nói chuyện với khóa về hiện tình thời sự trong nước cùng nhiệm vụ của các tân sĩ quan trước tình thế . Đầu tháng 11 cùng năm, bản thân tôi cùng một số bạn đồng môn đã có mặt trong số các đơn vi quân đội tham gia làm cuộc đảo chánh chính vị Tổng thống đang ngồi nói chuyện với chúng tôi hôm ấy. Sự trớ trêu ấy mở màn cho những cuộc binh biến hỗn loạn sau này đã khiến cho Miền Nam bị cuốn hút vào cơn lốc xoáy nghiệt ngã của lịch sử không thể gượng dậy được nữa.
Tháng 4. 1963 tôi cùng 10 bạn cùng khóa trình diện BTL/SĐ 7 tại Mỹ Tho. Cuộc đời quân ngũ thực sự bắt đầu. Đơn vị tác chiến đầu tiên của tôi là đại đội 1 tiểu đoàn 3/11. Tiểu đoàn có 4 sĩ quan xuất thân từ VB là hai niên trưởng Ngô Gia Tiến cùng đại đội; Hoàng Lê Cường khóa 16 chung đại đội 2 với bạn cùng khóa 17 Nguyễn Tiến Mão. Tiểu đoàn 3/11 lúc đó là đơn vị hành quân lưu động trên toàn lãnh thổ thuộc khu chiến Tiền Giang nên đơn vị chúng tôi di chuyển hầu như liên tục. Mỹ Tho, Gò Công, Long An , Hậu Nghĩa, Vĩnh Long, Cần Thơ, Kiến Tường Kiến Phong… Những ngày lang thang lội nước trên những cánh đồng ngút ngàn dưới những cơn mưa trên chiến trường Đồng Tháp, người lính như thể bị bủa vây bốn bề là nước là những hình ảnh không thể xóa nhòa trong ký ức của tôi cho tới tận lúc ngồi viết lại những dòng chữ này.
Năm 1968 sau trận đánh Tết Mậu Thân, tôi được đề cử đi học lớp Chỉ huy tham mưu trung cấp ở Đà Lạt. Tháng 9 ra trường, vị Chỉ huy trưởng trường muốn giữ tôi ở lại làm huấn luyện viên nhưng tôi từ chối. Có thể là do lời yêu cầu của vị Trung tá Trung đoàn trưởng 11 lúc đó mong tôi trở về lại đơn vị cũ giữ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/11. Niên trưởng Nguyễn văn Tạo Khóa 16 bị tử thương trong một trận đánh nội công ngay tại căn cứ Đồng Tâm và là tôi là tiểu đoàn phó trước khi đi học. Cũng có thể là tình đồng đội ở một đơn vị đã có cùng tôi qua nhiều trận đánh oanh liệt trên chiến trường Đồng Tháp. Cũng có thể là những tình cảm huynh đệ đồng môn mà chúng tôi đối xử với nhau như tình ruột thịt khiến cho tôi muốn trở về; nhưng có điều chắc chắn không phải vì chức vụ tiểu đoàn trưởng bởi vì tôi cũng sẽ đảm nhiệm chức vụ này nếu tôi thuyên chuyển về SĐ 23 theo lệnh từ Bộ TTM. Đời quân ngũ cho tôi một kinh nghiệm, mười điều mình mong muốn thực hiện thì có tới chín điều không theo ý mình mong ước. Hơn 5 năm lăn lộn với SĐ 7, đi đủ 3 tiểu đoàn 1, 2 và 3 của Trung đoàn 11; đảm nhiệm chức vụ từ trung đội trưởng, đại đội trưởng rồi trinh sát tới tiểu đoàn phó, làm sao không quyến luyến.
Định mệnh lại thay đổi lối đi của cuộc đời tôi thêm một lần. Tôi được lệnh thuyên chuyển ra Sư Đoàn 23 BB ở Ban Mê Thuột vào tháng 9 1968. Những quen thuộc của chiến trường trên đồng bằng sông Cửu Long giờ đây thay đổi bằng những rừng núi chập chùng của dẫy Trường Sơn khiến tôi có một chút ưu tư, liệu rằng mình có thể thích nghi được với chiến trường mới này hay không? Những chiến hữu mới, đồng đội mới có còn những thân thiết chan hòa như ngày nào ở đơn vị cũ?
Tháng 10 tôi nhận bàn giao Tiẻu đoàn 2/44 từ Đại Úy Trần văn Anh một niên trưởng Khóa 8 VB. Các cuộc hành quân trong mật khu Lê Hồng Phong cùng các vùng núi non giữa tam biên Phan Thiết – Lâm Đồng – Đà Lạt lâu dần rồi cũng trở nên quen. Có khác chăng là hình thức hành quân có chút khác biệt. Tiểu đoàn thường được chỉ định một vùng hành quân rộng rồi tùy thuộc vào tin tức tình báo, tiểu đoàn sẽ thiết lập một căn cứ hỏa lực, sau đó đổ bộ các đại đội xuống các mục tiêu lục soát, tìm và tiêu diệt địch. Thời gian sử dụng máy bay trực thăng đổ quân nhiều hơn cuốc bộ leo núi. Tiểu đoàn trưởng cũng có thể tự hoạch định kế hoạch hành quân theo chủ ý của mình. Kiểu cách hành quân có chút tương tự với các đơn vị Hoa Kỳ khác hẳn với cách hành quân cũ.
Cuối năm 1971 tôi được giao chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 44 thay thế Trung tá Đặng Bất. Trung đoàn trưởng lúc đó là Trung tá Điều Ngọc Chánh khóa 8 VB. Nhận nhiệm vụ được 2 tuần, tôi dẫn chiến đoàn 44 A đi Pleiku trình diện BTL/QĐ 2 làm lực lượng tổng trừ bị cho Quân đoàn. Mặt trận Cao nguyên bắt đầu sôi động. Các đơn vị chính quy cộng sản miền Bắc đã vào thay thế cho các đơn vị miền Nam bị tổn thất nặng nề sau trận đánh tết Mậu Thân 1968. Sư đoàn 308 Miền Bắc cùng các đơn vị trực thuộc, xe tăng thiết giáp hỏa tiễn rầm rập kéo vào Cao nguyên theo đường mòn Hồ Chí Minh cùng lúc với kế hoạch quân đội Mỹ rút ra khỏi Việt Nam theo kế hoạch Việt Nam Hóa chiến tranh của tổng thống Mỹ Nixon. Những bàn thảo bàn vuông bàn tròn ở Paris ngày càng làm cho tình hình chiến sự trên toàn 4 vùng chiến thuật thêm khó khăn. Cộng sản đổ thêm quân và tiếp liệu vào chiến trường vì họ tin rằng chỉ có chiến thắng mới có cơ hội họ đạt được mục đích mong muốn. Về phía chúng ta thì ngược lại, hoàn toàn bất lợi trước sự mệt mỏi và tổn thất qua hơn 5 năm tham chiến của người bạn đồng minh Hoa Kỳ. Với kiểu vừa đánh vừa run lo ngại đụng đầu với Trung/ Nga khiến cho cuộc chiến không thể thắng ngày càng rõ nét. Kinh nghiệm ngày nào của chiến tranh Triều Tiên khi Tổng thống Truman không nghe lời đề nghị của tướng Mac Arthur tiêu diệt lực lượng quân đội Trung Quốc lúc đó đang tập trung tại vùng bắc sông Áp Lục trong khi tràn vào Bắc Hàn đáng để chúng ta suy ngẫm. Chiến tranh từ cổ chí kim đều coi giả trá là điều kiện cần, còn phải tàn bạo mới đủ để chiến thắng. Cộng sản đã chứng thực điều đó cho ngay đến lúc này một nửa thế kỷ sau, trong cuộc chiến Nga/ Ukraine. Putin đã chẳng do dự chút nào khi sử dụng mọi loại vũ khí tàn độc để tiêu diệt quân dân Ukraine, và luôn lớn tiếng sẽ sử dụng bom nguyên tử nếu cần. Nếu Putin không lo bụi phóng xạ theo chiều gió kéo vào làm tổn hai ngay chính nước Nga, ông ta đã làm ngay sau màn chiến tranh chớp nhoáng đánh chiếm, Kiev thất bại rồi. Nhân đạo lấy tiếng là quân tử để nhận lãnh thảm bại bị tiêu diệt sau đó chỉ xẩy ra ở nước Trung Hoa cổ. Còn dùng tàn bạo và giả trá mang đến những chiến thắng vang dội thì điển hình là đạo quân Mông Cổ thế kỷ 13.
Trận đánh Mùa Hè đỏ lửa tháng 4/1972 là trận đành chính quy hào hùng nhất tôi được tham dự trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Tháng 9 tôi bị thương lần thứ 3 trong đời lính chiến và sau khi nghỉ dưỡng thương một tháng, đầu năm 1973 tôi trở về giữ chức vụ trưởng phòng hành quân Sư Đoàn.
Tình hình ngày càng xấu đi. Các đơn vị chủ lực của Hoa Kỳ rút ra khỏi Việt Nam để lại không chỉ khoảng trống phòng thủ mà tệ hại hơn là những cảm giác bỏ rơi đồng đội khi đang chiến đấu. Quân nhu đạn dược cũng bị cắt giảm tới mức vô lý trong khi quân Bắc Việt ngày càng được bổ sung trang bị hiện đại hơn về vũ khí trang dụng, quân số. Ở vị trí Trưởng Phòng Hành Quân, qua các chuyến bay quan sát chiến trường, Tôi dần nhận ra sự thất bại tất yếu phải đến của cuộc chiến tàn khốc này. Những người lính Việt Nam đang chiến đấu trong tuyệt vọng. Những chính trị gia đầu não của chúng ta đã phó mặc đất nước cho giặc. Hòa đàm Ba Lê, hậu quả đưa đến một kết quả hòa bình nửa dơi nửa chuột, chiến không ra chiến hòa chẳng ra hòa. Chỉ có những ai từng đang cầm súng trong khoảng thời gian ấy mới thấu hiểu được tâm trạng của người lính VNCH lúc đó. Chúng ta đã thua ngay sau khi bị cưỡng ép đặt bút ký vào tờ hiệp định đầy cạm bẫy bất lợi này.
Những hình ảnh về cuộc chiến tranh Việt Nam.
Từ cuối năm 1973 đến hết năm 1974, trong các chuyến bay trinh sát tìm vị trí thả các toán trinh sát phối hợp giữa phòng 2 và 3 SĐ, tôi đã chứng kiến những đoàn xe khổng lồ dài vài cây số nối đuôi nhau chạy dọc theo dẫy Trường Sơn khu tam biên trong lúc các đơn vị đồng minh lần lượt rút ra khỏi Việt Nam. Cái hiệp định Paris tồi tệ ấy là cuộn dây thiết chặt cổ họng người lính VNCH để cho kẻ thù hành hạ. Chẳng ai trong những người lính ở thời điểm đó còn có lòng tin về một chiến thắng hay hòa bình thật sự trong danh dự.
Cuộc chiến đã qua đi 50 năm nhưng những di họa của nó thì chắc vài thế hệ nữa mới mong xóa nhòa. Chiến tranh mang đến nỗi thống khổ vô biên không thể phai trong tâm trí những người từng tham chiến. Cuộc chiến tạo nên sự gắn kết tình đồng đội vào sinh ra tử xác thực, đồng thời cũng biểu lộ bộ mặt phản trắc trí trá của bạn và thù. Khi cuộc chiến qua đi tôi nhìn ra nhiều điều, trong chiến đấu bầu không khí hừng hực khói lửa chiến trường, giữa tên bay đạn réo, khi sinh mạng của mình có thể bị lấy đi bất cứ thời điểm nào lúc đó sẽ lộ diện cái mà chúng ta thường nói tới: Tình đồng đội, sự dũng cảm, tài chỉ huy. Tình cảm đồng đội vượt lên trên mọi tị hiềm ganh ghét, đố kỵ cay cú tranh giành điều mà trong cuộc sống hòa bình bầy ra nhan nhản trước mắt. Trường Võ Bị có truyền thống là tôn sư trọng đạo. Trong chiến tranh các sĩ quan đồng môn luôn gìn giũ nền nếp này. Suốt cuộc đời binh nghiệp của mình tôi chưa một lần đánh mất niềm tin đó. Các niên trưởng, đàn anh, các niên đệ khóa nhỏ mỗi lần gặp gỡ đều vui vẻ tay bắt mặt mừng. Dù tôi là cấp chỉ huy của họ hay được một đàn anh chỉ huy, tôi cũng đều nhận được ở đó sự thân thiết đùm bọc anh em. Cuộc chiến qua đi, những thử thách chiến trường không còn. Cuộc sống cơm áo gạo tiền đòi hỏi một kỹ năng khác hẳn những hy sinh mạng sống trước kia nên chi cái từng được trân trọng nâng niu “ chung mái trường Mẹ” trở nên lạc lõng bơ vơ. Những mưu mánh thủ đoạn chính trị được ẩn danh dưới nhiều hình thức miệt thị lẫn nhau để cố tranh đoạt một danh hiệu mà mình không còn thực tâm tôn kính gìn giữ. Tôi thầm nghĩ, chỉ cần 20 năm nữa thôi, những cựu SVSQ từng xuất thân Võ Bị có còn lại bao nhiêu đủ để ngồi chung một bàn tròn Tổng Hội? Điều chúng ta nên làm là xây dựng đội ngũ kế thừa từ con em cháu chắt của mình cho một đoàn thể VBQG mai sau qua những tấm gương của chúng ta đang làm hiện tại. Những ai đã từng sống sót qua bao thử thách của cuộc chiến đều hiểu rằng sở dĩ chúng ta hãnh diện về ngôi trường Mẹ chỉ bởi vì chúng ta coi đó là nơi đã tạo nên dáng vóc và khả năng chỉ huy lãnh đạo để cùng chung tay đánh giặc cộng sản, bảo vệ quê hương đất nước. Chúng ta từng tự hào vì là những sĩ quan tình nguyện gia nhập quân đội, được đào tạo bài bản về cả văn hóa lẫn quân sự nên đã làm nên bao chiến công hiển hách trên khắp các mặt trận trên bốn quân khu, vùng chiến thuật.
Lòng dũng cảm, khả năng chỉ huy trên chiến trường, sự hy sinh, xương máu của các đồng môn không chỉ làm nên danh dự của đội ngũ chúng ta mà còn làm rạng danh cho cả quân đội quốc gia non trẻ của chúng ta nữa. Chúng ta đã từng tự hào về những sĩ quan tốt nghiệp thủ khoa của nhiều khóa Võ Bị đã chọn cho mình những đơn vị chiến đấu để phục vụ thay vì họ có cơ hội để tìm những đơn vị yểm trợ nơi hậu phương; những cấp chỉ huy nhảy vào chảo lửa chiến trường, thực hiện những nhiệm vụ thập tử nhất sinh trong những trận đánh khốc liệt nội biên và ngoại biên đã nêu gương sáng cho các thế hệ đàn em, đâu có thời gian để suy nghĩ tranh giành hiềm khích đố kỵ lẫn nhau? Hoàn cảnh đổi thay, khi những người lính già từng trải chiến trường ngày nào, qua lao tù đầy đọa bởi kẻ thù khi buông súng giờ đây trên đất khách quê người ngậm ngùi nhìn một số đàn em dùng những thủ đoạn mà các chính trị gia cơ hội thường dùng để làm những điều mà một SVSQ/VB không nên làm. Trường VBQG là nơi đào tạo sĩ quan chỉ huy cho quân đội. Chiến trường là nơi biểu tỏ khả năng trình độ của một sĩ quan. Chiến công qua những trận đánh, tinh thần quả cảm và sự hy sinh anh dũng trên chiến trường khi giáp mặt kẻ thù, theo tôi nghĩ mới là điều đáng hãnh diện và tự hào của một sĩ quan quân đội chứ không phải là những phù phiếm hào nhoáng khác. Chẳng một sĩ quan đúng nghĩa nào lại tự cho mình là giỏi hơn thiên hạ vì những tiêu chí vớ vẩn nào đó ngoài những trải nghiệm đã được thử thách sinh tử trên chiến trường. Giá trị đích thực của một sĩ quan phải được đánh giá khách quan từ những người từng cùng chung trận chiến, hoặc từ đơn vị bạn chứ không phải từ những nhận xét chủ quan của người “tự đánh giá.”
Tháng 4 năm 1992 gia đình tôi di cư qua Hoa kỳ theo chương trình HO11. Khi bước chân lên phi cơ tôi mang tâm trạng nửa mừng vì chắc chắn bản thân gia đình con cái sẽ có một tương lai tươi sáng—một sự đổi đời– nửa lo về những khó khăn chắc chắn sẽ gặp trong thời gian sắp tới; thêm một chút lưu luyến về quê hương đất nước với biết bao kỷ niệm vui buồn sướng khổ đã từng. Gia đình tôi ở lại Thái Lan 1 tuần để làm giấy tờ rồi sau đó lên phi cơ vào Mỹ. Bước chân xuống phi trường Los Angeles cả gia đình choáng ngợp về sự hiện đại tráng lệ của phi trường. Có điều kỳ lạ là ngay ngày hôm sau, một cuộc động đất lớn rung lắc bàn ghế chỗ chúng tôi tạm trú tại thành phố Santa Ana thuộc Orange County—lần đầu tiên trong đời tôi được biết động đất là gì. Cả ngày theo dõi cảnh đốt phá cướp bóc trên đường phố Los lại càng làm cho tâm trạng tôi rối bời những ý tưởng buồn chán. Cuộc sống thì ra ở đâu cũng có những bất hạnh và khổ đau do thiên nhiên mang đến. Tôi tự an ủi mình những tai ách ấy là không thể tránh được nhưng ít ra cũng không tệ hại bằng chính những tai ách do con người tạo nên cho nhau. Cuộc sống mới bắt đầu với những biến động như thế từ trong thâm tâm tôi đã nghĩ tôi cũng sẽ phải cố gắng nhiều hơn để hy vọng có thể tồn tại được trên mảnh đất tự do nhiều cơ hội này.
Tháng 5 gia đình dời đi lên vùng Bắc Cali – thành phố Campbell. Một thành phố nhỏ nằm lọt trong lòng một thành phố lớn hơn San Jose. Những ngày đi tìm việc mưu sinh, vào đúng thời điểm kinh tế suy trầm khiến cho công việc càng gay go khó kiếm hơn. Rồi mọi thứ cũng đi dần vào quỹ đạo ổn định đúng lúc tháng trợ cấp cuối cùng đáo hạn vào tháng 10 cùng năm. Tết năm 1992 là cái Tết đầu tiên tôi được xum vầy cùng cả gia đình kể từ khi bước chân vào lính. Suốt 12 năm từ khi nhập ngũ cho tới lúc ra trường, Tết đối với tôi là chuỗi ngày xa nhà, hoặc đóng tại các địa điểm quan yếu trên quốc lộ, hoặc túc trực 100% tại đơn vị sẵn sàng hành quân. Mười ba năm còn lại kể từ sau tháng 4/75 là những năm đón Tết trong các trại cải tạo hết Nam rồi Bắc. Một trong những cái Tết u buồn nhất là Tết Nguyên Đán 1982 tại trại Nam Hà. Đêm Giao thừa gió rét căm căm, cả căn phòng rộng chừng 100m vuông chứa hơn 50 chục người lặng lẽ đón Tết trong nỗi tuyệt vọng ê chề khi nghĩ về gia đình và tương lai. Những năm trước đó bản thân tôi không có những cảm súc kỳ lạ như vậy, không hiểu sao Tết năm ấy, không chỉ riêng tôi mà kể cả các bạn đồng cảnh ngộ cũng có chung một tâm trạng như thế. Có lẽ do áp lực quốc tế khiến cho cộng sản phải mang dần các tù cải tạo trở lại Miền Nam sau khi đã đưa toàn bộ tù cải tạo ra Bắc nhằm hủy diệt số tù nhân này theo kế hoạch của Lê Đức Thọ không thành. Các bạn tù đã về Nam từ Tết trước còn lại chúng tôi chẳng biết bao giờ mới trở lại Miền Nam. Bản thân tôi nằm trong nhóm đầu tiên đi Bắc và đi chuyến chót về Nam. Khoảng tháng 5 1982 tôi được chuyển từ Nam Hà về trại A Z30A rồi tiếp tục ở lại đó cho đến Tết 1988 mới ra trại.
Tháng 4/ 1975 ập đến. Một hệ quả tất nhiên phải có của cuộc chiến bất cân sức này. Giờ đây tôi đã mất đi cảm xúc đau đớn của nửa thế kỷ trước. Tôi cũng chẳng muốn quy kết trách nhiệm cho ai và nhận ra, chính bản thân cũng có phần trách nhiệm. Có nhiều điều vượt ra khỏi sự hiểu biết của con người mà có lẽ chỉ cách nói vận nước phải thế là có thể chấp nhận được. Sự phân ly chia rẽ dân tộc có thể đã bắt đầu từ huyền sử Lạc Long Âu Cơ khi chia đôi bầy con nửa lên rừng nửa xuống biển. Rồi phân tranh đất nước Bắc Nam cũng đâu chỉ có một lần thời Pháp thuộc hoặc sau hiệp đình chiến Geneve 1954 ? Có khác chăng là cuộc thống nhất Nam Bắc lần đầu bắt nguồn từ Miền Nam với đạo quân của Quang Trung. Còn Bắc vào Nam trong năn 1975 thì ngược lại? Lịch sự dân tộc chúng ta là như thế. Lịch sử có quy luật của nó theo đúng quy trình Sinh Trụ Hoại Diệt không thể khác được. Hình thù địa lý đất nước có nút thắt giữa chừng rất hẹp nên luôn có mối đe dọa cắt ngang. Với hơn 3000 cây số bờ biển trong khi không có một lực lương hải quân đủ mạnh để bảo vệ luôn là miếng mồi ngon cho ngoại xâm. Chưa nói tới những nhà lãnh đạo khôn nhà dại chợ chỉ lo thu vén cho cá nhân dòng họ thay vì quyền lợi đất nước.
Nếu có chút suy ngẫm gì chăng có thể chỉ là tại sao dân tộc chúng ta không đủ minh mẫn để tìm ra một phương cách khác thống nhất đất nước trong hòa bình thịnh vượng như một nước Đức tùng làm? Trong sử sách chúng ta luôn tự hào về sự thông minh, chịu thương chịu khó, rừng vàng biển bạc mà trong thực tế thì trái ngược hẳn. Sau chiến tranh chúng ta mất cả biển lẫn rừng, mang tiếng là thống nhất nhưng nhân tâm chia rẽ hơn bao giờ hết. Bắc nam/ Trong nước ngoài nước, kẻ thắng / người bại…cuộc chiến kéo dài bất tận giữa những người cùng mang dòng máu Việt. Năm mươi năm chưa đủ dài để cho những người cộng sản hiểu ra rằng nguy cơ đang dần dần mất nước vào tay Trung cộng là rất lớn. Ông cha ta đã từng bị Bắc thuộc một ngàn năm còn lần này sẽ kéo dài bao lâu mới có cuộc khởi dậy của Ngô Quyền mười thế kỷ sau đó để dõng dạc tuyên bố chủ quyền độc lập dân tộc?
Năm mươi năm kể là khá dài đối với một kiếp sống con người, nhưng lại là quá ngắn kho so sánh với cuộc trường tồn của một dân tộc. Đất nước đã đổi thay từng ngày và luôn đổi thay không ngừng nghỉ. Con người cũng thế. Từng thế hệ luân phiên nhau có mặt trong cuộc đời này rồi lần lượt lìa xa cuộc sống để tiếp tục phiêu du ở một thế giới khác, một kiếp khác.
Những ngày gần đây chúng ta đã chứng kiến nhiều đổi thay đổi nghịch thường trong nước. Những vụ tranh ăn giựt ghế của nội bộ đảng cộng sản Việt Nam ngày càng trắng trợn hơn tàn khốc hơn. Sự phân hóa trong giới lãnh đạo chóp bu của chúng cũng ngày càng lộ rõ nét không thể che mắt thiên hạ như họ đã từng làm trước đây nữa. Những chuyển biến ấy có cho chúng ta một hy vọng gì không cho tương lai đất nước? Chắc chắn là có. Chỉ có điều, vì hình thể địa lý, sự lệ thuộc quá chặt với Trung Cộng khiến cho cuộc thay đổi ấy chậm chạp lề mề, tình hình sẽ khá hơn khi mẫu quốc Trung Cộng đột biến quay ngang. Bản thân Trung Quốc cũng đang trong cùng quẫn trở mình. Ngoại biên, Hoa Kỳ cũng trong thời gian đổi thay mãnh liệt. Với chủ trương Nước Mỹ trên hết, tổng thống Trump có khuynh hướng áp dụng học thuyết Nước Mỹ Trên Hết (MAGA). Điều này sẽ dẫn đến những đổi thay không ai biết được trong những ngày sắp tới. Chúng ta cũng không thể đoán định được tình hình thế giới sẽ chuyển biến ra sao trước chủ trương tránh can dự vào các cuộc tranh chấp thế giới của chính quyền Hoa Kỳ tương lai trước khuynh hướng bành trướng ngày càng tăng của các nước cộng sản còn sót lại đặc biệt là hai cường quốc Trung Cộng và Nga.
Cuộc chiến dang dở giữa Nga và Ukraine cùng số phận của quốc đảo Đài Loan sẽ ra sao? Cũng chẳng ai biết được. Chỉ có điều tôi tin tưởng thế chiến thứ ba hy vọng sẽ không xẩy ra ít nhất trong thời gian này bởi vì cuộc chiến hủy diệt ấy là bản án cáo chung của nhân loại chứ không phải là một tai họa cho riêng một quốc gia tham chiến nào. Tham gia hay không đều chết vì các loại bom hạt nhân và bụi phóng xạ. Chắc hẳn cho dù những tên cầm đầu hung hăng cách mấy cũng phải nghĩ tới số phận của chính chúng cùng gia đình. Hoa Kỳ sẽ chuyển mình là điều chắc chắn. Với một chính phủ bao gồm hầu hết các tỷ phú đô la cộng thêm mang sẵn ý tưởng “ Dọn sạch đầm lầy” ý muốn nói tới việc dọn dẹp những cơ chế cổ lổ sạn đá cũ đã từng là nền tảng của đất nước trong suốt gần 249 năm qua như việc bãi bỏ bộ Giáo dục cho một bà bộ trưởng chẳng có mấy kinh nghiệm về giáo dục; trao cơ quan chăm sóc sức khỏe cho một người có tư tưởng chống vắc-xin kịch liệt, một cơ quan thuế vụ cho một thương gia đòi bãi bỏ Sở thuế; cơ quan FBI cho một người sẵn sàng dùng cơ quan này làm theo ý tổng thống để truy quét các kẻ mà tổng thống cho là nội thù; một cơ quan tình báo trung ương cho một nữ nghị sĩ Dân chủ từng đổi đảng và có khuynh hướng thân Nga….và bộ quốc phòng cho một thiếu tá vệ binh quốc gia thì chắc chắn phải có thay đổi mà chúng ta không cần phải tốn công dự đoán!. Sự thay đổi triệt để ấy như lời hứa hẹn của Tổng thống Trump “Drain swamp and demolish deep states” chắc chắn sẽ làm xáo trộn cả thiên hạ từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc. Một đặc điểm nổi bật trong nhiệm kỳ thứ 2 của Tổng thống Trump là sự tham gia rất đông đảo các đại gia kỹ nghệ thương mại và tài chánh trong chính phủ Trump. Với cung cách suy nghĩ đặt lợi nhuận cá nhân trên mọi thứ khác cho chúng ta có chút bận tâm. Liệu rồi đây một nước Mỹ đại diện cho tự do và nhân quyền, luôn đứng ra bảo vệ các quốc gia yếu kém, chống lại mọi chủ trương xâm lăng của các đế quốc cộng sản trên toàn thế giới có còn giữ được lý tưởng của mình? Chỉ có điều chắc chắn rằng những xáo trộn tương lai cũng sẽ là cơ may tạo nên một luồng sinh khi mới cho mọi quốc gia đang bị nhấn chìm trong ảo giác về một thế giới biệt lập không có sự tương liên nối kết với nhau. Sau cơn mưa trời sẽ sáng. Một chu kỳ mới lại bắt đầu và đó là điều chúng ta sẽ có cơ hội nhìn thấy trong tương lai gần thôi.
Năm 2025 là năm có nhiều điều đặc biệt. Năm này có tới 2 ngày lập xuân trong cùng năm Dương lịch 2025. Là năm kế tiếp của một loạt 8 năm liên tiếp không có ngày 30 Tết Âm lịch. Cho dù biết rằng lịch đại chỉ là sản phẩm của con người tạo ra. Nhưng nguồn gốc của lịch đại hoàn toàn dựa trên quan sát sự xoay vần ngày đêm, thời tiết, dưới tác động của mặt Trăng mặt Trời. Năm nay là năm con Rắn và vì có tới hai ngày Lập xuân nên cổ nhân còn cho nó cái tên Năm Rắn hai đầu. Điều kiện để có một năm có hai ngày lập xuân là năm đó phải là một năm nhuận để tháng Chạp kéo dài đủ để chứa thêm một ngày lập xuân. Năm 2025 có tháng 6 là tháng nhuận. Thường thì khoảng cách thời gian từ 9 tới 19 năm mới có một năm như thế. Năm gần nhất có 2 ngày lập xuân là năm 2015 (vào hai ngày 16 tháng Giêng /4 tháng 2 2015 Dương lịch và 26 tháng Chạp âm lịch/ 4 tháng 2 2016 dương lịch). Nếu có sự đáng nghiền ngẫm hơn có lẽ đó là năm Trump đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 1. Cách quãng đi 4 năm nhiệm kỳ của Biden, năm nay là nhiệm kỳ 2 của Trump. Năm Rắn 2 đầu 2025 lần này có là một điềm báo gì không? Tôi thực sự không biết.
Tôi tin vào sự bí nhiệm của Trời Đất, Lẽ huyền vi của Tạo Hóa. Có biết bao điều chúng ta không thể giải thích hoặc hiểu được trên đời. Những bất khả tri ấy là của ông Trời, Chúa Phật tạo ra hay một đấng thiêng liêng nào khác tùy thuộc vào đức tin của mỗi người nhưng chắc chắn phải có một đấng Sáng Tạo. Khi khoa học phát triển, đã có lúc con người tự huyễn hóa mình rằng bộ óc có thể giải thích được mọi hiện tượng. Nhưng giờ đây họ đã hiểu ra rằng có những giới hạn con người không thể vượt qua cho dù là siêu nhân đi nữa. Điều ấy làm cho cuộc sống thi vị hấp dẫn hơn nếu so với mọi thứ đều có thể cắt nghĩa rạch ròi biết trước.
Tết Nguyên Đán Ất Tỵ đã cận kề. Tổng thống Trump cũng vừa chính thức làm Lễ Đăng Quang. Một kỷ nguyên mới bắt đầu cho nước Mỹ và cho thế giới. Suy ngẫm từ chính bản thân mình, qua thời gian đã biến đổi như thế nào từng thời kỳ. Những thăng trầm khổ ải, những đau buồn, những hoan lạc, vinh nhục tôi đều đã nếm mùi. Giờ đây bước vào tuổi U90, tôi luôn cảm tạ Đất Trời đã cho tôi sống sót qua cuộc chiến đẫm máu ngày nào. Đọc trên báo chí hàng ngày khi nhìn thấy tên tuổi những người thân quen, đồng đội đồng môn, niên trưởng niên đệ trên các trang cáo phó lòng tôi có chút u buồn vì chia ly nhưng rồi nghĩ lại thân phận mình cũng sẽ có một lần như thế. Lẽ tử sinh là chuyện thường tình và bản thân đã chẳng biết bao lần vào sinh ra tử đó sao. Sống dài ngắn đâu có nghĩa gì bằng mình đã sống như thế nào. Sống như một công dân có trách nhiệm với đất nước, thủy chung với bạn hữu, gia đình vợ con đã đủ làm cho tôi hài lòng với cuộc đời mình. Lúc cuối đời, lâu lâu bắt gặp lại những chiến hữu từng sống chết trên chiến trường xưa, ngồi nhâm nhi bên ly trà, cà phê nhắc lại những câu chuyện cũ, những kỷ niệm xương máu cũ lại thấy lòng rộn ràng sức sống. Những buồn đau vì sự phân hóa chia rẽ không thể hàn gắn được giữa bạn hữu cùng chung lý tưởng nhưng khác cách suy nghĩ và hành động chẳng còn làm tôi thao thức mất ngủ vì tự thân đã nhận ra sự khác biệt là đương nhiên giữa con người với nhau. Nỗi nhớ quê hương nguồn cội có lẽ là niềm ưu tư duy nhất không phai mời trong lúc tuổi xế chiều. Lìa xa đất nước, sống phiêu bạt quê người cho dù cuộc sống tự do no ấm thoải mái nơi đây vẫn không xóa nhòa hình ảnh về một quê hương ngày nào nơi đó có ông bà tổ tiên của mình đã từng sinh sống. Cảnh quan, môi trường quen thuộc của thời niên thiếu, đồng lúa, lũy tre làng, những khu phố tiệm ăn của thành phố Cảng nơi tôi được sinh ra. Những ngôi trường, các thầy giáo hết lòng yêu thương truyền dậy kiến thức làm người….lũ bạn cùng phố đá bóng, đánh bi đánh đáo …. Tất cả những hình ảnh ấy đúc kết lại thành một quá khứ gắn chặt với ký ức để mang theo cả cuộc đời. Có đôi lúc tôi lúc thiển nghĩ, quê hương là nơi cho mình cơ hội làm người và sống với tư cách một con người theo nghĩa cao đẹp của nó. Quê hương hiểu theo định nghĩa đó để tự an ủi bản thân rằng quê hương không chỉ bó hẹp trong giới hạn địa lý trên bản đồ, nhất là khi thế giới đã đi vào kỷ nguyên trí thông minh nhân tạo và hệ thống liên lạc truyền thông đã trải khắp trên mọi nơi trên hành tinh này để rồi thanh thản chấp nhận nơi này cũng là quê hương.
Năm mươi năm nhìn lại cuộc đời, những điều đắc /thất, có được/ mất không, nhục vinh xướng khổ tôi đã nếm trải. Chút thời gian còn lại tôi tự nhủ đã đến lúc buông bỏ tất cả để ra đi trong nhẹ nhàng thư thái như bao bạn hữu xa gần đã ra đi. Ở lớp tuổi ngồi đợi trên sân ga chờ chuyến tầu lên đường trở về cõi hư không như những bạn đồng môn khác nếu có chăng còn chút ưu tư suy ngẫm về cuộc đời của mình, có lẽ chỉ là ao ước mọi bất hòa giữa các đồng môn Võ Bị sớm chấm dứt để hình ảnh đẹp đẽ của những chàng trai Võ Bị một thời chỉ mờ dần theo thời gian như hình ảnh những người lính già trong câu nói của tướng Mac ArThur “Old soldiers never die; they just fade away”
Con người ai cũng chỉ sống có một lần. Hãy cố gắng sống sao cho khỏi phải ân hận vì đã sống hoài sống phí và đừng để hổ thẹn về dĩ vãng ti tiện hèn đớn của mình.
Thời ấy – những năm đầu thập niên 80 Thành Hồ có mấy câu Phóng Dao tả cảnh những anh Con Bà Cả Đọi đi lãnh đồ:
Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Đôi tay anh vín đôi cành
Quả chín anh hái quả xanh anh vồ
Năm sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ
Anh ra Bưu điện lãnh đồ em cho
Đồ em vừa nặng vừa to
Anh đã con mắt, anh no cái mồm…
Thấy mấy cái hộp đồ Poste Pháp tốt quá Trí Văn giữ lại làm kỷ niệm. Anh đâu biết mấy cái hộp giấy vô thưởng vô phạt đó sẽ bị công an VC coi là những bằng chứng về tội anh liên lạc với người nước ngoài. Tôi không gặp Trí Văn lần nào, nhưng tôi biết chắc mà không cần hỏi là khi bắt Trí Văn, bọn công an CS tịch thâu mấy cái hộp đựng quà, ghi vào biên bản bắt, coi đó là “tang vật”.
Vợ chồng Anh Con Trai Bà Cả Đọi trong mấy mùa thu lá rụng ở Thành Hồ – từ 1980 đến 1984 – có may mắn được hai vị sống ở Pháp gửi thuốc tây cứu trợ nhiều nhất. Hai ân nhân của anh chị là:
– Dượng Ba Trần Tam Tiệp, Tổng Thư Ký Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
– Cô Phương Hương Cao Ngọc Phượng, tu sĩ Phật giáo. Từ năm 1992, cô đã xuống tóc quy y, pháp danh Thích Chân Không.
Trong mấy mùa lá đa rụng ấy Alice làm hoa vải tại gia. Nàng giữ lại những hộp giấy đựng đồ làm hoa. Trong căn nhà nhỏ ở Cư xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ của vợ chồng anh chị có đến mấy chục cái hộp giấy của Poste Pháp.
Trong đêm công an Việt cộng đem chiếc xe bông thứ hai đến Cư Xá Tự Do đón anh chồng đi lần thứ hai – đúng là tội nghiệp anh Con Trai Bà Cả Đọi. Anh chỉ can tội dính líu tí ti vào bộ phim Hai Chuyến Xe Bông dưới bóng cô đào Thanh Nga thôi. Dzậy mà đời anh cũng tả tơi hoa lá vì hai chuyến xe bông thực sự. Trong vòng mười niên mà hai lần đi xe bông công an Việt cộng thì đúng là đời anh đen hơn mõm chó mực – Trong đêm anh bị bắt lần thứ nhì, công an xếp một đống hộp đựng đồ từ Pháp gửi về ở giữa nhà, bắt vợ chồng anh đứng “chụp ảnh với tang vật”.
Trong đống “tang vật” có hai hộp cạc tông không phải hộp đựng quà trả công cho gián điệp. Anh Con Trai đứng rũ liệt chân tay, chị Con Dâu vẫn còn cố tranh đấu đến cái gọi là hộp giấy cuối cùng:
– Mấy cái hộp đó không phải là hộp đựng đồ ngoại quốc gửi về. Tôi yêu cầu mấy anh bỏ ra…
Anh Con Trai nói với vợ:
– Thôi em ơi. Nếu không có tội thì dù ta có cả ngàn cái hộp như thế này ta cũng không có tội. Còn có tội thì chỉ cần một cái hộp cũng đủ rồi…
Như vậy là trong đêm Công an Thành Hồ đến bắt tôi lần thứ hai – hai giờ đêm ngày 2 tháng 5 năm 1984 – Alice có vài bức ảnh chụp chung với anh chồng vất vả trước đống tang vật. Những tấm ảnh này hiện nằm trong Kho Hồ sơ Nhân dân Tù tại Sở Công an thành phố HCM.
Hơn mười mùa mít chín trôi qua, hôm nay ngồi bình an viết những dòng này ở Rừng Phong Arlington, bang Virginia của những người Còn Trinh và Yêu Nhau, hồi tưởng lại giây phút vợ chồng sánh vai nhau đứng trước ống kính máy ảnh của bọn công an Việt cộng nửa đêm trong căn nhà nhỏ tôi có một nỗi bực mình nho nhỏ.
Tôi bực mình vì chính tôi. Đêm ấy khi bọn đầu trâu, mặt ngựa ùn ùn kéo vào căn nhà nhỏ của tôi rồi tôi vẫn còn mong đợi một cách ngu si, đần độn quá mức là chúng chỉ vào “xét sổ hộ khẩu” sơ sơ rồi đi. Bởi nghĩ như vậy và muốn chúng ra mau mau đi ra khỏi nhà để mình tiếp tục ngủ lại, tôi đã không sửa sang cho người ngợm tôi đừng tả tơi quá.
Nửa đêm về sáng, đang ngủ mệt, bị công an đập cửa dựng dậy, hào hoa phong nhã đến như các ông Phan An, Tống Ngọc, Tư Mã Tương Như cũng… nát như tương. Lúc ấy tôi đầu bù, tóc rối, mắt có ghèn, miệng hôi, áo quần xộc xệch. Phải chi tôi cứ mặc cho chúng ngồi đợi – khi chưa đọc lệnh bắt giam, chúng chưa sẵng giọng với mình – tôi đàng hoàng đi làm vệ sinh, đánh răng, rửa mặt, chải đầu, bận sơ mi, quần tây săng pờli đàng hoàng rồi mới ra tiếp chúng. Thì đã sao? Đầu tóc tả tơi, quần áo xộc xệch, mặt mũi nhơm nhếch thì chúng cũng bắt, cũng tù. Trang phục chỉnh tề, bộ dạng hào hoa phong nhã thì cũng chỉ đến đi tù thôi. Đằng nào cũng tù nhưng tù đường hoàng, tại sao mình lại tù rúm ró thiểu não?
Than ôi… Khi tôi có được cái kinh nghiệm ấy thì đã muộn màng. Tôi không còn có dịp dùng đến kinh nghiệm ấy… Qua hai lần bị Việt cộng bắt, bị Việt cộng thẩm vấn, tôi có cảm tưởng như tôi là một em trinh nữ lần đầu tiên bị đàn ông hiếp dâm – trinh nữ bị hiếp dâm lần đầu, tôi không nói đến những trinh nữ bị hiếp dâm năm bẩy chục lần dài dài và đều đều – Em trinh nữ bị hiếp dâm lần đầu thường mềm nhũn chân tay, không chống cự mà cũng chẳng phản ứng, thuận ứng gì cả – Với bọn Việt cộng bắt tôi, hỏi cung tôi, đe dọa tôi, tôi cũng mềm như bún. Nhiều đêm nằm vắt chân lên trán trong biệt giam nhớ lại buổi hỏi cung trong ngày tôi vẫn bực bội với chính tôi:
– Sao mình lại có thể ngu đần quá đến như dzậy? Sao lúc nó hỏi câu ấy mình lại không trả lời như vầy… như vầy… Trả lời như thế thì tội mình đâu có nặng hơn? Tại sao mình lại trả lời một câu ngu đến như thế chứ?
Tôi giống như các em trinh nữ bị hiếp dâm lần đầu nhưng tôi cũng có một điểm khác các em. Đó là điểm có một số các em dường như cũng mong, cũng thích bị hiếp dâm còn tôi, tôi không thích công an Việt cộng hiếp dâm tôi một ly ông cụ nào.
Khi viết về những người bị các anh gọi văn huê là “Những tên biệt kích cầm bút”, những người bị các anh bắt giam mút mùa trinh nữ và khép vào tội nặng “Gián Điệp Tử Hình” v.v… hai anh cớm Minh Kiên – Nam Thi đã cố tình không viết một chi tiết quan trọng. Hai anh đánh bài vờ như chuyện đó không có. Họ chỉ nhắc qua đến chuyện đó trong có một dòng.
Đó là sự kiện trong số 8 Biệt Kích Dzăng Bút bị bắt ở Thành Hồ Tháng 5 năm 1984, có đến 6 mạng đã bị bắt đi cải tạo, đi tù từ hai đến năm, sáu mùa lá rụng. Kể tên:
1. Gián điệp đầu sỏ Doãn Quốc Sĩ: Đã tù năm niên, năm 1981 từ trại Gia Trung – Gia Lai trở về đường An Dương Vương, Sàigon.
2. Khuất Duy Trác: Năm niên, năm 1981 từ miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa trở về đường Lý Thái Tổ, Sàigon.
3. Trần Ngọc Tự: Năm niên, từ Phú Quốc, Hoàng Liên Sơn trở về khu bên trong Cổng Xe lửa số 6, Sàigòn.
4. Dương Hùng Cường: Ba niên, từ đâu đó hổng nhớ trở về căn nhà ở gần cái gọi là “Trung tâm Nữ Quân Nhân” đường Lý Thường Kiệt. Ngày xửa, ngày xưa trên mục “Cà Kê Dê Ngỗng”, báo Con Ong, chủ nhiệm Minh Vồ, Dê Húc Càn, bút hiệu của Dương hùng Cuờng, từng viết một bài về cái gọi là “Trung Tâm Nữ Quân Nhân”. Anh théc méc không hiểu cái Trung tâm ấy nó mô tả ký gì.
5. Lý Thụy Ý, nữ biệt kích, từng có thời giữ Trang Kaki Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tù hai mùa mít chín.
6. Hoàng Hải Thủy: tù nhẹ nhất, 23 tháng ngồi rù trong trại giam số 4 Phan Đăng Lưu, cuối 1979 trở về khu Hồ tắm Cộng Hòa Ngã Ba Ông Tạ nổi tiếng về bộ môn Cầy Tơ dân tộc.
7 và 8: Khứa lão Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và Em Ghế Tơ Nguyễn Thị Nhạn là hai người mới nếm mùi tù cộng sản lần thứ nhất.
Minh Kiên – Nam Thi bị bắt buộc giả vờ không biết bọn văn nghệ sĩ Sàigòn bị bắt lại đã chịu một lần tù tội – ngôn ngữ Việt cộng học mót Trung cộng là “cải tạo” – bởi vì nếu họ viết ra chi tiết này thì kỳ quá. Té ra mấy tên Sè Goòng bại trận này chúng nó gan cóc tía hay sao? Đã một lần tù rồi chúng vẫn không tởn? Chúng vẫn coi như “nơ pa”? Dzậy là sao? Nếu không phải bọn chúng gan lì thì chế độ “giáo dục cải tạo bằng lao động” do đảng ta học mót và áp dụng chẳng có qua một tí ti giá trị thực tiễn gì cả sao?? Mà nào có phải là bọn chúng bị đi tù năm bẩy tháng gì cho cam? Tên nhẹ nhất cũng hai mùa lá rụng, tên nặng là năm, sáu năm.
Khi phịa ra cảnh Hoàng Hải thả lời ong bướm kiểu cải lương miệt vườn với bà chủ Vi-la Kiều Trang, Nam Thi – Minh Kiên gài cho Hoàng Hải nói:
– Tôi gác bút rồi. Viết ký gì bi giờ???
Sai. Dziệc cộng dzô Sè Goòng, Hoàng Hải – cũng như những Anh Con Trai Bà Cả Đọi khác – bị bắt buộc phải gác rất nhiều thứ nhưng bút thì anh không bao giờ “gác” cả. Bằng chứng: Tạp chí Thời Tập, do Viên Linh chủ trương, ấn hành số 1 tháng Tư năm 1979 ở Hoa Kỳ đã đăng bài viết gửi đi từ Thành Hồ của Hoàng hải Thủy, có cả ảnh đương sự ở trần, rầu rĩ triển lãm bộ xương bọc da trước lá cờ đỏ sao vàng ở giữa lòng Thành Hồ.
Tôi đăng lại một số bài tôi viết trước 1977 và trước 1984, được đăng ở hải ngoại trước nhất là để khoe, thứ hai là để làm bằng chứng hai anh Nam Thi – Minh Kiên bảo tôi “gác bút” là viết không đúng.
Ngay từ đầu năm 1976 tôi đã lai rai viết ra ngoại quốc với mục đích diễn tả thực trạng đời sống của nhân dân Sàigòn. Tôi diễn tả những nỗi buồn sầu tuyệt vọng nhiều hơn là chửi bới Việt cộng, những bài tôi viết không hô hào người khác cầm súng bắn Việt cộng. Nhưng dầu sao thì bọn văn nghệ sĩ Sàigòn không nhanh chân bỏ của chạy lấy người kịp chúng tôi cũng đã tìm cách viết ra nước ngoài rất sớm – sớm đến cái độ có thể gọi là “Sớm nhất thế giới”. Chỉ xỉu xỉu sáu tháng sau ngày nón cối, dép râu, răng cải mả, tóc bím, đít bự như cái thúng, ngơ ngáo kéo vào Sàigòn chúng tôi đã có thư, tin, bài, thơ linh tinh đủ thứ gửi ra nước ngoài. Chẳng phải là vì chúng tôi can đảm hay giỏi giang gì hơn người, phần lớn tại vì đến năm 1975 tình hình chính trị thế giới đã bắt đầu có những chuyển biến bất lợi cho bọn cộng sản. Sự liên lạc bằng thư giữa những nước tư bản Âu Mỹ với thành phố Sàigòn bị cưỡng hiếp đổi tên được tái lập ngay sau ngày 30 Tháng Tư 75; thư từ Xê Kỳ, Pháp gửi về Sàigòn tới tấp, thư con cá Sàigòn vượt đại dương đi các nước tự do, tư bổn cũng nườm nượp. Nhờ vậy bọn chúng tôi mới lén gửi được những bức thư tả oán ra khỏi nước. Xin so sánh với tình trạng các nước đàn anh Xã hội Chủ nghĩa: Khi bức màn sắt rơi xuống nước Nga, hai mươi mùa trứng caviar đóng hộp sau vẫn chưa có một văn nghệ sĩ Nga nào sống trong nước gửi được những tác phẩm chống chế độ bạo tàn ra nước ngoài. Khi bức màn tre chụp xuống Trung Quốc, sau hai mươi mùa lệ chi được gửi Express đến Đảo Bồng Lai cho nàng Dương Thái Chân thưởng thức, mới có lẻ tẻ vài ông chính khứa Tầu cộng bỏ đảng dzọt được sang các nước Pháp, Anh lai rai viết tố cáo những tội ác ghê rợn của chế độ Trung Cộng.
Le Parisien: Hoang Hai Thuy a refusé de se taire
Dưới đây là bản dịch bài báo viết về “Kiệt kích dzăng bút Hoàng Hải Thủy” đăng trên nhật báo Le Parisien, Tháng Tư năm 1988. Người viết là Nữ ký giả Catherine Monfazon:
Đáp ứng lời kêu gọi của Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới – L’Association Reporters sans frontières – 38 cơ sở truyền thông Pháp quốc đã nhận bảo lãnh mỗi cơ sở một ký giả bị tù vì làm tròn công việc của mình. “Le Parisien” tự chọn tranh đấu cho sự tự do của Hoàng Hải Thủy, ký giả Việt Nam, hiện đang bị bỏ quên trong một trại lao động cải tạo.
Chúng tôi yêu cầu chính phủ Pháp quốc không những chỉ vận động để đưa ông Thủy ra khỏi nhà tù mà còn, theo sự đòi hỏi của gia đình ông ta, đưa ông ta ra khỏi quốc gia của ông ta…
Hoàng Hải Thủy không chịu câm miệng
Đừng nói đến cái tên Hoàng Hải Thủy ở Việt Nam, nói đến cái tên đó trong điện thoại, đường dây sẽ bị cắt, trong đường phố những đôi mắt sẽ nhìn xuống đất. Được nhờ đến Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, được coi như là một động lực của công cuộc đổi mới của Việt Nam, sẽ bực bội gạt bạn sang Bộ Tư pháp, một cách từ chối, không tiếp khéo léo.
Hoàng Hải Thủy năm mươi chín tuổi, đêm đêm nằm ngủ trên tấm ván rộng năm mươi phân giữa ba ngươi người bạn tù chung phòng giam trong trại cải tạo Xuân Lộc, một nơi cách thành phố HCM (Sàigòn) một trăm hai mươi cây số. Những lời buộc tội thật mơ hồ “Lên tiếng chống chủ nghĩa cộng sản” Người ta trách ông ta đã gửi ra nước ngoài những bài thơ, bài viết không sao có thể đăng được trong những tờ báo Việt Nam bị rọ mõm.
Hoàng Hải Thủy biết rất rõ những người cộng sản. Bên cạnh họ ông đã tham gia kháng chiến năm 1945. Nhưng kề từ đó ông chỉ đi theo một con đường: nhân bản. Thi sĩ, văn sĩ, ký giả, dịch giả: ông được nhiều người biết vì tính tình hay nói thẳng, vì niềm hăng say tố cáo những sự bất công. Ông tự ý làm những việc ấy. Trước năm 1975 ông công khai chỉ trích chế độ cũ trên những tờ báo châm biếm như tờ Con Ong (nghĩa đen là con ong chuyên châm chích). Ông cũng là viên chức của Trung tâm Thông Tin Hoa Kỳ, USIS.
Năm 1974, ông dịch “Trăm năm cô đơn” của Garcia Marquez. Bản dịch truyện này bị cấm xuất bản. Bản dịch “Quần đảo ngục tù” (Archipel du Goulag) cũng bị cấm. Lần này là đảng cấm. Sau năm 1975 Hoàng Hải Thủy phải sống nhịn nhục. Nhưng ông từ chối không chịu im tiếng. “Ông ấy không thể im lặng trước những đau khổ của đồng bào ông. Ông ấy tức giận khi thấy bọn cán bộ kêu gọi người khác hy sinh nhưng chính chúng lại sống như vương giả”. Đấy là lời một người bạn của Hoàng Hải Thủy nói về ông.
Năm 1977 ông ta đã bị bắt lần thứ nhất, bị giam hai mươi ba tháng trong nhà tù Chí Hòa. Vừa ra khỏi tù, ông lại cầm bút. Ông bị bắt lần thứ hai năm 1984. Năm 1988, ông bị xử ở tòa án. Người bạn của ông nói tiếp về ông: “Trong phiên xử, ông ấy có nói ông không viết vì thù hận chính quyền mà viết để chống lại tất cả những kẻ dối trá từ trong trái tim…”
Bị tuyên án sáu năm tù Hoàng Hải Thủy chỉ được trả tự do vào tháng Năm năm 1990. Ông còn phải chịu đựng nhiều tháng sống trong trại cải tạo vì thái độ tự do tư tưởng của ông, một thái độ mà cái chính phủ vẫn tự nhận là đã mở nắp nồi và đổi mới vẫn không thể chấp nhận được.
Nguyễn Văn Xuân thuộc lớp nhà văn tiền phong của chúng ta. Ông khởi viết từ trước năm 1945. Nhưng mãi tới năm 1957, tác phẩm đầu tay của ông cuốn Bão Rừng mới được xuất bản. Đó là một trong những lý do khiến ông không được các độc giả biết đến nhiều. Mặt khác, ông thường viết những truyện về lịch sử, nhất là các nhân vật của ông hầu hết lại là những người cùng địa phương với ông như các lãnh tụ Văn Thân Nguyễn Hiệu, Phan Bá Phiến, Tổng Đốc Hoàng Diệu, cụ Trần Cao Vân v.v … như trong cuốn Hương Máu.
Còn cuốn Bão Rừng ông viết về đời sống ở một đồn điền cao xu thời Pháp thuộc. Thực ra, những đề tài như thế, các tiểu thuyết chất chứa rất nhiều những tài liệu, dữ kiện lịch sử như thế, đáng lẽ phải được đọc rất nhiều mới phải. Không phải Nguyễn Văn Xuân không bám sát thời cuộc.
Cây Đa Đền Cũ của ông ghi lại thời kỳ kinh hoàng, vô chính phủ sau hiệp đinh Geneve, khi cộng sản rút đi, quốc gia chưa kịp tới, gần như người ta tha hồ chém giết, thanh toán nhau.
Trước 75, độc giả miền Nam đã được đọc bản dịch tiểu thuyết Người Đàn Bà Trong Cồn Cát của nhà văn Nhật Bản Kobe, với khung cảnh lạ lùng nhân vật chính bị rơi vào một hố cát, bốn bề toàn cát, không còn cách gì thoát khỏi, thức ăn lẫn với cát, tắm rửa bằng cát.
Hai truyện Dịch Cát và Xóm Mới của nguyễn Văn Xuân cũng viết về một vùng gồm toàn động cát ở địa phương nơi ông sinh sống, trong vùng đó người ta sống và chết đều thê thảm, rùng rợn.
Nguyễn Văn Xuân có một bút pháp riêng biệt, điềm đạm. Đọc ông, người ta có thể nhận ra ông cân nhắc từng chữ trước khi dùng. Nếu người ta đọc và thường tỏ ra khâm phục cái tinh vi trong các nhận xét của Nguyễn Tuân khi
viết về một người sành uống trà trong Vang Bóng Một Thời, thì đôi khi người ta vẫn có cái khó chịu vì sự tác điệu của tác giả Vang Bóng Một Thời [như cái kiểu nói “Tôi rước tôi ra đường” chẳng hạn].
Đọc Tiếng Đồng của Nguyễn Văn Xuân độc giả cũng được biết đến một cái “sành” khác: cái “sành” của một người “nghe tiếng đồng”. Tiếng đồng Nguyễn Văn Xuân nói ở đây là tiếng phèng la, tiếng chuông, những thứ được đúc bằng đồng. Nghe thì giản dị như vậy, thực tế, người ta không thể ngờ rằng, muốn đúc một cái chuông, cái phèng la có âm sắc, tiếng ngân đúng như ý muốn không phải chuyện dễ. Nhân vật Cảo của Nguyên Văn Xuân chỉ là một người nhà quê, không có học vấn gì, nhưng anh ta có đôi tai, cả làng P.K. cái làng ở kế cận làng tác giả, cả làng chuyên nghề làm chuông, làm phèng la, đã nhờ vào đôi tai của Cảo mà bán được nhiều hàng hơn.
Thợ trong làng đúc xong một cái phèng la, gọt từng ly đồng để cho chỗ dày chỗ mỏng đúng kích thước rồi, đến khi đánh thử tiếng kêu vẫn không đúng như dự tính. Vào thời đó mọi sự tính toán của người ta hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm và cái “thính” của đôi tai mà làm ra các vật dụng ấy thôi. Chủ thợ còn đang ngẩn ngơ chưa biết lý do thì nhân vật Cảo bước vào nói ngay:
“Cha này ẩu quá, loại này sao lại đánh bằng dùi quấn vải? Phải đánh bằng loại cây cứng chớ. Đánh vậy thì bảo làm sao có tiếng được”.
Nguyễn Văn Xuân Viết:
“Rồi không chờ đợi, hai con mắt đen thui thủi, có hơi hồng hồng, xám xám, như hơi rừng núi hực lên. Anh xách đại một chiếc guốc đang mang, đập vào nhạc cụ. Đột nhiên và lạ lùng, chính tôi không hề phân biệt, mà cũng không bao giờ để ý phân biệt âm thanh của tiếng đồng, thế mà tự nhiên tôi có cảm tưởng rõ ràng là tiếng mới này hay hơn, phong phú và ngân vang hơn tiếng cũ nhiều”.
Một tù trưởng người Thượng, có rất nhiều chiêng, trong đó có một bộ lẻ một chiếc, lại là chiếc cổ nhất, lớn nhất mà vị tù trưởng quí hơn hết.
Ông nói là nếu có ai tìm được cái chiêng bị mất, ông sẵn lòng mua giá cao nhất hoặc đổi gì ông cũng chịu. Cảo đã bảo đánh cho nghe. Anh nghe gần, nghe xa. Tự tay gõ cùng khắp, cả sấp lẫn ngửa, cả trong lẫn ngoài, suốt
buổi. Rồi anh nói, anh có thấy trong nhà một người Thượng ở Buôn Mê Thuột có cái chiêng y hệt cái này. Chắc là của ông bị mất. Nếu ông muốn mua lại, tôi đi lấy về cho. Dĩ nhiên là ông tù trưởng ngã giá, bằng lòng ngay. Anh liền về ủy thác cho một ông cụ đúc cái chiêng thứ hai chỉ bằng vào trí nhớ ghi nhận được cả về kích thước lẫn âm thanh cái chiêng của người Tù Trưởng. Phải hiểu thế nào là ‘chiêng đôi’ mới biết ‘cái liều’ cũng là ‘cái tài’ của nhân vật Cảo của Nguyễn Văn Xuân thế nào. “Tôi theo ông cụ trở lại nhà trên. Ông cụ lấy hai cái phèng la, móc trên hai cái móc cách xa nhau hơn một thước tây, cùng theo một chiều với nhau, nghĩa là cái mặt phèng la phía sau nhìn vào lưng cái phía trước. Ông cụ bảo:
– Cái này lớn hơn cái trước nhiều. Tôi đánh, cậu nghe thử cái thứ hai ra sao.
Ông lấy dùi đánh mạnh. Tôi tự phàn nàn đôi tai mình kém quá, không nghe gì ở nhạc cụ thứ hai trước mặt nó cả.
Ông cụ cười ha hả:
– Thì tôi cũng không nghe chi hết. Lần này cậu thử nghe xem sao.
Ông lấy cái thứ nhất xuống, thay bằng một cái cùng cỡ và giống hệt như hai giọt nước với cái thứ nhất, rồi cũng dùng cái dùi ban nãy để đánh. Trước khi đánh ông còn bảo tôi:
– Loại này là đồ ‘chiêng đôi Trà Bồng. Gọi thế chứ nó cũng là phèng la. Giọng Trà Bồng gồm có mấy giọng: Bù rốp [cao], Bù rắp lay, lay [lớn và nhỏ] Bù rớt Bù rởn. Đây là loại ‘lay’ giọng lớn.
Tiếng thùng … ngao phát ra từ cái phèng la ở phía sau thì lạ lùng, tôi nghe như cũng có tiếng thùng … ngao như thế phát ra ở cái phía trước. Tôi tưởng mình nghe lầm. Nhưng rõ ràng là như thế. Rõ ràng không ai đánh, thế mà cái phía trước cứ kêu, mà kêu y hệt như cái thứ hai. Như hai đứa trẻ song sinh, đứa này bị đánh đau xót la hét thế nào thì đứa kia cũng đau xót la hét lên như thế.
Tôi buột miệng kêu lên:
– Giống nhau như đúc!
– Thì thế mới gọi là ‘đồ đôi’ mà cậu.
– Nhưng làm sao cái chiêng này ở một nơi, cái chiêng kia một ngả mà anh Cảo cả quyết nó sẽ ‘đồng thanh tương ứng’ với nhau như thế này được?
– Thì tôi đã nói: Cảo là loại đặc biệt mà!
Tuy có thể gọi chung là phèng la nhưng chiêng vẫn khác phèng la vì cái ‘nướm’ ở giữa và vì mặt nó không phẳng mà lại đợn sóng. Dợn sóng ấy không phải đúc ra như vậy. Nguyễn Văn Xuân cho biết như sau:
“Nếu đúc ra thì nó không kêu. Chỉ khi nào đúc xong, lấy chân dận lên trên, rồi lận từ bên trong ngược ra cho nó dợn sóng, nó mới chịu kêu. Lấy dùi đánh vào nướm nó kêu bu rồi chuyển sang lu lu lu khi đi qua vòng cổ áo là bộ phận xoay quanh cái nướm. Cuối vòng cổ áo gặp đường dợn sóng khiến
tiếng cũng dợn sóng theo u u ù ù ú u u. Từ đây âm thanh vang ra đến vòng quỳ là vòng cuối cùng phát ra u u a a … Nhưng lại gặp cái vành dày, nó dội ngược cả tiếng lại nên rung mạnh cả mặt”.
Nhân vật Cảo của Nguyễn Văn Xuân sống hoàn toàn tự nhiên, không có vẻ gì khoe khoang, kiểu cách, nhưng người đọc vẫn cảm nhận ở nơi anh một tâm hồn nghệ sĩ tài hoa.
Ngoài truyện, ông Nguyễn Văn Xuân còn viết nhiều sách biên khảo, trong đó các cuốn: “Phong Trào Duy Tân Ở Miền Trung”, “Chinh Phụ Ngâm diễn âm” và bộ “Văn Học Trình Diễn Ở Miền Nam” được các nhà chuyên môn đánh giá rất cao.
Vì lý do chính trị, rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, của chúng ta thuộc lớp gọi là tiền chiến, đã không được nhắc đến tên nữa trong sinh hoạt văn học, nghệ thuật, tư tưởng, ở trong nước.
Các học giả như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh chẳng hạn, chỉ cần gán cho hai chữ “phản động” là đủ để cho người ta xóa bỏ tất cả công lao đóng góp đối với văn hóa đất nước. Hỏi các sinh viên, hoc sinh ở trong nước, ngay cả một số người đã lớn tuổi, tốt nghiệp đại học rồi, phần lớn không biết tí gì về Nguyễn Văn Vĩnh cũng như Phạm Quỳnh. Sinh viên, học sinh Việt Nam ở hải ngoại, cũng ít người biết đến hai học giả đó của đất nước. Lý do giản dị là họ học theo chương trình của xứ sở họ cư ngụ. Nhưng thường thường, sau bậc đại học, sau khi đã trưởng thành, những người còn lưu tâm tới xứ sở đều quay trở lại đọc sử và tìm hiểu về văn hóa của dân tộc. Và trong trường hợp này, với kiến thức và kinh nghiệm sẵn có, tài liệu đầy đủ họ có thể xóa bỏ sự thiếu sót đó một cách dễ dàng.
Các lớp tuổi khác nhau ở trong nước gặp nhiều khó khăn hơn. Vì không được học, không được nhắc nên không biết các nhân vật đó là ai. Không biết nên không thắc mắc. Hoặc giả nếu có ai đó, nghe nói, muốn tìm hiểu cũng chẳng biết kiếm đâu ra tài liệu. Ông Nguyễn Văn Vĩnh là một trong hai người đầu tiên chuyển dịch truyện Kiều của Nguyễn Du qua tiếng Pháp, người kia là Trương Vĩnh Ký. Bản dịch những bài thơ ngụ ngôn của Lafontaine từ tiếng Pháp qua tiếng Việt của ông, đã được xếp vào sách giáo khoa như các bài Lão Tiều Phu hay Con Nhái muốn to bằng con Bò.
Lão tiều gánh củi cành một bó
Tuổi đã nhiều niên số lại cao
Lặc lè nam đá chân siêu
Lom khom về chốn thảo mao khói mù
Tủi thân phận kỳ khu, khó nhọc
Đặt bó sài ở dọc lối đi
Than rằng sung sướng nỗi gì
Khắp trong thế giới ai thì khổ hơn?
Than thân trách phận rồi ông lão lên tiếng xin thần chết mang đi cho đỡ phải sống tiếp.
Chết đâu dẫn lại tức thời
Hỏi già khi nãy kêu vời lão chi?
Lão già thấy cơ nguy cuống sợ
Nhờ tay người nhấc đỡ lên vai
Truyện con nhái muốn to bằng con bò đã trở thành bài học thuộc lòng của nhiều thế hệ học sinh Việt Nam:
Con nhái trông thấy con bò
Hình dung đẹp đẽ mình to béo tròn
Nhái bằng quả trứng tí hon
Lại toan cố sức bằng con bò vàng
Ngậm hơi, bạnh cổ, rồi nhái phùng bụng hỏi họ hàng đã to bằng bò chưa? Khi họ hàng nói rằng còn kém xa, thì:
Tức mình chị nhái oắt ta
Cố phình bụng bỗng vỡ ra chết liền
Ở đời lắm kẻ thật điên
Ngu hèn lại muốn tranh tiên với đời.
Bài phiếm luận của Nguyễn Văn Vĩnh về cái cười của người Việt Nam đáng lẽ phải mở đường cho một cuốn tiểu thuyết đại loại Người Việt Xấu Xí trước khi có các cuốn Người Trung Quốc Xấu Xí hay Người Mỹ Xấu Xí mới phải. Nhưng tiếc là chưa có nhà văn nào của chúng ta viết cuốn sách đó. Sau đây là một đoạn bài “Gì Cũng Cười” của Nguyễn Văn Vĩnh:
“An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì mà chê cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang.
Có kẻ bảo cười là hết cả, cũng là một cách của người hiền. Cuộc đời muôn việc chẳng qua là trò phường chèo hết thẩy, không có chi là nghiêm đến nỗi người hiền phải nhăn mày mà nghĩ ngợi.
Ví dù được y như vậy thì ra nước An Nam ta cả dân là người hiền. Nếu thế tôi đâu dám đem lời phường chèo ra mà nhủ người nhếch mép bỏ tính tự nhiên mà làm bộ đứng đắn lại, nghiêm nhìn những cuộc trẻ chơi. Nhưng mà xét ra cái cười nhiều khi có cái vô tình độc ác, có cái láo xược khinh
người, có cái chửi người ta …Thực không có tức gì bằng cái tức phải đối đáp với đối không tức, kẻ bịt tai không thèm nghe cũng không tức những kẻ nghe mình nói chỉ lấy miệng ra hì hì mà đáp. Phản đến thế ..
Ù, mà gì bực mình bằng rát cổ bỏng họng, mỏi lưỡi, tê môi, để mà hỏi ý một người, mà người ấy chỉ đáp bằng một tiếng hì, khen chẳng ơn, mắng chẳng cãi, hỏi chẳng thưa, trước sau chỉ có miệng cười hì, thì ai không phải phát tức …
Ai cũng phải biết rằng, khi người ta nói với ta, là để hỏi tình ý ta thế nào. Ai nói với mình thì mình phải đáp. Tùy ý mình muốn tỏ tình ý cho người ta biết thì nóí thực, không hiểu thì hỏi lại, mà không muốn nói tình ý cho người ta biết, thì khéo lấy lời lịch sự mà tỏ cho người ta hiểu rằng câu hỏi
phạm tới một điều kín của mình. Hoặc là có khôn thì lựa lời mà tỏ cho người ta biết mà thôi, và khiến câu chuyện cho người ta khỏi căn vặn được mình nữa. Nhưng phàm người ta hỏi, mình đã lắng tai nghe, là mình nợ người ta câu đáp”.
Có vài giai thoại về ông Nguyễn Văn Vĩnh được truyền tụng như sau:
Ông có hai con trai đều là thi sĩ: Nguyễn Giang và Nguyễn Nhược Pháp.
Nghe nói Nguyễn Nhược Pháp mới 16 tuổi đã đỗ hai bằng tú tài Pháp. Ông Nguyễn Văn Vĩnh đặt tên con là Nhược Pháp là có ý nói rằng, nước Pháp sẽ yếu [nhược] đi khi con ông ra đời. Yếu về phương diện nào đây? Văn chương chăng? Có nhiều phần đây chỉ là chuyện người đời thêu dệt cho vui. Nhưng quả thật Nguyễn Nhược Pháp là một trong những nhà thơ lớn của chúng ta. Chỉ nguyên bài thơ Đi Chơi Chùa Hương đủ để ông trở thành bất tử.
Giai thoại thứ hai người ta kể lại là ông Nguyễn Văn Vĩnh đáp một chuyến tàu thủy từ Sài Gòn ra Hà Nội. Thuyền trưởng của chiếc tàu này là một người Pháp. Chuyện trò với ông Vĩnh sau suốt chuyến đi, khi về tới Hà Nội, bắt tay từ giã, vị thuyền trưởng đã hỏi ông Vĩnh thực ra “ông là Tây hay là Ta” [người Pháp hay người Việt Nam?].
Nhân đây cũng cũng xin nhắc lại một câu của ông Phan Khôi, khi còn viết cho tờ báo Phụ Nữ ở miền Trung, đại ý, không thể nhớ nguyên văn: “Có những kẻ, chữ a không biết, chữ b cũng không, lại dám gọi ông Quỳnh ông Vĩnh bằng thằng”
Đây là cả một câu chuyện sống động, mãnh liệt, sắc bén như răng cưa, tàn bạo, lãng mạn, cuồng nhiệt, mang dấu hằn của hai khuôn mặt nữ, và của ngọn lửa đời quất mạnh. Phiêu lưu, thành công, thất bại, thiếu thời, án tiết, cuốn sách đầu tay, Papillon đã nói tất cả những gì cần nói.
Một người kể chuyện tài tình đã viết ra câu chuyện kỳ lạ của một người bước ra khỏi nơi tù đày ở vùng nhiệt đới với một gói quần áo trên tay, đã trải qua nhiều mưu mô, nhiều ngây ngô, nhiều tình thương, nhiều can đảm và nhiều tiếng cười vang để đến Ba Lê với một cuốn sách trên tay. Một thành phố Ba Lê đã thừa nhận con người tài hoa ấy trước mặt thế giới sau khi đã gạch tên bốn mươi năm trước.
Sàigòn, mùa thu năm 1974
NHÀ XUẤT BẢN
Những Bước Chân Tự Do Đầu Tiên
– THÔI chúc các anh may mắn! Từ giờ phút này, các anh được tự do. Vĩnh biệt các anh.
Viên sĩ quan của ngục thất El Dorado quay lưng lại chúng tôi sau khi đưa tay lên chào.
Vứt bỏ xiềng xích đã mang nặng suốt mười ba năm, không phải là chuyện dễ. Tay đỡ Picolino, tôi bước trên con đường dốc chạy dài từ bờ sông, nơi viên sĩ quan chào chúng tôi, đến ngôi làng El Dorado. Giờ đây, vào năm 1971, đúng ra là đêm 18 tháng 8, dưới mái nhà cổ xưa Tây Ban Nha, tôi nhớ lại thấy tôi đi trên con đường sỏi, và không những tôi nghe thấy tiếng nói của viên sĩ quan vang vọng vừa trầm vừa trong bên tai tôi, mà tôi còn có một cử chỉ như cách đây hai mươi bảy năm: tôi quay đầu lại.
Giờ này, đêm đã khuya, ngoài kia trời tối đen. Thế nhưng, không. Đối với tôi, chỉ đối với tôi mà thôi, mặt trời chói chang bây giờ là mười giờ sáng và tôi đang nhìn ngắm đôi vai đẹp nhất, vòng lưng đẹp nhất chưa từng thấy. Vòng lưng của người cai ngục, đi xa dần, và từ giây phút ấy, đã chấm dứt sự canh gác, sự rình rập từng ngày, từng đêm, từng phút, từng giây trong mười ba năm không bao giờ lơi lỏng.
Tôi liếc nhìn lần cuối giòng sông, qua đôi vai người cai ngục, tôi liếc nhìn, lần cuối hòn đảo ngục thất giữa sông, tôi liếc nhìn lần cuối dĩ vãng ghê gớm mười ba năm đằng đẵng, mười ba năm bị người ta chà đạp, nhục mạ, nghiền nát.
Trên giòng sông, trong sương mù, từ mặt nước hực nóng không khí vùng nhiệt đới, nhiều hình ảnh đang tụ lại như trên một màn ảnh để tôi nhìn lại đoạn đường đã đi. Tôi khước từ dự kiến cuốn phim ấy, tôi nắm cánh tay Picolino quay lưng lại màn ảnh kỳ lạ ấy rồi bằng những bước nhanh nhẹn tôi lôi Picolino đi, sau khi hất hai vai để dứt khoát trút bỏ đống bùn quá khứ.
Tự do? Nhưng ở đâu? Trong một góc thế giới, ở tận cùng vùng cao nguyên xứ Guyane thuộc Venezuela, tại một làng nhỏ nằm giữa rừng già dày đặc nhất chưa từng thấy. Đó là mũi đông nam của quốc gia Venezuela, gần biên giới Ba Tây, một đại dương xanh lục mênh mông, đây đó rải rác nhiều thác nước của các con sông, con suối và lác đác, như trong thời tiền sử, những thôn xóm xúm xít chung quanh một đền thờ, ở đó vị mục sư khỏi cần phải thuyết giảng tình thương và đời sống bình dị, vì các đức tính ấy đã luôn luôn có sẵn. Thường ngày có những chuyến xe hàng nối liền các thôn xóm ấy với những thôn xóm khác cũng heo hút như vậy. Người ta không thể hiểu làm thế nào các chiếc xe hàng ấy đến nơi này được. Trong cách sống, cách suy tư, cách yêu thương, những con người giản dị và thơ mộng ấy sống như người ta đã sống bao thế kỷ, một cuộc sống thanh khiết, không hề bị văn minh làm ô nhiễm.
Sau khi đã leo hết con dốc để đi trên đồi có làng El Dorado, chúng tôi dừng lại rồi chậm rãi, rất chậm rãi bước lần tới. Tôi nghe Picolino thở và cũng như nó, tôi hít rất mạnh không khí vào tận đáy buồng phổi để thở ra nhè nhẹ, y như là tôi sợ sống quá mau những giây phút kỳ diệu ấy, những giây phút tự do đầu tiên.
Bình nguyên trải rộng trước mặt chúng tôi, hai bên có những mái nhà nho nhỏ sạch sẽ đầy hoa.
Bọn con nít trông thấy chúng tôi, biết ngay chúng tôi từ đâu đến. Không có thái độ thù ghét, thân mật là khác, chúng đến gần và lặng lẽ đi cạnh chúng tôi. Hình như chúng hiểu rõ giây phút nghiêm trọng này nên không quấy rầy chúng tôi.
Ngay trước ngôi nhà đầu tiên, một bà da đen to béo bán cà phê và bánh tráng bắp trên một chiếc bàn gỗ.
– Chào bà.
– Chào các ông.
– Bà cho hai cà phê.
– Vâng.
Rồi bà to béo hiền từ bưng ra hai tách cà phê tuyệt ngon; chúng tôi uống đứng vì không có ghế.
– Xin bà tính tiền.
– Thôi khỏi.
– Sao vậy?
– Tôi sung sướng được đãi các anh tách cà phê đầu tiên của tự do.
– Cảm ơn bà. Mấy giờ thì có xe đò?
– Bữa nay là ngày lễ, không có xe đò, nhưng đến mười một giờ sẽ có một chuyến cam nhông.
– Vậy hả? Cảm ơn bà.
Một cô gái có đôi mắt đen và nước da ngăm ngăm bước ra.
Nàng mỉm cười nói:
– Mời các anh vào nhà ngồi chơi.
Chúng tôi đi vào và ngồi với độ mười người đang uống rượu rum.
– Tại sao lưỡi của bạn anh lè ra?
– Nó bệnh.
– Có thể chữa được không?
– Không thể được, nó bị bại. Phải vào bệnh viện.
– Ai cho nó ăn?
– Tôi.
– Em của anh phải không?
– Không, bạn tôi.
– Này, anh Pháp, anh có tiền không?
– Ít lắm. Tại sao anh biết tôi là người Pháp.
– Ở đây việc gì người ta cũng biết. Từ hôm qua, chúng tôi đã biết các anh sẽ được thả ra. Chúng tôi cũng biết anh đã trốn khỏi đảo Quỉ Sứ và cảnh sát Pháp lùng bắt anh để nhốt lại. Nhưng cảnh sát Pháp không đến đây tìm anh vì không chỉ huy ở đây. Chính chúng tôi sẽ che chở cho anh.
– Tại sao?
– Bởi lẽ…..
– Anh muốn nói gì?
– Này, uống một ly rượu rum và cho bạn của anh một ly.
Một thiếu phụ trạc ba mươi tuổi, màu da hơi đen, cất tiếng nói. Nàng hỏi tôi đã có vợ chưa? Chưa. Cha mẹ tôi còn sống không? Chỉ còn cha.
– Ông cụ chắc bằng lòng khi được biết anh ở Venezuela?
– Đúng vậy.
Một anh da trắng cao gầy, đôi mắt ốc bươu, nhưng khả ái, nhắc lại:
– Người bà con tôi không thể nói tại sao chúng tôi che chở cho anh. Nhưng tôi, tôi sẽ nói cho anh rõ. Bởi lẽ trừ phi người ta điên và như vậy thì không thể làm gì được, chứ người nào cũng biết ăn năn và trở nên tốt nếu được giúp đỡ. Đó là lý do anh được che chở ở xứ Venezuela; chúng tôi thương người và nhờ Chúa, chúng tôi tin vào con người.
– Tại sao anh biết tôi bị giam ở đảo Quỉ Sứ?
– Chắc hẳn là vì một tội nặng lắm! Có lẽ anh đã giết người hoặc đã phạm tội trộm quan trọng. Anh bị án phạt bao nhiêu năm?
– Khổ sai chung thân.
– Ở đây, hình phạt tối đa là ba mươi năm. Anh ở được bao lâu?
– Mười ba năm. Nhưng bây giờ tôi được tự do rồi.
– Anh nên quên tất cả chuyện ấy đi. Nên quên mau chừng nào hay chừng ấy những khổ nhục anh đã chịu ở các nhà giam Pháp và ở xứ El Dorado này. Hãy quên đi, bởi vì nếu anh còn nhớ, bắt buộc anh phải căm thù người đời và có lẽ anh sẽ ghét họ. Chỉ có quên mới giúp anh trở lại thương họ và sống với họ. Hãy lấy vợ gấp. Đàn bà xứ này rất hăng, tình yêu của người ý trung nhân của anh sẽ cho anh hạnh phúc và con cái sẽ giúp anh quên những đau khổ trong dĩ vãng.
Xe cam nhông đã đến. Tôi cảm ơn mọi người và bước đi, một tay đỡ Picolino. Độ mười hành khách ngồi trên các ghế dài, sau phòng lái. Những người bình dân ấy đã có nhã ý nhường cho chúng tôi hai chỗ tốt nhất trong phòng lái, cạnh tài xế.
Ngồi trên chiếc cam nhông nhảy như điên trên con lộ xấu đầy lồi lõm, tôi suy nghĩ đến dân tộc Venezuela kỳ lạ. Bác ngư phủ ở vịnh Paria, cũng như các binh nhì ở El Dorado, cũng như người dân dã tầm thường nói chuyện với tôi dưới căn nhà bằng đất lợp rạ vừa rồi, không ai có học hết. Họ chỉ mới biết đọc và biết viết. Thế tại sao họ có tình nhân ái thiên chúa giáo, tại sao tâm hồn họ cao thượng, sẵn sàng tha thứ những người đã phạm lỗi? Làm thế nào họ có thể tìm ra những lời lẽ tế nhị thích nghi, tình nguyện giúp đỡ một cựu tù nhân khổ sai bằng những câu khuyên bảo và bằng những gì thô thiển họ có? Tại sao những người chỉ huy ở ngục thất El Dorado, từ các sĩ quan đến viên giám đốc là những người có học, lại cùng chung với người dân thường một ý nghĩ dành một cơ hội may cho người hư hỏng, không kể người ấy là thế nào và không kể tội phạm nặng đến mức nào? Đức tính ấy không do người Âu Châu truyền lại mà phải do người da đỏ. Dù sao, Papillon ơi, mày nên bái phục họ.
Chúng tôi đến Callao. Một công trường rộng lớn, tiếng nhạc tưng bừng. Đúng rồi, nay là ngày mồng 5 tháng 7, lễ quốc khánh. Mọi người y phục chỉnh tề, vẫn đám quần chúng ăn mặc sặc sỡ của miền nhiệt đới, với đầy đủ màu da chen lấn nhau: đen, vàng, trắng và màu đồng của người da đỏ, chủng tộc này rất dễ nhận ra vì cặp mắt có hơi xếch lên và màu da sáng hơn. Tôi và Picolino cùng với một ít người hành khách bước xuống xe. Một thiếu nữ cũng từ chiếc cam nhông xuống, đến gần tôi, nói: “Anh khỏi trả, xong rồi”. Người tài xế chúc chúng tôi được may mắn rồi chiếc xe lại chạy. Một tay mang gói đồ nho nhỏ, tay kia được ba ngón tay còn lại của Picolino nắm chặt, tôi nghĩ đến chuyện phải làm gì đây. Tôi có một ít bảng Anh và vài trăm bạc Venezuela, do những người học toán ở ngục thất El Dorado tặng. Thêm vài hột xoàn nguyên chất đã tìm thấy trong các trái cà tại vườn rau tôi trồng ở đó.
Người thiếu nữ vừa bảo tôi khỏi trả tiền, hỏi tôi đi đâu, tôi đáp tôi định tìm một chỗ trọ nho nhỏ.
– Hãy đến nhà tôi trước, sau rồi sẽ hay.
Chúng tôi đi theo nàng, băng qua công trường và không quá hai trăm thước, đến một con đường đất hai bên có nhà thấp, bằng đất sét, lợp rạ, tôn hoặc thiếc. Chúng tôi dừng lại trước một căn nhà.
– Mời các anh vào, nhà này là của các anh, người thiếu nữ nói. Nàng độ mười tám tuổi.
Nàng để chúng tôi đi trước. Một căn phòng sạch sẽ, nền đất, một chiếc bàn tròn, vài cái ghế, một người đàn ông trạc bốn mươi, tóc đen láng, tầm vóc trung bình, màu da như con gái của ông, màu gạch tươi, đôi mắt người da đỏ. Lại có ba cô con gái khoảng 14, 15 và 16 tuổi.
– Thưa ba, các em ơi, đây là những khách lạ… chị mời về nhà. Họ vừa từ nhà lao El Dorado ra và không biết đi về đâu. Xin ba và các em tiếp đón họ đàng hoàng.
Ông bố nói:
– Mừng các anh mới đến. Và ông lặp lại câu nói thông dụng: Nhà này là của các anh. Mời các anh ngồi quanh bàn này. Chắc các anh đói rồi. Cà phê hay rượu rum?
Tôi không từ chối vì sợ phật lòng chủ nhân nên bằng lòng dùng cà phê. Nhà trông sạch sẽ, nhưng vì đồ đạc đơn sơ nên tôi đoán họ nghèo.
– Cháu Maria đưa các anh đến đây là trưởng nữ của tôi. Nó thay thế mẹ nó đã bỏ chúng tôi đi theo một người tìm vàng cách nay năm năm. Tôi muốn tự tôi nói chuyện ấy trước khi các anh biết do thiên hạ nói.
Maria bưng cà phê ra. Bây giờ tôi có thể nhìn nàng kỹ hơn vì nàng vừa ngồi gần ông thân sinh nàng, ngay trước mặt tôi. Ba cô em đứng sau lưng nàng. Các cô ấy cũng quan sát tôi. Maria là một cô gái miền nhiệt đới. Nàng có đôi mắt đen mở to, hơi xếch lên. Tóc uốn từng lọn, đen huyền, rẽ giữa xổ xuống vai. Nét mặt thanh tú và tuy màu da không bóng và màu ngả đồng khiến người ta nghĩ đến giòng máu da đỏ, nàng vẫn không có nét gì của dân tộc Mông Cổ. Miệng nàng khêu gợi với hàm răng tuyệt đẹp. Đôi lúc nàng lè đầu lưỡi hồng tươi ra. Nàng mặc một chiếc áo trắng có hoa, cổ áo rộng để hở hai vai và phía dưới đôi nhũ hoa được che bằng một chiếc xu-chiêng ẩn hiện dưới lần áo. Chiếc áo, chiếc váy đen và đôi giày gót bằng là những trang phục ngày lễ hôm nay. Đôi môi mọng đỏ, một màu đỏ tươi, và hai đường bút chì ở mi mắt càng khiến cặp mắt trở thành mênh mông.
Nàng giới thiệu người em út.
– Đây là Esmeralda (Ngọc Bích). Người ta gọi tên nó như vậy vì mắt nó xanh. Còn em này là Conchita và em kia là Rosita vì nó giống một hoa hồng. Nước da nó lợt hơn chúng em và đụng một tí là đôi má nó ửng hồng. Bây giờ anh đã biết cả nhà rồi. Ba em tên José. Tất cả năm người trong gia đình em họp thành một, vì tim của mọi người cùng đập theo một nhịp. Còn anh, anh tên gì?
– Henri.
– Anh ở tù lâu không?
– Mười ba năm.
– Tội nghiệp, chắc anh khổ nhiều.
– Vâng, nhiều lắm.
– Ba ơi, anh Henri sẽ làm được việc gì ở đây?
– Ba chưa biết. Anh có nghề gì không?
– Không.
– Vậy anh đến mỏ vàng, người ta sẽ có việc làm cho anh.
– Còn bác, bác làm gì?
– Tôi ấy hả? Không làm gì hết. Tôi không đi làm vì người ta trả lương tồi lắm.
Kỳ thật! Quả là họ nghèo, nhưng họ ăn mặc sạch sẽ. Không lẽ tôi hỏi bác làm gì để đủ sống, thay vì đi làm, bác có đi ăn trộm không! Nên chờ xem.
Maria nói: Henri, đêm nay anh ngủ lại ở nhà đây. Có một phòng trước kia dành cho chú em. Chú em đi rồi, anh có thể thay vào chỗ ấy. Chúng em sẽ săn sóc cho cái anh bị bệnh, trong lúc anh đi làm. Xin anh đừng nói cảm ơn, vì không ai cho anh gì hết. Đó chỉ là một phòng không người ở.
Tôi không biết nói sao. Maria đứng lên, tôi để cho nàng lấy gói đồ của tôi, các cô em theo nàng đi lại cửa phòng. Maria đã nói dối, căn phòng có người ở vì các cô ấy lấy đồ đạc quần áo phụ nữ đem đi chỗ khác. Tôi làm như không thấy gì hết. Không có giường, nhưng vậy càng tốt, như hầu hết tại vùng nhiệt đới: hai chiếc võng bằng len khá tốt. Một cửa sổ quay ra một vườn chuối.
Nằm đu đưa trên võng, tôi khó tưởng tượng việc đã xảy đến cho tôi. Ngày tự do đầu tiên sao mà dễ dàng quá! Quá dễ dàng. Tôi có một phòng ngủ không mất tiền và có bốn cô gái trẻ đẹp canh chừng cho Picolino. Tại sao tôi để người ta dìu dắt như một đứa con nít vậy? Tại sao vậy? Đành rằng tôi ở cuối thế giới, nhưng có lẽ tôi để người ta dìu dắt như vậy là vì tôi bị tù quá lâu, nên chỉ còn biết tuân theo người khác. Bây giờ được tự do, phải tự mình quyết định lấy công việc, tôi để người ta dẫn dắt. Y như một con chim vừa sổ lồng không còn biết bay nữa. Nó phải tập bay trở lại.
Tôi ngủ, không muốn nhớ đến dĩ vãng, như người dân quê ở El Dorado đã khuyên tôi. Trước khi ngủ, chỉ còn mỗi ý nghĩ: lòng hiếu khách của những người này thật là một điều lạ lùng và kỳ diệu.
Tôi vừa điểm tâm bằng hai trứng chiên, hai quả chuối chiên và một miếng bánh mì. Maria đang ở trong phòng rửa ráy cho Picolino. Một người đàn ông vừa xuất hiện ở ngưỡng cửa. Nơi thắt lưng có đeo một chiếc liềm.
– Người hiền hòa, hắn nói, và đó là một lời tự giới thiệu mình là một người bạn.
– Chú muốn gì? Ông José hỏi, ông vừa ăn sáng với tôi.
– Ông chỉ huy cảnh sát địa phương muốn gặp những người ở Cayenne.
– Chú đừng nên gọi họ như vậy. Gọi họ bằng tên đi.
– Vâng. Họ tên gì?
– Anh Henri, mời anh đi theo tôi. Tôi là cảnh sát, ông chỉ huy trưởng bảo tôi đến tìm anh.
Maria ở buồng bước ra nói:
– Người ta định làm gì anh ấy? Tôi đi với anh. Hãy chờ tôi mặc áo.
Vài phút sau, Maria đã xong. Bước ra đến đường phố, nàng nắm tay tôi. Ngạc nhiên, tôi nhìn nàng và nàng mỉm cười với tôi. Không bao lâu, chúng tôi đến cuộc cảnh sát. Các nhân viên cảnh sát khác đều mặc thường phục, trừ hai người vận sắc phục, nơi thắt lưng có đeo liềm. Trong một căn phòng đầy súng trường, một người da đen đội nón có lon. Ông ta hỏi tôi:
– Người Pháp là anh phải không?
– Vâng.
– Còn người nữa đâu?
– Anh ấy bệnh, Maria nói.
– Tôi là chỉ huy trưởng cảnh sát, tôi sẽ lo cho anh và sẽ giúp anh nếu cần. Tôi là Alfonso. Ông ta chìa tay cho tôi bắt.
– Cảm ơn ông. Tôi tên Henri.
– Anh Henri, ông chỉ huy hành chánh muốn gặp anh. Maria, cô không vào được, ông ta nói thêm khi thấy nàng muốn đi theo tôi.
Tôi đi vào phòng kế bên.
– Chào anh Pháp. Tôi là chỉ huy hành chánh. Mời anh ngồi. Anh bị an trí ở đây, tại xứ Callao, tôi cho mời anh đến để được biết mặt vì tôi có trách nhiệm đối với anh.
Ông ta hỏi tôi định làm gì, tôi muốn đi làm ở đâu. Nói chuyện một hồi rồi ông nói: “Bất cứ cần việc gì, anh cứ đến gặp tôi, tôi sẽ giúp anh tổ chức cuộc sống tốt chừng nào hay chừng ấy”.
– Xin cảm ơn ông.
– À, còn chuyện này nữa. Tôi cần tin anh biết anh ở nhà các cô gái rất dễ thương và rất lương thiện, nhưng ông bố các cô ấy, ông José, là một tay gian hùng. Thôi chào anh.
Maria ở bên ngoài, nơi cửa vào cuộc cảnh sát, thái độ của nàng như người da đỏ khi chờ đợi, bất động, im lặng. Nhưng Maria không phải người da đỏ. Dù sao, với một ít giòng máu xa xưa lưu lại, nguồn gốc chủng tộc cũng bộc lộ. Quàng tay tôi, nàng cùng tôi đi ngang qua suốt ngôi làng, và chúng tôi đi một con đường khác để về nhà.
– Ông chỉ huy hành chánh hỏi gì anh vậy? Maria thân mật hỏi tôi.
– Không. Ông ấy bảo tôi có thể trông cậy nơi ông để giúp đỡ tìm công ăn việc làm và trong trường hợp tôi bị phiền phức.
– Anh Henri, giờ đây anh không cần ai hết, bạn anh cũng vậy.
– Cảm ơn Maria.
Chúng tôi đi qua trước bàn một người bán hàng rong, bán các thứ trang sức cho đàn bà: kiềng, vòng, hoa tai, trâm, vân vân…
– Kìa, nhìn mấy thứ đồ kia.
– Vâng, xinh quá!
Tôi đưa nàng đến trước chiếc bàn, tôi chọn cây kiềng đẹp nhất và những chiếc hoa tai cùng một kiểu với ba cây kiềng khác cho ba cô em. Những đồ trang sức rẻ tiền ấy, tôi đã trả ba mươi đồng bạc bằng một tờ giấy trăm. Nàng liền đeo kiềng và hoa tai. Đôi mắt đen lớn sáng lên vì sung sướng và thầm cảm tạ tôi, y như là nàng nhận những nữ trang quí giá.
Chúng tôi về đến nhà, ba cô con gái vui khi nhận quà tặng. Tôi vào buồng của tôi. Tôi cần suy nghĩ một mình. Gia đình này đã cho tôi trọ một cách cao thượng lạ thường. Dù vậy, tôi có nên nhận hay không? Tôi có một ít tiền, chưa kể một số hột xoàn. Với số vốn liếng ấy, tôi có thể sống không lo lắng trong hơn bốn tháng và chữa trị cho Picolino.
Các cô gái đều đẹp và giống những cành hoa miền nhiệt đới có lẽ rất nồng thắm, đa tình, sẵn sàng dâng hiến dễ dàng, không tính toán, không suy nghĩ nhiều. Hôm nay tôi trông thấy Maria nhìn tôi âu yếm. Tại sao phải chống lại tất cả những quyến rũ ấy? Tốt hơn hết là nên đi khỏi mái nhà hiếu khách này, tôi không muốn vì yếu đuối, đem đến cho người ta những điều phiền phức và đau khổ. Maria chưa đến mười tám tuổi và các em nàng lại ít tuổi hơn nữa. Thiết tưởng tôi nên đi. Nên để Picolino lại nhờ họ săn sóc, dĩ nhiên là sẽ trả một số tiền thù lao.
– Thưa bác José, tôi muốn nói chuyện riêng với bác. Mời bác đi uống một ly rượu rum ở quán cà phê nơi công trường.
– Vâng. Nhưng đừng gọi tôi bằng bác. Gọi tôi bằng José và tôi sẽ gọi anh bằng Henri. Chúng ta đi. Maria. Ba với Henri đi ra ngoài công trường một lúc.
Maria nói:
– Anh Henri, thay áo đi, áo anh không được sạch.
Tôi đi vào buồng thay áo. Trước khi chúng tôi đi, Maria nói với tôi: “Anh Henri, không nên ở lâu và nhất là đừng uống quá chén”. Rồi bất ngờ, không kịp tránh né, nàng đã lẹ làng hôn trên má tôi. Ông bố bèn cười và nói:
– Con nhỏ Maria đã mê anh rồi đó.
Trên đường đi đến quán nước, tôi bắt đầu nói:
– Anh José, anh và gia đình anh đã cho tôi trọ trong ngày tự do đầu tiên của tôi, tôi cảm tạ vô vàn. Tôi gần bằng tuổi anh, tôi không muốn cư xử không tốt đối với lòng hiếu khách của anh. Là đàn ông, hẳn anh hiểu rằng sống cạnh các cô con gái của anh, rất khó cho tôi không mê một trong các cô ấy. Thế nhưng tuổi tôi gấp đôi tuổi cô chị cả và tôi đã có vợ chính thức bên Pháp. Chúng ta hãy cùng nhau uống một vài ly rồi anh đi với tôi đến một nhà trọ không đắt tiền lắm. Tôi có tiền để trả.
– Anh Pháp, anh là người quân tử, José nhìn thẳng vào mắt tôi nói. Đưa tay đây tôi siết thật chặt đi, như siết tay một người anh em, để cảm ơn những lời anh vừa nói với một kẻ bần cùng như tôi. Anh biết không, ở đây có lẽ không giống như ở xứ anh. Hầu như không ai có vợ có chồng một cách chính thức. Hai người thích nhau, làm tình với nhau, và nếu có đứa con thì sống chung với nhau. Người ta kết hợp dễ dàng cũng như dễ dàng thôi nhau. Khí hậu ở xứ này nóng bức, thế nên đàn bà rất hăng. Họ khao khát tình yêu, thú vui nhục dục. Họ lớn trước tuổi. Maria là một biệt lệ vì nó chưa có cuộc phiêu lưu tình ái nào, tuy nó đã mười tám tuổi. Tôi nghĩ rằng luân lý ở xứ anh hơn luân lý của xứ tôi, ở đây có biết bao nhiêu là đàn bà có con không cha, cho nên đã sinh ra một vấn đề nghiêm trọng. Nhưng biết làm sao? Chúa đã bảo phải thương nhau và phải có con! Đàn bà xứ này không tính toán, trong khi dâng hiến cho một người đàn ông, họ không nghĩ đến chuyện tìm một địa vị. Họ muốn yêu và được yêu, thế thôi, một cách rất tự nhiên, không hơn không kém. Khi anh còn thỏa mãn họ về phương diện tình dục, họ trung thành với anh. Về sau, đó là chuyện khác. Thế nhưng, họ là những người mẹ gương mẫu hy sinh cho con đến cùng, đến khi chúng có thể kiếm ăn được, họ vẫn nuôi dưỡng chúng. Tuy biết anh sẽ luôn luôn bị quyến rủ, nhưng một lần nữa tôi yêu cầu anh cứ ở lại đây. Tôi sung sướng được có một người đàn ông như anh ở trong nhà.
Có người vào trong quán trước khi tôi trả lời. Đây vừa là một quán nước, vừa là một tiệm chạp phô. Độ mười người ngồi xuống. Người ta uống rượu rum trộn với coca cola. Nhiều người đến bắt tay tôi và chúc mừng tôi vừa đến làng họ. Mỗi lần bắt tay, José giới thiệu tôi như một người bạn ở nhà ông ta. Mọi người uống khá nhiều rượu. Khi tôi bảo tính tiền, José nổi giận. Ông nhất định trả. Tuy thế tôi cố gắng để cho chủ quán từ chối tiền của ông và nhận của tôi.
Có người sờ vào vai tôi, chính là Maria.
– Về nhà đi anh, đến giờ ăn trưa rồi. Đừng nên uống nữa, anh đã hứa với em không uống nhiều.
Bây giờ nàng xưng hô anh em với tôi.
José đang bàn cãi với một người khác, nàng không nói gì với ông, nàng nắm tay tôi kéo ra ngoài.
– Thế còn ông già em?
– Kệ ông. Khi ông uống em không thể nói gì với ông và không bao giờ em đến quán rượu tìm ông. Vả lại, ông không thích như vậy.
– Thế tại sao em đến tìm anh?
– Anh thì khác, Henri, ngoan đi anh, về với em.
Ánh mắt nàng sáng ngời, nàng nói câu vừa rồi hết sức dịu hiền nên tôi cùng nàng đi về nhà.
– Anh đáng được thưởng một chiếc hôn, nàng nói lúc đến nhà. Rồi nàng để đôi môi lên má tôi, quá gần miệng.
José về sau, khi tất cả chúng tôi đã ăn xong. Trong khi ăn, cô em nhỏ nhất giúp Picolino bằng cách đưa thức ăn từng miếng nhỏ.
José ngồi vào bàn ăn một mình. Ông ta như mở đôi cánh, nên nói huyên thiên.
– Các con ơi, Henri sợ tụi bay. Sợ quá đến nỗi anh ấy muốn đi khỏi nhà mình. Ba có nói với anh ấy cứ ở lại, các con gái của ba đủ khôn lớn để ý thức được việc làm của chúng.
Maria nhìn tôi. Nàng có vẻ ngạc nhiên có vẻ thất vọng.
– Ba ạ, nếu anh ấy muốn đi, cứ để anh ấy đi! Nhưng con không tin rằng anh ở nơi nào khác tốt hơn ở đây, nơi mọi người đã mến anh.
Rồi quay sang phía tôi, nàng tiếp:
– Henri, anh đừng nên nhát gan. Nếu anh thích một trong chúng em, và đứa đó cũng thích anh, tại sao anh trốn chạy?
– Vì anh ấy có vợ bên Pháp, ông bố nói.
– Bao nhiêu năm rồi anh không gặp vợ?
– Mười ba năm.
– Chúng em thì chúng em yêu người nào không nhất thiết phải làm vợ người ấy. Nếu có trao thân cho một người nào là vì yêu người ấy, chỉ có thế. Tuy nhiên, anh nói với ba em là anh đã có vợ rồi, đó là một điều hay, như vậy anh không thể hứa hẹn gì với một trong chúng em, ngoại trừ chỉ có yêu mà thôi.
Và nàng bảo tôi ở lại mà không cần cam kết gì hết. Các cô ấy sẽ săn sóc Picolino và tôi sẽ rảnh tay để đi làm. Để cho tôi cảm thấy dễ chịu, nàng bằng lòng cho tôi trả một ít tiền, như tôi ở trong một nhà trọ. Nhận hay không?
Tôi không có thì giờ suy nghĩ kỹ. Tất cả chuyện này quá mới, quá nhanh sau mười ba năm sống trong tù ngục! Tôi nói:
– Maria, anh đồng ý. Như vậy tốt quá.
– Anh có muốn chiều nay em đi với anh đến chỗ mỏ vàng để xin việc làm không? Từ làng đến đó khoảng ba cây số.
– Đồng ý.
Nét mặt và điệu bộ của Picolino chứng tỏ nó rất sung sướng được ở lại đây. Cử chỉ ân cần và săn sóc của các cô gái đã chinh phục được nó, tôi ở lại là vì nó. Bởi vì ở lại thì không bao lâu chắc chắn sẽ có chuyện phiêu lưu tình ái. Thế mà đối với tôi, chuyện ấy không hợp tý nào.
Với những gì tôi có trong đầu óc từ mười ba năm nay, và đã mười ba năm không cho tôi ngủ yên, tôi không thể dừng lại gấp rút như vậy và cắm sào tại ngôi làng ở xa thẳm này chỉ vì một người con gái. Con đường đang chờ tôi còn dài, những giờ phút ngưng nghỉ phải ngắn ngủi. Chỉ cần đủ để thở rồi lên đường trở lại! Bởi lẽ, nếu trong mười ba năm tôi đã tranh đấu cho tự do của tôi, nếu tôi đã dành được tự do, phải có một lý do: trả thù. Viên phó chưởng lý, tên làm chứng gian, bọn cảnh sát, tôi phải thanh toán món nợ với họ! Và điều ấy, không nên quên. Không bao giờ quên.
Tôi ra chỗ công trường. Tôi nhận thấy một cửa hàng với cái tên Prospéri. Đó chỉ có thể là tên một người Corse hay một người Ý. Quả thật, cửa hàng nhỏ ấy là của một người Corse. Ông Prospéri nói rất thạo tiếng Pháp. Ông có nhã ý viết giúp tôi một bức thư cho ông Giám Đốc Công Ty La Mocupia là công ty khai thác mỏ vàng Caratal. Con người tốt bụng ấy còn đề nghị giúp tôi tiền. Tôi cảm tạ về tất cả mọi điều rồi đi ra.
– Papilion, mày làm gì ở đây? Quỉ thần ơi, mày từ đâu rơi xuống đây? Từ cung trăng hả? Mày nhảy dù xuống phải không? Đến đây tao hôn mày nào?
Một gã to lớn, mặt sạm nắng, trên đầu đội chiếc nón lát rộng vành, vừa từ trên một con lừa nhỏ nhảy xuống.
– Mày không nhận ra tao sao? Nó lấy nón xuống.
– Thằng Charlot! Thật tao không ngờ!
Charlot, thằng đã đánh cắp tủ sắt của rạp chiếu bóng Gaumont ở công trường Clichy và tủ sắt nhà ga Batignolles ở Ba Lê! Chúng tôi ôm nhau như hai anh em ruột. Chúng tôi cảm động đến rơi nước mắt. Chúng tôi nhìn nhau.
– Giờ đây công trường Blanche và ngục thất xa xuôi quá rồi bồ ơi! Phải không? Nhưng đồ quỉ, mày ở đâu đến đây? Mày ăn mặc như một ông hoàng và ít già hơn tao.
– Tao vừa ra khỏi El Dorado.
– Mày ở đó bao lâu?
– Hơn một năm.
– Tại sao mày không cho tin tao biết? Nếu biết tao đã lôi mày ra bằng cách ký giấy chịu trách nhiệm về mày. Trời ơi! Tao biết ở El Dorado có nhiều tù khổ sai, nhưng không bao giờ tao tưởng tượng mày cũng ở đó.
– Tụi mình gặp nhau thật là một phép lạ!
– Papillon, không có gì lạ đâu! Trên khắp lãnh thổ xứ Guyane thuộc Venezuela, từ Ciudad Bolivar đến Callao, đầy rẫy những tù khổ sai hoặc tù biệt xứ vượt ngục. Từ vịnh Paria đến đây, là mảnh đất đầu tiên của xứ Venezuela đối với những tên vượt ngục, gặp bất cứ ai không phải là một điều lạ bởi vì tất cả, không sót một ai, đều phải qua đây. Dĩ nhiên là chỉ những người không chết giữa đường. Mày ở đâu?
– Ở nhà một ông tên là José. Ông ta có bốn cô con gái.
– Ừ, tao biết… Ông ta là một người tốt, một người gian hùng. Chúng ta đi đến lấy đồ đạc của mày, tất nhiên là mày đến ở nhà tao.
– Không phải chỉ có một mình tao. Tao có một thằng bạn bị tê bại, tao phải săn sóc nó.
– Không sao. Tao tìm một con lừa cho nó. Nhà tao rộng và có một thiếu phụ da đen sẽ săn sóc cho nó như một người mẹ.
Sau khi tìm ra một con lừa thứ hai, chúng tôi đến nhà các cô con gái. Từ biệt những con người tốt bụng ấy quả là một thảm kịch. Chỉ sau khi hứa với các cô nàng chúng tôi sẽ đến thăm và các nàng có thể đến thăm chúng tôi ở Caratal, các nàng mới nguôi nguôi. Tôi nhắc mãi không biết chán lòng hiếu khách kỳ lạ của người xứ Guyane thuộc Venezuela. Bỏ họ ra đi, tôi cảm thấy xấu hổ.
Hai giờ sau chúng tôi đến “lâu đài” của Charlot như hắn đã gọi. Một ngôi nhà rộng rãi khang trang trên một ngọn đồi nhìn xuống khắp thung lũng chạy dài từ thôn Caratal xuống đến Callao. Ở bên mặt cánh rừng già kỳ diệu ấy là mỏ vàng La Mocapia. Nhà Charlot làm toàn bằng khúc gỗ tròn lấy từ rừng ra. Ba buồng, một phòng ăn khá đẹp và một bếp. Hai phòng tắm trong nhà cộng với một phòng tắm ngoài trời, trong một vườn rau chăm sóc kỹ lưỡng không chỗ chê. Tất cả các loại rau đều xanh tốt. Một chuồng gà hơn năm trăm mái, thỏ, chuột tàu, heo và hai con dê. Tất cả các thứ ấy là gia tài và niềm vui hiện tại của Charlot, một cựu tù nhân khổ sai, cựu chuyên viên về tủ sắt và các vụ cướp toan tính rất kỹ lưỡng.
– Sao, Papillon, mày có thích nhà tao không? Đến nay là bảy năm tao ở đây. Như tao nói với mày ở Callao, bây giờ Montmartre cũng như anh em bạn tù đã xa quá rồi. Có ai tin rằng một ngày nào đó tao bằng lòng với cuộc đời an nhàn bình thản này? Mày nghĩ sao?
– Charlot, tao không biết. Tao vừa mới được phóng thích nên chưa có một ý kiến chính xác. Bởi vì chúng ta hẳn là những kẻ phiêu lưu mạo hiểm, tuổi trẻ của chúng ta có phần xáo trộn. Thế nên… quả là bất ngờ khi thấy mày sung sướng, an phận trong thôn xóm hẻo lánh này. Nhưng có lẽ mày đã tự tay làm lên tất cả và tao cũng thấy đó là cả một nghị lực, một hy sinh hiếm có. Mày thấy không, như tao đây, hiện giờ tao cảm thấy không thể nào làm được như mày.
Sau khi chúng tôi ngồi vào bàn ăn và nhấm nháp một thứ rượu quế hâm nóng, Charlot nói tiếp:
– Papillon, đúng vậy, mày ngạc nhiên là phải. Mày hiểu ngay rằng tao sống bằng sức lao động của tao. Với mười tám đồng bạc một ngày, quả là một cuộc sống khiêm nhường, nhưng có những thú vui của nó. Một gà mái với nhiều gà con, một thỏ mẹ đẻ nhiều con, một bé dê vừa sinh, những trái cà bụ bẫm… Những thứ không đáng kể, chúng ta đã xem thường trong nhiều năm, họp lại đem đến cho tao nhiều thích thú. Kìa! thiếu phụ da đen của tao đó. Conchita! Đây là hai ông bạn. Anh kia đang đau, em cần phải săn sóc cho anh ấy. Anh này là Henri, cũng gọi là Papillon. Một người bạn từ bên Pháp, một người bạn cố tri.
– Xin chào các anh mới đến, người thiếu phụ da đen nói. Charlot, anh đừng lo, các bạn anh sẽ được săn sóc chu đáo, anh sẽ vừa lòng. Em đi sửa soạn buồng cho các anh ấy.
Charlot kể lại câu chuyện vượt ngục tầm thường của nó. Đến ngục thất ở Laurent du Marconi ở được sáu tháng, nó trốn thoát với một tên đồng hương của nó là Simon và một tên tù bị giữ lại sau khi mãn hạn: “Tụi tao được may mắn đến Venezuela ít tháng sau khi nhà độc tài Gomez chết. Dân tộc hào hiệp này đã giúp tụi tao làm lại cuộc đời. Bị an trí hai năm ở Callao, tao ở luôn đó. Mày thấy không, dần dần đời sống bình dị này chinh phục tao. Tao đã mất đi một người vợ trước trong khi sinh nở cùng với một bé gái. Người thiếu nữ Da đen mày thấy đó, Conchita, đã an ủi, đem hạnh phúc đến cho tao bằng một tình yêu chân thật. Còn mày, Papillon? Chắc mày phải tranh đấu cực nhọc lắm, vì mười ba năm, thật là dài. Mày kể tao nghe đi”.
Tôi nói trong hơn hai tiếng đồng hồ, trút hết cho người bạn cố tri ấy tất cả những gì đã chất chứa trong suốt những năm vừa qua. Thật là một đêm kỳ diệu, hai đứa kể cho nhau nghe biết bao kỷ niệm. Một điều lạ là không ai nhắc đến Montmartre, không hề hồi tưởng lại những vụ đánh cướp thành công hoặc thất bại, không đá động gì đến những người cùng nghề vẫn luôn luôn được tự do. Như thể đối với chúng tôi, đời sống bắt đầu từ khi chúng tôi bước chân xuống chiếc tàu La Martinière, năm 1933 đối với tôi và năm 1935, đối với Charlot.
Một đĩa xà lách tươi tốt, một con gà đốt lò, một miếng phó mát sữa dê và một trái xoài ngon ngọt, với một chai rượu chát hảo hạng, tất cả đều được Conchita vui vẻ dọn ra, khiến Charlot cảm thấy bằng lòng đã mời tôi đến nhà. Nó lại đề nghị cùng đi uống thêm một ly rượu ở trong xóm. Tôi bảo với nó ở đây tuyệt quá còn phải đi đâu nữa.
– Cảm ơn bồ! tên Corse ấy nói với giọng Ba Lê. Quả thực ở đây thích hơn. Conchita, em phải tìm cho bạn anh một “vị hôn thê”.
– Vâng, anh Henri, tôi sẽ giới thiệu với anh bọn bạn gái của tôi, những đứa xinh hơn tôi.
– Em là người đẹp nhất, Charlot nói.
– Vâng, nhưng em đen.
– Vì vậy mà em đẹp quá chừng, em Corchita! Em là tinh hoa của chủng tộc em.
Đôi mắt mở lớn của Conchita sáng ngời vì sung sướng và tình yêu. Người ta dễ dàng nhận thấy Charlot là thần tượng của nàng!
Nằm trên giường lớn êm ái, tôi lặng lẽ nghe tin tức đài BBC từ một máy thu thanh trong nhà. Tôi có phần bỡ ngỡ khi trở lại hòa mình trong cuộc sống của thiên hạ. Tôi đã mất hẳn thói quen ấy. Tôi vặn nút máy thu thanh. Nhạc từ Caracas. Tôi không muốn nghe tiếng gọi của đô thị. Ít nữa là đêm nay. Tôi nhanh tay tắt máy và suy nghĩ đến những gì vừa xảy đến cho tôi.
Phải chăng chúng tôi cố ý không nhắc đến những năm chúng tôi đã cùng sống ở Ba Lê? Không. Phải chăng chúng tôi cố ý không nhớ lại những người đồng hội đồng thuyền với chúng tôi may mắn không bị ngã? Cũng không phải. Thế là, phải chăng đối với bọn tù, những gì đã xảy ra trước ngày xử án không còn quan trọng nữa?
Tôi trở qua trở lại trên chiếc giường lớn. Trời nóng bức, chịu không nổi, tôi bước ra vườn. Tôi ngồi trên một tảng đá lớn. Từ chỗ ngồi tôi nhìn xuống thung lũng và mỏ vàng. Bên dưới, sáng trưng. Tôi thấy rõ các xe thổ mộ, chiếc thì đầy, chiếc thì vơi, đi đi lại lại.
Vàng, bằng khối hoặc đã biến thành giấy bạc, vàng từ lòng đất này mà ra, có thể dùng để mua tất cả nếu có được nhiều. Thứ động cơ của thế giới ấy, công khai thác rất rẻ vì nhân công được trả rẻ mạt, là một thứ cần thiết cho một đời sống đàng hoàng. Thế mà Charlot đã bị mất tự do vì ham có nhiều vàng, lại không hề nói đến vấn đề này. Hạnh phúc hiện tại của nó là người thiếu phụ da đen, các súc vật, vườn rau của nó. Tiền bạc nó không đề cập đến. Nó đã trở thành một nhà hiền triết. Tôi hết sức ngạc nhiên.
Tôi còn nhớ trước kia nó bị một tên Paul phản bội, và trong các cuộc nói chuyện ngắn ngủi trong nhà tù ở Ba Lê, nó không ngớt chửi thề, có dịp là nó quyết sẽ chặt thằng ấy ra từng khúc ngay. Đêm hôm ấy, nó không nhắc đến tên đó. Còn tôi – quả là lạ thật! – tôi chẳng hề nói đến bọn cảnh sát, Goldstein hay viên Phó Chưởng Lý. Trời ơi, đáng lẽ tôi phải nói đến bọn ấy. Tôi vượt ngục không phải để trở thành dở công nhân, dở thợ vườn.
Tôi đã tự nguyện tôn trọng xứ sở này và tôi sẽ giữ lời, đồng ý! Nhưng không phải vì vậy mà tôi bỏ ý định trả thù. Bởi lẽ, Papillon ơi, đừng quên ngày hôm nay mày còn ở đây, không phải vì ý định trả thù đã nâng đỡ mày suốt mười ba năm trong ngục thất, mà bởi vì sự trả thù ấy là một nghĩa vụ, không bao giờ mày được từ bỏ nghĩa vụ ấy.
Người thiếu phụ da đen bé nhỏ khá đẹp, nhưng dù sao, Charlot có lẽ hợp với đời sống tại một đô thị hơn là trong vùng hoang địa xa xôi này. Hoặc chính tôi là một thằng ngốc và tôi chưa hiểu rằng cuộc sống của bạn tôi có vẻ đẹp của nó, hoặc có lẽ nó sợ trách nhiệm mà các đô thị nhất thiết sẽ áp đặt cho nó? Để rồi sẽ thấy và sẽ suy nghĩ thêm.
Charlot bốn mươi lăm tuổi, như thế nó chưa già. Rất cao lớn, khỏe mạnh, thân hình của một nông dân xứ Corse đã được sống trong giàu sang và lành mạnh suốt buổi thiếu thời. Nước da sạm nắng, với chiếc nón rơm rộng lớn trên đầu, quả thực nó có dáng rất hách. Đó là mẫu người tiền đạo của vùng đất hoang vu này, nó đồng hóa với người dân và mảnh đất này đến độ nó không phải là một kẻ xa lạ nữa. Trái lại nó hòa hợp hoàn toàn với xứ này.
Con người chưa trở thành kẻ cướp kỳ cựu của khu Monmartre ấy đã sống bảy năm ở đây! Chắc hẳn nó đã ra sức trong hai năm để khai phá khoảnh bình nguyên này và xây cất ngôi nhà. Phải đi vào rừng, lựa gỗ, chặt cây, tải về, đẽo ra. Mỗi một cây kèo của nhà bằng loại gỗ cứng nhất và nặng nhất thế giới, gọi là gỗ sắt. Bao nhiêu tiền nó lãnh ở mỏ vàng đều đổ vào đó hết, tôi đoán vậy, vì nó phải nhờ người ta phụ giúp và trả nhân công, tiền xi măng, giếng nước, máy bơm nước lên hồ chứa.
Người thiếu phụ trẻ đẹp, với đôi mắt đa tình, hẳn là một người bạn tuyệt vời đối với con người giang hồ thấm mệt ấy. Tôi thấy một chiếc máy may để ở phòng lớn. Những chiếc áo dài nho nhỏ vừa vặn quá, có lẽ nàng tự may lấy. Chắc Charlot không phải thanh toán các hóa đơn thợ may.
Vâng, nếu nó không đến ở các đô thị, có lẽ vì nó không tin ở mình, còn ở đây thì nó hưởng một cuộc sống không vấn đề rắc rối. Charlot, mày là một thằng cừ khôi! Mày là hình ảnh của một tên gian hùng hoàn lương. Tao khen mày, nhưng tao cũng khen những người đã giúp mày thay đổi, không phải chỉ cuộc sống mà cả lập trường của mày đối với cuộc đời phải như thế nào hoặc có thể như thế nào.
Dù sao, những người xứ Venezuela cũng thật là nguy hiểm với cách tiếp đãi nồng hậu của họ. Luôn luôn được săn sóc ân cần và thân ái, mình sẽ bị trói cột lại nếu mình buông xuôi. Tôi được tự do, tự do và tôi muốn mãi mãi được tự do!
Papillon, mày hãy coi chừng! Đừng có làm bậy, nhất là đừng lập gia đình! Người ta cần tình yêu khi người ta thiếu tình yêu quá lâu. Cũng may là tôi đã gặp cơn sấm sét đầu tiên ở Georgetown. Cách đây không đầy hai năm, tới gặp Indara, một thiếu nữ Ấn Độ. Ở đó, cuộc đụng độ không quan trọng lắm, vì tôi không đi thẳng từ ngục thất đến, như trường hợp của Charlot! Thế mà Indara rất đẹp, tôi tràn đầy hạnh phúc, nhưng không phải vì vậy mà tôi dừng lại ở Georgetown để sống một cuộc đời yếu đuối. Vả lại một cuộc sống yên lành, dù có êm đềm cũng không phải để dành cho tôi, tôi cảm thấy rõ ràng như vậy.
Phải phiêu lưu, bạn ạ, chính là để thấy mình sống, sống đầy đủ. Vì vậy mà tôi đã rời Georgetown để rơi vào El Dorado. Tuy nhiên cũng vì lẽ đó mà ngày hôm nay tôi ở đây, tại xứ này.
Được rồi. Ở đây con gái đẹp, nóng bỏng, hấp dẫn và chắc chắn tôi không thể sống thiếu tình yêu. Chỉ cần tôi tránh mọi rắc rối. Tôi phải tự hứa ở lại đây một năm, vì tình thế bắt buộc. Càng ít có của riêng, tôi càng dễ dàng từ giã xứ này và từ giã dân tình quá quyến rủ của vùng này. Đúng, tôi là một đứa giang hồ, nhưng có một điểm khác biệt: tôi phải làm ra tiền một cách lương thiện, ít ra là không làm hại người nào hết. Mục tiêu của tôi là: một ngày nào đó, đến Ba Lê để thanh toán món nợ đối với những thằng đã làm tôi khổ nhục quá nhiều.
Hài lòng, mắt tôi tràn ngập ánh trăng sắp lặn sau rừng già, một biển cây đen sì với những ngọn sóng cao thấp không đều nhưng bất động. Tôi trở vào buồng và nằm dài trên chiếc giường rộng lớn.
Ba Lê, Ba Lê! Mi còn xa quá, nhưng quá xa để một ngày trong tương lai ta sẽ dẫm lên con đường nhựa của mi.
Năm hai ngàn không trăm…hồi đó, tôi về Việt Nam vì công việc cho hãng, “tranh thủ” thăm gia đình trong 4 tuần lễ. Tình cờ gặp lại người bạn học cũ, đang làm việc ở Vũng Tàu, rủ ra ngoài đó chơi.. “một cái” cuối tuần.
Cung kính bất như phụng mạng”. Chiều thứ sáu một mình một kiếm, ý quên xin lỗi! nói lộn, một mình một cái trolley tới bến Bạch Đằng, lên tàu cánh ngầm (loại tàu có hai cánh ngắn bên sườn như hai tay con hải cẩu nằm chìm dưới nước, có lẽ dùng để giữ cân bằng cho tàu) ra Vũng Tàu.
Lúc đó là tháng 11, trời trong xanh, nắng “cực đẹp”, không một gợn mây. Lên tàu, được phát cho chai nước suối và một khăn vải ướp lạnh đóng gói trong bao plastic kín, loại recycle đúng tiêu chuẩn vệ sinh (nhưng không bảo đảm vệ sinh, báo chí trong nước đã lên tiếng nhiều về qui trình recycle khăn vải ướp lạnh này), Đạt Lang tui ngồi ngay hàng ghế đầu, thoải mái dựa người vào lưng ghế, theo dõi trên truyền hình một chương trình thi đố có trúng thưởng của VT4. Hơn một tiếng sau, tàu cặp bến, đã thấy thằng bạn đứng chờ trên bờ.
Buổi tối hôm đó, sau một chầu nhậu sương sương ở một quán nhậu cao cấp, có người đẹp (xấu, tùy người đối diện) ngồi tiếp rượu và gỡ thịt cua, bóc vỏ tôm…và đút vào miệng dùm, tôi và thằng bạn xách xe Honda chạy vòng vòng mấy con đường trong thị xã cho giã rượu. Vì uống hơi nhiều bia Tai – Gơ (Tiger), tôi mót đi tiểu quá mà không tìm thấy nhà vệ sinh công cộng, nên đề nghị với tên bạn ghé vô một nhà hàng nào đó có toilette…đi tiểu, rồi ngồi uống tiếp. Bạn tôi cười như ngựa hí:
– Hihihí! Mày muốn đi đái thì tìm con đường nào tối tối rồi tè đại đi. Bày đặt cái “phong cách” văn minh, trưởng giả của…Việt kiều. Đi! Tao chở mày qua chỗ này tha hồ mà “vô tư”…Gì đâu mà đi đái cũng phải tìm cho được nhà vệ sinh là thế nào?
Chưa dứt lời, hắn đã quẹo qua một con đường nhỏ, không có đèn đường nhưng không quá tối nhờ ánh sáng hắt ra từ những căn nhà hai bên đường. Chạy chừng hơn trăm thước, bạn tôi nhanh chóng tấp vào một gốc cây khá lớn trên lề đường, quay lại nói với tôi:
-Đó! Ra sau gốc cây mà tưới cho nó xanh tươi. Cây này trồng từ dạo ủy ban nhăn răng thị xã phát động phong trào “Trồng cây nhớ Bác” đó nghe mày, nhờ những ông thần lưu linh như mày đêm đêm ghé qua chăm sóc nên cũng lớn bộn. Tôi hơi ngượng vì đã chữa dứt bệnh…”đái đường” sau hơn 20 năm sống ở nước ngoài, nhưng vì mót quá nên đành làm theo lời hắn, nhẩy xuống xe đi vào gốc cây.
Tiểu xong đi ra, bụng đã nhẹ, tôi mới thoải mái nhìn quanh và chợt nhận ra không phải chỉ có mình tôi vừa lủi vào gốc cây. Đây đó, rải rác trong bóng tối của con đường có nhiều người vừa làm cái việc giống mình.
Hình minh họa: Bất chấp có bảng cấm, nhiều người vẫn…vô tư.
Ảnh: VNExpress.
Leo lên xe, thằng bạn vừa tống ga chạy đi, vừa hỏi tôi:
-Mày biết con đường đó tên gì không? Tôi ngạc nhiên hỏi ngược lại hắn:
-Không! Sao mày hỏi tao?
Bạn tôi cười cười: -Tên đường đó là BAKU (thủ đô của Azerbaijan). Nhưng tao gọi là đường Thiên cu. Ba cu khỉ gì, bao nhiêu người ra đó đái thì phải cả trăm, cả ngàn…chứ ở đó mà ba.
Tôi bật cười vì câu nói của hắn nhưng đồng thời cũng có chút băn khoăn trong đầu với ý nghĩ: Con người hành xử văn minh nhờ vào những yếu tô nào: Giáo dục, xã hội, môi trường, phương tiên, luật pháp…?
Cũng trong lần về Việt Nam đó, vì nghe đồn (láo) từ lúc còn ở bên Đức, Sàigòn hiện có một tiệm phở rất ngon là Phở Pasteur, nằm cuối đường Pasteur, gần đường Nguyễn thị Minh Khai (Hiền Vương cũ), tôi nhờ một tên bạn học cũ (cũng bạn cũ, bạn mới tìm đâu ra?) chở đi ăn cho biết.
Lúc chúng tôi đến là khoảng 7 giờ tối, tiệm khá đông, mọi người ngồi ăn xì xụp chẳng ai để ý đến ai. Người hầu bàn độ chừng 40 tuổi, nhanh nhẹn, tất bật, chỉ chúng tôi một chiếc bàn tuốt bên trong, gần quầy tính tiền, có mấy người vừa đứng lên chưa kịp dọn:
-Hai anh ngồi đó đi! Tôi tới dọn bàn ngay.
Chúng tôi len lỏi đi qua chỗ thực khách đang ngồi ăn. Vừa ngồi xuống ghế đã thấy người hầu bàn (hầu bàn chứ không phải phục vụ) quay trở lại với một cái khay và chiếc khăn ẩm ướt không lấy gì làm sạch sẽ cho lắm. Anh ta nhanh nhẹn xếp tất cả tô, muỗng, đũa lên cái khay rồi dùng chiếc khăn hất tất cả những gì còn lại trên bàn xuống dưới đất, đoạn lau mấy vòng vội vã cái bàn đầy nước và mỡ.
Bấy giờ tôi mới ngạc nhiên nhìn xuống chân mình và nhận ra khăn giấy, rau ngò, giá, vỏ chanh… đầy trên sàn nhà. Không để ý đến ánh mắt “thể hiện” sự tò mò, dò hỏi của tôi, anh thản nhiên nói:
-Chút nữa tôi quét luôn một thể anh ơi! Đông quá. Chờ dọn dẹp sạch sẽ thì khách người ta đi tiệm khác hết.
Hình minh họa: Ngồi ăn trên đống rác. Ảnh: Báo VNExpress.
Tôi đưa mắt nhìn quanh, mọi người vẫn đang ăn uống ngon lành, chuyện hất rác xuống sàn, kể cả anh bạn tôi hầu như chẳng ai để ý. Tô phở tối hôm đó, dù đang đói và cố gắng lắm, tôi chỉ ăn được một nửa, có lẽ do thói quen trưởng giả…Việt kiều.
Trên đường về nhà, tôi hồi tưởng lại khoảng thời gian từ 1975 đến 1978, nhiều lần vào sáng thứ bẩy, mấy ông, bà tổ trưởng tổ dân phố hay đi kêu gọi mọi nhà cho người đi quét dọn đường phố thực hiện nếp sống văn minh mới, tôi đã lầm bầm chửi:
”- Mẹ! Ăn còn không đủ mà bày đặt văn minh mới với văn minh cũ.”
Văn minh mới là quét dọn đường phố, nhặt rác rến…vậy còn văn minh cũ là gì?
Mja! Cái này thì chịu… “biết… chết liền”.
Lẽ tất nhiên trong một xã hội văn minh, con người chắc chắn phải được giáo dục đầy đủ hơn về xử thế nơi công cộng, nhưng môi trường sinh hoạt chung quanh cũng ảnh hưởng không ít đến cách hành xử của con người.
Từ lúc chế độ cộng sản Việt Nam thay đổi chính sách, mở cửa giao dịch với phương Tây và áp dụng kinh tế thị trường theo định hướng…xã hội chủ nghĩa (tức là tùy sức ép của Mỹ, các nước tư bản và anh láng giềng khổng lồ tham và độc như thịt vịt Bắc Kinh) đây đó không còn những cảnh chen lấn, xếp hàng trước các cửa hàng (thiếu) lương thực, chất đốt (không cháy) bán than (ma) bùn, củi ướt… quốc doanh của nhà nước nữa. Cũng không còn chuyện người bán, xô đẩy, chửi nhau với khách hàng trong lúc…cân, đong, đo, đếm. Quả cũng là một bước tiến… “vĩ đại” của con người xã hội chủ nghiã qua tư bản chủ nghiã. Việt Nam hiện có phát triển kinh tế hàng năm với tỉ lệ 7-8% mà sao nếp sống văn minh mới được kêu gọi thực hiện ngày nào lại thụt lùi thế này. Có lẽ do tàn dư của Mỹ – Ngụy để lại chăng?
Từ nãy tới giờ chỉ nói chuyện văn minh của người Việt mình trong nước mà hổng nhắc chuyện ở hải ngoại, nhất là ở Mỹ là một thiếu sót… “cực lớn” à nghen (lại cũng cực, nhưng chưa đến nỗi…cực khổ). Làm vậy là có đầu óc thiên vị, không “nhất quán”, mang tâm lý nể Mỹ, phục Mỹ rồi…sợ Mỹ. Nhưng họ Thạch tui hổng sống ở Mỹ nên xin nói chuyện ở Đức trước, sau đó sẽ qua tới Mỹ. Đừng nóng nghe qúi vị (hay ca tụng, coi Mỹ như thiên đàng hạ giới, ở Mỹ cái gì cũng nhất, kễ cả tội phạm cướp của, giết người…), từ từ…em nào cũng có.
Nhớ một lần đi ăn trưa trong Kantine (Canteen) với hai anh bạn đồng nghiệp trong sở, một người Đức (chính cống 100% giòng giống Aryan) tên Aaron, một người Thổ (Turkey) tên Kadir. Anh bạn Đức, Aaron đang ăn bỗng nhăn mặt, buông muỗng nĩa xuống cái khay, lẩm bẩm như… khấn tiên sư:
– Es schmeckt mir nicht mehr! (Tôi không thấy ngon nữa!)
Tôi và Kadir ngạc nhiên nhìn anh, anh bạn Thổ, Kadir lên tiếng sau khi nuốt vội miếng cánh gà đang nhai trong miệng (mặc dù là Thổ thế hệ thứ 3 thứ 4, nhưng vẫn chê thịt heo là dơ…như từ thời Mohamed, chỉ ăn thịt bò, gà, trừu…):
– Warum ist es so? Du hast deine Lieblingsspeise gehabt, irgendwas stimmt nicht? (Tại sao vậy?, Bạn đang có món ăn mình thích mà, có gì không ổn?).
Aaron lắc đầu, kín đáo chỉ tay ra dấu cho chúng tôi nhìn lại phía sau. Tôi liếc nhanh về phía sau, trông thấy một anh đồng nghiệp người Việt Nam khác độ ngoài 50 tuổi ngồi sau lưng, đang há hốc miệng, thò tay vào trong dường như để moi thức ăn dính ở răng.
Tôi hơi ngượng, chưa biết trả lời sao thì Kadir cười cười:
– Hast du das zum ersten Mal gesehen? (Bạn mới thấy lần đầu hả?)
Aaron gật đầu, Kadir bật cười lớn nhưng xuống giọng nói nhỏ vừa cho tôi và Aaron đủ nghe:
– Vậy thì may cho bạn là hãng này chỉ có vài người Việt Nam. Trước đây ít năm tôi làm ở một hãng bên miền Đông, có chừng 30-40 người Việt, vào Kantine thấy cảnh này hoài.
Đến lúc đó thì tự ái dân tộc nổi lên, tôi tức quá, đá vào chân Kadir một cái dưới gầm bàn, nói nhỏ nhưng giọng đầy bực bội:
– Vừa thôi bạn! Dân tộc nào chẳng có những thói quen xấu.
Kadir nhìn tôi có vẻ hơi ngạc nhiên:
– Xin lỗi! Tôi không có ý chế nhạo dân tộc bạn. Tôi chỉ nói những điều mình thấy mà thôi.
Tôi không nói gì thêm nhưng bữa ăn trưa trở nên mất vui, không như thường lệ.
Trên đường trở về phòng làm việc, nghĩ mà thấy tức anh đồng nghiệp Thổ “man rợ” hay ăn thịt …Trừu, thứ thịt hôi…điếc mũi nếu không biết cách biến chế, nấu, nướng. Nhưng suy nghĩ cho cùng về những điều nhận xét của Kadir, tôi thấy hắn nói đúng.
Một lần khác vào ăn trong một nhà hàng Maredo ở Frankfurt, loại nhà hàng chuyên bán thịt bò Steak, tôi ngồi gần bàn có 4 người Việt Nam. Họ ăn mặc lịch sự, áo vest, Kravatte.. đàng hoàng…nhưng nói chuyện ồn ào, trong khi ăn lại vừa nói, vừa nhai. Có một người độ chừng 50 tuổi, thỉnh thoảng còn tay dao, tay nĩa chĩa chĩa vào mặt người đối diện khi nói chuyện khiến những người ở các bàn chung quanh quay lại nhìn họ với vẻ khó chịu chen lẫn ngạc nhiên, nhưng họ chẳng lộ vẻ gì để ý đến chung quanh theo kiểu đường ta ta cứ đi, chó …nhìn mặc chó. Lắng nghe những mẫu đối thoại, tôi mới biết 3 người trong họ mới xuất ngoại và qua Đức lần đầu.
Chuyện này xẩy ra ở Đức thì có xấu hổ…chút chút nhưng sẽ trở thành bình thường khi xẩy ra ở Việt Nam hay trong các nhà hàng, khu phố, tiệm buôn đông người Việt ở bên Mỹ như Lion Plaza, Century Mall ở San José hoặc Phước Lộc Thọ ở Santa Ana…
Tại sao? Có phải vì người Việt chúng ta trong cuộc sống chẳng ai để ý đến ai hoặc giả như có để ý đến thì đàn ông chỉ chăm chú nhìn cái xe người khác lái, còn các bà thì nhìn quần áo, nhẫn hột xoàn hay giỏ, xách tay người khác…?
Sự vô ý thức của ta đôi khi làm phiền người khác rất nhiều mà ta không biết. Chính những hành động nhỏ nhặt do thói quen, không để ý đến chung quanh, dễ khiến người khác coi thường chúng ta về phép lịch sự, thể hiện cách hành xử có văn hoá.
Nếu không tin bạn hãy vào trong các khu phố hay nhà hàng nói trên, chịu khó quan sát một chút, sẽ dễ nhận thấy cái không khí tự do, thoải mái, thoải mái đến xô bồ, đặc trưng của dân Việt và Tàu. Trong nhiều nhà hàng ăn, có những người ngồi ăn vắt chân chữ ngũ một cách rất…thư giãn. Thật tôi không thể hiểu là ở thế ngồi như vậy làm sao họ có thể ăn uống ngon lành được? Đã vậy, khi nhai họ không ngậm miệng lại mà cứ há ra như cá mắc cạn đang táp táp không khí để thở vậy. Cũng may là nhà hàng Việt Nam,Tàu, rất ít khi có khách Mỹ hay các nước khác vào ăn ngoại trừ một số ít Mễ.
Đừng nghĩ rằng những cử chỉ lịch sự nhỏ nhặt không quan trọng, nhất là lúc ban đầu. Bạn dễ dàng làm mất thiện cảm người khác chỉ vì một vài cử chỉ hay hành động vô ý không đáng nói. Mà đã mất thiện cảm thì có thể mất thêm nhiều thứ khác nữa.
Tôi nhớ một lần đi với mấy người bạn vào trong một tiệm cà phê ở đường Tully, đâu gần tiệm bánh mì Hương Lan, San Jose, California bên Mỹ. Tiệm thuộc loại cà phê tươi mát, tươi mát thôi chứ không “ôm” (nghe nói ở Mỹ mà ôm lạng quạng không có giấy phép là ngồi bóc lịch như chơi, không biết có đúng không?).
Giá một ly cà phê sữa đá 4 Đô la, cô tiếp viên xinh đẹp, sexy trong một cái Semi Bra hở ngực gần một nửa và một cái Thong ôm cặp mông tròn trĩnh đầy vẻ “cống hiến” bưng ly cà phê đến. Vừa đặt cà phê xuống, cô thọc ngón tay út trái vào ngoáy mũi hai ba lần rồi nhoẻn miệng cười thật tươi. Tôi vừa cảm thấy xuân tình phơi phới vì hình dáng và gương mặt xinh đẹp của cô thì chợt khựng lại, đang định nói đùa vài câu, thả…con dê cho chạy lang thang chợt mất hứng, tôi im lặng cúi xuống ly cà phê của mình. “Will it still be on?”.
Sự tự do, thoải mái đến không cần để ý đến chung quanh của người Việt không những chỉ giới hạn trong nhà hàng, khu shopping, giải trí…mà còn lan rộng ra đến bãi đậu xe, đường phố…Rất nhiều lần tôi thấy trên đường phố San José, những người bị hư xe, đậu chàng hảng giữa đường, không bật signal cho người sau biết xe mình bị hư, thản nhiên mở cửa xe xuống, để cửa mở, móc cell phone ra nói chuyện… tỉnh như ruồi thay vì đẩy xe sát vào lề đường, bật đèn warning. Không biết đây là sự thiếu sót khi học lái, khi cấp bằng hay do vô ý thức? Ở đâu thì không biết, chứ ở Đức mà làm như vậy là chắc chắn bạn sẽ bị bóp kèn inh ỏi và nghe chửi điếc tai, sau đó sẽ bị cảnh sát cho một cái ticket về tội cản trở lưu thông công cộng nếu xe kéo không đến kịp trước khi cảnh sát tới..
Tương tự như thế, thỉnh thoảng trong các tiệm bán thức ăn (không tính trong chợ, vô chợ dù là Mỹ hay Việt mà không “ghết lai” khi tính tiền thì khó coi à nghe) vẫn có những trường hợp riêng lẻ, một vài ông (bà) từ ngoài sồng sộc chạy vào, nhặt một vài món rồi tiến thẳng đến cashier/quầy tính tiền mà không (muốn) nhìn thấy 4, 5 người đang xếp hàng chờ.
Một chuyện khác cũng cần nói đến là lời cám ơn. Cám ơn là lời nói lịch sự cần phải có khi người khác làm điều gì đó cho mình, cho dù ngay cả trong quan hệ mua bán. Người mua cám ơn người bán đã bán cho họ món hàng, và ngược lại người bán cám ơn người mua đã mua hàng cho mình. Đó là phép lịch sự, rất đơn giản nhưng sao có nhiều người Việt Nam dường như không thấy được điều đó.
Rất nhiều lần trong các tiệm Việt Nam, Tàu ở San José hay Santa Ana, San Francisco…mỗi khi mua bán, ăn uống trả tiền xong, nói lời cám ơn tôi ít khi nhận được sự trả lời.
Tại sao? Có phải người Việt chúng ta thiếu văn hóa hay cảm thấy không cần cư xử văn minh, lịch sự với nhau khi không có liên hệ bạn bè, thân thuộc…?
Những cảnh thường gặp trong một xã hội văn minh, tử tế
Thật ra Thạch Đạt Lang tui cho rằng những tính xấu, những thói quen thiếu lịch sự, thiếu văn minh…chủ yếu là do giáo dục, do môi trường xã hội. Ngay đối với các cường quốc kinh tế như Trung Quốc, cường quốc quân sự như Nga, nhiều người Nga, người Hoa quen thói trong nước, khi đi du lịch sang các nước khác cũng bị người dân tại nhiều quốc gia chỉ trích, chê cười vì ứng xử thiếu lịch sự, thiếu văn minh; ngược lại, người dân từ các quốc gia “nhỏ xíu” như các nước Bắc Âu đa phần lại rất văn minh, lịch sự, cũng là do giáo dục, môi trường xã hội, và rộng hơn, do thể chế chính trị dân chủ văn minh, tôn trọng con người mà ra.
Cho nên người Việt sống ở nước ngoài đến thế hệ thứ hai sinh ra, lớn lên ở nước ngoài là đã khác hẳn.
Anh đứng dùng dằng một hồi lâu ở cửa quán cà phê trước khi quyết định đạp lên ga. Vừa gửi chiếc xe đạp xong,
anh đã nghe tiếng kẻng báo tàu đến. Anh vội vã bương người chạy nhanh vào cửa kiểm soát. Đám đông người lố nhố, ồn ào ở toa gần cuối đoàn tàu. Nhiều người gọi tên anh khi thấy anh đến. Anh chen vào đám đông cố tiến đến cửa toa. Tiếng chào, tiếng chúc, tiếng khóc, tiếng dặn dò … chen nhau. Nhiều người giành nhau nói. Những người đàn bà mắt đỏ hoe, ai cũng cố níu lấy thành toa để nhìn vào trong cho rõ. Bà cụ già níu thằng bé mười, mười một tuổi xuống hôn lấy hôn để. Người phụ nữ trong toa cố giữ thân hình thằng bé:
– Mẹ coi chừng. Nó rớt xuống đường sắt bây giờ!
Bà cụ không chịu buông, vẫn ôm cứng thằng bé, khóc:
– Cháu đi rồi biết khi mô gặp lại.
Anh chen ngang qua đám mấy cô nữ sinh mặt đồng phục trắng, tay ôm cặp, đang chụm sát nhau tỉ tê, khóc lóc. Anh nhướng người lên, để cái đầu nhô cao khỏi đám đông, tìm Nhân. Anh vẫy tay khi thấy Nhân nhận ra anh. Nhân la lớn:
– À, Thuận, ông mới đến à? Chào nha. Chúc sức khỏe.
Anh đợi Nhân nói ít điều gì nữa, nhưng Nhân đã quay mặt đi, đáp lời chào của một người khác. Nhân mặc một bộ vét-tông màu sẫm, cổ đeo cà vạt đỏ, mặt mày tươi cười rạng rỡ. Dấu vết của một anh chàng đi xe đạp thồ mười mấy năm chỉ còn phảng phất đâu đó trên khuôn mặt đen sạm và đám tàn nhang lấm tấm quanh mũi. Nhân xoay tới xoay lui trong khoang tàu chật hẹp với vợ con, thân nhân cùng ba tầng giường nằm chồng lên nhau. Khoang bên cạnh cũng diễn ra cùng một cảnh. Anh chàng 40 kia trông bộ có đời sống khá giả hơn vì khuôn mặt mập và nước da trắng.
Anh đến được sát cửa sổ, đưa tay vào khoang bắt tay Nhân:
– Chúc đi mạnh khỏe. À, mà hai cái hồ sơ tôi gửi ông nhớ mang theo đến không?
– Có, có, ông khỏi lo.
Nhân buông tay ra, nhưng anh níu lại, giật giật:
– Rán giúp bạn bè nghe. Qua bên đó, quên thằng bạn khốn khổ này là tội nghiệp lắm. À, một cái gửi thẳng cho bà Khúc Minh Thơ, còn một cái cho “Hội Quân cán chính VNCH”. Cứ gửi cả hai cho chắc.
Nhận gật gật đầu, rồi hấp tấp gọi lớn:
– Thủy, Sương, lên mau. Thôi đủ rồi. Tàu sắp chạy kìa. Ba nói có nghe không, Thủy, Sương?
Hai cô con gái bịn rịn tách khỏi đám bạn học dưới sân ga, leo lên tàu. Anh chen ra khỏi đám đông. Còi tàu hú lớn. Anh nghe giọng Nhân chào từ giã mọi người, nhắc nhở mấy đứa con lẫn trong tiếng thút thít mỗi lúc mỗi lớn của những người đưa tiễn. Tàu chuyển bánh, để lại trên sân ga một đám đông hình như còn bàng hoàng, ngơ ngác với phút tiễn đưa. Một người đàn bà cố chạy theo tàu, giọng kêu khan khàn đứt đoạn: “Cu anh, cu em, cu anh, cu em ơi, bọn bây đi rồi. Cu anh, cu em … “
Thuận đứng lặng nhìn theo đoàn tàu từ từ chạy ra khỏi khu vực ga. Mắt anh cay xè. Thế là thêm một thằng bạn nữa ra đi. Lần lượt, lần lượt, chúng nó lên đường đi về phía tương lai. Anh ở lại, mãi mãi ở lại, như cái rễ cây cằn cỗi cứ phải bám lấy mô đất bạc màu mà sống. Đoàn tàu sắp biến mất ở một khúc quanh đằng khu Nhà Thờ.
Anh nhìn theo, mặt trời nửa buổi sáng loang loáng khiến chiếc tàu mang Nhân đi như sáng rực lên ở phía xa. Anh cúi xuống, bắt gặp ngón chân cái lớn của anh với cái móng dài để lâu chưa cắt, trông tội nghiệp. Anh nuốt nước bọ, cố nén một tiếng thở dài. Anh quay trở ra. Ở chỗ giữ xe trước ga, một đám đàn ông quen có, lạ có đứng lại bàn tán ồn ào.
– Cái thằng Nhân hên thật. Hắn H34 mà lại được gọi “đôn” lên H21.
– Ừ, hắn có bốn năm rưỡi mà lại được “đôn” lên mới lạ chứ. Lẽ ra phải tám năm trở lên mới nằm trong diện RD (*).
– Đúng là bắt được hủ vàng. Nghe nói đang cày ruộng, thì vợ ra báo có giấy gọi đi phỏng vấn, anh ta muốn xỉu luôn. À, Thu, ông H25 há. Cũng gần rồi. Tôi H27 chắc cũng phải tám, chín tháng nữa.
Anh gật đầu chào một người trong đám, rồi đi thẳng đến chỗ gửi xe. Anh nghe loáng thoáng có giọng ai đó hỏi:
“Tay đó có HO gì không? Trông quen quen.” Một giọng khác đáp: “Trung úy Quân nhu, thiếu năm.”
Anh cố xua đuổi cái chữ này ra khỏi đầu óc. “Thiếu năm”, âm thanh vang lên như một lời nguyền rủa đối với số phận. Anh đạp xe đạp về nhà, lòng trĩu nặ g. Con đường Lê Lợi buồn tênh, trống vắng. Cứ mỗi tháng qua đi, thành phố như vơi bớt người. Bọn chúng lần lượt lên đường, lột vỏ, thoát xác. Bạn học, bạn cùng đơn vị, bạn đi buôn, bạn bán số đề, bạn tù … Hôm nay, thằng Nhân ra đi. Tháng sau, thằng Quý đi phỏng vấn. Cuối năm, đến lượt thằng Phương. Có lẽ hè sang năm, bạn bè anh sẽ sạch nhẩn ở cái thành phố nhỏ bé này.
Vừa dựng xe đạp ở góc sân, anh đã nghe tiếng Nhàn, vợ anh:
– Anh uống cà phê kiểu gì lạ vậy. Sáng người ta đến ghi vé mà chẳng biết giấy tờ ở đâu. Lại còn làm “tịch” nữa. Chiều xổ rồi.
Anh nói mà không nhìn vợ:
– Anh tiễn thằng Nhân đi.
Giọng chị bỗng hậm hực:
– Tiễn với đưa! Mắc mớ gì lại phải tiễn với đưa. Mà lại, người ta có cần mình tiễn đưa, tiễn điếc gì. Họ được đi Mỹ, họ sung sướng quá rồi.
Anh lẳng lặng vào nhà, bưng chiếc bàn nhỏ, xấp vé số, bút, giấy ra bày dọn ở trước đường. Chị nói:
– Cất cái chỗ gì mà ác, tìm mãi tìm hoài không ra. Mất ghi cả mấy ngàn đồng.
Anh phân bua:
– Thì phải cất kỹ. Để khơi khơi vậy, lỡ thằng Thú công an khu vực vào nó thấy cho sinh chuyện à? Hôm qua tụi nó “ốp” một tay ở Chợ Cống, tịch thu cả trăm vé số với mấy chục ngàn đồng, em biết chưa?
– Ờ, thì vậy. Nhưng nhà mình nghèo, phải lo mà làm ăn, chứ cứ cà phê, cà pháo với lại “hát ô, hát éo”, mất cả thì giờ.
– Anh định không lên tiễn, nhưng vì có gửi theo nó hai cái hồ sơ, nhờ bà Khúc Minh Thơ can thiệp.
Chị bĩu môi:
– Bày vẽ! Tốn cả xứ tiền làm giấy làm tờ rồi có được cái kết quả gì đâu. Anh học tập tốt quá, nên được về sớm.
Họ học dốt, họ ở lâu năm, giờ họ phải đi. Cái số mình được ở nhà, anh chạy vạy làm chi vừa nhọc cái xác, vừa tốn tiền. Anh im lặng xếp vé số ngay ngắn trên bàn. Giấy tờ dành ghi số đề, anh đút túi. Tịch và những tấm giấy ghi rồi anh cuộn tròn bỏ trong chiếc lon rỉ sét vất lăn lóc trông rất vô tội vạ ở cái bụi cây gần bên. Làm cái nghề “ghi” này, đôi khi ăn cám trả vàng. Công an nó chụp một cái là đi đong cả vốn lẫn lời, lại còn bị kêu lên kêu xuống kiểm điểm, có lúc ở tù. Nên phải hết sức cẩn thận. Anh điểm qua các cặp vé số, cảm thấy hài lòng, vì hồi hôm anh đã lựa toàn số “đẹp”. Số “đẹp” là số gồm những con số khác nhau, nhất là ba con số cuối. Thường thì khách chê những con số đứng gần nhau mà trùng nhau như: 444, 000, 111 … Ai cũng có cảm giác đó là những con số vô cùng khó trúng. Thực ra thì
xác xuất của các con số đều giống nhau. Những lúc ế khách, anh thường ngồi tẩn mẩn đối chiếu các bảng kết quả xổ số để xem thử có tìm ra một qui luật nào của những số trúng không. Anh nhận xét, hầu như những số trúng, tức số “xấu” thường hay xuất hiện. Có lần nguyên số độc đắc lại là sáu
con số chín. Một lát sau, anh nghe tiếng chị ở sau lưng:
– Anh vào ăn sáng đi. Để em xem cho một lát.
Anh nựng con, đặt trên má thằng bé một cái hôn thật mạnh rồi đi vào nhà. Cơm và đồ ăn, chị đậy trong lồng bàn. Anh nghe mùi ruốc kho. Cũng tội, hồi hôm nghe anh kêu thèm ruốc kho, sáng nay chị liền làm cho anh. Anh ngồi trên chiếc chõng tre. Ruồi nhặng luẩn quẩn vì đánh hơi được mùi
ruốc. Căn phòng nhỏ vừa làm phòng khách, vừa làm nhà bếp ngổn ngang đồ chơi, mấy cuốn sách tập đánh vần, nón lá cái chằm xong, cái còn dang dở … Anh cố thu vén, dọn dẹp mãi mà vợ anh và mấy đứa con cứ vẫn bừa phứa, bày biện lung tung. Anh vừa ăn vừa nhìn tấm ảnh nhà binh treo ở góc phòng. Đây là tấm ảnh duy nhất anh còn lại, chụp khi anh vừa được lên Trung úy. Hồi cộng sản mới vào, anh tìm đốt hết, may mà chị vợ tiếc giữ lại một cái để có mà kỷ niệm và sang lại ít cái kèm trong hồ sơ xin xuất cảnh.
Giọng chị vọng vào:
– Xong chưa anh, ra bán số.
Anh hiểu ý, và hết miếng cơm, uống vội hớp nước rồi chạy ra. Khách là một người đàn ông trong xóm, thuộc loại mê những con số. Ông không đánh số nhiều, nhưng lại là chuyên viên đoán điềm giải mộng cho các bà, các cô ghi số đề. Anh hỏi:
– Số mấy, chú?
– 17 đi.
– Sao, đánh may rủi hay có mộng?
– Hồi hôm, mộng thấy rắn cắn. Rắn là ty. Ty thì trong sách nói ứng với số 8. Nhưng tôi rút kinh nghiệm, tôi thấy Ty phải ứng với số 18. Rắn cắn mà cắn hụt, phải trừ bớt 1, tất phải 17. Anh nghe tôi, đánh lớn số đó đi. Tôi bảo đảm anh thế nào cũng trúng.
Anh cười:
– Dạ, tôi sẽ theo chú. Trúng, hai chú cháu mình tới quán ông Ớt làm một chầu bia cho bõ thèm.
Ông khách định quay đi, chợt dừng lại:
– Thích bia thì giờ vào nhà thằng Trọng mà uống. Nghe tin gì chưa?
– Dạ, chưa.
– Thằng Trọng xóm sau mới nhận được giấy gọi phỏng vấn sáng nay.
Anh giật thót mình:
– Có giấy phỏng vấn à? Hắn có đủ năm.
– Thế đấy. Nhà hắn giờ như hội. Mới chở về hai két Huda mời uống tùm lum. Có rảnh vào mà “ké” ít chai.
Anh ngẩn ngơ. Chị chép miệng:
– Cái thằng Trọng điên thế mà được đi phỏng vấn à?
Ông khách cười:
– Đời thế mới tréo cẳng ngỗng. Trung sĩ lại được đi.
Trung úy thì đành chịu.
Anh thắc mắc:
– Có thật không, hay cái thằng Trọng bày đặt?
– Sao không thật. Nó cầm giấy Sở Ngoại Vụ đi khoe cả xóm.
– Hắn cải tạo có một năm, chưa tới một năm mà?
Ông khách hạ giọng:
– Hắn cải tạo một năm về, lại đi tù hai năm vì tội phản động. Lẽ ra thì không được, vì tội phản động họ không tính. Nhưng hắn chạy chọt sao đó, nên được ghép hai thứ thành một.
Anh ngớ người:
– Hèn gì!
Ông khách ra đi rồi, anh cảm thấy lòng anh tan nát.
Anh đứng nhìn những tấm vé số như thất thần. Chị bĩu môi, lầm bầm:
– Con mệ vợ hắn lại được thể mà lên nước!
Chợt chị dằn mạnh đứa con vào tay anh:
– Bồng cho người ta cái! Thấy người ta chưa? Có Trung sĩ quèn mà cũng đi Mỹ, đi miếc. HO, phải HO như người ta vậy. HO như mình đúng là HO dỏm.
Chị đi vào trong nhà, rồi lại đi ra:
– Đã thế lại còn xưng Trung úy này, Trung úy nọ. Anh thì không được cái tích sự chi hết. Còn bày đặt treo bóng, treo ảnh lên tường.
Chị lại đi vào nhà. Anh nghe chị bước lui bước tới, rồi tiếp đến là một tiếng “choang”. Anh hốt hoảng chạy vào, thấy chị hậm hực nhìn cái bóng nhà binh của anh nằm trên nền nhà, khuôn ảnh nằm trong góc, kính vỡ tùm lum.
– Em làm gì vậy?
Chị mím môi:
– Để càng thêm tức.
Anh gượng cười:
– Ảnh này em giữ mà. Dù sao cũng là kỷ niệm.
Chị nói hỗn:
– Kỷ niệm cái con khỉ mốc! Đưa con đây, coi mà quét dọn mẻ chai không thì mấy thằng quỷ đi học về lại đạp lủng chân hết.
Chị dằn đứa con từ tay anh, vùng vằng đi ra. Anh cầm cái ảnh lên, ngậm ngùi nhìn. Tấm ảnh đen trắng. Anh trong bộ quân phục với hai bông mai đính ở ve áo, mặt mày tươi cười. Có một thời, anh sợ phải nhìn lại nó, anh đốt, anh quên, cố quên. Khi chính sách HO ra đời, anh vò đầu bức tai
đi lục lọi giấy tờ, hình ảnh cũ mà không có. Thế rồi, từ một chỗ nào đó chị lôi ra một tờ sự vụ lệnh với một cái ảnh. Chị hãnh diện cười: “Em dấu anh em cất được hai thứ này. Em biết có ngày cũng phải được dùng đến.”
Anh quét dọn hết những mảnh thủy tinh. Anh cầm ảnh và khuôn để lại trên bàn, lòng xót xa. Anh hiểu nỗi tức tối, giận hờn của chị. Bởi vì, chính anh, dù không nói ra, anh cũng có một cảm giác như chị. Cứ một lần nghe có ai được kêu đi phỏng vấn, được kêu đi đăng ký máy bay, lòng anh lại bồi hồi, thảng thốt. Có một lúc, anh trốn các quán cà phê, nơi bạn bè, người quen anh thường tụ họp để bàn tán chuyện xuất cảnh. Bạn bè anh sĩ quan, ai cũng 5, 7 năm cải tạo. Chỉ có anh là “xui”. Trung úy mà chỉ có một năm tám tháng. Lúc đầu, anh cũng hy vọng tiêu chuẩn ba năm sẽ dần dần rút xuống. Quả thật, tiêu chuẩn rút xuống thật, chỉ còn một năm, nhưng éo le thay, lại kèm theo điều kiện phải làm sở Mỹ hay có đi học ở Mỹ một năm. Anh thất vọng. Nhưng còn nước còn tát. Anh lại nạp hồ sơ với số giấy tờ mỗi ngày một nhiều thêm: giấy bị cưỡng bức đi kinh tế mới, giấy chứng nhận anh bị bịnh trong trại cải tạo, giấy xác nhận Trại Cải Tạo của anh giải tán trước thời hạn … Anh còn lần mò tìm ra tên một người lính Mỹ được gia đình anh dấu hai ngày trong nhà vào hồi trận Tết Mậu Thân, và một số giấy tờ khác liên quan đến hồ sơ an ninh của anh ở trong Ty Công An, mua lại từ một tay công an hình sự. Anh chờ đợi và hy vọng.
Giọng chị từ ngoài nghe vẫn còn gay gắt:
– Cứ ngồi trong mãi thế. Ra coi cho tui vào chằm nón.
Chị đi vào, để đứa con xuống chiếc chõng tre, ngồi chằm tiếp cái nó còn dang dở. Chị lầm bầm một mình:
– Vợ con người ta đi đông đi tây, chưng diện kiểu Việt kiều, đi học Anh văn, bàn chuyện ở bang này bang nọ bên Mỹ … Còn tui, mỗi lần đi chợ, lui thui lủi thủi không dám ngó ai. Người ta nói chuyện trên thiên đàng, còn mình như con gà què ăn quẩn cối xay. Đã thế còn đòi đẻ cho được con trai. Chừ, đứa bồng đứa dắt. Phải chi được đi như người ta …
Anh định im lặng đi ra, nhưng nghĩ sao, anh dừng lại:
– Tôi cũng xót ruột lắm. Nói vừa vừa cho người ta sống với. Mọi chuyện đâu phải lỗi tại tôi.
Đột nhiên, chị đứng dậy:
– Vậy lỗi tại ai? Người ta sĩ quan người ta học tập năm, bảy năm. Anh sĩ quan gì mà học tập có hai năm.
– Chẳng lẽ tui làm đơn xin ở tù thêm.
Chị chỉ mặt anh:
– Chỉ tại anh. Anh học tập quá tốt.
– Nói bậy nói bạ. Chỉ tại cái trại anh nó giải thể sớm. Một lô sĩ quan về sớm, có cả đại úy, thiếu tá nữa, đâu phải mình anh.
Chị lại mếu máo:
– Phải chi học tập dốt một chút thì đâu đến nỗi!
Anh chợt bật cười:
– Vậy thì hồi mới được thả về, ai làm đầu heo cúng tạ. Ai van vái cảm ơn trời đất. Ai nói cái số tôi có phước, khỏi tất bật, túi bụi nuôi chồng ở tù năm, bảy năm.
Chị ngừng khóc, lườm anh:
– Thôi đi ra cho rãnh mắt!
Anh im lặng đi ra. Tính chị vẫn thế. Khi tức tối chuyện gì thì dầu sôi lửa bỏng, ăn nói loạn xà ngầu, không bao giờ chịu suy trước nghĩ sau. Được cái là chung thủy, thương chồng thương con. Cái kiểu này, anh đoán chị sẽ không chịu đi chợ vài ba bữa. Vì đi thế nào cũng gặp con vợ thằng Trọng xóm sau. Gặp thì thế nào cô ta cũng khoe chuyện đi phỏng vấn. Người ta vui, người ta khoe, nhưng vợ anh cứ có cảm giác như đó là những lời nguyền rủa. Kể cũng tội cho chị.
Anh ngồi xuống trước bàn vé số. Nhìn những tấm vé số, chợt anh có một so sánh: nếu anh trúng vé số độc đắc chiều nay, thì anh có vui như nỗi vui của thằng Trọng giờ này không? E không, anh nghĩ.
Anh trả vé số bán không hết cho Ủy Ban xổ số, rồi đi nạp tịch cho chủ số đề, trở về thì trời cũng đã xế. Anh loay hoay chuẩn bị bảng, phấn, cái đài để ghi kết quả xổ số. Xong, anh ngồi ngó mông lung ra đường, đầu óc nhẫm tính số tiền kiếm được ngày hôm nay.
Đang lúc rà đài để theo dõi cuộc xổ số, thì anh nghe tiếng xe Honda ngừng lại bên cạnh. Anh nhìn lên, thấy đứa con trai của Quý. Anh hỏi:
– Gì vậy cháu?
Thanh niên đáp:
– Mẹ cháu nhờ chú ghé nhà khuyên giải ba cháu một chút.
– Gì vậy?
– Ba cháu say, đập phá lung tung.
Anh ngần ngừ một lát, rồi gật đầu. Anh kêu chị ra ghi kết quả xổ số rồi leo lên xe thanh niên, về nhà Quý. Nhà Quý là một căn hộ nằm trong khu Công chức thời trước 75. Sau khi đi cải tạo về, vợ chồng Quý làm nghề nem chả,
dành dụm sang lại căn hộ này. Vợ Quý ra đón anh ở cổng.
Chị nói:
– Anh Quý uống một mình từ sáng đến giờ e cả hai két bia. Uống vào rồi nói lảm nhảm. Thỉnh thoảng đập phá lung tung.
– Chuyện gì vậy? Mới uống cà phê Sửu với tôi hồi sáng mà.
Vợ Quý nói nhỏ:
– Không dấu gì anh. Nhà tôi mới nhận được giấy báo từ Thái Lan trưa nay.
– Thế nào? Gia đình chị tháng sau đi phỏng vấn rồi còn gì.
Giọng người vợ giống như tiếng thì thầm:
– Họ từ chối rồi.
Anh giật mình:
– Từ chối? Sao lại thế?
– Không đủ năm.
– Quý đi cải tạo ba năm mà.
– Thiếu hai ngày anh ạ.
– Trời!
Anh thốt lên một tiếng, không biết dành cho Quý hay dành cho chính anh. Lại thiếu năm. Không, thiếu ngày. Ôi, hai ngày định mệnh, hai ngày cay nghiệt! Cũng như anh. Anh bị nhốt ở một cái trại định mệnh. Lẽ ra anh cũng phải đi ở tù ba bốn năm, năm bảy năm như ai, nếu không bị số phận dẫn anh vào cái trại vô duyên đó!
Hai người vào trong nhà. Vợ Quý đưa tay chỉ nơi góc phòng khách. Quý đang nằm thiêm thiếp, mặt mày tái nhợt.
Một vệt nước miếng rệu ra từ khóe miệng. Anh nghe thoảng mùi tanh hòa cùng mùi rượu. Anh nhìn quanh. Cái tủ gương đựng ly chén vỡ một mảnh. Cái radio-cassette nứt một đường nằm lăn lóc phía dưới chân Quý. Vợ Quý rón rén bước lại gần chồng, đỡ cánh tay lên, lượm một mảnh chén vỡ nằm phía dưới vai. Anh ngồi yên lặng nhìn người bạn, có cảm giác như nhìn chính mình. Anh cũng không rõ mình đang buồn hay vui. Vợ Quý nháy mắt ra hiệu cho anh vào phòng trong. Mấy đứa con Quý buồn bã chào anh, rồi im lặng. Khuôn mặt đứa nào đứa nấy trông thẫn thờ, gần như vô hồn. Không khí trĩu nặng cả gian phòng. Vợ Quý lên tiếng:
– Nhận cái giấy báo từ chối xong, anh ấy vẫn còn bình tĩnh. Anh nói chắc có sự lầm lẫn gì đây. Vì rõ ràng anh Quý đi học tập ba năm, từ tháng 4/75 đến tháng 4/78. Tháng thì đủ, nhưng tính ngày lại thiếu. Anh nghĩ xem, ai mà ngờ đến nước này. Ai mà ngờ tụi Mỹ nó chi li thế. Anh đi ngày 26-4, về ngày 24-4. Đã thế cái tay trại trưởng lại ký lệnh tha trước đó hai ngày nữa. Thành thử ra, anh ấy thiếu đến bốn ngày.
Anh thấy có ức không?
– Tôi nghĩ Mỹ đâu có chi li đến vậy. Anh nên làm đơn gửi Thái Lan xin cứu xét.
– Anh ấy nói tụi Mỹ đã quyết định rồi thì khó lắm. Em nói còn nước còn tát. Nhưng anh ấy chán nản quá, nốc bia như nốc nước lạnh và bắt đầu nói lảm nhảm. Anh xé giấy báo, rồi đập phá lung tung. Anh cấm mẹ con em không ai được ra khỏi nhà, thành thử muốn lên tìm anh từ hồi trưa mà đành chịu. Khi nãy anh mệt quá nằm mê, em mới cho cháu lên gọi anh đó.
Giọng người đàn bà bắt đầu rưng rưng:
– Chắc bọn em phải đi khỏi đây thôi.
Anh ngạc nhiên nhìn vợ Quý:
– Đi đâu? Sao lại đi?
– Thì anh nghĩ xem, làm sao còn sống ở cái thành phố nhỏ bé này được với lời vô tiếng ra của thiên hạ. Con thì nghỉ học, đổ xô vào đi học Anh văn. Nhà thì bán rồi.
– Nhà bán?
– Bán rồi đấy anh! Năm cây. Họ đặt cọc năm chỉ. Tụi em cam kết giao nhà khi đi phỏng vấn về.
– Sao chị bán vội thế?
– Thì em cũng bàn với anh Quý vậy. Nhưng anh nói, nếu đợi phỏng vấn xong ra mới hô lên bán thì hấp tấp quá, không được giá.
Anh chép miệng:
– Phiền quá nhỉ!
Hai người im lặng. Vợ Quý lại than:
– Bây giờ, anh lỡ anh, thằng lỡ thằng. Bọn em như trên trời rớt xuống. Lâu nay cứ nghĩ là đi Mỹ, đi Mỹ. Nhất cử nhất động cũng đều có cái chuyện đi Mỹ ở trong. Bán lời cũng không tha thiết, lỗ cũng không buồn. Đau cũng chẳng lo. Cứ nghĩ đến chuyện đi Mỹ là mọi chuyện đâu vào đó.
Như anh mà khỏe. Lo làm, lo ăn …
Anh nghe đau nhói trong lòng. Vợ Quý có biết đâu, tình trạng của Quý làm rách nát thêm nỗi hy vọng mong manh của anh bấy lâu nay. Quý thiếu hai ngày mà còn bị bác, còn anh thiếu đến hơn một năm! Hai hồ sơ gửi theo Nhân cũng sẽ biệt mù âm tín!
Có tiếng động ở phòng khách. Anh nghe một tiếng đập xuống sàn nhà và giọng Quý rên rỉ:
– Hai ngày, hai ngày, hai ngày …
Tiếng Quý nhỏ dần. Vợ Quý chạy ra nhìn, rồi lại vào.
Chị thốt lên một câu nghe như chẳng ăn nhập đến tình trạng hiện tại:
– Thế là anh lại có bạn.
Anh nhìn người đàn bà, hơi ngơ ngác:
– Chị nói sao?
Vợ Quý thở dài:
– May mà còn có anh ở lại, không thì tụi em cũng buồn. Bạn bè đi hết rồi.
Anh lại nghĩ khác “May mà có Quý ở lại”. Tự dưng, anh mỉm cười. Vợ Quý nhìn anh không hiểu.
Tháng 3/1995
(*) RD: một chính sách dành cho những cựu tù nhân ở tù lâu năm (từ 8 năm trở lên) được ưu tiên xuất cảnh sớm, mặc dù nạp đơn trễ.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.