vietmessenger.com
Henri Charrière
Dịch giả: Đinh Bá Kha
ĐỜI MỚI xuất bản 1974
Post by Sơn râu 13 Sep 2025

3. Jojo, Tay Cờ Bạc Bịp
Quái, có người hát bằng tiếng Pháp! Đó là ông già nhỏ người. Tôi lắng nghe.
Bọn cá mập đã đến rồi
Chúng đánh hơi người
Con thì nhai một cánh tay như nhai táo
Con khác nhai khúc mình, và tra-la-la
Lanh lợi khéo léo là hơn hết
Giã biệt tù nhân, công lý muôn năm!
Tôi sửng sốt. Tiếng hát chậm rãi, như một kinh cầu siêu độ. Mấy chữ “tra-la-la” với giọng tươi vui châm biếm và câu “công lý muôn năm” đầy ắp nét hài hước của vùng ngoại ô Ba Lê. Nghe như một chân lý đương nhiên. Tuy vậy, phải là dân ở đó mới cảm thấy tất cả ý nhị châm biếm.
Tôi nhìn gã. Không cao hơn ba quả táo, cao đúng 1 thước 55 như tôi được biết về sau. Một cựu tù nhân đặc sắc nhất trong số người tôi biết. Tóc bạc phơ với hai mớ tóc mai dài muối tiêu gọt lài. Một chiếc quần chẽn, một thắt lưng bằng da to bản, một bá súng cong đến nách. Tôi lại gần gã. Đầu gã không đội mũ (mũ để dưới đất), tôi thấy rõ trên trán rộng của gã có nhiều vệt đỏ hơn màu da mật cháy nắng của một tay giang hồ cố cựu. Lông mày dài và rậm đến nỗi gã phải dùng lược để chải. Phía dưới là đôi mắt màu thép xám như đôi khoan lục lạo tôi rất nhanh. Tôi chưa đi bốn bước, gã đã nói:
– Anh thuộc hạng cựu tù nhân, chắc mẩm như cái tên La Passe của tôi.
– Đúng, tôi tên Papillon.
– Tôi là Jojo la Passe.
Tay gã đưa ra bắt tay tôi một cách thẳng thắn, không quá mạnh như thường lệ giữa đàn ông với nhau, không quá mạnh đến nỗi gẫy ngón tay như bọn tự đắc, cũng không quá mềm nhũn như bọn đạo đức giả hay lười biếng. Tôi nói:
– Chúng mình đến quán rượu uống chơi. Tôi mời anh.
– Không, đến nhà tôi, ở trước đây, ngôi nhà trắng đó. Tên ngôi nhà là Belleville, của vợ tôi. Đến đó chúng ta đấu hót yên hơn.
Trong nhà rất ngăn nắp, sạch sẽ. Đó là thế giới của vợ gã, trẻ, rất trẻ, có lẽ hai mươi lăm tuổi. Gã thì ít nhất cũng đến sáu mươi. Nàng tên Lola, một thiếu phụ người Venezuela nước da đục.
– Chào anh mới đến, nàng nói với nụ cười duyên dáng.
– Cám ơn chị.
– Hai ly rượu hồi nhá, Jojo hỏi tôi. Một thằng người Corse đem từ Pháp qua cho tôi hai trăm gói. Anh sẽ thấy rượu này rất ngon.
Lola đưa rượu ra, Lola uống một hơi hai phần ba ly rượu.
– Sao đó? anh nhìn kỹ vào mắt tôi nói.
– Sao chuyện gì? Không lẽ anh tưởng tôi kể chuyện đời tôi sao?
– Được rồi bạn. Nhưng cái tên Jojo la Passe không gợi gì cho anh sao?
– Không.
– Người ta quên mau thật. Thế mà tôi là một cựu tù nhân có hạng đấy. Không có ai như tôi, có thể cho ra mặt bảy và mặt mười một bằng những con súc sắc dũa một tý, nhưng dĩ nhiên không đổ chì. Dĩ nhiên không phải mới đây, nhưng dù sao, chúng ta là những con người để lại một cái gì, một huyền thoại. Và tất cả chuyện ấy. Như tôi thấy, chỉ có mấy năm đã không ai nhớ đến. Có thật là không có thằng nào nói với anh chuyện ấy sao?
Gã có vẻ bực tức lắm.
– Quả thật là không.
Một lần nữa, ánh mắt như chiếc khoan lục lạo suốt gan ruột tôi.
– Anh ở tù không lâu, diện mạo anh có vẻ không phải là một cựu tù nhân.
– Mười ba năm cả thảy, ở ngục thất El Dorado, anh tưởng ít sao?
– Không lý. Chỉ thấy vết hằn rất nhẹ và phải là một cựu tù nhân khác mới nhận biết anh từ đó vừa ra. Chưa kể một người ít sành về tướng mạo có thể lầm là đằng khác. Trong ngục thất, anh có thấy dễ chịu không?
– Không dễ chịu chút nào: ở ngoài đảo, rồi phải bị giam vào phòng tối….
– Gió mát bạn ơi, gió mát! Ngoài đảo hả? Một nơi nghỉ hè chỉ thiếu một câu lạc bộ! Thưa ông, tôi hiểu. Đối với các ông, ngục thất là gió khơi, tôm hùm, câu cá, không có muỗi và lâu lâu lại có một món tráng miệng đàng hoàng: lỗ đít hoặc lá đa của một người đàn bà tội lỗi nhịn quá lâu vì lỗi thằng chồng ngu ngốc.
– Thế nhưng, anh biết không….
– Ta-ta-ta, đừng nói nhiều! Tôi biết chuyện ấy. Tôi chưa ở Đảo, nhưng người ta có kể cho tôi nghe.
Thằng chả có phần nào kỳ lạ, nhưng bắt đầu có chuyện không hay cho gã vì tôi cảm thấy cay cay ở mũi. Gã nói nữa:
– Ngục thất chính hiệu là ở cây số 24. Anh không biết hả? Chắc là không rồi. Với bộ mặt của anh thì chưa bao giờ anh đến đái ở đó! Này, bạn ơi, tôi đã ở đó. Một trăm thằng, tất cả đều đau trong bụng. Đứa thì đứng, đứa thì nằm, đứa thì rên siết như con chó. Trước mặt họ là rừng rậm như một bức vách. Nhưng không phải họ đốn ngã rừng mà chính rừng vật ngã họ. Không phải một trại lao công. Theo cơ quan quản trị ngục thất cho biết, nó là một lòng chảo ẩn kín trong rừng sâu xứ Guyane, người ta quăng vào đó những đứa không bao giờ nhoài người lên được. Papillon, được rồi, đừng nói thêm nữa bạn ạ. Đối với tôi, không cần khoe khoang. Anh không có ánh mắt của một con chó bị đập quá nhiều, cũng không có đôi má trũng của một thằng chết đói lòi đít, cũng không có khuôn mặt của những thân xác tả tơi nhờ phép lạ thoát khỏi địa ngục ghê gớm ấy, như thế người ta đã dùng dao gọt đẽo lại bộ mặt để áp đặt lên trên những con người còn trẻ một khuôn mặt già nua. Anh không phải vậy. Tôi đoán không sai chút nào: tù đầy đối với anh là nghỉ hè có nắng ấm.
Thằng cha này thật lắm lời. Tôi tự hỏi cuộc gặp gỡ này đi đến đâu.
– Như tôi đã nói với anh, tôi đã ở trong cái lòng chảo mà một khi đã vào rồi không ai ra được, con người bị sán lãi, sâu bọ tàn phá dần dần. Papillon, thật tội nghiệp cho anh! Tôi nhắc lại: ngay đến cái ngục thất anh cũng không biết. Bạn ơi, cảnh tôi vừa diễn tả hết sức đúng như vậy, chính không phải do tôi, mà tôi đọc Albert Loudres và ông ta đã viết ra y như tôi vừa nói đó.
Tôi chăm chú nhìn gã, một người thấp bé đầy nhựa sống cương nghị, để tính xem góc cạnh nào thích hợp nhất có thể tống một quả đấm vào miệng gã thì đột nhiên tôi đổi ý và quyết định xem gã là một người bạn. Khỏi cần phải bực tức, có thể tôi sẽ cần đến gã.
– Jojo, anh nói đúng. Khỏi cần phải bi thảm hóa những năm tù tội của tôi bởi lẽ tôi vẫn còn khỏe mạnh đến nỗi phải cần một người có mắt tinh đời như anh mới đoán biết tôi vừa ở tù ra.
– Được rồi, chúng ta đồng ý. Bây giờ anh làm gì?
– Tôi làm ở mỏ vàng La Mocupia. Mười tám đồng bạc một ngày, nhưng tôi được phép đi đâu cũng được. Thời kỳ quản thúc của tôi đã hết.
– Tôi đoan chắc anh muốn đến Caracas và tiếp tục phiêu lưu mạo hiểm.
– Đúng, tôi rất thích phiêu lưu.
– Nhưng Caracas là một đô thị lớn và vì vậy ở đó mạo hiểm lại là chuyện nguy hiểm. Anh vừa trong ấy ra, anh muốn chui vào trở lại sao?
– Tôi có một bản tổng kết khá đắt giá để trình bày cho những thằng đã đưa tôi vào tù: cảnh sát, nhân chứng, chưởng lý. Mười ba năm vì một tội tôi không hề phạm, thời gian ở hải đảo, anh muốn nghĩ sao cũng được; thêm thời kỳ bị cấm cố ở Saint-Joseph, tôi đã chịu những cực hình ghê gớm nhất. Đừng quên tôi bị bắt lúc 25 tuổi.
– Đồ chó chết! Chúng nó đã cướp tuổi trẻ của anh. Vô tội một trăm phần trăm, hay đến nay anh vẫn chối?
– Vô tội, anh Jojo ạ. Tôi thề trước vong hồn mẹ tôi.
– Quá chừng! Tôi hiểu, như vậy thì khó quên lắm. Nhưng nếu anh muốn lấy tiền để thanh toán công chuyện của anh, không cần phải đi Caracas, hãy theo tôi.
– Đi đâu?
– Đến vùng mỏ kim cương bạn ạ. Kim cương! Ở đây chính phủ rất rộng rãi. Trên thế giới chỉ có xứ này người ta mới tự do đi vào lòng đất tìm vàng hoặc kim cương. Chỉ với một điều kiện, không dùng máy móc. Chỉ chấp nhận các dụng cụ: xẻng, cuốc và rây.
– Địa đàng ấy ở đâu vậy? Dĩ nhiên là không phải nơi tôi vừa đi ra.
– Xa, khá xa trong miền rừng núi. Phải đi nhiều ngày bằng lừa, ghe và đi bộ, với đồ đạc trên lưng.
– Không phải trong túi!
– Papillon, dù sao, đó là phương cách kiếm một bó bạc lớn. Nếu anh tìm được một long mạch là anh giàu to. Bọn đàn bà con gái hút thuốc lá và đánh rắm trong lụa là sẽ chạy theo anh. Anh sẽ có đủ phương tiện đi thanh toán món nợ tù tội.
Jojo nói không thôi. Mắt sáng lên, gã trở nên hăng say tột độ. Gã giải thích rằng một long mạch là một miếng đất nhỏ, không lớn hơn chiếc khăn một anh nhà quê, ở đó, không hiểu do bí quyết nào của tạo vật, đã tập trung một trăm, hai trăm, năm trăm có khi đến một ngàn ca-ra kim cương. Khi một nhà thám hiểm tìm được một long mạch trong một nơi hẻo lánh, khỏi phải chờ đợi lâu. Như thể được thông báo bằng một hệ thống điện tín siêu phàm, người ta đổ tới từ bốn phương trời. Mười người, biến gấp thành trăm, rồi một ngàn. Chúng đánh hơi vàng với kim cương như chó đánh hơi một khúc xương hay một miếng thịt. Chỉ cần một thằng nào đó tìm nhiều kim cương hơn thường lệ.
Thế là chúng nó đến từ phương bắc, phương nam, phương tây, đủ mọi quốc tịch. Trước tiên là dân Venezuela. Những người mộc mạc, không nghề nghiệp, chán cảnh lãnh lương mỗi ngày 12 đồng bằng công việc đào hầm. Nên họ lắng nghe tiếng gọi của rừng núi. Họ hết muốn gia đình họ sống trong một căn lều nhỏ hẹp và cũng biết rõ rằng ngày này sang ngày khác họ sẽ tự đày ải mình nhiều năm trong cảnh địa ngục. Vợ họ, với số tiền gởi về, sẽ tạo một ngôi nhà khang trang rộng rãi, con cái sẽ được ăn mặc tử tế, sẽ có thể đến trường và còn học lên cao nữa là khác.
– Với sản phẩm của một long mạch?
– Papillon, đừng có ngốc! Người đã tìm ra một long mạch không bao giờ trở lại hầm mỏ. Nó sẽ giàu suốt đời, trừ phi nó điên vì quá mừng đến độ đem giấy bạc một trăm nhúng vào trong rượu ngọt hoặc rượu hồi quăng cho lừa ăn. Không, người thợ tôi đã nói với anh đó, mỗi ngày sẽ tìm được những hạt kim cương nhỏ, rất nhỏ cũng được. Nhưng bấy nhiêu cũng bằng mười hoặc mười lăm lần tiền lương ở đô thị. Ngoài ra, để sống, nó nhịn đến cả những thứ cần thiết, bởi vì ở nơi ấy, tất cả đều trả bằng vàng hoặc kim cương. Tuy nhiên, làm như vậy, gia đình nó được sống khá hơn trước.
– Còn những người khác?
– Đủ mọi chủng tộc. Người Ba Tây, người Guyane thuộc Anh, mấy thằng ở Trinidad đã bỏ chạy cảnh bị bóc lột trong các cơ xưởng hoặc tại các đồn điền trồng bông. Lại có các tay giang hồ chính cống, hạng người chỉ sống với những chân trời vô tận luôn luôn huy động tất cả để thử thời vận: có người Ý, người Anh, người Tây Ban Nha, người Bồ Đào Nha, người từ tứ phương mà! Trời ơi, anh không thể biết hết rừng người đổ xô đến vùng đất hứa đã được Chúa reo rắc rắn rít, ruồi, muỗi, các loại sốt rét, lại cũng ban phát ở gần mặt đất nào vàng, nào kim cương, nào bích ngọc, hoàng ngọc, đủ thứ! Đúng là một cuộc chạy đua của những tay giang hồ khắp thế giới, đứng trong những hồ nước sâu đến bụng, nhờ nghị lực kiên cường nên không cảm thấy cháy, muỗi đốt, đói khát, họ đào lên, lôi ra, sàng sảy đất bùn ấy đem rửa đi, rửa lại, cho vào các tấm rây để tìm kim cương mà không biết mệt. Vả lại, biên giới quốc gia Venezuela mênh mông và trong rừng sâu không bao giờ anh nào bị một ai hỏi giấy tờ cả. Thế nên ngoài viễn ảnh hấp dẫn tìm ra kim cương, người ta lại còn được hoàn toàn yên trí về phía cảnh sát. Một nơi chốn ước mơ để thở chút ít, khi bị săn đuổi.
Jojo dừng lại. Hắn không quên điều gì và tôi đã biết hết. Suy nghĩ rất nhanh trong một phút, tôi nói:
– Jojo, anh đi một mình đi. Tôi không thể tưởng tượng tôi làm được việc kinh khủng ấy. Phải được lửa thiêng nung nấu, tin như người ta tin Thượng Đế vào việc tìm ra long mạch mới có thể chịu đựng trong một địa ngục như vậy. Vâng, anh hãy đi một mình. Tôi sẽ tìm long mạch ở Caracas.
Một lần nữa, đôi mắt tàn nhẫn của hắn lục lọi tôi rất nhanh.
– Tôi hiểu, anh không thay đổi. Anh có muốn biết rõ tôi nghĩ như thế nào không?
– Nói đi.
– Anh bỏ Callao mà đi là vì anh đau lòng khi biết có một đống vàng không bảo vệ ở La Mocupia. Phải vậy không?
– Phải.
– Anh để yên đống vàng là vì anh không muốn làm rắc rối cuộc đời của bọn cựu tù nhân đang sống an phận ở đấy. Đúng không?
– Đúng.
– Và anh nghĩ rằng tìm ra long mạch ở chỗ tôi nói, rất ít người may mắn trong số đông những người đến đó. Đúng không?
– Đúng.
– Và anh thích tìm long mạch ở Caracas, trong một tiệm kim hoàn hay một nhà bán sỉ hột xoàn.
– Có thể, nhưng không chắc. Còn phải chờ xem.
– Anh đúng là một tay phiêu lưu mạo hiểm không gì cải hóa được.
– Hãy chờ xem. Nhưng anh đừng quên mối thù vẫn dằn vặt tôi không thôi. Có lẽ vì mối thù ấy tôi có thể làm bất cứ việc gì.
– Muốn phiêu lưu mạo hiểm hay muốn trả thù, đều phải có tiền. Vậy hãy đi vào vùng rừng núi với tôi. Anh sẽ thấy, hay ghê gớm lắm.
– Với một cái xẻng và một cái cuốc? Ít có tôi lắm!
– Papillon, anh bị sốt phải không? Hay là vì cảm thấy từ hôm qua anh muốn đi đâu cũng được nếu anh trở thành ngốc?
– Tôi không nghĩ như vậy.
– Thế nhưng anh quên việc chính: tên của tôi, Jojo la Passe.
– Đồng ý, anh là tay cờ bạc chuyên nghiệp, nhưng tôi không thấy ăn nhằm gì với cái dự định đi làm việc như những con vật.
– Tôi cũng vậy, hắn vừa nói vừa cười ngặt nghẽo.
– Sao, thế đến hầm mỏ không phải để đem kim cương từ lòng đất ra hay sao? Thế lôi kim cương từ đâu ra?
– Từ túi bọn thợ mỏ.
– Bằng cách nào?
– Bày đánh bạc ban đêm, và có thua một ít.
– Tôi hiểu. Khi nào đi?
– Chờ một chút.
Khoái chí vì lời nói hiệu quả, hắn trịnh trọng đứng lên, lôi chiếc bàn ra giữa phòng, trải lên một mền len và lấy ra sáu cặp súc sắc.
“Nhìn kỹ mấy con súc sắc”. Tôi quan sát hết sức tỉ mỉ. Các con súc sắc không có gắn chì.
– Không ai có thể nói là súc sắc gian, phải không?
– Không ai nghi nổi.
Từ một cái bao bằng nỉ, hắn rút ra một cái thước kẹp đưa cho tôi.
– Anh thử đo.
Trên một bề dài không được một phần rưỡi ly, một trong các mặt đã bị dũa và cà láng rất kỹ. Không thể nào biết được.
– Thử cho ra số bảy hoặc số mười một.
Tôi bung các con súc sắc. Không ra 7 mà cũng không ra 11.
– Bây giờ đến lượt tôi.
Jojo cố ý làm cho cái mền có đường xếp nhỏ. Hắn dùng mấy đầu ngón tay cầm con súc sắc.
– Thế này gọi là cái kẹp, hắn nói. Rồi tôi bung. Và mặt 7 đó! Và mặt 11! Và mặt 7! Anh muốn mặt sáu hả? Rồi mặt 6 đó. Anh muốn mặt sáu bằng hai mặt 4 với 2 hay bằng mặt 5 với mặt 1? Nó kìa. Đúng ý Ngài thích.
Tôi mê tơi. Chưa bao giờ tôi thấy ai làm được như vậy, thật là phi thường. Hoàn toàn không thấy gì hết.
– Bạn biết không, từ trước đến nay tôi vẫn chơi thứ này theo kiểu người Anh Quốc. Lên tám tuổi, ở khu La Butte, tôi rèn luyện những khí giới đầu tiên. Tôi dám bung những con súc sắc như vậy, anh biết ở đâu không? Trên bàn bi da ở nhà ga cửa Đông, thời bọn Roger Sole.
– Tôi nhớ rồi. Ở đó có rất nhiều tên cổ quái.
– Tôi không bày anh nói đấy nhá. Trong số con bạc ngoài bọn cờ bạc bịp, bọn ma cô, đủ các thứ, còn có bọn cảnh sát nổi danh như Jojo le Beau, một thằng cảnh sát ma cạo ở khu Madeleine, cùng những chuyên viên của đội bài trừ đổ bác. Thế mà chúng vẫn bị bịp như ai. Vậy thì, anh thấy đó, không thể có chuyện lôi thôi trong một hầm mỏ.
– Hẳn là như vậy.
– Nên lưu ý điểm này, hai nơi đều nguy hiểm. Ở ga cửa Đông, bọn gian hùng chơi súng nhanh không kém gì thợ mỏ. Chỉ khác một điều: ở Ba Lê bắn súng rồi vào tù. Ở hầm mỏ, bắn rồi vẫn ở đó. Không có cảnh sát, luật pháp do bọn thợ đặt ra.
Hắn ngưng nói, chậm rãi uống hết ly rượu, rồi tiếp: “Papillon, sao, anh đi với tôi chứ?”
Tôi chỉ suy nghĩ một lúc, không lâu. Tôi ham cuộc phiêu lưu này lắm. Có lẽ nhiều nguy hiểm, vì tụi ở đó không phải là hạng lễ sinh. Nhưng chắc hẳn là sẽ hốt được nhiều bạc. Được rồi, Papillon, chơi hết mình với Jojo đi! Và tôi nói với hắn:
– Khi nào đi?
– Chiều mai, nếu anh muốn, sau cơn nóng bức lúc 5 giờ. Chỉ cần đủ thì giờ thu tóm dụng cụ. Lúc đầu thì đi đêm. Anh có súng không?
– Không.
– Có một con dao tốt không?
– Cũng không.
– Anh khỏi lo, tôi sẽ kiếm cho anh.
Tôi trở về nhà và nghĩ đến Maria. Chắc hẳn nàng thích tôi đi vào rừng hơn là đến Caracas. Tôi gởi Picolino cho nàng. Rồi ngày mai lên đường kiếm kim cương. Rồi bảy, rồi mười một! Tôi đã nhập cuộc, chỉ còn học nói số các con súc sắc bằng tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh, tiếng Ba Tây và tiếng Ý. Kỳ dư, hạ hồi phân giải.
Đến nhà, tôi gặp José. Tôi nói tôi đã đổi ý kiến, sau này sẽ đi Caracas, chứ bây giờ tôi đi với một người Pháp già tóc bạc tên Jojo, đi đến bọn tìm kim cương.
– Anh theo nó với tư cách gì?
– Hùn, dĩ nhiên.
– Luôn luôn nó cho bọn hùn với nó một nửa số tiền ăn.
– Đó là luật giang hồ. Anh có biết ai đã cộng tác với nó không?
– Ba người.
– Họ kiếm được nhiều tiền không?
– Tôi không biết. Có lẽ thế. Họ đã đi ba bốn bận.
– Rồi sau thế nào?
– Sau hả? Họ không về.
– Tại sao? Họ ở luôn hầm mỏ?
– Không, họ chết.
– À, chết bệnh?
– Không, bị bọn thợ mỏ giết.
− Ồ… Chắc nó hên lắm mới thoát nạn luôn như vậy.
– Đúng, nhưng nó thì nó lanh lắm. Không bao giờ nó ăn nhiều, nó để cho thằng hùn với nó ăn.
– Tôi hiểu. Như vậy thằng kia nguy chứ không phải nó. Anh José, biết vậy bao giờ cũng hay. Cảm ơn anh.
– Bây giờ đã biết chuyện ấy, anh không đi nữa chớ?
– Một câu hỏi chót, xin anh nói thật: có thể nào trở về với nhiều tiền sau hai hay ba lần đi không?
– Hẳn là có.
– Thế thì Jojo phải giàu. Tại sao nó trở lại đó làm gì? Tôi trông thấy nó chất hành lý lên lưng lừa.
– Một là như tôi đã nói, không có gì nguy hiểm cho nó hết. Hai là có lẽ nó không đi. Mấy con lừa ấy là của bố vợ nó. Nó quyết định đến vùng kim cương vì nó gặp anh.
– Thế còn dụng cụ nó chất lên hoặc sắp chất lên?
– Ai nói với anh là của nó?
– À, à! Anh có thể khuyên tôi gì nữa?
– Đừng đi.
– Không được. Tôi đã nhất định đi. Bây giờ thế nào?
José nghiêng đầu như để suy nghĩ. Một phút dài trôi qua. Khi hắn ngẩng đầu lên, mặt hắn sáng ngời. Cặp mắt long lanh ranh mãnh rồi hắn chậm rãi nói, nhấn mạnh từng chữ:
– Anh nên nghe lời khuyên của một người biết rõ các giới sống ngoài vòng tất cả: mỗi khi có một canh bạc lớn, rất lớn, và trước mặt anh đã có một đống kim cương thật lớn, canh bạc đang hồi sôi nổi, anh nên cất số kim cương đã ăn, đứng dậy đột ngột, không ai ngờ trước. Anh nói anh bị tiêu chảy, rồi đi ra cầu tiêu. Dĩ nhiên anh không trở lại, đêm đó anh đi ngủ một nơi khác hơn nơi anh ở.
– Làm vậy được lắm, José ạ. Xin cho một lời khuyên nữa.
– Tuy bọn mua kim cương ở tại hầm mỏ mua rẻ hơn ở Callao hay ở Ciudad Bolivar rất nhiều, mỗi ngày anh nên bán số kim cương anh ăn được. Nhưng anh không lấy tiền. Anh bảo người ta đưa biên nhận để lãnh ở Callao hoặc ở Ciudad Bolivar. Đối với ngoại tệ, anh cũng làm như vậy. Anh giải thích rằng anh sợ thua trong một bữa tất cả số tiền anh đã ăn vả lại giữ trên người anh một số ít, anh đỡ lo. Điều này, anh nên nói với tất cả mọi người để ai cũng biết hết.
– Vậy thì làm cách đó, may ra tôi trở về được.
– Đúng, nếu được Thượng Đế thương, may ra anh sẽ còn sống trở về.
– Anh José, cảm ơn anh. Chúc anh ngủ ngon.
Trong vòng tay Maria, ngây ngất tình yêu, đầu ấp vai nàng, tôi nghe hơi thở của nàng mơn trớn bên má. Trong đêm tối, trước khi nhắm mắt ngủ tôi thấy trước mặt một đống kim cương to lớn. Nhẹ nhàng, như vọc mà chơi, tôi lượm các viên kim cương để vào trong một túi bằng vải kiểu túi của thợ mỏ rồi thình lình tôi vùng dậy nói với Jojo sau khi đảo mắt quanh một vòng: “Giữ chỗ cho tôi, tôi đi cầu. Chốc nữa tôi trở vào”. Rồi tôi ngủ với hình ảnh đôi mắt ranh mãnh của José, trong và sáng; đôi mắt ấy chỉ những người rất gần thiên nhiên mới có được.
Buổi sáng qua mau. Mọi việc được sắp đặt chu đáo. Picolino ở lại đó, nó sẽ được săn sóc kỹ lưỡng. Tôi hôn mọi người. Maria tươi sáng. Nàng biết tôi đi vào vùng hầm mỏ, bắt buộc tôi sẽ đi về ngang đây, chứ còn đô thị Caracas thì không bao giờ trả lại những người đến sống ở đó.
Maria đi với tôi đến chỗ hẹn với Jojo. Năm giờ chiều, Jojo đã đứng sẵn, rất tươi tỉnh.
– Chào bạn! Khỏe chứ? Anh đến đúng giờ, tốt lắm. Một giờ nữa mặt trời sẽ lặn. Như vậy tốt hơn. Ban đêm chắc chắn không gặp ai theo mình.
Mười chiếc hôn nồng nàn để lại người yêu rồi tôi leo lên lưng lừa. Jojo bắt chân tôi vào bàn đạp và khi chúng tôi khởi hành, Maria nói với tôi:
– Cưng ơi, đừng quên đi cầu đúng lúc nhé!
Tôi phá lên cười đồng thời lấy gót chân thúc con lừa.
– Bé láu cá, em nghe trộm đấy nhé!
– Khi người ta yêu, chuyện ấy có gì lạ.
Thế là chúng tôi đã thượng lộ. Jojo cưỡi ngựa và tôi cưỡi lừa.
Rừng già có đường đi của nó. Đó là một thứ hành lang rộng ít nhất hai thước đã dần dần được xén trong hàng cây và được dao phạng của bộ hành tu bổ. Hai bên đường là hai bờ cao cây cối xanh um. Trên đầu là một vòm dệt bằng hàng triệu thứ cây, nhưng quá cao nên dù đứng trên lưng ngựa cũng không thể dùng dao phạng chặt được. Đây là rừng nhiệt đới, có hai loại thảo mộc đan nhau chằng chịt. Trước hết là các thứ dây leo, các thứ cây lớn và cây nhỏ cao không quá sáu thước. Rồi trên đó khoảng từ hai mươi đến ba mươi thước là các ngọn cây cổ thụ cao lớn uy nghi cứ lên cao mãi để tìm ánh sáng mặt trời. Nhưng tuy đỉnh cây nằm trong ánh sáng, lá cây của những cành xum xuê trải rộng kết thành một bức màn chỉ để lọt qua một ánh sáng lờ mờ. Tạo vật kỳ ảo là rừng nhiệt đới ấy rộng mênh mông. Thế nên, đi ngựa trong con đường rừng này, phải một tay cầm cương, một tay cầm dao phạng, chặt không ngừng tất cả những gì lòi ra và không cho đi tới yên lành. Một con đường rừng nhiều người qua lại giống như một hành lang chăm sóc kỹ lưỡng.
Không có gì đem đến cho con người một cảm giác tự do bằng khi đi trong rừng sâu với đầy đủ vũ khí. Ta tưởng ta là một thành phần của tạo vật, không kém thú rừng. Bước đi thận trọng nhưng với một niềm tự tin vô bờ bến. Ta có cảm tưởng chìm đắm vào một nguyên tố sâu xa nhất, tất cả các giác quan, khứu giác, thính giác đều thức tỉnh. Mắt luôn luôn sống động để nhận định những gì cựa quậy. Trong rừng già, một kẻ thù đáng kể nhất: một con vật trong các loại vật, thông minh nhất, tàn ác nhất, xấu xa nhất, tham lam nhất, ghê tởm nhất và cũng là kỳ diệu nhất: đó là con người.
Chúng tôi đã đi suốt đêm. Tạm được. Nhưng đến sáng, sau khi chúng tôi uống một ít cà phê trong bình thủy, con lừa quỉ quái trở chứng kéo lết, có lúc sau Jojo đến một trăm thước. Tôi có đâm vào đùi nó bao nhiêu là gai cũng không ăn nhằm gì. Để khai thông, Jojo lên lớp tôi: “Bạn không biết cưỡi ngựa mà! Giản dị quá mà! Xem đây”. Hắn chỉ lấy gót thúc vào con vật là nó phi ngay. Rồi Jojo đứng lên trên bàn đạp quát lớn: “Tôi là Đại Úy Cook!” Hay là: “Sancho, mày có tới không? Mày không theo kịp sư của mày là Don Quichotte?”.
Tôi nổi tức và tôi dùng mọi cách để cho con lừa đi nhanh hơn. Cuối cùng, tôi nẩy ra một ý kiến phi thường và quả thật con vật đổ ra phi nước đại. Tôi để rơi vào trong tai nó một mẫu xì gà đang cháy. Nó phi như một con ngựa nòi tinh thuần, mừng quá sức, tôi vượt qua “đại úy Cook”, lại còn chào hắn lúc qua mặt. Nhưng nó phi như vậy không lâu, vì lừa là một con vật tệ lậu. Đột ngột nó ép tôi vào một thân cây suýt nữa chân tôi bị nát, rồi tôi té nhào xuống đất, mình đầy gai, không còn biết loại gai gì. Vậy mà thằng cha già ngốc Jojo cứ cười như một đứa 20 tuổi, quên hẳn rằng nó với Mathusalem cùng sinh một ngày.
Tôi miễn kể lại chuyện đuổi bắt con lừa (mất hai giờ!), những cú đá, những tiếng sôi ruột, vân vân của nó. Cuối cùng, mệt đứt hơi, hai đùi đầy gai, ngất ngư vì nóng nực và mệt nhoài, tôi cũng cố leo lại lên lưng con lừa. Lần này thì nó muốn đi thế nào cũng được, tôi không chọc tức nó nữa. Cây số đầu, tôi không ngồi mà phải nằm dài trên lưng nó, hai mông chổng lên, hai tay tìm cách gỡ mấy cái gai nhức nhối như lửa đốt.
Ngày hôm sau, chúng tôi bỏ con vật ngoan cố ấy lại một quán bên đường. Hai ngày đi xuồng và sau một ngày dài, đi bộ lưng mang xách đồ, chúng tôi đến mỏ kim cương.
Tôi để hành trang trên một chiếc bàn làm bằng gỗ tròn của một tiệm ăn giữa trời. Tôi quá mệt và suýt bóp cổ già Jojo ngay tại chỗ, trong khi hắn chỉ có ít giọt mồ hôi trên trán và nhìn tôi với đôi mắt chế nhạo.
– Thế nào, ông bạn, khỏe chứ?
– Ừ, khỏe! Tại sao lại không khỏe? Nhưng tôi hỏi anh: vì sao anh bắt tôi mang suốt ngày nào là xẻng, cuốc, rây trong khi chúng ta sẽ không dùng các thứ ấy?
Jojo ra chiều bực bội:
– Papillon, tôi chán anh quá. Anh nghĩ coi. Một người không mang theo các dụng cụ ấy đến đây làm gì? Đó sẽ là câu hỏi của hàng trăm cặp mắt nhìn qua bức vách bằng gỗ hay bằng tôn khi trông thấy anh đi vào làng. Nếu anh có mang các dụng cụ ấy, không có ai thắc mắc gì hết. Hiểu chưa?
– Hiểu rồi.
– Cũng như về phần tôi, nếu không mang gì cả. Thử tưởng tượng tôi đến, hai tay thọc vào túi và tôi bày canh bạc, không hơn không kém. Bọn thợ mỏ với vợ chúng sẽ nói gì, anh biết không? Họ nói lão già người Pháp ấy là một con bạc chuyên nghiệp. Nhưng rồi anh sẽ thấy tôi làm gì. Nếu có thể, tôi sẽ thử tiền mua tại chỗ một máy bơm cũ, nếu không được thì bảo nơi khác gởi tới. Cũng mua bằng cách đó hai mươi thước ống lớn và hai hay ba chiếc thùng dài bằng gỗ có nhiều ván ngăn đục lỗ. Bùn bơm lên sẽ được tống vào thùng, và với một nhóm bảy người, có thể rửa sạch đất 50 lần hơn một nhóm 12 người dùng những dụng cụ lỗi thời. Tuy vậy cũng chưa gọi là dùng máy. Là chủ cái bơm, một mặt tôi thu 25% trên số kim cương thu hoạch được, một mặt tôi biện minh sự hiện diện của tôi. Không ai có thể nói tôi sống về nghề đánh bạc vì tôi sống nhờ cái máy bơm của tôi. Tuy vậy, vì đồng thời tôi cũng là một tay đánh bạc, tôi vẫn đánh bạc ban đêm. Không có gì lạ vì tôi không đi làm. Anh hiểu chứ?
– Rất rõ ràng.
– Tôi rất hài lòng. Cho hai ly frescos!
Một bà nạ giòng to béo nhưng niềm nở, nước da hơi ngăm, đem đến một ly, đầy nước sô cô la lạt, bên trên có một cục nước đá và một miếng chanh.
– Cả thảy tám đồng.
– Hơn hai mỹ kim! Đ.M, đời sống quá đắt trong vùng hoang địa này!
Jojo trả tiền.
– Ở đây có gì lạ không, hắn hỏi.
– Vậy vậy thôi.
– Có thứ đó hay không có?
– Người ta thì nhiều. Nhưng kim cương thì ít, rất ít. Từ ngày tìm ra cái xó này, đã ba tháng, đã có bốn ngàn người nhào đến. Quá nhiều đối với một con số ít kim cương. Còn anh kia, bà vừa nói vừa hất hàm chỉ tôi. Người Đức hay người Pháp?
– Pháp như tôi.
– Tội nghiệp.
– Tại sao tội nghiệp? Tôi hỏi.
– Bởi vì sự quá trẻ và quá đẹp trai để chết. Những người đến với Jojo đều không may.
– Mụ già, im ngay. Đi Papillon, chúng ta đi.
Khi chúng tôi đứng lên, lúc chào tôi, mụ chủ quán to béo nói: “Anh nên cẩn thận”.
Dĩ nhiên là tôi không nói ra những điều José đã cho tôi biết, và Jojo rất ngạc nhiên tại sao tôi không tìm cách hiểu rõ thêm câu nói vừa rồi. Tôi có cảm giác hắn chờ đợi những câu hỏi mà không thấy. Hắn có vẻ bối rối và lấm lét nhìn tôi.
Sau khi thương lượng với người này người khác, không lâu, Jojo đã tìm được một căn nhà. Ba phòng nhỏ, có những cái khuyên để móc võng và những chiếc thùng bằng bìa cứng. Trên một thùng còn lại nhiều vỏ chai bia và rượu rum, trên một thùng khác có một cái chậu bằng sứ lủng và một bình tưới đầy nước. Nhiều dây được giăng ngang để treo quần áo. Nền đất, rất sạch. Vách bằng ván thùng đựng đồ. Người ta còn đọc rõ: savon Camay, sữa Nestlé vân vân. Mỗi buồng khoảng ba thước trên ba thước. Không có cửa sổ. Tôi ngột thở phải cởi áo.
Jojo quay lại, nhún vai:
– Anh bệnh rồi! Nếu có ai vào thì sao? Mặt mũi anh đã chẳng ra gì, anh lại còn biểu diễn các hình xăm trên người anh ra nữa, thật chẳng khác nào anh công bố cho người ta biết anh là một thằng tù. Tôi xin anh, nên ăn mặc đàng hoàng!
– Nhưng, anh Jojo, tôi hết thở nổi!
– Rồi sẽ quen. Trước hết phải ăn mặc đàng hoàng, trời ơi! Thật là đàng hoàng!
Tôi cố gắng nhịn cười. Quả thật Jojo không chê vào đâu được.
– Đây sẽ là câu lạc bộ, Jojo cười nói.
Như vậy là cái phòng rộng 6 thước trên ba thước. Chúng tôi quét nền đất, đi kiếm ba chiếc thùng lớn bằng gỗ, rượu rum và ly bằng giấy cứng. Tôi nôn nao chờ xem canh bạc diễn ra như thế nào.
Tôi đợi không lâu. Sau khi viếng thăm một số các quán rượu tồi tàn để “xã giao” như Jojo nói, mọi người đều biết tối nay lúc tám giờ sẽ có canh bạc ở nhà chúng tôi. Quán rượu cuối cùng chúng tôi đến thăm là một căn nhà nhỏ có hai bàn ngoài trời, bốn ghế dài, một đèn khí đá treo trên cành cây. Chủ quán, một gã khổng lồ, tóc đỏ hoe, không đoán tuổi nổi, im lặng đem rượu ra. Lúc chúng tôi đứng dậy đi, gã lại gần tôi, nói bằng tiếng Pháp: “Tôi không biết anh là ai, và tôi không muốn biết. Tôi chỉ khuyên anh một điều: ngày nào anh muốn ngủ ở đây, anh cứ đến. Tôi canh chừng cho anh”.
Tuy gã nói tiếng Pháp rất kỳ cục, nhưng nghe giọng nói tôi biết gã người Corse.
– Anh người Corse?
– Vâng. Và anh biết một người Corse không bao giờ phản. Không phải như những thằng ở Miền Bắc, anh nói thêm với nụ cười ẩn chứa nhiều hiểu ngầm.
– Cảm ơn anh, biết như vậy hay lắm.
Vào khoảng 7 giờ, Jojo thắp đèn khí đá. Hai chiếc mền được trải trên nền đất. Không có ghế. Con bạc đứng hoặc ngồi xổm. Đã định rằng đêm nay tôi không chơi. Tôi chỉ quan sát mà thôi.
Người ta đến. Mặt mũi thật khác thường. Ít người nhỏ bé, phần đông là những gã to lớn râu ria xồm xàm. Những bàn tay và khuôn mặt đều sạch sẽ, người họ không hôi hám. Thế nhưng áo quần lấm láp và quá mòn. Tuy nhiên tất cả các áo sơ mi, phần nhiều ngắn tay, đều sạch không chỗ chê.
Ở giữa thảm, có tám cặp súc sắc để ngay ngắn, mỗi cặp trong một hộp nhỏ. Jojo bảo tôi đưa cho mỗi người một ly bằng giấy. Cả thẩy độ vài chục người. Tôi rót rượu rum cho họ. Không một đứa nào ra dấu cho tôi biết nó không uống nữa. Chỉ rót cho chúng nó uống mà ba chai rượu đã hết gấp.
Mỗi người chậm rãi uống từng hớp, đặt ly xuống trước mặt, bên cạnh một ống thuốc đau đầu. Tôi biết trong ống để đựng thuốc ấy có kim cương. Không người nào đưa ra túi vải đặc biệt. Một anh Tàu già run lẩy bẩy để trước mặt một cân tiểu ly của thợ kim hoàn. Rất ít ai nói gì. Những con người ấy đã làm lụng vất vả, dưới nắng thiêu đốt và đã đứng dưới nước ngập đến bụng, có khi từ sáu giờ sáng đến mặt trời lặn.
Ồ, bắt đầu nhúc nhích rồi. Một, rồi hai, rồi ba con bạc cầm lên một cặp súc sắc, ngắm rất kỹ, áp lại với nhau, rồi đưa cho người ngồi bên cạnh. Hình như mọi việc êm xuôi vì các con súc sắc được quăng trở lại trên mặt mền mà không hề có tiếng dị nghị nào. Sau mỗi lần, Jojo lượm cặp súc sắc và để lại trong hộp, trừ cặp sau cùng còn nằm trên mền.
Những người đã tuột áo sơ mi phàn nàn bị muỗi đốt. Jojo bảo tôi đốt ít nắm cỏ ướt để đuổi muỗi.
– Ai đi trước? một người to như hộ pháp, da màu đồng như người da đỏ, râu rậm đen và quắn, trên tay có xăm một cành hoa hỏng bét, hỏi Jojo.
– Anh?
– Nếu anh muốn, Jojo đáp.
Thế rồi, con khỉ đột ấy, vì hắn giống một con khỉ đột, rút từ chiếc thắt lưng có mạ bạc, một bó bạc giấy cột bằng sợi dây thun.
– Chino, anh bắt đầu đặt bao nhiêu, một người khác hỏi.
– 500 đồng.
– Theo 500.
Và các con súc sắc quay. Ra mặt tám. Jojo tìm mặt tám.
– 1.000 đồng nếu anh ra mặt tám bằng hai mặt tứ, một con bạc khác nói.
– Tôi cốc, Jojo nói.
Chino cho ra mặt tám bằng mặt ngũ với tam. Jojo thua.
Suốt năm tiếng đồng hồ, canh bạc tiếp diễn không một tiếng kêu, không một lời cãi. Họ quả là những tay cờ bạc, đặc biệt. Trong đêm, Jojo thua 7.000 đồng, và một anh què chân thua 10.000.
Trước định nghỉ chơi lúc nửa đêm, nhưng mọi người đồng ý chơi thêm một giờ nữa. Đúng một giờ sáng, Jojo tuyên bố đánh chén cuối cùng.
– Chính tôi mở đầu canh bạc, Chino tay cầm súc sắc, miệng nói. Tôi muốn đánh chén cuối cùng. Tôi đặt tất cả số tiền tôi đã ăn, 9.000 đồng.
Số tiền ấy bằng bạc giấy và kim cương. Hắn làm cái cho nhiều người đánh và ngay lần đầu đã ra mặt thất.
Trước ván bạc oanh liệt ấy, lần đầu tiên có tiếng xít xoa của mọi người. Rồi họ đứng lên: “Thôi đi ngủ”.
– Thế nào, bạn thấy rồi chứ? Jojo hỏi tôi khi chỉ còn có hai đứa.
– Ừ, tôi thấy, nhất là mặt mũi ghê gớm của tụi nó. Chúng đều võ trang đầy đủ, súng với dao găm. Có đứa ngồi lên trên dao phạng, dao bén đến nỗi chỉ một nhát là đủ đứt đầu.
– Hẳn rồi, nhưng chuyện ấy đối với anh nào có lạ gì.
– Dù sao, như anh thấy, tôi đã chịu chơi với bọn ở Đảo, thế mà tôi chưa khi nào có cảm giác bất ổn như đêm nay.
– Chỉ là thói quen, bạn ạ. Đêm mai anh sẽ chơi và chúng ta sẽ ăn, tiền như bỏ túi. Theo anh, hắn nói tiếp, những đứa nào cần canh chừng chặt chẽ nhất?
– Bọn Ba Tây.
– Hoan hô! Giá trị con người ở chỗ nhận ra ngay những đứa chỉ trong một giây có thể xâm phạm đời sống của mình.
Sau khi đã khóa chặt cửa (ba ổ khóa to tổ bố), chúng tôi ngủ dài trên võng và ngủ ngay trước khi Jojo ngáy như sấm.
Hôm sau, trời rất đẹp nhưng nóng bức vô cùng, không một đám mây, không một luồng gió nhẹ. Tôi đi dạo qua khu làng kỳ lạ này. Mọi người đều niềm nở. Đành rằng mặt mũi họ lo âu nhưng cách họ nói bằng mọi thứ ngôn ngữ liền đem đến một cảm giác nồng ấm ngay lúc tiếp xúc đầu tiên. Tôi tìm lại được anh Corse tóc đỏ. Hắn tên Miguel. Hắn nói tiếng Verezuela rất đúng, lâu lâu có pha một ít tiếng Anh và tiếng Ba Tây. Chỉ khi nào hắn nói tiếng Pháp một cách cực nhọc thì giọng quê hương của hắn mới lòi ra và khi ấy người ta nhận biết ngay hắn là người Corse. Chúng tôi nhấm nháp một thứ cà phê do một thiếu nữ lai lọc bằng một bít tất. Hắn hỏi tôi:
– Anh ở đâu đến?
– Sau lời của anh ngày hôm qua, tôi không thể dối anh. Tôi từ lao tù ra.
– À, anh là người vượt ngục? Cho tôi biết như vậy hay lắm.
– Còn anh?
Cả thân hình cao hai thước đứng thẳng lên và nét mặt người tóc đỏ của anh đượm một vẻ cao thượng vô cùng.
– Tôi cũng vượt ngục, nhưng không phải từ Guyane. Vì tôi đã đi khỏi xứ Corse trước khi người ta bắt được tôi. Tôi là một “kẻ cướp danh dự”.
Tôi cảm kích trước gương mặt của hắn, sáng lên vì hãnh diện đã là người lương thiện. Tên cướp danh dự ấy có vẻ thật hào hùng. Hắn tiếp:
– Đảo Corse là một địa đàng, xứ duy nhất mà người dân biết đem mạng sống đánh đổi lấy danh dự. Anh không tin?
– Không biết có phải là xứ duy nhất hay không, nhưng tôi thành thật nghĩ rằng ở trong bưng biền, số người vào đó vì danh dự nhiều hơn là bọn côn đồ.
– Tôi không ưa bọn côn đồ các đô thị, hắn nói với vẻ suy tư.
Tôi kể vắn tắt cho hắn nghe chuyện của tôi và tôi nói tôi định trở về Ba Lê để thanh toán món nợ.
– Anh có lý, nhưng oán cừu là một thức ăn cần phải dùng nguội. Nên làm rất cẩn thận, quả là ghê gớm nếu anh để cho bị bắt trước khi anh trả thù. Anh đi với lão Jojo phải không?
– Phải.
– Lão là người tốt. Có nhiều người nói lão đánh bạc quá khôn, nhưng tôi tin rằng lão không gian. Anh biết lão lâu chưa?
– Không lâu lắm, nhưng điều ấy không sao.
– Papillon, anh biết không, đánh bạc riết rồi cũng phải biết hơn người khác, nhưng có một điều tôi ngại cho anh.
– Điều gì?
– Hai bay ba lần gì đó, người hùn với lão bị ám sát. Hôm qua tôi có lời mời anh là vì vậy đó. Anh nên hết sức cẩn thận, và khi nào anh thấy thiếu an toàn, anh nên an tâm đến đây.
– Miquel, cảm ơn anh.
Đúng là một làng kỳ lạ, một tổ họp kì lạ, những người chôn mình trong rừng sâu, sống cuộc sống đơn sơ giữa một cảnh thiên nhiên sẵn sàng bùng nổ. Mỗi người có một thiên tiểu sử riêng. Thật là kỳ diệu khi trông thấy họ, khi nghe họ nói. Nhà của họ đôi khi chỉ là một mái bằng lá kè hoặc bằng tôn không hiểu làm cách nào được đưa đến đây. Vách ấy à? Những mảnh thùng bằng bìa hoặc bằng gỗ và có khi bằng tấm vải nữa là khác. Không có giường, chỉ có võng. Hầu như người ta ngủ, ăn, tắm rửa, làm tình ở ngoài đường. Thế mà không một ai vạch tấm ván hoặc nhìn qua khe vách ván để trông vào bên trong. Tất cả mọi người hết sức tôn trọng đời sống riêng tư của kẻ khác. Khi muốn vào thăm một nhà nào, người ta không đến gần quá hai thước, và để thay tiếng chuông báo hiệu, người ta la lớn: “Có ai trong nhà không?”. Nếu có người và anh là người lạ, anh nói: “Gentes de Paz!”, có nghĩa là: Tôi là bạn. Thế là một người xuất hiện, nói với anh rất nhã nhặn: “Adelante, Esta casa essaya.” (Mời anh vào, nhà này là nhà của anh).
Một chiếc bàn trước một căn nhà chắc chắn, bằng gỗ súc sít sao. Trên bàn, có để những chuỗi ngọc trai thiên nhiên của đảo Marguerite, một ít mảnh vàng thiên nhiên, một số đồng hồ, dây đeo đồng hồ bằng da hay bằng kim khí co giãn, rất nhiều đồng hồ báo thức.
Đó là tiệm vàng Mustafa.
Sau chiếc bàn, một anh Ả Rập già mặt mũi dễ thương. Chúng tôi nói chuyện, anh ta là người Maroc, và nhận biết tôi là người Pháp. Đã 5 giờ tối, anh ta hỏi tôi:
– Anh ăn chưa?
– Chưa.
– Tôi cũng chưa, tôi sắp ăn. Nếu anh vui lòng dùng bữa với tôi.
– Sẵn sàng.
Mustafa rất ân cần, nhã nhặn, vui vẻ nữa. Một giờ đàm đạo với anh rất kỳ thú. Anh ta không tò mò và không hỏi tôi từ đâu đến.
– Lạ thật, anh nói. Trong xứ tôi, tôi không thích người Pháp, nhưng ở đây, tôi mến họ. Anh có quen người Ả Rập nào không?
– Nhiều lắm. Có người rất tốt và cũng có người rất xấu.
– Dân tộc nào cũng vậy. Tôi, Mustafa, tôi tự xếp vào hạng người tốt. Năm nay tôi 60, tôi đáng tuổi bố anh. Trước đây tôi có đứa con ba mươi tuổi bị bắn chết cách đây hai năm. Nó rất đẹp và rất tốt bụng.
Trong mắt anh ta, có những giọt lệ không chịu chảy ra.
Tôi để tay lên vai người cha đau khổ đang xao xuyến vì nhớ đứa con và tôi nghĩ đến cha tôi hiện ở ngôi nhà nhỏ ở tỉnh Ardèche, chắc hẳn giờ đây đôi mắt đang mờ lệ khi nhắc đến tôi. Tội nghiệp ba tôi! Không biết hiện giờ ông đang ở đâu, đang làm gì? Tôi tin chắc là ông còn sống, tôi cảm giác như vậy. Mong rằng chiến tranh không xúc phạm đến ba tôi.
Mustafa mời tôi đến nhà dùng bữa khi nào tôi muốn và khi nào cần việc gì thì cứ đến khỏi e ngại, chính tôi sẽ ban ân huệ cho anh ta mỗi khi tôi yêu cầu anh giúp đỡ việc gì.
Trời sắp tối, tôi cảm ơn anh và đi về phía nhà chúng tôi. Canh bạc sắp bắt đầu. Gặp được Miguel và Mustafa, lòng tôi hết sức hân hoan.
Không gì đáng ngại về canh bạc đầu tiên của tôi. Jojo đã nói với tôi: “Không vào hang cọp không sao bắt được cọp”. Hắn có lý lắm. Nếu tôi muốn đặt thùng chất nổ tại số nhà 36 đường Orfèvres, và lo liệu các chuyện khác, cần có tiền, rất nhiều tiền. Chắc chắn là không lâu nữa, tôi sẽ có.
Vì hôm nay là thứ bảy và ngày nghỉ chúa nhật rất quý đối với bọn thợ mỏ, nên canh bạc chỉ bắt đầu lúc 9 giờ tối và sẽ kéo dài đến mặt trời mọc. Người đông như kiến, quá đông đối với căn phòng. Không thể nào để họ vào hết và Jojo chọn những người đánh lớn. Còn lại hai mươi bốn người, những người khác đánh ở ngoài. Tôi đến nhà Mustafa, anh vui vẻ cho tôi mượn một tấm thảm lớn và một đèn khí đá. Mỗi lần một tay đánh lớn rút lui, lại có một người ngoài vào thế chỗ.
Banco, rồi banco! Tôi không ngừng cốc cái chén bạc mỗi khi Jojo bung súc sắc: “Hai ăn một không ra mặt lục với hai mặt tam… mặt thập với hai mặt ngũ… vân vân… Mắt mọi người sáng rực. Mỗi lần một người trong bọn đưa chiếc ly lên, một đứa nhỏ mười một tuổi rót rượu vào. Chính Miguel tiếp tế thức uống và xì gà cho canh bạc theo lời tôi yêu cầu Jojo.
Không lâu canh bạc trở thành sát phạt kịch liệt. Không cần xin phép Jojo, tôi đổi chiến thuật của hắn. Không những tôi cốc trên số tiền hắn đặt, mà còn trên số tiền của những người khác nữa, làm cho hắn nhíu mày. Vừa đốt một điều xì gà, hắn càu nhàu: “Dẹp đi! Đừng gây rắc rối!”. Vào khoảng 4 giờ sáng, tôi có trước mặt một đống bạc kếch sù đủ loại bạc, kim cương và cả một ít vàng thiên nhiên.
Jojo cầm súc sắc. Hắn đặt 500 đồng. Tôi theo hắn 1.000.
Ra mặt thất.
Tôi đặt hết 2.000 đồng. Jojo lùa 500 đồng đã ăn.
Ra mặt thất nữa.
Jojo lùa tiền nữa. Thất!
– Henri làm gì đó, Chino hỏi.
– Tôi đặt 4.000.
– Banco một mình tôi.
Tôi nhìn thằng cha vừa nói. Một thằng lùn, đen như xi ra đánh giày, đôi mắt đỏ ngầu vì rượu. Chắc là người xứ Ba Tây.
– Anh hãy đặt 4.000 đồng ra đi.
– Viên kim cương này đáng giá hơn.
Và nó quăng xuống mền một viên kim cương ngay trước mặt nó. Nó ngồi xếp bằng tròn, mình trần, quần soọc ngắn. Anh Tàu nhặt viên kim cương để lên cân rồi nói:
– Nó chỉ đáng giá 3.500.
– 3.500 cũng được, thằng Ba Tây nói.
– Jojo, bung đi.
Jojo bung súc sắc, nhưng thằng Ba Tây đã nhanh tay chụp các con súc sắc đang quay. Tôi tự hỏi việc gì sẽ xảy ra, vì nó chỉ nhìn sơ các con súc sắc, nhổ nước bọt lên trên rồi quăng lại cho Jojo, nói:
– Bung con súc sắc ướt như thế này.
– Henri, chịu không? Jojo nhìn tôi hỏi.
– Tùy anh.
Sau khi đưa tay trái kéo chiếc mền để nếp nhăn tăng thêm, Jojo bung súc sắc, cho chạy rất nhiều, mà không lau mấy con súc sắc.
Và, mặt thất nữa.
Như có một chiếc lò xo bung ra, thằng Ba Tây đứng phắt dậy, tay để vào cây súng. Rồi chậm rãi nó nói: “Đêm nay tôi chưa ăn”. Rồi nó bỏ đi.
Khi nó đứng lên như một con quỷ bước ra khỏi hàng, tôi liền để tay trên chiếc súng của tôi, trong nòng súng có một viên đạn. Jojo không nhúc nhích, cũng không làm một cử chỉ nào để tự vệ. Thế mà chính nó là mục tiêu của thằng da đen. Tôi thấy cần phải học rất nhiều để biết chính xác lúc nào phải rút súng ra và lúc nào mới bắn.
Đến mặt trời mọc, mọi người ngừng chơi. Thấm khói cỏ ướt và khói thuốc điếu và thuốc xì gà, mắt tôi cay đến muốn khóc. Hai chân tôi hoàn toàn tê cứng vì ngồi xếp chân dưới đùi hơn chín giờ. Nhưng tôi hài lòng một chuyện: tôi không đứng lên để đi tiểu, và như thế chắc chắn là tôi làm chủ được tinh thần và đời sống của tôi.
Chúng tôi ngủ đến hai giờ chiều.
Khi tôi thức dậy, Jojo không có đó. Tôi mặc quần; không còn gì trong túi tôi. Có lẽ Jojo đã lấy hết. Khỉ thật! Thế mà chúng tôi chưa tính toán, đáng lý hắn không nên làm như vậy. Tôi nhận thấy hắn tự cho mình là người chỉ huy. Tôi không phải và chưa bao giờ làm quan, nhưng tôi tởm những đứa tự cho mình hơn người khác, muốn làm gì cũng được.
Tôi đi ra và tìm thấy Jojo đang ăn một đĩa mì ống xào thịt bò.
– Khỏe chứ bồ?
– Vừa khỏe vừa không khỏe.
– Tại sao lại không?
– Bởi vì đáng lý anh không được trút hết túi quần tôi trong khi không có tôi.
– Bé ơi, đừng có ngốc. Tôi là người đàng hoàng và nếu tôi làm như vậy là vì dù sao tất cả đều do lòng tin nhau. Ví dụ, trong một canh bạc, anh có thể đút kim cương hay giấy bạc vào một nơi khác không phải vào túi. Mặt khác, anh không biết tôi ăn bao nhiêu. Thế thì chúng mình có cùng đổ túi ra hay không, cũng vậy thôi. Vấn đề tin nhau.
Hắn có lý, hãy cho qua chuyện này. Jojo trả tiền rượu và thuốc lá đêm qua cho Miguel. Tôi hỏi hắn, trả tiền thuốc lá và rượu cho bọn kia có kỳ không.
– Nhưng nào có phải tôi trả! Mỗi thằng ăn nhiều để lại một ít. Ai cũng biết chuyện ấy.
Cuộc sống ấy tiếp tục hằng đêm. Chúng tôi đến đây đã được hai tuần, và trong suốt hai tuần, mỗi đêm chúng tôi sát phạt nhau kịch liệt, lại có thể nguy hiểm đến tính mạng nữa.
Đêm qua, trời mưa ghê gớm. Tối như mực. Một người đứng lên sau khi ăn khá nhiều. Nó đi ra cùng một lúc với một thằng to lớn ngồi ở đó nhưng không chơi nữa một lúc khá lâu vì hết tiền. Hai mươi phút sau thằng khổng lồ thua hết tiền ấy trở lại và đánh như điên. Tôi đoán thằng ăn đã cho nó mượn tiền, rồi tôi cũng lấy làm lạ tại sao cho nó mượn nhiều quá vậy. Ngày hôm sau người ta tìm thấy thằng ăn bị đâm một nhát dao nằm chết cách nhà chúng tôi năm chục thước. Tôi nói chuyện ấy với Jojo và cho hắn biết nhận xét của tôi.
– Không phải chuyện của mình, nó đáp. Lần sau nó sẽ cẩn thận hơn.
– Bạn lẩm cẩm quá. Làm gì có lần sau nữa vì nó đã chết rồi!
Dĩ nhiên là tôi nghe lời khuyên của José. Ngày nào tôi cũng bán giấy bạc ngoại quốc, kim cương và vàng cho một người Liban, chủ một tiệm kim hoàn ở Ciudad Bolivar. Phía trước nhà hắn có một tấm biển: “Ở đây mua giá đắt vàng và kim cương”. Và bên dưới:
“Kho tàng lớn nhất của tôi là tính lương thiện”.
Trong một phong bì được nhúng vào nước cao su sống, tôi xếp cẩn thận các chi phiếu đề tên tôi, đưa ra là trả tiền ngay. Chi phiếu ấy người khác không lãnh được, cũng không thể chuyển nhượng cho ai khác. Tất cả những khuôn mặt ghê tởm của sòng bạc đều biết chuyện ấy và khi gặp mặt thằng đáng sợ hoặc không biết tiếng Pháp hay tiếng Tây Ban Nha, tôi nói cho nó biết. Thế là đối với tôi chỉ nguy hiểm trong sòng bạc và khi canh bạc vừa tan. Đôi khi lão Miguel đến tìm tôi vào lúc mãn sòng.
Hai ngày nay tôi cảm thấy không khí trở nên căng thẳng, nghi kỵ, không trong sáng. Nhờ những năm tháng trong tù nên tôi nhạy cảm. Trong căn lều ở Đảo, mỗi khi sắp có “pháo nổ”, người ta biết ngay mặc dù không hiểu tại sao. Phải chăng, vì luôn luôn phải đề phòng, nên người ta nhận được các luồng điện do bọn âm mưu làm bậy phát ra? Tôi không hiểu. Nhưng chưa bao giờ tôi lầm.
Thí dụ hôm qua bốn thằng Ba Tây suốt đêm đứng dựa lưng vào bốn góc buồng. Họa hoằn lắm, một thằng từ bóng tối đi ra chỗ ánh đèn soi sáng tấm thảm để đặt cho có chuyện. Không bao giờ chúng lấy hoặc hỏi lấy súc sắc. Điều này nữa: không đứa nào mang vũ khí một cách lộ liễu. Không dao phạng, không dao găm, không súng lục. Sự việc ấy không đi đôi với vẻ mặt sát nhân của chúng. Chắc chắn là chúng cố ý.
Đêm nay chúng trở lại. Vì chúng bỏ áo ra ngoài quần, hẳn là chúng có súng trên bụng. Dĩ nhiên chúng đứng trong bóng tối, tuy vậy tôi cũng nhận thấy mắt chúng không rời cử chỉ các con bạc. Tôi canh chừng và không cho chúng biết, như vậy phải đừng nhìn chúng. Tôi giả vờ ho rồi nghiêng mình về phía sau, tay để trên miệng. Nhưng rủi là tôi chỉ có hai đứa trước mặt. Hai đứa kia ở phía sau và tôi chỉ có thể thấy chúng rất nhanh bằng cách quay ra sau hỉ mũi.
Jojo bình tĩnh lạ thường. Như một tảng băng. Đôi lúc hắn cũng có nhận chơi trên tay người khác và như vậy hắn chịu thua hoàn toàn do may rủi. Vì hắn đã nói, nên tôi biết rằng mánh lới ấy khiến hắn bực mình, vì hắn phải ăn đi ăn lại hai ba lần một số tiền trước khi ăn được hẳn. Tuy nhiên lúc canh bạc sôi nổi, nó trở nên háu ăn và cho tôi quá nhanh nhiều bó bạc lớn.
Biết đang bị mấy thằng quỷ kia theo dõi, nên tôi cố ý để tất cả trước chỗ tôi ngồi. Đêm nay làm tủ sắt không lợi cho tôi.
Hai ba lần tôi dùng tiếng lóng nói nhanh cho Jojo biết hắn để tôi ăn quá nhiều. Hắn có vẻ không hiểu. Bởi vì hôm qua tôi đã giả vờ đi cầu rồi không trở lại, tôi nghi nếu bốn thằng khốn nạn này đến đây để hành động đêm nay thì chúng sẽ không chờ tôi trở vào mà chúng sẽ thịt tôi giữa nhà và cầu tiêu.
Tôi nhận thấy không khí mỗi lúc căng thẳng thêm, bốn bức tượng ở bốn góc phòng mỗi lúc thêm nôn nả. Nhất là một đứa hút, hết điếu thuốc này đến điếu khác, mồi điếu sau vào điếu trước.
Tôi bèn cốc hết bất kể phải trái, mặc dù Jojo càu nhàu. Quái gở là tôi ăn thay vì thua và đồng bạc của tôi cứ tăng lên chứ không giảm. Trước mặt tôi, có đủ hết, nhất là giấy 500 đồng. Tinh thần quá căng thẳng nên trong lúc lấy mấy con súc sắc, tôi để điếu thuốc trên giấy bạc. Một tờ giấy bạc bị cháy hai lỗ vì tờ giấy gấp làm đôi. Tôi dùng tờ giấy bạc ấy đặt cùng với ba tờ khác trong một chén cốc 2.000 đồng. Thằng ăn tiếng bạc ấy nói: “Mai chơi lại”. Nó bỏ đi.
Vì canh bạc sôi động, tôi không để ý đến thì giờ trôi qua, bất chợt tôi ngạc nhiên thấy tờ giấy bạc trên thảm. Tôi biết rất rõ người đã ăn tờ bạc ấy: một người để râu, độ bốn mươi tuổi, da trắng, gầy đét, một vệt trắng bên tai trái trông rõ trên nước da sạm nắng. Thằng chả không còn ở đó nữa. Trong một giây, tôi nghĩ: Chắc chắn nó đi ra một mình. Tuy nhiên không đứa nào trong số bốn thằng quỉ quái kia nhúc nhích gì hết. Vậy là có một hoặc hai đồng lõa ở ngoài. Hẳn là từ chỗ ngồi, chúng có cách ra hiệu cho đồng lõa biết rằng có một người mang nhiều bạc và kim cương đi ra.
Tôi không thể biết người nào đã vào sau khi nó đi vì có rất nhiều con bạc vừa đứng vừa chơi. Những người ngồi thì vẫn những tay ấy suốt mấy giờ rồi và chỗ của thằng râu có tờ giấy bạc cháy đã có người chiếm ngay sau khi nó đứng lên.
Thế nhưng ai đặt tờ bạc ấy? Tôi muốn lấy tờ bạc và đặt câu hỏi. Nguy hiểm lắm.
Không nghi ngờ gì nữa, mạng sống tôi bị đe dọa. Tôi có trước mắt bằng chứng thằng râu đã bị ám sát. Thần kinh căng thẳng nhưng thăng bằng, tôi phải suy nghĩ rất nhanh. Bây giờ là 4 giờ sáng, trời chưa sáng trước 6 giờ 15 phút, bởi vì ở vùng nhiệt đới, trời sáng đột ngột lúc 6 giờ. Như vậy, nếu có xảy ra việc gì, phải là giữa bốn và năm giờ. Đêm đen như mực, tôi biết như vậy, vì vừa đứng lên giả vờ thở một ít không khí mát mẻ ở ngưỡng cửa. Tôi để đống của tại chỗ ngồi, sắp xếp cẩn thận. Bên ngoài, không thấy gì bất thường.
Tôi trở lại chỗ ngồi xuống, bình tĩnh nhưng tất cả giác quan đều thức tỉnh. Gáy của tôi đánh điện cho tôi biết có hai cặp mắt nhìn chòng chọc vào đó.
Jojo bung súc sắc tôi để người khác cốc với hắn. Thế là hắn bắt đầu có một bó bạc khá lớn trước mặt, điều mà hắn rất ghét.
Quả thật tôi cảm thấy bầu không khí tăng nhiệt độ, làm ra vẻ thản nhiên, với một giọng bình tĩnh, tôi nói với Jojo bằng tiếng Pháp:
– Bạn ơi, tôi tin chắc, tôi cảm thấy trong không khí có triệu chứng bất thường. Anh nên đứng lên một lượt với tôi và chĩa súng ra mọi người.
Hắn mỉm cười như để nói với tôi một điều rất dễ thương, và cũng như tôi, hắn không đếm xỉa đến người khác có thể hiểu tiếng Pháp:
– Bồ ơi, tại sao bạn có thái độ ngu xuẩn như vậy. Chĩa súng vào ai mới được chứ?
Đúng vậy. Chĩa vào ai? Và vì lẽ gì, có chính đáng không? Thế nhưng chắc chắn là có chuyện. Thằng cha không rời điếu thuốc trên môi liên tiếp kêu hai cốc rượu, mỗi cốc uống một hơi.
Đi ra một mình, dù với súng trong tay, cũng không ích gì trong đêm tối như mực này. Tụi ở ngoài thấy tôi mà tôi không thấy chúng. Hay là chun vào buồng bên cạnh? Càng tệ hơn. Chín phần mười là có một thằng đã dễ dàng dở một tấm ván của bức vách chui vào đó trước.
Chỉ còn một việc có thể làm: thản nhiên để tất cả tiền ăn vào túi vải, để túi tiền chỗ tôi ngồi rồi đứng lên đi tiểu. Chúng sẽ không ra hiệu vì tôi không bạc tiền. Cả thảy hơn 5.000 đồng. Thà mất tiền còn hơn mất mạng.
Vả lại, không thể lựa chọn. Đó là lối thoát duy nhất để ra khỏi cạm bẫy đã được chúng sắp đặt rất công phu và sẵn sàng tung ra bất cứ giây phút nào.
Dĩ nhiên những điều trên được tôi suy nghĩ rất nhanh vì đã 5 giờ kém 7 phút. Tôi thu góp tất cả, giấy bạc, kim cương, ống thuốc cảm, cùng những thứ khác, trước mặt mọi người. Tôi chậm rãi bỏ đống của ấy vào túi vải. Rất tự nhiên, tôi rút hai dây cột túi vải, để nó trước mặt tôi khoảng 40 phân rồi tôi nói bằng tiếng Tây Ban Nha để mọi người hiểu:
– Jojo, coi chừng túi tiền. Tôi cảm thấy khó chịu, tôi ra ngoài cho mát một chút.
Jojo đã theo dõi cử chỉ của tôi, đưa tay ra và nói:
– Đưa đây, túi tiền để đây tốt hơn chỗ nào hết.
Vừa ái ngại, tôi đưa túi tiền cho hắn, vì tôi biết như vậy hắn dấn thân vào nguy hiểm, một mối nguy hiểm trước mắt. Nhưng biết làm thế nào? Từ chối? Không thể được, vì như thế sẽ kỳ lắm.
Tôi bước ra, tay để trên khẩu súng. Trong đêm tối, tôi không thấy ai hết, nhưng không cần thấy tôi cũng biết chúng đang đứng đó. Tôi đi mau, gần như chạy về hướng nhà Miguel. Tôi sẽ cùng Miguel đi trở lại với một cây đèn khí đá để xem có gì ở chung quanh căn nhà, như thế may ra tránh được tai họa. Tai hại là nhà Miguel ở cách nhà chúng tôi đến hai trăm thước. Tôi liền vắt giò chạy.
– Miguel! Miguel!
– Việc gì vậy?
– Dậy mau, cầm súng và cây đèn! Sắp nổ lớn.
Pan! Pan! Hai tiếng súng nổ trong đêm tối.
Tôi chạy tới. Ban đầu tôi lộn nhà nên bị người bên trong chửi thề, đồng thời người ta hỏi tôi tại sao có tiếng súng. Tôi tiếp tục chạy, kìa nhà tôi kìa, không còn đèn đuốc gì cả. Tôi quẹt diêm. Nhiều người xách đèn chạy tới. Không còn ai trong phòng. Jojo nằm dài trên sàn, gáy bắn ra máu quá nhiều. Hắn chưa chết nhưng bất tỉnh. Tôi tưởng tượng ngay đến thảm kịch, vì một chiếc đèn bấm bỏ lại tại chỗ giải thích những gì đã xảy ra. Chúng bắn trước vào chiếc đèn khí đá trong khi chúng sát hại Jojo. Chúng dùng ánh sáng đèn bấm hốt tất cả những gì trước mặt Jojo, túi bạc của tôi và số tiền Jojo đã được. Áo sơ-mi của hắn bị bứt ra, chiếc thắt lưng bằng vải thô hắn mang sát da đã bị một lát dao xẻ ra.
Dĩ nhiên tất cả bọn con bạc đã tẩu tán. Phát súng thứ hai có lẽ được bắn ra để cho các con bạc chạy gấp hơn. Vả lại lúc tôi đứng lên thì sòng bạc không còn nhiều người lắm. Tám người ngồi, hai người đứng, bốn thẳng quỉ quái đứng trong bốn góc cộng thêm thằng nhỏ bưng dọn thức uống.
Mọi người tình nguyện giúp đỡ. Người ta khiêng Jojo đến nhà Miguel để trên chiếc giường bằng cây. Jojo ở trong tình trạng hôn mê cả buổi sáng. Máu đã đông, không chảy nữa. Theo một thợ mỏ người Anh, đó là điều tốt mà cũng là điều xấu, bởi vì nếu bể sọ, máu sẽ chảy bên trong. Tôi quyết định để Jojo nằm yên. Một thợ mỏ người Callao, bạn cũ của Jojo đã đi đến một hầm mỏ khác để mời bác sĩ.
Tôi chán nản hết sức. Tôi giải bày tâm sự với Mustafa và Miguel và hai người đó an ủi tôi rằng vụ này đã được linh cảm trước hằng giờ và tôi đã báo trước cho Jojo: đáng lẽ hắn phải nghe tôi.
Đến ba giờ chiều, Jojo mở mắt. Chúng tôi cho hắn uống ít giọt rượu rum rồi hắn thì thào một cách khó khăn: “Bạn ơi, tôi cảm thấy số tôi như thế là xong. Cứ để tôi nằm yên. Papillon, anh không có lỗi gì hết, lỗi tại tôi!” Hắn thở một chút rồi nói tiếp: “Miguel, sau chuồng heo nhà anh, có chôn một cái hộp. Nhờ thằng một mắt đem cho vợ tôi, Lola”. Sau vài phút tỉnh lại ấy, hắn trở lại hôn mê. Hắn chết lúc mặt trời lặn.
Mụ đàn bà to lớn chủ quán đầu tiên, mụ Dona Carmencita có đến viếng Jojo. Mụ đem vài viên kim cương với ba hoặc bốn tờ bạc mụ đã lượm được tại phòng bạc, trong buổi sáng. Thế mà trước mụ, đã có biết bao nhiêu người vào phòng ấy rồi? Không một ai động đến số bạc và kim cương ấy.
Hầu hết mọi người trong xóm nhỏ này đã dự đám táng. Bốn thằng Ba Tây đều có mặt, vẫn bỏ áo ngoài quần. Một thằng trong bọn đến gần tôi chìa tay ra, tôi giả vờ không thấy và đập một cái thân mật trên bụng nó. Tôi không lầm, khẩu súng để đúng ở chỗ tôi đoán.
Tôi tự hỏi có nên ra tay với chúng không. Bây giờ? Hay sau này? Bằng cách nào? Không làm gì hết. Trễ mất rồi.
Tôi muốn được nằm một mình, nhưng theo tục lệ, sau tang lễ, phải đi uống một chén rượu tại các quán rượu mà người chủ quán đã đi dự đám táng. Tất cả đều đã đi dự và luôn là như vậy.
Tại quán của Dona Carmencita, mụ lại ngồi bên tôi, tay cầm ly rượu hồi. Khi tôi đưa ly lên uống, mụ cũng đưa ly của mụ lên, nhưng chỉ nâng ly trước miệng và không cho thiên hạ thấy mụ nói với tôi.
– Thà hắn bị còn hơn anh. Bây giờ anh yên tâm đi bất cứ đâu anh thích.
– Tại sao yên tâm?
– Bởi vì tất cả mọi người đều biết anh đã bán tất cả số tiền anh đã ăn cho tên người Liban.
– Đúng, nhưng nếu người ta giết tên người Liban thì sao?
– Quả vậy. Lại một vấn đề khác.
Tôi bỏ đi một mình, để các bạn bè ngồi lại nhậu, sau khi đã nói cho mụ Dona Carmencita biết tôi trả tiền riêng cho tất cả mọi người.
Tôi đi vào con đường nhỏ dẫn đến cái mà người ta gọi là nghĩa trang, một khoảnh đất đã phát hoang độ 50 thước vuông; tôi hiểu tại sao tôi đi vào đó.
Nghĩa trang có 8 ngôi mộ. Mộ Jojo là cuối cùng, Mustafa đứng trước mộ. Tôi lại gần.
– Mustafa, anh làm gì đây?
– Tôi đến để cầu nguyện cho người bạn cố tri tôi thương mến nhiều và tôi có đem theo một thánh giá. Anh quên bảo làm cái thánh giá.
Quả vậy, tôi ngốc quá! Tôi không nhớ đến thánh giá. Tôi bắt tay anh Ả Rập để cảm ơn.
– Anh không theo đạo Thiên Chúa hẳn? Hắn hỏi tôi. Tôi không thấy anh cầu nguyện khi người ta ném đất trên linh cữu của Jojo.
– Nghĩa là… chắc hẳn có Chúa, Mustafa ạ, tôi nói cho hắn được vui lòng. Tôi cũng cảm ơn hắn đã che chở cho tôi thay vì tiếp tục đồng lõa với Jojo. Hắn đã cầu nguyện cho Jojo, tôi đã tha thứ cho anh già lúc thiếu thời đã sống khốn khổ trong giới hạ lưu của khu Belleville. Hắn chỉ học được có một nghề, nghề đánh bạc.
– Bạn ơi, bạn kể lể gì vậy? Tôi không hiểu.
– Không hại gì. Xin anh chỉ nhớ một điều: tôi hết lòng thương tiếc Jojo. Tôi cố cứu hắn. Không ai nên tưởng mình khôn hơn kẻ khác vì một ngày nào đó cũng có người nhanh hơn. Jojo nằm đây hay lắm. Hắn yên giấc ngàn thu bên cạnh những gì hắn sùng thượng cả đời: phiêu lưu mạo hiểm và thiên nhiên, với sự xá tội của Chúa.
– Vâng, Chúa sẽ xá tội cho nó, chắc chắn như vậy, vì nó rất tốt.
– Hẳn là vậy.
Tôi chậm rãi trở về làng. Quả thật tôi không oán trách Jojo, tuy rằng hắn hầu như treo án tử hình trên đầu tôi. Tôi nhớ đến sự nhanh nhẹn, sự cương nghị sắt đá, sự trẻ trung của hắn tuy tuổi đã sáu mươi, điệu bộ công tử ngoại ô của hắn: “Trời ơi, phải ăn mặc đàng hoàng!”… Rồi tôi được người báo trước để đề phòng. Tôi sẵn sàng đọc một câu kinh ngắn để cảm ơn Jojo đã khuyên nhủ tôi. Không có anh ta, bây giờ tôi không còn ở đây.
Đưa qua đưa lại trên chiếc võng, hút hết điếu xì gà này đến điếu khác để cho say thuốc đồng thời để đuổi muỗi, tôi kiểm điểm mọi việc.
Được lắm. Chỉ sau mấy tháng tự do, tôi đã có mười nghìn mỹ kim. Ở Callao cũng như ở đây, tôi đã gặp đàn ông và đàn bà đủ mọi chủng tộc, đủ mọi giai tầng xã hội, nhưng tất cả đều nồng nàn nhân ái lạ thường. Xuyên qua họ và trong cuộc sống giữa thiên nhiên, trong một khung cảnh khác hẳn thành thị, tôi cảm thấy sự tự do mà tôi đã bao phen tranh đấu là một vật kỳ diệu.
Vả lại, chiến tranh đã chấm dứt nhờ tướng De Gaulle và những người lính cứu hỏa là dân tộc Mỹ. Trong cuộc lộn xộn của hàng triệu người, một tên tù đầy quả là không đáng kể. Càng tốt, điều này sẽ giúp ích cho tôi: trước bao nhiêu vấn đề phải giải quyết, người ta còn lo nhiều chuyện khác hơn là tìm hiểu tôi đã đi đâu.
Tôi 37 tuổi, 13 năm tù đầy, 53 tháng cô đơn hoàn toàn nếu kể, ngoài thời gian cấm cố, những ngày bị giam ở ba nơi khác. Khó xếp tôi vào hạng nào. Tôi không phải một thằng khốn nạn chỉ biết kiếm ăn với một cái xẻng, một cái cuốc hoặc một cái búa, nhưng tôi cũng không có một nghề đích thực như thợ máy hay thợ điện để có thể kiếm sống trong bất cứ quốc gia nào. Mặt khác, vì không có một trình độ học vấn đầy đủ, tôi không đủ khả năng nhận những trách nhiệm quan trọng. Luôn luôn phải học một nghề chân tay đồng thời với việc học chữ nghĩa. Nếu vì một lẽ này hay lẽ khác, con đường học vấn bị gián đoạn, người ta vẫn có thể chống chế với cuộc sống. Không phải vì có một trình độ học vấn nào đó, ta cảm thấy cao hơn người quét đường – không bao giờ tôi khinh ai, ngoại trừ bọn cai ngục và bọn cảnh sát – nhưng ta cảm thấy không hợp với con người của ta, như đặt bàn tọa giữa hai chiếc ghế, ta cảm thấy có thể sung sướng, nhưng chưa thực sự sung sướng.
Tóm lại, tôi học quá nhiều đồng thời cũng chưa đủ. Úi chà, kết luận như vậy chả sáng sủa gì!
Vả lại, nếu là một người bình thường, làm sao có thể làm chủ được những ham muốn thầm kín? Đáng lẽ phải tìm một cuộc sống bình yên, nhưng sống như những người cựu phạm về già ở Callao thì tôi lại cảm thấy trong thâm tâm một cái gì muốn bùng nổ, một niềm khát vọng mãnh liệt đối với cuộc đời. Sự phiêu lưu mạo hiểm hấp dẫn tôi quá mạnh nên tôi tự hỏi đến bao giờ tôi mới chịu ngồi yên.
Mặt khác, tôi còn phải phục thù, thật tôi không thể nào tha thứ cho bọn người đã hãm hại tôi và gia đình tôi. Papillon, hãy bình tĩnh. Mày còn có thì giờ. Mày nên dần dần tin vào tương lai. Mày có hứa sẽ sống đàng hoàng tại xứ này, thế mà mày đã quên lời hứa và đang chui đầu vào một cuộc phiêu lưu mạo hiểm.
Thật là khó sống như thiên hạ, nghe lời như thiên hạ, đi cùng nhịp đi với thiên hạ, và theo đúng nguyên tắc phải chấp nhận hai yếu tố thời gian và không gian.
Papillon, giữa 2 điều, cần chọn một: hoặc mày tôn trọng xứ sở trời cho này và từ bỏ thù hận, hoặc là mày không thể vứt bỏ ám ảnh ấy và phải cần có nhiều tiền, số tiền ấy, nếu làm ăn lương thiện thì không bao giờ có đủ, mày phải đi vào phiêu lưu mạo hiểm trở lại.
Nghĩ cho cùng, số tiền cần thiết ấy, tôi có thể đi kiếm ở nơi khác, ngoài xứ Venezuela. Con ơi, như thế không ngốc lắm đâu. Chờ xem. Phải suy nghĩ thêm. Giờ thì ngủ đã.
Nhưng trước khi đi ngủ, tôi không khỏi ra đứng nơi ngưỡng cửa một lúc để ngắm trăng sao, nghe muôn ngàn tiếng động, tiếng kêu của rừng sâu, đang vây kín ngôi làng như một biên thùy bí hiểm, bức tường ấy càng đen tối thì ánh trăng càng trong sáng.
Rồi tôi ngủ, ngủ theo nhịp đưa của chiếc võng, sung sướng trong từng thớ thịt vì cảm thấy tự do, tự do, tự do và làm chủ vận mạng của mình.














