Banco Papillon Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

ĐỜI MỚI xuất bản 1974

Post by Sơn râu 13 Sep 2025

3. Jojo, Tay Cờ Bạc Bịp

Quái, có người hát bằng tiếng Pháp! Đó là ông già nhỏ người. Tôi lắng nghe.

Bọn cá mập đã đến rồi

Chúng đánh hơi người

Con thì nhai một cánh tay như nhai táo

Con khác nhai khúc mình, và tra-la-la

Lanh lợi khéo léo là hơn hết

Giã biệt tù nhân, công lý muôn năm!

Tôi sửng sốt. Tiếng hát chậm rãi, như một kinh cầu siêu độ. Mấy chữ “tra-la-la” với giọng tươi vui châm biếm và câu “công lý muôn năm” đầy ắp nét hài hước của vùng ngoại ô Ba Lê. Nghe như một chân lý đương nhiên. Tuy vậy, phải là dân ở đó mới cảm thấy tất cả ý nhị châm biếm.

Tôi nhìn gã. Không cao hơn ba quả táo, cao đúng 1 thước 55 như tôi được biết về sau. Một cựu tù nhân đặc sắc nhất trong số người tôi biết. Tóc bạc phơ với hai mớ tóc mai dài muối tiêu gọt lài. Một chiếc quần chẽn, một thắt lưng bằng da to bản, một bá súng cong đến nách. Tôi lại gần gã. Đầu gã không đội mũ (mũ để dưới đất), tôi thấy rõ trên trán rộng của gã có nhiều vệt đỏ hơn màu da mật cháy nắng của một tay giang hồ cố cựu. Lông mày dài và rậm đến nỗi gã phải dùng lược để chải. Phía dưới là đôi mắt màu thép xám như đôi khoan lục lạo tôi rất nhanh. Tôi chưa đi bốn bước, gã đã nói:

– Anh thuộc hạng cựu tù nhân, chắc mẩm như cái tên La Passe của tôi.

– Đúng, tôi tên Papillon.

– Tôi là Jojo la Passe.

Tay gã đưa ra bắt tay tôi một cách thẳng thắn, không quá mạnh như thường lệ giữa đàn ông với nhau, không quá mạnh đến nỗi gẫy ngón tay như bọn tự đắc, cũng không quá mềm nhũn như bọn đạo đức giả hay lười biếng. Tôi nói:

– Chúng mình đến quán rượu uống chơi. Tôi mời anh.

– Không, đến nhà tôi, ở trước đây, ngôi nhà trắng đó. Tên ngôi nhà là Belleville, của vợ tôi. Đến đó chúng ta đấu hót yên hơn.

Trong nhà rất ngăn nắp, sạch sẽ. Đó là thế giới của vợ gã, trẻ, rất trẻ, có lẽ hai mươi lăm tuổi. Gã thì ít nhất cũng đến sáu mươi. Nàng tên Lola, một thiếu phụ người Venezuela nước da đục.

– Chào anh mới đến, nàng nói với nụ cười duyên dáng.

– Cám ơn chị.

– Hai ly rượu hồi nhá, Jojo hỏi tôi. Một thằng người Corse đem từ Pháp qua cho tôi hai trăm gói. Anh sẽ thấy rượu này rất ngon.

Lola đưa rượu ra, Lola uống một hơi hai phần ba ly rượu.

– Sao đó? anh nhìn kỹ vào mắt tôi nói.

– Sao chuyện gì? Không lẽ anh tưởng tôi kể chuyện đời tôi sao?

– Được rồi bạn. Nhưng cái tên Jojo la Passe không gợi gì cho anh sao?

– Không.

– Người ta quên mau thật. Thế mà tôi là một cựu tù nhân có hạng đấy. Không có ai như tôi, có thể cho ra mặt bảy và mặt mười một bằng những con súc sắc dũa một tý, nhưng dĩ nhiên không đổ chì. Dĩ nhiên không phải mới đây, nhưng dù sao, chúng ta là những con người để lại một cái gì, một huyền thoại. Và tất cả chuyện ấy. Như tôi thấy, chỉ có mấy năm đã không ai nhớ đến. Có thật là không có thằng nào nói với anh chuyện ấy sao?

Gã có vẻ bực tức lắm.

– Quả thật là không.

Một lần nữa, ánh mắt như chiếc khoan lục lạo suốt gan ruột tôi.

– Anh ở tù không lâu, diện mạo anh có vẻ không phải là một cựu tù nhân.

– Mười ba năm cả thảy, ở ngục thất El Dorado, anh tưởng ít sao?

– Không lý. Chỉ thấy vết hằn rất nhẹ và phải là một cựu tù nhân khác mới nhận biết anh từ đó vừa ra. Chưa kể một người ít sành về tướng mạo có thể lầm là đằng khác. Trong ngục thất, anh có thấy dễ chịu không?

– Không dễ chịu chút nào: ở ngoài đảo, rồi phải bị giam vào phòng tối….

– Gió mát bạn ơi, gió mát! Ngoài đảo hả? Một nơi nghỉ hè chỉ thiếu một câu lạc bộ! Thưa ông, tôi hiểu. Đối với các ông, ngục thất là gió khơi, tôm hùm, câu cá, không có muỗi và lâu lâu lại có một món tráng miệng đàng hoàng: lỗ đít hoặc lá đa của một người đàn bà tội lỗi nhịn quá lâu vì lỗi thằng chồng ngu ngốc.

– Thế nhưng, anh biết không….

– Ta-ta-ta, đừng nói nhiều! Tôi biết chuyện ấy. Tôi chưa ở Đảo, nhưng người ta có kể cho tôi nghe.

Thằng chả có phần nào kỳ lạ, nhưng bắt đầu có chuyện không hay cho gã vì tôi cảm thấy cay cay ở mũi. Gã nói nữa:

– Ngục thất chính hiệu là ở cây số 24. Anh không biết hả? Chắc là không rồi. Với bộ mặt của anh thì chưa bao giờ anh đến đái ở đó! Này, bạn ơi, tôi đã ở đó. Một trăm thằng, tất cả đều đau trong bụng. Đứa thì đứng, đứa thì nằm, đứa thì rên siết như con chó. Trước mặt họ là rừng rậm như một bức vách. Nhưng không phải họ đốn ngã rừng mà chính rừng vật ngã họ. Không phải một trại lao công. Theo cơ quan quản trị ngục thất cho biết, nó là một lòng chảo ẩn kín trong rừng sâu xứ Guyane, người ta quăng vào đó những đứa không bao giờ nhoài người lên được. Papillon, được rồi, đừng nói thêm nữa bạn ạ. Đối với tôi, không cần khoe khoang. Anh không có ánh mắt của một con chó bị đập quá nhiều, cũng không có đôi má trũng của một thằng chết đói lòi đít, cũng không có khuôn mặt của những thân xác tả tơi nhờ phép lạ thoát khỏi địa ngục ghê gớm ấy, như thế người ta đã dùng dao gọt đẽo lại bộ mặt để áp đặt lên trên những con người còn trẻ một khuôn mặt già nua. Anh không phải vậy. Tôi đoán không sai chút nào: tù đầy đối với anh là nghỉ hè có nắng ấm.

Thằng cha này thật lắm lời. Tôi tự hỏi cuộc gặp gỡ này đi đến đâu.

– Như tôi đã nói với anh, tôi đã ở trong cái lòng chảo mà một khi đã vào rồi không ai ra được, con người bị sán lãi, sâu bọ tàn phá dần dần. Papillon, thật tội nghiệp cho anh! Tôi nhắc lại: ngay đến cái ngục thất anh cũng không biết. Bạn ơi, cảnh tôi vừa diễn tả hết sức đúng như vậy, chính không phải do tôi, mà tôi đọc Albert Loudres và ông ta đã viết ra y như tôi vừa nói đó.

Tôi chăm chú nhìn gã, một người thấp bé đầy nhựa sống cương nghị, để tính xem góc cạnh nào thích hợp nhất có thể tống một quả đấm vào miệng gã thì đột nhiên tôi đổi ý và quyết định xem gã là một người bạn. Khỏi cần phải bực tức, có thể tôi sẽ cần đến gã.

– Jojo, anh nói đúng. Khỏi cần phải bi thảm hóa những năm tù tội của tôi bởi lẽ tôi vẫn còn khỏe mạnh đến nỗi phải cần một người có mắt tinh đời như anh mới đoán biết tôi vừa ở tù ra.

– Được rồi, chúng ta đồng ý. Bây giờ anh làm gì?

– Tôi làm ở mỏ vàng La Mocupia. Mười tám đồng bạc một ngày, nhưng tôi được phép đi đâu cũng được. Thời kỳ quản thúc của tôi đã hết.

– Tôi đoan chắc anh muốn đến Caracas và tiếp tục phiêu lưu mạo hiểm.

– Đúng, tôi rất thích phiêu lưu.

– Nhưng Caracas là một đô thị lớn và vì vậy ở đó mạo hiểm lại là chuyện nguy hiểm. Anh vừa trong ấy ra, anh muốn chui vào trở lại sao?

– Tôi có một bản tổng kết khá đắt giá để trình bày cho những thằng đã đưa tôi vào tù: cảnh sát, nhân chứng, chưởng lý. Mười ba năm vì một tội tôi không hề phạm, thời gian ở hải đảo, anh muốn nghĩ sao cũng được; thêm thời kỳ bị cấm cố ở Saint-Joseph, tôi đã chịu những cực hình ghê gớm nhất. Đừng quên tôi bị bắt lúc 25 tuổi.

– Đồ chó chết! Chúng nó đã cướp tuổi trẻ của anh. Vô tội một trăm phần trăm, hay đến nay anh vẫn chối?

– Vô tội, anh Jojo ạ. Tôi thề trước vong hồn mẹ tôi.

– Quá chừng! Tôi hiểu, như vậy thì khó quên lắm. Nhưng nếu anh muốn lấy tiền để thanh toán công chuyện của anh, không cần phải đi Caracas, hãy theo tôi.

– Đi đâu?

– Đến vùng mỏ kim cương bạn ạ. Kim cương! Ở đây chính phủ rất rộng rãi. Trên thế giới chỉ có xứ này người ta mới tự do đi vào lòng đất tìm vàng hoặc kim cương. Chỉ với một điều kiện, không dùng máy móc. Chỉ chấp nhận các dụng cụ: xẻng, cuốc và rây.

– Địa đàng ấy ở đâu vậy? Dĩ nhiên là không phải nơi tôi vừa đi ra.

– Xa, khá xa trong miền rừng núi. Phải đi nhiều ngày bằng lừa, ghe và đi bộ, với đồ đạc trên lưng.

– Không phải trong túi!

– Papillon, dù sao, đó là phương cách kiếm một bó bạc lớn. Nếu anh tìm được một long mạch là anh giàu to. Bọn đàn bà con gái hút thuốc lá và đánh rắm trong lụa là sẽ chạy theo anh. Anh sẽ có đủ phương tiện đi thanh toán món nợ tù tội.

Jojo nói không thôi. Mắt sáng lên, gã trở nên hăng say tột độ. Gã giải thích rằng một long mạch là một miếng đất nhỏ, không lớn hơn chiếc khăn một anh nhà quê, ở đó, không hiểu do bí quyết nào của tạo vật, đã tập trung một trăm, hai trăm, năm trăm có khi đến một ngàn ca-ra kim cương. Khi một nhà thám hiểm tìm được một long mạch trong một nơi hẻo lánh, khỏi phải chờ đợi lâu. Như thể được thông báo bằng một hệ thống điện tín siêu phàm, người ta đổ tới từ bốn phương trời. Mười người, biến gấp thành trăm, rồi một ngàn. Chúng đánh hơi vàng với kim cương như chó đánh hơi một khúc xương hay một miếng thịt. Chỉ cần một thằng nào đó tìm nhiều kim cương hơn thường lệ.

Thế là chúng nó đến từ phương bắc, phương nam, phương tây, đủ mọi quốc tịch. Trước tiên là dân Venezuela. Những người mộc mạc, không nghề nghiệp, chán cảnh lãnh lương mỗi ngày 12 đồng bằng công việc đào hầm. Nên họ lắng nghe tiếng gọi của rừng núi. Họ hết muốn gia đình họ sống trong một căn lều nhỏ hẹp và cũng biết rõ rằng ngày này sang ngày khác họ sẽ tự đày ải mình nhiều năm trong cảnh địa ngục. Vợ họ, với số tiền gởi về, sẽ tạo một ngôi nhà khang trang rộng rãi, con cái sẽ được ăn mặc tử tế, sẽ có thể đến trường và còn học lên cao nữa là khác.

– Với sản phẩm của một long mạch?

– Papillon, đừng có ngốc! Người đã tìm ra một long mạch không bao giờ trở lại hầm mỏ. Nó sẽ giàu suốt đời, trừ phi nó điên vì quá mừng đến độ đem giấy bạc một trăm nhúng vào trong rượu ngọt hoặc rượu hồi quăng cho lừa ăn. Không, người thợ tôi đã nói với anh đó, mỗi ngày sẽ tìm được những hạt kim cương nhỏ, rất nhỏ cũng được. Nhưng bấy nhiêu cũng bằng mười hoặc mười lăm lần tiền lương ở đô thị. Ngoài ra, để sống, nó nhịn đến cả những thứ cần thiết, bởi vì ở nơi ấy, tất cả đều trả bằng vàng hoặc kim cương. Tuy nhiên, làm như vậy, gia đình nó được sống khá hơn trước.

– Còn những người khác?

– Đủ mọi chủng tộc. Người Ba Tây, người Guyane thuộc Anh, mấy thằng ở Trinidad đã bỏ chạy cảnh bị bóc lột trong các cơ xưởng hoặc tại các đồn điền trồng bông. Lại có các tay giang hồ chính cống, hạng người chỉ sống với những chân trời vô tận luôn luôn huy động tất cả để thử thời vận: có người Ý, người Anh, người Tây Ban Nha, người Bồ Đào Nha, người từ tứ phương mà! Trời ơi, anh không thể biết hết rừng người đổ xô đến vùng đất hứa đã được Chúa reo rắc rắn rít, ruồi, muỗi, các loại sốt rét, lại cũng ban phát ở gần mặt đất nào vàng, nào kim cương, nào bích ngọc, hoàng ngọc, đủ thứ! Đúng là một cuộc chạy đua của những tay giang hồ khắp thế giới, đứng trong những hồ nước sâu đến bụng, nhờ nghị lực kiên cường nên không cảm thấy cháy, muỗi đốt, đói khát, họ đào lên, lôi ra, sàng sảy đất bùn ấy đem rửa đi, rửa lại, cho vào các tấm rây để tìm kim cương mà không biết mệt. Vả lại, biên giới quốc gia Venezuela mênh mông và trong rừng sâu không bao giờ anh nào bị một ai hỏi giấy tờ cả. Thế nên ngoài viễn ảnh hấp dẫn tìm ra kim cương, người ta lại còn được hoàn toàn yên trí về phía cảnh sát. Một nơi chốn ước mơ để thở chút ít, khi bị săn đuổi.

Jojo dừng lại. Hắn không quên điều gì và tôi đã biết hết. Suy nghĩ rất nhanh trong một phút, tôi nói:

– Jojo, anh đi một mình đi. Tôi không thể tưởng tượng tôi làm được việc kinh khủng ấy. Phải được lửa thiêng nung nấu, tin như người ta tin Thượng Đế vào việc tìm ra long mạch mới có thể chịu đựng trong một địa ngục như vậy. Vâng, anh hãy đi một mình. Tôi sẽ tìm long mạch ở Caracas.

Một lần nữa, đôi mắt tàn nhẫn của hắn lục lọi tôi rất nhanh.

– Tôi hiểu, anh không thay đổi. Anh có muốn biết rõ tôi nghĩ như thế nào không?

– Nói đi.

– Anh bỏ Callao mà đi là vì anh đau lòng khi biết có một đống vàng không bảo vệ ở La Mocupia. Phải vậy không?

– Phải.

– Anh để yên đống vàng là vì anh không muốn làm rắc rối cuộc đời của bọn cựu tù nhân đang sống an phận ở đấy. Đúng không?

– Đúng.

– Và anh nghĩ rằng tìm ra long mạch ở chỗ tôi nói, rất ít người may mắn trong số đông những người đến đó. Đúng không?

– Đúng.

– Và anh thích tìm long mạch ở Caracas, trong một tiệm kim hoàn hay một nhà bán sỉ hột xoàn.

– Có thể, nhưng không chắc. Còn phải chờ xem.

– Anh đúng là một tay phiêu lưu mạo hiểm không gì cải hóa được.

– Hãy chờ xem. Nhưng anh đừng quên mối thù vẫn dằn vặt tôi không thôi. Có lẽ vì mối thù ấy tôi có thể làm bất cứ việc gì.

– Muốn phiêu lưu mạo hiểm hay muốn trả thù, đều phải có tiền. Vậy hãy đi vào vùng rừng núi với tôi. Anh sẽ thấy, hay ghê gớm lắm.

– Với một cái xẻng và một cái cuốc? Ít có tôi lắm!

– Papillon, anh bị sốt phải không? Hay là vì cảm thấy từ hôm qua anh muốn đi đâu cũng được nếu anh trở thành ngốc?

– Tôi không nghĩ như vậy.

– Thế nhưng anh quên việc chính: tên của tôi, Jojo la Passe.

– Đồng ý, anh là tay cờ bạc chuyên nghiệp, nhưng tôi không thấy ăn nhằm gì với cái dự định đi làm việc như những con vật.

– Tôi cũng vậy, hắn vừa nói vừa cười ngặt nghẽo.

– Sao, thế đến hầm mỏ không phải để đem kim cương từ lòng đất ra hay sao? Thế lôi kim cương từ đâu ra?

– Từ túi bọn thợ mỏ.

– Bằng cách nào?

– Bày đánh bạc ban đêm, và có thua một ít.

– Tôi hiểu. Khi nào đi?

– Chờ một chút.

Khoái chí vì lời nói hiệu quả, hắn trịnh trọng đứng lên, lôi chiếc bàn ra giữa phòng, trải lên một mền len và lấy ra sáu cặp súc sắc.

“Nhìn kỹ mấy con súc sắc”. Tôi quan sát hết sức tỉ mỉ. Các con súc sắc không có gắn chì.

– Không ai có thể nói là súc sắc gian, phải không?

– Không ai nghi nổi.

Từ một cái bao bằng nỉ, hắn rút ra một cái thước kẹp đưa cho tôi.

– Anh thử đo.

Trên một bề dài không được một phần rưỡi ly, một trong các mặt đã bị dũa và cà láng rất kỹ. Không thể nào biết được.

– Thử cho ra số bảy hoặc số mười một.

Tôi bung các con súc sắc. Không ra 7 mà cũng không ra 11.

– Bây giờ đến lượt tôi.

Jojo cố ý làm cho cái mền có đường xếp nhỏ. Hắn dùng mấy đầu ngón tay cầm con súc sắc.

– Thế này gọi là cái kẹp, hắn nói. Rồi tôi bung. Và mặt 7 đó! Và mặt 11! Và mặt 7! Anh muốn mặt sáu hả? Rồi mặt 6 đó. Anh muốn mặt sáu bằng hai mặt 4 với 2 hay bằng mặt 5 với mặt 1? Nó kìa. Đúng ý Ngài thích.

Tôi mê tơi. Chưa bao giờ tôi thấy ai làm được như vậy, thật là phi thường. Hoàn toàn không thấy gì hết.

– Bạn biết không, từ trước đến nay tôi vẫn chơi thứ này theo kiểu người Anh Quốc. Lên tám tuổi, ở khu La Butte, tôi rèn luyện những khí giới đầu tiên. Tôi dám bung những con súc sắc như vậy, anh biết ở đâu không? Trên bàn bi da ở nhà ga cửa Đông, thời bọn Roger Sole.

– Tôi nhớ rồi. Ở đó có rất nhiều tên cổ quái.

– Tôi không bày anh nói đấy nhá. Trong số con bạc ngoài bọn cờ bạc bịp, bọn ma cô, đủ các thứ, còn có bọn cảnh sát nổi danh như Jojo le Beau, một thằng cảnh sát ma cạo ở khu Madeleine, cùng những chuyên viên của đội bài trừ đổ bác. Thế mà chúng vẫn bị bịp như ai. Vậy thì, anh thấy đó, không thể có chuyện lôi thôi trong một hầm mỏ.

– Hẳn là như vậy.

– Nên lưu ý điểm này, hai nơi đều nguy hiểm. Ở ga cửa Đông, bọn gian hùng chơi súng nhanh không kém gì thợ mỏ. Chỉ khác một điều: ở Ba Lê bắn súng rồi vào tù. Ở hầm mỏ, bắn rồi vẫn ở đó. Không có cảnh sát, luật pháp do bọn thợ đặt ra.

Hắn ngưng nói, chậm rãi uống hết ly rượu, rồi tiếp: “Papillon, sao, anh đi với tôi chứ?”

Tôi chỉ suy nghĩ một lúc, không lâu. Tôi ham cuộc phiêu lưu này lắm. Có lẽ nhiều nguy hiểm, vì tụi ở đó không phải là hạng lễ sinh. Nhưng chắc hẳn là sẽ hốt được nhiều bạc. Được rồi, Papillon, chơi hết mình với Jojo đi! Và tôi nói với hắn:

– Khi nào đi?

– Chiều mai, nếu anh muốn, sau cơn nóng bức lúc 5 giờ. Chỉ cần đủ thì giờ thu tóm dụng cụ. Lúc đầu thì đi đêm. Anh có súng không?

– Không.

– Có một con dao tốt không?

– Cũng không.

– Anh khỏi lo, tôi sẽ kiếm cho anh.

Tôi trở về nhà và nghĩ đến Maria. Chắc hẳn nàng thích tôi đi vào rừng hơn là đến Caracas. Tôi gởi Picolino cho nàng. Rồi ngày mai lên đường kiếm kim cương. Rồi bảy, rồi mười một! Tôi đã nhập cuộc, chỉ còn học nói số các con súc sắc bằng tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh, tiếng Ba Tây và tiếng Ý. Kỳ dư, hạ hồi phân giải.

Đến nhà, tôi gặp José. Tôi nói tôi đã đổi ý kiến, sau này sẽ đi Caracas, chứ bây giờ tôi đi với một người Pháp già tóc bạc tên Jojo, đi đến bọn tìm kim cương.

– Anh theo nó với tư cách gì?

– Hùn, dĩ nhiên.

– Luôn luôn nó cho bọn hùn với nó một nửa số tiền ăn.

– Đó là luật giang hồ. Anh có biết ai đã cộng tác với nó không?

– Ba người.

– Họ kiếm được nhiều tiền không?

– Tôi không biết. Có lẽ thế. Họ đã đi ba bốn bận.

– Rồi sau thế nào?

– Sau hả? Họ không về.

– Tại sao? Họ ở luôn hầm mỏ?

– Không, họ chết.

– À, chết bệnh?

– Không, bị bọn thợ mỏ giết.

− Ồ… Chắc nó hên lắm mới thoát nạn luôn như vậy.

– Đúng, nhưng nó thì nó lanh lắm. Không bao giờ nó ăn nhiều, nó để cho thằng hùn với nó ăn.

– Tôi hiểu. Như vậy thằng kia nguy chứ không phải nó. Anh José, biết vậy bao giờ cũng hay. Cảm ơn anh.

– Bây giờ đã biết chuyện ấy, anh không đi nữa chớ?

– Một câu hỏi chót, xin anh nói thật: có thể nào trở về với nhiều tiền sau hai hay ba lần đi không?

– Hẳn là có.

– Thế thì Jojo phải giàu. Tại sao nó trở lại đó làm gì? Tôi trông thấy nó chất hành lý lên lưng lừa.

– Một là như tôi đã nói, không có gì nguy hiểm cho nó hết. Hai là có lẽ nó không đi. Mấy con lừa ấy là của bố vợ nó. Nó quyết định đến vùng kim cương vì nó gặp anh.

– Thế còn dụng cụ nó chất lên hoặc sắp chất lên?

– Ai nói với anh là của nó?

– À, à! Anh có thể khuyên tôi gì nữa?

– Đừng đi.

– Không được. Tôi đã nhất định đi. Bây giờ thế nào?

José nghiêng đầu như để suy nghĩ. Một phút dài trôi qua. Khi hắn ngẩng đầu lên, mặt hắn sáng ngời. Cặp mắt long lanh ranh mãnh rồi hắn chậm rãi nói, nhấn mạnh từng chữ:

– Anh nên nghe lời khuyên của một người biết rõ các giới sống ngoài vòng tất cả: mỗi khi có một canh bạc lớn, rất lớn, và trước mặt anh đã có một đống kim cương thật lớn, canh bạc đang hồi sôi nổi, anh nên cất số kim cương đã ăn, đứng dậy đột ngột, không ai ngờ trước. Anh nói anh bị tiêu chảy, rồi đi ra cầu tiêu. Dĩ nhiên anh không trở lại, đêm đó anh đi ngủ một nơi khác hơn nơi anh ở.

– Làm vậy được lắm, José ạ. Xin cho một lời khuyên nữa.

– Tuy bọn mua kim cương ở tại hầm mỏ mua rẻ hơn ở Callao hay ở Ciudad Bolivar rất nhiều, mỗi ngày anh nên bán số kim cương anh ăn được. Nhưng anh không lấy tiền. Anh bảo người ta đưa biên nhận để lãnh ở Callao hoặc ở Ciudad Bolivar. Đối với ngoại tệ, anh cũng làm như vậy. Anh giải thích rằng anh sợ thua trong một bữa tất cả số tiền anh đã ăn vả lại giữ trên người anh một số ít, anh đỡ lo. Điều này, anh nên nói với tất cả mọi người để ai cũng biết hết.

– Vậy thì làm cách đó, may ra tôi trở về được.

– Đúng, nếu được Thượng Đế thương, may ra anh sẽ còn sống trở về.

– Anh José, cảm ơn anh. Chúc anh ngủ ngon.

Trong vòng tay Maria, ngây ngất tình yêu, đầu ấp vai nàng, tôi nghe hơi thở của nàng mơn trớn bên má. Trong đêm tối, trước khi nhắm mắt ngủ tôi thấy trước mặt một đống kim cương to lớn. Nhẹ nhàng, như vọc mà chơi, tôi lượm các viên kim cương để vào trong một túi bằng vải kiểu túi của thợ mỏ rồi thình lình tôi vùng dậy nói với Jojo sau khi đảo mắt quanh một vòng: “Giữ chỗ cho tôi, tôi đi cầu. Chốc nữa tôi trở vào”. Rồi tôi ngủ với hình ảnh đôi mắt ranh mãnh của José, trong và sáng; đôi mắt ấy chỉ những người rất gần thiên nhiên mới có được.

Buổi sáng qua mau. Mọi việc được sắp đặt chu đáo. Picolino ở lại đó, nó sẽ được săn sóc kỹ lưỡng. Tôi hôn mọi người. Maria tươi sáng. Nàng biết tôi đi vào vùng hầm mỏ, bắt buộc tôi sẽ đi về ngang đây, chứ còn đô thị Caracas thì không bao giờ trả lại những người đến sống ở đó.

Maria đi với tôi đến chỗ hẹn với Jojo. Năm giờ chiều, Jojo đã đứng sẵn, rất tươi tỉnh.

– Chào bạn! Khỏe chứ? Anh đến đúng giờ, tốt lắm. Một giờ nữa mặt trời sẽ lặn. Như vậy tốt hơn. Ban đêm chắc chắn không gặp ai theo mình.

Mười chiếc hôn nồng nàn để lại người yêu rồi tôi leo lên lưng lừa. Jojo bắt chân tôi vào bàn đạp và khi chúng tôi khởi hành, Maria nói với tôi:

– Cưng ơi, đừng quên đi cầu đúng lúc nhé!

Tôi phá lên cười đồng thời lấy gót chân thúc con lừa.

– Bé láu cá, em nghe trộm đấy nhé!

– Khi người ta yêu, chuyện ấy có gì lạ.

Thế là chúng tôi đã thượng lộ. Jojo cưỡi ngựa và tôi cưỡi lừa.

Rừng già có đường đi của nó. Đó là một thứ hành lang rộng ít nhất hai thước đã dần dần được xén trong hàng cây và được dao phạng của bộ hành tu bổ. Hai bên đường là hai bờ cao cây cối xanh um. Trên đầu là một vòm dệt bằng hàng triệu thứ cây, nhưng quá cao nên dù đứng trên lưng ngựa cũng không thể dùng dao phạng chặt được. Đây là rừng nhiệt đới, có hai loại thảo mộc đan nhau chằng chịt. Trước hết là các thứ dây leo, các thứ cây lớn và cây nhỏ cao không quá sáu thước. Rồi trên đó khoảng từ hai mươi đến ba mươi thước là các ngọn cây cổ thụ cao lớn uy nghi cứ lên cao mãi để tìm ánh sáng mặt trời. Nhưng tuy đỉnh cây nằm trong ánh sáng, lá cây của những cành xum xuê trải rộng kết thành một bức màn chỉ để lọt qua một ánh sáng lờ mờ. Tạo vật kỳ ảo là rừng nhiệt đới ấy rộng mênh mông. Thế nên, đi ngựa trong con đường rừng này, phải một tay cầm cương, một tay cầm dao phạng, chặt không ngừng tất cả những gì lòi ra và không cho đi tới yên lành. Một con đường rừng nhiều người qua lại giống như một hành lang chăm sóc kỹ lưỡng.

Không có gì đem đến cho con người một cảm giác tự do bằng khi đi trong rừng sâu với đầy đủ vũ khí. Ta tưởng ta là một thành phần của tạo vật, không kém thú rừng. Bước đi thận trọng nhưng với một niềm tự tin vô bờ bến. Ta có cảm tưởng chìm đắm vào một nguyên tố sâu xa nhất, tất cả các giác quan, khứu giác, thính giác đều thức tỉnh. Mắt luôn luôn sống động để nhận định những gì cựa quậy. Trong rừng già, một kẻ thù đáng kể nhất: một con vật trong các loại vật, thông minh nhất, tàn ác nhất, xấu xa nhất, tham lam nhất, ghê tởm nhất và cũng là kỳ diệu nhất: đó là con người.

Chúng tôi đã đi suốt đêm. Tạm được. Nhưng đến sáng, sau khi chúng tôi uống một ít cà phê trong bình thủy, con lừa quỉ quái trở chứng kéo lết, có lúc sau Jojo đến một trăm thước. Tôi có đâm vào đùi nó bao nhiêu là gai cũng không ăn nhằm gì. Để khai thông, Jojo lên lớp tôi: “Bạn không biết cưỡi ngựa mà! Giản dị quá mà! Xem đây”. Hắn chỉ lấy gót thúc vào con vật là nó phi ngay. Rồi Jojo đứng lên trên bàn đạp quát lớn: “Tôi là Đại Úy Cook!” Hay là: “Sancho, mày có tới không? Mày không theo kịp sư của mày là Don Quichotte?”.

Tôi nổi tức và tôi dùng mọi cách để cho con lừa đi nhanh hơn. Cuối cùng, tôi nẩy ra một ý kiến phi thường và quả thật con vật đổ ra phi nước đại. Tôi để rơi vào trong tai nó một mẫu xì gà đang cháy. Nó phi như một con ngựa nòi tinh thuần, mừng quá sức, tôi vượt qua “đại úy Cook”, lại còn chào hắn lúc qua mặt. Nhưng nó phi như vậy không lâu, vì lừa là một con vật tệ lậu. Đột ngột nó ép tôi vào một thân cây suýt nữa chân tôi bị nát, rồi tôi té nhào xuống đất, mình đầy gai, không còn biết loại gai gì. Vậy mà thằng cha già ngốc Jojo cứ cười như một đứa 20 tuổi, quên hẳn rằng nó với Mathusalem cùng sinh một ngày.

Tôi miễn kể lại chuyện đuổi bắt con lừa (mất hai giờ!), những cú đá, những tiếng sôi ruột, vân vân của nó. Cuối cùng, mệt đứt hơi, hai đùi đầy gai, ngất ngư vì nóng nực và mệt nhoài, tôi cũng cố leo lại lên lưng con lừa. Lần này thì nó muốn đi thế nào cũng được, tôi không chọc tức nó nữa. Cây số đầu, tôi không ngồi mà phải nằm dài trên lưng nó, hai mông chổng lên, hai tay tìm cách gỡ mấy cái gai nhức nhối như lửa đốt.

Ngày hôm sau, chúng tôi bỏ con vật ngoan cố ấy lại một quán bên đường. Hai ngày đi xuồng và sau một ngày dài, đi bộ lưng mang xách đồ, chúng tôi đến mỏ kim cương.

Tôi để hành trang trên một chiếc bàn làm bằng gỗ tròn của một tiệm ăn giữa trời. Tôi quá mệt và suýt bóp cổ già Jojo ngay tại chỗ, trong khi hắn chỉ có ít giọt mồ hôi trên trán và nhìn tôi với đôi mắt chế nhạo.

– Thế nào, ông bạn, khỏe chứ?

– Ừ, khỏe! Tại sao lại không khỏe? Nhưng tôi hỏi anh: vì sao anh bắt tôi mang suốt ngày nào là xẻng, cuốc, rây trong khi chúng ta sẽ không dùng các thứ ấy?

Jojo ra chiều bực bội:

– Papillon, tôi chán anh quá. Anh nghĩ coi. Một người không mang theo các dụng cụ ấy đến đây làm gì? Đó sẽ là câu hỏi của hàng trăm cặp mắt nhìn qua bức vách bằng gỗ hay bằng tôn khi trông thấy anh đi vào làng. Nếu anh có mang các dụng cụ ấy, không có ai thắc mắc gì hết. Hiểu chưa?

– Hiểu rồi.

– Cũng như về phần tôi, nếu không mang gì cả. Thử tưởng tượng tôi đến, hai tay thọc vào túi và tôi bày canh bạc, không hơn không kém. Bọn thợ mỏ với vợ chúng sẽ nói gì, anh biết không? Họ nói lão già người Pháp ấy là một con bạc chuyên nghiệp. Nhưng rồi anh sẽ thấy tôi làm gì. Nếu có thể, tôi sẽ thử tiền mua tại chỗ một máy bơm cũ, nếu không được thì bảo nơi khác gởi tới. Cũng mua bằng cách đó hai mươi thước ống lớn và hai hay ba chiếc thùng dài bằng gỗ có nhiều ván ngăn đục lỗ. Bùn bơm lên sẽ được tống vào thùng, và với một nhóm bảy người, có thể rửa sạch đất 50 lần hơn một nhóm 12 người dùng những dụng cụ lỗi thời. Tuy vậy cũng chưa gọi là dùng máy. Là chủ cái bơm, một mặt tôi thu 25% trên số kim cương thu hoạch được, một mặt tôi biện minh sự hiện diện của tôi. Không ai có thể nói tôi sống về nghề đánh bạc vì tôi sống nhờ cái máy bơm của tôi. Tuy vậy, vì đồng thời tôi cũng là một tay đánh bạc, tôi vẫn đánh bạc ban đêm. Không có gì lạ vì tôi không đi làm. Anh hiểu chứ?

– Rất rõ ràng.

– Tôi rất hài lòng. Cho hai ly frescos!

Một bà nạ giòng to béo nhưng niềm nở, nước da hơi ngăm, đem đến một ly, đầy nước sô cô la lạt, bên trên có một cục nước đá và một miếng chanh.

– Cả thảy tám đồng.

– Hơn hai mỹ kim! Đ.M, đời sống quá đắt trong vùng hoang địa này!

Jojo trả tiền.

– Ở đây có gì lạ không, hắn hỏi.

– Vậy vậy thôi.

– Có thứ đó hay không có?

– Người ta thì nhiều. Nhưng kim cương thì ít, rất ít. Từ ngày tìm ra cái xó này, đã ba tháng, đã có bốn ngàn người nhào đến. Quá nhiều đối với một con số ít kim cương. Còn anh kia, bà vừa nói vừa hất hàm chỉ tôi. Người Đức hay người Pháp?

– Pháp như tôi.

– Tội nghiệp.

– Tại sao tội nghiệp? Tôi hỏi.

– Bởi vì sự quá trẻ và quá đẹp trai để chết. Những người đến với Jojo đều không may.

– Mụ già, im ngay. Đi Papillon, chúng ta đi.

Khi chúng tôi đứng lên, lúc chào tôi, mụ chủ quán to béo nói: “Anh nên cẩn thận”.

Dĩ nhiên là tôi không nói ra những điều José đã cho tôi biết, và Jojo rất ngạc nhiên tại sao tôi không tìm cách hiểu rõ thêm câu nói vừa rồi. Tôi có cảm giác hắn chờ đợi những câu hỏi mà không thấy. Hắn có vẻ bối rối và lấm lét nhìn tôi.

Sau khi thương lượng với người này người khác, không lâu, Jojo đã tìm được một căn nhà. Ba phòng nhỏ, có những cái khuyên để móc võng và những chiếc thùng bằng bìa cứng. Trên một thùng còn lại nhiều vỏ chai bia và rượu rum, trên một thùng khác có một cái chậu bằng sứ lủng và một bình tưới đầy nước. Nhiều dây được giăng ngang để treo quần áo. Nền đất, rất sạch. Vách bằng ván thùng đựng đồ. Người ta còn đọc rõ: savon Camay, sữa Nestlé vân vân. Mỗi buồng khoảng ba thước trên ba thước. Không có cửa sổ. Tôi ngột thở phải cởi áo.

Jojo quay lại, nhún vai:

– Anh bệnh rồi! Nếu có ai vào thì sao? Mặt mũi anh đã chẳng ra gì, anh lại còn biểu diễn các hình xăm trên người anh ra nữa, thật chẳng khác nào anh công bố cho người ta biết anh là một thằng tù. Tôi xin anh, nên ăn mặc đàng hoàng!

– Nhưng, anh Jojo, tôi hết thở nổi!

– Rồi sẽ quen. Trước hết phải ăn mặc đàng hoàng, trời ơi! Thật là đàng hoàng!

Tôi cố gắng nhịn cười. Quả thật Jojo không chê vào đâu được.

– Đây sẽ là câu lạc bộ, Jojo cười nói.

Như vậy là cái phòng rộng 6 thước trên ba thước. Chúng tôi quét nền đất, đi kiếm ba chiếc thùng lớn bằng gỗ, rượu rum và ly bằng giấy cứng. Tôi nôn nao chờ xem canh bạc diễn ra như thế nào.

Tôi đợi không lâu. Sau khi viếng thăm một số các quán rượu tồi tàn để “xã giao” như Jojo nói, mọi người đều biết tối nay lúc tám giờ sẽ có canh bạc ở nhà chúng tôi. Quán rượu cuối cùng chúng tôi đến thăm là một căn nhà nhỏ có hai bàn ngoài trời, bốn ghế dài, một đèn khí đá treo trên cành cây. Chủ quán, một gã khổng lồ, tóc đỏ hoe, không đoán tuổi nổi, im lặng đem rượu ra. Lúc chúng tôi đứng dậy đi, gã lại gần tôi, nói bằng tiếng Pháp: “Tôi không biết anh là ai, và tôi không muốn biết. Tôi chỉ khuyên anh một điều: ngày nào anh muốn ngủ ở đây, anh cứ đến. Tôi canh chừng cho anh”.

Tuy gã nói tiếng Pháp rất kỳ cục, nhưng nghe giọng nói tôi biết gã người Corse.

– Anh người Corse?

– Vâng. Và anh biết một người Corse không bao giờ phản. Không phải như những thằng ở Miền Bắc, anh nói thêm với nụ cười ẩn chứa nhiều hiểu ngầm.

– Cảm ơn anh, biết như vậy hay lắm.

Vào khoảng 7 giờ, Jojo thắp đèn khí đá. Hai chiếc mền được trải trên nền đất. Không có ghế. Con bạc đứng hoặc ngồi xổm. Đã định rằng đêm nay tôi không chơi. Tôi chỉ quan sát mà thôi.

Người ta đến. Mặt mũi thật khác thường. Ít người nhỏ bé, phần đông là những gã to lớn râu ria xồm xàm. Những bàn tay và khuôn mặt đều sạch sẽ, người họ không hôi hám. Thế nhưng áo quần lấm láp và quá mòn. Tuy nhiên tất cả các áo sơ mi, phần nhiều ngắn tay, đều sạch không chỗ chê.

Ở giữa thảm, có tám cặp súc sắc để ngay ngắn, mỗi cặp trong một hộp nhỏ. Jojo bảo tôi đưa cho mỗi người một ly bằng giấy. Cả thẩy độ vài chục người. Tôi rót rượu rum cho họ. Không một đứa nào ra dấu cho tôi biết nó không uống nữa. Chỉ rót cho chúng nó uống mà ba chai rượu đã hết gấp.

Mỗi người chậm rãi uống từng hớp, đặt ly xuống trước mặt, bên cạnh một ống thuốc đau đầu. Tôi biết trong ống để đựng thuốc ấy có kim cương. Không người nào đưa ra túi vải đặc biệt. Một anh Tàu già run lẩy bẩy để trước mặt một cân tiểu ly của thợ kim hoàn. Rất ít ai nói gì. Những con người ấy đã làm lụng vất vả, dưới nắng thiêu đốt và đã đứng dưới nước ngập đến bụng, có khi từ sáu giờ sáng đến mặt trời lặn.

Ồ, bắt đầu nhúc nhích rồi. Một, rồi hai, rồi ba con bạc cầm lên một cặp súc sắc, ngắm rất kỹ, áp lại với nhau, rồi đưa cho người ngồi bên cạnh. Hình như mọi việc êm xuôi vì các con súc sắc được quăng trở lại trên mặt mền mà không hề có tiếng dị nghị nào. Sau mỗi lần, Jojo lượm cặp súc sắc và để lại trong hộp, trừ cặp sau cùng còn nằm trên mền.

Những người đã tuột áo sơ mi phàn nàn bị muỗi đốt. Jojo bảo tôi đốt ít nắm cỏ ướt để đuổi muỗi.

– Ai đi trước? một người to như hộ pháp, da màu đồng như người da đỏ, râu rậm đen và quắn, trên tay có xăm một cành hoa hỏng bét, hỏi Jojo.

– Anh?

– Nếu anh muốn, Jojo đáp.

Thế rồi, con khỉ đột ấy, vì hắn giống một con khỉ đột, rút từ chiếc thắt lưng có mạ bạc, một bó bạc giấy cột bằng sợi dây thun.

– Chino, anh bắt đầu đặt bao nhiêu, một người khác hỏi.

– 500 đồng.

– Theo 500.

Và các con súc sắc quay. Ra mặt tám. Jojo tìm mặt tám.

– 1.000 đồng nếu anh ra mặt tám bằng hai mặt tứ, một con bạc khác nói.

– Tôi cốc, Jojo nói.

Chino cho ra mặt tám bằng mặt ngũ với tam. Jojo thua.

Suốt năm tiếng đồng hồ, canh bạc tiếp diễn không một tiếng kêu, không một lời cãi. Họ quả là những tay cờ bạc, đặc biệt. Trong đêm, Jojo thua 7.000 đồng, và một anh què chân thua 10.000.

Trước định nghỉ chơi lúc nửa đêm, nhưng mọi người đồng ý chơi thêm một giờ nữa. Đúng một giờ sáng, Jojo tuyên bố đánh chén cuối cùng.

– Chính tôi mở đầu canh bạc, Chino tay cầm súc sắc, miệng nói. Tôi muốn đánh chén cuối cùng. Tôi đặt tất cả số tiền tôi đã ăn, 9.000 đồng.

Số tiền ấy bằng bạc giấy và kim cương. Hắn làm cái cho nhiều người đánh và ngay lần đầu đã ra mặt thất.

Trước ván bạc oanh liệt ấy, lần đầu tiên có tiếng xít xoa của mọi người. Rồi họ đứng lên: “Thôi đi ngủ”.

– Thế nào, bạn thấy rồi chứ? Jojo hỏi tôi khi chỉ còn có hai đứa.

– Ừ, tôi thấy, nhất là mặt mũi ghê gớm của tụi nó. Chúng đều võ trang đầy đủ, súng với dao găm. Có đứa ngồi lên trên dao phạng, dao bén đến nỗi chỉ một nhát là đủ đứt đầu.

– Hẳn rồi, nhưng chuyện ấy đối với anh nào có lạ gì.

– Dù sao, như anh thấy, tôi đã chịu chơi với bọn ở Đảo, thế mà tôi chưa khi nào có cảm giác bất ổn như đêm nay.

– Chỉ là thói quen, bạn ạ. Đêm mai anh sẽ chơi và chúng ta sẽ ăn, tiền như bỏ túi. Theo anh, hắn nói tiếp, những đứa nào cần canh chừng chặt chẽ nhất?

– Bọn Ba Tây.

– Hoan hô! Giá trị con người ở chỗ nhận ra ngay những đứa chỉ trong một giây có thể xâm phạm đời sống của mình.

Sau khi đã khóa chặt cửa (ba ổ khóa to tổ bố), chúng tôi ngủ dài trên võng và ngủ ngay trước khi Jojo ngáy như sấm.

Hôm sau, trời rất đẹp nhưng nóng bức vô cùng, không một đám mây, không một luồng gió nhẹ. Tôi đi dạo qua khu làng kỳ lạ này. Mọi người đều niềm nở. Đành rằng mặt mũi họ lo âu nhưng cách họ nói bằng mọi thứ ngôn ngữ liền đem đến một cảm giác nồng ấm ngay lúc tiếp xúc đầu tiên. Tôi tìm lại được anh Corse tóc đỏ. Hắn tên Miguel. Hắn nói tiếng Verezuela rất đúng, lâu lâu có pha một ít tiếng Anh và tiếng Ba Tây. Chỉ khi nào hắn nói tiếng Pháp một cách cực nhọc thì giọng quê hương của hắn mới lòi ra và khi ấy người ta nhận biết ngay hắn là người Corse. Chúng tôi nhấm nháp một thứ cà phê do một thiếu nữ lai lọc bằng một bít tất. Hắn hỏi tôi:

– Anh ở đâu đến?

– Sau lời của anh ngày hôm qua, tôi không thể dối anh. Tôi từ lao tù ra.

– À, anh là người vượt ngục? Cho tôi biết như vậy hay lắm.

– Còn anh?

Cả thân hình cao hai thước đứng thẳng lên và nét mặt người tóc đỏ của anh đượm một vẻ cao thượng vô cùng.

– Tôi cũng vượt ngục, nhưng không phải từ Guyane. Vì tôi đã đi khỏi xứ Corse trước khi người ta bắt được tôi. Tôi là một “kẻ cướp danh dự”.

Tôi cảm kích trước gương mặt của hắn, sáng lên vì hãnh diện đã là người lương thiện. Tên cướp danh dự ấy có vẻ thật hào hùng. Hắn tiếp:

– Đảo Corse là một địa đàng, xứ duy nhất mà người dân biết đem mạng sống đánh đổi lấy danh dự. Anh không tin?

– Không biết có phải là xứ duy nhất hay không, nhưng tôi thành thật nghĩ rằng ở trong bưng biền, số người vào đó vì danh dự nhiều hơn là bọn côn đồ.

– Tôi không ưa bọn côn đồ các đô thị, hắn nói với vẻ suy tư.

Tôi kể vắn tắt cho hắn nghe chuyện của tôi và tôi nói tôi định trở về Ba Lê để thanh toán món nợ.

– Anh có lý, nhưng oán cừu là một thức ăn cần phải dùng nguội. Nên làm rất cẩn thận, quả là ghê gớm nếu anh để cho bị bắt trước khi anh trả thù. Anh đi với lão Jojo phải không?

– Phải.

– Lão là người tốt. Có nhiều người nói lão đánh bạc quá khôn, nhưng tôi tin rằng lão không gian. Anh biết lão lâu chưa?

– Không lâu lắm, nhưng điều ấy không sao.

– Papillon, anh biết không, đánh bạc riết rồi cũng phải biết hơn người khác, nhưng có một điều tôi ngại cho anh.

– Điều gì?

– Hai bay ba lần gì đó, người hùn với lão bị ám sát. Hôm qua tôi có lời mời anh là vì vậy đó. Anh nên hết sức cẩn thận, và khi nào anh thấy thiếu an toàn, anh nên an tâm đến đây.

– Miquel, cảm ơn anh.

Đúng là một làng kỳ lạ, một tổ họp kì lạ, những người chôn mình trong rừng sâu, sống cuộc sống đơn sơ giữa một cảnh thiên nhiên sẵn sàng bùng nổ. Mỗi người có một thiên tiểu sử riêng. Thật là kỳ diệu khi trông thấy họ, khi nghe họ nói. Nhà của họ đôi khi chỉ là một mái bằng lá kè hoặc bằng tôn không hiểu làm cách nào được đưa đến đây. Vách ấy à? Những mảnh thùng bằng bìa hoặc bằng gỗ và có khi bằng tấm vải nữa là khác. Không có giường, chỉ có võng. Hầu như người ta ngủ, ăn, tắm rửa, làm tình ở ngoài đường. Thế mà không một ai vạch tấm ván hoặc nhìn qua khe vách ván để trông vào bên trong. Tất cả mọi người hết sức tôn trọng đời sống riêng tư của kẻ khác. Khi muốn vào thăm một nhà nào, người ta không đến gần quá hai thước, và để thay tiếng chuông báo hiệu, người ta la lớn: “Có ai trong nhà không?”. Nếu có người và anh là người lạ, anh nói: “Gentes de Paz!”, có nghĩa là: Tôi là bạn. Thế là một người xuất hiện, nói với anh rất nhã nhặn: “Adelante, Esta casa essaya.” (Mời anh vào, nhà này là nhà của anh).

Một chiếc bàn trước một căn nhà chắc chắn, bằng gỗ súc sít sao. Trên bàn, có để những chuỗi ngọc trai thiên nhiên của đảo Marguerite, một ít mảnh vàng thiên nhiên, một số đồng hồ, dây đeo đồng hồ bằng da hay bằng kim khí co giãn, rất nhiều đồng hồ báo thức.

Đó là tiệm vàng Mustafa.

Sau chiếc bàn, một anh Ả Rập già mặt mũi dễ thương. Chúng tôi nói chuyện, anh ta là người Maroc, và nhận biết tôi là người Pháp. Đã 5 giờ tối, anh ta hỏi tôi:

– Anh ăn chưa?

– Chưa.

– Tôi cũng chưa, tôi sắp ăn. Nếu anh vui lòng dùng bữa với tôi.

– Sẵn sàng.

Mustafa rất ân cần, nhã nhặn, vui vẻ nữa. Một giờ đàm đạo với anh rất kỳ thú. Anh ta không tò mò và không hỏi tôi từ đâu đến.

– Lạ thật, anh nói. Trong xứ tôi, tôi không thích người Pháp, nhưng ở đây, tôi mến họ. Anh có quen người Ả Rập nào không?

– Nhiều lắm. Có người rất tốt và cũng có người rất xấu.

– Dân tộc nào cũng vậy. Tôi, Mustafa, tôi tự xếp vào hạng người tốt. Năm nay tôi 60, tôi đáng tuổi bố anh. Trước đây tôi có đứa con ba mươi tuổi bị bắn chết cách đây hai năm. Nó rất đẹp và rất tốt bụng.

Trong mắt anh ta, có những giọt lệ không chịu chảy ra.

Tôi để tay lên vai người cha đau khổ đang xao xuyến vì nhớ đứa con và tôi nghĩ đến cha tôi hiện ở ngôi nhà nhỏ ở tỉnh Ardèche, chắc hẳn giờ đây đôi mắt đang mờ lệ khi nhắc đến tôi. Tội nghiệp ba tôi! Không biết hiện giờ ông đang ở đâu, đang làm gì? Tôi tin chắc là ông còn sống, tôi cảm giác như vậy. Mong rằng chiến tranh không xúc phạm đến ba tôi.

Mustafa mời tôi đến nhà dùng bữa khi nào tôi muốn và khi nào cần việc gì thì cứ đến khỏi e ngại, chính tôi sẽ ban ân huệ cho anh ta mỗi khi tôi yêu cầu anh giúp đỡ việc gì.

Trời sắp tối, tôi cảm ơn anh và đi về phía nhà chúng tôi. Canh bạc sắp bắt đầu. Gặp được Miguel và Mustafa, lòng tôi hết sức hân hoan.

Không gì đáng ngại về canh bạc đầu tiên của tôi. Jojo đã nói với tôi: “Không vào hang cọp không sao bắt được cọp”. Hắn có lý lắm. Nếu tôi muốn đặt thùng chất nổ tại số nhà 36 đường Orfèvres, và lo liệu các chuyện khác, cần có tiền, rất nhiều tiền. Chắc chắn là không lâu nữa, tôi sẽ có.

Vì hôm nay là thứ bảy và ngày nghỉ chúa nhật rất quý đối với bọn thợ mỏ, nên canh bạc chỉ bắt đầu lúc 9 giờ tối và sẽ kéo dài đến mặt trời mọc. Người đông như kiến, quá đông đối với căn phòng. Không thể nào để họ vào hết và Jojo chọn những người đánh lớn. Còn lại hai mươi bốn người, những người khác đánh ở ngoài. Tôi đến nhà Mustafa, anh vui vẻ cho tôi mượn một tấm thảm lớn và một đèn khí đá. Mỗi lần một tay đánh lớn rút lui, lại có một người ngoài vào thế chỗ.

Banco, rồi banco! Tôi không ngừng cốc cái chén bạc mỗi khi Jojo bung súc sắc: “Hai ăn một không ra mặt lục với hai mặt tam… mặt thập với hai mặt ngũ… vân vân… Mắt mọi người sáng rực. Mỗi lần một người trong bọn đưa chiếc ly lên, một đứa nhỏ mười một tuổi rót rượu vào. Chính Miguel tiếp tế thức uống và xì gà cho canh bạc theo lời tôi yêu cầu Jojo.

Không lâu canh bạc trở thành sát phạt kịch liệt. Không cần xin phép Jojo, tôi đổi chiến thuật của hắn. Không những tôi cốc trên số tiền hắn đặt, mà còn trên số tiền của những người khác nữa, làm cho hắn nhíu mày. Vừa đốt một điều xì gà, hắn càu nhàu: “Dẹp đi! Đừng gây rắc rối!”. Vào khoảng 4 giờ sáng, tôi có trước mặt một đống bạc kếch sù đủ loại bạc, kim cương và cả một ít vàng thiên nhiên.

Jojo cầm súc sắc. Hắn đặt 500 đồng. Tôi theo hắn 1.000.

Ra mặt thất.

Tôi đặt hết 2.000 đồng. Jojo lùa 500 đồng đã ăn.

Ra mặt thất nữa.

Jojo lùa tiền nữa. Thất!

– Henri làm gì đó, Chino hỏi.

– Tôi đặt 4.000.

– Banco một mình tôi.

Tôi nhìn thằng cha vừa nói. Một thằng lùn, đen như xi ra đánh giày, đôi mắt đỏ ngầu vì rượu. Chắc là người xứ Ba Tây.

– Anh hãy đặt 4.000 đồng ra đi.

– Viên kim cương này đáng giá hơn.

Và nó quăng xuống mền một viên kim cương ngay trước mặt nó. Nó ngồi xếp bằng tròn, mình trần, quần soọc ngắn. Anh Tàu nhặt viên kim cương để lên cân rồi nói:

– Nó chỉ đáng giá 3.500.

– 3.500 cũng được, thằng Ba Tây nói.

– Jojo, bung đi.

Jojo bung súc sắc, nhưng thằng Ba Tây đã nhanh tay chụp các con súc sắc đang quay. Tôi tự hỏi việc gì sẽ xảy ra, vì nó chỉ nhìn sơ các con súc sắc, nhổ nước bọt lên trên rồi quăng lại cho Jojo, nói:

– Bung con súc sắc ướt như thế này.

– Henri, chịu không? Jojo nhìn tôi hỏi.

– Tùy anh.

Sau khi đưa tay trái kéo chiếc mền để nếp nhăn tăng thêm, Jojo bung súc sắc, cho chạy rất nhiều, mà không lau mấy con súc sắc.

Và, mặt thất nữa.

Như có một chiếc lò xo bung ra, thằng Ba Tây đứng phắt dậy, tay để vào cây súng. Rồi chậm rãi nó nói: “Đêm nay tôi chưa ăn”. Rồi nó bỏ đi.

Khi nó đứng lên như một con quỷ bước ra khỏi hàng, tôi liền để tay trên chiếc súng của tôi, trong nòng súng có một viên đạn. Jojo không nhúc nhích, cũng không làm một cử chỉ nào để tự vệ. Thế mà chính nó là mục tiêu của thằng da đen. Tôi thấy cần phải học rất nhiều để biết chính xác lúc nào phải rút súng ra và lúc nào mới bắn.

Đến mặt trời mọc, mọi người ngừng chơi. Thấm khói cỏ ướt và khói thuốc điếu và thuốc xì gà, mắt tôi cay đến muốn khóc. Hai chân tôi hoàn toàn tê cứng vì ngồi xếp chân dưới đùi hơn chín giờ. Nhưng tôi hài lòng một chuyện: tôi không đứng lên để đi tiểu, và như thế chắc chắn là tôi làm chủ được tinh thần và đời sống của tôi.

Chúng tôi ngủ đến hai giờ chiều.

Khi tôi thức dậy, Jojo không có đó. Tôi mặc quần; không còn gì trong túi tôi. Có lẽ Jojo đã lấy hết. Khỉ thật! Thế mà chúng tôi chưa tính toán, đáng lý hắn không nên làm như vậy. Tôi nhận thấy hắn tự cho mình là người chỉ huy. Tôi không phải và chưa bao giờ làm quan, nhưng tôi tởm những đứa tự cho mình hơn người khác, muốn làm gì cũng được.

Tôi đi ra và tìm thấy Jojo đang ăn một đĩa mì ống xào thịt bò.

– Khỏe chứ bồ?

– Vừa khỏe vừa không khỏe.

– Tại sao lại không?

– Bởi vì đáng lý anh không được trút hết túi quần tôi trong khi không có tôi.

– Bé ơi, đừng có ngốc. Tôi là người đàng hoàng và nếu tôi làm như vậy là vì dù sao tất cả đều do lòng tin nhau. Ví dụ, trong một canh bạc, anh có thể đút kim cương hay giấy bạc vào một nơi khác không phải vào túi. Mặt khác, anh không biết tôi ăn bao nhiêu. Thế thì chúng mình có cùng đổ túi ra hay không, cũng vậy thôi. Vấn đề tin nhau.

Hắn có lý, hãy cho qua chuyện này. Jojo trả tiền rượu và thuốc lá đêm qua cho Miguel. Tôi hỏi hắn, trả tiền thuốc lá và rượu cho bọn kia có kỳ không.

– Nhưng nào có phải tôi trả! Mỗi thằng ăn nhiều để lại một ít. Ai cũng biết chuyện ấy.

Cuộc sống ấy tiếp tục hằng đêm. Chúng tôi đến đây đã được hai tuần, và trong suốt hai tuần, mỗi đêm chúng tôi sát phạt nhau kịch liệt, lại có thể nguy hiểm đến tính mạng nữa.

Đêm qua, trời mưa ghê gớm. Tối như mực. Một người đứng lên sau khi ăn khá nhiều. Nó đi ra cùng một lúc với một thằng to lớn ngồi ở đó nhưng không chơi nữa một lúc khá lâu vì hết tiền. Hai mươi phút sau thằng khổng lồ thua hết tiền ấy trở lại và đánh như điên. Tôi đoán thằng ăn đã cho nó mượn tiền, rồi tôi cũng lấy làm lạ tại sao cho nó mượn nhiều quá vậy. Ngày hôm sau người ta tìm thấy thằng ăn bị đâm một nhát dao nằm chết cách nhà chúng tôi năm chục thước. Tôi nói chuyện ấy với Jojo và cho hắn biết nhận xét của tôi.

– Không phải chuyện của mình, nó đáp. Lần sau nó sẽ cẩn thận hơn.

– Bạn lẩm cẩm quá. Làm gì có lần sau nữa vì nó đã chết rồi!

Dĩ nhiên là tôi nghe lời khuyên của José. Ngày nào tôi cũng bán giấy bạc ngoại quốc, kim cương và vàng cho một người Liban, chủ một tiệm kim hoàn ở Ciudad Bolivar. Phía trước nhà hắn có một tấm biển: “Ở đây mua giá đắt vàng và kim cương”. Và bên dưới:

“Kho tàng lớn nhất của tôi là tính lương thiện”.

Trong một phong bì được nhúng vào nước cao su sống, tôi xếp cẩn thận các chi phiếu đề tên tôi, đưa ra là trả tiền ngay. Chi phiếu ấy người khác không lãnh được, cũng không thể chuyển nhượng cho ai khác. Tất cả những khuôn mặt ghê tởm của sòng bạc đều biết chuyện ấy và khi gặp mặt thằng đáng sợ hoặc không biết tiếng Pháp hay tiếng Tây Ban Nha, tôi nói cho nó biết. Thế là đối với tôi chỉ nguy hiểm trong sòng bạc và khi canh bạc vừa tan. Đôi khi lão Miguel đến tìm tôi vào lúc mãn sòng.

Hai ngày nay tôi cảm thấy không khí trở nên căng thẳng, nghi kỵ, không trong sáng. Nhờ những năm tháng trong tù nên tôi nhạy cảm. Trong căn lều ở Đảo, mỗi khi sắp có “pháo nổ”, người ta biết ngay mặc dù không hiểu tại sao. Phải chăng, vì luôn luôn phải đề phòng, nên người ta nhận được các luồng điện do bọn âm mưu làm bậy phát ra? Tôi không hiểu. Nhưng chưa bao giờ tôi lầm.

Thí dụ hôm qua bốn thằng Ba Tây suốt đêm đứng dựa lưng vào bốn góc buồng. Họa hoằn lắm, một thằng từ bóng tối đi ra chỗ ánh đèn soi sáng tấm thảm để đặt cho có chuyện. Không bao giờ chúng lấy hoặc hỏi lấy súc sắc. Điều này nữa: không đứa nào mang vũ khí một cách lộ liễu. Không dao phạng, không dao găm, không súng lục. Sự việc ấy không đi đôi với vẻ mặt sát nhân của chúng. Chắc chắn là chúng cố ý.

Đêm nay chúng trở lại. Vì chúng bỏ áo ra ngoài quần, hẳn là chúng có súng trên bụng. Dĩ nhiên chúng đứng trong bóng tối, tuy vậy tôi cũng nhận thấy mắt chúng không rời cử chỉ các con bạc. Tôi canh chừng và không cho chúng biết, như vậy phải đừng nhìn chúng. Tôi giả vờ ho rồi nghiêng mình về phía sau, tay để trên miệng. Nhưng rủi là tôi chỉ có hai đứa trước mặt. Hai đứa kia ở phía sau và tôi chỉ có thể thấy chúng rất nhanh bằng cách quay ra sau hỉ mũi.

Jojo bình tĩnh lạ thường. Như một tảng băng. Đôi lúc hắn cũng có nhận chơi trên tay người khác và như vậy hắn chịu thua hoàn toàn do may rủi. Vì hắn đã nói, nên tôi biết rằng mánh lới ấy khiến hắn bực mình, vì hắn phải ăn đi ăn lại hai ba lần một số tiền trước khi ăn được hẳn. Tuy nhiên lúc canh bạc sôi nổi, nó trở nên háu ăn và cho tôi quá nhanh nhiều bó bạc lớn.

Biết đang bị mấy thằng quỷ kia theo dõi, nên tôi cố ý để tất cả trước chỗ tôi ngồi. Đêm nay làm tủ sắt không lợi cho tôi.

Hai ba lần tôi dùng tiếng lóng nói nhanh cho Jojo biết hắn để tôi ăn quá nhiều. Hắn có vẻ không hiểu. Bởi vì hôm qua tôi đã giả vờ đi cầu rồi không trở lại, tôi nghi nếu bốn thằng khốn nạn này đến đây để hành động đêm nay thì chúng sẽ không chờ tôi trở vào mà chúng sẽ thịt tôi giữa nhà và cầu tiêu.

Tôi nhận thấy không khí mỗi lúc căng thẳng thêm, bốn bức tượng ở bốn góc phòng mỗi lúc thêm nôn nả. Nhất là một đứa hút, hết điếu thuốc này đến điếu khác, mồi điếu sau vào điếu trước.

Tôi bèn cốc hết bất kể phải trái, mặc dù Jojo càu nhàu. Quái gở là tôi ăn thay vì thua và đồng bạc của tôi cứ tăng lên chứ không giảm. Trước mặt tôi, có đủ hết, nhất là giấy 500 đồng. Tinh thần quá căng thẳng nên trong lúc lấy mấy con súc sắc, tôi để điếu thuốc trên giấy bạc. Một tờ giấy bạc bị cháy hai lỗ vì tờ giấy gấp làm đôi. Tôi dùng tờ giấy bạc ấy đặt cùng với ba tờ khác trong một chén cốc 2.000 đồng. Thằng ăn tiếng bạc ấy nói: “Mai chơi lại”. Nó bỏ đi.

Vì canh bạc sôi động, tôi không để ý đến thì giờ trôi qua, bất chợt tôi ngạc nhiên thấy tờ giấy bạc trên thảm. Tôi biết rất rõ người đã ăn tờ bạc ấy: một người để râu, độ bốn mươi tuổi, da trắng, gầy đét, một vệt trắng bên tai trái trông rõ trên nước da sạm nắng. Thằng chả không còn ở đó nữa. Trong một giây, tôi nghĩ: Chắc chắn nó đi ra một mình. Tuy nhiên không đứa nào trong số bốn thằng quỉ quái kia nhúc nhích gì hết. Vậy là có một hoặc hai đồng lõa ở ngoài. Hẳn là từ chỗ ngồi, chúng có cách ra hiệu cho đồng lõa biết rằng có một người mang nhiều bạc và kim cương đi ra.

Tôi không thể biết người nào đã vào sau khi nó đi vì có rất nhiều con bạc vừa đứng vừa chơi. Những người ngồi thì vẫn những tay ấy suốt mấy giờ rồi và chỗ của thằng râu có tờ giấy bạc cháy đã có người chiếm ngay sau khi nó đứng lên.

Thế nhưng ai đặt tờ bạc ấy? Tôi muốn lấy tờ bạc và đặt câu hỏi. Nguy hiểm lắm.

Không nghi ngờ gì nữa, mạng sống tôi bị đe dọa. Tôi có trước mắt bằng chứng thằng râu đã bị ám sát. Thần kinh căng thẳng nhưng thăng bằng, tôi phải suy nghĩ rất nhanh. Bây giờ là 4 giờ sáng, trời chưa sáng trước 6 giờ 15 phút, bởi vì ở vùng nhiệt đới, trời sáng đột ngột lúc 6 giờ. Như vậy, nếu có xảy ra việc gì, phải là giữa bốn và năm giờ. Đêm đen như mực, tôi biết như vậy, vì vừa đứng lên giả vờ thở một ít không khí mát mẻ ở ngưỡng cửa. Tôi để đống của tại chỗ ngồi, sắp xếp cẩn thận. Bên ngoài, không thấy gì bất thường.

Tôi trở lại chỗ ngồi xuống, bình tĩnh nhưng tất cả giác quan đều thức tỉnh. Gáy của tôi đánh điện cho tôi biết có hai cặp mắt nhìn chòng chọc vào đó.

Jojo bung súc sắc tôi để người khác cốc với hắn. Thế là hắn bắt đầu có một bó bạc khá lớn trước mặt, điều mà hắn rất ghét.

Quả thật tôi cảm thấy bầu không khí tăng nhiệt độ, làm ra vẻ thản nhiên, với một giọng bình tĩnh, tôi nói với Jojo bằng tiếng Pháp:

– Bạn ơi, tôi tin chắc, tôi cảm thấy trong không khí có triệu chứng bất thường. Anh nên đứng lên một lượt với tôi và chĩa súng ra mọi người.

Hắn mỉm cười như để nói với tôi một điều rất dễ thương, và cũng như tôi, hắn không đếm xỉa đến người khác có thể hiểu tiếng Pháp:

– Bồ ơi, tại sao bạn có thái độ ngu xuẩn như vậy. Chĩa súng vào ai mới được chứ?

Đúng vậy. Chĩa vào ai? Và vì lẽ gì, có chính đáng không? Thế nhưng chắc chắn là có chuyện. Thằng cha không rời điếu thuốc trên môi liên tiếp kêu hai cốc rượu, mỗi cốc uống một hơi.

Đi ra một mình, dù với súng trong tay, cũng không ích gì trong đêm tối như mực này. Tụi ở ngoài thấy tôi mà tôi không thấy chúng. Hay là chun vào buồng bên cạnh? Càng tệ hơn. Chín phần mười là có một thằng đã dễ dàng dở một tấm ván của bức vách chui vào đó trước.

Chỉ còn một việc có thể làm: thản nhiên để tất cả tiền ăn vào túi vải, để túi tiền chỗ tôi ngồi rồi đứng lên đi tiểu. Chúng sẽ không ra hiệu vì tôi không bạc tiền. Cả thảy hơn 5.000 đồng. Thà mất tiền còn hơn mất mạng.

Vả lại, không thể lựa chọn. Đó là lối thoát duy nhất để ra khỏi cạm bẫy đã được chúng sắp đặt rất công phu và sẵn sàng tung ra bất cứ giây phút nào.

Dĩ nhiên những điều trên được tôi suy nghĩ rất nhanh vì đã 5 giờ kém 7 phút. Tôi thu góp tất cả, giấy bạc, kim cương, ống thuốc cảm, cùng những thứ khác, trước mặt mọi người. Tôi chậm rãi bỏ đống của ấy vào túi vải. Rất tự nhiên, tôi rút hai dây cột túi vải, để nó trước mặt tôi khoảng 40 phân rồi tôi nói bằng tiếng Tây Ban Nha để mọi người hiểu:

– Jojo, coi chừng túi tiền. Tôi cảm thấy khó chịu, tôi ra ngoài cho mát một chút.

Jojo đã theo dõi cử chỉ của tôi, đưa tay ra và nói:

– Đưa đây, túi tiền để đây tốt hơn chỗ nào hết.

Vừa ái ngại, tôi đưa túi tiền cho hắn, vì tôi biết như vậy hắn dấn thân vào nguy hiểm, một mối nguy hiểm trước mắt. Nhưng biết làm thế nào? Từ chối? Không thể được, vì như thế sẽ kỳ lắm.

Tôi bước ra, tay để trên khẩu súng. Trong đêm tối, tôi không thấy ai hết, nhưng không cần thấy tôi cũng biết chúng đang đứng đó. Tôi đi mau, gần như chạy về hướng nhà Miguel. Tôi sẽ cùng Miguel đi trở lại với một cây đèn khí đá để xem có gì ở chung quanh căn nhà, như thế may ra tránh được tai họa. Tai hại là nhà Miguel ở cách nhà chúng tôi đến hai trăm thước. Tôi liền vắt giò chạy.

– Miguel! Miguel!

– Việc gì vậy?

– Dậy mau, cầm súng và cây đèn! Sắp nổ lớn.

Pan! Pan! Hai tiếng súng nổ trong đêm tối.

Tôi chạy tới. Ban đầu tôi lộn nhà nên bị người bên trong chửi thề, đồng thời người ta hỏi tôi tại sao có tiếng súng. Tôi tiếp tục chạy, kìa nhà tôi kìa, không còn đèn đuốc gì cả. Tôi quẹt diêm. Nhiều người xách đèn chạy tới. Không còn ai trong phòng. Jojo nằm dài trên sàn, gáy bắn ra máu quá nhiều. Hắn chưa chết nhưng bất tỉnh. Tôi tưởng tượng ngay đến thảm kịch, vì một chiếc đèn bấm bỏ lại tại chỗ giải thích những gì đã xảy ra. Chúng bắn trước vào chiếc đèn khí đá trong khi chúng sát hại Jojo. Chúng dùng ánh sáng đèn bấm hốt tất cả những gì trước mặt Jojo, túi bạc của tôi và số tiền Jojo đã được. Áo sơ-mi của hắn bị bứt ra, chiếc thắt lưng bằng vải thô hắn mang sát da đã bị một lát dao xẻ ra.

Dĩ nhiên tất cả bọn con bạc đã tẩu tán. Phát súng thứ hai có lẽ được bắn ra để cho các con bạc chạy gấp hơn. Vả lại lúc tôi đứng lên thì sòng bạc không còn nhiều người lắm. Tám người ngồi, hai người đứng, bốn thẳng quỉ quái đứng trong bốn góc cộng thêm thằng nhỏ bưng dọn thức uống.

Mọi người tình nguyện giúp đỡ. Người ta khiêng Jojo đến nhà Miguel để trên chiếc giường bằng cây. Jojo ở trong tình trạng hôn mê cả buổi sáng. Máu đã đông, không chảy nữa. Theo một thợ mỏ người Anh, đó là điều tốt mà cũng là điều xấu, bởi vì nếu bể sọ, máu sẽ chảy bên trong. Tôi quyết định để Jojo nằm yên. Một thợ mỏ người Callao, bạn cũ của Jojo đã đi đến một hầm mỏ khác để mời bác sĩ.

Tôi chán nản hết sức. Tôi giải bày tâm sự với Mustafa và Miguel và hai người đó an ủi tôi rằng vụ này đã được linh cảm trước hằng giờ và tôi đã báo trước cho Jojo: đáng lẽ hắn phải nghe tôi.

Đến ba giờ chiều, Jojo mở mắt. Chúng tôi cho hắn uống ít giọt rượu rum rồi hắn thì thào một cách khó khăn: “Bạn ơi, tôi cảm thấy số tôi như thế là xong. Cứ để tôi nằm yên. Papillon, anh không có lỗi gì hết, lỗi tại tôi!” Hắn thở một chút rồi nói tiếp: “Miguel, sau chuồng heo nhà anh, có chôn một cái hộp. Nhờ thằng một mắt đem cho vợ tôi, Lola”. Sau vài phút tỉnh lại ấy, hắn trở lại hôn mê. Hắn chết lúc mặt trời lặn.

Mụ đàn bà to lớn chủ quán đầu tiên, mụ Dona Carmencita có đến viếng Jojo. Mụ đem vài viên kim cương với ba hoặc bốn tờ bạc mụ đã lượm được tại phòng bạc, trong buổi sáng. Thế mà trước mụ, đã có biết bao nhiêu người vào phòng ấy rồi? Không một ai động đến số bạc và kim cương ấy.

Hầu hết mọi người trong xóm nhỏ này đã dự đám táng. Bốn thằng Ba Tây đều có mặt, vẫn bỏ áo ngoài quần. Một thằng trong bọn đến gần tôi chìa tay ra, tôi giả vờ không thấy và đập một cái thân mật trên bụng nó. Tôi không lầm, khẩu súng để đúng ở chỗ tôi đoán.

Tôi tự hỏi có nên ra tay với chúng không. Bây giờ? Hay sau này? Bằng cách nào? Không làm gì hết. Trễ mất rồi.

Tôi muốn được nằm một mình, nhưng theo tục lệ, sau tang lễ, phải đi uống một chén rượu tại các quán rượu mà người chủ quán đã đi dự đám táng. Tất cả đều đã đi dự và luôn là như vậy.

Tại quán của Dona Carmencita, mụ lại ngồi bên tôi, tay cầm ly rượu hồi. Khi tôi đưa ly lên uống, mụ cũng đưa ly của mụ lên, nhưng chỉ nâng ly trước miệng và không cho thiên hạ thấy mụ nói với tôi.

– Thà hắn bị còn hơn anh. Bây giờ anh yên tâm đi bất cứ đâu anh thích.

– Tại sao yên tâm?

– Bởi vì tất cả mọi người đều biết anh đã bán tất cả số tiền anh đã ăn cho tên người Liban.

– Đúng, nhưng nếu người ta giết tên người Liban thì sao?

– Quả vậy. Lại một vấn đề khác.

Tôi bỏ đi một mình, để các bạn bè ngồi lại nhậu, sau khi đã nói cho mụ Dona Carmencita biết tôi trả tiền riêng cho tất cả mọi người.

Tôi đi vào con đường nhỏ dẫn đến cái mà người ta gọi là nghĩa trang, một khoảnh đất đã phát hoang độ 50 thước vuông; tôi hiểu tại sao tôi đi vào đó.

Nghĩa trang có 8 ngôi mộ. Mộ Jojo là cuối cùng, Mustafa đứng trước mộ. Tôi lại gần.

– Mustafa, anh làm gì đây?

– Tôi đến để cầu nguyện cho người bạn cố tri tôi thương mến nhiều và tôi có đem theo một thánh giá. Anh quên bảo làm cái thánh giá.

Quả vậy, tôi ngốc quá! Tôi không nhớ đến thánh giá. Tôi bắt tay anh Ả Rập để cảm ơn.

– Anh không theo đạo Thiên Chúa hẳn? Hắn hỏi tôi. Tôi không thấy anh cầu nguyện khi người ta ném đất trên linh cữu của Jojo.

– Nghĩa là… chắc hẳn có Chúa, Mustafa ạ, tôi nói cho hắn được vui lòng. Tôi cũng cảm ơn hắn đã che chở cho tôi thay vì tiếp tục đồng lõa với Jojo. Hắn đã cầu nguyện cho Jojo, tôi đã tha thứ cho anh già lúc thiếu thời đã sống khốn khổ trong giới hạ lưu của khu Belleville. Hắn chỉ học được có một nghề, nghề đánh bạc.

– Bạn ơi, bạn kể lể gì vậy? Tôi không hiểu.

– Không hại gì. Xin anh chỉ nhớ một điều: tôi hết lòng thương tiếc Jojo. Tôi cố cứu hắn. Không ai nên tưởng mình khôn hơn kẻ khác vì một ngày nào đó cũng có người nhanh hơn. Jojo nằm đây hay lắm. Hắn yên giấc ngàn thu bên cạnh những gì hắn sùng thượng cả đời: phiêu lưu mạo hiểm và thiên nhiên, với sự xá tội của Chúa.

– Vâng, Chúa sẽ xá tội cho nó, chắc chắn như vậy, vì nó rất tốt.

– Hẳn là vậy.

Tôi chậm rãi trở về làng. Quả thật tôi không oán trách Jojo, tuy rằng hắn hầu như treo án tử hình trên đầu tôi. Tôi nhớ đến sự nhanh nhẹn, sự cương nghị sắt đá, sự trẻ trung của hắn tuy tuổi đã sáu mươi, điệu bộ công tử ngoại ô của hắn: “Trời ơi, phải ăn mặc đàng hoàng!”… Rồi tôi được người báo trước để đề phòng. Tôi sẵn sàng đọc một câu kinh ngắn để cảm ơn Jojo đã khuyên nhủ tôi. Không có anh ta, bây giờ tôi không còn ở đây.

Đưa qua đưa lại trên chiếc võng, hút hết điếu xì gà này đến điếu khác để cho say thuốc đồng thời để đuổi muỗi, tôi kiểm điểm mọi việc.

Được lắm. Chỉ sau mấy tháng tự do, tôi đã có mười nghìn mỹ kim. Ở Callao cũng như ở đây, tôi đã gặp đàn ông và đàn bà đủ mọi chủng tộc, đủ mọi giai tầng xã hội, nhưng tất cả đều nồng nàn nhân ái lạ thường. Xuyên qua họ và trong cuộc sống giữa thiên nhiên, trong một khung cảnh khác hẳn thành thị, tôi cảm thấy sự tự do mà tôi đã bao phen tranh đấu là một vật kỳ diệu.

Vả lại, chiến tranh đã chấm dứt nhờ tướng De Gaulle và những người lính cứu hỏa là dân tộc Mỹ. Trong cuộc lộn xộn của hàng triệu người, một tên tù đầy quả là không đáng kể. Càng tốt, điều này sẽ giúp ích cho tôi: trước bao nhiêu vấn đề phải giải quyết, người ta còn lo nhiều chuyện khác hơn là tìm hiểu tôi đã đi đâu.

Tôi 37 tuổi, 13 năm tù đầy, 53 tháng cô đơn hoàn toàn nếu kể, ngoài thời gian cấm cố, những ngày bị giam ở ba nơi khác. Khó xếp tôi vào hạng nào. Tôi không phải một thằng khốn nạn chỉ biết kiếm ăn với một cái xẻng, một cái cuốc hoặc một cái búa, nhưng tôi cũng không có một nghề đích thực như thợ máy hay thợ điện để có thể kiếm sống trong bất cứ quốc gia nào. Mặt khác, vì không có một trình độ học vấn đầy đủ, tôi không đủ khả năng nhận những trách nhiệm quan trọng. Luôn luôn phải học một nghề chân tay đồng thời với việc học chữ nghĩa. Nếu vì một lẽ này hay lẽ khác, con đường học vấn bị gián đoạn, người ta vẫn có thể chống chế với cuộc sống. Không phải vì có một trình độ học vấn nào đó, ta cảm thấy cao hơn người quét đường – không bao giờ tôi khinh ai, ngoại trừ bọn cai ngục và bọn cảnh sát – nhưng ta cảm thấy không hợp với con người của ta, như đặt bàn tọa giữa hai chiếc ghế, ta cảm thấy có thể sung sướng, nhưng chưa thực sự sung sướng.

Tóm lại, tôi học quá nhiều đồng thời cũng chưa đủ. Úi chà, kết luận như vậy chả sáng sủa gì!

Vả lại, nếu là một người bình thường, làm sao có thể làm chủ được những ham muốn thầm kín? Đáng lẽ phải tìm một cuộc sống bình yên, nhưng sống như những người cựu phạm về già ở Callao thì tôi lại cảm thấy trong thâm tâm một cái gì muốn bùng nổ, một niềm khát vọng mãnh liệt đối với cuộc đời. Sự phiêu lưu mạo hiểm hấp dẫn tôi quá mạnh nên tôi tự hỏi đến bao giờ tôi mới chịu ngồi yên.

Mặt khác, tôi còn phải phục thù, thật tôi không thể nào tha thứ cho bọn người đã hãm hại tôi và gia đình tôi. Papillon, hãy bình tĩnh. Mày còn có thì giờ. Mày nên dần dần tin vào tương lai. Mày có hứa sẽ sống đàng hoàng tại xứ này, thế mà mày đã quên lời hứa và đang chui đầu vào một cuộc phiêu lưu mạo hiểm.

Thật là khó sống như thiên hạ, nghe lời như thiên hạ, đi cùng nhịp đi với thiên hạ, và theo đúng nguyên tắc phải chấp nhận hai yếu tố thời gian và không gian.

Papillon, giữa 2 điều, cần chọn một: hoặc mày tôn trọng xứ sở trời cho này và từ bỏ thù hận, hoặc là mày không thể vứt bỏ ám ảnh ấy và phải cần có nhiều tiền, số tiền ấy, nếu làm ăn lương thiện thì không bao giờ có đủ, mày phải đi vào phiêu lưu mạo hiểm trở lại.

Nghĩ cho cùng, số tiền cần thiết ấy, tôi có thể đi kiếm ở nơi khác, ngoài xứ Venezuela. Con ơi, như thế không ngốc lắm đâu. Chờ xem. Phải suy nghĩ thêm. Giờ thì ngủ đã.

Nhưng trước khi đi ngủ, tôi không khỏi ra đứng nơi ngưỡng cửa một lúc để ngắm trăng sao, nghe muôn ngàn tiếng động, tiếng kêu của rừng sâu, đang vây kín ngôi làng như một biên thùy bí hiểm, bức tường ấy càng đen tối thì ánh trăng càng trong sáng.

Rồi tôi ngủ, ngủ theo nhịp đưa của chiếc võng, sung sướng trong từng thớ thịt vì cảm thấy tự do, tự do, tự do và làm chủ vận mạng của mình.

Chuyến Xe Tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 8th Jul 2021

Post by Sơn râu 13 Sep 2025

Tranh Bảo Huân

Kỳ 2

Lời giới thiệu: 

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Anh chị Bền là người Nam chính gốc, còn tôi lại là dân Bắc (Di Cư) chính gốc; vậy mà chỉ qua vài ngày sơ giao chúng tôi đã thấy thân thiết nhau. Vợ chồng Trung sĩ Bền coi tôi như em, ba đứa con của anh chị Bền thì gọi tôi là “Chú Long”. Ngoài tên ông Bền ra, tới nay tôi chỉ còn nhớ, ông Thiếu úy Thám Báo tên là Bổn, một ông sĩ quan Ban 2 chi khu tên Nghĩa, ông phản gián tên Phụng; tên của hai người còn lại thì tôi quên mất rồi.

Những ngày sau đó cũng có vài người tới trình diện phòng Z, nhưng chỉ qua vài chục phút tiếp xúc thẩm vấn là họ được cho về. Quân số phòng Z hầu như cố định 7 người. Chúng tôi cứ 8 giờ sáng có mặt, cùng nhau tán gẫu, 6 giờ chiều lại chia tay, sau khi nghe một hồi kẻng báo giờ phát đi từ giữa sân cờ.

Hàng ngày, nhân dịp đi loanh quanh trong sân, tôi được biết những phòng đánh số khác cũng là chỗ quy tụ những quân nhân đặc biệt được gọi về chờ các cơ quan quân sự địa phương tới tiếp nhận.

Sau vài bữa, đã có nhiều bảng 40X40 cm được tháo gỡ, chỉ còn lác đác vài phòng là còn người đi vào, đi ra.  Chắc những người bị gọi tập trung thanh lọc trong những phòng bỏ trống đó đã được các cơ quan quân sự địa phương đem đi hết rồi.

Một hôm tôi đang trên đường từ nhà vệ sinh công cộng trở về phòng Z thì thấy tên cán binh người Hải Hưng đang đứng chờ tôi dưới một gốc phượng đầy xác hoa.

Y ngoắc tay ra dấu cho tôi đi ra đằng sau dãy nhà ngang. Mắt y đảo quanh một cái thật nhanh rồi nhỏ giọng, vừa đủ cho tôi nghe: 

“Anh Long à! Nếu anh mà bị đưa về Quân Khu 5 thì khó toàn mạng đó! Có trốn được thì trốn đi! Cố gắng kín miệng, đừng cho ai biết tôi đã nói với anh điều này!”

Tôi chưa mở miệng nói được tiếng nào thì y đã hấp tấp phẩy tay đuổi tôi đi.

Suốt ngày hôm đó tôi cứ băn khoăn suy nghĩ. Cứ theo lời tên cán binh này thì chắc chắn tôi nằm trong số những nhân vật đặc biệt mà Quân Khu 5 Cộng-Sản nhắm vào.

Chắc chắn tình trạng của tôi và những anh bạn cùng phòng sẽ lành ít dữ nhiều trong những ngày sắp tới.

Tối đó, về tới nhà, nhìn thấy 3 đứa con nheo nhóc, đứa lớn nhất mới 3 tuổi rưỡi, đứa thứ nhì 2 tuổi rưỡi, đứa thứ ba vừa chập chững biết đi, vợ tôi lại đang mang bầu sắp tới ngày sinh, tôi không dám nghĩ tới chuyện bỏ vợ con mà đi trốn.

Ngày Ban Mê Thuột thất thủ tôi những tưởng vợ chồng tôi sẽ chẳng còn gặp lại nhau. Trong những ngày khói lửa ở Ban Mê Thuột, một quả bom từ máy bay thả xuống giữa phố, đứa con gái lớn của tôi đã bị một mảnh bom ghim vào cánh tay. Hơn hai tháng nay vết thương trên tay con tôi còn đau, mảnh bom còn nằm trong cánh tay nó. Nay mẹ tôi vừa đón được vợ tôi và 3 đứa bé về Sài-Gòn chưa được mấy ngày, tôi đã bị cấm túc.

Suy đi, tính lại, dù gì thì hiện giờ đêm đêm tôi vẫn nhìn thấy vợ thấy con, còn hạnh phúc.

Thôi đành kệ! Ai sao mình vậy! Ngày mai muốn ra sao thì ra!

Tuy thế, trong thâm tâm, tôi vẫn lo lắng không yên.

Tôi cũng không dám chia sẻ những gì mà tên cán bộ Việt-Cộng đã tiết lộ cho tôi, vì thời buổi này tôi không tin ai, lỡ mình phơi bày tâm tư cho người ta biết, người ta quay sang phản mình, đi tố cáo mình để lập công thì mình chết chắc. Tuy vậy, tôi thấy trong hoàn cảnh này, chính tôi và những người đồng cảnh của tôi cũng rất cần những sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau.

Trưa hôm sau, vào giờ ăn trưa, trong quán cháo của bà Bền, tôi đứng lên hỏi ý mấy ông bạn cùng phòng,

– Các bác ơi! Nếu bất ngờ tụi mình bị đưa đi chỗ khác thì các bác có cách gì báo tin cho gia đình biết?

Vừa nghe tôi hỏi, ông Huỳnh Thanh Bền đã nói ngay,

– Các ông cứ chuẩn bị sẵn một lá thư có địa chỉ gia đình rồi giao cho bà xã tôi cất. Ngày nào mình bị bốc đi thì nhà tôi sẽ chuyển thư của quý vị tới tận nhà để thân nhân quý vị biết mình đã đi khỏi đây rồi.

Anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh bổ sung thêm,

–  Tôi có ý kiến là các ông nên viết sẵn một lá thư mở đầu với câu: Nhờ ai nhặt được thư này thì ghi giùm địa danh nơi thư này rơi, rồi gửi nó về địa chỉ của gia đình tôi ở địa chỉ sau đây…Ða tạ! 

Sau đó các ông cuốn lá thư trong một tờ giấy bạc 500. Tới địa điểm mới thì mình đánh rơi thư này. Thấy tiền, người ta sẽ lượm, rồi có thể, người ta sẽ giúp gửi thư đi cho mình, gia đình mình sẽ biết mình bị đưa đến đâu.

Tôi nghĩ thầm:

“Công nhận ông Bổn Răng Vàng này đa mưu thật!”

Anh chàng Thiếu úy Bổn là người ăn nói rất lưu loát, miệng anh ta lại có cái răng nanh bịt vàng, quen nhau rồi, tôi cứ gọi anh ấy là “Bổn Răng Vàng”.

Thế là sáng hôm sau trước giờ chúng tôi trình diện ở phòng Z thì trong túi bà vợ ông Huỳnh Thanh Bền đã có 6 lá thư nhắn tin, và trong túi của 7 anh em trong phòng Z đều có sẵn một cuộn giấy tròn như cái pháo tép, bên ngoài lá thư được bao bởi tờ giấy bạc 500 đồng do Ngân Hàng Quốc Gia Việt-Nam phát hành.

Một buổi chiều giữa tháng 5, tôi vừa mở khóa chiếc Honda chuẩn bị đi về thì một người khách qua đường dừng chân bên quán cháo lòng,

– Ðại ca! Ðại ca!

Tôi quay mặt lại, nhận ra ngay người vừa gọi mình là ông Trung úy Ðại đội trưởng một Ðại Ðội Ðịa Phương Quân của tỉnh Bình-Long. Suốt trận Xuân-Lộc tháng 4 năm 1975, đơn vị Ðịa Phương Quân của ông này đã nằm dưới quyền chỉ huy của tôi. Tôi và ông trung úy này chia tay nhau chiều 23 tháng 4 tại căn cứ Long-Bình.

Ông trung úy người Cái Sắn nắm tay tôi thật chặt,

– Em đi kiếm đại ca cả tuần nay. May quá giờ gặp rồi! Gặp rồi!

Tôi cũng cảm động,

– Chú bình an chứ? Ði đâu đây? Kiếm anh làm gì vậy?

Người đàn em ghé tai tôi thì thầm,

– Ðại ca ơi! Về Cái Sắn với em! Ba ngày nữa tụi mình sẽ vượt qua Cao Miên rồi trốn sang Thái Lan. Em có đường dây đưa đi an toàn trăm phần trăm. Ðại ca đi với em nhé! Gia đình em sẽ trang trải hết mọi phí tổn cho anh em mình!

Thật bất ngờ, nhưng tôi vẫn còn tỉnh trí. Tôi buồn rầu nói,

– Anh không đi được! Tình cảnh gia đình của anh không cho phép! Chú đi một mình đi! Chúc chú thượng lộ bình an! 

Từ ấy tôi không rõ người anh em này phiêu dạt nơi đâu. Tôi luôn cầu mong cho chú ấy luôn luôn gặp những điều may mắn.

Vậy là, trong khoảng thời gian không đầy nửa tháng sau chiến tranh tôi đã có những cơ duyên được bạn bè và cả người phía bên kia giúp đỡ. Nhưng tôi đã không dám hành động để tự cứu mình. Thời gian này, hầu như tôi đã xuôi tay, nhìn cái thòng lọng cứ từ từ siết chặt dần quanh cổ mình.

Thế rồi…

Sáng 20 tháng 5 tôi vòng xe sang đường Lê Thánh Tôn để mua một ổ bánh mì thịt, rồi chạy thẳng lên Tòa Ðô Chánh để cho anh Thiếu úy Thám Báo Tỉnh quá giang. Nhà anh này ở trong con hẻm cách Toà Ðô Chánh chừng một trăm thước. Anh này không có xe, cả tuần lễ nay anh ta phải tới Trại Lê Văn Duyệt bằng hai chặng xe Lamb chuyển tiếp.

Ba tuần lễ sau ngày Miền Nam sụp đổ, Tòa Ðô Chánh Thủ Ðô Sài-Gòn đã có bộ mặt mới, với lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam to tổ bố cùng toán bộ đội nón cối, dép râu ôm súng AK47 gác trước cổng.

Tới cổng Tòa Ðô Chánh, tôi giảm ga cho xe chạy từ từ theo bảng chỉ đường giới hạn 5 Km/ Giờ.

Ðoàng! Ðoàng! Ðoàng!”

bất thình lình, một tên bộ đội Việt-Cộng từ hiên Tòa Ðô Chánh nhảy ra giữa phố.

Tên Việt-Cộng này có lẽ là sĩ quan, vì bên hông y có đeo một cái cặp da tòn ten.

Y giơ một tay chận xe tôi lại, tay kia giương cao khẩu K54 bắn ba phát chỉ thiên, miệng la,

– Ðứng lại! Ðứng lại!

Chẳng hiểu chuyện gì, tôi vội răm rắp tuân lệnh của người cầm súng, tấp xe vào lề đường, thắng lại.

Thằng Việt-Cộng chĩa súng ngay đầu tôi, rồi nhảy lên, ngồi trên yên sau, miệng y hét lớn,

– Anh khẩn trương chở tôi lên Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy! Nhanh lên! Nhanh lên!

Tôi im lìm nhấn chân sang số, xe đi tới.

Chạy được vài chục thước, tôi thấy trước mặt, bên đường, là anh bạn Bổn Răng Vàng, Thám Báo Tỉnh. Tôi đạp thắng cho xe chạy chậm lại, thì thằng Việt-Cộng hét to,

– Ði! Ði! Cấm dừng!

Thấy một thằng Việt-Cộng vừa kê súng vào đầu tôi, vừa la hét oang oang, ông Thiếu úy Thám Báo Tỉnh cũng hoảng hồn, vội vàng bước thối lui vào lề đường.

Thế là tôi phải vặn tay tăng ga cho chiếc Honda vọt lên. Bạn tôi đứng ngẩn người nhìn theo.

Tôi đâu có biết đường nào lên Tổng Tham Mưu? Tôi cứ chạy vòng vo trong khu Yên Ðổ, Hai Bà Trưng hoài.

Thấy thế, thằng Việt-Cộng lớn tiếng ra lệnh,

– Anh chạy theo lệnh tôi! Chạy thẳng! Rẽ phải! Rẽ trái! Chạy thẳng! Rẽ phải! … 

Xe qua cầu Trương Minh Giảng một lúc lâu mới tới Bộ Tổng Tham Mưu…

“Kia rồi! Dừng lại!” 

Vương Mộng Long và Mẹ tháng 4 năm 1993

Hóa ra một thằng Việt-Cộng vừa ra khỏi rừng mấy ngày mà đã thông thuộc đường sá Sài-Gòn hơn một thiếu tá tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân Vùng 2 của Việt-Nam Cộng-Hòa!

Tới cổng sau của Bộ Tổng Tham Mưu, tôi tưởng mình thoát nạn, nào ngờ,

– Anh đỗ xe ở đây! Không được thoái bộ! Chờ tôi họp xong, tôi sẽ quay ra! Nghe rõ chưa?

Y chỉ chỗ cho tôi tắt máy và đậu xe sát vọng gác bên hông của Bộ Tổng Tham Mưu rồi ra lệnh cho mấy tên bộ đội trong điếm canh,

– Tôi giao cho các đồng chí nhiệm vụ quản chế anh này! Giữ anh ta tại đây cho tới khi hội họp xong tôi sẽ trở ra. Nếu anh ta thoái bộ thì các đồng chí cứ việc bắn! Ðừng bắn chết là được! Cứ bắn gãy chân thôi! Nghe rõ chưa?

Tôi ngồi xuống bờ cỏ bên vọng gác, móc túi lấy điếu thuốc Ruby ra hút đốt thời giờ. Tôi hút tới điếu thuốc thứ ba mà tên cán binh Việt-Cộng vẫn chưa ra. Ðã tới 8 giờ, giờ điểm danh của ban tiếp quản Quân Khu 5, mà tên Việt-Cộng vẫn chưa ra.

Tôi mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Ðã tới giờ tôi phải có mặt ở Ủy Ban Quân Quản Thành Phố, tôi có thể đi được không? 

“Crách! Crách!” cùng với tiếng lên cò súng là khẩu lệnh,

– Ngồi xuống đó! Cấm di chuyển! Anh mà bước khỏi đây một bước là tôi bắn!

Thế là tôi đành ngồi xuống.

Tôi dự trù nếu thằng cán binh ác ôn mà trở ra, tôi sẽ đòi nó ký cho tôi tờ giấy chứng nhận lý do vì sao tôi tới phòng Z trình diện trễ.

Thoáng chốc mặt trời đã tới đỉnh đầu. Sài-Gòn tháng Năm trời vừa nắng cháy da, vừa ẩm ướt hầm hầm như đang trông chờ những cơn mưa bóng mây.

Gặm xong ổ bánh mì thịt, tôi thấy cổ khô ran, khát nước. Tôi lại mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Tôi xin phép đi sang bên kia đường để mua nước uống có được không?

– Ngồi xuống đó! Ði là tôi bắn! Không có nước nôi gì hết! Nghe rõ chưa?

Tới hai giờ chiều thì bụng tôi căng như cái trống, tôi lại mon men tới bên vọng gác,

– Anh bộ đội ơi! Tôi xin phép vào nhà xí của trại để đi tiểu tiện có được không?

– Cần gì phải vào nhà xí! Anh cứ ngồi xuống vạch cu ra mà đái! Không ai thèm nhìn anh đái đâu!

Cố nín thêm chừng một giờ sau nữa, tôi cũng đành phải mở nút quần. Tôi nhắm mắt, đái đại ngay trên lề cỏ bên đường.

Ðồng hồ tay của tôi chỉ đúng 4 giờ chiều thì tên cán bộ mới xuất hiện. Vừa phóng lên yên sau, y đã hối,

– Khẩn trương lên! Họp hành gì mà lâu quá! Tôi đói lắm rồi! Anh mau mau chở tôi về lại Tòa Ðô Chánh! Mau lên! Mau lên!

Trên đường về, thằng Việt-Cộng không còn kê súng lên đầu tôi nữa.

Vì đã biết đường đi, nên lúc về tôi không bị lạc. Tới cổng Tòa Ðô Chánh tên cán bộ xuống xe, rồi mở cái cặp da,

– Anh tính tiền xe ôm thuê bao cả ngày hôm nay là bao nhiêu? Tôi sẽ trả cho anh! Anh làm việc có lương tâm lắm! Tôi tuyên dương anh đấy!

Thì ra thằng Việt-Cộng này tưởng lầm tôi là một anh chạy xe ôm! Tôi nói,

– Anh nhầm rồi! Tôi không phải xe ôm! Nhưng thôi! Anh không cần trả tiền tôi, mà hãy ký cho tôi cái giấy chứng nhận rằng anh đã trưng dụng tôi chạy xe đưa anh đi công tác suốt ngày nay để tôi xuất trình cho Ủy Ban Quân Quản Thành Phố. 

Nghe tôi nói, tên cán bộ hơi ngẩn người ra một giây, rồi nhẹ giọng,

– Vậy thì xin lỗi anh nhé! Ðược rồi! Tôi sẽ ký giấy làm chứng cho anh.

Nói xong, y mở cái cặp da, rút ra một quyển sổ công lệnh của Quân Khu 7, tờ nào cũng có con dấu đỏ chót.

Y xé một tờ rồi ghi trên đó mấy chữ:

“Chứng nhận đã sử dụng nhân công này từ 8 giờ sáng tới 5 giờ chiều ngày 20 tháng 5 năm 1975” 

Y ký tên rồi đưa tờ công lệnh cho tôi,

– Ði đi! Yên chí sẽ không có ai làm khó dễ anh đâu!

Quá 5 giờ chiều tôi mới tới cái lều bán cháo lòng của chị Bền. Thấy tôi, chị Bền lo lắng hỏi,

– Ủa! Sao giờ này chú mới tới? Trưa nay anh Bền và mấy ông phòng “ZÉT” không ra ăn cơm. Chú vào trong đó xem có gì lạ thì ra báo cho chị hay.

Tôi khóa xe rồi đi vào trại. Khu doanh trại của bộ đội vẫn sinh hoạt bình thường. Dãy nhà ngang là khu tiếp quản chỉ còn một phòng Y là có người. Phòng Z cửa cũng mở toang, cái bảng carton 40X40 cm có chữ “Z” đã bị gỡ bỏ, trong phòng không thấy bóng dáng ai.

Vết Nám

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 13 Sep 2025

Hồi ký tù cải tạo

Bài 2 – “Nguồn Tin Vui…”

Dấu hoàng hoa lộ xưa đâu?

Đôi hàng cây ngã bóng cầu nguyện chi!

Cỏ dài níu bước chân đi

Cành vàng hoa nọ buổi về còn không?

Cây khô vắng bóng chim rừng

Tóc chiều hong gió bềnh bồng trắng mây!

(Hoàng hoa lộ) Nguyễn Tử Hà

Khai lý lịch xong thì “biên chế” (danh từ Việt Cộng đấy), có nghĩa là phân loại và chuyển trại.

Té ra Việt Cộng, sau khi “gom bi”, dụ hết “đám chế độ cũ” trình diện, tập trung, nay cần chúng tôi “thành thật khai báo”.

Khai báo hết rồi để biết ai là ai, khi đó mới phân loại đưa đi các trại giam.

Toàn bộ “đơn vị” tôi đều lên xe Molotova đi hết. Dĩ nhiên chẳng biết họ bị đưa đi đâu để “học tập”. Còn lại một số khoảng 20 người, ôm khăn gói đi bộ qua phía bên kia trại, khu sát phi trường Trảng Lớn. Ở đó, sau mới biết là L3-T3. Hòm thư 7590.

Chúng tôi lại đùa một cách chua xót về số “hòm thư”:

Học bảy (7) năm (5) chín (9) không (0)?

Không!

Bảy năm cũng chưa chín, như Trần Tế Xương nói vậy:

“Học đã sôi cơm nhưng chửa chín.”

Coi bộ phen nầy “mút mùa Lệ Thủy”.

11 trong số 20 người đó, được “biên chế” ở chung với nhau trong một tổ: Đó là:

– Huỳnh Văn Khánh, người Nam, đại úy Quân Cảnh, biệt phái dạy trường Trung Học Bình Chánh, hai năm sau bị đưa ra Bắc, bây giờ không biết ở đâu!

– Thứ hai là Hoàng Hữu Chung, quê làng An Ninh, phía sau chùa Linh Mụ, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, một năm sau ra Bắc, hiện ở Boston.

– Ba là Lê Quang Dung, dân Saigon chính cống, đại úy Cảnh Sát. Bọn “Cách mạng 30” – (là những người dân trở cờ, theo Việt Cộng vào ngày 30 tháng Tư,) tố cáo là thiếu tá nhưng không khai (1), năm 1982, cùng được tha về một lần với tôi, được ít lâu thì từ trần.

– Bốn là Nguyễn Văn Bê, dân Nam Bộ, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, ca cải lương khá mùi. Câu anh ta thường ca là:

“Em ơi!

Nước chảy,

Bèo trôi

hoa tàn

bướm rũ

Vừa mới yêu nhau mà em đã phụ anh rồi.”

Trắc thường bắt chước ca theo, nhưng chữ “phụ” thì anh bỏ vần “ph” mà thay vào đó phụ âm “đ”, khiến ai nấy cũng cười. Năm sau, Bê bị đày ra Bắc, không biết bây giờ ở đâu!

– Năm là Phạm Xuân Lý, dân Saigon chính cống, đại úy Cảnh Sát, vợ tên là Thúy/ Hên), cũng là sĩ quan Cảnh Sát, cũng bị đi cải tạo. Một năm sau, Lý bị đưa ra Bắc, hình như bây giờ cùng vợ định cư ở Úc.

– Sáu là Nguyễn Văn Thanh, “rân ri-cư”, như chúng tôi thường đùa, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, “lừng khừng chẳng ra làm sao” nhưng tránh “lao động vinh quang” thì hay lắm, anh em gọi đùa là thằng “trốn làm” (để nói lái chơi), Trần Phú Trắc đặt cho cái tên Tây nữa là “thằng Charle Cụt”, nói theo tiếng Việt là “Sặc Cụt”, cả hai tên nầy nói lái lại thì nghe… tục lắm!

Tấm PSP dài, mỗi phía có 3 người khiêng. Thanh thường giành đứng giữa. Trên đường đi, anh ta khom mình xuống một chút, sức nặng đè lên vai hai người đi trước và đi sau. Anh ta “khỏe re”. Mánh nầy bị bể nên tôi (khi đó làm trưởng toán), không cho anh ta đứng giữa nữa. Năm 1954, bố mẹ anh ta vào nam vì, theo như Việt Cộng “lên án”, nghe lời các linh mục rằng “Chúa đã vào Nam”. Còn bây giờ thì “Chúa lại đi Guam”, như Phan Hải nói, nhưng gia đình Thanh không đi Guam đuợc. Năm sau Thanh bị đày ra Bắc, bây giờ ở nam Cali!

– Bảy là Phạm Quang Chiểu, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, tôi có nói qua ở trên, rất khoái nghe tôi hát “Gởi gió cho mây ngàn bay.” Một năm sau bị đày ra Bắc. Đi tù cải tạo về mới cưới vợ, hiện ở nam Cali, gần với Trần Phú Trắc.

– Tám là Trần Phú Trắc, nói ở trên, xin khỏi nhắc lại.

– Chín là Trần Hữu Bảo, dân Huế, đại úy Dù, thương binh loại 2, biệt phái Cảnh Sát, một năm sau bị đày ra Bắc, hiện giờ ở nam Cali, gần chỗ Trắc.

– Mười là Phạm Ngọc Hiền, quê ở Quảng Ngãi, đại úy quân đội biệt phái Cảnh Sát, bị Trắc đặt tên là Tạ Tốn, một nhân vật trong truyện Kim Dung, quê ở Quảng Ngãi, lớn lên trong vùng Việt Minh nên có ít nhiều kinh nghiêm với Việt Cộng. Một năm sau cũng bị đày ra Bắc. Không biết bây giờ ở đâu!

– Mười một là Phan Hải.

Phan Hải, quê làng Xuân Đài, Điện Bàn, Quảng Nam, là con Phan Mạch, cháu Phan Mỹ.

Hồi ấy, Phan Mỹ là “chủ nhiệm văn phòng thủ tướng” (Phạm Văn Đồng), còn bố anh ta làm “Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhứt”. Bác cả anh ấy là nhà văn Phan Khôi, ngoài ra còn có Phan Thao, Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam, bộ trưởng bộ nội vụ Việt Cộng); và theo anh ta, chú anh ta cũng là Phan Hiền, lúc ấy là Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Cộng. Bố mẹ anh ta tập kết ra Bắc, để anh ta ở lại miền Nam với một ông bác. Ông nầy làm thuyền trưởng chiếc tàu chạy đường Saigon – Đà Nẵng và qua đời sớm.

Phan Hải lưu lạc ở Saigon, vừa đi làm vừa đi học, đậu tú tài 1, bị động viên đi sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, trung úy, biệt phái Tòa Đô Chánh, phụ trách kiểm soát ẩm thực cho tù Chí Hòa. Anh ta cố gắng “học tập tốt” để như bố mẹ anh ta hứa: “Ngày về, con sẽ là con của đảng”. Anh ta đã ở sẵn tại trại nầy, khi chúng tôi tới nơi thì biết anh ta làm Khối Trưởng.

Anh em chúng tôi thì thuộc Tổ 1, đội 1, Khối 1, trại L3-T3.

L3-T3 là một “đơn vị học tập” thuộc cấp “tiểu đoàn”.

Tiểu đoàn trưởng là Năm Định, đại úy Việt Cộng, người miền Nam. Năm Định thì cứ khăng khăng rằng: “Mấy anh học tập xong thì về.” Chính trị viên tiểu đoàn tên là Thảo, người Bắc, trung úy, khôn ngoan, kín đáo, thâm trầm và “độc”.

Người điều hành công việc thường nhật, coi như phụ tá của Thảo là Hồng Dư, trung úy, trẻ hơn Thảo, năng nỏ hơn, nhiệt tình hơn, chủ tọa cuộc họp hằng ngày của các khối trưởng, là người cấm chúng tôi không được gọi nhau bằng tù, chỉ là “cải tạo viên” mà thôi.

Toàn trại chia làm 6 khối. Từ khối 1 đến khối 5 là năm khối ở trong năm ngôi nhà dài trại gia binh cũ. Mỗi nhà gồm 10 căn dành cho 10 tổ. Hai tổ thành một đội. Năm đội thành một khối.

Khối thứ sáu, không ở trong gian nhà trại gia binh mà một ngôi nhà gỗ, tiền chế của nhà binh, nằm riêng ở cuối trại. Tôi chưa từng vào ngôi nhà nầy nên không biết cách sắp đặt ra làm sao. Ca sĩ Khuất Duy Trác là khối trưởng của khối 6 nầy.

Phi trường Trảng Lớn ở phía bên kia hàng rào của L3-T3.

Khi mới về trại nầy, chúng tôi được lệnh qua phi trường gở các tấm “ri” sắt (PSP), thứ để làm phi đạo, đem về kê cao lên, làm sập để ngủ. PSP có hai loại, loại có lỗ to, bằng miệng chén, dày 1 lớp, không làm chỗ nằm được. Loại chúng tôi gở về là loại không có lỗ, bằng nhôm, làm sập nằm khá êm.

Về trại nầy được mấy tuần thì chúng tôi được trại tổ chức học tập chính trị. Nghe được học tập chính trị, ai ai cũng vui, và hy vọng học tập chính trị xong thì sẽ được về, trở lại cuộc sống bình thường.

Bấy giờ, không rõ do đâu, một số anh em được gọi đi dựng hội trường để làm nơi học tập chính trị. Hội trường là khoảng trống giữa hai dãy nhà trại gia binh. Họ dựng vài, đóng đòn tay, lợp mái, và làm sân khấu để giảng viên đứng trên đó, còn “trại sinh” thì ngồi đối diện, dưới đất. Bốn phía hội trường có bắt loa, trên sân khấu, mỗi khi học tập có đặt micro cho giáo viên dùng.

Để ý, tôi thấy các loa nầy nhãn hiệu đều viết bằng chữ Tàu, có lẽ do Trung Cộng sản xuất và viện trợ.

Những người giảng bài học chính trị, gọi là giáo viên, phần đông còn trẻ, 20 tuổi hay lớn hơn chút ít, nghe nói mới học xong ở truờng Nguyễn Ái Quốc ra. Bọn họ có khoảng 3 hoặc 4 người, phụ trách một T. (Đơn vị), phần đông là người Bắc, vui vẻ. Riêng có một anh chàng, không lên lớp bao giờ, thường đi thu gom bài học và bản khai lý lịch. Anh chàng nầy khó đăm đăm, khó ưa.

Có một giảng viên, còn trẻ, có lẽ cũng “trường Nguyễn Ái Quốc” mới ra lò. Anh vừa giảng bài ở hội trường xong, chúng tôi họp “thảo luận tổ”, anh đến nghe, hỏi có ai thắc mắc gì không?

Phan Hải nói: “Tôi thấy “từ” (chữ Việt Cộng đấy!) nầy đúng ra là “chỉ tiêu”, không phải là “chi tiêu” như anh nói.

Anh ta trả lời: “Chỉ tiêu hay chi tiêu cũng giống nhau, không là vấn đề.”

Tối đó, Phạm Xuân Lý hỏi tôi: “Chỉ tiêu hay chi tiêu là hai tiếng khác nhau, sao bộ đội nói giống nhau?”

Tôi nói: “Họ không rành danh từ Hán-Việt nên hiểu sai.”

Lê Quang Dung, dân Nam bộ, nóng tánh, “phang” ngay một câu: “Không biết mẹ gì mà cũng làm thầy. Thầy cái con cặ…”

Bài học đầu tiên nhan đề là: “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta.” Kế đó là những bài như “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân toàn thế giới”, “Đế quốc Mỹ là con đĩa hai vòi”, “Đế quốc Mỹ giàu mà không mạnh”, “Không nên sợ Mỹ và phục Mỹ”, “Ngụy quân ngụy quyền là tay sai của Mỹ, có tội với nhân dân”. Quan trọng nhất là ai ai cũng phải “tự mình xác nhận có tội với nhân dân…”

Cọng chung là học 10 bài. Đề tài, nghe nói, đã được phổ biến trước kia trong vùng Việt Cộng, v.v… Học xong để mà về nên chẳng ai quan tâm, miễn sao khi bộ đội, cán bộ hỏi tới thì “hỏi đâu thuộc đó” thì thôi.

Một tối, lợi dụng lúc Phan Hải lên chơi nhà bộ đội chưa về, chúng tôi nằm chờ giấc ngủ, Phạm Quang Chiểu, bỗng “nổi máu anh hùng”, nói:

– “Bọn mình hèn quá! Họ nói gì mình cũng ngoan ngoản làm theo, không ai chống đối, lại còn “hoan hô cách mạng” nữa chứ.

Không ai nói gì. Có ai đó buông tiếng thở dài.

Một lúc sau, không biết đang suy nghĩ gì, Chung hỏi tôi:

– “Anh Hải biết chuyện Hàn Tín không?”

– “Dạy môn văn chương, lịch sử mà không biết chuyện Hàn Tín thì làm sao được. Học trò nhiều đứa thuộc “Hán Sở tranh hùng” hơn thầy đấy! Mấy đứa “học trò Huế” nhiều đứa giỏi lắm.” Tôi trả lời.

– “Nhưng có thằng Huế nào “lòn trôn giữa chợ” như Hàn Tín không?” Có ai đó lên tiếng hỏi.

– “Đời mà! Đời nhiều mặt. Các ông có nhớ chuyện Đặng Trần Thường, Ngô Thời Nhiệm không? Tự vì thằng Mẽo nó chạy làng nên mình có súng mà không có đạn. Giả tỉ như Tàu với Nga mà bỏ Việt Cộng thì đời cũng như Đặng Trần Thường nói vậy.” Tôi nói.

– “Nói sao?” Lê Quang Dung hỏi.

Tôi chưa kịp trả lời thì nghe Phạm quang Chiểu đọc:

            “Ai công hầu, ai khanh tướng, giữa trần ai, ai dễ biết ai!”

Chiểu đọc xong một lúc, tôi nói: “Mình bây giờ cũng giống như Ngô Thời Nhiệm vậy:

            “Thế chiến quốc, thế xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”. “Khôn chết, dại chết, biết sống”. Ở với Cộng Sản, phải biết để sống.”

– “Răng gọi là biết”. Chung hỏi.

– “Như Khổng tử nói vậy. Đời đục cả, ta trong làm sao được?” Tôi nói.

Nằm sát góc trong, Trắc hỏi tôi:

– “Anh Hải, tôi thích bài thơ hôm nghe anh đọc, bài thơ của Phạm Thái.”

            Tôi liền đọc:

                        Năm bảy năm nay cứ loạn ly

                        Cảm thương thân thế lỡ qua thì

                        Ba mươi tuổi lẻ đà bao chốc

                        Năm sáu đời vua thật chóng ghê

                        Một tập thơ sầu ngâm cũng chán

                        Vài be rượu nhạt uống ra gì

                        Thôi về tiên phật cho xong quách

                        Đù ỏa trần gian sống mãi chi.  

Nghe xong, Hiền nói: “Tuổi ông ta cũng bằng tuổi mình. “Ba mươi tuổi lẻ” cả.

Tôi nói:

– “Trong văn học ta, tui khoái ông thầy chùa nầy nhất. Ông thầy chùa Phổ Chiêu Thiền Sư mê gái. Trong văn học Tàu, tôi cũng khoái ông Lỗ Trí Thâm, ông thầy chùa ăn thịt chó.”

– “Khoái tầm bậy không! Bộ thèm thịt chó à?” Huỳnh Văn Khánh nói.

– “Đi tu chỉ là tránh mặt nhà Tây Sơn, còn mê gái, khi Trương Quỳnh Như tự tử rồi, ông viết bài điếu hay lắm.” Nói xong, tôi đọc liền:

“Ta hăm hở chí trai hồ thỉ,

bởi đợi tình cho nấn ná nhân duyên

Mình long đong thân gái liễu bồ,

vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh.

Cho đến nổi hoa rơi lá rụng,

ngọc nát châu chìm,

chua xót cũng vì đâu,

não nuột cũng vì đâu.

Nay qua nắm cỏ xanh,

thương người phận bạc,

xụt xùi hai hàng tình lệ,

giải bày một bức khốc văn,

đốt xuống tuyền đài,

tỏ cùng nương tử.

Chung nói: “Tui khoái “Hồ Trường” hơn, anh Hải ơi!

– “Người đời cũng lạ! Nguyễn Bá Trác từng theo “Phong trào Đông Du”, sau lại bỏ về theo Tây. Ông có thuộc không?” tôi hỏi:

Chung đọc:

“Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường.

Hà tất tiêu dao bốn bể, lưu lạc tha phương

Trời Nam nghìn dặm thẳm

Non nước một màu sương

Chí chưa thành,

Danh chưa đạt

Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc

Trăm năm thân thế bóng tà dương

Vỗ gươm mà hát,

Nghiêng bầu mà hỏi

Trời đất mang mang ai người tri kỷ

Lại dây cùng ta cạn một hồ trường.

. . . . . 

Bỗng có bóng Phan Hải về, Chung không đọc tiếp nữa. Ai nấy nằm im, chờ giấc ngủ.

&

Không ngờ học xong 10 bài rồi mà vẫn chưa về.

Vậy là bắt đầu có việc trốn trại.

Một tuần vài lần, khoảng sau nửa đêm lại nghe súng nổ từng tràng ngoài hàng rào. Sáng hôm sau thì nghe tin có người trốn trại, bị bắn chết, bị thương, v.v…

Cũng có khi trốn trại mà không nghe súng nổ. Ấy là trốn mà Việt Cộng không phát hiện được, thoát rồi.

Trại L3-T3, suốt thời gian đó không ai trốn trại nhưng những T chung quanh thì nhiều. Khi thì nghe người trốn ở T1, T2 hay T4, T5 gì đó.

Phan Hải thường lên nhà bộ đội ở, chơi với họ, chuyện trò hằng ngày. Vả họ cũng nể anh ta có cha chú làm lớn nên dễ dãi, vui vẻ với anh.

Có anh bộ đội hỏi Phan Hải: “Bố mẹ anh làm lớn như thế, anh đi cải tạo có buồn không?”

Phan Hải vô ra nhà bộ đội hằng ngày nên biết nhiều chuyện, về kể lại cho chúng tôi nghe, còn như không thì cũng mù tịt, chẳng biết chuyện gì.

Được mấy tháng, vì ăn uống thiếu thốn, rất nhiều người bị bệnh phù thủng, chân sưng phù lên, đi đứng khó khăn. Người ta bảo là thiếu Vitamin B-1. Lê Quang Dung cũng bị phù, cằn nhằn tối ngày.

Chẳng cần thuốc men gì, bấy giờ, thay vì phát gạo trắng, bộ đội phát gạo đỏ, ăn vào thì bệnh bớt nhiều. Hồi nầy, “gạo Trường Sơn” là thứ gạo mốc ở các kho của Việt Cộng trên đường Trường Sơn đã hết, nên chúng tôi được phát loại gạo bình thường, thường thấy bán ở Chợ Lớn trước đây. Tuy nhiên, chỉ tiêu 15kg một tháng nên ai cũng đói.

Đói thì tìm cách “cải thiện”. Trước là, như tục ngữ dạy: “Đói ăn rau, đau uống thuốc” nên tất cả đều “phát triển trồng rau”.

Khoảng trống giữa các dãy nhà trại gia binh và hàng rào phi trường, ngoại trừ một khu nhỏ là kho đạn cũ, kho đạn nầy được tù cải tạo sắp xếp lại, rào kỹ không cho ai ra vào, phần còn lại được dùng trồng rau. Mạnh ai cứ cuốc đào, lượm sỏi, bỏ phân, trồng rau muống và tưới.

Hàng ngày, bộ đội phát rau muống cho chúng tôi. Phần non để ăn, phần già, ngắt một khoảng có hai hoặc ba mắt, đem ra trồng. Nước tưới là đường cống bên hông nhà trại gia binh. Các hố cầu tự tiêu phía sau nhà gia binh, khi đầy lên thì trào ra ở hố nầy. Múc nước đó tưới rau tốt lắm. Rau lên mau xanh, cở một tuần hoặc 10 ngày là có rau non ăn được rồi.

Chưa thỏa mãn với thứ nước cống đó để tưới rau, Hoàng Hữu Chung, là người đầu tiên cạy nắp hầm cầu lên rồi múc phân từ trong hầm cầu đem ra tưới rau.

Ban đầu thì ai cũng la oai oải ghê quá, gớm quá, hôi quá! Nhưng được ít bữa, thấy rau của Hoàng Hữu Chung lên tốt quá, người ta lại bắt chước, làm theo.

Buổi trưa, chờ khi anh em ngủ, Hoàng Hữu Chung, hai tay xách hai thùng đạn lớn, loại đại liên 50, mở nắp hầm cầu, lấy một cái gáo dài, thọc xuống lỗ cầu, múc lên đổ vào thùng, xách ra ruộng rau.

Trần Phú Trắc, vốn tính hay đùa, chỉ Hoàng Hữu Chung, nói với mấy anh em ngồi chơi quanh đó:

– “Đó, mấy ông thấy không? Thi sĩ Trần Dạ Từ đó. Thi sĩ đang mở nắp hầm cầu múc cứt đi tưới rau đó. Cách mạng là đổi đời, thấy chưa?”

Nhiều người tưởng thật, gọi Chung là thi sĩ Trần Dạ Từ.

Biết chuyện, Chung cự nự Trắc: “Ông cứ hay xạo không? Tui là thi sĩ Trần Dạ Từ khi mô?” Trắc và chúng tôi cười ha hả. Từ đó, trong trại nhiều người xì xào về việc thi sĩ Trần Dạ Từ mở nắp hầm cầu, múc cứt bón rau.

Chung người Huế nhưng gốc ở nhà quê, làng An Ninh thượng, phía sau chùa Linh mụ, tánh tình chất phát thiệt thà, nói giọng Huế rặc nên thường là đề tài để Trắc “chọc quê”.

Có lần, ăn cơm xong, Trắc kể chuyện:

– “Có con nhỏ bà con với Hoàng Hữu Chung, một hôm hẹn với thằng bồ “Túi tui chờ anh ngoài rào.”

Tối đó, y hẹn, thằng bồ ra hàng rào chờ mãi chờ hoài mà chẳng thấy. Sáng hôm sau, anh ta trách cô gái sao hẹn ra ngoài hàng rào mà không ra. Cô gái cũng trách anh ta, cô ra ngoài rào chờ hoài, nhưng không thấy.”

Hai người, một nam, một Huế, hiểu chữ “rào” khác nhau: Người Nam hiểu rào là hàng rào. Người Huế hiểu rào là con sông. Một bên, ra ngoài hàng rào mà tìm, một bên, ra sông mà chờ nhau thì gặp nhau sao được?”

Từ cách làm của Hoàng Hữu Chung, nhiều người làm theo nên có nhiều đám rau, nhiều dàn bầu, dàn bí tốt lắm, rất sai quả.

Thỉnh thoảng trại có phát cà chua, anh em chúng tôi đem ăn sống. Do việc làm của Chung, bỗng nhiên giữa luống rau có nhiều cây cà chua mọc lên, anh em chúng tôi lại bứng cà chua ra trồng, lại tưới theo cách của Chung, cà chua trái nào trái đó thật bự.

Một hôm, lại cắt cà chua ăn sống, vài anh em chê dơ, không chịu ăn. Trắc lại đùa: “Mình ăn của mình, có gì mà dơ!” Có người lại đùa: “Ối! Cà chua thơm như “câu thơ thi xã.”(2)

Một hôm nào đó, tổ của tôi được lệnh đi khiêng củi. Xe tải chở củi vào, chúng tôi đem củi xuống sân và chia lại cho 6 khối. Khi ấy trời còn sáng, anh em chúng tôi thấy chỗ kẹt nối mấy tấm ván làm sàn xe có những hột đậu xanh nguyên. Phan Hải nói: “Lượm hột đậu xanh, đem về làm giống.” Vậy là hè nhau lượm cho hết, được khoảng một muỗng canh. Hơn một tháng sau là chúng tôi có vườn đậu xanh, trái to. Đậu xanh đem về, nấu chè, sau khi chừa một ít làm giống trồng đợt sau và đem cho vài tổ khác, họ xin.

Thông thường thì xe dân sự chở củi vào cho trại.

Thời gian sau thì không còn xe dân sự nữa mà xe Molotova của bộ đội.

Một hôm, anh bộ đội tài xế lùi xe vào đầu nhà để cho củi xuống. Một anh tù cải tạo đứng xem, thấy xe sắp đụng vách nhà, bèn hô to: “Tốp”. Dân Saigon đi xe Lam hay xe bus, khi muốn bảo tài xế dừng xe lại để xuống thì gọi “Tốp” có nghĩa là “stop”, theo tiếng Mỹ.

Anh chàng bộ đội, nghe “tốp” bèn nhấn ga chút nữa, xe đụng vào vách một cái rầm, nứt tường. Anh ta xuống xe, cằn nhằn anh tù cải tạo: “Xe sắp đụng vách, anh còn bảo “tốt”. Anh tù cải tạo thanh minh: “Tui nói “tốp” chớ có nói “tốt” đâu!”

Xem ra, cũng còn lâu mới có thể “Bắc nam sum họp một nhà.”

Bấy giờ ai nấy thèm thịt. Hôm “ba ngày nễ nớn” (lễ lớn là 18 tháng 9, ngày 2 tháng 9 và gì nữa, quên mất rồi…) trại có làm thịt heo chia cho chúng tôi. Tuy chúng tôi ăn chung nguyên tổ, không chia phần từng người nhưng thịt heo thì khác. Kho nấu xong rồi, chia cho anh em mỗi người được một miếng bằng ngón tay út. Miếng nào có xương thì to hơn tí chút.

Đang ăn, Phạm Quang Chiểu la lớn, đùa: “Báo cáo đồng chí! Con ruồi tha mất miếng thịt của tôi rồi.” Ai cũng cười.

Phan Hải cũng cằn nhằn: “Tui kiểm soát đồ ăn cho tù Chí Hòa. Hồi đó, đâu có cho ăn khổ như vầy!”

– “Họ được cung cấp gì?” Tôi hỏi.

– “Hằng ngày là cá tươi. Một tuần ba lần thịt heo, hai lần thịt bò.” Phan Hải trả lời. “Gặp khi cá ươn, đại diện tù nhân không nhận, nhà thầu phải cung cấp cá hộp.”

Dung nói: “Đ. mẹ, sướng còn hơn lính.”

– “Cán bộ “cách mạng” trong tù đôi khi còn chơi độc. Họ bỏ giẻ rách vào thùng canh rồi hô hoán nhà thầu làm ăn dơ, không ăn, để có cớ đấu tranh.” Phan Hải nói thêm.

– “Vậy là giỏi” Lý nói. “Mình thì cho gì ăn nấy. Ai nấy ngậm câm. Đấu tranh, “đánh trâu” gì đâu! Buồn thiệt.”

Nhà bộ đội ở bên kia hàng rào, ai bên đó có nuôi một con chó. Con chó thường qua bên chúng tôi kiếm ăn. Thấy vậy, Trắc nói: “Không biết bộ đội có no không, xem ra chó bộ đội cũng đói.”

Tôi cười, nói:

– “Chó bộ đội cũng đói, mình cũng đói.”

– “Anh Hải so sánh dzậy không có được. Mình là người mà!” Dung cự nự.

– “Ông học trò trường Tây, đâu có biết câu “Bỉ thử giai cẩu” là cái gì!”

Bất đồ, Chung lấy chiếc guốc gỗ của anh, ném con chó, đuổi đi. Chiếc guốc đụng mạnh vào con chó. Con chó kêu căng căng mấy tiếng, bỏ chạy mất.

Chung hốt hoảng nói: “Ui chà, úi chà, tui lỡ tay.”

Trắc đùa:

– “Con chó mà biết nói, về nó mét bộ đội ông Chung đánh nó là mệt lắm nghe!”

– “Ghét bộ đội rồi “chưởi chó mắng mèo chớ” gì!” Trần Hữu Bảo nói đùa.

– “Chưởi chó” còn nhẹ tội, đây là tội đánh chó bộ đội, tội nặng hơn!” Lý vừa cười vừa nói.

Chung vẫn thiệt thà:

– “Tui có chủ ý mô! Tui lỡ tay mà.”

Thấy thái độ của Chung, Phan Hải thương hại, nói:

– “Không can gì đâu! Chó của anh Ái đó, có gì tôi nói giùm cho.”

Hiền còn nói rán một câu:

– “Con chó nhỏ chút tẻo mà ông Chung đã giành ăn với bộ đội. Tội “phá hoại tài sản chủ nghĩa xã hội” là không nhỏ.”

Lại một hôm, Phạm Ngọc Hiền lui cui lấy các giải băng đạn, ngồi rút sợi. Hỏi, anh ta nói: “Làm lưới bắt chim ăn chơi.” Các sợi chỉ rút ra, dài chưa tới một sãi tay. Hiền nối lại, đan thành một tấm lưới lớn khoảng bằng một cái mền.

Bên hông dãy nhà T-3, bên kia là T-2, cách nhau bằng một hàng rào kẽm gai mới dựng, là một con đường xe hơi chạy được. Ngày ngày, dọc theo con đường nầy, chim én bay từng đám năm bảy con. Hiền bèn đóng cọc, cột lưới, có sợi giây kéo. Anh núp sau góc nhà, chờ chim én bay tới thì anh ta bất thình lình kéo lưới lên, cho chim én vướng vào lưới.

Hiền ngồi từ sáng đến trưa; vào ăn cơm trưa xong, lại tiếp tục ngồi canh nữa, giữa trời, khi im khi nắng, mặt mày đỏ lơ đỏ láo, suốt một ngày mà chẳng được con nào cả.

Chim én khôn lắm. Thấy anh ta kéo lưới lên, chim vụt lên cao bay mất. Sau vài lần, rút kinh nghiệm, chim én không bay dọc theo con đường đó nữa, trong khi Hiền vẫn kiên nhẫn ngồi chờ.

Tới giờ cơm chiều, anh em trong tổ đùa:

– “Bữa nay ngày rằm, ông bắt chim không được là phải rồi. Ai cho ông sát sinh?”

Có người lại nói:

– “Mai mười sáu, ông rán ngồi một ngày nữa đi, thế nào cũng có con chim nhào vô cho ông!”

Trắc lại đùa:

– “Đừng lo! Thế nào ngày mai cũng có con bay qua, gởi lại cho ông cái lông!”

– “Để đốt lò phải không?”

Người nói câu đó là vì nhớ câu chuyện đùa tôi mới kể cho anh em nghe, trước khi đi ngủ. (3)

Trước khi đi ngủ, trong bóng tối, vì lúc nầy máy đèn đã ngưng chạy, anh em nằm một dãy dài trên sập, thường yêu cầu tôi hát cho anh em nghe chơi. Từ khi bị cấm hát nhạc vàng thì kể chuyện, chuyện tiếu lâm, chuyện “xứ Huế của tui”, chuyện “cụ Ngô không cu” hay “Chuyện thủ hiến Phan Văn Giáo bắt con gái Đồng Khánh đem về chơi bời”, mà nhiều người biết; chuyện “Cậu Cẩn câu cá, cá cắn cậu, cậu cười …”, (4) chuyện “ngủ đò sông Hương” là chuyện ngủ với gái làng chơi.

Người Huế đa tình, gái Huế cũng lại rất đa tình, ai vướng vô gái cũng thì coi chừng, sẽ như Trần Hậu Chủ vậy, ưa nghe  “Khúc hát Hậu đình (5). “Thương nữ bất tri vong quốc hận”, v.v… Huế là xứ vua quan, có biết bao nhiêu chuyện để kể nghe hằng đêm, hết chuyện nầy tới chuyện khác, chuyện nọ xọ chuyện kia, giống như chuyện “Một ngàn lẻ một đêm” bên xứ Ba-Tư vậy.

Trại tôi phần đông là quân nhân biệt phái nên có rất nhiều bác sĩ. Theo họ thì việc ăn uống thiếu thốn làm cho chất kháng sinh trong cơ thể yếu đi, vì vậy, sau đợt bị phù thủng, anh em chúng tôi gặp nhiều thứ bệnh khác, rất buồn cười.

Bỗng có anh đau bệnh… lậu.

Ai cũng cười.

Trời ơi! Ở tù hơn nửa năm nay, có đi chơi bời hồi nào đâu mà mắc bệnh phong tình. Thì ra, anh ta hồi trước, khi chưa đi tù, có chơì bời đấy và mắc bệnh. Việc chữa trị hồi đó không tới nơi tới chốn, vi trùng tiềm ẩn, “Việt Cộng nằm vùng”, bây giờ sức đề kháng yếu đi thì vi trùng Gono nổi lên “Đồng khởi”.

Tôi kể lại lời một bác sĩ như vậy, anh em ai cũng cười, nhưng Phan Hải cảnh cáo tôi: “Anh làm như cán bộ cách mạng là vi trùng lậu.” Ai nấy lại cười thêm.

Tôi bị lưỡi cưa cứa vào mắt cá, chảy máu. Vậy mà bị sưng mũ, đi lại khó khăn, phải lấy bột peniciline trong viên thuốc con nhộng, xức vào. Cả tháng sau mới lành.

Hôm Trần Phú Trắc bị bệnh, cả chục bác sĩ tới thăm, và cho lời khuyên, không cho thuốc. Ai có thuốc mà cho. Bác sĩ thì đông, thuốc không có thì bác sĩ cũng bó tay mà thôi.

Bệnh thông thường nhứt là bệnh ghẻ lở. Có người ghẻ đầy mình, có người bị ghẻ ăn sâu vào da, gần tới xương.

Bỗng một hôm nửa đêm, nghe tiếng nổ lớn lắm. Bộ đội báo động, cầm súng đi rảo ngoài sân, ra lệnh chúng tôi ai nấy ở trong nhà, không được ra cửa. Sáng thì biết có một trung úy dược sĩ, tù cải tạo, bị ghẻ lở ăn gần đứt “của quí”, mà trước khi đi, anh có hẹn với người yêu “học tập” xong, sẽ về làm lễ cưới.

Bệnh hoạn như thế, anh buồn tình lén ra kho đạn cũ, lấy một trái lựu đạn, đem ra đầu hè nhà, mở chốt, tự tử. Nghe nói ruột gan banh hết.

Bộ đội sai lấy thùng đạn pháo binh, ghép thành ván, đóng cái hòm, gánh ra chôn ở bên cạnh phi đạo phi trường Trảng Lớn.

Tôi vốn sợ ma, nhưng hình như ma lại sợ tôi. Ma không dám hiện lên cho tôi thấy bao giờ.

Vậy rồi anh Phạm Ngọc Hiền nói rằng bên phía T-2, cách chúng tôi con đường nhỏ và một hàng rào kẽm gai, có con ma mặc áo trắng, đêm nào cũng hiện ra đứng dựa cột ở đầu hiên nhà. Khuya, Hiền thức dậy đi tiểu – Hiền gốc “nhà quê”, mắc bệnh “đái đường” nên anh ta không tiểu trong nhà cầu mà ra đứng tiểu ở góc nhà -, thấy ma hiện lên bên ấy.

Anh em chúng tôi tò mò để ý, cũng có người thấy có con ma mặc toàn áo trắng, đêm nào cũng hiện ra một chỗ ấy. Sau đó, Phan Hải hỏi thăm anh em cải tạo ở ngay gian nhà chỗ con ma hiện ra có thấy ma không?

Ma quỉ gì đâu!

Bên ấy có anh chàng mắc bệnh lao, đêm đêm ngủ không được, nằm trong phòng sợ phiền anh em nên ra đứng dựa cột hiên nhà.

Trời lạnh, anh ta không có mền, chỉ mang theo có cái “ra” màu trắng. Anh ta quấn ra vào mình cho bớt lạnh, làm cho nhiều người, trong đêm tối mờ mờ, lại có sương khuya, tưởng là có con ma mặc toàn đồ trắng hiện hình.

Vài tuần sau, ma không hiện hình nữa. “Con ma” ấy không chịu nỗi vi trùng Kock, ra nằm ở nghĩa trang tù cải tạo bên cạnh phi đạo rồi.

Cũng bên T-2, có ông giáo sư Đinh Tiến Lãng (?), giáo sư toán nổi tiếng ở Saigon hồi trước 1975. Ông ta là trung úy biệt phái, nay đi cải tạo. Một hôm ông ta bỗng nổi cơn điên, la toáng lên rằng “Tao là bạn của Văn Tiến Dũng.” Thế là bộ đội xuống, bắt trói đem đi.

Tưởng vậy là ông ta xong đời. Ai ngờ mấy hôm sau, hết bệnh lại được tha về trại, tiếp tục “học tập”. Hình như ông ta mới qua đời năm ngoái hay năm kia gì đây, ở Nam Cali.

Tội nghiệp nhất là trường hợp của Hoan, dược sĩ, cũng lên cơn điên.

Hiền nói với tôi: “Điên mà khôn thấy mẹ!” Hỏi ra mới biết, hễ lên cơn điên thì Hoan lôi Hồ Chí Minh ra mà chưởi, nào là “thằng tay sai cho Nga Tàu”, “nào là tên Cộng Sản Quốc Tế.” Hồi ấy, Hồ Chí Minh chưa bị lật tẩy như bây giờ nên Hoan cũng như mọi người, không biết gì nhiều về tội lỗi của Hồ Chí Minh mà chưởi cho đã.

Chưởi lãnh tụ, đối với Việt Cộng là tội to lắm. Tôi kể cho anh em nghe chuyện về một chữ Người viết hoa mà Trần Dần đi tù (6).

Hoan đi cải tạo, đã là tù, nay bị đưa vào conex. Conex để giữa trời, nắng và nóng ghê gớm.

Chiều lại, bộ đội đến mở cửa conex, cho anh ta chén cơm muối và một chai nước lạnh, ngày một lần.

Một hôm, chờ giờ bộ đội mở cửa, Phạm Ngọc Hiền dẫn tôi giả bộ đi dạo gần conex, coi Hoan ra làm sao! Hiền nói: “Tội ghê anh ơi! Cả xương là xương.”

Vậy mà Hoan vẫn không ngớt chưởi Hồ Chí Minh. Một hôm, tên bộ đội đem cơm cho Hoan, thấy anh ta chưởi “bác” Hồ của nó, nó bèn nổ một phát AK. Hoan chết ngay tại chỗ.

Chiều hôm đó, đang ăn cơm, Phan Hải nói tới chuyện Hoan bị bắn chết, cho biết rằng bộ đội đã bắt tên vệ binh bắn chết Hoan bỏ lên xe và đưa đi rồi, có lẽ y sẽ bị đưa ra tòa. Cách nói của Phan Hải, có lẽ chỉ là cách bào chữa cho bộ đội, do họ mớm cho. Chúng tôi không tin.

Chờ khi Phan Hải ăn xong và mặc áo lên khu bộ đội ở, chúng tôi lại bàn về việc ấy. Ý kiến của Trắc có lẽ sâu sắc nhứt. Anh ấy cho rằng bộ đội phải đưa tên vệ binh đi sớm để có thể triệt tiêu một cái cớ mà anh em tù chúng tôi có thể vin vào đó để nổi loạn. Họ sợ và ngăn ngừa như thế, còn như việc chúng tôi có nổi loạn hay không, thì xem ra cũng khó. Thời gian đầu, sức phản kháng của những người bại trận chưa cao.

Cũng một hôm, Hiền dẫn tôi ra bếp nấu T-2, sát hàng rào, phía tôi nhìn sang khá rõ. Bây giờ cơm chia xong rồi, bếp đã vắng, chỉ còn lại một người, hơi lớn tuổi.

Ông ta lấy cái muỗng sắt, cạo từng hột cơm dính trong thành chảo, bỏ vào cái chén cầm ở tay kia. Ông ta cạo một buổi như vậy, cọng lại, giỏi lắm cũng hơn muỗng canh. Vậy mà ngày nào ông ta cũng xin được cạo, rửa chảo, để kiếm thêm chút cơm.

Hiền nói với tôi: “Anh biết ai không? Biết ai không?”

Tôi lắc đầu.

Hiền tỏ vẻ chán nản: “Cũng không biết nữa? Giáo sư Lâm Thanh Liêm đó, ông nầy dạy đại học. Vậy mà anh cũng không biết.”

Thật ra, tên ông thì tôi biết. Tôi biết luôn cả hai vợ chồng ông ta nữa. Sách vạn vật của hai ông bà in ra, đề tên tác giả là “Ông bà giáo sư LâmThanh Liêm”. Ở bên Tây về, ông ta bị động viên, mang lon trung úy thì biệt phái về dạy đại học trở lại, nay đi ở tù.

Việt Cộng phí phạm nhiều cái. Trại Trảng Lớn nầy trước kia là căn cứ Mỹ, sau giao lại cho Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Vì là căn cứ cũ của Mỹ nên có nhiều cột đèn bằng loại thông ngâm dầu. Mỗi cây dài hơn chục thước. Bộ đội biểu cắt ra, chẻ làm củi nấu cơm.

Thứ cột đèn nầy là “tiền không”. Vậy mà đem làm củi. Uổng thật!

Thỉnh thoảng, ông trung úy Cộng sản Trần Đức Ước, phụ trách khối 1, khối của tôi, xuống kiểm tra tư trang cá nhân. Huỳnh Văn Khánh, khi đi tù cải tạo, đem theo cuốn “L’art de conjuguer”.

Thấy cuốn sách, anh trung úy Dziệt Cộng nói lớn: “Gì mà sách tiếng Anh không vậy nhỉ?”

Biết ông ta nói lộn, chúng tôi làm thinh, cười ông ta dốt thì cũng tội. Cái chế độ đó đào tạo ra những con người dốt như thế, có phải lỗi ở anh ta đâu!

Có lần anh ta lại nói: “Các anh chỉ được học tiếng Anh, không được học tiếng Mỹ. Nhớ không!” Vài anh em chúng tôi cũng trả lời “nhớ” cho xong chuyện. Hơi đâu mà giải thích. Lỡ mấy chả quê thì mình cũng phiền.

Trần Đức Ước lại hay ưa kể chuyện cho chúng tôi nghe. Có lần đi Saigon về, Ước nói: “Ối giời! Thành phố “bác” xao mà “ló” nhớn thế. Nhà “nầu” cao “nắm”, nhìn mỏi cả cổ.”

Tôi hỏi: “Tối lại anh ngủ ở đâu?” Ước trả lời: “Tôi có ngủ đâu. Tối tôi ghé “nại” trạm dân phòng, ngủ chung với mấy anh ở đó. Họ tốt “nắm.” Tôi cười, nghĩ thầm, dân Nam Bộ tốt là bởi thấy anh không có chỗ ngủ; còn như anh hách mặt lên, cà chớn với họ, chưa hẳn họ tốt với anh. Dân miền Nam, thường phù suy không phù thịnh.

Đi Saigon về, Ước kể chuyện đi qua sân Cộng Hòa, muốn vào xem mà không vào được, cửa khóa.

Rồi Ước kể: “Một “nần” ta đấu hữu nghị với ông “Niên” Xô. Ta được quả phạt đền. Đội bóng ta “niền” gọi điện hỏi “bác”, “lên” đá như thế “lào”. Bác bảo: “Đá thế “lào” ta vẫn thắng mà không “nàm” mất “nòng” ông “Niên” Xô.”  Thế “nà” ta đá một phát, quả bóng “lứt” “nàm” đôi, một “lửa” vào khung thành, một “lửa” ra ngoài.”

Nghe chuyện, tối lại, nằm chờ giấc ngủ, anh em hỏi nhau đá trái bóng nứt làm hai là đá làm sao?

Tôi cười: “Đá như thơ Hồ Xuân Hương: “Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.”

Có anh cười, trách tôi: “Đang nằm nhớ vợ mà nghe cha Hải nói gì không?” Tôi cười, giải thích, nghiêm trang hơn: “Anh chàng nầy từ một miền đồng chua nước mặn nào đó, đi bộ đội, vào quân trường rồi thoát được cảnh “Xương Trắng Trường Sơn” (tên một tác phẩm của Xuân Vũ) mà về đây. Có bao giờ được xem đá bóng đâu mà biết nó ra như thế nào! Chẳng qua, nghe người nầy kể qua, người kia kể lại, tam sao thất bổn, mới có chuyện đá một phát trái banh nứt làm hai.”

Quả thật, Uớc ưa kể chuyện mà anh ta không biết gì thật. Lại một hôm, xuống nói chuyện với chúng tôi, anh ta lại kể chuyện “Đồng chí Phạm Tuân cho máy bay đậu trên mây, chờ B-52 tới thì nhào xuống đánh, Mỹ bị đánh bất ngờ, B-52 “rụng như sung.”

Cũng chưa hết đâu, lại một hôm, xuống chơi, Ước kể: “Đồng chí trung tướng Đồng Văn Cống “nái” máy bay về thăm quê ở Bến Tre. Địch biết được, bèn đem một tiểu đoàn vây bắt. Đồng chí Đồng Văn Cống “niền” chạy ra ruộng, máy bay đang đổ ngoài ấy, “nái” máy bay đi mất. Mỹ cho hai chiếc “con ma” đuổi theo. Bị đuổi riết quá, đồng chí Đồng Văn Cống “nặn” xuống biển, ra tới Hải Phòng, đồng chí Đồng Văn Cống “nại” cho máy bay “lổi” “nên”. Mỹ không “nàm” gì được. Các anh biết không? Vậy mà “bác” biết đấy. “Bác” gọi đồng chí Đồng Văn Cống vào, bảo rằng đi chơi thì được, nhưng đừng khinh địch quá!”

Trên là những chuyện điển hình của Ước kể, không nhớ cũng phải nhớ. Nghe “chuyện Phong thần thời Dziệt Cộng” cũng khó quên!

Nghe chuyện Đồng Văn Cống, có lần tôi đùa: “Đã đồng lại còn cống. Hai thứ nầy đâu có ở chung với nhau được. Có lẽ bố mẹ ông nầy vừa muốn ở tỉnh, vừa muốn ở quê. Nhà quê thì có chuột đồng, lên thành phố thì có chuột cống.”

Lại nói chuyện hát hò. Hồi mới tới trại nầy, thuộc vài bài bên trại cũ, tối tối trước khi “sinh hoạt”, chúng tôi hát cho lên “khí thế”, hết “Bão nổi lên rồi”, “Tiến về Saigon” thì tới “Bác cùng chúng cháu hành quân.”

Mấy đội ở trại T-2, bên kia hàng rào, nghe hát, bực mình, nói với chúng tôi: “Mấy ông hát nâng bi!” Thế là chúng tôi ngậm họng.

Tuy nhiên, được ít lâu, sau khi bắt đầu học tập chính trị, cả trại phải hát ở hội trường, trước khi buổi sinh hoạt bắt đầu.

Mỗi khối, một vài anh em được cử đi tập hát, về tập lại cho anh em. Mỗi người phải chép tay lời bài hát.

Tôi lại thấy vài bài hát cũ được đem ra hát lại như bài “Diệt Phát Xít” của Văn Cao. Bài nầy tôi biết hát hồi mới “Cách mạng tháng Tám”, cách đã 30 năm. Tôi quên lời đã nhiều.

Vậy mà rồi tôi được chép lại bài hát nầy đầy đủ. Không biết “ai” mà nhớ hay vậy! Trắc cười nói với tôi: “Trong bài hát có chó có mèo mà hát vẫn hay!” Suy nghĩ một lát, tôi mới nhớ trong bài “Diệt Phát Xít” có câu “Diệt bầy chó đê hèn của chúng.”

Có hôm toàn thể khối tôi tập một bài hát mới. Nhan đề bài hát là “Nguồn Tin Vui”. Người tập hát cho chúng tôi là Ân, cựu trung úy Cảnh sát, không nhớ họ.

Ân thuộc tổ 4, đội 2. Bài nầy chúng tôi đã chép lời trước, có nghe hát qua. Vốn hay đùa nên trong bài hát có câu: “Cuộc đời sang xuân từ đây” thì chúng tôi hát là “Cuộc đời gian lao từ đây.” Hát riết rồi quen miệng nên khi đứng trước khối, tập cho toàn thể anh em, Ân cứ câu “Cuộc đời gian lao từ đây” mà hát ông ổng, khiến ai nghe cũng cười.

Phan Hải thấy thế bèn tới cạnh Ân nói: “Anh tập cho anh em hát đàng hoàng. Hát vậy không được”. Khi đó Ân mới giật mình, lại còn sợ Phan Hải đi báo cáo với bộ đội thì nguy. May mắn! Phan Hải nhắc chừng vậy thôi. Ông “Hoảng Nôm hay cãi” nầy vốn không có tính xấu đi báo cáo hay làm ăngten.

Tập xong, chúng tôi mới biết bài hát ấy do ông Khuất Duy Trác mới sáng tác ra, tập cho anh em chúng tôi.

Trước 1975, mỗi tối thứ hai, vào lúc nửa đêm, tôi thường nghe Duy Trác hát trong chương trình Phạm Duy. Nay mới biết thêm ông họ Khuất, không biết có bà con chi với ông Khuất Nguyên bên Tàu không!

Một năm sau, tôi có nghe bài “Nguồn Tin Vui” được hòa tấu trên đài TV Saigon. Nguyên lời ca bài hát như sau:

Nguồn tin vui lan tràn đó đây,

Cùng bao chiến công bay về rộn ràng

Từ nông thôn vượt lên núi cao,

Cùng chung tiếng ca nhịp nhàng.

Lửa đốt cháy giữa lòng thành phố

Diệt quân Mỹ cùng quân Thiệu Kỳ

Đồng lúa mới hát mừng giải phóng

Chào đoàn quân bước đi!

Tay súng tay gươm diệt quân thù,

Lòng ta, chung một lời nguyền.

Cuộc đời sang xuân từ đây

Tiếng ca vui ngày ngày./

hoànglonghải

(1)-Cuộc đời Lê Quang Dung cũng ba chìm bảy nổi. Anh mồ côi cha từ nhỏ, mẹ nuôi cho ăn học. Sau khi đậu tú tài kỹ thuật ở Saigon, anh xin làm việc ở nhà máy Xi măng Kiên Lương, Hà Tiên. Tới tuổi bị động viên, anh xin làm tài xế lái xáng vét kinh (to như chiếc xà lan, có máy xúc bùn dưới lòng kinh, thổi bùn lên bờ). Vì chủ xáng là tư nhân, bà con nên nhận anh làm công một thời gian. Công việc thì cực nhọc nhưng vì “bất hợp lệ tình trạng quân dịch” nên thường bị chủ chèn ép, bớt lương. Buồn tình, anh xin gia nhập Cảnh sát ở Pleiku, làm cảnh sát viên, đứng gác cổng, trong khi những người có bằng tú tài như anh thì được ngạch biên tập viên. Sau mấy năm, anh nhờ người quen chạy chọt, được chuyển từ ngạch phó thẩm sát viên lên biên tập viên, sau đó được mang lon đại úy Cảnh sát. Gần tới 30 tháng Tư 1975, anh được lập hồ sơ thăng thiếu tá. Về phép, anh nói với hàng xóm anh đã lên thiếu tá. Sau khi Việt Cộng chiếm Saigon, gọi sĩ quan cấp tá đi học tập trước, anh vẫn ở nhà vì ngày lên lon của anh là 1 tháng 6 năm 1975, nhưng tới tháng Tư thì đã “đứt phim” (Tiếng chúng tôi thường gọi đùa, coi đời như một cuốn phim ciné). Đám “cách mạng 30” tố cáo anh “trốn học tập” nên anh bị bắt đưa ra phường. Ở đó, anh đưa giấy tờ chứng minh anh là đại úy, nhưng cũng không được “cách mạng” tha cho về, bị đưa vào trường Taberd, giam ở đó. Tại Taberd, anh gặp bác sĩ Cảnh cùng vài người khác. Bác sĩ Cảnh, quân đội biệt phái. Bên phía quân đội, ông chỉ tới “lon” đại úy, phía dân sự, ông chỉ là “bác sĩ giải phẩu” bệnh viện Bình Dân chứ có chức chưởng gì cao để đi “học tập” theo các ông quan to súng dài, nên Việt Cộng cho ở lại, chờ đi “học tập” khóa sau với sĩ quan cấp úy.

Dung kể: “Ông nầy vui tính lắm. Một hôm, ngồi chơi, ông hỏi đố:

– “Khi mình đang ngồi với hai cô bồ, cô nào cũng đòi mình phải trả lời dứt khoát phải cưới thì mình nói làm sao cho cả hai cô yên lòng mà về?”

Không ai trả lời được. Ông ta bày mưu:

– “Mình phải trả lời với một cô rằng “Em yên tâm, em về đi. Thế nào anh cũng cưới em.” Tuy nhiên, khi nói câu đó, dưới gầm bàn, mình phải đạp nhẹ vào chân cô kia, để cho cô kia cũng yên lòng rằng mình chỉ “xạo” cho xong chyện mà thôi.

Ai có mẹo nào hay hơn, xin chỉ đường cho đám hậu sinh.

(2)- “Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An” là câu thơ của Cao Bá Quát. Con thuyền Nghệ An là thuyền chở phân người bón cây, bón ruộng.

(3)-Xưa, có ông già sính thơ. Ông có ba cô gái, gả cho ba chàng rể. Chàng thứ nhứt, chàng thứ hai đều hay chữ. Riêng có chàng thứ ba chỉ được cái mả đẹp trai mà thôi, chữ nghĩa không ra gì. Một hôm, ông ra đề cho ba chàng rể thử tài làm thơ.

Đề bài là ông già cởi ngựa chạy nhanh.

Đề ra xong, chàng thứ nhứt đọc:

Mặt nước thả cây kim

Cha tôi cởi ngựa chạy như chim

Chạy đi chạy lại,

Cái kim chưa chìm.

Chàng rể thứ hai không chịu thua, bèn đọc ngay:

Ngọn lửa thả cái lông

Cha tôi cởi ngựa chạy như dông

Chạy đi chạy lại,

Cái lông chưa hồng.

Chàng thứ ba vì dốt thơ, nghĩ mãi không ra câu nào. Mẹ vợ thương tình, vả bà cũng khoái chàng rể đẹp trai, bèn vội vàng xuống khỏi sập, bước tới, hỏi con: “Được chưa con! Được chưa con?” Trong khi vội vã, bà vô tình để xì ra tiếng bụp. Nghe cái “âm thanh” đó, chàng rể thứ ba nói: “Xong rồi mẹ!” Nói rồi, anh ta đọc thơ:

Mẹ tôi xán cái địt,

Cha tôi cởi ngựa chạy như hít!

Chạy đi chạy lại,

Đít mẹ chưa khít!

(4)-Xem bài “Nói chuyện Ngàn Năm”, cùng tác giả, trong “Viết Về Huế”, tập 1, Văn Mới xuất bản.

(5)- “Hậu Đình Hoa” (Hoa ở sân sau) là một tập thơ được phổ thành nhạc cho cung nữ, phi tần của Trần Hậu Chủ ca.

Trần Hậu Chủ tên Trần Thúc Bảo, là một ông vua tài tử phong lưu, lúc nào cũng có hàng ngàn mỹ nhân, trong đó có hai tuyệt sắc giai nhân là Trương Lệ Hoa và Khổng Quý Tần được vua sủng ái nhất.

Trần Hậu Chủ cho dựng trước điện Quang Chiếu ba tòa lầu lớn, dùng toàn bằng gỗ trầm hương. Cửa lớn, nhỏ đều dát toàn ngọc ngà, rèm châu, trướng gấm lộng lẫy. Ba lầu ấy đặt tên là Lâm Xuân, Kết Ỷ và Vọng Xuân.

Đêm đêm, Trần Hậu chủ bày yến tiệc, họp các mỹ nhân uống rượu tại lầu Lâm Xuân cùng với các học sĩ ngâm thơ xướng họa. Một khi có những bài thơ hay, nhà vua cho phổ vào đàn để cung nữ hát xướng suốt đêm, nên gọi là Trường Dạ Ẩm.

Những bài thơ, những khúc nhạc ấy được chép thành 3 tập là: Nghinh Xuân, Ngọc Thu và Hậu Đình Hoa. Riêng tập Hậu Đình Hoa, sưu tập những bài bay bướm, bóng bẩy, dâm đãng. Chính Trần Hậu Chủ cũng làm một khúc hát Hậu Đình Hoa:

Nguyên tác là:

Lệ vũ phương lâm đối cao các

Trân trang điểm chất bản khuynh thành,

Ánh hộ ngưng kiều sa bất tiến,

Xuất duy hàm thái tiếu tương nghinh.

Yêu cơ kiểm tự hoa hàm lệ,

Ngọc thu lưu quang chiếu Hậu Đình.

dịch nghĩa:

Bóng rợp hương thơm chốn lâu các,

Nghiêng thành vẻ đẹp với mầu tươi.

Ngoài cửa dịu dàng khoan dạo bước

Trước màn chào đón mỉm môi cười,

Má hồng tựa đóa hoa đầy móc

Cây ngọc sân sau chiến sáng ngời

(Bản dịch của Phan Thế Roanh)

Trần Hậu Chủ bỏ cả việc triều chính, say sưa bên cạnh Trương Lệ Hoa, Khổng Quý Tần và các mỹ nữ.

Vua Tùy Văn Đế (589-617) nhân dịp nhà Hậu Trần suy vi, sai Lý Uyên và Dương Tố đem quân sang đánh. Giữa lúc ấy, Trần Hậu Chủ còn đương say rượu trên lầu Kết Ỷ. Quân Tùy đánh đột nhập thành. Quân Trần chạy tán loạn. Có người phải lấy nước đổ vào mặt Trần Hậu Chủ cho vua tỉnh dậy và xin vua ra hàng để cứu quân lính khỏi chết.

Hậu Chủ nói:

– “Sau lầu, trẫm có đào sẵn giếng sâu.”

Nói rồi, Trần Hậu Chủ dắt Trương Lệ Hoa, Khổng Quý Tần và độ mươi mỹ nhân khác đến giếng, ôm nhau nhảy xuống.

Nhà Hậu Trần bị diệt vong, người ta cho rằng sở dĩ nước mất cũng bởi khúc hát “Hậu Đình Hoa” ấy.

Đỗ Mục, một thi hào nổi tiếng đời nhà Đường (618-907), nhân một đêm ghé thuyền trên bến Tần Hoài, gần một quán rượu. Đêm đã khuya, hơi sương mù như khói tỏa trên sông. Bấy giờ trong quán, khách còn đang say sưa ăn uống, bên cạnh những ả buôn son bán phấn hát xướng để mua vui cho khách. Lắng nghe giọng hát réo rắt bên kia sông đưa sang, Đỗ Mục làm bài thơ:

Khói bay, nước lạnh, khói trăng pha,

Thuyền đậu sông Tần cạnh Tửu gia.

Hận nước gái buôn không biết rõ,

Cách sông còn hát “Hậu Đình Hoa”.

(Bản dịch của Quốc Ấn)

Nguyên văn:

Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa,
Dạ bạc Tần hoài cận tửu gia.
Thương nữ bất tri vong quốc hận,

 Cách giang do xướng “Hậu Đình Hoa”.

Trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều cũng có câu:

Vườn Tây Uyển khúc trùng thanh dạ,

Gác Lâm Xuân điệu ngã Đình Hoa.

Thừa ân một giấc canh tà,

Tờ mờ nét ngọc, lặp lòe vẻ son.

(6)- “Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người

Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.”

(Nhất Định Thắng – Trần Dần)

Theo Hoàng Văn Chí, trong “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc”, Việt Cộng kết tội Trần Dần vì chữ Người (Viết hoa) là muốn ám chỉ Hồ Chí Minh.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 13 Sep 2025

Phần 7.

Vài anh tù lỡ lời gọi cai tù là “đồng chí” liền bị các “đồng chí” cự:

– Anh nói ký gì? Ai “đồng chí” mí anh? Bậy bạ…

Nội quy nhà tù Xã hội chủ nghĩa có điều bắt buộc người tù phải gọi cai tù bằng cái tên chung là “Cán Bộ”, không có ông, anh, nhất là không có “đồng chí”, “đồng rận” gì ráo trọi. Ngược lại cai tù cộng sản gọi tất cả những người dân bị chúng bỏ tù là anh, chị, dù cho anh, chị có bẩy bó, tám bó bằng tuổi ông bà nội ngoại chúng.

Nhưng Hà Huy Giáp, một trong số những cán bộ lãnh đạo văn nghệ Đảng những năm 1975-1985 lại ưu ái gọi một số văn nghệ sĩ Sàigòn lơ láo đi dự cái gọi là “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị” năm 1976 ở Nhà Hát thành phố HCM là “đồng chí”. Số là Việt cộng vào được Sàigòn từ Ba Mươi tháng Tư năm 1975, nhưng mãi một niên sau – Tháng 5 năm 1976 – họ mới nhân dịp cho cái gọi là Chánh phủ và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đi chỗ khác chơi không xơi nước, phát động chiến dịch hỏi thăm sức khỏe văn nghệ sĩ Sàigòn VNCH. Nhiều văn nghệ sĩ, ký giả VNCH lớn nhỏ được xe bông công an thành phố HCM đến tận nhà rước đi liền tù tì trong mấy ngày đêm đầu tháng Ba năm 1976.

Xin kể tên những người bị bắt theo trí nhớ của tôi: Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Sĩ Tế, Lý Đại Nguyên, Trần Việt Sơn, Nguyễn Hải Chí tức họa sĩ Chóe, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Duyên Anh, Đằng Giao, Trịnh Viết Thành, Dương Nghiễm Mậu, Mặc Thu, Thái Thủy, Hồ Nam, Cao Sơn, Minh Vồ chủ nhiệm Con Ong, Hoàng Vĩnh Lộc, Hồng Dương, Minh Đăng Khánh, Thân Trọng Kỳ, Lê Xuyên Chú Tư Cầu, Anh Quân, Tú Kếu Trần Đức Uyển, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Hồ Văn Đồng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Hữu Hiệu, Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn đạo diễn “Hai chuyến xe bông” v.v… Nhiều không nhớ xiết.

Chiến dịch bắt bớ rầm rộ mấy ngày đêm đầu tháng, lai rai kéo dài mãi đến cuối tháng Ba năm 1976 mới chấm dứt. Không phải tất cả văn nghệ sĩ Sàigòn đều bị bắt hết. Những người chưa bị mặt mũi xanh xám không biết xe bông công an đến rước mình lúc nào. Tháng Năm năm 1976, cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố HCM tổ chức cái gọi là “Khóa Bồi dưỡng Chính trị” cho văn nghệ sĩ Sàigòn “kẹt giỏ” hàng dân lơ láo ở Thành Hồ. Khóa Bồi Dưỡng Một có những văn nghệ sĩ thượng thặng của giới văn nghệ Sàigòn đi dự: Thái Thanh, Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều, Thẩm Thúy Hằng, Lệ Hằng Bản Tango Cuối Cùng, Nguyễn Thụy Long Loan Mắt Nhung, Phạm Thiên Thư Động Hoa Vàng v.v… Ông Mai Thảo may mắn trốn thoát cuộc bắt bớ, ở ẩn đến hơn hai năm cho đến đêm ông xuống tàu đi tìm đường cứu nước. Tử vi ông này không có Sao Quả Tạ nên ổng không bị ở tù.

Khóa Bồi Dưỡng Một không được tổ chức linh đình, không nhiều người tham dự bằng Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai Tháng Bẩy năm 1976. Khóa Hai có trên năm trăm khóa viên hăng hái và rầu rĩ đăng ký tham gia. Giới nghệ sĩ cải lương đông người nhất. Tất cả những anh em kéo màn, chạy đề co – tức bầy dọn ngai vàng, bàn thờ Phật, bàn ghế, giường tủ trên sân khấu – những người bà con xa gần với bà Bầu, cô Đào v.v… đều là nghệ sĩ và đều tự thấy có quyền được dự khóa bồi dưỡng chính trị cho văn nghệ sĩ. Trong số 500 khóa viên có trên 300 mạng là nghệ sĩ cải lương, số 200 ngoe còn lại chia đều cho các tổ Thơ Văn, Điện ảnh, Tân nhạc, Cổ nhạc….

Cái gọi là tổ Thơ Văn – tức tổ chấy của các anh ký giả, văn nghệ sĩ viết tiểu thuyết kiểu “phơi-ơ-tông” – là tổ “được” Cán Cộng chú ý nhất. Cán Cộng coi bộ môn sáng tác gồm những người tự mình chống cộng bằng tư tưởng, bằng tác phẩm của mình, không mượn tác phẩm hay ý tưởng của người khác. Cán Cộng không coi quan trọng lắm những người thuộc bộ môn trình diễn, tức là những người khi được giao vai trò chống Cộng thì chửi Cộng ra rít theo lời người khác, khi được giao đóng vai chửi Quốc gia thì lại mặt trơ, trán bóng chửi bới Việt Nam Cộng Hòa ra trò.

Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai được khai mạc ở Nhà Hát Thành Phố. Người khai mạc là Hà Huy Giáp. Người lãnh đạo văn nghệ của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa có nhiều người dân không đến chết đói mà chỉ đói đến chết, lại có thể hình béo tốt, hồng hào, mặt mũi, da dẻ láng bóng quá cỡ thợ mộc. Khi ban huấn từ “Lãnh đạo” nói một câu xanh rờn:

– Tôi gọi các bạn là “đồng chí” vì tất cả chúng ta đều chung một chí nguyện: làm cho nước Việt Nam được giầu đẹp, làm cho nhân dân Việt Nam được ấm no…

“Lãnh đạo” nói tiếp:

– Khóa này được gọi là Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị vì những người tổ chức thấy các văn nghệ sĩ Sàigòn có thành kiến, có ác cảm với hai tiếng “cải tạo”. Thực ra cải tạo chẳng có gì đáng sợ. Chúng ta phải tự cải tạo mỗi ngày để trở thành người tốt…

Khóa học trong 21 ngày, khóa viên được bồi dưỡng sinh hoạt phí 1 đồng tiền Hồ mỗi ngày, được một lần cấp “nhu yếu phẩm”: nửa ký đường, hai hộp sữa, hai gói thuốc lá, một lạng bột ngọt. Được đớp hai bữa trưa ở Nhà Hát: bánh mì mỗi mạng một ổ, nước ngọt, bia gọi là bia hơi được đựng trong thùng phuy. Khóa nào muốn uống phải mang theo ca hoặc mượn ca của khóa khác.

Những anh ký giả Sè Goòng trước đó một niên đã làm Ngày Ký Giả Đi Ăn Mày để bỉ mặt Tổng Thiệu, nay được dịp “ăn mày” thật sự. Ký giả là những người đói nhất trong giới văn nghệ sĩ bỏ nước chạy lấy người không kịp. Không phải anh em ký giả, văn nghệ sĩ Sàigòn ta ngày xưa không kiếm được tiền, anh em kiếm được nhưng tuyệt đại đa số anh em ăn chơi, tiêu hoang, kiếm được năm thì tiêu mười. Việt Cộng vào Sàigòn, anh em đói đến không có cơm mà ăn, không phải chỉ đói phở, đói cơm sườn, đói giả cầy quán Bà Cả Đọi. Cùng dự khóa bồi dưỡng với kẻ viết bài này có Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang dịch giả Bố Già The Godfather của Mario Puzzo. Hôm được phát “nhu yếu phẩm” như vừa kể người ta thấy vắng bóng Ngọc Thứ Lang ngay lập tức, rồi vắng bóng chàng suốt ngày hôm sau. Khóa viên không đến lớp vì còn bận tự “bồi dưỡng” bằng hai hộp sữa, nửa ký đường, hai gói thuốc, lạng bột ngọt. Chàng phát mại ngay những thứ không nhu yếu gì với đời sống của chàng để lấy tiền “choác.”

Và Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai có Cô Khóa Mộng Tuyền. Tháng Bẩy năm 1976 ở Thành Hồ, Mộng Tuyền còn trẻ, đẹp. Ký giả đói, nhưng các em đào cải lương vẫn đông vàng, đông kim cang. Các em như Mộng Tuyền – bận bà ba phin nõn, quần đen, đi guốc – phây phây đến lớp. Các em không đi xế hộp, nhưng các em cũng không đi xế đạp, các em đi học bằng xe xích lô.

Sau Hà Huy Giáp ban huấn từ khai mạc, khóa bồi dưỡng có từng này vị lên lớp, mỗi vị một ngày:

– Huy Cận nói về Thơ.

– Chế Lan Viên nói về Người Nghệ Sĩ đi theo Đảng

– Hoàng Trinh, lý thuyết gia văn nghệ nói về “Sự bế tắc văn học – nghệ thuật của xã hội tư bản”

– Vũ Khiêu nói về văn nghệ chung chung…

– Bẩy Lý, Tổng biên tập báo Sàigòn Giải Phóng lên lớp về “Chủ nghĩa Mác-Lê-nin”

Huy Cận mập khỏe, nước da bánh mật, trông không có qua một vẻ gì là người làm được những câu “Nắng chia nửa bãi chiều rồi. Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá sầu…” Huy Cận nói đúng là nói vung xích chó, nói văng bọt mép. Ngoài việc khoe anh sung sướng, thoải mái mần thơ trong chế độ xã hội chủ nghĩa, anh còn khoe anh vẫn mần thơ tình, anh quả quyết chế độ xã hội chủ nghĩa không tiêu diệt thơ tình v.v… Chế Lan Viên yếu hơn Huy Cận về mọi mặt. Buổi nói chuyện của Chế Lan Viên được tổ chức ở rạp Olympic đường Hồng Thập Tự. Rạp không đủ đèn sáng. Chế Lan Viên ngồi bàn nói chuyện, đặt ly bia trên bàn. Mỗi lần diễn giả ghé mồm uống bia, micro bắt tiếng động làm người ta nghe thấy những tiếng “chụp choạp” rất xã hội chủ nghĩa.

Vũ Khiêu – nghe nói tên thật là Đặng Vũ Khiêu – là anh nói dở nhất trong cả bọn. Vốn liếng học thức của anh chỉ đủ cho anh nói láp nháp được trong một giờ. Buổi lên lớp của anh kéo dài cả ngày. Buổi sáng anh nói được hai tiếng thì tạm nghỉ để đi giải lao và đi đé, Ngọc Thứ Lang nói ngay:

– Thằng cha Vũ Khiêu này… hay chữ lỏng…

Thành ngữ Bắc kỳ gọi những anh chữ nghĩa đựng không đầy cái lá mít nhưng thích ba hoa nói những chuyện văn học, nghệ thuật là những anh hay chữ lỏng. Vũ Khiêu thuộc loại “Bắc Kít Hay Chữ Lỏng” điển hình. Anh nói ba lăng nhăng về Kiều, ca tụng Từ Hải như đại anh hùng dân tộc. Người nghe dốt nát nhất cõi đời này cũng biết anh quên, hay anh cố tình quên, ông cố, bà sơ anh có câu dặn con cháu:

Đàn ông chớ kể Phan Trần

Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều

Văn học lý luận gia Mác-xít Vũ Khiêu tỏ ra “hay chữ lỏng” rõ ràng nhất ở câu chuyện anh kể về cái gọi là “tình đoàn kết thân thương cố hữu” của dân tộc Việt. Anh đưa chuyện ngày xưa có nhà kia năm đời sống chung một nhà đoàn tụ gia đình hòa hợp với nhau. Vua nghe tiếng tốt bèn đến thăm và ban cho gia đình một trái lê với ẩn ý thử xem gia đình này chia nhau ơn Vua ra sao. Nhà đông tới hai, ba trăm miệng ăn. Làm sao chia cho mỗi người một miếng lê nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng? Trưởng gia bèn nẩy ra sáng kiến bỏ trái lê vua ban vào nồi ba mươi nước sôi, pha như pha trà, mỗi mạng uống một ly nước. Thế là cả nhà ai cũng được hưởng lộc vua.

Câu chuyện thuộc loại quân tử Tây gọi là “a-nết-đốt” – chuyện truyền khẩu, chuyện ngoài lề nghe chơi rồi bỏ – trái lê nấu nước chia nhau uống xưa như trái đất. Đó là chuyện xẩy ra dưới một đời vua nào đó bên Tầu – nếu người viết không lầm thì là đời vua Đường, vua Mật chi đó – nhưng người văn nghệ Mác-xít lại nói là chuyện xẩy ra đời vua Trần nước Việt.

Các đàn anh dzăng nghệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa lên lớp chung cho 500 đàn em dzăng nghệ, dzăng gừng, dzăng bút, dzăng báo, dzăng cơm, dzăng đủ thứ ở Thành Hồ tại Nhà Hát. Hôm sau, các khóa sinh trở về tổ mình thảo luận về đề tài đàn anh lên lớp hôm qua. Hướng dẫn viên Tổ Một Thi Văn Vũ Hạnh gọi việc này là “đèo seo…”, tức “đào sâu” vào đề tài. Thảo luận thêm, tham gia ý kiến của mình, thường là ca tụng: “… Hay quá, giúp cho người nghe có tư liệu chất lượng tốt để hiểu thêm về dân tộc, về dzăng nghệ v.v…”. Những cuộc thảo luận “đèo seo” học hỏi này có biên bản để nộp các lãnh đạo dzăng nghệ.

Khi ấy, người viết bài này đã có ý định phát biểu mấy nhận xét để ghi vào biên bản gửi đến ông Vũ Khiêu Hay Chữ Lỏng. Đại khái:

– Chuyện trái lê nấu nước chia nhau uống là chuyện người Tầu đời Đường, không phải chuyện xẩy ra đời nhà Trần nước ta. Nhận vơ không hay hướm gì và tôi nghĩ ta không cần nhận vơ. Khi ông nói trước cả trăm người Sàigòn chúng tôi về chuyện đó, tôi thấy:

– Nếu ông không biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu thì ông ngu quá.

– Nếu ông biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu mà ông cho chúng tôi hổng biết, ông có nói đó là chuyện đời nhà Trần chúng tôi cũng mù tịt thì ông cũng… quá ngu.

– Nếu ông biết chúng tôi cho việc ông nói chuyện trái lê nấu nước là chuyện người Việt là nói bậy mà ông vẫn cứ nói thì ông mặt trơ, trán bóng quá đỗi. Chúng tôi không có lời gì để đánh giá con người dzăng nghệ Mác-xít như ông.

Nhưng… nghĩ vậy người viết bài này đã không nói ra. Tâm trạng anh Khóa bất đắc dĩ Tháng Bẩy năm 1976 đang đen hơn mõm chó mực. Các bạn anh đang ngồi rù trong tù, anh không bị bắt như anh em, vợ con anh không khổ nhục như vợ con anh em, anh vác bản mặt nhẵn hơn cái đũng quần lĩnh cô đầu đi dự “Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị”, anh ngồi tễu mặt nghe Việt cộng nó dậy dỗ nó chỉ bảo, anh không câm miệng, cúi mặt xuống, anh còn ọ ẹ bắt bẻ Việt cộng nỗi gì.

Nghe nói có lần nói chuyện xong Vũ Khiêu hỏi Đoàn Phú Tứ:

– Anh thấy tôi nói ra sao?

Đoàn Phú Tứ trả lời:

– Anh nói thì con rắn ở trong lỗ nó cũng phải bò ra nó nghe, nó bò ra nó nghe nhưng không thấy gì cả nó lại bò vào lỗ.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 13 Sep 2025

59. Phạm Quốc Bảo.

Trong những năm gần đây, cái thú đọc sách của mọi người, nói chung, đôi khi nhuốm một chút buồn nản. Không phải chúng ta thiếu sách, ngược lại nữa là đằng khác. Cứ đọc những quảng cáo về các buổi ra mắt sách hàng ngày trên báo chí đủ thấy. Có thể số sách ấn hành đã lên đến con số hàng trăm rồi mà

hình như mình chưa kịp đọc cuốn nào. Cuộc sống hối hả cứ cuồn cuộn trôi, những sự việc người ta chưa kịp nhận rõ ra sao đã xẩy ra chuyện khác.

Chỉ cần lấy con số 911 làm thí dụ đủ thấy điều đó. Sau biến cố Trung Tâm Thương Mãi Mỹ ở Nữu Ước bị khủng bố, ngày 11 tháng 9, thì hình như con số 911 không chỉ còn là con số để người ta bấm máy điện thoại kêu cứu trong trường hợp khẩn cấp nữa. Nó đã trở thành dấu mốc có thể thay đổi cả cục diện thế giới.

Cũng nên nhắc lại ở đây một chi tiết nhỏ: người Mỹ có thói quen viết [hay đọc] tháng trước rồi mới tới ngày và năm. Nên thay vì như chúng ta, người Việt Nam, nói ngày 11 tháng 9, thì người Mỹ nói tháng 9 ngày 11. Như thế, hình như chúng ta sống và không theo kịp những sự việc xẩy ra chung quanh. Nói cách khác chúng ta luôn bị thời cuộc bỏ lại đằng sau. Trong cái cuộc sống vận chuyển với tốc độ chóng mặt như thế người ta không còn thì giờ chú ý đến thiên nhiên nữa gần như là một điều tự nhiên. Người ta bỏ quên thiên nhiên. Rồi, bị thiên nhiên bỏ quên lại. Vì thế, chúng ta không lạ khi thấy thiên nhiên vắng bóng dần trong các tác phẩm của chúng ta.

Nói như vậy không có nghĩa bảo rằng chúng ta thiếu những trang, những dòng tả cảnh trong các truyện dài, truyện ngắn, các ca khúc, chẳng hạn.

Nhưng tả cảnh chỉ là nhìn ngắm. Nhìn ngắm không phải là yêu. Không yêu thì không thể có sự chia sẻ được. Người ta sống như xâm chiếm thiên nhiên, khai thác chứ không bù đắp.

Hồng Nhan Xuân của Phạm Quốc Bảo gồm trên bốn chục đoản văn, gọi là những truyện ngắn cũng được, viết về nhiều đề tài. Như hết thẩy chúng ta, Phạm Quốc Bảo cũng bị chi phối bởi mọi thứ trên đời: chiến tranh, bệnh tật, cơm ăn, áo mặc, lưu vong, người sống, người chết, chuyện Tiệp Khắc, Ba Lan … Nhưng điểm đặc sắc nhất trong các truyện ngắn của Phạm Quốc Bảo là những dòng ông nói về thiên nhiên. Hai truyện đầu của tập sách Đi Tua và Cắm Trại Trễ giống như một dòng suối trong mát từ lâu lắm người ta mới tìm thấy lại trong khu rừng văn chương của chúng ta. Truyện giản dị, kể lại một chuyến đi”tua”của một số du khách tới khu Wawona Mariposa, vùng phía nam của công viên quốc gia Yosemite, để được chiêm ngưỡng rừng cây Sequoia, một thứ đại cổ thụ sống hàng ngàn năm nổi tiếng trên thế giới của Hoa Kỳ, nằm về phía Đông Trung và Bắc California.

Cây seqouia có hiện tượng lạ, khi sống từ độ tuổi ngoài một ngàn năm trở lên, tự nhiên ruột cây có thể bị cháy đen từ gốc ngược lên dần dần cho đến khi cây chết đổ xụp xuống, như một hình thức tự hủy. Cây có thể đâm nhiều

nhánh cành to bằng thân chính. Lỗ hổng của thân cây cháy mục đủ để làm thành một đường đi xuyên qua rộng từ hai đến bốn mét. Cây nhỏ trồng bên đường cao chừng nửa thước đã có tuổi khoảng bốn chục năm rồi.

Phạm Quốc Bảo có lối viết đơn giản, ít dùng từ hoa mỹ, thích hợp để viết những truyện như thế. Đọc những truyện này đôi lúc người ta có cảm tưởng như đọc truyện thần tiên hay cổ tích. Những gì ông viết về thiên nhiên đều dịu dàng, và chính sự dịu dàng này làm cho những lời miêu tả của ông cùng một lúc toát ra vẻ gì đó như trò chuyện với thiên nhiên.

Truyện Đi Tua kết thúc bằng cảnh các du khách xúm lại quanh một cây sequoia đổ, đất bám ở cụm rễ còn đỏ tươi, mấy người cảnh sát vùng rừng núi [rangers] đang chỉ trỏ thảo luận.

Riêng một ranger khác đứng sát bên thân cây đổ, nước mắt liên tiếp chẩy trên má và dính óng ánh trên bộ râu xồm màu vàng nhạt của ông.

Phạm Quốc Bảo viết:

“Ông ranger kia khóc tận tình, khóc lớn và dai một cách tự nhiên. Và tay ông luôn vuốt ve lớp vỏ sần sùi của thân cây đổ, miệng ông lẩm bẩm. Đến gần mới nghe loáng thoáng tiếng ông nghẹn ngào đứt quãng.

Tại sao?… Sao mày quá yếu vậy?… Gió đêm qua có mạnh lắm đâu … Gió trốc sao? Trời ơi, mày còn quá trẻ …  Gốc còn mạnh thế này. Chưa có một vết nám cháy nào … Dù sao tao cũng có lỗi với mày. Ông tao đã trồng nên mày. Cha tao đã cả đời chăm sóc cho mày. Còn tao thì … Tại sao?… Tại Sao?.

Người gác rừng khóc một cái cây bị gió làm trốc gốc. Người ta có thể tin những giọt nước mắt của ông. Đến ông là đời thứ ba trông nom cho cái cây ấy. Cái tình sâu như thế thì đến chúng ta chỉ nghe chuyện thôi cũng

có thể chẩy nước mắt huống chi ông. Nếu cái cây có linh hồn hẳn nước mắt của người ranger cũng làm nguôi ngoai phần nào nỗi chết yểu của nó.

Truyện Cắm Trại Trễ cũng có một nội dung tương tự. Vài gia đình cùng đi cắm trại trong một rừng thông, đốt lửa chơi. Sẵn lá và quả thông khô rơi đầy mặt đất, một cô bé nhặt ném vào đống lửa ngồi nghe tiếng nổ lách tách cho vui tai.

Chỉ đến khi được người ranger cho biết những lá thông khô sẽ biến thành một thứ phân bón để những trái thông khô nứt nở thành cây thông con thì:

“… khi bước lên xe rời khỏi nơi cắm trại, thấy một trái thông khô nằm lăn lóc trong sàn xe, cô bé Linh Đa nhặt lên một cách thận trọng hơn bao giờ và bỏ lại trên nền lá thông khô”.

Liệu trong đời sống riêng của chúng ta, những người Việt Nam, còn bao người có đủ ba đời sống để trông nom một cái cây, và rỏ những giọt nước mắt như của người ranger Mỹ trong truyện nhỉ?

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 13 Sep 2025

58. Phạm Huấn.

Phạm Huấn từng là sĩ quan trong binh chủng nhẩy dù của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau ông được chuyển qua phòng Báo Chí Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và làm việc tại đó cho đến ngày 30 tháng 4, 1975, với cấp bậc Thiếu Tá.

Một Ngày Tại Hà Nội là cơ hội hãn hữu một phóng viên chiến tranh có dịp thực hiện. Nó ghi lại chuyến trở về Hà Nội của một người rời bỏ Hà Nội sau

khi đất nước bị chia cắt năm 1954. Hà Nội, và cả miền Bắc, như một thế giới khép kín kể từ đó.

Chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn. Người ta chưa thể hình dung, rồi ra nó sẽ chấm dứt như thế nào. Và điều ấy có nghĩa là không có hay chưa thể có lối về Hà Nội, lối về miền Bắc. Vì thế, khi Phạm Huấn cùng với hai sĩ quan khác của VNCH, Thiếu Tá Phạm Công Chất và Thiếu Úy Dương Phục, được tháp tùng một phái bộ Mỹ tới Hà Nội với tư cách quan sát viên, tham dự vào một cuộc trao đổi tù binh giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, là một sự kiện mọi người miền Nam khi ấy đều nao nức mong đợi “để xem sự thể ra sao”.

Phạm Huấn viết:

“Thật chẳng khác một giấc mơ, khi máy bay đáp xuống phi trường Gia Lâm, chúng tôi với quân phục và huy hiệu của Quân Lực VNCH trên người, bước xuống giữa một rừng sĩ quan và cán bộ Bắc Việt, mà không phải nổ súng và ngược lại, đối với tôi, một người ở trong quân ngũ 18 năm liên tiếp, một sĩ quan với huy hiệu nhẩy dù trên ngực áo, đã có quá nhiều kinh nghiệm với cộng sản, cái giây phút chúng tôi đặt chân xuống Gia Lâm là một giây phút kỳ lạ đáng ghi nhớ”.

Một ngày tại Hà Nội là những gì Phạm Huấn kể lại từ cái “giây phút đáng ghi nhớ” ấy, trong một ngày ở Hà Nội, cùng với một số hình ảnh Hà Nội ông đã chụp được trong chuyến đi này. Phạm Huấn viết tiếp:

“Ngồi trên chuyến xe di chuyển từ Gia Lâm về Hà Nội, nhìn thấy Hồ Gươm, Tháp Rùa, tôi có trong lòng một nỗi xao xuyến muốn làm ứa lệ.

Tôi biết rằng, nhìn thấy Hà Nội đây, là nhìn thấy bằng một triệu đôi mắt của những người xa Hà Nội năm nào. Tôi đang di chuyển an lành trên những đường phố Hà Nội đây, là đòi hỏi bằng xương máu của bao nhiêu bằng hữu, bao nhiêu huynh đệ, bao nhiêu người quen biết và không quen biết, đã chết và còn sống, của 17 triệu dân miền Nam yêu nước, đang trông ngóng một ngày hòa bình, thống nhất, nhưng không phải hòa bình với bất cứ giá nào. Tôi hiểu được tại sao con người có tình riêng nhưng không thể tách rời khỏi tập thể. Con đường này xưa chúng tôi hàng ngày đi qua, cắp sách đến trường. Căn nhà này, xưa, tôi đã ở. Bạn bè tôi xưa, những ai còn, ai mất? Người yêu tôi xưa, bây giờ bao tuổi, bao già? Tôi có thể gọi tên từng đứa bạn, gọi tên từng người con gái đẹp của Hà Nội khi xưa, tôi có thể chỉ đúng căn nhà họ ở, bây giờ họ còn ở đấy chăng? Ngồi trên máy bay nhìn xuống Hà Nội, Hà Nội giống như một khuôn mặt kiều diễm. Tháp Rùa chẳng khác cái nốt ruồi của thành phố! Tôi biết rằng, nếu biết được tôi nghĩ như thế, ai sẽ mỉm cười. Cái cậu con trai nhẩy chân sáo trên lối đi này khi xưa là tên vẫn còn ẩn úp trong tôi thật sao? Tôi mừng biết bao, khi nhận ra, với ba mươi năm liền nghe tiếng nổ, nhìn thấy khói, ngửi thấy mùi tử khí, tai tôi chưa điếc, mắt tôi chưa mờ, mũi tôi vẫn còn phân biệt được những mùi hương phảng phất của sương mù tháng giêng Hà Nội”.

Vâng, cho đến hôm nay, Hà Nội đã trở thành một địa điểm du lịch, bất cứ người Việt Nam nào, muốn nhìn thấy Hà Nội, muốn trở lại Hà Nội, gần như không còn có gì khó khăn nữa.

Nhưng khi cuốn sách của Phạm Huấn được xuất bản lần thứ nhất, cầm cuốn sách trong tay, nhìn những tấm hình được chụp lướt vì ngồi trong xe chạy, mọi người đều xúc động. Có những con đường người ta có thể nhận ra ngay như những con đường quanh hồ Gươm. Có những góc phố người ta biết là Hà Nội nhưng trong giây phút chưa thể gọi đúng tên. Các thiếu nữ áo cánh trắng quần đen chở nhau trên những chiếc xe đạp. Các cán bộ, bộ đội, quần áo màu xám, nón cối, cũng cắm cúi đạp xe hay ngược xuôi trên các hè đường, ai nấy hình như đều có vẻ gì đó hấp tấp, ngơ ngác chẳng muốn nhìn nhau nữa. Những chiếc ghế đá sứt mẻ không người ngồi, xe đạp, xe đạp, xe đạp … và những khu phố vắng tanh, những chiếc cột đèn cũ kỹ tự năm nào với các thanh sắt mỏng đan chéo đen sẫm đứng sừng sững, tựa những nỗi buồn hiện nguyên hình, câm nín. Mỗi tấm hình trong cuốn sách đã được Phạm Huấn dùng một câu thơ, một lời ca, rút ra từ một bản nhạc nào đó làm chú thích. Đọc những chú thích ấy, cùng với những hình người ta tưởng chừng như, chúng chìm sâu, khua động những ảnh nhìn thấy lại, đối với những người từng sống ở Hà Nội, tầng trí nhớ.

Chưa bao giờ người ta cảm nhận được cái vẻ đẹp của một thành phố tan lẫn với thi ca và âm nhạc một cách cụ thể đến thế, cùng một lúc, người ta tưởng chừng như nỗi buồn trong lòng sa xuống tận cõi chết.

Trước khi mất, Thanh Nam đề bạt cho cuốn sách của Phạm Huấn được tái bản ở hải ngoại bằng những dòng sau:

“Đọc hết những bài viết, ngắm đi ngắm lại bức bản đồ Hà Nội in năm 1951, rồi coi đến những người, những cảnh Hà Nội vào thời 1973, qua gần 100 bức ảnh mà tác giả đã khéo léo thu nhận được vào ống kính; tôi thật tình xúc động khi nhớ lại ngày mình rời xa thành phố này vào năm 1953, cách đây vừa đúng 30 năm, nhớ lại những giấc mơ trở về Hà Nội của mình: Chắc chắn trong buổi trùng phùng cũng có nỗi xúc động ứa lệ như Phạm Huấn nói”.

Ấn bản Một Ngày tại Hà Nội ở hải ngoại lần này được đóng bìa cứng, lớp bìa mỏng bọc ngoài là một tác phẩm của Nguyễn Cao Đàm chụp hình đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc. Hình đen trắng, trông mờ mờ như được chụp trong một buổi sáng hay buổi chiều sương mù. Trước khi rời Hà Nội nhà

Nguyễn Cao Đàm ở ngay bên bờ hồ. Có thể nói bức hình đó đã được ông vừa chụp qua cảnh thực vừa chụp qua tâm tưởng.

Có lẽ đến hơn phân nửa tác giả được Phạm Huấn trích dẫn trong cuốn sách nay không còn nữa. Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng, Đinh Hùng, Mai Thảo, Vũ Thành, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Cao Đàm, Thanh Nam … người chết trong nước, trong tù, người mất ở hải ngoại.

Tất cả không ai được nhìn thấy lại Hà Nội. Phạm Huấn là người thứ nhất trong số mhững người xa Hà Nội, được nhìn thấy lại Hà Nội sau hai chục năm xa cách, thì ngay sau cái ngày từ Hà Nội về ấy, lại nói rằng, nếu Hà Nội như vậy, ông sẽ không bao giờ trở lại nữa. Lời nguyện ấy, ông còn giữ đến bây giờ. Những người quen biết Phạm Huấn trước đây đều rất buồn khi thấy ông hiện ở trong tình trạng bệnh tật trầm trọng. Ông gần như bị suy sụp hoàn toàn, ngay cả đi lại cũng phải có người dìu đỡ. Ông vừa mắc chứng parkinson vừa bị alzheimer.

Ông đã qua đời tại San Jose tháng 10, 2005.

Chuyến xe tháng 5

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 30th Jun 2021

Post by Sơn râu 12 Sep 2025

Kỳ 1

Lời giới thiệu:

Tháng 5 năm 1975 chiến tranh đã hoàn toàn chấm dứt. Trên toàn cõi Việt-Nam không còn nghe bom nổ, không còn thấy đạn bay. Nhưng giữa tháng 5 năm 1975 cũng có những cựu chiến binh Việt-Nam Cộng-Hòa đã bị đem đi mất biệt, mãi mãi không về…

Ðời tôi đã có một tháng 5 tràn đầy hạnh phúc, đó là tháng 5 năm 1969. Vào một ngày đẹp trời giữa tháng 5 này, ở Ban Mê Thuột, tôi đã gặp được người trong mộng ước của mình. Người con gái tôi gặp ngày đó đã thành người tôi yêu suốt đời. Người đó đã trở thành mẹ của 4 đứa con tôi, đã thành bà của 5 đứa cháu tôi. Hơn thế nữa, người đó, với tôi còn là một người vợ chung thủy, đồng thời là một người bạn tri kỷ không ai thay thế được.

Tóm lại, từ lâu lắm rồi, tháng 5, với tôi đã trở thành một tháng thần tiên, trừ ra một tháng 5 thật là đáng ghét, nhưng tôi cũng không thể nào quên nó được, đó là tháng 5 năm 1975.

Tôi đã sống qua những ngày đau thương của cái tháng 5 năm ấy, đã bị giằng co bởi những quyết định sống còn của cuộc đời mình, đã xuôi tay chấp nhận cái chết, và đã chứng kiến những cảnh chia ly não lòng.

Tháng 5 năm 1975 trên toàn cõi Việt-Nam không còn tiếng súng giao tranh, nhưng có những người đi không thấy về.

Sáng 1 tháng 5 năm 1975 tôi lang thang trong vùng Ngã Bảy Chợ-Lớn, trên đường tìm về nhà mẹ tôi.

Ngày hôm trước đơn vị của tôi đã bị đánh tan. Ðêm qua, sau khi trốn thoát một cuộc truy sát của kẻ thù, tôi vào tá túc trong nhà một người quen nằm trên đường An-Bình, Chợ Lớn.

Tới trưa 1 tháng 5 tôi mới về tới nhà. Vậy mà chỉ vài giờ sau đã có lệnh kêu tôi sáng mai phải có mặt ở văn phòng liên gia trưởng khu phố để khai báo lý lịch.

Sáng 2 tháng 5 năm 1975, tôi rời nhà ra chợ tìm tới văn phòng liên gia trưởng. Văn phòng liên gia là một căn nhà nhỏ vách phên, lợp tranh, nằm sát bên một hiệu tạp hóa lớn của người Hoa.

Lúc tôi tới văn phòng thì đã có vài vị cựu sĩ quan Quân- Lực Việt- Nam Cộng- Hòa hiện diện ở đây rồi. Những vị này là người cư trú trong liên gia này. Họ và ông liên gia trưởng có vẻ không lạ lẫm gì nhau.

Hình như chỉ có mình tôi là người xứ khác, không phải là dân Sài-Gòn. Vì đơn vị tôi bị tan hàng, nên tôi mới phải chạy về tá túc ở đây.

Nghe các ông sĩ quan nói chuyện, tôi được biết ông đứng ghi danh trước tôi là một trung úy An-Ninh Quân-Ðội, nhà ông này ở ngay đầu hẻm và cách nhà mẹ tôi chừng năm, sáu căn. Bên cạnh tôi là ông đại úy Không Quân ở cách nhà tôi ba căn. Sau lưng tôi là ông chủ tiệm gạo bên kia đường, ông này là đại úy sĩ quan Công Binh.

Ông liên gia trưởng khu phố TK9 phường Nguyễn Cảnh Chân mà mẹ tôi cư trú là bác Thọ. Nhà của bác Thọ cách nhà mẹ tôi một con hẻm nhỏ.

Vì là hàng xóm, hôm qua bác Thọ đã chứng kiến cảnh mẹ tôi khóc sướt mướt khi tôi bước vào nhà, nên vừa nhìn thấy mặt tôi, bác đã niềm nở,

– Bác có nghe má cháu nói cháu đi lính ngoài Miền Trung. Chắc cháu mới chạy về phải không? Cháu mau xưng tên họ để bác ghi vào sổ. Cháu là lính Ðịa Phương Quân phải không? Cháu là trung sĩ chứ gì? Cháu chỉ cần khai vắn tắt thôi! Quan trọng nhất là cái địa chỉ tạm trú phải khai cho đúng! Nếu Cách Mạng có lệnh gì thì bác cứ theo địa chỉ mà thông báo cho cháu.

– Thưa bác, bác ghi tên cháu là Vương Mộng Long, nhưng cháu không phải là trung sĩ…

Tôi nói chưa hết câu, “cháu không phải là trung sĩ mà là thiếu tá…” thì bác Thọ đã lớn tiếng phán một cách chắc chắn như đinh đóng cột,

– Cháu và thằng con bà hàng xóm nhà cháu ngang tuổi, ngang lớp với nhau, nó khai là trung sĩ thì cháu cũng là trung sĩ thôi, không thể khai là binh nhất hay binh nhì được đâu! Tội gian khai là nặng lắm đó!

Hai ông sĩ quan đứng bên tôi cũng gục gục đầu khuyên:

“Trung sĩ thì cứ khai là trung sĩ, có gì đâu mà phải sợ? Khai man hay giấu giếm cách gì thì người ta cũng phát giác ra thôi!”

Bác Thọ hất hàm ra lệnh cho anh thư ký,

– Số thứ tự 25 là Vương Mộng Long, cấp bậc trung sĩ Ðịa Phương Quân, địa chỉ TK9…

Tôi chưa kịp phản đối thì bác Thọ gọi người tiếp theo, đó là ông chủ tiệm gạo. Ông sĩ quan Công Binh này là một người cao to như một vị hộ pháp. Ông ta vừa bước lên là tôi bị văng sang bên ngay.

Trong lúc ông đại úy khai tên và đơn vị thì tôi thấy nơi cuối hàng có một bàn tay ai đó giơ lên vẫy gọi mình,

– Long! Long ơi! 

Tôi giơ tay vẫy lại,

– Chờ chút! Chờ chút! 

Rồi tôi sấn tới trước bàn giấy, cầm tay bác Thọ,

– Cháu có việc phải đi ngay! Yêu cầu bác đính chính lại số thứ tự 25 Vương Mộng Long là thiếu tá Biệt Ðộng Quân, không phải trung sĩ Ðịa Phương Quân!

Ông liên gia trưởng ngớ người ra,

– Cháu không nói đùa đấy chứ! Xóm mình từ xưa tới giờ làm gì có ai là sĩ quan cấp tá!

Tôi nghiêm mặt,

– Cháu nói thật đấy! 

Ông đại úy chủ tiệm gạo nheo mắt nhìn tôi rồi buột miệng,

– Ðù mạ! Giờ này mà còn hám danh! Khoa trương! Làm oai!

Chắc ông đại úy nghĩ tôi chỉ là một anh trung sĩ hám danh, man khai thành thiếu tá để lấy le nên ông ta lớn tiếng chửi thề cho bõ ghét.

Mấy vị sĩ quan đứng gần đó cũng cau mày, nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu và khinh bỉ. Có lẽ vì thấy tôi có vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, lại ăn mặc không được chững chạc lắm, nên bà con cho rằng tôi chỉ là một hạ sĩ quan nhưng thích làm oai. Chờ cho anh thư ký điều chỉnh xong lời khai báo của tôi, tôi chui ra khỏi đám đông để gặp người vừa vẫy tay gọi tên mình.

Thì ra đó là ông Thiếu tá Lương Ðình Chi, cựu Trưởng ty Cảnh-Sát Bà-Rịa, một người bạn vong niên của tôi. Nhà ông ta ở bên kia đường, ngay góc Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Biểu. Ông Chi vô tình ghé đây. Nhìn thấy tôi trong đám đông, nên ông ta giơ tay vẫy gọi. Ông ta cũng vừa tới văn phòng liên gia trưởng của ông để khai báo.

Ðâu ngờ, cái chuyện khai báo lý lịch xem ra thật đơn giản và không có gì đáng lo ngại, vậy mà nó che đậy một cái bẫy sập ghê gớm.

Chỉ với cái tên, cấp bậc và đơn vị mà chúng tôi khai với ông liên gia trưởng, đã đủ để những người Cộng-Sản có thể phát hiện ra những kẻ thù mà chúng cần truy cứu.

Chỉ ít bữa sau, một Thượng tá Trung đoàn trưởng của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã tới gõ cửa nhà tôi để thăm tôi. Tôi và ông ta đã từng có vài lần đối đầu qua những trận đánh đẫm máu năm 1974 ở Tây Nguyên.

Cũng từ cái chuyện khai báo lý lịch mà chưa tới mười ngày kế đó, sáng 11 tháng 5 năm 1975, tôi đã trở thành một tù binh. Mười ba năm sau, trên cái giấy ra trại của tôi đã ghi rõ ràng rằng: Ðương sự bị bắt ngày 11 tháng 5 năm 1975.

Hôm đó, tôi bị gọi lên văn phòng liên gia trưởng. Bác Thọ nhìn tôi ái ngại,

– Phường Nguyễn Cảnh Chân vừa nhận được lệnh nội nhật ngày 11 tháng 5 năm 1975 phải áp giải tên Vương Mộng Long lên giao nộp cho Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh.

Văn phòng phường không có xe, nên bác Thọ ra lệnh cho anh thư ký của liên gia chở tôi đi bằng xe gắn máy.

Tới Trại Lê Văn Duyệt của Biệt Khu Thủ Ðô, nay là trụ sở Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh của Việt-Cộng, tôi xuống xe rồi tự động đứng lẫn vào đám người đang tụ tập trước sân cờ.

Hôm đó, có khoảng vài trăm quân nhân viên chức Việt-Nam Cộng-Hòa bị tập trung về từ nhiều nơi quanh Sài-Gòn. Họ được chở trên những quân xa đủ loại. Người xuống hết, xe chạy đi, nối đuôi nhau. Chỉ có mình tôi tới đây bằng xe hai bánh do người khác cho quá giang.

Trong số những người hiện diện trong sân, tôi thấy Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, Chuẩn tướng Lê Trung Tường và mấy vị tướng khác, cùng vài người quen của tôi như Trung tá Nguyễn Hiệp, Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước, Thiếu tá Hồ Văn Hòa, Thiếu tá Lương Ðình Chi, và Trung sĩ Thông Dịch Viên người Hoa là Huỳnh Cẩm Lường.

Chúng tôi đứng trước sân chờ nghe cái loa treo trên cột cờ kêu tên mình để vào trình diện một trong số những căn phòng đánh số thứ tự A, B, C, D…X, Y, Z… nằm ở tầng trệt của dãy nhà lầu phía sau.

Tôi được gọi tên để vào làm việc trong căn phòng nơi cửa có cái bảng carton cỡ 40X40 cm ghi chữ «Z” thật to bằng sơn đen, nằm ở đầu hồi.  Phòng có cái bảng chữ «Z» là nơi tiếp quản của Quân Khu 5 Cộng-Sản. Quân Khu 5 Cộng-Sản bao gồm lãnh thổ các tỉnh từ Quảng-Trị tới Phú-Yên. (Chữ Z= phát âm là Zét)

Văn phòng này do bốn cán binh Việt-Cộng phụ trách. Bốn tên cán binh này mặc quân phục xanh, không đeo phù hiệu hay quân hàm, và cũng không vũ trang.

Có khoảng trên dưới hai chục người được gọi vào phòng Z. Mỗi người được phát một tờ giấy in roneo gọi là bản tự khai, chỉ có mấy dòng:

1) Họ tên

2) Cấp bậc, chức vụ

3) Ðơn vị và nơi đồn trú.

4) Thời gian phục vụ ở địa bàn Quân Khu 5 từ năm nào tới năm nào?

5) Ðịa chỉ cư trú và liên lạc hiện nay

Dưới đó là ngày tháng và ký tên.

Công việc ghi chép những câu trả lời 5 mục nêu trên và ký tên diễn ra không tới một giờ.

Tiếp theo là giai đoạn khẩu vấn, công việc này cũng chỉ nhằm mục đích xác nhận xem chúng tôi có đúng là người mà Quân Khu 5 cần tiếp quản hay không.

Từng người trong chúng tôi phải lần lượt đối diện với bốn thẩm vấn viên để trả lời những câu hỏi liên quan tới từng đề tài khác nhau như quê quán, tôn giáo và gia cảnh.

Kết thúc buổi thẩm vấn, tên cán bộ trưởng toán xoa tay cười khẩy, rồi đẩy mấy tờ giấy ghi lời khai của tôi ra trước mặt tôi,

– Ðược rồi! Anh đọc lại đi! Có gì cần sửa thì trình cho tôi. Tôi có cho phép anh thì anh mới được sửa. Nghe rõ chưa?

Tôi liếc qua những dòng chữ đã ghi trên bản tự khai rồi lắc đầu,

– Tôi không muốn sửa chữa điều gì cả.

Nghe vậy, tên Việt-Cộng vội xếp tờ giấy tự khai của tôi vào cái bìa cứng rồi đưa tay ra cho tôi bắt,

– Anh có thể đi về, nhớ đúng 8 giờ sáng mai lại vào đây trình diện!

Ra khỏi phòng, tôi đi một vòng quanh trại để tìm người quen, thì được tin Trung tá Nguyễn Hiệp, Thiếu tá Hồ Văn Hòa, Thiếu tá Lương Ðình Chi, đã bị còng tay chở đi rồi.

Trung tá Nguyễn Ðỗ Tước và ông Thông Dịch Viên người Hoa là Huỳnh Cẩm Lường còn ở trong phòng nào đó chưa ra.

Sáng 12 tháng 5 tôi leo lên Honda chạy một lèo tới Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Gia-Ðịnh.

Gửi xe xong, tôi bước vào trại để tới phòng Z; đã có nhiều quân nhân khác nhanh chân hơn tôi; họ có mặt trong sân doanh trại từ sáng sớm.

Vào phòng, tôi mới hay, sau buổi thanh lọc ngày hôm qua đã có nhiều người được trả tự do vì lời khai của họ không phù hợp những chi tiết mà Quân Khu 5 đã nêu ra.

Hôm nay, trong phòng Z chỉ còn lại đúng bảy (7) người.

Chúng tôi không phải khai báo gì hơn, chỉ ngồi tán gẫu với nhau thôi.

Những cán binh phụ trách công việc tiếp quản chúng tôi cũng vui vẻ nói chuyện với chúng tôi không chút ngại ngùng. Qua vài câu trao đổi, chuyện trò, tôi được biết, hai trong số bốn cán bộ Cộng-Sản này là người Thanh-Hóa, một là dân Hà Nam Ninh, một là dân Hải-Hưng (tỉnh Hải Hưng là tên do hai tỉnh sáp nhập Hải Dương và Hưng Yên) Biết tôi là dân Hải Dương nên người bộ đội Cộng-Sản quê Hải-Hưng hay nhìn tôi với vẻ mặt nửa lưu luyến, nửa ái ngại và khó hiểu.

Buổi trưa chúng tôi được phép túa ra đường kiếm cơm cháo, mì, phở, một giờ sau sẽ quay trở lại.

Bên kia đường là một dãy quán hàng bán đồ ăn. Thấy một ông từ phòng Z dẫn theo vài ông khác chui vào một cái lều bên đường, tôi cũng chui vào theo.

Trong lều là một gánh cháo lòng do một bà tuổi trung niên làm chủ.  Chúng tôi theo nhau, bảy người, ngồi trên hai cái ghế dài của học trò.

Chỉ qua mấy phút tâm sự, tôi đã biết lý lịch của sáu ông bạn mới. Sáu ông này gồm có một Thiếu úy Trung đội trưởng Thám Báo Tỉnh, một thẩm vấn viên của Trung Tâm Thẩm Vấn Quân Ðoàn II, hai ông sĩ quan Ban 2 Chi Khu, một Trưởng Lưới Mật Báo Viên và một nhân viên phản gián của Ủy Ban Phượng Hoàng.

Ông chồng bà bán quán là Trung sĩ Trưởng Lưới Mật Báo Viên của Tiểu Khu Bình-Ðịnh tên là Huỳnh Thanh Bền. Ông Trung sĩ Bền là một hạ sĩ quan Ðồng Hóa.

Từ ngày thứ ba, tôi không còn phải tốn tiền gửi xe Honda, tôi khóa xe, rồi để xe ngay vách quán của bà vợ ông Bền.

Trung sĩ Bền lớn hơn tôi mười tuổi, vợ ông cũng lớn hơn tôi bảy tuổi. Anh chị Bền có ba đứa con, cháu lớn là con gái 19 tuổi, đang học Sư Phạm, hai đứa kế tuổi 15 và 13 đang học trung học.

Nhà anh chị Bền ở gần Quân-Lao Gò-Vấp.

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Posted on 22 Jan 2015 

hoànglonghải (tuệchương)

Post by Sơn râu 12 Sep 2025

Những ngày đầu

Dẫu sao bình đã vỡ rồi, Lấy thân mà trả nợ đời cho xong!

(Kiều)

Bài 1

24 tháng 6 năm 1975, tôi “đóng tiền đi ở tù” tại trường Taberd, Saigon. Đây là vụ lường gạt vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt Nam.

Mới vào thì cán bộ Việt Cộng chia thành từng đội. Đội của tôi là đội 36 (Tôi không nhớ chắc!), được cho ở trong một căn phòng nguyên là lớp học, tầng hai. Mới có hai ngày thì nhà cầu dơ không thể tưởng tượng, mới nhìn qua đã không dám vào, đành phải “nín” vậy.

Bây giờ thì cơm nhà hàng Continental, một nhà hàng mà trước 1975, lương sĩ quan cấp úy như tôi, không có tiền “phù vân” (1) thì bao giờ mới dám vào?!

Tôi nói đùa với vài anh em, phần đông đều lạ hoắc: “Kỳ nầy ăn cơm nhà hàng sang nhất Saigon nghe!” Tới giờ cơm, toàn đội sắp hàng xuống nhà ăn. Vô tới nơi thì… hết cơm. Cả mấy trăm người, nhà hàng nấu trong hai cái nồi 50, mỗi nồi chưa đủ phần cho 50 người, có đâu tới mấy trăm người. Vậy rồi ai nấy đành mang bụng đói mà về phòng uống nước lạnh qua ngày.

Trong phòng, có anh chàng áo quần tươm tất, thêm một ít bỏ trong samsonite. Hỏi, anh ta nói, tin tưởng một cách vững chắc:

– “Học tập 10 ngày về! Chừng nầy là vừa chớ còn gì?”

Không biết sau nầy, trên con đường tù cải tạo mịt mù biên giới, khi ra Bắc, khi về Nam, cái Samsonite của anh ta có còn dùng được việc gì không!

Đói quá! Phải kiếm cái gì ăn. Bên cạnh thang lầu, có kẻ hở khe gió thông ra bên ngoài, chỉ vừa lọt bàn tay. Có bóng người bên kia, thì ra là nhà dân. Bèn nhờ chú bé bên đó đi mua bánh mì giúp. Một người nhờ, hai người nhờ. Thế rồi nhiều người biết “con đường bánh mì” ấy và nhiều người nhờ. Cả trăm người nhờ. Chắc chú bé bên đó phải chở xe ba gác mới đủ nhu cầu.

Dĩ nhiên là bộ đội biết và… cấm. Thế là “Con đường bánh mì”… đứt đoạn, làm cho không ít người đói… đứt ruột.

Tuy rằng một đội, khoảng 30 người ở chung một phòng nhưng chẳng ai kiểm soát, chẳng ai điểm danh nên nhiều người đi lang thang qua những phòng khác, tìm bạn bè chuyện trò chơi.

Không quen biết ai nên tôi chẳng đi đâu, tối lại thì cùng với vài người nữa, như ông Trần Phú Trắc, gốc là đại úy Dù, chức vụ cuối cùng là chỉ huy trưởng Cảnh Sát quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định. Ông nầy là cháu kêu “tông tông” bằng cậu ruột. Bạn thân của Trắc là anh chàng mang hai cái “đít chai” khá dày, lúc nào cũng cười cười, làm như đời… vui lắm, tên là Phạm Quang Chiểu, gốc là “Bộ binh Đại úy” (tôi thường nói đùa như kiểu mấy ông “Hải quân Đại úy” hoặc gọi anh ta là trung tướng Phạm Xuân Chiểu, một ông trung tướng trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Xin nhắc lại chuyện cũ một chút. Năm “dẹp bàn thờ” 1966, ông tướng nầy đang làm tổng thư ký (?) Hội Đồng Quân Lực, về Huế lo dàn xếp vụ Phật Giáo Miền Trung, bị một đám “Sinh Viên Học Sinh”, bắt ông ở đài phát thanh Huế, bỏ lên xe xích lô, đưa lên tòa Đại Biểu Chính Phủ.

Bữa đó, tôi ham vui, xách xe chạy theo… coi. Tướng Thi phải tới “giải cứu” cho tướng Chiểu. Tướng Thi lên cái sân khấu dựng sẵn ở sân trước, nói “ba xí ba tú”, nói lung tung, chọc thiên hạ cười chơi!

Nhìn bộ râu của tướng Thi đã thấy buồn cười, huống chi ông nầy vốn vui tính, hay nói đùa, nên bữa đó, ai nấy được một trận cười thật vui, vì vậy đám “Học sinh, Sinh viên” không “hỏi tội” tướng Chiểu làm “tay sai” cho “Quân Thiệu Kỳ” – tiếng dân chúng gọi hồi đó –

Nhớ chuyện vui đó nên tôi hay gọi đùa Phạm Quang Chiểu thành Phạm Xuân Chiểu để kể công với Chiểu rằng “Bữa đó, tao cũng cười như thiên hạ nên chú mày được “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc Huế” tha mạng cho.

Hai anh chàng Trắc và Chiểu cùng với vài người như dược sĩ Quang (không nhớ họ), dược sĩ Hoán (Tây lai), tối lại, tập trung trên cái bệ gỗ trước bảng đen của lớp học để tò mò nghe ông già Nho, – Nguyễn Văn Nho – đại úy Cảnh Sát, trưởng phòng Công Xa Hạ Nghị Viện, người thường cấp xe cho các ông dân biểu, kẻ chuyện ông dân biểu nào “ba chân bốn cẳng” mà “tam thập lục kế” trước thiên hạ, về chuyện dân biểu Nhữ Văn Úy tự tử cùng vợ con ngay trong Hạ Viện như người ta đồn đãi, v.v…

Trong hai buổi chiều ngắn ngủi ở Taberd, tôi thường leo lên lầu 2, ra hành lang, ngồi xem thiên hạ hóng mát. Anh bạn Ngô Duyên (tôi thường gọi đùa là Vô Duyên), đại úy Biệt Động Quân, xuất thân trường Cán Sự Canh Nông, giải thích cho tôi rằng những cây trồng trong sân trường Taberd thuộc họ đậu, như cây bả đậu. Loại cây nầy có lá lớn, cho nhiều bóng mát nên được trồng trong các sân trường, kể cả các quân trường.

Đang khi ngồi chơi, có ông đại úy bộ đội đi từ trong văn phòng ra cổng, tướng đi lẹt bẹt như đàn bà doi đít. Một người lên tiếng chê cái tướng đi ấy, vài người phụ họa theo. Vui chuyện, tôi nói: “Họ có bao giờ ngồi ghế đâu. Thói quen là “ngồi chò hỏ” dưới đất. Dù có khi ngồi trên ghế thì cũng ngồi theo kiểu nước lụt. Ngồi kiểu đó thì đít doi ra, không giống đàn bà sao được.” Vài người là dân Saigon chính hiệu con nai, có mấy khi thấy ai ngồi kiểu nước lụt bao giờ, thấy tôi nói, cho là đúng, khoa học – Cơ thể học nữa đấy! – bèn tới làm quen chơi.

Đang chuyện trò, bỗng có anh chàng nào đó, ngồi ở phía hành lang bên kia, nói to lên, theo kiểu rao hàng mấy hôm nay, sau khi Saigon sụp đổ, ở bùng binh chợ Bến Thành:

“Đồng hồ “Xi-ti-dzen” đây!

“Không người lái, hai cửa sổ, mười hai ông sao!

“Người bộ đội rất ưa dùng đây!

Mại dzô, mại dzô!”

Nghe câu rao hàng, thiên hạ ngồi hóng mát hai bên hành lang cười ầm lên. Tôi nghe có người nói: “Gan quá! Đem chú bộ đội ra mà diễu. Chết như không!”

Nhiều chữ trong câu rao hàng trên đúng là “Danh từ Việt Cộng”. Bây giờ ở Mỹ cũng nhiều người cũng hay dùng “danh từ Việt Cộng” đấy, nào hồ hỡi, nào phấn khởi, nào trăn trở, v.v…

Ở miền Nam, trước 1975, đồng hồ khỏi lên giây như ngày xưa, hơi “quê” một chút thì người ta gọi là đồng hồ tự động. “Tây” hơn, như phần đông dân Saigon thì gọi là đồng hồ “Ô-tô-ma-tít” (automatic). Ai lại gọi “tự  động” là “không người lái” như “chú bộ đội” bao giờ!

Cũng không ai gọi là đồng hồ có một hay hai cửa sổ. Người ta gọi là đồng hồ có lịch (ngày và thứ tự trong tuần). Người ta cũng gọi là đồng hồ có “lu-mi-nơ” (lumineux) để nhìn ban đêm. Ai lại gọi “mười hai ông sao”! Những cách nói như thế, người ta cho là quê, quê lắm! Câu rao hàng như trên là có ý chê cái quê của “chú bộ đội.”

Tới đêm thứ ba, sau 12 giờ một chút thì xe Molotova của bộ đội ầm ì vào sân trường.

Xe có mui vải, che kín. Bên hông mỗi xe có viết hai chữ “Ta Pe” bằng phấn thật lớn. Tôi cứ thắc mắc, họ viết chữ tape, – có nghĩa là băng nhựa – bên hông xe làm gì? Một lúc, tôi mới hiểu ra rằng đó là những xe Molotova tới trường Taberd để đưa chúng tôi đi.

Trời đất quỉ thần ơi!

Chữ “Ta Pe” họ viết bên hông xe có nghĩa là Taberd đấy.

Chữ nghĩa những người có “tinh thần độc lập cao”, bế quan tỏa cảng thời hiện đại, không thèm học tiếng Anh, tiếng Pháp là như vậy đấy!

Lần lượt, đội chúng tôi được đưa lên một xe. Trên xe đã có sẵn một đội rồi. Như vậy, có nghĩa là 60 người một xe, chật như nêm, không nhúc nhích được một chút. Tấm bạt sau được hạ xuống, cột chặt. Cuối hai cái băng hai bên hông xe là hai “chú bộ đội” lăm lăm cây súng AK trong tay, đạn lên nòng, khóa an toàn.

Đã lên xe rồi mà Lâm Văm Xuân, nguyên đại úy Thủy Quân Lục Chiến, hay gọi theo cách “thời đại Việt Cộng” là “Lính thủy đánh bộ”, cứ nằng nặc xin “chú bộ đội” cho anh ta xuống xe đi cầu một chút. Anh ta đau bụng quá. Đi cầu ngay bên lề đường cũng được! Anh ta kêu la quá, ai nấy đều thấy tội nghiệp cho anh.

Khoảng ba giờ sáng, mấy chục xe Molotova chuyển bánh đưa chúng tôi đi. Ngồi trong xe, một ít trên ghế, phần đông trên sàn, kín mít, không thấy gì bên ngoài! Đoán hướng xe, anh em chúng tôi biết, xe chạy ra đường Hai Bà Trưng, qua Phan Thanh Giản, lên Lê Văn Duyệt và đi Tây Ninh…

Khi xe đang trên đường đi Tây Ninh thì trời sáng dần. Bấy giờ thấy rõ hình ảnh chú bộ đội hơn: Người gầy, đen, mặt quê mùa nhưng thật thà kiểu nhà quê, thụng thịnh trong bộ đồ xanh quá khổ. Anh ta làm quen với chúng tôi bằng câu nói:

“Mấy anh là đại úy. Trước tê đi mô cũng đi “mạy” (máy) bay lên thẳng không?”

Chúng tôi cười, không ai trả lời anh, mặc dầu câu nói của anh ta có nhiều cái sai.

Trước hết, anh ta nói tiếng miền quê, Nghệ An hay Hà Tĩnh gì đó, nặng chịch, khó nghe, không quen tai. Đó là thứ tiếng “bác Hồ” đọc cái gọi là “tuyên ngôn độc lập” phát trên đài phát thanh Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Thứ hai, chúng tôi lạ và thấy anh ta quê mùa quá khi gọi “trực thăng” là “mạy (máy) bay lên thẳng”.

Thứ ba, khi còn chiến tranh, cấp đại úy như chúng tôi, làm tới đại đội trưởng hay tiểu đoàn phó, chỉ có một số ít làm tiểu đoàn trưởng. Cấp bậc đó, hành quân với lính thì lội bộ như lính, làm gì có việc ngồi trực thăng bay trên trời mà chỉ huy dưới đất.

Điều chúng tôi ngạc nhiên nữa là tại sao anh ta biết chúng tôi là đại úy. Có lẽ trước khi “công tác”, các “chú bộ đội” đã được giáo dục cả rồi, được cấp trên của họ cho biết chúng tôi phần đông là cấp bậc đại úy và sẵn sàng đề phòng… “bọn phản động.”

Vài anh em từng ở Tây Ninh, đoán rằng Việt Cộng đưa chúng tôi đi Trảng Lớn.

Quả vậy thật.

Trên đường vào Trảng Lớn, qua một cái dốc, bỗng nghe bên ngoài xôn xao. Nhìn qua kẻ hở trên tấm vải bạt xe, chúng tôi thấy có chiếc xe Molotova bị lật bên đường khi đang đổ dốc. Có lẽ “chú bộ đội lái xe” buồn ngủ quá, lạc tay lái. Sau đó, khi vào tới trại mới biết thêm có hai người trong chúng tôi chết vì vụ lật xe đó. Có lẽ hai người ấy là những người bỏ mạng đầu tiên trong quá trình “được chính quyền cách mạng” cho đi “học tập cải tạo” chớ không phải cho đi tù, đi đày như sau nầy ai nấy mới sáng mắt ra!

Đội tôi được đưa vào khu gia binh có mấy dãy trại dài. Gần đó có một cái garage của đơn vị.

Có lẽ khu nầy thuộc quân cụ.

Tới chiều, mỗi đội được gọi đưa người đi lãnh gạo, lãnh chảo nấu cơm, lãnh nồi 50 nấu canh, kho cá, v.v… Những ngày đầu gạo thuộc loại tốt, có lẽ lấy từ các kho gạo ở Chợ Lớn. Một tuần sau thì toàn gạo mốc, loại gạo Việt Cộng cất dấu trong các kho đường Trường Sơn đã lâu ngày, mốc và rất nhiều sâu.

Ngày ngày, anh em chúng tôi chia nhau lượm sâu, lượm mốc cũng đã hết giờ. Gạo lãnh ra mười phần, ăn được chỉ ba bốn, còn thì hư hết. Số lượng gạo lãnh ra thì đủ, nhưng lựa sâu rồi đem nấu thì ít đi, nên bắt đầu đói.

Hơn thế nữa, tiêu chuẩn gạo thông thường 21 kg mỗi tháng, được mấy hôm thì giảm bớt đi, còn lại 15kg, lại loại bớt sâu, nên cơm ăn lại càng thiếu.

Đồ ăn thì ngày ngày là rau muống do bộ đội mua ở Tây Ninh đem vào phát, chấm với… nước muối. Người ta gọi đùa là “Nước mắm đại dương” (2).

Có khi không có rau, được phát cá khô và ba bốn tuần mới được phát cá tươi.

Thiếu rau, ai nấy đều thèm. Vì đây nguyên là khu trại gia binh nên tôi có lần đi dọc hàng rào, tìm rau hoang như rau má, rau trai, rau lang, hái về luộc ăn chung với vài anh em.

Hôm phát cá ngừ, làm ruột, chặt vi, chặt vẫy xong thì đem kho, mỗi người được một mút đũa. Lâm Văn Xuân, lấy ruột đem làm mắm. Ai nấy chê dơ, sẽ bị thúi, không ăn được, nhưng Xuân rất tin tưởng, cứ làm. Ít bữa sau chuyển trại, hủ mắm bỏ lại, không biết có ai tiếc của không!

Đội tôi có một ông nguyên là đại úy tuyên úy Phật giáo, sau đồng hóa thành sĩ quan quân đội, ra khỏi “Nha Tuyên úy”, làm phòng ba cho một tiểu khu nào đó, dưới miền Tây, tôi không nhớ.

Được mấy hôm, ông ta kêu gọi ăn chay, nhiều người tham gia. Đội trưởng, ông Tuyên, đại úy, yêu cầu bộ đội cung cấp chao để anh em ăn chay.

Thế là ngày hôm sau có ngay. Bên hè nhà có đám rau lang do gia đình binh sĩ trồng hồi trước, nay lên xanh um. Vậy là mấy thầy chú hái vào, luộc rau, ăn với chao.

Tưởng vậy là xong, ai ngờ, ông cựu đại đức tuyên úy, bỗng nhiên bỏ cơm đứng dậy, mặt mày hằm hằm, mắng: “Đ.m. đứa nào pha chao chấm với rau như con cặ…”

Ai nấy chưng hững. Gì mà dữ thế! Không ngon thì làm lại. Với lại ăn chay là do cái tâm, đâu cần ngon dở. Một miếng ăn chay mà cũng “nổi gan lên đầu.”

Bỗng Trần Phú Trắc, ngồi phía cửa, la to vào, vừa nói vừa cười: “Trời ơi! Ăn chay mà trẻ cặ…!” Câu nói của Trắc làm ai nấy đều cười.

Những ngày đầu, đi “tù cải tạo” sướng vậy đó!

Muốn gì được nấy.

Được mấy bữa, những người ăn chay đều bị gọi lên văn phòng làm việc. Về tới nơi, anh nào anh nấy mặt mày méo xẹo. Hỏi ra thì họ bị “bộ đội” lên lớp: “Tôn giáo là phản động. Ăn chay cũng là phản động luôn.”

Như vậy, ăn chay là phản động thì chắc “học tập” lâu mới được về. Dẹp, dẹp, dẹp. Dẹp ngay chuyện ăn chay!

Vậy là từ đó về sau, không nghe ai nói tới chuyện ăn chay nữa, mãi đến một năm sau, khi tôi bị đưa về trại Suối Máu, mới thấy chuyện ăn chay ăn mặn chung với nhau giữa ông thầy chùa Nguyễn Đức Ca và ông cha đạo Hoàng Văn Thiên.

Nhưng đó là chuyện sẽ nói sau.

Ai cũng bắt đầu thèm thịt, nhưng làm gì có thịt mà ăn. Căn nhà phía sau lại xảy ra chuyện buồn cười về việc ăn thịt… chuột.

Đầu đuôi như sau:

Ở khu nhà phía sau nhà tôi có hai nhân vật “quái kiệt”. Một là ông Lê Quang Uyển, Thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Ông nầy còn trẻ, học bên Mỹ về. Người ta đồn ngày 29 tháng Tư, theo thông báo của Mỹ, ông đem vợ con lên nóc lầu Ngân Hàng Quốc Gia ở gần bến Chương Dương chờ trực thăng Mỹ đến đón.

Chờ mãi đến tối, không thấy máy bay trực thăng nào đáp xuống cả, ông ta bèn đem vợ con về, rồi “đóng tiền đi ở tù”.

Nghe nói, nếu như kể về bên phía hành chánh, thì ông ta là “ông lớn”: Thống Đốc Ngân Hàng. Nhưng nếu kể về phía quân đội thì ông ta mới trung úy, “dân biệt phái”, (sau nầy nói theo kiểu Việt Công là “diện” biệt phái) nên “trình diện đóng tiền đi ở tù” với đám sĩ quan cấp úy biệt phái, trễ hơn mấy ông tướng tá và mấy ông lớn bên hành chánh 10 ngày.

Người thứ hai là bác sĩ Cảnh, Bác sĩ Giải phẩu Bệnh viện Bình Dân. Ông ta trình diện theo đám “học tập cải tạo 15 ngày” trước, bị rớt lui đi chung với đám cấp úy chúng tôi.

Thèm ăn thịt, hai ông bèn làm một cái lồng bẫy chuột. Lồng đặt ngay nơi ống cống thông từ trong trại ra phía ngoài là đồng vắng, là cái trảng, chỉ có cây lúp xúp.

Ông Uyển thì bẫy chuột, đưa cho ông bác sĩ giải phẩu làm thịt ăn chơi.

Có người chê:

“Mấy ông ăn chuột cống, ghê quá!”

Ông Uyển cải: “Chuột ngoài đồng chui vô sao gọi chuột cống?” Người ta nói:

“Chuột ở trong cống chui ra là chuột cống, sao gọi là chuột đồng?”

Có lẽ mấy ông nầy không biết thế nào là chuột đồng. Chuột đồng đâu có to như chuột cống. Chuột đồng nhỏ hơn, lông hơi vàng. Khi có mùa sạ thì chuột béo lắm vì ăn toàn mầm lúa sạ mà thôi.

Thịt chuột có phong, dù chuột cống hay chuột đồng, đều không nên ăn. Còn như người ta đồn bánh bao Chợ Lớn làm bằng thịt chuột thì ai mà biết để tránh!

Mới vào trại thì cuộc đời cải tạo cũng có nhiều cái… vui.

Nhà nầy nhà kia thông nhau, thiếu vách che. Gần nửa đêm, có anh nhớ vợ nhớ con gì đó, bèn giả làm tiếng trẻ con khóc cho đỡ buồn.

Bỗng có người la to:

“Má nó đâu! Cho con bú sữa đi!”

Vậy là lại có người góp vui, làm tiếng mèo kêu, chó sủa, ngựa hí, v.v… loạn xạ ngầu cả lên, chẳng ai cản, bộ đội ở xa, không lui tới ban đêm.

Họ ngại chăng?

Khi ra đi, ai cũng đem theo ít quần áo, cứ nghĩ rằng 10 ngày, “học” xong thì về.

Khi làm vệ sinh, dọn dẹp doanh trại như bộ đội ra lệnh, nói theo “danh từ Việt Cộng” là “bộ đội yêu cầu”, quần áo lính tráng chế độ cũ vất lại bừa bãi, bèn đào lỗ đem chôn.

Một năm sau, áo quần lần lượt rách, lại tìm đào lên, giặt sạch, đem mặc. Thậm chí, những cái bao đạn M-16, M-79, ba bốn cái gom lại, chắp nối cũng thành một cái quần xà-lỏn, mặc bền lắm. Có người không tìm được quần áo cũ, không kiếm được bao đạn thì lấy bao cát mà may quần xà-lỏn. Vải bao cát thì dày nhưng thưa, khi tắm, “cu cậu” bày ra rõ lắm!

Cũng may, ở đây toàn là đực rựa, ai hơi đâu mà lưu tâm chuyện ấy.

Ba ngày đầu, cũng có một cô nữ quân nhân ở chung.

Mấy người đàn ông dành cho cô nữ quân nhân một chỗ trong góc. Tội nghiệp cho một người đàn bà giữa đám toàn đàn ông.

Được ba ngày, cô nữ quân nhân được chuyển đi, có lẽ về trại nữ. Chưa học bài chính trị nào, chưa “thông suốt đường lối cách mạng”, “chưa tiến bộ”, làm sao được “mãn khóa học” sớm vậy!?

Không hiểu do đâu, tôi thấy có mấy người chuẩn bị dựng cổng chào cho doanh trại.

Họ lấy mấy tấm vỉ sắt của quân đội Mỹ, thứ để dùng làm phi đạo, ghép lại với nhau để dựng cổng chào.

Người chỉ huy toán lo công việc nầy là ông họa sĩ Trịnh Cung, cùng trại với tôi.

Tôi biết ông Trịnh Cung nầy hồi ông ta còn đi học ở Huế.

Trước biến cố Mậu Thân, tôi còn đi dạy, thường gặp ông cuốc bộ từ khu nhà cho thuê của ông Ngô Đình Thục gần cầu Phú Cam, đi về hướng Morin, ngã sau bệnh viện Trung Ương Huế.

Đây là đường Trưng Trắc, đường đi ngang nhà xác.

Khi về làm giám mục địa phận Huế, ông Ngô Đình Thục, cắt một phần đất của “Trại Lê Lai” (Quân Cụ); trước 1945, đây là khu vực “Trường Bá Công” (Kỹ Thuật) Huế, sau làm doanh trại quân đội, để xây nhà cho thuê.

Đất là đất công, cắt đất dựng nhà lầu cho thuê, lấy của công làm của riêng, việc nầy chẳng mấy ai hoan hô; nhưng chẳng ai dám nói, sợ đụng tới gia đình “Cụ Ngô”.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng thuê nhà ở khu nầy.

Hai khu nhà lầu cho thuê nầy khá lớn, người thuê đông lắm. Trịnh Cung thường tới ở lại nhà Trịnh Công Sơn ban đêm.

Tôi thuê nhà ở phía bên kia cầu Phú Cam, cũng ngày hai buổi đi dạy trên con đường nầy.

Trịnh Cung (tên thật là Nguyễn Văn Tiến, nhà ở Cầu Đá, Nha Trang, ra Huế học trường Mỹ Thuật) đi lính trước tôi hai khóa (Khóa 3/68), ra trường, ông ta về ngồi ở Cục Xã Hội, thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.

Cục trưởng Cục Xã Hội là Đại tá Nguyễn Lễ Trí (anh đại úy Ngyễn Lễ Phép, cùng “khóa tù” với tôi ở trại Xuân Lộc).

Khi lãnh nhiệm vụ đoàn thể hóa con em gia đình binh sĩ tham gia “Hướng Đạo Sinh Quân Đội”, theo kế hoạch của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, tôi thường đến Cục Xã Hội để liên lạc công việc. Do đó, tôi mới gặp ông Chuẩn úy Nguyễn Văn Tiến ở đây, cùng với Trung sĩ An Phong Nguyễn Văn Diễn. Ông Diễn là cựu hướng đạo sinh ở Quảng Trị trước 1945, con ông Thông Bỉnh, quê ở Quảng Trị. (3)

Mới ra trường về ngồi ngay Cục Xã Hội, khỏi đi tác chiến thì không phải ai cũng được như thế đâu! Cũng COCC cả đấy! (COCC là tiếng tắt gọi “Con Ông Cháu Cha)

Hai ông nầy, Trịnh Cung và Nguyễn Văn Diễn đang chuẩn bị tổ chức các khóa đào tạo huynh trưởng Hướng Đạo Sinh do Cục Xã Hội đảm trách. Nhiệm vụ tôi thì chọn mấy người trẻ trong binh chủng, ở tất cả các đơn vị đóng khắp 4 vùng chiến thuật, đưa về tham dự các khóa học nầy.

Bây giờ, lại thấy ông Trịnh Cung ở đây, lo dựng cổng chào “cách mạng”.

“Gió thổi, cờ bay… coi lẹ dữ!”

Có một câu chuyện khá buồn cười.

Nói đi học tập 10 ngày, nên chẳng ai chuẩn bị gì cho cuộc sống lâu dài cả. Vì vậy, khi gần một tháng mà chưa thấy dấu hiệu gì được về, anh em chúng tôi bỗng thấy thiếu… dụng cụ. Bấy giờ trong khu garage, còn nhiều loại đai kim loại đóng thùng quân dụng còn sót lại. Loại đai nầy bằng thép, khá cứng, nên anh em chúng tôi lấy ra, cắt từng đoạn rồi mài, dũa, làm mỗi người một con dao xài chơi.

Một người, rồi hai người, rồi rất nhiều người đua nhau làm dao vì loại đai thùng nầy còn lại trong garage nhiều lắm. Tôi cũng làm một cái.

Bỗng một hôm có lệnh tịch thu dao.

Ai có dao, dù mới làm hay đem từ nhà theo, dao lớn, dao nhỏ đều phải đem nộp hết.

Nhiều người ngạc nhiên, làm con dao để cắt rau trái, có gì mà phải tịch thu. Vã lại, cũng có người tiếc công mình. Họ làm những con dao đẹp lắm, cán gỗ khắc chạm khá tinh vi, dự trù “mãn khóa học” đem về nhà làm “kỷ nghệ”.

Trần Phú Trắc nói với tôi: “Anh nghĩ coi. Giả tỉ như mình là bộ đội, mình nghĩ như thế nào khi bỗng nghe báo cáo rất nhiều anh em chúng mình đua nhau làm dao? Bộ đội cũng sợ mình nổi loạn chớ. Phải nhớ cho họ coi mình là địch hay là bạn?”

Câu nói của Trắc làm tôi nhớ câu chuyện anh y tá Được.

Được là y tá bộ đội, có lẽ cấp bực trung sĩ. Tôi nói có lẽ vì hồi ấy bộ đội chưa mang “loon” như sau nầy. Dĩ nhiên, y tá Được được anh em “chiếu cố” đến thăm hoài vì ai lại chẳng nhức đầu, đau bụng. Y tá Được lại dễ dãi, ai khai gì cho thuốc nấy, không khó khăn gì cả. Tôi cũng là bệnh nhân của anh ta.

Buổi chiều, trước khi trời tối hẳn, anh ta thường ra ngoài đường lớn, đi lang thang.

Chúng tôi cũng thường lang thang đi lui đi tới ngoài đường ấy, chuyện trò với nhau chơi. Anh ta gặp chúng tôi, cũng nhiều khi ghé lại nói chuyện. Một hôm, tôi nghe anh ta kể cho mấy người chung quanh:

“Thằng bạn tôi đánh trận… (tôi không nhớ tên trận anh ta kể). Nó bị thương ở ngực. Trời tối quá, tôi sờ thấy máu ở bụng, tưởng là nó bị thương ở bụng liền băng ngay chỗ đó. Sáng ra mới thấy bị thương một nơi mà băng một chỗ. Thế mà máu ở ngực của nó cũng không thấy chảy ra. Nó không việc gì cả. Buồn cười thật!”

Thấy anh ta kể chuyện bên phía anh mà coi như cùng phe ta cả, ai nấy đều thấy buồn cười vì sự chân thật của anh.

Được còn khoe rằng sau khi “thắng giặc Mỹ”, thủ đô Hà Nội sẽ được “Đảng và nhà nước” xây mới ở Vĩnh Phú, to lắm, đẹp lắm, lại có đường xe điện ngầm nối liền giữa “Hà Nội cũ” và “Hà Nội mới”. Được nói rất tin tưởng, nhiệt tình, không nghĩ rằng đó là cái bánh vẽ to, để dụ những người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” như Được.

Một hôm, anh ta nói với tôi:

– “Em sắp đi Saigon!”

Tôi hỏi:

– “Anh cho tôi nhắn về nhà được không?”

– “Được chứ!” Anh ta nói, thành thật.

Bấy giờ, xa nhà gần cả tháng rồi mà bộ đội chưa cho viết thư thăm gia đình hay gởi quà.

Tôi cũng hơi ngại nên nói là nhắn tin về gia đình chớ không nói gởi thư. Được anh ta nhận lời, tôi viết mấy chữ, báo tin cho mẹ, vợ và các anh chị tôi biết để ở nhà đừng lo lắng gì, vậy thôi. Tôi lo xa, không đề tên người gởi, chỉ đề tên người nhận. Tôi nói với Được:

– “Tôi ghi địa chỉ chị tôi cho dễ tìm: 44 Trần Hưng Đạo cách chợ Bến Thành khoảng hơn ba trăm mét thôi. Dễ tìm lắm. Anh nhớ đưa thư cho chị tôi, chị ấy sẽ nhắn mẹ và vợ tôi tới ngay.”

Anh ta đến thật. Cả nhà được tin, mừng lắm.

Mẹ tôi rồi vợ tôi đến, sau khi chị tôi cho các cháu lái xe đi đón. Gia đình gởi cho tôi một số quà lớn, đồ hộp, đồ khô, thuốc cảm cúm, v.v… Chị tôi nói với y tá Được:

– “Chị cám ơn em. Bao giờ về Bắc thăm gia đình, ghé lại chị cho em chiếc xe đạp mới đem về làm quà.”

Mấy anh chị em chúng tôi, trước 1975, có hùn nhau dựng một hãng sản xuất xe đạp ở Bình Thới. Sau 1975, trước khi bị đánh tư sản, hãng xe đạp vẫn còn hoạt động. Do đó, chị tôi mới hứa cho y tá Được chiếc xe. Hồi ấy, bộ đội về Bắc, mang theo chiếc xe đạp, nhất là xe đạp mới là coi như “le lói” lắm.

Khi về lại trại, y tá Được nhắn tôi tới nhận quà, một cách rất tự nhiên, coi như không có chuyện gì đáng quan tâm cả, không sợ cấp chỉ huy gì cả.

Y tá Được còn nói với tôi:

– “Chị ấy bảo em chăm sóc sức khỏe cho anh. Chị ấy sợ anh bệnh.”

Tôi cười, cám ơn.

Hôm sau, tôi lên chỗ y tá Được.

Bấy giờ có hai ông, có lẽ là sĩ quan, mới tới, tỏ ý khó chịu vì sự thân mật giữa y tá Được và anh em chúng tôi, nhất là khi Được mở hộp lương khô, thứ của Trung Cộng, mời chúng tôi ăn.

Hôm sau, y tá Được bị bắt giam. Khoảng hai tuần sau, có thông báo nói ai có gởi tiền cho y tá Được mua thuốc thì lên nhận thuốc.

Tới nơi, tôi thấy y tá Được tóc tai bơ phờ, áo quần xốc xếch, hình như bị giam mới được tha ra.

Khi đưa thuốc cho tôi, y tá Được nói nhỏ: “Trên kỷ luật em vì tội quan hệ với địch.” Nghe câu đó, tôi không vui.

Cộng Sản nói nhiều điều hay, rất ơn nghĩa, nhưng trong thâm tâm, họ vẫn nhìn anh em chúng tôi là địch. Tôi nói lại chuyện ấy với Trắc.

Trắc nói: “Tui cãi lộn với hai “thằng” chú tôi một trận dữ lắm. Chú cháu chưa chịu nhận ra nhau, còn coi nhau là địch, huống gì đám bộ đội nầy.”

Việc tôi thường quan hệ với Trắc đầu đuôi như sau:

Trắc cùng Phạm Quang Chiểu “trình diện” ở Taberd như tôi vậy, và cùng bị đưa lên Trảng Lớn, cùng chung một đội.

Ban đầu, chúng tôi hoàn toàn không biết nhau. Một hôm, ngồi chơi, tình cờ biết Trắc gốc ở Dù, tôi hỏi Trắc có biết “Hùng móm” không. “Hùng móm” là em út tôi, tiểu đoàn 11 Dù, hy sinh khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị năm 1972. Biết tôi là anh của “Hùng móm”, Trắc mừng lắm, nói:

– “Tui với nó thân nhau lắm anh. Hồi tết Mậu Thân, tui tiểu đoàn 5, nó tiểu đoàn 11, cùng về giữ Bộ Tổng Tham Mưu. Trận đó, tui bị thương, đạn phá mất một lóng tay – Anh ta đưa ngón tay trỏ lên cho tôi coi -. Ngón nầy còn hai lóng, anh thấy không? Hùng móm lái xe đưa tôi vô Đỗ Vinh (4) cứu cấp. Ở đó, người ta lấy lóng ngoài, còn móng tay, nối với lóng trong, tôi chỉ bị mất lóng giữa. Nhờ đó, không để ý, không ai biết tôi mất lóng tay. Cũng nhờ Hùng.”

Từ đó, sau nầy có chuyện gì vui, Trắc đưa cao ngón tay bị thương tật, cười nói: “Anh Hải! Hùng nầy! Hùng móm nầy!”

Trắc là con trai độc nhứt của bà Bảy Phận – Nguyễn thị Phận – Chị ruột của tổng thống Thiệu, thứ Tám. Khi còn nhỏ, ông Kiểu, thứ sáu, anh của mẹ Trắc, muốn giúp em gái qua khó khăn, bèn nhận Trắc làm con nuôi, cho ăn học. Vì vậy, theo cách gọi của các con ông Kiểu, Trắc thường gọi ông Thiệu bằng chú, thay vì bằng cậu.

Bố Trắc là ông Trần Phú Đường, theo Việt Minh một thời gian, sau bỏ về với Quốc Gia, không tham gia chính quyền miền Nam.

Khi ông Thiệu làm chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, một hôm ông Thiệu về Tri Thủy thăm làng, trời đổ cơn mưa dông bất thần, ông Thiệu và ông anh rể tình cờ gặp nhau, hai người vào núp mưa trong ngôi trường tiểu học của làng. Chỉ chừng đó mà ông Đường bị Việt Cộng bắt thủ tiêu, không cho đó là cuộc gặp gỡ tình cờ.

Hai người em là Trần Phú Minh 10, và Trần Phú Minh 11, tập kết ra Bắc năm 1954. Sau tháng Tư 1975, hai người nầy về tỉnh Thuận Hải, một người làm giám đốc Công An, một người làm giám đốc Thương Nghiệp. Trắc nói với tôi: “Quyền lực và tiền bạc đều nằm trong tay hai ông nầy. Đời còn chi hơn!”

Sau khi từ miền Bắc về, hai ông nầy có đến thăm bà Bảy Phận, chị dâu của họ. Sau đó thì dứt hẳn, không lui tới gì cả. Liên hệ với “Ngụy gộc”, họ sợ.

Với Trắc thì cuộc gặp gỡ chú cháu thành một trận chiến nảy lửa. Trắc kể: “Hai thằng chú tui thì cứ nói là Mỹ sợ, Mỹ chạy dài, không bao giờ dám ngó lui.” Trắc thì cương quyết: “Mỹ sẽ trở lại, chắc chắn như vậy. Để rồi xem.” Vậy là chú cháu cãi nhau dữ dội, không ai chịu thua ai, bèn từ nhau. Chú không bảo lãnh cho cháu “cải tạo” về sớm. Cháu thì cứ coi như mình không có ông chú nào là Việt Cộng trên đời nầy.

Nghe chuyện, tôi cười, nói với Trắc: “Ông sai! Mà hai ông chú của ông cũng trật lất. Mỹ sẽ trở lại đấy, không phải với M-16 như ông nghĩ mà với samsonite đựng bản đồ xây dựng các nhà máy và với đô-la! Tới lúc đó thì Việt Cộng trải thảm đỏ đón chú Sam. Nên nhớ là chú Sam bao giờ cũng giàu có, áo đuôi tôm, mũ sọc dưa, tiền vàng trong túi rủng rỉnh.” Trắc cười, có lẽ cười đồng ý với tôi.

Khoảng một tuần lễ, bộ đội họp chúng tôi lại trong một gian nhà trống làm hội trường, yêu cầu và hướng dẫn chúng tôi làm bản tự khai: Tự khai báo quá trình học hành và làm việc, tham gia chế độ cũ. Về dòng họ, thì phải khai tới ba đời, bên nội cũng như bên ngoại, tức là khai từ ông bà nội, ông bà ngoại cho tới đời mình, anh em ruột, anh em bà con xa gần và tới đời các con, cháu của mình.

Hồi chế độ cũ, trong hồ sơ, chỉ bắt khai tới cha mẹ mà thôi, bây giờ khai tới ông bà, nhiều người không nhớ tên bà nội, bà ngoại.

Vậy là ba đời khai báo.

Có người nói đùa (nói nhỏ thôi) khai ba đời để “tru di tam tộc”. Người khác nói: “Bọn mình làm gì có ba đời đi ở, bốn đời làm thuê để được khoan hồng”. Khai xong, ai ai cũng hy vọng sẽ được “học” sớm, để được “mãn khóa học” mà về nhà.

Điều đáng nói nhất, trong khi cán bộ hướng dẫn để làm bản tự khai, bọn chúng gọi những người lãnh đạo quốc gia Việt Nam (thời Quốc trưởng Bảo Đại) của hai nền Cộng hòa miền Nam, cũng như các nhà lãnh đạo Mỹ và Thế giới Tự do bằng “thằng”: Thằng Bảo Đại, thằng Diệm, thằng Nhu, thằng Thiệu, thằng Khiêm, thằng đại tướng ngụy Cao Văn Viên, thằng Ních-Xơn, thằng Dơn-Xơn, thằng Mít-Tơ-Răng… Ngược lại, về những người lãnh đạo Thế giới Cộng Sản thì bọn chúng gọi một cách kính cẩn bằng “ông”: Ông Lê-Nin, ông Xít-ta-lin, ông Mác, ông Mao, ông Bre-zờ-nép. Với Khrutchev thì họ gọi trổng là Khơ-rút-xốp, với Castro thì họ gọi là “đồng chí Phi-den Cát-xờ-tơ-rô” và gọi chính quyền, quân đội miền Nam bằng “Ngụy”.

Điều đó nói lên cái gì? Không những đó là sự kiêu hãnh, tự cao cũng như sự luồn cúi, nịnh hót, hèn hạ của họ, nó còn cho chúng ta thấy họ là những người thiếu giáo dục, không xứng với văn hóa của người Việt Nam.

Trước công chúng, người Việt Nam không mấy khi gọi ai bằng thằng và tỏ ý miệt thị kẻ thù đến mức tàn tệ. Việc làm của vua Gia Long đối với anh em nhà Tây Sơn không được dân chúng và lịch sử ca ngợi bao giờ.

Sợ nhà Tây Sơn có thể khôi phục, tranh lại ngai vàng, Gia Long cho đào mồ Nguyễn Huệ, người tài ba nhứt trong ba anh em nhà Tây Sơn, giam vào ngục tối và sai binh lính tiểu tiện vào cái giỏ đựng sọ vua Quang Trung.

Vua Gia Long, cũng như các người viết sử thời ấy được lệnh vua, gọi nhà Tây Sơn là “Ngụy Tây Sơn”. Ngụy là nghịch với chánh, ngụy là giả, là tà, là giặc. Tuy nhiên, so ra, công nghiệp của vua Gia Long với vua Quang Trung, thì người ta thấy rõ ai là ngụy, ai không!

Lịch sử và dân tộc không thể không ca ngợi chiến công vua Quang Trung khi đánh tan hai trăm ngàn quân Thanh xâm lược, bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Lịch sử và dân tộc cũng không thể không lên án Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm La, đem hai mươi ngàn quân Xiêm La sang miền Nam đánh nhau với quân Tây Sơn, cũng như không thể không lên án việc ông ta cầu viện nước Pháp, dựa vào sự giúp đỡ của các tên thực dân mặc áo thầy tu, khơi mào cho ý đồ xâm lăng của người Pháp và chính vì từ đó mà nước ta bị nô lệ một trăm năm.

Sự thực lịch sử đó, ngay cả Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim, được viết khi ông Bảo Đại còn ngồi trên ngai vàng, cũng không thể viết khác đi được! Ngụy hay không ngụy?! Ai mới chính là Ngụy, điều đó lịch sử sẽ chứng minh. Nó giống lịch sử nước Tầu đời Tam Quốc, hay như trong lịch sử nước ta, nay còn có ai gọi nhà Tây Sơn là ngụy như ý đồ của vua Gia Long.

Ngoại trừ Trần Phú Trắc, cháu gọi “tông tông” bằng cậu ruột, tốt nghiệp Trường Bộ binh Thủ Đức, tình nguyện đi Dù, có thể anh được hưởng ít nhiều lòng thương yêu của ông cậu; còn phần đông anh em chúng tôi là những người lính chiến đấu, vào sinh ra tử và cũng có người thương binh loại hai.

Nói như thế là muốn bày tỏ với độc giả rằng chúng tôi không hưởng ơn mưa móc của cá nhân ai cả, của ông Thiệu, ông Khiêm hay Đại tướng Cao Văn Viên…

Tuy nhiên, khi Dziệt Cộng gọi những người đó bằng “thằng”, chúng tôi không khỏi đau lòng, không những riêng cho chúng tôi, cho họ, cho toàn thể người dân miền Nam, và cả cho người Việt Nam nữa. Dù sao, trên một bình diện nào đó, họ cũng là người lãnh đạo chính quyền miền Nam, đại diện cho nhân dân miền Nam, đại diện cho dân tộc Việt Nam. Gọi họ bằng thằng, không chỉ biểu lộ sự vô lễ đối với họ mà còn đối với tất cả những thành phần mà các vị đó từng đại diện như nói ở trên.

Tôi không hiểu “văn hóa mới” gọi người khác chính kiến với mình bằng thằng do đâu mà có? Do từ Lê-nin, Staline, do từ Mao, từ người cháu máu huyết của Hồ Sĩ Tạo hay con nhà quan Đặng Xuân Khu, do từ Thị Nở hay Chí Phèo, do từ giai cấp vô sản ba đời làm thuê, bốn đời ở đợ?

Dù do từ đâu, từ ai đi nữa, họ cùng một thứ như nhau.

Nếu Nguyễn Sinh Cung, Đặng Xuân Khu, cũng có văn hóa “cá mè một lứa” với Chí Phèo, Thị Nở điều đó, không biết đau lòng cho những ai, nhưng trước nhứt là cho những người sinh thành, nuôi nấng và giáo dục họ, như cụ phó bảng Nguyễn Sinh Huy, như quan tuần vũ Đặng Xuân Viện. Nó vượt ra ngoài giới hạn của văn hóa dân tộc cho phép.

Tôi lớn lên ở Huế, nơi có không biết bao nhiêu người phản vua hại nước, làm Việt gian, đại Việt gian. Tức giận lắm, người Huế cũng không gọi những người ấy bằng thằng bao giờ. Quá lắm, họ gọi bằng tên. Tên phản quốc cầu vinh, tên buôn vua bán chúa, tên lừa thầy phản bạn. Những người như Hoàng Phủ Ngọc Tường, như Nguyễn Đắc Xuân, khi còn đi học, đi dạy ở Huế, họ cũng gọi những người xấu (cứ cho rằng xấu) bằng tên nầy, tên kia. Nhưng sau khi vô rừng phục vụ “cách mạng” rồi, trở về Huế sau 1975, họ cũng gọi “thằng Thiệu”, “thằng Kỳ”… Bọn họ đã “giác ngộ cách mạng” rồi, đã hấp thụ “văn hóa mới xã hội chủ nghĩa”, đã trở thành Chí Phèo, Thị Nở thời đại.

Chúng tôi thì không thể. Oán ghét lắm, chúng tôi gọi Hồ Chí Minh nửa thật nửa đùa bằng “anh già Rô”, “anh già râu”, hoặc “già Hồ”,  chẳng mấy khi gọi “tên cáo già” hay tên “Hồ tặc”. Chúng tôi thấy “như thế nào ấy”, không gọi họ bằng “thằng” được.

Điều ngăn cấm vô hình ấy, sự ngại ngùng ấy, chúng tôi học được từ cha mẹ, chú bác cô dì, từ bà con xóm làng Việt Nam. Điều đó, không cho chúng ta thấy văn hóa người Việt là không đáng quí hay sao?!

Dziệt Cộng bao giờ cũng chơi trò ma giáo, phỉnh gạt và người miền Nam thì bao giờ cũng đút đầu vào tròng cho tụi nó phỉnh gạt. Được ít bữa, lại có bình bầu, chọn người “lao động xuất sắc”. Thế là thiên hạ đua nhau tranh thủ sao cho mình được chọn làm “lao động xuất sắc”. Có người gọi đùa là “lao động thất sắc”.

Sau nầy mới rõ thế nào là “lao động thất sắc”.

Thực ra thì đã lao động quái gì đâu. Ban ngày thì chia nhau lượm gạo mốc, tổ nào tới phiên thì lo vo gạo, nấu cơm. Còn thức ăn thì ngày nào cũng như ngày nào: rau muống chấm nước muối. Vậy mà cũng có anh em lo vận động để được bầu.

Đại úy Định, Không quân, nhà ở đường Trương Minh Giảng đến nói chuyện với tôi, hẹn ngày về đến nhà anh uống rượu chơi. Hơn bảy năm sau, tôi mới được tha khỏi trại tù, ly rượu hứa hẹn ngày ấy có lẽ đã bốc hơi hết rồi. Vả tôi cũng không phải là đệ tử của Lưu Linh để cất công đi tìm một chén rượu. Mà chắc gì người ta còn nhớ một lời hứa hẹn bảy năm trước, trước khi có cuộc bình bầu.

Khi còn ở nhà, tôi chẳng bao giờ vô bếp.

Còn nhỏ, vào bếp là bị mấy chị đuổi ra. Mẹ thì mắng: “Con trai vô bếp là xấu, chỉ lo ăn.” Tuy vậy, đi cắm trại, tôi thường nấu cơm cho anh em, cũng không đến nỗi ai nấy phải ăn cơm “tứ tuyệt”. (Tứ tuyệt là một nồi có tới bốn thứ cơm: Cháy, khê, nhão, sống).

Đi cắm trại thường chỉ nấu nồi nhỏ, nồi 10, hay nấu trong soong, khoảng vài chục người ăn. Vào trại cải tạo, lần nầy, nấu cơn trong chảo, khoảng 100 người ăn. Hôm tôi tới phiên nấu cơm, trời mưa, củi ướt không cháy đượm, nên cơm đã cạn mà hột gạo còn y. Kỳ nầy, chắc bị anh em chưởi chết.

Hoảng quá, chạy đi cầu cứu. Có anh bạn đội bên cạnh ra tay “cứu độ”. Anh ấy bảo tôi lấy thêm bao bố tời nhúng ướt đậy chảo cho thật kín. Thế rồi lấy củi chẻ nhỏ, nhóm cháy ở bốn góc chảo, không cho lửa cháy lớn, chỉ vừa vừa thôi. Được một chốc, thấy chảo cơm bốc hơi. Vậy là yên tâm!

Những ngày đầu mới vào trại, cũng có anh em tập chung cho cả đám hát những bài hát được gọi là nhạc “cách mạng” như “Bão Nổi Lên Rồi”, “Tiến Về Saigon.”

Nhiều người thật nhạy bén. Đi trình diện ở tù, họ đem theo các bài hát nầy. Vào trại, họ tự tập hát lấy, rồi tập chung cho anh em, toàn đội. Trước khi họp hằng đêm, mọi người cùng hát, họp xong, lại cả đội cùng hát, trước khi đi ngủ.

Tôi vốn là người ưa hát, thấy mọi người hát, tôi cũng hát theo. Nhưng tới giờ ngủ, đèn tắt, tôi hát thầm cho tôi. Ban đầu thì tôi hát cho tôi, vài người nằm cạnh biểu hát to lên một chút cho họ nghe.

Dĩ nhiên tôi hát “nhạc vàng”.

Bài hát thấm thía nhứt là “Một mai giã từ vũ khí”. Anh Trần Hữu Lễ, nằm bên cạnh, biểu tôi hát cho anh ấy nghe nhiều lần. Có lẽ những câu như “Anh còn lại gì không, ngoài con tim héo em ơi!” làm cho anh ấy xúc động khi nghĩ tới thân phận anh, cũng như thân phận mọi anh em chúng tôi.

Anh Lễ, đã xấp xỉ bốn mươi, mới cưới vợ, trẻ hơn gần hai mươi tuổi. Đại úy Biệt Động Quân Ngô Duyên, cũng nằm bên cạnh tôi, thường hay hát “Thành phố buồn”. Anh ấy, gặp vợ anh lần đầu tiên ở Đà-Lạt.

Vài anh em khác cũng tìm cách giết thì giờ: Làm một bộ cờ tướng hay một bộ mạt chược đánh chơi. /

hoànglonghải

(1)-“Của làm ra để trên gác

        Của cờ bạc để ngoài sân

        của phù vân để ngoài ngõ

                        (tục ngữ)

(2)-Nước mắm đại dương: Nấu khoai mì trong chảo xong, phần bị cháy giữ lại, đổ vào ít nước và muối, thành một thứ nước hơi đen một chút, như màu nước mắm, nên tù cải tạo gọi là “nước mắm đại dương”. Đây là một sản phẩm từ “tính ưu việt của nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

(3)- Ông Nguyễn Bỉnh, thường gọi là ông Thông Bỉnh, có lẽ ông từng làm “thầy Thông”, “thầy Phán” gì đó. Vợ ông họ Phan, cùng họ, cùng quê với mẹ tôi. Trước 1945, ông lỡ tay đánh chết một “con ở gái”, bị giam. Ông nhờ ông cha Tây ở nhà thờ Thạch Hãn, ngay thị xã Quảng Trị xin cho ra khỏi tù, khỏi bị truy tố, nhưng phải chịu phép “rửa tôi”. Năm 1954, ông rời Quảng Trị lên Cao nguyên làm ăn, và đắc cử Dân biểu Quốc hội ở đó, thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Con gái của ông là Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh, sau 1975, định cư ở Canada, nay đã về Việt Nam. Bà nầy học y khoa ở Saigon, đến năm thứ 3 thì bị đuổi học vì không đủ điểm lên lớp. Bà sang học y khoa ở Phnom-Pênh; năm cuối, các giáo sư y khoa bên đó, cho bà sang học ở Paris, nên bà có bằng bác sĩ ở Pháp. Sau khi tốt nghiệp, bà về Saigon. Các bạn đồng môn gọi mỉa bà là “Bác sĩ Kampuchia”. Hình như, – tôi nói hình như -, bà là vợ giáo sư Trần Văn Tấn, Viện trưởng Viện Đại học Saigon trước 1975. Ông nầy cũng ở lại Saigon sau tháng Tư/ 75. Em bà là trung sĩ Nguyễn Văn Diễn, tôi đã nói ở trên.

(4)-Đỗ Vinh, Quân Y Viện của binh chủng Nhảy Dù, trong khuôn viên trại Hoàng Hoa Thám, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù.

Vết xước đầu đời

vietmessenger.com

Trần Doãn Nho

Tập truyện Trần Doãn Nho

Bìa và phụ bản của họa sĩ Đinh Cường

Post by Sơn râu 12 Sep 2025

12. Good stuff

Khác với lệ thường, hôm nay Túc đến lớp sớm. Ngoài sách, báo tiếng Việt, một ít tranh ảnh về Hà Nội, Huế, Sài Gòn, cuốn “Chiến Tranh Việt Nam” bằng hình ảnh, anh còn mang theo một bản đồ Việt Nam, loại treo tường. Tấm bản đồ này anh nhờ người bạn dạy học mượn từ thư viện một trường high school. Donna Aube, cô giáo dạy lớp Anh văn cao cấp dành cho sinh viên nước ngoài, cũng đến sớm. Cô muốn giúp anh chuẩn bị chu đáo cho buổi thuyết trình về Việt Nam trong lớp do cô phụ trách. Cô chữa lại cho anh một số từ ngữ, và cách diễn đạt, đồng thời gợi ra một số câu hỏi mà có thể anh sẽ được bạn đồng lớp hỏi sau bài thuyết trình. Thực ra, cũng chẳng có gì quan trọng, vì đây là lớp học tiếng Anh, chứ không phải là lớp Sử. Cô Donna muốn học trò trình bày được suông sẻ, dễ hiểu trước sinh viên của đủ thứ quốc tịch, vì không thiếu lúc, do vấn đề phát âm, sinh viên không hiểu câu hỏi và câu trả lời của nhau. Thế mà, khi lên đứng trên bục, anh vẫn cảm thấy lúng túng. Nhìn tấm bản đồ Việt Nam khá lớn, choáng gần nửa cái bảng, tự dưng anh cảm động. Anh muốn nói thật nhiều về đất nước Việt Nam. Anh muốn truyền đạt những dằn vặt, ray rứt cũng như những hy vọng, mơ ước của anh về tương lai của đất nước trước cái thế giới nhỏ bé này. Anh nói về các triều đại, về các cuộc kháng chiến chống xâm lăng và về cuộc chiến tranh Việt Nam vừa rồi. Đồng thời anh cũng trình bày tại sao anh đã bỏ nước ra đi và những tệ hại của chế độ cộng sản mà anh đã từng sống qua.

Sau khi anh thuyết trình xong, nhiều câu hỏi được đặt ra. Một sinh viên Morocco phát biểu:

– Thú thật, đây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến nước Việt Nam.

Anh hỏi:

– Bạn bao nhiêu tuổi?

-18.

– Lúc bạn sinh ra, chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt rồi.

Một sinh viên Nam Hàn:

– Hóa ra Việt Nam cũng bị chia đôi như nước chúng tôi. Nhưng bạn hạnh phúc hơn tôi vì quê hương bạn đã được thống nhất.

– Nhưng … thống nhất dưới chế độ cộng sản còn tệ hơn là được chia đôi!

– Tôi không hiểu bạn nói gì? Chẳng lẽ bạn không muốn quê hương bạn thống nhất?

Một sinh viên Nhật:

– Tôi không hiểu tại sao nhân dân của bạn lại cứ ưa đánh nhau vậy. Đất nước đã nghèo mà cứ lo đánh nhau thì chỉ có mà nghèo thêm.

– Nhưng giờ hết chiến tranh rồi.

– Tôi thấy nước bạn vẫn còn đánh nhau …

– Bạn hiểu lầm rồi.

– Ô, không còn đánh nhau bằng súng đạn mà bằng kiểu khác.

– Nhật cũng có nhiều phe phái …

– Chúng tôi cãi nhau, nhưng đất nước thì chúng tôi cứ xây dựng.

Một cô sinh viên Đài Loan:

– Theo tôi biết, Việt Nam vốn là một phần của Trung Hoa.

– Người Trung Hoa muốn vậy, nhưng chúng tôi muốn độc lập. Dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, nhưng có một lịch sử hoàn toàn khác.

– Cha tôi hiện có một nhà máy ở Sài Gòn.

Một sinh viên lớn tuổi người Albania:

– Việt Nam trước đây là bạn thân của Albania. Tôi thông cảm với bạn, vì tôi cũng như bạn, đều là nạn nhân của chế độ cộng sản. Cộng sản ở đâu cũng giống nhau …

Túc đưa một xấp ảnh vẽ các đền đài, lăng tẩm của Việt Nam để sinh viên chuyền nhau xem. Xong, anh định phát biểu đôi lời để chấm dứt phần thuyết trình, thì một sinh viên Âu châu trạc tuổi anh đứng lên:

– Tôi muốn biết lá cờ Việt Nam …

Anh cám ơn anh sinh viên vì đã nhắc anh nhớ đến lá cờ. Anh lấy từ trong xách lá cờ vàng ba sọc đỏ bằng giấy và đưa cho cả lớp xem. Người sinh viên nói bằng một thứ tiếng Anh rất khó nghe. Anh phải cố gắng lắm mới hiểu ý anh ta nói:

– Tôi đến từ Tây Ban Nha. Tôi học Sử. Tôi có hiểu biết đôi chút về Việt Nam. Tôi hoàn toàn không đồng ý đây là lá cờ của Việt Nam. Lá cờ Việt Nam bây giờ là … như thế này …

Anh sinh viên bước lên bảng, dùng phấn vẽ nguệch ngoạc một hình vẽ chữ nhật và ngôi sao ở giữa:

– Nếu tôi nhớ không lầm thì nó như thế này.

Túc cướp lời:

– Đó là lá cờ của cộng sản.

– Tôi không cần biết cộng sản hay không cộng sản. Tôi chỉ biết hiện nay có một nước Việt Nam và một lá cờ Việt Nam.

– Người cộng sản đã cưỡng chiếm nước tôi.

– Chiến thắng nào cũng là cưỡng chiếm hết.

– Bạn không sống với cộng sản, nên bạn không rõ. Cộng sản cũng như một đạo quân xâm lăng. Họ dùng quỷ kế để cướp chính quyền và cư xử với nhân dân còn tệ hơn một kẻ xâm lăng.

– Tôi không quan tâm đến điều đó. Tôi học Sử. Tôi quan tâm đến những gì có thực.

– Cộng sản đi ngược lại lịch sử. Họ sẽ sụp đổ. Lá cờ này sẽ là lá cờ của Việt Nam trong tương lai.

– Đó là chuyện của tương lai. Trước mắt, đó chỉ là lá cờ của bạn …

Anh lúng túng. Anh không muốn đi sâu hơn vào những tranh cãi chính trị. Điều giản dị là anh chỉ muốn giới thiệu một số nét về Việt Nam. Vả lại, đây là một lớp học Anh văn. Anh tự cảm thấy anh cũng không đủ những thuật ngữ chính trị cần thiết để diễn tả những ý kiến của mình. Trong lúc anh đang tìm một câu thích hợp để cho vấn đề trôi qua và chấm dứt phần thuyết trình, thì cô Donna lên tiếng:

– Cám ơn Túc, cám ơn Ricardo. Hai bạn đã cống hiến cho lớp học một  không khí sinh động để học Anh ngữ. Tôi không quan tâm đến chính trị. Nhưng tôi biết chắc chắn rằng  vì vấn đề chính trị mà có một cộng đồng Việt Nam ở đất Mỹnày. Tôi kể cho các bạn nghe một câu chuyện ngắn: Ba năm trước đây, nhân nghỉ hè, tôi về chơi ở nhà một người bạn ở Atlanta, bang Georgia. Chắc các bạn biết rõ Atlanta. Đó là một địa danh nổi tiếng thời nội chiến Mỹ và được diễn tả khá kỹ trong “Gone with the Wind”, của Mitchell. Tôi được mời tham dự một party được tổ chức nhân kỷ niệm ngày ông tổ của giòng họ cô bạn đến định cư ở Mỹ vào đầu thế kỷ trước. Trong số những di vật truyền lại qua nhiều thế hệ, có một lá cờ của quân đội ly khai miền Nam thời nội chiến. Cô cho tiết tổ tiên cô chiến đấu trong phe Confederate, tức là phe ly khai. Giòng họ cô vẫn xem lá cờ như một thành tích, một vinh dự, dù phe ly khai đã thất bại. Trở lại trường hợp Túc. Tôi nghĩ rằng Túc có quyền xem lá cờ của Túc là lá cờ chính thức của Việt Nam. Đó là nỗi niềm, một ước mơ, một hy vọng. Theo tôi, đó là một kỷ niệm quý báu, cho dù đó không phải là kỷ niệm đẹp chăng nữa. Kỷ niệm, như Feinstein Forman nói, là một Good Stuff. Kỷ niệm, rút cuộc, nuôi dưỡng phần còn lại của cuộc đời …

*

Cô Donna, dáng người nhỏ nhắn so với bất kỳ người Mỹ trung bình nào. Nếu không có mái tóc vàng và cái mũi cao, thì trông cô giống một người Á châu. Cô gốc Irish, nhưng có pha một ít giòng máu Ý vì bà nội cô là người Ý. Túc đoán chừng cô bốn mươi lăm. Thực ra, cô mới có bốn mươi mốt, theo như cô cho biết. Rõ là già trước tuổi. Những nếp nhăn sâu ở quanh đôi mắt, hai bên khóe miệng. Khuôn mặt cô vốn nhỏ nhắn, lại càng nhỏ hơn với chiếc cằm nhọn. Đã thế, cô lại thích mặc áo rộng. Ít khi nào cô mặc một cái áo sơ mi vừa cỡ. Thường thì cái nào cũng rộng thùng thình. Một hôm, trong ngày Spree Day của trường, cô Donna kéo Túc ra ngoài. Hai người đi trên sân cỏ, vừa đi vừa nhai sandwich, uống cô ca. Cô hỏi:

– Anh có đi lính không? Trông anh còn trẻ quá mà.

– Không. Hồi chiến tranh, tôi còn nhỏ.

– Vậy anh biết gì về chế độ miền Nam Việt Nam?

– Ba tôi là sĩ quan. Ông chết trong nhà tù.

Cô Donna chép miệng:

– Thế à! Thật không may cho anh. Anh sang Mỹ như thế nào? Boatpeople hả?

– Không. Vì ba tôi chết ở trong tù, nên gia đình tôi được chính phủ Mỹ cho đi y như những gia đình cựu tù nhân chính trị khác.

– À ra thế!

Cô Donna im lặng một lát rồi nói:

– Anh còn nhớ Ricardo? Anh chàng sinh viên Tây Ban Nha ấy mà? Anh ta hoạt động cho Đảng Xã Hội Tây Ban Nha đấy.

– Vậy sao? Anh ta là chính trị gia?

– Vâng. Anh ta đến Mỹ để học, nhưng không ưa chính sách Mỹ.

Anh gật gật đầu tỏ ý hiểu, nhưng không quan tâm đến chuyện này lắm. Anh lơ đãng nhìn từng đám sinh viên nam nữ hát hò, nhảy múa, la hét khắp sân trường. Da đen, da trắng, da nâu, mũi cao, mũi tẹt … Dưới gốc cây đàng kia, một cặp đeo riết lấy nhau, hôn nhau say đắm. Một thế giới lạ hoắc đối với anh. Thời còn cắp sách đến trường, anh đâu có được cái hồn nhiên như thế này. Tuổi trẻ anh không vui, vì vừa lớn lên thì ba anh đi ở tù, rồi ba mất. Gia đình anh trải qua những ngày tháng gian truân nhất trong cuộc sống. Bây giờ đến xứ sở này, cắp sách đi học lại thì hầu như tuổi trẻ đã sắp qua. Anh bùi ngùi nói:

– Tôi hầu như không có tuổi trẻ.

– Anh muốn nói …

– Hồi tôi đi học, nhà nước cộng sản chưa đổi mới. Những người như tôi bị phân biệt đối xử. Hồi cô còn đi học như thế này, hẳn là vui lắm. Như đám sinh viên kia.

Giọng cô Donna nghe như trầm xuống:

– Tuổi trẻ tôi cũng không được vui như anh nghĩ.

Anh ngạc nhiên:

– Vậy sao? Đất nước này đâu có chiến tranh, đâu có hận thù.

Cô Donna nhìn anh:

– Anh quên rằng, nước Mỹ cũng chịu đựng cuộc chiến tranh không thua gì nước anh …

Chàng ngớ ra:

– Ồ, tôi quên điều đó.

– Không sao. Có nhiều điều trong cuộc sống ta nên quên đi để khỏi vướng bận …

Ngừng một lát, cô tiếp:

– Thế mà, vẫn có vô số điều không thể quên được. Nếu quên, đôi khi cuộc sống trở thành vô nghĩa, dù những điều ta muốn nhớ chỉ làm ta thêm bối rối. Anh ngạc nhiên nhìn cô Donna và cố hiểu hết những điều cô muốn nói qua

cách diễn tả có phần rắc rối. Chừng như hiểu được ý anh, cô nói gọn lại:

– Nói vắn tắt, có những điều ta phải nhớ. Đó có thể chỉ là những gì lỉnh kỉnh, đôi khi hoàn toàn vô nghĩa, nhưng gói ghém dường như toàn bộ cuộc đời. Anh đồng ý chứ?

Anh gật đầu, nhìn cô giáo Mỹ và có cảm giác cô đang nói những gì mà anh nghĩ trong đầu. Anh có vô vàn điều để nhớ, nhất là vì cuộc đời anh như hai đoạn đời tách bạch hẳn nhau. Còn cô giáo người Mỹ này có gì mà lại phải băn khoăn về những gì đáng nhớ và những gì đáng quên. Làm người Mỹ thì phải hạnh phúc chứ! Anh nói ra ý nghĩ của mình:

– Làm người Mỹ tự nó đã là hạnh phúc.

– Tôi không nghĩ thế.

Túc mong cô Donna nói tiếp một đôi điều, nhưng cô im lặng. Ngang qua thùng rác, cô ném mẩu sandwich thừa và lon cô ca, rồi nói:

– Tôi bận, phải đi bây giờ.

Cô mở cái xách nãy giờ vẫn đeo lủng lẳng trên vai, rút một tấm cạc đưa cho anh:

– Đây là địa chỉ nhà tôi. Tôi thích được tiếp anh tại nhà tôi sau semester này. Anh có bận không?

Anh vui vẻ nhận lời:

– Tôi học tiếp khóa hè, nhưng không bận lắm. Tôi rất thích đến thăm cô tại nhà.

– Vậy nhé. Ngày giờ chúng ta định sau. Có gì chúng ta sẽ thảo luận ở party cuối khóa học nhé.

Cô Donna chào anh, bước vội đi. Cái dáng nhỏ nhắn của cô lẩn trong đám sinh viên đang cười đùa, la hét ầm ĩ.

*

Sau khi điện thoại để check lại cái hẹn lần cuối, Túc lái xe ra đi. Cô Donna ở một town khác với town của anh, cách nơi anh ở khá xa. Anh phải ra highway, chạy mấy chục miles rồi mới rẽ vào exit. Con đường bây giờ lặng lẽ đi xuyên qua các cánh rừng nhỏ, vòng vèo dưới chân mấy ngọn đồi. Hình như có tiếng ve kêu trong một lùm cây nào đó. Anh không xác định được vì tiếng gió rít qua cửa gương hòa cùng vô số âm thanh khác từ trong rừng vọng lại. Nếu quả có một con ve nào lạc về đây thì cũng lạ!

Nhà dễ kiếm. Cái single house nhỏ nhắn màu lam nhạt nằm ngay dưới con dốc nhỏ. Phía trước là một cái farm rộng. Bên cạnh nhà là một khoảng rừng với một tấm bảng lớn dựng ở mé đường: “Theo Properties”. Anh vừa dừng xe thì cô Donna đã chạy ra, cười:

– Chào mừng. Anh có thể đậu xe ngay tấm bảng đó.

Anh đùa:

– Người ta lại tưởng là “tài sản của Theo” mất. Còn nhà cô thì sao? Có thuộc “Theo” không?

– Ông nội tôi đã trả hết tiền rồi.

Cô Donna hôm nay trông trẻ trung hơn mọi lần ở lớp. Cô mặc quần jean bó sát, áo T-shirt ngắn tay, cổ hở. Một sợi dây chuyền dài có tấm “lắc” tròn đung đưa ngang bụng. Tóc bới cao. Cô đưa Túc đến một căn phòng ở phía sau. Căn phòng trông ra một con đường nhỏ dẫn đến ngọn đồi phía bên kia. Cô đưa tay chỉ căn phòng nhỏ và một khoảng vườn, nói:

– Đây là tất cả những gì tôi có.

Túc đứng tần ngần ở cửa, nhìn quanh. Toàn là chậu hoa. Cái treo lủng lẳng. Cái kê trên đá, trên bục gỗ. Cái trồng dọc theo lối đi.

Anh nói:

– Vườn của cô toàn là hoa.

– Không phải đâu. Chỉ có một ít là hoa, nhưng tôi không chăm sóc, nên cũng như không. Còn thì là cây và lá. Tôi thích lá.

Lúc đầu, anh tưởng là hết mùa hoa nên chẳng thấy có bông hoa nào. Đúng là chỉ có lá. Lá leo, lá bò, lá quấn quít, lá rũ …

Cô Donna lên tiếng:

– Mời vào.

Cô đẩy nhẹ cánh cửa, nhường lối cho Túc vào. Căn phòng nhỏ nhắn. Mọi vật trong phòng cũng nhỏ nhắn. Cái TV, computer, cái bàn, tủ sách … dường như chủ nhân muốn tất cả đều phải được thu vén, tém tủm đến mức tối đa. Anh nhìn quanh, cố tìm khuôn ảnh người mà anh muốn được biết

đến đầu tiên: chồng và con của cô Donna. Nhưng chẳng có. Hai chiếc ảnh lồng kính để ở bàn đọc sách lại là của hai ông bà già. Chắc là bố và mẹ của cô Donna.

Cô Donna lấy một chiếc bàn xếp để ở góc phòng, kéo ra đặt ở chính giữa phòng. Hai chiếc ghế có sẵn.

– Mời Túc ngồi.

Anh đáp vâng, nhưng vẫn bước quanh. Đến tủ sách, anh tò mò nhìn các tựa sách. Ngoài một số sách dạy học, hầu hết số còn lại là truyện. Anh ngạc nhiên khi thấy có mấy cuốn sách nói về Việt Nam: một cuốn hồi ký chiến tranh, một cuốn phóng sự bằng hình ảnh và một cuốn có tựa đề

“Understanding Vietnam”. Anh cầm lên xem. Cô Donna lên tiếng:

– Đó là cuốn sách mới nhất về Việt Nam. Túc đọc chưa?

– Thú thật là tôi không có thì giờ để đọc sách. Tôi cần trau dồi Anh văn cho khá trước khi nói đến việc đọc sách. Cô cũng quan tâm đến Việt Nam?

– Vâng, đôi chút. Túc dùng trà, cà phê hay nước ngọt?

– Xin cô cho cốc cà phê.

Anh để cuốn sách vào kệ, đến ngồi ở bàn. Cô Donna loay hoay chế cà phê. Cô nói:

– Anh có diet không?

– Không. Người Việt Nam đang cần mập mà.

– Ờ, có bài báo cho rằng muốn khỏi mập, không cần diet gì hết. Chỉ cần ăn uống theo kiểu Việt Nam.

– Cô có bao giờ dùng món ăn Việt Nam chưa?

– Thỉnh thoảng. Như hôm nay chẳng hạn.

Đẩy cốc cà phê còn bốc khói sang cho Túc, cô Donna đến oven. Cô trở lại bàn với hai chiếc dĩa giấy và một hộp giấy đựng thức ăn. Cô cười:

-Tôi đãi anh một món đặc biệt. Món “tra ro”.

Túc thắc mắc:

– “Tra ro”. Tôi không biết món này.

Cô Donna mở hộp giấy, lấy thức ăn ra sắp vào đĩa, Túc nhìn món ăn, chợt bật cười:

– Chả giò. Cô nói “tra ro, tra ro”, tôi không hiểu. Cô thích món ăn này?

– Đây là món ăn Việt Nam mà tôi thích nhất.

– Cô làm?

– Anh đùa đấy sao? Món ăn Mỹ tôi còn chưa biết làm, tôi làm sao làm được món ăn Việt Nam! Tôi đặt ở một tiệm ăn Việt Nam dưới downtown đấy.

– Thế à!

Anh chợt cảm động vì anh lại được mời một món ăn Việt Nam tại một gia đình “rất Mỹ” này. Cô Donna mời, giọng ân cần:

– Ăn đi Túc. Tôi không định mời anh ăn tối đâu. Vừa ăn “tra ro” Việt Nam vừa uống cà phê Mỹ. À phải thêm một tí sauce nữa mới thú. Đây … anh phải quệt thêm một ít mayonaise. Thế nào? OK!

– Tuyệt!

Ăn đồ chiên nặng bụng, anh không mấy thích. Nhưng để chìu lòng cô giáo, anh ăn một cách hăm hở. Cô Donna nhai từng miếng chả giò một cách ngon lành. Anh hỏi:

– Người Mỹ cũng thích món ăn Á Đông?

– Có lẽ thế. Món ăn Á Đông, nhất là món ăn Trung Hoa, kích thích được cả thính giác, thị giác, vị giác. Món ăn Mỹ chỉ chú trọng đến diet và ca-lo-ri … Người Mỹ cẩn thận quá, mà rốt cuộc, người mập cũng nhiều mà người chết cũng nhiều.

Túc cười:

– Thế mà cả thế giới đều muốn bắt chước Mỹ.

– Tôi không nghĩ như thế. Người Mỹ vô cùng lầm lẫn …

Cô Donna không nói tiếp, đứng dậy đi vào phòng trong. Cô mang ra một cái va li nhỏ. Cô nói:

– Good stuff của tôi.

– Good stuff?

– Hình như tôi đã có lần nói về good stuff trong lớp. Tôi thích dùng chữ đó, khi đề cập đến những kỷ niệm quí giá trong một đời người. Riêng với tôi, cái này phải nói “no good stuff” mới đúng. Trong này chứa đựng những kỷ niệm. Tôi sẽ nhường cho anh một trong những kỷ niệm đó.

Cô Donna mở va li và lần lượt sắp trên bàn đủ thứ đồ vật lỉnh kỉnh: ảnh, những mẩu báo, huy hiệu quân đội, mũ lưỡi trai, cây bút, lá cờ, áo … Cô Donna nói:

– Hầu hết các thứ này đều từ Việt Nam gửi về. Hai chục năm hơn rồi đấy. À, đây là vật tôi muốn tặng anh. Cô Donna lôi ra một lá cờ xếp gọn, trăng ra. Anh reo lớn:

– Cờ Việt Nam!

Cô đưa cho anh. Anh cầm lấy, trải lên trên bàn. Đây là một lá cờ vàng ba sọc đỏ bằng vải. Lá cờ nhỏ, cũ kỹ, ố, sờn, có nhiều vết lủng. Một vài chỗ, màu đỏ nhòe đi. Cô nói: – Thắng bại là vấn đề của lịch sử. Đối với mỗi cá

nhân, kỷ niệm là điều đáng ghi nhớ. Tôi tin là anh thích nó.

– Vâng. Ba tôi đã chiến đấu dưới lá cờ này.

Cô tiếp tục lôi ra thêm mấy lá cờ nữa: cờ Mỹ, cờ Mặt Trận Giải Phóng, cờ đỏ sao vàng. Cô chỉ vào lá cờ đỏ sao vàng:

– Chỉ có lá cờ này tôi mới mua sau này ở Mỹ nhân một buổi tiệc gây quỹ cho Hội Cựu Chiến Binh Mỹ ở Việt Nam. Còn ba lá kia là từ chiến trường. Anh xem … lá nào cũng có vết đạn. À, cái này tôi cũng mới mua sau này.

Cô Donna đưa cho anh tấm huy hiệu bằng bàn tay. Anh xem và hỏi:

+ POW, MIA là gì?

– Anh không biết à? Đây là huy hiệu của Hội Cựu Tù Nhân Chiến Tranh và gia đình những người Mỹ có than nhân bị mất tích trong chiến tranh Việt Nam.

Túc nhìn cô Donna:

– Vậy cô có thân nhân đi đánh nhau ở Việt Nam?

Cô Donna không trả lời. Cô lấy ra một chồng thư:

– Đây là thư anh ấy viết.

— “Anh ấy” là ai?

– Boyfriend của tôi.

-Ồ!

Anh chợt hiểu. Anh im lặng nhìn cô Donna. Cô đưa cho anh một lá thư:

– Đây là lá thư cuối cùng của Jerry.

Anh cầm lá thư. Chữ chi chít, rất khó đọc. Thỉnh thoảng có vài địa danh bằng tiếng Việt. Anh để ý một đoạn “Đi trong rừng, anh vừa sợ Việt cộng, vừa sợ “con vat”. “Con vat” là gì vậy hở cưng? Ở nước Mỹ chúng mình làm gì có “con vat”. Trời đất ơi, cả bầy nó phóng vào cổ anh, tai anh, chân anh mà hút máu … “

Anh buột miệng:

– Con vắt.

– Cái gì?

Cô Donna vừa hỏi anh lại vừa tiếp tục soạn ra những kỷ niệm của cô. Cô đưa cho anh một vật khác.

– Ao dai.

– Ồ, chiếc áo dài.

Một chiếc áo dài Việt Nam màu tím nhạt, cổ cao, có hàng nút bóp. Anh trăn qua, trở lại chiếc áo để nhìn, rồi đặt xuống bàn, lấy một xấp ảnh lên xem. Toàn ảnh lính. Anh chàng Jerry của cô Donna cao, to. Khuôn mặt tròn trịa đeo cặp kính cận. Một vài chiếc ảnh chụp chung với lính Việt Nam. Anh chợt bồi hồi, nhớ đến mẹ. Mẹ anh cũng thường soạn ra một số di vật hiếm hoi của ba anh mà bà còn giữ được: cái huy chương, một vài giấy tờ cũ và dăm ba chiếc ảnh của ba trong bộ đồ trận. Kỷ niệm nào cũng quí giá như nhau. Anh nghĩ.

Cô Donna nói:

– Anh thấy mệt với những kỷ niệm của tôi chưa?

Anh cười:

– Tôi muốn biết nhiều hơn về boyfriend của cô.

– Ồ, đơn giản thôi. Anh ấy học cùng lớp với tôi ở college. Đang học, anh bị gọi đi lính. Chúng tôi trù liệu sẽ làm đám cưới sau khi anh ấy mãn hạn phục vụ ở Việt Nam. Nhưng … mọi chuyện không thành. Anh ấy mất tích trong

một trận đánh. It’s God’s plan, who knows!

Cô nhún vai, lắc đầu buồn bã. Anh hỏi:

– Mất tích?

– Mất tích hay chết cũng giống nhau. Tôi nói mất tích vì cho đến giờ gia đình anh ấy cũng không có xác anh ấy. Ồ, đất nước Việt Nam mênh mông …

– Rồi sau đó …

Túc định nói tiếp là sau đó cô lấy chồng chứ gì. Nhưng anh thấy không hay, nên bỏ lửng câu nói. Cô Donna lại tiếp:

– Sau đó … Ô, sau đó, tôi vẫn đi học, ra trường, đi dạy và ở đây. Điều mong mỏi của tôi là gia đình anh ấy sẽ có được xác anh ấy, một ngày nào đó. Riêng tôi …

– Thật không may cho cô!

– Anh cũng thế. Ba anh chết trong tù. Riêng tôi … À, tôi rất thích một câu chuyện cổ tích của Việt Nam. Một người vợ bồng con chờ chồng đi chinh chiến về. Chờ lâu quá nên hóa đá cả hai mẹ con.

– Hòn Vọng Phu.

– Uh huh! Hon Vong Phu. Có phải bà ta hóa đá vì quá tuyệt vọng không?

– Toi cho la nhu vay.

– Không phải. Tôi nghĩ là bà ta cũng có hạnh phúc. Đợi chờ cũng là một thứ hạnh phúc, Túc không nghĩ vậy à?

Thực tế là anh chẳng hề nghĩ đến điều đó. Anh nhớ đến những buồn rầu, khắc khoải của gia đình anh trong thời gian ba anh đi cải tạo. Anh nhìn cô Donna, lắc đầu:

– Hồi ba tôi đi ở tù, tôi buồn lắm.

– Có lẽ thế. Nhưng mà … À, tôi chỉ nói đến tôi. Theo tôi, hạnh phúc chẳng bao giờ có thực. Nó chỉ là một trạng thái bất chợt của tâm hồn thôi?

Cô Donna chống hai tay lên cằm, giọng chợt trầm xuống:

– Túc biết không, tôi mong, tôi mong … Jerry sẽ trở về. Và tôi sẽ được dự đám tang của anh ấy. Tôi sẽ mua một bó hoa đẹp nhất để đặt lên mộ … Rồi sau đó, sau đó là gì nhỉ?

À, mà thôi ..

Cô nhìn Túc:

– Túc cất lá cờ đi. Tất nhiên là muốn làm bao nhiêu lá cờ mà chẳng có. Nhưng lá cờ này khó kiếm lắm. Nó là lá cờ thực. Nó từ đất nước của anh gửi qua. Nó có mùi thuốc súng, mùi máu. Tôi cũng giữ mấy lá cờ. Điều quan trọng là kỷ niệm. Ăn tiếp đi.

Cô Donna dồn các thứ ra một bên bàn, đẩy dĩa chả giò vào gần Túc. Anh cầm một miếng nữa, cắn ăn.

– Chắc cà phê nguội rồi. Để tôi hâm lại nhé.

Cô Donna đi đến bếp, rồi trở lại với bình cà phê nóng. Cô chế vào ly anh. Anh vừa nhấm nháp cà phê vừa nhìn lại căn phòng. Bây giờ, anh mới nhận thấy căn phòng không có hoa, hoa giả cũng như hoa thật, như hầu hết căn phòng của người Mỹ. Ở bàn viết, ngoài bức ảnh của hai ông bà già, còn có một bức tranh lồng kính cỡ vừa. Tranh vẽ một đôi tình nhân, chàng tỏ tình, nàng e ấp. Anh hỏi:

– Tranh của ai vậy cô?

– The Lovers của Picasso. Anh biết Picasso chứ?

– Ờ … ờ … vâng, tôi biết.

Thực ra, anh chỉ nhớ mang máng anh có đọc cái tên này đâu đó hồi còn ở Việt Nam.

– Còn hai ông bà …

– Ông cụ bà cụ tôi. Hai ông bà hiện vẫn ở với tôi.

Cô Donna uống cạn cốc cà phê, đẩy sang một bên, rồi bắt đầu xếp lại các thứ lỉnh kỉnh vào trong va li.

Anh đứng dậy, xếp phụ cô Donna. Cô xua tay:

– Tôi làm được mà. Anh cứ tự nhiên.

Anh xếp lá cờ lại, bỏ vào túi quần. Cô Donna hỏi:

– Anh bận?

– Vâng, tôi có cái hẹn lúc sáu giờ.

– Anh cứ tự nhiên, tôi thì weekend là ở nhà, ít khi đi đâu.

– Xin cảm ơn cô đã cho tôi một cuộc gặp gỡ vô cùng thú vị. Tôi rất sung sướng được có một món quà đặc biệt.

Cô Donna tiễn anh ra cổng. Anh dừng lại, bắt tay cô:

– Cầu chúc cô đạt được mong ước. Jerry sẽ về.

Cô cười:

– Cám ơn. Mọi việc tùy thuộc vào chính phủ. Người Mỹ chúng tôi vẫn thường tin vào những gì chính phủ hứa. Như ngày xưa. Hồi tiễn Jerry lên đường, tôi được nghe nói Jerry sẽ trở về sau hai năm. Tôi được nghe nói chiến tranh là cần thiết. Nhiều bạn bè tôi đi biểu tình chống chiến tranh.

Tôi không tham gia. Tôi không quan tâm đến chính trị. Tôi chỉ quan tâm đến Jerry. Tôi muốn được sống với Jerry và có một đứa con với anh ấy. Giản dị biết bao. Nhưng làm sao được. Trước tôi chỉ biết chờ. God’s plan, who knows! Bây giờ, tôi cũng còn chờ.

Cô ngừng lại một lát, rồi thở dài:

– Ồ, thôi anh về. Tôi lắm chuyện quá.

Anh nhắc lại câu nói của cô Donna:

– Chờ đợi cũng là một thứ hạnh phúc!

Çô Donna gật đầu, cười buồn.

Cuối tháng 3-1995

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 12 Sep 2025

Phần 6.

Quý vị vừa đọc bản dịch bài báo của nữ ký giả Catherine Monfazon, Nhật báo Le Parisien, ấn hành ở Paris. Năm 1988, nữ phóng viên  Monfazon đi Bắc Kinh, Trung Quốc, rồi đến Hà Nội và thành phố HCM. Vì nhật báo Le Parisien nhận bảo trợ và đòi trả tự do cho người viết Hoàng Hải Thủy, cô Monfazon tìm đường đến gặp vợ con Hoàng Hải Thủy. Khi cô thất vọng hoàn toàn và sắp lên phi cơ về Paris tình cờ cô gặp một người bạn của Hoàng Hải Thủy. Nhờ vậy cô đến được căn nhà nhỏ của vợ chồng Công Tử Hà Đông trong Cư xá Tự Do giữa Ngã ba Ông Tạ và Ngã tư Bảy Hiền.

Đây là bài báo nữ ký giả Monfazon viết về vợ con Hoàng Hải Thủy đăng cùng trên trang báo Le Parisien với bài báo trên.

Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu ông ấy

Hoàng Hải Thủy và cả gia đình ông phải trả giá đắt vì niềm khao khát tự do của họ. Nhưng họ vẫn sát cánh với nhau và họ hy vọng.

Đêm đen như mực ở thành phố HCM. Cô con gái của Hoàng Hải Thủy, Giang, ba mươi hai tuổi, di chuyển vòng vèo giữa rừng xe đạp và xe xích lô trên chiếc xe gắn máy mua trả góp. Cô dừng xe trong một xóm đông dân cư. Con đường trở nên sình lầy. Im lặng. Giang dựng xe trước cửa vào nhà, cạnh mấy chuồng gà. Anh con và bà vợ Thủy chờ đón chúng tôi. Vài cái ghế, hai cái giường không nệm, một tủ lạnh rỉ sét, sân nhà lát gạch bông đỏ trắng rất sạch: tất cả toát lên một sự nghèo túng được che dấu cẩn thận.

Mái tóc bạc được chải tươm tất, xanh xao, rất gầy, rất đường hoàng, bà vợ của Thủy nói tiếng Pháp lần thứ nhất từ hơn hai mươi năm nay.

Một bức ảnh rất đẹp của ông chồng trang hoàng bức tường lở vôi, bên cạnh hai tờ thông cáo tuyên truyền của cộng sản mà nhà nào cũng phải dán. Đỗ Thị Thủy không được gặp mặt chồng từ hai tháng nay. “Ông bố tôi mạnh khỏe, bà mẹ tôi mới chịu không nổi. Bà mất mười ký lô,” anh con trai hai mươi tám tuổi nói nhỏ.

Họ nói đến ông bố và ông chồng của họ với niềm kiêu hãnh, họ nhắc đến những bài ông đã viết, những bài này đều bị công an tịch thu, những gì ghi lại nỗi tuyệt vọng, sự đau khổ và cái đói của nhân dân. “Ông ấy nói ít, viết nhiều”. Bà Đỗ nói. Tôi hỏi: “Có bao giờ bà yêu cầu ông ấy đừng viết để cả nhà được an ninh không?” “Không bao giờ…” bà trả lời ngay, gần như bà giận dữ vì câu hỏi ấy. Bỗng bà mỉm cười dịu dàng, xúc động: “Chúng tôi đói, chúng tôi không có tiền, nhưng chúng tôi chấp nhận tất cả những cái đó. Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu thương ông ấy, chúng tôi kiêu hãnh vì sự can đảm của ông ấy”.

Cái giá của sự tự do tư tưởng của Thủy là một giá đắt. Để có thể sống, họ phải bán hết. Nữ trang, đồ đạc, quần áo. Đến cả ba ngàn quyển sách của Thủy, từ tủ sách lớn ấy, họ còn giữ được khoảng trăm quyển cất kỹ trong một ngăn tủ nhỏ. Camus, Nabokov, Nietzche, Zola, Sacha Guitry… Những sách này đều được những người con của Thủy đọc đi, đọc lại. Từ nhiều năm nay các con của Thủy bán bánh ngoài đường. Tất cả việc học của họ đều bị cấm. Hiện nay họ đang muốn tin vào việc Thủy sắp được thả tự do. Rồi sau sẽ ra sao? Họ lo âu. “Ông ấy lại sẽ bị kiểm soát, bị theo dõi khắp nơi. Lại có sợ hãi. Ông ấy có thể lại bị bắt. Chính phủ phải để cho chúng tôi ra đi. Không có tờ báo nào ở đây nhận cho ông ấy làm việc. Với cái tên ấy, ông ấy sẽ bị từ chối ở khắp nơi. Chúng tôi chỉ có thể có tự do ở một miền đất khác. Cô có thể làm gì được không? Ở đây người ta chỉ cho phép chúng tôi im lặng…”

Xin viết cho rõ: Người dịch The Gulag Archipelago của Alexandre Sozhenytsin ra bản Việt ngữ “Quần đảo Ngục tù” là Ngọc Thứ Lang Nguyễn Ngọc Tú. Anh đã từ trần trong trại cải tạo Phú Khánh khoảng năm 1980. Tôi dịch The First Circle của A. Sozhenytsin, “Tầng đầu Địa ngục” ấn hành ở Sàigòn năm 1973.

Năm 1977 đến năm 1979, thời gian là hai mươi ba tháng tôi bị bắt lần thứ nhất ở trại giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Bị bắt lần thứ hai năm 1984 tôi sống bốn mùa lá rụng ngoài song sắt trong Thánh thất Chí Hòa. Nữ ký giả Monfazon viết nguyên văn trong bài “…la presse muselée vietnamienne…” tạm dịch: “… nền báo chí Việt Nam bị rọ mõm…

Năm 1994 nữ phóng viên Catherine Monfazon lại đến thành phố HCM, lần này tôi được gặp cô, được ăn với cô một bữa tối trong nhà hàng Mini của bà Nguyễn Phước Đại đường Nguyễn Du. Từ năm 1990 tình hình kinh tế tài chánh của những Anh Con Trai Bà Cả Đọi kẹt giỏ ở thành Hồ có vẻ khá hơn, tôi vẫn dùng xế đạp đi lại loanh quanh khu Ông Tạ, nhưng tôi đã có cái Honda 91. Tôi dùng Honda đến khách sạn đón cô Monfazon, chở cô trở lại căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, nơi cô đã đến năm năm trước. Cô kém Kiều Giang con gái tôi hai tuổi, nói thông thạo tiếng Anh. Catherine Monfazon là một trong những người đã đối xử ân cần và giúp đỡ vợ chồng tôi trong cơn hoạn nạn. Vợ chồng tôi vẫn nhớ ơn cô.

Chúng tôi như những người sắp chết đuối vớ được cái phao – được ấm lòng và có thêm hy vọng để không chết nhờ rất nhiều người, những người bạn ở nước ngoài. Trong khi bọn Việt cộng thù hận chúng tôi, chỉ muốn chúng tôi khóc mếu, khổ sở, cố tình đầy ải cho chúng tôi phải chết hoặc dở sống, dở chết, phải quỳ gối lậy van chúng, những người bạn không quen biết từ xa ngoài vạn dặm đã gửi tình thương cho chúng tôi. Xin cảm ơn tất cả.

Ngày xửa, ngày xưa…

Những năm 1940… trong thị xã Hà Đông nhỏ bé, hiền hòa chú thiếu niên hai mươi mùa mít chín sau đó tự nhận là Công Tử Hà Đông được đọc lại hai câu thơ:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

Hai câu không nhớ của thi sĩ nào làm. Sau tìm và biết là của Xuân Diệu. Chú thấy ý thơ hay hay. Hai câu ấy ở mãi trong trí nhớ của chú.

Bốn mươi mùa sầu riêng trổ bông sau đó một người tù cải tạo ở trại Lao động Xã hội chủ nghĩa Z30A Xuân Lộc Đồng Nai được con trai lên thăm, đem cho quyển Anthology of English Poems do Đại học Oxford ấn hành. Tuyển tập thơ Anh dầy hai ngàn trang giấy, hơn một ngàn bài thơ của Shakespeare, Shelly, John Donne, Robert Browing, Mary Elizabeth Coleridge. Trong tập thơ, người tù yêu thơ tìm thấy bài thơ

The Call

Sound, sound the clarion, fill the file!

Throughout the sensual world proclaim:

One crowded hour of glorious life

Is worth an age without a name.

Thomas Osbert Mordaunt

Đêm buồn nằm thao thức trong tù nghe tiếng gió vi vu thổi đến từ núi Chứa Chan, người tù cảm khái bèn mần thơ dịch:

Tiếng gọi

Kèn vang lên, trống nổi lên

Lặng yên nghe – Tiếng loa truyền

Sống một giờ quang vinh rực rỡ

Hơn tầm thường trọn kiếp không tên!

Như vậy là phải chăng năm sáu mươi mùa ổi chín trước đây, Xuân Diệu đã đọc bài tứ tuyệt The Call của T.O Mordaunt và lấy ý ra làm hai câu

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm!

Hai câu thơ làm người tù đi một đường cảm khái, nhớ lại cả một thời thơ ấu “ngày xưa còn bé”.

Vèo trông lá rụng đầy sân.

Ái ân phù thế có ngần ấy thôi

Thấp thoáng đấy mà đã năm mươi mùa tu hú kêu trong những vườn vải đỏ. Còn nhớ như in những ngày Tháng Tám năm 1945 chú thiếu niên Hà Đông náo nức đi biểu tình giành độc lập, những ngày đi kháng chiến thật đẹp ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, gót chân liên lạc viên đi dưới núi Thiên Thai, cửa Chùa Tiêu Sơn, Rừng Khế, nơi có lăng tẩm của các vị vua triều Lý ở trước làng Đình Bảng, từng sống trong thành Cổ Loa có giếng nước tục truyền được dùng để rửa ngọc trai thật tốt, trừng sống trong làng Phù Đổng ven đê sông Đuống, quê hương của Thánh Gióng, những đêm mùa đông nước cạn, buộc quần áo lên đầu, ôm cây chuối bơi qua sông Đuống… Những năm xưa ấy, người tù Z30A “yêu mê” Việt Minh đến là chừng nào.

Vật đổi sao dời, khi nón cối, dép râu, súng AK, cờ đỏ ngơ ngáo vào Sàigòn, chú thiếu niên năm xưa nay đã ở vào số tuổi của Mã Giám Sinh cùng không biết bao nhiêu người khác bị Bác và Đảng cho đi tù mút mùa Lệ Thủy. Chú không bị Bác giết là may, chú không chết vì bị Bác xách cổ đem đi trồng cũng là may.

Đã cảm khái người tù Z30A còn xúc động hơn khi anh đọc bài thơ Respice Finem của Francis Quarles. Đêm cuối năm lạnh lẽo trong tù anh nằm dịch bài thơ ra tiếng nước anh. Đây là nguyên bản:

Respice Finem

My soul, sit thou a patient looker-on

Judge not the play before the play is done

Her plot hath many changes, every day

Speaks a new scence, the last act crowns the play!

Francis Quarles

Vở tuồng đời

Ôi hồn ta ngồi yên mà coi

Vở tuồng đời

Đừng phê phán trước khi tuồng hết

Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười

Tuồng đang diễn, làm sao ta biết

Mỗi ngày qua là một đổi đời

Chờ đến lúc coi xong màn kết

Mới biết tuồng hay dở mà thôi.

Trại cải tạo Z30A. Tháng 10-1989