Banco Papillon Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

ĐỜI MỚI xuất bản 1974

Post by Sơn râu 11 Sep 2025

Đây là cả một câu chuyện sống động, mãnh liệt, sắc bén như răng cưa, tàn bạo, lãng mạn, cuồng nhiệt, mang dấu hằn của hai khuôn mặt nữ, và của ngọn lửa đời quất mạnh. Phiêu lưu, thành công, thất bại, thiếu thời, án tiết, cuốn sách đầu tay, Papillon đã nói tất cả những gì cần nói.

Một người kể chuyện tài tình đã viết ra câu chuyện kỳ lạ của một người bước ra khỏi nơi tù đày ở vùng nhiệt đới với một gói quần áo trên tay, đã trải qua nhiều mưu mô, nhiều ngây ngô, nhiều tình thương, nhiều can đảm và nhiều tiếng cười vang để đến Ba Lê với một cuốn sách trên tay. Một thành phố Ba Lê đã thừa nhận con người tài hoa ấy trước mặt thế giới sau khi đã gạch tên bốn mươi năm trước.

Sàigòn, mùa thu năm 1974

NHÀ XUẤT BẢN

  1. Những Bước Chân Tự Do Đầu Tiên

– THÔI chúc các anh may mắn! Từ giờ phút này, các anh được tự do. Vĩnh biệt các anh.

Viên sĩ quan của ngục thất El Dorado quay lưng lại chúng tôi sau khi đưa tay lên chào.

Vứt bỏ xiềng xích đã mang nặng suốt mười ba năm, không phải là chuyện dễ. Tay đỡ Picolino, tôi bước trên con đường dốc chạy dài từ bờ sông, nơi viên sĩ quan chào chúng tôi, đến ngôi làng El Dorado. Giờ đây, vào năm 1971, đúng ra là đêm 18 tháng 8, dưới mái nhà cổ xưa Tây Ban Nha, tôi nhớ lại thấy tôi đi trên con đường sỏi, và không những tôi nghe thấy tiếng nói của viên sĩ quan vang vọng vừa trầm vừa trong bên tai tôi, mà tôi còn có một cử chỉ như cách đây hai mươi bảy năm: tôi quay đầu lại.

Giờ này, đêm đã khuya, ngoài kia trời tối đen. Thế nhưng, không. Đối với tôi, chỉ đối với tôi mà thôi, mặt trời chói chang bây giờ là mười giờ sáng và tôi đang nhìn ngắm đôi vai đẹp nhất, vòng lưng đẹp nhất chưa từng thấy. Vòng lưng của người cai ngục, đi xa dần, và từ giây phút ấy, đã chấm dứt sự canh gác, sự rình rập từng ngày, từng đêm, từng phút, từng giây trong mười ba năm không bao giờ lơi lỏng.

Tôi liếc nhìn lần cuối giòng sông, qua đôi vai người cai ngục, tôi liếc nhìn, lần cuối hòn đảo ngục thất giữa sông, tôi liếc nhìn lần cuối dĩ vãng ghê gớm mười ba năm đằng đẵng, mười ba năm bị người ta chà đạp, nhục mạ, nghiền nát.

Trên giòng sông, trong sương mù, từ mặt nước hực nóng không khí vùng nhiệt đới, nhiều hình ảnh đang tụ lại như trên một màn ảnh để tôi nhìn lại đoạn đường đã đi. Tôi khước từ dự kiến cuốn phim ấy, tôi nắm cánh tay Picolino quay lưng lại màn ảnh kỳ lạ ấy rồi bằng những bước nhanh nhẹn tôi lôi Picolino đi, sau khi hất hai vai để dứt khoát trút bỏ đống bùn quá khứ.

Tự do? Nhưng ở đâu? Trong một góc thế giới, ở tận cùng vùng cao nguyên xứ Guyane thuộc Venezuela, tại một làng nhỏ nằm giữa rừng già dày đặc nhất chưa từng thấy. Đó là mũi đông nam của quốc gia Venezuela, gần biên giới Ba Tây, một đại dương xanh lục mênh mông, đây đó rải rác nhiều thác nước của các con sông, con suối và lác đác, như trong thời tiền sử, những thôn xóm xúm xít chung quanh một đền thờ, ở đó vị mục sư khỏi cần phải thuyết giảng tình thương và đời sống bình dị, vì các đức tính ấy đã luôn luôn có sẵn. Thường ngày có những chuyến xe hàng nối liền các thôn xóm ấy với những thôn xóm khác cũng heo hút như vậy. Người ta không thể hiểu làm thế nào các chiếc xe hàng ấy đến nơi này được. Trong cách sống, cách suy tư, cách yêu thương, những con người giản dị và thơ mộng ấy sống như người ta đã sống bao thế kỷ, một cuộc sống thanh khiết, không hề bị văn minh làm ô nhiễm.

Sau khi đã leo hết con dốc để đi trên đồi có làng El Dorado, chúng tôi dừng lại rồi chậm rãi, rất chậm rãi bước lần tới. Tôi nghe Picolino thở và cũng như nó, tôi hít rất mạnh không khí vào tận đáy buồng phổi để thở ra nhè nhẹ, y như là tôi sợ sống quá mau những giây phút kỳ diệu ấy, những giây phút tự do đầu tiên.

Bình nguyên trải rộng trước mặt chúng tôi, hai bên có những mái nhà nho nhỏ sạch sẽ đầy hoa.

Bọn con nít trông thấy chúng tôi, biết ngay chúng tôi từ đâu đến. Không có thái độ thù ghét, thân mật là khác, chúng đến gần và lặng lẽ đi cạnh chúng tôi. Hình như chúng hiểu rõ giây phút nghiêm trọng này nên không quấy rầy chúng tôi.

Ngay trước ngôi nhà đầu tiên, một bà da đen to béo bán cà phê và bánh tráng bắp trên một chiếc bàn gỗ.

– Chào bà.

– Chào các ông.

– Bà cho hai cà phê.

– Vâng.

Rồi bà to béo hiền từ bưng ra hai tách cà phê tuyệt ngon; chúng tôi uống đứng vì không có ghế.

– Xin bà tính tiền.

– Thôi khỏi.

– Sao vậy?

– Tôi sung sướng được đãi các anh tách cà phê đầu tiên của tự do.

– Cảm ơn bà. Mấy giờ thì có xe đò?

– Bữa nay là ngày lễ, không có xe đò, nhưng đến mười một giờ sẽ có một chuyến cam nhông.

– Vậy hả? Cảm ơn bà.

Một cô gái có đôi mắt đen và nước da ngăm ngăm bước ra.

Nàng mỉm cười nói:

– Mời các anh vào nhà ngồi chơi.

Chúng tôi đi vào và ngồi với độ mười người đang uống rượu rum.

– Tại sao lưỡi của bạn anh lè ra?

– Nó bệnh.

– Có thể chữa được không?

– Không thể được, nó bị bại. Phải vào bệnh viện.

– Ai cho nó ăn?

– Tôi.

– Em của anh phải không?

– Không, bạn tôi.

– Này, anh Pháp, anh có tiền không?

– Ít lắm. Tại sao anh biết tôi là người Pháp.

– Ở đây việc gì người ta cũng biết. Từ hôm qua, chúng tôi đã biết các anh sẽ được thả ra. Chúng tôi cũng biết anh đã trốn khỏi đảo Quỉ Sứ và cảnh sát Pháp lùng bắt anh để nhốt lại. Nhưng cảnh sát Pháp không đến đây tìm anh vì không chỉ huy ở đây. Chính chúng tôi sẽ che chở cho anh.

– Tại sao?

– Bởi lẽ…..

– Anh muốn nói gì?

– Này, uống một ly rượu rum và cho bạn của anh một ly.

Một thiếu phụ trạc ba mươi tuổi, màu da hơi đen, cất tiếng nói. Nàng hỏi tôi đã có vợ chưa? Chưa. Cha mẹ tôi còn sống không? Chỉ còn cha.

– Ông cụ chắc bằng lòng khi được biết anh ở Venezuela?

– Đúng vậy.

Một anh da trắng cao gầy, đôi mắt ốc bươu, nhưng khả ái, nhắc lại:

– Người bà con tôi không thể nói tại sao chúng tôi che chở cho anh. Nhưng tôi, tôi sẽ nói cho anh rõ. Bởi lẽ trừ phi người ta điên và như vậy thì không thể làm gì được, chứ người nào cũng biết ăn năn và trở nên tốt nếu được giúp đỡ. Đó là lý do anh được che chở ở xứ Venezuela; chúng tôi thương người và nhờ Chúa, chúng tôi tin vào con người.

– Tại sao anh biết tôi bị giam ở đảo Quỉ Sứ?

– Chắc hẳn là vì một tội nặng lắm! Có lẽ anh đã giết người hoặc đã phạm tội trộm quan trọng. Anh bị án phạt bao nhiêu năm?

– Khổ sai chung thân.

– Ở đây, hình phạt tối đa là ba mươi năm. Anh ở được bao lâu?

– Mười ba năm. Nhưng bây giờ tôi được tự do rồi.

– Anh nên quên tất cả chuyện ấy đi. Nên quên mau chừng nào hay chừng ấy những khổ nhục anh đã chịu ở các nhà giam Pháp và ở xứ El Dorado này. Hãy quên đi, bởi vì nếu anh còn nhớ, bắt buộc anh phải căm thù người đời và có lẽ anh sẽ ghét họ. Chỉ có quên mới giúp anh trở lại thương họ và sống với họ. Hãy lấy vợ gấp. Đàn bà xứ này rất hăng, tình yêu của người ý trung nhân của anh sẽ cho anh hạnh phúc và con cái sẽ giúp anh quên những đau khổ trong dĩ vãng.

Xe cam nhông đã đến. Tôi cảm ơn mọi người và bước đi, một tay đỡ Picolino. Độ mười hành khách ngồi trên các ghế dài, sau phòng lái. Những người bình dân ấy đã có nhã ý nhường cho chúng tôi hai chỗ tốt nhất trong phòng lái, cạnh tài xế.

Ngồi trên chiếc cam nhông nhảy như điên trên con lộ xấu đầy lồi lõm, tôi suy nghĩ đến dân tộc Venezuela kỳ lạ. Bác ngư phủ ở vịnh Paria, cũng như các binh nhì ở El Dorado, cũng như người dân dã tầm thường nói chuyện với tôi dưới căn nhà bằng đất lợp rạ vừa rồi, không ai có học hết. Họ chỉ mới biết đọc và biết viết. Thế tại sao họ có tình nhân ái thiên chúa giáo, tại sao tâm hồn họ cao thượng, sẵn sàng tha thứ những người đã phạm lỗi? Làm thế nào họ có thể tìm ra những lời lẽ tế nhị thích nghi, tình nguyện giúp đỡ một cựu tù nhân khổ sai bằng những câu khuyên bảo và bằng những gì thô thiển họ có? Tại sao những người chỉ huy ở ngục thất El Dorado, từ các sĩ quan đến viên giám đốc là những người có học, lại cùng chung với người dân thường một ý nghĩ dành một cơ hội may cho người hư hỏng, không kể người ấy là thế nào và không kể tội phạm nặng đến mức nào? Đức tính ấy không do người Âu Châu truyền lại mà phải do người da đỏ. Dù sao, Papillon ơi, mày nên bái phục họ.

Chúng tôi đến Callao. Một công trường rộng lớn, tiếng nhạc tưng bừng. Đúng rồi, nay là ngày mồng 5 tháng 7, lễ quốc khánh. Mọi người y phục chỉnh tề, vẫn đám quần chúng ăn mặc sặc sỡ của miền nhiệt đới, với đầy đủ màu da chen lấn nhau: đen, vàng, trắng và màu đồng của người da đỏ, chủng tộc này rất dễ nhận ra vì cặp mắt có hơi xếch lên và màu da sáng hơn. Tôi và Picolino cùng với một ít người hành khách bước xuống xe. Một thiếu nữ cũng từ chiếc cam nhông xuống, đến gần tôi, nói: “Anh khỏi trả, xong rồi”. Người tài xế chúc chúng tôi được may mắn rồi chiếc xe lại chạy. Một tay mang gói đồ nho nhỏ, tay kia được ba ngón tay còn lại của Picolino nắm chặt, tôi nghĩ đến chuyện phải làm gì đây. Tôi có một ít bảng Anh và vài trăm bạc Venezuela, do những người học toán ở ngục thất El Dorado tặng. Thêm vài hột xoàn nguyên chất đã tìm thấy trong các trái cà tại vườn rau tôi trồng ở đó.

Người thiếu nữ vừa bảo tôi khỏi trả tiền, hỏi tôi đi đâu, tôi đáp tôi định tìm một chỗ trọ nho nhỏ.

– Hãy đến nhà tôi trước, sau rồi sẽ hay.

Chúng tôi đi theo nàng, băng qua công trường và không quá hai trăm thước, đến một con đường đất hai bên có nhà thấp, bằng đất sét, lợp rạ, tôn hoặc thiếc. Chúng tôi dừng lại trước một căn nhà.

– Mời các anh vào, nhà này là của các anh, người thiếu nữ nói. Nàng độ mười tám tuổi.

Nàng để chúng tôi đi trước. Một căn phòng sạch sẽ, nền đất, một chiếc bàn tròn, vài cái ghế, một người đàn ông trạc bốn mươi, tóc đen láng, tầm vóc trung bình, màu da như con gái của ông, màu gạch tươi, đôi mắt người da đỏ. Lại có ba cô con gái khoảng 14, 15 và 16 tuổi.

– Thưa ba, các em ơi, đây là những khách lạ… chị mời về nhà. Họ vừa từ nhà lao El Dorado ra và không biết đi về đâu. Xin ba và các em tiếp đón họ đàng hoàng.

Ông bố nói:

– Mừng các anh mới đến. Và ông lặp lại câu nói thông dụng: Nhà này là của các anh. Mời các anh ngồi quanh bàn này. Chắc các anh đói rồi. Cà phê hay rượu rum?

Tôi không từ chối vì sợ phật lòng chủ nhân nên bằng lòng dùng cà phê. Nhà trông sạch sẽ, nhưng vì đồ đạc đơn sơ nên tôi đoán họ nghèo.

– Cháu Maria đưa các anh đến đây là trưởng nữ của tôi. Nó thay thế mẹ nó đã bỏ chúng tôi đi theo một người tìm vàng cách nay năm năm. Tôi muốn tự tôi nói chuyện ấy trước khi các anh biết do thiên hạ nói.

Maria bưng cà phê ra. Bây giờ tôi có thể nhìn nàng kỹ hơn vì nàng vừa ngồi gần ông thân sinh nàng, ngay trước mặt tôi. Ba cô em đứng sau lưng nàng. Các cô ấy cũng quan sát tôi. Maria là một cô gái miền nhiệt đới. Nàng có đôi mắt đen mở to, hơi xếch lên. Tóc uốn từng lọn, đen huyền, rẽ giữa xổ xuống vai. Nét mặt thanh tú và tuy màu da không bóng và màu ngả đồng khiến người ta nghĩ đến giòng máu da đỏ, nàng vẫn không có nét gì của dân tộc Mông Cổ. Miệng nàng khêu gợi với hàm răng tuyệt đẹp. Đôi lúc nàng lè đầu lưỡi hồng tươi ra. Nàng mặc một chiếc áo trắng có hoa, cổ áo rộng để hở hai vai và phía dưới đôi nhũ hoa được che bằng một chiếc xu-chiêng ẩn hiện dưới lần áo. Chiếc áo, chiếc váy đen và đôi giày gót bằng là những trang phục ngày lễ hôm nay. Đôi môi mọng đỏ, một màu đỏ tươi, và hai đường bút chì ở mi mắt càng khiến cặp mắt trở thành mênh mông.

Nàng giới thiệu người em út.

– Đây là Esmeralda (Ngọc Bích). Người ta gọi tên nó như vậy vì mắt nó xanh. Còn em này là Conchita và em kia là Rosita vì nó giống một hoa hồng. Nước da nó lợt hơn chúng em và đụng một tí là đôi má nó ửng hồng. Bây giờ anh đã biết cả nhà rồi. Ba em tên José. Tất cả năm người trong gia đình em họp thành một, vì tim của mọi người cùng đập theo một nhịp. Còn anh, anh tên gì?

– Henri.

– Anh ở tù lâu không?

– Mười ba năm.

– Tội nghiệp, chắc anh khổ nhiều.

– Vâng, nhiều lắm.

– Ba ơi, anh Henri sẽ làm được việc gì ở đây?

– Ba chưa biết. Anh có nghề gì không?

– Không.

– Vậy anh đến mỏ vàng, người ta sẽ có việc làm cho anh.

– Còn bác, bác làm gì?

– Tôi ấy hả? Không làm gì hết. Tôi không đi làm vì người ta trả lương tồi lắm.

Kỳ thật! Quả là họ nghèo, nhưng họ ăn mặc sạch sẽ. Không lẽ tôi hỏi bác làm gì để đủ sống, thay vì đi làm, bác có đi ăn trộm không! Nên chờ xem.

Maria nói: Henri, đêm nay anh ngủ lại ở nhà đây. Có một phòng trước kia dành cho chú em. Chú em đi rồi, anh có thể thay vào chỗ ấy. Chúng em sẽ săn sóc cho cái anh bị bệnh, trong lúc anh đi làm. Xin anh đừng nói cảm ơn, vì không ai cho anh gì hết. Đó chỉ là một phòng không người ở.

Tôi không biết nói sao. Maria đứng lên, tôi để cho nàng lấy gói đồ của tôi, các cô em theo nàng đi lại cửa phòng. Maria đã nói dối, căn phòng có người ở vì các cô ấy lấy đồ đạc quần áo phụ nữ đem đi chỗ khác. Tôi làm như không thấy gì hết. Không có giường, nhưng vậy càng tốt, như hầu hết tại vùng nhiệt đới: hai chiếc võng bằng len khá tốt. Một cửa sổ quay ra một vườn chuối.

Nằm đu đưa trên võng, tôi khó tưởng tượng việc đã xảy đến cho tôi. Ngày tự do đầu tiên sao mà dễ dàng quá! Quá dễ dàng. Tôi có một phòng ngủ không mất tiền và có bốn cô gái trẻ đẹp canh chừng cho Picolino. Tại sao tôi để người ta dìu dắt như một đứa con nít vậy? Tại sao vậy? Đành rằng tôi ở cuối thế giới, nhưng có lẽ tôi để người ta dìu dắt như vậy là vì tôi bị tù quá lâu, nên chỉ còn biết tuân theo người khác. Bây giờ được tự do, phải tự mình quyết định lấy công việc, tôi để người ta dẫn dắt. Y như một con chim vừa sổ lồng không còn biết bay nữa. Nó phải tập bay trở lại.

Tôi ngủ, không muốn nhớ đến dĩ vãng, như người dân quê ở El Dorado đã khuyên tôi. Trước khi ngủ, chỉ còn mỗi ý nghĩ: lòng hiếu khách của những người này thật là một điều lạ lùng và kỳ diệu.

Tôi vừa điểm tâm bằng hai trứng chiên, hai quả chuối chiên và một miếng bánh mì. Maria đang ở trong phòng rửa ráy cho Picolino. Một người đàn ông vừa xuất hiện ở ngưỡng cửa. Nơi thắt lưng có đeo một chiếc liềm.

– Người hiền hòa, hắn nói, và đó là một lời tự giới thiệu mình là một người bạn.

– Chú muốn gì? Ông José hỏi, ông vừa ăn sáng với tôi.

– Ông chỉ huy cảnh sát địa phương muốn gặp những người ở Cayenne.

– Chú đừng nên gọi họ như vậy. Gọi họ bằng tên đi.

– Vâng. Họ tên gì?

– Anh Henri, mời anh đi theo tôi. Tôi là cảnh sát, ông chỉ huy trưởng bảo tôi đến tìm anh.

Maria ở buồng bước ra nói:

– Người ta định làm gì anh ấy? Tôi đi với anh. Hãy chờ tôi mặc áo.

Vài phút sau, Maria đã xong. Bước ra đến đường phố, nàng nắm tay tôi. Ngạc nhiên, tôi nhìn nàng và nàng mỉm cười với tôi. Không bao lâu, chúng tôi đến cuộc cảnh sát. Các nhân viên cảnh sát khác đều mặc thường phục, trừ hai người vận sắc phục, nơi thắt lưng có đeo liềm. Trong một căn phòng đầy súng trường, một người da đen đội nón có lon. Ông ta hỏi tôi:

– Người Pháp là anh phải không?

– Vâng.

– Còn người nữa đâu?

– Anh ấy bệnh, Maria nói.

– Tôi là chỉ huy trưởng cảnh sát, tôi sẽ lo cho anh và sẽ giúp anh nếu cần. Tôi là Alfonso. Ông ta chìa tay cho tôi bắt.

– Cảm ơn ông. Tôi tên Henri.

– Anh Henri, ông chỉ huy hành chánh muốn gặp anh. Maria, cô không vào được, ông ta nói thêm khi thấy nàng muốn đi theo tôi.

Tôi đi vào phòng kế bên.

– Chào anh Pháp. Tôi là chỉ huy hành chánh. Mời anh ngồi. Anh bị an trí ở đây, tại xứ Callao, tôi cho mời anh đến để được biết mặt vì tôi có trách nhiệm đối với anh.

Ông ta hỏi tôi định làm gì, tôi muốn đi làm ở đâu. Nói chuyện một hồi rồi ông nói: “Bất cứ cần việc gì, anh cứ đến gặp tôi, tôi sẽ giúp anh tổ chức cuộc sống tốt chừng nào hay chừng ấy”.

– Xin cảm ơn ông.

– À, còn chuyện này nữa. Tôi cần tin anh biết anh ở nhà các cô gái rất dễ thương và rất lương thiện, nhưng ông bố các cô ấy, ông José, là một tay gian hùng. Thôi chào anh.

Maria ở bên ngoài, nơi cửa vào cuộc cảnh sát, thái độ của nàng như người da đỏ khi chờ đợi, bất động, im lặng. Nhưng Maria không phải người da đỏ. Dù sao, với một ít giòng máu xa xưa lưu lại, nguồn gốc chủng tộc cũng bộc lộ. Quàng tay tôi, nàng cùng tôi đi ngang qua suốt ngôi làng, và chúng tôi đi một con đường khác để về nhà.

– Ông chỉ huy hành chánh hỏi gì anh vậy? Maria thân mật hỏi tôi.

– Không. Ông ấy bảo tôi có thể trông cậy nơi ông để giúp đỡ tìm công ăn việc làm và trong trường hợp tôi bị phiền phức.

– Anh Henri, giờ đây anh không cần ai hết, bạn anh cũng vậy.

– Cảm ơn Maria.

Chúng tôi đi qua trước bàn một người bán hàng rong, bán các thứ trang sức cho đàn bà: kiềng, vòng, hoa tai, trâm, vân vân…

– Kìa, nhìn mấy thứ đồ kia.

– Vâng, xinh quá!

Tôi đưa nàng đến trước chiếc bàn, tôi chọn cây kiềng đẹp nhất và những chiếc hoa tai cùng một kiểu với ba cây kiềng khác cho ba cô em. Những đồ trang sức rẻ tiền ấy, tôi đã trả ba mươi đồng bạc bằng một tờ giấy trăm. Nàng liền đeo kiềng và hoa tai. Đôi mắt đen lớn sáng lên vì sung sướng và thầm cảm tạ tôi, y như là nàng nhận những nữ trang quí giá.

Chúng tôi về đến nhà, ba cô con gái vui khi nhận quà tặng. Tôi vào buồng của tôi. Tôi cần suy nghĩ một mình. Gia đình này đã cho tôi trọ một cách cao thượng lạ thường. Dù vậy, tôi có nên nhận hay không? Tôi có một ít tiền, chưa kể một số hột xoàn. Với số vốn liếng ấy, tôi có thể sống không lo lắng trong hơn bốn tháng và chữa trị cho Picolino.

Các cô gái đều đẹp và giống những cành hoa miền nhiệt đới có lẽ rất nồng thắm, đa tình, sẵn sàng dâng hiến dễ dàng, không tính toán, không suy nghĩ nhiều. Hôm nay tôi trông thấy Maria nhìn tôi âu yếm. Tại sao phải chống lại tất cả những quyến rũ ấy? Tốt hơn hết là nên đi khỏi mái nhà hiếu khách này, tôi không muốn vì yếu đuối, đem đến cho người ta những điều phiền phức và đau khổ. Maria chưa đến mười tám tuổi và các em nàng lại ít tuổi hơn nữa. Thiết tưởng tôi nên đi. Nên để Picolino lại nhờ họ săn sóc, dĩ nhiên là sẽ trả một số tiền thù lao.

– Thưa bác José, tôi muốn nói chuyện riêng với bác. Mời bác đi uống một ly rượu rum ở quán cà phê nơi công trường.

– Vâng. Nhưng đừng gọi tôi bằng bác. Gọi tôi bằng José và tôi sẽ gọi anh bằng Henri. Chúng ta đi. Maria. Ba với Henri đi ra ngoài công trường một lúc.

Maria nói:

– Anh Henri, thay áo đi, áo anh không được sạch.

Tôi đi vào buồng thay áo. Trước khi chúng tôi đi, Maria nói với tôi: “Anh Henri, không nên ở lâu và nhất là đừng uống quá chén”. Rồi bất ngờ, không kịp tránh né, nàng đã lẹ làng hôn trên má tôi. Ông bố bèn cười và nói:

– Con nhỏ Maria đã mê anh rồi đó.

Trên đường đi đến quán nước, tôi bắt đầu nói:

– Anh José, anh và gia đình anh đã cho tôi trọ trong ngày tự do đầu tiên của tôi, tôi cảm tạ vô vàn. Tôi gần bằng tuổi anh, tôi không muốn cư xử không tốt đối với lòng hiếu khách của anh. Là đàn ông, hẳn anh hiểu rằng sống cạnh các cô con gái của anh, rất khó cho tôi không mê một trong các cô ấy. Thế nhưng tuổi tôi gấp đôi tuổi cô chị cả và tôi đã có vợ chính thức bên Pháp. Chúng ta hãy cùng nhau uống một vài ly rồi anh đi với tôi đến một nhà trọ không đắt tiền lắm. Tôi có tiền để trả.

– Anh Pháp, anh là người quân tử, José nhìn thẳng vào mắt tôi nói. Đưa tay đây tôi siết thật chặt đi, như siết tay một người anh em, để cảm ơn những lời anh vừa nói với một kẻ bần cùng như tôi. Anh biết không, ở đây có lẽ không giống như ở xứ anh. Hầu như không ai có vợ có chồng một cách chính thức. Hai người thích nhau, làm tình với nhau, và nếu có đứa con thì sống chung với nhau. Người ta kết hợp dễ dàng cũng như dễ dàng thôi nhau. Khí hậu ở xứ này nóng bức, thế nên đàn bà rất hăng. Họ khao khát tình yêu, thú vui nhục dục. Họ lớn trước tuổi. Maria là một biệt lệ vì nó chưa có cuộc phiêu lưu tình ái nào, tuy nó đã mười tám tuổi. Tôi nghĩ rằng luân lý ở xứ anh hơn luân lý của xứ tôi, ở đây có biết bao nhiêu là đàn bà có con không cha, cho nên đã sinh ra một vấn đề nghiêm trọng. Nhưng biết làm sao? Chúa đã bảo phải thương nhau và phải có con! Đàn bà xứ này không tính toán, trong khi dâng hiến cho một người đàn ông, họ không nghĩ đến chuyện tìm một địa vị. Họ muốn yêu và được yêu, thế thôi, một cách rất tự nhiên, không hơn không kém. Khi anh còn thỏa mãn họ về phương diện tình dục, họ trung thành với anh. Về sau, đó là chuyện khác. Thế nhưng, họ là những người mẹ gương mẫu hy sinh cho con đến cùng, đến khi chúng có thể kiếm ăn được, họ vẫn nuôi dưỡng chúng. Tuy biết anh sẽ luôn luôn bị quyến rủ, nhưng một lần nữa tôi yêu cầu anh cứ ở lại đây. Tôi sung sướng được có một người đàn ông như anh ở trong nhà.

Có người vào trong quán trước khi tôi trả lời. Đây vừa là một quán nước, vừa là một tiệm chạp phô. Độ mười người ngồi xuống. Người ta uống rượu rum trộn với coca cola. Nhiều người đến bắt tay tôi và chúc mừng tôi vừa đến làng họ. Mỗi lần bắt tay, José giới thiệu tôi như một người bạn ở nhà ông ta. Mọi người uống khá nhiều rượu. Khi tôi bảo tính tiền, José nổi giận. Ông nhất định trả. Tuy thế tôi cố gắng để cho chủ quán từ chối tiền của ông và nhận của tôi.

Có người sờ vào vai tôi, chính là Maria.

– Về nhà đi anh, đến giờ ăn trưa rồi. Đừng nên uống nữa, anh đã hứa với em không uống nhiều.

Bây giờ nàng xưng hô anh em với tôi.

José đang bàn cãi với một người khác, nàng không nói gì với ông, nàng nắm tay tôi kéo ra ngoài.

– Thế còn ông già em?

– Kệ ông. Khi ông uống em không thể nói gì với ông và không bao giờ em đến quán rượu tìm ông. Vả lại, ông không thích như vậy.

– Thế tại sao em đến tìm anh?

– Anh thì khác, Henri, ngoan đi anh, về với em.

Ánh mắt nàng sáng ngời, nàng nói câu vừa rồi hết sức dịu hiền nên tôi cùng nàng đi về nhà.

– Anh đáng được thưởng một chiếc hôn, nàng nói lúc đến nhà. Rồi nàng để đôi môi lên má tôi, quá gần miệng.

José về sau, khi tất cả chúng tôi đã ăn xong. Trong khi ăn, cô em nhỏ nhất giúp Picolino bằng cách đưa thức ăn từng miếng nhỏ.

José ngồi vào bàn ăn một mình. Ông ta như mở đôi cánh, nên nói huyên thiên.

– Các con ơi, Henri sợ tụi bay. Sợ quá đến nỗi anh ấy muốn đi khỏi nhà mình. Ba có nói với anh ấy cứ ở lại, các con gái của ba đủ khôn lớn để ý thức được việc làm của chúng.

Maria nhìn tôi. Nàng có vẻ ngạc nhiên có vẻ thất vọng.

– Ba ạ, nếu anh ấy muốn đi, cứ để anh ấy đi! Nhưng con không tin rằng anh ở nơi nào khác tốt hơn ở đây, nơi mọi người đã mến anh.

Rồi quay sang phía tôi, nàng tiếp:

– Henri, anh đừng nên nhát gan. Nếu anh thích một trong chúng em, và đứa đó cũng thích anh, tại sao anh trốn chạy?

– Vì anh ấy có vợ bên Pháp, ông bố nói.

– Bao nhiêu năm rồi anh không gặp vợ?

– Mười ba năm.

– Chúng em thì chúng em yêu người nào không nhất thiết phải làm vợ người ấy. Nếu có trao thân cho một người nào là vì yêu người ấy, chỉ có thế. Tuy nhiên, anh nói với ba em là anh đã có vợ rồi, đó là một điều hay, như vậy anh không thể hứa hẹn gì với một trong chúng em, ngoại trừ chỉ có yêu mà thôi.

Và nàng bảo tôi ở lại mà không cần cam kết gì hết. Các cô ấy sẽ săn sóc Picolino và tôi sẽ rảnh tay để đi làm. Để cho tôi cảm thấy dễ chịu, nàng bằng lòng cho tôi trả một ít tiền, như tôi ở trong một nhà trọ. Nhận hay không?

Tôi không có thì giờ suy nghĩ kỹ. Tất cả chuyện này quá mới, quá nhanh sau mười ba năm sống trong tù ngục! Tôi nói:

– Maria, anh đồng ý. Như vậy tốt quá.

– Anh có muốn chiều nay em đi với anh đến chỗ mỏ vàng để xin việc làm không? Từ làng đến đó khoảng ba cây số.

– Đồng ý.

Nét mặt và điệu bộ của Picolino chứng tỏ nó rất sung sướng được ở lại đây. Cử chỉ ân cần và săn sóc của các cô gái đã chinh phục được nó, tôi ở lại là vì nó. Bởi vì ở lại thì không bao lâu chắc chắn sẽ có chuyện phiêu lưu tình ái. Thế mà đối với tôi, chuyện ấy không hợp tý nào.

Với những gì tôi có trong đầu óc từ mười ba năm nay, và đã mười ba năm không cho tôi ngủ yên, tôi không thể dừng lại gấp rút như vậy và cắm sào tại ngôi làng ở xa thẳm này chỉ vì một người con gái. Con đường đang chờ tôi còn dài, những giờ phút ngưng nghỉ phải ngắn ngủi. Chỉ cần đủ để thở rồi lên đường trở lại! Bởi lẽ, nếu trong mười ba năm tôi đã tranh đấu cho tự do của tôi, nếu tôi đã dành được tự do, phải có một lý do: trả thù. Viên phó chưởng lý, tên làm chứng gian, bọn cảnh sát, tôi phải thanh toán món nợ với họ! Và điều ấy, không nên quên. Không bao giờ quên.

Tôi ra chỗ công trường. Tôi nhận thấy một cửa hàng với cái tên Prospéri. Đó chỉ có thể là tên một người Corse hay một người Ý. Quả thật, cửa hàng nhỏ ấy là của một người Corse. Ông Prospéri nói rất thạo tiếng Pháp. Ông có nhã ý viết giúp tôi một bức thư cho ông Giám Đốc Công Ty La Mocupia là công ty khai thác mỏ vàng Caratal. Con người tốt bụng ấy còn đề nghị giúp tôi tiền. Tôi cảm tạ về tất cả mọi điều rồi đi ra.

– Papilion, mày làm gì ở đây? Quỉ thần ơi, mày từ đâu rơi xuống đây? Từ cung trăng hả? Mày nhảy dù xuống phải không? Đến đây tao hôn mày nào?

Một gã to lớn, mặt sạm nắng, trên đầu đội chiếc nón lát rộng vành, vừa từ trên một con lừa nhỏ nhảy xuống.

– Mày không nhận ra tao sao? Nó lấy nón xuống.

– Thằng Charlot! Thật tao không ngờ!

Charlot, thằng đã đánh cắp tủ sắt của rạp chiếu bóng Gaumont ở công trường Clichy và tủ sắt nhà ga Batignolles ở Ba Lê! Chúng tôi ôm nhau như hai anh em ruột. Chúng tôi cảm động đến rơi nước mắt. Chúng tôi nhìn nhau.

– Giờ đây công trường Blanche và ngục thất xa xuôi quá rồi bồ ơi! Phải không? Nhưng đồ quỉ, mày ở đâu đến đây? Mày ăn mặc như một ông hoàng và ít già hơn tao.

– Tao vừa ra khỏi El Dorado.

– Mày ở đó bao lâu?

– Hơn một năm.

– Tại sao mày không cho tin tao biết? Nếu biết tao đã lôi mày ra bằng cách ký giấy chịu trách nhiệm về mày. Trời ơi! Tao biết ở El Dorado có nhiều tù khổ sai, nhưng không bao giờ tao tưởng tượng mày cũng ở đó.

– Tụi mình gặp nhau thật là một phép lạ!

– Papillon, không có gì lạ đâu! Trên khắp lãnh thổ xứ Guyane thuộc Venezuela, từ Ciudad Bolivar đến Callao, đầy rẫy những tù khổ sai hoặc tù biệt xứ vượt ngục. Từ vịnh Paria đến đây, là mảnh đất đầu tiên của xứ Venezuela đối với những tên vượt ngục, gặp bất cứ ai không phải là một điều lạ bởi vì tất cả, không sót một ai, đều phải qua đây. Dĩ nhiên là chỉ những người không chết giữa đường. Mày ở đâu?

– Ở nhà một ông tên là José. Ông ta có bốn cô con gái.

– Ừ, tao biết… Ông ta là một người tốt, một người gian hùng. Chúng ta đi đến lấy đồ đạc của mày, tất nhiên là mày đến ở nhà tao.

– Không phải chỉ có một mình tao. Tao có một thằng bạn bị tê bại, tao phải săn sóc nó.

– Không sao. Tao tìm một con lừa cho nó. Nhà tao rộng và có một thiếu phụ da đen sẽ săn sóc cho nó như một người mẹ.

Sau khi tìm ra một con lừa thứ hai, chúng tôi đến nhà các cô con gái. Từ biệt những con người tốt bụng ấy quả là một thảm kịch. Chỉ sau khi hứa với các cô nàng chúng tôi sẽ đến thăm và các nàng có thể đến thăm chúng tôi ở Caratal, các nàng mới nguôi nguôi. Tôi nhắc mãi không biết chán lòng hiếu khách kỳ lạ của người xứ Guyane thuộc Venezuela. Bỏ họ ra đi, tôi cảm thấy xấu hổ.

Hai giờ sau chúng tôi đến “lâu đài” của Charlot như hắn đã gọi. Một ngôi nhà rộng rãi khang trang trên một ngọn đồi nhìn xuống khắp thung lũng chạy dài từ thôn Caratal xuống đến Callao. Ở bên mặt cánh rừng già kỳ diệu ấy là mỏ vàng La Mocapia. Nhà Charlot làm toàn bằng khúc gỗ tròn lấy từ rừng ra. Ba buồng, một phòng ăn khá đẹp và một bếp. Hai phòng tắm trong nhà cộng với một phòng tắm ngoài trời, trong một vườn rau chăm sóc kỹ lưỡng không chỗ chê. Tất cả các loại rau đều xanh tốt. Một chuồng gà hơn năm trăm mái, thỏ, chuột tàu, heo và hai con dê. Tất cả các thứ ấy là gia tài và niềm vui hiện tại của Charlot, một cựu tù nhân khổ sai, cựu chuyên viên về tủ sắt và các vụ cướp toan tính rất kỹ lưỡng.

– Sao, Papillon, mày có thích nhà tao không? Đến nay là bảy năm tao ở đây. Như tao nói với mày ở Callao, bây giờ Montmartre cũng như anh em bạn tù đã xa quá rồi. Có ai tin rằng một ngày nào đó tao bằng lòng với cuộc đời an nhàn bình thản này? Mày nghĩ sao?

– Charlot, tao không biết. Tao vừa mới được phóng thích nên chưa có một ý kiến chính xác. Bởi vì chúng ta hẳn là những kẻ phiêu lưu mạo hiểm, tuổi trẻ của chúng ta có phần xáo trộn. Thế nên… quả là bất ngờ khi thấy mày sung sướng, an phận trong thôn xóm hẻo lánh này. Nhưng có lẽ mày đã tự tay làm lên tất cả và tao cũng thấy đó là cả một nghị lực, một hy sinh hiếm có. Mày thấy không, như tao đây, hiện giờ tao cảm thấy không thể nào làm được như mày.

Sau khi chúng tôi ngồi vào bàn ăn và nhấm nháp một thứ rượu quế hâm nóng, Charlot nói tiếp:

– Papillon, đúng vậy, mày ngạc nhiên là phải. Mày hiểu ngay rằng tao sống bằng sức lao động của tao. Với mười tám đồng bạc một ngày, quả là một cuộc sống khiêm nhường, nhưng có những thú vui của nó. Một gà mái với nhiều gà con, một thỏ mẹ đẻ nhiều con, một bé dê vừa sinh, những trái cà bụ bẫm… Những thứ không đáng kể, chúng ta đã xem thường trong nhiều năm, họp lại đem đến cho tao nhiều thích thú. Kìa! thiếu phụ da đen của tao đó. Conchita! Đây là hai ông bạn. Anh kia đang đau, em cần phải săn sóc cho anh ấy. Anh này là Henri, cũng gọi là Papillon. Một người bạn từ bên Pháp, một người bạn cố tri.

– Xin chào các anh mới đến, người thiếu phụ da đen nói. Charlot, anh đừng lo, các bạn anh sẽ được săn sóc chu đáo, anh sẽ vừa lòng. Em đi sửa soạn buồng cho các anh ấy.

Charlot kể lại câu chuyện vượt ngục tầm thường của nó. Đến ngục thất ở Laurent du Marconi ở được sáu tháng, nó trốn thoát với một tên đồng hương của nó là Simon và một tên tù bị giữ lại sau khi mãn hạn: “Tụi tao được may mắn đến Venezuela ít tháng sau khi nhà độc tài Gomez chết. Dân tộc hào hiệp này đã giúp tụi tao làm lại cuộc đời. Bị an trí hai năm ở Callao, tao ở luôn đó. Mày thấy không, dần dần đời sống bình dị này chinh phục tao. Tao đã mất đi một người vợ trước trong khi sinh nở cùng với một bé gái. Người thiếu nữ Da đen mày thấy đó, Conchita, đã an ủi, đem hạnh phúc đến cho tao bằng một tình yêu chân thật. Còn mày, Papillon? Chắc mày phải tranh đấu cực nhọc lắm, vì mười ba năm, thật là dài. Mày kể tao nghe đi”.

Tôi nói trong hơn hai tiếng đồng hồ, trút hết cho người bạn cố tri ấy tất cả những gì đã chất chứa trong suốt những năm vừa qua. Thật là một đêm kỳ diệu, hai đứa kể cho nhau nghe biết bao kỷ niệm. Một điều lạ là không ai nhắc đến Montmartre, không hề hồi tưởng lại những vụ đánh cướp thành công hoặc thất bại, không đá động gì đến những người cùng nghề vẫn luôn luôn được tự do. Như thể đối với chúng tôi, đời sống bắt đầu từ khi chúng tôi bước chân xuống chiếc tàu La Martinière, năm 1933 đối với tôi và năm 1935, đối với Charlot.

Một đĩa xà lách tươi tốt, một con gà đốt lò, một miếng phó mát sữa dê và một trái xoài ngon ngọt, với một chai rượu chát hảo hạng, tất cả đều được Conchita vui vẻ dọn ra, khiến Charlot cảm thấy bằng lòng đã mời tôi đến nhà. Nó lại đề nghị cùng đi uống thêm một ly rượu ở trong xóm. Tôi bảo với nó ở đây tuyệt quá còn phải đi đâu nữa.

– Cảm ơn bồ! tên Corse ấy nói với giọng Ba Lê. Quả thực ở đây thích hơn. Conchita, em phải tìm cho bạn anh một “vị hôn thê”.

– Vâng, anh Henri, tôi sẽ giới thiệu với anh bọn bạn gái của tôi, những đứa xinh hơn tôi.

– Em là người đẹp nhất, Charlot nói.

– Vâng, nhưng em đen.

– Vì vậy mà em đẹp quá chừng, em Corchita! Em là tinh hoa của chủng tộc em.

Đôi mắt mở lớn của Conchita sáng ngời vì sung sướng và tình yêu. Người ta dễ dàng nhận thấy Charlot là thần tượng của nàng!

Nằm trên giường lớn êm ái, tôi lặng lẽ nghe tin tức đài BBC từ một máy thu thanh trong nhà. Tôi có phần bỡ ngỡ khi trở lại hòa mình trong cuộc sống của thiên hạ. Tôi đã mất hẳn thói quen ấy. Tôi vặn nút máy thu thanh. Nhạc từ Caracas. Tôi không muốn nghe tiếng gọi của đô thị. Ít nữa là đêm nay. Tôi nhanh tay tắt máy và suy nghĩ đến những gì vừa xảy đến cho tôi.

Phải chăng chúng tôi cố ý không nhắc đến những năm chúng tôi đã cùng sống ở Ba Lê? Không. Phải chăng chúng tôi cố ý không nhớ lại những người đồng hội đồng thuyền với chúng tôi may mắn không bị ngã? Cũng không phải. Thế là, phải chăng đối với bọn tù, những gì đã xảy ra trước ngày xử án không còn quan trọng nữa?

Tôi trở qua trở lại trên chiếc giường lớn. Trời nóng bức, chịu không nổi, tôi bước ra vườn. Tôi ngồi trên một tảng đá lớn. Từ chỗ ngồi tôi nhìn xuống thung lũng và mỏ vàng. Bên dưới, sáng trưng. Tôi thấy rõ các xe thổ mộ, chiếc thì đầy, chiếc thì vơi, đi đi lại lại.

Vàng, bằng khối hoặc đã biến thành giấy bạc, vàng từ lòng đất này mà ra, có thể dùng để mua tất cả nếu có được nhiều. Thứ động cơ của thế giới ấy, công khai thác rất rẻ vì nhân công được trả rẻ mạt, là một thứ cần thiết cho một đời sống đàng hoàng. Thế mà Charlot đã bị mất tự do vì ham có nhiều vàng, lại không hề nói đến vấn đề này. Hạnh phúc hiện tại của nó là người thiếu phụ da đen, các súc vật, vườn rau của nó. Tiền bạc nó không đề cập đến. Nó đã trở thành một nhà hiền triết. Tôi hết sức ngạc nhiên.

Tôi còn nhớ trước kia nó bị một tên Paul phản bội, và trong các cuộc nói chuyện ngắn ngủi trong nhà tù ở Ba Lê, nó không ngớt chửi thề, có dịp là nó quyết sẽ chặt thằng ấy ra từng khúc ngay. Đêm hôm ấy, nó không nhắc đến tên đó. Còn tôi – quả là lạ thật! – tôi chẳng hề nói đến bọn cảnh sát, Goldstein hay viên Phó Chưởng Lý. Trời ơi, đáng lẽ tôi phải nói đến bọn ấy. Tôi vượt ngục không phải để trở thành dở công nhân, dở thợ vườn.

Tôi đã tự nguyện tôn trọng xứ sở này và tôi sẽ giữ lời, đồng ý! Nhưng không phải vì vậy mà tôi bỏ ý định trả thù. Bởi lẽ, Papillon ơi, đừng quên ngày hôm nay mày còn ở đây, không phải vì ý định trả thù đã nâng đỡ mày suốt mười ba năm trong ngục thất, mà bởi vì sự trả thù ấy là một nghĩa vụ, không bao giờ mày được từ bỏ nghĩa vụ ấy.

Người thiếu phụ da đen bé nhỏ khá đẹp, nhưng dù sao, Charlot có lẽ hợp với đời sống tại một đô thị hơn là trong vùng hoang địa xa xôi này. Hoặc chính tôi là một thằng ngốc và tôi chưa hiểu rằng cuộc sống của bạn tôi có vẻ đẹp của nó, hoặc có lẽ nó sợ trách nhiệm mà các đô thị nhất thiết sẽ áp đặt cho nó? Để rồi sẽ thấy và sẽ suy nghĩ thêm.

Charlot bốn mươi lăm tuổi, như thế nó chưa già. Rất cao lớn, khỏe mạnh, thân hình của một nông dân xứ Corse đã được sống trong giàu sang và lành mạnh suốt buổi thiếu thời. Nước da sạm nắng, với chiếc nón rơm rộng lớn trên đầu, quả thực nó có dáng rất hách. Đó là mẫu người tiền đạo của vùng đất hoang vu này, nó đồng hóa với người dân và mảnh đất này đến độ nó không phải là một kẻ xa lạ nữa. Trái lại nó hòa hợp hoàn toàn với xứ này.

Con người chưa trở thành kẻ cướp kỳ cựu của khu Monmartre ấy đã sống bảy năm ở đây! Chắc hẳn nó đã ra sức trong hai năm để khai phá khoảnh bình nguyên này và xây cất ngôi nhà. Phải đi vào rừng, lựa gỗ, chặt cây, tải về, đẽo ra. Mỗi một cây kèo của nhà bằng loại gỗ cứng nhất và nặng nhất thế giới, gọi là gỗ sắt. Bao nhiêu tiền nó lãnh ở mỏ vàng đều đổ vào đó hết, tôi đoán vậy, vì nó phải nhờ người ta phụ giúp và trả nhân công, tiền xi măng, giếng nước, máy bơm nước lên hồ chứa.

Người thiếu phụ trẻ đẹp, với đôi mắt đa tình, hẳn là một người bạn tuyệt vời đối với con người giang hồ thấm mệt ấy. Tôi thấy một chiếc máy may để ở phòng lớn. Những chiếc áo dài nho nhỏ vừa vặn quá, có lẽ nàng tự may lấy. Chắc Charlot không phải thanh toán các hóa đơn thợ may.

Vâng, nếu nó không đến ở các đô thị, có lẽ vì nó không tin ở mình, còn ở đây thì nó hưởng một cuộc sống không vấn đề rắc rối. Charlot, mày là một thằng cừ khôi! Mày là hình ảnh của một tên gian hùng hoàn lương. Tao khen mày, nhưng tao cũng khen những người đã giúp mày thay đổi, không phải chỉ cuộc sống mà cả lập trường của mày đối với cuộc đời phải như thế nào hoặc có thể như thế nào.

Dù sao, những người xứ Venezuela cũng thật là nguy hiểm với cách tiếp đãi nồng hậu của họ. Luôn luôn được săn sóc ân cần và thân ái, mình sẽ bị trói cột lại nếu mình buông xuôi. Tôi được tự do, tự do và tôi muốn mãi mãi được tự do!

Papillon, mày hãy coi chừng! Đừng có làm bậy, nhất là đừng lập gia đình! Người ta cần tình yêu khi người ta thiếu tình yêu quá lâu. Cũng may là tôi đã gặp cơn sấm sét đầu tiên ở Georgetown. Cách đây không đầy hai năm, tới gặp Indara, một thiếu nữ Ấn Độ. Ở đó, cuộc đụng độ không quan trọng lắm, vì tôi không đi thẳng từ ngục thất đến, như trường hợp của Charlot! Thế mà Indara rất đẹp, tôi tràn đầy hạnh phúc, nhưng không phải vì vậy mà tôi dừng lại ở Georgetown để sống một cuộc đời yếu đuối. Vả lại một cuộc sống yên lành, dù có êm đềm cũng không phải để dành cho tôi, tôi cảm thấy rõ ràng như vậy.

Phải phiêu lưu, bạn ạ, chính là để thấy mình sống, sống đầy đủ. Vì vậy mà tôi đã rời Georgetown để rơi vào El Dorado. Tuy nhiên cũng vì lẽ đó mà ngày hôm nay tôi ở đây, tại xứ này.

Được rồi. Ở đây con gái đẹp, nóng bỏng, hấp dẫn và chắc chắn tôi không thể sống thiếu tình yêu. Chỉ cần tôi tránh mọi rắc rối. Tôi phải tự hứa ở lại đây một năm, vì tình thế bắt buộc. Càng ít có của riêng, tôi càng dễ dàng từ giã xứ này và từ giã dân tình quá quyến rủ của vùng này. Đúng, tôi là một đứa giang hồ, nhưng có một điểm khác biệt: tôi phải làm ra tiền một cách lương thiện, ít ra là không làm hại người nào hết. Mục tiêu của tôi là: một ngày nào đó, đến Ba Lê để thanh toán món nợ đối với những thằng đã làm tôi khổ nhục quá nhiều.

Hài lòng, mắt tôi tràn ngập ánh trăng sắp lặn sau rừng già, một biển cây đen sì với những ngọn sóng cao thấp không đều nhưng bất động. Tôi trở vào buồng và nằm dài trên chiếc giường rộng lớn.

Ba Lê, Ba Lê! Mi còn xa quá, nhưng quá xa để một ngày trong tương lai ta sẽ dẫm lên con đường nhựa của mi.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply