vietmessenger.com
Trần Doãn Nho

11. Người đi kẻ ở.
Anh đứng dùng dằng một hồi lâu ở cửa quán cà phê trước khi quyết định đạp lên ga. Vừa gửi chiếc xe đạp xong,
anh đã nghe tiếng kẻng báo tàu đến. Anh vội vã bương người chạy nhanh vào cửa kiểm soát. Đám đông người lố nhố, ồn ào ở toa gần cuối đoàn tàu. Nhiều người gọi tên anh khi thấy anh đến. Anh chen vào đám đông cố tiến đến cửa toa. Tiếng chào, tiếng chúc, tiếng khóc, tiếng dặn dò … chen nhau. Nhiều người giành nhau nói. Những người đàn bà mắt đỏ hoe, ai cũng cố níu lấy thành toa để nhìn vào trong cho rõ. Bà cụ già níu thằng bé mười, mười một tuổi xuống hôn lấy hôn để. Người phụ nữ trong toa cố giữ thân hình thằng bé:
– Mẹ coi chừng. Nó rớt xuống đường sắt bây giờ!
Bà cụ không chịu buông, vẫn ôm cứng thằng bé, khóc:
– Cháu đi rồi biết khi mô gặp lại.
Anh chen ngang qua đám mấy cô nữ sinh mặt đồng phục trắng, tay ôm cặp, đang chụm sát nhau tỉ tê, khóc lóc. Anh nhướng người lên, để cái đầu nhô cao khỏi đám đông, tìm Nhân. Anh vẫy tay khi thấy Nhân nhận ra anh. Nhân la lớn:
– À, Thuận, ông mới đến à? Chào nha. Chúc sức khỏe.
Anh đợi Nhân nói ít điều gì nữa, nhưng Nhân đã quay mặt đi, đáp lời chào của một người khác. Nhân mặc một bộ vét-tông màu sẫm, cổ đeo cà vạt đỏ, mặt mày tươi cười rạng rỡ. Dấu vết của một anh chàng đi xe đạp thồ mười mấy năm chỉ còn phảng phất đâu đó trên khuôn mặt đen sạm và đám tàn nhang lấm tấm quanh mũi. Nhân xoay tới xoay lui trong khoang tàu chật hẹp với vợ con, thân nhân cùng ba tầng giường nằm chồng lên nhau. Khoang bên cạnh cũng diễn ra cùng một cảnh. Anh chàng 40 kia trông bộ có đời sống khá giả hơn vì khuôn mặt mập và nước da trắng.
Anh đến được sát cửa sổ, đưa tay vào khoang bắt tay Nhân:
– Chúc đi mạnh khỏe. À, mà hai cái hồ sơ tôi gửi ông nhớ mang theo đến không?
– Có, có, ông khỏi lo.
Nhân buông tay ra, nhưng anh níu lại, giật giật:
– Rán giúp bạn bè nghe. Qua bên đó, quên thằng bạn khốn khổ này là tội nghiệp lắm. À, một cái gửi thẳng cho bà Khúc Minh Thơ, còn một cái cho “Hội Quân cán chính VNCH”. Cứ gửi cả hai cho chắc.
Nhận gật gật đầu, rồi hấp tấp gọi lớn:
– Thủy, Sương, lên mau. Thôi đủ rồi. Tàu sắp chạy kìa. Ba nói có nghe không, Thủy, Sương?
Hai cô con gái bịn rịn tách khỏi đám bạn học dưới sân ga, leo lên tàu. Anh chen ra khỏi đám đông. Còi tàu hú lớn. Anh nghe giọng Nhân chào từ giã mọi người, nhắc nhở mấy đứa con lẫn trong tiếng thút thít mỗi lúc mỗi lớn của những người đưa tiễn. Tàu chuyển bánh, để lại trên sân ga một đám đông hình như còn bàng hoàng, ngơ ngác với phút tiễn đưa. Một người đàn bà cố chạy theo tàu, giọng kêu khan khàn đứt đoạn: “Cu anh, cu em, cu anh, cu em ơi, bọn bây đi rồi. Cu anh, cu em … “
Thuận đứng lặng nhìn theo đoàn tàu từ từ chạy ra khỏi khu vực ga. Mắt anh cay xè. Thế là thêm một thằng bạn nữa ra đi. Lần lượt, lần lượt, chúng nó lên đường đi về phía tương lai. Anh ở lại, mãi mãi ở lại, như cái rễ cây cằn cỗi cứ phải bám lấy mô đất bạc màu mà sống. Đoàn tàu sắp biến mất ở một khúc quanh đằng khu Nhà Thờ.
Anh nhìn theo, mặt trời nửa buổi sáng loang loáng khiến chiếc tàu mang Nhân đi như sáng rực lên ở phía xa. Anh cúi xuống, bắt gặp ngón chân cái lớn của anh với cái móng dài để lâu chưa cắt, trông tội nghiệp. Anh nuốt nước bọ, cố nén một tiếng thở dài. Anh quay trở ra. Ở chỗ giữ xe trước ga, một đám đàn ông quen có, lạ có đứng lại bàn tán ồn ào.
– Cái thằng Nhân hên thật. Hắn H34 mà lại được gọi “đôn” lên H21.
– Ừ, hắn có bốn năm rưỡi mà lại được “đôn” lên mới lạ chứ. Lẽ ra phải tám năm trở lên mới nằm trong diện RD (*).
– Đúng là bắt được hủ vàng. Nghe nói đang cày ruộng, thì vợ ra báo có giấy gọi đi phỏng vấn, anh ta muốn xỉu luôn. À, Thu, ông H25 há. Cũng gần rồi. Tôi H27 chắc cũng phải tám, chín tháng nữa.
Anh gật đầu chào một người trong đám, rồi đi thẳng đến chỗ gửi xe. Anh nghe loáng thoáng có giọng ai đó hỏi:
“Tay đó có HO gì không? Trông quen quen.” Một giọng khác đáp: “Trung úy Quân nhu, thiếu năm.”
Anh cố xua đuổi cái chữ này ra khỏi đầu óc. “Thiếu năm”, âm thanh vang lên như một lời nguyền rủa đối với số phận. Anh đạp xe đạp về nhà, lòng trĩu nặ g. Con đường Lê Lợi buồn tênh, trống vắng. Cứ mỗi tháng qua đi, thành phố như vơi bớt người. Bọn chúng lần lượt lên đường, lột vỏ, thoát xác. Bạn học, bạn cùng đơn vị, bạn đi buôn, bạn bán số đề, bạn tù … Hôm nay, thằng Nhân ra đi. Tháng sau, thằng Quý đi phỏng vấn. Cuối năm, đến lượt thằng Phương. Có lẽ hè sang năm, bạn bè anh sẽ sạch nhẩn ở cái thành phố nhỏ bé này.
Vừa dựng xe đạp ở góc sân, anh đã nghe tiếng Nhàn, vợ anh:
– Anh uống cà phê kiểu gì lạ vậy. Sáng người ta đến ghi vé mà chẳng biết giấy tờ ở đâu. Lại còn làm “tịch” nữa. Chiều xổ rồi.
Anh nói mà không nhìn vợ:
– Anh tiễn thằng Nhân đi.
Giọng chị bỗng hậm hực:
– Tiễn với đưa! Mắc mớ gì lại phải tiễn với đưa. Mà lại, người ta có cần mình tiễn đưa, tiễn điếc gì. Họ được đi Mỹ, họ sung sướng quá rồi.
Anh lẳng lặng vào nhà, bưng chiếc bàn nhỏ, xấp vé số, bút, giấy ra bày dọn ở trước đường. Chị nói:
– Cất cái chỗ gì mà ác, tìm mãi tìm hoài không ra. Mất ghi cả mấy ngàn đồng.
Anh phân bua:
– Thì phải cất kỹ. Để khơi khơi vậy, lỡ thằng Thú công an khu vực vào nó thấy cho sinh chuyện à? Hôm qua tụi nó “ốp” một tay ở Chợ Cống, tịch thu cả trăm vé số với mấy chục ngàn đồng, em biết chưa?
– Ờ, thì vậy. Nhưng nhà mình nghèo, phải lo mà làm ăn, chứ cứ cà phê, cà pháo với lại “hát ô, hát éo”, mất cả thì giờ.
– Anh định không lên tiễn, nhưng vì có gửi theo nó hai cái hồ sơ, nhờ bà Khúc Minh Thơ can thiệp.
Chị bĩu môi:
– Bày vẽ! Tốn cả xứ tiền làm giấy làm tờ rồi có được cái kết quả gì đâu. Anh học tập tốt quá, nên được về sớm.
Họ học dốt, họ ở lâu năm, giờ họ phải đi. Cái số mình được ở nhà, anh chạy vạy làm chi vừa nhọc cái xác, vừa tốn tiền. Anh im lặng xếp vé số ngay ngắn trên bàn. Giấy tờ dành ghi số đề, anh đút túi. Tịch và những tấm giấy ghi rồi anh cuộn tròn bỏ trong chiếc lon rỉ sét vất lăn lóc trông rất vô tội vạ ở cái bụi cây gần bên. Làm cái nghề “ghi” này, đôi khi ăn cám trả vàng. Công an nó chụp một cái là đi đong cả vốn lẫn lời, lại còn bị kêu lên kêu xuống kiểm điểm, có lúc ở tù. Nên phải hết sức cẩn thận. Anh điểm qua các cặp vé số, cảm thấy hài lòng, vì hồi hôm anh đã lựa toàn số “đẹp”. Số “đẹp” là số gồm những con số khác nhau, nhất là ba con số cuối. Thường thì khách chê những con số đứng gần nhau mà trùng nhau như: 444, 000, 111 … Ai cũng có cảm giác đó là những con số vô cùng khó trúng. Thực ra thì
xác xuất của các con số đều giống nhau. Những lúc ế khách, anh thường ngồi tẩn mẩn đối chiếu các bảng kết quả xổ số để xem thử có tìm ra một qui luật nào của những số trúng không. Anh nhận xét, hầu như những số trúng, tức số “xấu” thường hay xuất hiện. Có lần nguyên số độc đắc lại là sáu
con số chín. Một lát sau, anh nghe tiếng chị ở sau lưng:
– Anh vào ăn sáng đi. Để em xem cho một lát.
Anh nựng con, đặt trên má thằng bé một cái hôn thật mạnh rồi đi vào nhà. Cơm và đồ ăn, chị đậy trong lồng bàn. Anh nghe mùi ruốc kho. Cũng tội, hồi hôm nghe anh kêu thèm ruốc kho, sáng nay chị liền làm cho anh. Anh ngồi trên chiếc chõng tre. Ruồi nhặng luẩn quẩn vì đánh hơi được mùi
ruốc. Căn phòng nhỏ vừa làm phòng khách, vừa làm nhà bếp ngổn ngang đồ chơi, mấy cuốn sách tập đánh vần, nón lá cái chằm xong, cái còn dang dở … Anh cố thu vén, dọn dẹp mãi mà vợ anh và mấy đứa con cứ vẫn bừa phứa, bày biện lung tung. Anh vừa ăn vừa nhìn tấm ảnh nhà binh treo ở góc phòng. Đây là tấm ảnh duy nhất anh còn lại, chụp khi anh vừa được lên Trung úy. Hồi cộng sản mới vào, anh tìm đốt hết, may mà chị vợ tiếc giữ lại một cái để có mà kỷ niệm và sang lại ít cái kèm trong hồ sơ xin xuất cảnh.
Giọng chị vọng vào:
– Xong chưa anh, ra bán số.
Anh hiểu ý, và hết miếng cơm, uống vội hớp nước rồi chạy ra. Khách là một người đàn ông trong xóm, thuộc loại mê những con số. Ông không đánh số nhiều, nhưng lại là chuyên viên đoán điềm giải mộng cho các bà, các cô ghi số đề. Anh hỏi:
– Số mấy, chú?
– 17 đi.
– Sao, đánh may rủi hay có mộng?
– Hồi hôm, mộng thấy rắn cắn. Rắn là ty. Ty thì trong sách nói ứng với số 8. Nhưng tôi rút kinh nghiệm, tôi thấy Ty phải ứng với số 18. Rắn cắn mà cắn hụt, phải trừ bớt 1, tất phải 17. Anh nghe tôi, đánh lớn số đó đi. Tôi bảo đảm anh thế nào cũng trúng.
Anh cười:
– Dạ, tôi sẽ theo chú. Trúng, hai chú cháu mình tới quán ông Ớt làm một chầu bia cho bõ thèm.
Ông khách định quay đi, chợt dừng lại:
– Thích bia thì giờ vào nhà thằng Trọng mà uống. Nghe tin gì chưa?
– Dạ, chưa.
– Thằng Trọng xóm sau mới nhận được giấy gọi phỏng vấn sáng nay.
Anh giật thót mình:
– Có giấy phỏng vấn à? Hắn có đủ năm.
– Thế đấy. Nhà hắn giờ như hội. Mới chở về hai két Huda mời uống tùm lum. Có rảnh vào mà “ké” ít chai.
Anh ngẩn ngơ. Chị chép miệng:
– Cái thằng Trọng điên thế mà được đi phỏng vấn à?
Ông khách cười:
– Đời thế mới tréo cẳng ngỗng. Trung sĩ lại được đi.
Trung úy thì đành chịu.
Anh thắc mắc:
– Có thật không, hay cái thằng Trọng bày đặt?
– Sao không thật. Nó cầm giấy Sở Ngoại Vụ đi khoe cả xóm.
– Hắn cải tạo có một năm, chưa tới một năm mà?
Ông khách hạ giọng:
– Hắn cải tạo một năm về, lại đi tù hai năm vì tội phản động. Lẽ ra thì không được, vì tội phản động họ không tính. Nhưng hắn chạy chọt sao đó, nên được ghép hai thứ thành một.
Anh ngớ người:
– Hèn gì!
Ông khách ra đi rồi, anh cảm thấy lòng anh tan nát.
Anh đứng nhìn những tấm vé số như thất thần. Chị bĩu môi, lầm bầm:
– Con mệ vợ hắn lại được thể mà lên nước!
Chợt chị dằn mạnh đứa con vào tay anh:
– Bồng cho người ta cái! Thấy người ta chưa? Có Trung sĩ quèn mà cũng đi Mỹ, đi miếc. HO, phải HO như người ta vậy. HO như mình đúng là HO dỏm.
Chị đi vào trong nhà, rồi lại đi ra:
– Đã thế lại còn xưng Trung úy này, Trung úy nọ. Anh thì không được cái tích sự chi hết. Còn bày đặt treo bóng, treo ảnh lên tường.
Chị lại đi vào nhà. Anh nghe chị bước lui bước tới, rồi tiếp đến là một tiếng “choang”. Anh hốt hoảng chạy vào, thấy chị hậm hực nhìn cái bóng nhà binh của anh nằm trên nền nhà, khuôn ảnh nằm trong góc, kính vỡ tùm lum.
– Em làm gì vậy?
Chị mím môi:
– Để càng thêm tức.
Anh gượng cười:
– Ảnh này em giữ mà. Dù sao cũng là kỷ niệm.
Chị nói hỗn:
– Kỷ niệm cái con khỉ mốc! Đưa con đây, coi mà quét dọn mẻ chai không thì mấy thằng quỷ đi học về lại đạp lủng chân hết.
Chị dằn đứa con từ tay anh, vùng vằng đi ra. Anh cầm cái ảnh lên, ngậm ngùi nhìn. Tấm ảnh đen trắng. Anh trong bộ quân phục với hai bông mai đính ở ve áo, mặt mày tươi cười. Có một thời, anh sợ phải nhìn lại nó, anh đốt, anh quên, cố quên. Khi chính sách HO ra đời, anh vò đầu bức tai
đi lục lọi giấy tờ, hình ảnh cũ mà không có. Thế rồi, từ một chỗ nào đó chị lôi ra một tờ sự vụ lệnh với một cái ảnh. Chị hãnh diện cười: “Em dấu anh em cất được hai thứ này. Em biết có ngày cũng phải được dùng đến.”
Anh quét dọn hết những mảnh thủy tinh. Anh cầm ảnh và khuôn để lại trên bàn, lòng xót xa. Anh hiểu nỗi tức tối, giận hờn của chị. Bởi vì, chính anh, dù không nói ra, anh cũng có một cảm giác như chị. Cứ một lần nghe có ai được kêu đi phỏng vấn, được kêu đi đăng ký máy bay, lòng anh lại bồi hồi, thảng thốt. Có một lúc, anh trốn các quán cà phê, nơi bạn bè, người quen anh thường tụ họp để bàn tán chuyện xuất cảnh. Bạn bè anh sĩ quan, ai cũng 5, 7 năm cải tạo. Chỉ có anh là “xui”. Trung úy mà chỉ có một năm tám tháng. Lúc đầu, anh cũng hy vọng tiêu chuẩn ba năm sẽ dần dần rút xuống. Quả thật, tiêu chuẩn rút xuống thật, chỉ còn một năm, nhưng éo le thay, lại kèm theo điều kiện phải làm sở Mỹ hay có đi học ở Mỹ một năm. Anh thất vọng. Nhưng còn nước còn tát. Anh lại nạp hồ sơ với số giấy tờ mỗi ngày một nhiều thêm: giấy bị cưỡng bức đi kinh tế mới, giấy chứng nhận anh bị bịnh trong trại cải tạo, giấy xác nhận Trại Cải Tạo của anh giải tán trước thời hạn … Anh còn lần mò tìm ra tên một người lính Mỹ được gia đình anh dấu hai ngày trong nhà vào hồi trận Tết Mậu Thân, và một số giấy tờ khác liên quan đến hồ sơ an ninh của anh ở trong Ty Công An, mua lại từ một tay công an hình sự. Anh chờ đợi và hy vọng.
Giọng chị từ ngoài nghe vẫn còn gay gắt:
– Cứ ngồi trong mãi thế. Ra coi cho tui vào chằm nón.
Chị đi vào, để đứa con xuống chiếc chõng tre, ngồi chằm tiếp cái nó còn dang dở. Chị lầm bầm một mình:
– Cái số tôi sao mà khốn nạn!
Chợt chị nấc lên, nước mắt ràn rụa. Giọng chị mếu máo:
– Vợ con người ta đi đông đi tây, chưng diện kiểu Việt kiều, đi học Anh văn, bàn chuyện ở bang này bang nọ bên Mỹ … Còn tui, mỗi lần đi chợ, lui thui lủi thủi không dám ngó ai. Người ta nói chuyện trên thiên đàng, còn mình như con gà què ăn quẩn cối xay. Đã thế còn đòi đẻ cho được con trai. Chừ, đứa bồng đứa dắt. Phải chi được đi như người ta …
Anh định im lặng đi ra, nhưng nghĩ sao, anh dừng lại:
– Tôi cũng xót ruột lắm. Nói vừa vừa cho người ta sống với. Mọi chuyện đâu phải lỗi tại tôi.
Đột nhiên, chị đứng dậy:
– Vậy lỗi tại ai? Người ta sĩ quan người ta học tập năm, bảy năm. Anh sĩ quan gì mà học tập có hai năm.
– Chẳng lẽ tui làm đơn xin ở tù thêm.
Chị chỉ mặt anh:
– Chỉ tại anh. Anh học tập quá tốt.
– Nói bậy nói bạ. Chỉ tại cái trại anh nó giải thể sớm. Một lô sĩ quan về sớm, có cả đại úy, thiếu tá nữa, đâu phải mình anh.
Chị lại mếu máo:
– Phải chi học tập dốt một chút thì đâu đến nỗi!
Anh chợt bật cười:
– Vậy thì hồi mới được thả về, ai làm đầu heo cúng tạ. Ai van vái cảm ơn trời đất. Ai nói cái số tôi có phước, khỏi tất bật, túi bụi nuôi chồng ở tù năm, bảy năm.
Chị ngừng khóc, lườm anh:
– Thôi đi ra cho rãnh mắt!
Anh im lặng đi ra. Tính chị vẫn thế. Khi tức tối chuyện gì thì dầu sôi lửa bỏng, ăn nói loạn xà ngầu, không bao giờ chịu suy trước nghĩ sau. Được cái là chung thủy, thương chồng thương con. Cái kiểu này, anh đoán chị sẽ không chịu đi chợ vài ba bữa. Vì đi thế nào cũng gặp con vợ thằng Trọng xóm sau. Gặp thì thế nào cô ta cũng khoe chuyện đi phỏng vấn. Người ta vui, người ta khoe, nhưng vợ anh cứ có cảm giác như đó là những lời nguyền rủa. Kể cũng tội cho chị.
Anh ngồi xuống trước bàn vé số. Nhìn những tấm vé số, chợt anh có một so sánh: nếu anh trúng vé số độc đắc chiều nay, thì anh có vui như nỗi vui của thằng Trọng giờ này không? E không, anh nghĩ.

Anh trả vé số bán không hết cho Ủy Ban xổ số, rồi đi nạp tịch cho chủ số đề, trở về thì trời cũng đã xế. Anh loay hoay chuẩn bị bảng, phấn, cái đài để ghi kết quả xổ số. Xong, anh ngồi ngó mông lung ra đường, đầu óc nhẫm tính số tiền kiếm được ngày hôm nay.
Đang lúc rà đài để theo dõi cuộc xổ số, thì anh nghe tiếng xe Honda ngừng lại bên cạnh. Anh nhìn lên, thấy đứa con trai của Quý. Anh hỏi:
– Gì vậy cháu?
Thanh niên đáp:
– Mẹ cháu nhờ chú ghé nhà khuyên giải ba cháu một chút.
– Gì vậy?
– Ba cháu say, đập phá lung tung.
Anh ngần ngừ một lát, rồi gật đầu. Anh kêu chị ra ghi kết quả xổ số rồi leo lên xe thanh niên, về nhà Quý. Nhà Quý là một căn hộ nằm trong khu Công chức thời trước 75. Sau khi đi cải tạo về, vợ chồng Quý làm nghề nem chả,
dành dụm sang lại căn hộ này. Vợ Quý ra đón anh ở cổng.
Chị nói:
– Anh Quý uống một mình từ sáng đến giờ e cả hai két bia. Uống vào rồi nói lảm nhảm. Thỉnh thoảng đập phá lung tung.
– Chuyện gì vậy? Mới uống cà phê Sửu với tôi hồi sáng mà.
Vợ Quý nói nhỏ:
– Không dấu gì anh. Nhà tôi mới nhận được giấy báo từ Thái Lan trưa nay.
– Thế nào? Gia đình chị tháng sau đi phỏng vấn rồi còn gì.
Giọng người vợ giống như tiếng thì thầm:
– Họ từ chối rồi.
Anh giật mình:
– Từ chối? Sao lại thế?
– Không đủ năm.
– Quý đi cải tạo ba năm mà.
– Thiếu hai ngày anh ạ.
– Trời!
Anh thốt lên một tiếng, không biết dành cho Quý hay dành cho chính anh. Lại thiếu năm. Không, thiếu ngày. Ôi, hai ngày định mệnh, hai ngày cay nghiệt! Cũng như anh. Anh bị nhốt ở một cái trại định mệnh. Lẽ ra anh cũng phải đi ở tù ba bốn năm, năm bảy năm như ai, nếu không bị số phận dẫn anh vào cái trại vô duyên đó!
Hai người vào trong nhà. Vợ Quý đưa tay chỉ nơi góc phòng khách. Quý đang nằm thiêm thiếp, mặt mày tái nhợt.
Một vệt nước miếng rệu ra từ khóe miệng. Anh nghe thoảng mùi tanh hòa cùng mùi rượu. Anh nhìn quanh. Cái tủ gương đựng ly chén vỡ một mảnh. Cái radio-cassette nứt một đường nằm lăn lóc phía dưới chân Quý. Vợ Quý rón rén bước lại gần chồng, đỡ cánh tay lên, lượm một mảnh chén vỡ nằm phía dưới vai. Anh ngồi yên lặng nhìn người bạn, có cảm giác như nhìn chính mình. Anh cũng không rõ mình đang buồn hay vui. Vợ Quý nháy mắt ra hiệu cho anh vào phòng trong. Mấy đứa con Quý buồn bã chào anh, rồi im lặng. Khuôn mặt đứa nào đứa nấy trông thẫn thờ, gần như vô hồn. Không khí trĩu nặng cả gian phòng. Vợ Quý lên tiếng:
– Nhận cái giấy báo từ chối xong, anh ấy vẫn còn bình tĩnh. Anh nói chắc có sự lầm lẫn gì đây. Vì rõ ràng anh Quý đi học tập ba năm, từ tháng 4/75 đến tháng 4/78. Tháng thì đủ, nhưng tính ngày lại thiếu. Anh nghĩ xem, ai mà ngờ đến nước này. Ai mà ngờ tụi Mỹ nó chi li thế. Anh đi ngày 26-4, về ngày 24-4. Đã thế cái tay trại trưởng lại ký lệnh tha trước đó hai ngày nữa. Thành thử ra, anh ấy thiếu đến bốn ngày.
Anh thấy có ức không?
– Tôi nghĩ Mỹ đâu có chi li đến vậy. Anh nên làm đơn gửi Thái Lan xin cứu xét.
– Anh ấy nói tụi Mỹ đã quyết định rồi thì khó lắm. Em nói còn nước còn tát. Nhưng anh ấy chán nản quá, nốc bia như nốc nước lạnh và bắt đầu nói lảm nhảm. Anh xé giấy báo, rồi đập phá lung tung. Anh cấm mẹ con em không ai được ra khỏi nhà, thành thử muốn lên tìm anh từ hồi trưa mà đành chịu. Khi nãy anh mệt quá nằm mê, em mới cho cháu lên gọi anh đó.
Giọng người đàn bà bắt đầu rưng rưng:
– Chắc bọn em phải đi khỏi đây thôi.
Anh ngạc nhiên nhìn vợ Quý:
– Đi đâu? Sao lại đi?
– Thì anh nghĩ xem, làm sao còn sống ở cái thành phố nhỏ bé này được với lời vô tiếng ra của thiên hạ. Con thì nghỉ học, đổ xô vào đi học Anh văn. Nhà thì bán rồi.
– Nhà bán?
– Bán rồi đấy anh! Năm cây. Họ đặt cọc năm chỉ. Tụi em cam kết giao nhà khi đi phỏng vấn về.
– Sao chị bán vội thế?
– Thì em cũng bàn với anh Quý vậy. Nhưng anh nói, nếu đợi phỏng vấn xong ra mới hô lên bán thì hấp tấp quá, không được giá.
Anh chép miệng:
– Phiền quá nhỉ!
Hai người im lặng. Vợ Quý lại than:
– Bây giờ, anh lỡ anh, thằng lỡ thằng. Bọn em như trên trời rớt xuống. Lâu nay cứ nghĩ là đi Mỹ, đi Mỹ. Nhất cử nhất động cũng đều có cái chuyện đi Mỹ ở trong. Bán lời cũng không tha thiết, lỗ cũng không buồn. Đau cũng chẳng lo. Cứ nghĩ đến chuyện đi Mỹ là mọi chuyện đâu vào đó.
Như anh mà khỏe. Lo làm, lo ăn …
Anh nghe đau nhói trong lòng. Vợ Quý có biết đâu, tình trạng của Quý làm rách nát thêm nỗi hy vọng mong manh của anh bấy lâu nay. Quý thiếu hai ngày mà còn bị bác, còn anh thiếu đến hơn một năm! Hai hồ sơ gửi theo Nhân cũng sẽ biệt mù âm tín!
Có tiếng động ở phòng khách. Anh nghe một tiếng đập xuống sàn nhà và giọng Quý rên rỉ:
– Hai ngày, hai ngày, hai ngày …
Tiếng Quý nhỏ dần. Vợ Quý chạy ra nhìn, rồi lại vào.
Chị thốt lên một câu nghe như chẳng ăn nhập đến tình trạng hiện tại:
– Thế là anh lại có bạn.
Anh nhìn người đàn bà, hơi ngơ ngác:
– Chị nói sao?
Vợ Quý thở dài:
– May mà còn có anh ở lại, không thì tụi em cũng buồn. Bạn bè đi hết rồi.
Anh lại nghĩ khác “May mà có Quý ở lại”. Tự dưng, anh mỉm cười. Vợ Quý nhìn anh không hiểu.
Tháng 3/1995
(*) RD: một chính sách dành cho những cựu tù nhân ở tù lâu năm (từ 8 năm trở lên) được ưu tiên xuất cảnh sớm, mặc dù nạp đơn trễ.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.