Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

Phần 22

Thế rồi, những mùa lá rụng theo nhau qua… Những năm tuổi đời ba bó có dzợ, có con, không có nhân tình, không dzợ bé, có công ăn, có việc làm báo, viết truyện giữa thành phố Sàigòn đẹp lắm Sàigòn ơi đọc lại truyện “Lettre d’un Inconnue” tôi nghĩ: “Ông văn sĩ tiểu thuyết hóa hơi quá. Đồng ý là các ông nhà văn lớn có nhiều nữ độc giả thơm như múi mít ái mộ nhưng ái gì thì ái đâu có ái quá xá ể như cô nữ sinh trong truyện này.” Bạn có thể nói tôi nghĩ như thế vì ghen tuông, vì tôi hổng được nữ độc giả nào ái mộ nên tôi ghen mí những ông nhà văn lớn. Bạn nói đúng một nửa. Quả thực là cả đời viết lách mấy chục mùa khoai lang, khoai sọ của tôi, tôi không có qua một nữ độc giả nào ái ố í é tôi cả, song thực tình tôi cũng rất muốn thấy những ông nhà văn lớn được nữ độc giả ái mộ đến cái độ cực kỳ như người nữ độc giả trong truyện “Lettre d’une Inconnue”. Mấy ông được nữ độc giả yêu thì có thiệt hại gì đến của chìm, của nổi của tôi đâu. Nhưng tôi nghi không có hoặc ít nhất có nhưng không đến cái độ kịch liệt đem thân nữ độc giả trinh nguyên con gái nhà lành tình nguyện hiến dâng một đêm cho nhà văn rồi lặng lẽ ra đi khỏi đời chàng, ôm bầu tâm sự, yêu con chàng cho đến đêm con chết mới chịu ngồi vào bàn cầm bút viết thư cho chàng. Trong cuộc đời thực tế phũ phàng ta thấy có nhiều ông văn sĩ lớn nhỏ bị vơ, bị người yêu bỏ rơi thảm hại thấy mồ đi.

Như đã kể hơn một lần: tôi có tật viết lang thang chuyện nọ dọ sang chuyện kia. Tôi không có ý định viết về nhà văn Stefan Zweig để nói về chuyện những ông văn sĩ nổi tiếng được nữ độc giả ái mộ yêu mê. Đây là chuyện về ông Stefan Zweig mà tôi muốn viết:

Những năm 1927, 1928 ở Nga Sô, Stalin đã lên nắm chính quyền khá lâu, một số nhân sĩ trí thức Âu châu được mời sang thăm nước Nga để thấy tận mắt cuộc sống hồ hởi của nhân dân Nga dưới chính thể xã hội chủ nghĩa công bằng, văn minh, tiến bộ, để thấy những xưởng máy hoạt động rộn rịp, những nam nữ công nhân Xô-viết hân hoan làm việc, những trường học sáng sủa, sạch sẽ, học sinh học không mất tiền, những bệnh viện khang trang, bác sĩ phục vụ tận tâm, lương y như từ mẫu, những công dân có bệnh vào nằm như thượng khách quốc gia, hưởng mọi phương tiện y khoa mà không phải chi một đồng kopek nào v.v… Trong số nhân sĩ trong phái đoàn thăm Nga Sô có nhà văn Stefan Zweig.

Ông viết: “… Một tối về phòng khách sạn, tôi thấy trong túi áo của tôi có bức thư không biết ai đã bỏ vào đó. Thư viết vắn tắt: “Ông đừng có tin những gì chúng nó bầy ra cho các ông thấy. Cuộc sống thực ở xứ này không như thế đâu. Thê thảm lắm. Chúng tôi khổ cực lắm…”

Một buổi tối cuối năm trời lạnh ở Thành Hồ – năm 1981, 1982 – ông bạn chở tôi trên chiếc xe Bridgestone cọc cạch của ông – ở Thành Hồ những năm 80 còn đi xe gắn máy được là dân hách – tôi ấm lòng khi nghe ông nói:

– Thằng nào giỏi chửi cộng sản ngay ở đây nè. Sang Pháp, sang Mỹ thằng nào chửi cộng sản chẳng được.

Đọc bài Lời Mở Đầu đăng trên trang đầu tập Tắm Mát Sông Ngọn Đào tôi sướng rên mé đìu hiu khi thấy mình được gọi là “Kim Cang Bất Hoại”. Các vị trong Nhà Xuất bản Lá Bối dùng chữ tất nhiên phải đúng. Chắc quý vị dùng “Kim Cang Bất Hoại” để gọi những ai kia, không phải để gọi tôi. Tôi không kim cang bất hoại một ly ông cụ nào cả, tôi mềm hơi đậu hũ. Bị công an Việt cộng gọi từ xà lim ra phòng thẩm vấn, tôi mềm hơn bún thiu, tôi nhận tội liền tù tì tút suỵt. Không những chỉ nhận những gì bị cộng sản coi là tội mà thôi, tôi còn khai thêm những việc tôi làm mà họ không biết. Tôi không chối vì tôi thấy tôi chẳng có gì phải xấu hổ vì những việc tôi làm. Tôi nói với họ: “Tôi bắt buộc phải viết thôi. Mà viết là tôi phải gửi ra nước ngoài để phổ biến. Nếu không làm thế, tôi thấy tôi là thằng không có xương sống…”

Tôi nhận tội vì tôi biết tôi có nhận hay chối họ đã định giam tôi mấy niên là họ sẽ giam tôi đủ từng ấy niên. Bắt chước cộng sản đàn anh Nga, Tầu, Việt cộng có một cái gọi là Ủy ban Luận tội. Thành phần ban này gồm nhân viên công an, viện kiểm sát, tòa án. Kể là ba, nhưng chỉ là một. Ba anh đảng viên này quyết định án tù của người bị bắt. Người tù không bị đưa ra tòa sẽ chịu án tập trung cải tạo. Án này có cái khó chịu là không biết mức án mấy niên, án có thể co rãn, thường chỉ rãn chứ không co, cứ mòn mỏi ở trại khổ sai cải tạo mút chỉ cho đến ngày được gọi cho ra về.. Người tù bị đưa ra tòa sẽ bị bọn chánh án tay sai áp dụng mức án đã được cái gọi là Ủy ban Luận tội quyết định. Mức án của người tù đã được định trước khi tòa xử. Ra tòa, nếu người tù tỏ thái độ cương nghị, bất chấp cái gọi là tù đầy xã hội chủ nghĩa, bọn chánh án thường tăng mức án cao hơn, chẳng bao giờ chúng xử người tù dưới mức án phạt bọn Ủy ban Luận tội đã định trước.

Tòa án Việt cộng chỉ là nơi chúng dựng lên dễ tuyên những cái án đã định trước. Việc biện hộ, bảo vệ quyền lợi của người bị cáo trước tòa án cộng sản là chuyện vô ích. Tôi khó chịu khi thấy nhiều tổ chức tranh đấu nhân quyền thế giới vẫn đòi Việt cộng phải đưa những người tù lương tâm ra xử trước tòa. Đưa ra xử trước tòa án Việt cộng thì người tù lương tâm được lợi gì? Vẫn là án tù đó. Thay vì nó ỉm đi, nó đưa anh em đi tù mười niên, nó cho anh em ta ra tòa một buổi và nó tuyên án mười niên. Cũng vậy thôi. Muốn bảo vệ có hiệu quả đôi chút người tù chính trị, người ta phải đòi có luật sư đến với người tù ngay từ buổi thẩm vấn đầu tiên. Ít nhất người tù cũng phải được gặp riêng luật sư của mình vài lần trong thời gian giam cứu. Đòi nó đưa ra tòa xử và đến lúc đó mới gửi luật sư đến nói láp nháp dăm câu là việc làm ngớ ngẩn. Đòi cộng sản cho tù nhân chính trị được có luật sư, được gặp riêng luật sư trong thời gian giam cứu là chuyện Việt cộng nó không bao giờ tưởng tượng có thể có, nói gì đến chuyện nó chấp nhận.

Năm 1977 khi đến bắt tôi, bọn công an Thành Hồ vớ được tập thơ Ễnh Ương tôi để ngay trên bàn. Tập thơ này hiện nằm trong Kho Tang Vật Sở Công An Thành Hồ. Ba Trung Huỳnh Bá Thành nói với tôi trong cuộc thẩm vấn:

– Nếu anh làm thơ, hay anh viết bất cứ cái gì chống chúng tôi mà anh cất đi, chúng tôi không bắt anh đâu. Anh gửi ra nước ngoài thì chúng tôi phải bắt anh thôi…

Tù Đậu Hũ ngồi im re, trong bụng nghĩ thầm: “Anh đừng nói chuyện ruồi bâu, kiến đậu. Tôi viết rồi cất đi làm sao anh biết mà bắt tôi được. Nói vớ vẩn!” Tôi không nói ra ý nghĩ của tôi vì tôi thấy: nói ra làm quái gì, chỉ dậy khôn chúng nó. Dậy khôn cho nó là việc mình không nên làm.” Chẳng hạn như khi Ba Trung nói đến tên ông William Colby, Y gọi là “… Côn Bai…” tôi không sửa là “Côn Bi”. Tôi nghĩ thầm: “Lạ nhỉ. Nó biết nói Ken Nét Đi sao nó không gọi là Côn Bi mà gọi là Côn Bai…”

Huỳnh Bá Thành có lẽ vì ít học nên có mặc cảm tự ti, thỉnh thoảng lại nhét cho bằng được vài câu tiếng Mỹ vào những trang truyện hắn viết. Trong một đoạn tả Cớm Cộng thẩm vấn tù nhân, Huỳnh Bá Thành viết:

– Anh tên gì?

– ….

– Không. Cho tôi biết full name của anh kia…

Công an Việt cộng hỏi cung tù nhân Mít trong ngục tù thành phố Hồ Chí Minh quang vinh mà tự dưng tương vào hai tiếng full name. Thật quái dị.

Trong một buổi hỏi cung tôi năm 1977, 1978, Ba Trung hỏi:

– Anh nghĩ có thể nào những tổ chức văn hóa tư bản, như giải Văn Chương Nobel chẳng hạn, nó trao giải thưởng cho nhà văn ngụy trong nước để làm khó nhà nước ta không?

Tôi nghĩ đến Mai Thảo. Chắc Ba Trung khi nói đến câu đó cũng nghĩ đến Mai Thảo. Năm ấy, Hà Nội chưa có vụ Nguyễn Chí Thiện cầm tập thơ chạy vào gửi ở Tòa Đại Sứ Anh Quốc. Tôi nghĩ: “Làm mẹ gì có chuyện ấy. Nếu Nobel mà phát giải nhăng cuội như vậy thì Nobel đâu còn là Nobel nữa. Cộng sản Tàu chiếm Trung Hoa đã gần hai mươi niên rồi có tên văn sĩ Tầu ca tụng chủ nghĩa cộng sản hay chống chủ nghĩa cộng sản nào được Giải Văn Chương Nobel đâu? Việt Nam còn khuya…” Tôi nghĩ thế nhưng nói chuyện đó với Ba Trung làm quái gì? Tôi chỉ trả lời lửng lơ con cá vàng:

– Tôi chắc không có chuyện đó đâu.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

87. Trần Ngọc Ninh

Cái tên Trần Ngọc Ninh chắc không còn xa lạ gì với tất cả những ai lưu tâm tới nền văn hóa của đất nước. Bởi vì, không phải chỉ riêng bao thế hệ bác sĩ của chúng ta đã thụ giáo ông, giáo sư bác sĩ Trần Ngọc Ninh còn là một người thiết tha với tất cả những gì liên quan cái hay, cái đẹp của nền văn hóa của dân tộc, ông đã dày công nghiên cứu rồi đem chia sẻ sự hiểu biết cho các môn sinh và độc giả xa gần, những người đọc ông.

Nhớ lại, sau 1975, có một đêm, tất cả dân miền Nam đã bàng hoàng khi bỗng nghe các đài phát thanh BBC, VOA loan tin bác sĩ Trần Ngọc Ninh vượt biên và đã được một tàu buôn ngoại quốc vớt ở biển. Một nỗi bàng hoàng pha lẫn vui. Vui, vì mừng cho ông đã thoát khỏi cảnh tối tăm, chắc đã làm ông khổ tâm lắm, trong những ngày còn mắc kẹt lại Việt Nam.

Buồn, vì những nhân tài, trí thức, cứ dần phải bỏ nước ra đi hết. Như thế đất nước sẽ còn lại gì?

Người ta không thể không tự hỏi, đến những người như thế cũng không cần thiết đối với chế độ, không thể sống được với chế độ thì, liệu bản thân mình, làm sao sống và còn có thể làm được gì nữa? Ý nghĩ cụ thể nhất của cuộc sống là người ta cảm thấy mình cần thiết đối với người khác. Trong chế độ cộng sản, ngoài những người cầm quyền, không ai được coi là cần thiết cả. Điều ấy cũng có nghĩa là không ai có giá trị gì cả.

Và, đúng như nhà văn Trung Quốc Cao Hành Kiện vừa được giải Nobel văn chương nói, muốn tồn tại trong xã hội cộng sản, người ta còn phải xóa bỏ cả cá tính nữa. Trở lại với cuốn Tuyết Xưa của giáo sư Trần Ngọc Ninh.

Đây là một tác phẩm viết về văn hóa và một chút lịch sử y khoa đại học đường Sài Gòn. Nhan đề của cuốn sách có lẽ được rút ra từ một câu thơ của Francois Villon:

“Où sont les neiges d’antan?”

Những tuyết xưa nay đâu? Tác giả đã phân tích quan niệm về cái đẹp trong thơ Villon. Cái đẹp với Villon có nhiều hình dạng. Có người đẹp lộng lẫy về dung nhan và thân hình như Flora và Thais. Có người đẹp vì mối tình não

nùng như Heloise. Có người đẹp vì cuộc đời oanh liệt như Jeanne d’ Arc.

Rồi tác giả dùng những hình mẫu ấy chuyển vào thơ Việt Nam với những người đẹp Đông Phương:

Chiêu Quân xưa Hán cống Hồ

Việt Huyền Trân lại Trà Bồ sang ngang

Thái Chân một giải lụa vàng

Mị Châu một kiếp đoạn trường chưa tiêu

Châu Phong dấy nghĩa Nhị Trưng

Triệu Vương nịt vú lẫy lừng đầu voi

Như con ong hút hoa làm mật, con tầm biến dâu thành tơ, tác giả đã dùng tất cả sự uyên bác của mình, góp nhặt từ cái tốt đẹp nhất của nhân loại, biến thành những dưỡng tố, bồi đắp cho văn hóa Việt Nam.

Viện phó viện Việt Học ở Cali, giáo sư Lê Bảo Xuyến, đã phát biểu cảm tưởng của Bà về cuốn Tuyết Xưa trong buổi ra mắt sách do chính Viện Việt Học đứng ra tổ chức như sau:

Tác giả đã đưa người đọc lần theo từng bước hình thành của văn hóa: loài người vươn lên khỏi lối sống hoàn toàn theo sinh lý và thiên năng của các loài vật khác. Để sống còn và để đối phó với những thách thức và đòi hỏi của sự đổi dời, một sự sáng tạo lạ lùng đã được phát minh. Cơ cấu não bộ dần dần từ đời này sang đời khác sáng lập ra một chính sách thông tin đưa đến ngôn ngữ. Và dần dần dựng lên những phân biệt nghĩa là những cặp đối nghịch: cái sáng / cái tối, những cặp đối nghịch: cái sáng / cái tối; cái nhanh / cái chậm; cái ngọt / cái đắng; cái ta / cái không ta; cái ăn được / cái không ăn được.

Và, vì nhu cầu tổ chức và sự chia ra từng đàn để phân công tự nhiên trong các bộ lạc và khóm, mà trong dân tộc Việt Nam thái cổ đã có sự phân cách đàn ông / đàn bà.

Cho đến hiện tại, có lẽ không có cách giải thích nào rõ ràng và hay hơn cách giải thích của giáo sư Trần Ngọc Ninh về chữ đàn trong ngôn ngữ của chúng ta. Trong cuốn sách còn nhiều định nghĩa lý thú về ngôn ngữ. Chẳng hạn các từ cô dâu / chú rể có nguồn gốc từ đâu, e ít người biết.

Giáo sư Ninh giải thích: các danh từ rẫy, ruộng, rể đều cùng gốc với rễ.

Chú rể là người làm rẫy, làm ruộng. Còn cô dâu là người trồng dâu. Như vậy trai gái lấy nhau có nghĩa là sư phối hợp của hai khả năng sản xuất tiêu biểu cho nền kinh tế nông nghiệp của ta.

Giáo sư còn đưa ra một định nghĩa hết sức giản dị thế nào là văn hóa trong cuốn Tuyết Xưa:

Văn hóa là cái mà ta khác họ. Ta là Tôi và tất cả những người có gì chung với tôi. Ta là cộng đồng Tôi. Họ là cộng đồng Nó, tức toàn khối các Nó: nó, nó, nó. Đối tượng của văn hóa là những hình thức sinh hoạt chung, đặc thù cho một nhóm người. Như vậy, văn hóa là toàn bộ những khác nhau trong sự sinh hoạt của ta và sự sinh hoạt của họ. Ta ăn họ cũng ăn, ăn không phải là văn hóa. Nhưng ta ăn cơm, họ ặn bánh mì, đó là một đề tài văn hóa.

Ta và cơm bằng bát và đũa, chứ không ăn bốc, ăn xúc, với tay, với đĩa, đó là văn hóa.

Cũng nên nhắc lại ở đây, bác sĩ Trần Ngọc Ninh là một Thạc Sĩ Y Khoa, giáo sư Giải Phẫu của Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn, đã từng là Tổng Trưởng Văn Hóa Xã Hội của Đệ Nhị Cộng Hòa VN, đồng thời cũng là giáo sư Đại Học Vạn Hạnh về các môn Văn Minh và Văn Hóa Việt Nam.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

86. Trần Mộng Tú

Trần Mộng Tú có lẽ là một trong những tác giả nữ của chúng ta, xuất hiện sau 1975 ở hải ngoại, viết được đều đặn nhất. Tuy viết rất khác nhau, nhưng gần như họ vẫn có một điểm chung, đó là hầu hết, đều cùng vừa viết văn vừa làm thơ. Nhưng, nếu nói những người khác vừa viết văn vừa làm thơ, có lẽ phải nói Trần Mộng Tú vừa làm thơ vừa viết văn. Trong số 5 tác phẩm của bà đã cho xuất bản, thơ đã chiếm nhiều hơn, 3 tập, chỉ có 2 tập truyện. Ngoài tập “Ngọn Nến Muộn Màng” vừa được đưa đến ta  người đọc, người ta còn thấy nhà xuất bản đang chuẩn bị cho ấn hành tập “Thơ Tuyển Trần Mộng Tú” nữa.

Không biết chúng ta có bao nhiêu nhà văn có thể sống được nhờ việc viết văn. Nhưng tác quyền về thơ có thể nuôi sống thi sĩ chắc là hiếm. Như thế, phải là người yêu thơ lắm người ta mới có thể tiếp tục làm thơ được. Trần Mộng Tú viết về nhiều đề tài: gia đình, bằng hữu, tình yêu, mùa màng, thời tiết. Nhưng có thể coi “Ngọn Nến Muộn Màng” như một tập thơ tình.

Bởi vì, những gì bà nói trong thơ, cuối cùng cũng từa tựa như những “ngọn nến” được thắp lên vì tình.

Nếu chúng ta yêu nhau

Năm mình 20 tuổi

Tình yêu xanh có chín suốt một đời?

Nếu chúng ta gặp nhau

Ở tuổi 40

Tình đã chín có là tình sẽ nẫu

Nếu chúng ta ngã vào nhau

Trên đôi chân đã đi qua đường dài quá

60

Ngày đã mãn mặt trời

Vầng trăng đêm đã khuyết

Tình có nhủ tình ngồi nốt chỗ trăm năm

Anh ơi!

Anh ơi!

tình nào là quá sớm

tình nào là quá muộn màng

Trái tim em như một đóa hoa ngoan

Nở giữa hàng rào đã nghiêng về một phía

Trái tim em là quả không bao giờ quá chín

Bụi phấn trên da còn dính ngón tay anh

[Đừng Hỏi Em tr. 20-21]

Người ta có thể thích hay không thích thơ Trần Mộng Tú, nhưng chắc chắn đọc thơ bà người ta không bị “sốc” vì những cái cố làm ra mới [hình thức]:

Em vẫn tưởng tượng ra

mỗi buổi sáng mờ sương

khi anh chạy bộ qua công viên

anh dừng lại

ném viên sỏi nhỏ xuống hồ

nhìn những vòng nước loang xa, loang xa

anh nhớ đến em

và những lần hò hẹn

[Thế Nào Em Cũng Khóc, tr. 30]

Đó là những tiếng nói nhỏ, có vẻ như chỉ để nói cho một người nghe, nói với chính mình:

Sớm hôm nay em thấy ở trong gương

Đường ngôi lệch sợi tóc buồn vừa thức

Chiếc lược lạnh vùi trong vùng tóc ấm

Những chiếc răng rẽ mãi một đường ngôi

Ôi nếu tình mà rẽ được như ngôi

Ta sẽ buộc đời nhau ngàn sợi tóc

[Sợi Tóc tr. 37]

Đọc thơ của Trần Mộng Tú người ta có cảm tưởng theo  dõi một câu chuyện không có chuyện, nhưng có nhiều tìnhtiết bất ngờ, thú vị.

Bài “Chia Nhau Hà Nội”, là một trong những bài hay nhất của Trần Mộng Tú, ý, tứ và cách phân câu rất gần với một ca khúc:

Em gửi cho anh

ly cà phê buổi tối

mùi ngô non

nướng dưới cột đèn

mảnh than nhỏ sưởi mùa thu

sắp hết

hơ gót chân ai

hồng giữa phố đêm

Em gửi cho anh

Chiếc kiềng bạc trạm

đang khoe mình

làm mới phố hàng gai

ảnh mẹ chụp mấy mươi năm về trước

cổ có đeo

một chiếc giống thế này

Em gửi cho anh

đất trời Hà Nội

để anh nhớ về thành phố

tuổi thơ

nơi hạnh phúc là một viên kẹo bột

được bạn chia cho trong một lúc

không ngờ

Em chỉ giữ cho em

những con ngõ hẹp

những bàn chân vội vã

dẫm lên nhau

những cánh cửa bàn tay ai quên mở

rặng sấu già nua

vẫn lặng lẽ cúi đầu

Em gửi cho anh cả

trái tim Hà Nội

Xin anh cất vào chỗ dấu

trái tim em

Em gửi cho anh

đất trời Hà Nội

để anh nhớ về thành phố

tuổi thơ

nơi hạnh phúc là một viên kẹo bột

Trại Giam Miệt Thứ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on August 3, 2025 by dongsongcu

Niệm Từ

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.

Gần một giờ khuya, chiếc xe công an bít bùng mới đến chở tôi cùng hai người phụ nữ khác bị bắt cùng trạm, rời huyện Tân Hiệp. Hầu như chín chục phần trăm bạn hàng các tuyến đường miền tây tôi gặp hoặc lấy mối, đều là đàn bà con gái. Điều chúng tôi lo ngại, là từ lúc bị bắt đến giờ, không ai còn thấy lại hàng hoá bị tịch thu của mình. Vả lại, cũng chưa thấy ai gọi tôi lên ký biên bản xác nhận mặt hàng như mấy lần trước. Lợi là chúng tôi có thể chạy chọt thêm để được thả vì chưa có chứng từ gì bị bắt hoặc tịch thu hàng lậu. Nhưng ngược lại, coi như tất cả hàng hoá, tài sản đó sẽ không bao giờ “châu về hiệp phố” với chủ nhân nữa. Mắt phải tôi giật mấy lần, nam tả nữ hữu, linh tính báo điềm không tốt. Mà đằng nào thì cũng mất, miễn đừng tật mang, là còn cơ hội làm lại bàn khác. Thời nầy biết đâu mà mò, nhằm nhò gì, thua me thì gở bài cào… Đầu óc căng thẳng, thân thể rã rời, nhưng tôi cố quan sát tình hình chung quanh. Hai người đàn bà kia thì đã ngủ gà ngủ gật, trong xe chỉ còn tôi và một tên công an ngồi hút thuốc, canh hờ ở cuối xe. Chắc hắn cũng không hồ hởi gì giờ nầy, gần Tết trời lạnh phải giải “không công” mấy mụ con buôn về tỉnh thì chán mớ đời. Chợt nhớ ra, tôi vẫn còn sợi dây chuyền mặt cẩm thạch hai chỉ rưởi nhét trong quần lót mà từ chiều lu bu chúng chưa lột tới. Mấy món nầy sẽ là “quà cáp” các anh để tôi được về nhà cho kịp đưa ông táo. Hy vọng là vậy để chút yên lòng… Đôi mắt tôi khô cứng nặng chì và, không còn đủ ý thức cưỡng bức chính mình được nữa, tôi gục đầu thiếp đi.

– Xuống…! Thức dậy, xuống xe!

Tôi bừng tỉnh. Tấm bạt xe mở tung, gió đêm lùa vào lạnh căng. Tôi bước xuống, định thần nhìn quanh. Hình như là cuối dãy nhà lồng chợ, chắc chắn không phải là khám lớn của tỉnh. Tôi hỏi nhỏ chị đồng hành:

– Đây là đâu vậy chị.

– Chợ Rạch Sỏi. Không biết tụi nó làm gì mình đây.

Nghe nói tôi cũng chột dạ. Đêm tối cuối năm, lạy trời đừng đúng theo những gì đang diễn ra trong đầu tôi. Hảm hiếp rồi giết liệng trôi sông, nào ai biết, lại hốt trọn đống hàng không chứng cớ. Thiệt là nhất cữ mà tam tứ tiện.

– Mấy chị theo tui.                                      

Một thằng công an rọi đèn pin về phía trước, thằng khác phía sau hất mũi súng ra dấu. Chúng tôi yên lặng bước theo hướng vào trong chợ, lòng hoang mang. Đi một khoảng đường ngắn, vừa khỏi chợ là đến bến đò. Bây giờ chúng tôi chợt hiểu phần nào sự việc xảy ra. Thay vì đưa về khám lớn tỉnh, chúng tống thẳng chúng tôi về trại tù miệt thứ.

– Mấy anh đưa chúng tôi đi đâu đây?

– Tù, chớ đi đâu. Buôn hàng cấm tội như phản động, tù cải tạo cho biết.

Chúng trả lời mỉa mai. Dưới bến, chiếc đò máy và hai thằng công an khác đang đợi sẵn. Thế là hết, tam thập lục kế đến nước nầy chỉ còn “nhắm mắt đưa chân”, tới đâu xâu tới đó. Chiếc đò máy rời bến, thằng công an áp tải đứng trên vẫy tay:

– Chúc mấy chị về thứ bảy ăn Tết vui vẻ. 

Mình mẩy con nhỏ nóng như lửa đốt. Từ hôm qua đến nay, Bé Năm ăn gì ói nấy. Tôi đưa nó lên trạm xá xin thuốc, thằng y tá nói nó làm bộ để trốn lao động, đuổi ra. Tội nghiệp con nhỏ, mặt mày xanh lét chỉ biết khóc. Nhìn Bé Năm nằm run rập cập, trán đẩm mồ hôi, tôi chịu không nổi. Đằng nào cũng phải chờ ra giêng, đút lót tụi nó giờ nầy cũng vô ích. Mấy thằng cán bộ lãnh đạo trại đã về hết gia đình ăn tết với vợ con, còn lại là đám canh tù ‘đầu trâu mặt ngựa’, tép riu. Hầu hết phạm nhân của trại tù cải tạo nầy là gia đình chủ tàu tổ chức vượt biên, lươn lận thụt két quỹ nhà nước, sử dụng giấy tờ đi đường hay công lệnh giả và vượt biên bị bắt. Buôn gian bán lận hàng quốc cấm như tôi là trường hợp đầu tiên, đặc biệt. Bé Năm ở đây đã hơn bốn tháng, tội vượt biên, đến nay cũng chưa xét xử hay đá động gì tình trạng của nó. Còn như tôi nghe đâu một hai tháng là cùng, nếu biết cửa mà nhờ. Thì tái ông thất mã, bị bắt nhưng vào những ngày cận Tết nên cũng đở, lao động cầm chừng và chưa được đám quản giáo chăm sóc tận tình theo đúng lệ tù non. Chớ nghe đâu luật ‘tù non’ phải lao động tiên tiến ban ngày và học tập cách mạng cá nhân với quản giáo tới nửa đêm gà gáy.

Tôi kéo cái mền của mình đắp thêm cho nó. Thôi thì đành, tôi vừa bán chiếc nhẩn chỉ rưởi ‘giá cán bộ’, định để xài nhín nhín phòng than, chờ liên lạc gia đình. Tôi cắm đầu đi lên trạm xá để gặp thằng cán bộ y tế lần nữa. Sau khi ngả giá, lục lọi một hồi nó đưa tôi được chục viên aspirin và một chai thuốc ‘thần dược’ dân tộc xuyên tâm liên. Tính ra hơn nửa chỉ vàng. Mà thà vậy, chớ ở tù miệt nầy có vàng chưa chắc gì mua được thuốc. Tôi rẽ vội xuống chái hậu cần ‘xin’ cán bộ Ánh, chị nuôi láng nữ, một chén nước cơm nóng và mấy miếng đường thẻ. Chị người ở Gò Quao, cha mẹ bị bom bừa chết sớm, làm giao liên cho cách mạng từ lúc mười một mười hai tuổi. Đến năm mười tám, đảng gả chồng cho chị, du kích của huyện. Chưa được một năm, chị trở thành vợ liệt sĩ. Từ đó chị Ánh đi từ bếp lửa cách mạng nầy đến vùng tiếp vận lửa khói khác, người chị nuôi hậu cần bất khuất của vùng quê hương Rạch Giá.Hòa bình, không như bao nhiêu người khác, chị không có nơi nào để trở về mừng ngày đoàn tụ hay vinh quang công trạng của tổ chức. Chị Ánh tiếp tục cuộc đời còn lại của tuổi thanh xuân bên những bếp lửa cách mạng, chỉ khác không còn dưới tầm bom đạn mà dưới sự cắt chia từng khẩu phần của cơ quan. Cuối cùng với công trạng gia đình liệt sĩ, chị được tổ chức phân công về công tác hậu cần cho trại tù cải tạo ở thứ Bảy nầy. Mới ngoài ba mươi, tôi đã thấy trán chị hằn những vết nhăn khốn khổ và đôi mắt chợt lắm khi vô hồn với những ánh lửa chung quanh. Nên chừng như trong đám đảng viên, cán bộ quản giáo ở đây chỉ có chị là còn sót lại chút thương cảm tình người… Trở lại láng tôi vẫn thấy Bé Năm còn thiêm thiếp. Đỡ dậy uống hai viên aspirin, tôi dục nó uống chén nước cơm nóng quậy đường thẻ, lấy sức. Nhìn khuôn mặt nhỏ nhắn, trẻ thơ của Bé Năm thật tội nghiệp. Tôi chỉ lớn hơn nó hai tuổi mà trông tôi già dạn hơn nhiều. Da tôi ngâm đen, tóc tai lùng bùng cháy nắng, ngược lại Bé Năm da dẻ trắng xanh, tóc đen óng mượt mà từng lọn. Nhớ lại đêm mới giải xuống, mình không, Bé Năm chia với tôi góc mền cái gối. Ở đây cái gì cũng tự túc. Chưa biết gì nhau mà nó đã không ngần ngại nhường tôi tất cả những đồ dùng cần thiết hằng ngày, nhất là phụ nữ. Khác với tánh lanh chanh, lợi ít hại nhiều của tôi, tánh Bé Năm lặng lẽ, ít nói nên tôi cũng không biết nhiều về nó. Nhưng nhìn tay chân, mặt mũi và dáng dấp ‘liễu yếu đào tơ’ của Bé Năm, tôi đoán chắc nó con nhà khá giả hay ít ra cũng chưa đến nổi, “vào trong kim chỉ ra ngoài mách mung” như tôi.

– Em mang ơn chị nhiều quá. Không có chị không biết ra sao…

– Ơn nghĩa gì. Chị em cùng cảnh ngộ mà. Thôi ráng ngủ chút đi, Dinh lén để dành chút cháo, dậy ăn.

– Cô Dinh à, vịt làm rồi nè.

Tiếng của Ánh, chị nuôi hậu cần, tôi ra dấu cho Bé Năm nằm nghỉ, rồi bước vội về phía chái nhà bếp. Sở dĩ tôi được thong thả ở láng chăm sóc Xuyến là nhờ tài nghệ làm tiết canh của tôi, nhất là món tiết canh vịt. Món mà ngày xưa cha tôi đánh nổi tiếng cả đơn vị và truyền lại cho tôi. Vừa đến trại giam hai ngày thì ban quản giáo lên kế hoạch mở tiệc liên hoan cho ban lãnh đạo trại và mời cả bên huyện ủy. Bí thư trưởng ban quản giáo, đồng chí Ba Thái,  dân miệt Hòn rất thích nhậu đế trắng với món tiết canh vịt mà mấy năm nay chưa ai làm hài lòng tên nầy. Để lấy lòng đồng chí bí thư, ban quản giáo họp toàn trại để tìm “nhân tài” cho món tiết canh. Điều kiện thật khó lòng từ chối, miễn lao động cho tới hai tuần lễ sau tết. Nhưng nếu làm liều ‘đánh’ láo, hư dĩa tiết canh thì lao động gấp đôi và không được nhận đồ thăm nuôi một tháng. Vì vậy mà cả ba láng tù không một bàn tay nghĩa khí đưa lên! Tôi đứng lên tình nguyện, lãnh phần. Ngay hôm sau chúng giao tôi một con vịt xiêm làm thử. Dĩa tiết canh được đám quản giáo chiếu cố một cách tận tình, vét sạch đến không cần rửa. Đồng chí bí thư đích thân khen ngợi và ủy lạo tinh thần tôi, chuẩn bị cho bửa tiệc liên hoan với huyện ủy chiều hai mươi chín tết.

Buổi chiều cuối năm trời lạnh hiu hiu, lay lắt gió. Bên trong hội trường, tiếng cười nói ồn ào của đám cán bộ và quản giáo. Tất cả là hai con chó mực và sáu con vịt xiêm lớn nên mùi thức ăn thơm lừng cả mấy láng trại. Rãnh tay chờ dọn dẹp, Xuyến rủ tôi ra phiá sau nương láng bếp ngồi nghe hương vị tết. Con nhỏ bảo tôi nó mê ca sĩ Duy Khánh là vì bài “Xuân Nầy Con Không Về” và khe khẻ hát từng đoạn rời rạc, câu nhớ câu không. Rồi tự nhiên Bé Năm yên lặng một hồi lâu, chợt quay qua hỏi tôi, quê chị Dinh ở đâu. Câu hỏi bất ngờ của nó làm tôi chưng hửng. Quê tôi ở đâu kìa? Trong khai sanh, tôi sinh ra ở một làng nhỏ thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long. Sau đó, tôi nhớ ngờ ngợ mình ở con hẻm nhỏ đường Phan Đình Phùng, gần chợ Bàn Cờ. Nhưng, thời thơ ấu đậm đà trong tôi là những ngày tháng sống ở căn nhà mướn trong cái xóm chuyên làm kẹo mạch nha, đường phổi bên lộ Quang Trung, thị xã Quãng Ngải. Cha tôi lúc đó là sĩ quan truyền tin của sư đoàn 25 bộ binh, đóng ở Mộ Đức. Tôi bắt đầu cắp sách đến lớp mẫu giáo ông giáo Thống được vài tháng thì vào trường nữ tiểu học, cạnh tiểu khu thị xã. Không hiểu sao cái xóm tôi ở không có con gái nên tôi chơi bạn toàn là con trai. Bắn đạn, tạt lon, hớt cá lia thia… đến tắm sông tôi đều rành rọt. Tôi biết lặn, lội sảy, lội chó cũng tại dòng sông tuổi thơ Trà Khúc. Được đâu vài năm, cha tôi lại theo đơn vị chuyển về miền nam, huyện Đức Hoà, Đức Huệ gì đó. Rồi cũng chẳng bao lâu, ông sang tiểu đoàn khác về thị xã Vị Thanh, tỉnh Chương Thiện cho đến ngày giải phóng. Dòng kinh xáng Sà-No chảy lững lờ dọc thời con gái của tôi… Nên tôi không biết trả lời Bé Năm thế nào, quê tôi ở đâu. Nghe tôi kể một hơi, con nhỏ cũng chẳng hiểu đâu vào đâu, thôi không thắc mắc nữa. Còn Bé Năm, tôi hỏi, quê ở đâu? Từ hồi mẹ đẻ đến giờ Bé Năm chỉ ở Vàm Răng, chưa lần nào ra khỏi tỉnh, nó trả lờI nhát gừng rồi không trả lời gì thêm. Quên tánh ít nói của nó, tôi cũng yên lặng nhìn bâng quơ buổi chiều cuối năm đang chìm dần phía sau những rừng tràm thăm thẳm tầm mắt. Chợt Bé Năm buông tiếng thở dài, từng đợt, như cố ngăn nhưng không kiềm chế được. Nỗi im lặng đồng lõa với nỗi lòng trĩu nặng chung quanh. Hai mươi chín tết, đêm chìm nhanh, lạnh đen trong hương đất trời trừ tịch. Không biết giờ nầy bên ngoài ra sao, mẹ tôi chắc đang ngồi buồn cho đứa con gái sinh ra nhằm tuổi ngọ ‘nên suốt đời cất vó chạy rong’. Có bàn tay mềm lạnh, xiết nhè nhẹ mấy ngón tay tôi. Khuôn mặt Bé Năm chỉ còn là một khung soan nhàn nhạt. Thân hình nhỏ rung từng đợt, gục hẳn vào vòng tay tôi, mềm mại. Trên đôi vai khô gầy, tôi nghe thấm âm ấm giòng nước mắt nấc nghẹn của Bé Năm. Con ngựa đầu non chừng như cũng nức nở, ngỡ ngàng. Khóc đi nhỏ, cho nhẹ mọi nỗi lòng. Nước mắt nhỏ, nước mắt tôi dù lẻ loi, cũng sẽ chảy mặn biển đời.

– Chị Dinh, em có điều rất hệ trọng muốn nói với chị. Mà không, em muốn nhờ chị…

– Nói đi Bé Năm. Lúc nào Dinh cũng sẵn lòng mà.

Bé Năm nặng nề cố nuốt từng nỗi nghẹn ngào, khô khan. Thỉnh thoảng, những tràn cười nói vọng vào đêm tịch mịch, từ trong hội trường sáng rực đèn ‘măng-xông’, như giục giã giây phút còn lại. Bé Năm khẻ hắng giọng và lau mắt đôi lần. Giọng nó dứt khoát và tỉnh táo hơn:

– Em tên thật là Tiên, Võ Thị Tiên. Bé Năm là tên ở nhà… Một năm trước đây, người bạn nối khố với ba em ghé thăm, thấy em, liền đánh tiếng hỏi mối mai cho con trai của chú. Anh ấy tên Trọng, trung úy pháo binh, sau bốn năm cải tạo giờ còn đang quản thúc ở địa phương. Chú có cho em và gia đình bức hình chụp đã lâu của anh ấy. Trong hình ảnh còn trẻ và hiền lắm. Gia đình đồng ý ngay. Phần em, lòng cũng không phản đối gì. Những ngày tháng hỗn loạn đó, làm thân con gái, chỉ mong có một nơi yên lấy bản thân… Thời gian sau, anh ấy bị chính quyền địa phương bắt đi lao động cải tạo trở lại. Gia đình quyết định tìm mối tổ chức đưa anh Trọng và em đi vượt biên. Bể ổ, cánh em bị bắt, cánh ảnh thoát được… Bắt giải về đây thì em bị thằng quản giáo cưỡng hiếp, chiếm mất đời con gái. Nghiệt ngã thay, em đã mất kinh và có dấu hiệu mang thai với thằng khốn nạn đó. Với anh Trọng, đời em đã chết. Em không còn xứng đáng với anh ấy nữa. Nhưng tấm lòng em, tình cảm em vẫn thuộc về anh. Em muốn nhờ chị thay em đáp lại mối nợ tình nầy.

Tôi chưng hửng, cố giương mắt nhìn khuôn mặt trẻ con của Tiên, tên thật của Bé Năm, mờ nhạt trong đêm tối. Tiên nhờ tôi, bằng cách nào? Tại sao? Tôi rùng mình liên tục, từng cơn lạnh chạy dọc theo cơ thể. Nhớ lại những ngày qua, Tiên ói mửa liên miên, nóng lạnh từng hồi không phải bệnh hoạn gì, mà là triệu chứng cấn thai. Tôi chưa biết phải nói gì, phản ứng thế nào cho đúng, thì Tiên tiếp tục giọng thật rõ ràng, chậm rãi:

– Chị có thể từ chối và quên đi những điều em chuẩn bị nói cho chị. Mới biết chị, nhưng thờI gian ngắn ngủi qua linh tính báo em chị là người tốt, có tình có chung. Gia đình anh Trọng vừa móc mối một chuyến đi nữa cho em, bây giờ là cho chị. Chị Dinh hiểu em nói gì, phải không chị? Trưa mai lúc mười một giờ, chị ra phía sau hội trường, có người đàn ông đợi ở đó. Câu tín hiệu, chị hỏi “anh là con chú Sáu Vĩnh ở chợ Vàm Răng”, trả lời “dạ phải, em đây” và người đó sẽ giúp chị trốn trên chuyến đò cuối cùng về Rạch Sỏi lúc bốn giờ chiều. Tới bến đò Rạch Sỏi, chị sẽ chuyển qua vỏ lãi đi về Vàm Răng và xuống ghe lớn đợi sẵn ngoài đó… Nếu mọi chuyện trót lọt, xin chị thay em để đi chung với anh ấy. Chỉ có vậy. Thời gian còn lại quá ngắn mong chị cho em biết quyết định ngay… Mà dù thế nào, em cũng cảm ơn chị trước.

Tai tôi vẫn chưa tin là sự thật. Cứ như giấc mơ, như trong tiểu thuyết mà tôi đọc đâu đó ngày xưa. Nhưng không, Tiên đang ngồi bên tôi bằng da bằng thịt và sương đã bắt đầu rơi thấm lạnh bờ vai.

– Sương xuống nhiều cảm chết, mình vô trong đi em…

– Chị Dinh nhận lời của Tiên?

– Chị nhận lời. Nhưng còn chuyện anh Trọng, chị…

– Chị nhận lời là được rồi. Mọi chuyện khác sẽ đến sau, chị đừng lo. Tiên cảm ơn chị và chúc chị nhiều may mắn.

Nói xong Tiên đứng dậy, đi thẳng về láng. Tôi nán ngồi lại một mình bên bờ mương, lòng mộng du, chơi vơi như đi giữa sợi chỉ định mệnh mong manh của cuộc đời. Bên kia hội trường, bữa tiệc rượu vẫn chưa tàn trong đêm cuối năm trừ tịch.

…Tôi đã làm đúng theo lời chỉ dẫn nhưng không giữ đúng lời hứa ân tình với Tiên. Gặp nhau ở Vàm Răng, tôi đã nói thật hết lòng và nghịch cảnh của mình với Trọng. Thà là nhìn Trọng đớn đau trong sự thật còn hơn lừa dối tấm chân tình tha thiết một đời của anh. Mọi việc không ‘ghê gớm’ như tôi tưởng. Chừng như trong cơn sóng dữ của đất nước, vết thương của mỗi cá nhân như những hạt mưa bụi nhỏ nhoi cuốn hút theo dòng đời thác đổ chung quanh. “Cảm ơn Dinh đã cho anh biết thế nào là ý nghĩa của tình yêu, tình người và lòng chân thành của tình bạn”, Trọng đã nói với tôi khi hai đứa ngồi nhìn những vạt nắng chiều, chìm tắt dần trên mặt biển. Xa xa là hòn Tre, nơi mà ngày mai là chuyến tàu định mệnh và tôi đáp khẻ,” lẽ ra Dinh mới là người nói cảm ơn anh và Tiên đã cho Dinh được ‘quá giang’ trong giòng duyên nghiệp nầy”. Trọng chỉ cười buồn, nhìn xa xăm và không nói gì hơn. Đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng. Trọng không thể của tôi, và ngược lại, tôi không thể nào của Trọng được. Đành lòng tôi phải lỗi hẹn với Tiên. Rồi nhỏ sẽ tha lỗi cho tôi, nghe nhỏ… Trọng đã tiễn tôi ra khơi cùng chuyến hải hành nhưng anh thì ở lại. Thái độ lựa chọn của Trọng thật rõ ràng, vì Tiên, vì trái tim anh mãi mãi thuộc về dòng kinh nước mặn của Vàm Răng. Làm sao tôi quên được cái vẫy tay của anh trên chiếc ghe nhỏ, khuất mờ dần trong màn sương lần tiễn biệt.

– Tiên, nhỏ ơi, trong mọi nỗi tận cùng khổ đau hay tuyệt vọng, tình yêu vẫn luôn luôn có thật giữa đời nầy…

Định cư tại Hoa Kỳ tôi đã cố gắng tìm mọi cách liên lạc với Trọng và Tiên. Nhưng rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi qua mà tin họ vẫn mù tăm, vô vọng. Cuộc sống của xã hội mới cuốn hút tôi vào như cơn lốc nhỏ. Hình ảnh của Tiên, của Trọng cũng mờ dần theo năm tháng. Nhiều lúc tôi thẫn thờ chợt nghĩ ra rằng, có những cuộc đời, những khuôn mặt người chỉ một lần thoáng qua rồi sẽ mãi mãi không bao giờ gặp lại. Họ đi về đâu, cuộc sống ra sao, câu hỏi chừng như thật đơn giản mà câu trả lời bí ẩn, to lớn biết chừng nào. Thỉnh thoảng trong giấc mơ, tôi vẫn thấy khuôn mặt trắng xanh với nụ cười thật trẻ thơ của Tiên và bàn tay vẫy khuất mờ của Trọng…

Tôi trở lại Vàm Răng sau gần hai mươi năm xa cách. Tất cả cũng không có gì thay đổi nhiều. Lần mò hỏi thăm tôi mới biết gia đình Trọng Tiên không còn ở đây nữa. Nghe đâu họ đã dọn về hòn Tre (hay còn gọi là hòn Rùa) sinh sống. Tôi vội vã bao tàu máy đi ra hòn Tre… Và trước mặt tôi là người đàn ông tóc hoa râm, da sậm đen ngồi vá những mảnh lưới rách chung quanh. Qua ánh mắt, tôi biết đây là Trọng. Người đàn ông nhìn tôi rồi bừng lên nỗi vui mừng: “Cô… Cô Dinh, phải hông?”. “Anh Trọng. Em là Dinh đây anh!”, chỉ chừng ấy tôi nghẹn lời, không nói gì thêm được. Chính giữa căn nhà đơn sơ, bề bộn những tấm lưới dọc ngang là chiếc bàn thờ có hình người con gái trẻ nét mặt ngây thơ, quen thuộc. Tôi nhìn sững sờ rồi nhận ra ngay đó là Tiên, Võ Thị Tiên. Bao nhiêu xúc động kềm chế chợt vỡ òa, tôi gục đầu khóc nức nở.

Trọng chậm rãi kể lại tôi nghe tất cả câu chuyện sau khi tôi rời trại giam miệt Thứ và ra đi… Bào thai đã bắt đầu đội bụng, Tiên hỏi thăm mấy cô bạn tù lớn tuổi để tống cái thai oan nghiệt trong bụng. Một bà hậu cần đã chỉ và tìm giúp Tiên loại cây thuốc phá thai rất phổ biến trong dân gian. Đó là loại lá cây cau trời hay còn gọi là cây chó đẻ. Lá cây chó đẻ vò nát, ăn sống ba lần là có tác dụng tống thai ngay. Tiên đã làm theo và kết quả là trúng độc, chết cả mẹ lẫn con. Đám cai tù trại giam dấu kín chuyện có thai chỉ báo gia đình Tiên bệnh nặng qua đời. Sau đó Trọng cùng người em họ dọn ra hòn Tre sinh sống bằng nghề vá và đan lưới qua ngày. Tuy chưa cưới hỏi nhưng Trọng mang theo di ảnh và lập bàn thờ cho Tiên, như vợ mình.

Câu chuyện cứ tưởng chừng như một giấc mơ. Một giấc mơ có thật cho đời người trong xã hội đầy áp bức, bất công. Tôi không thể thay đổi được gì, chỉ nuốt từng giọt nhớ thương người bạn tù đã mất; cố gắng giúp Trọng xây lại ngôi nhà và một số vốn nhỏ để anh thay đổi phần nào cuộc sống. Mỗi người một số phận, có khi buột chặt vào nhau, có khi lặng lẽ trôi bên nhau trên cùng mặt phẳng cuộc đời. Nhưng trong tận cùng kiếp nhân sinh khổ ải, tôi vẫn còn nhìn thấy tấm lòng, tình yêu có thật. Tấm lòng cao quý của Tiên dành cho tôi. Tình yêu ngời sáng của Trọng dành trọn vẹn cho Tiên. Hình ảnh tối tăm của trại giam miệt Thứ không giết chết được tình người, không giết chết tính nhân bản của chúng ta. Tình yêu của tôi dành cho Tiên, cho Trọng và cho quê hương vẫn luôn mãi mãi rạng ngời trong tim.

Niệm Từ

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

17. Montmartre – Vụ Án Xử Tôi

NĂM 1967, tôi được hết hạn quản thúc. Tôi sang Pháp một mình. Không thể giao cho một ai điều khiển cơ sở làm ăn của chúng tôi. Cần phải cương quyết, can đảm, được kính nể, mới duy trì một không khí lành mạnh, và chỉ có Rita mới làm được. Nàng bảo tôi:

– Anh cứ đi gặp quyến thuộc tại nhà họ, đến mộ ba rồi đi tiếp đến xứ Do Thái thăm má em hiện đã quá già.

Tôi vào nước Pháp qua ngả Nice. Mặc dù thông hành của tôi do chính quyền Venezuela cấp, có chiếu khán của tòa Đại sứ Pháp, tôi đáp chuyến bay Caracas – Madrid – Barcelone, rồi Barcelone – Nice. Tại sao lại Nice?

Cùng với tờ chiếu khán của tòa Đại sứ Pháp, tôi cũng có một văn kiện chính thức do ông Lãnh sự Pháp ở Caracas trao, tống đạt cho tôi án lệnh của Tòa Thượng Thẩm Ba lê triệt tiêu thời hạn quản thúc đối với tôi. Nhưng khi giao tờ chiếu khán cùng văn kiện ấy, ông Lãnh sự nói với tôi: “Hãy chờ tôi thỉnh thị bên Pháp để biết các điều kiện về việc hồi hương của anh”. Khỏi cần phải vẽ vời. Nếu tôi trở lại gặp ông Lãnh sự và nếu ông đã tiếp Ba lê trả lời, ông sẽ tống đạt cho tôi lệnh cấm lưu trú suốt đời trong hạt Seine. Thế nhưng tôi muốn đi một vòng qua Ba lê.Như vậy tôi sẽ tránh được sự tống đạt ấy và vì tôi không nhận, cũng không ký, nên không phạm luật. Trừ khi ông Lãnh sự biết tôi đã đi, nên yêu cầu Cảnh sát Phi cảng Ba lê tống đạt lệnh ấy lúc tôi đến. Thế nên tôi đi bằng hai chặn đường: tôi đến Nice như thể từ Tây Ban Nha đến.

1930 – 1967. Ba mươi bảy năm đã trôi qua.

Mười ba năm trên con đường khổ nhục, hai mươi bốn năm tự do, trong đó có hai mươi hai năm với một mái ấm gia đình, đã giúp tôi sống lương thiện sau khi được tái nhập vào hàng ngũ xã hội, nhưng không vì vậy mà tôi hoàn toàn sống có kỷ cương.

Năm 1956, tôi sống một tháng với người thân thuộc tại Tây Ban Nha, rồi một khoảng trống mười một năm; dù sao trong thời gian ấy, nhiều thư từ qua lại vẫn giữ được mối liên hệ sống động với gia đình tôi.

Năm 1967. Tôi gặp tất cả người thân thuộc.

Tôi đã vào nhà họ, đã ngồi vào bàn ăn với họ, tôi bồng con họ và cả cháu họ nữa. Grenoble, Lyon, Cannes, Saint Priest và cuối cùng Saint Péray; tại đây, trong nhà ba tôi, có Dì Ju, vẫn chung thủy với thiên chức như bao giờ. Tôi gói ghém cẩn thận các bức ảnh của ba má tôi, tôi hãnh diện nhận lãnh các huy chương ba tôi đã được ân thưởng năm 1914, tôi cất giữ như một vật quí giá cuốn sổ tiết kiệm mà ba tôi đã mở cho tôi một tháng sau khi tôi ra đời. Tôi đọc thấy: “Tháng 12 năm 1906, Saint Etienne de Lugdarès, Henri Charrière, năm quan”. Có những số tiền ký thác hai quan, ba quan, cả đến một quan, tượng trưng cho tình thương đối với một đứa con nhỏ; dù đứa con ấy không bao giờ rút số tiền ấy ra, nhưng những quan tiền ấy là cả hàng triệu quan bằng thương mến.

Tôi đã nghe Dì Ju kể lại vì lý do gì ba tôi đã chết trước tuổi. Ông tự tay tưới vườn và cầm bình tưới nước giờ này qua giờ khác trên một quãng đường dài hơn hai trăm thước. “Con cũng nhận thấy, đối với tuổi của ba! Đáng lẽ ông nên mua một ống cao su, nhưng không, ông cứng đầu như một con lừa, và bởi lẽ ông láng giềng không chịu đài thọ một nửa tiền vả lại ông biết khi có ống cao su, ông láng giềng sẽ dùng, thế nên ông ngoan cố tới cùng, rồi một hôm, trong khi ba con xách bình tưới nước, tim ba con đứng lại”.

Tôi thấy rất rõ, tôi trông thấy rất rõ ba tôi khệ nệ xách những bình nước tưới nặng trịch đến các luống rau, các cây cà chua, các cây đậu xanh.

Và tôi trông thấy ba tôi nhất định không mua cái ống cao su bất hủ ấy trong khi vợ ông, Dì Ju, ngày nào cũng yêu cầu ông nên mua đi.

Và tôi thấy ba tôi, ông giáo tỉnh lẻ ấy, đứng lại để thở, lấy khăn lau mồ hôi hoặc khuyên người láng giềng một câu, và chắc chắn là giảng một bài về thực vật học cho một đứa cháu đang dưỡng bệnh tại nhà ông ngoại vì ho gà hay đau quai bị.

Và tôi thấy ba tôi phân phát cả một phần hoa lợi cho những người không có vườn, và cột thành nhiều gói gửi đi khắp nước Pháp giúp bà con bè bạn trong thời kỳ chiến tranh, thực phẩm bị hạn chế.

Trước khi đến mộ ba tôi ở nghĩa địa, tôi xin Dì Ju đưa tôi đi dạo những nơi trước kia ba tôi thích.

Và chúng tôi đã đi theo nhịp bước của ba tôi trước kia, cũng trong những con đường sỏi đá hai bên có lau lách, hoa cúc, hoa mồng gà, cho đến lúc một cây trụ, một bầy ong, một con chim bay lên nhắc Dì Ju nhớ lại một diễn biến nhỏ trong quá khứ đã làm cho ba tôi với dì cảm động. Thế rồi, dì sung sướng kể lại cảnh bị một con ong vò vẽ chích thằng cháu ngoại Michel: “chỗ kia, anh thấy không, Henri? Ba anh đứng ngay tại chỗ đó”.

Cổ tôi khô ran vì khao khát muốn biết thêm, biết thêm nữa những chi tiết nhỏ nhặt về đời sống của ba tôi, vô cùng hân hoan được thấy ba tôi sống lại:

“Ju, em biết không, khi thằng con của anh còn nhỏ xíu, nhiều lắm là năm, sáu tuổi, trong khi đi dạo, bị một con ong vò vẽ chích, không phải một lần như Michel, mà hai lần. Thế mà nó không khóc, ngoài ra, anh đã khó nhọc hết sức mới giữ không cho nó tìm tổ ong vò vẽ để đập phá. Ồ, thằng Riri can đảm hết sức”.

Tôi không đi sâu hơn nữa vào tỉnh Ardèche, tôi không đi xa Saint Péray.

Tôi muốn đi cùng Rita trở về làng tôi, có lẽ phải đợi hai ba năm nữa.

Lòng còn tràn ngập kỷ niệm về thời dĩ vãng huyền diệu ấy, tôi bước xuống ga Lyon và gửi va li lại đó để khỏi điền vào phiếu của khách sạn. Đã ba mươi bảy năm qua, hôm nay tôi lại được đạp chân lên đường nhựa Ba lê.

Tuy nhiên, nhựa đường ấy chỉ là nhựa đường của tôi nếu tôi ở khu phố của tôi, tại Montmartre. Dĩ nhiên là tôi đến đó ban đêm. Anh chàng Papillon của những năm 30 chỉ biết mặt trời của những bóng đèn điện.

Và kia là Montmartre, công trường Pigalle, quán rượu Le Pierrot, ánh trăng đêm hành lang Elysée của trường Mỹ Nghệ, những người chơi bời, những tiếng cười, những gái điếm, những tên ma-cô nhìn bộ đi là biết ngay, những quán rượu đông nghẹt người, đứng cách nhau ba thước trước quầy hàng, vẫn nói chuyện với nhau. Nhưng đó là cảm tưởng đầu tiên của tôi.

Ba mươi bảy năm đã trôi qua, giờ đây không ai nhìn tôi. Nào ai để ý đến một người già đến nơi (60 tuổi)? Bọn gái điếm dám mời tôi lên nhà lắm và bọn thanh niên có thể vô lễ đến độ đẩy ly rượu tôi đi chỗ khác và lấy cùi chỏ thúc tôi để dành chỗ tôi ở quầy hàng.

Thêm một người ngoại quốc, một khách hàng, tương lai một kỹ nghệ gia tỉnh lẻ, cái ông khách quần áo bảnh bao, cà vạt đàng hoàng là vậy đó, một ông trưởng giả như trăm ngàn người khác, thêm một anh chàng trong giờ khuya khoắc này lạc đường vào trong quán rượu khả nghi này. Vả lại, người ta thấy ngay anh chàng ít hay đến vùng này, anh chàng có vẻ không được tự nhiên.

Đúng vậy, tôi không được tự nhiên, điều này rất dễ hiểu. Đâu còn những người cũ, những khuôn mặt cũ, người ta cảm thấy ngay rằng giờ đây tất cả đều mơ hồ, lộn xộn. Cảnh sát, gái điếm, ma-cô giả, bọn kẻ gian, bọn cựu phạm, người da đen và người A Rập, chỉ vài người dân Marseille hay dân Corse với giọng nói miền Nam nhắc tôi nhớ lại những ngày xưa cũ. Tóm lại, đây là một thế giới hoàn toàn khác hẳn thế giới tôi đã biết.

Không phải như thời của tôi, bây giờ không có những chiếc bàn từ sáu đến bảy thi sĩ, họa sĩ hoặc nghệ sĩ họp thành từng nhóm, tóc để dài sặc mùi lãng tử, tinh thần nổi loạn và trí óc tiên phong. Vả lại, bây giờ thì thằng chó nào cũng để tóc dài.

Và như một kẻ thụy du, tôi đi từ quán rượu này đến quán rượu khác, tôi leo lên các cầu thang để xem trên lầu nhất có còn các bàn bida của thời tôi còn trẻ hay không và tôi nhã nhặn từ chối lời đề nghị hướng dẫn tôi đi xem cho biết Montmartre. Tuy vậy, tôi vẫn hỏi:

– Từ năm 1930, phải chăng Montmartre đã mất hẳn linh hồn của Montmartre thuở nào?

Tôi muốn cho một tát tai khi nghe anh ta trả lời, quả là một lời nhục mạ xóm Montmartre của tôi.

– Không, thưa ông, Montmartre vẫn bất diệt! Tôi đã sống ở đây đã 40 năm, vì tôi đến đây lúc 10 tuổi, và tôi đoán chắc với ông rằng công trường Pigalle, công trường Blanche, công trường Clichy, tất cả những đường đi đến các công trường ấy vẫn như xưa, mãi mãi như xưa, không khí vẫn không thay đổi.

Tôi trốn chạy thằng ngốc ấy để đi bách bộ trên khoảng trống giữa đại lộ, dưới hàng cây. Đứng ở đó mà nhìn thì tuy không phân biệt khuôn mặt người đi đường, tuy chỉ thấy hình dáng mà thôi, nhưng Montmartre vẫn như xưa. Tôi bước chậm lại chỗ mà người ta cho rằng tôi đã giết Roland Legrand trong đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1930.

Chiếc ghế dài, có lẽ chiếc ghế cũ, mỗi năm được sơn lại (một ghế dài bằng gỗ dày như vậy có thể sống 37 năm), chiếc ghế vẫn còn đó, ngọn đèn điện vẫn còn đó, quán rượu trước kia vẫn còn đó, tường đá các ngôi nhà vẫn như cũ, các cửa sổ tòa nhà phía trước, khép hở, vẫn còn đó. Kìa, đá, gỗ, cây, kính hãy nói lên đi! Các người đã thấy lúc ấy các người đã hiện diện tại nơi đây vì bây giờ các người còn đang hiện diện các người là những nhân chứng đầu tiên duy nhất, trung thực nhất của thảm kịch đã xảy ra, các người biết rõ rằng thủ phạm đã bắn trong đêm hôm ấy không phải là tôi. Tại sao các người không nói?

Khách bộ hành hờ hững đi qua, họ không thấy người đàn ông 60 tuổi đang đứng tựa vào thân cây, chính thân cây này khi viên đạn súng lục được bắn đi.

Người đàn ông vuốt ve vỏ thân cây, có vẻ như anh ta xin lỗi vì trong mấy giây điên dại, anh đã không nói với thân cây những gì anh đã nói với những chứng nhân câm nín muôn đời: cây, đá của xóm Montmartre.

Năm 1930, tôi hai mươi ba tuổi, và tôi đang chạy trên đường phố Lepic, cũng con đường này hôm nay tôi bước những bước vững chắc. Vì tôi vẫn còn khỏe, còn mạnh, còn trẻ, vâng tôi còn trẻ và thật ra phải còn trẻ cả tinh thần lẫn vật chất mới không bị xúc động đến đứng tim chết ngay hoặc hét lên như một thằng điên.

Dù các người không muốn, người chết đã về, nó đã đẩy viên đá đậy nấp mồ nơi các anh đã chôn sống nó. Khách qua đường cận thị, các anh hãy dừng lại, hãy nhìn một người vô tội bị kết án vì một vụ ám sát đã xảy ra tại nơi này, trên mặt đất này, trước những thân cây, những viên đá này, các anh hãy dừng lại và hãy hỏi các nhân chứng câm nín kia, bảo chúng nó bây giờ nên nói đi. Nếu các anh cúi xuống, nếu các anh khẩn khoản, cầu xin chúng nó nói, các anh sẽ nghe như tôi đang nghe chúng nó thì thầm: “Không, cách đây ba mươi bảy năm, người này không có mặt tại đây trong đêm hai mươi lăm rạng ngày hai mươi sáu tháng ba, lúc ba giờ rưỡi sáng”.

Bọn hoài nghi sẽ la lớn: “Thế hắn ở đâu? Dễ quá, tôi ở quán rượu Iris, cách nơi này một trăm thước, quán rượu này thình lình có một anh tài xế tắc xi chạy vào nói: “Người ta vừa nổ súng ở ngoài kia”.

Bọn cảnh sát nói: “Không có”. Người chủ và người bồi của quán rượu Iris, bị cảnh sát giam lại, cũng nói: “Không có”.

Tôi nhớ lại cuộc điều tra, tôi nhớ lại vụ án, tôi nhớ lại vụ án, tôi không thể khước từ đối điện với dĩ vãng. Mày muốn sống lại dĩ vãng hả? Đã gần 40 năm rồi mà mày còn muốn sống lại cơn ác mộng ấy sao? Mày không sợ công việc ôn cố ấy sẽ khơi động ý chí phục thù đã từ bỏ lâu rồi sao? Mày có vững tin ở mày không, mày có chắc rằng một khi đã đắm mình trong vũng bùn ấy, mày sẽ không chờ trời sáng, các cửa hàng mở cửa để mua một chiếc hòm, nhét đầy chất nổ để làm cái việc mày đã biết, lật quyển điện thoại niên giám để xem số điện thoại của lão phó chưởng lý và tìm xem tên Golstein có còn sống và còn bán áo lông nữa hay không, hay là thế nào? Không, tôi hoàn toàn tin chắc rằng bọn ấy khỏi phải sợ tôi, nếu chúng chưa ăn phải sâu bọ thì chúng có chết rồi cũng mặc xác chúng.

Thế thì, cha nội ơi, xem lại tấn kịch hồi hộp như một vở tuồng danh tiếng, mà mày vừa là nhân vật chính, vừa là nạn nhân, không phải là chuyện khó. Ngồi đó đi, trên ghế dài màu xanh, chiếc ghế đã nhìn thấy vụ mưu sát ngay ở trước mặt đường phố Germain. Pilon, trên đại lộ Clichy, ngang quán rượu Le Clichy, nơi mà theo cuộc điều tra, tấn thảm kịch bắt đầu. Papillon, tại mày ngoan cố, tại mày đòi thằng Papillon 23 tuổi phải sống lại và kể cho mày nghe, mày sẽ được thỏa mãn.

Chúng ta đang ở trong đêm hai mươi lăm rạng ngày hai mươi sáu tháng ba, bây giờ là ba giờ rưỡi sáng. Một người bước vào quán rượu Le Clichy và hỏi bà Nini:

– Tôi đây, cô gái điếm đáp.

– Chồng cô vừa bị bắn một viên đạn vào bụng. Mời cô đi, anh ấy đang ở trong xe tắc-xi.

Nini vội vã cùng cô bạn đi theo người lạ mặt. Hai người bước lên xe tắc xi, trong xe Roland Legrand ngồi phía sau. Nini hỏi người lạ mặt ai đã đến bảo hắn gọi Nini đi theo hắn, thì hắn nói: “Tôi không thể nói”, rồi biến mất.

– Nhanh lên, đi đến bệnh viện Lariboisière!

Chỉ trong khi xe chạy, anh tài xế, một người Nga, mới cho biết người đi trên xe của anh bị thương, trước đó anh không thấy có gì hết.

Sau khi chở người khách đến bệnh viện, anh liền đến khai với cảnh sát những gì anh biết: hai người nắm tay nhau đã chặn xe anh lại trước số 17 đại lộ Clichy: chỉ có một người lên xe, đó là Roland Legrand. Người kia bảo anh đi đến quán rượu Le Clichy, người ấy sẽ đi bộ theo. Anh ta đã vào quán rượu, đã từ quán rượu đi ra với hai người đàn bà rồi đã biến mất. Hai người đàn bà bảo anh chạy đến bệnh viện Lariboisière: “Trên đường đến bệnh viện, tôi mới biết người đàn ông đã bị thương”.

Cảnh sát ghi cẩn thận lời khai trên, lại còn ghi thêm Nini đã khai rằng suốt đêm thằng bồ của nàng đánh bài trong quán rượu, nơi đó nàng ngủ một lần nữa với một người lạ mặt, rồi hắn chơi súc sắc và uống rượu tại quầy với nhiều người đàn bà, đều lạ mặt nữa, và Roland đã ra đi một mình sau những người kia. Trong lời cung của Nini, không có gì chứng tỏ đã có người đến tìm hắn. Hắn đã đi ra một mình, sau những người lạ mặt kia.

Một quận trưởng cảnh sát và một nhân viên cảnh sát, quận trưởng Gérardin và thẩm sát viên Grimaldi đã hỏi cung Roland Legrand khi hắn hấp hối, trước mặt mẹ hết hy vọng cứu sống. Tôi xin ghi lại phúc trình của họ, xin đừng nghĩ rằng tôi bịa ra vì phúc trình ấy đã được đăng trong một cuốn sách cố tình hãm hại tôi, do một quận trưởng cảnh sát Paul Romain đề tựa, tức là bảo đảm. Bản phúc trình như thế này. Hai nhân viên cảnh sát hỏi Legrand.

“Bên anh bây giờ có ông quận trưởng cảnh sát với mẹ anh, người quí hóa nhất đối với anh, Anh hãy nói sự thật. Ai bắn anh?

“Hắn đáp: “Papillon Roger”.

“Chúng tôi yêu cầu nó thề đã nói đúng sự thật. “Vâng, thưa ông, tôi đã nói sự thật”.

“Chúng tôi rút lui, để bà mẹ ở lại bên đứa con.”

Như thế là minh bạch, rõ ràng: trong đêm 25 tháng 3 năm 1930, người đã bắn là Papillon Roger.

Thằng cha Roland Legrand là một gã bán thịt ma-cô, khai thác con bạn gái của hắn là Nini, hai người sống chung tại số 4 đường Elysée des Beaux Arts. Đúng ra hắn không phải là người trong giới giang hồ, nhưng như tất cả những người lui tới xóm Montmartre, hắn biết nhiều người có tên Papillon, như tất cả những người trong giới giang hồ. Vì sợ người ta bắt lầm một tên Papillon khác chứ không phải tên Papillon sát hại hắn, một điều hắn không muốn, nên hắn nói rõ họ. Tuy hắn sống bằng nghề ma-cô, nhưng cũng như tất cả các tên ma-cô, hắn muốn cảnh sát trừng trị kẻ thù của hắn. Tóm lại, không những hắn cho hiệu xe, hắn còn nói rõ số xe. Một người tên Papillon, đúng, nhưng Papillon Roger.

Đứng tại nơi đáng nguyền rủa này, mọi việc ào ào kéo nhau trở về với tôi. Có lẽ tôi đã tự kể lại cho tôi nghe cả ngàn lần rồi về tập hồ sơ tôi đã thuộc lòng như một thánh kinh lúc tôi ở ngục tối, vì các luật sư đã đưa cho tôi và tôi có thì giờ khắc sâu vào trong đầu trước ngày ra tòa đại hình.

Thế là lời khai của Legrand trước khi chết, lời khai của Nini, vợ hắn. Cả hai không ai nói mày là thủ phạm.

Bốn người đi vào tấn kịch. Trong đêm xảy ra án mạng, họ đến bệnh viện Lariboisère để hỏi:

1 – Có phải đúng Roland Legrand là người bị thương không?

2 – Bệnh tình hắn như thế nào?

Được báo tin ngay lập tức, bọn cảnh sát cho kiếm bốn người ấy. Vì họ không trốn tránh cũng không thuộc giới giang hồ, nên họ đã đi bộ đến và cũng đi bộ về. Họ bị bắt khi đang đi trên đại lộ Rochechonart, và bị giữ ở quận Cảnh sát quận XVIII.

Bốn người ấy là:

Goldstein Georges, hai mươi bốn tuổi.

Dorin Roger, hai mươi bốn tuổi.

Jourmar Roger, hai mươi mốt tuổi.

Cape Emile, mười tám tuổi.

Các lời khai tại quận Cảnh sát quận XVIII, ngay hôm xảy ra án mạng, thật là tươi rói. Tất cả đều rõ ràng minh bạch.

Goldstein khai đã nghe một đám đông tụ tập lại nói có một người tên Legrand đã bị thương vì bị bắn ba phát súng lục. Nghĩ rằng có thể là bạn của nó, tên Roland Legrand thường lảng vảng ở xóm này, nó đi bộ đến bệnh viện hỏi thăm tin tức. Dọc đường nó gặp Dorin, rồi hai người kia và yêu cầu họ đi với nó. Mấy người kia hoàn toàn không biết gì về vụ này và không hề biết nạn nhân.

– Anh có biết Papillon không? Viên quận trưởng hỏi Goldstein.

– Có biết sơ sơ. Đôi khi tôi có gặp nó. Nó biết Legrand, đó là tất cả những gì tôi có thể nói.

Rồi sau ra sao? Papillon là nghĩa gì? Có đến năm sáu tên ấy ở Montmartre. Papillon, mày đừng có nóng. Hồi tưởng lại chuyện này, tôi vẫn còn hai ba tuổi và tôi đang đọc lại hồ sơ của tôi trong phòng tối của nhà giam Conciergerie.

Lời cung của Dorin: Goldstein có nhờ nó cùng đi đến bệnh viện Lariboisière để biết tin tức về một người bạn mà nó không nói tên. Nó vào bệnh viện với Goldstein và thằng này đã hỏi bệnh nhân Legrand có bị thương nặng không.

– Anh có biết Legrand không? Anh có nhớ một tên Papillon Roger không? Viên quận trưởng hỏi Dorin.

– Tôi không biết Legrand, không biết mặt cũng không biết tên. Tôi biết một người tên Papillon vì có thấy nó trên đại lộ. Nhiều người biết nó và nó có tiếng ghê gớm lắm. Tôi không bao giờ nói chuyện với nó. Tôi không biết gì hơn.

Đây cũng vậy, không có Papillon Roger.

Người thứ ba được chấp cung là Jourmar khai rằng Goldstein đã vào bệnh viện một mình với Dorin, khi ra có nói với nó: Chắc là một bạn của tôi.

Thế là, trước khi vào, nó không chắc chứ sao?

Viên quận trưởng hỏi:

– Anh có biết Papillon Roper và một người tên Legrand không?

– Tôi biết một tên Papillon thường lui tới xóm Pigalle. Tôi thấy nó lần cuối cùng cách nay ba tháng.

Thằng thứ tư cũng vậy. Nó không biết Legrand. Có biết một tên Papillon, nhưng chỉ biết mặt.

Bà mẹ cũng xác nhận trong lời khai đầu tiên rằng con bà có nói Papillon Roger.

Chỉ sau những lời khai đầu tiên ấy, tình trạng lộn xộn mới bắt đầu. Trước đó, mọi việc đều sáng sủa, rõ ràng và chính xác. Không có lời khai bậy bạ, không có cảnh sát, tất cả các nhân chứng chính yếu đã khai hoàn toàn tự do trước một quận trưởng khu phố mà không bị mớm trước, dọa dẫm hay hướng dẫn.

Kết luận: trong quán rượu Clichy, nơi có mặt Roland trước thảm kịch, chỉ có những người lạ mặt. Dù là tay chơi súc sắc hay chơi bài, tức là những người quen biết với Roland, họ đều là người lạ. Một điều lạ lùng và có phần khó hiểu, là đến cuối cùng, họ vẫn là những người lạ.

Điểm thứ hai: chính vợ Roland Legrand khai rằng Legrand đã đi ra khỏi quán rượu một mình và cuối cùng. Không có ai đến kiếm hắn. Không lâu sau khi hắn đi ra, hắn bị một người lạ mặt bắn bị thương, trước khi chết hắn biết rất rõ người ấy là Papillon Roger. Người đến báo tin cho Nini cũng lại là một người lạ, người này cũng sẽ luôn luôn là người lạ. Thế mà chính nó đã đỡ Legrand lên xe tắc xi liền sau khi có tiếng súng. Một người lạ không lên tắc xi, nhưng đi bộ theo đến quán rượu để báo tin cho Nini. Và nhân chứng quan trọng bậc nhất ấy sẽ mãi mãi là người lạ, trong khi tất cả những gì nó vừa làm chứng tỏ nó ở trong giới giang hồ, nó là người xóm Montmartre, nghĩa là cảnh sát phải biết. Quái gở.

Điều thứ ba: Goldstein, người sẽ trở thành nhân chứng buộc tội chính, không biết ai bị thương và đã đến bệnh viện Lariboisière để biết có phải là Legrand, bạn của hắn hay không.

Chỉ có các đặc điểm này về tên Papillon: nó tên là Roger và được tiếng rất ghê gớm.

Papi, có phải lúc hai mươi ba tuổi mày ghê gớm, nguy hiểm lắm không? Không, chưa nhưng có thể sẽ trở thành như vậy. Chắc chắn lúc bấy giờ, tôi là một thằng bé hư hỏng, nhưng cũng chắc chắn rằng lúc hai mươi ba tuổi (xin những ai hiện có hay đã có con tuổi ấy hãy suy nghĩ), tôi chưa thể vĩnh viễn trở thành một mẫu người nào đó được. Cũng chắc chắn rằng ở tuổi ấy, mới đến Montmartre chỉ có hai năm, tôi không thể là một bạo chúa hoặc một người đáng sợ của xóm Pigalle. Nhưng chắc chắn là tôi làm phiền trật tự công cộng, người ta nghi tôi tham dự vào các vụ làm ăn lớn, nhưng không lấy gì chứng minh được. Chắc chắn là người ta đã mời tôi nhiều lần và tra khảo khá nhiều 36 đường Orfèvres mà không khai thác tôi được gì, không một lời thú nhận, không khai một tên tuổi nào. Chắc chắn là sau tấn thảm kịch, thời ấu thơ của tôi, sau thời kỳ hải quân, sau khi chính quyền từ chối ghép tôi vào một địa vị xã hội ổn cố, tôi quyết định sống ra ngoài cái xã hội đầy trò múa rối và cho thiên hạ biết như vậy. Chắc chắn là, mỗi lần tôi bị bắt và bị tra khảo ở đường Orfèvres vì một vụ quan trọng tôi bị tình nghi dính vào, tôi chửi rủa nhục mạ đủ điều bọn viên chức hành hạ tôi, đôi khi tôi lại còn nói, một ngày nào đó, tôi sẽ ngồi vào chỗ bẩn thỉu của chúng và chúng sẽ lọt vào tay tôi. Thế thì chắc chắn là bọn cảnh sát bị nhục mạ cùng cực đã tự nhủ: “Thằng Papillon này, gặp dịp là cắt cánh nó ngay”.

Nhưng dù sao tôi cũng mới có 23 tuổi! Đời tôi không phải chỉ có thù ghét xã hội, thù ghét bọn cảnh sát tuân theo những luật lệ ngu xuẩn, mà cũng là một cuộc đời, một sự vui đùa triền miên, những gì linh động, tỏa ra như pháo bông. Tôi làm những chuyện bậy bạ nghiêm trọng, đúng, nhưng cũng có những chuyện bậy bạ không ác. Vả lại, khi bị bắt, trong lý lịch của tôi, chỉ có một án tích: 4 tháng tù treo về tội oa trữ. Không lý tôi bị xóa tên trong xã hội chỉ vì tôi đã nhục mạ cảnh sát và tôi có cơ trở thành người nguy hiểm? Vừa vừa thôi chứ! Nếu chính quyền Venezuela cũng phản ứng kiểu đó thì không khi nào quốc gia ấy cho tôi lưu trú, lại càng không bao giờ cho tôi nhập quốc tịch. Vì họ đã tiếp nhận một người 38 tuổi, nghĩa là ở vào tuổi khỏe nhất lại có một lý lịch có phần nặng nề: bị kết án lưu đày chung thân lúc 24 tuổi, về tội cố sát, hai lần vượt ngục, rất nguy hiểm.

Và tất cả bắt đầu từ đó, khi cảnh sát tư pháp phụ trách nội vụ. Người ta đi tìm mấy tên Papillon. Vì bạn ơi, lúc hai mươi tuổi, bạn tên là Papillon. Bạn chỉ từ bỏ biệt danh ấy từ ngày đến Venezuela. Có thể trong tương lai, bạn sẽ lấy lại nó.

Cả xóm Montmartre xôn xao vì người ta tìm kiếm tất cả những người có tên Papillon: Papillon nhỏ, Pussini Papillon, Papillon không sợ chết, Papillon Roger, vân vân…

Tên tôi là Papillon mà thôi, hoặc nếu người ta muốn nói rõ, Papillon ngón tay cắt, tuy họ tôi là Henri Antoine. Tuy vậy, tôi khỏi phải tiếp xúc với cảnh sát, tôi chuồn gấp, vâng, đúng vậy, tôi bỏ trốn.

Thế tại sao mày bỏ trốn, Papi, vì không phải mày là thủ phạm mà?

Bây giờ mày tự hỏi như vậy à? Không lẽ đến 60 tuổi, mày trở nên đần độn? Hay là mày quên rằng năm 23 tuổi, mày đã bị tra khảo nhiều lần tại đường Orfèvres? Mày không bao giờ ham chuyện đánh đập và các sáng kiến về tra tấn của cơ quan cảnh sát thời bấy giờ. Thùng nước trong đó người ta nhúng đầu mày cho đến khi mày bị ngộp thở, mày không biết mày đang ở đâu, bọn cảnh sát thọc vào hậu môn mày năm sáu lần, rồi để nguyên cho nó sưng, khiến trong nhiều tuần lễ mày đi như một tên chăn bò trên đồng cỏ Á Căn Đình, cục chặn giấy người ta dùng để chà trên móng tay mày cho đến lúc máu phọt ra và móng tay rơi khỏi ngón tay, những ống cao su người ta đập trên ngực mày để phổi mày bị sưng mày khạc máu ra miệng, những thằng cảnh sát nặng từ 80 đến 100 kí nhảy lên bụng mày để dùng bụng mày làm ván nhún. Không thể như thế được! Phải chăng vì mày có tuổi hay mày lú lẫn? Lúc bấy giờ tôi không chỉ có một mà một trăm, một ngàn lý do để bỏ trốn lập tức. Dĩ nhiên không trốn đi đâu xa, vì tôi không phải là thủ phạm. Tôi không cần trốn ra ngoại quốc, chỉ cần đi xa Ba Lê một chút là đủ. Người ta sẽ, nếu không bắt, thì cũng điểm mặt cái thằng Papillon Roger ấy là lúc đó chỉ một vòng tắc xi là mày đã trở về Ba Lê và thoát nạn! Không còn gì nguy hiểm cho hậu môn của mày, móng tay của mày hay là gì gì nữa.

Nhưng không bao giờ người ta biết được thằng Papillon Roger. Không có thủ phạm.

Rồi thình lình thủ phạm xuất hiện như một trò ảo thuật. Thằng Papillon Roger ấy phải không? Dễ ợt, người ta loại cái họ Roger và người ta tìm Papillon mà thôi, biệt danh của Henri Charrière tức Papillon. Trò ảo thuật đã xong, chỉ còn việc tìm đủ bằng chứng. Không còn là việc tìm tòi sự thật của một cuộc điều tra ngay thẳng và không oán thù của những thợ săn muốn kiếm thêm một con mồi cho bản thành tích của mình bằng bất cứ giá nào, mà là việc ngụy tạo một thủ phạm.

Bởi lẽ bọn cảnh sát chúng tôi, muốn xứng đáng được thăng cấp trong nghề rất cao quí và rất lương thiện của chúng tôi, phải thành công trong một vụ ám sát. Thế mà đương can có tất cả các điều kiện để được người ta chiếu cố. Trước hết là cấp chỉ huy của chúng tôi, tin chúng tôi, rồi đến ông dự thẩm cứu xét việc này, rồi đến mười hai ông phụ thẩm sẽ gán cho nó mười năm, tối đa. Nó trẻ, tập tễnh bước vào nghề ma-cô… Nhân tình của nó sẽ trở thành một gái điếm. Vì ăn trộm, nó bị cảnh sát bắt nhiều lần, nhưng đều thoát vì được hoặc là miễn tố hoặc là tha bổng, và chỉ có một lần nó bị xử bốn tháng tù treo về tội oa trữ.

Ngoài ra, thằng nhỏ rất cứng đầu, nó cho chúng tôi đi tàu bay giấy khi người ta bắt nó, nó thách thức nó nhục mạ chúng tôi, nó kêu con chó của nó là chiaphe (tên ông Tư lệnh Cảnh sát Ba Lê lúc bấy giờ), đôi khi nó nói với các đồng nghiệp của chúng tôi: “Mày nên nhẹ tay một chút khi tra khảo nếu mày muốn có ngày về hưu trí”. Những lời đe dọa sẽ trừng phạt chúng tôi vì các phương pháp hỏi cung “hiện đại” và “cẩn thận”, không khỏi khiến chúng tôi lo sợ.

“Cứ ra tay tới cùng đi bạn. Chúng ta được che chở tứ phía”.

Papi, mọi việc bắt đầu khốn nạn như vậy đó. Năm mày hai mươi ba tuổi, chúng bắt mày tại Saint Cloud, ngày 10 tháng tư, ba tuần lễ sau vụ ám sát; hai thằng cảnh sát ghê tởm bắt mày trong lúc mày đang ăn ốc bưu.

Ồ, chúng không nương tay chút nào. Chúng hết sức hung hăng, cố chấp, trì chí, say sưa, quỷ quyệt; rốt cuộc mày bị đưa ra trước tòa đại hình và bị một cái tát mà mãi đến 13 năm sau mày mới ngóc đầu nổi!

Phải chăng là sự vây bắt một đứa giết một người trong giới giang hồ? Không chỉ là việc tạo dựng thủ phạm của một tay tài phiệt hoặc một ông cha trong một gia đình rất lương thiện.

Việc cải tạo mày thành kẻ có tội không phải dễ. Nhưng lão Mayzaud, thẩm sát viên ngành Cảnh sát Tư pháp, phụ trách vụ này, chuyên viên về xóm Montmartre, hằn học với tôi đến nỗi hắn khai chiến với các luật sư biện hộ cho tôi mãi cho đến lúc ra trước tòa đại hình, như các báo đương thời thuật lại, có cả nhục mạ, đơn kiện và âm mưu hèn hạ, lão Mayzaud khốn nạn có dưới tay thằng ba phải Goldstein, con một nhà bán vải, một thằng dấm dớ liếm chân giới giang hồ với hy vọng sẽ trở thành tay anh chị. Cái thằng Goldstein dễ bảo vô cùng! Mayzaud tình cờ gặp nó có lẽ cả trăm lần trong lúc người ta thẩm cứu nội vụ (sau này trước tòa đại hình chính nó nói như vậy). Thằng nhân chứng quí hóa ấy đã khai trong hôm xảy ra vụ ám sát, nó có nghe dân chúng tụ họp lại nói với nhau rằng một người tên là Roland bị bắn ba phát súng vào bụng, và nó đã đến bịnh viện để hỏi tên tuổi đích xác của nạn nhân và để biết vết thương có nguy hiểm không, lời khai ấy đã được ba thằng bạn của nó hoàn toàn không dính líu gì đến vụ này xác nhận. Khoảng ba tuần sau, ngày 18 tháng 4, cũng thằng Goldstein, sau nhiều lần tiếp xúc với Mayzaud, đã khai như thế này:

Trong đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3, trước khi xảy ra vụ ám sát, nó có gặp tên Papillon (là tôi) cùng đi với 2 người lạ mặt (nữa?). Papillon hỏi nó Legrand ở đâu. Goldstein nói: “Ở quán rượu Clichy”. Papillon từ giã nó, nó liền tin cho Legrand biết. Trong khi nó bàn cãi với Legrand, một trong hai đứa bạn của Papillon vào và yêu cầu Legrand đi ra. Chính nó cũng đi ra liền sau đó và thấy Papillon với Legrand nói chuyện với nhau một cách bình tĩnh, nhưng nó không đứng lại. Sau đó, trở lại công trường Pigalle, nó gặp trở lại Papillon nói cho nó biết vừa hạ Legrand và nhờ nó đến bệnh viện Lariboisière xem bệnh tình Legrand ra sao, nếu hắn còn sống thì bịt miệng hắn lại.

Papi, mày là một thằng được tòa đại hình xem như rất ghê gớm, một phần tử trong giới giang hồ, bội phần nguy hiểm vì thông minh và quỷ quyệt, mày là một bạo chúa, thế mà mày quá ngu đến đỗi sau khi bắn một thằng ngay giữa đại lộ đông người, mày lại đứng ở công trường Pigalle, ngay tại phạm trường để chờ Goldstein đi qua trở lại. Không, mày không đi đến một khu phố khác hay ra ngoại ô để thở không khí trong lành, không! Mày đứng đó như một trụ cây số của một con đường nhỏ ở Ardèche, cho nên bọn cảnh sát chỉ cần đến nơi, chuyện ấy không lâu, để chào mày.

Cái thằng Goldstein tự xưng quen biết tôi nhiều ít ngốc hơn. Một ngày sau khi cung khai, nó trốn sang Anh quốc.

Trong khi ấy, tôi chống chế hết sức bình sinh: “Goldstein, tôi không biết, có thể tôi có gặp nó, nói một đôi câu với nó như giữa những người thường đến cùng một xóm mà không biết người đối thoại là ai”. Quả thật tôi không biết tên ấy, mãi đến lúc đối chất tôi mới biết rõ nó là ai: Tôi quá kinh ngạc khi thấy một thằng ranh con không hề quen biết buộc tội mình một cách chính xác như vậy, tôi tự bảo thằng này hẳn đã phạm một tội gì, chắc chắn là không nặng lắm vì nó quá thảm hại, nên bọn cảnh sát mới sai bảo nó dễ dàng như vậy. Đến nay tôi vẫn còn tự bảo như vậy. Xâm phạm thuần phong mỹ tục hay buôn lậu?

Bởi vì, nếu không có nó, nếu không có các lời khai liên tiếp của nó, mỗi lần lại thêm tài liệu mới cho cái kiến trúc mà bọn cảnh sát đang dựng lên, thì không có gì đứng vững. Không gì hết.

Nhưng nó nói: “Tôi nghe bà Cột nói rằng…”, rồi người ta đến gặp bà Cột, bà này nói cũng có thể rằng… vân vân. Cả một đống những câu “cũng có thể” của những người bọn cảnh sát rầy rà, là thành phần quan trọng nhất của hồ sơ vụ án.

Ngay lúc ấy, xảy ra một sự kiện, mới xem thì rất thần diệu, nhưng về sau, trở nên vô cùng nguy hiểm, tai hại hết sức. Một âm mưu quỷ quyệt của cảnh sát, một bẫy ngầm mà cả tôi với các luật sư của tôi đã đâm đầu vào. Tưởng làm như vậy là tự cứu, không ngờ là tự sát. Trong hồ sơ không có gì là vững chắc, lời khai liên tiếp của nhân chứng Goldstein đều không thể tin được. Hồ sơ nội vụ lỏng lẻo đến nỗi đối với tội ám sát gán cho tôi, thiếu hẳn một yếu tố: động cơ phạm tội. Vì không có lý do gì để hãm hại nạn nhân, tôi bị đưa vào vụ sát nhân này như những sợi tóc rơi vào nồi cháo, và bất cứ phụ thẩm đoàn nào, dù gồm những người đần độn nhất cũng không thể không nhận thấy.

Thế là cảnh sát tạo ra động cơ, và người cung cấp là một thằng cảnh sát đã lê gối ở xứ Montmartre hơn mười năm, thẩm sát viên Mazillier.

Một trong những người biện hộ cho tôi, luật sư Beffrey trong giờ rỗi rảnh hay đến xóm Montmartre, có gặp thằng cảnh sát ấy nói với ông nó biết sự thật về những việc đã xảy ra trong đêm 25 rạng ngày 26 tháng ba và sẵn sàng trình bày sự thật hàm ý có lợi cho tôi. Luật sư cũng như tôi đều nghĩ: hoặc nó làm như vậy vì lương tâm nghề nghiệp, hoặc là, vì cạnh tranh giữa nó với Mayzaud, điều này có vẻ đúng hơn.

Rồi chúng tôi yêu cầu nó làm chứng.

Nhưng lời khai của Mazillier không như chúng tôi tưởng. Nó khai nó biết rõ tôi, tôi có giúp nó nhiều việc, rồi nó thêm: “Nhờ các tin tức của Charrière, tôi đã bắt được nhiều người. Tôi không biết gì về các sự kiện liên quan đến vụ ám sát này. Tuy nhiên, tôi có nghe nói (trong vụ án xử tôi, không biết làm gì cho hết những câu “tôi nghe nói”!) Charrière bị những phần tử mà tôi không được biết (kỳ chưa!) thù ghét vì nó giao thiệp với cảnh sát”.

Và đó là động cơ của vụ sát nhân! Tôi giết Roland Legrand trong một cuộc cãi vã bởi vì nó đã tuyên truyền trong cả xóm Montmartre rằng tôi là điểm chỉ viên.

Lời khai của thẩm sát viên Mazillier được đưa ra khi nào? Ngày 14 tháng 4. Thế lời cung của Goldstein phản lại lời khai của nó ngày xảy ra án mạng khiến tôi bị lôi vào vụ này, xảy ra ngày nào? Ngày 18 tháng 4, bốn ngày sau khi lấy lời khai của Mazillier.

Ngoài ông dự thẩm Robbé bị bọn cảnh sát bỏ túi như chơi, mấy thẩm phán khác không ích gì cho mớ xà lách của bọn cảnh sát.

Họ quá vô bổ cho chúng đến nỗi một tiếng sét đầu tiên đã nổ.

Phòng luận tội, trước những lời khai co giãn của các nhân chứng, trước mớ chuyện mách lẻo, láo toét, lời khai của nhân chứng được hướng dẫn, có lẽ bị ép buộc nữa là khác, nên linh cảm có một cái gì không ổn trong hồ sơ. Papi, mày thường cho vào một loại, vì tưởng cũng mè một lứa, nào là thẩm phán, công lý, cảnh sát, phụ thẩm và cơ quan quản trị lao tù, nhưng mày phải công nhận, phải cúi đầu chào những vị thẩm phán hết sức lương thiện.

Kết quả, phòng Luận tội từ chối đưa tôi ra tòa đại hình vì tập hồ sơ ấy và giao tất cả nội vụ lại cho ông dự thẩm để điều tra bổ túc.

Bọn cảnh sát nổi điên lên, chúng tìm ra nhân chứng khắp nơi, tại nhà tù, một ngày trước khi người ta được thả ra. Cộng với những câu “người ta nói với tôi”, “tôi có nghe nói”, “hình như là… hoặc hầu như là…”. Thật là vô tận. Tuy nhiên cuộc điều tra bổ túc không thêm được gì, hoàn toàn không thêm được gì, không một dấu hiệu nhỏ hay một sự bắt đầu có bằng chứng nào mới, đáng kể.

Cuối cùng, vì không có gì mới ngoài mớ canh tôm cua thập cẩm vụng về không thứ gì quí, chỉ toàn cá sống được giả làm cá biển ở gành Địa trung hải, nên cuối cùng hồ sơ được chấp nhận chuyển qua tòa đại hình.

…Hôm nay, trên ghế dài ở đại lộ Clichy, trời gây gây lạnh. Tôi đi vài bước dưới bóng hàng cây, tôi không muốn đi vào vùng đèn sáng vì sợ gián đoạn luồng ánh sáng đang chiếu vào tôi muôn ngàn hình ảnh đi thẳng từ ba mươi bảy năm. Tôi lật cổ áo lạnh lên. Tôi đỡ nhẹ chiếc mũ để đầu tôi được mát vì sự hồi cố làm cho tôi nóng bức. Tôi ngồi xuống lại, lưng quay ra đại lộ, tôi rút hai chân bỏ qua ghế dài, ngồi ngược lại, hai tay tựa vào lưng ghế, như tôi đã ngồi trên ghế can cứu, trong những ngày đầu phiên tòa đại hình tháng bảy năm 1931.

Bởi vì để xử tôi không phải chỉ có một phiên tòa đại hình, mà hai phiên tòa.

Khác hẳn nhau. Một phiên tháng bảy, một phiên tháng mười.

Tại đây, lôi đình lại nổi lên một lần nữa. Một việc ít từng thấy trong giới tư pháp xảy ra: một ông phó chưởng lý, người thay mặt xã hội để buộc tội, người mà vai trò và quyền lợi bản thân là bảo vệ xã hội và kiếm thêm phẩm trật bằng cách đưa bọn can cứu vào tù nhiều chừng nào hay chừng ấy, ông phó chưởng lý được người trình hồ sơ để buộc tội tôi, đã dùng mấy đầu ngón tay lấy hồ sơ như dùng cây để gắp, rồi để lại trên bàn giấy mà nói: “Tôi không nhận buộc tội trong vụ này. Nghe cả mùi ám muội, giả tạo, hãy đưa cho người khác đi”.

Hôm ấy mặt luật sư Raymond Hubert đẹp lạ lùng khi vào nhà giam Conciergerie báo cho tôi nguồn tin kỳ lạ ấy!

Charrière, anh biết không, hồ sơ không đứng vững chút nào nên đã xảy ra một chuyện hi hữu tại Phòng Luận tội: Đừng có giật mình: một vị phó chưởng lý đã từ chối buộc tội trong vụ này và đã yêu cầu chuyển cho một vị khác!

Papi! Mọi chuyện quá tốt đẹp. Phòng xử không đỏ màu máu. Dưới làn ánh sáng của một ngày tháng 7 kỳ diệu, các bức màn, các tấm thảm, màu áo quan tòa đều gần như hồng nhạt. Không có chút gì giống như một lò sát sinh, mà như một phòng để trang điểm rộng lớn. Và trong phòng, một ông chánh thẩm tươi cười, hiền hòa, có phần hoài nghi, không tin lắm vào những điều đã đọc trong hồ sơ, khiến nên ông mở đầu cuộc thẩm vấn như thế này:

– Charrière Henri, vì bản cáo trạng không đáp ứng đúng những điều chúng tôi muốn biết, vậy anh hãy trình bày cho Tòa và các vị phụ thẩm vụ án của anh.

Một việc ghê gớm, lạ lùng, bất ngờ, ngàn năm một thuở, đã đến cho mày, Papi. Một vị chánh thẩm tòa đại hình yêu cầu bị can trình bày vụ án của nó! Trời! Mày nhớ không phiên tòa đại hình tháng 7, đầy ánh sáng mặt trời, cùng những vị quan tòa kỳ diệu? Papi, thật tuyệt quá! Các vị thẩm phán đã hướng dẫn cuộc tham vấn hết sức vô tư, ông chánh thẩm bình tĩnh và ngay thẳng tìm kiếm sự thật, đặt những câu hỏi bất ngờ cho bọn cảnh sát, bọn nhân chứng, quay tên Goldstein phờ người, lưu ý các mâu thuẫn trong lời khai của nó, khiến các luật sư của tôi và tôi hỏi nó nhiều câu làm nó lúng túng, thật quá đẹp, quả là một công lý mặt trời, Papi ạ, một phiên tòa mùa hè với những quan Tòa xúc động vì mớ giấy lộn xộn gồm toàn những báo cáo đáng ngờ của những tên cảnh sát đáng ngờ hơn nữa.

Papi, tại phiên tòa ấy, mày có thể tranh đấu và có thể tự bào chữa. Tranh đấu chống ai? Không thiếu gì, chúng đông lắm.

Nhân chứng đầu tiên quan trọng nhất, bà mẹ, đã bị công ty Poulagat uốn nắn. Tôi không tin bà khai như vậy vì ác ý, thật ra bà đã nghe theo những điều ám chỉ của bọn cảnh sát một cách vô ý thức.

Bà mẹ không còn khai những gì bà đã nghe với viên quận trưởng: “Papillon Roger”, và rằng Legrand có nói thêm (khi nào?) bạn nó Goldstein biết rõ Papillon. Bây giờ bà khai có nghe thế này: “Đó là thằng Papillon. Goldstein biết nó”, những lời này, quận trưởng Gérardin và thẩm sát viên Grimaldi không nghe. Một quận trưởng cảnh sát mà không ghi chép một sự kiện quan trọng như vậy, có lạ không nhỉ?

Luật sư Gautrat, luật sư của dân sự nguyên cáo, yêu cầu tôi xin mẹ nạn nhân tha thứ. Tôi nói:

– Thưa Bà, tôi không có gì xin bà tha thứ vì tôi không giết con bà. Tôi chỉ nghiêng mình trước nỗi đau khổ của bà, đó là tất cả những gì tôi có thể làm.

Nhưng quận trưởng Gérardin và thẩm sát viên Grimaldi vẫn giữ y lời khai đầu tiên: Legrand có nói “Đó là Papillon Roger”, chỉ có vậy.

Bây giờ là lúc xuất hiện tên nhân chứng muôn năm, thích ứng cho mọi trường hợp, Goldstein. Tên nhân chứng ấy, đúng một đĩa nhựa được ghi âm tại số 36 đường Orfèvres, đã đưa ra năm hoặc sáu cung từ, nhưng người ta chỉ giữ lại ba. Mỗi lần khai là mỗi lần nó buộc tội tôi thêm một ít, để rồi nói ngược lại, nhưng mỗi lần đều đem đến cho cái kiến trúc của bọn cảnh sát một miếng gỗ mới. Tôi còn trông thấy nó như thể mới ngày hôm nay. Nó nói nhỏ, nó chỉ nhích tay lên một tí để nói: “Tôi xin thề”. Sau khi nó khai xong, luật sư Beffey tấn công:

– Goldstein, trước hết anh đã tình cờ gặp thẩm sát viên Mayzaud bao nhiêu lần; chính ông này cũng khai có gặp anh và “tình cờ” nói chuyện về vụ này rất nhiều lần? Lạ quá, Goldstein. Trong lời khai đầu, anh nói không biết gì về vụ này, rồi anh biết Papillon, rồi anh khai có gặp nó trong đêm ấy, trước khi xảy ra vụ ám sát, rồi nó bảo anh đến bệnh viện Lariboisière xem thương thế Legrand ra sao. Anh hãy giải thích vì sao có những lời khai khác nhau như vậy?

Để trả lời, Goldstein chỉ lặp đi lặp lại: “Lúc bấy giờ tôi sợ, vì ở Montmartre ai cũng khiếp sợ Papillon”.

Tôi tỏ thái độ phản đối và ông chánh thẩm nói với tôi:

– Bị can, anh có câu gì hỏi nhân chứng không?

– Thưa ông chánh thẩm, có.

Tôi nhìn chăm chăm vào Goldstein:

– Goldstein, mày hãy nhìn thẳng vào mặt tao. Lý do nào đã thúc đẩy mày nói láo và buộc tội tao một cách vô lý? Mày đã phạm tội gì mà phải trả cho Mayzaud bằng những lời khai láo khoét như vậy?

Thằng ngốc ấy vừa nhìn thẳng vào tôi, vừa run, nhưng vẫn cố nói rõ ràng:

– Tôi nói sự thật.

Vừa nghe nó nói, quả thật, tôi có thể giết nó ngay, thằng chó má! Tôi quay lại phía quan tòa:

– Thưa quí vị quan tòa, quí vị phụ thẩm, Ông phó chưởng lý nói tôi là người quỷ quyệt, thông minh và xảo trá, nhưng theo lời khai của nhân chứng thì tôi là một thằng ngốc hoàn toàn và tôi xin chứng minh điều này. Muốn nói một điều bí mật hệ trọng như vậy với một người nào, nói với nó mình vừa giết một người bạn, nếu mình quen biết nó từ lâu thì mình là người thông minh, còn nếu thú nhận một việc làm như vậy với một người lạ thì mình là một thằng ngốc chính cống. Thế mà Goldstein đối với tôi là một người xa lạ.

Rồi quay sang Goldstein, tôi nói tiếp:

– Goldstein, nhờ anh kể ra trong đô thành Ba Lê hay trong cả nước Pháp một người có thể khai đã thấy chúng ta nói chuyện với nhau chỉ một lần thôi.

– Tôi không biết một người nào có thể làm chứng như vậy.

– Được rồi. Nhờ anh kể ra tại Montmartre, Ba Lê hoặc cả nước Pháp một quán rượu, một tiệm ăn hoặc một quán nước nào thấy chúng ta uống hay ăn chung chỉ một lần thôi.

– Tôi không bao giờ uống hoặc ăn với anh.

– Được lắm. Anh nói rằng lần đầu tiên anh gặp tôi trong đêm kỳ lạ ấy, tôi đi với hai người nữa? Hai người ấy là ai?

– Tôi không quen biết họ.

– Tôi cũng vậy. Anh hãy nói ngay, không do dự, tôi đã hẹn anh tại đâu để anh cho tôi biết kết quả về công việc tôi nhờ anh đến bệnh viện cho tôi và anh có chỉ nơi ấy cho những người đi theo anh không? Nếu anh không nói cho họ biết, thì vì lý do nào?

Không trả lời.

– Goldstein, trả lời đi. Tại sao anh không trả lời?

– Tôi không biết tìm anh ở đâu.

Luật sư Raymond Hubert:

– Thân chủ của tôi nhờ anh đi một việc quan trọng như vậy, xem thương thế Roland Legrand ra sao, thế mà anh không biết tìm thân chủ tôi ở đâu để đưa kết quả. Thật là vừa lố bịch vừa không thể tin được.

Papi, vâng, quả thật khó tin, nhưng mọi việc sẽ thảm hại hơn nếu người ta chấp nhận xây dựng sự buộc tội trên những lời làm chứng liên tiếp, mỗi lần mỗi nặng thêm của thằng khốn nạn, tuy đã được bọn cảnh sát uốn nắn chu đáo, nhưng không đủ thông minh để đáp ứng một phần ý đồ của chúng.

Ông chánh thẩm:

– Charrière, cảnh sát cho rằng anh đã giết Legrand vì nó nghĩ rằng anh là điểm chỉ viên. Anh có gì để đáp lại không?

– Tôi đã sáu lần có chuyện với cảnh sát và mỗi lần như vậy tôi được miễn tố hoặc tha bổng, trừ một lần bị kết án bốn tháng tù treo. Không bao giờ tôi bị bắt cùng với một người khác, không bao giờ tôi chỉ cho bắt một ai. Thật là khó tin và không thể chấp nhận rằng khi ở trong tay cảnh sát tôi không nói, rồi đến lúc được tự do tôi tố cáo bạn bè.

– Một thẩm sát viên nói anh là một điểm chỉ viên. Cho mời thẩm sát viên Mazillier.

– Tôi xin khai rằng Charrière là một điểm chỉ viên đã giúp tôi bắt nhiều phần tử nguy hiểm và điều ấy được loan truyền trong xóm Montmartre. Về vụ án mạng Legrand, tôi không biết gì hết.

– Charrière, đối với lời khai vừa rồi, anh có điều gì nói không?

– Chính theo lời khuyên của luật sư Beffey đã nói với tôi rằng ông thẩm sát viên ấy biết sự thật về vụ ám sát Legrand nên tôi yêu cầu mời ông ấy ra trước phòng dự thẩm. Và tôi nhận thấy cả luật sư của tôi cũng như chính tôi đã rơi vào một cái bẫy ghê tởm. Lúc khuyên Luật sư Beffey đòi ông ra tòa, Thẩm sát viên Mazillier nói ông ta biết tất cả vụ này và luật sư của tôi đã tin như tôi tin. Chúng tôi giả thuyết rằng, hoặc là ông ta là một nhân viên cảnh sát lương thiện, hoặc là có vấn đề cạnh tranh giữa Mayzaud với ông ta khiến ông khai về vụ án mạng. Thế mà, như Tòa cũng thấy, ông thẩm sát viên này nói không biết gì về tấn thảm kịch.

Một điều hiển nhiên là lời khai của lão thẩm sát viên ấy đã đem đến cho tội sát nhân mà người ta gán cho tôi một động cơ còn đang thiếu. Thật vậy, lời khai ấy, phát xuất từ một nhân viên cảnh sát rất thần tình, nó cứu vãn cả cái kiến trúc để buộc tội và đã làm cho một hồ sơ lỏng lẻo thêm phần nào vững chắc.

Chắc chắn là nếu không có Mazillier giúp vào, dù thẩm sát viên Mayzaud có cố gắng hết sức, tập hồ sơ buộc tội vẫn vô nghĩa. Âm mưu quá lộ liễu, nên người ta ngạc nhiên khi thấy nó được công tố viên chấp nhận.

Tuy nhiên tôi vẫn tiếp tục tranh đấu, tôi nói:

– Thưa quý vị quan tòa, quý vị phụ thẩm, nếu tôi là một điểm chỉ viên của cảnh sát, có hai điều để lựa chọn: hoặc là tôi không giết Roland Legrand vì nó cho tôi là điểm chỉ viên, bởi lẽ một phần tử hèn hạ như một điểm chỉ viên sẽ chấp nhận một sự sỉ nhục như vậy mà không phản ứng; hoặc là nếu vì bị nhục mạ, tôi bắn Legrand, chắc chắn cảnh sát sẽ che chở tôi và sẽ không bao giờ nhận chìm tôi một cách hằn học, vụng về như vậy, vì tôi đã giúp họ rất nhiều. Hơn thế nữa, đối với một vụ được xem là một vụ thanh toán giữa những tay lơ mơ trong giới giang hồ, họ sẽ nhắm mắt làm ngơ hay sắp đặt một cái gì đó để cho ra vẻ tôi ở vào thế tự vệ chính đáng. Người ta có thể kể ra nhiều tiền lệ về loại ấy, nhưng may cho tôi không ở vào trường hợp như vậy. Thưa ông chánh thẩm, xin cho phép hỏi nhân chứng một câu.

– Cứ hỏi.

Biết rằng tôi định hỏi gì, luật sư Raymond Hubert xin Tòa giải trừ bí mật nghề nghiệp cho thẩm sát viên Mazillier; nếu không ông ta không thể trả lời cho tôi được.

Ông chánh thẩm:

– Tòa Đại hình, áp dụng quyền chuyên quyết, giải trừ thẩm sát viên Mazillier khỏi bí mật nghề nghiệp và yêu cầu thẩm sát viên ấy vì quyền lợi của chân lý và công lý, trả lời câu hỏi của bị can.

– Mazillier, nhờ ông kể ra ở Pháp, ở các thuộc địa hay ở ngoại quốc, một người duy nhất ông đã bắt nhờ các tin tức của tôi.

– Tôi không thể trả lời.

– Thẩm sát viên, ông là một thằng nói láo! Ông không thể trả lời vì việc ấy không bao giờ có.

– Charrière, nên nhã nhặn trong lúc phát biểu, ông chánh thẩm nói.

– Thưa ông chánh thẩm, ở đây tôi bảo vệ hai điều: sinh mạng của tôi và danh dự của tôi.

Nhưng việc rắc rối không đi xa hơn. Mazillier rút lui ra ngoài.

Còn những nhân chứng khác, cả một đoàn người, hết người này đến người khác. Tất cả đều mặc một thứ áo cùng một thứ vải, cắt và may theo một kiểu tại nhà may cảnh-sát công ty, địa chỉ: 36 đường Orfèvres, Ba Lê. Cảnh sát tư pháp năm 1930. Hy vọng rằng đến nay mọi việc đã thay đổi. Hy vọng mà không nên tin lắm.

Papi, còn cách giải thích sau cùng, cách giải thích hợp lý nhất, mày không nhớ sao? Nhớ chứ? Tôi vẫn còn nghe rõ tôi nói:

– Thưa quí vị, xin quí vị tỏ ra lương thiện với tôi, xin quí vị nghe tôi trình bày: Legrand chỉ bị trúng có một viên đạn, sát nhân chỉ bắn nó một lần, nó còn đứng, nó vẫn sống và bước đi, người ta để nó thong dong bước lên một chiếc tắc-xi. Thế là người bắn nó không cố ý giết nó, nếu không đã bắn nó bốn, năm hoặc sáu viên đạn như thường xảy ra trong giới giang hồ. Bất cứ ai thường đến Montmartre đều biết điều này. Có phải vậy không?

“Thế thì nếu tôi là thủ phạm, tôi thú nhận và khai: “Thưa quí vị, người ấy, vì lý do nào đó, hữu lý hay vô lý, đã cãi vã với tôi hoặc đã cáo buộc tôi một điều gì đó, nó đã thọc tay vào túi, nó là một đứa trong giới giang hồ như tôi, tôi không gây sự và tôi bắn để tự vệ, chỉ một phát”. Nếu tôi khai như vậy, cùng lúc tôi cho quí vị thấy rằng tôi không cố ý giết nó vì nó vẫn sống vẫn đứng vẫn đi. Rồi tôi sẽ kết luận: “Nếu một thẩm sát viên nói tôi giúp ích rất nhiều cho cảnh sát, tôi yêu cầu quí vị chấp nhận những điều tôi vừa nói là thật như những lời thú tội của tôi và xem vụ này là một vụ tiểu hình, có ý đả thương nhân thương trí mạng, chứ không phải cố sát.

Tòa im lặng nghe tôi nói, hình như có vẻ suy nghĩ, tôi nói tiếp:

– Mười lần, một trăm lần, cả luật sư Raymond Hubert cũng như luật sư Beffey hỏi tôi: “Có phải anh bắn không? Nếu phải anh thì nên nói đi. Tối đa anh bị xử phạt năm năm, có thể ít hơn, người ta không thể xử nặng hơn. Lúc bị bắt anh 23 tuổi, như vậy anh sẽ mãn tù lúc còn rất trẻ”.

“Nhưng thưa quí vị quan tòa, quí vị phụ thẩm, tôi không thể theo con đường ấy dù để cứu tôi khỏi máy chém hoặc tù đày, bởi vì tôi vô tội và là nạn nhân của một âm mưu cảnh sát”.

Tất cả đã diễn ra trong phiên tòa đại hình chan hòa ánh sáng mặt trời, tôi được người ta để cho trình bày hết mọi lẽ. Không, Papi, thật là quá đẹp, công việc trôi chảy quá, mày cảm thấy Tòa án bị xúc động và mày có thể thắng. Mày chỉ là thằng bé tự phụ đáng thương, mày không thấy mọi chuyện quá đẹp hay sao?

Bởi vì ngay lúc bấy giờ, Mayzaud đã kiếm ra ngay mọi việc rắc rối, có nhiều phần sẽ góp phần vào mưu mô xảo quyệt của nó. Cảm thấy thất bại, công sức bỏ ra trong mười lăm tháng trở thành số không, nó làm một điều cấm kỵ. Trong lúc tòa tạm nghỉ, nó đến tìm tôi trong căn phòng chỉ có một mình tôi với lính canh, người ngoài không được phép vào. Đến gần tôi, nó cả gan nói với tôi “Tại sao mày không nói là thằng Roger người Corse?”. Hết sức bỡ ngỡ, tôi đáp:

– Nhưng tôi không biết thằng Roger người Corse nào hết! Nó bàn cãi một phút đi ra gấp và tiến đến gặp ông phó chưởng lý để nói:

– Papillon vừa thú nhận đó là tên Roger người Corse.

Ngay lúc ấy xảy ra một việc đúng theo ý muốn của thằng Mayzaud khốn nạn. Người ta ngưng ngay phiên tòa đại hình, mặc dù tôi hết sức phản đối. Dù sao, tôi vẫn tiếp tục tự bào chữa, tôi trình bày:

– Từ 18 tháng nay:

“Thẩm sát viên Mayzaud nói chỉ có một Papillon trong vụ án mạng và người đó là tôi;

“Thẩm sát viên Mayzaud nói tôi là người đã giết Legrand, không còn nghi ngờ gì nữa;

“Thẩm sát viên Mayzaud khai rằng không những nó quả quyết mà nó đưa ra những nhân chứng lương thiện, không thể bắt bẻ, quyết đoán, chứng tỏ tôi đã phạm tội mà không có gì còn nghi ngờ nữa.

“Nếu nhân viên cảnh sát đã tìm ra tất cả các nhân chứng và bằng chứng cần thiết chống lại tôi, tại sao kiến trúc của họ bị sụp đổ?

“Phải chăng hồ sơ này chỉ toàn láo toét? Và chỉ cần quăng một cái tên mới vào là người ta hết tin Papillon là thủ phạm?

“Nếu quí vị nói quí vị có đủ bằng chứng tôi phạm tội, bây giờ không lẽ chỉ vì một giả thuyết cho rằng thủ phạm là một tên Roger người Corse ma, do Mayzaud tạo ra nếu người ta tin tôi, hoặc do tôi tạo ra nếu người ta còn tin Mayzaud, quí vị lại cho đình lại tất cả, và cho bắt đầu trở lại hay sao?

“Không thể như thế được, tôi yêu cầu Tòa tiếp tục thẩm vấn, tôi yêu cầu tòa xử tôi.

“Thưa quí vị phụ thẩm, thưa ông chánh thẩm, tôi thành khẩn van xin Tòa!

Papi, mày đã thắng, mày đã sắp thắng và chính vì ông Phó Chưởng Lý quá lương thiện nên đã hại mày. Ông phó chưởng lý đứng lên tuyên bố:

– Thưa quí vị Phụ thẩm, thưa quí vị quan tòa, tôi không thể đứng ra buộc tội… Tôi không còn biết… Phải giải quyết vụ rắc rối. Tôi yêu cầu Tòa đình hoãn vụ này và truyền cho điều tra bổ túc.

Chỉ có bấy nhiêu đó, Papi, chỉ có ba câu nói của ông Phó Chưởng Lý Cassagnau đủ chứng tỏ mày bị kết tội vì một hồ sơ thối nát.

Nếu vị thẩm phán lương thiện ấy có trong tay một cái gì sáng tỏ, rõ ràng, không thể chối cãi được, nếu ông ta vững tin vào hồ sơ, ông đã không nói: “Hãy đình hoãn phiên tòa tôi không còn có thể đứng ra buộc tội”.

Mà ông đã nói: “Lại một sáng kiến của Charrière, bị can muốn làm chúng ta hoang mang bằng cái tên Roger người Corse. Thưa quí vị, chúng tôi không tin một tí nào hết, trong tay tôi có tất cả những gì cần thiết để chứng tỏ Charrière là thủ phạm và tôi cương quyết làm như vậy”.

Thế nhưng ông không nói, ông không làm, tại sao? Tại vì theo lương tri, ông không tin lắm vào tập hồ sơ và hẳn ông đã bắt đầu đặt những nghi vấn rõ ràng về sự lương thiện của nhân viên cảnh sát đã xây dựng nên hồ sơ ấy.

Như thế đủ biết tại sao bọn cảnh sát đến lúc sắp thua cuộc một cách nhục nhã, cuối cùng lại thắng mày, một thằng bé hai mươi ba tuổi, tuy chúng biết rằng cái tên Roger người Corse chỉ là một trò bịa đặt hoàn toàn. Chúng hy vọng từ đây đến ngày Tòa xử lại, chúng sẽ sắp đặt những âm mưu khác. Và những con người xấu xa như chúng chắc cũng tính rằng với một thành phần Tòa đại hình khác, một chánh thẩm khác, một phó chưởng lý khác, khung cảnh âm u của phiên tòa tháng 10, không khí của Tòa Đại hình sẽ không còn thuận lợi cho tôi và phòng xử án diễm lệ hôm nay sẽ biến thành một lò sát sinh.

Phiên tòa được đình lại, tòa truyền cho điều tra bổ túc, đây là cuộc điều tra bổ túc lần thứ hai trong vụ án này.

Một ký giả đã viết: “Ít khi thấy một sự do dự như vậy!”.

Dĩ nhiên, cuộc điều tra bổ túc không đem lại một sự kiện gì mới. Người ta không bao giờ tìm ra tên Roger người Corse.

Trong cuộc điều tra bổ túc, mấy anh lính cộng hòa rất lương thiện, họ khai chống lại Mayzaud về vụ rắc rối kỳ tháng bảy. Vả lại, tại sao một người đang lớn tiếng nói mình vô tội, đang chứng minh sự vô tội một cách hợp lý, đang cảm thấy Tòa án bị xúc động thuận lợi cho mình, tại sao đột nhiên người ấy lại vứt tất cả bằng cách nói: “Tôi có ở chỗ ấy, không phải tôi bắn, mà chính Roger người Corse?”.

Papi, còn mấy phiên tòa khác thế nào? Phiên tòa cuối cùng, có tính cách quyết định, ở đó máy chém khô khan bắt đầu được khơi động, ở đó tuổi hai mươi bốn của mày, ngày xanh của mày, niềm tin vào cuộc đời của mày bị đập một nhát búa thẳng cánh, chung thân, ở đó Mayzaud sau khi lấy lại tinh thần đã xin lỗi ông Phó Chưởng lý và công nhận đã phạm lỗi kỳ tháng bảy, ở đó mày đã la lớn vào mặt nó: “Mayzaud, tao sẽ lột mặt nạ người lương thiện của mày!…” Papi, mày nhất thiết muốn sống lại cảnh ấy à?

Mày nhất định muốn thấy lại phòng xử ấy, cái ngày âm u ấy hả? Ba mươi bảy năm đã trôi qua, nhỏ ơi, đã bao lần tao nói với mày điều này? Mày muốn cảm thấy trở lại cái tát khủng khiếp đã buộc mày tranh đấu trong ba mươi bảy năm để có ngày ngồi trên chiếc ghế dài trên đại lộ Clichy trong xóm Monmatrtre của mày hả? Vâng, chính vì muốn đo lường đoạn đường đã qua, tôi muốn đi từng bước xuống chiếc thang đã đưa tôi xuống đáy giếng nhục nhã của con người.

Mày còn nhớ không? Lúc mày đẹp trai, quần áo bảnh bao, khuôn mặt một đứa con vào lứa tuổi hai mươi, mày bước vào phòng xử tòa đại hình, khác hẳn phòng xử kỳ trước. Thế nhưng cũng vẫn căn phòng ấy.

Trước hết, trời quá u ám và ẩm ướt nên phải bật các đèn trên trần. Lần này, mọi vật đều đượm màu máu, màu máu tươi. Thảm nền, màn cửa, áo quan tòa, có thể nói các thứ vải ấy đã được nhúng vào một thùng chứa đầy thủ cấp những tử tội. Lần này, các quan tòa không sắp đi nghỉ hè, mà vừa nghỉ hè về, không như kỳ tháng 7. Vả lại bắt đầu mùa xử án bằng một vụ thanh niên Montmartre thanh toán nhau thật là chán quá, đã kéo dài quá lâu rồi. Phải qua mau để xử những vụ đứng đắn hơn.

Và những tay kỳ cựu của pháp đình, luật sư cũng như quan tòa, hơn ai hết, biết rằng khí hậu trong ngày, thời kỳ trong năm, nhân cách của ông chánh thẩm, tính tình của ông trong ngày, của ông phó chưởng lý, của phụ thẩm đoàn, tinh thần của bị can, của các luật sư của bị can, đều ảnh hưởng đến cán cân công lý vô tư.

Lần này ông chánh thẩm không cho tôi được hân hạnh tự tôi trình bày trường hợp của tôi, ông chỉ cho nghe ông lục sự đọc bằng giọng đều đều bản cáo trạng.

Mười hai lão phụ thẩm có bộ óc ẩm ướt như trời sắp mưa hôm nay, nhìn những cặp mắt xanh đần độn của họ là biết ngay. Họ dễ dàng chấp nhận áng văn chương ngu xuẩn của bản cáo trạng.

Thằng cha phó chưởng lý, người đầu tiên cung cấp máy chém, không có vẻ gì là nhân từ. Hắn sẽ không thể nào nói như Ông Cassagneau: “Tôi không thể đứng ra buộc tội được nữa”.

Vừa bước vào, sau khi liền nhìn quanh, tôi đã cảm thấy tất cả: “Papillon, mày hãy thận trọng, mày không thể tự bào chữa vững vàng trong một phiên tòa như thế này”. Tôi không lầm tí nào vì trong suốt cuộc thẩm vấn trước tòa kéo dài hai ngày, hầu như người ta không cho tôi nói lời nào. Không có chút gì giống với phiên tòa tháng 7. Phiên tòa tháng 7 thật là quá tuyệt.

Và không còn những lời nhân chứng, những lời khai, những câu “người ta nói”, những câu “tôi nghe kể” vân vân như hồi tháng 7. Khỏi cần kể lại chi tiết, cũng một trò xiếc tái diễn, chỉ khác một điều là mỗi khi tôi nổi giận, đôi khi tôi hét lên người ta cắt ngay không cho tôi nói nữa.

Một sự kiện mới hẳn, là nhân chứng do tôi khai ra để xác nhận sự bất tại trường của tôi, đến trước tòa, Lellu Fernand, tài xế tắc xi, không kịp khai kỳ tháng 7 trước khi vụ án bị đình xử là nhân chứng duy nhất mà trước kia bọn cảnh sát không thể nào tìm ra, một huyền thoại theo lỗi họ.

Thật kỳ lạ, nếu trong lúc thẩm cứu bọn cảnh sát không kiếm ra Lellu, họ đã tìm được một nhân chứng của nhân chứng tương lai ấy, một thằng có mười tiền án, bị quản thúc; thằng này khai rằng người chứng sẽ ra mặt một ngày trong tương lai để khai có lợi cho tôi là một chứng bị mua chuộc.

Và lão thẩm sát viên Mayzaud, trong một phúc trình dài, phủ nhận có tên Lellu, tự cho mình đã tìm ra và chứng minh tất cả và công nhận không bao giờ gặp nhân chứng do chúng tôi nại ra. Hắn có biết đâu, vì lẽ người ta tìm không ra, nhân chứng đã tự động trình diện? Một nhân chứng được viên quận trưởng khu phố khai là lương thiện, chăm chỉ làm ăn?

Lellu xác nhận lời khai của hắn, người ta cáo buộc hắn đã làm chứng vì cảm tình. Luật sư Raymond Hubert đưa hai tay lên trời:

– Ông Lellu, chỉ còn có nước ông đi trả thuế má của ông!.

Ngồi trên ghế dài màu xanh, tôi điên tiết lên, tôi không còn cảm thấy trời lạnh và mưa phùn bắt đầu rơi xuống.

Tôi còn nhớ lão chủ quán rượu Irio khai trước vành móng ngựa rằng tôi không thể ở trong quán lão khi Lellu bước vào để nói người ta vừa bắn ở ngoài, vì từ 15 ngày lão đã cấm không cho tôi vào quán.

Như vậy có nghĩa là tôi quá ngu nên trong một vụ án quan hệ đến tự do và mạng sống của tôi, tôi lại nói tôi có mặt tại một nơi tôi không được quyền đến. Thằng bồi bàn của lão cũng xác nhận lời khai của lão. Dĩ nhiên là chúng nó quên nói thêm rằng giấy phép được mở cửa đến 5 giờ sáng là ân huệ do cơ quan cảnh sát cấp, và khi chúng nói ra sự thật, chúng sẽ hại cảnh sát. Vì vậy mà phải nói quán rượu đóng cửa lúc 2 giờ sáng. Lão lo bảo vệ két bạc, thằng bồi thì nghĩ đến tiền lì xì của mình.

Luật sư Raymond đã làm những gì có thể làm được, Luật sư Beffey cũng vậy, ông này quá kinh tởm nên đã khai chiến với Mayzaud, lão này đã dùng các phúc trình mật của cảnh sát (không đến nỗi mật lắm vì một nhà báo đã đăng các bản phúc trình ấy nhờ sự tiếp tay của một nhân viên cảnh sát) để làm hại thanh danh luật sư của ông bằng cách kể lại những chuyện chơi bời của ông không dính líu gì đến vụ án.

Đã đến hồi kết thúc. Tôi nói sau cùng. Nói gì bây giờ? “Tôi vô tội, tôi là nạn nhân một âm mưu của cảnh sát. Xin hết”.

Phụ thẩm và quan tòa đi vào trong một giờ sau, họ trở ra và tôi đứng lên khi họ vào chỗ ngồi. Tôi ngồi xuống. Đến lượt ông chánh thẩm đứng lên, ông sẽ đọc bản án: “Bị can, đứng lên”.

Tôi quá tin tưởng vào phiên tòa đại hình dưới hàng cây đại lộ Clichy nên lập tức đứng lên, quên rằng cặp chân bị kẹt vì quặp tréo trong ghế dài, nên tôi té ngồi xuống.

Thế là năm 1967, dưới hàng cây đại lộ, tôi ngồi, đáng lẽ phải đứng, nghe giọng nói đều đều của ông chánh thẩm năm 1931 tuyên đọc bản án:

– Anh bị kết án khổ sai chung thân. Lính canh, dẫn phạm nhân đi ra.

Tôi suýt đưa hai tay ra, nhưng không ai còng tay tôi, bên tôi không có người lính cộng hòa nào cả. Ở đầu kia chiếc ghế dài, chỉ có một bà già khốn khổ nằm co quắp người, và đang giữ mấy tờ báo trên đầu để che lạnh và mưa bụi.

Tôi rút đôi chân ra. Sau khi đứng được, tôi nhúc nhích cho hết tê, rồi, dở mấy tờ báo, tôi để tờ bạc 100 quan trong tay người đàn bà quá già, cũng bị kết tội nhưng là tội nghèo chung thân.

Đối với tôi, thời hạn chung thân chỉ có mười ba năm.

Và cũng dưới hàng cây đại lộ, tôi đi đến công trường Blanche trí óc còn lởn vởn hình ảnh cuối cùng của phiên tòa đại hình trong đó tôi đứng nhận một cái tát bất hủ đã xóa tên khỏi xóm Montmartre, xóm Montmartre của tôi, trong bốn mươi năm.

Vừa bước đến vùng ánh sáng của công trường mỹ lệ ấy, ngọn đèn chiếu rọi dĩ vãng tắt ngay, tôi chỉ còn thấy mấy tên đầu đường xó chợ ngủ ngồi đầu kê trên đầu gối, tại cửa vào đường xe lửa ngầm.

Tôi gọi gấp một chiếc tắc xi. Tôi không còn ham gì nữa hết, bóng tối hàng cây che khuất ánh sáng nhân tạo rực rỡ, công trường sáng chói với nhà Moulin Rouge lấp lánh muôn màu không còn lôi cuốn tôi nữa. Một nơi thì gợi tôi nhớ về dĩ vãng quá nhiều, nơi kia trét vào mặt tôi: “Mày không phải dân chốn này!”. Tất cả, vâng, tất cả đã thay đổi, mày nên đi gấp nếu mày không muốn thấy những kỷ niệm của tuổi hai mươi chết và bị chôn vùi dưới đất.

– Ê, tắc-xi. Cho tôi đến nhà ga Lyon.

Rồi trên chuyến xe lửa ngoại ô đưa tôi về nhà đứa cháu, tôi hồi tưởng lại tất cả các bài báo mà luật sư Raymond Hubert đã bảo tôi đọc khi tôi bị kết án. Không bài nào làm gì khác hơn là nêu lên mối hoài nghi bao trùm cuộc thẩm vấn trước tòa, nào là La Dépêche, La France, Le Matin, L’intransigeant, L’Humanité, Le Journal, tờ này chạy tít: “Vụ án mập mờ”.

Từ ngày về Pháp, tôi đã tìm lại các tờ báo ấy. Xin trích dẫn vài đoạn để làm thí dụ:

Báo La Dépêche ngày 27-10-31, do miệng một Luật sư: “Tại viện công tố cũng như trước tòa, đã ba lần đình hoãn để điều tra bổ túc, đủ chứng tỏ yếu tố buộc tội rất mong manh”.

Báo Le Matin ngày 27-10-31: “Ba mươi nhân chứng được gọi ra Tòa. Có lẽ chỉ một người cũng đủ: người lạ mặt đã đưa một người bị thương lên xe, tin cho “vợ” hắn rồi biến mất; nhưng người lạ mặt ấy là một ẩn số mà ba mươi lời khai tiếp nhau có lẽ không phát giác”. Những người lính thị xã khai: “Chính thẩm sát viên Mayzaud đã đến gần Charrière và nói: “Mày biết rõ là ai”.

Báo La France ngày 28.10.31: “Bị can trả lời rất bình tĩnh và cương quyết… Bị can nói: “Nghe nó khai tôi rất khổ tâm. Thằng Goldstein không có lý do gì để hại tôi, nhưng nó ở trong tay thẩm sát viên Mayzaud như bao nhiêu người khác vì lương tâm họ không được yên ổn, sự thật như vậy”… Tòa gọi lão thẩm sát viên ra lại trước vành móng ngựa. Nó chống chế ngay: “Từ 10 năm nay tôi lui tới xóm Pigalle, tôi biết Goldstein không phải người trong giới giang hồ. Nếu nó là người trong giới giang hồ thì không bao giờ nó nói (sic)”.

Báo L’Humanité ngày 28 tháng 10. Bài báo đáng được chép hết lại đây. Tít bài báo: “Charrière Papillon bị kết án khổ sai chung thân”.

“Phụ thẩm đoàn quận Seine đã kết án Charrière, mặc dù vẫn còn nghi vấn đối với thân thế của Papillon đích thực, của con người đã giết Roland Legrand ở xóm La Butte trong một đêm tháng ba.

“Hôm qua, bắt đầu phiên tòa, người ta đã nghe nhân chứng Goldstein tất cả cáo trạng đều dựa trên lời khai của người này. Nhân chứng này, luôn luôn tiếp xúc với cơ quan cảnh sát, mà thẩm sát viên Mayzaud khẳng định đã gặp hơn một trăm lần từ ngày thảm kịch xảy ra, đã cung khai ba lần khác nhau, mỗi lần mỗi buộc tội thêm. Người ta thấy rõ nhân chứng là một cộng tác viên trung thành của cảnh sát tư pháp.

“Trong khi nó nói để buộc tội, Charrière lắng tai nghe rất chăm chỉ. Khi nó dứt lời, Charrière la lên:

“– Tôi không hiểu, tôi không hiểu nổi tên Goldstein này, tôi không hề đụng chạm đến nó, thế mà nay nó đến đây để xổ ra những chuyện láo toét thư vậy chỉ với mục đích đưa tôi đi lưu đày.

“Tòa gọi thẩm sát viên Mayzaud trở ra trước vành móng ngựa. Lần này nó cho rằng lời khai của Goldstein không được mớm trước. Nhưng người ta thấy đây đó có những mỉm cười hoài nghi.

“Ông phó chưởng lý Siramy, trong một bản cáo trạng mơ hồ nhận thấy có nhiều Papillon ở Montmartre cũng như ở nơi khác. Tuy thế, ông vẫn yêu cầu tòa lên án, mà không nói rõ tội danh, quyền ấy ông nhường lại cho phụ thẩm đoàn.

“Dân sự nguyên cáo do luật sư Gautrat đại diện, sau khi chứng minh một cách buồn cười rằng ngục thất là một trường học “cải tạo tinh thần”, xin tòa đưa Charrière đến đó, vì quyền lợi của bị can, để bị can trở thành một người lương thiện”.

“Các luật sư biện hộ, Beffey và Raymond Hubert đều biện cãi vô tội. Không phải vì không tìm ra Roger người Corse, biệt danh “Papillon”, mà Charrière, biệt danh Papillon là thủ phạm.

“Tuy nhiên, phụ thẩm đoàn, sau một hồi bàn cãi rất lâu, trở lại phòng xử, đem một phán quyết xác nhận có tội và tòa đã xử Henri Charrière khổ sai chung thân, trả một quan tiền bồi thường cho dân sự nguyên cáo”.

Hết năm này đến năm khác, tôi tự đặt câu hỏi thế này: tại sao cảnh sát lại cố tình hãm hại một đứa trẻ 23 tuổi vô gia cư, mà chính nhân viên cảnh sát nói là một trong những cộng tác viên đắc lực nhất? Tôi chỉ thấy có một câu trả lời, hợp lý nhất: cảnh sát che chở cho một người nào đó, một điểm chỉ viên thật.

Ngày hôm sau trong ánh nắng, tôi trở lại Montmartre. Tôi đã tìm lại khu của tôi ở đường Tholozé và đường Durantin, ngôi chợ đường Lepic, nhưng những khuôn mặt quen biết đâu hết rồi?

Tôi vào nhà 26 đường Tholozé để thăm bà gác dan, giả vờ đi tìm người quen. Bà gác dan của tôi là một bà to béo hiền lành, có một nốt ruồi to tổ bố trên mặt đầy lông. Bà ta đâu mất. Một bà người Bretagne đã thay thế bà, và tôi bực mình quá nên hỏi lúc đến đây, bà có thấy một bà có nốt ruồi mọc lông hay không.

Người ta không cướp mất xóm Montmartre thời tuổi trẻ của tôi, không, tất cả đều còn đó, đầy đủ tất cả, nhưng tất cả đã thay đổi. Cửa hàng bán sữa đã biến thành một tiệm giặt tốc hành, quán rượu ở góc đường nay là một dược phòng, nhà bán trái cây, nay là một tiệm ăn tự động. Kìa, họ chẳng kể gì hết!

Quán rượu Bandevez tại ở góc đường Tholozé và Durantin, nơi gặp gỡ của các nữ nhân viên bưu điện ở công trường Abbesses đến đó để uống một ly rượu cassis trắng, trước kia, để chọc giận họ, chúng tôi lấy vẻ mặt hết sức nghiêm trang trách họ uống cho sướng miệng trong khi chồng họ làm ăn quần quật; giờ đây quán rượu ấy vẫn còn, nhưng quầy rượu để ở phía khác, với hai chiếc bàn kê một cách ngốc không chịu nổi, khác hẳn chỗ cũ. Ngoài ra, bà chủ là người da đen, khách hàng là người Ả rập, người Tây Ban Nha hoặc người Bồ Đào Nha. Anh cựu phạm xứ Auvergne đã biến đâu nhỉ?

Tôi bước lên bậc cấp từ đường Tholozé đến chỗ Moulin de la Galette. Hàng lan can không thay đổi, đoạn chót vẫn nguy hiểm như thường. Tại nơi này, trước kia tôi đã đỡ một ông lão bé nhỏ bị vỡ mặt vì mắt không còn trông rõ nên không kịp thấy hàng lan can dứt mau như vậy. Giờ đây tôi vuốt ve hàng lan can, tôi thấy lại cảnh ngày xưa, và tôi nghe ông lão cảm ơn: “Này cậu, cậu rất dễ thương, cậu quả là con nhà gia giáo. Tôi có lời khen và cảm ơn cậu”. Câu nói giản dị ấy làm tôi hết sức xúc động đến nỗi tôi không biết làm cách nào lượm khẩu súng lục bị rơi lúc cúi xuống đỡ ông lão, tôi không muốn ông nhận thấy chàng thanh niên có lòng kia chưa hẳn đã dễ thương đến như vậy.

Vâng, xóm Montmartre của tôi dù sao cũng còn đó, không bị người ta cướp mất, người ta chỉ cướp mất những con người, những khuôn mặt khả ái, tươi cười, thường nói với tôi: “Chào anh Papillon, khỏe chứ?”. Vâng, người ta đã cướp mất của tôi những người ấy, tôi nghe đau xót vô cùng.

Đêm đến, tôi vào một quán rượu. Trong số những người khách già nhất, tôi chọn người già hơn hết và hỏi:

– Xin lỗi, anh biết tên X chứ?

– Có.

– Nó đâu rồi?

– Trong kia.

– Còn tên Y?

– Chết rồi.

– Còn tên Z?

– Không biết. Nhưng, xin lỗi, anh hỏi nhiều quá. Anh là ai?

Hắn cố ý nói lớn hơn một chút, để bọn kia chú ý. Quả thật không sai. Một kẻ lạ mặt ngang nhiên vào một quán rượu dành cho đàn ông mà không tự giới thiệu, cũng không có ai cùng đi, phải xem nó muốn gì.

– Tôi tên Henri, quê tôi ở Avignon, và tôi từ Colombie đến. Vì vậy mà các anh không biết tôi. Chào các anh, tôi đi.

Tôi không ở lại thêm nữa và vội vã lên xe lửa để đi ngủ ngoài quận Seine. Tôi phải thận trọng như vậy vì với bất cứ giá nào tôi không muốn người ta tống đạt cho tôi lệnh bị cấm lưu trú của tôi.

Tuy nhiên, tôi đang ở Ba Lê, tôi ở đây, bạn đang ở Ba Lê bạn ơi! Tôi đã đi nhảy tại những nơi khiêu vũ bình dân ở La Bastille. Tại khiêu vũ trường Boucastel, Bal-à-Jo, tôi trật mũ ra sau và lấy cà vạt đi. Tôi cũng cả gan mời một cô gái như lúc tôi hai mươi tuổi và với một cung cách như xưa. Trong lúc quay điệu luân vũ ngược, theo tiếng đàn phong cầm khá điêu luyện không kém gì ở khiêu vũ trường Mimile Vacher thời xưa, cô gái hỏi tôi làm nghề gì, tôi đáp tôi là một cai ngục ở tỉnh, làm cho cô gái nhìn tôi rất kính cẩn.

Tôi đã đi ăn trưa ở nhà hàng La Coupole và như một người từ một thế giới khác trở về, tôi ngây thơ hỏi một anh bồi người ta có còn chơi quả đạn ở trên sân thượng nữa hay không. Chú bồi đã làm ở đây 25 năm, tỏ vẻ kinh ngạc vì câu hỏi của tôi.

Tại nhà hàng La Rotonde, tôi cố kiếm mà không thấy chỗ họa sĩ Fujita thường ngồi, tôi nhìn một cách vô vọng vào cách sắp đặt bàn ghế, vào quầy rượu để tìm lại dĩ vãng, rồi chán nản vì người ta đã xáo trộn tất cả, phá hủy tất cả những gì tôi đã biết, đã mến, tôi đột ngột bỏ đi, quên cả trả tiền. Anh bồi chạy theo chụp cánh tay tôi ở cổng vào đường xe lửa ngầm Vavin, ở ngay bên cạnh, và vì ở Pháp con người không còn biết nhã nhặn là gì, anh ta chìa vào mũi tôi mảnh giấy tính tiền, ra lệnh tôi trả gấp nếu tôi không muốn anh ta gọi cảnh sát. Dĩ nhiên là tôi trả, nhưng tôi lì xì anh ta quá ít nên anh vừa đi vừa ném vào mặt tôi câu này: “Anh cứ cất đi cho mẹ vợ anh. Bà ấy có lẽ cần số tiền lì xì ấy hơn tôi”.

Nhưng Ba Lê là Ba Lê. Tôi đi bách bộ như một thanh niên từ trên xuống dưới, rồi từ dưới lên trên đại lộ Champs Elysées rực rỡ muôn ngàn ánh sáng, thứ ánh sáng của đô thành Ba Lê sưởi ấm lòng người và đưa đến một niềm hân hoan kỳ diệu. Trời, sống ở Ba Lê thật là tuyệt?

Tôi không hề cảm thấy khích động hoặc muốn đấm đá khi đến cổng Saint Denis hoặc ngoài lộ Montmartre trước tòa báo l’Auto, tại đây trước kia Rigoulot, lúc bấy giờ là vô địch thế giới, đang biểu diễn sức mạnh bằng cách dở lên một cuộn giấy báo to tướng. Tâm hồn tôi bình thản khi đi ngang qua câu lạc bộ ngày xưa, nơi tôi đánh bài với Stavisky, rồi tôi đi một mình lặng lẽ đến xem trình diễn ở Lido. Và tôi chen lấn vài giờ trong đám người lúc nhúc ở chợ lớn Ba Lê vẫn không khác trước bao nhiêu.

Chỉ khi ở Montmartre, những lời cay đắng mới xuất phát từ lòng tôi.

Tôi ở Ba Lê tám ngày. Tám lần tôi đã trở lại nơi xảy ra vụ ám sát.

Tám lần, tôi đến ngồi lại chiếc ghế dài sau khi vuốt ve cây cổ thụ.

Tám lần, tôi nhắm mắt lại để hồi tưởng những điều tôi biết về cuộc điều tra và hai phiên tòa xử tôi.

Tám lần, tôi thấy lại mặt mũi của những thằng chó má đã làm cho tôi bị kết án.

Tám lần tôi thì thầm: “Mọi việc đã phát xuất từ đây để cướp mất của mày mười ba năm son trẻ”.

Tám lần tôi lặp lại: “Mày đã từ bỏ ý định trả thù, được rồi, nhưng không bao giờ mày có thể tha thứ”.

Tám lần, tôi đã xin Thượng Đế, rằng để tưởng thưởng tôi đã từ bỏ ý chí phục thù, thì không bao giờ một việc tương tự xảy đến cho người khác.

Tám lần tôi hỏi chiếc ghế dài cho tôi biết thằng làm chứng gian và thằng cảnh sát bất lương có còn “tình cờ” ngồi tại đây, cũng trên chiếc ghế dài này, trong nhiều lần gặp gỡ “tình cờ” để nghiền ngẫm những lời cung khai sẽ dùng trong tương lai hay không?

Tám lần, mỗi lần tôi bỏ đi, lưng bớt khòm, đến lần cuối cùng, tôi đứng thẳng người, khỏe như một thanh niên, và thì thầm chỉ để tôi nghe: “Dù sao mày cũng đã thắng, vì mày còn ở đây, tự do, khỏe mạnh được yên và làm chủ tương lai của mày. Đừng nên tìm hiểu những người khác bây giờ ra sao, những khuôn mặt của thời quá khứ ấy. Mày còn sống ở đây, thật là gần như một phép lạ, không phải ngày nào Chúa cũng ban cho như vậy. Mày nên tin chắc rằng mày là người sung sướng nhất”.

 “Nhứt phá sơn lâm…”

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 21 Apr 2015 

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

Bài 16

Tôi rời trại vào đợt ba, không hẳn là đợt chót. Dziệt Cộng đến đem chúng tôi đi là “Công An Bò Vàng” (tên thường gọi hồi đó). Xe đưa chúng tôi đi là loại xe tải dân sự của Saigon vẫn thấy trước nay, có cả hơn chục chiếc, nên số lượng người đi chuyến nầy cũng đông. Loại xe nầy có mui thiếc, phía sau là cửa song sắt chứ không bít bùng như Molotova.Chúng tôi, những người cùng đi từ Trảng Lớn phần nhiều “rơi rụng” dọc đường, số đông bị đày ra Bắc. Số còn lại chỉ còn mấy “ngoe” như Trần Phú Trắc, Bùi Xuân Toàn, Nguyễn Đạo, Đào Sơn Bá… và tôi.Nhờ xe không đóng bít bùng nên chúng tôi theo dõi được đường đi. Xe hướng ra Xuân Lộc, hơi mừng vì Xuân Lộc cũng gần Saigon. Nhưng qua khỏi Xuân Lộc rồi, xe còn đi tiếp trên quốc lộ 1. Tới ngã ba Ông Đồn, xe quẹo vào hướng về phía ga xe lửa Gia Rây. Qua khỏi Gia Rây, xe lại đi nữa. Đoạn đường nầy không trải nhựa, bụi lên mù mịt.

Mù mịt như đường tù!Bên nầy là núi Chứa Chan, ngọn núi từng nghe tên nhưng trước nay chưa thấy bao giờ. “Chứa chan, Chán chưa?”, “Chứa chan, Chan chứa?”, “Chan chứa, Chưa chán!” Có ai đó nói mấy câu như trên! Nói đi nói lại, khi xuôi khi ngược cũng là “Núi Chứa Chan?”

Tình cảm của người Việt khá nhạy bén.

Chứa Chan nguyên là một ngọn núi lửa, đỉnh núi là một cái hồ còn chứa nước, là dấu tích miệng núi lửa xưa kia. Từ một cái hồ còn chứa nước trên đỉnh núi, người xưa đã nói đi, nói lại, về một hồ nước, như một thứ tình cảm của con người với con người hay con người với thiên nhiên!?

Thời kháng chiến chống Pháp, có phải đây là nơi quân du kích ẩn núp. Thời chế độ cũ, trên đỉnh núi có căn cứ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Dĩ nhiên, đây là một cao điểm có thể quan sát và kiểm soát toàn vùng, Quân Đội VNCH không thể bỏ qua. Vai trò của nó, tương tự như núi Bà Rá ở Phướng Long, Bà Đen ở Tây Ninh vậy!

Trên con đường đi vào, bên phải là “Đồi Phượng Vĩ”. Có người đưa tay chỉ chỏ, giải thích: Hậu cứ của Trung Đoàn 54 hay 56 (tôi không nhớ rõ), thuộc Sư Đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo. Thấy bóng người trên đồi, nhưng chúng tôi không nghĩ rằng nơi đó nay là trại tù.

“Đồi Phượng Vĩ” đi đánh nhau với bọn vô sản mà còn lãng mạn tiểu tư sản dữ, làm như đây là sân Trường Đồng Khánh không bằng!

Xe qua khỏi đồi Phượng Vĩ.

Đi đâu nữa mà xa vậy?

Con đường rừng mới mở. Xe chạy gập ghềnh.

Hình như đây là khu trại mới. Có ngôi nhà lá với tấm bảng đề “Nhà Thăm Nuôi” ở bên trái. Vậy là về đây, hy vọng được thăm nuôi. Qua một đoàn đường bằng phẳng, không xa lắm, xe dừng lại.

Một lúc sau, Công An ra lệnh xuống xe, sắp hàng.

Anh “Công An Bò Vàng” nầy tên Bảy, người thì nhỏ mà họng thì to, la mắng, nạt nộ om sòm, khiến nhiều người sợ. Anh ta biểu mọi người sắp hàng một, anh đếm từng người, đếm đi đếm lại những mấy lần mà không xong, không rõ vì anh ta “hoc hành tí chút” nên “đếm không ra” hay vô ý đếm lộn.

Công An Bảy là người Nam, trốn quân dịch, từng theo làm “đệ tử” Trung Úy Việt Cộng Nguyễn Ngọc trước 1975. Ngọc, cũng làm cán bộ ở trại nầy, nguyên là cán bộ miền Bắc xâm nhập, làm tình báo, ngụy trang chạy xe ba gác ở Chợ Cầu Muối, chưa từng bị Cảnh Sát Công An VNCH phát hiện vì anh ta có đủ giấy tờ căn cước, thẻ trưng binh, giấy hoãn dịch… “Có tiền mua tiên cũng được” huống chi thứ mấy giấy tờ vớ vẩn nầy. Sau 1975, Ngọc và Bảy trở thanh Công An Bộ Nội Vụ, được điều về Giá Rây coi tù cải tạo. Được mấy năm, Công An Bảy “tự ý xuất ngũ” về làm lơ xe chạy đường Saigon – Tây Ninh. Nhiều anh em tù cải tạo tình cờ gặp anh ta, anh lủi mất. “Cán bộ Cách Mạng” cũng thấy “xấu hổ” khi làm “lơ xe”, không “ngon bằng làm Công An” đấy hay sao?!

Phía bên hàng rào cây là trại giam.

Đối diện là một đám thanh niên nam nữ tò mò ra đứng xem? Họ là ai?

Sau mới biết bên phía đó có trại giam đang xây, do Công Ty Xây Dựng Số 1 đảm trách. Những thanh niên nam nữ đó là công nhân của công ty nầy, phần đông là dân Saigon, còn trẻ lắm, không có ai từng tham gia chế độ cũ cả.

Sau một thời gian ngắn, gặp một vài người quen trong “Tổ Kỹ Thuật”, tổ đảm trách về kỹ thuật xây dựng như kỹ sư Hồ Phùng, một người cùng xóm, quen thân từ khi còn đi học, thẩm phán Đoàn Cảnh Thúy, mới hay rằng, đây là khu trại giam mới thành lập của bộ Nội Vụ Dziệt Cộng.

Xin nói rõ thêm về anh bạn Hồ Phùng nầy một chút.

Khi còn học ở trường Quốc Học, tôi ngụ ở Xóm Chợ Xép, phía trong Cửa Đông Ba. Xóm nầy có nhiều “quái kiệt”, quậy cũng dữ mà học giỏi thì “vô song”.

Hồ Phùng học sau Huỳnh Hữu Tuệ một lớp nhưng trước Huỳnh Hữu Ủy hai lớp. Hai ông họ Huỳnh nầy là con ông chú tôi.

Hồ Phùng học giỏi, “thi đâu đậu nấy”. Bẵng đi mấy chục năm sau khi tôi rời Xóm Chợ Xép, tình cờ gặp Hồ Phùng ở đây, trong trại Tù Cải Tạo. Vì anh là kỹ sư lâm nghiệp, nên Việt Cộng chọn anh vào “Toán Kỹ Thuật” lo việc lập kế hoạch phá rừng, trồng bắp, trồng mì, đắp đập, làm cầu, v.v…

Ông kỹ sư lâm nghiệp cũng trãi qua nhiều “tầng địa ngục”, mặc dù thời gian tù của anh chỉ hơn ba năm chút ít, đủ để chính phủ Mỹ chọn cho rời VN theo “Chương Trình HO” (gọi theo cách Dziệt Cộng, là “diện HO”).

Hồ Phùng qua Mỹ cuối năm 1989. Trong số anh em đồng nghiệp Thủy Lâm, Hồ Phùng làm lại nghề cũ: Thủy Lâm, cho tiểu bang Washington, miền Tây Bắc Hoa Kỳ, là nơi có tiềm năng lâm nghiệp nổi tiếng. Mỗi mùa hè là mùa cháy rừng (fire season) Hồ Phùng tình nguyện đi chữa lửa rừng (wildland firefighter). Nay tuổi đã lớn, kỹ sư Phùng làm việc trong các trại chữa lửa (Fire camp helper).

Tháng 6 năm 1975, cũng như tôi, anh vào Tabert, ăn cơm nhà hàng Continental, rồi lên xe Molotova mà lên “Trại Tù Binh Phiến Loạn Biên Hòa” (tên chế độ cũ). Chỉ ít lâu sau, gần ngày đưa ông Táo, lần đầu tiên anh được đi tàu thủy, lên HQ 403 ra “thăm” (?!) Phú Quốc. Cũng là lần đầu tiên anh ta đến đây. Chưa đủ thời gian để ngắm “đất nước ta rừng vàng biển bạc” thì anh lại xuống tàu HQ 502 để về Trảng Lớn, rồi lên Đồng Ban, cũng ở Tây Ninh. Thế rồi Hồ Phùng và các bạn được giao cho “Công An quản lý”, anh bị đưa về Z30-A, chuyển vô Trại-B.

Khi tôi chuyển về Trại-B Xuân Lộc, một buổi sáng thấy Hồ Phùng, vai mang bị, tay cầm cuốc xếp hàng “đi lao động”. Chúng chỉ kịp ngoắt tay nhau ngẩn ngơ mà thôi. Về sau thì có thể ngoắt tay nhau mỗi sáng khi ra sân tập trung, chuẩn bị nhận cuốc để cùng “lao động là vinh quang”.

Ít lâu sau, Hồ Phùng được tha. Khi đó, “trại đá” tức là trại bên cạnh, do xí Nghiệp Xây Dựng Số 1 xây chưa xong. Các nhà “biệt giam” ở phía sau cũng đang xây nửa chừng.

Phùng kể:

Một bữa nọ, Công An xuống trại hỏi ai biết đo rừng, đo đất, gọi là điền địa. Cùng đi tù, trong nhóm học Nông Lâm Súc, ai lại không biết Hồ Phùng là Kỹ sư Thủy Lâm, lại có làm cho Ty Điền Địa Gia Định nữa.

Được dịp khỏi vác cuốc và nhân cơ hội này móc kéo thêm vài anh em khác đồng nghiệp trước đây cũng khỏi vác cuốc, bắt đầu “công tác”. Toán này được giao cho một bản đồ tọa độ ngày xưa và một cái địa bàn cũ.

Bấy giờ, không có giấy khổ lớn nên công an cắt một bao giấy xi-măng và một cây viết chì để vẽ bản đồ ranh giới hai bên đơn vị. Ngoài ra chặt hai ba cây để làm cây tiêu (jetons) để nhắm hướng. Sau khi dùng địa bàn nhắm hướng cho mấy cây tiêu thì toán chặt cây căn cứ vào đó chặt, đốn cách xa mỗi bên 5 mét.

“Khi cầm giấy tha do Trịnh Văn Thích ký xong rồi, tui đi một mạch, dù biết trong lệnh tha, ghi sai địa chỉ: Nhà tôi ở Thị Nghè, thuộc Quận Bình Thạnh, nhưng giấy tha lại ghi thuộc Quận Tân Bình. Về nhà đã, sai tính sau. Xin điều chỉnh, không chừng có khi không có giấy tha mà về, như trường hợp ông kỹ sư Khôi vậy.

Anh chàng Khôi là kỹ sư tốt nghiệp bên Tây về nước, được tha về sớm. Khôi hí hửng ôm khăn gói rời trại giam, đi được một đoạn đường thì Công An đuổi theo gọi trở lui. Về sau, khi nhiều người đã được tha về rồi, Khôi cũng không thấy gọi tên mình được tha lần nữa. Người ta “quên hồ sơ” kỹ sư Khôi hay vì anh ta du học ở Pháp, trở thành “tay sai của Đế Quốc Tư Bản” hay cái gì khác. Thôi thì “Giết lầm hơn bỏ sót”, cứ cho anh chàng kỹ sư Khôi ngồi thêm năm, bảy năm tù cho chắc chuyện.

Có một thời gian ngắn. Hồ Phùng cùng một toán vài ba người, gọi là “Toán Kỹ Thuật” đi chặt cây, phát quang, tìm đất, tìm gỗ quí…

Mục đích Trại Trưởng Trung Tá Dziệt Cộng Trịnh Văn Thích là cái gì?

Trước hết là “tư lợi”.

“Nhất phá sơn lâm…”

Chỉ ba bốn năm sau là Thích giàu có.

“Giàu đổi bạn…”

Y mua xe Fiat cho vợ bé, “ăn trắng mặc trơn”, đẹp như “tấm kính dựng”, người miền Nam;

“Sang đổi vợ” là thay cho bà nhà quê răng đen mõ quạ, xưa kia là “cô du kích” ngủ với cả chục thằng du kích trước khi về làm vợ Thích. Chuyện nầy, bọn Công An Z30-A đều biết cả đấy, chính “cán bộ” nói lại cho “tù Cải Tạo” nghe chớ không ai vô đây cả!

Thứ hai là mục đích “chiến lược”

Một, sau này Hồ Phùng nói cho tôi biết Trại Tù Z30-A làm ranh giới giữa trại tù do công an quản lý và một đơn vị không quân bên cạnh.

Hai, trại tù Cải Tạo Z30-A thành lập chưa được bao lâu, Công An cho một đội đi rừng, đội do Bùi Bá Dành làm đội trưởng, chuyên lo công việc phát quang một vòng đai quanh trại để kiểm soát và ngăn chận tù Cải Tạo trốn thoát.

Ba, nhìn vào bản đồ Miền Đông Nam Phần, người ta thấy một vùng rừng dày đặc nối tiếp nhau như sau:

            -Vùng Mỏ Vẹt của Kampuchia, vượt biên giới, Cộng Sản có thể đến mật khu Ba Thu vùng Lương Hòa, Hậu Nghĩa; từ đây Dziệt Cộng xâm nhập phía Nam thành phố Saigon, như chúng đã thực hiện trong Tết Mậu Thân.

-Cũng từ Vùng Mỏ Vẹt, Việt Cộng vào mật khu Dương Minh Châu. Từ Dương Minh Châu, Dziệt Cộng có thể đi Phước Long, Bình Long. (Từ phía biên giới Kampuchia, Việt Cộng cũng có thể vào hai tỉnh nầy), đi về vùng Trị An, La Ngà, – phía đông-bắc Saigon, liên kết với vùng Định Quán, (Quốc Lộ 15). Trong cuộc chiến tranh trước – 1945-54 – Việt Minh đánh bại quân Pháp ở Định Quán.

Từ Định Quán, Cộng Sản có thể tiến về Võ Đắt, Võ Xu. Cũng từ nơi đây, chúng vượt qua Rừng Lá để vào mật khu Mây Tàu.

-Nhìn chung, từ Khu Mỏ Vẹt của Kampuchia, Việt Cộng có một vùng rừng núi chằng chịt với nhau, ra tới biển đông ở Long Hải, Đất Đỏ. Đây là vùng Miền Đông Nam Bộ.

-Để ngăn chận hoạt động của Cộng Sản, chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập các khu trù mật, định cư chia cắt vùng hoạt động của chúng.

Các khu định cư gồm có:

-Định Quán, Gia Kiệm, Võ Dõng… thuộc huyện Thống Nhất, (tên mới của Việt Cộng) không cho Việt Cộng mở được các trận đánh lớn trên Quốc Lộ 15 như cuộc chiến tranh trước.

-Khu định cư Phước Tỉnh (phía nam mật khu Mây Tầu) và Bình Tuy (Phía bắc mật khu nầy), thu hẹp vùng hoạt động của mật khu Mây Tầu. Không như vùng Cà Mâu, Chương Thiện, thuyền tầu của Việt Cộng không vào vùng bờ biển mật khu Mây Tầu được vì rất dễ bị dân chúng phát giác.

Việt Cộng không còn khu vực “tiếp tế hậu cần” ở Miền Đông Nam Bộ ngoài cánh đồng lúa ở Võ Đắt, Võ Xu và dân chúng thiên Cộng ở vùng Đất Đỏ.

Sau khi “tù Cải Tạo” về, tôi từng đi từ Trị An, La Ngà qua đến Sóc Lu, Võ Dõng, Gia Kiệm. Rừng ở khu vực nầy bị triệt hạ hoàn toàn, trồng ca-phê và cao-su, không còn rừng rậm nữa.

-Hai bên Quốc Lộ 15, từ Định Quán trở xuống ngã ba Dầu Giây, là vùng “khai thác trắng”, có nghĩa là phá sạch rừng.

Để làm chi?

Cộng Sản không tin tưởng đồng bào di cư vùng Giốc Mơ Gia Kiệm, Định Quán… phá sạch rừng để không còn nơi ẩn núp, hoạt động của “Phục Quốc”. Vùng nầy, nếu có “Phục Quốc”, họ sẽ được sự hỗ trợ, tiếp tế từ các khu vực đồng bào di cư nói trên.

Vị trí vùng núi Chứa Chan, khi còn chiến tranh, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa lập bản doanh một trung đoàn ở “Đồi Phượng”. Từ đó, các đơn vị quân đội có thể mở các cuộc hành quân chung quanh.

Tuy nhiê, nhờ địa thế là vùng rừng rậm, dù có một trung đoàn QLVNCH đóng ở đây, cũng không tiêu diệt Dziệt Cộng được. Đóng ở khu vực nầy, Dziệt Cộng đu đưa như đưa võng. Quân đội VNCH đánh phía nầy, bọn chúng chém về qua phía kia. Đánh phía Nam, Dziệt Cộng rút về bắc, hướng Phước Long, Bình Long. Đánh cả bốn phía thì không đủ quân, v.v…

Từ kinh nghiệm của chúng, những trại tù Dziệt Cộng lập ra đều ở trong rừng sâu, có tính cách chiến lược: Không cho những lực lượng chống Cộng như Phục quốc ẩn núp ở đó.

Tôi thuộc Đội 19, quản giáo tên là Chinh (không rõ họ), đội trưởng là Trương Đình Gòn; và người theo tôi suốt cả quãng đường ra đi từ trường Taberd là Trần Phú Trắc, anh bạn cũ từ hồi học tiểu học nay mới gặp lại là Trần Văn Diệm. Diệm và tôi gặp nhau, ai cũng mừng, chọn chỗ nằm bên cạnh nhau.

Những người sau nầy lần hồi quen thân gồm có ông Âu Văn Minh, cựu đại úy Cảnh Sát, chồng trước bà Bích Vân, vợ tướng Bùi Thế Lân, và chị bà Thẩm mỹ viện Bích Ngọc (Xem thêm ở bài “Rối loạn đường tiêu hóa”), Lê Văn Tân (thầy đấm bóp kiêm coi tướng, xem thêm bài cuối), Trần Vạng Phước, Nguyễn Quảng Thành (Trắc đặt tên là Thành gù) Đỗ Văn Kim (gọi là Kim voi, vì to con, quê ở Bình Dương), Huỳnh Văn Kim (gọi là Kim nhí, vì nhỏ con, quê ở Chợ Lớn, gốc Tầu), Lê Viết, Vũ Công Ruệ, “dân ri-cư”, cụ Lê Văn Ất; người có “gan cóc tía” là nhà thơ Nguyễn Hoàng Thu, tác giả tập thơ “Nét Gầy và Mây” – gầy như thi sĩ vậy – Lê Văn Cầu, Trần Đình Châu… mỗi người có một chuyện… vui.

Vũ Công Ruệ, nhân viên cục Trung ương Tình báo của ông tướng Bình, nhận nhiệm vụ “lọt” vô bộ tham mưu tranh cử của tướng Kỳ khi ông nầy tranh cử tổng thống năm 1971. (Người trong ban tham mưu nầy, tôi còn biết, – biết chớ không quen -, là đại úy không quân Nguyễn Đức Miễn, cử nhân luật).

Chính Ruệ là người cầm hồ sơ, đi với đồng bọn, đến Tối Cao Pháp Viện nạp đơn xin ứng cử tổng thống của tướng Kỳ. Về sau, thấy không “xơ múi” gì được, ông Kỳ rút lui.

Một nhân viên tình báo (thuộc phe ông Thiệu), lọt vô ban tham mưu phe tướng Kỳ, hoạt động như thế mà phe của tướng Kỳ mù tịt, không biết gì cả. Thế thì ông Kỳ không thua ông Thiệu thế nào được?! Khi Ruệ đi tù cải tạo, theo lệnh Dziệt Cộng, khai hết ra, y lại còn khoe việc ấy với nhiều người. “Chính chị chính em” của miền Nam như vậy đó, lo chống nhau hơn chống Cộng?!

Nhân viên tình báo, ngoài Ruệ, còn cụ Ất.

Khi còn ở quân đội, ông phục vụ ở đơn vị Công Binh Tạo Tác tại Huế, từng “thi đua dựng cột cờ cao” với Cộng Sản Bắc Việt.

Sau khi nước ta bị chia cắt ở vĩ tuyến 17, ngang sông Bến Hai, mỗi bên bờ sông, ngang cầu Hiền Lương, có một cột cờ. Ban đầu, cột cờ miền Nam treo cờ vàng quốc gia, cao hơn cột cờ Bắc Việt, treo cờ đỏ sao vàng. Năm 1957, Bắc Việt thay cột cờ cao hơn miền Nam. Tức thì đơn vị Công Binh Tạo Tác của cụ Ất được lệnh dựng một cột cờ cao hơn cột cờ phía Bắc. Cụ Ất tham gia việc dựng cột cờ nầy, cột cờ làm bằng hộp sắt tròn đựng đạn 105 và 155 ly. Bắc Việt địch không lại, đành chịu thua.

Giải ngũ, cụ Ất về làm “tù trưởng” ở Cục Trung Ương Tình Báo. Gọi cụ là “tù trưởng” vì công việc của cụ là coi sóc tù, cho ăn, cho ngủ, chăm sóc y tế, và dẫn lên dẫn về giữa phòng khai thác tù nhân và phòng giam. Do đó, cụ biết hầu hềt những người bị bắt giam ở đây. Hỏi cụ Ất có tay Dziệt Cộng nào ở tù mà “ngon lành” không? Cụ lắc đầu.

Cụ Ất thuộc hạng người “xưa”, gốc “Rân ri cư”, còn “lói” ngọng, “nàm” gì thì phải “nàm” cho đàng hoàng, không “nàm” thì thôi. Thành ra chúng tôi bị ông cụ chê là “nao động nu nơ” (lao động lu lơ), có nghĩa là làm cầm chừng, “nấy nệ”, không chăm chỉ. Vì vậy, khi mệt, cụ tự động nghỉ tay tại chỗ, quản giáo Chinh không cự nự ông cụ. Cũng được mấy năm, cụ yếu sức, xếp vào hàng người già, được ở nhà quét phòng, quét sân, hốt rác, không đi lao động ngoài bãi nữa.

Mới vô trại có vài hôm đã tranh nhau chỗ nằm, vì nhà giam “quá tải tù cải tạo”.

Trần Đình Châu, người Huế, có ông cậu ruột là tỉnh ủy viên tỉnh Đồng Nai, nên thái độ “anh trọ trẹ” nầy đi tù cải tạo mà làm như “công chúa hạ giá”, xa cách, coi thường anh em trong đội. Lê văn Cầu, chỗ nằm sát bên. Hai người thường khiếu nại nhau vì chỗ nằm bị lấn qua lấn lại. Việc khiếu nại đưa ra họp đội xử. Anh chàng “Cầu Bắc kỳ, rân ri cư” thì khôn khéo, mềm mỏng, thường nhỏ nhẹ than vản bị chèn ép, bị thua thiệt. Châu thì thái độ xa cách, “hách xì xằng” nên việc thưa qua thưa lại chẳng đi tới đâu! Cũng may, chưa được vài tháng thì ông Châu được tha về nhờ ông cậu bảo lãnh cho.

Mỗi nhà giam dài khoảng ba chục mét, lợp “tôn ximăng”, vách ván. Sàn nằm bằng gỗ có hai tầng trên dưới, nhốt 3 đội, khoảng 120 người, chật ních. Cuối phòng có chỗ đi tiêu, đi tiểu. Mỗi chiều, ăn xong, kẻng đánh, tập trung trước cửa phòng theo từng đội. Công An trực trại điểm danh xong, cho vào phòng, khóa cửa lại.

Sáng, có kẻng đánh thức. Công An trực trại tới mở cửa cho tù ra, sắp hàng điểm danh. Sau đó, tù đi rửa mặt, “ăn điểm tâm” (khoai lang một củ, hay khoai mì một khúc, hoặc khoai mì xắt lát được nửa chén). Ăn rồi tập trung ở sân trại. Từng đội được gọi ra cổng đi “lao động là vinh quang, cuốc là số một”, hoặc lo “học tập tốt, lao động tốt để cách mạng xét cho sớm về sum họp với gia đình”, “an tâm học tập cải tạo”, v.v…

“Mỗi ngày như mọi ngày”, thường lao động luôn cả ngày thứ bảy, có khi cả ngày chủ nhựt, tùy theo “yêu cầu của cách mạng”, “mừng thắng nợi” gì đó, hoặc “mừng ba ngày “nễ nớn”, v.v…

Khi Phạm Tuân ngồi “póc ba-ga” để phi hành gia Gô-Rơ-Bátx-Cô của Liên Xô đưa lên không gian, nghiên cứu bèo hoa dâu trở về thì chủ nhật nào chúng tôi cũng phải đi cuốc đất “mừng thắng nợi” của “đồng chí Phạm Tuân”. Do bực mình và khổ cực, cứ một lát cuốc, cuốc xuống đất là chúng tôi kêu tên Phạm Tuân chưởi một tiếng. Bị chưởi đến thế mà thằng nầy vẫn sống dai!

Tới trại ngày đầu, qua ngày hôm sau, đội tôi đi lao động liền.

Việc trước tiên là đi khiêng cây rừng bên phía Trại Đá. Cây đã hạ xuống, thân to hơn cột nhà, chặt cành, nhưng còn nằm ngổn ngang, nay gom lại, đem đốt. Sau đó là đi đào gốc cây trong vòng rào trại. Cây đã hạ xuống rồi, chỉ còn gốc. Đội tôi được lệnh “bứng” các gốc cây ấy đi, lấp đất lại, bằng phẳng. Đào cả chục gốc cây, gốc nào gốc nấy to hơn người ôm, không phải là không nặng nhọc, khổ nhất là với những gốc cây có cái rễ cái to, đâm thẳng xuống đất, ngay giữa đám rễ cây um tùm

Diệm, cũng như tôi, cũng như phần đông anh em trong đội xuất thân “dài lưng tốn vải”, “học trò trói gà không chặt, buộc lạt không xong” nên khi lao động rất dễ gặp tai nạn, tự cuốc vào chân mình, dập chân, gãy tay, v.v…

Diệm là nạn nhân đầu tiên. Hôm ấy, anh ta và tôi khiêng một cái cây khá lớn. Đầu gộc là tôi, đầu ngọn dành cho anh ta. Vô ý khi bước xuống đống cây, tay anh đập nhằm một cành cây nằm sẵn dưới đất. Tay Diệm bị dập, máu chảy dữ. Diệm buông cây, la to: “Đau quá Hải ơi! Đau quá!” Thấy tay anh ta bị dập, quản giáo Chinh cho tôi đưa Diệm về Trạm Y tế của bác sĩ Trần Đình Đôn.

Bấy giờ thuốc cũ đang còn, Diệm được băng tay và cho thuốc, khỏi phải dùng Xuyên Tâm Liên là thứ thuốc sau nầy mới sáng chế ra, do “tính ưu việt của chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam muốn nằm (ngủ).”

Cũng buồn về ông Diệm nầy tí chút. Cùng quê, học với nhau từ tiểu học, tới năm đệ lục, ông vô trường kỹ thuật Huế, rồi mỗi người một ngã, bây giờ mới gặp nhau. Hoàn cảnh Diệm rất đáng thương. Vợ sinh đứa con thứ hai thì qua đời vì giải phẩu, mặc dù anh của Diệm là bác sĩ Trần Văn Tích, cũng cứu nỗi cô em dâu, thành ra khi vô tù, bố anh phải lo chăm sóc cho hai đứa con nhỏ của Diệm. Thân sinh của Diệm là ông Thầy Thạnh, khi chúng tôi còn nhỏ, Thầy làm việc ở Ty Công Chánh Quảng Trị. Ông là người “thiệt thà” đến nỗi khi Diệm gởi thư về xin bố mua cho một đôi giày để “đi lao động”, ông ra Chợ Trời mua “hai chiếc giày một chân” nên Diệm không dùng được, chờ kỳ thăm tới lại phải gởi về.

Về trại nầy, chủ nhật mới được phát một chén cơm. Thường ngày ăn bắp, nấu luôn vỏ. Hột bắp cứng làm cho Diệm đau răng. Một đêm, thấy anh ta không ngủ, hỏi, Diệm bảo đau răng quá, ngồi cho bớt đau, bảo tôi: “Mày ngủ đi”.

Gần sang, Diệm thức tôi dậy, nói: “Tau ngồi lắc cái răng suốt đêm, bây giờ, tau nhổ ra được rồi, đỡ quá!”

Về sau, nhiều khi nghĩ tới việc Diệm ngồi suốt đêm lắc cái răng đau, để nhổ nó đi, tôi thấy sợ, thấy kinh hoàng vì cái chế độ “xã hội chủ nghĩa ưu việt” nầy. Hành động của Diệm không là ưu viêt hay sao?

Diệm là anh em chú bác (hay anh  em ruột?) với bác sĩ Trần Văn Tích, có ông chú “tập kết” ở ngoài Bắc mới về Nam, đậu bằng “kỹ sư gạch chịu lửa”, đã làm đơn bảo lãnh cho Diệm. Vì vậy, Diệm thường nói: “Tau mới “gia đình cách mạng”. Mi có cha đi kháng chiến, chết trên chiến khu, nhưng ông chưa vô đảng, thành ra mi không được chi mô!”

Tôi buồn vì thái độ của bạn, không phải vì có “cách mạng” hay không “cách mạng”. Cha tôi theo kháng chiến chết bệnh ở Ba Lòng năm 1948. Anh cả tôi là Hồng Quang, chủ báo Ý Dân ở Huế, chống Pháp, bị Tây thủ tiêu năm 1950. Tôi ít thấy tự hào về cha, anh tôi tham gia kháng chiến chống Pháp. Những hy sinh ấy, đối với Cộng Sản chẳng là cái gì nên tôi không khai quá trình của cha và anh tôi trong lý lịch.

Tôi lại khai trong hồ sơ tôi có em là “Hùng móm”, đại đội trưởng 112, Tiểu Đoàn 11 Dù, hy sinh ở Cầu Lòn, gần ga xe lửa Quảng Trị, ngày 14 tháng 7 năm 1972. Nếu không khai, tôi thấy xấu hổ với em của tôi và “tội nghiệp” cho Hùng, đứa em út. Cái chết anh dũng của Hùng, với gia đình là sự vinh dự, nhất là với con cháu, không thể nào quên!

Chưa được bao lâu thì đội tôi bị sai đi phá rừng. Cây lớn, cây nhỏ hạ xuống hết, chất đống, vài bữa khô, châm lửa đốt, lấy đất trồng bắp. Tôi cùng khoảng 10 người khác thuộc nhóm hạ cây lớn, là những cây to bằng cột nhà trở lên. Những người còn lại thì hạ, chặt những cây nhỏ. Chúng tôi dùng loại dao mới rèn, có lẽ bằng loại “nhíp” xe hơi nên cũng bén, nhưng chặt lắm, dao sắc mấy cũng cùn.

Lê Văn Tân, chân bị thương ở xương, “cặp i-nôx bắt vít”, đi lại khó khăn nên được Đội Trưởng Trương Đình Gòn giao nhiệm vụ mài dao. Cứ gom lại năm bảy cây dao, đưa cho Tân xuống suối mài. Khi mệt quá, tôi cũng đưa dao cho Tân đi mài. Không có dao, ngồi nghỉ được một chút.

Một hôm, Tân thấy từ đống cây đang cháy có chú rùa, to bằng cái nón sắt của lính, từ trong đống lửa chạy ra. Tân vội vàng chạy tới, lật ngữa chú rùa, rồi bắt lấy, hy vọng hôm nay có món thịt rùa ngon, bù cho lâu ngày thèm thịt.

Tân lén đem rùa về trại, tính làm thịt.

Tôi nói đùa:

– “Ông không nên ăn thịt rùa. Rùa thuộc tứ linh, ăn vào gặp xui.”

Tân thiệt thà, hỏi lại:

– “Thiệt không?”

Tôi nói:

– “Sao không. Tui phục vụ ở miền Tây. Dân dưới đó, ông nào “điếc không sợ súng” mới dám nhậu rùa, cần đước. Rùa thuộc loại chậm chạp. Không sợ ăn vô lâu được tha về sao? Xui lắm!”

Gòn cũng nói:

– “Tui thuộc dân nhậu chì nhưng chẳng nhậu rùa bao giờ!”

Bản tính thật thà, Tân nghe lời tôi, nhốt rùa lại, sáng hôm sau “đi lao đông”, sẽ thả về rừng. Trước khi thả, Tân khắc vào mu rùa: Lê Văn Tân, đội 19.

Khi anh ta thả rùa ra, Vệ Binh, tức là mấy công an mang súng đi theo giữ tù, bắt được.

Vệ Binh và Quản Giáo gọi Tân lại, “khiển trách”:

– “Anh muốn báo tin cho ai núp lén trong rừng nầy mà ghi tên họ và số đội của anh vào rùa?”

Tân không trả lời được, bèn xin cán bộ đem rùa về trại. Hôm đó, Tân cũng còn sợ, không dám làm thịt rùa, nhưng sửa mấy chữ khắc trên mu rùa như sau: Lê Văn Txxx (xóa chữ â và chữ n). Chữ đội 19 thì anh sửa là 1937, năm sinh của anh, rồi lại đem vào rừng, thả ra.

Vài hôm sau, một anh ở đội khác, bắt được con rùa ấy làm thịt. Tôi hỏi Phan Thành Long, người cùng đội bên đó.

Long nói: “Tui có phụ làm rùa với thằng đó, cùng ăn với nó, thịt rùa ngon như thịt gà, có thấy xui gì đâu!”

Biết chuyện ấy, Tân nói với tôi, giọng không vui:

– “Tự vì anh mà tui mất ăn bữa thịt rùa!”

Tôi chỉ biết “cười trừ” chứ nói gì bây giờ!!!

Mùa mưa sắp tới, chúng tôi được lệnh cuốc đất, chuẩn bị gieo bắp. Năm đầu, đất tốt lắm, trái bắp to. Cũng không ít người lận trái bắp vào bụng, che áo lại, đem về nướng “cải thiện” cho… đỡ đói.

Được vài năm, đất bạc mầu, trái bắp chỉ bằng ngón chân cái. Còn gì để mà ăn, coi như…mất mùa. Xoay qua trồng mì, củ khoai mì nào to lắm, cũng chỉ bằng cán cuốc. Cũng coi như xong!

Có một loại cây không trồng nhưng mọc đầy, xanh um, rất tốt là cây thầu dầu mọc hoang. Khổ nỗi, trái thầu dầu rất độc, chỉ dành cho những ai không muốn ăn nữa thì ăn nó, để làm bữa ăn chót mà thôi!

Khi mùa mưa tới, ở những nơi đất rừng mới cuốc, có nhiều trùn đất. Những con cua nhỏ bằng ngón tay cái ra ăn trùn, bị chúng tôi nắm được, đem về nấu canh rau muống, “ngon đáo để” như có người khen vậy!

Tôi về trại nầy được mấy hôm thì cho viết thư. Lần thăm đầu tiên, gia đình lên thăm đông lắm: vợ tôi và các con, các anh chị và các cháu gọi bằng chú, bằng cậu. Những lần sau thì chỉ có nhà tôi và các con. Có khi vì bận học, chỉ có nhà tôi lên thăm hàng tháng, chỉ đôi khi thì vài tháng. Mỗi khi lên thăm, ngoài thịt cá làm khô, còn có gạo, mì gói, đậu mè, bánh kẹo… và “thuốc bổ”. “Thuốc bổ” là những tin tức người ta đồn thổi ở Saigon, như tin tướng Kỳ kéo quân về “giải phóng Saigon”, tướng Nam đang còn sống, chỉ huy “Mặt trận  miền Tây”… Thật ra, những tin nầy là tin vịt, chẳng ai tin, chẳng mấy hy vọng, nhưng cũng có những anh em tù tin nó, như đang trôi giữa dòng nước lũ mà nắm được cọng lau.

Ở ngoài, những người bạn cũ, lâu lâu đến thăm gia đình tôi, như anh Đoàn Công Lập, cựu trưởng ty Cảnh sát Huế, hay nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Với những người nầy, họ nói thẳng là khuyên nhà tôi nên đem con vượt biên.

Anh Đoàn Công Lập trốn cải tạo, bị Công An từ Huế vào Saigon truy lùng. Họ bắt được anh, tra khảo đến nỗi khi cho gia đình nhận về thì anh đang hấp hối. Nhạc sĩ Trần Tử Thiêng vượt biên cũng bị bắt. Khi tôi được tha thì anh còn ở trong tù.

Đó là những thứ “thuốc bổ” mà không bổ chút nào cả.

Một năm nhà tôi lên thăm, tôi gởi về cho mẹ mấy miếng vỏ cây, tôi lấy khi đi phá rừng, thường gọi là cây vỏ, người xưa thường ăn nhém với trầu để miếng trầu được dẻo. Nhà tôi nhận mấy miếng vỏ cây mà mấy giọt nước mắt lăn trên má. Tôi hỏi:

– “Má mất rồi à?”

Nhà tôi cố giữ bình tĩnh, trả lời:

– “Không, má còn sống.”

Tôi biết nhà tôi dấu tin, sợ tôi biết tin thêm buồn rầu mà thôi. Tuy nhiên, tôi chẳng hỏi thêm. Hỏi thêm, biết rõ thêm có ích gì đâu! Tôi chỉ tiếc một điều, những người sinh ra tôi và nuôi dạy tôi khôn lớn như cha mẹ, khi họ qua đời, không có tôi bên cạnh. Nỗi đau đớn ấy là do đâu?!

Thời gian cay đắng nhứt là tết năm Kỷ Mùi (1979), nhà tôi dẫn các con vượt biên ở Bình Tuy bị bắt. Vậy là cha mẹ ở tù cả, nhà chỉ còn lại 6 chị em ở với nhau, đứa lớn nhứt mới 15 tuổi, con gái, phải lo chăm sóc cho các em và thăm nuôi cả cha lẫn mẹ ở trong tù.

Các con tôi vẫn dấu kín, không nói với tôi là mẹ bị tù./

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

Phần 21

“Sở Công an thành phố Hồ Chí Minh khởi tố vụ án gián điệp hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh…”

Đó là câu đầu tiên trong cái gọi là bản khởi tố Bọn Gián Điệp của Sở Công An Thành phố mang tên bác Keo. Tôi đọc được mấy câu này trên tập khởi tố do chị nhân viên cái gọi là Viện Kiểm Sát Nhăn Dăn vào nhà tù Chí Hòa gọi tôi ra hỏi đôi câu ra cái điều viện cũng chú ý đến người tù, dù là tù phản động. Bản khởi tố ấy đặt ngược với tôi, vì mắt yếu tôi chỉ đọc ké được mấy dòng đầu.

Cứ như những gì hai anh Cớm cộng Nam Thi – Minh Kiên kể trong NTBKCB thì anh em chúng tôi chỉ can tội viết và gửi một số bài viết ra nước ngoài. Nhưng năm 1986 khi định đưa chúng tôi ra tòa, bọn Công An Thành Hồ, hung hăng con bọ xít khép chúng tôi vào tội gián điệp. Chúng đòi giết một người, cho tù chung thân một người trong chúng tôi.

Nhưng vở kịch “Vụ án gián điệp thành Hồ” do bọn Công An Thành Hồ dàn dựng như quả bóng xì hơi, đầu voi đuôi chuột. Bọn chúng la lối với ý định giết người nhưng rồi chúng tẽn tò, xụi lơ v.v… Đó là những chuyện đã xưa rồi.

Theo thủ tục những cái gọi là Truyện Vụ Án bao giờ cũng có vài chương đề cao cá nhân vài tên công an: “những chiến sĩ công an cương cường bắt, bỏ tù nhân dân không mệt mỏi”. Trong đoạn dưới đây trích trong NTBKCB ta thấy nói đến đồng chí Tư Tuân, người phụ trách đơn vị công an “chống phá hoại tư tưởng”

Ban này có cái tên là “Ban Công tác chống phá hoại tư tưởng”. Đại khái “chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn tốt đẹp, chủ nghĩa cộng sản sẽ đem lại hạnh phúc cho loài người”. Chuyện ấy chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch. Kẻ nào nói ngược lại, hay chỉ cần tỏ vẻ nghi ngờ thôi, kẻ ấy can tội “phá hoại tư tưởng”. Phải bắt giam kẻ ấy để bảo vệ tư tưởng chủ nghĩa cộng sản là đỉnh cao trí tuệ loài người.

Trích Những Tên Biệt Kích Cầm Bút:

Chỉ huy trưởng rút từ trong ngăn kéo ra một xấp báo lá cải của bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài để trên bàn.

– Anh Tư đã xem mấy thứ này chưa?

– Dạ có. Tôi vẫn nhận được thường xuyên nhưng…

– Tôi biết. Mấy thứ giấy lộn này có đáng gì, nhưng đó là khói của đốm lửa cần dập tắt. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là cần phải chú ý tới nó.

– Vâng, Tư Tuân vừa nói, vừa lắc đầu – Thú thật với anh, tôi chán ngấy mà vẫn phải đọc. Anh em Việt kiều về thăm quê hương cũng nói với tôi, họ chẳng bao giờ thèm để mắt tới món hàng ôi đó!

….

Tư Tuân đọc lướt mấy trang báo. Cũng những luận điệu vu cáo rẻ tiền. Cả cái lối hành văn, thuật ngữ đã quen thuộc đối với anh. Từ khi được giao phụ trách đơn vị này, anh đã chịu khó đọc hàng lô sách, tiểu thuyết của số “nhà văn” cũ và sách báo mới được bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài. Thật là chán đến buồn nôn…

Hai đoạn chữ in nghiêng trên đây được trích ở trang 79 NTBKCB. Anh cu Tư Tuân nói anh đọc và thấy “buồn nôn” thì cũng đúng thôi. Toàn là những gì viết về cái xấu, cái bẩn, cái tàn ác của Việt cộng, anh không thấy buồn nôn làm sao được. Có điều anh nói đó toàn là “những luận điệu vu cáo rẻ tiền” thì chúng tôi không dám đâu. Tội của mấy ảnh nhiều quá rồi. Cần gì chúng tôi phải vu cáo mấy ảnh. Hai nữa, chúng tôi muốn bịa thêm ra tội để vu cáo mấy ảnh cũng hổng có được. Loài người ác độc nghĩ ra được bao nhiêu cách hành hạ nhau, làm nhau đau đớn, giết nhau… mấy ảnh mần ráo trọi. Mấy ảnh còn sáng chế ra nhiều tội ác mới nữa mà loài người hổng thể nào ngờ được có những tên cũng nhận là người mà làm nổi. Sức mấy mà chúng tôi vu cáo nổi mấy ảnh.

Bọn công an Thành Hồ vẫn theo dõi anh em chúng tôi từ những ngày đầu chúng chiếm được Sàigòn. Tôi chắc đến năm 1982 chúng mới mở cuộc điều tra riêng về chúng tôi. Trong số “sách báo mới của bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài” được nói đến trong đoạn trên đây chắc chắn có tập “Tắm Mát Ngọn Sông Đào”

Trích: Tắm Mát Ngọn Sông Đào. Thơ, văn, nhạc sáng tác từ quốc nội

Nhà xuất bản Lá Bối in lần thứ nhất, Paris 1981.

Lời mở đầu

Những giai đoạn khó khăn của đất nước dù kéo dài đến mấy cũng không làm tiêu hao được niềm tin của chúng ta nơi khả năng của dân tộc, của cả một dân tộc. Đành rằng chiến tranh, tình trạng áp bức và nghèo khổ có làm băng hoại đi nhiều giá trị tinh thần, nhưng không phải vì vậy mà những viên kim cương bất hoại không được tiếp tục phát triển giữa lòng dân tộc. Ngày mai khi đất nước lại đi vào giai đoạn sáng sủa mới ta lại thấy được khả năng và tiềm lực của giống nòi. Sống xa quê hương, ta không thấy và không cảm được một cách trực tiếp và thường xuyên nỗi đau, niềm thương của người trong nước, vì vậy ta vẫn phải thỉnh thoảng về tắm lại trong dòng sông dân tộc để tự tìm lấy mình, để tự mình đánh mất mình, và như thế cũng có thể đóng góp được phần mình vào sức sống đi lên của dân tộc. Văn nghệ sĩ sống trong nước chính là những người có thể giúp ta rung cảm cái rung cảm của dân tộc, bởi họ chính là một trong những thành phần dễ bị rung cảm nhất bởi cái rung cảm chung. Đọc họ, nghe họ, ta có cảm tưởng được chia xẻ những nỗi đau, niềm thương của dân tộc, và như thế ta cũng có cảm tưởng được đất nước đưa hai cánh tay cứu chuộc ta về.

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào

Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh…

Nước mát ở ngọn sông đào và trái sim chín ở rừng xanh bao giờ cũng còn đó đợi ta. Ta có tắm mát và ta có ăn sim chín thì ta mới còn là người Việt Nam, dám nói, dám làm cho đất nước, cho dân tộc.

… Những tác phẩm Lá Bối trình bày trong tập này đều xuất phát từ quốc nội, trong đó nhiều bài đã được đưa ra từ chốn lao tù. Bạn đọc sẽ dễ dàng nhận ra sự kiện này. Một điều nữa mà ta nhận thấy khi đọc là các tác giả đã chứng tỏ một sức kiên nhẫn và chịu đựng lớn lao; nhiều người đã biết nhìn bằng con mắt từ bi hơn là con mắt căm thù. Chính ưu điểm là ở chỗ đó. Sức mạnh của dân tộc không nằm ở chỗ giận dữ hung hăng bên ngoài mà nằm ở khả năng bền bỉ chịu đựng và ý chí thắng vượt hoàn cảnh.

Mong rằng những giọt máu, những dòng lệ và những tiếng cười của họ có thể giúp chúng ta vượt thoát trạng thái vô tâm thụ động và quên lãng, đồng thời giúp ta phương tiện cứu chuộc lấy chính chúng ta.

Ông bạn Sáu Bó Gập, xưa là sĩ quan Dù, hiện làm việc tại Đại học NOVA, Virginia nói với tôi:

– Tôi đọc anh từ những năm tôi mới nhập ngũ, đọc anh dài dài trong bao nhiêu năm. Những năm 80 khi đọc mấy bài viết từ trong nước gửi ra ký tên Con Trai Bà Cả Đọi, tôi hỏi Trần Tam Tiệp, Con Trai Bà Cả Đọi có phải là anh không, hắn chịu ngay. Ngôn ngữ của anh nó lù lù ra đấy, làm gì bọn Việt cộng nó chẳng biết…

Ông bạn Sáu Bó Gẫy khác nói:

– Đọc những bài anh viết gửi ra tôi lấy làm lạ. Tôi tự hỏi, anh cu này không sợ Việt cộng nó bỏ tù hay sao mà dám viết phoong phoong gửi ra nước ngoài như thế này?

Nhiều ông, phải nói rất là nhiều ông, khi còn kẹt trong nước thì nín khe, một lá thư ngắn gửi ra nước ngoài cũng không viết, có ông khi được người đem tiền cứu trợ từ nước ngoài gửi về đến cho cũng sài lắc, không lãnh, dù đang đọi, sợ mang vạ. Các ông giữ thân: không dính dáng gì đến Việt cộng để ÔĐiPi Mẽo có cớ từ chối không cho mình và vợ con sang Mẽo, hai: không làm gì để cộng sản có cớ bắt lại, đi nằm ấp thêm vài niên, hỏng mất cơ hội đưa vợ con sang Xê Kỳ. Tám anh em chúng tôi chẳng có tài cán cũng chẳng can đảm hơn ai, những gì chúng tôi viết gửi ra ngoài cũng chẳng có gì đáng gọi là giá trị, nhưng ít nhất chúng tôi cũng đã viết, đã gửi tác phẩm ra phổ biến ở nước ngoài, gọi là nói lên một trong trăm ngàn nỗi đau thương, tuyệt vọng, căm hận của đồng bào ta sống trong kềm kẹp của cộng sản.

Năm 1980, tôi được người bạn cho mượn quyển tự truyện của Stefan Zweig. Ông viết quyển này vào khoảng năm 1944. Ông bà nguyên là người Đức gốc Do Thái, phải bỏ nước đi tị nạn, Hít Le Nazi muốn giết hết người Do Thái. Viết xong quyển tự truyện hồi ký này, hai ông bà cùng tự tử ở nước Anh. Trang đầu quyển sách in bức thư nhà văn viết để lại cho người đời. Hai ông bà thấy chiến tranh quá ghê rợn, dân Do Thái bị tàn sát quá mức khủng khiếp. Ông viết:

Các bạn còn niềm tin ở ngày mai tươi sáng, các bạn ở lại. Chúng tôi tuyệt vọng, chúng tôi đi thôi. Vĩnh biệt các bạn…

Trong căn nhà tối của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, năm 76, 77, có lần Alice nói với tôi: “Hay là chúng mình cùng chết đi anh…”. Chúng tôi tuyệt vọng đến nỗi chúng tôi cũng có ý định chết như ông bà Stefan Zweig, nhưng chúng tôi không cùng tự tử được như ông bà. Định mệnh an bài. Ông bà Zweig mà tự tử chậm một tí thôi, chỉ chưa đầy một mùa lá rụng sau ông bà đã thấy Đức Quốc Xã sụp đổ không còn viên gạch, Hít Le Ria Cứt Mũi chết tồi tàn hơn con chó chết.. Vợ chồng Anh Con Trai Bà Cả Đọi Cư xá Tự Do Ngã Ba Ông Tạ Cờ Tây Leo Dây Xe Kiếm Đen cửa Nhà Dây Thép Gió tuy ngu ngây song cũng biết như ai cái chân lý ngàn đời: “Chết là thoát. Chết là hết khổ. Chết là quỵt hết nợ nần. Chết là những tên khốn nạn không còn hành hạ được mình. Mình chết là chúng nó trơ mõm…”. Nhưng anh chị hổng chết được bởi vì trước hết anh chị nghèo quá, người ta nghèo không có miếng đất để cắm dùi, anh chị – những năm 80 – nghèo đến nỗi không có cả cái dùi đem đi tìm đất cắm nhờ. Sống đời dân Ngụy giữa lòng Thành Hồ những năm 80 muốn tự tử cho êm ả đôi chút cũng khó chứ không phải dễ.

Tôi đọc bản dịch Việt ngữ truyện “Lá Thư Của Người Không Quen Biết” từ trước 1945. Đến năm 1954, tôi đọc bản tiếng Pháp “Lettre d’une Inconnue”. Truyện tình cảm động ướt át thuộc loại truyện diễm tình những năm 1920. Một ông nhà văn nổi tiếng Áo quốc, quốc gia có dòng sông Đa Nuýp Bờ Lơ, tuổi đời chừng Bốn Bó, độc thân, một tối về nhà nhận được thư của một người phụ nữ không quen biết. Người phụ nữ viết thư cho ông kể cô ta là độc giả ái mộ ông, cô coi ông còn hơn cả thần tượng. Cô ở với bà mẹ gần nhà ông nhưng ông đâu có biết cô là ai. Còn cô, tất nhiên là cô biết ông. Không những cô chỉ biết ông mà thôi, cô còn mê ông nữa. Cô đọc văn ông và cô mê đến nỗi cô muốn được gần ông, được ông yêu, dù chỉ là được ông yêu một lần. Cơ hội đến với cô. Một tối khuya cô đứng tránh mưa trong cửa vào tòa nhà trên lầu có phòng của nhà văn lớn, cô gặp ông đi về. Cô chào ông và ông chào lại. Đôi người bắt chuyện nhau. Cô độc giả ái mộ này con nhà lành, còn nguyên trinh, đẹp, có duyên, có học. Ông nhà văn mời cô lên phòng. Cô lên theo ông. Ông mời cô ăn tối, cô nói với ông về cảm nghĩ của cô đối với những tác phẩm của ông. Và rồi chuyện phải đến đã đến. Nam nữ gặp nhau, thi văn đàn địch gì thì rồi cũng phải sát lại làm một. Cuộc tình văn nghệ, văn gừng, văn sĩ, nữ độc giả ái mộ thơm hơn múi mít êm đềm diễn ra không phải trên bàn viết với cái máy đánh chữ hay máy computer mà là trên giường với nệm bông, mền gối.

Thư người phụ nữ không quen biết viết tiếp: “Sáng ra anh còn ngủ, em lặng lẽ ra đi. Được gần anh một đêm, nhà văn thần tượng của em, được anh yêu, em thỏa mãn rồi. Em không còn đòi hỏi gì hơn. Em sống suốt đời em với cảm giác hạnh phúc khi em được anh yêu…”. Thế rồi cô viết tiếp: sau đêm yêu đương ấy cô có thai. Nhưng cô không cho nhà văn biết cô có thai. Cô chửa rồi cô đẻ, cô đẻ và cô đi mần cô nuôi con cô. Cô thương đứa nhỏ ghê gớm. Nhưng con cô và con nhà văn lớn bị bệnh… “… Khi em ngồi viết thư này cho anh con chúng ta sắp chết. Đêm khuya. Trời lạnh quá. Anh yêu ơi… Con của chúng ta đã chết rồi…”

Thư đến đây là hết. Ông nhà văn bàng hoàng. Người viết không đề tên, không cho ông biết địa chỉ, số phône. Đúng là thư của người nữ không quen biết. Mà người nữ không quen biết ấy lại là một nữ độc giả ái mộ, người từng ân ái với ông, người mẹ đứa con của ông mà ông không hay biết.

Không thể biết mức độ xúc cảm của ông nhà văn khi ông đọc bức thư ấy cao thấp chừng nào, cũng có thể ông tỉnh queo coi thư như một truyện ngắn. Chỉ biết những năm tuổi đời vừa ngoài một bó đọc truyện “Thư của người không quen biết” tôi thấy cuộc đời tư của những ông nhà văn mê ly hất hủi quá. Mấy ông được đàn bà đẹp yêu mê còn hơn cả kép hát. Chính vì bị mê hoặc bởi những truyện như “Thư của người không quen biết” nên ngay từ số tuổi chưa biết đàn bà với con gái giống nhau, khác nhau ra sao tôi đã mơ giấc mộng hoang tưởng cực kỳ là mai sau ta lớn ta mần văn sĩ.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

85. Trần Lam Giang

Bộ Cổ Tích Việt Nam của Trần Lam Giang gồm 3 quyển, tổng cộng dày trên một ngàn trang, do Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam xuất bản và Thư Viện Việt Nam phát hành. Được biết Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam và Thư Viện Việt Nam đều do chính Trần Lam Giang và các thân hữu đồng chí hướng sáng lập, hoạt động từ nhiều năm nay ở hải ngoại.

Bộ Cổ Tích Việt Nam là công trình đầu tiên của nhóm được công bố.

Ông Trần Lam Giang xuất thân Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Trước 75, ông dạy học. Môn dạy chính của ông là Triết và Quốc Văn.

Có thể coi lời dẫn nhập của cuốn sách, như tuyên ngôn của nhóm chủ trương:

“Trong nhiều năm qua, Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam đã tìm tòi, nghiên cứu, chắt lọc, để thu góp những gì là tinh hoa, là nền văn hóa đích thực của dân tộc. Nền văn hóa này, trong giai đoạn cận đại và hiện đại, đã bị xuyên tạc quá nhiều bởi tầng lớp trí thức Tống Nho, bởi các thế hệ ngoại nhập và một số trí thức bạc nhược chịu ảnh hưởng nặng nề các thế lực này. Những xuyên tạc này được coi như là một lớp bụi phủ mờ chiếc áo dân tộc. Công việc phải làm là giũ sạch lớp bụi này đi thì người Việt vẫn mãi mãi là người Việt”.

Trong lời nói đầu của bộ sách, ông Trần Lam Giang cũng minh định quan điểm cùng mục đích công việc của mình như sau:

“Thi thư Việt Nam bị ngọn lửa thực dân văn hóa thiêu cháy quá nhiều, nhưng tư tưởng minh triết, lời hay ý đẹp vẫn hiển hiện trong văn học dân gian. Văn học dân gian gồm cổ tích, tực ngữ và ca dao, là một thành trì văn hóa bất khả xâm phạm. Không lửa nào có thể đốt cháy, không bom đạn nào có thể phá hủy, không bạo lực xâm lược nào có thể cướp đoạt.

Trong hoàn cảnh lịch sử hiện tại, hơn hai triệu đồng bào tị nạn chính trị ở nước ngoài. Nhận thấy rằng, dù sống ở không gian nào, nếu giữ được văn hóa nhân bản của dân tộc, vẫn như sống trong lòng tổ quốc. Lại nhận thấy rằng, lớp người trưởng thành ở xứ người, trong khi tiếp nhận và hội nhập với phong tục tập quán mới, cần phải được biết văn hóa cội nguồn mới có thể biết đường về mái ấm chung của giống nòi”.

Như mọi người đều biết hầu hết cổ tích của chúng đều là những truyện truyền khẩu, người xưa để lại. Mỗi thế hệ thêm bớt để cho các câu chuyện toàn bích hơn theo quan niệm của mình.  Rất nhiều truyện Trần Lam Giang chọn đưa vào bộ sáchcó thể là những truyện người ta đã nghe kể, đã đọc rồi, được lời bàn, ông viết lại theo phong cách, quan niệm riêng ấy, kèm thêm lời bàn.

Truyện đầu tiên của tập sách Sự Tích Rồng Tiên, Trần Lam Giang kể có nhiều điều khác với những gì chúng ta đãnghe từ xưa. Cái khác lạ ấy chúng ta có thể nghe trong lời bàn, lời đúc kết của ông:

“Không cần sử sách, người Việt đời đời vẫn biết rằng giống nòi ta là một giống nòi cao quý. Cây muốn cao to thì gốc phải vững bền, sông mà sâu dài thì nguồn phải lớn mạnh. Giống nòi có giá trị thì tổ tông hẳn có công đức cao dày.

Tổ tiên ta bắt đầu từ Viêm Đế, họ Thần Nông, tìm ra ngũ cốc nuôi nhân loại. Đó là một công đức cực lớn. Dân Việt ta biết cấy cày là do tổ tông ta truyền dạy, nào phải nhờ đến thực dân xâm lược dạy dỗ ta đâu.

Tổ ông ta là Lạc Long Quân, tên húy là Sùng Lãm, có cha có mẹ là người, đội trời đạp đất, ban ơn đức cao dày cho khắp muôn dân, tài ba lỗi lạc siêu quần, được dân ví như Rồng trong đám đàn ông. Tổ mẫu ta là Âu Cơ, có cha có mẹ là người, đức hạnh, nhan sắc vượt trên mọi phụ nữ ở đời, nên được mọi người ví như Tiên trong đám phụ nữ.

Rồng Tiên chỉ là hình ảnh biểu tượng nào phải một con rồng dưới nước lấy cô tiên trên trời sinh ra dân tộc ta đâu. Có nhiều dân tộc có vật tổ. Riêng dân tộc ta tổ tiên là Người”.

Độc giả cũng như các thức giả có đồng ý với quan điểm mới về nguồn gốc dân tộc của Trần Lam Giang chăng, chắc cũng phải chờ thời gian mới biết được. Cũng như cách viết truyện Bích Câu Kỳ Ngộ của Trần Lam Giang chẳng hạn, trong đám cưới Tú Uyên và Giáng Kiều, khách đến dự có cả Tiên Dung Công Chúa tức Chử Đồng Tử phu nhân và Ngụy Giáng Hương tức Từ Thức phu nhân.

Đây là một ý tưởng táo bạo. Nó có thể làm cho các huyền thoại gần gũi với chúng ta hơn, nhưng cũng có thể có kết quả ngược lại. Nhưng nếu không dám mạo hiểm gì cả, không tự thấy mình khám phá chút gì mới lạ thì viết làm gì?

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

84. Trần Hoài Thư

Trần Hoài Thư đã được biết đến nhiều từ trước 1975. Các truyện ngắn của Trần Hoài Thư, của Dzoãn Dân, của Y Uyên, Phan Lạc Tiếp, viết về đời sống của các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến vừa qua, hầu hết được viết bằng kinh nghiệm của chính bản thân, nên thường để lại ấn tượng sâu xa trong lòng người đọc. Y Uyên và Dzoãn Dân đã bỏ mình trong cuộc chiến ấy.

Cuộc chiến chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau đó là những ngày cải tạo, ở tù, người chết, người được tha, những cuộc viếng thăm lại đất cũ, người cũ, Sài Gòn, Đà Nẵng, các cuộc vượt biên, vượt biển, rồi những ngày lưu lạc trên xứ người, những chuyện người ta đọc thấy nhan nhản trên sách báo hàng ngày, những vết thương giấu kín trong lòng người này người khác, đất nước tan nát, những cuộc đời tan nát …

Trần Hoài Thư có một lối viết dịu dàng dù cho ông có động chạm đến những nỗi đau đớn. Chữ nghĩa đối với ông có một vẻ gì đó giống như những dấu vết để ông lần trở về với kỷ niệm, với quá khứ và cả nhập vào với hiện tại nữa. Và vì kỷ niệm, quá khứ lẫn hiện tại còn quay trong một cái vòng luẩn quẩn, chưa tách biệt ra được, nên dù các truyện trong cuốn sách của Trần Hoài Thư, mỗi truyện đều có tên riêng, hoàn cảnh riêng, nhưng người đọc có vẫn cảm tưởng đó là những mảnh vỡ của chỉ một cuộc đời. Trần Hoài Thư cũng không sắp xếp các truyện của ông theo một thứ tự thời gian nhất định. Từ Người Từ Trăm Năm, Đà Nẵng Quê Em, Nha Trang, Trần Hoài Thư đã đưa người đọc tới những Ngày Đầu Ở Xứ Người, kế đó ông lại dẫn độc giả trở về với Bãi Chiến, với một cái Quán Biên Thùy tại cố hương vào cái thuở trời đất long lở vì bom đạn. Ở đó còn có những người sống đi tìm người chết. Ở đó có những mối tình dở dang, câm nín.

Ở đó có những người điên. Ở đó có những nơi người ta đối xử với nhau như súc vật. Trần Hoài Thư kể lại trong “Người Và Quỷ”, một truyện xẩy ra trong trại cải tạo, các trang 202-203 như sau:

“Rồi một ngày ông Giang lên cơn. Ông ngã lăn trên nền, hai chân, hai tay nhảy đập đành đạch. Cái miệng thì sùi bọt. Đôi mắt trắng đục vô hồn. Người ta ngỡ ông chết. Có người cầu cho ông nhắm mắt phứt đi cho rồi. Bởi vì sống làm gì để kéo nỗi khổ đau cho mình và làm phiền kẻ khác.

Nhưng ông ta vẫn còn sống, và tiếp tục xưng ông là bạn của ông Hồ Chí Minh, thằng Trường Chinh còn sợ tao, tại sao chúng mày không sợ tao? Ông không còn làm chủ lấy ông nữa. Người ta bắt đầu cột chân ông vào thành giường, và đôi khi cột cả hai tay hai chân để ông ta khỏi vùng vẩy, hay nhét giẻ vào miệng ông.

Ông tổ trưởng Đặng bắt đầu lo ngại đến tình trạng sức khỏe của người quẫn trí và cái bất mãn của những người đang sống chung đụng. Làm sao với một người điên đến nỗi ăn cả phân mình lại bị nghi là chống đối tiêu cực. Ông Đặng sẽ trình lại tình trạng của tổ viên cùng cán bộ.

Ông tin lần này, cán bộ sẽ tái cứu xét.

– Trình cán bộ, đêm hôm qua, anh Hoàng Minh Giang quẫn trí đến độ anh ta ăn cả phân người …

– Anh nói gì thế. Anh nói lại đi.

Ông Đặng kể lại những diễn biến hồi đêm. Ông Giang, một chân cột chặt vào thành gỗ cuối phòng, để đề phòng ông ta có thể chạy thoát ra ngoài đêm, tự phóng uế, rồi hai tay ông bốc … Không ai có thể ngăn chặn kịp …

Bây giờ viên cán bộ mới cười lớn, cười nghiêng, cười ngã.

Y vừa cười vừa nói:

– Đúng là ngụy. Chúng nó đâu có từ bất cứ cái gì xấu xa nhơ bẩn …

Từ sau ngày 30 tháng 4-75, tất cả các cuốn truyện viết về đất nước, dù là của các tác giả còn ở trong nước hay lưu lạc ở xứ người, hình như không có một truyện vui nào. Chỉ là những niềm vui thôi chứ không nói đến hạnh phúc. Người ta chưa mất hết hạnh phúc đâu. Nhưng đôi khi hạnh phúc cũng quá buồn.

Người Về Trăm Năm, Đà Nẵng Quê Em, Nha Trang, những tên người tên đất là những truyện, vừa là những lờikể lể, vừa là những tiếng thì thầm tự thú, kêu gọi, soi chiếu, để tìm kiếm chút hạnh phúc buồn bã đó.

Các truyện của Trần Hoài Thư được viết hằng cái giọng như thế. Cầm và nhân vật xưng tôi trong truyện Nha Trang của Trần Hoài Thư đã có với nhau những ngày tình, dù không mấy yên vui nhưng cũng vẫn là những ngày tình. Chiến tranh. Chia lìa. Di tản. Rồi các trại tập trung cải tạo.

Ở trang 43, Trần Hoài Thư viết:

“Bây giờ tôi đang có mặt tại xứ người. Bây giờ tôi thương yêu cuộc đời của tôi nên phải dừng giữa phòng để nghe tên cai nói về công việc sắp sửa. Công việc của ông làm vệ sinh tầng ba. Ông phải làm cẩn thận, đừng để mấy con mẹ thư ký complaint … Nói xong, hắn giao tôi cho thằng Xì Colombia dạy việc. Gã vui tính cởi mở, dẫn tôi đi từng phòng, chỉ tôi lau mặt bàn, mặt kính, đổ thùng rác. Mày nhớ là không được lau cái bàn khi có chữ ‘do not erase’. Mày nhớ đừng đụng gì đến cái computer …

Khi chúng tôi đến phòng cuối cùng gã Xì chợt hỏi tôi:

‘Mày từ đâu đến?’ Tôi trả lời: ‘Việt Nam. Gã reo lên: ‘Tao biết một người đồng hương với mày làm việc ở đây. Đấy cái phòng này đấy’.

Gã mau mắn chỉ cái phòng cuối. Tôi nhìn lên tấm bảng gắn ngoài cửa. Cam Pham. Tên một người quen. Gã Xì bỏ đi. Tôi đẩy xe vào phòng. Tấm ảnh để trên kệ. Rõ ràng là Cầm.

Nàng bồng đứa con bên cạnh bên cạnh người chồng Mỹ. Sau chiếc ghế dựa là chiếc áo ấm màu tím hoa cà. Tự nhiên tôi ôm lấy áo và ấp vào ngực”.

Nhà Tù Phan Đăng Lưu

hung-viet.org

Hoàng Đình Báu

02 Tháng Tư 2015

Post by Sơn râu 7 Oct 2025

Nói đến ngày Quốc-Hận 30-4-1975 phải nói đến nhà tù Phan Đăng Lưu. Đây là nhà tù tuy không lớn nhưng nổi tiếng là khắt nghiệt nhất được Việt Cộng thành lập sau khi cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam. Nhà tù nầy nằm đối diện với chợ Bà Chiểu và sát với tòa tỉnh trưởng Gia Định, Sài Gòn xưa. Địa chỉ nhà tù nay là số 4 đường Phan Đăng Lưu, Sài Gòn.

Sau năm 1975, Việt Cộng dùng nhà tù nầy để nhốt các lãnh tụ tôn giáo miền Nam, các nhà tư bản, các chủ xí nghiệp, các phong trào phục quốc, cứu quốc, những văn nghệ sĩ miền Nam và kể cả các tổ chức vượt biên trốn ra nước ngoài. Tất cả những cá nhân, những tổ chức trên đều được chúng ghép vào tội phản động, tàn dư của Mỹ Ngụy và âm mưu lật đổ chính quyền cộng sản Việt Nam.

Ảnh minh họa

Trại có 2 khu là khu biệt giam và khu tập thể.Khu biệt giam với nhiều phòng nhỏ nằm sát nhau, mỗi phòng biệt giam rộng 1m và dài 2m.Mỗi phòng biệt giam có 2 sàn xi măng, sàn trên cao hơn sàn dưới độ 3 tấc. Sàn trên có một cái còng.Như vậy phòng biệt giam có thể nhốt 2 người tù mà bị còng thì chỉ có người nằm trên thôi. Trong phòng biệt giam có một cầu tiêu và một vòi nước khi mở khi không, trước phòng là một cửa sắt, trên cửa có một lỗ thông gió khoảng một tấc vuông dùng để đưa đồ ăn cho tù. Cải lỗ gió nầy được đóng hay mở cũng tùy thuộc cán bộ trực trại.

Lỗ gió nầy khi được mở và khi hành lang không có ai qua lại là niềm hạnh phúc của người tù. Nhờ lỗ gió mà người tù ở các phòng liền nhau có thể liên lạc với nhau dù không thấy mặt nhau. Họ có thể gọi nhau ra nói chuyện, cho nhau miếng bánh, cái kẹo, nhất là điếu thuốc rê đốt sẳn. Qua lỗ gió thấy an toàn, họ gọi nhau bằng cách gõ vào vách tường báo hiệu, xong thò tay qua lỗ gió, hai bàn tay sẽ gặp nhau…

Tôi bị bắt vào Phan Đăng Lưu năm 1983 về tội “ tổ chức vượt biên”. Tôi bị đưa vào phòng biệt giam. Tôi là tài công nhưng Việt Cộng tưởng tôi là tổ chức nên chúng đưa vào biệt giam và còng hai chân chân để tra khảo tôi phải khai tổ chức là ai và tiền, vàng, bạc để đâu. Lúc đầu ở biệt giam một mình, một tháng sau thì có thêm một người nữa. Người nầy là một cán bộ ngoài Bắc, không biết bị tội gì mà đưa vào ở chung với tôi. Một tháng sau, người cán bộ nầy ra thì một người tù khác vào, anh tên Cường có dính dáng đến “ Vụ Án Nhà Lam”. Cường người Huế, trước 1975 là một thợ chụp hình, khi T 54 của Việt Cộng tiến từ xa lộ Biên Hòa vào thành phố Sài Gòn, Cường đã ra đón và được cho lên xe tăng để chỉ đường cho đoàn xe vào Dinh Độc Lập. Chính anh đã chụp những bức ảnh T 54 ủi sập cổng chính của dinh và nhiều bức ảnh khác của những ngày Ba Mươi Tháng Tư. Cường không phải là ca sỉ nhưng có giọng hát hay mà lại bạo phổi, tối nào anh cũng đưa miệng qua lỗ gió hát lớn cho các tù biệt giam nghe. Cường cũng biết ngâm thơ nhất là bài “Hồ Trường”thì những ai ở biệt giam Phan Đăng Lưu vào những ngày ấy đều không quên giọng ngâm của anh vì tối nào nếu có dịp là anh ngâm, nhất là lúc trời mưa gió bên ngoài. Không may, một hôm anh đang ngâm “Hồ Trường” thì bị cán bộ trực trại phát hiện và anh bị kỷ luật và đưa đi nơi khác. Sau đó một người tù khác lại vào ở chung với tôi. Người thứ ba nầy là một cựu sĩ quan VNCH, ở chung với nhau một thời gian ngắn, chúng tôi hiểu nhau và chia sẽ mọi thứ cho nhau dù phòng kín chỉ vừa nửa chiếc chiếu, mồ hôi nhể nhải suốt ngày lại thêm muỗi mòng, gián chuột và mùi hôi thối từ lỗ cầu tiêu mục nát bốc lên.Có lúc đang ngủ giật mình thấy gián bò trên bụng hay chuột gậm gót chân.

Bảy tháng sau tôi được đưa qua phòng giam tập thể, phòng nầy dài khoảng 10 mét rộng 5 mét, chứa khoảng gần 80 người tù đủ mọi lứa tuổi và đủ mọi thành phần tù tội.Thấy tôi mới đến, tên trưởng phòng giam là một đại úy công an Việt Cộng bị bắt vì tội “Tổ chức vượt biên” chỉ định tôi nằm gần sát cầu tiêu bên cạnh là một người tù lớn tuổi. Tên nầy đúng là một cai tù. Nó cùng đám tay chân nằm gần cửa ra vào để dể dàng tiếp cận cán bộ trại và hít thở không khí bên ngoài, còn lại tất cả nằm sắp lớp như cá mòi trong hộp. Tất cả đều răm rắp theo lệnh cai tù, cai tù lại theo lệnh của cán bộ trại. Phần đông trước khi vào khu tập thể, người tù nào cũng phải trãi qua biệt giam nên ai cũng gầy yếu, xanh xao, và còn bị cai tù bắt nạt, dọa dẫm đủ điều. Nằm cạnh nhau cả ngày mà tôi chưa dám nói chuyện với bác bên cạnh vì sợ cai tù nghe vu cáo chuyện tù cũ tù mới nhỏ to nói xấu bác, đảng và cách mạng. Đợi lúc cai tù ra ngoài làm việc, bác nằm cạnh tôi nói nhỏ:

– Kệ nó.Tránh voi chẳng xấu mặt nào.

Tôi tự giới thiệu tên rồi hỏi bác:

– Bác tên gì?

– Tôi tên Nguyễn Hoạt

Tôi hỏi lại:

– Có phải Nguyễn Hoạt là Hiếu Chân tiên sinh?

Bác gật đầu. Tôi hỏi tiếp:

– Bác bị bắt vì tội gì?

– Biệt kích văn hóa.

– Trước bác làm gi?

– Giám đốc Văn Bút Việt Nam

Tôi nói đã đọc nhiều bài viết của bác trên các báo và rất ngưỡng mộ bác.

Từ đó, chúng tôi quen thân nhau, nằm sát nhau rồi ăn chung với nhau. Cũng nhờ đó tôi đã học hỏi từ bác nhiều thứ và xem bác như người thầy. Bác lớn hơn tôi 10 tuổi, sáng nào bác cũng ngồi thiền, chiều lại bác tập “trồng chuối ngược”, tức tập chúc đầu xuống đất, hai chân đưa thẳng đứng lên trời. Bác nói đây là cách tập luyện“Tinh, Khí, Thần”, hằng ngày mình ngồi, đứng nhiều, làm đảo ngược lại sẽ giúp máu xuống tim và lên đầu mạnh hơn.

Tôi lại hỏi bác:

– Bác nghĩ thế nào về văn học miền Nam trước năm 1975.

Bác trả lời:

– Nhiều bước tiến rõ rệt. Bác dẫn chứng, miền Nam Việt Nam trước năm 1954 chưa có gì. Thế mà sau 20 năm, miền Nam có tất cả, dù chưa lớn lắm, nhưng đã hơn nhiều nước ở Đông Nam Á. Bác nói tiếp, bây giờ lại trở về con số không.

Tôi lại hỏi:

– Trong thời kỳ cầm bút, bác thích thú điều gì nhất?

– Tôi thích nhất là lúc gặp nhà văn Kim Dung khi ông trên đường bay từ Singapore về Hồng Kông, ông có ghé qua Tân Sơn Nhất vài tiếng.Vài tiếng nhưng tôi đã nói chuyện nhiều với ông ấy.

Kim Dung là nhà văn nổi tiếng của Hồng Kông, tác giả của những tập truyện kiếm hiệp làm say mê hằng triệu độc giã khắp thế giới. Bác thích nhất câu nói của Kim Dung: “Chỉ có tự do mới sáng tác hay được”.

Cuối năm 1984 tôi được chuyển lên nhà tù Chí Hòa. Một năm sau tôi lại chuyển lên trại tù Tống Lê Chân thuộc tỉnh Bình Long để phá rừng trồng cây tiêu, cây điều, ba năm sau, cuối năm 1987 mới được thả về. Sau đó tôi được biết bác Nguyễn Hoạt cũng bị đưa lên Chí Hòa và chết tại trại tù nầy, không biết lý do gì.

Nghĩ đến trại tù Phan Đăng Lưu. Gần 40 năm, tôi vẫn còn nhớ đến những bạn tù trong biệt giam cũng như những bạn tù trong phòng giam tập thể.Trong đó có người bạn tù không tên ở bên cạnh phòng biệt giam thường cho tôi điếu thuốc rê đốt sẳn.Tuy nghe giọng nói hằng ngày của nhau nhưng chưa bao giờ thấy mặt nhau, đã làm tim tôi khắc sâu ân tình nầy, tiếp đến là anh Cường, trẻ tuổi, vui tính và nhiệt tình, sau cùng là bác Hoạt tức Hiếu Chân tiên sinh, người đã nằm cạnh và ăn chung suốt nhiều tháng, một nhà văn tha thiết tự do với nhiều mơ ước chưa thành sự thật đã phải từ giã người thân, bạn bè và cây bút của mình trong nhà tù Công sản.

Lúc qua Mỹ, tôi có xuất bản một tập thơ lấy tên “Mẹ và Quê Hương” trong đó có bài thơ ghi lại vài dấu tích với những bạn trong ngục tù Phan Dăng Lưu, một trại tù đã gây biết bao nỗi kinh hoàng cho mọi người vào thời đó. Sau đây là bài thơ “Ngục tù Phan Đăng Lưu”:

Đêm dài không ngủ được

Thời gian đếm bước chân

Nằm chờ nghe tiếng gõ

Đợi nhau qua lỗ gió

Trao nhau điếu thuốc rê

Cho nhau lời thăm hỏi

Những chẳng thấy mặt nhau

Bạn cho ta tiếng hát

Vang lên như tình gọi

Lời ca trong đêm vắng

Thắm tình tù thiết tha

Phòng rộng nửa chiếc chiếu

Thiếu không khí, thiếu mặt trời

Đôi lúc bạn bị còng

Điếu thuốc chẳng chuyền tay

Bài ca đành tắt lịm

Khi cả hai bị còng

Cuộc tình thêm thê thảm

Nằm đợi tiếng gõ vách

Vui quên đời ngục tù

Cám ơn bạn bên kia

Phòng biệt giam T-28

Ngày đêm ta có bạn

Bây giờ bạn ở đâu.

Cali 1-4-2015

Tam Giang Hoàng Đình Báu