Xấu dây nhưng tốt củ

baotreonline.com

Nguyễn Thạch Giang

February 8th, 2020

Post by Sơn râu 10 Oct 2025

Chiều Thứ Sáu mới vừa lãnh lương, tôi tắm rửa sạch sẽ mặc đồ đẹp xách xe đi… tìm vui. Cuộc đời ở xứ này vui nhứt là cuối tuần. Tôi ghé quán kiếm gì ăn dằn bụng, trước khi lao vào cuộc vui (có khi kéo dài tới sáng). Gặp chị Bạch Lê đang ngồi ăn một mình, tôi xáp lại ngồi chung tán láo cho vui.

Tôi quen chị Bạch Lê lâu rồi, chắc cũng hơn mười năm về trước, lúc đó chị mới vừa ly dị chồng, chị buồn đi chơi lang thang gặp tôi. Tôi với chị hạp tình hạp tánh hạp đủ thứ. Chị giống tôi ở chỗ sống hôm nào biết hôm đó, còn ngày mai… tính sau. Kiểu người mà dân ở đây nói là sống “from paycheck to paycheck”. Tôi độc thân không nói làm chi, bà này có hai con vậy mà cũng “kệ”, ly dị xong thằng con trai theo cha về ở với bà nội, đứa con gái theo mẹ về nhà ông bà ngoại, má chị nuôi giùm con chị, bà nói mày lông bông cái thân lo chưa xong, con nhỏ theo mày lớn lên có nước đi “móc bọc”.

Chị Bạch Lê làm nail, nhà chị mấy anh em đều làm nail, má chị nói không có cái nghề nào dễ như làm nail, chỉ nội tiền tip ăn không hết. Mấy anh mấy chị của chị ai cũng có tiệm, chỉ mình chị là đi làm công. Chị làm đủ tiền xài là được rồi chớ không mong làm giàu làm có gì với ai. Chị của chị là chủ tiệm nên chị ỷ y, muốn làm thì làm muốn nghỉ thì nghỉ, vui làm, buồn… nghỉ đi chơi. Má chị nói, mày làm cho người ta chắc bị đuổi lâu rồi.

Ăn xong tôi rủ chị Bạch Lê lên sòng bài chơi, mấy tuần nay tôi không có đi lên đó nên giờ thấy nhớ… ông tây bà đầm. Lúc trước tôi hay chơi xập xám bảy lá, giờ thì mê baccarat mau ăn mau thua. Chị Bạch Lê thì đánh poker 3 lá, chị mê bonus có khi hên đặt mười đồng trúng năm trăm. Ðánh tới nửa đêm thì tôi với chị thua sạch túi, xui quá, lâu lắm mới tới sòng bài mà cũng còn… xui. Tôi rủ chị tới nhà anh Tình ngủ sáng về. Tôi gọi điện thoại cho anh Tình, anh okay, cửa nhà anh lúc nào cũng rộng mở. Anh sống với đứa con gái chừng mười sáu tuổi. Hai cha con ở trong căn nhà nhỏ hai phòng ngủ, vợ anh bỗng dưng mê người tình tóc vàng mắt xanh dẫn nhau đi về nơi xa lắm. Anh kể tôi nghe, anh nói anh năn nỉ chị hết lời mà chị vẫn bỏ đi… theo tiếng gọi của cái gì không biết.

Tôi mê cờ bạc, giờ thua hết tiền thấy đói bụng, anh luộc mì gói cho tôi và chị Bạch Lê ăn. Mì gói anh làm ngon hơn mì ngoài tiệm, anh để thêm chút giá, cho thêm hành, bò viên, thịt bằm, ngon hết biết. Tôi nói tôi và chị Bạch Lê ngủ trên ghế sofa, phiền anh cho mượn cái mền mỏng là được rồi. Anh hỏi hai người nằm ngủ như vậy có được không. Tôi nói được, ngủ tới sáng không hề có gì xảy ra. Chị Bạch Lê gõ đầu tôi, ai mà không biết mày là thái giám.

Thỉnh thoảng tôi cũng nằm ngủ trên ghế sofa, nhưng thường ngủ một mình, tối nay ngủ “hai mình”. Hai người nằm xoay ngược đầu nhau, nghĩa là bàn chân của người này sẽ đưa vô ngay mặt của người kia. Mặc dù tôi không bị hôi chân, hôi mùi vớ nhưng cũng lịch sự đi rửa chân cho thơm trước khi ngủ. Tôi nhắc khéo chị Bạch Lê, chị nói chân tao thơm như vầy mà mày cũng bắt tao đi rửa.

Nằm chút xíu là chị Bạch Lê ngáy khò khò, lần đầu mới thấy đàn bà ngủ cũng ngáy. Tôi trằn trọc ngủ không được, không phải vì lạ nhà hay vì có người đàn bà nằm cạnh bên, chắc tại vì thua hết tiền, suy nghĩ không biết lấy gì xài hai tuần sắp tới đây. Anh Tình cũng khó ngủ rọ rạy suốt đêm, chút xíu là nghe anh đi vô nhà tắm, chút xíu là anh đi ra tủ lạnh rót sữa uống. Cha này già mà còn uống sữa. Ði ngang anh tò mò đưa mắt nhìn, chắc là hồi nào tới giờ anh chưa từng thấy trai gái nằm ngủ chung trên ghế sofa như thế này.

Tranh Thắm Nguyễn

Buổi sáng thức dậy rủ nhau đi ăn. Anh Tình ghé vô quán “Phở 75”, tôi không chịu nói thôi mình vô quán “Phở 54” đi. Anh Tình ngạc nhiên:

– Ủa sao vậy? Lúc trước mày ca tụng quán này dữ lắm mà, mày từng làm ở đây phải không?

– Bữa trước tui đi ăn, ổng bả miệng lưỡi khen tui lúc rày thấy có vẻ bảnh bao hơn hồi đó. Tưởng sao, mình móc tiền trả ổng cũng lấy, chưa từng thấy ông chủ quán nào như cha này, ai đời, người làm cũ của mình tới ăn mà cũng thò tay lấy tiền.

Anh Tình cười giòn không nói gì, chắc là anh nghĩ không có gì sai trái khi ông chủ cũ tính tiền ăn của người làm cũ. Chị Bạch Lê nói theo cho tôi vui. “Ừa, cha này hơi kẹo”. (Tôi thích chị Bạch Lê ở chỗ đó, biết cách nói vuốt đuôi cho người ta vui). Tôi sẵn dịp kể cho anh Tình nghe chuyện trước đây có thời tôi đi làm quán phở.

Hồi đó mới qua, tui kiếm việc gì làm tạm kiếm tiền mua xe. Thấy quán phở của “ông 75” đang cần người làm, tui vô xin đại dù chưa có kinh nghiệm bưng bê. Lúc đó cũng có một thằng mới qua cỡ tuổi tui vô xin việc làm. Ông chủ mướn cả hai. Ổng nói tui mặt mày sáng sủa đẹp trai hơn thằng kia, cho tui đứng phía trước lấy order, thằng kia làm dưới bếp rửa chén.

Anh Tình tròn mắt, mày đẹp trai?

Thì đẹp hơn thằng đó. (Có thể nói cách khác là tui xấu ít hơn nó).

Mà anh có biết tại sao là “Phở 75” không. Khách nào vô cũng nghe ổng khoe cái sự tích ngày xưa ổng tới Mỹ chỉ với chiếc quần xà lỏn. Ổng nói hôm 30 tháng Tư tôi đi ra bến tàu, thấy người ta chen lấn xuống tàu tìm đường di tản, tôi chẳng biết ất giáp gì thấy người ta đi, mình đi theo. Tới Mỹ không tiền bạc, không chữ nghĩa, có nghề phụ bếp quán phở nên xin vô quán phở làm. Ðược một thời gian học được nghề, có chút vốn hai vợ chồng nhảy ra mở quán. Người ta thì “Phở Tàu Bay”, “Phở 54”, “Phở 79”, mình qua đây năm 75, thôi lấy tên quán là “Phở 75” làm kỷ niệm cho con cháu nhớ đời.

Người ta nói “có gan làm giàu” thiệt đúng. Vợ chồng tôi mà không liều mạng làm gan mở quán thì tôi làm sao có tiền mua xe “mẹc xơ đéc”. (ở đây người ta nói mơ xí đì, cha này qua đây đã lâu mà cũng cứ còn mẹc xơ đéc. Biết mà, nhìn quán khách đông nườm nượp, ai không biết vợ chồng ông tối nào cũng chong đèn đếm tiền mệt nghỉ. Chồng thì mê xe, vợ thì mê hột xoàn. Ngồi tính tiền quán phở mà bà đeo vàng đỏ tay, lâu lâu đưa bàn tay lên ngắm hạt xoàn. Bà nói trong đời chị mê nhất là hạt xoàn, ngồi ngắm nó lấp lánh sắc màu hàng giờ không biết chán).

Rồi sao mày nghỉ làm?

Làm đâu được chừng ba tháng, có thằng cha con mẹ nào khó chịu, “complain” với ông chủ là tui lấy order mà cái mặt sao mà buồn quá, không khi nào thấy nó cười.

Anh Tình với chị Bạch Lê cười ha hả. Ai có đi làm waiter nhà hàng thì biết, có nhiều quý ông quý bà khách hàng thượng đế thật là dễ ghét. Quán đông ồn ào, mình đứng chờ cả buổi cũng chưa lựa được món ăn, mình bỏ đi kêu lại mắng vô mặt sao không đứng chờ. Hôm nào xui xẻo, gặp ngài thượng đế như vậy mà biểu tui cười.

Rồi mày bị ổng đuổi?

Không, chưa đuổi, cho thằng dưới bếp lên lấy order, tui đổi chỗ của nó xuống bếp rửa chén. Làm được chừng ba tháng thì bị đuổi vì tui rửa chén sạch quá.

Anh Tình cười giòn, chị Bạch Lê thì hiểu tôi bị đuổi vì rửa chén lâu quá. Tôi rất ghét ai rửa chén không sạch. Tôi đã từng thấy cô người làm rửa ly trong quán cà phê, cô nàng nhúng cái ly dơ vô bồn chứa nước xà bông, cô lấy ra nhúng vô bồn nước sạch, xong, cô rửa cái ly chớp nhoáng chưa đầy một phút. Nhìn cô rửa ly mà tôi thấy ớn chè đậu. Nhưng ở nhà hàng quán ăn thì người ta cần người làm cho nhanh cho lẹ, chén bát nhìn có vẻ hơi sạch là được rồi cần chi phải sạch bóng. Hôm cho tôi nghỉ ông chủ kêu tôi lên nói văn hoa, anh nghĩ là chú mày nên tìm việc gì khác mà làm, chứ cái việc rửa chén anh thấy chú mày không thích hợp. (Ðâu cần phải ăn nói lịch sự quá vậy cha).

Kỳ lãnh lương sau tôi rủ chị Bạch Lê tới nhà anh Tình “nhậu”. Tôi lãnh phần đứng bếp lo mồi. Tôi làm món lẩu bò, món này dễ nhất trên đời, hầm xương lấy nước ngọt bỏ vô nồi lẩu. Chuẩn bị thịt bò, tôm lột vỏ, cá phi lê, mực, con chem chép, rau sống xà lách, bánh tráng, luộc chút bún, xong, dễ ẹc. Trong khi chờ tôi chuẩn bị bữa nhậu, chị Bạch Lê và anh Tình ngồi hát karaoke. Chị Bạch Lê rất mê hát, hồi nhỏ chị từng mơ lớn lên làm ca sĩ. Chị nói nếu ở Việt Nam, chị sẽ đi thi hát “Solo cùng Bolero”. Có lần má chị hỏi tôi có biết Bạch Lê hát cải lương Hồ Quảng không. Ca sĩ thì họa may tôi biết chớ nghệ sĩ hát cải lương thì tôi chịu. Má chị nói lúc bà mang bầu coi cải lương tuồng “Bao Công xử án Quách Hoè”, cô đào Bạch Lê đóng vai “Quách Hải Thọ” thiệt là hay xuất sắc. Cho nên đẻ chị ra bà đặt tên chị là Bạch Lê, mong chị sau này sẽ nổi tiếng như cô đào hát cải lương. Nhưng chị Bạch Lê không thích hát cải lương, chị thích hát tân nhạc, mà thích nhất là nhạc Bolero.

Ăn xong hai người kéo nhau ra hát tiếp, bỏ tôi một mình dọn dẹp. Chị Bạch Lê hát anh Tình ngồi kế bên, lâu lâu giả bộ say rượu đặt bàn tay lên đùi của chị Bạch Lê. Chị Bạch Lê miệng thì hát mắt ngó màn hình nhưng cũng biết có người đặt bàn tay lộn chỗ lên đùi của mình, chị nhẹ nhàng đẩy bàn tay lông lá ra chỗ khác. Tôi vừa rửa chén vừa liếc nhìn trộm hai người, thấy tức cười không nhịn được hỏi anh Tình đang mơ gì đó.

Chị Bạch Lê hỏi tôi nghe chị hát có hay không, chị muốn làm một cái “cờ líp” bỏ lên YouTube cho thiên hạ lé mắt chơi. Mình tự quay “cờ líp”, tự hát, rồi tự bỏ lên YouTube kiểu như ca sĩ “Lệ Rơi” năm xưa, mình sẽ nổi tiếng mà không tốn tiền.

Tôi thấy nhan sắc của chị Bạch Lê chỉ trên trung bình một chút xíu, còn giọng hát thì cũng na ná như trăm ngàn giọng hát đang tràn ngập trên YouTube, tôi thành thật góp ý cùng chị.

Nếu giọng hát của mình không có gì đặc biệt nổi trội, thì phần “hình” mình làm sao cho gây được sự chú ý của thiên hạ. Chị định hát bài gì?

Chị đang thích bài “Người tình không đến”

Bài hát này thì tôi biết, đang “hot”, từ ca sĩ hải ngoại cho đến ca sĩ trong nước, từ ca sĩ ngôi sao cho đến ca sĩ hát đường phố bán kẹo kéo xúm nhau hát bài này.

Chị có áo dài không?

Có một cái nhưng không có quần

Anh Tình ôm bụng cười khùng khục, chắc anh cũng biết cái vụ cô ca sĩ Mỹ mặc áo dài Việt Nam mà không mặc quần.

Bữa nay mập, cái quần mặc hổng vừa.

Vậy thôi mặc váy cũng được, mình sẽ quay cảnh chị ra sân ga đón người tình mà người tình không đến. Chị buồn bã quay trở về, gió lộng thổi tung tà áo, tui muốn bắt chước cảnh cô đào hát bóng có tấm hình nổi tiếng gió thổi bay tung váy.

Thẩm Thuý Hằng phải không?

Không phải, cô đào này người Mỹ tui quên tên mất rồi, anh Tình có nhớ là ai không?

Anh Tình làm thinh, cha này không đọc báo, tấm hình nổi tiếng cả thế giới vậy mà cũng không biết.

Ðể tăng phần “gợi cảm” chị sẽ mặc áo hơi mỏng đi trong mưa gió. Gió thổi tung tà áo và mưa sẽ làm chị… ướt.

Ướt ít ít thôi nhe, chị sợ ướt nhiều quá bỏ lên YouTube con chị thấy nó la.

Cũng khổ, đời xưa con cái sợ cha mẹ la, đời bây giờ cha mẹ sợ con la.

Tuần sau tôi và chị Bạch Lê đến nhà anh Tình để ghi hình cho cái “cờ líp” bài hát “Người tình không đến” của chị Bạch Lê. Dẫn nhau ra sân ga chờ xe lửa tới làm hậu cảnh sao thấy phiền phức quá, thôi lấy cảnh vòng vòng khu nhà anh Tình cũng được. Ðây là lần đầu làm thử coi xem sao, ghi hình bằng cái iPhone đời mới của anh Tình. Nếu thành công, lần sau sẽ tính tiếp.

Ðể làm cảnh mưa tôi lấy vòi nước tưới cỏ của anh Tình tạo cảnh mưa rơi lất phất, cũng tạm ổn. Tạo cảnh gió thì dùng quạt máy để gần cho gió thổi tung tà áo. Anh Tình lom khom cầm cây quạt, tôi cầm cái phone quay qua trở lại cố gắng ghi hình sao cho thật hấp dẫn cảnh chị Bạch Lê bị gió thổi “tốc váy”. Nhưng tiếc quá! gió của cây quạt không đủ mạnh thành ra gió thổi mà không thổi tung được cái gì, thôi kệ, tạm thời chấp nhận như vậy đi.

Lồng tiếng hát và đưa lên YouTube cả anh Tình và tôi không biết cách làm, cái vụ này để hỏi thăm người nào biết nhờ họ làm giùm.

Mấy ngày sau anh Tình gọi phone cho tôi “thành thật khai báo”, tối tối anh lấy cái phone mở cái “cờ líp” coi cảnh chị Bạch Lê đi trong mưa gió. Coi tới coi lui cảnh chị bị mưa làm ướt áo, gió thổi tung váy, anh tưởng tượng hơi nhiều anh bị “dựng cột buồm”. Nghe qua tôi không nhịn được bật cười khùng khục. Cha nội ơi! Tui coi phim người ta cởi tuốt tuồn tuột còn chưa thấy gì, anh chỉ mới tưởng tượng thôi mà cũng dựng đứng được cột buồm, tài thiệt.

Anh Tình bỗng mê chị Bạch Lê, anh mê chị lộ hẳn ra ngoài, người quen ai cũng biết. Chị Bạch Lê cũng biết, có lần tôi ỡm ờ thử coi chị trả lời ra sao. Chị nói hai con chị đã lớn, giờ mà ngồi ôm con mọn chắc chị làm không được. Ðó có phải là câu trả lời cho lời tỏ tình của anh Tình?

Tôi không chắc lắm, đôi lúc tôi cũng không hiểu rõ lắm con người của chị. Nhìn thoáng qua có thể đánh giá chị sai, ai cũng nghĩ chị là một người sống hời hợt, vui đâu trút đó, không chuyện gì ra chuyện gì. Nhưng gần gũi chị lâu ngày, sẽ thấy chị coi vậy chớ không phải vậy.

Chồng cũ của chị đã có vợ khác, cô vợ trẻ đẹp có tài làm business, hai vợ chồng có một tiệm liquor thấy cũng lớn. Hôm ông bà ăn tân gia mừng nhà mới, chị rủ tôi đi theo chơi cho vui, sẵn dịp coi mắt ổng. Lúc về tôi thấy chị có vẻ buồn buồn, tôi giả bộ chọc quê nói chồng cũ của chị mời chị tới để chị thấy tiếc rẻ là đã bỏ ổng.

Chị Bạch Lê nhìn tôi cười mỉm.

“Chị không bao giờ hối tiếc là mình đã buông tay một người nào đó”

Chị Bạch Lê bắt chước người ta nói một câu kiểu cọ, nhưng tôi hiểu thấm thía hai chữ “buông tay”.

Tôi thấy anh Tình ngày càng “Tương tư nàng ca sĩ” càng lậm. Tôi nghĩ kiểu người như chị Bạch Lê đâu có hợp với anh. Tôi nói gần nói xa, lấy chị anh sẽ nhức đầu dài dài. Anh Tình trầm ngâm nói anh chấp nhận nhức đầu. Nghe anh nói cũng tội.

Bả chê anh xấu. Xấu banh nhà.

(Nhan sắc của anh Tình như vậy mà chị chê xấu… xấu banh nhà, cái nhan sắc của tôi, không biết nó xấu… banh cái gì đây).

Anh Tình bước đến kính soi gương.

Anh như vầy cũng đâu đến nỗi xấu lắm. Bả chê tao xấu thì mày nói tao tuy xấu nhưng là người lương thiện, chăm chỉ làm ăn thương vợ thương con và nhứt là không mang tiếng tứ đổ tường.

Mấy cái đó thì chỉ biết

Thì mày lựa lời nói tốt cho tao

Tui nói anh tuy xấu dây nhưng tốt củ.

Anh Tình khoái chí bật cười khùng khục.

Chị Bạch Lê nghe tôi nói anh Tình tuy bề ngoài xấu xí nhưng bên trong cũng có cái tốt… tốt không ngờ. Chị cười khùng khục. Không biết có phải vì vậy hay không mà chị không còn ngó lơ lời tỏ tình của anh Tình nữa. Một hôm anh Tình khoái chí điện thoại cho tôi biết là chị Bạch Lê không còn hất tay anh ra khi anh vô tình để lên đùi chị.

Tôi có việc đi xa khoảng một tháng, chừng trở về nghe tin chị Bạch Lê dọn về ở chung với anh Tình. Tôi gọi điện thoại chúc mừng hai ông bà. Chị nói ở chung chớ không làm đám cưới. Vậy cho dễ tính.

Tiệc ra mắt đãi trong nhà hàng buffet, chị Bạch Lê và anh Tình mặc đẹp không thua gì cô dâu chú rể. Nhà trai nhà gái đông đủ xúm nhau chụp hình đủ kiểu. Anh Tình kéo tôi lại chụp một tấm hình làm kỷ niệm. Tôi nói thôi anh ơi, tui xấu xí không thích chụp hình. Anh nói mày đâu xấu bằng tao, xấu banh nhà. Tôi chợt nhớ lời nói chơi hôm trước, anh tuy xấu nhưng xấu dây mà tốt củ.

Tôi ôm bụng cười một mình.

NTG

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 10 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

19. Một Papillon Ra Đời

TRONG trận địa chấn, chúng tôi cũng có mất nhiều, nhiều hơn chúng tôi tưởng, nhất là công việc làm ăn bị trì trệ. Đến cuối tháng tám, số tiền chúng tôi để dành viết ra ít con số lắm, tôi nghĩ đến tương lai mà không khỏi lo ngại ít nhiều vì tôi đã gần 61 tuổi.

Tôi tìm, tôi tìm có thể làm nghề gì khác, nhưng nghề gì bây giờ?

Tôi lục lại hồ sơ cũ về một dự án kỹ nghệ tôm càng trên bờ biển xứ Guyane, tôi nghiên cứu tài liệu về việc nuôi cá hương, về bột cá, về việc câu cá xà, cá mập. Biết bao nhiêu vấn đề tôi đã nghiên cứu tìm tòi, không phải để nuôi sống, mà để bảo đảm tuổi già?

Tôi phải tìm ra một cái gì, nhưng cái gì mới được chứ?

Tôi quên hẳn một việc đã xảy ra trước cuộc địa chấn.

Ngày 11 tháng 7 năm 1967, Albertine Sarrazin vừa chết sau một cuộc giải phẫu. Vì, từ nhiều năm không đọc báo Pháp, tôi được người ta cho biết thiếu phụ trẻ ấy là một nhà văn có tác phẩm bán rất chạy, nàng đã thuật lại cuộc vượt ngục và cuộc đời tù nhân của nàng trong hai quyển sách, mà một cuốn “L’Astragale” đã làm cho nàng trở nên giàu. Nàng không hưởng được tiền ấy. Tôi đọc một bài nói về vấn đề này trong tờ El National, một nhật báo lớn và đúng đắn ở Venezuela.

Hay là tôi viết lại cuộc đời phiêu lưu của tôi?

– Rita!

– Gì anh?

– Anh sẽ viết lại đời anh.

– Anh nói chuyện ấy với em từ mười lăm năm nay, anh mãi nói đi nói lại rằng ngày nào anh cho xuất bản tập hồi ký của anh, thật là một quả bom. Trái bom lâu nổ quá! Anh cưng, em hết tin chuyện đó.

Bé Rita có lý, vì hầu như mỗi lần ngồi lại với các bạn, thế nào cũng có người bảo tôi: “Henri, anh phải viết lại những chuyện ấy đi”. Và mỗi lần như vậy, tôi trả lời: “Tôi sẽ viết thành sách, nổ như quả bom”.

– Em sẽ biết, lần này anh làm thật mà!

– Đừng có hứa gì hết, anh sẽ không làm.

Quả thật, tôi không làm gì hết.

Tại sao? Trước hết vì nghĩ tôi không đủ khả năng, không biết sao, tôi tin chắc tôi không viết được. Nói được lắm. Kể chuyện? Quá được, chắc chắn như vậy. Nhưng kể chuyện hay là một chuyện, còn viết được là chuyện khác. Tóm lại, tôi cho qua, và không nghĩ đến nữa.

Hai tháng sau cuộc địa chấn, cuối tháng chín, tôi rút trong chồng báo cũ một tờ báo El National trao cho Maria. Chị ấy cần che sàn nhà khỏi bị dính sơn, vì mấy người thợ đang sơn mấy bức tường sau khi đã bít các nơi bị nứt nẻ vì trận địa chấn. Và một lần nữa, trên tờ giấy nhàu nát, hiện ra bản tin về cái chết của Albertine Sarazin.

Đã hơn hai tháng rồi! Tội nghiệp con nhỏ, tôi may mắn hơn nó, dù rằng tôi không giàu.

Mày cũng không thử viết hồi ký của mày, mày xẹp xuống ngay. Như thế không tốt. Nhưng tôi có rất nhiều lý do bậy bạ để được tha thứ. Ở đây hầu như không ai biết quá khứ của tôi, con gái tôi làm việc tại Tòa Đại sứ Anh từ bảy năm nay, vợ chồng tôi được trọng nể như những nhà kinh doanh lương thiện, không có chuyện gì trong quá khứ. Ngoài trừ một vài cấp chỉ huy ngành cảnh sát, không ai biết gì hết, thế mà bây giờ, không lẽ đem phơi bày tất cả ra? Còn ở Pháp, các chị tôi, các cháu tôi, Dì Ju sẽ nghĩ sao? Vả lại, nổi tiếng là một vấn đề rất khó khăn, hầu như không thể có trong văn chương. Không, Papi, chuyện này không đứng đắn. Để tìm lối thoát cho hoàn cảnh hiện tại, tuy mày sống đàng hoàng, nhưng không dư tiền để bảo đảm chắc chắn tuổi già, phải tìm một cái gì khác. Cái gì bây giờ? Tôi không cần biết là cái gì, chỉ cần một lối thoát, thế thôi. Ý nghĩ trên ám ảnh tôi mãi, không còn là chuyện đùa nữa.

Vài ngày sau, tôi đi ngang qua đường phố Acueducto. Tôi lại quên Albertine, tôi quên rằng, trong khoảng một giờ, tôi cũng đã có lúc định viết một cuốn sách. Tập hồi ký ấy, như lời Rita, sẽ chịu số phận một quả bom không nổ, vì không bao giờ được làm ra.

Trên đường phố Acueducto tai hại, có một nhà sách Pháp, và trong tủ kính trước mặt tôi, có một cuốn sách, trên cuốn sách có băng đỏ: 123.000 bản, và cái băng ác ôn ấy không che lấp tên cuốn sách: L’Astragale.

Trời, 123.000 cuốn đã bán! Một cuốn giá bao nhiêu nhỉ? Ba chục đồng, khoảng 33 quan. Và tôi bỏ tiền ra để làm chủ cuốn sách quí hóa ấy.

Thế là chỉ với cuốn sách ấy. Albertine đã kiếm được một bó bạc kỳ lạ. Sau khi có đồng bạc như vậy, muốn ăn sướng miệng, nàng với thằng Julien của nàng không cần phải đi phá cửa của thiên hạ nữa.

Rồi tôi đọc “L’Astragale”, và tôi thán phục L’Astragale. Nhưng thán phục cái gì trong L’Astragale? Câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm hay lời văn bóng bẩy? Phiêu lưu mạo hiểm thì chẳng có gì hoặc hầu như không có gì. Nàng đã bị gãy giò lúc vượt ngục, gặp thằng Julien tìm chỗ ẩn núp cho nàng, nàng yêu nó, rồi nàng bị lừa khi mọi việc giữa hai người đã dàn xếp êm xuôi. Thế thì không phải chuyện ấy. Nhưng viết rất hay. Không phải là một hoạt họa tầm thường, chính là một danh tác.

Những ai đọc các danh tác?

Những ai ngâm nga từng chữ, từng câu gọt dũa cẩn thận?

Những ai đi xem đại nhạc kịch? Ít người lắm.

Cuốn sách ấy là một nhạc kịch, đúng vậy. Thế thì 123.000 người thích nhạc kịch đã trả 20 phần trăm giá vé cho con bé bị xương ống chân (L′Astragale) gãy, kể cũng khá quá. Chỉ với số tiền đầu tay ấy, nàng cũng đã có thể mở trương mục ở Ngân hàng và mua một ngôi nhà để che mưa che nắng… Tôi cho nàng hai mươi phần trăm, như thể tôi là nhà phát hành. Tôi chưa biết gì về công việc xuất bản.

Tôi để sách xuống ngạc nhiên được biết có những đứa con gái ở tù mà có thể thi tú tài, học thi cử nhân văn khoa và viết văn rất cầu kỳ mà không mở tự điển.

Bồ ơi, mày nên nhớ rằng những chuyện phiêu lưu mạo hiểm của mày nhiều gấp trăm lần chuyện của Albertine, mày có cả vạn chuyện hay hơn để kể, và nếu mày viết ra được, mày sẽ không chỉ bán 123.000 cuốn, mà mười lần hơn. Chắc chắn như vậy, tuy nhiên, vấn đề là phải viết cho được, đó không phải là trường hợp của mày.

Nếu thay vì tìm những câu bóng bẩy, ru ngủ độc giả bằng nhạc điệu câu văn, tôi xô dậy độc giả thì sao? Thay vì viết cho người đọc xem, tôi nói chuyện với người đọc thì sao?

Nói chuyện với người đọc hả? Tại sao không? Tôi đã kinh nghiệm về tác dụng của lối viết ấy đối với quảng đại quần chúng.

– Rita! Em có còn giữ bức thư của đài phát thanh, truyền hình Âu Châu số 1 không? Ồ, lâu lắm rồi, năm 1957 hoặc 1958 gì đó, đã hơn mười năm.

– Có, anh ạ, em còn giữ.

– Em đưa cho anh đi.

Một lúc sau, nàng đưa cho tôi bức thư.

– Anh định làm gì với bức thư ấy?

– Thấm nhuần nó để có đủ can đảm viết cuốn sách độc đáo của anh.

– Quả bom đó hả? Đã đến lúc nó nổ chứ?

Bức thư như thế này.

ÂU CHÂU SỐ 1

TRUYỀN THANH VÀ TRUYỀN HÌNH

22 tháng giêng năm 1958

Ông Henri Papillon

Caracas

(Venezuela)

Kính Ông,

Từ nhiều tuần nay, tôi nhất quyết gởi đến Ông mấy giòng này để gọi là mừng Ông và nồng nhiệt cảm ơn Ông.

Tuy cuối năm rất bận rộn, tôi không muốn diên trì nữa, vì ông bạn chí thân Carlos Alamon, mà tôi sung sướng vừa được gặp ở Ba Lê, ngày mai sẽ bay đi Caracas, mang theo thư này của tôi.

Ông đã chấp nhận cuộc phỏng vấn của Pierre Robert Tranié, một trong bảy đặc phái viên truyền thanh chúng tôi đưa đi khắp thế giới, và bản lĩnh của Ông đã khiến cho cuộc đối thoại thêm nhiều bản sắc và nhiệt tình, nên đã được truyền thanh trên hệ thống Âu Châu số 1, khán giả say mê đã thừa nhận đó là cuộc phỏng vấn hay nhất trong đêm ấy và đã đem lại cho Traniè giải nhất. Tôi tin chắc Ông là người trước tiên được “hoan hô”. Hẳn là sứ điệp của Ông sẽ được thông hiểu và tôi xin cùng Ông hy vọng rằng những lời kêu gọi của Ông sẽ phụng sự quyền lợi của các bạn Ông đã chứng tỏ khả năng thích ứng hóa với cuộc sống bình thường như Ông.

Vậy thì xin hoan hô và cảm ơn Ông đã giúp chúng tôi làm cho thính giả thích thú và cảm động.

Xin Ông nhận nơi đây tấm thịnh tình của tôi.

LOUIS MERLIN

Giám Đốc Đài Âu Châu số 1

Thế là khi tôi kể chuyện, không những tôi làm cho say mê vợ tôi, cháu trai cháu gái tôi, bạn bè tôi, một nhóm người lạ mặt trong một cuộc họp, tôi còn làm say mê các thính giả vô hình của Đài Âu Châu số 1.

Bảy đặc phái viên trên toàn cầu trong hai tháng, một tuần một cuộc phỏng vấn, vị chi năm mươi sáu cuộc phỏng vấn, thế mà mày, Papillon, đã về nhất. Vâng, thật là may.

Vậy thì hãy dấn thân vào cuộc phiêu lưu mới này.

Ngày hôm nay tôi đến Sears, nhà hàng lớn nhất Caracas, mua một máy ghi âm đẹp nhất, thứ nhà nghề, dĩ nhiên là mua chịu: 500 Mỹ kim.

Rồi tôi nói, tôi nói thao thao bất tuyệt, chiếc máy quay đều đều. Từ đó tôi không rời máy vi âm.

Tôi nói ban đêm.

Tôi nói ban ngày.

Tôi nói buổi chiều.

Tôi nói quá đến nỗi bị tắt tiếng, giọng nói hoàn toàn bị bể không thể nào lọt vào máy vi âm.

Vì bắt buộc phải ngưng nói, tôi lập tức bắt đầu viết lại cuốn băng trên giấy. Tôi hăng hết sức, tin chắc đang làm một việc ghê gớm. Một vài đoạn Rita nghe đã khóc sướt mướt như nữ thánh Madeleine. Thế thì không còn vấn đề gì nữa đối với anh chàng kể cho vợ nghe những chuyện nàng đã thuộc lòng mà vẫn còn cảm động; chắc chắn phải thành công.

Vậy mà không! Những chuyện đã được ghi âm, một khi viết ra trên giấy, tồi hết sức!

Tôi tức quá, không thể hiểu nổi.

Tôi đọc lại 52 trang giấy, tôi đưa cho Rita đọc, và khi chúng tôi cùng đọc lại một lần nữa, chúng tôi quyết định khỏi phải lật qua lật lại làm gì thêm nhọc, 52 trang ấy quả là dở ẹt.

Câu chuyện không kéo dài. Chiều hôm ấy, tôi giúp Clotilde đem để vào thùng xe của nó chiếc máy bất hủ giá 500 Mỹ kim mà tôi không muốn thấy, muốn nghe nói đến nữa. Đối với nó, là một món quà quí giá, đối với tôi, thật là rảnh nợ.

Cũng may mà dây thanh âm trong cổ tôi hỏng, nếu không tôi còn nói vào máy nhiều tuần lễ chẳng để làm gì.

– Em cưng, đừng nói đến chuyện ấy nữa. Giã từ bò con, bò mẹ, heo, gà đẻ trứng vàng, nhà xuất bản Jean Jacques Pauvert cứ ngủ yên, sẽ không có ai cạnh tranh để hạ mức bán cuốn L’Astragale.

Tháng mười một. Tôi cố moi óc tìm một cái gì độc đáo để tiến đến cảnh già, nhưng không thấy gì rõ rệt hết.

Vì tôi có bạn hữu đủ loại, nên đôi khi tôi nhận nhiều đề nghị kinh doanh hết sức kỳ lạ. Một người bạn có một mảnh đất ở Guyane thuộc Venezuela, và biết rằng trong vùng có một ít vàng, bảo tôi có thể “tìm ra” một mỏ vàng, và sau khi khai báo, đăng bạ, phân ranh kỹ lưỡng, có thể tìm một thằng khù khờ để bán. Công việc hết sức giản dị. Chỉ cần cho bột vàng cùng một ít miếng sinh kim trong một vỏ đạn, bắn vào trong đất thế là nhà địa chất học của thằng khù khờ chóa mắt, lấy một ít đất đai những chỗ mình đề nghị, và sẽ làm một bản phúc trình có vàng. Tôi chứng minh cho anh thấy nếu thử tính giá mỗi phát đạn đựng vàng, chỉ bắn một trăm phát là đã sạt nghiệp rồi. Vì phải nghĩ đến chuyện không có người mua…

Tôi đã viết những tập vở đầu tiên tại văn phòng quán rượu Scotch của chúng tôi.

Thời gian gần đây, thường xảy ra những chuyện mới lạ tại các quán rượu về đêm ở Caracas. Nhiều toán thanh niên đến như những khách hàng, không biết uống rượu và tìm cách gây sự. Trước ngày có cuộc địa chấn, chúng không hề đến quán chúng tôi. Sau một vài lần chúng đến sinh sự lộn xộn, tôi hiểu. Để dẹp yên vụ này, phải có mặt tôi, nhưng không ở trong phòng. Một văn phòng nhỏ bên cạnh giúp tôi vắng mặt lúc mọi việc êm xuôi và hiện diện khi cần. Tôi đọc báo và xem xét giấy tờ công việc để cho qua thì giờ.

Trên bàn có một quyển vở mới cùng nhiều quyển khác, một loại vở học trò có kẻ hàng. Các quyển vở ấy được dùng để ghi chép chi phí hằng ngày, số chai rượu đã nhận vân vân.

Vì tin chắc rằng lần này tôi có thể tập trung tư tưởng nên tôi đã viết quyển vở Papillon đầu tiên.

Chỉ sau khi đã xong, một hôm chúa nhật tôi mới đọc cho vợ tôi, con gái tôi và anh rể tôi đến ăn trưa nghe.

Họ thích quá nên quên cả việc xem chương trình “5 và 6”, một thứ bài bộ ba mà người chơi có cơ may ăn trên bạc triệu. Đó là hy vọng của ba trăm ngàn người chơi bài mỗi chúa nhật.

Nhờ kết quả bất ngờ ấy khuyến khích, tôi bắt đầu viết quyển vở thứ hai. Kết quả tốt đẹp một trăm phần trăm, chúng tôi đều tin chắc như vậy. Nhưng tôi lại hoài nghi. Phải chăng họ dễ dãi vì là vợ tôi, con gái tôi, anh rể tôi? Thật là ngốc nếu cứ tiếp tục mà không hỏi ý kiến những người khác, không có thiện cảm trước?

Một chai Whisky, một chai rượu hồi, một hủ rượu chát Ý Đại Lợi, tất cả đã sẵn sàng để tiếp một số người sẽ thẳng thắn phát biểu ý kiến của họ. Một vị giáo sư cũng được mời tới cho tôi biết, cuộc họp những nhân vật khác nhau như vậy, bên Pháp gọi là “một ủy ban đọc sách”.

Tôi sốt ruột. Sáu giờ họ sẽ đến, bây giờ là bốn giờ. Có thể là họ không thèm đến lắm.

Mong sao họ đừng giả nhân giả nghĩa! Tôi đã chọn lựa rất kỹ mà. Trước hết là hai thằng ma cô hoàn lương đã trở thành thương gia lương thiện. Hai người này quan trọng vì biết rõ giới giang hồ. Một kỹ sư, kinh tế gia tên tuổi, nguyên là cộng sự viên trực tiếp của Laval. Một thợ hớt tóc, đọc sách rất nhiều, biết tác phẩm của Albertine Sarrazin và của các nhà văn khác. Một giáo sư Pháp văn. Một giáo sư văn chương ở Viện Đại Học Caracas. Một võ sư ở Limoges, đai đen. Một kỹ nghệ gia hóa học người Lyon. Một anh làm bánh ngọt người Ba Lê. Tất cả đều là người Pháp.

Tất cả đều đến, gần đúng giờ. Chỉ còn thiếu ông giáo sư Pháp văn, đến vào lúc tôi đã đọc được 20 trang.

Tôi đọc mà cổ họng khô lại vì lo sợ, không ai nói gì hết, các khuôn mặt bất động. Thật là một cuộc thử lửa. Khi người đi trễ đến, mọi người lào xào. Có tiếng xin lỗi, tiếng mấy cục nước đá rơi trong ly, rồi ông ta ngồi xuống.

– Thưa quí vị, tôi xin đọc tiếp.

– Không, ông giáo sư văn chương nói. Tôi muốn Henri đọc lại những trang đã đọc. Thật là hay tuyệt và tôi muốn ông được nghe, như vậy chúng tôi sẽ được thưởng thức hai lần. Tất cả đồng ý chứ?

Tất cả mọi người đồng ý. Và lúc ấy mặt trời đi vào lòng tôi. Tôi đọc trong nhiều giờ. Và trong nhiều giờ họ không ăn gì hết, chỉ uống chút ít thôi. Điều này chứng tỏ họ thích lắm.

Khuya lắm chúng tôi mới ra khỏi nhà. Tôi mời họ ăn tại một tiệm ăn trước quán rượu Scotch và trước khi ăn với họ, tôi chạy đến quán Scotch để lôi Rita ra khỏi két, kéo nàng vào văn phòng, ôm nàng hôn và nói:

– Em cưng, thắng rồi, nhất định thắng, anh cảm thấy như vậy, nhất định thắng. Quả bom sẽ nổ long trời lở đất.

Rồi tôi để nàng đó, nước mắt ràn rụa, chạy lại tìm “ủy ban đọc sách” trước khi người ta đem thức ăn ra. Và trong lúc ăn một món thịt nướng rất ngon, tôi hỏi người này, người kia.

Hai thằng ma cô: “Bồ ơi, thành thật mà nói, không thể tưởng tượng được”.

Anh cộng sự viên của Laval: “Thật sống động, mau lẹ, dễ đọc”.

Ông giáo sư Pháp văn và ông giáo sư văn chương: “Anh quả là người có tài”.

Anh võ sĩ, anh bán bánh và anh kỹ sư hóa học đều đồng ý tôi nên tiếp tục vì họ chắc chắn tôi sẽ thành công.

Anh thợ hớt tóc: “Nếu cả cuốn sách giống như hai quyển vở này, thì tuyệt quá”.

Trong hai tháng rưỡi, tôi viết xong tất cả các quyển vở.

Do việc các hội viên trong “ủy ban đọc sách” giành nhau để được đem về nhà, đọc các quyển vở trước người khác trong hai mươi bốn giờ, tôi biết rằng những gì tôi viết vẫn hay.

Tôi hoàn tất vào tháng giêng năm 1968.

Mấy quyển vở còn đó, tôi đọc lại rất nhiều đến gần thuộc lòng.

Vâng, mấy quyển vở còn ở trên bàn, tại nhà. Rồi sao nữa? Chúng nó nằm đó, chỉ có vậy. Làm gì bây giờ? Không thể gởi các quyển vở viết tay. Và gởi cho ai? Nếu tôi không giữ bản thứ hai, bất cứ thằng chó nào cũng có thể nói không biết ai là tác giả rồi giữ lại tất cả số tiền cho nó, nếu có tiền.

Hay thật! Tôi viết xong sách rồi, bây giờ không biết nên làm gì! Tôi kiểm điểm lại: Trước hết phải đánh máy thành ba bản.

Mấy người đánh máy Bảo Gia Lợi, Nga, Đức, và cô Mariniquaise đánh máy cuối cùng, đã khiến Castelnau sau này viết trong lời tựa: “Quyển sách này, do những người đánh máy hăng say, thay đổi luôn và không phải rặc là người Pháp…”.

Đúng vậy, không phải rặc người Pháp, nhưng luôn luôn hăng say, đến nỗi một hôm, đi nhè nhẹ vào phòng, tôi bắt gặp cô người Martiniquaise đang đứng múa máy trước bàn máy đánh chữ. Cô nàng đang biểu diễn một cảnh trong sách.

Tôi bắt đầu tốn tiền khá nhiều cho cuốn sách, nào là máy ghi âm, máy đánh chữ, rượu whisky, các bữa ăn của “ủy ban đọc sách”, các bó giấy và tiền công của các đả tự viên biết ít nhất hai thứ tiếng (vì chúng tôi đang ở Venezuela). Quả thật vấn đề trở nên quan trọng. Sau khi đánh máy xong cuốn sách dày 620 trang. Cứ mỗi ngày đánh 14 trang, phải tám tuần mới xong. Tổng số chi phí phỏng độ 3.500 Mỹ kim. May là chúng tôi đài thọ nổi và Rita, để trấn an tôi, đã nói đây là một chi tiêu rất hợp lý dù sách không xuất bản, cũng sẽ là ba tặng phẩm đặc biệt cho bà con.

Tôi nói: Không. Hai tặng phẩm thôi. Tặng phẩm thứ ba là của em. Vả lại, biết đâu tốt hơn nên giữ lại một bản.

Thế rồi, trước ba đống giấy, mỗi đống 620 trang ấy, tôi vẫn khổ tâm như trước. Có lẽ khổ tâm hơn.

Mấy quyển vở thuộc về tôi, chỉ về tôi mà thôi. Tôi tự tay viết ra. Tôi đã viết trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Bàn tay viết ra trên giấy những nét chữ của riêng tôi. Không ai có thể viết lại những nét chữ ấy, không giống những nét chữ khác. Trong mớ chữ viết ra ấy, chỉ có mỗi mình tôi có thể đọc không chút do dự những hàng chữ nói về dĩ vãng của tôi, và khi tôi đã viết ra trên giấy rồi, tôi sống lại dĩ vãng với tất cả nhiệt tình nên tôi thấm nhập vào từng câu, tôi sống với từng giòng chữ.

Mấy quyển vở là của riêng mình. Nhưng một khi các đả tự viên đã biến câu văn của mình thành chữ đánh máy rồi, vấn đề trở thành rất nghiêm trọng và rất quan hệ.

Các tờ giấy này không phải của mình. Chắc chắn là không phải của riêng mình. Những tờ giấy có thể được đem ra xét xử trong một vụ án mà quan tòa là người đọc, và mình sẽ không thể biện hộ được. Bên cạnh mỗi độc giả, sẽ không có luật sư của mình, phán quyết của họ sẽ là chung thẩm.

Làm thế nào xuất bản đây? Làm thế nào một nhà xuất bản chú ý đến cuốn sách này? Làm sao biết được? Sách phải đến tận tay ông ta. Thử kiểm điểm lại xem. Sách này đã được nhiều người thích, các nhân viên trong “ủy ban đọc sách”, tất cả người trong gia đình tôi, các bạn ở Venezuela biết tiếng Pháp, một cựu đại sứ ở Luân Đôn, ông Hector Santaella, một anh vừa am thạo, vừa chán ngấy loại chuyện này là Jean Maillet de la Trévanche và một tay bút chiến Cộng sản, Hernani Portocarrerro. Nhưng như vậy có nghĩa gì? Thực ra không gì hết.

Có lẽ họ chỉ thích chính các câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm mà thôi. Như thế không có nghĩa là công chúng sẽ thích sách này vì nó là một văn phẩm. Vậy thì không nên tự phụ, phải trình nó ra và nói: “Nếu anh không thích, anh có thể cho viết lại không?”. Trừ phi tôi đã cho viết lại trước. Nhưng làm như vậy rất tốn kém, rồi phải bỏ thêm tiền trong cuộc phiêu lưu này mà không biết có xuất bản được hay không.

Một thằng cha đi qua Caracas đã đem giải pháp đến cho tôi. Hắn ở nhà tôi chờ Joseph Carita, anh của các chị Carita ở Ba Lê, những tay uốn tóc nổi tiếng. Joseph đến trễ, thằng chả xin phép tôi xem qua các tờ giấy đánh máy. Hắn không nhận thấy hắn chờ đã hơn hai giờ. Đó là một triệu chứng tốt.

Hắn trở về Pháp mang theo hai quyển vở, một người bạn của hắn sẽ đọc và sẽ đánh máy lại nếu cần.

Cả tháng ngày nào tôi cũng đợi người phát thư. Tôi sẽ nhận lời phán quyết của một nhà văn chuyên nghiệp cùng với một đoạn trong cuốn sách được viết lại, đoạn nói về những người cùi.

Tôi không biết phải làm gì với bức thư và một gói giấy vừa tiếp được. Tôi không biết nên mở thư trước hay gói giấy trong ấy những người cùi không còn là “những người cùi của tôi”. Đã mười một giờ, tôi không động đến cái gì hết, không mở cái gì hết, bức thư và gói giấy vẫn nằm trên bàn, nguyên xi. Tôi chờ đến giờ ăn trưa, đông đủ mọi người.

Tình cờ hôm ấy chúng tôi có hai người khách, ông giáo sư Pháp văn và vợ ông ấy.

– Nên mở phong thư trước.

Nhà văn Pháp cho tôi biết anh ta rất chú ý đến tập bản thảo của tôi, và hứa sẽ làm ra một quyển sách hay với tập hồi ký của tôi, một quyển sách, viết bằng lời văn chải chuốt, đứng đắn, có giá trị. Điều kiện như sau: 50% tác quyền cộng với 18.000 quan về công viết lại và các chi phí: “Đính hậu đoạn viết về những người cùi. Tôi hy vọng ông sẽ vừa ý”.

Im lặng như một nấm mồ. Nghẹt thở, tôi bắt đầu đọc “đoạn những người cùi, viết bằng lối văn chải chuốt”. Tôi sẽ biết câu chuyện của tôi được sửa lại để có thể xuất bản.

Tôi đã đọc xong. Thế này mà gọi là những người cùi của tôi à? Không thể được, không còn là những người cùi của tôi nữa!

– Henri, không được đâu! Những người cùi của anh mới hay đáo để, không phải thế này đâu, ông giáo sư Pháp văn quyết đoán như vậy. Sao anh có vẻ chán nản vậy Henri?

– Đừng có đùa, giáo sư! Không, tôi chỉ ngạc nhiên, bỡ ngỡ, đó là cái chắc. Đọc mấy trang này, tôi đâm hoang mang vì nhận thấy những người cùi của tôi không còn đầu óc nữa, đầu óc mà tôi từng trông thấy. Nếu bọn xuất bản là như vậy, thì còn tệ hơn trong ngục thất, phải chống đối nếu không muốn bị ăn tươi nuốt sống. Thằng chả đi quá trớn, để sửa cuốn sách của tôi, nó đòi 50%, không hơn không kém. Được rồi, giáo sư, tôi thích đấm đá, chuyện này bắt đầu mê ly, gay cấn. Thay vì cư xử ngay thẳng như tôi tính lúc đầu, tôi sẽ đi vào môi trường đặc biệt này, vào nơi rừng rú này, và sẽ tùy người, tùy lúc, có thái độ thích ứng. Anh nên tin tôi: đối với bọn rừng rú, bọn lưu manh ăn mặc bảnh bao và đầy huy chương, tôi sẽ rất khôn khéo, chỉ đưa mấy cây bài của mình ra khi biết mình ăn chắc để hốt tiền, tôi không dại đâu.

Chuyện này sẽ ghê gớm lắm, không thể tâm sự với ai, không thể tin ai, quả là ly kỳ. Thái độ cần phải có trước tiên: để cho người ta tin rằng mình là một thằng ngu, một thằng khốn nạn dễ lừa gạt, một loại Goriot trong sách của Balzac, ai hỏi gì thì trả lời cà lăm cà cặp và giả điếc để có thì giờ suy nghĩ về câu trả lời.

Giới xuất bản với bọn bồi bút sẽ biết tay chúng ta.

Phải để cho chúng tin rằng quả thật văn của anh, dù anh cho là hơn văn của chúng, cũng cần phải viết lại.

Van xin ai trước? Hachette? Plon? Tôi chỉ biết hai nhà xuất bản ấy. Chắc còn những nhà khác.

– Thế tại sao không phải là nhà xuất bản của Albertine Sarazin? Clotilde nói.

– Thật là một ý kiến tuyệt kỹ, bé ạ.

Sau bữa ăn, Clotilde gọi nhà sách Pháp để hỏi địa chỉ của Pauvert. Năm phút sau, nó đánh một bức thư gởi cho ông Jean Jacques Pauvert, 8 đường De Nesle, Ba Lê 6e; trong thư tôi nói tôi là người tù vượt ngục hơn hai mươi lăm năm nay, tôi bị phá sản vì một trận địa chấn và tuổi đã sáu mươi mốt, khó làm lại cuộc đời; ông ta đã xuất bản cuốn L’Astragale, tại sao lại không giúp tôi xuất bản tập hồi ký của tôi, chắc chắn viết không vững, vì tôi không phải là nhà văn, và ông sẽ dễ dàng tìm một người dùng chất liệu này để viết ra một cuốn sách hay: “Người giang hồ về già tin tưởng nơi ông, tôi linh cảm đã chọn đúng người. Tôi sẽ chấp nhận các điều kiện phải chăng do ông đề nghị. Xin gởi kèm theo đây một vài đoạn để xin ông xem qua”.

Không ngốc đâu, tôi không dại gì gởi hết. Chờ xem ra sao.

Phong thư cùng các đoạn văn gởi đi ngày 20 tháng 8, bằng thư bảo đảm.

Bạn ơi, chắc thằng cha Pauvert đã quăng đoạn văn của mày vào sọt rác rồi! Vì hôm nay là ngày 20 tháng 9 rồi. Một tháng không có thư trả lời. Nếu nó thích, nó đã trả lời từ lâu rồi.

Hy vọng là nó bận đi nghỉ hè. Đúng rồi, một nhà xuất bản có quyền dùng mồ hôi của các tác giả đi hưởng thụ những ngày nghỉ hè lê thê sang trọng. Nếu đến 30 tháng 9 mà không có gì, tôi sẽ viết cho nhà xuất bản khác.

Ngày 28 tháng 9, buổi sáng, một phong thư màu vàng. Tôi vừa run, vừa mở ra. Bên trong chỉ có một tờ giấy cũng màu vàng. Vừa tìm cặp kính, tôi vừa tự nhủ: “Tụi nhà xuất bản này đáng bị cắm sừng quá”.

Rita ngồi cạnh tôi.

– Tụi nó cũng trả lời đấy chứ.

– Xem nào.

Rồi tôi đọc:

“Kính Ông,

“Chúng tôi rất thích thú khi đọc mấy đoạn văn ông gởi cho chúng tôi. Các đoạn văn ấy là căn bản của một cốt truyện tuyệt hảo.

Nếu ông chưa làm, thì nên viết toàn thể cốt truyện như ông đã viết gởi cho chúng tôi đọc. Thật là sống động, trực tiếp. Chúng tôi sẽ hết sức chú tâm theo đõi công trình của ông.

Trước khi đưa đề nghị, chúng tôi ước mong được đọc toàn thể những gì ông đã viết”.

Vân vân

Ký tên: Jean Pierre Castelnau.

Chúng tôi đọc bức thư ba lần. Tôi trước, rồi Rita, rồi tôi nữa, đọc lớn từng câu, từng chữ, cân nhắc mọi khía cạnh, như thể một chưởng khế đọc một chúc thư cho những người thừa kế cần biết bản văn nói gì cùng ý nghĩa đích xác của mỗi chữ.

– Ê cưng! Ê, ngon lành, ngon lành quá! Thế là thằng cha… nó ký tên gì nhỉ? À phải rồi… thằng cha Castelnau nhận thấy nào là sống động, nào là trực tiếp trong câu chuyện, thằng chả không ngờ trong quyển sách cũng có như vậy.

– Vừa vừa thôi cưng ơi. Đành rằng là một tin mừng, nhưng từ đây đến việc sách được xuất bản, lại là vấn đề khác.

– Cưng ạ, mấy cha ấy không phí thì giờ để viết những chuyện không đâu. Họ trả lời tất nhiên họ thích, đúng không?

– Đúng, rồi sao?

– Ngoài ra họ gởi hoa tặng anh: “Thật là sống động, trực tiếp, đó là căn bản của một cốt truyện tuyệt hảo”. Không phải chuyện đùa nhé. Không lẽ em tưởng bọn nhà xuất bản khen mình để chơi à! Vì họ càng cho là hay, họ lại phải trả tiền nhiều. Thế là họ đã nói thật. Nhưng vì họ ranh mãnh nên chỉ nói một nửa cảm nghĩ của họ thôi. Em có muốn nghe anh nói, anh, một thằng tù vượt ngục, một nhà văn đứng đường, em có muốn nghe anh nói ý nghĩa của câu: “sống động, trực tiếp, căn bản của một cốt truyện tuyệt hảo, gởi cho chúng tôi tất cả” không?

– Muốn.

– Câu ấy có nghĩa: chúng tôi đã nhận ba đoạn hay tuyệt của một cuốn sách. Nếu toàn thể cuốn sách đều được viết như vậy, sẽ là một tác phẩm đặc biệt.

– Rồi anh sẽ gởi cho họ tất cả 620 trang sao?

– Dỡn hoài. Anh sẽ tự tay mang đến cho họ.

– Đi như vậy tốn kém lắm.

– Đánh bạc mà cưng! Chúng mình đánh bạc, anh nói cho em biết, trong canh bạc này chúng mình đem ra đặt cả nhà cửa, một ít tiền để trong ngân hàng, uy tín của chúng mình ở đây. Ăn thua đủ, em nghe không? Xả láng hết. Nghe anh nói đây. Lần này, anh linh cảm, anh chắc chắn, chính dân chúng Pháp sẽ trả lời: “9 nút, Papillon, hốt bạc đi, trong đời chó má của mày, bây giờ mày mới được một chén bạc lớn”.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 1 June 2023
Post by Sơn râu 10 Oct 2025

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Kỳ 6

Chiếc C&C đó không chở Trung tá Nguyễn Thành Tiên, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân mà lại chở ông Thiếu tá Nguyễn Phán, sĩ quan pháo yểm của liên đoàn cùng một phụ tá của ông là một thiếu úy tiền sát viên.

Hình như chiếc trực thăng này đã bị phòng không bắn, nên quay đi, quay lại, tôi không còn thấy nó nữa.  Sau này tôi nghe tin báo rằng, hôm đó có một trực thăng của Phi Ðoàn 229 bị trúng đạn của Việt-Cộng trong vùng Ðông Kon Sơm Luk rồi bị rơi trên khu vực rừng cây thưa gần Ðồi Ba Chấm hướng Nam Kontum. Không rõ chiếc máy bay này có phải là chiếc C&C đã chở Thiếu tá Phán hay không?

Ðúng nửa giờ sau, pháo địch đột nhiên chấm dứt. Vì bụi dày đặc quá, tôi không nhìn rõ những gì đang xảy ra dưới đất, nhưng trong tần số không lục của phi cơ, tôi nghe quân bạn báo cáo rằng Việt-Cộng đang tiến lên, địch đông như kiến. Trinh sát cơ của ta thông báo rằng, hiện thời lực lượng bôn tập của Việt-Cộng đã tràn qua hai cái tiền đồn và đang ào lên ngọn đồi chỉ huy của Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Viên sĩ quan điều không tiền tuyến gọi Liên Ðoàn 22 và đề nghị pháo binh đánh tiếp cận để giải tỏa bớt áp lực của địch cho Tiểu Ðoàn 95 nhưng không ai đáp lại yêu cầu của anh.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân là Thiếu tá Ðỗ Văn Mười sĩ quan khóa 19 Võ Bị. Trước đây, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười là cựu Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 34, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân. Sau khi thụ huấn khóa học Bộ Binh Cao Cấp, anh Mười đã thuyên chuyển ra Quân Khu 2 và nhận chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Ðây không phải là lần đầu anh tới Cao Nguyên, mà khi còn ở Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân, anh đã từng tham dự những trận đánh lớn trên Cao Nguyên vào mùa Hè 1972. Nhưng chiến trường Cao Nguyên 1974 hiện thời, đã khác xưa!

Ðịch đông hơn ta, mạnh hơn ta nhiều lắm! Hầm chỉ huy bị pháo sập, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười và nhiều binh sĩ khác đã bị thương nhưng họ vẫn cố gắng chiến đấu để chờ tiếp viện. Sau hai giờ cầm cự một cách tuyệt vọng, Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đã yêu cầu máy bay thả bom ngay trên đầu mình để cùng chết với địch quân. Hôm đó sĩ quan điều không tiền tuyến của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Ðoàn 22 Bộ Binh là Thiếu tá Ái, khóa 18 Võ Bị. Anh Ái đã nghẹn ngào trả lời người đàn em khóa 19 của mình:

“Hôm nay mình không có phi tuần nào cả 90 ơi!”

90 là danh hiệu truyền tin của Thiếu tá Ðỗ Văn Mười, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đã bị Việt-Cộng trói tay dẫn đi đúng vào ngày kỷ niệm sinh nhật của anh ấy! Cùng chung số phận với Thiếu tá Ðỗ Văn Mười là Thiếu tá Phan Văn Tranh, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân cũng thành một tù binh.

Tới năm 1982 anh Ðỗ Văn Mười mới được thả ra từ Trại cải tạo Z30A. Hiện thời cựu Thiếu tá Ðỗ Văn Mười đang định cư ở Florida USA.

Vào thời điểm Tiểu Ðoàn 95 lâm nguy thì Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn 62 cũng đang bị Việt-Cộng pháo kích; hai đại đội của Tiểu Ðoàn 62 nằm ngay dưới chân đồi đóng quân của Tiểu Ðoàn 95 đã bị mất liên lạc. Không rõ số phận ông Thiếu tá Phước, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân người chỉ huy cánh quân này hiện giờ ra sao. Trung tá Trịnh Ngọc Ðiệp Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân phải thu quân về cố thủ nơi ngọn đồi thấp ở gần cầu Kon Hơdram. Chiến trận ngày hôm đó quân ta đã hoàn toàn không có pháo yểm.

Dù nằm cách trận địa chưa tới 5 cây số, nhưng hai khẩu đại bác 155ly của ta hầu như vô dụng chỉ vì vị trí pháo binh này liên tục bị cối 82 ly và 120 ly của Cộng Quân cầm chân. Các pháo thủ của ta lo chuyện phản pháo còn chưa xong thì mong gì có chuyện yểm trợ cho quân bạn? Về phần không yểm cũng thế, hôm đó không có bóng dáng chiếc oanh tạc cơ nào của Không Quân Việt-Nam Cộng-Hòa. Ngày 17 tháng 3 tôi được lệnh thu hồi hai toán viễn thám. Tôi hoàn tất công tác và về tới phi trường Kon Tum thì trời đã tối. Sáng 18 tháng 3 tôi nghe Liên Ðoàn 22 báo tin rằng, từ lúc rạng đông, Tiểu Ðoàn 62 đã bị địch pháo kích và tấn công rất dữ dội. Trung tá Trịnh Ngọc Ðiệp, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân đã phải bỏ vị trí rồi dẫn quân lội qua sông Dak Bla chạy bán mạng. Trưa 18 tháng 3 năm 1974 một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 40 Bộ Binh được gửi vào Kon Sơm Luk để tiếp cứu cho Biệt Ðộng Quân, nhưng đơn vị này đã sớm bị đánh tan ngay sau khi đi qua vị trí trú quân của Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân chừng hai cây số. Trong trận Kon Sơm Luk tôi nhận thấy một điều lạ là, Trung tá Nguyễn Thành Tiên là Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân, mà suốt từ đầu trận tới cuối trận, tôi không nghe tiếng ông ta trên máy. Hầu như mọi lệnh lạc trên tần số đều do Thiếu tá Phú và một chuẩn úy phụ tá ban 3 của liên đoàn phát đi. Vài ngày sau, tại phòng hội của Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 ở Pleiku, tôi đã được nghe Phòng 2 Quân Ðoàn II thuyết trình rằng:

“Ngày 16 tháng 3 năm 1974 hai Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân 62 và 95 đã bị hai trung đoàn bộ binh và một trung đoàn pháo của Sư Ðoàn F10 tấn công trong vùng Kon Sơm Luk. Ta thiệt hại nhẹ. Tổn thất địch không rõ. Ngày 18 tháng 3 năm 1974 một trung đoàn địch đã tập kích Tiểu Ðoàn 1/40 tại vùng Bắc Kon Sơm Luk, ta một số quân nhân thất lạc, địch không rõ.” Mặt khác, diễn tiến trận Kon Sơm Luk đã được ghi lại một cách chi tiết hơn trên những trang quân sử sau này của Quân Ðội Nhân Dân Bắc-Việt:

“Ngày 16 tháng 3 năm 1974 Trung Ðoàn 28 Sư Ðoàn F10 và một tiểu đoàn pháo hạng nặng đã tấn công tiêu diệt Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân. Ngày 18 tháng 3 Trung Ðoàn 24 của Sư Ðoàn F10 và một tiểu đoàn pháo hạng nặng đã đánh tan Tiểu Ðoàn 62 Biệt Ðộng Quân.”

Như vậy thì, tin tức từ cả hai phía ta và địch đều xác nhận rằng Sư Ðoàn F10 Mặt Trận B3 là đơn vị chủ công của trận Kon Sơm Luk tháng 3 năm 1974. Sư Ðoàn F10 là đơn vị mới thành lập, nhưng những trung đoàn bộ binh chủ lực của sư đoàn này lại là những đơn vị sừng sỏ đã có mặt trên Cao Nguyên từ lâu lắm rồi. Các đơn vị nòng cốt được quy tụ để hợp thành Sư Ðoàn F10 gồm có Trung Ðoàn 4 Pháo Binh và ba trung đoàn bộ binh là Trung Ðoàn E66, Trung Ðoàn E28, và Trung Ðoàn E24.

Tôi đã có dịp đọ sức với các đơn vị bộ binh Cộng-Sản này nhiều lần trong thời gian từ năm 1967 tới 1970. Theo tôi thì Trung Ðoàn E66 là đơn vị đáng gờm nhất. Xế trưa 18 tháng 3, tôi nhận được tin từ Pleiku cho tôi hay trong thời gian tôi vắng mặt thì toán viễn thám đang hoạt động trong vùng Plei Djereng có một người lên cơn sốt rét cấp tính cần bốc gấp. Hôm đó tại tư gia Ðại tá Phạm Duy Tất có một vị khách của ông Tất đó là Ðại tá Trần Khắc Kính, Sĩ Quan Phụ Tá Hành Quân Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.Ngày xưa, thời Ðệ Nhất Cộng-Hòa, Thiếu úy Phạm Duy Tất là đồ đệ của Thiếu tá Trần Khắc Kính. Tới nay thì hai người cùng mang lon đại tá, nhưng tình thầy trò vẫn không thay đổi.

Ông Ðại tá Kính là tay tổ của Lực Lượng Ðặc Biệt thời Cụ Diệm, nên nghe biết một toán viễn thám của tôi đang bị nạn, ông đã tự nguyện dẫn máy bay vào vùng bốc toán thành công. Nhưng tới khi thả toán mới thì xảy ra chuyện chẳng lành. Viễn thám viên thứ nhứt vừa ra khỏi phi cơ thì bị Việt-Cộng bắn. Trực thăng chở Ðại tá Kính và hai anh viễn thám còn lại phải gấp rút bốc lên cao để tránh đạn; sứ mạng gián đoạn; ta thiệt mất một người, không rõ sống chết ra sao.

Thế là chiều 18 tháng 3 tôi phải đem quân về Pleiku ngay để những ngày sau liên tục bay vòng vòng trong vùng tìm ánh chớp từ gương cấp cứu của anh lính mất tích. Tới ngày thứ ba thì anh ta về tới Pleiku tay không vũ khí. Sợ bị quân ta ngộ nhận bắn nhầm, anh viễn thám này đã phải giấu khẩu AK47 dưới một cái cống trên đường Vĩnh-Lộc, nằm về hướng Tây, song song với Quốc Lộ 14. Sau tai nạn này, tôi nghĩ ra cách tung quân xâm nhập bằng đường bộ.

Thời gian này ta có một căn cứ hỏa lực tạm thời có tên là Căn Cứ Hỏa Lực 522 nằm cách phi trường Lệ Minh chỉ trên mười cây số. Viễn thám của tôi có thể vượt qua lộ trình này trong thời gian trên dưới hai tiếng đồng hồ. Tôi đích thân chở toán tới Căn Cứ 522, rồi ở đó suốt đêm theo dõi toán vào vùng.

Từ đó tôi nhận ra rằng, đi bộ vào vùng khi đêm xuống, an toàn hơn dùng trực thăng rất nhiều, tại sao mình cứ phải nhờ trực thăng? Về Pleiku, tôi đã viết một bản tường trình chi tiết đề nghị rằng từ nay chúng tôi không cần phương tiện trực thăng để duy trì điện đài quanh Lệ Minh nữa. Quân đoàn chấp thuận đề nghị này ngay. Từ ấy, tôi giao việc tung toán, thu toán bằng đường bộ cho Thiếu úy Võ Văn Phương, Sĩ quan phụ tá Phòng 2. Sẵn dịp có ông Thiếu tá Trương Hoàng Phi vừa mãn khóa Bộ Binh Cao Cấp trở về, tôi đề nghị với Ðại tá Chỉ Huy Trưởng để ông Phi thay thế tôi. Ông Thiếu tá Trương Hoàng Phi là một sĩ quan gốc Lực Lượng Ðặc Biệt, đàn em của Ðại tá Phạm Duy Tất. Ông Trương Hoàng Phi khi còn là đại úy, đã từng đảm đương chức vụ Trưởng Phòng 2 của C2 Lực Lượng Biệt thời kỳ 1969-1970, nên không ngỡ ngàng gì với công việc này. Vì thế, Ðại tá Phạm Duy Tất đã vui vẻ chấp thuận đề nghị của tôi.

Tôi vào Pleime…

Bàn giao xong, tôi xin Ðại tá Tất cho phép tôi nghỉ vài ngày để thu xếp chuyện gia đình. Mỗi lần nhận đơn vị mới, tôi đều phải đem vợ con về gửi ngoại. Kỳ này tôi vào Pleime nên vợ tôi phải về Ban Mê Thuột nương nhờ dưới mái nhà của bố mẹ vợ tôi. Tội nghiệp vợ tôi, một nách hai đứa con thơ lại đang mang bầu đứa con thứ ba sắp tới ngày sinh. Gia tài của vợ chồng tôi chỉ có hai cái va li áo quần, một thùng sữa bột SMA và một thùng tã lót của con nít.

Lo xong chuyện gia đình, tôi bình thản lên đường ra tiền đồn. Thời gian này nhiều bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi đã tìm cách lui về tá túc trong các quân trường, trung tâm huấn luyện, có người nhanh chân len lách vào được Bộ Tổng Tham Mưu để tránh đạn. Thấy tôi vui vẻ rời bỏ chức vụ Trưởng phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 ở Pleiku mà ra chỉ huy một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Biên Phòng nơi tiền đồn heo hút thì một người bạn đang đi du hành quan sát sau khi mãn khóa Bộ Binh Cao Cấp đã can ngăn,

– Giờ này mày chưa sợ chết sao mà còn ra chỉ huy tiểu đoàn?

Tôi không tiện giải thích cho bạn tôi lý do vì sao tôi đã bỏ phố để lên rừng, nên chỉ cười,

-Sống chết có số mày ơi!

Trong buổi họp tham mưu cuối cùng tôi được thông báo rằng hôm đó cũng là ngày ba sĩ quan tham mưu của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 nhận sự vụ lệnh rời đơn vị, đó là Trung tá Bùi Văn Huấn, Tham Mưu Trưởng, Thiếu tá Vương Mộng Long, Trưởng Phòng 2 và Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di, Trưởng Phòng An-Ninh Quân-Ðội. Trung tá Bùi Văn Huấn sẽ tới Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân thay thế cho Trung tá Nguyễn Thành Tiên, người vừa bị Tư Lệnh Quân Ðoàn II cách chức Liên đoàn trưởng sau khi Kon Sơm Luk thất thủ.

Tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long sẽ vào Pleime thay chỗ cho Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, do chỉ thị của Tư Lệnh Quân Khu 2. Còn Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di thì lên tiền đồn Dak Pek thay thế cho ông Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 88 là Thiếu tá Trương Ðình Quý xin từ nhiệm.

“Cướp gà trại cải tạo…”

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 27 Apr 2015 

Post by Sơn râu 10 Oct 2025

Bài 17

Gần tết, nhiều anh em được thăm nuôi. Thân nhân, dù có khó khăn thế nào, tết sắp đến cũng cố gắng đến thăm người tù, mang theo chút quà để an ủi.

Những ngày ấy, tù được gọi thăm nuôi nhiều, trong số có Minh.

Minh là người “hớt tóc dạo”.

Có nghĩa rằng công việc của anh là hớt tóc cho tù. Mỗi ngày, anh vác cái ghế xếp lên một vai, vai kia mang môt cái bị, đựng “tông-đơ” (tondeuse) do trại phát và một cái dao cạo râu “tự biên tự diễn” – có nghĩa vật dụng do tù tự làm ra để dùng. Anh đi lòng vòng, hết đội nầy qua đội khác, hớt tóc cho tù. Có lẽ anh cũng được tụi nó tin tưởng mới cho đi lang thang một mình như vậy.

Ai chẳng hớt tóc, ai chẳng bị anh đè đầu ra hớt tóc, nên ai cũng biết anh. Anh bị mất gà, anh than vãn việc mất gà, nên việc anh bị mất gà, ai cũng biết.

Hôm vợ lên thăm, Minh được vợ cho một con gà sống, vợ biểu để ba ngày tết làm gà mà ăn. Nhờ công việc anh làm, anh có thể thoải mái đi lui đi tới, trong trại cũng như ngoài trại nên anh mới biểu vợ đem gà sống lên cho. Trong khi tết chưa tới, anh có thể gởi con gà sống ở Nhà Chăn Nuôi. Những người tù làm ở đó, anh cũng quen vì thường đến hớt tóc cho họ.

Thăm nuôi xong, vợ ra về, còn Minh gánh quà vào trại. Tới cổng, anh đặt gánh quà xuống, mở banh ra mọi thứ để cán bộ trực trại là cán bộ Lâm và cán bộ Viễn kiểm tra.

Cán bộ Viễn nêu lý do trại không cho nuôi gà nên tịch thu. Minh giải thích thế nào cũng không được, đành chịu mất gà.

Minh được anh em làm ở nhà bếp báo cho biết, tối hôm đó, cán bộ Lâm, cán bộ Viễn cùng mấy “cán bộ, cán xe” gì đó, làm thịt con gà của Minh, nấu cháo, xé thịt ăn với nhau vui vẻ lắm, Minh càng thấy tức, càng thấy thương vợ công khó đem gà cho chồng mà bị cướp mất.

Nếu như ở ngoài đời, bị mất gà, đứng chổng mông lên, ngó sang hàng xóm “mở vô lum” “bài chưởi mất gà” cũng đỡ tức chút nào. Ở trại tù, bị cán bộ cướp mất gà mà không nói được, cải gì cũng không được. “Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”. Lý của thằng cai tù bao giờ cũng mạnh hơn lý của người tù. Đó cũng là…

“Mặt trời chân lý chiếu qua tim” như Tố Hữu làm thơ… “cách mạng” vậy.

Minh đi hớt tóc từ đội nầy qua đội khác, nên bài ca tả oán mất gà của Minh cũng theo Minh mà đi từ đội nầy qua đội khác, và những “cái loa phát thanh” trong mỗi đội cũng vội vàng phát ra cho toàn đội cùng nghe chuyện “Cán bô Viễn cướp gà cải tạo.”

Thế rồi, nghe anh em khuyên, Minh làm đơn gởi lên trại trưởng, khiếu nại việc bị mất gà. Trung úy Nở, trại phó xử, biểu Viễn phải trả gà lại cho Minh. Viễn ra Nhà Chăn Nuôi xin một con gà. Trại có gà lớn nhưng muốn cho cán bộ Viễn gà thì phải xin phép trại trưởng. Viễn không muốn vì biết “trên” sẽ không cho. Cuối cùng, Viễn xin được ở Nhà Chăn Nuôi một con gà con bằng nắm tay. Con gà con bỏ ăn đã hai ngày nay, coi bộ sắp chầu Diêm Vương. Báo cáo gà con bị dịch chết thì dễ cho Nhà Chăn Nuôi. Viễn đem con gà bằng nắm tay đền cho Minh, thay cho con gà sống bự.

Hôm ấy, chủ nhựt, khỏi đi lao động. Buổi sáng, sau khi “mở chuồng” (tức mở cửa phòng giam), anh em tù tỏa ra, người xuống bếp xin nước sôi, người kiếm chỗ kín đáo thổi lò nấu ăn sáng. Phải tìm chỗ kín đáo vì sợ cán bộ bắt, tịch thu. Người khác chạy quanh sân hay vào trong hội trường tập thể dục.

Trong hội trường có tấm bảng.

Quá sáng một chút, bỗng anh em tù kháo nhau trên tấm bảng ở hội trường, ai đó dán một bài thơ về việc Minh bị mất gà. Bài thơ như sau:

Cán bộ Viễn cướp gà cải tạo,

Bắt gà về nấu cháo ăn chơi

Người đâu có kẻ lạ đời

Ban ngày cướp của của người tay không! (1)

Của đã mất đừng mong được trả

Lấy làm gì gà lớn nắm tay

Nhang ròng ba nén thắp ngay

Xí cô hồn, vái cho mầy thăng luôn

Để mày khỏi xưng hùng xưng bá

Khỏi ta đây cán bộ, cán xe

Cán xe, xe cán một bè

Ngàn năm bia miệng làm vè chưởi chơi. (2)

            Mãi tới trưa, cán bộ trực trại mới biết bèn ra lệnh cho mấy ông tù làm “Thông tin Văn hóa” lột bài thơ đem nộp cho cán bộ. Bài thơ để được lâu, anh em tù xúm nhau đọc, coi bộ khoái chí.

Đến trưa, tôi và anh Lã Trung Tâm ngồi ăn chung. Anh ấy nói với tôi:

– “Tao biết đứa nào làm bài thơ đó!”

– “Anh tài khôn. Nó viết bằng tay trái, làm sao so chữ cho ra?!”

Anh Lã Trung Tâm cười, sung sướng:

– “Mày tự thú đó há! Mày không làm bài thơ đó, làm sao mầy biết viết bằng tay trái.”

Tôi cố chống chế:

– “Nét chữ ngoằn ngèo, ai không biết viết bằng tay trái.”

– “Tao hỏi mầy. Trại nầy ai biết làm thơ. Mày dạy Việt Văn thì mày biết làm thơ.” Anh ta cười, nói.

– “Chắc chi! Không phải ai dạy Việt Văn cũng biết làm thơ.” Tôi cải.

– “Tao mà như tụi nó, tao kiếm thằng nào biết thơ văn như mầy, tao điều tra. Nội cái kiểu nói bông lơn, cái gì cũng ví von bằng thơ là tìm ra dễ không.” Anh Lã Trung Tâm giải thích.

Tôi lại cố cải:

– “Tui có ví von thơ văn gì đâu?”

– “Có chớ sao không. Hôm cái thằng gì bệnh gần chết, trại cho gia đình đem xe lên đón về, chỉ chờ đem chôn, mầy nhớ mầy nói câu gì không?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.

Tôi nói:

“Bậu ra cho khỏi tay choa,

Thì xương bậu nát thì da bậu mòn.”

– “Mày nhớ khi mầy đọc câu đó xong, Lê Chí Đồng vỗ vai mầy mà cười. Tao biết hai thằng phản động. Mày chối đằng nào?”

Tôi cười:

– “Tui không muốn vô cát-xô. Anh đừng nói nhiều nghe anh.”

– “Vậy là mầy nhận “tội” rồi nghe!” Nói xong, Lã Trung Tâm cười ha hả, đắc thắng!

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 10 Oct 2025

Phần 23

Chúng tôi, bọn văn nghệ sĩ Sàigòn bại trận, chúng tôi có anh có em. Trong nhục nhã, trong khổ cực, chúng tôi vẫn có nhau, chúng tôi vẫn là những văn nghệ sĩ Sàigòn. Cảnh “phi cầm, phi thú” hiện ra rõ nhất trong những cái gọi là buổi sinh hoạt tại Hội Văn Nghệ Sĩ Thành Phố Hồ Chí Minh, trụ sở đặt trong tòa nhà có vườn rộng trước 75 là một cơ sở nghe nói là Tình báo của Việt Nam Cộng Hòa, góc đường Trương Minh Giảng, Tú Xương. Bọn trong Ban Chấp Hành cái gọi là Hội Văn Nghệ, thường là Tổng thư ký Việt Phương, lên Ủy ban thành phố họp nghe chỉ thị gì đó về phổ biến với các văn nghệ sĩ. Những buổi như thế gọi là buổi sinh hoạt.

Trong những buổi sinh hoạt này bọn trong Ban Chấp Hành Hội ngồi hàng ghế chủ tọa đối diện với hàng ghế của văn nghệ sĩ Sàigòn. Hai bên ngồi đối mặt với nhau. Hai anh Kỳ Nhông, Kỳ Đà Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn cũng dự buổi sinh hoạt. Hai anh không thể ngồi cùng hàng ghế hay ngồi sau lưng bọn Giải Phóng Miền Nam. Sức mấy chúng nó cho hai anh ngồi chung. Hai anh không ngồi chung chỗ với bọn chúng tôi, chắc hai anh sợ ngồi với chúng tôi hai anh xấu hổ…

Hai anh ngồi sau đít bọn Văn nghệ Giải phóng đối diện với bọn văn nghệ sĩ Sàigòn bại trận không được, hai anh không muốn ngồi chung với bọn văn nghệ sĩ Sàigòn nhục nhã. Dzậy thì trong những buổi họp chia hai phe rõ rệt mặt đối mặt, chính tà hai phái như dzậy hai anh Kỳ Nhông đặt đít ở đâu???

Hai anh ngồi ở hai ghế bên cạnh. Hai anh không ngồi trong phe giải phóng, hai anh cũng không ngồi trong phe Việt Nam Cộng Hòa bại trận.

Dường như Phạm Trọng Cầu – Phạm Trọng: Em ra đi mùa thu…. mùa thu không trở lại… cũng đã được sáng mắt, sáng lòng đôi chút trước cái gọi là xã hội chủ nghĩa do cách mạng vô sản dựng lên vì thấy nó bê bối, bết bát, dơ dáy quá đỗi. Nhiều anh chị nhờ gia đình có tiền cho sang Tây ăn học đớp phải bả xã hội chủ nghĩa, tưởng bở, hung hăng con bọ xít, theo đuôi cộng sản mần “cách mạng”, bị cộng sản cho hộc máu, vỡ mặt khi chúng cướp được chính quyền. Điển hình và đại diện cho giới “phi cầm, phi thú” này là Mợ Dương Quỳnh Hoa. Nghe nói chỉ sau vài mùa kỷ niệm bác Hồ đầu thai Phạm Trọng đã có vẻ thất vọng. Phạm Trọng có mần lời ca theo điệu nhạc bài Quê Em – Quê em miền Trung du. Đồng quê lúa xanh rờn. Giặc tràn lên cướp phá. Anh về quê cũ. Đi diệt thù giữ quê. Giặc tan đón em về – Lời ca của Phạm Trọng theo nhạc Quê Em có câu mở đầu:

Ba tôi trồng khoai lang…

Đào lên thấy khoai mì

Thật là điều phi lý…

Những anh Kỳ Nhông đi theo cộng sản mần “cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa” tưởng bở: Xã Hội Chủ Nghĩa nhất định phải tốt đẹp hơn xã hội tư sản dân chủ. Mấy ảnh vỡ mộng khi thấy sao nó bẩn quá. Thứ củ có thể ăn được người Bắc gọi là sắn, người Nam gọi là mì hoặc khoai mì. Những chị đi bán rong trong những xóm nghèo thường rao: “Ai khoai lang, khoai mì…” Thứ củ người Nam kêu là củ sắn, người Bắc gọi là củ đậu. Ông bố mấy anh Kỳ Nhông trồng khoai lang, đào lên thấy khoai mì cũng còn là khá, ông nội anh không có trồng khoai lang, khoai mì, ông nội ác ôn của anh trồng người. Các em nhỏ bất hạnh bị đem ra trồng đầu vùi dưới đất, chân chổng lên trời. Ở những cánh đồng cách mạng vô sản ấy, khi đào đất lên người ta không thấy khoai mì, khoai lang chi cả, người ta chỉ thấy có sọ người, có xương người và máu người.

Lo việc mười năm trồng cây

Lo việc trăm năm trồng người.

Câu nói của một Quân Tải Tàu nào ngày xưa, được ghi trong sách Minh Tâm Bảo Giám do ông Đoàn Trung Còn biên soạn. Già Hồ mượn dùng cũng được đi. Nhưng trồng là trồng cây: trồng cây si, trồng đậu, trồng gạch, trồng gì cũng được, “trồng người” nghe sao man rợ quá trời. Những anh cộng sản coi đồng bào như những con vật để họ sai khiến, bóc lột, như những cái cây để họ đem trồng. Những em bé Việt Nam bất hạnh được coi là những khúc măng non…

Em là khúc măng non…

Em chín queo trong nồi cách mạng

và:

Cháu lên ba… Cháu vô mẫu giáo

Cô thương cháu là cháu không khóc nhè…

Không khóc nhè…. È é e…

Em vào trường học

Mẹ cha vào nhà máy…

Ông bà lo cấy cầy…

Ông bà lo cấy cầy??? Chèng đét théng thèng ơi… Ông bà xã hội chủ nghĩa cho có trẻ lắm cũng phải sáu mươi, bẩy mươi… Khứa lão lọm cọm sống trong xã hội thối nát tư sản đến tuổi sáu bó là đã bị con cháu cho ngồi chơi xơi nước. Khứa ông buổi sáng nhâm nhi ly trà tầu nếu có tiền, ly nước vối nóng nếu sống giản dị, để móng tay dài, râu ba chòm, tay phe phẩy cái quạt, chống gậy đi chơi, gặp ông bạn cũng khứa lão đánh vài ván cờ tướng, trưa mùa rét ăn cơm uống ly rượu tăm rồi ngáo. Khứa bà trông nom các cháu, giúp con dâu, ngày rằm, mùng một lên chùa lễ Phật, sáng sáng chiều chiều đến nhà thờ cảm ơn và xin ơn Thiên Chúa.

Đấy là đại khái vài hình ảnh, cuộc sống những ông già, bà lão trong xã hội tư sản. Những ông gia,ø bà lão trong xã hội vô sản ra đồng làm trâu bò cho đến lúc ngã xuống thở hơi cuối cùng. Trong khi đó thì thi sĩ Đảng Tố Hữu mần thơ diễn tả tấm lòng cao cả của bác Hồ muôn kính, ngàn yêu, ngày đêm bác vẫn mơ mộng làm sao để có:

Sữa tặng em thơ, lụa tặng già

Trích Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, trang 82 đến 91

Thời gian một tuần đã trôi qua. Như thường lệ, sáng hôm ấy, Tư Tuân dến cơ quan từ sáu giờ rưỡi sáng. Còn đúng một tiếng đồng hồ nửa mới đến giờ làm việc, chỉ có các cán bộ trực đêm có mặt. Anh tự nấu nước để pha trà. Đêm qua, anh thức quá khuya để đọc đi đọc lại những bài đăng trên các báo phản động của bọn di tản. Dạo này, trời cuối năm trở lạnh làm những khúc xương của anh đau ê ẩm. Những năm tháng gian khổ trong ngục tù, những trận đòn man rợ của quân thù, những cơn sốt rét kéo dài đã tàn phá sức khỏe của anh như mưa nắng dội lên cội tùng già. Dường như bộ phận nào trong lục phủ, ngũ tạng của anh cũng suy yếu. Anh đã cố gắng chăm chút giữ gìn sức khỏe, thường xuyên luyện tập để có thể tiếp tục đứng vững. Năm mười hai tuổi chưa phải lúc cam chịu tụt về tuyến sau của cuộc sống đang rực lửa.

Vào khoảng hơn một giờ sáng, vợ anh thức giấc dục anh đi ngủ. Thấy anh vẫn chong đèn đọc, chị dậy pha cho anh ly sữa. Chị cũng là cán bộ, có thể hiểu và chia xẻ trách nhiệm nặng nề của chồng, nhưng cũng không thể để cho anh ngã bệnh.

– Này ông, ông tính làm cho mau chết hay sao? Việc gì cũng để đến mai làm tiếp có được không?

Anh cười giả lả:

– Bà lấy cái chết để dọa tôi đấy hả? Tụi mình sống được đến ngày nay là đã lời quá rồi, lẽ ra đã theo ông bà lâu rồi…

– Thôi đừng nói liều ông ơi! Chết thì không ai sợ, nhưng ngã xuống đau thì dừng báo hại vợ con.

– Bà đừng có lo, tôi coi vậy chứ ngon lành lắm, mấy cậu thanh niên theo không kịp đâu – Anh cười làm lành với vợ – Này, vậy chớ bà đã mua thuốc cho tôi chưa?

Chị Tư làm mặt giận:

– Xí, thuốc với thang. Người ta uống thuốc thì phải nghỉ ngơi, chứ làm thí mạng như ông thì uống làm gì. Chừng nào ông xin nghỉ phép năm thì tôi mới mua cho ông uống.

Tư Tuân lặng thinh. Anh không giận vợ – đúng hơn càng thương vợ. Nhưng chính lúc ấy, anh cảm thấy cột xương sống tê buốt. Nó muốn thừa cơ hội để tấn công anh chăng? Bệnh tật, làm thế nào tránh khỏi khi người ta đã ngoài năm mươi với ngần ấy gian truân. Tư Tuân hai mươi năm về trước còn đủ sức mang vác ba lô, vũ khí nặng mấy chục ký lô đi liền mấy ngày không nghỉ. Tư Tuân của tuổi hai mươi đã là một tiền đạo có tiếng của đội bóng tiểu đoàn.

Thấy anh trầm mặc, chị Tư sợ chồng giận, nắm bàn tay chồng thỏ thẻ:

– Thôi khuya rồi, mình đi ngủ đi mai còn đi làm.

Lát sau, Tư Tuân mới nói với vợ:

– Anh bao giờ cũng nghĩ rằng em rất hiểu anh và lo lắng cho anh. Em xem, tụi mình sống, lấy công tác làm vui. Nhiều lúc anh cũng muốn nghỉ vài tuần phép, cũng có lúc muốn xin đi chữa bệnh dài hạn, nhưng anh sợ nhất là sự nhàn rỗi. Vô công rỗi nghề thì buồn bực không gì bằng. Thôi thì cứ làm việc còn hơn. Nói vậy chứ mình đâu có phung phí sức. Nếu em thuốc thang cho anh thì anh còn sống lâu với em và các con chớ đâu đã đến nỗi nào.

Nghe anh nói, chị Tư ứa nước mắt. Chị có tính hay mủi lòng. Thương vợ, anh đã xếp hồ sơ và lên giường ngủ. Đến năm giờ sáng, theo thói quen, anh đã dậy tập thể dục, ăn qua loa mấy chén cơm chiên và đi làm. Khi anh dắt xe ra khỏi nhà, chị chạy theo trao cho anh một lọ thuốc và dặn:

– Em nhờ mấy anh bên Viện Y học dân tộc làm thuốc tễ cho anh đây, nhơ uống năm viên một lần vào lúc nửa buổi sáng và một lần trước bữa cơm trưa nghe.

Giờ đây ngồi ở bàn làm việc, Tư Tuân càng thấy thương vợ. Anh mở cặp lấy lọ thuốc ra, mở nắp đưa lên mũi ngửi. Vị thuốc thơm thơm làm anh sao xuyến.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 10 Oct 2025

89. Trần Thị Diệu Tâm

Phía Bên Kia Mặt Trăng là tập truyện ngắn thứ ba của Trần Thị Diệu Tâm, sau những cuốnNgười Về, Rong Biển. Phía Bên Kia Mặt Trăng gồm mười lăm truyện ngắn. So với những truyện đã cho xuất bản trước, cách viết của Trần Thị Diệu Tâm không có gì thay đổi. Giản dị, nhẹ nhàng, từ cách bố cục, tình tiết của các câu chuyện. Nhân vật cũng như không khí các truyện của Trần Thị Diệu Tâm là những gì gần như đã biến mất trong văn chương của chúng ta nói chung, trong những năm gần dây, nhất là trong những truyện của các nhà văn nữ.

Đó là cái thế giới dịu dàng, êm ả – êm ả ngay cả trong những tình huống gay go, đau đớn nhất. Tình ái trong thế giới ấy là một thứ hạnh phúc người ta không đạt được, chứ không phải một cơn bệnh hành hạ như phần lớn các truyện gần đây thường cho người ta cảm tưởng ấy.

Truyện của Trần Thị Diệu Tâm là những truyện có thể kể lại được, nếu người ta muốn. Nó cũng đứng vững trong toàn thể bố cục của nó, chứ không phải những câu văn, những tư tưởng tách rời.

Phía Bên Kia Mặt Trăng truyện được tác giả chọn làm nhãn cho cuốn sách và các truyện Chốn Cũ, Sợi Tóc là những truyện ngắn có thể coi là điển hình của Trần Thị Diệu Tâm.

Đọc những truyện ngắn ấy nửa chừng người ta có thể phỏng đoán những gì sẽ xẩy ra ở đoạn cuối. Nhưng cái thích thú là người ta vẫn phải đợc tới để xem sự thể thế nào. Và  thường thường, cái nút mở, cái kết thúc truyện của Trần ThịDiệu Tâm dù không xa với dự cảm của mình bao nhiêu, người ta vẫn không khỏi ngạc nhiên. Điều ấy vừa chứng tỏ cách suy nghĩ riêng biệt, nghệ thuật viết của tác giả, vừa cho thấy sự phong phú của đời sống: người ta không bao giờ biết trước được điều gì, dù nhỏ nhoi đến đâu chăng nữa! Cái sợi tóc Thạch Lam nói tới trong một truyện ngắn của ông là khoảng cách giữa lương thiện và bất lương. Sợi tóc trong truyện ngắn của Trần Thị Diệu Tâm là sợi tóc thật, nhưng tự nó lại mang những sự thật khác.

Người đàn bà trong truyện của Trần Thị Diệu Tâm không có tên, chỉ được gọi bằng ‘chị ta’, một người Á đông, rõ hơn, là một người Việt Nam.

Chị được chồng bảo lãnh qua đây, tức là nước Pháp, nhưng bắt chị ký giấy ly dị ngay, vì chồng chị đã có vợ khác. Sự việc làm cho vợ chồng ông Nguyễn hết sức bực mình, nhất là bà Nguyễn.

Bà bảo chị:

“Sao chị không làm dữ để chồng chị trở về với mình, lại ký bằng lòng ngay, dại quá”.

Chị từ tốn trả lời:

“Thưa bà, em không thể làm như thế. Chồng em viết thư cho em lúc còn ở Việt Nam nói, khi anh vượt biên đến đây, chính cô ấy lo lắng và giúp đỡ anh để có công ăn việc làm. Cô ấy là ân nhân của chồng em, cũng là ân nhân của em. Nhờ vậy, anh mới có tiền giúp mẹ con em. Con gái em nay đã có chồng tử tế”.

Bà Nguyễn cho rằng chị nghĩ xa xôi quá, sống đây mà tình nghĩa quá chỉ thiệt thân. Nhưng chị ta nghĩ khác.

Chị nói với bà:

“Thưa bà, em rất quý trọng anh ấy, chỉ vì hoàn cảnh, vì số phận em phải chịu đựng như thế. Bao giờ em cũng xem anh ấy là chồng”.

Chị gốc gác chỉ là một giáo viên tiểu học, ít học, không đọc được tiếng Pháp, nên giấy tờ cứ phải nhờ người đọc dùm và chỉ dẫn, phiền phức, và nhờ mãi người ta cũng bực mình. Bà Nguyễn nói với chồng, ‘anh rảnh rỗi thì giúp cho chị ta’.

Hàng xóm qua lại, ông giúp chị làm các giấy tờ. Để đền ơn, chị đi chợ thỉnh thoảng làm đồ ăn mang biếu, rồi ở lại dọn dẹp giúp ông bà bếp núc sạch sẽ. Bà Nguyễn muốn tỏ ra không phải là người lợi dụng, đưa chị một ít tiền để trong phong bì, chị không nhận. Chị nói, ông đã giúp chị làm đơn xin được tiền trợ cấp, nên chị không dám nhận gì của bà. Bà khen chị, ở lâu với cộng sản mà không bị biến đổi tâm tính, vẫn giữ được tâm hồn trong sạch, cốt cách của một người đàn bà lương thiện. Bà lựa một số quần áo cũ không dung tới nữa, cho chị. Bà cũng nói, sẽ đưa chị đi uốn tóc, chị có duyên, phải làm đẹp để còn lấy chồng khác. Nhưng chị từ chối, lấy cớ chồng chị rất thích mái tóc dài tự nhiên và vẻ quê mùa, mộc mạc của chị. Bà phát bực mình, cho chị là một người đàn bà nô lệ cho đàn ông.

Một bữa, sau khi ủi quần áo giúp ông bà, chị đã lôi một đống giầy của ông bà ra lau chùi, đánh bóng. Ông Nguyễn người ý tứ, không bao giờ khen một người đàn bà nào trước mặt vợ. Ông nhẹ nhàng bảo chị, việc chùi giầy để ông bà tự làm lấy. Ông không muốn chị làm việc ấy. Chị nói, không biết sao, ủi quần áo, chùi giầy cho ông, chị nhớ tới chồng chị. Trước 75, anh rất ưng ý vì chị ủi quần áo không thua gì tiệm và chùi giầy không thua gì bọn chuyên nghiệp. Bà Nguyễn cũng đem chuyện “chị hàng xóm” kể lại cho bạn hữu nghe và không quên kết luận đó là một người đàn bà nô lệ cho đàn ông.

Trong tình vợ chồng, ông Nguyễn thường bị vợ từ chối lấy cớ là “gõ cửa không đúng lúc”. Tất cả các dữ kiện đó hình như báo trước một điều gì đó.

Điều gì?

Ở trang 142, Trần Thị Diệu Tâm viết:

“Rồi một hôm, bà Nguyễn thay chiếc áo gối, bỗng nhìn thấy một sợi tóc dài đen bóng dính vào lớp vải. Bà cẩn thận đưa sợi tóc lên nhìn, lấy hai ngón tay vuốt thẳng. Sợi tóc dài gấp ba lần tóc mình, thẳng, không chút rợn sóng. Bà run rẩy, sợ hãi nghĩ đến người đàn bà ‘quê mùa’ đã nằm trên giường này với chồng mình”.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 10 Oct 2025

88. Trần Phong Giao

Trần Phong Giao là bút hiệu. Ông tên thật là Trần Đình Tĩnh, sinh năm 1932, không rõ nơi sinh, mất tại Sài Gòn ngày 13 tháng 4/2005.

Về sáng tác, Trần Phong Giao để lại 2 tác phẩm: Ngồi Lại Bên Cầu và Nửa Đêm Thức Giấc. Về phiên dịch, ông đã chuyển sang Việt ngữ các cuốn:

– Guồng Máy [L’ Engrenage] của Jean Paul Sartre.

– Sứ Mệnh Văn Nghệ, diễn từ của Albert Camus đọc khi nhận giải Nobel văn chương.

– Sự Đã Rồi [Les Jeux Sont Faits] của Jean Paul Sartre.

Nhưng công lao lớn nhất của Trần Phong Giao đối với sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam trong hai thập niên 60, 70 là khi ông làm Tổng Thư Ký cho báo Văn. Nhờ ông, tờ Văn đã có được một nội dung riêng biệt, phong phú. Ông đã làm những số báo đặc biệt về các tác giả ngoại quốc, nhất là các tác giả đương thời, cung ứng cho các độc giả không tự mình có đủ thì giờ hay hoàn cảnh thuận  tiện, nhất là các độc giả trẻ chưa thông thạo các ngoại ngữAnh, Pháp, có thể tiếp cận với văn học thế giới một cách tương đối đầy đủ và cập nhật. Cũng từ tờ Văn, rất nhiều người viết mới được giới thiệu tới người đọc, hiện đã trở thành các tác giả danh tiếng.

Nguyễn Xuân Hoàng, người đang tiếp tục làm tờ Văn ở hải ngoại, đã kể lại trường hợp tình cờ ông nhận được một số báo Văn cũ, số 164, ra ngày 15 tháng 10, 1970, có chủ đề là “Đi Giữa Mùa Thu”, tuyển tập những cây bút trẻ, có thể coi như điển hình cho cách làm việc của Trần Phong Giao khi thực hiện một số báo.

Nguyễn Xuân Hoàng viết:

“Như tên gọi của nó, đây là một số báo dành riêng cho những người mới đến với Văn. Mới từ người vẽ tranh bìa: họa sĩ Hồ Đắc Ngọc. Và tất nhiên cái mới chính là từ những người làm thơ, viết văn: Lê Văn Thiện, Đặng Tấn Tới, Kinh Dương Vương, Nguyễn Đường Thai, Nguyễn Lệ Uyên, Hoàng Ngọc Châu, Hồ Minh Dũng, Lộc Vũ, Mường Mán, Hoài Tuyết Trang, Phạm Ngọc Lư, Lê Miên Tường, Nguyễn Lương Vy, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Thanh Chương …

“Tôi [tức Nguyễn Xuân Hoàng] không biết trong số những người viết trong số báo này [cách đây 35 năm] ai còn, ai mất, ai vẫn cầm bút và ai đã thay tên đổi nghề, nhưng tôi biết ít ra chúng ta vẫn còn Kinh Dương Vương của truyện ngắn, ký Dung Nham khi làm thơ, và Rừng khi vẽ, vẫn còn Mường Mán viết truyện trong nước, vẫn còn Hồ Minh Dũng sáng tác mạnh mẽ ngoài nước”.

Trần Phong Giao không làm việc một mình. Ông được rất nhiều các nhà văn, các học giả phụ giúp, để đọc các bài lai cảo, so sánh các bản dịch thuật, trước khi cho in trên báo. Một người cộng tác với báo Văn, thời Trần Phong Giao cho biết, thường Trần Phong Giao đưa bản thảo các truyện được gửi đến báo cho ba người đọc, hễ hai trong ba người đồng ý, bài sẽ được “đi” trên báo. “Đi” là tiếng Trần Phong Giao thường dùng để chỉ những bài sẽ được in trên báo. Ba người ấy là ai thiết tưởng bây giờ cũng chẳng còn gì quan trọng nữa.

Trần Phong Giao được coi là một tổng thư ký tòa báo giỏi. Chữ giỏi ở đây có thể hiểu theo nhiều nghĩa. Ông đọc được hai ngoại ngữ Anh và Pháp. Ông lại sẵn sàng hỏi nghĩa dù một chữ bất cứ ai đó ông cho là có thể tin cậy được. Ông chịu khó và rất kiên nhẫn. Chẳng hạn số báo cần bài của một người nào đấy, ông sẵn sàng chạy đi chạy lại, đến tận nhà hay tại một cái quán nào đó, lấy thêm một trang hay ít dòng mang về nhà in cho sắp chữ rồi lại quay trở lui lấy những trang kế tiếp cho đến khi xong bài.

Cũng vẫn Nguyễn Xuân Hoàng cho biết tiếp:

“Trần Phong Giao là người khéo hỏi bài người viết và đối xử khéo léo sau khi đăng bài. Trong ngăn kéo anh bao giờ cũng có sắn bài cho vài số báo. Anh đặt bài cho những số chuyên đề từ cả sáu tháng đến một năm trước. Có thể nói, tạp chí Văn thời Trần Phong Giao là một tạp chí văn chương hơi cổ điển và đặc biệt … ít lỗi chính tả nhất, bởi vì trước hết anh là người cẩn trọng, chăm sóc từng chữ, từng trang bài và sau nữa, anh còn có một người phụ tá cần mẫn, tỉ mỉ, giỏi chính tả, ngữ vựng là Đàm Gia Tuấn.

Đưa bài cho Trần Phong Giao, người viết có thể yên  tâm nhiều mặt: bài không bị sai lỗi chính tả và, tiền nhuậnbút có ngay sau khi báo ra”.

Trần Thị Ngh, cái tên viết bằng 3 mẫu tự, nên không biết đọc thế nào cho đúng, hiện là một tác giả có nhiều người đọc, kể lại kỷ niệm cuộc gặp gỡ đầu tiên của bà với Trần Phong Giao, khi bà mang bài đến đưa cho báo Văn như sau:

“Mặc áo dài trắng đi xe buýt đến tòa soạn nguyệt san Văn ở đường Phạm ngũ Lão, tôi thập thò khá lâu trước khi bước qua ngạch cửa. Tiếp tôi là một ông bụng bự mà tôi lập tức đặt tên là Ông Địa. Trong khi tôi còn đang lớ ngớ chưa biết tính sao, Ông Địa hỏi, giọng vừa bực tức vừa chán: “Có gì đó?”. “Dạ nộp bài”. “Ơ … dạ của má em”. Ông ta bảo, đưa đây, rồi lơ đãng lia cái phong bì lớn có đựng bản thảo truyện ngắn viết tay của tôi lên cái bàn viết gần đó. Đứng đón xe buýt lượt về giữa trời Sài Gòn nắng chang chang, tim vẫn còn đập dội ngược vì tức, tôi tự nhủ sao mà cái thế giới viết lách nó hách xì xằng đến thế!”.

Cái người được gọi là Ông Địa đó chính là Trần Phong Giao. Trần Thị Ngh. đã mô tả khá chân thực hình dáng cũng như cách cư xử của Trần Phong Giao khi người ta gặp ông lần đầu. Nhưng giao thiệp với ông lâu, người ta sẽ thấy ông là một người tốt bụng và cư xử rất đàng hoàng.

Trần Phong Giao mất, báo chí trong nước không một dòng nhắc đến ông. Mặc dầu sau 75, vào Nam, rất nhiều  người, nhiều giới, ai cũng cố tìm cho đủ bộ báo Văn để đọc và để … nghiên cứu.

Người Thiếu Phụ Ôm Cốt Chồng Đi Trong Đêm Mưa Phùn Giữa Núi Rừng Việt Bắc.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on October 7, 2025 by dongsongcu

ĐTH-stnet.nctct

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

(Viết để tưởng nhớ quý chiến hữu Quân, Cán, Chính VNCH đã gục chết tủi hờn và oan khiên trong lao tù khổ sai của bọn cộng sản vô nhân, và cũng để tuyên dương những người vợ lính VNCH, đặc biệt là chị quả phụ của cố Đại úy Cảnh Sát QG Trần Thiên Thọ Hải. ….)

… Tình hình sức khỏe anh em khi còn ở các trại do quân đội Việt cộng quản lý đã tồi tệ, thì nay càng tồi tệ hơn dưới sự hà khắc dã man của bọn công an, mà anh em tù quen gọi là bọn “chó vàng”. Tiêu chuẩn ăn uống thì bị bọn chúng cắt xén ăn bớt. Mỗi bữa ăn chỉ được một thìa cơm với hai khúc sắn tươi, hoặc gần chục lát sắn khô hay một chén sắn duôi (loại sắn được nạo thành sợi hay xắt thành cục phơi khô), vài muỗng canh đại dương (nước muối với vài cọng rau già), hoặc một vài miếng sắn được nấu với muối cho nhừ để làm canh. Họa hoằn, một đôi ba tháng vào các ngày lễ, Tết thì được một chén cơm trắng với hai ba miếng thịt heo to bằng đốt ngón tay, hoặc một vài miếng thịt trâu từ một con trâu già đã không còn kéo cày nổi hay bị chết vì không chịu nổi cái lạnh mùa đông.

Với chế độ ăn uống vô cùng thiếu thốn như vậy mà phải làm việc khổ sai cực nhọc, dẫn đến tình trạng kiệt lực, người nào cũng chỉ còn da bọc xương. Mỗi buổi chiều, hết giờ lao động, anh em tù cởi áo xuống ao tắm, trông như một bầy khỉ ốm đói tội nghiệp.

Tình trạng bệnh tật và không có thuốc men thật là đáng sợ, bệnh kiết lỵ, phù thủng và thổ huyết rất phổ biến. Đã có một số anh em chết mà anh em tù quen gọi là “quay đầu về núi” vì hầu hết tù nhân chết đều được chôn trên các sườn đồi.

Xin đơn cử một vài cái chết của vài anh mà tôi có dịp ở chung.

_Thiếu Tá Hà Sỹ Phong, Phó Giám Đốc Đài Phát Thanh Tự Do, anh ở cùng đội với tôi, mấy ngày trước anh bị bệnh nên cho nghỉ ở nhà trực phòng, sau đó 2 ngày anh được mẹ ở miền Bắc lên thăm. Buổi tối anh cho tôi nửa chén cơm vắt và hai miếng thịt gà kho mặn, anh thì thầm tâm sự:

– Năm 54 tôi di cư vào Nam chỉ có một mình, ông bà cụ luyến tiếc tài sản không chịu đi, bố tôi bị đi tẩy não (tù cải tạo) trong đợt cải cách ruộng đất và chết trong tù, bây giờ mẹ tôi đã ngoài 70 tuổi lại phải đi thăm con ở tù. Đây là lần đầu gặp lại mẹ tôi sau hơn hai mươi năm xa cách.

Nói rồi hai hàng nước mắt anh lăn dài trên má. Tôi lí nhí cám ơn anh về món quà anh đã cho tôi. Sau gần 3 năm tù, đây là lần đầu tiên tôi được thưởng thức một món ăn quá sang trọng như vậy. Tôi xé từng sớ thịt, rồi lại liếm mấy ngón tay, tận hưởng cái hạnh phúc to lớn ấy rồi thiếp dần vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau, khi ra khỏi phòng để điểm danh thì thiếu một người, tên thường trực thi đua (một tên tù được đưa lên phụ việc đóng mở cửa và kiểm soát anh em) đi vào thì phát hiện anh Phong đã mê man. Chúng tôi vội cõng anh lên trạm xá nhưng anh đã chết vài giờ sau đó.

_Ít ngày sau lại đến anh Trung Tá Lạc, Phòng 2 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Một buổi chiều sau khi lao động về, anh Lạc ghé sang khu tôi ở, móc trong túi ra một cái bánh chưng đưa cho tôi và nói:

– Hai cháu nó mới ra thăm, cả hai đều được đi dậy học lại và là “giáo viên tiên tiến” nên được cho ra thăm “lăng Bác”. Nó tìm lên thăm mua cho ít quà, chú dùng cái bánh chia vui với tôi, mấy ngày nữa các cháu sẽ lại lên thăm tôi lần nữa. Tôi đón cái bánh chưng to bằng cái bánh trung thu và lí nhí cám ơn anh rồi vội chia tay, vì sợ tụi cán bộ trông thấy sẽ ghép tôi quan hệ trái phép .v.v..

Quả thật, những lúc đói khát khó khăn thế này mới thấy cái tình dành cho nhau nó to lớn và sâu đậm. Nhưng rồi không may cho anh, hai hôm sau anh đã chết ngay tại hiện trường lao động không kịp gặp lại các con.

Giữa năm 78, vì đói khát suy dinh dưỡng, cộng thêm cơn sốt vàng da đã khiến tôi kiệt lực, thân thể chỉ còn trên 30kg. Tôi không còn bước đi được nữa, mà chỉ có thể bò được vài ba thước, tôi được đưa xuống trạm xá nằm trong “danh sách chờ”. Tại đây đã có anh Tư, anh là người hạm trưởng đã sang đến Singapore rồi lại quay về, anh bị bệnh phù thủng lại thêm phần ân hận vì đã quay về để rồi bị đi tù mút chỉ, nên chỉ ít ngày thì anh chết.

_Rồi đến Trung Tá Mai Xuân Hậu, Tỉnh Trưởng Kontum, Thiếu Tá Đặng Bình Minh lái trực thăng cho Tổng Thống Thiệu, Trung Tá Lý. Dường như chẳng còn ai quan tâm đến cái chết, chả thế mà vẫn còn nói đùa: “Đ.M. mày qua mặt tao mà đíu bóp còi!”.

Cũng thời gian này, có một bài hát đã được anh sáng tác tôi vẫn còn nhớ được ít câu:

“Rồi một ngày mai không có anh, em không còn phải nhớ phải mong

– Rồi một ngày mai thân xác anh quay đầu về núi

– Cô đơn ngồi khóc một mình

– Không một lần kịp vuốt mắt anh

– Ôi mây lang thang về phía trời xa vời,

nhìn trông theo cánh chim từng đàn,

để mình ta với bao ngày tháng xanh rêu,

bụi thời gian lấp kín hồn mình,

đớn đau trong lòng mà nhớ về nơi xa,

ôi ngày về còn dài bao lâu

– Rồi một ngày mai anh chết đi, em không còn phải khóc phải thương

– Rồi một ngày mai thân xác anh đi vào lòng đất, cô đơn phủ kín đời mình.

– Không một lần kịp nói tiếng yêu.”

Nhưng rồi may mắn hơn, số tôi chưa tới, nên căn bệnh sốt vàng da không biết có phải nhờ ba cái lá ổi, lá xoan hay không, mà tự nhiên biến mất. Và may mắn thay, nhờ mảnh giấy tôi gửi lén về qua một chị ra thăm chồng, tuy bị tụi công an phát giác, nhưng chị cũng đã nhớ cái địa chỉ ở Biên Hòa, nên chị đã đi tìm báo cho gia đình tôi biết. Nhờ vậy, cuối năm 79, mẹ tôi và vợ con tôi ra thăm, tên Vinh, cán bộ giáo dục của trại, trước khi tôi ra gặp đã chỉ cho tôi gặp 5 phút vì tôi đã gửi lén thư, nhưng tên công an dắt tôi ra đã cho tôi gặp gần một giờ.

Gặp lại mẹ và vợ con sau hơn 4 năm chỉ biết khóc. Chỉ nói được vài câu thì đã hết giờ, tôi đứng dậy chào từ biệt, lòng buồn rã rượi, rồi chống gậy lom khom lết về trại, một tên tù hình sự được chỉ định giúp tôi đẩy cái xe cải tiến chở đồ thăm nuôi vào trại. Nhờ chuyến ra thăm này mà tôi dần dần hồi phục, lúc này mỗi tuần đều có một vài anh em “quay đầu về núi”. Cái đồi sắn ở phía đội 12 sau hơn hai năm đã có gần 300 anh em tù chính trị được chôn ở đó.

Gần tết năm 79, tôi chuyển sang đội 17 lâm sản, chuyên đi lấy củi để sử dụng cho bếp trại. Thời gian này, do áp lực của quốc tế, nên chúng buộc phải cho gia đình những người tù VNCH đi thăm nuôi, nên sức khỏe của đa số anh em đã dần dần hồi phục. Một số anh em “con bà phước” cũng được anh em đùm bọc, nên cái bóng thần chết đã bị đẩy lùi.

Hàng đêm tại các phòng, anh em lại tụ tập quanh ngọn đèn dầu với ấm trà cặm tăm, loại trà thật đặc được pha hoàn toàn bằng búp trà “hai tôm một tép” sao sấy cẩn thận, do anh em đội trà lén mang về. Các tay văn nghệ lại bắt đầu tổ chức ca hát nhạc vàng hàng đêm, khiến tụi cán bộ trại điên đầu, chúng bắt đầu cảm thấy hoang mang vì thấy tù càng bị nhốt lâu lại càng ung dung tự tại, không còn hoang mang lo sợ, lại thêm đám cán bộ nhí bắt đầu bị anh em tù thu phục.

… Anh em đã san sẻ thuốc men cho dân ốm đau trong vùng, khi đi lao động ngoài Bến Ngọc. Anh em thường gọi đây là công tác dân sự vụ. Một buổi tối cuối năm, sau khi đã điểm danh vào phòng, anh em đang tụ tập đàn hát như thường lệ, lúc kẻng báo tắt đèn đến giờ ngủ thì tên cán bộ trực tại trại đến cửa phòng nói vọng vào yêu cầu Phan Thanh đội trưởng lâm sản cử 4 người đi “lao động đột xuất”. Thanh, Diệp, Tân và tôi mặc quần áo cho thật ấm và cũng không quên mang theo tấm nylon đề phòng mưa, vì mùa đông miền Bắc thật lạnh, lại thường có mưa phùn.

Chúng tôi được lệnh xuống chỗ đội 12 lấy cuốc xẻng và thùng xách nước bỏ lên xe cải tiến đi về phía khu nhà tiếp tân. Tên cán bộ đi theo đưa cho tôi cái đèn bão leo lét. Ngang khu nhà tiếp tân thì đã thấy một thiếu phụ trong bộ đồ tang trắng đang đứng đợi.

Dường như đã được sắp xếp, người thiếu phụ lặng lẽ đi theo, tên cán bộ ra lệnh cho chúng tôi đi ra khu nghĩa địa. Đến nơi, hắn bảo chúng tôi đi tìm mộ của Trần Thiên Thọ Hải. Chúng tôi nhớ ra Đại Úy Hải đã chết vào đợt những anh em đầu tiên năm 1977, như vậy là nằm ở sâu trong cùng sát chân đồi. Sau gần 15 phút, chúng tôi đã tìm được ngôi mộ của anh với tấm bia chỉ nhỏ bằng tờ giấy học trò ghi lờ mờ, còn nắm đất thì chỉ cao hơn mặt đất chừng một tấc.

Chúng tôi được lệnh là đào để bốc cốt cho chị mang về trong Nam. Việc đầu tiên là tìm một ít cành khô để đốt một đống lửa sưởi ấm và lấy ánh sang. Chị bắt đầu lấy ra môt bó nhang đốt lên rồi quỳ xuống vái ba lạy. Cầm nguyên bó nhang chị thổn thức khóc và nằm phủ phục lên ngôi mộ. Dưới ánh lửa tôi thấy thiếu phụ còn rất trẻ chỉ khoảng dưới 30, nét mặt xương xương.

Chúng tôi đứng lặng yên tôn trọng nỗi đau của chị, cho đến khi tên cán bộ yêu cầu chúng tôi “khẩn trương” bắt tay vào việc, vì trời đã lâm râm mưa phùn. Chúng tôi dìu chị đứng dậy sang bên cạnh và bắt đầu đào. Chỉ không đầy 20 phút, chúng tôi đã đụng lớp ván đã mục, vì khi tù nhân chết thì chỉ được bỏ vào cái quan tài nhỏ vừa khít người được đóng bằng loại gỗ bạch đàn hay bồ đề, một loại cây được trồng để làm giấy, nên rất nhẹ xốp, được xẻ thành từng thanh và đóng hở như cái vạt giường, nên thấy cả xác nằm bên trong và đám tù hình sự khi đi chôn thì chỉ đào sâu khoảng 4 tấc rồi vùi lấp qua loa.

Gỡ lớp ván trên mặt, bên trong là bộ quần áo tù đã rữa nát. Tôi đi xách một thùng nước ở dưới ruộng để rửa cho sạch đất, người thiếu phụ cũng đã lấy ra một cái thau nhựa và đổ vào đó một ít rượu. Chúng tôi cẩn thận nhặt từng cái xương rũ cho bớt đất, rửa cho sạch rồi trao cho chị. Chị cầm từng cái rửa trong rượu, rồi bỏ vào cái bịch nylon hai lớp. Chị đưa cho chúng tôi mỗi người một gói thuốc Tam Đảo rồi vừa làm chị vừa tâm sự:

– Giữa năm 79, em có xin phép ra thăm, nhưng khi đến trại thì họ nói là không có anh Hải ở đây, nhưng ít tháng sau thì em được tin anh Hải đã chết từ năm 77, do một chị bạn ra thăm chồng về cho biết.

Như vậy là họ đã dấu nhẹm không báo cho gia đình. Mới đây, một người mách bảo cho em ra Bộ Nội Vụ ngoài Hà Nội làm đơn xin bốc cốt. Sau mấy lần làm đơn, cuối cùng họ đã phải cho. Nhưng khi đến đây thì họ chỉ cho làm vào ban đêm và sau khi xong, họ không cho em ở lại nhà tiếp qua đêm với lý do là ô uế.

Sau gần một giờ, thấy có thể đã không còn sót cái xương nào, chúng tôi bảo chị để tránh rắc rối chị không nên mặc bộ đồ tang này. Chúng tôi lấy bộ quần áo tang quấn quanh cái bao nylon đựng cốt bỏ vào cái bị cói lớn rồi lấy sợi dây chuối khô khâu miệng lại để không ai nhìn thấy.

Trên đường về trại, lúc đến chỗ rẽ, chị lý nhí vừa thổn thức khóc vừa cám ơn rồi dúi vào tay chúng tôi mấy gói thuốc còn lại. Nhìn người thiếu phụ tay xách cái bị cói đựng cốt chồng, lặng lẽ đi trong đêm, trên con đường rừng cô quạnh, khiến chúng tôi vô cùng thương cảm, ngậm ngùi, đứng trông theo. Bỗng, sự uất ức trào lên rồi không nén lại được, tôi thốt lên trong kẽ răng:

– Đ.M.! Rồi có ngày chúng mày sẽ phải trả giá cho hành động này! Chúng mày sẽ bị quả báo!

Chúng tôi đi vào theo cửa hông của cổng trại, rồi lặng lẽ đi về phòng. Tên thường trực thi đua đã đứng đợi sẵn để mở cửa.

Đã quá nửa đêm, cái lạnh của núi rừng Việt Bắc đã thấm sâu vào người, nằm co quắp dưới lớp chăn mỏng, tôi thầm ái ngại cho số phận của người đàn bà bất hạnh.

Chị mang hài cốt chồng đi giữa đêm trời giá lạnh rét mướt của vùng rừng núi Việt Bắc; như người vợ, người mẹ Việt Nam đang phải oằn mình mang nặng nỗi đau, nỗi bất hạnh của cả một dân tộc đi trong đêm tối bão bùng về một phương vô định…

Ôi, Dân Tộc tôi sao lắm nỗi đọa đày!!!

ĐTH-stnet.nctct

Nguồn: http://batkhuat.net/van-nguouthieuphu-omcotchong.htm

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 26 May 2023

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Kỳ 5

Sau khi chiến tranh chấm dứt ông chuẩn úy anh vợ của tôi cũng bị bắt đi cải tạo một thời gian rồi được thả về. Thời gian qua đi, người cựu chiến binh Ðinh Văn Thọ đã biến thành một nông phu chân lấm, tay bùn, ngày ngày tìm vui bên những vườn tiêu, ruộng lúa. Nét phong lưu ngày xưa của anh tôi, có còn chăng chỉ là tiếng đàn guitar classic réo rắt vào những  đêm trời đổ mưa…

Tết Giáp-Dần là một trong những cái Tết vui vẻ và đầm ấm hiếm có của gia đình tôi. Vợ chồng tôi và hai đứa con gái quây quần bên nhau đón Giao-Thừa trong một căn phòng có một nhành mai vàng, một mâm hoa quả, một cặp bánh chưng xanh cùng một khay kẹo mứt. Một ngày sau Tết bỗng nhiên Ðại úy Trương Ðình Hà phát bệnh điên.

Anh Hà ôm súng M16 đi vòng vòng trong sân doanh trại, bắn toang cửa kính văn phòng, bắn lủng mái tôn khu gia binh rồi lên mở cửa văn phòng chỉ huy trưởng để tìm ông đại tá. Tôi đang bận việc trên quân đoàn thì bị gọi về giải quyết chuyện lộn xộn này. Xe của tôi vào cổng đúng lúc Ðại úy Hải, Sĩ Quan Chỉ Huy Hậu Cứ nhảy vào ôm được anh Hà để cho người khác tước súng. Lập tức ông sĩ quan điên bị nhốt vào lô cốt có khóa bên ngoài và có lính canh. Chiều hôm đó Thiếu tá Lưu Văn Ngọc, Sĩ Quan Quân Pháp Quân Ðoàn II gọi điện thoại cho tôi.

Anh Ngọc cằn nhằn,

-Thằng Hà là thuộc cấp của Long phải không? Long coi lại! Chiều qua nó sang đây thăm hỏi và chúc Tết mình. Lúc ra về thì xe nó hết xăng, nó mượn xe của mình tới giờ này không chịu trả, mình phải đi nhờ xe của người khác. Long làm ơn nhắc nó trả xe cho mình được không?

Thiếu tá Lưu Văn Ngọc, Sĩ quan Quân Pháp Quân Ðoàn II cũng là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi và Trương Ðình Hà. Tôi vội thông báo tình trạng hiện thời của Trương Ðình Hà cho Lưu Văn Ngọc hay. Nghe xong, Ngọc ngạc nhiên lắm và không tin đó là chuyện thật.

Suốt hai ngày kế đó Trương Ðình Hà luôn miệng la hét om sòm trong nhà giam, không chịu ăn uống gì cả. Hà không nhận ra ai, kể cả người bạn gái của anh ta. Cuối cùng, Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 phải ký lệnh cho quân y áp tải Ðại úy Trương Ðình Hà về Sài-Gòn để vào nhà thương điên chữa trị. Chiều Mùng Ba Tết, Lưu Văn Ngọc báo cho tôi hay chiếc xe Jeep mà Ngọc cho Hà mượn đã bị Hà đem lên ngã ba Quốc Lộ 14 và đường vào Plei M’Rong bắn bể lốp rồi bỏ bên bìa rừng!

Chuyện Ðại úy Trương Ðình Hà phát điên bắn phá lung tung ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 cũng thành một đề tài cho anh em trong đơn vị bàn tán khá lâu, nhưng tuyệt nhiên không ai biết nguyên nhân vì đâu mà Trương Ðình Hà vướng phải căn bệnh quái ác này.

Cả tháng sau khi Ðại úy Trương Ðình Hà ra đi, tôi mới tìm được người thay thế anh Hà.Người được tôi chọn là Trung úy Ðiệp, một sĩ quan trẻ tuổi và gan dạ. Chỉ ít lâu sau khi nhận việc, Trung úy Ðiệp đã được quân nhân dưới quyền hết lòng tin tưởng và quý mến.

Chuyện cái điện đài ở Lệ Minh…

Sau Tết 1974 hành quân tái chiếm căn cứ Biên Phòng Lệ Minh (Plei Djereng) do Sư Ðoàn 22 tổ chức đã thành công mỹ mãn. Cuộc đổ bộ bằng trực thăng của một tiểu đoàn bộ binh trên căn cứ Lệ Minh đã không gặp phải sự kháng cự nào. Chiếc trực thăng chở anh lính cao nhất của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã an toàn đáp ngay trên nóc cái lô cốt giữa sân Lệ Minh để cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ khổng lồ. Chỉ một phút sau khi anh lính xuống đất, lá quốc kỳ to bằng hai cái poncho ghép lại đã phần phật tung bay trong gió.

Tối hôm đó tin quân ta tái chiếm Lệ Minh đã được truyền đi rầm rộ trên các đài phát thanh và các kênh truyền hình. Tôi vui mừng vô cùng, vì những tưởng rằng từ nay sẽ được rảnh tay đi nhận đơn vị mới.

Nào ngờ, vừa cắm cờ trên căn cứ Lệ Minh xong thì Trung Ðoàn 41 Bộ Binh lại bỏ Lê Minh ngay rồi rút quân về Pleiku. Hóa ra cuộc hành quân quy mô, tốn kém này chỉ nhằm mục đích gây tiếng vang cho thế giới thấy rằng quân ta còn rất mạnh, dư khả năng bảo vệ lãnh thổ và đẩy lui quân thù. Cũng từ đó tôi được lệnh lúc nào cũng phải duy trì một toán viễn thám của Biệt Ðộng Quân có mặt trong vòng bán kính 5 cây số cách Lệ Minh.

Trung tá Trịnh Tiếu nói với tôi, không úp mở:

“Cái điện đài của Long hoạt động 24/24 quanh Lệ Minh chỉ là dấu hiệu sự hiện diện của quân bạn ở trong vùng này. Quân đoàn phải duy trì việc này cũng chỉ để che mắt Bộ Tổng Tham Mưu! Chỉ là đánh giặc giả! Chỉ là báo cáo láo với cấp trên! Long đừng lo lắng, bận tâm!”

Chuyện cái điện đài ở Lệ Minh…

Sau Tết 1974 hành quân tái chiếm căn cứ Biên Phòng Lệ Minh (Plei Djereng) do Sư Ðoàn 22 tổ chức đã thành công mỹ mãn. Cuộc đổ bộ bằng trực thăng của một tiểu đoàn bộ binh trên căn cứ Lệ Minh đã không gặp phải sự kháng cự nào. Chiếc trực thăng chở anh lính cao nhất của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã an toàn đáp ngay trên nóc cái lô cốt giữa sân Lệ Minh để cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ khổng lồ. Chỉ một phút sau khi anh lính xuống đất, lá quốc kỳ to bằng hai cái poncho ghép lại đã phần phật tung bay trong gió.

Tối hôm đó tin quân ta tái chiếm Lệ Minh đã được truyền đi rầm rộ trên các đài phát thanh và các kênh truyền hình. Tôi vui mừng vô cùng, vì những tưởng rằng từ nay sẽ được rảnh tay đi nhận đơn vị mới.

Nào ngờ, vừa cắm cờ trên căn cứ Lệ Minh xong thì Trung Ðoàn 41 Bộ Binh lại bỏ Lê Minh ngay rồi rút quân về Pleiku. Hóa ra cuộc hành quân quy mô, tốn kém này chỉ nhằm mục đích gây tiếng vang cho thế giới thấy rằng quân ta còn rất mạnh, dư khả năng bảo vệ lãnh thổ và đẩy lui quân thù. Cũng từ đó tôi được lệnh lúc nào cũng phải duy trì một toán viễn thám của Biệt Ðộng Quân có mặt trong vòng bán kính 5 cây số cách Lệ Minh.

Trung tá Trịnh Tiếu nói với tôi, không úp mở:

“Cái điện đài của Long hoạt động 24/24 quanh Lệ Minh chỉ là dấu hiệu sự hiện diện của quân bạn ở trong vùng này. Quân đoàn phải duy trì việc này cũng chỉ để che mắt Bộ Tổng Tham Mưu! Chỉ là đánh giặc giả! Chỉ là báo cáo láo với cấp trên! Long đừng lo lắng, bận tâm!”

Nghe ông Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II nói vậy, tôi cũng biết vậy, nhưng bảo tôi đừng lo, đừng sợ, đừng bận tâm thì tôi không thể. Thật là khổ tâm khi bị ép buộc thi hành những chuyến xâm nhập nguy hiểm chết người như thế này mà chẳng thấy vinh dự gì. Làm công tác này, tôi đã trực tiếp đồng lõa với những thượng cấp ở Pleiku để đánh lừa những thượng cấp lớn hơn ở Sài-Gòn. Tôi là một người ruột ngựa, thẳng băng, nếu làm điều gì mà phải che che, giấu giấu, khuất tất, thì lòng tôi cứ áy náy, không yên.

Chưa bao giờ trong đời tôi lại bị thượng cấp giao cho cái nhiệm vụ quái đản như thế này. Một nhiệm vụ thật lạ kỳ: Toán nhảy xuống đất, chui vào rừng, kiếm một nơi an toàn, mở máy ra, gọi đài tiếp vận, trao đổi vài ba câu rồi cứ để máy chạy “È! È! È!” suốt ngày, suốt đêm, hết điện trì, thay điện trì mới. Ðúng một tuần lễ sau lại thay toán khác, cứ như giỡn chơi!

Những viễn thám viên dưới quyền tôi cũng là con người; họ cũng có linh hồn, có cảm giác; họ cũng biết sợ cái chết, biết đói, biết lạnh, và biết đau đớn khi bị thương. Chuyện họ có mặt trong vùng Lệ Minh là chuyện đánh trận giả, nhưng chuyện thần chết chờ họ từng phút, từng giờ là có thật.

Thi hành lệnh này, tôi và các bạn Không Quân của Phi Ðoàn 229 Trực Thăng cứ như có hẹn lại lên, đúng bảy ngày lại nối đuôi nhau, hai Gunships, hai Slicks lừng lững bay vào thả toán mới, bốc toán cũ, bị phòng không bắn lúc nào không ai hay, chết lúc nào không ai biết.

Thượng cấp của tôi không nghĩ rằng, chúng tôi cũng là con người, cũng có thân nhân, gia đình, cũng biết sợ cái chết.

Chúng tôi sẵn sàng chết vì nhiệm vụ bảo vệ quê hương, bảo vệ đồng bào, bảo vệ tự do.

Nhưng nếu phải chết vì những âm mưu xảo trá, lòe mắt cấp trên, chết vì đánh trận giả thì quả là chết quá oan uổng, chết lãng nhách! Tôi nghĩ, nếu ra tiểu đoàn, có bốn, năm trăm quân dưới tay, trấn thủ một vùng, còn an toàn ngàn lần hơn là cứ cách vài ngày lại phải bay vào vùng địch, bốc toán, thả toán, trong bán kính 5 cây số xung quanh một điểm cố định là một cái tiền đồn đã mất, sớm muộn thế nào cũng bị phòng không Việt-Cộng bắn rơi, phải lên bàn thờ mà ngồi. Trong tình thế này, tôi chỉ còn cách chấm sẵn bãi thả và bãi bốc, yêu cầu các bạn trực thăng bay thật thấp, bay thật nhanh, thả thật nhanh, bốc thật nhanh, cố gắng giảm thiểu thời gian có mặt trên vùng của phi cơ tới mức tối đa.

Tôi ra lệnh cho các toán viên dưới quyền, mỗi khi đạp đất rồi thì họ cứ tìm nơi nào đó thật kín đáo an toàn mà ẩn núp chờ ngày qua, không cần phải đi thám sát dò la tin tức địch như ngày xưa nữa.

Thực tình tôi không rõ, ngoài Thiếu tá Vương Mộng Long, Trung tá Trịnh Tiếu và Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn ra thì có còn ai nữa biết rằng sự hiện diện của cái điện đài ở cách Lệ Minh 5 cây số chỉ nhằm mục đích che mắt thượng cấp? và những cú thả quân, bốc quân quanh Lệ Minh chỉ là đánh trận giả?

Thời gian này lòng tôi rất muộn phiền, nhưng tôi cứ phải ngậm miệng, không dám chia sẻ tâm tư cho bất kỳ ai. Trong chuyện cái điện đài ở Lệ Minh này, Trung tá Trịnh Tiếu là người thấu hiểu nỗi buồn của tôi nhất; ông nói với tôi rằng,

– Chú gắng nhẫn nhịn, chịu đựng ít lâu, rồi mọi khó khăn sẽ qua thôi!

Tôi và Trung tá Trịnh Tiếu đều là dân Hội-An, tôi lại là bạn thân của một người em ruột của ông Tiếu, hơn thế nữa, tôi và ông Tiếu cùng xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia Việt-Nam, vì thế ông Tiếu rất thân thiết với tôi. Ðã có nhiều lần ông Tiếu giới thiệu tôi đi giữ chức vụ quận trưởng những quận lỵ trù phú, thanh bình dưới vùng duyên hải, nhưng tôi thoái thác.

Trận Kon Sơm Luk 1974…

Tôi đang tiếp tục công việc bốc toán, thả toán thì có tin địch chuẩn bị đánh Kon-Tum, quân đoàn liền ra lệnh cho tôi đem quân lên Kon-Tum yểm trợ cho quân bạn. Vì Ðại Ðội 2 Trinh Sát của Trung úy Ðiệp đang hành quân ở Thanh-An, do đó tôi chỉ đem theo Trung đội Viễn Thám của Phòng 2. Tôi có tổng cộng sáu toán viễn thám. Hiện thời trong vùng Lệ Minh có một toán đang hoạt động. Vì thế tôi phải cho một toán ở lại Pleiku để làm trừ bị cho Lệ Minh.

Trưa 10 tháng 3 năm 1974 tôi cùng bốn toán viễn thám còn lại đã có mặt tại hậu cứ Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân nằm trong thành phố Kon-Tum. Thi hành lệnh của Ðại tá Liều Thọ Cường, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 22 Bộ Binh, người đang chỉ huy Mặt Trận Kon-Tum, trưa 11 tháng 3 năm 1974 tôi đã tung hai toán viễn thám vào săn tin vùng 5 cây số Ðông Bắc cầu Kon Sơm Luk trên Liên Tỉnh Lộ 5 B vì có mật báo rằng địch sẽ chuyển quân của Sư Ðoàn 3 Cộng-Sản từ Bình Ðịnh lên để tập kích quân ta.

Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân hiện thời không có sĩ quan Ban 2, không có Trinh Sát và Viễn Thám, nên Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Ðoàn 22 Bộ Binh yêu cầu tôi có mặt bên cạnh Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân để trực tiếp yểm trợ tin tức chiến thuật cho đơn vị này. Vì thế, thả quân xong, tôi đáp xuống vị trí hành quân của Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân. Chiếc xe Jeep của tôi đã có mặt ở đây từ chiều hôm qua.

Ban chỉ huy viễn thám của tôi chỉ có ba thầy trò, là tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long, Hạ sĩ Nguyễn Ba và anh Binh nhất tài xế Lê Văn Tới. Thầy trò tôi tạm trú trong một căn lều trung đội, nơi cửa lều có cây ăng ten 292, trong lều có cái bàn gỗ, trên đó là ba cái máy PRC 25. Trong khi ông Ba và ông Tới lo trực máy và thổi cơm thì tôi vào phòng thuyết trình của liên đoàn để thăm ông trung tá liên đoàn trưởng.

Ðây là lần đầu tôi giáp mặt ông Trung tá Nguyễn Thành Tiên. Ông Trung tá Tiên mới từ trong Nam ra, nhận chức vụ chỉ huy liên đoàn này không lâu.

Người tiền nhiệm của ông Nguyễn Thành Tiên là Trung tá Dương Ðức Mai thì tôi quen. Ðây cũng là lần đầu tôi biết mặt ông Thiếu tá Phú trưởng Ban 3 của liên đoàn. Sáng ngày 16 tháng 3, hai toán viễn thám báo cáo không có chỉ dấu gì, nhưng tiền đồn của Tiểu Ðoàn 95 Biệt Ðộng Quân ghi nhận đang bị địch pháo kích. Vừa lúc đó thì chiếc trực thăng dành cho viễn thám đáp xuống bốc tôi đi. Máy bay của tôi vừa ngóc lên cao khỏi ngọn cây thì Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 22 Hành Quân bắt đầu lãnh pháo của Việt-Cộng!

Tôi bay về hướng Bắc được chừng năm cây số thì đã thấy khói trắng, khói đen bay lên cuồn cuộn từng cột. Ba, bốn ngọn đồi cao nằm sát bờ sông Dak Bla cùng bị địch tấn công một lúc, với đủ loại pháo. Trận đánh mới mở màn, Việt-Cộng đã sử dụng tối đa hỏa lực pháo nặng, nhẹ, để áp đảo quân ta. Ðịch bắn không tiếc đạn, số trái phá rơi trên những ngọn đồi mục tiêu phải nói là hàng ngàn trái đủ loại. Từ trên cao, tôi thấy hàng chục vị trí súng địch nằm lộ thiên trong khu vực bình nguyên hướng Ðông suối Dak Lang.Ðịch đã tiến quân theo trục lộ song song với suối Dak Lang. Con đường này nối Quốc Lộ 14 với Kon Sơm Luk do chúng mới thiết lập được cách nay không lâu. Trên vùng, phòng không của Việt-Cộng đan nhau chằng chịt như đan lưới, vì thế tôi cứ phải thập thò xa xa, không dám xáp tới gần. Vào giờ đầu trận chiến thì trên trời Kon Sơm Luk đã có một chiếc trực thăng bay vòng vòng.

Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

18. Xứ Do Thái – Một Cuộc Địa Chấn

TÔI từ giã Ba Lê bay tới xứ Do Thái để gặp má của Rita, đồng thời cũng muốn biết rõ một quốc gia với một dân tộc mãi bị ngược đãi, hiện đang thực hiện nhiều kỳ công được thế giới thán phục.

Thành thật mà nói, tôi rất hoài nghi. Tôi xem Do Thái là một dân tộc nô lệ vào tôn giáo, các tu sĩ bắt buộc dân chúng phải theo quan niệm và lối sống của họ.

Phi cơ hạ cánh ở Tel Aviv. Tôi đi đến gần Haifa, tại một làng dọc bờ biển tên là Tel Hanam, nơi mẹ của Rita ở.

Quả thật tôi nhận thấy ngay thanh niên thiếu nữ xứ ấy không phải là đồ bỏ.Tất cả các tài xế tắc xi ít ra cũng nói được một ngôn ngữ, đôi khi hai, ngoài tiếng hébreu. Người đầu tiên tôi gặp chỉ nói tiếng Anh. Phải đến ba phút mới tìm một tài xế nói tiếng Pháp hoặc Tây Ban Nha. Rồi tôi đi trong một chiếc tắc xi cũ kỹ do một người trẻ lái, nói thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng Tây Ban Nha. Tôi bắt chuyện:

– Anh từ đâu đến?

– Tôi sinh ở Casablanca và tôi đã có bằng tiểu học. Tôi là người Separdi. Đó là giống người Do Thái bị nữ hoàng Tây Ban Nha Isabell người Công giáo trục xuất. Tôi học trường Pháp, nhưng nói tiếng Tây Ban Nha như cha mẹ tôi.

– Anh đến đây lâu chưa?

– Mười năm. Tôi đến đây với cha mẹ tôi, một bà nội, hai em gái, chúng tôi sống đàng hoàng, mọi người đều làm việc, chúng tôi ở nhà chúng tôi, trên đất chúng tôi. Chúng tôi đều học tiếng hébreu. Tại sao? Chúng tôi phải có một ngôn ngữ chung bởi vì Do Thái là một dân tộc gồm tất cả mọi người Do Thái trên thế giới. Mỗi người mang theo ngôn ngữ của mình, nếu không có một ngôn ngữ cho tất cả mọi người, thì biết làm sao?

– Anh làm việc cho anh? Tắc xi này của anh?

– Không, tôi không đủ tiền mua một chiếc tắc xi.

– Đắt lắm phải không?

– Rất đắt, gần 50.000 quan.

– Thế thì ở đây cũng như các nơi, có kẻ giàu người nghèo?

– Ở đây có người giàu đúng, nhưng không có người nghèo vì không phải đi xin việc làm hay tiền bạc.

– Còn người già cả?

– Chính phủ lo cho họ chu đáo. Họ có tiền cấp dưỡng và một căn nhà nhỏ có vườn.

– Anh có nhà không?

– Chưa. Các cấp lãnh đạo chính quyền là người Do Thái gốc Ba Lan có ý kỳ thị đối với người Do Thái gốc Tây Ban Nha.

– Lạ nhỉ! Các anh đáng lẽ không có vấn đề kỳ thị chủng tộc.

Anh ta cười.

– Đúng vậy, nhưng biết làm thế nào. Chuyện này không hay ho gì. Nhưng qua thế hệ sau không còn tình trạng này nữa, vì tất cả đều là người Sabras.

– Thế những người Sabras hiện hữu, họ không có óc tôn chủng chứ? Sabras là những người sinh trưởng trên đất Do Thái, có phải vậy không?

– Vâng. Nhưng họ cũng có óc tôn chủng. Họ tự cho hơn người khác và có nhiều quyền lợi hơn người khác vì họ sinh trưởng trên đất Do Thái.

– Thế là mọi sự không toàn màu hồng trong xứ anh.

– Đúng, nhưng chúng tôi quên hết một khi chúng tôi hoạt động với tư cách người Do Thái, nghĩa là chúng tôi làm việc để có một nền kinh tế và một nền nông nghiệp thịnh vượng cơ sở trên công sức của chúng tôi.

– Các anh nhận nhiều tiền của những người Do Thái ở ngoại quốc?

– Tiền ấy không phải chỉ dùng để nuôi sống dân chúng mà được dùng để xây dựng kỹ nghệ, để dẫn nước vào sa mạc, để trồng hoặc kiến thiết tất cả những gì ích lợi cho tập thể.

– Anh yêu tổ quốc anh chứ?

– Tôi sẵn sàng chết cho tổ quốc của tôi.

– Trong người anh cái gì mạnh nhất, có phải lòng cuồng tín về tôn giáo không?

– Không, tôi là người Do Thái nhưng ở nhà chúng tôi ít theo những điều răn dạy của tôn giáo Do Thái. Anh biết không, phải hiểu rằng không nước nào trên thế giới chúng tôi được hoàn toàn bình đẳng với những người khác. Tôi có một người cha đã tham chiến với người Pháp và quân đội Maroc thế mà vẫn có một thằng ngu, hoặc người Pháp hoặc người Ả Rập mắng Ông là người Do Thái bẩn thỉu.

– Đồng ý, nhưng một người không đại diện cho một xã hội.

– Đúng vậy, nhưng khi người ta đã hy sinh tính mạng, đã mặc quân phục của một quốc gia, người ta phải được kính nể ngang hàng với mọi người.

– Đúng.

Đây là Haifa, trong mười lăm phút nữa chúng tôi sẽ đến Tel Hanam.

– Anh biết địa chỉ này chứ?

– Không người ta sẽ chỉ cho.

Mười giờ tối chúng tôi đến Tel Hanam, ngoại ô lớn rộng của Haifa. Đường phố đầy người, thanh niên, thiếu nữ đi từng đoàn, đủ mọi lứa tuổi. Họ cười, họ hát, họ chọc nhau, họ hôn nhau. Nhìn thấy những đứa trẻ 13, 14 tuổi ôm nhau, không mặc cảm chơi trò tình yêu trước mặt mọi người trong lúc còn quá trẻ, bỗng tôi có cảm tưởng trông thấy một cái gì rất mới lạ.

Tôi hỏi địa chỉ.

– Ở chỗ kia. Nhưng phải xuống xe ở đây, tắc xi không thể đến sát cổng tòa nhà, phải leo bậc cấp mới đến nhà.

Tôi trả tiền xe, một thanh niên tự động cầm va li của tôi, rồi rất vui vẻ, ba cô gái cùng ba chàng trai đi theo chúng tôi.

– Ông ở xa đến phải không?

– Từ Venezuela. Có biết xứ ấy không?

– Dĩ nhiên là biết. Ở Nam Mỹ.

– Lạ nhỉ? Em nói tiếng Pháp?

– Tôi là người Pháp, thằng kia cũng vậy, thằng kia là người Tanger, còn thằng kia là người Maroc.

– Còn mấy cô bé?

– Cả ba người đều gốc Ba Lan.

– Mấy cô ấy đẹp quá. Vị hôn thê của các cậu phải không?

– Không. Bạn tốt.

– Các cô cậu nói chuyện với nhau bằng tiếng gì?

– Tiếng hébreu.

– Nếu có người không biết tiếng hébreu thì làm thế nào?

– Ồ, Ông biết không, khi chơi, khi đi dạo với nhau, khi hôn nhau, khỏi cần phải biết tiếng hébreu, cậu bé xách va li cho tôi cười đáp. Vả lại, bây giờ chúng tôi không còn là người Pháp hay người gốc Ba Lan, tất cả đều là người Do Thái.

Đến ngôi nhà, cả bọn đều cùng tôi leo lên ba tầng lầu và chỉ từ giã tôi khi cánh cửa mở ra và má của Rita ôm chầm lấy tôi.

Xứ Do Thái kỳ lạ, quả là một quốc gia kỳ lạ đáng được tìm hiểu! Mặc dù rất cảm động khi gặp lại má của Rita cùng tất cả những gì bà kể cho tôi nghe và tôi kể cho bà nghe, tôi không ở luôn ngày trong nhà. Tôi đi chỗ này, chỗ nọ, tôi có ngay những người bạn mới, nhất là người trẻ, cần cho tôi hơn người già.

Và tôi đã khám phá ra lớp người trẻ xứ Do Thái. Họ không ngoan hiền hơn những người khác, họ thích sống, thích xe gắn máy, chạy đua như điên, thích bạn gái, vui đùa, khiêu vũ. Nhưng điều tôi tìm thấy nơi phần đông là niềm tin tưởng, do những người dạy dỗ họ đã đem đến cho họ, rằng cần phải biết nhiều ngôn ngữ, phải học một nghề vững vàng để sau này kiếm ăn đàng hoàng, nhất là để trở nên một phần tử tích cực và hữu ích cho xứ sở. Tôi đã trông thấy nhiều thanh niên sẵn sàng hy sinh để được hãnh diện đóng một vai trò xứng đáng trong xã hội. Họ không ham quyền cao chức trọng và tiền bạc hay xa hoa.

Tôi lại khám phá thêm điều này: người xứ Do Thái không ham tiền. Tại sao một dân tộc tỏ ra có óc kinh doanh cao độ trong các nước trên thế giới, hầu như chỉ sống để kiếm càng nhiều tiền càng tốt, lại có thể thay đổi hoàn toàn một khi họ trở về xứ sở của họ?

Nhưng dù sao, để biết ý chí cương quyết của một thanh niên đến mức nào, tôi hỏi anh, với nghề chuyên viên giỏi của anh, lương anh được bao nhiêu. Anh cho tôi biết một số tiền rất khiêm nhường, không được 200 Mỹ kim một tháng.

– Anh biết không, với nghề của anh, ở Venezuela anh lãnh năm lần hơn.

Anh vừa cười vừa đáp rằng ở Pháp người ta sẵn sàng trả bốn lần hơn, nhưng anh không thích, ở đây, anh được tự do, sung sướng và nhất là anh ở trong xứ anh.

Anh này cũng không theo đúng các nghi lễ tôn giáo, chỉ những gì hết sức cần thiết mà thôi. Anh không ưa mấy người Do Thái già râu ria, đội chiếc mũ nhỏ màu đen, nhất là các giáo sĩ gốc Ba Lan, rất hẹp hòi, muốn nhốt mọi người trong xích xiềng tôn giáo. Anh thích chủng tộc của anh, nhưng phải là lớp người trẻ, thể thao, tự do, sẵn sàng làm tình không chút mặc cảm. Anh khoái cuộc sống chung chạ giữa trai với gái. Mỗi thành công của dân tộc anh trong bất cứ địa hạt nào, kỹ nghệ hay nông nghiệp, đều là của anh và đều làm cho anh vô cùng hân hoan.

Phải nói rằng vì vấn đề ngôn ngữ, tôi chỉ nói chuyện thật sự với những người trẻ từ Pháp, từ Bắc Phi hay từ Tây Ban Nha đến. Một anh giải thích rằng, về phương diện chính trị, anh có xu hướng xã hội như đa số bạn bè của anh. Một anh khác, người Maroc, cho biết anh không thù ghét gì người Ả rập và anh hiểu rõ rằng vì mục đích tuyên truyền và vì vấn đề quyền lợi nên người Ả Rập đã trở thành kẻ thù. Anh rất hiểu điều ấy và nói với một giọng trìu mến về thời kỳ còn ở Casablanca, anh nói chuyện và vui chơi với những đứa bé Ả Rập trên đường phố, hai bên không có vấn đề gì hết. Anh nói anh rất thắc mắc và cho rằng tình trạng đố kỵ hiện nay là do những người không phải Ả Rập cũng không phải Do Thái tạo ra.

– Tại sao người Ả Rập tiến đánh chúng tôi, bởi vì những tin đồn về một cuộc chiến tranh đang lan tràn trong mấy ngày cuối tháng 5 năm 1967 này. Để chiếm các sa mạc chúng tôi đã trồng trọt? Họ không có những diện tích đất bỏ hoang mênh mông trên lãnh thổ của họ sao? Họ nói đến nền tự do của thế giới Ả Rập, đến nền độc lập của họ nhưng để tiến hành cuộc chiến tranh này với hy vọng sẽ thắng. Họ nhào vào vòng tay của người Nga. Thế mà người Nga khác nhiều với người Ả Rập hơn là người Do Thái là một người anh em họ nội.

Tuy nhiên, anh ta là người theo chủ nghĩa Do Thái tự trị, cực đoan, tôi và các bạn anh đều nhận thấy điều đó.

Tôi đến để thăm má của Rita, nhưng cũng để nghiên cứu các hợp tác xã Kibboutz, hình thức tập san, cùng cách quản trị các hợp tác xã ấy? Từ đầu, tôi đã quan tâm đến vấn đề này nhưng nhất là vụ tôm hùm bị thất bại ở Maracaibo, lúc bây giờ tôi thường tự nhủ, nếu công việc trôi chảy, tôi sẽ tạo dựng một cái gì tương tự như hợp tác xã Kibboutz cho các ngư phủ của tôi cũng như cho các ngư phủ khác, nhất định sẽ đem đến cho họ một mức sống và một nếp sinh hoạt cao hơn.

Không những tôi kinh ngạc vì những thành tích họ đạt được mà còn vì nhận thấy tình trạng an sinh của các tập thể nho nhỏ ấy.

Tôi có đến thăm nhiều loại khác nhau.

Tôi xúc động nhận thấy trong các cộng đồng ấy, mỗi người có một công việc. Ai cũng làm việc. Cộng đồng rất phồn thịnh nếu là một Kibboutz về nông nghiệp thì sau khi bán các nông phẩm, mỗi người hưởng kết quả như nhau. Nhưng có lẽ điều khiến tôi xúc động nhiều nhất là thấy các giáo sư, các y sĩ danh tiếng, các luật sư ban ngày ra thành phố làm việc, tối lại trở về. Họ bỏ tiền họ làm ra trong ngân quỹ chung.

Tôi cũng đi đây đi đó, với tính cách du khách. Haifa là một đô thị quan trọng. Một hải cảng nhiều xe cộ; đường phố vui tươi. Đêm rất nhộn. Tôi đã đến nhiều hộp đêm và cũng tìm thấy nhiều quán rượu có gái. Tại đây, thật là đáng phục. Trước hết các cô gái biết từ ba đến năm thứ tiếng, còn vấn đề lột khách hàng; các nàng cừ hơn nữ chiêu đãi viên bất cứ nước nào. Một ly bạc hà giá 4 Mỹ kim, với tốc độ các nàng uống và gọi ly khác, người ta nên đi ra gấp nếu còn muốn giữ lại trong túi vài Mỹ kim.

Thế là điều tôi nhận thấy ở xứ Do Thái là không bắt buộc phải tuân theo kỷ luật, đời sống thật sự tự do, mỗi người vui chơi hay làm việc tùy thích. Không có hành khất trên đường phố. Không có một người dù già hay trẻ.

Và tôi cũng thấy nhiều chuyện buồn cười. Tại bến xe buýt, vài chục người đang chờ. Nếu xe của người Ả Rập đến trước, họ có lên hay không? Có những người Do Thái không phân biệt gì hết, họ leo lên, nhưng có những người giải thích cho những người không lên xe rằng có công việc rất gấp không thể chờ xe buýt của người Do Thái.

Anh Ả Rập, với tấm mạng che mặt, nghiêm trang như một vị giáo hoàng, nhận tiền xe mà không nói cám ơn rồi xe chạy.

Chuyện kỳ lạ khác nữa, trong một xứ mà ngày xưa chúa Jésus đi câu, người Do Thái bây giờ bán cho các người Thiên Chúa Giáo những chai nước có đánh dấu thánh giá kèm theo một mảnh giấy có chữ ký một vị Giám Mục chứng nhận chính là nước sông Jourdain, nơi ngày xưa chúa Jésus câu cá. Họ cũng bán những gói đất Thánh. Những người này cũng có giấy chứng nhận của một vị Giám Mục. Mỗi chai và mỗi gói giá hai Mỹ kim, buôn bán như vậy khá phát tài vì đất không phải mua và sông Jourdain luôn luôn có thừa nước.

Tôi ở đây đã mười lăm ngày. Tôi đã sưu tập đầy đủ về cách quản trị một nông trại tập thể.

Người ta loan báo trong tuần này sẽ có chiến tranh. Tôi thấy không cần dính líu vào cuộc xung đột này chút nào, hoặc bị hy sinh vô lối nhưng khi tôi đến Hàng không Pháp để lấy vé gấp, người ta cho biết tất cả các chuyến bay đều dành cho đàn bà và con nít. Cuối cùng tôi tìm được một chiếc phi cơ bay từ Sabena qua Belgrade, tôi sẽ đi chiều mốt.

Trong hai ngày tôi chứng kiến công cuộc phòng thủ chống oanh tạc. Tôi thấy người ta lấy hết đồ đạc trong các phòng cất đồ đạc ở tầng dưới các tòa nhà ở Tel Hanam, vì ở đây không có hầm mà chỉ có phòng cất đồ trong mỗi căn nhà. Dân chúng không sợ hãi, cũng không lo lắng. Họ làm việc rất bình tĩnh. Chỉ có Má của Rita vì già cả nên có phần hốt hoảng.

Người ta cũng đào hầm. Mọi người đều tham gia, kể cả đàn bà và con nít.

Nhiều chiếc xe buýt đến chở những người đàn ông trong khu phố.

Một trung sĩ tay cầm một danh sách gọi tên những người phải đi. Trước khi lên đường họ điểm danh một lần nữa và nhận thấy bảy, tám người trội hơn số trong danh sách, những người đã lén đứng vào hàng ngũ tuy không được gọi. Đó là dấu hiệu tốt cho tương lai, không ai tìm cách trốn tránh.

Tôi đi Belgrade với hi vọng giờ phút chót chiến tranh sẽ tránh được. Hai ngày sau tôi bay từ Belgrade qua Caracas. Ngồi trên máy bay, đầu óc tôi còn đầy ắp các hình ảnh của cuộc viễn hành, hình ảnh theo đuổi tôi mãi, chi phối tất cả là hình ảnh tất cả các con đường nhỏ ở Titériade với những con lừa, những người Ả Rập, những kiến trúc Ả Rập, những người Do Thái, những người Ả Rập Thiên Chúa Giáo, những ngôi chợ, những người bán nước, những con đường mà ngày xưa Chúa Jésus đã đi chân không đến sông Jourdain tắm hoặc câu cá, cũng giữa những ngôi nhà ấy, trên những phiếm đá lót đường ấy, cũng những giếng nước ấy, những tiếng kêu ấy, những câu cãi vã ấy, những giọng ca hát ấy. Cảm tưởng ấy đã sâu đậm đến nỗi đã hằn mạnh vào một đứa vô thần như tôi.

Máy bay hạ cánh nhẹ nhàng xuống phi trường Caracas. Rita chờ đón tôi, vừa hôn tôi nàng vừa nói:

– Suýt nữa anh gặp chiến tranh.

– Chiến tranh hả? Tại sao lại có chiến tranh nhỉ? Phải hết lòng mong mỏi chiến tranh không xảy ra.

– Rồi, Henri, nó bắt đầu đã ba giờ rồi.

Sau sáu ngày cuộc chiến tranh chấm dứt. Má của Rita không hề gì và chúng tôi thanh thản đi vào tháng 7.

Công việc làm ăn của chúng tôi tiến triển khả quan, hai chúng tôi vui hưởng hạnh phúc, và từ Pháp trở về tôi đã mang theo một bó hoa khô héo nhiều đến nỗi mỗi ngày lấy ra một đóa hoa, tôi có cả một kho tàng vô tận, mẫu chuyện làm tôi suy nghĩ đến mãn đời.

Trong những năm gần đây tôi không ngớt nghĩ đến tương lai (vì phải nghĩ đến tuổi già chứ) tôi nhìn tương lai mà không chút lo sợ. Vì tôi đã dữ liệu những biện pháp để khi đến tuổi già khỏi phải túng thiếu, nên mọi việc tiến triển bình thường.

28 tháng 7 năm 1967, năm kỷ niệm thứ 400 ngày thành lập thành phố Caracas.

Tám giờ tối, tôi vừa đi qua bật đèn néon trong quán rượu ở ngay trước một tòa nhà tám tầng, trong đó chúng tôi có một căn nhà lớn ở tầng thứ sáu. Cửa sổ nhìn ra bao lơn, hai bộ đèn trên trần sáng rực rỡ, Rita với tôi đang ngồi cạnh nhau trên ghế dài xem một chương trình truyền hình.

– Tốt đẹp quá, Henri nhỉ?

– Rất tốt đẹp em ạ. Tháng 6 cũng vậy. Em mệt lắm không?

– Không, em vẫn khỏe. Ô, trời ơi…

Một con quái vật làm cho tòa nhà rung rinh như một chiếc xe vận tải nhảy lên nhảy xuống trên con đường đầy ổ gà, một thứ khủng long đu đưa tòa nhà từ trái sang phải, từ trước ra sau, các bộ đèn treo trên trần chạy qua chạy lại như quả lắc đồng hồ, nền nhà biến thành một tấm ván trượt tuyết, nghiêng bên này, bên kia quá ba mươi độ, hai con chó trợt trên nền gạch đánh xi từ vách bên này sang vách bên kia căn phòng, các bức tranh rơi xuống, các vách tường nứt ra như những trái lựu quá chín, chiếc máy vô tuyến truyền hình nổ tung, bàn ghế đi dạo như thể dưới chân có bánh xe, một tiếng gầm thét lớn hơn tiếng sấm sét trong các rạp hát, tiếng đổ vỡ khắp nơi, tiếng thét kinh hãi của chị vú Maria cùng những tiếng thét từ bên ngoài vọng vào, và hai chúng tôi, Rita với tôi ôm nhau, đeo vào nhau, má kề má, chờ đợi từng giây, từng giây, mọi vật đổ ào trên đầu chúng tôi và lôi cuốn chúng tôi theo…

Cơn khủng khiếp kéo dài đúng ba mươi lăm giây. Trước kia tôi tưởng tám phút của trái bom ám sát Betancourt dài nhất, nhưng nay thật là vô nghĩa đối với những giây đồng hồ này.

Tất cả những gì quay cuồng, đổ vỡ, lăn lóc, vừa ngưng lại, chúng tôi liền nắm tay nhau chạy ra cầu thang. Trong nháy mắt, chúng tôi đã xuống hết sáu tầng lầu, hai con chó và Maria cũng chạy ra đường một lượt với chúng tôi.

Trên đường phố, hằng trăm người thét lên vì kinh hãi, vì sung sướng đã còn sống sót sau trận địa chấn sáu, bảy độ Richter.

Rồi những người đã ở ngoài đường phố từ khi cuộc địa chấn bắt đầu và đã ẩn trú giữa lòng đường để khỏi bị các ngôi nhà đu đưa như những cây dừa đè bẹp, chạy lại siết chặt tay chúng tôi, và reo mừng nhờ có phép lạ, nên tòa nhà chúng tôi mới khỏi đổ nát như một lâu đài bằng giấy.

Đúng 20 giờ 41 phút, chúng tôi lại bị một luồng địa chấn thứ nhì, kéo dài mười giây.

Không ai dám trở vào nhà, chúng tôi cũng như những người khác. Có thể có những luồng địa chấn khác và tất cả có thể đổ xuống.

Chúng tôi phải ở trên mặt đất tại chỗ này, hai chân bám chặt vào đất, trên đầu chỉ có trời xanh ở đây, ăn ngủ và chờ đợi.

Tuy vậy, chúng tôi vẫn đến quán rượu của chúng tôi, trong biệt thự nhỏ phía bên kia đường, tin chắc sẽ chứng kiến một thảm họa. Không sao hết. Nửa tá chai rơi từ mấy cái bệ trong quán rượu, chỉ có vậy. Điện vẫn sáng, điện thoại vẫn chạy. Thay vì phải đi xuống sáu tầng lầu, ở đây chỉ đi sáu bậc cấp là đến đất. Cũng có thể nhảy ngả cửa sổ khi có các luồng địa chấn đầu tiên. Tôi nói với Rita:

– Cưng ạ, chúng mình ở đây. Chúng ta cũng có thể tiếp nhận một ít người cần đến đây.

Nàng đáp ngay:

– Chúng mình may không thể tả, anh ạ.

Rồi chúng tôi ôm nhau, chúng tôi hôn nhau, chị vú hôn mấy con chó, chúng tôi hôn chị vú, mấy con chó, mấy người láng giềng, con gái chúng tôi vừa chạy đến, mặt trắng bệch.

Chúng tôi trở xuống đường để nghe tin tức, nhiều tòa nhà đã đổ, tòa nhà nào? Tòa nhà này, tòa nhà kia, một cái lớn một cái nhỏ. Chúng tôi đi xem những đống đá khổng lồ là tất cả những gì còn lại của các tòa nhà từ mười hai đến mười lăm tầng. Lính cứu hỏa đã đào bới các đống gạch đá để xem may ra có ai sống sót. Đây là công trường Alfamira, một khu phố Caracas, trước một tòa nhà đồ sộ bị cắt làm đôi. Một nửa bị đổ nát hoàn toàn, nửa kia nghiêng hết sức nguy hiểm, có thể nhào xuống bất cứ lúc nào. Vợ người bạn tôi, anh Jean Mallet de la Trévanche, Giám Đốc Pháp Tấn Xã ở Caracas, ở trong ngôi nhà ấy. Chỉ có một mình chị ấy trong nhà, vì anh ta gặp địa chấn ngay ngoài đường phố lúc đang lái xe. May hết sức, chị ấy vẫn còn sống bước ra khỏi phân nửa căn nhà chênh vênh.

Tôi đang rầy la Ông Trời đã gieo thảm họa, bỗng nhiên thấy trước tòa nhà hai anh em Ducourneau, bạn tôi. Tôi gọi như thường ngày:

– Sao, anh em Ducourneau! Hai anh cũng thoát nạn hả. Hoan hô.

Họ chậm rãi đi về phía tôi, vẻ mặt nghiêm trọng, đôi mắt đầy lệ:

– Henri, Rita, anh chị thấy đống gạch đá này chứ? Dưới đó, có ba má chúng tôi, bé gái của chị và chị người làm.

Chúng tôi ôm hai anh em trong vòng tay, khóc nức nở. Chúng tôi rút lui khỏi nơi khủng khiếp ấy. Tôi nói với Rita: “Chúng ta nên cảm ơn Thượng Đế, đã rất đại lượng đối với chúng ta”.

Quả vậy, ngày hôm sau, trong các câu chuyện ghê rợn người ta kể lại, chúng tôi được nghe thảm cảnh của gia đình Azerad, cư ngụ trên tầng thứ tám tòa nhà Edificis Neveri. Ông cha, bà mẹ và bốn đứa con đang ngồi quanh một chiếc bàn dùng cơm tối thì tòa nhà sụp đổ ngay từ luồng địa chấn đầu tiên. Như bị đất cuốn hút, tòa nhà gập đôi lại và gia đình Azerad bị kẹt dưới đống gạch đá, trong thế ngồi gần như lúc họ ngồi ăn quanh chiếc bàn, bà mẹ và ba đứa con cách người cha và đứa con thứ tư bởi một khối bê tông đã đè bẹp họ. Họ không chết ngay, giây phút cuối cùng của bà mẹ và mấy đứa con thật khủng khiếp.

Người chồng và người vợ hấp hối nhưng không bất tỉnh. Trong bóng tối, họ còn nói với nhau nhưng không thấy nhau. Ngực bị dập nát, bà đã chứng kiến ba đứa con chết bên cạnh bà, có một đứa mới tám tháng. Có một lúc bà nói: “Thằng bé vừa chết”, rồi vài giờ sau: “Bây giờ thằng kia chết rồi”. Sau đó là im lặng, bà không trả lời chồng bà nữa. Nàng cũng vừa chết.

Ông cha, Jean Claude Azerad, 38 tuổi và đứa con thứ tư, Rémy, được đào lên, trong tình trạng hôn mê, bảy mươi hai giờ sau. Người ta đã tìm cách lôi ra và cứu sống hai cha con. Bé Remy bị cắt hết một chân. Ông cha phải chịu nhiều lần giải phẫu, vì bị gẫy xương khắp nơi và bị thương nặng ở mông. Ông cha giải phẫu lần đầu ở Caracas; Bác sĩ Bénaim giải phẫu ông ta theo sự chỉ dẫn bằng tín hàm và bằng điện thoại của giáo sư Hamburger thuộc bệnh viện Necker ở Ba Lê, nhà chuyên môn danh tiếng về khoa giải phẫu thận, cuộc giải phẫu thành công, nhưng ông Azerad chỉ muốn chết nên không thích được chữa trị. Phải nhiều tuần lễ, người ta mới thuyết được ông phải sống vì bé Remy.

Trong hơn một tuần lễ, thiên hạ ngủ trong xe, trong công viên, trên các ghế đá, tại các công trường, nhưng vẫn ở ngoài trời. Mặt đất lâu lâu còn rung chuyển, rồi sau cơn bão tố, cảnh thanh bình trở lại mọi người. Trong cảnh thanh bình, người người lấy lại niềm tin và về lại dưới mái nhà. Chúng tôi cũng làm như mọi người.