Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 8 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

17. Montmartre – Vụ Án Xử Tôi

NĂM 1967, tôi được hết hạn quản thúc. Tôi sang Pháp một mình. Không thể giao cho một ai điều khiển cơ sở làm ăn của chúng tôi. Cần phải cương quyết, can đảm, được kính nể, mới duy trì một không khí lành mạnh, và chỉ có Rita mới làm được. Nàng bảo tôi:

– Anh cứ đi gặp quyến thuộc tại nhà họ, đến mộ ba rồi đi tiếp đến xứ Do Thái thăm má em hiện đã quá già.

Tôi vào nước Pháp qua ngả Nice. Mặc dù thông hành của tôi do chính quyền Venezuela cấp, có chiếu khán của tòa Đại sứ Pháp, tôi đáp chuyến bay Caracas – Madrid – Barcelone, rồi Barcelone – Nice. Tại sao lại Nice?

Cùng với tờ chiếu khán của tòa Đại sứ Pháp, tôi cũng có một văn kiện chính thức do ông Lãnh sự Pháp ở Caracas trao, tống đạt cho tôi án lệnh của Tòa Thượng Thẩm Ba lê triệt tiêu thời hạn quản thúc đối với tôi. Nhưng khi giao tờ chiếu khán cùng văn kiện ấy, ông Lãnh sự nói với tôi: “Hãy chờ tôi thỉnh thị bên Pháp để biết các điều kiện về việc hồi hương của anh”. Khỏi cần phải vẽ vời. Nếu tôi trở lại gặp ông Lãnh sự và nếu ông đã tiếp Ba lê trả lời, ông sẽ tống đạt cho tôi lệnh cấm lưu trú suốt đời trong hạt Seine. Thế nhưng tôi muốn đi một vòng qua Ba lê.Như vậy tôi sẽ tránh được sự tống đạt ấy và vì tôi không nhận, cũng không ký, nên không phạm luật. Trừ khi ông Lãnh sự biết tôi đã đi, nên yêu cầu Cảnh sát Phi cảng Ba lê tống đạt lệnh ấy lúc tôi đến. Thế nên tôi đi bằng hai chặn đường: tôi đến Nice như thể từ Tây Ban Nha đến.

1930 – 1967. Ba mươi bảy năm đã trôi qua.

Mười ba năm trên con đường khổ nhục, hai mươi bốn năm tự do, trong đó có hai mươi hai năm với một mái ấm gia đình, đã giúp tôi sống lương thiện sau khi được tái nhập vào hàng ngũ xã hội, nhưng không vì vậy mà tôi hoàn toàn sống có kỷ cương.

Năm 1956, tôi sống một tháng với người thân thuộc tại Tây Ban Nha, rồi một khoảng trống mười một năm; dù sao trong thời gian ấy, nhiều thư từ qua lại vẫn giữ được mối liên hệ sống động với gia đình tôi.

Năm 1967. Tôi gặp tất cả người thân thuộc.

Tôi đã vào nhà họ, đã ngồi vào bàn ăn với họ, tôi bồng con họ và cả cháu họ nữa. Grenoble, Lyon, Cannes, Saint Priest và cuối cùng Saint Péray; tại đây, trong nhà ba tôi, có Dì Ju, vẫn chung thủy với thiên chức như bao giờ. Tôi gói ghém cẩn thận các bức ảnh của ba má tôi, tôi hãnh diện nhận lãnh các huy chương ba tôi đã được ân thưởng năm 1914, tôi cất giữ như một vật quí giá cuốn sổ tiết kiệm mà ba tôi đã mở cho tôi một tháng sau khi tôi ra đời. Tôi đọc thấy: “Tháng 12 năm 1906, Saint Etienne de Lugdarès, Henri Charrière, năm quan”. Có những số tiền ký thác hai quan, ba quan, cả đến một quan, tượng trưng cho tình thương đối với một đứa con nhỏ; dù đứa con ấy không bao giờ rút số tiền ấy ra, nhưng những quan tiền ấy là cả hàng triệu quan bằng thương mến.

Tôi đã nghe Dì Ju kể lại vì lý do gì ba tôi đã chết trước tuổi. Ông tự tay tưới vườn và cầm bình tưới nước giờ này qua giờ khác trên một quãng đường dài hơn hai trăm thước. “Con cũng nhận thấy, đối với tuổi của ba! Đáng lẽ ông nên mua một ống cao su, nhưng không, ông cứng đầu như một con lừa, và bởi lẽ ông láng giềng không chịu đài thọ một nửa tiền vả lại ông biết khi có ống cao su, ông láng giềng sẽ dùng, thế nên ông ngoan cố tới cùng, rồi một hôm, trong khi ba con xách bình tưới nước, tim ba con đứng lại”.

Tôi thấy rất rõ, tôi trông thấy rất rõ ba tôi khệ nệ xách những bình nước tưới nặng trịch đến các luống rau, các cây cà chua, các cây đậu xanh.

Và tôi trông thấy ba tôi nhất định không mua cái ống cao su bất hủ ấy trong khi vợ ông, Dì Ju, ngày nào cũng yêu cầu ông nên mua đi.

Và tôi thấy ba tôi, ông giáo tỉnh lẻ ấy, đứng lại để thở, lấy khăn lau mồ hôi hoặc khuyên người láng giềng một câu, và chắc chắn là giảng một bài về thực vật học cho một đứa cháu đang dưỡng bệnh tại nhà ông ngoại vì ho gà hay đau quai bị.

Và tôi thấy ba tôi phân phát cả một phần hoa lợi cho những người không có vườn, và cột thành nhiều gói gửi đi khắp nước Pháp giúp bà con bè bạn trong thời kỳ chiến tranh, thực phẩm bị hạn chế.

Trước khi đến mộ ba tôi ở nghĩa địa, tôi xin Dì Ju đưa tôi đi dạo những nơi trước kia ba tôi thích.

Và chúng tôi đã đi theo nhịp bước của ba tôi trước kia, cũng trong những con đường sỏi đá hai bên có lau lách, hoa cúc, hoa mồng gà, cho đến lúc một cây trụ, một bầy ong, một con chim bay lên nhắc Dì Ju nhớ lại một diễn biến nhỏ trong quá khứ đã làm cho ba tôi với dì cảm động. Thế rồi, dì sung sướng kể lại cảnh bị một con ong vò vẽ chích thằng cháu ngoại Michel: “chỗ kia, anh thấy không, Henri? Ba anh đứng ngay tại chỗ đó”.

Cổ tôi khô ran vì khao khát muốn biết thêm, biết thêm nữa những chi tiết nhỏ nhặt về đời sống của ba tôi, vô cùng hân hoan được thấy ba tôi sống lại:

“Ju, em biết không, khi thằng con của anh còn nhỏ xíu, nhiều lắm là năm, sáu tuổi, trong khi đi dạo, bị một con ong vò vẽ chích, không phải một lần như Michel, mà hai lần. Thế mà nó không khóc, ngoài ra, anh đã khó nhọc hết sức mới giữ không cho nó tìm tổ ong vò vẽ để đập phá. Ồ, thằng Riri can đảm hết sức”.

Tôi không đi sâu hơn nữa vào tỉnh Ardèche, tôi không đi xa Saint Péray.

Tôi muốn đi cùng Rita trở về làng tôi, có lẽ phải đợi hai ba năm nữa.

Lòng còn tràn ngập kỷ niệm về thời dĩ vãng huyền diệu ấy, tôi bước xuống ga Lyon và gửi va li lại đó để khỏi điền vào phiếu của khách sạn. Đã ba mươi bảy năm qua, hôm nay tôi lại được đạp chân lên đường nhựa Ba lê.

Tuy nhiên, nhựa đường ấy chỉ là nhựa đường của tôi nếu tôi ở khu phố của tôi, tại Montmartre. Dĩ nhiên là tôi đến đó ban đêm. Anh chàng Papillon của những năm 30 chỉ biết mặt trời của những bóng đèn điện.

Và kia là Montmartre, công trường Pigalle, quán rượu Le Pierrot, ánh trăng đêm hành lang Elysée của trường Mỹ Nghệ, những người chơi bời, những tiếng cười, những gái điếm, những tên ma-cô nhìn bộ đi là biết ngay, những quán rượu đông nghẹt người, đứng cách nhau ba thước trước quầy hàng, vẫn nói chuyện với nhau. Nhưng đó là cảm tưởng đầu tiên của tôi.

Ba mươi bảy năm đã trôi qua, giờ đây không ai nhìn tôi. Nào ai để ý đến một người già đến nơi (60 tuổi)? Bọn gái điếm dám mời tôi lên nhà lắm và bọn thanh niên có thể vô lễ đến độ đẩy ly rượu tôi đi chỗ khác và lấy cùi chỏ thúc tôi để dành chỗ tôi ở quầy hàng.

Thêm một người ngoại quốc, một khách hàng, tương lai một kỹ nghệ gia tỉnh lẻ, cái ông khách quần áo bảnh bao, cà vạt đàng hoàng là vậy đó, một ông trưởng giả như trăm ngàn người khác, thêm một anh chàng trong giờ khuya khoắc này lạc đường vào trong quán rượu khả nghi này. Vả lại, người ta thấy ngay anh chàng ít hay đến vùng này, anh chàng có vẻ không được tự nhiên.

Đúng vậy, tôi không được tự nhiên, điều này rất dễ hiểu. Đâu còn những người cũ, những khuôn mặt cũ, người ta cảm thấy ngay rằng giờ đây tất cả đều mơ hồ, lộn xộn. Cảnh sát, gái điếm, ma-cô giả, bọn kẻ gian, bọn cựu phạm, người da đen và người A Rập, chỉ vài người dân Marseille hay dân Corse với giọng nói miền Nam nhắc tôi nhớ lại những ngày xưa cũ. Tóm lại, đây là một thế giới hoàn toàn khác hẳn thế giới tôi đã biết.

Không phải như thời của tôi, bây giờ không có những chiếc bàn từ sáu đến bảy thi sĩ, họa sĩ hoặc nghệ sĩ họp thành từng nhóm, tóc để dài sặc mùi lãng tử, tinh thần nổi loạn và trí óc tiên phong. Vả lại, bây giờ thì thằng chó nào cũng để tóc dài.

Và như một kẻ thụy du, tôi đi từ quán rượu này đến quán rượu khác, tôi leo lên các cầu thang để xem trên lầu nhất có còn các bàn bida của thời tôi còn trẻ hay không và tôi nhã nhặn từ chối lời đề nghị hướng dẫn tôi đi xem cho biết Montmartre. Tuy vậy, tôi vẫn hỏi:

– Từ năm 1930, phải chăng Montmartre đã mất hẳn linh hồn của Montmartre thuở nào?

Tôi muốn cho một tát tai khi nghe anh ta trả lời, quả là một lời nhục mạ xóm Montmartre của tôi.

– Không, thưa ông, Montmartre vẫn bất diệt! Tôi đã sống ở đây đã 40 năm, vì tôi đến đây lúc 10 tuổi, và tôi đoán chắc với ông rằng công trường Pigalle, công trường Blanche, công trường Clichy, tất cả những đường đi đến các công trường ấy vẫn như xưa, mãi mãi như xưa, không khí vẫn không thay đổi.

Tôi trốn chạy thằng ngốc ấy để đi bách bộ trên khoảng trống giữa đại lộ, dưới hàng cây. Đứng ở đó mà nhìn thì tuy không phân biệt khuôn mặt người đi đường, tuy chỉ thấy hình dáng mà thôi, nhưng Montmartre vẫn như xưa. Tôi bước chậm lại chỗ mà người ta cho rằng tôi đã giết Roland Legrand trong đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1930.

Chiếc ghế dài, có lẽ chiếc ghế cũ, mỗi năm được sơn lại (một ghế dài bằng gỗ dày như vậy có thể sống 37 năm), chiếc ghế vẫn còn đó, ngọn đèn điện vẫn còn đó, quán rượu trước kia vẫn còn đó, tường đá các ngôi nhà vẫn như cũ, các cửa sổ tòa nhà phía trước, khép hở, vẫn còn đó. Kìa, đá, gỗ, cây, kính hãy nói lên đi! Các người đã thấy lúc ấy các người đã hiện diện tại nơi đây vì bây giờ các người còn đang hiện diện các người là những nhân chứng đầu tiên duy nhất, trung thực nhất của thảm kịch đã xảy ra, các người biết rõ rằng thủ phạm đã bắn trong đêm hôm ấy không phải là tôi. Tại sao các người không nói?

Khách bộ hành hờ hững đi qua, họ không thấy người đàn ông 60 tuổi đang đứng tựa vào thân cây, chính thân cây này khi viên đạn súng lục được bắn đi.

Người đàn ông vuốt ve vỏ thân cây, có vẻ như anh ta xin lỗi vì trong mấy giây điên dại, anh đã không nói với thân cây những gì anh đã nói với những chứng nhân câm nín muôn đời: cây, đá của xóm Montmartre.

Năm 1930, tôi hai mươi ba tuổi, và tôi đang chạy trên đường phố Lepic, cũng con đường này hôm nay tôi bước những bước vững chắc. Vì tôi vẫn còn khỏe, còn mạnh, còn trẻ, vâng tôi còn trẻ và thật ra phải còn trẻ cả tinh thần lẫn vật chất mới không bị xúc động đến đứng tim chết ngay hoặc hét lên như một thằng điên.

Dù các người không muốn, người chết đã về, nó đã đẩy viên đá đậy nấp mồ nơi các anh đã chôn sống nó. Khách qua đường cận thị, các anh hãy dừng lại, hãy nhìn một người vô tội bị kết án vì một vụ ám sát đã xảy ra tại nơi này, trên mặt đất này, trước những thân cây, những viên đá này, các anh hãy dừng lại và hãy hỏi các nhân chứng câm nín kia, bảo chúng nó bây giờ nên nói đi. Nếu các anh cúi xuống, nếu các anh khẩn khoản, cầu xin chúng nó nói, các anh sẽ nghe như tôi đang nghe chúng nó thì thầm: “Không, cách đây ba mươi bảy năm, người này không có mặt tại đây trong đêm hai mươi lăm rạng ngày hai mươi sáu tháng ba, lúc ba giờ rưỡi sáng”.

Bọn hoài nghi sẽ la lớn: “Thế hắn ở đâu? Dễ quá, tôi ở quán rượu Iris, cách nơi này một trăm thước, quán rượu này thình lình có một anh tài xế tắc xi chạy vào nói: “Người ta vừa nổ súng ở ngoài kia”.

Bọn cảnh sát nói: “Không có”. Người chủ và người bồi của quán rượu Iris, bị cảnh sát giam lại, cũng nói: “Không có”.

Tôi nhớ lại cuộc điều tra, tôi nhớ lại vụ án, tôi nhớ lại vụ án, tôi không thể khước từ đối điện với dĩ vãng. Mày muốn sống lại dĩ vãng hả? Đã gần 40 năm rồi mà mày còn muốn sống lại cơn ác mộng ấy sao? Mày không sợ công việc ôn cố ấy sẽ khơi động ý chí phục thù đã từ bỏ lâu rồi sao? Mày có vững tin ở mày không, mày có chắc rằng một khi đã đắm mình trong vũng bùn ấy, mày sẽ không chờ trời sáng, các cửa hàng mở cửa để mua một chiếc hòm, nhét đầy chất nổ để làm cái việc mày đã biết, lật quyển điện thoại niên giám để xem số điện thoại của lão phó chưởng lý và tìm xem tên Golstein có còn sống và còn bán áo lông nữa hay không, hay là thế nào? Không, tôi hoàn toàn tin chắc rằng bọn ấy khỏi phải sợ tôi, nếu chúng chưa ăn phải sâu bọ thì chúng có chết rồi cũng mặc xác chúng.

Thế thì, cha nội ơi, xem lại tấn kịch hồi hộp như một vở tuồng danh tiếng, mà mày vừa là nhân vật chính, vừa là nạn nhân, không phải là chuyện khó. Ngồi đó đi, trên ghế dài màu xanh, chiếc ghế đã nhìn thấy vụ mưu sát ngay ở trước mặt đường phố Germain. Pilon, trên đại lộ Clichy, ngang quán rượu Le Clichy, nơi mà theo cuộc điều tra, tấn thảm kịch bắt đầu. Papillon, tại mày ngoan cố, tại mày đòi thằng Papillon 23 tuổi phải sống lại và kể cho mày nghe, mày sẽ được thỏa mãn.

Chúng ta đang ở trong đêm hai mươi lăm rạng ngày hai mươi sáu tháng ba, bây giờ là ba giờ rưỡi sáng. Một người bước vào quán rượu Le Clichy và hỏi bà Nini:

– Tôi đây, cô gái điếm đáp.

– Chồng cô vừa bị bắn một viên đạn vào bụng. Mời cô đi, anh ấy đang ở trong xe tắc-xi.

Nini vội vã cùng cô bạn đi theo người lạ mặt. Hai người bước lên xe tắc xi, trong xe Roland Legrand ngồi phía sau. Nini hỏi người lạ mặt ai đã đến bảo hắn gọi Nini đi theo hắn, thì hắn nói: “Tôi không thể nói”, rồi biến mất.

– Nhanh lên, đi đến bệnh viện Lariboisière!

Chỉ trong khi xe chạy, anh tài xế, một người Nga, mới cho biết người đi trên xe của anh bị thương, trước đó anh không thấy có gì hết.

Sau khi chở người khách đến bệnh viện, anh liền đến khai với cảnh sát những gì anh biết: hai người nắm tay nhau đã chặn xe anh lại trước số 17 đại lộ Clichy: chỉ có một người lên xe, đó là Roland Legrand. Người kia bảo anh đi đến quán rượu Le Clichy, người ấy sẽ đi bộ theo. Anh ta đã vào quán rượu, đã từ quán rượu đi ra với hai người đàn bà rồi đã biến mất. Hai người đàn bà bảo anh chạy đến bệnh viện Lariboisière: “Trên đường đến bệnh viện, tôi mới biết người đàn ông đã bị thương”.

Cảnh sát ghi cẩn thận lời khai trên, lại còn ghi thêm Nini đã khai rằng suốt đêm thằng bồ của nàng đánh bài trong quán rượu, nơi đó nàng ngủ một lần nữa với một người lạ mặt, rồi hắn chơi súc sắc và uống rượu tại quầy với nhiều người đàn bà, đều lạ mặt nữa, và Roland đã ra đi một mình sau những người kia. Trong lời cung của Nini, không có gì chứng tỏ đã có người đến tìm hắn. Hắn đã đi ra một mình, sau những người lạ mặt kia.

Một quận trưởng cảnh sát và một nhân viên cảnh sát, quận trưởng Gérardin và thẩm sát viên Grimaldi đã hỏi cung Roland Legrand khi hắn hấp hối, trước mặt mẹ hết hy vọng cứu sống. Tôi xin ghi lại phúc trình của họ, xin đừng nghĩ rằng tôi bịa ra vì phúc trình ấy đã được đăng trong một cuốn sách cố tình hãm hại tôi, do một quận trưởng cảnh sát Paul Romain đề tựa, tức là bảo đảm. Bản phúc trình như thế này. Hai nhân viên cảnh sát hỏi Legrand.

“Bên anh bây giờ có ông quận trưởng cảnh sát với mẹ anh, người quí hóa nhất đối với anh, Anh hãy nói sự thật. Ai bắn anh?

“Hắn đáp: “Papillon Roger”.

“Chúng tôi yêu cầu nó thề đã nói đúng sự thật. “Vâng, thưa ông, tôi đã nói sự thật”.

“Chúng tôi rút lui, để bà mẹ ở lại bên đứa con.”

Như thế là minh bạch, rõ ràng: trong đêm 25 tháng 3 năm 1930, người đã bắn là Papillon Roger.

Thằng cha Roland Legrand là một gã bán thịt ma-cô, khai thác con bạn gái của hắn là Nini, hai người sống chung tại số 4 đường Elysée des Beaux Arts. Đúng ra hắn không phải là người trong giới giang hồ, nhưng như tất cả những người lui tới xóm Montmartre, hắn biết nhiều người có tên Papillon, như tất cả những người trong giới giang hồ. Vì sợ người ta bắt lầm một tên Papillon khác chứ không phải tên Papillon sát hại hắn, một điều hắn không muốn, nên hắn nói rõ họ. Tuy hắn sống bằng nghề ma-cô, nhưng cũng như tất cả các tên ma-cô, hắn muốn cảnh sát trừng trị kẻ thù của hắn. Tóm lại, không những hắn cho hiệu xe, hắn còn nói rõ số xe. Một người tên Papillon, đúng, nhưng Papillon Roger.

Đứng tại nơi đáng nguyền rủa này, mọi việc ào ào kéo nhau trở về với tôi. Có lẽ tôi đã tự kể lại cho tôi nghe cả ngàn lần rồi về tập hồ sơ tôi đã thuộc lòng như một thánh kinh lúc tôi ở ngục tối, vì các luật sư đã đưa cho tôi và tôi có thì giờ khắc sâu vào trong đầu trước ngày ra tòa đại hình.

Thế là lời khai của Legrand trước khi chết, lời khai của Nini, vợ hắn. Cả hai không ai nói mày là thủ phạm.

Bốn người đi vào tấn kịch. Trong đêm xảy ra án mạng, họ đến bệnh viện Lariboisère để hỏi:

1 – Có phải đúng Roland Legrand là người bị thương không?

2 – Bệnh tình hắn như thế nào?

Được báo tin ngay lập tức, bọn cảnh sát cho kiếm bốn người ấy. Vì họ không trốn tránh cũng không thuộc giới giang hồ, nên họ đã đi bộ đến và cũng đi bộ về. Họ bị bắt khi đang đi trên đại lộ Rochechonart, và bị giữ ở quận Cảnh sát quận XVIII.

Bốn người ấy là:

Goldstein Georges, hai mươi bốn tuổi.

Dorin Roger, hai mươi bốn tuổi.

Jourmar Roger, hai mươi mốt tuổi.

Cape Emile, mười tám tuổi.

Các lời khai tại quận Cảnh sát quận XVIII, ngay hôm xảy ra án mạng, thật là tươi rói. Tất cả đều rõ ràng minh bạch.

Goldstein khai đã nghe một đám đông tụ tập lại nói có một người tên Legrand đã bị thương vì bị bắn ba phát súng lục. Nghĩ rằng có thể là bạn của nó, tên Roland Legrand thường lảng vảng ở xóm này, nó đi bộ đến bệnh viện hỏi thăm tin tức. Dọc đường nó gặp Dorin, rồi hai người kia và yêu cầu họ đi với nó. Mấy người kia hoàn toàn không biết gì về vụ này và không hề biết nạn nhân.

– Anh có biết Papillon không? Viên quận trưởng hỏi Goldstein.

– Có biết sơ sơ. Đôi khi tôi có gặp nó. Nó biết Legrand, đó là tất cả những gì tôi có thể nói.

Rồi sau ra sao? Papillon là nghĩa gì? Có đến năm sáu tên ấy ở Montmartre. Papillon, mày đừng có nóng. Hồi tưởng lại chuyện này, tôi vẫn còn hai ba tuổi và tôi đang đọc lại hồ sơ của tôi trong phòng tối của nhà giam Conciergerie.

Lời cung của Dorin: Goldstein có nhờ nó cùng đi đến bệnh viện Lariboisière để biết tin tức về một người bạn mà nó không nói tên. Nó vào bệnh viện với Goldstein và thằng này đã hỏi bệnh nhân Legrand có bị thương nặng không.

– Anh có biết Legrand không? Anh có nhớ một tên Papillon Roger không? Viên quận trưởng hỏi Dorin.

– Tôi không biết Legrand, không biết mặt cũng không biết tên. Tôi biết một người tên Papillon vì có thấy nó trên đại lộ. Nhiều người biết nó và nó có tiếng ghê gớm lắm. Tôi không bao giờ nói chuyện với nó. Tôi không biết gì hơn.

Đây cũng vậy, không có Papillon Roger.

Người thứ ba được chấp cung là Jourmar khai rằng Goldstein đã vào bệnh viện một mình với Dorin, khi ra có nói với nó: Chắc là một bạn của tôi.

Thế là, trước khi vào, nó không chắc chứ sao?

Viên quận trưởng hỏi:

– Anh có biết Papillon Roper và một người tên Legrand không?

– Tôi biết một tên Papillon thường lui tới xóm Pigalle. Tôi thấy nó lần cuối cùng cách nay ba tháng.

Thằng thứ tư cũng vậy. Nó không biết Legrand. Có biết một tên Papillon, nhưng chỉ biết mặt.

Bà mẹ cũng xác nhận trong lời khai đầu tiên rằng con bà có nói Papillon Roger.

Chỉ sau những lời khai đầu tiên ấy, tình trạng lộn xộn mới bắt đầu. Trước đó, mọi việc đều sáng sủa, rõ ràng và chính xác. Không có lời khai bậy bạ, không có cảnh sát, tất cả các nhân chứng chính yếu đã khai hoàn toàn tự do trước một quận trưởng khu phố mà không bị mớm trước, dọa dẫm hay hướng dẫn.

Kết luận: trong quán rượu Clichy, nơi có mặt Roland trước thảm kịch, chỉ có những người lạ mặt. Dù là tay chơi súc sắc hay chơi bài, tức là những người quen biết với Roland, họ đều là người lạ. Một điều lạ lùng và có phần khó hiểu, là đến cuối cùng, họ vẫn là những người lạ.

Điểm thứ hai: chính vợ Roland Legrand khai rằng Legrand đã đi ra khỏi quán rượu một mình và cuối cùng. Không có ai đến kiếm hắn. Không lâu sau khi hắn đi ra, hắn bị một người lạ mặt bắn bị thương, trước khi chết hắn biết rất rõ người ấy là Papillon Roger. Người đến báo tin cho Nini cũng lại là một người lạ, người này cũng sẽ luôn luôn là người lạ. Thế mà chính nó đã đỡ Legrand lên xe tắc xi liền sau khi có tiếng súng. Một người lạ không lên tắc xi, nhưng đi bộ theo đến quán rượu để báo tin cho Nini. Và nhân chứng quan trọng bậc nhất ấy sẽ mãi mãi là người lạ, trong khi tất cả những gì nó vừa làm chứng tỏ nó ở trong giới giang hồ, nó là người xóm Montmartre, nghĩa là cảnh sát phải biết. Quái gở.

Điều thứ ba: Goldstein, người sẽ trở thành nhân chứng buộc tội chính, không biết ai bị thương và đã đến bệnh viện Lariboisière để biết có phải là Legrand, bạn của hắn hay không.

Chỉ có các đặc điểm này về tên Papillon: nó tên là Roger và được tiếng rất ghê gớm.

Papi, có phải lúc hai mươi ba tuổi mày ghê gớm, nguy hiểm lắm không? Không, chưa nhưng có thể sẽ trở thành như vậy. Chắc chắn lúc bấy giờ, tôi là một thằng bé hư hỏng, nhưng cũng chắc chắn rằng lúc hai mươi ba tuổi (xin những ai hiện có hay đã có con tuổi ấy hãy suy nghĩ), tôi chưa thể vĩnh viễn trở thành một mẫu người nào đó được. Cũng chắc chắn rằng ở tuổi ấy, mới đến Montmartre chỉ có hai năm, tôi không thể là một bạo chúa hoặc một người đáng sợ của xóm Pigalle. Nhưng chắc chắn là tôi làm phiền trật tự công cộng, người ta nghi tôi tham dự vào các vụ làm ăn lớn, nhưng không lấy gì chứng minh được. Chắc chắn là người ta đã mời tôi nhiều lần và tra khảo khá nhiều 36 đường Orfèvres mà không khai thác tôi được gì, không một lời thú nhận, không khai một tên tuổi nào. Chắc chắn là sau tấn thảm kịch, thời ấu thơ của tôi, sau thời kỳ hải quân, sau khi chính quyền từ chối ghép tôi vào một địa vị xã hội ổn cố, tôi quyết định sống ra ngoài cái xã hội đầy trò múa rối và cho thiên hạ biết như vậy. Chắc chắn là, mỗi lần tôi bị bắt và bị tra khảo ở đường Orfèvres vì một vụ quan trọng tôi bị tình nghi dính vào, tôi chửi rủa nhục mạ đủ điều bọn viên chức hành hạ tôi, đôi khi tôi lại còn nói, một ngày nào đó, tôi sẽ ngồi vào chỗ bẩn thỉu của chúng và chúng sẽ lọt vào tay tôi. Thế thì chắc chắn là bọn cảnh sát bị nhục mạ cùng cực đã tự nhủ: “Thằng Papillon này, gặp dịp là cắt cánh nó ngay”.

Nhưng dù sao tôi cũng mới có 23 tuổi! Đời tôi không phải chỉ có thù ghét xã hội, thù ghét bọn cảnh sát tuân theo những luật lệ ngu xuẩn, mà cũng là một cuộc đời, một sự vui đùa triền miên, những gì linh động, tỏa ra như pháo bông. Tôi làm những chuyện bậy bạ nghiêm trọng, đúng, nhưng cũng có những chuyện bậy bạ không ác. Vả lại, khi bị bắt, trong lý lịch của tôi, chỉ có một án tích: 4 tháng tù treo về tội oa trữ. Không lý tôi bị xóa tên trong xã hội chỉ vì tôi đã nhục mạ cảnh sát và tôi có cơ trở thành người nguy hiểm? Vừa vừa thôi chứ! Nếu chính quyền Venezuela cũng phản ứng kiểu đó thì không khi nào quốc gia ấy cho tôi lưu trú, lại càng không bao giờ cho tôi nhập quốc tịch. Vì họ đã tiếp nhận một người 38 tuổi, nghĩa là ở vào tuổi khỏe nhất lại có một lý lịch có phần nặng nề: bị kết án lưu đày chung thân lúc 24 tuổi, về tội cố sát, hai lần vượt ngục, rất nguy hiểm.

Và tất cả bắt đầu từ đó, khi cảnh sát tư pháp phụ trách nội vụ. Người ta đi tìm mấy tên Papillon. Vì bạn ơi, lúc hai mươi tuổi, bạn tên là Papillon. Bạn chỉ từ bỏ biệt danh ấy từ ngày đến Venezuela. Có thể trong tương lai, bạn sẽ lấy lại nó.

Cả xóm Montmartre xôn xao vì người ta tìm kiếm tất cả những người có tên Papillon: Papillon nhỏ, Pussini Papillon, Papillon không sợ chết, Papillon Roger, vân vân…

Tên tôi là Papillon mà thôi, hoặc nếu người ta muốn nói rõ, Papillon ngón tay cắt, tuy họ tôi là Henri Antoine. Tuy vậy, tôi khỏi phải tiếp xúc với cảnh sát, tôi chuồn gấp, vâng, đúng vậy, tôi bỏ trốn.

Thế tại sao mày bỏ trốn, Papi, vì không phải mày là thủ phạm mà?

Bây giờ mày tự hỏi như vậy à? Không lẽ đến 60 tuổi, mày trở nên đần độn? Hay là mày quên rằng năm 23 tuổi, mày đã bị tra khảo nhiều lần tại đường Orfèvres? Mày không bao giờ ham chuyện đánh đập và các sáng kiến về tra tấn của cơ quan cảnh sát thời bấy giờ. Thùng nước trong đó người ta nhúng đầu mày cho đến khi mày bị ngộp thở, mày không biết mày đang ở đâu, bọn cảnh sát thọc vào hậu môn mày năm sáu lần, rồi để nguyên cho nó sưng, khiến trong nhiều tuần lễ mày đi như một tên chăn bò trên đồng cỏ Á Căn Đình, cục chặn giấy người ta dùng để chà trên móng tay mày cho đến lúc máu phọt ra và móng tay rơi khỏi ngón tay, những ống cao su người ta đập trên ngực mày để phổi mày bị sưng mày khạc máu ra miệng, những thằng cảnh sát nặng từ 80 đến 100 kí nhảy lên bụng mày để dùng bụng mày làm ván nhún. Không thể như thế được! Phải chăng vì mày có tuổi hay mày lú lẫn? Lúc bấy giờ tôi không chỉ có một mà một trăm, một ngàn lý do để bỏ trốn lập tức. Dĩ nhiên không trốn đi đâu xa, vì tôi không phải là thủ phạm. Tôi không cần trốn ra ngoại quốc, chỉ cần đi xa Ba Lê một chút là đủ. Người ta sẽ, nếu không bắt, thì cũng điểm mặt cái thằng Papillon Roger ấy là lúc đó chỉ một vòng tắc xi là mày đã trở về Ba Lê và thoát nạn! Không còn gì nguy hiểm cho hậu môn của mày, móng tay của mày hay là gì gì nữa.

Nhưng không bao giờ người ta biết được thằng Papillon Roger. Không có thủ phạm.

Rồi thình lình thủ phạm xuất hiện như một trò ảo thuật. Thằng Papillon Roger ấy phải không? Dễ ợt, người ta loại cái họ Roger và người ta tìm Papillon mà thôi, biệt danh của Henri Charrière tức Papillon. Trò ảo thuật đã xong, chỉ còn việc tìm đủ bằng chứng. Không còn là việc tìm tòi sự thật của một cuộc điều tra ngay thẳng và không oán thù của những thợ săn muốn kiếm thêm một con mồi cho bản thành tích của mình bằng bất cứ giá nào, mà là việc ngụy tạo một thủ phạm.

Bởi lẽ bọn cảnh sát chúng tôi, muốn xứng đáng được thăng cấp trong nghề rất cao quí và rất lương thiện của chúng tôi, phải thành công trong một vụ ám sát. Thế mà đương can có tất cả các điều kiện để được người ta chiếu cố. Trước hết là cấp chỉ huy của chúng tôi, tin chúng tôi, rồi đến ông dự thẩm cứu xét việc này, rồi đến mười hai ông phụ thẩm sẽ gán cho nó mười năm, tối đa. Nó trẻ, tập tễnh bước vào nghề ma-cô… Nhân tình của nó sẽ trở thành một gái điếm. Vì ăn trộm, nó bị cảnh sát bắt nhiều lần, nhưng đều thoát vì được hoặc là miễn tố hoặc là tha bổng, và chỉ có một lần nó bị xử bốn tháng tù treo về tội oa trữ.

Ngoài ra, thằng nhỏ rất cứng đầu, nó cho chúng tôi đi tàu bay giấy khi người ta bắt nó, nó thách thức nó nhục mạ chúng tôi, nó kêu con chó của nó là chiaphe (tên ông Tư lệnh Cảnh sát Ba Lê lúc bấy giờ), đôi khi nó nói với các đồng nghiệp của chúng tôi: “Mày nên nhẹ tay một chút khi tra khảo nếu mày muốn có ngày về hưu trí”. Những lời đe dọa sẽ trừng phạt chúng tôi vì các phương pháp hỏi cung “hiện đại” và “cẩn thận”, không khỏi khiến chúng tôi lo sợ.

“Cứ ra tay tới cùng đi bạn. Chúng ta được che chở tứ phía”.

Papi, mọi việc bắt đầu khốn nạn như vậy đó. Năm mày hai mươi ba tuổi, chúng bắt mày tại Saint Cloud, ngày 10 tháng tư, ba tuần lễ sau vụ ám sát; hai thằng cảnh sát ghê tởm bắt mày trong lúc mày đang ăn ốc bưu.

Ồ, chúng không nương tay chút nào. Chúng hết sức hung hăng, cố chấp, trì chí, say sưa, quỷ quyệt; rốt cuộc mày bị đưa ra trước tòa đại hình và bị một cái tát mà mãi đến 13 năm sau mày mới ngóc đầu nổi!

Phải chăng là sự vây bắt một đứa giết một người trong giới giang hồ? Không chỉ là việc tạo dựng thủ phạm của một tay tài phiệt hoặc một ông cha trong một gia đình rất lương thiện.

Việc cải tạo mày thành kẻ có tội không phải dễ. Nhưng lão Mayzaud, thẩm sát viên ngành Cảnh sát Tư pháp, phụ trách vụ này, chuyên viên về xóm Montmartre, hằn học với tôi đến nỗi hắn khai chiến với các luật sư biện hộ cho tôi mãi cho đến lúc ra trước tòa đại hình, như các báo đương thời thuật lại, có cả nhục mạ, đơn kiện và âm mưu hèn hạ, lão Mayzaud khốn nạn có dưới tay thằng ba phải Goldstein, con một nhà bán vải, một thằng dấm dớ liếm chân giới giang hồ với hy vọng sẽ trở thành tay anh chị. Cái thằng Goldstein dễ bảo vô cùng! Mayzaud tình cờ gặp nó có lẽ cả trăm lần trong lúc người ta thẩm cứu nội vụ (sau này trước tòa đại hình chính nó nói như vậy). Thằng nhân chứng quí hóa ấy đã khai trong hôm xảy ra vụ ám sát, nó có nghe dân chúng tụ họp lại nói với nhau rằng một người tên là Roland bị bắn ba phát súng vào bụng, và nó đã đến bịnh viện để hỏi tên tuổi đích xác của nạn nhân và để biết vết thương có nguy hiểm không, lời khai ấy đã được ba thằng bạn của nó hoàn toàn không dính líu gì đến vụ này xác nhận. Khoảng ba tuần sau, ngày 18 tháng 4, cũng thằng Goldstein, sau nhiều lần tiếp xúc với Mayzaud, đã khai như thế này:

Trong đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3, trước khi xảy ra vụ ám sát, nó có gặp tên Papillon (là tôi) cùng đi với 2 người lạ mặt (nữa?). Papillon hỏi nó Legrand ở đâu. Goldstein nói: “Ở quán rượu Clichy”. Papillon từ giã nó, nó liền tin cho Legrand biết. Trong khi nó bàn cãi với Legrand, một trong hai đứa bạn của Papillon vào và yêu cầu Legrand đi ra. Chính nó cũng đi ra liền sau đó và thấy Papillon với Legrand nói chuyện với nhau một cách bình tĩnh, nhưng nó không đứng lại. Sau đó, trở lại công trường Pigalle, nó gặp trở lại Papillon nói cho nó biết vừa hạ Legrand và nhờ nó đến bệnh viện Lariboisière xem bệnh tình Legrand ra sao, nếu hắn còn sống thì bịt miệng hắn lại.

Papi, mày là một thằng được tòa đại hình xem như rất ghê gớm, một phần tử trong giới giang hồ, bội phần nguy hiểm vì thông minh và quỷ quyệt, mày là một bạo chúa, thế mà mày quá ngu đến đỗi sau khi bắn một thằng ngay giữa đại lộ đông người, mày lại đứng ở công trường Pigalle, ngay tại phạm trường để chờ Goldstein đi qua trở lại. Không, mày không đi đến một khu phố khác hay ra ngoại ô để thở không khí trong lành, không! Mày đứng đó như một trụ cây số của một con đường nhỏ ở Ardèche, cho nên bọn cảnh sát chỉ cần đến nơi, chuyện ấy không lâu, để chào mày.

Cái thằng Goldstein tự xưng quen biết tôi nhiều ít ngốc hơn. Một ngày sau khi cung khai, nó trốn sang Anh quốc.

Trong khi ấy, tôi chống chế hết sức bình sinh: “Goldstein, tôi không biết, có thể tôi có gặp nó, nói một đôi câu với nó như giữa những người thường đến cùng một xóm mà không biết người đối thoại là ai”. Quả thật tôi không biết tên ấy, mãi đến lúc đối chất tôi mới biết rõ nó là ai: Tôi quá kinh ngạc khi thấy một thằng ranh con không hề quen biết buộc tội mình một cách chính xác như vậy, tôi tự bảo thằng này hẳn đã phạm một tội gì, chắc chắn là không nặng lắm vì nó quá thảm hại, nên bọn cảnh sát mới sai bảo nó dễ dàng như vậy. Đến nay tôi vẫn còn tự bảo như vậy. Xâm phạm thuần phong mỹ tục hay buôn lậu?

Bởi vì, nếu không có nó, nếu không có các lời khai liên tiếp của nó, mỗi lần lại thêm tài liệu mới cho cái kiến trúc mà bọn cảnh sát đang dựng lên, thì không có gì đứng vững. Không gì hết.

Nhưng nó nói: “Tôi nghe bà Cột nói rằng…”, rồi người ta đến gặp bà Cột, bà này nói cũng có thể rằng… vân vân. Cả một đống những câu “cũng có thể” của những người bọn cảnh sát rầy rà, là thành phần quan trọng nhất của hồ sơ vụ án.

Ngay lúc ấy, xảy ra một sự kiện, mới xem thì rất thần diệu, nhưng về sau, trở nên vô cùng nguy hiểm, tai hại hết sức. Một âm mưu quỷ quyệt của cảnh sát, một bẫy ngầm mà cả tôi với các luật sư của tôi đã đâm đầu vào. Tưởng làm như vậy là tự cứu, không ngờ là tự sát. Trong hồ sơ không có gì là vững chắc, lời khai liên tiếp của nhân chứng Goldstein đều không thể tin được. Hồ sơ nội vụ lỏng lẻo đến nỗi đối với tội ám sát gán cho tôi, thiếu hẳn một yếu tố: động cơ phạm tội. Vì không có lý do gì để hãm hại nạn nhân, tôi bị đưa vào vụ sát nhân này như những sợi tóc rơi vào nồi cháo, và bất cứ phụ thẩm đoàn nào, dù gồm những người đần độn nhất cũng không thể không nhận thấy.

Thế là cảnh sát tạo ra động cơ, và người cung cấp là một thằng cảnh sát đã lê gối ở xứ Montmartre hơn mười năm, thẩm sát viên Mazillier.

Một trong những người biện hộ cho tôi, luật sư Beffrey trong giờ rỗi rảnh hay đến xóm Montmartre, có gặp thằng cảnh sát ấy nói với ông nó biết sự thật về những việc đã xảy ra trong đêm 25 rạng ngày 26 tháng ba và sẵn sàng trình bày sự thật hàm ý có lợi cho tôi. Luật sư cũng như tôi đều nghĩ: hoặc nó làm như vậy vì lương tâm nghề nghiệp, hoặc là, vì cạnh tranh giữa nó với Mayzaud, điều này có vẻ đúng hơn.

Rồi chúng tôi yêu cầu nó làm chứng.

Nhưng lời khai của Mazillier không như chúng tôi tưởng. Nó khai nó biết rõ tôi, tôi có giúp nó nhiều việc, rồi nó thêm: “Nhờ các tin tức của Charrière, tôi đã bắt được nhiều người. Tôi không biết gì về các sự kiện liên quan đến vụ ám sát này. Tuy nhiên, tôi có nghe nói (trong vụ án xử tôi, không biết làm gì cho hết những câu “tôi nghe nói”!) Charrière bị những phần tử mà tôi không được biết (kỳ chưa!) thù ghét vì nó giao thiệp với cảnh sát”.

Và đó là động cơ của vụ sát nhân! Tôi giết Roland Legrand trong một cuộc cãi vã bởi vì nó đã tuyên truyền trong cả xóm Montmartre rằng tôi là điểm chỉ viên.

Lời khai của thẩm sát viên Mazillier được đưa ra khi nào? Ngày 14 tháng 4. Thế lời cung của Goldstein phản lại lời khai của nó ngày xảy ra án mạng khiến tôi bị lôi vào vụ này, xảy ra ngày nào? Ngày 18 tháng 4, bốn ngày sau khi lấy lời khai của Mazillier.

Ngoài ông dự thẩm Robbé bị bọn cảnh sát bỏ túi như chơi, mấy thẩm phán khác không ích gì cho mớ xà lách của bọn cảnh sát.

Họ quá vô bổ cho chúng đến nỗi một tiếng sét đầu tiên đã nổ.

Phòng luận tội, trước những lời khai co giãn của các nhân chứng, trước mớ chuyện mách lẻo, láo toét, lời khai của nhân chứng được hướng dẫn, có lẽ bị ép buộc nữa là khác, nên linh cảm có một cái gì không ổn trong hồ sơ. Papi, mày thường cho vào một loại, vì tưởng cũng mè một lứa, nào là thẩm phán, công lý, cảnh sát, phụ thẩm và cơ quan quản trị lao tù, nhưng mày phải công nhận, phải cúi đầu chào những vị thẩm phán hết sức lương thiện.

Kết quả, phòng Luận tội từ chối đưa tôi ra tòa đại hình vì tập hồ sơ ấy và giao tất cả nội vụ lại cho ông dự thẩm để điều tra bổ túc.

Bọn cảnh sát nổi điên lên, chúng tìm ra nhân chứng khắp nơi, tại nhà tù, một ngày trước khi người ta được thả ra. Cộng với những câu “người ta nói với tôi”, “tôi có nghe nói”, “hình như là… hoặc hầu như là…”. Thật là vô tận. Tuy nhiên cuộc điều tra bổ túc không thêm được gì, hoàn toàn không thêm được gì, không một dấu hiệu nhỏ hay một sự bắt đầu có bằng chứng nào mới, đáng kể.

Cuối cùng, vì không có gì mới ngoài mớ canh tôm cua thập cẩm vụng về không thứ gì quí, chỉ toàn cá sống được giả làm cá biển ở gành Địa trung hải, nên cuối cùng hồ sơ được chấp nhận chuyển qua tòa đại hình.

…Hôm nay, trên ghế dài ở đại lộ Clichy, trời gây gây lạnh. Tôi đi vài bước dưới bóng hàng cây, tôi không muốn đi vào vùng đèn sáng vì sợ gián đoạn luồng ánh sáng đang chiếu vào tôi muôn ngàn hình ảnh đi thẳng từ ba mươi bảy năm. Tôi lật cổ áo lạnh lên. Tôi đỡ nhẹ chiếc mũ để đầu tôi được mát vì sự hồi cố làm cho tôi nóng bức. Tôi ngồi xuống lại, lưng quay ra đại lộ, tôi rút hai chân bỏ qua ghế dài, ngồi ngược lại, hai tay tựa vào lưng ghế, như tôi đã ngồi trên ghế can cứu, trong những ngày đầu phiên tòa đại hình tháng bảy năm 1931.

Bởi vì để xử tôi không phải chỉ có một phiên tòa đại hình, mà hai phiên tòa.

Khác hẳn nhau. Một phiên tháng bảy, một phiên tháng mười.

Tại đây, lôi đình lại nổi lên một lần nữa. Một việc ít từng thấy trong giới tư pháp xảy ra: một ông phó chưởng lý, người thay mặt xã hội để buộc tội, người mà vai trò và quyền lợi bản thân là bảo vệ xã hội và kiếm thêm phẩm trật bằng cách đưa bọn can cứu vào tù nhiều chừng nào hay chừng ấy, ông phó chưởng lý được người trình hồ sơ để buộc tội tôi, đã dùng mấy đầu ngón tay lấy hồ sơ như dùng cây để gắp, rồi để lại trên bàn giấy mà nói: “Tôi không nhận buộc tội trong vụ này. Nghe cả mùi ám muội, giả tạo, hãy đưa cho người khác đi”.

Hôm ấy mặt luật sư Raymond Hubert đẹp lạ lùng khi vào nhà giam Conciergerie báo cho tôi nguồn tin kỳ lạ ấy!

Charrière, anh biết không, hồ sơ không đứng vững chút nào nên đã xảy ra một chuyện hi hữu tại Phòng Luận tội: Đừng có giật mình: một vị phó chưởng lý đã từ chối buộc tội trong vụ này và đã yêu cầu chuyển cho một vị khác!

Papi! Mọi chuyện quá tốt đẹp. Phòng xử không đỏ màu máu. Dưới làn ánh sáng của một ngày tháng 7 kỳ diệu, các bức màn, các tấm thảm, màu áo quan tòa đều gần như hồng nhạt. Không có chút gì giống như một lò sát sinh, mà như một phòng để trang điểm rộng lớn. Và trong phòng, một ông chánh thẩm tươi cười, hiền hòa, có phần hoài nghi, không tin lắm vào những điều đã đọc trong hồ sơ, khiến nên ông mở đầu cuộc thẩm vấn như thế này:

– Charrière Henri, vì bản cáo trạng không đáp ứng đúng những điều chúng tôi muốn biết, vậy anh hãy trình bày cho Tòa và các vị phụ thẩm vụ án của anh.

Một việc ghê gớm, lạ lùng, bất ngờ, ngàn năm một thuở, đã đến cho mày, Papi. Một vị chánh thẩm tòa đại hình yêu cầu bị can trình bày vụ án của nó! Trời! Mày nhớ không phiên tòa đại hình tháng 7, đầy ánh sáng mặt trời, cùng những vị quan tòa kỳ diệu? Papi, thật tuyệt quá! Các vị thẩm phán đã hướng dẫn cuộc tham vấn hết sức vô tư, ông chánh thẩm bình tĩnh và ngay thẳng tìm kiếm sự thật, đặt những câu hỏi bất ngờ cho bọn cảnh sát, bọn nhân chứng, quay tên Goldstein phờ người, lưu ý các mâu thuẫn trong lời khai của nó, khiến các luật sư của tôi và tôi hỏi nó nhiều câu làm nó lúng túng, thật quá đẹp, quả là một công lý mặt trời, Papi ạ, một phiên tòa mùa hè với những quan Tòa xúc động vì mớ giấy lộn xộn gồm toàn những báo cáo đáng ngờ của những tên cảnh sát đáng ngờ hơn nữa.

Papi, tại phiên tòa ấy, mày có thể tranh đấu và có thể tự bào chữa. Tranh đấu chống ai? Không thiếu gì, chúng đông lắm.

Nhân chứng đầu tiên quan trọng nhất, bà mẹ, đã bị công ty Poulagat uốn nắn. Tôi không tin bà khai như vậy vì ác ý, thật ra bà đã nghe theo những điều ám chỉ của bọn cảnh sát một cách vô ý thức.

Bà mẹ không còn khai những gì bà đã nghe với viên quận trưởng: “Papillon Roger”, và rằng Legrand có nói thêm (khi nào?) bạn nó Goldstein biết rõ Papillon. Bây giờ bà khai có nghe thế này: “Đó là thằng Papillon. Goldstein biết nó”, những lời này, quận trưởng Gérardin và thẩm sát viên Grimaldi không nghe. Một quận trưởng cảnh sát mà không ghi chép một sự kiện quan trọng như vậy, có lạ không nhỉ?

Luật sư Gautrat, luật sư của dân sự nguyên cáo, yêu cầu tôi xin mẹ nạn nhân tha thứ. Tôi nói:

– Thưa Bà, tôi không có gì xin bà tha thứ vì tôi không giết con bà. Tôi chỉ nghiêng mình trước nỗi đau khổ của bà, đó là tất cả những gì tôi có thể làm.

Nhưng quận trưởng Gérardin và thẩm sát viên Grimaldi vẫn giữ y lời khai đầu tiên: Legrand có nói “Đó là Papillon Roger”, chỉ có vậy.

Bây giờ là lúc xuất hiện tên nhân chứng muôn năm, thích ứng cho mọi trường hợp, Goldstein. Tên nhân chứng ấy, đúng một đĩa nhựa được ghi âm tại số 36 đường Orfèvres, đã đưa ra năm hoặc sáu cung từ, nhưng người ta chỉ giữ lại ba. Mỗi lần khai là mỗi lần nó buộc tội tôi thêm một ít, để rồi nói ngược lại, nhưng mỗi lần đều đem đến cho cái kiến trúc của bọn cảnh sát một miếng gỗ mới. Tôi còn trông thấy nó như thể mới ngày hôm nay. Nó nói nhỏ, nó chỉ nhích tay lên một tí để nói: “Tôi xin thề”. Sau khi nó khai xong, luật sư Beffey tấn công:

– Goldstein, trước hết anh đã tình cờ gặp thẩm sát viên Mayzaud bao nhiêu lần; chính ông này cũng khai có gặp anh và “tình cờ” nói chuyện về vụ này rất nhiều lần? Lạ quá, Goldstein. Trong lời khai đầu, anh nói không biết gì về vụ này, rồi anh biết Papillon, rồi anh khai có gặp nó trong đêm ấy, trước khi xảy ra vụ ám sát, rồi nó bảo anh đến bệnh viện Lariboisière xem thương thế Legrand ra sao. Anh hãy giải thích vì sao có những lời khai khác nhau như vậy?

Để trả lời, Goldstein chỉ lặp đi lặp lại: “Lúc bấy giờ tôi sợ, vì ở Montmartre ai cũng khiếp sợ Papillon”.

Tôi tỏ thái độ phản đối và ông chánh thẩm nói với tôi:

– Bị can, anh có câu gì hỏi nhân chứng không?

– Thưa ông chánh thẩm, có.

Tôi nhìn chăm chăm vào Goldstein:

– Goldstein, mày hãy nhìn thẳng vào mặt tao. Lý do nào đã thúc đẩy mày nói láo và buộc tội tao một cách vô lý? Mày đã phạm tội gì mà phải trả cho Mayzaud bằng những lời khai láo khoét như vậy?

Thằng ngốc ấy vừa nhìn thẳng vào tôi, vừa run, nhưng vẫn cố nói rõ ràng:

– Tôi nói sự thật.

Vừa nghe nó nói, quả thật, tôi có thể giết nó ngay, thằng chó má! Tôi quay lại phía quan tòa:

– Thưa quí vị quan tòa, quí vị phụ thẩm, Ông phó chưởng lý nói tôi là người quỷ quyệt, thông minh và xảo trá, nhưng theo lời khai của nhân chứng thì tôi là một thằng ngốc hoàn toàn và tôi xin chứng minh điều này. Muốn nói một điều bí mật hệ trọng như vậy với một người nào, nói với nó mình vừa giết một người bạn, nếu mình quen biết nó từ lâu thì mình là người thông minh, còn nếu thú nhận một việc làm như vậy với một người lạ thì mình là một thằng ngốc chính cống. Thế mà Goldstein đối với tôi là một người xa lạ.

Rồi quay sang Goldstein, tôi nói tiếp:

– Goldstein, nhờ anh kể ra trong đô thành Ba Lê hay trong cả nước Pháp một người có thể khai đã thấy chúng ta nói chuyện với nhau chỉ một lần thôi.

– Tôi không biết một người nào có thể làm chứng như vậy.

– Được rồi. Nhờ anh kể ra tại Montmartre, Ba Lê hoặc cả nước Pháp một quán rượu, một tiệm ăn hoặc một quán nước nào thấy chúng ta uống hay ăn chung chỉ một lần thôi.

– Tôi không bao giờ uống hoặc ăn với anh.

– Được lắm. Anh nói rằng lần đầu tiên anh gặp tôi trong đêm kỳ lạ ấy, tôi đi với hai người nữa? Hai người ấy là ai?

– Tôi không quen biết họ.

– Tôi cũng vậy. Anh hãy nói ngay, không do dự, tôi đã hẹn anh tại đâu để anh cho tôi biết kết quả về công việc tôi nhờ anh đến bệnh viện cho tôi và anh có chỉ nơi ấy cho những người đi theo anh không? Nếu anh không nói cho họ biết, thì vì lý do nào?

Không trả lời.

– Goldstein, trả lời đi. Tại sao anh không trả lời?

– Tôi không biết tìm anh ở đâu.

Luật sư Raymond Hubert:

– Thân chủ của tôi nhờ anh đi một việc quan trọng như vậy, xem thương thế Roland Legrand ra sao, thế mà anh không biết tìm thân chủ tôi ở đâu để đưa kết quả. Thật là vừa lố bịch vừa không thể tin được.

Papi, vâng, quả thật khó tin, nhưng mọi việc sẽ thảm hại hơn nếu người ta chấp nhận xây dựng sự buộc tội trên những lời làm chứng liên tiếp, mỗi lần mỗi nặng thêm của thằng khốn nạn, tuy đã được bọn cảnh sát uốn nắn chu đáo, nhưng không đủ thông minh để đáp ứng một phần ý đồ của chúng.

Ông chánh thẩm:

– Charrière, cảnh sát cho rằng anh đã giết Legrand vì nó nghĩ rằng anh là điểm chỉ viên. Anh có gì để đáp lại không?

– Tôi đã sáu lần có chuyện với cảnh sát và mỗi lần như vậy tôi được miễn tố hoặc tha bổng, trừ một lần bị kết án bốn tháng tù treo. Không bao giờ tôi bị bắt cùng với một người khác, không bao giờ tôi chỉ cho bắt một ai. Thật là khó tin và không thể chấp nhận rằng khi ở trong tay cảnh sát tôi không nói, rồi đến lúc được tự do tôi tố cáo bạn bè.

– Một thẩm sát viên nói anh là một điểm chỉ viên. Cho mời thẩm sát viên Mazillier.

– Tôi xin khai rằng Charrière là một điểm chỉ viên đã giúp tôi bắt nhiều phần tử nguy hiểm và điều ấy được loan truyền trong xóm Montmartre. Về vụ án mạng Legrand, tôi không biết gì hết.

– Charrière, đối với lời khai vừa rồi, anh có điều gì nói không?

– Chính theo lời khuyên của luật sư Beffey đã nói với tôi rằng ông thẩm sát viên ấy biết sự thật về vụ ám sát Legrand nên tôi yêu cầu mời ông ấy ra trước phòng dự thẩm. Và tôi nhận thấy cả luật sư của tôi cũng như chính tôi đã rơi vào một cái bẫy ghê tởm. Lúc khuyên Luật sư Beffey đòi ông ra tòa, Thẩm sát viên Mazillier nói ông ta biết tất cả vụ này và luật sư của tôi đã tin như tôi tin. Chúng tôi giả thuyết rằng, hoặc là ông ta là một nhân viên cảnh sát lương thiện, hoặc là có vấn đề cạnh tranh giữa Mayzaud với ông ta khiến ông khai về vụ án mạng. Thế mà, như Tòa cũng thấy, ông thẩm sát viên này nói không biết gì về tấn thảm kịch.

Một điều hiển nhiên là lời khai của lão thẩm sát viên ấy đã đem đến cho tội sát nhân mà người ta gán cho tôi một động cơ còn đang thiếu. Thật vậy, lời khai ấy, phát xuất từ một nhân viên cảnh sát rất thần tình, nó cứu vãn cả cái kiến trúc để buộc tội và đã làm cho một hồ sơ lỏng lẻo thêm phần nào vững chắc.

Chắc chắn là nếu không có Mazillier giúp vào, dù thẩm sát viên Mayzaud có cố gắng hết sức, tập hồ sơ buộc tội vẫn vô nghĩa. Âm mưu quá lộ liễu, nên người ta ngạc nhiên khi thấy nó được công tố viên chấp nhận.

Tuy nhiên tôi vẫn tiếp tục tranh đấu, tôi nói:

– Thưa quý vị quan tòa, quý vị phụ thẩm, nếu tôi là một điểm chỉ viên của cảnh sát, có hai điều để lựa chọn: hoặc là tôi không giết Roland Legrand vì nó cho tôi là điểm chỉ viên, bởi lẽ một phần tử hèn hạ như một điểm chỉ viên sẽ chấp nhận một sự sỉ nhục như vậy mà không phản ứng; hoặc là nếu vì bị nhục mạ, tôi bắn Legrand, chắc chắn cảnh sát sẽ che chở tôi và sẽ không bao giờ nhận chìm tôi một cách hằn học, vụng về như vậy, vì tôi đã giúp họ rất nhiều. Hơn thế nữa, đối với một vụ được xem là một vụ thanh toán giữa những tay lơ mơ trong giới giang hồ, họ sẽ nhắm mắt làm ngơ hay sắp đặt một cái gì đó để cho ra vẻ tôi ở vào thế tự vệ chính đáng. Người ta có thể kể ra nhiều tiền lệ về loại ấy, nhưng may cho tôi không ở vào trường hợp như vậy. Thưa ông chánh thẩm, xin cho phép hỏi nhân chứng một câu.

– Cứ hỏi.

Biết rằng tôi định hỏi gì, luật sư Raymond Hubert xin Tòa giải trừ bí mật nghề nghiệp cho thẩm sát viên Mazillier; nếu không ông ta không thể trả lời cho tôi được.

Ông chánh thẩm:

– Tòa Đại hình, áp dụng quyền chuyên quyết, giải trừ thẩm sát viên Mazillier khỏi bí mật nghề nghiệp và yêu cầu thẩm sát viên ấy vì quyền lợi của chân lý và công lý, trả lời câu hỏi của bị can.

– Mazillier, nhờ ông kể ra ở Pháp, ở các thuộc địa hay ở ngoại quốc, một người duy nhất ông đã bắt nhờ các tin tức của tôi.

– Tôi không thể trả lời.

– Thẩm sát viên, ông là một thằng nói láo! Ông không thể trả lời vì việc ấy không bao giờ có.

– Charrière, nên nhã nhặn trong lúc phát biểu, ông chánh thẩm nói.

– Thưa ông chánh thẩm, ở đây tôi bảo vệ hai điều: sinh mạng của tôi và danh dự của tôi.

Nhưng việc rắc rối không đi xa hơn. Mazillier rút lui ra ngoài.

Còn những nhân chứng khác, cả một đoàn người, hết người này đến người khác. Tất cả đều mặc một thứ áo cùng một thứ vải, cắt và may theo một kiểu tại nhà may cảnh-sát công ty, địa chỉ: 36 đường Orfèvres, Ba Lê. Cảnh sát tư pháp năm 1930. Hy vọng rằng đến nay mọi việc đã thay đổi. Hy vọng mà không nên tin lắm.

Papi, còn cách giải thích sau cùng, cách giải thích hợp lý nhất, mày không nhớ sao? Nhớ chứ? Tôi vẫn còn nghe rõ tôi nói:

– Thưa quí vị, xin quí vị tỏ ra lương thiện với tôi, xin quí vị nghe tôi trình bày: Legrand chỉ bị trúng có một viên đạn, sát nhân chỉ bắn nó một lần, nó còn đứng, nó vẫn sống và bước đi, người ta để nó thong dong bước lên một chiếc tắc-xi. Thế là người bắn nó không cố ý giết nó, nếu không đã bắn nó bốn, năm hoặc sáu viên đạn như thường xảy ra trong giới giang hồ. Bất cứ ai thường đến Montmartre đều biết điều này. Có phải vậy không?

“Thế thì nếu tôi là thủ phạm, tôi thú nhận và khai: “Thưa quí vị, người ấy, vì lý do nào đó, hữu lý hay vô lý, đã cãi vã với tôi hoặc đã cáo buộc tôi một điều gì đó, nó đã thọc tay vào túi, nó là một đứa trong giới giang hồ như tôi, tôi không gây sự và tôi bắn để tự vệ, chỉ một phát”. Nếu tôi khai như vậy, cùng lúc tôi cho quí vị thấy rằng tôi không cố ý giết nó vì nó vẫn sống vẫn đứng vẫn đi. Rồi tôi sẽ kết luận: “Nếu một thẩm sát viên nói tôi giúp ích rất nhiều cho cảnh sát, tôi yêu cầu quí vị chấp nhận những điều tôi vừa nói là thật như những lời thú tội của tôi và xem vụ này là một vụ tiểu hình, có ý đả thương nhân thương trí mạng, chứ không phải cố sát.

Tòa im lặng nghe tôi nói, hình như có vẻ suy nghĩ, tôi nói tiếp:

– Mười lần, một trăm lần, cả luật sư Raymond Hubert cũng như luật sư Beffey hỏi tôi: “Có phải anh bắn không? Nếu phải anh thì nên nói đi. Tối đa anh bị xử phạt năm năm, có thể ít hơn, người ta không thể xử nặng hơn. Lúc bị bắt anh 23 tuổi, như vậy anh sẽ mãn tù lúc còn rất trẻ”.

“Nhưng thưa quí vị quan tòa, quí vị phụ thẩm, tôi không thể theo con đường ấy dù để cứu tôi khỏi máy chém hoặc tù đày, bởi vì tôi vô tội và là nạn nhân của một âm mưu cảnh sát”.

Tất cả đã diễn ra trong phiên tòa đại hình chan hòa ánh sáng mặt trời, tôi được người ta để cho trình bày hết mọi lẽ. Không, Papi, thật là quá đẹp, công việc trôi chảy quá, mày cảm thấy Tòa án bị xúc động và mày có thể thắng. Mày chỉ là thằng bé tự phụ đáng thương, mày không thấy mọi chuyện quá đẹp hay sao?

Bởi vì ngay lúc bấy giờ, Mayzaud đã kiếm ra ngay mọi việc rắc rối, có nhiều phần sẽ góp phần vào mưu mô xảo quyệt của nó. Cảm thấy thất bại, công sức bỏ ra trong mười lăm tháng trở thành số không, nó làm một điều cấm kỵ. Trong lúc tòa tạm nghỉ, nó đến tìm tôi trong căn phòng chỉ có một mình tôi với lính canh, người ngoài không được phép vào. Đến gần tôi, nó cả gan nói với tôi “Tại sao mày không nói là thằng Roger người Corse?”. Hết sức bỡ ngỡ, tôi đáp:

– Nhưng tôi không biết thằng Roger người Corse nào hết! Nó bàn cãi một phút đi ra gấp và tiến đến gặp ông phó chưởng lý để nói:

– Papillon vừa thú nhận đó là tên Roger người Corse.

Ngay lúc ấy xảy ra một việc đúng theo ý muốn của thằng Mayzaud khốn nạn. Người ta ngưng ngay phiên tòa đại hình, mặc dù tôi hết sức phản đối. Dù sao, tôi vẫn tiếp tục tự bào chữa, tôi trình bày:

– Từ 18 tháng nay:

“Thẩm sát viên Mayzaud nói chỉ có một Papillon trong vụ án mạng và người đó là tôi;

“Thẩm sát viên Mayzaud nói tôi là người đã giết Legrand, không còn nghi ngờ gì nữa;

“Thẩm sát viên Mayzaud khai rằng không những nó quả quyết mà nó đưa ra những nhân chứng lương thiện, không thể bắt bẻ, quyết đoán, chứng tỏ tôi đã phạm tội mà không có gì còn nghi ngờ nữa.

“Nếu nhân viên cảnh sát đã tìm ra tất cả các nhân chứng và bằng chứng cần thiết chống lại tôi, tại sao kiến trúc của họ bị sụp đổ?

“Phải chăng hồ sơ này chỉ toàn láo toét? Và chỉ cần quăng một cái tên mới vào là người ta hết tin Papillon là thủ phạm?

“Nếu quí vị nói quí vị có đủ bằng chứng tôi phạm tội, bây giờ không lẽ chỉ vì một giả thuyết cho rằng thủ phạm là một tên Roger người Corse ma, do Mayzaud tạo ra nếu người ta tin tôi, hoặc do tôi tạo ra nếu người ta còn tin Mayzaud, quí vị lại cho đình lại tất cả, và cho bắt đầu trở lại hay sao?

“Không thể như thế được, tôi yêu cầu Tòa tiếp tục thẩm vấn, tôi yêu cầu tòa xử tôi.

“Thưa quí vị phụ thẩm, thưa ông chánh thẩm, tôi thành khẩn van xin Tòa!

Papi, mày đã thắng, mày đã sắp thắng và chính vì ông Phó Chưởng Lý quá lương thiện nên đã hại mày. Ông phó chưởng lý đứng lên tuyên bố:

– Thưa quí vị Phụ thẩm, thưa quí vị quan tòa, tôi không thể đứng ra buộc tội… Tôi không còn biết… Phải giải quyết vụ rắc rối. Tôi yêu cầu Tòa đình hoãn vụ này và truyền cho điều tra bổ túc.

Chỉ có bấy nhiêu đó, Papi, chỉ có ba câu nói của ông Phó Chưởng Lý Cassagnau đủ chứng tỏ mày bị kết tội vì một hồ sơ thối nát.

Nếu vị thẩm phán lương thiện ấy có trong tay một cái gì sáng tỏ, rõ ràng, không thể chối cãi được, nếu ông ta vững tin vào hồ sơ, ông đã không nói: “Hãy đình hoãn phiên tòa tôi không còn có thể đứng ra buộc tội”.

Mà ông đã nói: “Lại một sáng kiến của Charrière, bị can muốn làm chúng ta hoang mang bằng cái tên Roger người Corse. Thưa quí vị, chúng tôi không tin một tí nào hết, trong tay tôi có tất cả những gì cần thiết để chứng tỏ Charrière là thủ phạm và tôi cương quyết làm như vậy”.

Thế nhưng ông không nói, ông không làm, tại sao? Tại vì theo lương tri, ông không tin lắm vào tập hồ sơ và hẳn ông đã bắt đầu đặt những nghi vấn rõ ràng về sự lương thiện của nhân viên cảnh sát đã xây dựng nên hồ sơ ấy.

Như thế đủ biết tại sao bọn cảnh sát đến lúc sắp thua cuộc một cách nhục nhã, cuối cùng lại thắng mày, một thằng bé hai mươi ba tuổi, tuy chúng biết rằng cái tên Roger người Corse chỉ là một trò bịa đặt hoàn toàn. Chúng hy vọng từ đây đến ngày Tòa xử lại, chúng sẽ sắp đặt những âm mưu khác. Và những con người xấu xa như chúng chắc cũng tính rằng với một thành phần Tòa đại hình khác, một chánh thẩm khác, một phó chưởng lý khác, khung cảnh âm u của phiên tòa tháng 10, không khí của Tòa Đại hình sẽ không còn thuận lợi cho tôi và phòng xử án diễm lệ hôm nay sẽ biến thành một lò sát sinh.

Phiên tòa được đình lại, tòa truyền cho điều tra bổ túc, đây là cuộc điều tra bổ túc lần thứ hai trong vụ án này.

Một ký giả đã viết: “Ít khi thấy một sự do dự như vậy!”.

Dĩ nhiên, cuộc điều tra bổ túc không đem lại một sự kiện gì mới. Người ta không bao giờ tìm ra tên Roger người Corse.

Trong cuộc điều tra bổ túc, mấy anh lính cộng hòa rất lương thiện, họ khai chống lại Mayzaud về vụ rắc rối kỳ tháng bảy. Vả lại, tại sao một người đang lớn tiếng nói mình vô tội, đang chứng minh sự vô tội một cách hợp lý, đang cảm thấy Tòa án bị xúc động thuận lợi cho mình, tại sao đột nhiên người ấy lại vứt tất cả bằng cách nói: “Tôi có ở chỗ ấy, không phải tôi bắn, mà chính Roger người Corse?”.

Papi, còn mấy phiên tòa khác thế nào? Phiên tòa cuối cùng, có tính cách quyết định, ở đó máy chém khô khan bắt đầu được khơi động, ở đó tuổi hai mươi bốn của mày, ngày xanh của mày, niềm tin vào cuộc đời của mày bị đập một nhát búa thẳng cánh, chung thân, ở đó Mayzaud sau khi lấy lại tinh thần đã xin lỗi ông Phó Chưởng lý và công nhận đã phạm lỗi kỳ tháng bảy, ở đó mày đã la lớn vào mặt nó: “Mayzaud, tao sẽ lột mặt nạ người lương thiện của mày!…” Papi, mày nhất thiết muốn sống lại cảnh ấy à?

Mày nhất định muốn thấy lại phòng xử ấy, cái ngày âm u ấy hả? Ba mươi bảy năm đã trôi qua, nhỏ ơi, đã bao lần tao nói với mày điều này? Mày muốn cảm thấy trở lại cái tát khủng khiếp đã buộc mày tranh đấu trong ba mươi bảy năm để có ngày ngồi trên chiếc ghế dài trên đại lộ Clichy trong xóm Monmatrtre của mày hả? Vâng, chính vì muốn đo lường đoạn đường đã qua, tôi muốn đi từng bước xuống chiếc thang đã đưa tôi xuống đáy giếng nhục nhã của con người.

Mày còn nhớ không? Lúc mày đẹp trai, quần áo bảnh bao, khuôn mặt một đứa con vào lứa tuổi hai mươi, mày bước vào phòng xử tòa đại hình, khác hẳn phòng xử kỳ trước. Thế nhưng cũng vẫn căn phòng ấy.

Trước hết, trời quá u ám và ẩm ướt nên phải bật các đèn trên trần. Lần này, mọi vật đều đượm màu máu, màu máu tươi. Thảm nền, màn cửa, áo quan tòa, có thể nói các thứ vải ấy đã được nhúng vào một thùng chứa đầy thủ cấp những tử tội. Lần này, các quan tòa không sắp đi nghỉ hè, mà vừa nghỉ hè về, không như kỳ tháng 7. Vả lại bắt đầu mùa xử án bằng một vụ thanh niên Montmartre thanh toán nhau thật là chán quá, đã kéo dài quá lâu rồi. Phải qua mau để xử những vụ đứng đắn hơn.

Và những tay kỳ cựu của pháp đình, luật sư cũng như quan tòa, hơn ai hết, biết rằng khí hậu trong ngày, thời kỳ trong năm, nhân cách của ông chánh thẩm, tính tình của ông trong ngày, của ông phó chưởng lý, của phụ thẩm đoàn, tinh thần của bị can, của các luật sư của bị can, đều ảnh hưởng đến cán cân công lý vô tư.

Lần này ông chánh thẩm không cho tôi được hân hạnh tự tôi trình bày trường hợp của tôi, ông chỉ cho nghe ông lục sự đọc bằng giọng đều đều bản cáo trạng.

Mười hai lão phụ thẩm có bộ óc ẩm ướt như trời sắp mưa hôm nay, nhìn những cặp mắt xanh đần độn của họ là biết ngay. Họ dễ dàng chấp nhận áng văn chương ngu xuẩn của bản cáo trạng.

Thằng cha phó chưởng lý, người đầu tiên cung cấp máy chém, không có vẻ gì là nhân từ. Hắn sẽ không thể nào nói như Ông Cassagneau: “Tôi không thể đứng ra buộc tội được nữa”.

Vừa bước vào, sau khi liền nhìn quanh, tôi đã cảm thấy tất cả: “Papillon, mày hãy thận trọng, mày không thể tự bào chữa vững vàng trong một phiên tòa như thế này”. Tôi không lầm tí nào vì trong suốt cuộc thẩm vấn trước tòa kéo dài hai ngày, hầu như người ta không cho tôi nói lời nào. Không có chút gì giống với phiên tòa tháng 7. Phiên tòa tháng 7 thật là quá tuyệt.

Và không còn những lời nhân chứng, những lời khai, những câu “người ta nói”, những câu “tôi nghe kể” vân vân như hồi tháng 7. Khỏi cần kể lại chi tiết, cũng một trò xiếc tái diễn, chỉ khác một điều là mỗi khi tôi nổi giận, đôi khi tôi hét lên người ta cắt ngay không cho tôi nói nữa.

Một sự kiện mới hẳn, là nhân chứng do tôi khai ra để xác nhận sự bất tại trường của tôi, đến trước tòa, Lellu Fernand, tài xế tắc xi, không kịp khai kỳ tháng 7 trước khi vụ án bị đình xử là nhân chứng duy nhất mà trước kia bọn cảnh sát không thể nào tìm ra, một huyền thoại theo lỗi họ.

Thật kỳ lạ, nếu trong lúc thẩm cứu bọn cảnh sát không kiếm ra Lellu, họ đã tìm được một nhân chứng của nhân chứng tương lai ấy, một thằng có mười tiền án, bị quản thúc; thằng này khai rằng người chứng sẽ ra mặt một ngày trong tương lai để khai có lợi cho tôi là một chứng bị mua chuộc.

Và lão thẩm sát viên Mayzaud, trong một phúc trình dài, phủ nhận có tên Lellu, tự cho mình đã tìm ra và chứng minh tất cả và công nhận không bao giờ gặp nhân chứng do chúng tôi nại ra. Hắn có biết đâu, vì lẽ người ta tìm không ra, nhân chứng đã tự động trình diện? Một nhân chứng được viên quận trưởng khu phố khai là lương thiện, chăm chỉ làm ăn?

Lellu xác nhận lời khai của hắn, người ta cáo buộc hắn đã làm chứng vì cảm tình. Luật sư Raymond Hubert đưa hai tay lên trời:

– Ông Lellu, chỉ còn có nước ông đi trả thuế má của ông!.

Ngồi trên ghế dài màu xanh, tôi điên tiết lên, tôi không còn cảm thấy trời lạnh và mưa phùn bắt đầu rơi xuống.

Tôi còn nhớ lão chủ quán rượu Irio khai trước vành móng ngựa rằng tôi không thể ở trong quán lão khi Lellu bước vào để nói người ta vừa bắn ở ngoài, vì từ 15 ngày lão đã cấm không cho tôi vào quán.

Như vậy có nghĩa là tôi quá ngu nên trong một vụ án quan hệ đến tự do và mạng sống của tôi, tôi lại nói tôi có mặt tại một nơi tôi không được quyền đến. Thằng bồi bàn của lão cũng xác nhận lời khai của lão. Dĩ nhiên là chúng nó quên nói thêm rằng giấy phép được mở cửa đến 5 giờ sáng là ân huệ do cơ quan cảnh sát cấp, và khi chúng nói ra sự thật, chúng sẽ hại cảnh sát. Vì vậy mà phải nói quán rượu đóng cửa lúc 2 giờ sáng. Lão lo bảo vệ két bạc, thằng bồi thì nghĩ đến tiền lì xì của mình.

Luật sư Raymond đã làm những gì có thể làm được, Luật sư Beffey cũng vậy, ông này quá kinh tởm nên đã khai chiến với Mayzaud, lão này đã dùng các phúc trình mật của cảnh sát (không đến nỗi mật lắm vì một nhà báo đã đăng các bản phúc trình ấy nhờ sự tiếp tay của một nhân viên cảnh sát) để làm hại thanh danh luật sư của ông bằng cách kể lại những chuyện chơi bời của ông không dính líu gì đến vụ án.

Đã đến hồi kết thúc. Tôi nói sau cùng. Nói gì bây giờ? “Tôi vô tội, tôi là nạn nhân một âm mưu của cảnh sát. Xin hết”.

Phụ thẩm và quan tòa đi vào trong một giờ sau, họ trở ra và tôi đứng lên khi họ vào chỗ ngồi. Tôi ngồi xuống. Đến lượt ông chánh thẩm đứng lên, ông sẽ đọc bản án: “Bị can, đứng lên”.

Tôi quá tin tưởng vào phiên tòa đại hình dưới hàng cây đại lộ Clichy nên lập tức đứng lên, quên rằng cặp chân bị kẹt vì quặp tréo trong ghế dài, nên tôi té ngồi xuống.

Thế là năm 1967, dưới hàng cây đại lộ, tôi ngồi, đáng lẽ phải đứng, nghe giọng nói đều đều của ông chánh thẩm năm 1931 tuyên đọc bản án:

– Anh bị kết án khổ sai chung thân. Lính canh, dẫn phạm nhân đi ra.

Tôi suýt đưa hai tay ra, nhưng không ai còng tay tôi, bên tôi không có người lính cộng hòa nào cả. Ở đầu kia chiếc ghế dài, chỉ có một bà già khốn khổ nằm co quắp người, và đang giữ mấy tờ báo trên đầu để che lạnh và mưa bụi.

Tôi rút đôi chân ra. Sau khi đứng được, tôi nhúc nhích cho hết tê, rồi, dở mấy tờ báo, tôi để tờ bạc 100 quan trong tay người đàn bà quá già, cũng bị kết tội nhưng là tội nghèo chung thân.

Đối với tôi, thời hạn chung thân chỉ có mười ba năm.

Và cũng dưới hàng cây đại lộ, tôi đi đến công trường Blanche trí óc còn lởn vởn hình ảnh cuối cùng của phiên tòa đại hình trong đó tôi đứng nhận một cái tát bất hủ đã xóa tên khỏi xóm Montmartre, xóm Montmartre của tôi, trong bốn mươi năm.

Vừa bước đến vùng ánh sáng của công trường mỹ lệ ấy, ngọn đèn chiếu rọi dĩ vãng tắt ngay, tôi chỉ còn thấy mấy tên đầu đường xó chợ ngủ ngồi đầu kê trên đầu gối, tại cửa vào đường xe lửa ngầm.

Tôi gọi gấp một chiếc tắc xi. Tôi không còn ham gì nữa hết, bóng tối hàng cây che khuất ánh sáng nhân tạo rực rỡ, công trường sáng chói với nhà Moulin Rouge lấp lánh muôn màu không còn lôi cuốn tôi nữa. Một nơi thì gợi tôi nhớ về dĩ vãng quá nhiều, nơi kia trét vào mặt tôi: “Mày không phải dân chốn này!”. Tất cả, vâng, tất cả đã thay đổi, mày nên đi gấp nếu mày không muốn thấy những kỷ niệm của tuổi hai mươi chết và bị chôn vùi dưới đất.

– Ê, tắc-xi. Cho tôi đến nhà ga Lyon.

Rồi trên chuyến xe lửa ngoại ô đưa tôi về nhà đứa cháu, tôi hồi tưởng lại tất cả các bài báo mà luật sư Raymond Hubert đã bảo tôi đọc khi tôi bị kết án. Không bài nào làm gì khác hơn là nêu lên mối hoài nghi bao trùm cuộc thẩm vấn trước tòa, nào là La Dépêche, La France, Le Matin, L’intransigeant, L’Humanité, Le Journal, tờ này chạy tít: “Vụ án mập mờ”.

Từ ngày về Pháp, tôi đã tìm lại các tờ báo ấy. Xin trích dẫn vài đoạn để làm thí dụ:

Báo La Dépêche ngày 27-10-31, do miệng một Luật sư: “Tại viện công tố cũng như trước tòa, đã ba lần đình hoãn để điều tra bổ túc, đủ chứng tỏ yếu tố buộc tội rất mong manh”.

Báo Le Matin ngày 27-10-31: “Ba mươi nhân chứng được gọi ra Tòa. Có lẽ chỉ một người cũng đủ: người lạ mặt đã đưa một người bị thương lên xe, tin cho “vợ” hắn rồi biến mất; nhưng người lạ mặt ấy là một ẩn số mà ba mươi lời khai tiếp nhau có lẽ không phát giác”. Những người lính thị xã khai: “Chính thẩm sát viên Mayzaud đã đến gần Charrière và nói: “Mày biết rõ là ai”.

Báo La France ngày 28.10.31: “Bị can trả lời rất bình tĩnh và cương quyết… Bị can nói: “Nghe nó khai tôi rất khổ tâm. Thằng Goldstein không có lý do gì để hại tôi, nhưng nó ở trong tay thẩm sát viên Mayzaud như bao nhiêu người khác vì lương tâm họ không được yên ổn, sự thật như vậy”… Tòa gọi lão thẩm sát viên ra lại trước vành móng ngựa. Nó chống chế ngay: “Từ 10 năm nay tôi lui tới xóm Pigalle, tôi biết Goldstein không phải người trong giới giang hồ. Nếu nó là người trong giới giang hồ thì không bao giờ nó nói (sic)”.

Báo L’Humanité ngày 28 tháng 10. Bài báo đáng được chép hết lại đây. Tít bài báo: “Charrière Papillon bị kết án khổ sai chung thân”.

“Phụ thẩm đoàn quận Seine đã kết án Charrière, mặc dù vẫn còn nghi vấn đối với thân thế của Papillon đích thực, của con người đã giết Roland Legrand ở xóm La Butte trong một đêm tháng ba.

“Hôm qua, bắt đầu phiên tòa, người ta đã nghe nhân chứng Goldstein tất cả cáo trạng đều dựa trên lời khai của người này. Nhân chứng này, luôn luôn tiếp xúc với cơ quan cảnh sát, mà thẩm sát viên Mayzaud khẳng định đã gặp hơn một trăm lần từ ngày thảm kịch xảy ra, đã cung khai ba lần khác nhau, mỗi lần mỗi buộc tội thêm. Người ta thấy rõ nhân chứng là một cộng tác viên trung thành của cảnh sát tư pháp.

“Trong khi nó nói để buộc tội, Charrière lắng tai nghe rất chăm chỉ. Khi nó dứt lời, Charrière la lên:

“– Tôi không hiểu, tôi không hiểu nổi tên Goldstein này, tôi không hề đụng chạm đến nó, thế mà nay nó đến đây để xổ ra những chuyện láo toét thư vậy chỉ với mục đích đưa tôi đi lưu đày.

“Tòa gọi thẩm sát viên Mayzaud trở ra trước vành móng ngựa. Lần này nó cho rằng lời khai của Goldstein không được mớm trước. Nhưng người ta thấy đây đó có những mỉm cười hoài nghi.

“Ông phó chưởng lý Siramy, trong một bản cáo trạng mơ hồ nhận thấy có nhiều Papillon ở Montmartre cũng như ở nơi khác. Tuy thế, ông vẫn yêu cầu tòa lên án, mà không nói rõ tội danh, quyền ấy ông nhường lại cho phụ thẩm đoàn.

“Dân sự nguyên cáo do luật sư Gautrat đại diện, sau khi chứng minh một cách buồn cười rằng ngục thất là một trường học “cải tạo tinh thần”, xin tòa đưa Charrière đến đó, vì quyền lợi của bị can, để bị can trở thành một người lương thiện”.

“Các luật sư biện hộ, Beffey và Raymond Hubert đều biện cãi vô tội. Không phải vì không tìm ra Roger người Corse, biệt danh “Papillon”, mà Charrière, biệt danh Papillon là thủ phạm.

“Tuy nhiên, phụ thẩm đoàn, sau một hồi bàn cãi rất lâu, trở lại phòng xử, đem một phán quyết xác nhận có tội và tòa đã xử Henri Charrière khổ sai chung thân, trả một quan tiền bồi thường cho dân sự nguyên cáo”.

Hết năm này đến năm khác, tôi tự đặt câu hỏi thế này: tại sao cảnh sát lại cố tình hãm hại một đứa trẻ 23 tuổi vô gia cư, mà chính nhân viên cảnh sát nói là một trong những cộng tác viên đắc lực nhất? Tôi chỉ thấy có một câu trả lời, hợp lý nhất: cảnh sát che chở cho một người nào đó, một điểm chỉ viên thật.

Ngày hôm sau trong ánh nắng, tôi trở lại Montmartre. Tôi đã tìm lại khu của tôi ở đường Tholozé và đường Durantin, ngôi chợ đường Lepic, nhưng những khuôn mặt quen biết đâu hết rồi?

Tôi vào nhà 26 đường Tholozé để thăm bà gác dan, giả vờ đi tìm người quen. Bà gác dan của tôi là một bà to béo hiền lành, có một nốt ruồi to tổ bố trên mặt đầy lông. Bà ta đâu mất. Một bà người Bretagne đã thay thế bà, và tôi bực mình quá nên hỏi lúc đến đây, bà có thấy một bà có nốt ruồi mọc lông hay không.

Người ta không cướp mất xóm Montmartre thời tuổi trẻ của tôi, không, tất cả đều còn đó, đầy đủ tất cả, nhưng tất cả đã thay đổi. Cửa hàng bán sữa đã biến thành một tiệm giặt tốc hành, quán rượu ở góc đường nay là một dược phòng, nhà bán trái cây, nay là một tiệm ăn tự động. Kìa, họ chẳng kể gì hết!

Quán rượu Bandevez tại ở góc đường Tholozé và Durantin, nơi gặp gỡ của các nữ nhân viên bưu điện ở công trường Abbesses đến đó để uống một ly rượu cassis trắng, trước kia, để chọc giận họ, chúng tôi lấy vẻ mặt hết sức nghiêm trang trách họ uống cho sướng miệng trong khi chồng họ làm ăn quần quật; giờ đây quán rượu ấy vẫn còn, nhưng quầy rượu để ở phía khác, với hai chiếc bàn kê một cách ngốc không chịu nổi, khác hẳn chỗ cũ. Ngoài ra, bà chủ là người da đen, khách hàng là người Ả rập, người Tây Ban Nha hoặc người Bồ Đào Nha. Anh cựu phạm xứ Auvergne đã biến đâu nhỉ?

Tôi bước lên bậc cấp từ đường Tholozé đến chỗ Moulin de la Galette. Hàng lan can không thay đổi, đoạn chót vẫn nguy hiểm như thường. Tại nơi này, trước kia tôi đã đỡ một ông lão bé nhỏ bị vỡ mặt vì mắt không còn trông rõ nên không kịp thấy hàng lan can dứt mau như vậy. Giờ đây tôi vuốt ve hàng lan can, tôi thấy lại cảnh ngày xưa, và tôi nghe ông lão cảm ơn: “Này cậu, cậu rất dễ thương, cậu quả là con nhà gia giáo. Tôi có lời khen và cảm ơn cậu”. Câu nói giản dị ấy làm tôi hết sức xúc động đến nỗi tôi không biết làm cách nào lượm khẩu súng lục bị rơi lúc cúi xuống đỡ ông lão, tôi không muốn ông nhận thấy chàng thanh niên có lòng kia chưa hẳn đã dễ thương đến như vậy.

Vâng, xóm Montmartre của tôi dù sao cũng còn đó, không bị người ta cướp mất, người ta chỉ cướp mất những con người, những khuôn mặt khả ái, tươi cười, thường nói với tôi: “Chào anh Papillon, khỏe chứ?”. Vâng, người ta đã cướp mất của tôi những người ấy, tôi nghe đau xót vô cùng.

Đêm đến, tôi vào một quán rượu. Trong số những người khách già nhất, tôi chọn người già hơn hết và hỏi:

– Xin lỗi, anh biết tên X chứ?

– Có.

– Nó đâu rồi?

– Trong kia.

– Còn tên Y?

– Chết rồi.

– Còn tên Z?

– Không biết. Nhưng, xin lỗi, anh hỏi nhiều quá. Anh là ai?

Hắn cố ý nói lớn hơn một chút, để bọn kia chú ý. Quả thật không sai. Một kẻ lạ mặt ngang nhiên vào một quán rượu dành cho đàn ông mà không tự giới thiệu, cũng không có ai cùng đi, phải xem nó muốn gì.

– Tôi tên Henri, quê tôi ở Avignon, và tôi từ Colombie đến. Vì vậy mà các anh không biết tôi. Chào các anh, tôi đi.

Tôi không ở lại thêm nữa và vội vã lên xe lửa để đi ngủ ngoài quận Seine. Tôi phải thận trọng như vậy vì với bất cứ giá nào tôi không muốn người ta tống đạt cho tôi lệnh bị cấm lưu trú của tôi.

Tuy nhiên, tôi đang ở Ba Lê, tôi ở đây, bạn đang ở Ba Lê bạn ơi! Tôi đã đi nhảy tại những nơi khiêu vũ bình dân ở La Bastille. Tại khiêu vũ trường Boucastel, Bal-à-Jo, tôi trật mũ ra sau và lấy cà vạt đi. Tôi cũng cả gan mời một cô gái như lúc tôi hai mươi tuổi và với một cung cách như xưa. Trong lúc quay điệu luân vũ ngược, theo tiếng đàn phong cầm khá điêu luyện không kém gì ở khiêu vũ trường Mimile Vacher thời xưa, cô gái hỏi tôi làm nghề gì, tôi đáp tôi là một cai ngục ở tỉnh, làm cho cô gái nhìn tôi rất kính cẩn.

Tôi đã đi ăn trưa ở nhà hàng La Coupole và như một người từ một thế giới khác trở về, tôi ngây thơ hỏi một anh bồi người ta có còn chơi quả đạn ở trên sân thượng nữa hay không. Chú bồi đã làm ở đây 25 năm, tỏ vẻ kinh ngạc vì câu hỏi của tôi.

Tại nhà hàng La Rotonde, tôi cố kiếm mà không thấy chỗ họa sĩ Fujita thường ngồi, tôi nhìn một cách vô vọng vào cách sắp đặt bàn ghế, vào quầy rượu để tìm lại dĩ vãng, rồi chán nản vì người ta đã xáo trộn tất cả, phá hủy tất cả những gì tôi đã biết, đã mến, tôi đột ngột bỏ đi, quên cả trả tiền. Anh bồi chạy theo chụp cánh tay tôi ở cổng vào đường xe lửa ngầm Vavin, ở ngay bên cạnh, và vì ở Pháp con người không còn biết nhã nhặn là gì, anh ta chìa vào mũi tôi mảnh giấy tính tiền, ra lệnh tôi trả gấp nếu tôi không muốn anh ta gọi cảnh sát. Dĩ nhiên là tôi trả, nhưng tôi lì xì anh ta quá ít nên anh vừa đi vừa ném vào mặt tôi câu này: “Anh cứ cất đi cho mẹ vợ anh. Bà ấy có lẽ cần số tiền lì xì ấy hơn tôi”.

Nhưng Ba Lê là Ba Lê. Tôi đi bách bộ như một thanh niên từ trên xuống dưới, rồi từ dưới lên trên đại lộ Champs Elysées rực rỡ muôn ngàn ánh sáng, thứ ánh sáng của đô thành Ba Lê sưởi ấm lòng người và đưa đến một niềm hân hoan kỳ diệu. Trời, sống ở Ba Lê thật là tuyệt?

Tôi không hề cảm thấy khích động hoặc muốn đấm đá khi đến cổng Saint Denis hoặc ngoài lộ Montmartre trước tòa báo l’Auto, tại đây trước kia Rigoulot, lúc bấy giờ là vô địch thế giới, đang biểu diễn sức mạnh bằng cách dở lên một cuộn giấy báo to tướng. Tâm hồn tôi bình thản khi đi ngang qua câu lạc bộ ngày xưa, nơi tôi đánh bài với Stavisky, rồi tôi đi một mình lặng lẽ đến xem trình diễn ở Lido. Và tôi chen lấn vài giờ trong đám người lúc nhúc ở chợ lớn Ba Lê vẫn không khác trước bao nhiêu.

Chỉ khi ở Montmartre, những lời cay đắng mới xuất phát từ lòng tôi.

Tôi ở Ba Lê tám ngày. Tám lần tôi đã trở lại nơi xảy ra vụ ám sát.

Tám lần, tôi đến ngồi lại chiếc ghế dài sau khi vuốt ve cây cổ thụ.

Tám lần, tôi nhắm mắt lại để hồi tưởng những điều tôi biết về cuộc điều tra và hai phiên tòa xử tôi.

Tám lần, tôi thấy lại mặt mũi của những thằng chó má đã làm cho tôi bị kết án.

Tám lần tôi thì thầm: “Mọi việc đã phát xuất từ đây để cướp mất của mày mười ba năm son trẻ”.

Tám lần tôi lặp lại: “Mày đã từ bỏ ý định trả thù, được rồi, nhưng không bao giờ mày có thể tha thứ”.

Tám lần, tôi đã xin Thượng Đế, rằng để tưởng thưởng tôi đã từ bỏ ý chí phục thù, thì không bao giờ một việc tương tự xảy đến cho người khác.

Tám lần tôi hỏi chiếc ghế dài cho tôi biết thằng làm chứng gian và thằng cảnh sát bất lương có còn “tình cờ” ngồi tại đây, cũng trên chiếc ghế dài này, trong nhiều lần gặp gỡ “tình cờ” để nghiền ngẫm những lời cung khai sẽ dùng trong tương lai hay không?

Tám lần, mỗi lần tôi bỏ đi, lưng bớt khòm, đến lần cuối cùng, tôi đứng thẳng người, khỏe như một thanh niên, và thì thầm chỉ để tôi nghe: “Dù sao mày cũng đã thắng, vì mày còn ở đây, tự do, khỏe mạnh được yên và làm chủ tương lai của mày. Đừng nên tìm hiểu những người khác bây giờ ra sao, những khuôn mặt của thời quá khứ ấy. Mày còn sống ở đây, thật là gần như một phép lạ, không phải ngày nào Chúa cũng ban cho như vậy. Mày nên tin chắc rằng mày là người sung sướng nhất”.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply