Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 8 Nov 2025

2. Phần 2

Trước Khi Trở Nên “Thành Phố Hồ Chí Minh”, Sài Gòn Cũ Đã Đổi Thay Như Thế Nào, Từ 1919 Đến 1990 (viết từ 18-6-90)

Ngót bảy chục năm dài, từ 1919 cho đến năm 1990, gần dứt thế kỷ XX nầy, tuy có đổi tên và đổi người cầm đầu, nhưng Sài Gòn vẫn là Sài Gòn, nay như xưa, không khác, cũng bao nhiêu rác rến, hết đổ thùng đến cầu tiêu máy, nhưng vấn đề nước uống vẫn luộm thuộm như cũ, mùa nắng dân thợ ở xa, vẫn tự kiếm lấy, mà uống ăn, nước trong ống thiếc hay keo su, rỉ ra, vẫn sét đóng đỏ sậm vào chậu sành rửa tay, thử hỏi nước ấy cho vào bụng ra thế nào, và tự gẫm dân ta sanh nhiều và sống mãi mãi, không phải nhờ giữ vệ sanh và phải có trên cao kia phù hộ. Không nói đâu xa, đời vua Tự Đức đã dứt từ năm 1883- dân ở đây nào thấy long nhan ra sao, nhưng cho đến năm 1919, vẫn ky húy, nhớ câu hát:
“Chiều chiều bắt két nhổ lông, két kêu bớ Tự, sao lòng bất nhơn?” cho đến tuổi gần xuống lỗ nầy, mới biết Tự đấy ám chỉ vụ “em giết anh khác mẹ, để giành ngôi” – và đèn điện cháy nơi hãng Nhà Rồng của hãng tàu đi tây, vẫn không sáng hơn đèn thắp đầu phộng của dân trong phố. Có tục lệ ban đêm ra đường phải xách đèn lồng đem theo, tay không đèn là kẻ gian, nhà đèn đỏ đèn lộng kiếng xanh xanh là nhà số, thanh lâu, lầu hồng. Miệng hát kéc kêu mà vẫn nhớ vua, tôi có người bác tên Tự, nhưng Ba tôi dạy gọi bác Tư Chữ, và khi

Tây chinh phục bán đất, dân Nam không tranh mua, để cho bọn sớm ngã theo kẻ thù, mua rẻ rề, và sớm làm giàu: “Người Nam mà ở đất Chà (chetty), ở phố của Chệc (phố chú Hỏa), hoặc là của Tây (hãng địa ốc Crédit Foncier).

Trải bao hưng phế, Tây thua bỏ chạy, Nhựt chiếm rồi Nhựt đầu hàng, Mỹ qua rải rắc đô la mua rẻ chữ Trinh, hết Hữu qua Diệm, Thiệu, Kỳ đóng tuồng dở ẹt, dân Nam đổi tên là Việt, nhưng sợ cọp, sợ luôn cứt cọp, thằng Tây đen Bòn bon, (sanh ở cù lao Réunion, Bourbon) tay cầm roi mây (ma trắc chưa có), du côn dọn bàn sợ lấm lét, có câu: “Kiếp sau nếu có làm người, làm ông Tây trắng, hay thằng Chà đen”, “ông Tây ổng nắm cái quyền, Thằng Chà nó có đồng tiền cho vay”. Trong khi ấy, người Việt hiếp người Việt, tuy khiếp sợ da trắng da màu, nhưng cho đến bao giờ, thia thia sặt rằn vẫn quen chậu lên nước đá nhau trầy vi tróc vảy, điền chủ hiếp và cướp vợ người mướn đất, ngày nay đổi vai, con cháu của bần cố nông lấy ruộng và làm chủ cháu con của tư bản, bù trừ. Thành phố Sài Gòn mở mang, như chớp nhoáng; mau đến viết lại không kịp. Tiến hóa cũng không theo kịp số dân sinh sản. Và đường mới được xẻ thêm, duy dơ vẫn còn dơ.
Ngày xưa, cái gì cũng của vua, “Chợ búa là chợ vua”, sứ quan chế, gốm quan dụng, đường quan lộ, nhưng phần đông khiêm tốn tiện tặn theo túi tiền, khi quan Phan đi sứ về, tâu lên: “Pháp có thạch lộ, thiếc kiều”, các quan Huế bỉu môi: “Hứ! đi xa về nói khoát! Ta giàu thế này mà chưa đủ đá để mài dao, không có sắt để chế gươm” và Nguyễn Trường Tộ kêu gào cách mấy, vua cũng chẳng nghe, vì Tộ là người của Ki tô giáo! “Xóm có Tây ở, thì có mấy con đường thênh thang, nhờ lắp mấy đường nước dơ (đại lộ Sạt ne, đại lộ Bo na, đại lộ chợ Bến Thành, v.v.), một đường duy nhứt đắp đất từ Sài Gòn chạy ra Huế, danh gọi “Đường Cái Quan”, bao nhiêu đường xóm Tân Định đều uốn khúc quanh quẹo và hẹp té, vì lấy theo ranh vườn đất của tư gia và không ai chịu nhường cho ai (đường xóm chùa dọn bàn, đường xóm hậu bôi đường Trần Quang Khải, xóm Hê rô (Héraud) đã từng giết Tây lúc binh Nhựt chiếm đóng và Nhựt hiếp Tây ra mặt, những năm lối đảo chánh 1945/46, mấy ả đầm nhí nhảnh, mặc quần cụt hở hang, ưỡn ẹo khoe mông đường Ca Ti Na, đi ngang nhà hàng Công Ti Năng Tan, mé nhà sách Bọt tai, quan võ Nhựt, thấy chướng mắt, lấy tay lật tuốt bùn rền và tuột luôn quần cụt, bày mặt bợm tô hô, đầm hay mạng phụ quan to, chỉ còn nước chạy vô nhà quán, hoặc ngồi bẹp xuống đất mà lấy nước mắt che xấu. Còn lại câu: “Rượu say sưa, say rồi lại mửa, ụa mửa rồi, say nữa mửa nữa”. Không chịu thua, say đối: “Bụng chửa mang, chửa rồi đẻ, đẻ chửa rồi, chửa nữa, đẻ nữa!”
Dân số khi Tây đến, thưa thớt đếm trên đầu ngón tay được, lần hồi, ở quê dồn về chợ, dân bỏ ruộng day qua nghề làm thợ, đèn tối om, đàn ông thì thất nghiệp, bày ra rượu chè say sưa, đêm càng tối, con nít cứ sanh thêm, và chợ, nhà, phố xá, đường lộ cứ xả thêm rác, đêm đêm lén bỏ rác nhà xóm, duy nhà mình giữ cho được sạch là xong, có chuột chết, quăng liệng xác ra đường, vệ sinh đâu và lời dạy của xã hội chủ nghĩa nhắc như kéc mà không thực hành.
Cây sao trồng thời Tây, hai bên lề đường, cây vừa phát cho tàn, đường rợp mát thì Mỹ đem xe lớn qua, đường chật hẹp, đồn cây làm xa lộ, phố trệt chồng lầu, đào đường hắc phanh đặt ổng nước, lâp không kỳ cang, nay lòi ổ gà, tổ hay ổ, phân vân giữa tiếng Bắc và tiếng Nam, chưa thống nhứt.
Phố chú Hỏa, mấy năm kinh tế khủng hoảng, phố bỏ trống, phu xe kéo phá cửa xúm nhau vô ở, công ty chú Hỏa không bao giờ đuổi, rằng: “Phố có người ở, ít có mối mọt” và người ở tỉnh muốn mướn, Chú Hỏa dạy hãy điều đình với người ở cũ, hãy chịu tiền nước cho họ dọn đi, chớ công ty tôi không có lệ trục xuất ai bao giờ”. Nhà chú Hỏa là một kho tàng liễn Hán đều là chữ mấy ông Trạng nguyên danh tiếng, Phùng Tuất Tài, vân vân, liễn bị tháo xuống làm liếp trồng rau trồng hành, miếu Minh Hương Gia Thạnh, lấy làm xưởng, chùa Thất Phủ, vì có thờ Quan Đế, để cho thấy không tin dị đoan, hạ bệ tượng, lấy chùa làm ga ra chứa xe, giận chúng tôi chưa đủ, ghét luôn ông thần, duy trải mấy dời từ Tây đến nay, đứng sựng sựng áng che tòa bố gàn trở đường thông thương, nhưng miếu Lê Tả quân ở Bà Chiểu, vẫn trêu gan cùng tuế nguyệt, nay thêm được trùng tu, vảy may là được quốc tế nhìn nhận, đó là cổ tích như duy nhứt của Miền Nam, đáng được bảo tổn.
Ngày nay nhìn trong sách, thấy nhà cao ốc lềnh khênh, nhưng chỉ ở xóm buôn bán, năm 1923, chúng tôi từ trường được dẫn đi đạo mát, khu đường Nguyễn Đình Chiểu chạy lên khu vườn xoài, vẫn còn đất trống, giáp với Đồng Tập Trận, bắt từ nhà thương Bình dân lên trường đua Phú Thọ, đều là đất bỏ hoang, chính ngay gần nhà xẹt Tây, trên đường Hồng Thập Tự, xóm Tao Đàn, năm 1923 ấy, vẫn còn thấy bên lề là một xi tẹt chứa nước để chuyển xuống xe nước do hai bò kéo, và rải nước tưới đường lát đá ong, mùa nắng, bụi cát bay mịt mù mà đèn dọc theo đường, đèn hiệu mà không đủ sáng, duy khu Ca ti na, và nơi vườn cổ thụ sao gần trường Ta be, vẫn còn đến lớn thắp bằng than cạc bon, chốc chốc, cục than rớt xuống, và có một lúc, không nhớ vào năm nào than đá Hòn ngoài Bắc chở vô không kịp, Nhà Đèn Chợ Quán, dùng lúa đốt thay, vừa ngợi, rẻ tiền, và Miền Nam dổi dào lúa dư nên phí phạm, nay ông trên cao hành, cơm tế không đủ ăn, cũng đáng!
Các đại lộ thành phố, nhờ thời Mỹ cho đặt ngẩm dưới lộ, kinh tâm hai mét, nên ống kiên cố dẫn nước thông, lộ được khang trang, thương hại các hẻm nhỏ, đừng nói chi hẻm, khu ga xe lửa cũ, ngay gần chợ Bến Thành, khu trường vẽ Gia Định, khi mưa to, nước chảy không kịp, ngập đến đầu gối, xe cộ đều nằm ỳ chờ nước rút, trẻ con dầm mưa tắm, đùa giỡn không sợ xe cán, còn đâu là trật tự, xóm tôi có một gái, cỡi xe đạp, trời mưa dông to, bị xe hơi cán nơi đường trước ga xe lửa ấy xe bỏ chạy luôn, cô gái không ai tiếp cứu, nằm đó rồi tắt hơi, tội nghiệp thay cho cô Tám, sanh bất phùng thời, có học vấn, nhưng thuộc dòng tư bản, xã hội nầy, bỏ rơi không che chở.
Thời Pháp, đường ít có lề, qua thời Mỹ, mới thấy đúc lề đường bằng xi măng vững chắc. Chính mắt tôi thấy lối 1930, ở Gia Định, một người ăn xin cắng cao cắng thấp, ban ngày anh chống gậy đi hành khất, thỉnh thoảng tôi gặp lại anh, vào buổi chiều, anh bỏ gậy và đi dọc theo lề trước nhà bà Phước Mỹ, một chơn bước trên lề đá, một chơn đi trên lộ đường, anh đi ngay thẳng như người lành mạnh, khi anh chết, nghe đâu để lại bạc ngàn, nhưng 1930, thành phố đã bắt đầu có dân đông, có ai để ý và theo dõi như tôi mà biết anh là ăn mày đa mưu xảo trá.

Vấn đề nước tốt cho dân dùng, vẫn choán những hội đồng đô thành nhóm để bàn cải không thôi, giếng chứa nước ngọt trước dinh Độc lập nay vẫn còn, sau nầy nhờ đem nước Đồng nai về mới yên, thuở tôi lên đây lối 1920, nơi hoa viên Tháp Rùa, vẫn có một tháp cao xây gạch để đưa nước phong tên vào các nhà Tây, nay còn vết tích những ống dẫn nước to của công ty đèn nước, và thời Tây trở lại, quãng 1950, hội Cổ học ấn Hoa nhóm, tôi được dự, mấy ông Tây mới chê mấy ông Tây cũ, đã ngu dốt, tại sao lúc qua đây, không định đô ở Vũng Tàu, sẳn sơn sản hải, cảnh xinh gió mát có một bác sĩ viện Pasteur, chẵm rãi tỉnh bơ giải nghĩa:
“Chúng bây còn niên thiếu, thiếu kinh nghiệm, nếu lập thủ đô ở Ô Cấp, nước ngọt đâu có để cung cấp cho dân, thêm nếu có chiến tranh, tàu chiến ngoài khơi bắn vào, chết cha mổ tổ, trái lại, đặt khu cai trị ở Sài Gòn, dưới đất có nước ngắm rất sạch, thêm vùng Gò Vấp là vùng giếng tốt, lại nữa, vào cuối thế kỷ XIX, đường sông từ biển vào Sài Gòn quanh co đủ có thì giờ phòng bị, và thời ấy chưa có máy bay cao xạ, chúng bây ngu lại trách chúng tao!”
Ngày nay, xe tốt, đường tốt, xã hơi chạy ra tắm biển, Ô Cấp, Nha trang, lên Đà lạt, chớ khi Tây qua đây, chúng làm đường giáp vòng khu rộng Gia Định, giáp Tân Thuận, gọi là đường vòng đai, chiều chiều xe nhà, xe song mã đưa bà đám, Tây u dạo mát, rồi lần lần lên Thủ Đức ăn nem, tắm mát suối Xuân trường, những nơi ấy nay đã lối thời, duy một tệ đoan tổn tại mãi, có lẽ máu mê cờ bạc đã nhiễm vào cốt tủy, từ xưa
Tây qua đây đầu độc bán a phiện và rượu của công ty Tây chế bằng gạo lức, uống cháy họng, thêm bày ra sòng me cho chệc Tàu khai thác, đề 36 con công khai, me từ Chợ Lớn ra tới khỏi chợ Bến Thành, xuống đến những năm đảo chánh, sân Tao Đàn có Hồng ốc, Cầu ông Lãnh có Đại Thế Giới, me hốt đống thả cửa, ba ngày Tết cho bạc bài tại đường giữa ca ti na, và đồng bào ta ưng bụng để vợ con thiếu thốn, có bao nhiều tiền mót máy đều cho vào sòng bài, thua-hạch túi nhưng vẫn cười tít toét, chờ bán heo cúi xong sẽ gầy sòng gỡ gạt, “bán thiệt giá hai bàn tay bạc, dầu cho rẻ mạt tám ngón mới vừa” (tuồng Thằng Lãnh), đốc phủ Trần Bá Thọ, Huyện Kim, Phù Mẫn, cò mi Lân Bảy Viễn, vua kia cũng sống bằng thuế nhà xẹt Bình Xuyên, hết me đến quây số, chửi Tây vơ vét máu mủ, đua ngựa, nhưng xổ số liên tục, mỗi ngày mỗi tỉnh là giống gì. Ở ruộng, trước đây ngày giỗ của cha ông ông chủ điền, vui và bạc bài như chợ phiên, ở chợ hiện nay, cá ngựa, đá gà, xổ số là mấy thứ, trúng được bao nhiêu người, trúng một lần bị rút rỉa thua lại bao nhiêu lần, tiền cờ bạc, thẳng thì ăn xài huy hoát, quên buổi thất bại, áo quần vợ con, gạo trong lu hũ đều ráo nạo chun chui vào sòng!
Lỗi tại mình hư nết, chớ trách kẻ bề trên. Xưa đường xá hẹp uốn khúc quanh co, không đèn rọi sáng mà đặng thái bình, nay đèn sáng choang, nhà cao ốc, lộ khang trang, nhưng cướp xe, chống lại thì đâm lòi phèo đổ ruột, xưa dân thưa thớt mà đủ ăn, nay thành đông nghẹt dân thất nghiệp ngủ đường, máy móc thay nhơn công, tiến bộ văn minh giá quá đắt. Văn minh ư? Xưa ăn chắc mặc dày, nay quần áo mỏng kiểu khiêu gợi, “áo vá vai vợ ai không biết? Áo vá quàn chí quyết vợ tôi”. Câu ấy quá xưa, trẻ nay nào biết tiết kiệm như ông bà thời đường cựu. Văn minh là nhà hàng sang, bán xa xí phẩm: vải lụa nhà Marty,
Laurent Gay góc đường nay là Lý Tự Trọng/Nguyễn thị Minh Khai, ban đầu bán đồ bắc kế ngựa (yên da, hàm thiếc), xe giá ty trái bí, sau bán ô tô hiệu FIAT, nhưng xe bền có hãng SIT bán xe hăng Renauld và hãng Charner, bán xe hiệu huê kỳ, uống xăng như trâu bò uống nước. Nhắc lại sòng me còn để lại dấu tích mấy á muối, có một xẩm con của Đại Thế Giới, tay đeo ba nhẫn xoàn, vì cặp bồ với ba công tử Tàu tỷ phú Chợ Lớn, xưng danh là Tân Vũ Hậu, tay vùa chén me, miệng hô líu lo: tại sao bốn cửa me, không nói tứ môn, lại nói “Xí mứng”, mặt 2 gọi lượng mặt 3 gọi tam là phải, nhưng vì sao, mặt 1 lại gọi “vêu” và mặt 4 lại gọi “túc”, đánh cầu âu là đánh ngay một cửa duy nhứt, còn đánh “hồ giấy mộng mị” là gì, đố biết.
Các thím là các vợ Tàu, các cô, lấy Tây, khi Tây đi qua, lính ta leo lên ngọn cây, tuột xuống, la hoảng:
“chúng nó bỏ con chim của chúng ra ngoài quần, khua nghe lẻng kẻng, dài chí gối, nhưng con chim ấy, khi làm quen và dụ được thuần thục rồi, thì nào ghê sợ, lại chê của nhà, mềm như chuối nấu, ban đầu lấy giấy bao nhang làm son thoa môi giồi mặt, sau học được phấn Coty, nước hoa từ xứ Pháp đem qua, vua Minh Mạng, ghét Tây nhưng thích nước eau de Cologne, vua hút thứ a phiện, lại sinh thơ, làm bát cú có câu “Quên coi túi Nguyễn hết hay còn” nay ứng nghiệm, sạch sành sanh, đến nữ trang khéo trong lăng bà Từ Dũ cũng nấu chảy thành vàng cục, gọi là “hóa nghiệm” không biết chưng bày triển lãm, hóa ra giết mất “con gà đẻ trứng bằng vàng”. Và gái ở đây ngày nay, tiến bộ quá mức, học đòi đào chớp bóng Mỹ, đeo lông mi giả, nheo nheo đô la, khiến nên bại trận, khổ lụy, khổ lụy trần ai, sao bì ngoài kia, bà bán bún bung đường Thủ khoa Huân, to như bà thờ mày trắng trong truyện Kiều, to như thế ấy mới vác nổi từ khúc rời, cây súng đống thắng trận Điện Biên Phủ.
Lần hồi gái bỏ dầu dừa, và xức tóc nước hoa đắt tiền, các phấn son, giày dép ở Paris có thì ở Sài Gòn cũng có, guốc ngủ bằng ngà, bắt chước đàn bà Bà Ba Ma lai, thay bằng guốc Phi Mã, không xách giỏ đi chợ lại xách bóp đầm, một bà lớn nọ hai tay xách hai túi, và mới đây, ở lăng Ông Bà Chiểu, Tết Canh ngọ có xây chầu hát bội, một ký giả kỳ cựu, nhiều người biết tiếng, miệng ngậm điếu thuốc Gò ướt, thuở nay lam lụ xập xệ, tay không quên cái bị như các cán bộ từng đi kháng chiến, nhưng y ta chỉ kháng chiến vùng khu đất Đakao, mồng bảy giêng vừa rồi, lại chễm chệ áo dài bông bạc chữ Thọ và đầu bịt khăn Suối Đờn, đeo nhỡn kính cận thị không giấu được tuổi trên sáu mươi. Tưởng nên giữ y phục như cũ là đáng khen hơn.
– Người đất Sài Gòn.
– Về phách lối là số dách. Tây qua, nhỏ thì xách rổ khiêng vác cho các mụ đầm đi chợ, gọi là “ban bù” (bambou), vẫn đá cá lăn dưa, đổ hột bầu cua cá cọp, lớn tuổi hơn, đi ở dọn bàn, nấu ăn cho Tây, áo thun sát da hay bành tô sáu nút, dây nịt nỉ cao một gang tay, trẻ nít được học chữ Tây trường Pháp, biết vừa hai tiếng “ủy nông” (oui, non, có hay không), đủ làm mấy ông thầy, cắt bỏ búi tóc, duy vẫn giữ áo dài khăn đóng, một thế hệ tiếp, tóc hớt ngắn hoặc chải lưỡi mèo, chải ma ninh, sau đó hớt tóc trụi và quên luôn tiếng Việt, khuyên bà mẹ vợ nên dùng xe kéo tay để về nhà, lại gọn lỏn: “Má lấy xe kéo về cho gọn”, bà ta không vừa, chửi đổng: “Cái đ. mẹ họ mầy! Tao có con, gả cho mầy, mầy trả ơn, biểu tao lấy thẳng kéo xe xe kéo!”
Trào Tây là như vậy, qua trào Nhựt, thì “dô tô nai, ai cà, ai kia” kịp trào Mỹ thì ô kê, bãi! bãi! Đến trào nầy, tôi nào dám nói, gương cũ để lại, Diệp văn Cương, ở Hanh Thông Tây, ở chăn bò được chủ mướn đi học thay cho con, qua Alger học thành tài trở về, ra Huế thế cho Trương Vĩnh Ký, làm thầy dạy tiếng Tây cho vua Đồng Khánh, một ông nữa, Phạm văn Tươi, gốc ở Vĩnh Long, làm thơ ký ra Hà nội làm bí thư cho toàn quyền Doumer, theo ông nầy vào Huế, vua Đồng Khánh lần đầu tiên, ra sắc chỉ cho các quan đồng tịch, để dự yến tiệc, thời theo kiểu lang sa, Toàn quyền yêu cầu triều đình Huế mời dự tiệc người bí thư, các quan Huế khiếu nại, phải hàng tổng đốc sắp lên, mới xứng ngồi cùng đức vua, toàn quyền cười và dạy: “Làm sắc chỉ cử ông Tươi làm tổng đốc đi, có khó chi việc ấy, vì chính tôi ký tên phong chức! Trần Bá Lộc sát hại đồng bào, giết người chống Pháp không biết cơ mang nào kể, Lộc cũng được chức tổng đốc và huân chương mề đay điều cao tột bực, nhưng khi toàn quyền nầy lui về Pháp rồi, triều đình Huế trả hận, viện cớ người trong Lục tỉnh Nam kỳ, không được thu nhận chức của triều đình Huế, hai ông Tổng đốc trong Nam đành ưng chức “hàm”, nhớ lại có tuồng cải lương “quan Huyện hàm hàm” của Lê văn Nở soạn, ông Tươi hiền lành, khi từ trần không mang tiếng xấu, khác với Lộc, giúp Tây và bán nước, nay chỉ còn danh nhơ, nước sông Cái Bè (Mỹ Tho) gội làm sao sạch?
Viết đến đây, nhớ tật ưa nói chuyện tầm xàm, xin xin mở một dấu ngoặc, ghi lại đây một giai thoại không dính dấp chút nào đến chuyện Sài Gòn, nhưng vẫn cho thấy khi gần bị xử bắn, còn tranh cho đứng. Nguyên khi chúa Kito bị xử treo trên cây thập tự, chúa bị treo giữa hai kẻ trộm, và tên treo bên tả là đứa bán chủ hay sau nầy là chúa để lấy ba mươi tiền hỏen. Trong chuyện nói đây là chuyện đồng thời vi với lúc nước ta bị vua Napoléon III của Pháp sai lính Tây đánh chiếm nước ta. Và chính ngày 19 tháng 6 năm 1867, trùng với năm đinh mão bên ta quan Phan tuẩn tiết, thì bên xứ Mễ tây cơ, vua thuộc dòng hoàng tộc Pháp, Bourbon của Âu châu, vì thất trận, bị phe nghịch xử bắn, cùng một lúc với hai cận thần đều là đại tướng, một ông tên Miramon, và một ông nữa, người lai hai dòng máu tên Thomas Mejia, vua tên Maximilien, đứng trước ba cây trụ để xử bắn, vua nói:

“Ta rất ưng chết giữa một ngày quang đảng như vầy, và muốn được đứng giữa hai trung thần, hết lòng vì ta và vì nước, vậy Miramon hãy lại đứng bên hữu của ta”, vua nói chưa dứt lời, tướng lai Thomas Mejia chận lại xin thưa: “Tâu Bệ hạ, kẻ hạ thần nầy xin chết với vua không tiếc mạng, nhưng nhớ lại ngày trước Chúa tử tiết, đứng bên tả là kẻ trộm nhơ danh nhứt, và ngày nay kẻ hạ thần không muốn mang tiếng như tên đạo tặc bên tả như vẩy”, vua vừa nghe tâu, vội cười mà phán rằng “Đến giờ phút nầy, khanh còn nhớ điển và câu nệ tả hữu, như vậy cũng được, vậy thì khanh hãy bước qua đứng bên hữu của tướng Miramon, trắm đây đầu dộc tội nhiều, trấm ưng làm tên đứng bên tả…” và cá ba đều bị xử bắn, tướng Miramon ênh ngực cho cho đạn soi tim, tướng lai Mejia, tay lần chuỗi, còn vua khoanh tay trước ngực, hãnh diện hô to: “Ta tha thứ cho tất cả, và ước chi giọt máu của ta sẽ làm êm dịu cuộc tương tàn của xứ Mễ Tây Cơ này”. Sử chép bà hậu vợ của Maximilien để, khi nghe tin dữ, bỗng loạn trí luôn và sau sáu bảy năm mới từ trần. Khép đấu ngoặc có xảy ra việc đi chuộc đất bất thành và chớ chi vào năm 1870, Tây thua, triểu đình Huế biết thừa cơ kháng chiến kéo dài, thì ắt ta khỏi làm tôi Pháp và bị Pháp đô hộ, nhưng như đã biết, sử và sự thật đã hiển nhiên, hơi đâu bàn suông lếu

(19-6-1990).

Trở lại người dân đất Sài Gòn, như tôi đã nói, dám chắc không dân nào trí lanh tay xảo hơn. Khi nay bỏ áo giáp, tuột giày trận chịu đi đày, bán từ bàn thờ tổ tiên, bán ván gò để nằm dưới gạch, căn đày kiếp đọa, tiếc đã muộn trước kia, đã lai nhiều đời, lưỡi uốn éo ngọt xớt, nhái đủ giọng, giọng Bắc, đầy đủ, làm tốt, giọng Huế, mi mày tê mô, học với Tây nhái giọng rặt như dân kinh đô Paris, không phải sanh tại gốc mẹ, ở từ đất phèn tứ chiếng, lại khoe cha Bồn kèn, mẹ đứng đường Lăng Xi Bề, và lạ một điều, kép Bắc muốn ca vọng cổ phải bó nói “vào, vô” và bắt chước Ba Văn, cũng dào, dô, mới học được ca sáu câu mùi, lượm tiền xơi phở.

Không ra Huế nhưng làm công tử Bột vẫn trọ trẹ, không từng biết Hà Nội, nhưng rao kẹo kéo có dây có nhợ và tập húc thuốc Lào, khi say thuốc, bán ba tê trên tàu hóa, bị trẻ ăn cắp bánh mà không hay biết. Kép Tư Út, khi ngâm bài anh khóa, đừng nhìn mặt, đố ai biết Út sanh tại Giếng Nước xứ Sốc Trăng, cũng gốc phèn như kẻ nầy. Nhà ở mọc như nấm đầu mùa mưa, khi lẹt đẹt ván thùng, nóc lá chăm lá khiểu, khi thì cao ốc nhiều từng, động động là cho bà hỏa phi tang, nhà cổ năm căn, cột chạm rồng của Tổng đốc Phương, chưa đầy trăm năm, nam ngoái đã bán và chở qua Đài Loan, khu Xóm Chiếu, khu Bảy Hiền, có “nhà đá” không phải nhà bằng đá khối, và đích thị nhà ọp ẹp, đá cho một đá, nhà đi đời như đồ mẻ.
Đèn đuốc, từ dầu phộng, dầu cá, qua dầu hỏa của Hoa kỳ, chúng nó bày ra dầu nhạy lửa này, trong Nam dầu lửa, ngoài kia dầu hỏa, kẻ chữ người nôm vẫn cùng một chúng tộc, Hoa kỳ bày bán cho luôn cây đèn có ống khói, vừa quen quen, chế ra đèn thắp khí đá, đèn thấp ét xăng có măng song chói sáng, rồi bắt qua đèn điện, tiếp chuyển đèn néon, hộp quẹt đá lửa qua hòm diêm, quẹt xăng, rồi quẹt dùng hết khí thì quãng, thuốc ngon nửa điếu ai thèm, điếu bọc đầu hiệu 555, khi mua đổi tiền đã qua, một điếu mua bạc triệu, dân Sài Gòn dám chơi mà lị. Xưa giận nhau, chém dao để thẹo, sau đó đâm hay bắn nay bắt cóc khảo từ tiền kẽm qua tiền điếu, bạc tròn ra bạc giấy, sắm rương xe giường hòm, trộm hai đứa khiêng nguyên nắp thò tay lấy của sắm tủ sắt, cướp phá tủ không xuể, bắt chủ nhà mua đinh cây, tự mở tủ sắt lấy, không ưng mua, kẻ cướp đóng cây đinh dài một gang tay vào lỗ nhĩ, tài chủ có chịu đau thấu chăng?
Dân Sài Gòn tự khoe tiến bộ ký quỹ, gởi tiền nhà băng.
Giái phóng vào, hốt sạch sành sanh, thua xa dân đàn Thổ Trà Vình, Sốc Trăng không xài bạc giấy, lấy bạc đồng nguyên chất, bán lúa mùa nầy xong, chôn bạc giữa lẫm rồi đổ lúa mới lên trên, ăn cướp đến viếng, cứ chỉ lẫm, moi sạch lúa mà lấy bạc! Biết phải mấy ngày trời mới moi xong vài ngàn gia lúa, số bạc cần dùng, chủ Thổ gởi vào chùa Phật, cướp Miên không động đến Cng lục bao giờ, còn mấy đồng bạc con đầm lé, bán cho bọn chơi đồ cổ, tôi hiện không theo dối và không biết giá, muốn biết xin ra đường Đồng Khởi, hỏi chệc Tàu chuyên bán tiền xưa.
Người cố cựu Sải Gòn, tôi được thấy và biết, ở Chợ Cả, có hiệu “Kim Ngọc” của ông thợ bạc cha của hội đồng Trần Văn Khá, qua Mỹ từ lâu, ở Dakao, đường Đình Tiên Hoàng, có năm căn nhà trệt trước nhà có hai cây nhân, gánh mì rất ngon (mì cây nhãn), trong Chợ Lớn nay vẫn còn trên đường Nguyễn Trới, nhà Hộ Xưởng, nhà nửa sạc thời Tây đường Nguyễn Đinh Chiều có nhà Sáu Ngọ, tên Pháp Là Paul Daron, chuyên chứa bài chứa me, đường Cách Mạng Tháng Tám, có nhà Sáu Nhiều, cũng chuyên nghề đổ bác, đường Trần Hưng Đạo, có nhà bà Hà Minh Phải, chứa nhiều cổ vật có giá trị, sau bà dọn về đường An Bình (Chợ Lớn) và năm rồi quân vô lương đã đào mộ trộm của lấy mất đầu lâu và cục kim cương trong họng. Khoe của thật tai hại, chưa chắc lo lớt dưới Diêm đài, xác chôn từ lâu nay mắt đầu.
Không phải tôi nói xấu, có thiếu chi người cầm bút trước đây không lâu muốn bợ mà bợ không đúng chỗ, xách bị sây xuống đường, nịnh bên kia, mà nay chạy mất, đâu còn mặt mãi nào. Kẻ tu hành khác không chịu giữ đạo, lãnh dạy trường lớn, công giáo bênh công giáo, mặc áo đen thầy dòng, không biết cao lâu Tầm Dương, tiên nâu Bạch Hạc của tiên Lá Đồng Tân, chữ “tiên lâu” một thầy dạy Văn khoa viết sách, tưởng in lầm, nên sửa lại, “ăn tiên lâu” thay vì ăn tiên lầu, là lên lầu Chợ Cũ, xực cơm thố, cha Lãng nào biết và để lại chữ in rõ ràng “ăn tiêu lầu” dốt ơi là dốt. Nghề bán cơm là thạnh hành nhứt, từ cổ chí kim.

Sài Gòn là ngõ quốc tế, nơi tụ hội người tứ chiếng, Tây Nam Chà Chệc, da đen Ấn, gọi chung là Chà Và (Java), da trắng trước gọi là Hòa Lan, rồi pha lang sa, chỉ phân biệt một giống tóc đỏ là hồng mao, Mên nay là người Kơ me, Mọi trở nên đồng bào Thượng, tránh tiếng anh đi rền (indigène), nhưng xin hỏi người sanh đẻ tại Paris, chắng là indigène de Paris, chứ gì?

Đá là ngã ba, ngã tư, tức chất chứa rác rấn, biết quét dọn làm sao cho hết, (đố ai quét sạch lá rừng), mở đầu bài này, tôi nói Sài Gòn dơ những là dơ là vì vậy. Người phương đông đến trước, ở đất nóng, thích ánh sáng và thích ồn ào, trống Bắc thì gọi Bắc cấu (Bắc cổ), nhưng làm gì có người Bắc Kinh, Tô Châu đến đây, đến nhiều là dân Quảng Đông, trống bịt da căng thẳng, tiếng nghe chát chúa, thêm phèng la to bằng tàn dù, tiếng dội ở tai, lại còn chặt cho nứt cho tiếng them nhức óc, chú Tiều là huyện Tri Châu quê chuyên ăn sò hến, trồng rau cải, trống kèn chuộng êm tai, đến khi người Tây qua, họ ở xứ lạnh, xa mặt trời, lấy yên tịnh làm đầu, bên ấy, nuôi con gà cho nó báo tin sáng cũng không xong, sáng ngày anh hàng xóm đã qua nhà yêu cầu

làm thịt con trống, cho ngủ an giấc, trẻ Pháp, sai đi mua một hộp diêm quẹt, nó chạy ù cho bớt lạnh, và lấy vận động thể thao làm đầu, trái lại dân Việt ta quen ở xứ nảy nóng nực, vận chuyển sẽ ra mổ hôi, dơ áo còn gì, bởi vậy đứng đi chậm chạp, nói năng chậm rãi, đi ở làm bồi cho Tây, vẫn bị chủ quở vì nào biết đóng cửa giữ hơi ấm như bên xứ của ông, cơ khổ, cửa phải mở trống cho khoảng khoát, vả lại có gì mà giấu, sách đã dạy: “thanh thiên bạch nhựt” kia mà.

Thảy thảy đều dơ, duy món ăn ở đây là được sạch. Và có thật nhiều.

Và phân làm nhiều lối. Món phở bò, vô đây từ những năm bốn mươi, nay có phở gà, nhưng chưa đánh chết được tô hủ tíu. Hủ tíu của chệc Tiều, từ Nam Vang tiếng hủ tíu lại là tiếng Quảng Đông, “hủ” là mục nát và “ngầu dụcc phảnh” chính là “ngưu nhục phấn”, qua xóm Tiều, hóa ra “củ tiếu” tôi hiểu theo tôi và chờ người lịch duyệt dạy thêm, có lẽ “củ” là “quẻ”, “tíu, tiếu” là nhỏ nhít (ngon thơm như mùi quế, nhỏ sợi…) giải nghĩa nữa thêm phiền.

Ăn có nhiều cách ăn. Ăn mắm sống xé tay, phải ăn bốc mới ngon, ăn kiểu cách ngồi vào bàn, mặc đồ lớn, mắm rau đặt vào chén, mất thú. Ăn theo Tàu, vỏ cua bỏ đầy mặt bàn, mới gọi là “hẩu xực (hảo thực), Tàu quán cơm lại bày món ăn treo cả dọc trước cửa hàng, ăn theo Pháp, nhỏ nhẹ không cho thấy nhóp nhép, giấu từng khúc xương, bếp núc đặt ở nhà sau, nhưng sạch hay dơ, khách nào rõ, lấy nấu chín làm tiên, ợ ra tiếng

được trọng đãi, Tây ăn bánh nướng bánh mì, nhai không cho thấy hở mồm, anh bợm bãi (chà Bombay), vò cục cơm, cục gà cà ri quăng vào miệng không cho đụng môi, đạo Hồi tổ là Mahomet dạy tay trái rửa mông bằng nước, cho nên ít bị thoát gian, tay mặt đưa món ăn vào không cho đụng môi, một cách kín đáo dạy chừa uống rượu mạnh và rót rượu từ trên cao rót xuống, có ngày sặc sụa và sặc gạch. Người Ân Độ dùng lá chuối lót thức ăn, vì họ có tục không dùng đồ đựng hai lần, vì vậy xứ họ không chế tạo đồ gốm, vua chúa dùng dĩa vàng chén ngọc, tôi chưa biết nếu không dùng lại lần thứ hai, thì phải làm sao đây?

Vua ta dùng đũa trc, không dùng lại, cũng được. Vua Thổ, ăn bốc, vua ngồi xếp bằng, tay trái chống hông, tay mặt bốc và cơm rơi bừa bãi, có như vậy, phong tục cho rằng có dư thừa, dân chúng đầu đen máu đỏ mới có cơm ăn.

Có lần tôi thấy một bức tranh dầu, vẽ cảnh một chị ngồi trên ván đang “xi con ự ứ”, dưới chõng, vẽ một con xi đang chầu chực, tranh khéo, cảnh thực, nhưng dầu cho thật sự, theo tôi chán chường, không nhã chút nào, tôi thích một búc tranh nhỏ thôi, để trong tập chớ cũng không treo, phóng bút gợi cảnh đêm rồi xem diễn tuồng Mạnh Lệ Quân giả trai, đậu trạng, làm thủ tướng, bổng có đơn của Đông Bình Vương cáo thừa tướng không phải bợm mày râu, vua Nguyên cỡi tuấn mã, bêu ngựa tới trước, bức họa vẽ vua ngó ngoái lại sau, tay đang quất trên cành liễu, cho giọt nước rơi xuống rửa sạch lớp phần thì biết giả chơn, đồng thời Lịch thừa tướng (Mạnh Lệ Quân) nơi phía sau vua, vừa trờ ngựa tới, cô Bảy Phùng Há lấy tay áo lau gò má, mắt liếc như thầm trách đấng quân vương sao có thói 35, vua và tôi, không nói một lời, giàn đờn do Sáu Tứng điều khiển cứ trổi bản Khổng Minh toa lầu, đờn khảy tứng tứng tưng tưng, thì vua quơ roi, (văng vắng nghe như có câu “Kế Khống Minh cao!”, khảy tới “từng tứng tứng tưng tưng” (nghe như “Tư Mã Ý hết hồn!) thì ngựa Lệ Quân Phùng Há vừa trờ tới, không cần một tiếng hát, chỉ tiếng đờn là đủ, nhẹ nhàng tiết tấu, lấy thính âm dây sắt dây tơ thế cho tiếng người, hay tuyệt diệu, cô Bảy còn đây và bức tranh nhỏ còn đây, Tư Út đâu còn, và cần gì mấy câu “bán chiếu Cà Mau” nỉ non sầu thám của Út Trà Ôn, một đoạn khiêu vũ tài tình, bức tranh không lời, diễn tả như vậy mới là tài tình, và trở lại món ăn ở đây, không phải đợi nhiều tiền mới phải là ngon, và lối viết cũng vậy, tôi viết hoài một điệu, người đọc tránh sao khởi mỏi mắt hết muốn nghe.

Như vậy, xin để cho tôi đứt nơi đây, và mặc đầu nói chuyện của mình là nên tránh, “khoai vò mình củ, cách mấy cũng không tròn”, và đây là chuyện thẳng tới qua món ăn trong này..Năm 1924 tôi ra trường đã được kể gần hai năm. Khi còn học, nhờ anh em đồng hương đưa lại một căn phố số 71 đường nay là Lý Tự Trọng. Số 69 là Khám Lớn, đêm đêm nghe tiếng trống canh đã nhàm tai. Phố rộng và rất sâu, từ hàng hiên, độ hai mét bề sâu, có một vách gạch chừa một cửa sổ và một cửa ra vô, bước vào là một phòng tiếp khách rộng vuông bốn mét ngang, có hai cột gạch chận salon ấy với một phòng ăn phía trong khá rộng có giường đồng Hồng Kông và một bộ vấn ba gó sừng, đến đây đã bao nhiêu thước bề sâu, kế đến một sân nhỏ chái xinh xinh làm phòng rửa mặt, tiếp theo là nhà bếp và nhà tắm, thêm một phòng đủ chỗ cho chị Ba, đầu bếp, ở chung với một mẹ già, nhà bồi này ăn thông với một hẻm, chừa cho đêm đêm cu li đổ thùng làm việc vệ sinh, hèm nầy đụng vách hông của sở đo và phát giấy căn cước, Pháp gọi Service d’Identité Judiciaire, trổ ra đường
Filippini đường này sau có tên là Nguyễn Trưng Trực và sở ấy quen gọi Sở Đồ Hình, cũng có tên Pháp khác là service d’anchropométrie, Đào Duy Anh dịch sở đo nhân loại trắc định pháp.
Khi ở trong trường, Tây giám thị chánh, tên Nicolai, lãnh nấu cơm, cho học trò, mỗi sáng cho một đứa một hột vịt giằm ớt nước mắm, suốt bốn năm như vậy nuốt không biết bao nhiêu trứng mà không dám chê lợm miệng; khi ra trường, lại tá túc số 71 Lagrandière nầy cho đến năm 1925 ra riêng cưới vợ, lại học dư, học phong lưu lãng phí, làm nhiều tiền, mỗi tháng 54 đồng (tương đương chín chỉ vàng), không biết tiện tặn, không biết gới bớt về báo ơn cha nuôi dưỡng, lại lên mặt làm sang, ba bốn bữa, đi ăn cơm Tây quán
Yeng Yeng một lần, cơm tháng, nấu rất ngon, lại chê nhàm, nhưng cơm Tây không mắc, một bữa độ hai món, chừng bảy cắc bạc đủ no: nửa đĩa bò phí lê chiên chateaubriand, khoai phồng, thơm bơ giá bốn cắc, năm 1924, tôi làm việc nơi trường máy ông Rosel, mới biết thuớ ấy, mấy thầy gác lớp nơi trường Trung học Tây và nơi trường Sở Cọp nhờ chỉ chọt[SL1]  cho đốc học trường xuất tiền nhà mua sắm đất vườn trồng cao su mà củng có địa vị, ông giám thị chánh nơi trường máy nhờ bán thùng thiếc đựng ét xăng khi lấy hết xăng ra, mỗi thúng bán hai cắc mà dư tiền về ăn và dưỡng nhàn bên Pháp và còn dư tiền sắm vườn trồng nho bên ấy, tôi vẫn chưa biết tổng đốc xứ Bắc và các thượng thơ triều đình Huế lương bổng mỗi tháng là bao, chớ đốc phủ sứ trong Nam, lương tột bực là ba ngàn đồng bạc con đầm xỏe trọn niên, tính ra hai trăm năm chục đồng mỗi tháng, quan Tây cai trị hạng nhứt, lương chín trăm đồng mỗi tháng (bằng giá mười lăm lượng vàng), viên thống đốc Nam kỳ mỗi tháng lương kể luôn tiền phụ cấp là hai ngàn đồng bạc, nhưng đi có một thống đốc để lại như tri huyện tuổi tý mà ước ao phải là tuổi sửu cho dân dâng lễ lộc bằng bạc hiện nặng như trâu, thống đốc sắp về hưu, than: “Làm trầy vi tróc vảy, bắt Cộng, giữ thanh liêm mà lương tháng không bằng tiền vô của viên cò chánh trong Chợ Lớn, (vì chức cò, ông cẩm, tháng lương sáu trăm đồng, nhưng nếu cho chứa bài, cho hốt me, trong một đêm, là sánh bằng lương thống đốc trong một tháng, và nếu bài và me cho chứa nội một tuần nhựt, là đủ xin về hưu sớm, khỏi chờ hưu bổng lâu lơ. Lương của quan Pháp qua thuộc địa, có bằng cứ nhơn, vào làm nơi trường bác cổ, muốn cho khởi phân bì và giữ được liêm chính, vẫn được trá lương đồng hàng với chức quan cai trị, bên Anh quốc, quan chức lương rất hậu và lương cao quan viên ở thuộc địa tâng tiu chỗ làm, để về hưu tọa hưởng và khỏi hà lạm hối lộ.

Năm 1925 và 1926

Hai năm nấy, tôi hư hết chỗ nói. Cha mẹ định đôi bạn, tôi xài trong sáu tháng, tiêu cạn sáu trăm tiền hồ của ông già cho trọn, duyên nợ cưới tiền, tiền không đem lại hạnh phúc, nói chí phải, dọn về vợ chồng ở riêng một căn phố cùng một đường nay là Lý Tự Trọng, số nhà 214 bây giờ là một hiệu phở thơm ngon, phô nầy trước của Hội đồng Trần Trinh Trạch, tỷ phú muối ở Bạc Liêu, ông Bạch Thái Bưởi ở Bắc, chủ hãng tàu đi biển, hoa lợi ra sao, chớ ở Nam, ông Trạch có ruộng sản xuất muối, gặp mùa, nắng tốt, nội một ngày, ông thâu năm ngàn đồng bạc, sau khi đóng thuế đoan rồi, công tử Qui, ái tử của ông, lấy tiền bắt tay với gái lịch, đối thủ là công tử trắng trẻo xứ Mỹ Tho, giàu dầu dừa, cả hai phung phí và nuôi gái xinh tươi, danh từ hoa khôi chưa có, Ba Trà, Tư Nhị, Năm Chời Mòi, cô lai Lucie Bandot, trong lúc ấy, như ngựa sút xiềng tôi chỉ là một thơ ký tập sự nơi trường máy, nhưng nhờ theo thầy cũ là ông đốc Nguyễn Văn Mai, ông mở lớp dạy không lấy tiền nơi trường cũ Chasseloup, tôi theo thầy làm phụ tá dạy kèm tiếng Việt cho quan Tây, có ba Tây nhờ tôi chỉ giúp, mỗi tháng tôi có thêm sáu chục đồng tiền dạy, cộng với tiền lương, tôi có gần một trăm mươi ngoài mỗi tháng, gần bằng lương huyện, phủ, việc nhà hư hỏng, tôi phế gia cang, cặp nhơn tỉnh, công tử đi xe hiệu Delage chở cô Nhị, cô Trà, tôi ngồi xe song mã mướn giờ, có Sáu Ênh, khi khác Chín Ênh, khi khác nữa, cô Sáu Ngọc Anh, Anh cũng là Ênh, ba cô có máu Tàu, Trà Nhị, danh lớn mà đóa hoa đã tàn, ba cô nầy, gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu, chắc da chắc thịt, duy thiếu xe sang và nhà cửa xinh đẹp. Lúc nẩy tôi ở ăn cơm tháng nơi đường Bô na, nhà bán vàng và nữ trang của bác Cao Văn Hy, tuy vậy trưa trưa, tôi chỉ ăn có một tô hủ tíu cá gà, một cắc bạc, nhưng chệc Quảng nầu bán dạo rất ngon, tôi dành tiền để lên xe xuống ngựa, địch thể với hai công tử, ăn cơm nhà hàng Tây, tắm mát Xuân Trường nhưng Georges Phước và Ba Huy (hay là Qui) có biết đâu cảnh tôi hết tiền thường nằm tiệm hút đường d’Espagne, ăn bánh hỏi hai cắc một tràn nơi quán Ba Tàu đường sau gọi là đường Nguyễn An Ninh, cảnh hư mà giúp tôi nên, tiệm hút và quán bán là ve hột gà luộc, ăn chịu ký bông cuối tháng sẽ trả tiền, mấy nơi ấy chính là trường đào tạo cho tôi được như ngày hôm nay, và sẵn đây nhớ lại trong tập nhỏ “Tạp lục 1989/1990” vừa viết xong, tôi nói đã học nói thơ giặm về Bùi Kiệm không ắt vào năm 1924 hay là năm 1926, và nhớ chắc việc ấy xảy ra năm 1924, chớ năm 1926, tôi đã trải qua vài lần nằm nhà thương Chợ Rấy, bịnh ho gió, bịnh đường tiểu của gái tặng, một lần xuýt bỏ mạng, ban cua, văn hóa học chi cho nhiều, ngày ngày nơi sở làm, chỉ lập tờ mua sắt đồng cho học trò trường máy luyện tập, ốc bù lon, ốc long đền, xuýt quen tiếng Pháp học nơi trường, ăn uống vất vả, tuy vậy khá sạch và khá ngon, năm 1926, có một ông già, từ Thủ Đức gánh bò bún bánh hỏi xuống bán, tháp tùng xe lửa nới tiền, xin nhớ bò bún, thịt nướng hay xào và bún rau thơm, không phải bún bò, món ăn đặc biệt của Huế. Ông ấy tuy già nhưng khương kiện, tiếng rao lảnh lót, chủ nhựt ngồi chơi bài, nghe tiếng rao lật đật gọi, mỗi đứa một tràn bánh, giá hai cắc, rượu nguyên chai sâm banh hiệu Veuve Amiot, chín cắc một chai, đủ gật gù say say, tuổi chưa tới ba mươi, ăn sắt cũng tiêu hóa được, và hạnh phúc đã qua rồi mới biết!

Năm 1927

Năm nầy tôi lập gia đình mới, đầu năm dọn từ đường Bô na, lên nhà bà nhạc tương lai ở đường nay là Nguyễn Đình Chiếu, ngày chở rương đựng sách, có ba cô ả theo tiễn, muốn cầm ở lại cùng nhau thả cầm thi, bà nhạc thấy mà ngán cho thằng rể khéo lựa, phố lầu một từng nhưng rộng lớn, dài từ Phan Đình Phùng đụng với đường Hồ Xuân Hương, giá mỗi tháng một trăm sáu chục đồng, ông nhạc gia lương tám chục, lương của tôi cũng tám chục, cả hai cộng lại vừa đủ trả tiền nhà, còn tiền mướn đầu bếp, lái xe, bồi dọn bàn, chưa tính, nhưng chờ một đêm chứa me đủ trả, gần cuối năm chịu không thấu, dọn về đường Nguyễn Du, số nhà 75, vẫn phố của Hội đồng Trạch, sáu chục đồng mỗi tháng, mặt tiền phố ngó vườn Tao Đàn, chỗ nầy kín đáo, vẫn tiếp tục chứa bài làm sanh kế, duy mẹ vợ và bố ghẻ gặp vận đen, đánh bài thua để nợ cho tôi hẹn, cùn trí quá, chịu cực không xuể, chiều nào cũng có xét ty xách dù đòi nợ, góp tuần góp mỗi ngày, tôi thú thiệt với chủ là ông Rosel, ông tốt quá, bằng lòng cho tôi xin đổi về tỉnh, và có giấy cho tôi thuyên về tòa bố Sa Đéc, nơi có nhiều người ham chơi đồ cổ, và tôi phát tích thạo về đồ sứ xưa, cũng từ đây.

Tôi nổi trôi lặn hụp đổi về Sốc Trăng từ năm 1932, đổi lên tòa bố Cần Thơ, làm thơ ký đứng bàn ông chánh bố từ năm 1936, nhưng đi thi để thăng cấp vẫn thi rớt mãi, năm 1938, đổi về Sài Gòn trụ lại từ năm 1938 đến 1943, thấy tình hình không ổn, đổi về Sốc Trăng gần với cha, tưởng được yên thân, nhưng xảy ra đảo chánh năm 1945, chạy dôn chạy đáo, vô Hòa Tú tản cư, xuýt bị chết vì tội là phe có tiền và tội làm việc cho Tây, may phước là họ điều tra lại, biết tôi chưa làm gì có hại đến đồng bào nên họ bỏ qua, tuy vậy chịu cực không quen, lối cuối 1946, có dịp tiện, tôi chạy về châu thành Sốc Trăng, nương náu nơi nhà của Ba tôi, và có ngờ đâu sau mười chín năm hòa thuận bỗng đàn bà sanh tâm, ngoại tình, tháng 7 năm 1947, ngột ngạt vì đôi bên, bên Pháp là Tây đòi ép trở về với chúng, bên kia là anh em kháng chiến, đòi tôi ra theo, nhưng như đã nói, tập ăn trái bần mấy tháng ở Hòa Tú đã ê răng, tôi dành chịu lỗi, xách gói chạy lên Sài Gòn vào lối tháng 7 năm 1947, rồi dè đâu dính gốc dính rễ, có lẽ chừng nào đến ngày nào nằm trong sáu mảnh ván kia, thì sẽ được chở xác về nơi nhau rún.

Sài Gòn xét chung, trước khi trở nên thành phố mang tên Bác kính trọng Nay bình tâm xét lại, dám đâu lớn lối khoe “có từng thử lưa mới biêt tuổi vàng” , và cung chăng nên tự phụ “gần bùn mà sen vẫn trắng trong tinh khiết”, vả lại chuyện hiện tại, tôi ru rú ở trong nhà, làm sao biết rõ hơn người lịch duyệt, từng bươn chải đi Bắc vào Nam, vậy xin chừa chuyện đời bây giờ cho người khác viết, duy phải nhìn nhận nhờ được cha mẹ dạy kỹ, “lọng dù dầu rách vẫn còn sườn”, tôi sống nhiều năm trong cảnh hư đồn và nay được như bây giờ, ơn cha mẹ không quên, mà nào dám quên sự đào tạo của hai vị ân nhơn như dưới đây xin kế:

Và tôi xin nhấn mạnh một điều: việc tôi kể rồi, có người không thương, ắt nghi tôi lẻo mép, nói sai sự thật, vậy tôi ghi lại đây, những gì của hai người cổ cựu, sống lâu năm đất Sài Gòn, nay đã quá vãng, thuở đó đã sinh sống và thuật với tôi làm sao, tôi nay thuật lại y như trí nhớ, nhưng những sự việc ấy thật quá tầm thường, đối với người làm chánh trị, ắt chướng mắt và vô ích, nhưng đổi với người làm kinh tài, muốn có tư liệu về sinh hoạt ngày xưa, thì quả là nên tin là đúng sự thật, nhưng vẫn cu cu chẳn chẵn, nhằm chướng, và tôi nhấn mạnh lại nữa, những gì tôi đã viết trong cái tập nhỏ hiện đang tái bản lần đầu, tỷ như về giá vài món cổ ngoạn, tôi thường kể lề ngày mua, giá mua, chỗ bán, lúc trước thấy như rườm rà vô ích, nhưng nay mới thấy hậu quả cũng giúp được phần nào để so sánh với giá hiện tại của mỗi món còn tìm gặp, nhưng về giá cả và giá trị, đã leo thang đến bực nào, một cây nhang thắp, một tô phở đều giá số ngàn, một ly nước chanh đường lạnh, họ bán nơi khách sạn nổi đậu chỗ một hình, giá kinh khủng quá sức tưởng tượng, tầm chục ngàn rồi sụt bốn chục ngàn, nhưng vẫn chưa mát và ngon hơn ly nước một thứ chanh chợ Bà Chiều hay Hóc Môn, Bà Điểm.

Người thứ nhứt, mở mắt cho tôi là bà chủ nấu cơm tháng năm 1924. Vì nhà của bà ở sát nách Khám Lớn, phố số nhà 77, chỉ cách Khám số 69, có ba căn: số 71 là quán hủ tíu sau đó là văn phòng một luật sư, căn 73 của mại bản Tàu tên Diệp Bắc Hưng, số 75 của chà Ponnou ký giả, căn số 77 chỗ tôi ngụ, mỗi đêm mỗi nghe tiếng trống sang canh của Khám, lại nữa tôi chơi thân với Huyện Hiệu làm thơ ký nơi Khám lâu năm và bạn đồng trường Nguyễn Văn Lạc, cũng xuất thân tập sự nơi Khám nầy, cho nên việc vặt vạnh nơi Khám, tôi nghe đầy tai, và tôi vốn là mọt sách, đã mua được vài tập nhỏ thuật chuyện phá Khám và chuyện xử bắn oan uổng những người bị bắt và tình nghi đã phá khám (xem phần phụ lục nơi sau).

Bà chủ nấu cơm tháng của chúng tôi, vốn là họ Đỗ, có chồng họ Lê, bà quê ở Gò Công, nhưng vô dân Sài Gòn đã từ đời bà Cố Hỷ, vì chồng làm cờ le cho một luật sư Pháp, nên chúng tôi gọi tặng bà là “Bà Thầy”. Lúc xuân thời bà có nhan sắc, nhưng tánh quá chặt chịa, làm eo làm xách, Ông Thầy chịu không kham, nên đã nứt niền, lập gia đình khác và không trở lại, bà có hai ái nữ đều cho học trường đầm Marie Curie, bà nấu cơm tháng cho bốn đứa chúng tôi, mỗi tháng bà có tám chục đồng, đủ trả tiền phố ba mươi lăm đồng, và bà chỉ tốn tiền túi thêm vài chục mà ba mẹ con và chúng tôi vĩ vèo sáng sữa bò hủ tíu bên xóm mỗi tô ba xu, cơm trưa và chiều, chị Ba bếp khéo xoay trở đủ gà trộn gỏi, bò bít tết và thịt kho nước dừa, dưa giá chấm vào nay nhớ lại bắt thèm. Khai quan điểm nhãn là chính bà dạy chúng tôi xa hoa học ăn ở đài các, khăn bàn lau mặt mua tiệm Marty, xà bông hiệu Cadum, cơm Tầu và cơm nhà hàng Tây vào đầu tháng, khi nhà Rénard nơi khu Chợ Cũ đường Phủ Kiệt, khi quán Yeng Yeng đường Pasteur, hoặc quán Quảng Hạp nơi đường Lê Thánh Tôn, và trở bữa có quán cơm Việt nơi Lữ quán đường d’Espagne, có cô Marie ngồi thâu tiền, mắt thu khiêu khích, hoặc nơi góc đường d’Espagne và Thủ Khoa Huân có quán lớn gọi nhà hàng Mékong, mỗi một đêm thứ bảy có đờn ca tài tử. Khi dùng cháo cá ở đường chạy sau lưng Chợ Cũ, quán cha truyền con nối, bán duy nhứt một món cháo bình dân, mỗi tô một cắc bạc, nhưng cho đến nay quán đã đẹp mà chưa nơi nào cháo sánh bằng, cháo nấu thật lỏng, cá lóc, cá bông thái thật móng, húp cháo nóng kèm với một bánh dầu cháo quảy, phong lưu hơn nữa kêu thêm một dĩa gói cá sống trộn dưa đu đủ thật dòn, không cần vào tiệm sang cho ngoại kiểu cắt cổ, chiều chiều đến đây dùng cháo, với một cà rô bi (roupie) tức nửa đồng bạc thời đó (0$50) mà tưởng tượng có thua nào Tổng Giang ăn gỏi lý ngư bên

Tầm Dương để đề phản thi trong truyện Thủy hử, còn như muốn có gió mát thì đến đầu chợ Bến Thành, nơi đường rầy sắt xe điển, hột vịt lộn, chả giò chiên nóng của Ba Đờ ra ghi (bar Draguy) là quán bán rượu lẻ, la ve có bọt, hai bạn ngồi đánh chén, khi no đứng dậy tính tiền chưa quá hai đồng bạc

Đằm xòe!

Chúng tôi bốn đứa luân phiên trả, nay cả ba bạn kia và bà chủ nấu cơm tháng đã không còn, và tôi chỉ còn nhớ bà thuật chuyện năm 1913, có vị Phan Xích Long và Tư Mắt, phá Khám không xong để đồng bào bị bắt, bà chủ nói đêm phá khám có trời mưa lớn, đêm khuya nghe súng nổ và tiếng người chạy, rạng ngày người nào bận áo trắng quần màu đen, đều bị bắt và đưa ra tòa đại hình xử, phần đông bị tử hình. Tây sơn đá đứng hàng hai, bắn tại Đồng Tập Trận, lần nhứt bắn ba mươi tám người ngày 22-2-1916, lần nhì bắn 13 người ngày 16-3-1916, hồ sơ xử bắn, gới qua Pháp quốc để chuẩn y, nhưng đại thẩm viện bên Pháp ra lịnh ân xá, chừng hồ sơ trở về thì việc bắn hai lần đã kết liểu, không nghe nói mấy thi thể chết oan có hoàn sanh được chăng, chỉ nghe lại quan tòa, quan thực hành vụ giết trước không chờ lịnh bên

Tây, thảy đều bị thuyên chuyển và giấu kín, nhưng xin hỏi, xử như vậy, công lý chỗ nào – Huyện bênh huyện, phủ bênh phủ, Tây vẫn bênh Tây.

Bên Pháp, người quí tộc, vẫn danh tánh có chữ “de…” đứng đầu, cay cú là tên tả đao, cũng có biệt hiệu là Mông xừ Đờ Pa ri, ở Sài Gòn trước đây ở Khám Lớn, tôi từng thấy hai gươm xưa giá tréo treo trên trần chỗ của viên chúa ngục Agostini đặt làm văn phòng, và tả đao điều khiển máy chém, tên là Đội Phước, làm cái nghề thật là nhàn hạ, một năm tròn, ngồi chơi xơi nước gần đủ mấy ba trăm ngày, gươm máy dặt tại một phòng tối trong khám, khi có chỗ nào cần chém đầu sẽ chở đến đó vì theo luật công lý chỉ có duy nhứt một gươm máy, mỗi lần chặt đứt đầu thầy Đội Phước được lãnh thêm một trăm quan, và nghe như cháu con của Phước vẫn còn, duy không cha truyền con nối nữa (21-6-1990).

Sài Gòn kể từ năm Nhựt chiếm đến năm 1943, tôi rời về Sốc Trăng, rồi năm 1947 trở lại. Đoạn nầy tôi không nói đến những năm tao loạn, đuổi Nhựt giành quyền với Pháp, và xin khuyên bạn đọc, hãy rán tìm hai quyển rất có giá trị và đều là sách không còn bán, đốt đuốc cũng tìm không ra, vì quyền Saigon (Septembre 45 của bạn quá cố Trần Tấn Quốc, dày 69 trang, khổ 11×14, (giá cũ 6 đồng), cũng như quyển 14×21, dày 502 trang của Nam Đình (Nguyễn Kỳ Nam) cố nhân, tập 11, 1945 – 1954, Hồi ký, chỉ dành ký tặng cho bạn quen, chớ không bán cuốn nào và bất cứ giá nào. Tôi làm sao viết kịp hai nhà săn tin tài ba nầy, lại nữa tôi nhứt định không rớ đến chánh trị, những gì tôi kể lại đây, đều cà kê nghê ngỗng, thuật lại sự sinh sống và sinh hoạt buổi trước nghe chơi.

Tiếp theo đây là cuộc sống của nhạc mẫu, họ Dương, thuộc dòng một vọng tộc đất Vãng (Vĩnh Long), ngụ nhiều đời đất Sài Gòn nầy. Làm sao tôi quên được ơn bà, dầu hai đứa tôi đã ly dị từ lâu, nhưng ngõ ý còn vương, tôi không phải bọn tắm, vuột mặt quên lòng, và không có bà kềm chế, ngựa sút chuồng như tôi, chưa ắt chịu thuần thục ngậm hàm thiếc và chạy ngay theo đường thắng.

Bà rất tốt, nhưng rất là giấy giữ lề, tôi làm dâu, ủa quên, nhờ làm rê cố công, mới học được cách ăn ở “đất lề quê thối” của nhà họ Dương nầy, một lớp trước là học trò buổi Tây vừa qua đây, thế hệ tiếp đó, xin kể lộn lạo như Dương Văn Giáo (cậu của vợ ly dị) làm cách mạng tuy có Pháp tịch mà chống Pháp kỳ cùng, như Dương Văn Mai (cậu vợ) từng làm thông ngôn dẫn thầy thợ qua Pháp làm lính chào mào, có vợ đầm, sau về đây làm trưởng tòa ở Long Xuyên, như Dương Văn Tây, anh ruột của D.V. Giáo, làm lâu năm sở Tần Đáo, còn các bạn đồng sang Pháp rồi trở về, một Trần Văn Tỳ, làm đến tòa áo đỏ nơi Pháp đình, một tòa tên Quan, một tòa tên Giác, đều có quốc tịch Pháp nhưng đều thuộc đảng Lập Hiến đòi Pháp nới tay, trả bớt quyền cho ta, nhưng chỉ đi đến Pháp Việt đề huề, tôi nói ra đây chi cho khỏi đảng ngày nay chê tôi tâng bốc người không xứng đáng, nhưng xin thưa, mỗi đời một khác, dám chơi dám chịu như một tòa Tỳ, từ thơ ký qua làm thông ngôn cho đám thợ chống giặc Đức, học trường cai trị của chánh phủ Tây, được bổ nhiệm làm quan tòa, thanh liêm nhưng ham mê gái lịch, lộ liễu cử chỉ người trong Nam nẩy, xin cứ để tôi khen.

Những thập niên 1930 và chín mươi năm sau là thời kỳ tôi gọi là “chắp nối” bán tân bán cựu, ruộng ở Hậu Giang vừa phát, lúa má trúng mùa liên tiếp, điển chủ gới con sang Pháp, nhưng các cậu trong Nam, qua bên ấy, học khiêu vũ, học ăn chơi chớ ít học chữ nghĩa, cặp mèo và nhập đảng nây đảng nọ. Nhung, con của thầy tôi là ông giáo sư Ng. V. Mai, thì học nghề nhiếp ảnh rồi về đây hút xách hư thân, Nguyễn Phong Tân, con của chủ nhà ngủ Phong Cảnh, học nghề cắt may, về Sài Gòn, khủng bố người xứ Bắc, Phong Tân theo Tây, bắt ép người nào nói giọng trọ trẹ “Tân sơn nhất” (thay vì Nhức) thì làm tội, đánh đập và tịch thu tài sán, nhưng Phong Tân sau bị xử tội và chết đáng đời, tôi kể sơ hai gương ấy thôi, còn việc tại đây, đầu những năm 1930, 1931 xe hơi mới đủ hiệu, bán liền liền, kịp đến năm 1932 bắt đầu kinh tế khủng hoảng, giá lúa tuột còn ba cắc một giạ, giá vàng ba chục đồng một lượng, rồi sụt thét có năm nọ giá vàng chỉ còn mười chín đồng (19$00) mà chẳng ai còn tiền để mua vàng, xe hơi không tiền mua xăng, để mục, lấy xác xe đổ phân trồng hành, một cuốc xe kéo tay, giá năm xu (0$05) mà chẳng có kiếm được mối, hớt tóc cũng năm chiêm (0$05) mà thợ hớt phải dẹp nghề, gái có sắc, chịu làm bé, mỗi tháng hai chục bạc (20$00) mà vẫn tranh nhau vì đói, công tử út, con Hội đồng Trạch, em của Ba Qui, tên gọi Tám Bò, chở gái từ Bạc Liêu lên Sài Gòn để giỡn tiền, công tử Bích, ở Bến Tre hay Trà Vinh, lấy kim cương nhận vào dây nịt da cá sấu để khoe giàu, công tử Đoài, con của thầy Phòng ở Sốc Trăng, cấp dưỡng cho tình nhân là cô Lucie Bandeau, vì trán có vết thẹo, lấy băng lụa che giấu thẹo mà thành danh, công tử lai Miên, cậu Emile P. ở Sốc Trăng, khi người mẹ từ trần, ăn gia tài, lấy tiền mua một lần ba bốn xe hơi, phá tán hết tiền, bán xe, vô làm lính săn đá, vì có Pháp tịch, rồi chết nơi dưỡng đường Grall, xác còn quàn chờ người em là cậu Etienne ở Sốc Trăng lên sẽ đem chôn, nửa đêm xe lên tới nơi quàn xác, Etienne (nay ở Pháp) tay xách va li, mặc quân phục bước vào, bốn lính săn đá, hai đen hai trắng, đứng gác chung quanh cái quan tài, ngơ ngác toan bỏ chạy, tưởng ma hiện hồn về, thằng nào mình mới liệm hồi sớm, và thằng nào xô cửa nhà xác bước vào đây, vì Emile và Etienne là đồng hào song sinh, và anh em giống nhau như khuôn đúc!

Khoảng những năm đó, ở Cẩn Thơ mở trường trung học Bassac, Hậu Giang, trường ở Mỹ Tho chuyên trau giồi Việt văn, Sài Gòn lập trường đặt tên là trường Pétrus Ký, đâu đâu đều rất đông học trò, học chữ nho, đã Tây cấm dạy thêm học xong kiểm nghề không ra, buộc lòng phải theo học chữ Tây, ngặt nỗi đậu bằng tú tài Pháp, thi đậu ngạch thơ ký soái phủ, lương tháng chỉ được hai mươi lăm đồng (xin đừng quên vàng y giá ba chục đồng một lượng), và số tú tài đông quá, ngạch thơ ký hạn chế tuyển rất ít (mỗi năm độ vài chục người).

Trong khi ấy, tôi đây hèn nhát, và cạn thấy, thêm nữa, buổi xuân thời, tôi vẫn bạc nhược sì sợp ho hen, lại thêm có vợ đẹp, và tiếc dại dột nửa mảnh chức cò mi (huyện nửa chừng), tuy có bản tánh cang trực và bất khuất (tôi không nói tốt cho tôi đâu), nhưng khuôn khổ bà nhạc mẫu muốn làm sao, tôi vẫn phải xuôi theo, phận sự làm rể cố công, nay nghĩ lại mà còn đỏ mặt: đi mời tay bài; ngồi nhà chờ chà đến lấy tiền góp, phải hạ mình xin khất; phố mướn đứng tên, xe mua thiếu chịu; xấu nhục đã từng, chai lơ mặt mốc, thế mà dã tràng xe cát, cô Tư Tuyết ôi, nỡ nào đành đoạn thôi nhau: Ôi! Mười chín năm ân ái!

An ủi một phần nào là bà via rất tốt, tuy dạy dỗ gắc gao nhưng lằn xếp còn đây, bà rất biết người và thường cho chúng tôi tiền để đi ăn cơm Tây nhà hàng, nhưng bù chì lại, ông via, cha ghẻ của Tư, rất xấu, nhỏ mọn kẽ vạch, bố vợ lấy của tôi mười lạng vàng dấu tích của mẹ tôi để lại, ông cầm cố và thua trong sông bài sòng me ráo nạo, ông hứa chuộc mà không giữ lời. Thôi! Bà nhạc dạy: khăn toa lét phải mua khăn lông dày ở nhà

Marty, nước hoa phải mua ở nhà hàng Sạt ne, tôi còn nhớ và là tôi: bỏ hút thuốc vì không có thứ ngon, bỏ rượu vì không phải chánh hiệu tốt thì thà nhịn thèm, xà bông vẫn loại ướp palmolive mua mấy năm nay vẫn còn dư, còn như phấn chà răng, răng đâu còn mà hỏi?

Tại nơi nhà fà nhạc, nơi đường Taberd, vẫn ván trắc, bàn ăn cũng bằng gỗ trắc duy kiểu xưa nặng nề, bộ ghế phòng khách vẫn gỗ gụ mua tại nhà buôn lớn Đào Huống Mai chở từ Bắc, do thợ khéo Nam Định cẩn xa cừ tinh tế, thợ Lái Thiêu thua xa, ô trâu bạc chạm hiệu Chauvin, bồi trẻ dọn bàn hai người, mỗi tháng mỗi người, lương tám đồng, và thay đổi liền liền, khi không vừa ý, phạm lỗi, thì bà sai tôi tìm ông già tên Ba Liếng cho người thay thế, ông Liếng là đầu nậu chuyên nghề tìm người giúp việc nhà, khi có chỗ vô làm, tháng lương đầu phải kiếng cho lão, phải cúng cho lão, và lão bẻ tiền xúp như vậy đủ phè phỡn no nê, vợ lẻ vợ mọn là khác, vì xã hội thời Pháp thuộc, con bồi chị bếp vẫn ở trong tay lão Liếng nầy.

Tôi nói dài dòng, bà nhạc tôi việc tề gia rất có kỹ cương. Xài tiền như nước, các tay cờ bạc đều mát, thêm được đồ ăn đồ uống rất nhiều nên bán rẻ, nhà hết tiền thì ký giấu mua bông (bon pour), nhà mở tiệc yến liền liền, rượu Tây đủ hiệu, duy mua nước đá cục, vì thuở đó, ít nhà sắm nổi tủ lạnh frigidaire.

Cá thịt không thiếu, vĩ vèo tôm càng cua lột, thịt rừng, đuông chà là, từ Cà Mau chở lên, bán một xu một chà là, đuông chiên rán thoa chút bơ, nhấp một hớp mạt ten (Martel), xem bầu trời như nắp vung… ngày nay đuông, tôm cua đều xuất ngoại, đầu mùa mưa không nghe ếch nhái huềnh hoang, và tiền trong túi cũng vắng. Có từng đói mới biết dẫn đầy bao tử là đủ sướng, không cần ngon dờ, có ở khám, có nằm nhà thương mới biết giá trị chưn khỏe tay lành, ngày nay cơm dùng rất trễ, sáng sớm cà phê, trưa ngọ ăn lếu láo, cơm chiều lúc tối mò, vì phải chạy phải làm mới có để ăn, buổi gần đây, thời Pháp thuộc, lấy tiếng trống bãi hầu làm hiệu, mười một giờ và năm giờ thì xơi nữa, và trước khi đi ngủ, tám chín hay mười giờ còn mì dẫn bụng mới ngủ êm, trái hắn tục Tây, ăn trưa thật no, và tối ăn món nhẹ, để bao tử nghỉ vì sợ trúng thực. Nhà nhà phần đông đều vậy, bàn cao chưn, ghế đầu vững vàng, trắc, cẩm lai… nay bàn cây trắng tạp phạo, ghế ngồi thật lùn, lé để vừa khỏi mặt đất, miễn tô phở thật nóng và bình trà uống đến nước dợt trắng xác, câu chuyện quên thôi.

Cây trắc nào còn trong rừng, cây cẩm lai nay giá mắc như vàng, bắp bênh thân phận, đăng ký, bán phứt hết cho rảnh tay, áo giáp giày ra trận cổi bỏ vào đống rác cho khỏi mang tiếng ngụy, nay nằm đất ăn ngồi xó hè…

Bữa nào vui miệng, ngồi vào bàn ăn, bà nhắc chuyện xưa, lúc làm dâu đời chồng trước, nhà mẹ chồng giàu nứt vách mà cơm chụm lá trẻ, phải ngồi canh lửa, khối xông cay nước mắt chảy mà nào dám lau, đang có thai, mẹ chồng bắt lỗi sai moi đất khoét lỗ cho đừng cấn thai và phải nằm lãnh đủ mấy roi đền tội. Tôi nín nghe mà ớn lạnh xương sống, thảo nào sau nằy tôi bởi quá dễ dãi và quá tin, nên mới xảy ra vợ ngoại tình, và nào phải có một bà nhạc tôi mà đủ tượng trưng cho cảnh sống ở Sài Gòn, hoa lệ xưa có bà Ba Ngoạn, bầu gánh hát bội và từng hầu vua Thành Thái lúc ông mất ngôi ở Huế, trong Chợ Lớn có bà Tám Đội, bầu một gánh hát bội khác, nay còn nhà là một dinh thự to, thế hệ của bà nhạc tôi là bà Huê Mỹ, chủ một hiệu giày có mặt thêu cườm gọi giày Hàm ếch Gia Định, đồng thời với bà Nguyễn Chí Hòa, mẹ của Nguyễn Chí Mai và dược sư Nguyễn Chí Nhiều, hiệu Chí Hòa đóng giày Tây nổi tiếng, giày tige drap, gót đóng thêm móng sắt cho đỡ mòn, và mặt da may thêm một đoạn ní khác màu, nên gọi tige drap, ở Âu châu, hoàng tử Anh (prince de Galles) ra kiểu cho dân sang trời Âu bắt chước, ở đất Nam, vua B.Đ. đi giày hai màu, chỗ đánh phấn trắng, đầu và gót giày bịt da màu vàng, cũng gọi giày dôn (jaune); Bắc mặc áo the lốt trắng, Trung, áo đại triều màu phân biệt theo cấp bực, trong Nam vẫn áo xuyển đen, khăn Suối Đờn xếp sẵn, trước có áo vạt hò, áo may theo kiểu Quảng Đông, Tây qua đây, thầy thông, ký lục mặc áo Bành tô, bọn dọn ăn nấu bếp, không gài nút và bày ra mốt “áo thả ngực”, khoe dây nịt nỉ đen cao một gang tay, mặc Âu phục nguyên bộ, áo vải bố sáu nút ngà, rồi bốn nút xa cừ, rồi ba nút gọi u ue (ouvert), hai nút, một nút, nhưng khi gài khi mở nút, mũ cánh chuồn, vua mất ngôi, mũ cánh chuồn đã lỗi thời, trong nầy nón rơm Panama, nón ni đen hiệu Tournier, rồi đổi hiệu Fléchet, và Borsalino, từ kháng chiến, mũ và nón đắt tiền đều thay thế bằng chiếc cát kết thợ thuyền, chằm vá nhiều màu, áo cụt tay rồi áo sơ mi bỏ ngoài quần vạt ngắn vạt dài, phụ nữ bỏ áo dài, bỏ áo vá quàn, mốt Lơ mia (Le Mut) quần áo một màu, quần thêm may ren, xưa ky mặc quần trắng, nay quần đã trắng thêm rất mỏng, xưa có áo nịt, kín đáo, nay bắt chước đầm dùng vải che nhũ hoa, nhũ hoa vun quá vun thì cót xê tém vào, nhũ hoa xẹp lép thì cót xê dộn thêm một lớp cao su cho khiêu gợi, chị nào tốt phước, nhũ hoa như của đào chớp bóng Marilyn Monroe, thôi thì trở lại diễn như xưa, xưa gánh bầu Ninh, đêm thứ bảy, để dụ khách đến xem, thường rao tuồng: “đêm nay có đánh đồ thiệt”, tức thí võ với đao kiểm sắt bén và cây chĩa ba nhọn lễu, và thời còn thuộc Pháp, các cô ăn sướng có ngực đẩy đà, thường để ngực trần, bất chấp cọt xê, vừa khiêu chiến vừa mời mọc, còn loại có nhũ hoa dài như trái mướp, ngồi chơi tứ sắc, đứa con đòi bú, thì kéo vú ra sau lưng, đến khi trở về già, khi giã gạo thì nhốt vào lưng quần cho gọn.

Vương Hồng Sển vẽ bởi con trai ông: Vương Hồng Bảo

Nói chi thì nói, phải nhìn nhận dân Sài Gòn vẫn có bản lĩnh, – nước dưới sông thấy đó mà chặt không đứt, bứt không rời, trải mấy trào liên tiếp, mà dân vẫn là dân, cảnh có đổi mà dân không đổi, và tố nào theo tố nấy, hết trắc, cẩm lai, thì còn gỗ đen gõ đỏ, bằng lăng, thao lao qua vên vên, vấn xoài vấn điệp, hết cạn tất cả thì lấy vẹt ni phết vào ván tạp, tha hồ vẽ, giả làm danh mộc dễ dàng, nhà có tiền, không còn hòm cây trai thì có hòm giáng hương, hòm Tobia, hòm hãng Vạn Thọ, không cho đất chôn thì hỏa táng cũng xong.

Anh Phạm Văn Tươi, làm chủ một nhà cắt may có danh, anh mở thêm một nhà bán sách, ngày nay loại “sách học làm người” của anh, còn có người sưu tầm.

Tôi viết đến đây đã thấm mệt, cũng không dám kết luận, thế giới đang biến chuyển, vừa rồi có tin xứ Iran, động đất chết số vạn, lụt nơi đất cao nguyên, đất lỡ, đất chuồi, gấm lại nếu biết khôn, tưởng ở cho có đức là hơn, và ngậm ngùi nhớ đến bà nhạc mẫu, chôn nơi đất thánh họ Tần Định, nghĩa địa nẩy ngày nay là xóm phố mới nơi phía sau rạp chớp bóng đường Nguyễn Trọng Luyến, tôi không gặp lại cô

Tuyết, và không rõ cô có kịp thời cải táng cho bà nhạc cũ của tôi chăng? Nhớ câu: “Ai ơi! Chồng dữ thì lo, mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao”.

Bà không dữ với tôi, mà câu ca dao viết như lạc đề. Mộng Trang Châu là đúng. Bá niên trường thọ, đời nay thường chúc tụng, gẫm lại là bất hạp thời. Phải biết nhường chỗ cho cháu con tấn lên mới sáng suốt.

Nhơn đọc bài Pháp văn “Comment on vivait à Paris sous l’Empire” của Louis Madelin (Nistorama số 250 tháng 9 năm 1972, hưởng ứng mà viết bài nầy).

(Viết ngày 22-6-1990)

*Hồng ốc: bản thảo tác giả viết là Hồng ốc hay Ổng ốc không rõ


 

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 8 Nov 2025

Chương 5

Chúng tôi lại trở về địa điểm mà chúng tôi tạm trú khi mới đến, và mỗi người cố tìm giấc ngủ ngon. Sung sướng thay cho những người vô tư lự! Những người khác, bị khích động, đi lui đi tới trong các hành lang, hành hạ đầu óc mình để trừ tuyệt phương thuốc chưa nỗi lo âu. Chắc chắn là chúng tôi khỏe mạnh hơn tuần trước. Nhà tù và xà lim đã bị quên lãng và hồi sáng, trong khi bị lục soát, chúng tôi dấu được dụng cụ. Nhưng tại sao trên tấm thiếp hình ảnh mà chúng tôi có thể gởi cho gia đình bạn bè lại có một câu tiêu chuẩn rất lạ: “Hãy đợi địa chỉ mới rồi mới nên trả lời”, Tại sao lại có sự bí ẩn ấy? Tại sao lại dấu không cho chúng tôi biết nơi đến của chúng tôi?

Đại diện Hồng Thập Tự đã nói rõ rằng chúng tôi sắp đi về miền Weimar 1 và đó là một trại tập trung có tên Buchenwald. Đối với phần đông, tên trại nầy có vẻ xa lạ, nhưng nó nhắc nhở cho chính tôi một kỷ niệm nào đó. Trong những năm tiếp theo sự đăng quang của Hitler, ở Ba-lê có xuất hiện một nguyệt san do ủy ban Thaelmann xuất bản – một tổ chức chống phát xít được sáng lập sau khi đảng Quốc Xã lên cầm quyền, nhằm mục đích giúp đỡ các người tỵ nạn chính trị. Nhiều lần tôi đọc trong tạp chí đó các thiên phóng sự về các “Koncentrations lager” (trại tập trung) nổi danh và đặc biệt là về trại tập trung Buchenwald, Dachau, và Oranienbourg, ba trại nổi danh nhất, và tôi còn nhớ lại các cuộc tra tấn giáng cho các người đối lập cứng đầu đối với chế độ mới. Vết đốt cháy trên vú một phụ nữ bằng đèn cầy, đã làm tôi đặc biệt lưu ý.

Thời đó, có mấy ai lưu ý đến nỗi khổ đau của những người bị giam trong các trại tập trung đó đâu, và tuy nhiên không ai có thể trách họ ở xa chúng tôi quá, giống như hàng ngàn người chết đói hay chết vì bão lụt ở Ấn Độ hay ở Trung Hoa, những sự kiện như vậy chỉ chiếm năm hay sáu giòng trên mặt nhật báo.

Có thể nào chúng tôi lại sắp đi đến các trại tập trung đó không? Câu hỏi nầy đặt ra và luôn luôn kéo theo câu trả lời: Không! Những trại ấy chắc phải đầy dân Đức, nghĩa là kể cả người Áo, Tiệp Khắc, Do Thái ngay cả Ba Lan và người Nga nữa, nhưng người Pháp thì không! Trước hết, người Đức không bao giờ bỏ qua phẩm chất nhân lực Pháp, mặt khác chúng tôi vừa chịu đựng đầy ải trong các nhà lao và điều đó đã thể hiện hình phạt thật sự rồi. Chắc chắn là chúng tôi sẽ bị canh giữ và bị canh giữ kỹ hơn là các công nhân tự do, nhưng dần dần sự canh giữ sẽ được nới lỏng và chúng tôi sẽ trở thành những người dân sự với tất cả những gì dễ dãi mà một thường dân được hưởng.

Và rồi, chúng tôi vẫn chưa ở trên đất Đức. Từ đây đến biên giới nhiều chuyện có thể xảy ra.

Đây là những suy tư của chúng tôi vào đêm trước ngày khởi hành. Chuyện lạ lùng, không một ai, kể cả những người kỳ cựu trong trại, có thể cung cấp bất cứ tin tức gì về số phận của các chuyến công-voa trước và về cách du hành của những người đi trước chúng tôi, nhận xét nầy được nhiều người chia xẻ. Mỗi toa sẽ chứa năm mươi người, một người đoán; bảy mươi, người khác nói. Tôi là người thứ ba, tôi có nghe nói đã từng xẩy ra trường hợp một toa chất một trăm mạng. Các lời tuyên bố ấy đều là phỏng đoán không có gì chắc chắn, nhưng mọi người đều cười chế nhạo trước con số sau cùng, và một người trong bọn tôi còn nói:

– Không nên nói quá lố chớ; đồng ý, họ chẳng thương gì chúng ta, nhưng họ cần chúng ta làm việc, họ không thể nhét một trăm người chúng ta vào một toa. Người ta sẽ bị ngộp thở, hoặc giả là họ đã mang chúng ta ra bắn bỏ trước còn hơn. Tại sao họ lại bận tâm đến chúng ta?

Những lời vừa rồi có vẻ là hợp lý. Nhưng không họp lý đối với Ramelin, vẻ người khổ hạnh, con người đấu tranh toàn diện và kiểu mẫu, cả con người anh là tượng trưng cho hành động.

– Không đâu các anh ơi – anh ta rống lên trong phòng, quên mất cả sự thận trọng sơ đẳng – bọn phát xít có thể làm mọi chuyện lắm, – họ không đối xử đặc biệt gì với chúng ta đâu. Phải làm tất cả mọi cách để tẩu thoát trước khi đến biên giới. Chúng ta luôn luôn ở trong tình trạng chiến đấu và một khi đến Đức rồi, thì chỉ còn là việc khổ sai hay là chết.

Quì gối trên đệm rơm dùng làm giường ngủ, anh nói trong bóng tối của căn phòng, người ta chỉ có thể thấy cặp mắt sáng nhấp nháy của anh. Lời nói của anh như quất vào chúng tôi và nhóm nhỏ của chúng tôi thì sẵn sàng, nhưng tất cả những người còn lại thì chờ xem có bao nhiêu người trong một toa.

Vào lúc 4 giờ sáng, các hồi còi đinh tai đánh thức chúng tôi. Luôn luôn giờ nầy là giờ ngủ ngon nhất.

Sau khi mỗi người nhận một mẩu bánh mì và một miếng xúc xích, người ta báo cho chúng tôi biết là sự rộng rãi ấy tượng trưng cho đồ ăn dành cho suốt chuyến đi, đoạn xếp hàng 5, tiến bước!

Ánh bình minh bắt đầu ló dạng, một đội hộ tống canh kỹ chúng tôi và lần nầy khoảng cách giữa hai người lính chỉ còn lại 2 thước. Vì lẽ chúng tôi được nhóm 50 người một, lập tức một ý tưởng đến với chúng tôi là mỗi nhóm sẵn sàng lên một toa. Chúng tôi đi qua các con đường bên ngoài. Tự nhiên, chúng tôi đưa mắt nhìn lên các cửa sổ. Sao nhưng cánh màn kia, người ta còn ngủ say, dám có kẻ đang ân ái với nhau nữa. Không ai nhìn thấy chúng tôi. Và suy cho cùng, 2500 người là cái nghĩa lý gì trong khi hàng ngày hàng ngàn người gục ngã… A! Dầu vậy, bên cạnh cầu sông Oise, một nhóm phụ nữ bị giữ cách một quãng xa bởi một hàng lính đi mô tô, đang đứng khóc và vẫy tay với chúng tôi.

Nhà ga đây rồi!… Mọi người đều nhìn về phía trước như đang thử nhìn một cái gì. Rồi đến lượt nhóm chúng tôi…

– Nào mau lên các ngài.

Thật chói tai kinh khủng khi nghe một tên Đức nói tiếng Pháp. Và đó là những tên lính được phép nói tiếng Pháp sau một cuộc thử thách nghiêm ngặt, và đã phải trải qua một kỳ thi. Ai nấy hấp tấp trèo lên. Những chỗ tốt trên một toa xe chở hàng thật hiếm, trong một toa chỉ có hai lỗ thông hơi và một nữa lỗ lại bịt bằng thép gai đan kín.

– Ồ! 50 người được rồi, đừng nói gì nữa!

– Sao, các ông cũng lên nữa sao?

– Ê lầm rồi! Ở đây đã có 50 mạng rồi!

Các câu hỏi, câu phát biểu đó được dành cho toán 50 người đi sau, những vô ích.

“Los” (đi đi)! nhiều tên lính quát tháo vừa xô đẩy 50 người kế tiếp và một tên kéo cánh cửa dữ dội phát ra tiếng kêu như sấm. Chúng tôi cả thẩy là 100 lóp ngóp trông như chuột.

Lúc cánh cửa đóng ập lại, nhiều ảo tưởng đã tan biến và nhiều người sẵn sàng từ bỏ thái độ ngần ngại. Tất cả từ kẻ đa nghi, lạc quan, hèn hạ, cho đến can đảm tất cả chúng tôi nhìn nhau sững sờ và trong ánh mắt, một tia khiếp đảm thoáng qua.

Đúng, quả thật Hamelin có lý khi báo trước với chúng tôi, quân Đức có thể làm mọi chuyện, than vãn không giúp ích được gì cả. Nhưng mà tình trạng còn ở dưới mức mà mỗi người trong chúng tôi gọi là tối thiểu. Căn xà lim ở Montluc chứa tới sáu người đối với chúng tôi nay là một tình trạng tuyệt đẹp. Nơi đó chúng tôi có thể ngồi, nằm; ở đây không thể nào tìm được một vị thế thoải mái. Và còn với hành lý nữa, những cụ già, làm sao đây? Ngay cả chuyện đi lại, gục ngã hay nói một câu “ông cóc cần” cũng không thể làm được. Không thể được bởi vì anh đang bị đạp, bị nghiền nát bởi một rừng chân, tay, thân người. Cùng với Hubert và Pierre chúng tôi đứng gần được một lỗ thông hơi. Ramelin và Michael ở cuối toa và qua tiếng la và cử động họ có thử tìm cách đến với chúng tôi, qua một cuộc hỗn chiến. Trong khi đó ở hai đầu toa, chúng tôi có thể lờ mờ trông thấy nhau, nhưng ở giữa toa thì tối mịt. Một người khốn khổ nào bị dồn vào đó sẽ thiếu không khí để thở và còn phải chịu đựng hai thùng vệ sinh đã được sử dụng đến rồi.

Chuyến tàu chỉ khởi chạy lúc 1 giờ trưa. Vậy là chúng tôi bị đưa lên đây đã sáu tiếng đồng hồ và đã có người bị ngộp thở. Tất cả mọi người bị ghi tên, đau ốm hay khỏe mạnh đều phải ra đi.

Vì ai cũng kiếm chỗ tốt, mỗi người chúng tôi làm những kẻ đứng bên cạnh khó chịu. Chúng tôi quyết định ai bị đau thì có quyền đến gần lỗ thông hơi một chốc. Người đau thì rất đông và lập tức cãi lộn xẩy ra để tranh nhau đến gần lỗ thông hơi. May thay, khối lượng niềm hy vọng nơi con người không bao giờ cạn.

“Họ không thể nào để chúng ta trong nầy quá 24 giờ”, người bi quan nhất có nhận định như vậy, và vì nhận định đó chấp nhận được, yên lặng bình tĩnh lại được tái lập phần nào. Cũng có quyết định theo đó cho đến tối, một nửa sẽ đứng, một nửa ngồi và mỗi người bắt đầu ăn. Thật kinh khủng khi thấy, bất chấp mọi sự, một vài người ăn rất ngon miệng. Tuồng như họ có vẻ tống đồ ăn vào mồm.

Một trong những người ngồi trên thùng tiêu – vì như vậy là tiết kiệm được một chỗ – phải đứng dậy một cách máy móc để cho một người khác cần xử dụng để giải quyết nhu cầu, nhưng mặc kệ tiếng động và hương vị bốc lên, ông ta tiếp tục nhai ngon lành.

Ánh sáng giảm bớt dần, và đêm bắt đầu. Mỗi người lại tìm thế thoải mái nhất, và lộn xộn lại trở lại, nhưng đột nhiên ngừng hẳn, mệt mỏi và một vài kẻ bị ngạt thở, im lặng bao trùm tất cả. Tứ chi của con người có sức thích ứng đối với mọi hoàn cảnh và không có gì phức tạp hơn cảnh sống mà chúng tôi đang chịu đựng. Người ta nghe tiếng chửi thề giận dữ rõ mồn một, tiếng rên rỉ của người bị ngộp hay tiếng la đau đớn của một người có chân bị dẫm, nhưng không ai chú ý vì mỗi người đều có niềm ưu tư riêng biệt.

Trong suốt buổi chiều, Ramelin đã chú ý đến một góc, chỗ đó vách ván đã bị mòn mục dễ đâm thủng để tạo một lỗ hổng phôi thai. Chúng tôi thấy cả năm người phải nhóm lại với nhau để có thể luân phiên làm việc, nhưng không ngờ có đông người quá, nhất là lúc mới trèo lên toa xe, việc đầu tiên là mỗi người kiếm một chỗ kha khá. Kế hoạch của chúng tôi bị sụp đổ vì không thể nào xê dịch trên đám thập cẩm người nầy được. Hợn nữa, chúng tôi chỉ là một thiểu số muốn chấp nhận rủi ro với một cuộc vượt thoát. Nếu trừ ra số người què quặt, người đau ốm, người tiêu cực, nhát gan, số còn lại không có bao nhiêu cả. Và khi Ramelin cao giọng báo cho chúng tôi biết là anh cứ thử đục một lỗ với sự phụ lực của Michael, thì một tiếng thét, không giống là của con người nữa, có ý định ngăn cản anh. Đó là một người ở giữa toa từ lâu không ngớt theo dõi các hoạt động của chúng tôi. Như có vẻ muốn đe dọa, giọng ông ta run rẩy người ông ta ướt đẫm mồ hôi:

– Họ sẽ bắn vào cả đám! Họ đã báo trước rồi mà! Đến trại rồi các anh hãy trốn.

Nhiều người ủng hộ ông ta; thế rồi mọi người nhất tề phản đối:

– Đúng, đúng, bây giờ thì khá rồi, đừng sinh chuyện nữa!

A! vấn đề “đừng sinh chuyện” nầy là cả một chương trình, một chính sách đã trở về với trí nhớ. Trong lúc đó, chúng tôi vượt qua biên giới rồi, Ramelin vẫn tiếp tực và đã đục thủng đây đó. Một chút cố gắng nữa và cả một miếng ván bật tung, đúng lúc đó, nhiều tiếng súng nổ vang dội và qua lỗ thông hơi, chúng tôi thấy ánh đèn pha dường như được đặt ở toa cuối. Con tàu chậm lại và ngừng hẳn.

Chuyện gì đã xảy ra? có chuyện gì vậy?

Tất cả mọi người thức dậy, lo lắng tự hỏi. Cổ họng thắt lại, chúng tôi nghe nhiều tiếng Đức la hét, cửa một toa được mở ra rồi đóng lại cuối cùng cửa toa chúng tôi mở tang và đi đầu cả một nhóm lính gát, tên biết nói tiếng Pháp ra lệnh chúng tôi dồn lại để y đếm.

 Từ trên sân ga, ra vẻ đe dọa bằng các báng súng lục, những tên khác hét lên như chó điên. Mặc dù tình trạng lúc đó có vẻ bi đát, hình ảnh của một cuộc tấn công đoàn tầu bởi một bộ lạc da đỏ thoáng hiện trong trí tôi.

Viên chỉ huy đoàn công-voa trèo lên đứng gần cửa và bắt đầu đếm:

– 5, 10, 15, 60, 90, 100, “Stimmi!” (Được rồi! ), – y nói với vẻ diễu cợt. – Và bây giờ lột giày ra, mau lên! mau lên! Phải lột bỏ hết giày và ném xuống sân ga.

Chúng tôi độ mười người không chịu cởi giày, có lẽ vì đã phần nào hiểu chúng, bọn Đức. Chúng rống lên, đe dọa và thử tạo một tình trạng khiếp đảm mà chúng sẽ lợi dụng ngay, Khi quan sát chúng trong những lúc đó, người ta có cảm tưởng rõ rệt đối diện với đám người man rợ Trung Phi, nhưng là đám người man rợ da trắng mắt xanh.

– Chấm dứt cởi giày, bây giờ cởi đồng hồ ra! Những ai có đồng hồ, bước tới!

Một rừng tay đưa lên mời đón và tên hạ sĩ quan bắt đầu gặt hái. Đó là mối lợi của tình trạng khiếp đảm và sợ hãi đang ngự trị trong toa xe. Nhưng biết làm sao được? Một chiếc đồng hồ không đáng kể gì khi người ta biết là mình có thể bị bắn bỏ một cách giản dị và bất cứ lúc nào. Cửa đóng lại, và chúng tôi nghe chúng đóng đinh trên ván. Tất cả mọi chuyện xẩy ra không đầy mười lăm phút. Hành vi tương tự cũng được thực hiện ở các toa sau. Lúc đó chúng tôi biết là đã có các vụ trốn thoát hay ít ra cũng là các dự định trốn thoát,

Vài giờ sau biến cố đó, chúng tôi vượt qua Metz với tốc độ chậm. May mắn sau cùng của chúng tôi tan biến.

Buổi sáng ngày thứ hai chúng tôi co quắp khắp phía. Bên trên chúng tôi, lủng lẳng nào là túi dết, nào xắc, áo choàng ngoài, móc trên vách ván bằng đủ mọi cách. Không khí hôi thối và hình như đã có một hàm răng khổng lồ nghiền nát và xáo trộn chúng tôi. Cùng với ánh sáng ban ngày đến, bắt đầu có tiếng la hét, cãi cọ, bởi vì tất cả chúng tôi đều đau đớn và cố vươn vai duỗi mình để chiếm cho được một vị trí thích đáng hơn cho suốt ngày. Buổi sáng đã trôi qua khi con tàu dừng lại một lần nữa. Chúng tôi đang ở Trèves và trong một nhà ga đổi hướng tàu. “Phải xuống ở đây, chịu không nổi nữa” một người nói. Có vụ xuống ga thật nhưng phải leo trở lên sau 10 phút. Mục đích là để phân phát xúp lúa mạch trong các tô mà chỉ có dân Đức mới sản xuất được. Trên sân ga đầy nghẹt hiến binh và tên đến mở cửa toa đã phải lùi lại tức thắc, tay bịt mũi. Hai thùng vệ sinh đã đầy lưng chừng, nhưng chúng từ chối không cho mang đi đổ và rửa, có lẽ là vì các thường dân đang nhìn chúng tôi. Những em bé nắm tay lại đe dọa chúng tôi, liệng sỏi về phía chúng tôi. Phải trở lại với thực tế, chúng tôi chưa đến nơi và nếu chúng phát súp, tức là còn một đoạn đường nữa. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng tối nay hay sáng mai sẽ đến nơi. Và ngày thứ hai chấm dứt với hy vọng ấy.

Nhưng nếu bữa súp sáng giúp chúng tôi phần nào nhẹ mình vì đỡ khát, cơn khát trở lại rất mau và tấn công một cách hung dữ, bởi vì chúng tôi chấm dứt ngày thứ hai trong tình trạng cơ thể khô hết nước, và một vài người trong chúng tôi bắt đầu nói lảm nhảm.

Một tên đồng tính luyến ái cặp bồ với một viên Thiếu tá Lục quân Đức, rú lên như bị hiếp. Không ai đụng đến hắn, nhưng bị kích thích bởi hoàn cảnh, hắn muốn được qua tay một tên bạo dâm tưởng tượng. Trong các chuyến công-voa có đủ hạng người như thế, và đó là một phương pháp cổ điển của bọn Gestapo, để dẻ và khăn mặt trong cùng một hộc tủ.

Một người bán bơ người vùng Normandie, lập đi lập lại không ngừng. “Đến đây chúng mình uống một cái đờ mi đi”. Người bạn của ông ta muốn lái câu chuyện qua hướng khác nhưng ông ta cứ nói “Coi, đến đây tại sao anh không đến?”, ông ta đã điên thật sự.

Cơn khát đã rõ ràng chế ngự mọi loại lo âu khác. Mùi hôi thúi, tay chân đau đớn, và tương lai vô định, đều không quan trọng, một tư tưởng cố định ngự trị như chủ nhân ông: “uống”. Nhưng làm thế nào trong tình trạng vô phương nầy?

Một kỹ sư tại Rouen đã uống nước tiểu của mình, nhưng ông ta báo trước cho chúng tôi bằng giọng hổn hển: “Đừng, đừng, đừng có uống, hôi lắm, mặn lắm, uống vào lại khát thêm”. Ông ta biết rõ là mặn nhưng không tự kềm chế nổi. Phải uống bằng mọi giá. Phải chăng là để tránh một cuộc giết nhau giữa chúng tôi? Đã có những cú đấm trao đổi vì những lý do không đáng kể và người yếu nhất đã không còn hơi sức để rên nữa. Trong suốt đêm thứ nhì, một vài người trong chúng tôi phải canh chừng. May thay cơn mệt mỏi đã giúp chúng tôi và bình minh một buổi sáng thứ ba chiếu sáng dần toa xe, nhưng ánh sáng lại cho thấy một quang cảnh đáng buồn hơn hôm trước. Đêm thứ nhì đã trôi qua như một chiếc xe lăn đường ép lên chúng tôi. Những cái đầu không còn ra đáng người ló ra khỏi một mớ hỗn độn rối rên và nhiều cẳng chân để trong vũng nước hôi thối, hậu quả của một tai nạn xảy ra trong đêm làm đổ một thùng phân đầy tràn, và cũng giống như các hôm trước, tiếng la hét trở lại cùng với lời lăng nhục, đe dọa, và sẵn sàng đánh nhau. Một dấu hiệu khởi đầu của một cơn điên loạn tập thể đã làm óc não bừng bừng và con người không thể nào còn giữ được bình tĩnh nữa. Những người còn làm chủ được mình, là những người đau đớn hơn hết khi trông thấy tình cảnh đó.

Cơn khát đã tha tôi mà chúng tôi cũng không biết do một sự ngẫu nhiên tốt phước nào bây giờ đây lại xâm chiếm lấy tôi. Tôi tin rằng chính lúc đó tôi đã thực sự lướt qua biên giới phân cách giữa con người và con vật.

Buổi chiều, một cơn mưa đã kéo dài nhiều giờ. Chúng tôi đã rình từ tối hôm trước bầu trời xám xịt, và lại là cả một cuộc chiến đấu để liếm những giọt nước nhỏ rơi từ lỗ thông hơi. Lúc đó mặc dầu bên ngoài trời giá buốt, mọi người cởi áo choàng, áo len và có người cởi trần truồng. Mồ hôi nhầy nhụa tươm khắp nơi trên thân thể. Chúng tôi là những thây ma còn sống chờ đợi được cứu vớt một cách tuyệt vọng.

Chính trong đêm thứ ba, tình trạng mới thật sự bi đát. Người luôn miệng đòi uống một ly đờ mi đã chết và người bạn cố giữ thây ông ta ở chỗ ngồi để khỏi bị dẫm nát. Tại các chỗ khác trong toa, nhiều kẻ bị đầy đọa khác cũng trút hơi thở cuối cùng, và mùi tử khí cùng trộn lẫn với mùi phân và nước tiểu đã làm cho không khí không còn thở được nữa..

Từ lỗ thông hơi đằng kia Michael đã có thể nói chuyện được với một tên lính trên sân ga.

– Tối nay các anh sẽ đến nơi, – y nói với Michael, các anh sẽ thấy một “Erholungshelm” (dưỡng đường) thật sự.

Y nói danh từ nầy với một nụ cười tinh quái.

Đêm thứ ba đến, chúng tôi đã có 6 chết, một tá nổi điên và số còn lại không còn giống con người nữa. Con tàu lại dừng nhiều lần và hình như để sắp xếp các toa. Thình lình nó dừng lại đột ngột và tất cả các cửa được mở ra cùng một lúc. Nhiều tiếng la, tiếng hú, tiếng chó sủa và nhiều ánh đèn pha rọi trên sân chờ đón chúng tôi. Xa xa, những cây đèn đường cách quãng đều nhau cho thấy các hàng cọc chăng dây kẽm gai. Hình ảnh chập chờn như ảo tưởng. Từ hơn 60 giờ đồng hồ trôi qua chúng tôi bị dồn đống như đồ hộp và bây giờ phải nhảy xuống thật mau. A! Những người khốn khổ còn đang tìm hành lý. Những tên SS, thật sự SS những tên làm việc trong các trại tập trung đã nhảy lên và dáng các báng súng, trong đêm tối, lên đầu, bụng, ngực, và trên cả các xác chết nữa. Ánh sáng đèn pha chiếu ngắt quãng quang cảnh nầy Tôi đã nhảy xuống từ lâu và đứng vào hàng, vì chúng tôi phải sắp hàng năm. Một thứ bùn lạnh buốt và tuyết, chờ đón chân không mang giày của chúng tôi. Bọn SS bắt chúng tôi rảo bước đi tới, và những người vì quá yếu đuối và mệt mỏi không theo kịp sẽ có báng súng và chó săn sẵn sàng tiếp sức. Chúng tôi đi tới trước, gần như chạy cho đến một cánh cửa sắt lớn hiện ra trước những cặp mắt kinh ngạc của chúng tôi, cửa mở cho đoàn đầu tiên tiến vào và mỗi bên lính SS và các tên cai tù nhưng không còn mặc đồng phục nữa, đếm chúng tôi đi qua một cách say sưa. Đúng lúc sắp bước vào, tôi còn có thì giờ để chú ý và dịch một câu viết trên cửa

“Mầy vào đây để làm việc và chết”.

——————————–

1Weimar = Khu vực kỹ nghệ ở miền đông nước Đức.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 8 Nov 2025

Bài 27 – Nhà giam cấm cố (tt)

Chầm chậm, rất chậm, những giờ, những ngày, những tuần, những tháng trôi qua. Rồi đến một lúc nào đó, tỉnh lại thấy mình đã ở đây được gần một năm. 
Đúng mười một tháng và hai mươi ngày tôi chưa được nói chuyện với ai hơn bôn mươi giây, mà cũng chỉ nói nhát gừng, và nói thầm thì, chứ không thành tiếng. Tuy vậy có một hôm tôi cũng đã dự một cuộc đối thoại to tiếng. Hôm ấy tôi bị cảm và ho nhiều. Nghĩ rằng như vậy cũng đủ để xin đi khám, tôi liền báo cáo ốm. Bác sĩ đã đến. Trước sự kinh ngạc của tôi, cái ghi-sê mở ra. Trong cái khung hẹp ấy thấy hiện ra một cái đầu.
– Anh làm sao? Anh đau gì? Phế quản à? Quay lưng lại. Ho đi. 
Kìa, sao lạ thế nhỉ. Người ta đùa chăng? Thế nhưng đó lại là sự thật một trăm phần trăm. Một ông thầy thuốc xứ thuộc địa đã đến chẩn bệnh qua một cái ghi-sê, bảo tôi quay lưng lại đứng cách cánh cửa một mét, và ghé tai vào lỗ để nghe phổi tôi. Rồi ông ta lại nói: “Thò tay ra. Tôi toan làm theo như cái máy, thì do một thứ tự trọng nào đấy, tôi nói với cái ông thầy thuốc quái dị này: “Cám ơn bác sĩ, phiền bác sĩ quá nhỉ. Thôi không cần. Chẳng ích gì đâu. ít nhất tôi cũng có đủ bản lĩnh để tỏ ra cho hắn hiểu rằng tôi không tưởng lầm là cái kiểu chẩn bệnh của hắn có chút gì nghiêm chỉnh. 
– Tùy anh, – hắn đã có đủ vô liêm sỉ để trả lời như vậy. Rồi bỏ đi. Cũng may, vì chỉ chút nữa tôi đã nổ tung ra vì phẫn nộ.. 
Một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay. Một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay. Tôi đi đi lại lại, đi đi lại lại mãi, không mỏi mệt, không dừng lại, và hôm nay tôi đi đi lại lại một cách giận dữ, hai chân tôi căng thẳng chứ không buông lơi một cách thư thái như thường lệ. Dường như sau sự việc vừa xảy ra, tôi cần phải xéo nát một cái gì. Chân tôi thì có thể giẫm lên cái gì? 
Dưới chân tôi chỉ có xi-măng. Không, tôi giẫm lên rất nhiều thứ trong khi đi như vậy. Tôi giẫm lên sự hèn hạ của tên bác sĩ đã cam tâm chịu chiều theo ý Ban Quản trị để làm những việc tởm lợm như vậy. Tôi giẫm lên thái độ dửng dưng của một tầng lớp người trước sự đau khổ của một tầng lớp người khác. Tôi giẫm lên sự ngu dốt của dân tộc Pháp không hề quan tâm, không hề tò mò muốn biết những đồng bào của họ cứ hai năm lại được lùa lên tàu như những bầy gia súc qua Saint- Martin-de-Ré là để đi đến đâu và được đối xử như thế nào. Tôi giẫm lên các phóng viên của các báo chí cánh tả, sau khi viết những bài báo chua ngoa về một con người đã phạm tội nào đấy thì chỉ mấy tháng sau là đã không còn nhớ rằng trên đời có một người như thế. Tôi giẫm lên bọn linh mục công giáo đã nghe các phạm nhân xưng tội, biết rất rõ những gì đang diễn ra ở trại khổ sai của Pháp mà vẫn im hơi lặng tiếng. Tôi giẫm lên một hệ thống xử án biến việc cân nhắc công bằng thành một cuộc đấu khẩu giữa kẻ buộc bội và kẻ bào chữa. 
Tôi giẫm lên tổ chức Liên minh Nhân quyền và Dân quyền không hề lên tiếng để nói: Hãy chặn đứng cái máy chém khô của các người lại, hãy hủy diệt cái tâm lý xa-đích tập thể đang hoành hành trong giới viên chức Hành chính. Tôi giẫm lên cái tình trạng tệ mạt là không có một tổ chức hay hiệp hội nào chất vấn những kẻ có trách nhiệm về hệ thống xử án này để hỏi họ xem tại sao và làm thế nào mà trại khổ sai cứ hai năm lại chết mất tám mươi phần trăm dân số của nó. Tôi giẫm lên những tờ giấy báo tử của tổ chức y tế nhà nước: tự tử, suy dinh dưỡng, suy nhược toàn thân, hoại huyết, ho lao, điên loạn, dở hơi. Tôi còn biết tôi đang giẫm lên những gì nữa? Nhưng dù sao, sau sự việc đã xảy ra, tôi không còn đi bình thường nữa, cứ mỗi bước tôi lại xéo nát một cái gì. 

Một, hai, ba, bốn, năm,… và những giờ phút chảy qua chầm chậm làm cho cuộc nổi loạn thầm lặng của tôi lắng dần vì mệt mỏi. Còn mười ngày nữa tôi sẽ qua được một nửa thời hạn cấm cố. Đây quả là một kỷ niệm rất đáng ăn mừng, vì nếu không kể cái bệnh cảm khá nặng kia, sức khỏe tôi vẫn tốt. Tôi vẫn không điên, mà cũng chưa bước vào quá trình trở thành điên. Tôi tin chắc, thậm chí chắc một trăm phần trăm là sẽ ra khỏi chốn này khỏe mạnh về thể chất và tinh thần khi cái năm đang sắp bắt đầu sẽ hết. 
Tôi sực tỉnh vì ngoài kia có tiếng nói rì rầm. 
– Hắn đã chết khô từ bao giờ ấy. Durand ạ. Sao, ban nãy anh không nhận thấy à? 
– Thưa sếp tôi không biết ạ. Vì hắn treo cổ trong góc tường phía lối đi tuần cho nên tôi đi qua nhiều lần mà không trông thấy. 
– Cái đó không quan trọng, nhưng phải thú nhận rằng anh không trông thấy hắn là phi lô-gíc. 
Người bị giam ở buồng bên trái đã tự tử. 
Đó là điều mà tôi đã hiểu ra, họ đến khiêng hắn đi. Cánh cửa khép lại. Nội quy đã được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh vì cánh cửa ấy đã được mở ra và đóng lại trước mắt một “cấp trên” là viên giám đốc của nhà giam cấm cố mà tôi đã nhận ra giọng nói. Đó là người thứ năm đã chết trong các buồng giam ở quanh tôi trong vòng mười tuần. 
Ngày kỷ niệm một năm cấm cố đã đến. Trong cái bô tôi thấy có một hộp sữa đặc Nestlé. Đó là một cử chỉ điên rồ của các bạn tôi. Họ đã tìm mua hộp sữa này với một giá đắt không thể tưởng tượng nổi và đã liều lĩnh gửi nó cho tôi. Dù sao tôi cũng đã có được một ngày đắc thắng trước sự tàn nhẫn của số phận. Cho nên tôi tự hứa là không bay đi đâu cả. Tôi đang ở nhà giam cấm cố. Một năm đã qua từ khi tôi đến đây, thế mà tôi vẫn tự cảm thấy đủ sức để lên đường vượt ngục ngày mai nếu có cơ hội. Bản tổng kết như vậy là tích cực, và tôi tự hào về nó. 
Thông qua người quét hành lang buổi trưa, tôi nhận được mấy chữ của các bạn (đó là một việc khác thường): “Can đảm lên. Chỉ còn một năm nửa thôi. chúng tôi biết cậu vẫn khỏe. Chúng tôi cũng bình thường, yên ổn. Chúng tôi hôn cậu. Louis, Ignace. Nếu tiện, cậu gửi cho chúng tôi mấy chữ, đưa ngay cho người đã trao cậu mảnh giấy này”. 
Trên mảnh giấy trắng gửi kèm theo bức thư tôi viết: “Cám ơn về tất cả. Tôi khỏe mạnh, và nhờ các cậu tôi hy vọng vẫn sẽ như thế này sau một năm. Có thể cho tôi biết tin Clousiot, Maturette không?” Quả nhiên một lúc sau người quét hành lang trở lại, cào vào cửa tôi. Tội vội vàng nhét mảnh giấy dưới cửa, nó biến ngay. Suốt ngày hôm ấy và một phần đêm ấy, tôi ở lại trên mặt đất, trong cái trạng thái mà tôi đã mấy lần tự hứa là sẽ giữ. Một năm nữa tôi sẽ được đưa về một trong hai đảo. Royale hay Saint-Joseph? Tôi sẽ nói chuyện, hút thuốc đến đã đời thì thôi, và lập tức sẽ chuẩn bị vượt ngục. 
Hôm sau tôi bước vào ngày thứ nhất trong số ba trăm sáu mươi lăm ngày còn lại, lòng vững tin vào số phận của mình. Tám tháng tiếp theo, mọi sự đã trôi qua đúng như tôi dự kiến. Nhưng đến tháng thứ chín thì tình hình trở nên nghiêm trọng. Sáng hôm ấy, đến giờ để bô, người đưa dừa bị bắt quả tang vào lúc đẩy cái bô vào buồng tôi, trong đó đã để sẵn quả dừa và năm điếu thuốc lá. 
Việc vừa xảy ra nghiêm trọng đến nỗi trong mấy phút đồng hồ họ đã quên mất quy chế im lặng tuyệt đối. Tiếng người ta đấm đá người tù khốn khổ kia nghe rất rõ. Sau đó là tiếng rên khò khè của một người đã bị đánh một đòn chí mạng. Cái ghi-sê của tôi mở ra và một cái mặt lính gác đỏ bừng quát vào buồng: “Còn mày nữa, hãy đợi đấy!” 

– Tao sẵn sàng đợi mày, thằng chó đẻ! – Tôi trả lời thần kinh căng thẳng đến tột độ vì đã phải ngồi im nghe chúng nó đánh dập người tù khốn khổ kia. 
Việc ấy đã xảy ra lúc bảy giờ. Đến mười một giờ, một phái đoàn do viên phó chỉ huy nhà giam cấm cố đứng đầu đến buồng tôi. Người ta mở cánh cửa đã đóng lại sau lưng tôi cách đây hai mươi tháng và từ đó chưa bao giờ được mở ra. Tôi đang đứng ở cuối buồng giam, tay cầm cái ca, giữ thế thủ, quyết tâm đánh trả đến cùng, vì hai lẽ: thứ nhất là để cho bọn lính gác khi đánh tôi sẽ được trừng trị đích đáng, thứ hai là để chúng nó đánh tôi chết thật nhanh. Nhưng mãi chẳng thấy chúng làm gì cả, viên phó chỉ huy nói: 
– Phạm nhân, bước ra. 
– Nếu các anh bảo tôi ra để đánh tôi thì hãy coi chừng: tôi sẽ đánh lại Mà tôi chẳng dại gì ra để bị đánh từ bốn phía. Tôi cứ đứng đây, hễ đứa nào động vào tôi tôi sẽ cho đi đời ngay. 
– Charrière, người ta sẽ không đánh anh đâu. 
– Ai bảo đảm điều đó? 
– Tôi, phó chỉ huy nhà giam. 
– Anh có danh dự không mà bảo đảm? 
– Anh đừng thóa mạ tôi, vô ích. Tôi lấy danh dự hứa với anh rằng anh sẽ không bị đánh. Nào ra đi! 
Tôi vẫn cầm cái ca trong tay. 
– Anh có thể giữ cái ca, anh không phải dùng đến nó đâu. 
– Được 
Tôi bước ra, và đi giữa sáu tên giám thị cùng đi với viên phó chỉ huy, vượt qua suốt chiều dài của hành lang. Ra đến sân, tôi thấy chóng mặt và chói mắt dữ dội, phải nhắm nghiền lại. Cuối cùng tôi trông thấy cái nhà nhỏ nơi họ đã đón chúng tôi. ở đấy có khoảng mười hai tên giám thị. Không xô đẩy, họ đưa tôi vào phòng “quản trị”. Giữa nền nhà bê bết máu, một người tù đang nằm rên rỉ. Khi thấy cái đồng hồ treo trên tường chỉ một giờ, tôi nghĩ: “Tội nghiệp, chúng nó tra tấn anh ta bốn tiếng đồng hồ rồi”.

Viêm giám đốc đang ngồi sau bàn giấy, viên phó giám đốc ngồi xuống cạnh hắn ta. 
– Charrière, anh nhận thức ăn và thuốc lá bao lâu rồi? 
– Anh kia đã nói cho các ông biết rồi còn gì. 
– Tôi hỏi anh ấy. 
– Tôi thì bị bệnh mất trí nhớ, hôm qua có chuyện gì tôi không thể biết được. 
– Anh giễu chúng tôi đấy à? 
– Không, việc này mà người ta không ghi vào hồ sơ của tôi thì lạ thật. Tôi bị mất trí nhớ vì một đòn đánh vào đầu. 
Viên giám đốc nghe câu trả lời của tôi ngạc nhiên quá quay ra hỏi: 
– Gọi diện hỏi Royale xem thử trong hồ sơ có ghi gì về việc này không? 
Trong khi người ta gọi điện thoại, hắn nói tiếp: 
– Anh có nhớ mình tên là Charrière chứ? 
– Cái đó thì có. – Đoạn tôi nói tiếp thật nhanh để làm cho họ ngỡ ngàng hơn nữa, nói như một cái máy: 
Tôi tên là Charrière, tôi sinh năm 1906 ở tỉnh Ardèehe, bị xử án chung thân ở Paris, quận Seine. Ông ta trợn mắt tròn xoe như hai hòn bi, và tôi cảm thấy mình đã làm cho viên giám đốc lung lay thực sự. 
– Sáng nay anh vẫn được phát cà-phê và bánh mì đấy chứ? 
– Vâng. 
– Tối hôm qua người cho anh ăn món đậu gì? 
– Tôi không biết. 
– Thế thì theo anh, anh không còn chút trí nhớ gì sao? 
– Những việc xảy ra thì hoàn toàn không nhớ chút gì. Mặt thì tôi nhớ. Chẳng hạn như tôi nhớ rằng ông có tiếp tôi một lần. Vào lúc nào thì tôi không biết. 
Thế anh không biết anh còn phải bị giam bao lâu nữa sao? 
– Chung thân mà? Hình như đến khi chết. 
– Không! Hạn giam cấm cố ấy. 
– Tôi mà bị giam cấm cố à? Vì tội gì? 
– Ơ thế thì thật quá sức! Mẹ kiếp! Anh đừng làm cho tôi nổi khùng lên. Anh dám nói rằng anh không nhớ đã bị xử hai năm vì tội vượt ngục sao? Gớm thật! 
Đến đây, tôi hạ nốt đòn cuối cùng cho hắn gục hẳn: 
– Tôi mà lại vượt ngục à? Thưa ông chỉ huy, tôi là người nghiêm chỉnh và có trách nhiệm. Xin ông cứ đi với tôi về buồng giam, ông sẽ rõ là tôi có vượt ngục hay không. 
Vừa lúc ấy một tên cảnh sát nói với viên chỉ huy: 
– Thưa xếp, có điện của Royale gọi. 
Viên giám đốc đến cầm máy lên: “Không ghi gì cả à? Lạ thật, hắn bảo là hắn bị mất trí nhớ… Nguyên nhân à? Bị đánh vào đầu… hiểu rồi, hắn giả vờ. Ai mà biết… Vâng, xin lỗi thiếu tá, tôi sẽ kiểm tra lại. Chào thiếu tá… Vâng, tôi sẽ báo cáo lại để thiếu tá rõ”. 
– Đồ kép hát, xem cái đầu nào. ừ, mà phải. Có một vết thương khá dài. Thế anh làm cách nào mà nhớ được rằng anh bị mất trí nhớ từ khi bị đánh cú này, hả? Nói đi xem nào? 
– Tôi không hề giải thích, tôi chỉ ghi nhận rằng tôi nhớ là đã bị đánh, nhớ rằng tên tôi là Charriène. 
Tôi còn nhớ nhiều thứ khác nữa ấy chứ. 
– Rốt cuộc anh muốn nói gì hay làm gì? 
– Vấn đề đó thì chúng ta đang bàn đây thôi. Ông hỏi tôi là người ta gửi thức ăn và thuốc hút cho tôi từ bao giờ. Vậy tôi xin trả lời dứt khoát: tôi không biết; chắc đây là lần đầu, nhưng cũng có thể là lần thứ một ngàn. Bị bệnh mất trí nhớ, tôi không thể trả lời rõ hơn được. Xin hết, các ông muốn làm gì tôi thì làm. 
– Điều mà tôi muốn cũng đơn giản thôi. Anh đã ăn quá tiêu chuẩn lâu rồi, thế thì bây giờ phải để cho anh gầy đi một chút. Bỏ bữa ăn chiều cho đến hết thời hạn gian cấm cố. 

Ngay hôm ấy, tôi nhận được một mảnh giấy lúc họ đi quét hành lang lần thứ hai. Tiếc thay tôi không đọc được vì nó không được viết bằng mực lân tinh. Đến khuya, tôi châm một chiếu thuốc lá còn lại từ hôm qua đã thoát khỏi cuộc khám xét vì nó được giấu rất kỹ trong tấm ván nằm. Rít mạnh điếu thuốc cho đốm lửa sáng lên, tôi dần dần đọc được: “Người đổ bô đã giữ vững. Anh ta khai đây là lần thứ hai anh đưa thức ăn vào cho cậu, một cách hoàn toàn tự nguyện. Lại khai là đã làm như thế vì trước kia có quen cậu ở Pháp. Sẽ không có ai bị liên lụy ở Royale. Can đảm lên”. Vậy là tôi bị tước mất món lửa, thuốc lá và tin tức của bạn bè ở Royale. Hơn nữa họ đã cúp mất bữa ăn chiều của tôi. Tôi đã quen với tình trạng không phải chịu đói và với mười lần hút thuốc lá mà trước đây tôi vẫn dùng để lấp thời gian trong ngày và một phần đêm. Không phải tôi chỉ nghĩ đến mình, tôi nghĩ đến người tù đáng thương bị chúng nó đánh đập tàn nhẫn vì tôi mong rằng anh ta sẽ không bị phạt quá nặng. 
Một, hai, ba, bốn, năm đằng sau quay… Một hai, ba, bốn, năm đằng sau quay. Mày sẽ không dễ gì chịu được cái chế độ ăn đói này đâu, Papi ạ, và bây giờ mày sẽ ăn ít như vậy thì có lẽ phải thay đổi chiến thuật chăng? Chẳng hạn nằm đến mức tối đa để khỏi tiêu hao năng lượng. Càng ít cứ động thì đốt càng ít ca-lo-ri. Những lúc không nằm thì cố ngồi trong nhiều giờ. 
Bây giờ tôi phải tập sinh hoạt theo một kiểu khác. Bốn tháng là một trăm hai mươi ngày. Cứ cái chế độ ăn này thì bao lâu tôi sẽ bắt đầu thiếu máu? ít nhất là hai tháng. Vậy trước mắt tôi có hai tháng quyết định. Khi tôi đã quá yếu thì các bệnh tật sẽ có được một mảnh đất tuyệt vời để hoành hành. Tôi quyết định là sẽ nằm từ sáu giờ chiều đến sáu giờ sáng. Tôi sẽ đi đi lại lại từ khi đưa cà-phê cho đến khi thu bô, nghĩa là khoảng hai giờ. Đến giữa trưa, sau bữa xúp, lại đi khoảng hai giờ nữa. Cả thảy là bốn giờ đi đi lại lại. Thời gian còn lại thì ngồi hay nằm. 
Không mệt thì sẽ khó bay đi lang thang. Nhưng tôi vẫn sẽ cố bay thử. 

Hôm nay, sau một hồi lâu suy nghĩ đến các bạn và đến người tù khốn khổ đã bị hành hạ tàn nhẫn vì tôi, tôi bắt đầu tập dượt cho quen với cái kỷ luật mới này. Kết quả khá tốt, tuy tôi thấy thời gian trôi chậm hơn, và đôi chân tôi không làm việc mấy giờ liền cứ thấy buồn buồn như chứa đầy kiến. 
Cái chế độ này đã thi hành được mười ngày. Bây giờ tôi đói thường xuyên. Tôi đã bắt đầu lâm vào tình trạng mỏi mệt kéo dài. Tôi thấy thèm dừa quá, và cũng thèm thuốc lá nữa. Tôi đi nằm rất sớm và chỉ một lát sau, không lâu lắm, tôi đã vượt ra khỏi buồng giam trong tưởng tượng. Hôm qua, tôi ở Paris, đang ngồi uống sâm banh ở quán Au Rat Mort với mấy thằng bạn, trong đó có Antonio de Londres, quê quán ở Baléares, nhưng nói tiếng Pháp như một người Paris và nói tiếng Anh như một tay roastbeef chính cống của xứ Anh-cát-lợi. Hôm sau ở quán Au Marronnier trên đại lộ Clichy, cậu ta giết một người bạn bằng năm phát súng lục. Trong giới giang hồ những sự đổi thay từ tình bạn sang căm thù diễn ra rất nhanh. Phải, hôm qua tôi ở Paris, khiêu vũ trong tiếng đàn accordéon ở tiệm Petit Jardin, đại lộ Saint-Quen, khách đến nhảy toàn người Corse và người Marseille. Tất cả các bạn tôi lần lượt hiện ra trong chuyến du hành tưởng tượng này một cách rõ rệt và chính xác đến nỗi tôi không một giây nào nghi ngờ sự có mặt của họ cũng như sự có mặt của tôi ở những nơi mà tôi đã sống qua những đêm diễm phúc ấy. Như vậy, (tôi) không đi nhiều, với chế độ ăn rất có hẹp này tôi vẫn đạt được một kết quả tương đương như cái kết quả đạt được bằng cách làm cho thân thể mỏi mệt. Những hình ảnh của quá khứ lôi tôi ra khỏi buồng giam một cách mạnh mẽ đến nỗi tôi thực sự được sống nhiều giờ tự do hơn là những giờ cấm cố. Chỉ còn một tháng nữa. 
Đã ba tháng rồi tôi chỉ ăn một ổ bánh mì tròn và một soong xúp nóng không có chất bột vào bữa trưa với miếng thịt hầm của nó. Tình trạng đói thường xuyên đã đưa tôi đến chỗ vừa nhận xong soong xúp tôi đã vội vàng nhìn kỹ miếng thịt xem thử có phải nó chỉ là một miếng da như đã từng xảy ra khá nhiều lần không. 
Tôi đã gầy đi nhiều, và bây giờ tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của trái dừa mà tôi đã may mắn nhận được trong hai mươi tháng liền đối với việc duy trì sức khỏe và trạng thái cân bằng trong tình cảnh bị gạt ra ngoài cuộc sống.
Sáng nay, sau khi uống suất cà-phê, tôi thấy bứt rứt khác thường. Tôi đã tự buông thả đến mức ăn một lúc hết nửa ổ bánh mì, điều mà tôi không bao giờ làm. Mọi khi tôi cắt nó ra làm bốn miếng gần bằng nhau dể ăn làm bốn lần, vào lúc sáu giờ sáng, vào giữa trưa, vào sáu giờ chiều, và miếng cuối cùng vào ban đêm. “Sao lại làm như vậy”. Tôi tự mắng nhiếc một mình. “Sắp kết thúc rồi mà mày lại tự cho phép sa ngã một cách nghiêm trọng như thế – “Tôi đói, và tự cảm thấy không còn sức mạnh – “Sao mày lắm tham vọng thế. Làm sao mày lại có thể mạnh được trong khi ăn như vậy? Điều quan trọng là mày yếu, đúng vậy, nhưng mày không đau ốm: và điểm này mày là kẻ chiến thắng. Xét một cách lô~gích, nếu mày không quá rủi ro, cái nhà giam “ăn thịt người” này rốt cục sẽ thua mày trong cuộc tỷ thí 
Sau hai giờ đi đi lại lại, tôi ngồi trên cái khối xi- măng dùng làm ghế. Còn ba mươi ngày nữa, tức bảy trăm hai mươi giờ, cánh cửa kia sẽ mở ra và người ta sẽ nói với tôi: “Phạm nhân Charriere, ra đi. Anh đã mãn hạn hai năm cấm cố”. Và tôi sẽ nói gì? Tôi sẽ nói: “Vâng, cuối cùng tôi cũng đã kết thúc được hai năm đày đọa này”. ồ, không được, sao lại nói thế! Nếu đó là viên giám đốc mà mày đã chơi xỏ vụ “mất trí nhớ” mày phải tiếp tục chơi cái trò đó, tỉnh bơ như không. Mày sẽ nói: “Sao, tôi được ân xá rồi à? Tôi được về Pháp à? án chung thân của tôi đã mãn hạn à?” Chẳng qua để côi bộ mặt của hắn và cho hắn thấy rằng cái chế độ ăn đói mà hắn dùng để trừng phạt mày là một hành động bất công. 
– “Trời ơi, mày làm sao thế? Bất công hay không, tên giám đốc kia đếch cần. Đối với một tâm địa như vậy thì phạt oan hay không có gì quan trọng đâu? Chẳng lẽ mày nghĩ rằng hắn ân hận vì đã trừng phạt mày một cách bất công sao? Từ nay trở đi tao cấm mày không được coi một tên cai ngục như một con người bình thường. Không có một con người nào đáng được gọi là người lại có thể làm cái nghề này. Trên đời, cái gì người ta cũng có thể quen đi, thậm chí suốt đời quen với cái sự nghiệp của một thằng khốn nạn. May ra chỉ khi nào gần kề miệng lỗ thì nỗi sợ hãi trước Thượng đế mới có thể làm cho hắn ân hận và sám hối, nếu hắn có một tôn giáo. Không phải thực sự hối hận về những hành vi bỉ ổi mà hắn đã làm, chẳng qua vì sợ sự phán xử của Thượng đế, trong đó bản thân hắn là kẻ bị xử tội. Như vậy, khi ra khỏi nhà lao cấm cố, có được đưa về đảo nào chăng nữa, ngay từ đầu mày chớ có chút nào thỏa hiệp với giống người này: Mày với chúng nó đối lập hoàn toàn với nhau, và ở giữa có một đường phân giới rất rạch ròi. Một bên là sự hèn hạ, là quyền thế câu nệ không hồn, là bệnh xa-đích bẩm sinh, có tính chất bản năng, máy móc trong những phản ứng của nó; và bên kia là tôi và những người cùng cảnh ngộ, chắc chắn là phạm những tội nặng, nhưng đã được sự đau khổ tạo cho những phẩm chất vô giá; tình thương xót lòng nhân hậu, sự tôn quý, lòng dũng cảm.
Hoàn toàn thành thật mà nói, tôi thà làm tên tù khổ sai còn hơn làm một tên cai ngục. 
Chỉ còn hai mươi ngày nữa. Tôi cảm thấy trong người yếu lắm rồi. Tôi có nhận thấy ổ bánh mì của tôi bao giờ cũng thuộc loại nhỏ. Ai là kẻ có thể tự hạ mình đến mức chọn bánh mì nhỏ cho tôi? Từ mấy ngày rồi trong soong xúp của tôi chỉ có nước nóng, và suất thịt bao giờ cũng là một cái xương có ít thịt dính quanh, nếu không phải là một miếng da. Tôi sợ mình lăn ra ốm. Nỗi lo sợ này cứ ám ảnh tôi. Tôi yếu đến nỗi trong khi thức tôi chẳng cần cố gắng một chút nào cũng có thể mơ tưởng bất cứ điều gì. Tình trạng mệt mỏi rã rời kèm theo một tâm trạng chán nản trầm trọng làm cho tôi rất lo ngại. Tôi tìm mãi cách phản ứng, nhưng phải khó khăn lắm mới qua được hai mươi bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày. Có tiếng cào ngoài cửa. Tôi hối hả rút mảnh giấy. Nó viết bằng bút dạ quang. Đó là một bức thư của Dega và Galgani. “Cậu viết cho chúng mình mấy chữ đi. Rất lo ngại về tình trạng sức khỏe của cậu. Còn mười chín ngày nữa, can đảm lên. Louis, lgnace”. Kèm theo có một mẩu giấy và một khúc ruột bút chì đen. Tôi viết: “Tôi còn chịu được, tuy rất yếu. Cám ơn. Papi”. 
Khi nghe tiếng chổi cào cửa lần nữa, tôi luồn mẫu giấy ra. Bức thư nhỏ, không kèm điếu thuốc lá và quả dừa, đối với tôi vẫn là một cái gì hơn tất cả các thứ đó. Sự thể hiện này của một tình bạn chung thủy tuyệt vời đã cho tôi sức khích lệ mà tôi đang cần. ở bên ngoài, các bạn biết tôi ra sao và nếu tôi lâm bệnh, thế nào các bạn tôi cũng sẽ tìm cách thúc dục bác sĩ chăm sóc tôi tứ tế Các bạn tôi nói đúng: chỉ còn mười chín ngày nữa tôi sẽ đến đích trong cuộc chạy đua gian khổ với cái chết và với sự điên rồ. Tôi sẽ không lâm bệnh. 
Phần tôi là phải làm thật ít động tác để chỉ tiêu hao những ca-lo-ri không thể không dùng đến. Tôi sẽ bỏ bớt hai giờ đi đi lại lại buổi sáng và hai giờ buổi chiều. Đó là cách duy nhất để giữ vững. Cho nên suốt đêm, trong mười hai tiếng đồng hồ tôi nằm và mười hai tiếng còn lại, tôi ngồi yên trên cái ghế xi-măng. Thỉnh thoảng tôi đứng dậy, duỗi tay ra co tay vào mấy lần, rồi lại ngồi xuống. 
Chỉ còn mười ngày nữa. 
Tôi đang dạo chơi ở Trinidad, những cây đàn cò một dây của người Java đang ru tôi với những giai điệu ai oán thì một tiếng gớm ghiếc, nghe không còn ra tiếng ngươi nữa, lôi thôi về cõi thực. Tiếng hét này từ một buồng giam ở sát phía sau buồng tôi hay gần như thế, rất gần, tôi lắng tai nghe: 
– Thằng khốn kiếp, mày xuống đây đi, xuống cái hố này. Mày đứng trên ấy giám sát tao mãi mà không chán à? Mày không thấy là mày bị thiệt mất một nửa cảnh vì dưới này tối quá à? 
– Anh im đi, nếu không sẽ bị phạt nặng đấy? – Tên lính gác nói. 
– à à? Mày nói nghe thối bỏ mẹ, đồ mặt l…? Mày bảo còn có cách gì phạt nặng hơn là sự im lặng này? Mày muốn phạt bao nhiêu cứ phạt, nếu thích thì cứ đánh đập tao đi, tên đao phủ ghê tởm kia, nhưng mày sẽ không bao giờ tìm được một cái gì có thể so sánh với sự im lặng mà mày bắt tao phải giữ. Không, không, không? Tao không chịu thế này nữa đâu, tao không chịu im lặng nữa đâu, tao không thể im lặng mãi được nữa? Lẽ ra từ ba năm trước tao phải nói vào mặt mày: đồ khốn nạn? Đồ cứt đái? Thế mà tao đã ngu dại đến nỗi đợi ba mươi sáu tháng rồi mới chửi vào mặt mày, chỉ vì sợ trừng phạt? Tao nhổ vào mặt mày và cả bọn chúng mày, đồ cai ngục thối nát? 
Một lát sau có tiếng cửa mở và tôi nghe thấy: 
– Không, không phải thế! Mặc trái vào cho nó, như thể hiệu quả hơn nhiều? 
Người tù đáng thương gào lên: 
– Mày muốn mặc áo cùm cho tao cách nào thì cứ mặc đi, đồ sâu bọ! Mặc ngược cũng được, riết thật chặt vào cho tao chết ngạt đi, kề đầu gối vào mà rút dây cho chặt. Đằng nào thì tao cũng cứ nói rằng mẹ mày chỉ là một con lợn cái, còn mày chỉ có thể là một đống cứt? 

Chắc chúng nó đã ghét giẻ vào mồm người tù vì tôi không còn nghe thấy gì nữa. Cánh cửa đã đóng lại. 
Cảnh vừa qua chắc đã làm cho tên lính gác trẻ tuổi đang đi lại lại phía trên xúc động vì mấy phút sau hắn đứng lại trước buồng giam tôi và nói: “Chắc anh ta phát điên rồi” 
– Anh nghĩ thế à? Những điều anh ta nói ra đều phải cả đấy chứ. Tên lính gác sửng sốt một lúc rồi bỏ đi sau khi ném một câu: “Thế à, thế thì anh cũng sẽ theo gót hắn thôi?”. 
Việc vừa xảy ra đã tách tôi khỏi những người tốt bụng, những tiếng đàn cò, những đôi vú Ấn Độ, cái cảng Port of Spain, và lôi tôi về cái thực tế đáng buồn của nhà giam cấm cố. 
Còn mười ngày nữa, tức hai trăm bốn mươi giờ, phải chịu đựng. 
Cái chiến thuật không cử động đã đem lại kết quả. 
Nếu đó không phải là do những giờ cuối ngày trôi qua một cách êm đềm, hay là nhờ mẩu giấy của các bạn tôi. Tôi có thiên hướng nghĩ rằng sở dĩ mình tự cảm thấy mạnh mẽ hơn là nhờ một sự so sánh đã đến với tôi như một điều hiển nhiên: tôi chỉ còn cách giờ ra khỏi nhà giam có hai trăm bốn mươi tiếng đồng hồ, tôi yếu nhưng óc tôi vẫn nguyên vẹn, năng lực của tôi chỉ cần thêm một ít sức nữa là có thể làm việc trở lại một cách hoàn hảo. Trong khi đó thì sau lưng tôi, chỉ cách hai mét, sau bức tường này, một người tù khốn khổ đang bước vào giai đoạn thứ nhất của sự điên rồ, có lẽ là bước vào bằng một ngưỡng cửa không nên vượt qua: ngưỡng cửa của bạo lực. Người ấy sẽ không sống lâu nữa, vì sự nổi loạn của anh ta khiến cho bọn cai ngục cơ hội sừ dụng những biện pháp đã nghiên cứu rất kỹ để giết anh ta một cách thật khoa học. Tôi tự trách mình là đã cảm thấy mình mạnh hơn chỉ vì người kia bại trận. Tôi tự hỏi, không biết mình có phải là một trong những kẻ ích kỷ mà vào những ngày mùa đông, chân đi giày ấm, tay đi găng, mình khoác tấm áo lông dày, đang nhìn những đám người lao động đang đi làm ăn mặc phong phanh, người rét cóng, hai tay tím lại vì gió rét, đang hớt hải chạy cho kịp chuyến xe buýt hay chuyến mé tro đầu tiên, càng nhìn họ càng thấy mình ấm áp và thường thức cái cảm giác ấy một cách trọn vẹn hơn bao giờ hết. 
Trên đời này, nhiều khi mọi sự chỉ là do so sánh mà có. Đúng thế, người ta có thể nghĩ: tôi bị mười năm nhưng Papillon thì bị chung thân. Đúng thế, tôi bị chung thân, nhưng tôi mới hai mươi tám tuổi, còn anh kia chỉ bị mười lăm năm, nhưng tuổi anh đã năm mươi rồi. Dù sao cuối cùng tôi cũng đã gần đến đích, và tôi hy vọng rằng chỉ trong vòng sáu tháng là cùng tôi sẽ lại sung sức về mọi phương diện – thể chất, tinh thần, ý chí – để thực hiện một cuộc vượt ngục ngoạn mục. 
Người ta đã phải nói nhiều về chuyến vượt ngục đầu tiên, chuyến thứ hai sẽ được khắc lại trên những phiến đá xây tường của trại khổ sai. Tôi không chút nghi ngờ. 
Tôi sẽ ra đi trước sáu tháng: đó là điều hoàn toàn chắc chắn. 
Đây là đêm cuối cùng của tôi ở nhà giam cấm cố. Cách đây một vạn bảy ngàn năm trăm tám giờ tôi đã bước vào buồng giam 234. Họ đã mở cửa ra một lần để giải tôi ra trước mặt viên giám đốc cho hắn xử tội. 
Ngoài người tù ở buồng bên mỗi ngày thường trao đổi với tôi mấy tiếng nhát gừng, người ta đã nói chuyện với tôi bốn lần. Một lần để nói rằng khi có tiếng còi huýt có thể hạ ván xuống: đó là ngày thứ nhất. Một lần là các ông bác sĩ nói: “Quay lưng lại ho đi”. Một buổi nói chuyện dài hơn và sôi nổi hơn với viêm giám đốc. Và hôm trước là bốn câu trao đổi với tên lính gác bị người tù phát điên làm cho xúc động. Giải khuây như vậy thật không lấy làm gì phong phú! Tôi chìm vào một giấc ngủ yên lành, trong ý nghĩ không có gì khác hơn là: ngày mai người ta sẽ mở hẳn cánh cửa này. Ngày mai tôi sẽ được nhìn thấy ánh mặt trời, và nếu họ đưa tôi sang Royale tôi sẽ được hít thở không khí của biển khơi. Ngày mai tôi sẽ được tự do. Tôi bật cười. Tự do là thế nào? Ngày mai mày bắt đầu chính thức hưởng cái án khổ sai chung thân. Thế mà mày gọi là tự do ư? Tôi biết, tôi biết chứ, nhưng cuộc sống ở bên ngoài không thể nào so sánh với cuộc sống mà tôi vừa phải chịu đựng. Tôi sẽ gặp Clousiot và Maturette như thế nào đây. 
Đến sáu giờ, họ đưa cà-phê và bánh mì cho tôi. Tôi chỉ muốn nói: Kìa, hôm nay tôi được ra kia mà. 
“Anh nhầm rồi”. Nhưng tôi chợt nhớ ra rằng mình là người “mất trí nhớ”, và biết đâu nếu tôi nói như vậy thì khác nào thừa nhận là đã giỡn mặt viên giám dốc, và hắn rất có thể phạt tôi ba mươi ngày xà-lim nữa? 
Vì dù có thể nào, theo pháp luật tôi phải ra khỏi nhà giam cấm cố trừng giới Saint-Joseph đúng vào ngày hôm nay, 26 tháng sáu 1936. Bốn tháng nữa tôi tròn ba mươi tuổi. 
Tám giờ. Tôi đã ăn hết cả ổ bánh mì. Ra ngoài tôi sẽ có thứ khác để ăn ngay. Họ đến mở cửa. Trước mặt tôi là viên phó giám đốc và hai tên giám thị. 
– Charrière, anh đã mãn hạn, hôm nay là ngày 26 tháng sáu 1936. Anh đi theo chúng tôi. 
Tôi ra ngoài. Ra đến tận sân thì mặt trời đã đủ sáng để làm tôi lóa mắt. Tôi có cảm giác như muốn xỉu. 
Hai chân tôi mềm nhũn ra, và những chấm đen quay cuồng trước mắt tôi. Thế mà tôi mới vừa đi được chừng năm mươi mét trong đó có ba mươi mét đi dưới nắng. 
Đến trước gian nhà “Ban quản trị” tôi trông thấy Maturette và Clousiot. Maturette đúng là một bộ xương, hai má hóp vào, đôi mắt sâu hoắm. Clousiot thì nằm trên cáng. Anh ta xanh xao và đã phảng phất mùi người chết. Tôi nghĩ: “Hai bạn của tôi trông chẳng đẹp chút nào. Không biết mình có như vậy không?” Tôi nóng lòng muốn được nhìn thấy mình trong gương. Tôi nói với hai bạn: 
– Thế nào, ổn không? 
Họ không trả lời. Tôi nhắc lại: 
– ổn không? 
– ổn – Maturette nói rất khẽ. 
Tôi muốn nói với cậu ta rằng bây giờ đã hết hạn cấm cố, chúng tôi có quyền nói chuyện. Tôi cúi xuống hôn lên má Clousiot. Anh nhìn tôi với đôi mắt sáng long lanh và mỉm cười: 
– Vĩnh biệt Papillon, – anh nói. 
– Không, sao lại nói thế? 
– Tôi đến rồi, thế là hết. 
Mấy ngày sau, Clousiot sẽ chết ở bệnh viện đảo Royale. Anh được ba mươi hai tuổi, bị xử hai mươi năm khổ sai vì một vụ ăn cắp xe đạp mà anh không phải là thủ phạm. Nhưng lúc ấy viên giám đốc đã đến: 
– Cho họ vào. Maturette và Clousiot, các anh đã có hạnh kiểm tốt. Cho nên tôi đề vào phiếu của các anh là “Hạnh kiểm tốt”. Còn anh, Charriere, anh đã phạm một lỗi nặng, tôi phải đề: hạnh kiểm xấu. 
– Xin lỗi ông, tôi phạm lỗi gì ạ? 
– Thế anh không nhớ vụ thuốc lá và dừa bị bắt quả tang à? 
– Cây dừa ở đâu? 
– Kìa, bốn tháng nay anh hưởng chế độ gì? 
– Về phương diện nào chứ? ăn uống à? Từ khi tôi vào đây hôm nào chẳng thế! 
– Chà! Thế thì thật quá quắt! Chiều qua anh ăn gì? 
– Như mọi khi, cho gì tôi ăn nấy. Tôi đi đâu mà biết? Tôi không nhớ, nhưng tôi biết đại khái là đậu hay cơm xào, hay một thứ rau gì đấy. 
– Thế anh có ăn bữa chiều à? 
– Trời đất! ông tưởng tôi đổ đi sao? 
– Không thế này thì không được, tôi xin bỏ cuộc. Thôi, tôi rút lui “Hạnh kiểm xấu”. Làm lại phiếu ra tù đi ông X… Tôi ghi cho anh “Hạnh kiểm tốt”, được chưa? 
– Như thế là công bằng thôi. Tôi có làm gì đâu mà chẳng hạnh kiểm tốt? 
Và đó là câu cuối cùng trước khi chúng tôi ra khỏi văn phòng. 
Cổng lớn của nhà giam cấm cố mở ra cho chúng tôi đi qua. Chỉ có một tên giám thị đi theo áp giải, chúng tôi thong thả bước xuống con đường dẫn ra trại. Phía dưới là mặt biền lấp lánh những ánh bạc và bọt sóng. Đảo Royale ở phía trước mặt, phủ đầy cây cối xanh rờn và mái ngói đó. Đảo Quỷ, khắc khổ và hoang dại. Tôi xin phép tên giám thị ngồi xuống mấy phút. Hắn bằng lòng. Chúng tôi ngồi xuống cạnh Clousiot, tôi bên phải, Maturette bên trái. Chúng tôi cầm lấy tay anh từ lúc nào cũng không biết nữa. Sự tiếp xúc này gieo vào lòng chúng tôi một nỗi xúc động lạ kỳ. Không nói một lời, chúng tôi ôm hôn nhau. Viên giám thị nói. 
– Thôi các cậu. Phải xuống thôi. 
Và chúng tôi từ từ, rất chậm rãi, đi xuống trại. Hai đứa chúng tôi cùng vào trại một lúc, hai bàn tay vẫn nắm lấy nhau, phía sau là hai người khiêng cáng bạn chúng tôi đang hấp hối.








Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by sơn râu 8 Nov 2025

Phần 9 – Hiếm muộn

Khải chống tay nằm xuống bên Huyền, tay anh bóp nhè nhẹ cánh tay trần của chị, vuốt dọc theo bên hông trái, hai bầu ngực mềm mại, tuy đã vào tuổi trung niên vẫn còn gợi cảm mổi lần vô tình anh nhìn thấy chị thay áo, rồi dừng lại nơi vùng bụng mát dịu, Khải dừng lại nơi đây thật lâu, anh biết Huyền vẫn còn cảm giác đê mê của cuộc ái ân, những vuốt ve sẽ làm chị dịu dần, thỏa mản và cảm thấy hạnh phúc.

-Tháng này em về thăm mẹ nhé.

Huyền im lặng nhìn lên trần nhà, ánh đèn ngủ mờ mờ soi lên gương mặt hồng hồng của chị. Mấy tháng nay, nhiều lần Khải thúc dục chị về thăm mẹ, về một mình.

Lâu nay, mổi lần về quê thăm mẹ, họ đều cùng về. Ba tháng nay, sau khi hai vợ chồng tính toán với nhau và cùng chấp nhận một giải pháp mà cả hai không ai muốn, nhất là chị, thì ý tưởng này khó chấp nhận hơn, nhưng vì sự mong mỏi đến khát khao một đứa con của Khải mà chị không quyết liệt phản đối, Huyền cứ lần lữa mải…

Cưới nhau mười năm nay, chuyện làm ăn kinh tế suôn sẽ nhờ anh tính toán phù hơp cho cả hai người: Anh vẫn giử công việc lâu nay ở công ty, một chân trưởng phòng dều hành có thể nói là nhàn hạ. Huyền thôi việc kế toán, về quản lý quầy tạp hóa theo mô hình “cửa hàng tiện ích” mà anh mở sau đám cưới, chị thảnh thơi khi chỉ coi ba nhân viên bán hàng theo ca, thậm chí chuyện giao nhận hàng cho cửa hàng cũng đều do các công ty và siêu thị chở đến tận kho.

Tích góp lâu nay, trừ đi những sinh hoạt gia đình và giúp bà con hai bên, chị không ngờ vợ chồng chị khá sung túc khi nhẩm lại: Ngoài căn nhà đang là cửa hàng và là nhà ở, vợ chồng chị có một căn nhà ở Thủ Đức, mặt tiền đường Kha Vạn Cân, lâu nay cho thuê, mổi năm thu nhập hai trăm bốn chục triệu, một lô dất ở Bình Dương rộng 1.400m2, anh tính chờ giá nhà đất phục hồi trở lại sẽ bán, bấy nhiêu tài sản cộng với thu nhập đều đặn của cửa hàng cho phép chị và Khải không phải băn khoăn về kinh tế.

Chị hạnh phúc vì Khải là người đàn ông chừng mực trong mọi chuyện, trầm tỉnh, chu đáo và hào phóng khi cần thiết, thế nhưng một đứa con mong mỏi mười Năm nay vẫn chưa có!

Trong chuyện vợ chồng, Khải ham muốn nhiều hơn Huyền, những cuộc giao hoan đều dặn trong những năm sống cùng nhau luôn cho chị càm giác thỏa mản, hạnh phúc. Khải, với những trải nghiệm của những năm độc thân, với những cuộc tình không đi đến được hôn nhân, đã tích lủy cho anh những kinh nghiệm chăn chiếu. Lấy nhau khá muộn, khi anh đã ba mươi hai tuổi còn chị hai mươi tám. Bởi đã hơi muộn, họ không dùng một phương pháp tránh thai nào, vậy mà mãi chị không mang thai! Bao nhiêu lần một mình chị đi khàm phụ khoa, rồi cả hai cùng đến bênh viện, nhưng khi thì nói là do chị, khi thì bảo do anh…Cuối cùng, nguyên nhân là bởi tinh trùng của anh loãng, không thể thụ thai bình thường như những người khác, Khải tỏ ra lo âu khi biết chính anh là nguyên nhân của sự hiếm muộn, nỗi lo gần như là một mặc cảm!

Đối với Huyền, tuy cũng ước ao có con nhưng không đến độ mãnh liệt như Khải, cũng có thể do anh là con trai duy nhất trong gia đình mình, một gia đình mà Khải thường nữa đùa nữa thật khi nói về mình là “không danh giá gì!”.

Bốn năm trước, theo lời khuyên của nhiều bạn hữu, Khải và chị quyết định thụ tinh nhân tạo. Tại bệnh viện, Trực bớt buồn phiền khi thấy quanh mình có rất nhiều đôi vợ chồng cùng cảnh ngộ, ai cũng khao khát một đứa con, có đôi là bác sĩ cả vợ lẫn chồng, cũng lặn lội từ ngoài Bắc vào để nhờ y khoa can thiệp!

Lần thụ tinh nhân tạo chỉ cho hai người một niềm hy vọng ngắn ngủi trong hai tuần lễ, anh chưng hửng khi bệnh viên bào tin việc thụ tinh nhân tạo thất bại với nhiều lý do chuyên môn mà anh lẫn Huyền đều không hiểu được. Nhìn gương mặt thất vọng của Khải mà Huyền ứa nước mắt, dù trong lòng chị cũng hụt hẫng không kém!

Nắm bàn tay của anh đang ở trên bụng, áp vào cổ mình, Huyền xoay qua phia Khải, nói thật nhẹ:

-Em vẫn thấy phân vân anh ạ, hay là mình xin một đứa con nuôi? Khải thoáng thất vọng, anh đã loại giải pháp này từ lâu:

-Như anh đã nói, đứa con do em cưu mang và sinh ra, cho dù giọt máu tạo ra nó không phải là anh, thì mình cùng thương yêu và chăm chút cho nó dễ hơn là một đứa con mà cả hai chúng ta cùng biết là không máu mủ gì. Cứ xem như anh lấy em sau khi em đã lỡ dại có một đứa con, chuyện đó cũng thường tình, và anh, vì yêu em mà thương đứa con riêng của em vậy thôi. Trong hai chúng ta, có em là máu mủ vẫn hơn mà em, miễn là giữ kín được…

Cứ mỗi lần nhắc đên chuyên này, cả hai đều cảm thấy bị tổn thương và buồn lòng…

Huyền thật sự không an tâm vì có chuyện gì trên đời giữ mãi được bí mật, mà khi vở lỡ, những hệ lụy nó mang lại thì…Nhiều lần chị cố xua đuổi khỏi tâm trí về những hậu quả đến sau này sẽ làm xáo trộn cuộc sống hạnh phúc, bình yên mà chị đang có!

-Nhớ nhé, lâu lắm rối mày về đúng dịp tổ chức họp lớp. họp trường đó nghe Huyền, nguyên cả khối cấp ba ngày nào luôn, có mấy đứa ở Đà lạt, Sài gon, Cần thơ và cả Hải phòng cũng về, không đi tụi tao từ mày luôn!

-Ừ, mình nhất định sẽ có mặt mà, tiếc là không có Khải, anh ấy sẽ rất vui! Mỹ Duyên nhiệt tình:

-Tụi tao sẽ làm mày vui, nhiều đứa không có chồng đi cùng chứ không riêng gì mày, tuyệt vời lắm mày ạ!

Mỹ Duyên leo lên xe, còn hét to cùng với cái vẫy tay:

-Ê, cho tao chào bà già, trưa mai chuẩn bị sẵn rồi tao đến chở!

Ngồi nơi lan can ngôi nhà đã sống qua thời thơ ấu và thanh xuân, một cảm giác bình yên và thanh thản len trong hồn chị, buổi chiều nhuộm ánh vàng trên hàng chè tàu xung quanh nhà, nó được cắt tỉa gọn gàng nhờ bàn tay của cậu Lư, trong lần về quê năm trước, thấy mẹ lụm đụm quét sân, Khải đã tìm gặp câu Lư, nhờ cậu chăm nom nhà cửa vườn tược giúp, dĩ nhiên là một người khéo léo như Trực, anh không quên gởi tiền hàng tháng cho cậu, với lý do: “Vợ chồng cháu gởi cậu uống trà” .

Huyền cảm thầy trong lòng dâng lên niềm hạnh phúc, rất ít người may mắn như chị, trong số những người bạn thủa còn con gái. Những lần về quê trước đây, khi thì nghe tin chồng một người bạn chết vì lũ, khi thì nghe tin con của một ai đó bị tai nạn giao thông, chết vì túng thiếu không có tiền chuyển vào Sài gòn làm phẩu thuật, có người bị bệnh nan y dang đều tri… Tội nhất là cô bạn ngồi gần Huyền năm học lớp 11, đẹp và hài hước nhất trong đám bạn gái ngày ấy là Liên, cứ ở đâu có Liên là ở đó rộn tiếng cười…thế mà chính Liên lại không may, gặp cảnh buồn là lấy nhẳm anh chồng vủ phu, đã rượu chè lại thích trăng hoa, thương hai đứa con nên Liên cắn răng chịu những trận dòn vô cớ năm này tháng nọ bấy nay!

Hình như chỉ có Mỹ Duyên là yên bình hơn cả, đang làm hiệu trưởng một trường cấp 1 ở địa phương.

Huyền cùng Khải thường đi thăm họ vào những lần về trước, chị an tâm và trong lòng như bớt những muộn phiền khi lần nào ra khỏi nhà bạn là nghe Khải nói nhỏ vào tai: “Anh có gởi lại cho cô ấy năm triệu”, có lần anh đưa trước mặt chị, mười triệu cho chồng một cô bạn, khi anh ta chuẩn bị lên bệnh viện tỉnh thăm con. Chị cũng tự biết là tiền bạc khó có thể đem đến cho bạn bè niềm hạnh phúc, nhưng trong lúc ngặt nghèo túng thiếu, thì cũng đắp đỗi được phần nào. Khải quan tâm đến nỗi khổ của những người xung quanh một cách tự nhiên chứ khồng hề màu mè hay có ý gì khác, Năm ngoái, một người bạn có đứa con gái học đại học đã ra trường, xin mãi chẳng có việc làm, đang ở Sài Gòn. Anh hỏi han rồi khi vào lại, gọi diên cho cháu hẹn đến nhà, xin cho một chân ở siêu thị, ban đầu làm bán hàng, sau đó nhờ có học ngành Công nghệ Sinh học, được chuyễn qua làm kiểm định thực phẩm cho cửa hàng, lương khá cao, vợ chồng người bạn mừng như trúng số! Những lần như thế chị như có chút tự hào và càng yêu Khải hơn. Lần về này, chị buồn và cảm thấy trống trải, bất an…

Nghỉ đến buổi họp lớp, cùng bạn bè những năm tháng học trò xa xuôi ấy khi đã ở vào tuổi xấp xỉ bốn mươi mà Huyền mỉm cười một mình. Huyền vẫn giử được vẻ trẻ trung, tuy không đẹp nhưng dễ nhìn theo nhận xét của Khải và nhiều ngươi, bụng Huyền có hơi lớn chút vì ngồi nhiều, nhưng vẫn còn gọn gàng khi mang chiếc váy ngắn hay áo dài vào những hôm đi dự tiệc. hai bên đuôi mắt và khóe miêng không hề có vết nhăn khi cười. Vẫn rạo rực khi tay anh vuốt ve cơ thể, kinh nguyệt chị vẫn đều đặn vào mỗi tháng, chị luôn háo hức chờ anh lên giường những lần anh có việc của công ty, vắng nhà vài hôm…Lần nào chị cũng thỏa mãn, hạnh phúc.

Buổi họp mặt vui và ồn ào, tuy không“tuyệt vời” như Mỷ Duyên nói, nhưng cũng không tẻ nhạt. Từ ngày rời Quãng Ngải vào Sài Gòn học, làm việc rồi lấy chồng đến nay, ngoài những lần về, thăm một vài người ở gần, chị chưa lần nào được gặp bạn bè cùng trường cùng lớp dông đủ như lần này, người quên kẻ nhớ, cứ ậm à với nhau nhưng ai cũng thấy thân mật và nhiệt tình. Những người bạn trai nói những câu tiếc nuối vu vơ rằng “ngày ây tôi thương…lắm mà không dám nói…” hay “ngày đó tui dâu dám nói với…Cứ thấy…là lưỡi quíu lại, mở mồm không ra!”… làm những gương mặt không còn trẻ, ửng hồng vì thích thú, ngượng ngùng…

Rồi đến văn nghệ, những bản nhạc gợi lại kỷ niệm thủa học trò, những màn múa và nhảy hơi bát nháo nhưng cũng vui…

Một gương mặt Huyên không nhớ là có quen, có lẽ học sau hoặc khác lớp, làm chị kém vui, hắn mang cái tên đầy ngạo mạn và hợm hỉnh như chính gương mặt hắn, anh ta chính là người tài trợ cho buổi họp mặt này và còn là ân nhân của Trường hiện nay. Khi anh đại diện học sinh toàn khối, kiêm luôn MC, giới thiệu với vẻ trịnh trọng: Anh Nguyễn Thành Đạt, Phó bì thư kiêm phó chủ tịch huyện, là học sinh cùng khối với chúng ta, cũng có mặt hôm nay! Tiếng vỗ tay và tiếng trầm trồ nỗi lên, tự nhiên trong lòng Huyền nhen lên một ác cảm không nguyên do!

Thế mà sau khi tan buổi gặp mặt, đã hơn mười giờ đêm, Huyền lại lên chiếc Camry ngồi cùng hắn! Không uống được những loại nước giải khát có men nên chị hoàn toàn tỉnh táo, Đạt có vẽ tự tin sau tay lái, người hắn có mùi khó chịu, khi nói phả hơi men làm chị nhăn mặt, nhưng không hiểu sao chị vẫn ngồi bên hắn!

Xe loanh quanh phố huyên rồi thẳng ra Quốc lộ, Huyền hỏi cộc lốc:

-Không về còn đi đâu thế này?

Hắn quay sang phía chị, nụ cười nham nhỡ làm gương mặt hắn thêm đáng ghét:

-Ra Hội An chơi nghe, cô lâu lắm mới về quê mà…

Xe loanh phố cỗ, rồi dừng lại trong sân một khách sạn, Huyền muốn thúc dục Đạt quay về, nhưng rồi chị bước xuống xe, ngoan ngoãn cùng hắn đi vào!

Mặc cảm tội lỗi, ý nghĩ phản bội như một cơn đau dầu làm Huyền loạng choạng. Đạt dìu chị vào hành lang rộng rồi vào phòng, đầu chị lùng bùng, người chị nóng ran!

Nghiến chặt răng, hai tai nắm chặt, Huyền gồng cứng người cố chống đỡ khoái cảm tư nhiên của thân xác khi hắn vục mặt giữa hai chân chị. Chị giận Khải, giận bản thân, nước mắt trào lên khóe mắt!

Huyền trể kinh hai tuần, cơ thể chị có những triệu chúng khác lạ, vào lúc này, một tin nhắn của Mỹ Duyên làm chị nhẹ nhỏm: “ Huyền có nhớ Đạt không? Bạn ấy vừa bị lật xe, chết cùng mấy cán bộ trong ủy ban huyện, các bạn tổ chức phúng điếu, Huyền tham gia thì mình sẽ ứng rồi gởi lại mình sau cũng được, chúc hạnh phúc nhé”. Huyền nhắn lại “OK” rồi buông thỏng hai tay, tựa người vào lưng ghế thở phào.

Chiều nay Khải sẽ đưa chị đi bác sĩ phụ khoa. Nỗi lo lắng về “những hệ lụy có thể xảy đến sau này…” đã theo cái chết của Đạt vĩnh viễn thôi dày vò Khải và chị!

Chị gọi cho cô tổ trưởng bán hàng, cho biết là chiều nay nghỉ sớm, dặn là nhớ để bảng thông báo: “Kiểm hàng” như mọi khi.

Cô bác sĩ phụ khoa trẻ mĩm cười, nói với Khải và Huyền:

-Cô có thai rồi, khoảng ba tuần tuổi.

Khải mừng ra mặt, trong lòng Huyền dấy lên một tình cảm khác lạ, mâu thuẩn, không hoàn toàn vui như Khải, chị vào giường nằm khi về đến nhà. Thấy chị không vui, Khải xoắn xuýt bên chị càng làm cho chị thêm khó chịu. Khải cũng lên giường nằm bên Huyên nhìn lên trần nhà. Thấy Khải như thế, chị ngồi dậy nói:

-Em chỉ hơi mệt một chút, anh làm cho em ly nước, có lẽ do cái thai thôi. Khải nhổm dậy nhìn vào mắt Huyền:

-Thật hả em, em thấy có mệt lắm không?

-Nó cứ dợn dợn muốn ói…Bác sĩ dặn lúc nào đến khám lại vậy anh?

-Cô ấy nói là nên đến hàng tuần em ạ.

Khải đến tủ lạnh nhìn vào trong, phân vân một lát rồi lấy bình cam vắt rót ra ly. oOo

Huyền trố mắt nhìn vào bồn vệ sinh, một chút máu hồng hồng loang trong nước tiểu, chị trở vào ngồi lại bàn, hơi thở chị mệt mỏi làm các nhân viên lo lắng, chi bảo họ chị không sao…Rồi gọi điện cho Khải:

-Em thấy có chút máu trong nước tiểu anh ạ. Tiếng Khải hoảng hốt:

-Ủa, sao hôm qua khám vẫn ổn mà em?!

-Anh về được không? chở em đến khám lại xem nhé.

-Ừ, chờ anh một lát.

Chừng hai mươi phút sau, xe Khải dừng trước cửa hàng, anh lùi sát cửa ra vào rồi tắt máy, vào đặt tay lên vai chị:

-Em thấy trong người thế nào, em có làm gì nặng không?

Huyền ngước mắt nhìn Khải, chị lắc đầu nhè nhẹ rồi đứng dậy, Khải dìu chi ra xe, tay mở cửa tay vẫn giữ vai chị, Huyền ngồi vào ghế tựa người vào lưng nệm êm, Khải vòng qua mũi xe ngồi bên chị với vẽ bồn chồn lo lắng. Cô bác sĩ hơi nhăn mặt khi nghe khải nói, nhìn qua chị, rồi dưa tay kéo màn phòng khám, dẩy nhẹ lưng Huyền:

-Cô nằm lên bàn cho cháu xem lại.

Hai mắt cô bác sĩ trẻ dán lên màn hình, tay rà chầm chậm lên bụng Huyền, màn hình màu nhấp nhoáng liên tục. Huyền cũng hồi hộp chờ đợi…

Vừa ra khỏi phòng Khải đã chồm tới:

-Có sao không cháu?

-Cô về uống hai viên thuốc này, nếu sáng ngày mai vẫn ra máu, cô đến cháu xem lại nhé, thai năm, sáu tuần tuổi thường xãy ra nhiều biểu hiện như thế cô chú ạ.

Huyền vẫn khỏe, chị chỉ hơi cảm thấy buồn nôn. hơi đau lâm râm phần dưới bụng như những ngày trước lúc hành kinh. Khải cố làm ra vẽ tỉnh tào nhưng thỉnh thoảng lại thở dài! Anh bảo chị đi ngủ sớm. Có lẽ do mệt, Huyền thiếp đi rồi ngủ thật sâu, khi khải vuốt lên má, chị mở mắt dã hơn sáu giờ.

Nhìn vào bồn vệ sinh, vẫn có chút máu hồng hồng, Huyền gọi Khải vào, xem xong anh gọi điện cho ai đó, có lẽ là công ty. Huyền suýt bật cười khi Khải làm gì cũng rón rén nhẹ nhàng, nói diện thoại với phòng khám cũng ra ngoài thầm thì!

Phòng khám có thêm một bác sĩ lớn tuổi, trạc tuổi Huyền. Cả hai như đang chờ chị đến. Người bác sĩ lớn tuổi giới thiệu minh tên là Như. Huyền cùng hai bác sĩ vào trong nằm lên bàn. Hơn nữa giờ siêu âm, bác sĩ Như mím môi nghiêm nghị:

-Thai không bám vào thành tử cung chị ạ, trường hợp này cũng ít nhưng có lẽ chị đã lớn tuồi lại mang thai lần đầu!

Khải không cần ý tứ, vạch màn phòng khám hỏi:

-Liệu có giử được thai không chị? Chị Như lắc đầu:

-Không, thai đã hư và không phát triển được nữa, có thể uống thuốc rồi thai tự ra nhưng gắp ra lúc này là hay hơn cả.

Khải nhìn Huyền rồi buồn bả nói gọn lỏn:

-Vậy nhờ chị.

Ngồi trên xe, Huyền nhìn Khải như đo lường nỗi thất vọng trong lòng anh. Khải im lặng nhìn chăm chăm phía trước, khi dừng xe trong sân nhà, anh quay qua nắm lấy hai bàn tay chị, nhìn sâu vào mắt thầm thì:

-Anh xin lỗi em, anh rất hối hận!

-Anh biết rồi đó, cả em cũng là nguyên nhân hiếm muộn của chúng ta chứ không phải riêng một mình anh!

Rồi Huyền ôm lấy đầu Khải, luồn năm ngón tay vào trong mớ tóc lốm đốm bạc:

-Đừng quay quắt chuyện hiếm muộn mà làm những đều trái lẽ tự nhiên. Một đứa con nuôi, nếu chúng ta có phúc, có khi mang lại nhiều hạnh phúc cho chúng ta hơn đó anh. Mai em gọi diện ra Huế nhờ một người bạn là nữ tu, đang phục vụ trong trại bảo trợ những sơ sinh vô thừa nhận, lo cho mình một bé gái thật xinh, anh nhé!

Khải cũng vòng tay ôm lấy cổ Huyền, hôn nhẹ lên môi chị:

-Ừ, anh cảm ơn em, cảm ơn em!

Sài Gòn, tháng X. năm 2014.

Mùa Xuân đen

baovecovang2012.wordpress.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 8 Nov 2025

Phần 9 – Trả thù Phật

Thời thơ ấu, khi theo bạn cùng trường đi cắm trại, trên đường ra Mũi Né, trước khi qua khỏi Phú Hải và đến vùng Đá Ông Địa bên bờ nước biển, tôi và bạn bè có ghé vào vùng đất cao ngó ra biển, nơi còn lại những dấu tích của một lâu đài đổ nát, hoang phế, chỉ còn vài cục gạch, vài tường đá vỡ vụn, rong rêu ngủ vùi với thời gian vô tình, mưa nắng. Vùng đất này, người ta gọi là Lầu Ông Hoàng.

Thuở đó, tôi quả tình không biết Hàn Mặc Tử là ai, Mộng Cầm là ai, và cũng chẳng biết hai người yêu nhau ra sao, ngồi chỗ cục gạch, bờ tường đổ nát nào để “nhìn trăng, thề non hẹn biển” và tại sao nơi này lại được coi là nơi khởi đầu cho một cuộc tình lãng mạn đi vào ngõ cụt.

Lầu Ông Hoàng nơi thiên hạ đồn vang

Nơi đã chết từ muôn trăng thế kỷ….

(Hàn Mặc Tử)

Trước 1975 một trung đội Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân thường có mặt hay trú đóng tại vùng Lầu Ông Hoàng để ban đêm tung những toán phục kích, chận sự xâm nhập của Việt cộng từ cạnh rừng thưa phía Đông Bắc Phú Hài và dải rừng thưa trên động cát đó như một cái đuôi nhỏ mọc ra từ cực Nam mật khu Lê Hồng Phong bao la của Việt cộng.

Sóng đêm thì thầm dưới trăng khuya như vỗ về, đêm trải những màn sương trăng nên thơ, huyễn hoặc trên giải đất Lầu Ông Hoàng hoang phế; và trong cái khung cảnh nên thơ, êm ả đó, vài hôm, người ta lại nghe tiếng súng đêm, để sáng hôm sau, vài xác Việt cộng được mang ra đường cùng với mấy cây AK và những ruột ngựa trống rổng không một hạt gạo. Cộng sản rất cay cú những người lính địa phương miền Nam đã bịt đường thu thuế, kiếm gạo của họ.

Chợt một hôm, với sự tài trợ của tòa tỉnh Bình Thuận, người ta chở gạch, đá, xi măng, cốt sắt và nhân công đến Lầu Ông Hoàng, để rồi vài tháng sau, một tượng Phật Quan Âm uy nghi xuất hiện tại đây.

Chắc chắn Phật không có ý kiến gì trong việc cho Phật đứng giữa vùng bom đạn, tuy nhiên ngày càng nhiều hương khói nghi ngút dưới chân Phật, bà con theo đạo Phật rằm nào cũng kéo về chiêm bái, cầu an, nhà có chuyện chi bất an, đau khổ cứ kéo nhau ra Lầu Ông Hoàng lễ Phật, toán tuần kích của anh em Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân mỗi đêm đi ngang qua tượng Phật, có người cúi đầu khấn vái để xin Phật che chở cho anh và cho đồng đội. Và lạ thay, sau khi tượng Phật xuất hiện, số thương vong của các đơn vị giảm dần như có một gì che chở.

Người ta đồn rằng tượng Phật Bà Quan Âm rất linh thiêng. Có những du khách trên đường ra Mũi Né cũng thường ngừng xe đến lễ Phật, thắp hương. Và cũng có những đêm du kích Việt cộng mò về thu thuế hay kiếm gạo, từ xa, chúng đã nhìn thấy bóng hình tượng Phật sừng sững, uy nghi in lên nền trời mờ ảo. Khi Việt cộng muốn pháo kích, họ cũng nhắm vào tượng Phật làm điểm điều chỉnh để pháo kích mà đa số đạn pháo kích đều rơi tòm ra biển, gây chết chóc cho những con tôm, con cá vô tội. Nhớ lại những lần bị phản pháo, nhớ lại những lần bị phục kích và bị nạp chạy trối chết vào mật khu Lê Hồng Phong, Việt cộng trút mọi thứ căm thù vào mọi thứ, kể cả hình bóng tượng Phật Bà Quan Âm ….

Dù là trong chiến tranh, cảnh hoang phế của vùng đất Lầu Ông Hoàng cũng vẫn là một nơi an bình, thơ mộng. Những biến dịch của lịch sử đã phủ lên đầu dân tộc trùng trùng những oan khiên, bất hạnh sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Khi Phan Thiết mất, Việt cộng tràn về An Hải, Phú Hài… lùng bắt, trả thù những anh em Nghĩa quân, Địa Phương Quân, kể cả những anh em cảnh sát, ấp trưởng, xã trưởng đều bị đòn thù.

Không bắt được những người lính đã từng làm cho họ xất bất lang bang, vì đa số đã thoát vô Vũng Tàu hay Sài Gòn, Việt cộng dồn hết oan khiên, hận thù vào tượng Phật. Trước nhất là lệnh cấm dân chúng dâng hương, cúng lễ; thỉnh thoảng có tên xả AK vào tượng Phật. Bắn tượng, tượng không vỡ; đập tượng, tượng không sập; gọi dân phá thì dân không dám phá, bí thư xã và xã đội du kích họp nhau bàn cách trả thù tượng Phật. Thế là cốt mìn được chuyển về chất dưới chân tượng Phật để phá tượng với lý do: “bài trừ mê tín dị đoan, thực hiện nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa”.

Tin Việt cộng chuẩn bị phá sập tượng Phật Quan Âm gây một xúc động như bão tố trong quần chúng, song không một ai dám lên tiếng phản đối. Nhà nước mới đồng hóa chữ phản đối là phản động, mà chữ phản động cũng đồng nghĩa với chữ tù. Khi du kích và công an xã cột cốt mìn vào chân và thân tượng Phật, trong lúc đó dân chúng tập trung khá đông ở một khoảng cách khá xa để chờ xem “cách mạng” phá tượng Phật Quan Âm. Có người chậm nước mắt, có người lâm râm đọc kinh. Dáng Phật Quan Âm hiện lên nền trời, tĩnh lặng, an nhiên nét từ bi vô ngã…

Một tiếng nổ long trời! Cát bụi tung cao, che lấp, bao phủ tượng Phật vô hình, tiếng nấc nức nở của những Phật tử bật lên trong đám đông, Phật đã biến mất nơi mà Phật đã từng đứng đó hàng chục năm trời trên bệ xi măng đầy nhang khói. Phật đã trở về cái không trong một sát na.

Những đám mây bay lang thang trên nền trời Lầu Ông Hoàng bỗng trở nên xám sậm. Vài vạt mây vô tình bay ngang qua chợt rụng xuống những giọt nước, những giọt nước lăn trên má những người dân lành chứng kiến cảnh cộng sản trả thù tượng Phật.

Mưa hay nước mắt đồng bào xót thương Phật khi thấy Phật biến mất sau tiếng mìn nổ inh tai như sấm động, hay đó là nước mắt của Trời khóc người dân lành bất hạnh trong thiên đường cộng sản, một thứ thiên đường đen xuất hiện sau cuộc đổi đời đầy dẫy những tai ương đang xếp hàng trước mặt.

Người về, đỉnh núi bơ vơ

Vết đau Bắc thuộc còn mờ cỏ cây

Biên cương đất nhục hao gầy

Rừng đau tủi hận dấu giầy Bắc phương.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Chương 1

Tôi Biết Gì Về Sài Gòn (Nay Là Thành Phố Hồ Chí Minh)
Từ 1919 Cho Đến Nay (viết từ 13-6-1990, nhớ tới đâu, viết tới đó)

Tôi sanh năm 1902 (Nhâm Dần) tại Sốc Trăng.
Mồ côi mẹ từ năm Quí sửu 1913, tuổi vừa mười một, năm mười hai tuổi (1914), cậu tôi ở làng Xoài Cả Nả, châu thành, nhơn dịp bãi trường lớn, bắt tôi về làng Thổ cạo sạch đầu và cạo luôn chưn mày trơn tru và đưa vô chùa Xà Lôn, cho mặc áo vàng làm sãi con, tu tắt hai mươi bốn giờ, đúng một Ngọ, gọi báo hiếu cho mẹ. Tôi nào thuộc một câu kinh Khơ Me, nhưng quì trước bàn Phật, bên tả là cậu tôi, quì kế bên và nhắc tôi lặp lại những gì ông lục cả, quì bên hữu tôi, và lâm râm đọc thuộc lòng, những câu kinh vái Phật, và tôi nhái lại y hệt và một lòng kính cẩn:

“Na mô tê-séa thăng cà-oanh choh” (ngày nay tôi còn nhớ bao nhiêu đó, và cũng không chắc là đúng như lúc đó đã nghe và lặp lại, nhưng điều tôi dám quả quyết là tấm lòng thành của tôi và lối tu tắt gọn gàng của tuổi thơ trong sạch ấy, ắt đã giúp vong hồn mẹ tôi được siêu thăng từ lâu rồi. Nam mô.
Cho tới năm mười sáu, mười bảy tuổi, tôi sống hủ hỉ với Ba tôi và một ông già, làm việc nội trợ, tên Lê Văn Đồ, trước có đi lính đánh Tây cho triều đình ta, thường gọi “ông Sáu”, ông quán xuyến, bao gồm hết thảy công việc trong nhà, vừa nấu bếp, vừa quét mương, mương nhà trước, mương nhà sau, vừa quét luôn mương một dọc nhà phố lối xóm, mỗi căn trả cho ông mỗi tháng là hai cắc bạc, riêng Ba tôi trả cho ông trọn năm là bốn mươi lăm đồng bạc lớn (45$00), ông Sáu, tôi không nghe ông mua sắm gì, chỉ thấy quanh năm, ông làm lụng không hở tay, không biết mệt, đi chợ sớm và trưa hai buổi, tiền chợ mỗi ngày ba cắc bạc, mà có gà có vịt, nấu ăn vừa miệng, mình ông có lác, nhưng ông ở ăn thật sạch, ông tắm mỗi lần kì lưng, ông lấy dây dừa thùng nước ông cọ nghe sồn sột, hỏi ông có đã ngứa không, ông nhe mồm, hai nướu không còn một răng nào, thế mà ông vẫn nhai mía cây, trồng cà trồng ớt, quanh năm dư dùng, nhà gần hết gạo ăn, thì ông lấy đệm ra trải, lấy lúa trong bồ ra phơi, lúa khô, ông lấy cối đất ra xay, lấy quạt gió ra vê bụi, đổ gạo lứt vào cối mù u sắm sẵn, ông giã nghe rất giòn giã đều tay, gạo sạch, ông dọn dẹp, trút gạo vào lu mái dầm, tôi thèm mì, ông xách tô đi mua, ông làm xăn cà đun trọn ngày cho đến tối mịt, ông leo lên gác đặt sát mái ngồi nhà sau, ông đánh một giác thẳng thét ngon lành, không bao giờ gặp hay thấy ông tuột thang xuống đi tiểu suốt đêm nẩy đêm nợ, nhưng khi chuông nhà thờ từ đàng xa báo tin buổi kinh sớm, thì đã thấy có mặt ông nơi bếp lui cui nấu nước pha trà, mãi cho đến năm 1917, thấy tuổi ông quá cao, Ba tôi cho ông nghỉ việc, tôi không thấy ông phiển hà ra tiếng, ông dọn tất cả nồi ơ trách hũ, ông sắm hồi nào không hay, nay ông dọn về chấi sau nơi đình thờ Quan Đế, rồi ngày qua ngày ông xách gây xuống chợ, lại những nhà quen, nhờ miếng cơm xu tiền, tội nghiệp và thương hại vậy thay, ông nào biết kêu nài theo luật lao động, ông nào biết đòi tiền thôi việc, ngày nào còn ở là có cơm chủ, nơi đình, mấy năm tôi ở Sài Gòn về Sốc Trăng thăm nhà, tôi vẫn thấy ông Sáu, khỏe mạnh như lúc tôi còn nhờ ông xách nước cho tắm, mua mì cho ăn, và khi tôi biểu ông khi hai khi ba đồng bạc, ông mừng ra mặt, cặp mắt ông sáng ngời, và mãi về sau, ông Sáu mất hồi nào tôi không hay biết, có lẽ hơn chín chục có dư, hoan hô người lão bộc lính đàng cựu, bạn cao niên của tôi, trung thành, lín miệng, sống lam lụ và ra đi êm như khúc nhạc không lời, hoan hô ông Sáu Đồ, tôi khóc ông mà ông nào mấy biết!
Năm 1917, tôi mười bảy tuổi ta, mười lăm tuổi trong khai sanh, phải lên Cẩn Thơ thi chung kỳ thi “xẹt” với sĩ tử tỉnh Bạc Liêu, Sốc Trăng và Cần Thơ dồn chung lại, độ hai trăm trở, gặp một giáo sư Tây chính cống làm giám khảo, lần đầu tiên tôi nghe Tây thiệt đọc “dictée” mà đít tê như bị thẩy quất rơi mây như búa bổ, từ trước chỉ quen nghe thầy Việt đọc tiếng Tây, nay nghe Tây thứ thiệt đọc bài ám cả, đúng là “như vịt nghe sấm”, cái câu nguyên văn “lorsqu’ un vent de décembre” (khi một luồng gió tháng 12), tôi điếc con ráy và ghi lại trên giấy “lorsq’ un vent deceendre…” (khi một luồng gió xuống..), gió xuống đâu tôi nào biết, chỉ biết tôi thi rớt năm ấy, chỉ nhớ xíu mại quán cà phe ở Cần Thơ ngon hơn xíu mại ở tỉnh nhà… và các chi tiết ăn xài buổi đi xa khỏi ba căn nhà của Ba tôi năm ấy là tiền tàu từ Sốc Trăng lên Cần Thơ, chưa tới một đồng bạc (1$00), ở phòng ngủ và tiền ăn không tới mười đồng và số tiền năm chục đồng (50$00) Ba tôi căn dặn nếu phải lo lớt để thi đỗ… tôi vẫn đem về trả lại Ba tôi, và nay hãnh diện vẫn còn.
Chuyến lên Cần Thơ, tuy thi rớt, nhưng đã sạch nước cảng, cơ khổ, từ nhỏ chí 1917, tôi nào bước xa hơn ngôi nhà ba căn trệt của Ba tôi ở đường Đại Ngãi nay gọi đường Hai Bà Trưng, sau tôi nghe Ba tôi thuật lại, năm 1901, Ba tôi đưa mẹ tới lên Sải Gòn, tôi quên hỏi đi bằng cách nào, có lẽ phải đi nhờ trên ghe chài chờ lúa, đặt bến tại Bãi Xàu, từ đó lên tới Chợ Lớn, phải suốt bốn năm ngày, hoặc cả tuần nhựt, cam go nhiều nổi, và chuyến về, mẹ tôi sắm được một quả xách mây sơn dầu, nay tôi còn giữ trên bàn thờ, và khi ghé Vĩnh Long. Ba tôi đặt thợ mộc có danh, làm cho bộ ghế trường kỷ làung gỗ trác, nay tôi còn giữ làm kỷ niệm nơi sân trong, nhà ở Gia Định, như vậy bộ ghế nằy trộng hơn tôi một cuổi, và lên nước đen mun, bóng ngời như sừng trâi không khác.
Đến lượt tôi, cho đến năm 1923, từ Sốc Trăng, muốn lên Sài Gòn, phải dùng tàu thủy, chạy đường Sốc Trăng – Mỹ Tho và từ Mỹ Tho lên chợ Bến Thành, phải sang tàu hỏa Mỹ – Sài Gòn, khách từ Bạc Liêu muốn viếng Sài Gòn, lại phải đi tàu từ Bạc Liêu, lên Sốc Trăng, sẽ sang qua tàu xà lúp (chaloupe) mang tên chim dưới nước Pélican (con Thằng Bè), Sarcelle (con le le), chủ tàu là Jules Rueff, vồn là một lính Lê dương, có sáng kiến lên bờ, sắm tầu đưa khách khắp miệt Hậu Giang lên đến Nam Vang, làm quen thân và bán đồng hồ bỏ túi (Bắc gọi là đồng hồ quá quít) cho vua Miên là đức Norodom, phát tài và lập hãng tàu gọi Messageries Fluviales (công ty vận tống đường sông rạch) gần đối chiếu, tuy kém xa, công ty hải cục gọi Messagerie Maritime của Pháp. Người nào thích ngắm cảnh du hủy ngạo đồng bằng thì đi tầu, người nào thích ngồi xe đồ xe hơi tuy rêm mông tê gân mời xương và cũng không mau lẹ bơn tàu, thì đi xe cami ông nhưng phải đợi lối 1920- 1921 mới có một thợ máy tên là Nguyễn Văn Lưu, ngoài gọi ông Ba Nuế, sắm xe Delahaye hay gì gì đó, xe chờ độ hai chục người, từ Sốc Trăng lên Cần Thơ, phải dùng đô kéo tay đưa qua sông ở Phụng Hiệp, đường trải đá ong và hẹp, xe chạy nhánh sậy nhánh cây mé đường quất vào mặt, còn tàu xà lúp đi ngang rừng tràm Phụng Hiệp (Ngã Bảy) thì muỗi trong rừng bay ra muôn thiên vạn ức, con muối vàng khè, chưa biết và chưa từng nếm máu người, có người phóng đại thêm, rằng muỗi Ngã Bảy lớn hơn con gà mái, muối rừng bay ra, băm vào da người, chỗ nào trống, muỗi chun lòn vào miệng, khi đang nổi, chun vào tai, bay vào mắt, không cần đập, chí vuốt sơ cũng đủ được cả trăm.

Theo đường thủy.

Cho đến quãng những năm 1920-1923, tàu Xà Lúp chạy đường nước lên xướng Mỹ Tho-Sốc Trăng vẫn chạy theo các nơn này. Tôi lấy tỷ dụ cho dễ hiểu, bắt dầu từ Sốc Trăng chạy lên Mỹ Tho:

Chiếc xà lúp Péli can hay Sarcelle, từ Cần Thơ đi xuống theo kinh Phụng Hiệp, lối gần giờ tý thì tầu qua khỏi cầu quây, chạy tới một đỗi, kéo cời súp lê một hơi dài, quầy đầu cặp bên (gọi cầu tàu) cho hành khách lên, nội chợ tộn rịp, xe kéo tay lo chờ bộ hiển từ nhà riêng, từ phòng ngủ, khách sạn xuống tầu, giành chỗ nằm, lối một giờ khuya, tàu lại súp lê ba tiềng và lui bền, độ hơn một giờ sau, thì viên cò tàu đi bán vé, có người xách đèn lồng theo rọi, trong sổ tay còn ghi kỹ, 280 tiền tàu từ Sốc Trăng đến bến Mỹ Tho, thêm 0$50 tiền mướn ghề bồ, tiện tặn thì mướn võng 0$30, hoặc chiều 0$20, thêm một bữa cơm buổi trưa, sang thì một dĩa cơm gà (0550), còn dĩ hà nhứt thể, ai như ai, thì sẵn cơm đãi bộ hành của tàu, không tính tiền, vẫn vĩ vèo và ngon lành, nhưng vẫn ít ai dùng, vì mãi giữ thể diện gàn… Tàu chạy thầm, hai bờ kinh tối thui, ghé Phụng Hiệp chào muỗi, độ gần sáng tầu tới bến Cần Thơ, ghé đồn bộ hành, rồi qua bên kia sông lấy đủ củi cần dùng, và thẳng đường lên Mỹ Tho qua các ngả: Cái Nhum, kinh Chợ Gạo, tầu tới bến Mỹ Thơ, lại súp lê vội vàng, và cùng một lúc chiếc xe lửa cũng súp lê trả lời, lại rộn rịp ra khỏi tàu, mượn phu xe hoặc ban bù (bambou) là người khiêng gánh, họ tành nghề mua vé xe lửa giú p tiền vé xe là 0$90, nhưng còn tiền xe kéo, tiền ban bù v.v.., phí tổn, chưa tới nửa đồng (0$50) nhưng tiền lúc đó cao giá, đếm từ đồng xu, đồng cắt, và đồng bạc là đồng bạc, nhưng đi tâu theo đường thủy, vừa thành thơi, xước mía cây, ăn bắp luộc nguyên trái, quít, cam, chuối, thảy đều rẻ rẻ, giớp no bụng, lại còn thích thú ngoạn cảnh, nhìn cỏ cây đồng ruộng bao la, Chợ Lách, sông rộng Hậu Giang,

Tiền Giang, …

Theo đường bộ

Những cảnh nhàn, thong dong như vậy, không đổi được cảnh đi đường bộ, từ châu thành đi Sốc Trăng, ngồi xe camiông ghế có ruột gà nhồi êm bàn mông, tê chưn, nhức mình đâu sá kể, mặc đầu đi đường thủy, ít nguy hiểm, chỉ nghe một lần tàu Đồng Sanh của hãng chệc, chìm trước bến Mỹ Tho, giữa Sông Cái, và mặc dầu đi đường bộ, nguy hiểm nhiều, xe đụng nhau, xe lạt bốn bánh dờm trời, xe đô và xe lửa hun đít nhau nơi khúc quanh An Lạc, và con đường lộ tông An Hữu /Cái Thia ở Mỹ Tho (nay đã thay cầu kiên cố và lớn hơn), kỳ dư hai chiếc phà Cần Thơ và Vĩnh Long, vẫn chở không được nhiều xe mỗi chuyến sang sông, ngoài ra cầu sắt xe lửa ở Tân An, vẫn không cho xe đô qua vì sợ sập cầu, (phải dùng phà kéo tay sang sông), chiếc xe hỏa mang tên Le Myre de Vilers, sức yếu, leo dốc cầu Tân An vẫn tuột dốc, hè hụi đôi lượt mới qua được, tuy cực khổ, mất thì giờ, không thấy mau hơn đi tàu thủy bao nhiêu, nhưng thời gian tầu xà lúp đã chấm dứt, xe đô hãng Việt, hãng khách tranh nhau chạy, và xe hơi và ét xăng đã thay xà lúp và nồi sốt de (chaudière) kia rồi. Từ Nhựt chiếm rồi Nhựt lui, Tây chạy rồi Tây trở lại, Sốc Trăng và Sài Gòn liên lạc nhau bằng máy bay trẻ nít (bébé- avion hãng Cossara) (1947 trở về sau) bay được ít năm rồi đẹp luôn, đường xe hỏa Mỹ Tho / Sài Gòn cũng phá bỏ, xe đò trở lại làm bá chủ, rồi nhường đường cho xe nhỏ, phế bưng thay đổi gẫm lại tức cười, trong số bộ hành dùng đường bộ, có nhiều Miên Thổ, chưa từng thấy Sông Cái, khi từ Sốc Trăng lên tới Cần Thơ, ban đầu bền đò qua sông vẫn sát dinh quan bố, người Miên xuống xe ra nhìn, thấy sông rộng, sống lớn, lật đật bỏ cuộc, không sang sông và tìm cách trở về làng, vì dưới mắt ngây thơ Khơ me, sông rộng như biển, nước nhiều quá, không tin xe qua được, thà trở về tốt hơn.

Luật thay đổi tuần hoàn tiển hóa là như vậy, tôi từ nhà quê, lột lớp, trở nên dân thị thành, đã sạch phèn, cũng như bao nhiêu cô bác bà cơn, thay nhau, từ đảo chính 1945/46 cho đến nay, dân sốc, dân làng, chạy ra ở chợ, dân chợ các tỉnh đổi chỗ lên sinh sống chợ đen chợ đó ở Chợ Lớn, ở chợ Bên Thành, và người có phương thê ở đây, kể bay người đeo ghe càu trốn ra nước ngoài, kẻ mất vì nạn cướp biến, kẻ may phước nghí ngố đất lạ, nhớ nhà, người nào còn lại ở đây, đèn nhà ai nấy sáng, và đâu đâu đều khổ: thay vợ đổi chồng, cha cơn không nói chuyện với nhau, chung qui cũng vì đồng tiền giấy tuy mắt giá trị, nhưng vẫn gọi là “đồng”, tiền đồng luân chuyến và làm thay đối nhơn tâm là thê ây. Xưa gọi “thiên kim” nay đổi, gọi triệu rồi tỷ, giành giành giựt giựt, thì cũng là mầy, đồng giấy thay đồng tròn, vẫn lăn, trong xã hội ba đào, tiết liệt, trung trinh… đều qua qua lại lại và vẫn là tờ giấy lộn! Bạc ôi là bạc!

Từ Sài Gòn, Trở Nên Thành Phố Hồ Chí Minh, Trải Qua Bảy Chục Năm, Từ 1919… Cho Đến Hiện Tại 1990 (viết từ 15-6-1990)

Tôi chưa phải sanh đẻ tại Sài Gòn, nhưng tôi có duyên phần và thình thoảng đã sanh sống tại đất nẩy ngót ba phần tư thể kỷ, và chưa biết ngày nào sẽ phủi tay ra đi theo ông theo bà, nay đã chồn chân chán nản, vậy xin thuật lại đây theo chỗ mắt thấy tai nghe, khi hiện diện, khi vắng mặt, tuy vắng ăn vắng ở nhưng dám đâu vắng cách tấm lòng mến mộ đất nước cha ông. Tôi xin thuậc theo cách không thêm không bớt, thấy sao nói vậy, để cho người đọc, tự suy gấm mà rút tỉa cảm nghĩ riêng của mọi người. Cảm tưởng của tôi đổi thay như vầy:

Sài Gòn dưới mắt tôi, năm 1919

Đây là năm đầu, tôi tiếp xúc với châu thành hoa lệ, bấy lâu đọc trong vài sách báo Pháp, vẫn khoe là “hòn ngọc trân châu của vùng đông Nam Á”. Cảm tưởng của tôi là hơi hơi thất vọng. “Chỉ có như vầy, hay sao?”

Tôi bước theo gót Ba tôi, mà lòng tức tức. Ba tôi còn để tóc bới, tay xách một va l mây đan, vuông vuông giẹp giọp, tôi ngó chiếc va li mà bụng hổ thẩm, nay biết rõ, Bác Hồ từ Trung Quốc về, cũng một xách tay mây y một thứ, và chớ chi sớm biết thì không mắc tội bắt kính này. Tôi dặn nhỏ Ba tôi đừng dùng tiếng Tiều tiếng Quảng, vì phong trào theo báo dạy, nên dùng đồ nội hóa, nhưng chưa có quán cơm của đồng bào ta, buộc lòng phải vào tiệm Tàu ở dãy phố ba từng lầu ngang chợ Bến Thành, cha con ngồi bàn an bài, tên phổ ky bước lại, nghe Ba tôi dặn, đoạn nó bước lại cửa thang lầu, từ trên hô lớn: “Lưỡng cơ dành, một đĩa gà luộc (giá một cắc), một dĩa vịt quay (0$10), một dĩa cua xào giấm (0$35), một tô canh câu ký (0$10), bốn xu rượu trắng và bốn chén cơm (0$04), hàm bà lần, khách xuống sẽ tính sau…’, chung quy với 0$47, thêm hai trái chuối la sết, cộng lại là bốn cắc chín xu, chưa đầy nửa đồng bạc trờn, mà cha con đều no bụng ngon lành, duy trong bụng tôi vẫn chưa bằng lòng vì vẫn suy nghĩ: tiệm cơm này tuy rộng lớn, nhưng cách nấu nướng, có hơn gì tiệm chú Xi ở Sốc Trăng, phố lầu mới toanh, ba từng rõ ràng, nhưng chưa xứng danh “sám xưởng lều” (tam từng lầu) riêng dành cho nhà thuế trước bạ đặc tại đường Catinat (nay Đồng Khởi) thường gọi “Sở bách phần” đời thuộc Pháp.

Tôi khuyên Ba tôi đừng lựa khách sạn của Tàu, cũng đừng đến các nhà ngủ ồn ào đường Amiral Courber (nay Nguyễn An Ninh) và tìm đến nhà “Lương Hữu” nơi đường Carabelli (sau Nguyễn Thiếp) phòng sạch, giá bến đồng bạc (4$00) tuy khá cao, nhưng tránh được gái giang hồ, và mùng tàng ong trắng buốt, vải trái trên nệm không đốm dơ, giường đồng Hồng Kông có ruột gà nhún lên nhún xuống rất êm lưng, tuy phòng tắm vẫn xài chung đặt nơi một chỗ riêng, và cầu tiêu tiểu, vẫn là thùng bằng thiếc lớn, mỗi đêm giờ khuya, có xe bò đến thay thùng khác, gọi là “đổ thùng” và tục đồ thùng nầy lưu lại rất lâu, đến năm 1947, vẫn còn, năm ấy, tôi chạy lên đây, tá túc nhà quen ở đường Carros (sau là Thủ Khoa Huân), lúc đó sở đồ phân ngưng hoạt động, và sáng tôi phải thay y phục, cuốc bộ đến hầu hạ chờ lâu lắc nơi dãy cầu công cộng ở Chợ Bến Thành, mới trút xong bầu tâm sự. Sau những năm mất trật tự ấy, mới có đặt cầu tiêu hầm cho mỗi nhà và cho đến ngày nay, những xóm xa xôi, vấn đề nước ăn và cầu phóng uế vẫn còn chưa giải quyết ổn thóa. Tiến bộ chỗ nào?

Trở lại, năm 1919, Ba tôi sáng ngày dắt tôi đến trường trung học Tây Chasseloup Laubat, đóng tiền cho tôi nhập học xong rồi Ba tôi trở về Sốc Trăng để cho tôi một số bạc tiền túi rất lớn là non hơn một trăm đồng bạc lớn ($100), nhưng khi tôi mua sắm đầy đủ vật dụng (chiếu Nhựt bổn, mền vải trắng, phấn chà răng, ống khóa khóa tủ (tủ trên lầu ngủ và nơi phòng học (nay tôi còn giữ một ổ khóa giá mua 2$00 mà nay còn bền chắc) thì trong cái chỉ còn độ mười đồng, nhưng tôi lúc ấy như ngựa con được sút chuồng, được tự do là đủ quí.

Năm 1921, Ba tôi còn trở lên Sài Gòn, vì năm ấy bạn chúng tôi bỏ trường làm reo (grève) chống đối viên giám mục Thomas nhận tiền lo lốt, cho học trò trường tư Nguyễn Xích Hồng Taberd, v.v.., học chưa đúng sức mà nhận cho vào học chung với chúng tôi, làm mất thì giờ, vả lại các lớp lớn, cỡ Dương Bạch Mai, đã có ý làm cách mạng tuy chưa lộ liễu lắm, và Mai, Hanh, Tự mạnh dạn cầm đầu cuộc biểu tình đầu tiên ấy, viện có trường cho ăn quá cực, và trong lớp “Năm thứ 2” vẫn có mặt Hồ Văn Ngà, Trần Văn Thạch… cũng năm 1920/21 đó có phong trào “tẩy chay si noa (chinois) và không mua hàng Bombay vì Chà Chệc ăn ở bất xứng hiếp đáp, bóc lột, ăn gian, ăn bòn, cũng từ đây, đồng bào sáng mắt, tự đứng ra lập nhà buôn cạnh tranh với ngoại kiều, nhà François Sự ở góc Catinat và Dormay, buôn kim cương, nhà Nguyễn Đức Nhuận ở Chợ Cá, bán tạp hóa (bazar), nhà Nguyễn Văn Trận, con rể là Triệu Văn Yên đọn hai căn ở đường Bonard, bán tranh Thụy Sĩ, xà bông Cadum, son phấn Coty, hàng xiêm, hàng Tây, nhà Nguyễn Khắc Nương làm bánh ngọt, bán nước mắm Hòn đường Lagrandière, nhà Trần Quang Nghiêm lập Lực tỉnh khách lầu và bán đèn ết săng có măng sông, đường d’Espagne, nhà in Phát Toán, nhà đồng và bán sách ]. Viết, báo chí năm 1920- 1921, có Hồ Văn Lan, xướng tẩy chay, miệng la lớn để thò tay nhận của đút trấm họng của Chệc Chợ Lớn và Chà bán vải Chợ Cũ, phải đợi đến khi có tờ báo Đông Pháp I thời báo của Diệp Văn Kỳ, tờ La Cloche Fêlée (chuông tẻ) của Nguyễn An Ninh, mới có thể gọi báo có lương tâm, biết trách nhiệm…

Tôi đã nói như ngựa cơn sút chuồng không khác, nhưng tánh hư đã manh nha từ bé. Tuy cơn nhà thợ, nhưng bọc đời cứng đầu cứng cổ, không phục Tây nhưng số kiếp làm mọi cho Pháp suốt hai chục năm trường, từ buổi học trường trong cho đến khi thi đậu ra làm thơ ký, tôi gia tâm tìm hiểu về thành phố và gốc tích lịch sử đất đai và từ thưở ấy cho đến nay, bất bình vẫn là bất bình, Sài Gòn nào trong giấc chiêm bao và trong óc tưởng tượng là đẹp đẽ làm sao, nhưng Sài Gòn như mắt thấy vẫn là tè xấu xí.

Năm 1919, chợ Bến Thành, Chệc lũ khũ, vất vợ trong phố, tay cẩm ống điếu tre dài, miệng hút thuốc Tàu phì phà, đứa ở trần bày bụng như thùng nước lèo, đứa đứng chặt thịt quay, băm thịt xá xíu, rún che tạm một miếng vải dơ lời ngực lông lá xồm xàm, bọc quanh miếng đất trống, là nơi trước có cái chợ ngồi quá hẹp đã bị hạ bệ, dời chợ qua nơi gọi Bến Thành ngày nay, giữa sân cỏ trống chợ cũ ấy là ba hình đồng của Gambetta, lùn xịt, đứng trên bệ cao, mập ú, hai bên bệ là một lính thủy và một lính bộ, tay cầm súng dài, ba hình ấy, biết chạy, chạy từ Chợ Cô ra mé sau nhà thờ, có một lúc xưng là Vương cung thánh đường, rồi mỏi chưn, xê qua khu đất trống trồng cây sao trước đinh Toàn quyền (gọi đường Norodom vì mời vua Miên đến khánh thành nay là đường 30 tháng 4, tôi không nhớ rõ), và có một lúc ba hình nầy được dựng ở vườn ông Thượng, cũng gọi là Vườn Tao Đàn, kịp đến năm đảo chánh 1945/1946, tính lấy tượng nấu lấy đồng đúc đạn, để chống Pháp, khi ấy mới tổ ba hình đồng nẩy vẫn là đồ vô dụng, không phải thật đồng vỏ cua mà đích thị là đồ giả, Pháp gọi ersatz, vì lão thợ đúc tượng trước kia, muốn hoặc thủ lợi nhiều, hoặc cố tâm không cho dùng kim khí nầy qua việc khác, nên đã pha chế thêm thuốc kín làm cho khi nấu chảy thì được một chất nứt nẻ không dùng vào đâu được nữa. Sẵn đây xin nói luôn, nhơn đọc báo thấy bạn cũ Sơn Nam, viết từng: “vườn ông Thượng, cũng gọi vườn Tao Đàn, ông Thượng là ám chỉ toàn quyền Pháp Maurice Long, arc Maurice Long, là vườn ông Thượng Maurice Long này”, nay tôi xin dựng chứng cớ, Maurice Long, nguyên là thân sĩ bên nước Pháp, đắc chỉ qua đây làm toàn quyền hai lược, lần đầu từ 21-2-1920 đến 17-12-1920 (theo chỉ dụ ngày 10-12-1919), một lần nữa từ 1-4-1921 đến 14-4-1922, tuy vậy thật, nhưng khi chú ng tôi bỏ trường, tựu nhau tại vườn này làm reo để kẻ bị đuổi, người bị mất học bổng, cũng vào năm 1920 – 1921 ấy, thì danh từ “Vườn ông Thượng” đã có từ trước, (không lý ông Long tự cho cho ông, và tức nhiên phải ông sau suy tôn ông trước làm vậy, phải có một quãng thời gian khá lâu, trái lại nếu danh từ “vườn ông Thượng”, chúng tôi lúc biểu tình, đã nghe đầy tai, tức đã có từ trước lâu rồi, vậy xin đính chính: “ông Thượng được lấy tên đặt cho khu vườn này, theo tôi, là quan tả quân họ Lê, vì dân chúng ngưỡng mộ và tôn thờ làm thượng công nên lấy tên cho miếng đất trước thuộc lãnh vực chỗ ông Lê Văn Duyệt ngồi ngự trị, chớ ông Maurice Long, đã là thống đốc toàn quyền cỡi Đông Dương nầy, thì chức vị lớn hơn chức thượng thơ kia rất nhiều, sự thật cho ta thấy sau đó toàn quyền P. Pasquier, lật đổ một hơi, bốn năm ông thượng thơ ở Huế (Bài, Đại, Liêm, v.v.) chớ đâu màng tưởng chức “thượng” này, “thượng” kia đâu, vả lại lỗi của bạn Sơn Nam, đáng lướt qua, phàm viết nhiều viết mau thì tránh sao khỏi sơ sót.

Đây là bàn với nhau, gọi nhắc và nhớ nhau, chớ không phải bắt tì bắt ố. Nhắc lại, năm 1919, từ nhà ga xe lửa Mỹ Tho bước ra, Ba tôi và tôi, được xa phu xúc gọng xe mời, Ba tôi nhã nhặn từ chối rằng chợ Bến Thành trước mắt, và tôi bỗng giựt mình, té ra Sài Gòn nhỏ xíu, không phải như trong óc tưởng, đồ sộ nguy nga, bóng cây yêm tợp, gió mát dịu dàng.

Ôi! Bước đầu tiếp xúc tôi đã có một ý tưởng không được tốt với cảnh phồn hoa Sài Gòn này, Duyên hay nợ Nghiệp vĩ hay tiền căn, muốn làm ông viên ngoại ngồi góp lúa ăn lộc già nơi tỉnh quê Sốc Trăng, muốn mà không được, nay được làm tên mọi giữ của và làm tên biên chép tào lao, mặc cho đời xét có công hay đắc tội. Khi Ba tôi, sắp đặt cho tôi vô học trường theo ý muốn xong và lui về xứ an bài rồi, tôi ở lại, việc đầu tiên nơi trường, được tắm chung đưới mấy cái bông sen phun nước phong tên lên trên đầu xòa xòa, tôi tính ngộ, nước mát mé, ngọt xớt, trong ngần, thôi cũng còn hơn nước giếng nước ruộng dưới mình một bực! Cơ khổ thì thôi, khi mãi lên bốn giờ chiều, chợ Bến Thành lặng trang, quét sạch và đóng cửa sắt, không một người được ở lại bên trong, vì tránh trộm đạo, nơi mái hiên cũng không ăn mày ăn xin nằm ngủ đêm khuya, vì quá trống trải, gió lạnh, thêm lính phú lít và biện Tây không dung tha sợ bị bắt về bót, nên bọn hành khất tìm chỗ ngủ nơi khác, nay ngày nghỉ học, ở trường ra, cag Mới Sài Gòn quá tấp nập vui và náo nhiệt hơn chợ tỉnh mình nhiều, quán sách Lê Mai, bán tạp chí Nam Phong và Hữu Thanh, bốn cắc, năm cắc mỗi số lẻ, tiếc cho mình, không đủ tiền mua… còn trên đường phố, kèn xe hơi inh ởi, từ xe lớn chạy rầm rầm, chở người đầy nhóc, đến thứ xe hai bánh cao su do người kéo, vừa kéo xe, miệng vừa hô ép ép, chuông xe đạp, quen gọi là “xe máy”, thêm có thứ xe chạy trên đường sắt, gọi “đường rầy”, xe cả dọc, gọi là xe điển, xe điện, chạy nghiến bánh còi thổi điếc tai, ở tỉnh mình đâu có như vầy và giờ trưa xế chiều, mấy thầy ở hãng, mấy ông ở sở, mãn giờ về nhà, lòng tôi rộn rực, vừa suy nghĩ: Ồn ào như vầy hoài, chịu sao cho thấu, lại thầm ước ao trông mau học xong, thử đóng một vai tuồng làm thầy thông thầy ký, nghe nói họ quen ăn của đút, thứ mình cũng hành nghề như họ mà đừng thèm nhận của hối, cho xứng với lời Ba mình đạy, cho khác với họ, xem có được chăng. Và sau này, quả khi học thành tài, từ năm 1923 đến 1927 – 1928, về làm thơ ký nơi trường máy của ông Rosel, vừa có lập nhà hàng Charner nơi gốc Bồn Kèn, ngồi ghế đá nơi lề đường, ké né dòm vào hãng Tây nầy, xét thấy phận mình ti tiện, nhà gì có vách bằng kiếng pha lê dày, trong trẻo thế cho vách gạch, cả tòa xây cất bằng sắt đá mà vén vang không thấy nặng nề, gạch miếng nhỏ lót thế cho gạch Tàu, láng cốt, trên trần nhà có quạt máy cánh quây vo vo, hàng hóa bày la liệt quên thôi, thang lên lầu thì khoanh tròn đi mát cẳng, thêm có thang máy đứng lên nó, nó rút mình lên lầu thượng êm ru, còn nhớ tiên khởi, bị thang máy hãng Charner rút lên một cái, tựa như bị hỏng giò, sắp té, may vịn và níu kịp… lúc đó chắc lốt nhà quê của mình không lọt qua khỏi mắt tinh ranh của mấy cơn đầm lai cùng chạn với mình, chúng mi là trẻ mồ côi bị bỏ rơi, nhưng chúng mi dựa hơi kẻ mạnh cướp nước, chúng mi hỉnh mũi, lát nữa ta ngồi xong vào bàn khách, kêu một cái sọt bê (kem nước đá xi cô la), gái chỉ có bốn hào, thứ chúng mi phải bưng lại cho ta dùng, ai trọng ai khinh, thì biết: Màng tưởng tượng viễn vong, lốt nhà quê bay tan hồi nào, chỉ còn lại một thằng học trò trường tỉnh mới lên đây, gót chưa sạch phèn, thân bé mọn xếp ve như con gà độ, mắc mưa, mấy lần đi trên đường Catinat, không dám dòm ngó vào nhà hàng bán cơm Tây Continental, mấy tên đọn bàn, dựa hơi cọp, ta đuổi, cái thứ ở mướn ở đợ không biết xấu lại còn làm phách, nhưng nghĩ cũng phải, thi đậu có cấp có bằng mà đồng lương một tháng, chỉ bằng giá tiền mướn phòng một ngày và đêm nơi đây, lúc ấy chớ chi có ai hô “Sài Gòn là kinh đô của hoàn cầu’, ắt tôi cũng một bề không dám cãi!

Mà quả như vậy, có một hôm trường cho nghỉ vài ba bữa nhơn lễ ki tô gì đó, bảo chứng (correspondant) cho ngồi xe song mã ngoạn cảnh, xe êm gió mát, càng làm cho điếng hồn hơn nữa: Dọc mé sông, nào là Sở Thương chánh (nhà đoan), nào là Đông Dương ngân hàng, cột cờ Thủ Ngữ, nhà hay dinh chủ lãnh Thủy binh, sở Ba Sơn sửa tàu đi biển, nhà các dì phước, tu viện do Nguyễn Trường Tộ xây cất rồi qua Sở Nhà Rồng, bến tầu hàng hải, nơi gọi Lăng Tô (phái láng tên Thọ, đọc giọng Tây cho nghe oai hay chăng?), dưới nước thì đông nghẹt tầu ghe, đi ngang Khánh Hội, bên mé kinh Tàu Hủ này, bên kia là nhà của thầy dạy Việt văn, quan đốc Nguyễn Văn Mai, chủ tiệm Quỳnh Mỹ vựa nước mắm Phan Thiết, nghe và nhớ năm trước, ông khoe trước nhà ông thường có ghe nước mắm ngoài ấy vào đây sinh nhai, không biết ông Tất Thành, Ái Quốc có từng lưu gót nơi này hay chăng, sử sách sau này sẽ cho biết, còn bên ni kinh là vùng Cầu Kho, nơi xưa kia có nhà của Huỳnh Tịnh Của, Tôn Thọ Tường và chỉ biết và còn lại là nhà mồ của Trương Vình Ký và nhà bà Hà Minh Phải, dựng trên nền nhà ông Sĩ Tải và Sĩ Tải là biệt hiệu của nhà thông thái miền Nam, Trương Vĩnh Ký đó chi.

Tôi ngồi trên nệm xe êm ái, nghĩ miên man, xe đảo vòng thầy Cầu Mống cong vòng cao nghều nghệu (nay bết thời, chờ ngày búa thầu đến đập phá), xe tới xóm Chợ Cá, thấy sở Ngân khố trung ương, Nhà Nước Tây để lại, choán gần đầy nền trống của chợ cũ ấy, Chệc Chà lúc ngúc, ngó đâu cũng có mặt chúng, chí đến mấy quán cóc sạp gỗ nóc thiếc, bán thập cẩm hầm bà lằng, bao diêm, dầu cù là, xí mụi, ô môi, cà na mặn, cánh chỉ, toàn những thức ăn ngon mà trẻ em ngày nay chưa từng thưởng thức và biết tên và toàn là đồ nội hóa xí gạt, bưởi Biên Hòa hái đem về để ít lâu cho da trổ màu vàng, treo vào giỏ với nhãn hiệu bưởi “bên Tàu” (nay còn lại với tên bình dân “bưởi Năm Roi”!) và một thứ cơm nếp có quết chút ít sầu riêng vừa đủ mùi đặc biệt của giống quả ấy, lại bán cao giá với nhan gạt gẫm “mút sầu riêng” từ Nam Vang, Băng Cốc mang về (ăn đồ ăn nội địa dưới danh hiệu ngoại bang, ngu mà không chịu là ngu, lại khoe có như vậy mới là khoái khẩu, nói nôm na là sướng miệng).

Lúc làm thơ ký nơi trường máy Kosel, có dịp thưởng thức cơm Tây nơi nhà hàng Rotonde, sau đó hãng Denis Frères mua đứt nhà bán cơm này và nới rộng hãng, từ ngày Giải Phóng vô đây, phá bỏ hãng Denis Frères, thay vào là hãng mới của Nhà Nước ta, dưới danh hiệu “sở chuyên về thủy sản, tôm cá bán ra nước ngoài”, tôi nhớ lại quãng tuổi còn đi học, ngang Rotonde, có nhà báo Trung Lập, là báo Việt do báo Pháp “L’ Impartial” biến ra, không hiểu vì sao nhà báo TL. (vị trí là rạp Majestic và bây giờ là nhà hàng Cửu Long) lại tô vách màu đỏ như máu, thấy bắt lạnh mình, từ đây hướng về nhà thờ có cửa hàng Giuntoli, và Caffort, chuyên bán kim cương, hột xoàn, Caffort thì bán súng đi săn và súng bỏ túi gọi súng sáu (lục liên), nhà Tàu bán cổ ngoạn Phác Ngọc (Faa-Yue) và nhà Vương Ngọc Ký (Woong-Yue-Ky) hai ba nhà bán thuốc Tây, hiệu Pharmacie Normale, Pharmacie Centrale gì gì đó và hiệu Solirène, kế nghiệp Pharmacie Holbé et Renoux là cổ nhứt, một tủ kiếng có chưng bày hình nộm mặt mày như sống, nhà bán sách thì có hiệu C. Ardin và hiệu Albert Portail, nhà bán vải lụa mắc tiền đó có nhà Marty ngang ngang tờa đô chánh, và đừng quên đường nay là Đồng Khởi, có nhà Courtinat và nhà Tourier, nay là cao ốc Caravelle, và cũng đừng quên tiệm buôn thực phẩm đồ sộ A. Hy (tiệm Chú Hỳ, bán từ phó mát, thịt giò ram bông (jambon), cá hộp, rượu Tây, muốn hỏi mua giống gì đây cũng có.

Xe Sáu Thiệt, cặp ngựa chạy móng khua dòn trên mặt đường tráng nhựa, chạy ngang Nhà Hát Tây nguy nga, trước mặt nhà hát có ghế xanh, tượng đồng, ghế xanh bằng gỗ nay vẫn còn, duy thay ghế đá, tượng đồng tưởng thiên niên nay đã hóa kiếp, luật tuần hoàn là vậy, tượng Một Hình, rồi cái đầu bằng đồng đỏ của mụ Ngô Đình Nhu, lăn lóc kéo chạy vo vo rồi liệng mất, trong khi con đò Thủ Thiêm xưa để lại câu hát bất hủ: “Bắp non mà nướng lửa lò…” vị trí bến đò còn đó, duy chiếc ghe mỏng manh nay là một chiếc phà thiết giáp, và tổi tân tiến hóa là bến phà xê dịch vài tầm thước, tránh chỗ cho hải đảo Úc châu đặt quán cơm và bán rượu trên Thủy lâu.

Thú thật, tôi thà chịu nhà quê, nhịn tiền mua sách – tỷ như ba tập, Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố chúng ta và Thành phố Hồ Chí Minh – đói xơi cơm nguội, hơn là làm sang bước cẳng lên phòng ngủ nổi mặt nước này và thà chết khát chớ không dùng ly nước chanh trên chiếc tàu lêu bêu từ xứ con Căng Ga Ru Úc nầy.

Tôi nhớ hoang mang và viết lại không đầu không đuôi, mấy buổi xế chiều, ghé tạm trước nhà thờ ngang nhà dây thép, chờ giờ trở vào trường, một lần gặp một lính lê dương nửa say nửa tỉnh, dạy rằng: “Nước mầy, đàn bà không hôi, cho nên không biết làm dầu thơm (nước hoa), còn đàn bà xứ tao, uống rượu nhiều, tiết ra mồ hôi nồng nực, nên phải chế ra chất hương nước bán bớt mùi kia đi và tao đã quen mũi, thiếu mùi hôi ấy thì chưa phải là đàn bà”. Giữa lúc nói ba hoa, bỗng một chệc con bán đậu phộng rang, ngồi gần đó, nghe lính say nói xàm, chệc con, mặc quần cụt, kéo vòi trong xà lỏn ra, tôi thấy tõ ràng, nó níu đầu con cu, nó bóp, nó làm thế nào, có một lằn xịt nhỏ xíu xịt ngay vào má tên lính, lính tưởng trời sắp mưa, lấy tay chùi má đứng lên đi mất, chệc con, ngó tôi cùng cười, dòm lại thấy hình đồng Bá Đa Lộc, to lớn dềnh dàng che chở, trái lại hình Đông Cung Cảnh, bé tí hơn núp dưới tay cha cả nầy, hai tượng đứng lâu mới chân, nhường chỗ cho một tượng Đúc Mẹ khác, duy bệ tượng bằng đá đỏ, làu làu còn mãi, trẻ con Tây rồi trẻ bụi đời, phá phách nhiều đời mà đá kia vẫn bóng.

Vào giỏ tre của Chệc mua ve chai, còn khá, đời nảy toàn là phù du, làm học giả cũng không xong. Oanh liệt như Chu Ân Lai, cũng hỏa táng cho đừng còn dấu tích… thánh như Ghadhi, mà cũng bị cuồng điên ám sát, có lẽ như vậy mới xứng là ông thánh chăng? Một dòng họ Doumet, ông qua đây chức là thống đốc toàn quyền, xây dựng mở mang rồi bỏ đó trở về xứ làm giám quốc, mấy đứa con, đều chết cho nước ngoài mặt trận chống Đức Phổ, tiệt tự, chính thân ông cũng bị tên cuồng đồ Nga Gorgouloff bắn chết, làm chánh trị can trực cách mấy cũng không tránh được viên đạn của đứa điên, đã nói là phù du, đời này đừng mong xây mồ đẹp mà còn tồn tại, không có công của Trương Vĩnh Ký in tập “Thông loại khóa trình” (Miscellanées) bán trọn năm giá sáu các bạc (0$60) thì chúng tôi và kẻ hậu sanh làm sao biết được văn chương ngoài ấy và bộ Nam Phong của Phạm Quỳnh, xưa giá ba hào lên bốn hào rồi tăng lên năm hào, nay toàn bộ giá mấy chục lạng vàng mà Thích Tâm Châu tìm mua không có, còn định xin sao bản của tạp chí này còn lưu trữ tại Thư viện quốc gia của Pháp. Đúng ra thân cát bụi, đừng trông trường cửu, các vua Ai Cập là hách, nay còn lại xác khô để chưng bày nơi vài viện bảo tàng, có lẽ nếu viết được thì nên viết, thiếu chi giấy in nhám nhí, hết bị đốt rồi trở lại tái bản lộn lạo chung với cảo thơm, Lục Vân Tiên của Đồ Chiểu, ngoài ấy, Nghiêm Liễn in dư ngót trăm câu, truyện Kiều, có câu ‘Thì con người ấy, ai cầu làm chi”, lúc Tiên Điền viết câu ấy thì vua Tự Đức chưa chào đời thế mà ngày nay có người dám đại ngôn, vua ghét Nguyễn Du phạm thượng. Nói nữa nhàm tai, tạm kết luận giấy má, sách viết trên lá bối, lá tre, giẻ rách có chữ viết, tìm gặp trong hang Đôn Hoàng bên Trung Quốc, thế mà tồn tại và bền hơn xác người. Ấn Độ mấy đời vua đều độc tài, Phật giáo, Hồi giáo, v.v. tranh nhau phế hưng nhớ làm sao hết, xin lấy một tỉ dụ nhỏ, vua Shah ]ahan, thương vợ mà ham chiến tranh, ra trận, bà hoàng hậu chờ không được, tắt hơi, vua trở về xây bạch cung, tốn hao cả mấy trăm ngàn triệu đô la, hai chục ngàn thợ khéo kéo và lao công, hai chục năm kiến trúc, đừng trách vua lãng phí, dẫu chi nay cũng còn lại bạch cung Tai Mahal, cho hậu sanh thấy được một kỳ công vô song trên thế, tượng trưng cho một mỗi tình bất diệt, đá cứng có vân hoa đục trổ khéo như đăng ten lụa móng, dát ngọc nạm vàng, đến lượt Shah lahan mướn xây bắc cung cho mình, thì vua bị đứa con út Aurangazeb khởi loạn cướp ngôi và giam nhốt vua trong thành Agra suốt tám năm dài, vua Shah Jahan mãn phần năm 1666 (thọ 74 tuổi), dầu sao vẫn còn lại lăng Taj Mahal lưu truyền hậu thế, không bì vua Kiền Long nhà Thanh bên Trung Quốc (1736- 1796), thiếu chi cung phi mỹ nữ, lại cũng mê sắc một bà hoàng hậu đạo Hồi, vua Tàu giết vua Hồi, đoạt vợ, nhưng bà này một lòng thủ tiết, Thanh đế Kiền Long đem về xây cung mới theo kiểu cung Hồi, phong làm “Hương phi” nhưng vẫn không lay chuyển lòng sắt đá của nàng trinh nữ, bà ưng cho thái hậu ra lịnh treo cổ, ba thước lụa điều dát mối tình không nguôi của vua nhà Thanh, sai làm lễ an táng theo bực quí phi, vua cái thế mà không chiếm được tình một gái Hồi, bên nước ta, bà Huyền Trân, khỏi bị hóa táng theo chồng Chàm, còn lại bao nhiêu Tây Thi, Bao Tý, Mụi Hỷ, Đác Kỷ, Dương Quí Phi, lầu Trích Tinh, cung A Phòng, nay chỉ còn ghi trong sách, điện cổ Đế Thiên Để Thích, bọn lưu manh cướp cạy lần hồi, nhưng điện đá vẫn còn khá khá, đáng thương cho cung điện bằng gỗ nơi Huế đô, mối, mọt, bàn tay nhám của quân tham, vài mươi năm nữa đâu còn gì… lăng tẩm xây bằng ô dước, tưởng được đời đời, ngờ đâu lớp gió bão, lớp búa to kẻ trộm đồ cổ, những cổ tích đất Thần kinh rồi cũng không còn, lăng Kiền Long, vùi dưới năm chục thước đất bề sâu, cũng bị moi lên lấy của quí và tại sao nay báo chí vẫn còn kể lại, lăng cổ Tần Thủy Hoàng, còn gặp hình nhơn bằng đất lớn như người sống, vua Khang Hi (1662 – 1722) (thọ 70 tuổi), minh quân, sáng suốt, mà không trị được bầy con đông, khi lâm chung, các hoàng tử tranh và giết nhau để giựt ngôi, ô hay, duyên trăm năm cũng đứt tình phụ tử cũng phai, vàng, ngọc đều mất mát, chỉ cát bụi trở về cát bụi, trước khi là tóc bạc răng long và mối trường hận bên lòng hết ngang dọc cỡ Hạng Vương, xin chút nới tay, bớt đập phá và xin chừa lại chút ít cho hậu thế biết những gì là đồ cổ, đồ xưa, điện vua, đền thánh, miễu thần, hãy bớt bớt kiêu căng, tưởng mình vô địch, kìa kìa Tứ thần, Tạo Hóa trên cao vẫn có ông Trời, người muốn mà Trời không muốn, thì sứng mạnh, sức bền, cũng trở về bụi cát…

Sống dai có ích gì, hãy sớm sớm để sự nghiệp lại, càng mau trao tay, càng được giổ quải, khóc nhiều, miệng chúc cha mẹ bách niên, bụng thèm những gì trong tủ sắt, và số bạc ký quí nhà băng, hôm nay chủ nhựt 17-6 ngồi đánh máy mấy hàng ngơ ngẩn nầy, pháy pháy giọt mưa, không tiền đi ăn phở sáng! Khi chết rồi, thây thì về nằm nơi đâu, mình trăn trối mà nó chẳng làm theo, vọng mơ nghiền nát ra tro, sẽ lén rắc tro ấy trên bồn cỏ xanh trước viện mà suốt mười bảy năm làm quản thủ với đồng lương công nhựt hạng thơ ký tuyển dụng, hồn còn phảng phất nơi chốn làm việc cũ, thế mà yên lòng hơn, còn của cải, muốn thấy có người ghi chép, giữ cho đừng mất, và lưu lại nơi một chỗ vừng chắc, cho người đi sau thấy chút công trình mót máy sưu tập, đừng để những chút di tích cổ thời phanh phui bán rẻ và nhớ câu xưa Ba tôi thường nhắc: “Nhơn sanh vô bá tuế, Uổng tác thiên niên kế.”

Ấy đó, tôi ngồi xe song mã, mắt mở trao tráo, mà không khác chiêm bao, ngày nay ghi lại, lộn lạo trước sau, pha chuyện cũ với chuyện nay, ba đào thay đổi, xin người đọc, thứ tha cho sự xáo trộn trong óc lão chín mươi tuổi này. Nhớ trong sách ấn, triết lý của người da đen dạy không nên lắm lời, nói quá nhiều ắt có nhiều lỗi sai, và phần đông, miệng đàn bà, sắc càng đẹp, lòng càng hiểm hóc, vua nhà Minh, Châu Nguyên Chương hắn nói: “Nếu trong số phụ nữ, không có người đã sanh ra tôi, thì tôi có thể cho giết hết phái cái, mới bớt có loạn trong xã hội”, và chính bà Tây Thái Hậu, mẹ vua Đồng Trị trước khi băng, còn dặn lại: “Không nên để cho đờn bà cầm quyền…” đa ngôn thất thiệt, lắm lời, lời sai. Xin viết thêm vài trang, nhắc lại những gì đã thấy năm 1919, bắt tay biết Sài Gòn, rồi sẽ viết thêm vài mươi trang tớm tắt những gì nghe thấy lúc bóng xế tuổi già này, đánh dấu mấy phen sống và chứng kiến những đổi thay mảnh đất Chàm qua Miên, nay làm chủ là dân Việt Miền Nam, cháu con phần đông là dân tránh nạn bắt lính buổi loạn lạc, pha lộn với người bị chế độ phong kiến đày vào đây khai thổ lập ấp giống dòng người Ngũ Quảng và Miền Trung còn người phương Bắc lâu sau mới có.

Bên hông nhà dây thép lớn, có trường Da tô danh gọi Taberd, mấy từng cao như tán nhốt và khuyến dụ học trò theo đạo mới, kể đó là nhà in ông Nguyễn Văn Của trước ở đường Ca ti na, trên làm khách sạn Hôtel de France, sau mua đất dời về đây, cho đến mãn phận vẫn ưng chức huyện hàm “Huyện Của” và vẫn hiển từ không quên cảnh nghèo buổi nhỏ, tay xách đèn lồng cho chị đi bán bánh ếch, bánh da lợn, ít hô ếch, da heo đổi làm da cơn lợn, lạ chưa?

Xe quẹo ra đường Norodom nữa, dơm thấy phủ Toàn quyền, nguy nga trước một hàng cây giá ty, trồng từ đời Trương Vĩnh Ký mà không thấy lớm, hai hàng cây sao cổ thụ, mọc như bàn cờ che mấy giếng chứa nước ngọt xưa, trông lần lượt tả hữu là nhà tiệc của bọn võ quan Tây, hãng bán xe hơi và chế tạo xe xích lô, chủ là Jean Comte, mà phu xe đã gọi quen tai, “thằng Công, trước làm công chức phủ toàn quyền, nay lập hãng, mau có tiền về hưởng bên Pháp quốc. Có tòa án nhà binh, kế bên là dinh quan Sáu sau đổi làm dinh đại sứ, nhà thờ lạc đạo, nay là nhà âm nhạc (nay đây là 1990), đồn lính sơn đá nay làm đại học xẻ đại môn thông quá đường Đình Tiên Hoàng, giúp cho khỏi bế tắc sự giao thông, lính thì phải gan dạ ở xa trấn giữ cho dân, Pháp lại để lính ở ngay thị tứ châu thành, từ đồn lie R.I.C nẩy xuống Chợ Bến Thành, trước đây xa phu kéo xe kéo tay, thường bị sơn đá nhón mông mô xu lúi trong thùng xe, có một phu xe bị mất tiền hoài hoài, nghĩ ra một kế lạ, vẫn đẩy xe đón lính Tây xuống chợ, anh phu đa mưu, nhốt sẵn mấy con cua cắt dây cho bò trong thùng xe, lính Tây ăn quen, xe chạy nửa đường, nhớm đít đút tay mà, tiền không gặp, gặp cua kẹp đau quá lính Tây xổ nho, anh phu xe cong lưng chạy một hơi đến bót san đầm, hạ gọng xe phân chứng, bằng cớ ràng ràng, Tây cò phạt Tây sơn đá. Một phen khác, một anh phu khác, chở sơn đá đi kiếm gái, mấy phen bị đổ lợp, ngồi xe gặp gái, làm lơ không trả tiền, anh lập tâm chờ một phen nọ, kẻ cắp gặp bà già, anh không cho cua kẹp, nhưng anh đưa xe đến vườn thú, lúc ấy chưa có hàng rào kiên cố, anh đút xe ngay vào một lùm óc ó, anh lẹ chưn thoát kịp, lính Tây bị ong vò vẽ túa ra đánh chích cho biết tài, vò vẽ bảy con, thay nhau chích trâu, nọc độc bảy con đủ chết một trâu tơ, san đá Tây mà sức mấy! Buổi ấy trường sư phạm xây thêm lầu, ở chung với chuồng cọp, nên gọi trường Sở Cọp, học trò trường tính có xẹt, học đủ bốn niên, thi đỗ, bổ làm giáo viên, phải trả nợ áo cơm làm đủ mười niên, bằng như muốn đổi nghề, phải trả đủ bốn năm học bổng, nhưng lắm trò tuy học giỏi mà làm thi rớt, khỏi trả học phí, như Nguyễn Văn Công, ra làm bút toán cho hãng Denis Frères, lương cao, như Trần Khải Hoàng, chúng tôi đặt tên là Bố Lí Mài, Hoàng nói tiếng Hẹ (khách gia, Hakas) không khác chệc Lù, và nói tiếng Pháp như lặt rau, giọng Pa ri diên thế mà Hoàng vẫn không đậu, ra trường làm nghề bán xe hơi Wippet cho hãng Garage Charner, mỗi xe bán, Hoàng lời gấp mấy lần lương thầy giáo, có tiền nhiều, sắm súng mạnh, cùng đi săn với vua B.Đ. bắn cọp bắn voi, Hoàng khuyên tôi đừng tin nhiều nơi cao hổ cốt, Hoàng chơi với bạn hết lòng, mỗi lần chạy xe mới xuống rao hàng ở Sa Đéc, ghé nhà tôi, cơm thì còn, thức ăn đã hết, mời đi quán, Hoàng từ chối, sai lấy cơm nguội và chút nước thịt kho, Hoàng lua ngon lành sạch nồi, nhưng phải có ớt thật cay, và tánh Hoàng giản đị, coi tiền như nước, anh em chúng bạn đều cảm mến, trước đây, sau năm 1975, Hoàng bị nạn lật xe, cưa mất một cánh tay, đến nhà tôi ở Bà Chiểu, cùng nhau nhắc lại chuyện xưa, rồi hai tôi không gặp nhau nữa, Hoàng, Bồ lí mài, ở Phan Thiết còn tên khác là “Mua”, Trần Khải Hoàng, mày ôi!

Xe chạy lòng vòng, đếm giờ tính tiền, mỗi giờ ba đồng bạc tròn (3$00), nãy giờ đã mới mắt nên xem không được kỹ càng nữa, lộn xộn nào dinh Thượng Thơ ở góc đường Đồng Khởi và Lý Tự Trọng ngày nay, đã cổ hơn trăm năm, nghe một ôrg già làm tùy phái lâu đời, thuật lại lối những năm 1865 lối đó,

Tây xây cất dinh này, chỉ có lao công gánh gạch và xi măng là Việt, bao nhiêu thợ hồ thợ mộc đều lính Tây chuyên môn xen một mớ thợ rành nghề là người Quảng Đông, dinh Phố soái, sau đổi gọi dinh Thống đốc, ngày nay là viện bảo tàng, trước có dựng hình hai đàn bà giữ cửa, Hoeffel sai phá đi xây lại ít lố lăng hơn, sát bên dinh, cách một con đường MacMahon, lại là Khám Lớn, cửa giữa có đắp một đầu hình to, trên trán xiềng một sợi dây gai, mắt nhểu mấy giọt lụy to bằng ngón cái, miệng mếu lòi mấy chiếc răng xếu xáo, cần chi bày hình ghê tởm và lạ thay chỗ nhốt người yêu nước, đối với họ là có tội, nhưng khéo nực cười, vẫn là khách bàng cận của viên đầu đảng của bọn cướp! Cướp nước của chúng tôi, lính Tây chết vì bịnh hơn là vì súng bắn, người thừa hướng là bên Ky tô giáo, choán ruộng, và đem tiền gới về Tàu là chệc… ngang

Khám Lớn là tòa pháp đình đồ sộ, xe đổ về hướng chợ cũ, có dãy chùa của người Ẩn, dòng Chetty làm nghề cho vay bạc, nuôi chi giống bồ câu phóng uế dơ nước mưa, mấy năm thịnh thời, rằm tháng giêng có cộ Chà, xe nặng cả mấy trăm kí lô, khi cho bò kéo, khi bắt người mê tín thế cho bò, bò cho ăn tẩm bổ dừa nạo, đậu xanh, người cho đóng khố, trần truồng, trên lưng có móc hai móc sắt dính liền qua sợi lòi tói sắt khác nữa, tôi đứng gần vẫn không thấy tay bợ để lén giúp sức nào, thế mà bốn người mặt bơ phờ mất thần ấy, chưn đi vính cướng, khệnh khạng như gần tắt hơi, thế mà xe vẫn di chuyển tới trước, thiệt là lạ, trên xe, toàn là bạc rồng chạm trổ làm tháp, đặt tượng một Phật bà, trên cao, ngày nay, phá nghĩa địa Mạc Đính Chi mà nào thấy ma hiện hình, nhưng tại sao năm 1919, cộ đèn có đốt pháo bông, đêm rằm tháng giêng, Chà chưng cộ, người thế cho bò, kéo xe đi được một khúc đường ngang của chùa, và xe ấy được đưa đi giáp khu chợ cũ, được thay người kéo lưng bò lông trắng, bò đực có sừng nhọn hoắt, chót sừng bịt bạc, phải mắt thấy mới tin và hãy khoan cắt nghĩa theo khoa học việc này…

Trên đây là cảnh lộn xộn, không trật tự, thấy bởi một tên học trò nhà quê tính Sốc Trăng lên đất Sài Gòn lần thứ nhứt, năm 1919, nay thuật lại cũng tên trò ấy nhưng đã tám, chín mươi tuổi đầu, nhưng trí óc còn minh mẫn, duy tí đã bất chấp lề lối, và cách diễn tả nầy, những bạn nhỏ tuổi, không nên dựa theo đó mà ước định Sài Gòn năm xưa là thể nào, các bạn lão thành nay đã không còn, phải là người cố cựu sanh sống tại đây nhiều năm, họa may hiểu tôi đây muốn nói gì, và xin thách ai kia thử viết cho có trật tự xem nào, hay là cũng phải để cho ngòi bút sắt hay máy đánh chữ tha hồ ghi lại như vầy, chưa phải là phóng bút, có lẽ là loạn bút hay chăng, nhưng dẫu sao, tôi tưởng cũng đã nói được những gì chất chứa trong tâm não, nay có dịp phô bày cho hả hơi và như vậy, có cần gì là trật tự. Tiếp theo đây, tôi sẽ thử cố gắng, cũng một đề tài “cảnh Sài Gòn trước đây vài chục năm, từ 1919 cho đến hiện tại”, nhưng ngược lại, nghe và thấy, bởi một tên già đã trãi “ăn cơm nhà máy, uống nước phong tên đất nầy suốt ba phần thế kỷ”, tuy chưa phải sanh tại đây nhưng đã sống tại đây khá nhiều năm hơn nhiều bạn mới, và bài này, tôi cũng bất chấp trật tự, không ghi ngày tháng, chỉ nhớ sao viết vậy và nhớ tới đâu, thì viết tới đó, mặc cho người thức giả suy gẩm về sau.

(viết ngày 17-6-1990)

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Chương 4

Trong căn trại dành cho tôi và các bạn, những người cũ sẵn sàng ra đi nhường chỗ lại cho chúng tôi. Tôi đối diện với một chàng Mussidan 1. Trong lúc đó người ta làm quen với nhau thật mau. Cùng với các bạn của anh trong một đội cầu bầu dục, anh bị bắt ngoài đường như vậy, chẳng có lý do gì cả, và bị liệt vào loại khủng bố. Anh ta giải thích vắn tắt với tôi chương trình của trại:

– Cứ tám ngày là có một chuyến đi. Đồ ăn ở đây thì chẳng có gì phong phú nhưng hai lần mỗi tuần có súp do Hồng Thập Tự cung cấp, và lúc ra đi, hội nầy phân phát cho mỗi người một gói quà. Ngoài một vài việc tạp dịch, người ta để mặc kệ chúng ta. Anh có thể đi dạo, đọc sách và ngay cả đọc báo nữa. Nếu muốn đi xem lễ, có một nhà thờ. Vả chăng có một dẫy mà tù nhân toàn là linh mục. Thông thường, người ta có quyền hút thuốc nhưng không bao giờ thấy có thứ thuốc thơm. Nếu có tiền, anh có thể mua 400 quan một gói. Mỗi ngày đều có điểm danh, nhưng không kéo dài quá lâu. À! Anh nên đề phòng tụi can phạm cai quản trại giam. Phần đông chúng là những tên Hy Lạp có dính dáng đến bọn Gestapo. Hiện nay là Cogniot, anh biết đó là tên chủ bút tờ Humanité, y đóng vai trò niên trưởng, nhưng đã bị âm mưu thay thế. Từ sau đó, y trốn thoát với cả băng theo một đưòmg hầm dưới đất. Anh có thể đến đây xem, chỗ đó đã trở thành chốn hành hương của trại tập trung.

Một tin làm chúng tôi thích chí nhiều hơn nữa, tối đầu tiên của chúng tôi, có súp của hội Hồng Thập tự. Nếu có Hội Hồng Thập tự đó là do lỗi của chiến tranh, tuy nhiên vì có chiến tranh, dầu sao cũng đáng cảm ơn cơ cấu nầy. Súp ngon tuyệt và nhiều đến nỗi những kẻ chậm chân nhất cũng có thể được múc cho hai lần. Bao tử đầy làm cho tư tưởng được phóng khoáng, những tin tức hấp dẫn tràn ngập trong các câu chuyện, những tay tài tử rống lên các bài hát được ưa thích và một trong những người ở kế cận mời tôi chia xẻ một tàn thuốc lá.

Như đã định trước, hôm sau chúng tôi được đưa vào ở trại lớn. Chúng tôi được dành cho phòng số 6 trại số 5. Dãy trại rộng mênh mông có thể đi lạc dễ dàng. Trước kia được xử dụng cho quân đội bây giờ thì cho sự xuất cảng khổng lồ một số nhân lực không được trả lương, 48 người trong một phòng suốt một tuần lễ, vậy cần phải tổ chức cuộc sống một chút. Những người có trách nhiệm và những người làm tạp dịch được chỉ định một cách dân chủ và lập lúc các nhóm nhỏ khác được thành lập. Vì lẽ chỉ mua được cho mỗi phòng một hay hai tờ báo, người ta đi đến quyết định là mỗi tối sau giờ ăn, thông cáo và tin tức sẽ được đọc to cho mọi người đều nghe. Việc nầy lôi kéo việc kia, các họa sĩ được kêu gọi thực hiện các biểu tượng.

Đôi khi người ta mua một vài thứ rau và hành nơi nhà bếp. Với một vài củ khoai tây vô tình lượm được và một vài tặng phẩm của những người còn đồ ăn. Jim, một anh bồi pha rượu ở Repnes, nấu súp tập thể cho chúng tôi. Anh ta có cả hai đứa em cũng ở đây: một kể chuyện tiếu lâm với giọng Mạc-xây đúng nhất, anh kia hát thật hay: “Chất xám mà người ta vẩn trong ngón tay”… Anh nầy rất thèm thuốc lá” và ta có thể nói bài hát của anh phát xuất tự đáy lòng. Trong suốt thời gian ở đây, họ là những người bạn đồng hành vui vẻ nhất. Bên cạnh họ và các người bạn khác, lại còn có một nhóm cũng được mọi người chú ý nhưng về phương diện khác hẳn. Họ gồm những kỹ nghệ gia giàu có, công chức cao cấp tại một thành phố miền tây và thật dễ nhận thấy rằng quí ông nầy đã lợi dụng “Quốc Gia Pháp”. Lo sợ cho một tương lai không có gì chắc chắn, họ chơi trò ái quốc, tuy nhiên trò bắt cả hai tay rất nguy hiểm nhất là đối với những kẻ khoa trương, ưa chuộng hư danh. Va li của họ đấy đồ ăn, và mỗi bữa ăn của họ là cơ hội của một bữa tiệc linh đình. Do lòng thương hại, họ cho tập thể phần ăn được phân phát cho họ, tuy nhiên một tên đặc biệt hám ăn trong bọn họ nhất định ăn luôn phần của mình lấy cớ rằng sức khỏe bắt y phải ăn súp củ cải.

Tin tức xuẩn ngốc nhất được họ đưa ra là cơ hội đầu cơ về sự kết thúc của chiến tranh. Chúng tôi vừa nhận được tin Đồng Minh đổ bộ tại Nettuno, trong vùng Tây Nam Ý.

– Các ông thấy không, – một người trong bọn họ nói, – đúng như tôi đã đoán trước; Nga và Đức sẽ hao mòn dần và bây giờ thì Anh – Mỹ lặng lẽ đến. Nầy ông bạn, một ngày nào đó người ta sẽ thấy ông Thống chế không có sai lầm lắm đâu. Vả chăng, ai chứng minh được rằng ông ấy không có ăn cánh với Roosevelt và Churchill, bởi vì, sau cùng, rồi ra các ông không chủ trương sự thắng trận của Nga sô có lợi cho chúng ta đó chớ! Bọn Nga Sô là bọn bán khai! Rốt cuộc nếu phải bị ăn thịt, tôi thích bị người Anh hay Mỹ hơn. Vả lại, chiến tranh chưa chấm dứt. Ai nói với các ông rằng một khi Đức bại trận, cả thế giới không nổi dậy chống Nga. Lúc đó, mối lợi của Pháp là chờ đợi, và tôi sẽ không ngạc nhiên khi thấy các cường quốc yếu mòn dần sau một cuộc xung đột dài lâu, và đó còn là phương cách tốt nhất để tìm lại sức mạnh của chúng ta. Tất cả mọi cuộc âm mưu, ám sát chỉ làm cho bọn Đức nổi sùng và rồi chẳng được gì cả.

Người được ông ta nói các lời trên đây gục gặc đầu và thì thầm “Đúng, đúng, có thể!”. Tôi liếc nhìn quanh để xem tác dụng ra sao. Đôi khi họ lo lắng cho tương lai, và một người trong bọn, Cựu Giám đốc Kinh Tế, hỏi trống đám đông chung quanh:

– Nhưng rồi ra nếu người Đức bắt mỗi người làm việc theo khả năng chuyên môn, tôi tự hỏi họ bắt tôi làm gì. Lính thư ký chăng? Nhưng tôi đâu biết tiếng Đức.

– Rồi như để tự trấn tĩnh. – Nên chú ý rằng trong một xứ như Đức quốc, ai cũng biết, có trật tự và mỗi người một việc. Họ sẽ nhận biết thiện chí của tôi và tôi sẽ kiếm được một việc gì đó để ngồi vào.

Trong dãy trại số 5 có một bản đồ hành quân liên quan đến mặt trận Miền Đông, và trước tấm bản đồ ấy luôn luôn có một vài tù nhân nếu được nói chuyện với họ là cả một sự thích thú. Chính nơi đó, tôi làm quen được với Ramelin và Michael. Là sĩ quan người Serbie (Nam-Tư). Michael anh đến Luân-đôn bằng phi cơ chỉ có vài giờ trước khi chính quyền Belgrade sụp đổ vào tháng 3 năm 1941. Được thả dù trong nhiều sứ mạng khác nhau, anh lại để cho bị bắt một cách lãng xẹt tại Ba-lê vì một người đàn bà. Tại sao anh lại không bị đem bắn? chính anh cũng vẫn còn tự hỏi như thế. Anh giỡn chơi với cuộc đời như dự một canh bài tây, tuy nhiên cho đến nay, anh có thể kiêu hãnh cho rằng luôn luôn được bốn con ách. Dẫu sao đây cũng là một người bạn đồng hành qui báu. Chúng tôi quyết định tìm mọi cách để được đi cùng một toa xe, và điều đó, do nhiều lý do chính xác.

Có nhiều tin đồn, không kiểm chứng được, chắc chắn như vậy, nhưng đầy khích lệ, xác nhận rằng trong tất cả các cuộc di chuyển trước, đã có rất nhiều cuộc đào thoát và chuyến đi của chúng tôi không phải là chuyến cuối cùng. Không có lửa làm sao có khói và chúng tôi thấy rằng chuyện đó có thể được.

Chúng tôi bắt tay vào việc tìm kiếm tất cả những gì có thể làm cho một vụ vượt ngục từ một toa xe chở hàng hóa được dễ dàng. Dao lớn, giũa, cưa nhỏ v,v… Chúng tôi có năm người quyết định hành động. Các xó xỉnh nào cũng được viếng thăm với nhiều lý do khác nhau, trại nhà bếp, bệnh xá, nhà vệ sinh và tất cả các doanh trại đều trở thành các nơi quen thuộc. Kết quả tốt đẹp. Hubert và Pierre mỗi người kiếm được một con dao lớn, Ramelin, một lưỡi cưa, Michael một giũa lớn, tôi mang về được một chiếc kềm. Kho khí cụ được dấu ở một nơi chắc chắn. Những thứ đó không phải từ trên trời rơi xuống. Phải nghe, và quan sát đi tìm ra những đồng lõa quí báu! Một trại giam như Compiègne với hàng ngàn tội nhân đi qua, cần một số nhân viên thường trực rất đông gồm nhiều thành phần nghề nghiệp khác nhau, và nếu người lãnh đạo số nhân viên nầy bị mua chuộc, người ta vẫn có thể tìm trong số nhân viên cấp dưới những người tin được. Nhờ các buổi tạp dịch bên ngoài, họ đưa được vào trong trại các dụng cụ với số lượng đủ để “tiếp liệu”, như họ vẫn thường nói, cho một chuyến công-voa sắp sửa lên đường.

Trong tháng giêng, trôi rất đẹp, và sau cơn thử thách trong xà lim, thật là một sự khoái trá khi được dạo chơi thật lâu trong một khu vực rộng rãi. Đối diện với trại giam chúng tôi còn có các trại khác, cách một khoảng khá xa và bị bao bọc bởi các rào kẽm gai, trong đó tù nhân toàn là những người Anh, Mỹ dân sự bị bắt tại Pháp. Vì họ được tiếp tế dồi dào bởi các hội Hồng Thập tự của quốc gia họ, nhiều tù nhân tìm cách tiếp xúc với họ để mua thứ nầy thứ nọ và nhất là thuốc lá. Nhưng hiếm khi những người nầy thành công. Các công dân Hoa Kỳ không cần tiền Pháp, hoặc giả là họ thấy hổ thẹn khi bán với giá cắt cổ.

Ngày áp chót, mỗi người được phát một gói quà hậu hĩ, tượng trưng cho quà tặng của hội Hồng Thập tự dành cho chuyến đi. Thiếu thốn của ngon vạt lạ từ lâu, nhiều người chúi mui vào đó như ruồi thấy mật: bánh bơ, sô-cô-la, đường, bột trái cây. Tất cả các chỉ dẫn liên quan đến cuộc khởi hành vào ngày 26 tháng giêng, được thông báo cho chúng tôi đêm hôm trước sau một cuộc điểm danh tổng quát, chúng tôi gồm có 2500 người. Có nhiều thanh niên, nhiều người đứng tuổi, nhưng khốn thay cũng có nhiều người già cả. Trong thực tế, những người yếu đuối nầy làm được gì? Trong số nầy có một ông già, đến 72 tuổi, đang ngồi trên chiếc vali với bộ râu bạc và chiếc gậy chống, trông cụ giống như một Moise 2 tân thời giữa bộ lạc của mình, nhưng lần nầy Israel trở lộn về Ai Cập. Một nỗi buồn man mát đột nhiên xâm chiếm tâm hồn chúng tôi. Compiègne quả thật là một chỗ nghỉ xả hơi tốt. Tất cả những ai đã đi qua đó vào cuối 1943 đầu 1944 vẫn còn giữ được cảm giác khoan khoái giữa hai đoạn đường gian nan.

Với hành lý chất đống hỗn độn trên sân, chúng tôi trông giống như những người lữ hành không có tổ quốc, những “Heimatlos” chờ đợi phép lạ từ trên trời rơi xuống. Đêm tháng giêng nầy thật dịu dàng một cách đáng ngạc nhiên. Thình lình trong khu phụ nữ, một giọng đàn bà la lớn: “Các ông không ca lên sao?”

Có phần hổ thẹn vì đã ngần ngại lâu hơn, bài ca “Marseillaise” vang lên, ban đầu còn rụt rè, sau đó mạnh dần. Đối với đa số chúng tôi, đây là bài ca vĩnh biệt Pháp quốc.

——————————–

1Mussidan nằm trong vùng Dordogne miền Tây Nam nước Pháp.
2Moise hay Mosché, vị đệ nhất vĩ nhân của lịch sử. Do-Thái, đã lãnh đạo dân tộc Hebreux đi từ Ai-Cập qua Palestine, trong 40 năm.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Bài 26

Nhà giam cấm cố

Một chiếc xuồng đã được chuẩn bị sẵn sàng. Trong số mười chín tù nhân cấm cố sẽ có mười người di chuyển trước. Tôi được gọi tên để lên xuồng. Dega thản nhiên nói: “Không, anh này đi chuyến sau”. 
Từ khi đến đây tôi đã phải sửng sốt khi nghe cách ăn nói của các tù nhân. Rõ ràng là họ không đếm xỉa đến kỷ luật và có vẻ như chẳng coi bọn cảnh sát ra gì hết. Tôi nói chuyện với Dega lúc bấy giờ đã đến đứng gần tôi. Bác ta đã biết hết chuyện vượt ngục của tôi cũng như những chuyện khác có liên quan đến tôi. Có những người đã tiếp xúc với tôi ở Saint-Laurent có đến Quần đảo và kể lại cho bác biết hết. Bác ta không hề tỏ ý thương xót tôi. Bác ta tế nhị hơn nhiều. Chỉ một câu thôi nói tự đáy lòng: “Cậu rất xứng đáng thành công. Thôi để lần sau?” Thậm chí bác ta cũng không nói “Can đảm lên “. Bác thừa biết rằng cái đó thì tôi có thừa. 
– Tôi làm kế toán trưởng ở đây và có quan hệ rất tốt với ông chỉ huy. ở nhà giam cấm cố cậu cố gắng có hạnh kiểm tốt. Tôi sẽ gửi cậu ít thuốc lá và thức ăn. Cậu sẽ không thiếu thứ gì đâu. Papillon, đi thôi! – Đã đến lượt tôi. 
– Xin chào tất cả. Cám ơn những lời lẽ chân tình của các bạn. 
Tôi xuống thuyền. Hai mươi phút sau, thuyền cặp bến ở Saint-Joseph. Tôi có đủ thì giờ nhận thấy trên thuyền chỉ có ba viên giám thị có súng, trong khi có đến sáu người tù chèo thuyền và mười người tù cấm cố Phối hợp để chiếm lĩnh cái thuyền này chỉ là một trò đùa. 
ở Saint-Joseph, một ủy ban tiếp đón ra nhận chúng tôi. Có hai viên chỉ huy tự giới thiệu: viên chỉ huy trại trừng giới của đảo và viên chỉ huy của Nhà giam cấm cố. Chúng tôi được dẫn bộ đi lên con đường dốc đến nhà giam. Trên đường đi không thấy một người tù nào. 
Khi đi vào cửa sắt lớn ở bên trên có mấy chữ Nhà giam cấm cố trừng giới, người ta có thể hiểu ngay tầm quan trọng của cái phương tiện trấn áp này. Bên trong tấm cửa và bốn bức tường cao ở xung quanh, trước hết có một dãy nhà nhỏ có đề: “Ban giám đốc – Quản trị”, rồi ba dãy nhà khác đề A, B, C. Chúng tôi được đưa vào dãy nhà của ban giám đốc. Một gian phòng lạnh lẽo. Khi mười chín người đã được xếp thành hai hàng trong phòng, viên chỉ huy Nhà giam cấm cố nói với chúng tôi: 
– Các phạm nhân cấm cố, các anh biết rằng nhà này là một nhà trừng giới dành cho những phạm nhân đã bị đày khổ sai mà lại còn có những hành động phạm pháp. ở đây người ta không tìm cách cải huấn các anh. Chúng tôi biết rằng việc đó vô ích. ở đây người ta chỉ tìm cách trấn áp các anh. Chỉ có một nội quy duy nhất: câm mồm. Im lặng tuyệt đối, “gọi điện” là việc rất nguy hiểm, nếu bị bắt gặp sẽ bị phạt rất nặng. Nếu không ốm nặng, chớ đăng ký xin đi khám. Vì nếu khám không thấy có bệnh nặng, các anh sẽ bị phạt rất nghiêm. Đó là tất cả những gì tôi cần nói với các anh. à quên, ở đây nghiêm cấm hút thuốc. Giám thị, hãy lục soát kỹ các phạm nhân, rồi đưa từng người về xà-lim. Charrière, Clousiot và Maturette không được ở cùng một nhà. Ông Santori, ông phải thân hành trông coi việc này. 
Mười phút sau tôi bị nhốt vào căn xà-lim dành cho tôi căn số 234 của dãy nhà A.Clousiot bị giam ở dãy nhà B và Maturette ở dãy nhà C. Chúng tôi đưa mắt từ biệt nhau. Khi bước vào đây, tất cả chúng tôi đều hiểu ngay rằng nếu muốn sống sót mà ra khỏi thì nhất nhất phải tuân theo cái nội quy vô nhân đạo này. Tôi từ giã hai người bạn đường của tôi trong chuyến vượt ngục dài ngày, hai người bạn hào hùng và dũng cảm đã tỏ rõ phẩm chất mình trong khi đi với tôi và không hề bao giờ kêu ca hay hối tiếc những gì họ đã cùng làm bên cạnh tôi. Tim tôi se lại, vì sau mười bốn tháng vật lộn vai kề vai để dành lại tự do, chúng tôi đã vĩnh viễn gắn bó với nhau bằng một tình bạn không bờ bến. 

Tôi xem xét căn buồng giam mà họ đã lùa tôi vào. Không bao giờ tôi có thể dự đoán hoặc tường tượng rằng một nước như nước Pháp của tôi, vốn là người mẹ của tự do trên trái đất này, là đất nước đã sinh ra Nhân quyền và Dân quyền, lại có thể dựng lên, dù là ở Guyane thuộc Pháp, trên một hòn đảo chơi vơi giữa Đại tây dương, rộng vừa bằng cái mùi-soa bỏ túi, một trại giam có tính chất trấn áp man rợ như cái nhà giam trừng giới ở Saint-Joseph. Cái bạn hãy tương tượng một trăm năm mươi căn xà-lim kế cận nhau, giáp lưng nhau, bốn bức tường rất dày chỉ có một cánh cửa sắt nhỏ với cái lỗ ghi-sê của nó. ở phía trên mỗi ghi-sê đều có dòng chữ đề: “Cấm mở cửa này nếu không có lệnh trên”. ở bên trái căn buồng là một tấm ván làm giường nằm với một cái gối bằng gỗ, cũng được thiết bị như ở Beaulieu: tấm ván có thể lật lên móc sát vào tường; một tấm chăn; một khối xi-măng xây ở góc trong dùng làm ghế; một cái chổi nhỏ; một cái ca nhà binh, một cái thìa bằng gỗ, một tấm sắt mỏng dựng đứng che một cái bô bằng kim loại buộc vào tấm sắt kia bằng một sợi xích (từ phía ngoài có thể kéo nó ra để đổ, và từ phía trong có thể lôi nó vào để dùng). Buồng cao ba mét, trần là một dãy song sắt rất lớn, mỗi chấn song to bằng một thanh đường ray xe điện, bắt chéo nhau rất dày để không thể có một vật gì hơi to hơn có thể lọt qua. Rồi, cao hơn nữa, là mái của tòa nhà, cách mặt đất khoảng bảy mét. Phía trên bức tường ngăn cách các xà lim quay lưng vào nhau là một con đường đi tuần rộng khoảng một mét, có tay vịn bằng sắt, nhìn thẳng xuống các buồng giam. Hai viên giám thị thường xuyên đi từ đầu đường cho đến giữa đường: ở đây họ gặp nhau và quay trở lại. Tất cả gây thành một ấn tượng rùng rợn. ánh sáng ban ngày chiếu vào con đường đi tuần đủ sáng. Nhưng ở các buồng giam, dù đang giữa ban ngày, thì tối mờ mờ không nhìn thấy rõ những vật xung quanh. Tôi bắt đầu đi đi lại lại ngay, trong khi chờ đợi họ huýt còi bay ra một hiệu lệnh gì đó không biết để cho phép tù nhân hạ tám ván xuống mà nằm. 
Để khỏi gây tiếng động, tù nhân và lính gác đều đi giày vải. Tôi nghĩ ngay: “ở đây, tại buồng giam 234, Charriere biệt hiệu Bươm bướm, sẽ có gắng sống mà không phát điên trong thời hạn hai năm, tức bảy trăm ba mươi ngày. Hắn có bổn phận cải chính cái biệt hiệu “ăn thịt người” của nhà giám cấm cố này. Một, hai, ba, bốn, năm quay đằng sau. Một hai, ba, bốn, năm, quay đằng sau. Tên lính gác vừa đi qua trên nóc tường trước mặt tôi. Tôi không nghe thấy tiếng chân hắn đến, tôi chỉ trông thấy hắn. Tách. Đèn bật lên, nhưng rất cao, treo mãi tận mái trên, cách mặt đất hơn sáu mét. Lối đi tuần được chiếu sáng, các buồng giam vẫn chìm trong bóng tối. Tôi đi đi lại lại, cái quả lắc lại đung đưa. Hãy ngủ yên, hỡi mấy miếng phó-mát của hội đồng bồi thẩm đã xử tôi, các người hãy ngủ yên, vì tôi tin rằng nếu hồi ấy các người biết các người sẽ đưa tôi đến chỗ nào, các người sẽ thấy ghê tởm và sẽ không chịu làm những kẻ đồng lõa với việc thi hành một hình phạt như vậy. 
Khó lòng thoát khỏi tình trạng đi lang thang của trí tưởng tượng. Hầu như không thể nào thoát được. Tôi nghĩ nên hướng nó về những đề tài không đến nỗi buồn nản quá thì hơn là cố xua đuổi hắn nó đi. Quả nhiên, hiệu lệnh cho phép hạ ván nằm xuống là một tiếng còi. Tôi nghe thấy một giọng thô lỗ nói: 
– Những người mới đến nên biết rằng kể từ bây giờ, nếu muốn, thì có thể hạ ván xuống để nằm. 
Tôi chỉ ghi nhớ hai chữ “nếu muốn”. Cho nên tôi tiếp tục đi đi lại lại, giờ phút này quá nghiêm trọng để có thể ngủ. Tôi cần phải tập cho mình quen với cái chuồng hở phía trên này. 
Một, hai, ba, bốn, năm… tôi đã nắm vững được ngay cái tiết tấu của quả lắc; đầu cúi xuống, hai tay chắp sau lưng khoảng cách từ bước đi phải thật đều và thật chính xác, như một quả lắc đưa qua đưa lại, tôi đi đi lại lại và cùng tận như một kẻ mộng du. Bước hết năm bước, tôi không cần trông thấy bức tường, áo tôi chỉ chạm nhẹ vào nó khi quay lại cứ thế mãi không hề mệt mỏi trong cuộc đua marathon không có đích mà cũng không cơ thời hạn chấm dứt. 
Phải, thật đấy Papi ạ, cái nhà giam “ăn thịt người” không phải là trò đùa. Và khi bóng tên lính gác hắt xuống tường, nó gây một hiệu quả thật dễ sợ. Nếu ngẩng đầu lên mà nhìn thì còn nản hơn nữa: người ta có cảm giác mình là một con báo bị nhốt dưới hố, còn ở phía trên là người đi săn vừa bắt được báo đang nhìn xuống để quan sát nó. Cái ấn tượng thật là hãi hùng, và tôi phải mất đến mấy tháng trời mới quen được. 
Mỗi năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày; hai năm là bảy trăm ba mươi ngày, nếu không có năm nhuận. Tôi mỉm cười vì cái ý này. Anh ạ, dù có là bảy trăm ba mươi mốt thì cũng thế thôi. Tại sao lại cũng thế thôi? Không, không phải cũng thế thôi đâu. Thêm một ngày là thêm hai mươi bốn giờ đồng hồ. Mà hai mươi bốn giờ đòng hồ cũng lâu lắm. Bảy trăm ba mươi lần hai mươi bốn giờ lại còn lâu hơn nhiều. Tổng cộng lại thì thành bao nhiêu giờ nhỉ? Liệu tôi có đủ sức tính nhẩm ra con số đó không? Làm thế nào tính nhẩm được, chịu thôi. Sao lại chịu? Tính được chứ. Xem nào. Một trăm ngày là hai ngàn bốn trăm giờ. Nhân cho bảy rất dễ trước hết ta có mười sáu ngàn tám trăm giờ. Rồi ta nhân ba mươi ngày còn lại cho hai mươi bốn thành bảy trăm hai mươi giờ. Tổng cộng: một vạn sáu ngàn tám trăm cộng với bảy trăm hai mươi, vị chi là một vạn bảy ngàn năm trăm hai mươi giờ, nếu tôi không nhầm chỗ nào. Thưa ngài Papillon thân mến, ngài có cả thảy một vạn bảy ngàn năm trăm hai mươi giờ để mà giết trong cái chuồng được thiết kế riêng cho thú dữ này, với bốn bức tường nhẵn nhụi của nó. Vậy chứ tôi sẽ ở đây bao nhiêu phút nhỉ? Cái đó chẳng có chút gì thú vị, giờ thì còn được chứ phút thì nghĩa lý gì? Ta không nên cường điệu quá. Tại sao lại không tính cả giây nữa nhỉ? Điều đó quan trọng là phải có cái gì lấp đầy những ngày, những giờ, những phút ấy trong khi tôi sống một mình, tự mình đối diện với mình! Ai bị giam ở buồng bên phải nhỉ? ai ở buồng bên trái? ai ở buồng phía sau? Ba con người đó, nếu trong các buồng giam ấy có người, chắc cũng phải tự hỏi: ai vừa vào buồng 234? 

Có một tiếng động mềm của một vật gì vừa rơi xuống ở sau lưng tôi, trên nền xà~lim. Cái gì thế nhỉ? Phải chăng người tù kế cận đã khéo tay vứt cho tôi một vật gì qua hai lần chấn song? Tôi cố nhìn cho ra xem đó là vật gì. Chỉ thấy mờ mờ một cái gì nho nhỏ, dài dài. Tôi đã sắp cầm nó lên, thì cái vật mà trong bóng tối mờ mờ tôi đoán ra được nhiều hơn là trông thấy nó, tự dưng cử động và chạy nhanh về phía tường. Khi nó nhúc nhích, tôi bất giác giật mình lùi lại. Đến chân tường, nó bắt đầu leo lên một quãng rồi tuột xuống đất. Bức tường nhẵn nhụi đến nỗi vật kia không thể bám đủ chặt để leo lên. Tôi để cho nó thử leo lên tường ba lần, rồi đến lần thứ tư, khi nó rơi xuống, tôi giẫm mạnh chân lên. Dưới lớp giày vải tôi thấy mềm mềm. Cái gì thế nhỉ? Tôi quỳ xuống để nhìn cho thật sát, và cuối cùng tôi đã nhìn ra được: đó là một con rết khổng lồ, dài hơn hai mươi phân, thân rộng bằng hai ngón tay cái Tôi thấy tởm lợm đến nỗi không dám nhặt nó lên để bỏ vào bô. Tôi dùng chân đẩy nó vào gầm ván. Đến mai hãy xem cho sáng. Về sau tôi sẽ còn đủ thì giờ trông thấy nhiều rết nữa; nó rơi từ cái mái nhà rộng ở trên kia. Tôi sẽ phải học cách để cho nó bò trên thân thể để trần của tôi, không bắt, cũng không động đến nó nếu tôi đang nằm. Tôi cũng sẽ có dịp biết rõ rằng những khi nó đang bò trên người, chỉ một sai lầm nhỏ về chiến thuật thôi cũng bắt người ta phải trả giá bằng những cơn đau đớn dừ dội đến thế nào. Một mũi đốt của con vật kinh tởm này đủ làm cho anh sốt nặng trong hơn mười hai tiếng đồng hồ và làm cho đau nhức khủng khiếp trong gần sáu tiếng đồng hồ. 
Dù sao chăng nữa nó vẫn có thể được dùng như một phương tiện giải trí, một lối thoát cho những ý nghĩ của tôi. Về sau mỗi khi có một con rết rơi xuống trong khi tôi đang thức, tôi thường lấy cái chổi con trêu chọc nó, vật lên vật xuống thật lâu, hoặc bày trò chơi với nó bằng cách để cho nó chạy đi nấp và một lát sau tôi tìm cách phát hiện ra nó. 
Một, hai, ba, bốn, năm… Xung quanh im lặng hoàn toàn. ở đây không ai ngáy thì phải? Không ai ho hay sao? Trời nóng nực đến ngạt thở. Thế mà bây giờ đang là ban đêm! Còn ban ngày thì phải nóng đến thế nào nữa? Số tôi là phải sống với rết hay sao ấy. Khi nước thủy triều lên ngập cái buồng giam ở Santa Marta, rết vào từng mớ, nó nhỏ hơn nhưng cũng là cùng một dòng họ với lũ rết ở đây. ở Santa Marta quả tình ngày nào cũng bị ngập lụt, nhưng người ta được nói, được hét, được nghe tiếng hát hoặc tiếng hú và nghe những câu nói lảm nhảm của những người điên tạm thời hay vĩnh viễn. Chẳng phải như thế này. Nếu được chọn tôi sẽ chọn Santa Marta. Chà, anh nói thế là phi lô-gích mất rồi, Papi ạ. ở đấy, mọi người đều nhất trí nói rằng thời hạn tối đa mà một con người có thể chịu đựng được là sáu tháng. Thế mà ở đây có nhiều người phải giam đến bốn năm năm hoặc hơn nữa. Người ta bắt họ phải chịu đựng như. Vậy là là một chuyện; còn họ có chịu đựng được không lại là chuyện khác. Có bao nhiêu người tự tử. Tôi cũng chẳng biết người ta làm cách gì để tự tử nữa. à cũng có cách. Chẳng dễ gì đâu, nhưng người ta có thể tự tử bằng cách thắt cổ chẳng hạn. Người ta xé quần ra làm một sợi dây. Buộc cái chổi con vào một đầu dây rồi leo lên tấm ván, người ta có thể ném sợi dây qua chấn song. Nếu buộc dây sát vào bức tường có lối đi tuần ở phía trên, chắc tên lính gác sẽ không trông thấy sợi dây. Đúng vào lúc hắn vừa đi qua, anh cứ việc nhảy ra khỏi tấm ván và lủng lẳng trên không. Khi tên lính gác quay lại thì anh đã đi rồi. Vả chăng chắc hắn cũng chẳng vội vàng gì mà chạy nhanh xuống mở buồng giam cho anh. Mở cửa buồng ư. Hắn không thể mở được. Trên cánh cửa đã có đề: “Cấm mở cửa này nếu không có lệnh trên”. Vậy thì anh đừng sợ gì hết, người nào muốn tự tử sẽ có đủ thời gian cần thiết trước khi có người mở cửa vào buồng giam theo “lệnh trên”. 
Tôi tả lại tất cả những điều trên đây, có lẽ không lấy gì làm sinh động và lý thú đối với những người thích nghe chuyện hành động và đánh nhau. Những người này có thể bỏ qua mấy trang nếu thấy chán. Tuy nhiên, những ấn tượng đầu tiên, những ý nghĩ đầu tiên này ồ ạt đến với tôi khi tôi tiếp xúc lần đầu với cái buồng giam mới, những phản ứng đầu tiên này khi tôi bị đưa xuống nhà mồ, tôi nghĩ rằng tôi phải miêu tả nó một cách thật trung thành. 
Tôi đi đi lại lại như thế này đã lâu lắm rồi. Tôi nghe có tiếng thầm thì trong đêm khuya: họ đổi gác. Tên lính gác phiên trước là một gã cao lớn và khẳng khiu tên đến thay phiên thì lùn và mập. Hắn vừa đi vừa kéo lê đôi giày vải. Khi hắn đến cách tôi chỉ còn hai buồng giam, tôi có thể nghe thấy tiếng giày vải hắn sột soạt và đến khi hắn đi qua hai buồng giam mới không nghe thấy gì nữa. Hắn không im lặng một trăm phần trăm như thằng bạn đồng ngũ của hắn. Tôi tiếp tục đi đi lại lại Bây giờ chắc đã khuya lắm rồi. Không biết mấy giờ rồi nhỉ? Đến mai tôi sẽ không thiếu phương tiện để đo thời gian. Mỗi ngày cái ghi-sê phải mở bốn lần: nhờ đó tôi sẽ đại khái biết được giờ giấc. Còn ban đêm thì nhờ biết giờ phiên gác đầu tiên và biết thời hạn của mỗi phiên, tôi sẽ có thể sống với một cách đo lường thời gian xác định: phiên thứ nhất, phiên thứ hai, phiên thứ ba… 
Một, hai, ba, bốn, năm… Như một cái máy, tôi lại bắt đầu cuộc đi dạo vô tận, và nhờ trợ lực của sự mệt mỏi, tôi cất cánh một cách dễ dàng để trở về lục lọi trong dĩ vãng Chắc chắn lá do sự tương phản với bóng tối trong xà-lim, tôi bay ra giữa nắng ngồi trên bãi biển của bộ lạc tôi. Chiếc thuyền mà Lali dùng để đi vớt ngọc trai đang đung đưa cách tôi hai trăm mét trên mặt biển tuyệt vời màu xanh ngọc thạch. Hai chân tôi di di trên cát. Zoraima đem lại cho tôi một con cá lớn nướng trên than hồng, gói kỹ trong một tàu lá chuối cho khỏi nguội. Tôi ăn bằng mấy ngón tay, dĩ nhiên, còn Zoraima thì ngồi xếp bằng trước mặt tôi nhìn tôi ăn. Cô ta rất vui mừng khi thấy những mảng thịt to tách ra khỏi con cá một cách dễ dàng và đọc thấy trên gương mặt tôi vẻ khoái trá trong khi ăn cái món ngon lành mà cô đã dọn cho tôi. 
Tôi không còn bị nhốt nữa. Tôi không hề biết đến Nhà giam cấm cố, Saint-Joseph, Quần đảo gì nữa. Tôi lăn lóc trên cát, vục hai tay vào lớp cát cho sạch, lớp cát làm bằng những mảnh vụn san hô mịn đến nỗi tôi có cảm giác như vục tay vào bột. Rồi tôi lội xuống biển để súc miệng bằng thứ nước trong vắt và mặn chát ấy. Tôi lấy hai tay múc nước phả lên mặt. Trong khi rửa cổ tôi nhận ra rằng tóc tôi đã dài lắm. Khi nào Lali về tôi sẽ bảo nàng cạo cổ cho tôi. Tôi qua đêm với bộ lạc của tôi. Tôi mở cái khố của Zoraima, và trên cát, giữa nắng, dưới làn gió biển, tôi chiếm hữu nàng. Nàng khẽ cất những tiếng rên si mê như nàng vẫn làm những khi nàng thấy khoái lạc. Có lẽ gió đưa đến tận tai Lali khúc nhạc yêu đương này. Dù sao thì Lali không phải không nhìn thấy chúng tôi và thấy cái tư thế của chúng tôi chỗ nàng có xa xôi gì đâu mà không thấy rõ chúng tôi đang làm tình. Đúng thế, hẳn là nàng đã trông thấy, vì chiếc thuyền đang đi về phía bờ, nàng tươi cười bước xuống đất. Trên quãng đường về nàng đã tháo các bím tóc ra và lấy mười ngón tay thon và dài chải mái tóc ướt đang bắt đầu khô dần trong làn gió và trong ánh nắng của cái ngày tuyệt đẹp này. Tôi đi về phía nàng. Nàng lấy tay phải quàng lưng tôi và đẩy tôi đi trên bãi cát về phía nếp nhà tranh của chúng tôi. Suốt dọc đường đi, nàng không ngớt bày tỏ cho tôi hiểu: “Cả em nữa, cả em nữa”. Về đến nhà, nàng xô tôi xuống một chiếc võng len đã gấp lại trải xuống đất làm đệm, và trong nàng, tôi quên rằng thế giới tồn tại. Zoraima rất thông minh, nàng chỉ về khi ước chừng chúng tôi đã xong. Nàng vào nhà khi chúng tôi hãy còn nằm trần truồng trên đệm, thỏa mãn no nê vì ái ân. Nàng đến ngồi với chúng tôi, lấy lòng bàn tay vả vả lên hai má của chị, miệng nhắc đi nhắc lại mấy tiếng gì chắc chắn phải có nghĩa đại khái là “đồ tham ăn”. Rồi với một cử chỉ trinh bạch và đầy tình trìu mến, nàng sứa lại cái khố của tôi và cái của Lali cho ngay ngắn. Suốt đêm hôm ấy tôi đã sống ở Guajira. Tôi tuyệt nhiên không ngủ một chút nào. Thậm chí tôi cũng không nằm xuống để nhắm mắt lại mà hồi tưởng những cảnh đã sống qua. Ngay trong khi đi đi lại lại không ngừng trong một trạng thái gần như thôi miên, không cần phải vận dụng ý chí một chút nào, tôi đã vượt qua không gian và thời gian để trở về sống lại cái ngày đẹp tuyệt vời đã qua cách đây gần sáu tháng. 
Đèn đã tắt, và có thể thấy rõ ngày mới đang tràn vào bóng tranh tối tranh sáng của căn xà-lim, xua tan thứ sương mù lềnh bềnh đang bao bọc mọi vật xung quanh tôi. Một tiếng còi huýt lên. Tôi nghe tiếng những tấm ván nằm chạm vào tường, và cả tiếng cái móc của người ở buồng bên phải chạm vào cái vòng sắt gắn vào tường. Người ở buồng bên ho, và tôi nghe có tiếng một ít nước giội xuống nền nhà. Sao, ở đây cũng được rứa mặt nữa à? 
– Thưa ông giám thị, ở đây rửa mặt thế nào ạ? 
– Phạm nhân, vì anh không biết cho nên tôi tha cho anh lần này. Không được nói gì với lính gác: nếu vi phạm điều lệnh này sẽ bị phạt nặng. Muốn rửa mặt, đứng ngay chỗ bô một tay cầm hũ nước, tay kia hứng mà rửa. Anh chưa giở chăn ra phải không? 
– Chưa. 
– Trong chăn có một cái khăn mặt. 

Đến thế thì thật! Không được phép nói với lính gác vì bất cứ lý do gì? Thế nếu mắc phải chứng gì đau quá thì sao? Nếu sắp chết đến nơi: một cơn đau tim, đau ruột thừa, một cơn suyễn quá mạnh, thì sao? Chẳng lẽ ở đây cấm cả việc kêu cứu khi lâm vào một tình cảnh nguy hiểm chết người? Vô nhân đạo đến thế là cùng? Nhưng không, như thế là bình thường. Nếu không, tù nhân có thể quấy phá, làm ầm ĩ lên một cách quá dễ dàng khi thần kinh không chịu nổi nữa. Dù chỉ để nghe tiếng người, dù chỉ để người ta nói với mình một câu, dù câu đó chỉ là: “Chết thì chết đi, nhưng phải câm mồm lại!”. Cũng sẽ có vài chục người trong số hai trăm năm mươi tù nhân bị giam ở đây, mỗi ngày vài chục lần, bày chuyện gây ra bất cứ cuộc cãi vã nào để cho thoát bớt sức hơi ép trong óc họ như qua một cái xúp-páp! 
Người đã có cái ý xây những chuồng cọp này không thể là một bác sĩ tâm bệnh học được: một người thầy thuốc không đời nào lại tự hạ mình làm một việc nhơ nhuốc đến như vậy. Nội quy của nhà giam này cũng không phải do một bác sĩ thảo ra. Nhưng hai con người đã cùng nhau tạo nên cái nhà tù này, người kiến trúc sư cũng như người viên chức đã dự tính một cách chi li những chi tiết của nhà tù, họ quả thật là hai con quái vật đáng ghê tởm, hai nhà tâm lý học tồi bại và độc ác tràn đầy một lòng căm thù xa đích đối với các phạm nhân. 
Từ những căn buồng giam của khám trung tâm ở Beaulieu, ở Canen tuy sâu như vậy, hai tầng hầm phía dưới mặt đất, vẫn còn có thể vọng ra ngoài, đến tai công chúng, những tiếng vang xa xăm của những cực hình mà các phạm nhân phải chịu đựng. Chứng cớ là hồi ấy, khi người ta tháo khóa tay cho tôi tôi đã thấy rõ ràng vẻ sợ hãi trên mặt bọn lính gác: chắc chắn là họ sợ bị phiền hà, bị trừng trị.

Nhưng ở đây, trong nhà giam cấm cố này, nơi mà chỉ có bọn viên chức trong ban quản trị mới vào được, họ rất yên tâm họ không bao giờ có thể bị phiền hà gì hết. 
Clac, clac, clac, clac, – người ta mở tất cả các ghi-sê. Tôi đến cạnh ghi-sê của tôi, đánh liều dòm ra ngoài, rồi tôi thò đầu ra một chút, và sau đó thò hết cả cái đầu ra ngoài hành lang. Bên phải cũng như bên trái tôi đều trông thấy cả một dãy đầu thò ra. Tôi hiểu ngay ràng hễ ghi-sê được mở thì mọi người đều lập tức thò đầu ra ngoài. Người bên phải nhìn tôi mà mắt tuyệt nhiên không biểu hiện một cảm nghĩ gì. Chắc đã đờ đẫn đi vì thói thủ dâm. Hắn xanh xao phờ phạc, mặt phì ra, gương mặt đần độn, u mê. Người bên trái hỏi tôi rất nhanh: “Bao nhiêu?” 
– Hai năm. 
– Tớ bốn. Mới được một. Tên gì? 
– Papillon. 
– Tớ, Georges, Jojo l’ Auvergnat. Cậu bị ở đâu? 
– Paris, còn cậu? 
Người kia chưa kịp trả lời: suất cà-phê và ổ bánh mì tròn đã được đưa đến cách đấy hai buồng. Hắn thụt đầu vào. Tôi cũng làm như thế. Tôi giơ cái ca ra. Họ rót cà-phê vào rồi đưa một ổ bánh mì tròn. Vì tôi đưa tay ra đón ổ bánh mì hơi chậm, khi cửa ghi-sê sụp xuống thì ổ bánh mì của tôi lăn xuống đất. Không đầy mười lăm phút sau im lặng đã trở lại. Chắc mỗi hành lang phải có một tốp đi phát bữa sáng, chứ không thì không thể nhanh như vậy. Đến giữa trưa có món xúp bỏ một miếng thịt hầm. Buổi chiều, một đĩa đậu ván xào. Cái thực đơn ấy trong suốt hai năm chỉ thay đổi trong bữa ăn chiều: đậu ván, đậu đổ, đậu chiên, đậu đũa, đậu trắng và cơm xào. Bữa trưa thì lúc nào cũng chỉ có thế. 
Cứ mười lăm ngày một lần, chúng tôi thò đầu ra ngoài ghi-sê, và một người tù khổ sai dùng một cái tông-đơ răng dày của thợ cắt tóc để cắt râu cho chúng tôi 
Tôi ở đây đã được ba ngày. Có một điều làm cho tôi bận tâm. ở đảo Royale, các bạn tôi có nói là sẽ gửi thuốc lá và thức ăn cho tôi. Tôi chưa nhận được thứ gì, vả lại tôi cũng băn khoăn không hiểu nổi họ lâm thế nào để có thể thực hiện dược một việc thần kỳ như vậy. 
Cho nên tôi không lấy làm lạ khi không thấy có gì gửi đến. Hút thuốc lá chắc phải rất nguy hiểm, và dù sao đó cũng là thứ xa xỉ. Ăn thì hẳn là chuyện sống còn, vì xoong xúp trong bữa ăn trưa chỉ là một ít nước nóng lều bều vài nhúm rau xanh và một miếng thịt hầm chỉ độ một trăm gam. Buổi chiều chỉ có một đĩa đựng nước xào sền sệt, lưa thưa mấy hạt đậu hay mấy thứ rau quả khô Nói thật, tôi không nghi ngờ ban quản trị cho tù ăn kém bằng nghi ngờ bọn tù nhân chuyên việc nấu ăn hay phân phát thức ăn. Tôi nảy ra cái ý này trong bữa chiều, khi một người tù quê ở Marseille bắt đầu vào đưa thức ăn. Cái muôi của anh ta vục xuống tận đáy thùng, cho nên trong suất của tôi đậu bao giờ cũng nhiều hơn nước. Nếu những người khác đưa bữa ăn chiều thì ngược lại họ chỉ hớt phía trên sau khi ngoáy ngoáy cái muôi một chút. Do đó nhiều nước mà ít đậu. Tình trạng thiếu dinh dưỡng này cực kỳ nguy hiểm. Muốn có đủ sức mạnh tinh thần để giữ vững ý chí, cần phải có ít nhiều sức mạnh thể chất. 
Lúc này người ta đang quét ngoài hành lang. Tôi có cảm giác là người ta quét ở trước buồng giam của tôi hơi lâu quá. Tiếng chổi quẹt mãi vào cánh cưa buồng tôi một cách không bình thường. Tôi nhìn kỹ thì thấy một mẩu giấy trắng thò ra ở phía dưới cánh cửa. Tôi hiểu ngay rằng người ta đã tuồn một cái gì dưới cánh cửa nhưng không thể tuồn vào sâu hơn được. Người ta đợi cho tôi rút mẩu giấy vào rồi mới quét sang chỗ khác. Tôi mở mẩu giấy ra. Có mấy dòng chữ viết bằng mực dạ quang. Tôi đợi cho tên lính gác đi quá rồi đọc vội: “Papi, kể từ mai trong bô của anh mỗi ngày sẽ có năm điếu thuốc lá và một quả dừa. Khi ăn dừa phải nhai thật kỹ thì mới bổ. Nhớ nuốt cả bã. Hút thuốc vào buổi sáng khi họ đổ bô. Không bao giờ được hút sau bữa cà-phê sáng, phải hút trong bữa ăn trưa ngay sau khi ăn, và buổi chiều cũng vậy. Kèm theo đây có một mẩu ruột bút chì. Mỗi khi cần dùng thứ gì, cứ viết vào mẩu giấy kèm theo đây, khi người quét hành lang quệt chổi vào cánh cửa, hãy dùng ngón tay cào vào cửa. Nếu người kia cũng cào lại thì tuồn mẩu giấy ra. Đừng bao giờ tuồn mẩu giấy trước khi hắn cào lại để trả lời anh. Hãy để mẩu giấy vào tai để khỏi rút plan ra, còn mẩu ruột bút chì thì có thể để bất cứ chỗ nào ở chân tường. Can đảm lên. Các bạn hôn anh. Ignace, Louis”. 
Người gửi cho tôi bức thông điệp này là Galgani và Dega. Tôi thấy nghẹn ngào ở cổ và một hơi ấm tràn đầy trong ngực; có được những người bạn trung thành, tận tụy như vậy thật là ấm áp. Và bước đi của tôi: một, hai, ba, bốn, năm, đằng sau quay, càng thêm vững vàng và nhanh nhẹn, với một mềm tin lớn hơn vào tương lai, một niềm tin tưởng chắc chắn rằng mình sẽ còn sống cho đến khi ra khỏi cái phần mộ này. Và tôi vừa đi vừa nghĩ: trong hai con người ấy có bao nhiêu là tình cảm cao thượng, có biết bao nhiêu ý chí muốn làm điều tốt. Chắc chắn là họ đã tự đặt mình vào một tình thế rất nguy hiểm: một người có thể mất chân kế toán, người kia mất chân liên lạc. Việc họ đang làm để giúp tôi thật là vĩ đại, chưa kể là họ phải tốn biết bao nhiêu tiền mới làm được như thế. Họ đã phải mua biết bao nhiêu người để với tay đến tận buồng giam của tôi trên cái đảo Royale “ăn thịt người”. 
Bạn đọc cần hiểu rõ rằng một quả dừa khô chứa rất nhiều dầu trong cái cùi dòn và trắng của nó chỉ cần nạo sáu quả dừa ngâm vào nước nóng thì một ngày sau trên mặt nước có thể vớt được một lít dầu. Thứ dầu này là một chất béo mà với chế độ ăn của chúng tôi người ta rất cần, nó chứa nhiều thứ sinh tố. Mỗi ngày một cái cùi dừa là gần đủ bảo đảm cho sức khỏe. ít nhất người ta cũng không thể lâm vào tình trạng mất nước, cũng không thể chết vì suy dinh dưỡng. Đã hai tháng ròng tôi nhận được tiếp tế về thức ăn và thuốc hút mà không xảy ra chuyện gì cả. Mỗi lần hút thuốc tôi đều đề phòng cẩn thận như người Sioux: tôi nuốt khói vào thật sâu rồi nhả ra từ từ, vừa nhả vừa xòe bàn tay phải ra như cái quạt để xua cho khói tan đi. 
Hôm qua vừa xảy ra một chuyện hơi lạ. Tôi không biết là tôi đã hành động đúng hay sai. Một tên lính gác đi trên đường tuần tra đã chống tay vào thanh vịn nhìn xuống buồng giam tôi. Hắn châm một điếu thuốc, hút vài hơi rồi để nó rơi xuống buồng giam tôi. Sau đó hắn lại đi tuần. Tôi đợi cho hắn trở lại rồi lấy chân chà lên điếu thuốc, sao cho hắn có thể trông thấy rõ. Bước hắn đi hơi ngưng lại một chút, nhưng không lâu: khi đã thấy rõ cử chỉ vừa rồi của tôi, hắn lại đi ngay. Có phải hắn thương hại tôi, hay thấy xấu hổ cho cái ban quán trị của hắn? Hay đây chỉ là một cái bẫy? Tôi không biết cho nên rất băn khoăn. 
Khi người ta khổ, người ta trở nên hết sức nhạy cảm. 
Nếu tên giám thị vừa rồi đã có ý muốn làm một người tốt bụng dù cái ý ấy chỉ được một vài giây, tôi cũng rất lấy làm tiếc vì đã làm hắn phiền lòng với cái cử chỉ khinh miệt của tôi. 
Tôi ở đây thế là đã hơn hai tháng. Cái nhà giam cấm cố này là nhà giam duy nhất mà theo tôi trong đó không có gì có thể học được. Vì không thể có một cách dàn xếp nào hết. Tôi đã luyện tập được rất kỹ cái khả năng phân thân. Tôi có một chiến thuật có hiệu quả chắc chắn. Để đi lang thang giữa các vì sao với một cảm giác hiện thực thật cao, để dễ dàng thấy hiện ra những thời đoạn khác nhau trong dĩ vãng của cuộc đời giang hồ phiêu bạt của tôi hay của thời thơ ấu, hoặc giả để xây những tòa lâu đài ở Tây Ban Nha hiện rõ y như thật, lúc đầu tôi đã phải tốn rất nhiều sức. Tôi phải đi đi lại lại không ngớt mấy giờ đồng hồ liền, không ngồi xuống, không dừng lại, vừa đi vừa nghĩ bình thường về bất cứ vấn đề gì. Rồi đến khi thật mệt mỏi tôi mới nằm lên tấm ván, gối đầu lên một nữa tấm chăn, còn nửa kia thì đắp lên mặt. Bấy giờ làn không khí đã thưa thớt của phòng giam đi vào miệng tôi và mũi tôi một cách khó khăn vì bị tấm chăn lọc một lần nữa. Điều đó nhằm gây ra trong phổi tôi một tình trạng gần như ngạt thở khiến đầu tôi thấy nhức và nóng. 
Trong trạng thái thiếu không khí và ngột ngạt vì nóng bức, tôi đột ngột thấy mình bay bổng lên. Ôi? Những cuộc phi hành của linh hồn ấy đã đem lại cho tôi bao nhiêu là cảm giác khôn tả. Tôi đã có được những đêm ân ái mà cảm giác còn mạnh hơn cả khi tôi được tự do, say sưa hơn, có sức chấn động hơn những cảm giác thật của những đêm ân ái mà tôi đã thực sự trải qua. Phải, cái khả năng du hành trong không gian ấy cho phép tôi ngồi bên cạnh mẹ tôi, người đã chết cách đây mười bảy năm. Tôi mân mê tà áo của người, và người vuốt ve những móc tóc quăn của tôi mà người bắt để rất dài hồi tôi mới năm tuổi, làm như thể tôi là con gái. Tôi vuốt ve mấy ngón tay thon và dài, da mịn như tơ. Người cùng cười với tôi khi thấy nảy ra cái ý muốn gan góc được lao xuống sông như tôi đã thấy những cậu con trai lớn tuổi hơn làm, vào một ngày hai mẹ con đi dạo với nhau. Những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong cách chái tóc của người, niềm thương mến có sức tỏa hào quang của đôi mắt sáng lóng lánh của người, những lời lẽ dịu dàng khó quên của người: “Riri bé bỏng của mẹ, con hãy ngoan, thật ngoan nhé, để mẹ con thương con thật nhiều. ít nữa rồi con cũng sẽ nhảy được xuống nước từ rất cao, rất cao. Còn bây giờ thì con còn bé quá, cục vàng của mẹ ạ Ngày ấy sẽ đến rất nhanh, quá nhanh nữa là khác, cái ngày mà con sẽ thành một chàng trai to khỏe”. 
Và mẹ tôi dắt tay tôi đi dọc bờ sông về nhà Tôi thực sự đang sống trong ngôi nhà của thời thơ ấu của tôi. Thực sự đến nỗi tôi đưa hai tay bịt mắt mẹ tôi để người không đọc được nốt nhạc nhưng vẫn tiếp tục chơi piano cho tôi nghe. Tôi đang ở nhà thật chứ không phải tưởng tượng. Tôi đang ở nhà với mẹ, tôi leo lên một chiếc ghế tựa đặt ở phía sau chiếc ghế quay mẹ tôi đang ngồi, và tôi đưa hai bàn tay nhỏ bé lên bít mắt mẹ tôi thật mạnh, để cho đôi mắt to và hiền của người đừng trông thấy gì. Mấy ngón tay thon nhẹ của người vẫn tiếp tục lướt trên các phím đàn đánh cho tôi nghe bài Nàng quả phụ vui tươi cho đến hết. 
Dù là tên công tố viên vô nhân đạo, hay là những tên cảnh sát mà sự lương thiện đáng cho người ta ngờ vực, hay là Polein, tên khốn kiếp đã chịu mặc cả để mua lấy tự do bằng một lời khai gian dối, hay là mười hai miếng phó-mát đã ngu xuẩn theo đuôi bản cáo trạng và cách thuyết minh sự việc của bên nguyên, hay là những tên lính gác ở nhà giam cấm cố, những cộng tác viên xứng đáng của cái ngục “ăn thịt người”, không có ai, tuyệt đối không có ai, và cũng không có cái gì, kể cả những bức tường dày và cái khoảng cách xa xôi của hòn đảo mất hút giữa Đại tây dương này, tuyệt nhiên không có một cái gì thuộc phạm trù tinh thần hay vật chất có thể ngăn cản nổi những cuộc du hành nhuộm màu hồng tuyệt vời của hạnh phúc khi tôi cất cánh bay bổng lên các vì sao. 
Tôi đã sai lầm: khi tính thời gian phải một mình đối diện với bản thân, tôi chỉ nói đến thời gian bằng đơn vị giờ. 
Đó là một sai lầm. Có những lúc phải đo thời gian bằng đơn vị phút. Chằng hạn, sau buổi phân phát cà-phê và bánh mì là giờ đổ bô – sau đó khoảng một tiếng đồng hồ. Khi người ta trả cái bô sạch tôi sẽ nhận được quả dừa, năm điếu thuốc lá và đôi khi cả một mảnh giấy viết chữ lân tinh. Những lúc ấy – không phải bao giờ cũng thế, nhưng rất nhiều khi như thế – tôi đếm từng phút một. Làm như thế cũng khá dễ dàng vì tôi điều chỉnh thân thể tôi thành một quả lắc, cứ năm bước, lúc quay trở lại, tôi nhẩm đếm: một. Đếm đến mười hai thì được một phút. Có điều là xin các bạn chớ tưởng rằng tôi lo lắng muốn biết rồi mình có được ăn cái cùi dừa, vốn chính là sự sống của tôi, có được hưởng cái thú vô biên là đang ở trong cái hầm mộ này mà lại được hút thuốc mười lần trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ (vì mỗi điếu thuốc lá tôi hút làm hai lần) hay không. 
Không phải thế; vào giờ nhận cà phê, và tuy không có lý do gì đặc biệt, tôi cũng sợ rằng có một việc gì đã xảy ra với những người đang hy sinh sự yên tĩnh của mình để giúp tôi một cách hào phóng như vậy. Cho nên tôi chờ đợi, và đến khi trông thấy quả dừa tôi mới thở phào yên tâm. Quả dừa có đó, như thế có nghĩa là họ vân yên ổn.




Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Phần 8 – Sa ngã

Thắng quay đầu chiếc Taxi, lùì sát phòng hồi sức của bênh viện. nơi ông Gia và cô con gái đang đứng:

-Bác có đỡ đau hơn không?

Ông Gia cười, nụ cười kéo giản đôi môi mõng:

-Cảm ơn cậu, cũng đã khá hơn.

Ông Gia mới dọn về ở cùng con hẻm với Thắng hơn năm nay.

Nhớ ngày ông dọn nhà, chiều hôm sau thì cả xóm xôn xao, anh Hiệp chạy xe ôm bị tai nạn, thấy chị vợ lu loa luống cuống, ông gọi Taxi cùng người báo tin đến nơi bị nạn, xe cấp cứu đã đưa anh Hiệp vào bệnh viên, ông đến bệnh viện, ở đó, bao nhiêu viện phí cho ca cấp cứu ông đóng giúp, khi anh Hiệp ra phòng hồi sức, tỉnh táo, ông mới về. Khi về, ông gọi chị vợ ra hành lang dúi thêm năm trăm ngàn, nói là mua thuốc và sữa. Chị Tha vợ anh Hiệp muốn quỳ xuống mà cảm ơn. Không quỳ sao được khi mà nhà chị chỉ còn sáu chục ngàn cộng với tiền trong túi anh Hiệp nữa là một trăm ba chục ngàn, mà tiền ứng trước của bệnh viên là năm triệu.!

Lâu nay, trừ một vài nhà mua nước bình đễ uống và nấu, còn cả xóm dùng nước giếng bơm, hôi và chua lét ! Ông mua một cái máy lọc lớn, công nghệ nano, vừa lọc sạch vừa khử hết mùi, mua một bình chứa lớn, đặt trước nhà cho cả xóm dùng, ông cũng dùng chung với họ.

Ông thuê nguyên căn nhà cho hai cha con, nó gấp hai, ba lần căn phòng trọ cho cả gia đình Thắng. Cái sân nhà ông nay cũng là nơi để xe cho những nhà chung quanh. Cô con gái làm việc ở một công ty nào đó, sáng đi chiều về bằng xe gắn máy, ông Gia ít khi đi đâu, một tuần lể ông ra khỏi nhà một hai lần, thường là vào chiều chủ nhật, rồi thôi. Ba bức tường chật kín sách, chiếc bàn gỗ, cái máy vi tính và mấy chậu hoa… nuốt hết thời gian của ông.

Cư dân trong xóm quý mến cha con ông, nhưng không ai biết ông từ đâu đến, cuộc đời ông ra sao…dù rất đỗi tò mò! Tháng trước, một cơn đau ở dưới sườn phải, cô con gái đi làm, gặp lúc Thắng về nhà ăn trưa, vừa cởi áo, anh đã vội mặc lại rồi cùng hai người trong xóm đưa ông vào bệnh viên. Bác sĩ chuẩn đoán, sinh thiết và xét nghệm, hai ngày sau có kết quả. Ông  bị Ung thư gan giai đoạn cuối! Cô con gái như muốn ngất đi bên giường bệnh. 

Vừa lái xe, Thắng nhớ lại hôm đứa con trai đầu của anh bị sốt xuất huyết cách nay chừng sáu tháng, là tài xế taxi, nhưng ban đêm thì đỗ xe lại công ty. Chừng ba giờ sáng thì cơn sốt cao quá làm thằng bé lịm đi như đã chết. Chiếc xe Dame đời cũ  không còn xăng, vợ anh nôn nóng bồng con đứng chờ Thắng đạp, mãi không nổ! Ông Gia lặng lẽ đẩy chiếc xe tay ga của con gái đến:

-Cậu đưa cháu đi bằng xe này, để xe đó tôi nhắc vào cho. Cầm thêm cái này phòng hờ…

“Cái này” là bốn tờ giấy bạc năm trăm ngàn mới toanh!

Sáng hôm sau, biết là cô gái đi làm sớm, Thắng tất tả để con lại cho vợ trông, anh chạy về trả xe. Không quên mua thêm lít xăng cho xe của minh:

-Cháu khỏe chưa?

-Dạ hết sốt rồi, đang chuyền thêm nước bác à. Cô đi làm rồi ha bác. Xe…

-Nó đi taxi một bữa củng không sao. Cháu khỏe là tốt rồi…

-Bác cho cháu gởi lại tiền hôm qua, chỉ hạ sốt và chuyền nước nên không tốn kém bao nhiêu.

-Khi nào cháu về nhà rồi tính.

Thế mà hôm nay ông xuất viện với căn bệnh chết người! Cả xóm thở dài, cầu cho ông bằng an.

Thắng qua thăm ông với túi cam, ông Gia không chịu nằm mà vẫn ngồi bên chiếc bàn máy tính! Trông ông xanh và yếu. Gở gọng kính xuống, ông mời Thắng ngồi nơi chiếc ghế bên bàn với nụ cười làm giãn đôi môi mõng:

-Qua thăm tôi là tốt rồi, mua quà làm gì cho tốn kém.

-Da…chỉ mấy quả cam, Bác có thấy khỏe hơn trước khi mổ không ạ.

-Cón đau lâm râm, đã là “căng-xe” thì vấn đề là bao lâu nữa, thời gian thôi cậu Thắng ạ

-Cháu nghe nói có nhiều phương pháp mới…

-Nếu phát hiện sớm thì còn có cơ may, nhưng tôi là giai đoạn tồi tệ rồi! Thôi quên nó đi, Hình như cậu Thắng cũng theo Thiên Chúa Giáo?

Ông Gia vừa hỏi vừa chỉ lên tấm hình Chúa Giê su chịu nạn. mũ gai trên đầu với những giọt máu đọng nơi khuôn mặt đớn đau.

-Dạ, nhà cháu là đạo gốc từ trước khi vào Nam ạ.

-Quê cậu ở đâu ngoài đó?

-Dạ Nam Định ạ.

-Tôi có người bạn cùng khóa, là Linh mục Chánh xứ của một họ đạo ở đó.

-Thế…trước đây Bác có đi nhà dòng?

Một khoảng lặng ập đến, đôi môi mỏng mím lại và đôi mắt sau làn kính sụp xuống. Tránh giây phút im lặng này, Thắng nhìn qua giá sách, nơi những cuốn sách Thần học, Triết học, Văn học dày cộm…Trước đây. Có người anh kế học Đại học văn khoa, dang dở vì phải đăng lính, anh chết sau khi ra trường được hai năm ở Tiểu khu Phong Dinh. Thắng đã đọc khá nhiều những cuốn sách anh để lại, một vài cái tên mà anh quen cũng năm trên các kệ sách ở đây. Tiếng ông Giá như từ đâu đó thật xa, kéo Thắng về với gương mặt trầm tư:

-Tôi đã là Linh mục!

Thắng bất ngờ không nói được gì, anh biết một linh mục đã thụ phong thì Bí tích ấy lớn lao ngần nào!

-Giá như căn bệnh này, hay một tai nạn náo đó, đến với tôi vào lúc đó thì hay biết bao!

Thắng đăm đăm nhìn không nói gì. Một lát, ông Giá hỏi rồi tự nói không đợi Thắng trả lời, ông tiếp:

-Cậu có biết thế nào là sa ngã không? Nó là một lựa chọn xuẩn ngốc, trong giây phút mà lý trí ta không hoàn toàn làm chủ được mình. Sau tám năm làm Linh mục, tôi đã sa ngã như một cậu trai khờ khạo với một phụ nữ.

Thắng hỏi với giọng ngại ngần:

-Một phụ nữ?

-Ừ, gọi là một phụ nữ bởi cô ấy đã mang thai trước khi đến với tôi.

-Thưa bác, chắc là người trong họ đạo của bác?

-Không, cô ấy không là người có đạo, chúng tôi gặp nhau trong một đoàn từ thiện, sau đó cô ấy đến với tôi nơi giáo xứ, tôi đã nói dối với giáo dân đây là cô em họ…Nhục dục đã làm tôi không thể tách khỏi cô ấy…

-Có ai biết không ạ?

-Không, sau cái lần đầu tiên ấy, tôi như mê muội trong đam mê thân xác và sự cuồng nhiệt nhục dục nơi cô ấy…Một tháng sau, tôi tự rời bỏ họ đạo. Cô ấy muốn vượt biên, tôi cũng chỉ có con đường ấy để chọn. Theo cô ấy, Bà rịa –Vũng tàu là nơi tổ chức những chuyến vượt biển khá thành công. Nhưng trước khi thực hiên, tôi trở về gặp Giám mục Địa phận. Ngài thất vọng, nói sau khi nghe tôi xưng tội: “Cha rất tiếc, nhưng thôi, con hãy là một người cha, người chồng tốt. Cha sẽ cầu nguyện cho con”

Tôi về thăm cha mẹ. họ gặp tôi, nghe tôi nói những lời xin lỗi vì đã đi sai con đường mà họ mong ước. Bố mẹ tôi đau đớn lắm, cả hai mất sau đó không lâu. Đám tang Bố tôi có về, nhưng ngày mẹ mất hai tháng sau đó, tôi đang chuẩn bị cho chuyến vượt biên nên không về được!

Những gì ông Gia vừa bày tỏ làm Thắng bàng hoàng. Anh cũng từng nghe chuyện Linh Mục sa ngã vì phải lòng một phụ nữ, thường thì xãy ra ở đâu đó thật xa. Anh khó dấu được sự bất bình, có phần khinh miệt khi nghe ai đó nói về chuyện ấy. Nhưng giờ đây, một người bằng xương bằng thịt, ngay trước mắt mình, đang nói với mình như thú tội giữa một con người với con người. Thật lạ, anh không có ý trách cứ hay bất bình, chỉ là nỗi cảm thông và thương cảm dâng lên trong lòng.

Dường như cũng thấy được sự cảm thông nơi Thắng, ông Gia tiếp:

-Sáu tháng sau thì Cát Trinh ra đời.

-Ai ạ?

-Cát Trinh, con gái đang sống với tôi đó. Vì tôi lấy tên thánh người đỡ đầu, chính là bà mụ ở trạm xá, là Catherina. Tôi phiên âm, rồi lấy họ mình đặt tên cho nó: Trần Thị Cát Trinh. Khi sinh, cháu bị sứt môi và hơi hở hàm ếch!

Thắng nhăn mặt, ngạc nhiên vì cô gái nay khá dễ thương chứ không có dấu hiệu gì về dị tật như ông Gia nói. Đoán được ý nghỉ của Thắng, Ông Gia tiếp:

-Ngay trong bệnh viên, khi biết con mình bị sứt môi, cô ấy khăng khăng đòi bỏ đứa bé, buộc tôi phải đem cho cô nhi viện. Tôi không cam lòng, tôi an ủi cô ấy là sẽ cố gắng chạy chữa cho con sau này, nhưng cô ấy hét to như một kẻ điên:

-Đem nó đi cho khuất mắt tôi, nó có phải con của ông đâu mà ông mà tiếc!

-Tôi lặng đi, nhưng tôi thoáng nghỉ rất nhanh rằng: Con tôi hay không phải cũng chẵng sao, nó phải sống và được nuôi dưỡng, cho dù thế nào. Tôi chỉ nghỉ đến một đều là: Vì cô ấy, tôi đã phản lại lời thề khấn, giờ là hậu quả, có khác gì khi là con tôi hay con một ai đó, đã được hình thành trong thân xác của cô ta!? Hậu quả là một mầm sống và tôi phải đón nhận.

-Rồi cô ấy thế nào thưa Bác?

-Cô ấy là một người kỳ lạ! Tôi không thể không nghỉ đến hình ảnh con rắn khi nói đến cô ta, khác xa những gì tôi cảm mến khi đi làm từ thiên cùng nhau! Kể từ khi sinh Cát Trinh, tôi không cảm thấy chút mến yêu nào khi bên cô ấy, không cả thèm muốn xác thịt, ngược lại, nỗi hối hận càng ngày càng ray rứt và thật lạ, cảng hối hận bao nhiêu tối càng yêu thương Cát Trinh bấy nhiêu.

Thắng gục đầu như thầm cầu nguyện cho ông.

-Cô ấy rủa sã tôi không ngớt vì đứa con, bà mụ ở trạm xá, là hàng xóm và là người săn sóc tự nguyện cho nó. Khi Cát Trinh được bốn tháng, tôi đem cháu về Sài Gòn tìm Bác sĩ hỏi thăm về chuyện vá môi cho cháu. Một người bạn cũng là Linh Mục đã giúp tôi, Bác sĩ sau khi xem, lạc quan cho là chuyện nhỏ, chừng sáu tháng có thể phẫu thuật, rồi theo dõi thôi. Tôi rất mừng, ngoài môi trên bị mất một nữa, toàn bộ gương mặt cháu rất xinh, nhất là đôi mắt và mũi. Tôi trở về, hy vong niềm vui này làm cho cô ấy bớt buồn và có thể có được chút hạnh phúc, nhưng cô ấy không có nhà, hai ngày sau không về, trong lúc tôi đi, cô ấy đã vượt biển cùng tay chủ tàu chuyến trước mà cả hai chúng tôi cùng đi nhưng thất bại. Tôi dững dưng không hề buồn, có cảm giác như vừa trút đi một gánh nặng! Dĩ nhiên là số tiền ít ỏi mà bấy lâu bạn bè giúp đỡ cũng không còn.

Ông Gia lại im lặng như để trấn át cơn đau luôn lâm râm nơi sườn phải, lát sau ông cười như trấn an Thắng:

-Tôi làm thuê cũng đủ cho hai cha con, nhưng còn hai tháng nữa là phẫu thuật rồi, chỉ còn một cách là trở về gặp Giám Mục, tôi hy vọng Ngài sẽ có cách giúp tôi:

-Con hãy luôn cầu nguyện, có lẽ con không biết chị con đã xuất ngoại. Bà ấy gởi lại cho con số tài sản của cha mẹ con đễ lại. Con đến gặp cha quản lý nhé.

-Tôi quá mừng! không cầm được nước mắt, thương bố mẹ. thương người chị duy nhất. tôi trách mình vì mặc cảm tội lỗi mà xa lánh luôn cả chị mình! Tôi mua một miếng đất chừng ba mẫu ở Bà rịa, nó không cho tôi một chút lợi lộc nào lớn, Nhưng Chúa giúp tôi, cách nay chín năm, một công ty Đài Loan mua nó với giá tiền cao ngất ngưỡng mà chỉ nằm mơ mới có được!

Ông Thắng nghỉ một lát như để thở, rồi lại nói tiếp:

-Phẫu thuật cho Cát Trinh không đơn giản, ba lần vẫn chưa hoàn chỉnh được. giọng nói ngọng ngịu làm khổ Cát Trinh. Tôi nghỉ đến chị, lúc này đã đinh cư ở Úc và Cát Trinh đã mười bảy tuổi. Một lần nữa Giám mục đã giúp tôi, qua thư, Ngài giới thiệu cho cơ quan từ thiện Caritas, chị tôi đã bảo lãnh Cát Trinh qua Úc. Bên ấy, cơ quan này giúp hoàn chỉnh cho cháu cả môi, răng và thanh quản. Sáu tháng sau cháu trở về, trước mắt tôi là một thiếu nữ tuyệt vời cậu Thắng ạ.

-Thế bác chuyển về Sài Gòn lúc nào?

-Khi Cát Trinh từ Úc về, hồi bán được đất ở dưới đó, tôi lên mua nhà ở Thủ Đức. để tiện lo cho cháu. Năm ngoái, tôi lại bán căn nhà đó, chuyển tiền vào tài khoản của Cát Trinh, tôi chỉ giữ lại cho mình một ít. Rồi về mướn căn nhà này.

-Bác có biết mẹ Cát Trinh bây giờ ở đâu không?

Ông Gia hơi ngữa người dựa vào thành ghế, có lẽ lai một cơn đau:

-Tám năm nay tôi nuôi bà ấy! Thắng kinh ngạc, nhìn ông Gia:

-Bà ấy vượt biển rồi…

-Không đi được, bị bắt và phải ở trong trại giam bốn tháng. Chừng một tháng sau ngày bé Cát Trinh qua Úc, tôi nhận được tin bà ấy đang ở tại một ngôi chùa ngoài Trung, bị liệt nữa người! Tôi ra đó hai lẩn, lần sau khoảng hai mươi ngày trước khi Cát Trinh về. Không thể ra thăm bà ấy mãi được khi mà Cát Trinh đã đủ trí khôn. Tôi đã nói với Cát Trinh là mẹ đã chết khi nó lên ba. Từ ấy đến nay, không bao giờ nó đề cập đến mẹ. Bà ấy cũng đã năm mươi hai tuổi, bị lẩn, liệt nữa người và mờ mắt vì bị hỏng giác mạc.Tôi đưa bà ấy vào Vũng Tàu, khi về Sài Gòn, tôi cũng sắp xếp cho bà ấy tại Viện Dưỡng lão ở đây, hai tháng tôi đến thăm một lần. Gần đây, bà không còn nhận ra tôi là ai!

Thắng hơi ngập ngừng, hỏi:

-Bác không ghét bà ấy sao?

-Thực tình mà nói thì tôi không ghét, tôi cho rằng tất cả cũng nằm trong hậu quả từ một lầm lỗi của mình. Nhưng nói thương thì thật sự tôi không thấy chút tình cảm nào trong lòng. Tôi làm bổn phận như Giám mục đã dặn tôi …và như thế, tôi cảm thấy bớt ray rứt.

-Cát Trinh, cho đến lúc này vẫn không biết gì?

Ông Gia sửa lại thế ngồi, hơi khom người, hai tay khoanh lên bàn:

-Đây là vấn đề, chính vì đều này mà hôm nay tôi mới thú thật hết với cậu. Nó biết hết, biết tôi không phải là cha của nó, biết mẹ nó đã có ý bỏ nó khi vừa sinh ra. chính bà mụ ở Bà rịa đã nói hết cho nó nghe khi nó lên chín tuổi! Nó biết và im lặng cho đến tối hôm kia, khi tôi nói là mẹ còn sống và đang ở trại dưỡng lão, nếu ba chết thì con cố tiếp tục thay ba chăm cho mẹ. Nó đã nói:

-Kẻ nào dám hy sinh thì nhận được sự hy sinh. Con khước từ trách nhiệm này vì bà ấy đã như vậy với con, bà ấy đã chết! Con chỉ có Ba và ba phải sống, kể cả việc ghép lá gan của con cho ba.

-Cố ấy nói đúng quá!

-Không, đúng nhưng bất nhẫn cậu ạ. Tiếc là nó không hề có ý thay đổi khi tôi cố thuyết phục nó, hãy tha thứ và rộng lượng như kinh thánh dạy: “Hãy yêu kẻ ghét con.” Nhưng nó đã khẩn khoản: “Ba, đừng bắt con phải yêu kẻ con ghét. Con không thể!”

Ông gia cúi đầu thở dài:

-Hình như nó đã xem được câu nói này đâu đó trong những cuốn sách kia!

Im lặng một lát, ông Gia lại nói, rành rọt như đã suy nghỉ nhiều về những gì sắp nói:

-Cát Trinh đã hai mươi lăm tuổi. nó cần sống cuộc đời của nó.Thế nên tôi phải nhờ đến anh.

Thắng giật mình vì không biết ông Gia nhờ đến mình trong việc gì. Anh nhổm người nhin ông với đôi mắt kinh ngạc. Ông Gia đưa bàn tay gầy xanh đặt lên vai anh:

-Nếu hôm nay anh không qua thăm, tôi cũng qua gặp anh. Có lẽ anh không ngại giúp khi tôi nhờ. Thế này anh Thắng ạ: Cát Trinh đang cố gắng lo cho tôi qua Úc, sẽ làm mọi cách chữa trị cho tôi, kể cả việc ghép gan mà nó là người cho nếu bệnh viên thấy phù hợp. Nhưng như tôi đã nói, chỉ kéo dài thời gian sống không cần thiết mà thôi. Hiện dang có một cậu trai đang yêu và muốn kết hôn với nó, hai năm nay rồi. Tôi thấy cậu ta là người tốt, dù nghèo. Tôi hy vọng cậu ta sẽ đem đến hạnh phúc cho nó. Việc hao tốn tiền bạc và thời gian cho tôi lúc này thật vô ích! Ngày mai, cậu cùng tôi đến viện dưỡng lão, Cậu chở bà ấy đến thành phố N… theo địa chỉ tôi ghi nơi bức  thư, đưa cho Ngài, Giám Mục Phanxico, Ông Gia lại thở dài, tôi cũng chỉ còn có Ngài để nhờ vả, có lẽ là lần cuối cùng.

Thắng nhìn ông Gia với đôi mắt buồn đầy thương cảm, cuối cùng anh nói thật nhỏ:

-Cháu sẽ làm theo nguyện vọng của Bác.

Vị khách trẻ đi rồi, xe của trại mồ côi của các soeur dòng Mến Thánh Giá cũng vừa chở người đàn bà khốn khổ ra khỏi khuôn viên Tòa Giám Mục.

Giám mục ngồi gục đầu, nhắm mắt nhớ lại gương mặt của Dominico Trần Hiếu Gia, chủng sinh mà ông kỳ vọng nhiều nhất trong số những chủng sinh năm ấy. Sự hiểu biết sâu sắc về Thần học và Giáo Luật, tính tình vui tươi và linh động trong tổ chức, sinh hoạt tập thể…Hồi đó, còn là Linh mục, ông đã từ chối không nhận làm cha linh hướng cho cậu vì đang là Bề trên chủng viện, nhưng Cha đã rất hài lòng khi chính mình lại là Giám mục Truyền chức thánh cho Gia. Thế mà tám năm sau…

Giám mục mở lá thư đang cầm trên tay, xem lại một lần nữa:

“Kính Gửi Giám Mục.

“Người phụ nữ này là người mà qua cô ấy con đã phụ lòng Giám Mục và phản bội lời thề khấn với thiên chức của mình. Con đã làm cha và làm chồng. nhưng trong hai đều ấy con chỉ làm được một đều là cha tốt -dù rằng đó không hoàn toàn là máu thịt của con- với những gì con có thể. Giờ đây, con xin Ngài cho phép con gởi gắm người phụ nữ này, biết là một gánh nặng cho Ngài và Giáo phận, nhưng đó là cách hay nhất mà con buộc phải cậy trông, bởi con không thể tiếp tục làm bổn phận được.

“Thưa Giám Mục. Con đã một lần chọn lựa và ray rứt hối hận hai mươi bốn năm nay. Lần này con lại phải chọn lựa một lần nữa, phạm vào lề luật Chúa, đó là tự hủy hoại sự sống của mình! Hai chọn lựa này khiến cho con trở thành hoàn toàn bất xứng với ân sũng của Thiên Chúa. Nhưng với Ngài, con vẫn hằng mong Ngài tha thứ…Vĩnh biệt Ngài. Kẻ tội lỗi.”

Giám Mục Phanxico run rẫy bấm chuông gọi Linh Mục phụ tá. Nhưng ngài lập tức nhận ra rằng: Mọi sự đã muộn! Ngài ngước mắt lên cao làm dấu thánh: “Lạy Cha, con luôn tin vào lòng yêu thương và tha thứ nơi Cha là vô cùng, xin Cha thứ tha cho một linh hồn tội lỗi trong thân phận mong manh của con Người mà ngài đã tạo dựng. Amen!”

Sài Gòn 17 tháng 4 năm 2014.

Mùa Phục sinh.

Mùa Xuân đen

baovecovang2012.wordpress.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Phần 8

Chấm và phá

Sau 1975, cờ sao và hình lãnh tụ cộng sảng xuất hiện khắp nước Việt Nam. Cờ là cờ đỏ, sao là sao vàng, còn lãnh tụ chính là Bác. Bản vẽ hình Bác được đảng và nhà nước in màu hoa hoè, hoa sói như tài tử già vai chính trong phim xinê, được cán bộ phân phối kháp hang cùng ngõ hẽm, từ cao nguyên xuống ruộng đồng, từ Kinh lên Thượng.

Trong những buổi học tập ở phường, xã về cách mạng và Bác; người dân, nhất là những gia đình thuộc “gia đình cách mạng” gì đó, được dạy hay bảo phải cung kính Bác như Chúa Phật, phải lộng kiếng trang trọng, phải cho Bác một chỗ ngồi xứng đáng trên bàn thờ, trên tường vách và nếu có tinh thần cách mạng cao thì đuổi Chúa, đuổi Phật, cao tằng cố tổ đi chỗ khác chơi để dành chỗ cho Bác!

Một buổi sáng đẹp trời, xã Phú Lâm, huyện Hàm Thuận, tỉnh Thuận Hải, bỗng xuất hiện một số đồng bào Thưọng mang tùi tập trung trước văn phòng xã, ông bí thư xã và du kích xã thấy chuyện lạ nên ra hỏi chuyện, và họ rất ngạc nhiên khi nghe một cụ già người Thượng lên tiếng:

– Buôn chúng tôi kể từ ngày mấy ông cách mạng bảo chúng tôi thờ cái hình ông này thì bà con trong buôn bản bắt đầu đói kém, thất mùa; chúng tôi mang hình ông này trả lại cho các ông và di chuyển nơi khác trồng trọt kiếm ăn. Thờ hoài ông này thấy không linh, buôn bản đói..!

Lời ông cụ buôn trưởng vừa dứt thì bà con, đồng bào Thượng rút trong gùi ra những khung hình ông Hồ lem luốc trả lại cho xã. Chẳng mấy chốc một đống hình Bác được đồng bào Thượng bỏ nằm lăn lóc một đống trên cái bàn ọp ẹp ngoài mái hiên văn phòng xã. Dường như các cán bộ xã không chuẩn bị cho tình huống này, họ hơi hoảng, và lệnh cho du kích hốt hết hình ông Hồ đem vô trong để đồng bào khỏi thấy.

Đồng bào Thượng lũ lượt quay trở về núi theo con đường lên ga Mương Mắn, lầm lũi, nhẫn nhục, và dường như họ thấy lưng gùi của họ nhẹ hơn sau khi trút được Bác khỏi chiếc gùi . . . Có những đám dân Kinh thành phố cũng không ưa Bác, nhưng “nễ tình” hay sợ mấy tên công an, bực mình nhưng cũng phải “cắn răng” cho Bác ngồi một xó nào đó cạnh bàn thờ hay trên góc vách cho có lệ. Gặp khi các đồng chí vào nhà, phát giác ra cảnh nghịch lý về vị trí chỗ ngồi xập xệ của Bác, thế nào gia chủ cũng có “vấn đề”. Có một ông chủ nhà là “quân ngụy”, gốc Bắc kỳ Công giáo, bị ghi sổ đen, bị lên lớp, bị nạo sát ván:

– Ông hãy nhìn lại mấy người trên bàn thờ nhà ông, có ông, có bà nào có công hơn Bác, vĩ đại hơn Bác hay không mà ông treo hình Bác trong một xó vậy? Việc thờ Bác đúng vị trí hay không, nó cũng là cách biểu lộ tác phong và thái độ chính trị của đồng bào đối với Bác và cách mạng. Tôi yêu cầu ông khẩn trương điều chỉnh gấp ! Vài hôm tôi trở lại thăm ông!

Hắn nói nhiều điều làm như hắn muốn người ta dẹp bàn thờ tổ tiên đi để chỉ thờ Bác, hay ít ra cũng để Bác ngồi chỗ trang trọng ngang với ông Phật, ông Chúa; và nếu không thờ thì phải treo nơi phòng khách ở một vị trí ngon lành cho mọi người dễ thấy, dễ nhìn. Khi hắn ra khỏi nhà, chủ nhà mặt mày xanh lè, lo âu về những bất trắc lơ lững trên trần nhà. Chủ nhà bàn với vợ:

– Không thể để ông Hồ lên bàn thờ Chúa, lên bàn thờ Bố mẹ. Bố mẹ năm xưa đã bị đấu tố chết trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất vì lão, em biết không! Chuyện đau đớn này anh cay tới chết! Thôi thì đem lão ra phòng khách, tạm lựa chỗ cao sang trọng, treo cổ lão trên tường ban ngày, tối ngủ cho thằng chả xuống bếp!

Bà vợ ngạc nhiên, thắc mắc:

– Sao lại xuống nhà bếp! Anh không biết là độ này công an hay xét nhà tìm người lạ cư trú bất hợp pháp hay vượt biên hay sao? Lỡ họ hỏi Bác Hồ đâu thì anh trả lời làm sao? Hay họ ra sau bếp thấy Bác Hồ nằm cạnh nồi cá kho thì có cách chi trả lời cho xuôi?

– Có chứ! Mình cứ nói đem Bác xuống bếp lau chùi mặt kính, sáng mai treo lại trong phòng khách? Em lo chi cho ốm o gầy mòn?

– Ừ! Không ốm đâu! Anh chỉ là trung sĩ mà đi học tập cả mấy tháng, mấy tháng đó anh biết em ốm xuống bao nhiêu ký không? Thôi đi cha! Ngày tù về ốm như cây tăm, như bộ xương biết đi mà không biết sợ!

Thế là anh chồng hạ sĩ quan gốc “Pháo Binh Dù Mũ Đỏ” thương vợ, phải đem ông Hồ ra phòng khách treo lại chỗ cũ cho chắc ăn. Dưới ánh đèn mờ mờ, anh “hạ sĩ quan ngụy quân nhất Pháo nhì Phi”, đối tượng dễ ghét của bộ đội cụ Hồ trong những trận bị pháo binh dập chạy thục mạng khi xưa, dường như thấy Bác nhe răng, cười hài lòng:

– Ừ mày cũng biết sợ? Tốt! Đừng dại nghe con! Tù nghe con!

Thành phố sau 1975 điện cúp dài dài; mưa to cũng cúp điện, trăng sáng cũng cúp điện, nắng trưa cũng cúp điện, muốn cúp là cúp, muốn sáng là sáng. Tại đầu công viên Cộng Hoà của thành phố, nhà nước mới dựng một hình ông Hồ bằng gỗ, sơn mầu sắc lộng lẫy, tay ôm sách, tay giơ cao chào mọi người, mĩm cười xã giao, bên cạnh một trụ cao có cây đèn “neon” rọi ánh sáng vào mặt Bác để nhân dân thấy Bác cả ban ngày lẫn ban đêm. Mỗi khi điện tắt, hình Bác tối thui, nụ cười của Bác biến mất. Thường thì người ta chỉ thấy bàn tay năm ngón và nụ cười của Bác vào sáng hôm sau.

Bàn tay đưa cao chào mọi người của Bác còn đủ năm ngón, mập mạp, không có ngón nào cụt, xứng hợp với gương mặt bành hồng hào, nụ cười cầu tài của Bác được đảng sửa sắc đẹp trình làng cho bà con chiêm ngưỡng; song mấy tên miền Nam phản động thì bảo rằng Bác Hồ đưa 5 ngón tay là Bác hứa các sĩ quan miền Nam tự giác trình diện con cháu Bác thì chỉ ở có 5 năm tù cải tạo. Có đứa lại bảo Bác hứa ai vượt biên bị bắt cũng ở tù 5 năm thôi. Có đứa ngây thơ còn bảo Bác ra dấu rằng thì là “Tao chiếm và ở miền Nam 5 năm thôi”.

Thế nhưng nước sông Mường Mán vẫn chảy qua cầu Quan, mây trắng vẫn bay trên trời Phan Thiết, thời gian vẫn trôi vô tình qua cửa sổ, hình Bác vẫn đứng “hoành tráng, vô tư, tỉnh bơ” ở đầu vườn hoa Cộng Hòa cũ đầu đường Gia Long mà không có đứa nào dám hở môi thắc mắc.

Có lần một tên cán bộ từ Bắc vào, muốn “đóng xi măng” cho chắc những luận điểm tâng bốc Bác lên mây xanh, mây vàng, hắn bảo. . . các đồng chí và đồng bào nên biết, có lần Bác dắt chúng tôi đến thăm đền Đức Trần Hưng Đạo, Bác đã dõng dạc chỉ tay vào Đức Thánh Trần nói một câu đi vào lịch sử rằng “Bác dắt một nước qua nô lệ, tôi dẫn năm châu đến đại đồng? Đại đồng là giải phóng toàn thế giới đặt toàn thể nhân loại dưới sự lãnh đạo tài tình của Bác đấy! Các đồng chí và đồng bào thấy Bác vĩ đại chưa?

Chuyện cúp điện thất thường là chuyện cơm bữa, nhưng có một hôm, cái chuyện bình thường đó nó trở thành bất thường truyền nhanh trong thành phố. Đó là sau một đêm bị cúp điện, sáng ra, thay vì người ta thấy lại bàn tay năm ngón của Bác, nụ cười một ngày như mọi ngày của Bác, thì thay vào đó, lợi dụng đêm tối như mực khi điện bị cúp, một kẻ phản động nào đó đã cột vào bàn tay năm ngón “kiêu sa” của Bác một lá cờ vàng ba sọc đỏ đủ lớn để từ xa, bà con thấy rõ ràng là Bác đang vui vẻ cầm cờ miền Nam mà miệng Bác vẫn tươi cười.

Lá cờ lồng lộng trong gió sớm như một thách thức lạ kỳ . Khắp các ngả đường, bà con trong thành phố không ai dám đến gần, sợ bị nghi ngờ, sợ bị vạ lây, nhưng tập trung từng nhóm đứng xa chỉ chỏ, bàn tán, xì xào rất ư là thích thú…

Khi công an thị xã được báo động về “sự cố” bất thường kinh khiếp này, họ tập trung về công viên thành phố rất đông, nhưng không tên nào dám tới gần chỗ Bác cầm cờ vàng. Đồng bào tụ lại ngày càng đông, nhưng điều ngạc nhiên là đám công an chỉ đứng nhìn và liên lạc nhau qua máy truyền tin một cách có vẻ căng thẳng, nghiêm trọng như để xin và chờ chỉ thị từ một cấp cao nào đó.

Thì ra, nếu đến gần, người ta lại thấy dưới tay Bác cầm cờ lại cột dính một gói nhỏ màu vàng có ghi chữ “bom mìn”.

Cục “bom mìn” được cột chằng chịt vào tay Bác bằng những sợi giây kẽm mà bất cứ ai có gan bằng gan ông Trời cũng không dám mó tới hay tháo gỡ, nếu không muốn ra nghĩa địa sớm với ông bà .

Trong đám công an, người ta cũng nghe họ bàn tán xì xào Có một anh công an gốc Bắc từng vỗ ngực là khi còn trong quân đội, anh ta đã nhiều lần ôm mìn bộc phá, cắt kẽm gai đánh đồn quân “ngụy”, coi cái chết nhẹ tựa lông . . .gà, nhưng lúc này lại án binh bất động nói oang oang:

– ĐM! Mìn nữa mới ác! 30 năm chống Mỹ không chết, nẽ nào nại phải đi đoang vì cục mìn tòn ten dưới tay Bác? Tớ đâu còn ný do để phải ngu mà nhào vô tháo cục mìn!

Dường như tất cả toán công an có mặt tại hiện trường đều có ý nghĩ y như anh sĩ quan công an gốc bộ đội, dù không biết anh ta có thực đã từng ôm mìn cắt kẽm gai trong những trận công đồn trong chiến tranh trước đây hay không, nhưng cuối cùng họ đã đùa của nợ “cờ mìn” qua cho thị đội, mà thị đội thì chưa chuẩn bị “phương án” giải quyết.

Thế là Bác Hồ được quyền cầm cờ vàng ba sọc đỏ tới xế trưa, và thiên hạ ngày càng đông nghẹt các ngả đường, ngỏ hẻm nhìn cảnh Bác cầm cờ miền Nam. Người ta thấy đội công an chữa lửa hú còi chạy tới, nhưng cũng chẳng có tên nào dựng thang chữa lửa cho người leo lên tháo cờ. “Sự cố” này làm cho công an thị xã và tỉnh ủy giận lắm. Cái gì đến thì phải đến, cuối cùng là bí thư tỉnh ủy phóng xe đến hiện trường và ra lệnh:

– Các đồng chí phải hạ cờ “ngụy” bằng mọi giá? Không thể kéo dài, khẩn trương lên!

Lệnh vừa đưa ra, người ta thấy xe chữa lửa chuyển động, giương cầu thang di động đến gần bàn tay Bác cầm cờ. Một tên công an cẩn thận dùng một cây dài thòng giây vào bàn tay Bác, thận trọng, rón rén sợ trái mìn nó nổ bất ngờ. Hắn cẩn thận buông sợi giây dài từ từ xuống đất, rồi từ từ làm hiệu cho xe lui xa. Giây phút căng thẳng, chờ đợi của hàng mấy trăm cặp mắt đổ dồn vào bàn tay Bác. Mặt Bác tỉnh bơ! Lá cờ vàng trong tay Bác vẫn tung bay dưới nắng trưa chói chang, nóng bức khi gió từ biển thổi vào thành phố. . .

Sợi giây sau đó được cột vào càng xe cứu hỏa. Tên sĩ quan công an làm hiệu lệnh, phất tay. Xe bắt đầu de lui, sợi giây cột tay Bác căng dần. Người ta chờ đợi một tiếng mìn hay bom nổ từ cái gói lạ cột theo tay Bác. Thế nhưng, khi bàn tay Bác bị kéo căng, gãy cái rắc, lặt lìa, rơi xuống đất thì chẳng thấy mìn nổ. Thì ra sau khi công an dùng kỷ thuật phá bom mìn phá vở gói nylon, cục mìn chỉ là cục đá vô tri.

Không thấy Bác nói năng gì ngoài những tiếng chửi thề trong đám công an . . .

Ảnh Bác còn đó song mất một tay, và điều này đảng cũng không chấp nhận được, vì Bác cụt tay hồi nào đâu! Ngày Bác chết Bác còn hai tay mà! Vì thế, ngay chiều hôm đó, nhân công được đưa tới tháo dàn gỗ, hạ ảnh Bác nằm xuống đất Bác nằm xuống với cánh tay gãy. Người lớn bị đuổi đi chỗ khác chơi, nhưng mấy đám con nít thì bu lại rất đông, chỉ chỏ, cười hô hố: “Bác Hồ cụt tay! Bác Hồ cụt tay!”. Bác nằm đó một tí là được xe truck mang đi ngay, nhưng không thấy mang Bác vào nhà thương đăng bột!

Để trống dàn gỗ nơi ảnh Bác bị tháo xuống là thua mấy thằng phản động, nên hôm sau, nhà nước ta cho dựng một bản gỗ lớn thế chỗ ảnh Bác bị tháo đi. Tấm bảng mới mang dòng chữ lớn đậm nét như sau: ” Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại muôn năm!”

Suốt tuần lễ đầu sau khi bảng hiệu “Bác muôn năm” được dựng lên, công an chìm, nổi cứ lảng vảng ngày đêm nơi công viên, chắc có lẽ để rình xem có tên phản động nào cả gan dám giỡn mặt Bác nữa hay không. Chả có gì nghi ngờ xẩy ra, công an gác hoài cũng mệt, cũng nản. Vã lại, không còn ảnh Bác, không còn bàn tay năm ngón của Bác thì lấy chi bọn phản động cột cờ vào tay bắt Bác cầm. Dần dà thì công an cũng biến mất, chả thấy gác xách gì. Câu chuyện Bác cầm cờ vàng ba sọc đỏ cũng lắng chìm đi . . .

Rồi cũng lại những đêm cúp điện, những sáng thức dậy đi ngang công viên, bảng hiệu “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại muôn năm” vẫn còn đó. Sinh hoạt trong thành phố bình thường như mọi ngày. Nhưng không!

Đến một hôm, thành phố xôn xao trở lại. Thì ra, khi mặt trời bắt đầu lên, rọi rõ từng con đường, từng ngỏ ngách trong thành phố, sau một đêm mất điện, người ta bỗng phát giác có một sự thay đổi thật kỳ diệu trên tấm bản gỗ mà nếu Bác có tái sinh, chắc Bác có thể bị “heart attack” lăn quay ra chết, không kịp chui vô mồ trở lại. “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại muôn năm” mới hôm qua nay đã trở thành “Chủ tịch Hồ Chí Minh vì đái muốn nằm” sáng nay.

Đồng bào qua đường lại trầm trồ, chỉ chỏ, bàn tán về hàng chữ trên bảng hiệu biến mất cái nghĩa mà đảng và nhà nước trân trọng muốn người dân ghi lòng tạc dạ ơn Bác, thì nay lại thành cái nghĩa tầm thường, khôi hài, mang tính phản động. Hoá ra lợi dụng đêm tối tắt điện, một hay vài kẻ phản động nào đó đã bôi một dấu ngã (~), đồ mực thành dấu huyền ( `), xoá một dấu nặng ( . ) thêm một dấu sắc ( ‘ ), thêm một dấu sắc ( ‘ ), thêm một dấu huyền ( `) trong hàng chữ trên bảng để câu đảng và nhà nước trân quý thành ra một câu gần như muốn chọc quên Bác, chử cha nhà cầm quyền! Nhà nước ta như bị bò đá trúng … dế!

Chỉ có 4 nét chấm phá, thêm bớt đó mà “Bác Hồ” từ trên cao đã nhào xuống đất. Đảng và nhà nước ta đâu phải gỗ đá mà không tức điên người. Tội của tên phản động này giỡn mặt nhà nước, và chữ nghĩa kiểu này nghìn kí lô nặng hơn tội phạm húy thời xưa trong quan trường thi cửa; và nếu như chơi trong ngày đầu đảng còn say men chiến thắng, coi càn khôn vũ trụ như hạt cát ngoài bờ biển Thương Chánh.

Bảng biểu ngữ đổi nghĩa thành “Chủ tịch Hồ Chí Minh vì đái muốn nằm” sau đó cũng được nhà nước ta tức tốc đem đi mất tiêu.