Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 7 Nov 2025

Chương 1

Tôi Biết Gì Về Sài Gòn (Nay Là Thành Phố Hồ Chí Minh)
Từ 1919 Cho Đến Nay (viết từ 13-6-1990, nhớ tới đâu, viết tới đó)

Tôi sanh năm 1902 (Nhâm Dần) tại Sốc Trăng.
Mồ côi mẹ từ năm Quí sửu 1913, tuổi vừa mười một, năm mười hai tuổi (1914), cậu tôi ở làng Xoài Cả Nả, châu thành, nhơn dịp bãi trường lớn, bắt tôi về làng Thổ cạo sạch đầu và cạo luôn chưn mày trơn tru và đưa vô chùa Xà Lôn, cho mặc áo vàng làm sãi con, tu tắt hai mươi bốn giờ, đúng một Ngọ, gọi báo hiếu cho mẹ. Tôi nào thuộc một câu kinh Khơ Me, nhưng quì trước bàn Phật, bên tả là cậu tôi, quì kế bên và nhắc tôi lặp lại những gì ông lục cả, quì bên hữu tôi, và lâm râm đọc thuộc lòng, những câu kinh vái Phật, và tôi nhái lại y hệt và một lòng kính cẩn:

“Na mô tê-séa thăng cà-oanh choh” (ngày nay tôi còn nhớ bao nhiêu đó, và cũng không chắc là đúng như lúc đó đã nghe và lặp lại, nhưng điều tôi dám quả quyết là tấm lòng thành của tôi và lối tu tắt gọn gàng của tuổi thơ trong sạch ấy, ắt đã giúp vong hồn mẹ tôi được siêu thăng từ lâu rồi. Nam mô.
Cho tới năm mười sáu, mười bảy tuổi, tôi sống hủ hỉ với Ba tôi và một ông già, làm việc nội trợ, tên Lê Văn Đồ, trước có đi lính đánh Tây cho triều đình ta, thường gọi “ông Sáu”, ông quán xuyến, bao gồm hết thảy công việc trong nhà, vừa nấu bếp, vừa quét mương, mương nhà trước, mương nhà sau, vừa quét luôn mương một dọc nhà phố lối xóm, mỗi căn trả cho ông mỗi tháng là hai cắc bạc, riêng Ba tôi trả cho ông trọn năm là bốn mươi lăm đồng bạc lớn (45$00), ông Sáu, tôi không nghe ông mua sắm gì, chỉ thấy quanh năm, ông làm lụng không hở tay, không biết mệt, đi chợ sớm và trưa hai buổi, tiền chợ mỗi ngày ba cắc bạc, mà có gà có vịt, nấu ăn vừa miệng, mình ông có lác, nhưng ông ở ăn thật sạch, ông tắm mỗi lần kì lưng, ông lấy dây dừa thùng nước ông cọ nghe sồn sột, hỏi ông có đã ngứa không, ông nhe mồm, hai nướu không còn một răng nào, thế mà ông vẫn nhai mía cây, trồng cà trồng ớt, quanh năm dư dùng, nhà gần hết gạo ăn, thì ông lấy đệm ra trải, lấy lúa trong bồ ra phơi, lúa khô, ông lấy cối đất ra xay, lấy quạt gió ra vê bụi, đổ gạo lứt vào cối mù u sắm sẵn, ông giã nghe rất giòn giã đều tay, gạo sạch, ông dọn dẹp, trút gạo vào lu mái dầm, tôi thèm mì, ông xách tô đi mua, ông làm xăn cà đun trọn ngày cho đến tối mịt, ông leo lên gác đặt sát mái ngồi nhà sau, ông đánh một giác thẳng thét ngon lành, không bao giờ gặp hay thấy ông tuột thang xuống đi tiểu suốt đêm nẩy đêm nợ, nhưng khi chuông nhà thờ từ đàng xa báo tin buổi kinh sớm, thì đã thấy có mặt ông nơi bếp lui cui nấu nước pha trà, mãi cho đến năm 1917, thấy tuổi ông quá cao, Ba tôi cho ông nghỉ việc, tôi không thấy ông phiển hà ra tiếng, ông dọn tất cả nồi ơ trách hũ, ông sắm hồi nào không hay, nay ông dọn về chấi sau nơi đình thờ Quan Đế, rồi ngày qua ngày ông xách gây xuống chợ, lại những nhà quen, nhờ miếng cơm xu tiền, tội nghiệp và thương hại vậy thay, ông nào biết kêu nài theo luật lao động, ông nào biết đòi tiền thôi việc, ngày nào còn ở là có cơm chủ, nơi đình, mấy năm tôi ở Sài Gòn về Sốc Trăng thăm nhà, tôi vẫn thấy ông Sáu, khỏe mạnh như lúc tôi còn nhờ ông xách nước cho tắm, mua mì cho ăn, và khi tôi biểu ông khi hai khi ba đồng bạc, ông mừng ra mặt, cặp mắt ông sáng ngời, và mãi về sau, ông Sáu mất hồi nào tôi không hay biết, có lẽ hơn chín chục có dư, hoan hô người lão bộc lính đàng cựu, bạn cao niên của tôi, trung thành, lín miệng, sống lam lụ và ra đi êm như khúc nhạc không lời, hoan hô ông Sáu Đồ, tôi khóc ông mà ông nào mấy biết!
Năm 1917, tôi mười bảy tuổi ta, mười lăm tuổi trong khai sanh, phải lên Cẩn Thơ thi chung kỳ thi “xẹt” với sĩ tử tỉnh Bạc Liêu, Sốc Trăng và Cần Thơ dồn chung lại, độ hai trăm trở, gặp một giáo sư Tây chính cống làm giám khảo, lần đầu tiên tôi nghe Tây thiệt đọc “dictée” mà đít tê như bị thẩy quất rơi mây như búa bổ, từ trước chỉ quen nghe thầy Việt đọc tiếng Tây, nay nghe Tây thứ thiệt đọc bài ám cả, đúng là “như vịt nghe sấm”, cái câu nguyên văn “lorsqu’ un vent de décembre” (khi một luồng gió tháng 12), tôi điếc con ráy và ghi lại trên giấy “lorsq’ un vent deceendre…” (khi một luồng gió xuống..), gió xuống đâu tôi nào biết, chỉ biết tôi thi rớt năm ấy, chỉ nhớ xíu mại quán cà phe ở Cần Thơ ngon hơn xíu mại ở tỉnh nhà… và các chi tiết ăn xài buổi đi xa khỏi ba căn nhà của Ba tôi năm ấy là tiền tàu từ Sốc Trăng lên Cần Thơ, chưa tới một đồng bạc (1$00), ở phòng ngủ và tiền ăn không tới mười đồng và số tiền năm chục đồng (50$00) Ba tôi căn dặn nếu phải lo lớt để thi đỗ… tôi vẫn đem về trả lại Ba tôi, và nay hãnh diện vẫn còn.
Chuyến lên Cần Thơ, tuy thi rớt, nhưng đã sạch nước cảng, cơ khổ, từ nhỏ chí 1917, tôi nào bước xa hơn ngôi nhà ba căn trệt của Ba tôi ở đường Đại Ngãi nay gọi đường Hai Bà Trưng, sau tôi nghe Ba tôi thuật lại, năm 1901, Ba tôi đưa mẹ tới lên Sải Gòn, tôi quên hỏi đi bằng cách nào, có lẽ phải đi nhờ trên ghe chài chờ lúa, đặt bến tại Bãi Xàu, từ đó lên tới Chợ Lớn, phải suốt bốn năm ngày, hoặc cả tuần nhựt, cam go nhiều nổi, và chuyến về, mẹ tôi sắm được một quả xách mây sơn dầu, nay tôi còn giữ trên bàn thờ, và khi ghé Vĩnh Long. Ba tôi đặt thợ mộc có danh, làm cho bộ ghế trường kỷ làung gỗ trác, nay tôi còn giữ làm kỷ niệm nơi sân trong, nhà ở Gia Định, như vậy bộ ghế nằy trộng hơn tôi một cuổi, và lên nước đen mun, bóng ngời như sừng trâi không khác.
Đến lượt tôi, cho đến năm 1923, từ Sốc Trăng, muốn lên Sài Gòn, phải dùng tàu thủy, chạy đường Sốc Trăng – Mỹ Tho và từ Mỹ Tho lên chợ Bến Thành, phải sang tàu hỏa Mỹ – Sài Gòn, khách từ Bạc Liêu muốn viếng Sài Gòn, lại phải đi tàu từ Bạc Liêu, lên Sốc Trăng, sẽ sang qua tàu xà lúp (chaloupe) mang tên chim dưới nước Pélican (con Thằng Bè), Sarcelle (con le le), chủ tàu là Jules Rueff, vồn là một lính Lê dương, có sáng kiến lên bờ, sắm tầu đưa khách khắp miệt Hậu Giang lên đến Nam Vang, làm quen thân và bán đồng hồ bỏ túi (Bắc gọi là đồng hồ quá quít) cho vua Miên là đức Norodom, phát tài và lập hãng tàu gọi Messageries Fluviales (công ty vận tống đường sông rạch) gần đối chiếu, tuy kém xa, công ty hải cục gọi Messagerie Maritime của Pháp. Người nào thích ngắm cảnh du hủy ngạo đồng bằng thì đi tầu, người nào thích ngồi xe đồ xe hơi tuy rêm mông tê gân mời xương và cũng không mau lẹ bơn tàu, thì đi xe cami ông nhưng phải đợi lối 1920- 1921 mới có một thợ máy tên là Nguyễn Văn Lưu, ngoài gọi ông Ba Nuế, sắm xe Delahaye hay gì gì đó, xe chờ độ hai chục người, từ Sốc Trăng lên Cần Thơ, phải dùng đô kéo tay đưa qua sông ở Phụng Hiệp, đường trải đá ong và hẹp, xe chạy nhánh sậy nhánh cây mé đường quất vào mặt, còn tàu xà lúp đi ngang rừng tràm Phụng Hiệp (Ngã Bảy) thì muỗi trong rừng bay ra muôn thiên vạn ức, con muối vàng khè, chưa biết và chưa từng nếm máu người, có người phóng đại thêm, rằng muỗi Ngã Bảy lớn hơn con gà mái, muối rừng bay ra, băm vào da người, chỗ nào trống, muỗi chun lòn vào miệng, khi đang nổi, chun vào tai, bay vào mắt, không cần đập, chí vuốt sơ cũng đủ được cả trăm.

Theo đường thủy.

Cho đến quãng những năm 1920-1923, tàu Xà Lúp chạy đường nước lên xướng Mỹ Tho-Sốc Trăng vẫn chạy theo các nơn này. Tôi lấy tỷ dụ cho dễ hiểu, bắt dầu từ Sốc Trăng chạy lên Mỹ Tho:

Chiếc xà lúp Péli can hay Sarcelle, từ Cần Thơ đi xuống theo kinh Phụng Hiệp, lối gần giờ tý thì tầu qua khỏi cầu quây, chạy tới một đỗi, kéo cời súp lê một hơi dài, quầy đầu cặp bên (gọi cầu tàu) cho hành khách lên, nội chợ tộn rịp, xe kéo tay lo chờ bộ hiển từ nhà riêng, từ phòng ngủ, khách sạn xuống tầu, giành chỗ nằm, lối một giờ khuya, tàu lại súp lê ba tiềng và lui bền, độ hơn một giờ sau, thì viên cò tàu đi bán vé, có người xách đèn lồng theo rọi, trong sổ tay còn ghi kỹ, 280 tiền tàu từ Sốc Trăng đến bến Mỹ Tho, thêm 0$50 tiền mướn ghề bồ, tiện tặn thì mướn võng 0$30, hoặc chiều 0$20, thêm một bữa cơm buổi trưa, sang thì một dĩa cơm gà (0550), còn dĩ hà nhứt thể, ai như ai, thì sẵn cơm đãi bộ hành của tàu, không tính tiền, vẫn vĩ vèo và ngon lành, nhưng vẫn ít ai dùng, vì mãi giữ thể diện gàn… Tàu chạy thầm, hai bờ kinh tối thui, ghé Phụng Hiệp chào muỗi, độ gần sáng tầu tới bến Cần Thơ, ghé đồn bộ hành, rồi qua bên kia sông lấy đủ củi cần dùng, và thẳng đường lên Mỹ Tho qua các ngả: Cái Nhum, kinh Chợ Gạo, tầu tới bến Mỹ Thơ, lại súp lê vội vàng, và cùng một lúc chiếc xe lửa cũng súp lê trả lời, lại rộn rịp ra khỏi tàu, mượn phu xe hoặc ban bù (bambou) là người khiêng gánh, họ tành nghề mua vé xe lửa giú p tiền vé xe là 0$90, nhưng còn tiền xe kéo, tiền ban bù v.v.., phí tổn, chưa tới nửa đồng (0$50) nhưng tiền lúc đó cao giá, đếm từ đồng xu, đồng cắt, và đồng bạc là đồng bạc, nhưng đi tâu theo đường thủy, vừa thành thơi, xước mía cây, ăn bắp luộc nguyên trái, quít, cam, chuối, thảy đều rẻ rẻ, giớp no bụng, lại còn thích thú ngoạn cảnh, nhìn cỏ cây đồng ruộng bao la, Chợ Lách, sông rộng Hậu Giang,

Tiền Giang, …

Theo đường bộ

Những cảnh nhàn, thong dong như vậy, không đổi được cảnh đi đường bộ, từ châu thành đi Sốc Trăng, ngồi xe camiông ghế có ruột gà nhồi êm bàn mông, tê chưn, nhức mình đâu sá kể, mặc đầu đi đường thủy, ít nguy hiểm, chỉ nghe một lần tàu Đồng Sanh của hãng chệc, chìm trước bến Mỹ Tho, giữa Sông Cái, và mặc dầu đi đường bộ, nguy hiểm nhiều, xe đụng nhau, xe lạt bốn bánh dờm trời, xe đô và xe lửa hun đít nhau nơi khúc quanh An Lạc, và con đường lộ tông An Hữu /Cái Thia ở Mỹ Tho (nay đã thay cầu kiên cố và lớn hơn), kỳ dư hai chiếc phà Cần Thơ và Vĩnh Long, vẫn chở không được nhiều xe mỗi chuyến sang sông, ngoài ra cầu sắt xe lửa ở Tân An, vẫn không cho xe đô qua vì sợ sập cầu, (phải dùng phà kéo tay sang sông), chiếc xe hỏa mang tên Le Myre de Vilers, sức yếu, leo dốc cầu Tân An vẫn tuột dốc, hè hụi đôi lượt mới qua được, tuy cực khổ, mất thì giờ, không thấy mau hơn đi tàu thủy bao nhiêu, nhưng thời gian tầu xà lúp đã chấm dứt, xe đô hãng Việt, hãng khách tranh nhau chạy, và xe hơi và ét xăng đã thay xà lúp và nồi sốt de (chaudière) kia rồi. Từ Nhựt chiếm rồi Nhựt lui, Tây chạy rồi Tây trở lại, Sốc Trăng và Sài Gòn liên lạc nhau bằng máy bay trẻ nít (bébé- avion hãng Cossara) (1947 trở về sau) bay được ít năm rồi đẹp luôn, đường xe hỏa Mỹ Tho / Sài Gòn cũng phá bỏ, xe đò trở lại làm bá chủ, rồi nhường đường cho xe nhỏ, phế bưng thay đổi gẫm lại tức cười, trong số bộ hành dùng đường bộ, có nhiều Miên Thổ, chưa từng thấy Sông Cái, khi từ Sốc Trăng lên tới Cần Thơ, ban đầu bền đò qua sông vẫn sát dinh quan bố, người Miên xuống xe ra nhìn, thấy sông rộng, sống lớn, lật đật bỏ cuộc, không sang sông và tìm cách trở về làng, vì dưới mắt ngây thơ Khơ me, sông rộng như biển, nước nhiều quá, không tin xe qua được, thà trở về tốt hơn.

Luật thay đổi tuần hoàn tiển hóa là như vậy, tôi từ nhà quê, lột lớp, trở nên dân thị thành, đã sạch phèn, cũng như bao nhiêu cô bác bà cơn, thay nhau, từ đảo chính 1945/46 cho đến nay, dân sốc, dân làng, chạy ra ở chợ, dân chợ các tỉnh đổi chỗ lên sinh sống chợ đen chợ đó ở Chợ Lớn, ở chợ Bên Thành, và người có phương thê ở đây, kể bay người đeo ghe càu trốn ra nước ngoài, kẻ mất vì nạn cướp biến, kẻ may phước nghí ngố đất lạ, nhớ nhà, người nào còn lại ở đây, đèn nhà ai nấy sáng, và đâu đâu đều khổ: thay vợ đổi chồng, cha cơn không nói chuyện với nhau, chung qui cũng vì đồng tiền giấy tuy mắt giá trị, nhưng vẫn gọi là “đồng”, tiền đồng luân chuyến và làm thay đối nhơn tâm là thê ây. Xưa gọi “thiên kim” nay đổi, gọi triệu rồi tỷ, giành giành giựt giựt, thì cũng là mầy, đồng giấy thay đồng tròn, vẫn lăn, trong xã hội ba đào, tiết liệt, trung trinh… đều qua qua lại lại và vẫn là tờ giấy lộn! Bạc ôi là bạc!

Từ Sài Gòn, Trở Nên Thành Phố Hồ Chí Minh, Trải Qua Bảy Chục Năm, Từ 1919… Cho Đến Hiện Tại 1990 (viết từ 15-6-1990)

Tôi chưa phải sanh đẻ tại Sài Gòn, nhưng tôi có duyên phần và thình thoảng đã sanh sống tại đất nẩy ngót ba phần tư thể kỷ, và chưa biết ngày nào sẽ phủi tay ra đi theo ông theo bà, nay đã chồn chân chán nản, vậy xin thuật lại đây theo chỗ mắt thấy tai nghe, khi hiện diện, khi vắng mặt, tuy vắng ăn vắng ở nhưng dám đâu vắng cách tấm lòng mến mộ đất nước cha ông. Tôi xin thuậc theo cách không thêm không bớt, thấy sao nói vậy, để cho người đọc, tự suy gấm mà rút tỉa cảm nghĩ riêng của mọi người. Cảm tưởng của tôi đổi thay như vầy:

Sài Gòn dưới mắt tôi, năm 1919

Đây là năm đầu, tôi tiếp xúc với châu thành hoa lệ, bấy lâu đọc trong vài sách báo Pháp, vẫn khoe là “hòn ngọc trân châu của vùng đông Nam Á”. Cảm tưởng của tôi là hơi hơi thất vọng. “Chỉ có như vầy, hay sao?”

Tôi bước theo gót Ba tôi, mà lòng tức tức. Ba tôi còn để tóc bới, tay xách một va l mây đan, vuông vuông giẹp giọp, tôi ngó chiếc va li mà bụng hổ thẩm, nay biết rõ, Bác Hồ từ Trung Quốc về, cũng một xách tay mây y một thứ, và chớ chi sớm biết thì không mắc tội bắt kính này. Tôi dặn nhỏ Ba tôi đừng dùng tiếng Tiều tiếng Quảng, vì phong trào theo báo dạy, nên dùng đồ nội hóa, nhưng chưa có quán cơm của đồng bào ta, buộc lòng phải vào tiệm Tàu ở dãy phố ba từng lầu ngang chợ Bến Thành, cha con ngồi bàn an bài, tên phổ ky bước lại, nghe Ba tôi dặn, đoạn nó bước lại cửa thang lầu, từ trên hô lớn: “Lưỡng cơ dành, một đĩa gà luộc (giá một cắc), một dĩa vịt quay (0$10), một dĩa cua xào giấm (0$35), một tô canh câu ký (0$10), bốn xu rượu trắng và bốn chén cơm (0$04), hàm bà lần, khách xuống sẽ tính sau…’, chung quy với 0$47, thêm hai trái chuối la sết, cộng lại là bốn cắc chín xu, chưa đầy nửa đồng bạc trờn, mà cha con đều no bụng ngon lành, duy trong bụng tôi vẫn chưa bằng lòng vì vẫn suy nghĩ: tiệm cơm này tuy rộng lớn, nhưng cách nấu nướng, có hơn gì tiệm chú Xi ở Sốc Trăng, phố lầu mới toanh, ba từng rõ ràng, nhưng chưa xứng danh “sám xưởng lều” (tam từng lầu) riêng dành cho nhà thuế trước bạ đặc tại đường Catinat (nay Đồng Khởi) thường gọi “Sở bách phần” đời thuộc Pháp.

Tôi khuyên Ba tôi đừng lựa khách sạn của Tàu, cũng đừng đến các nhà ngủ ồn ào đường Amiral Courber (nay Nguyễn An Ninh) và tìm đến nhà “Lương Hữu” nơi đường Carabelli (sau Nguyễn Thiếp) phòng sạch, giá bến đồng bạc (4$00) tuy khá cao, nhưng tránh được gái giang hồ, và mùng tàng ong trắng buốt, vải trái trên nệm không đốm dơ, giường đồng Hồng Kông có ruột gà nhún lên nhún xuống rất êm lưng, tuy phòng tắm vẫn xài chung đặt nơi một chỗ riêng, và cầu tiêu tiểu, vẫn là thùng bằng thiếc lớn, mỗi đêm giờ khuya, có xe bò đến thay thùng khác, gọi là “đổ thùng” và tục đồ thùng nầy lưu lại rất lâu, đến năm 1947, vẫn còn, năm ấy, tôi chạy lên đây, tá túc nhà quen ở đường Carros (sau là Thủ Khoa Huân), lúc đó sở đồ phân ngưng hoạt động, và sáng tôi phải thay y phục, cuốc bộ đến hầu hạ chờ lâu lắc nơi dãy cầu công cộng ở Chợ Bến Thành, mới trút xong bầu tâm sự. Sau những năm mất trật tự ấy, mới có đặt cầu tiêu hầm cho mỗi nhà và cho đến ngày nay, những xóm xa xôi, vấn đề nước ăn và cầu phóng uế vẫn còn chưa giải quyết ổn thóa. Tiến bộ chỗ nào?

Trở lại, năm 1919, Ba tôi sáng ngày dắt tôi đến trường trung học Tây Chasseloup Laubat, đóng tiền cho tôi nhập học xong rồi Ba tôi trở về Sốc Trăng để cho tôi một số bạc tiền túi rất lớn là non hơn một trăm đồng bạc lớn ($100), nhưng khi tôi mua sắm đầy đủ vật dụng (chiếu Nhựt bổn, mền vải trắng, phấn chà răng, ống khóa khóa tủ (tủ trên lầu ngủ và nơi phòng học (nay tôi còn giữ một ổ khóa giá mua 2$00 mà nay còn bền chắc) thì trong cái chỉ còn độ mười đồng, nhưng tôi lúc ấy như ngựa con được sút chuồng, được tự do là đủ quí.

Năm 1921, Ba tôi còn trở lên Sài Gòn, vì năm ấy bạn chúng tôi bỏ trường làm reo (grève) chống đối viên giám mục Thomas nhận tiền lo lốt, cho học trò trường tư Nguyễn Xích Hồng Taberd, v.v.., học chưa đúng sức mà nhận cho vào học chung với chúng tôi, làm mất thì giờ, vả lại các lớp lớn, cỡ Dương Bạch Mai, đã có ý làm cách mạng tuy chưa lộ liễu lắm, và Mai, Hanh, Tự mạnh dạn cầm đầu cuộc biểu tình đầu tiên ấy, viện có trường cho ăn quá cực, và trong lớp “Năm thứ 2” vẫn có mặt Hồ Văn Ngà, Trần Văn Thạch… cũng năm 1920/21 đó có phong trào “tẩy chay si noa (chinois) và không mua hàng Bombay vì Chà Chệc ăn ở bất xứng hiếp đáp, bóc lột, ăn gian, ăn bòn, cũng từ đây, đồng bào sáng mắt, tự đứng ra lập nhà buôn cạnh tranh với ngoại kiều, nhà François Sự ở góc Catinat và Dormay, buôn kim cương, nhà Nguyễn Đức Nhuận ở Chợ Cá, bán tạp hóa (bazar), nhà Nguyễn Văn Trận, con rể là Triệu Văn Yên đọn hai căn ở đường Bonard, bán tranh Thụy Sĩ, xà bông Cadum, son phấn Coty, hàng xiêm, hàng Tây, nhà Nguyễn Khắc Nương làm bánh ngọt, bán nước mắm Hòn đường Lagrandière, nhà Trần Quang Nghiêm lập Lực tỉnh khách lầu và bán đèn ết săng có măng sông, đường d’Espagne, nhà in Phát Toán, nhà đồng và bán sách ]. Viết, báo chí năm 1920- 1921, có Hồ Văn Lan, xướng tẩy chay, miệng la lớn để thò tay nhận của đút trấm họng của Chệc Chợ Lớn và Chà bán vải Chợ Cũ, phải đợi đến khi có tờ báo Đông Pháp I thời báo của Diệp Văn Kỳ, tờ La Cloche Fêlée (chuông tẻ) của Nguyễn An Ninh, mới có thể gọi báo có lương tâm, biết trách nhiệm…

Tôi đã nói như ngựa cơn sút chuồng không khác, nhưng tánh hư đã manh nha từ bé. Tuy cơn nhà thợ, nhưng bọc đời cứng đầu cứng cổ, không phục Tây nhưng số kiếp làm mọi cho Pháp suốt hai chục năm trường, từ buổi học trường trong cho đến khi thi đậu ra làm thơ ký, tôi gia tâm tìm hiểu về thành phố và gốc tích lịch sử đất đai và từ thưở ấy cho đến nay, bất bình vẫn là bất bình, Sài Gòn nào trong giấc chiêm bao và trong óc tưởng tượng là đẹp đẽ làm sao, nhưng Sài Gòn như mắt thấy vẫn là tè xấu xí.

Năm 1919, chợ Bến Thành, Chệc lũ khũ, vất vợ trong phố, tay cẩm ống điếu tre dài, miệng hút thuốc Tàu phì phà, đứa ở trần bày bụng như thùng nước lèo, đứa đứng chặt thịt quay, băm thịt xá xíu, rún che tạm một miếng vải dơ lời ngực lông lá xồm xàm, bọc quanh miếng đất trống, là nơi trước có cái chợ ngồi quá hẹp đã bị hạ bệ, dời chợ qua nơi gọi Bến Thành ngày nay, giữa sân cỏ trống chợ cũ ấy là ba hình đồng của Gambetta, lùn xịt, đứng trên bệ cao, mập ú, hai bên bệ là một lính thủy và một lính bộ, tay cầm súng dài, ba hình ấy, biết chạy, chạy từ Chợ Cô ra mé sau nhà thờ, có một lúc xưng là Vương cung thánh đường, rồi mỏi chưn, xê qua khu đất trống trồng cây sao trước đinh Toàn quyền (gọi đường Norodom vì mời vua Miên đến khánh thành nay là đường 30 tháng 4, tôi không nhớ rõ), và có một lúc ba hình nầy được dựng ở vườn ông Thượng, cũng gọi là Vườn Tao Đàn, kịp đến năm đảo chánh 1945/1946, tính lấy tượng nấu lấy đồng đúc đạn, để chống Pháp, khi ấy mới tổ ba hình đồng nẩy vẫn là đồ vô dụng, không phải thật đồng vỏ cua mà đích thị là đồ giả, Pháp gọi ersatz, vì lão thợ đúc tượng trước kia, muốn hoặc thủ lợi nhiều, hoặc cố tâm không cho dùng kim khí nầy qua việc khác, nên đã pha chế thêm thuốc kín làm cho khi nấu chảy thì được một chất nứt nẻ không dùng vào đâu được nữa. Sẵn đây xin nói luôn, nhơn đọc báo thấy bạn cũ Sơn Nam, viết từng: “vườn ông Thượng, cũng gọi vườn Tao Đàn, ông Thượng là ám chỉ toàn quyền Pháp Maurice Long, arc Maurice Long, là vườn ông Thượng Maurice Long này”, nay tôi xin dựng chứng cớ, Maurice Long, nguyên là thân sĩ bên nước Pháp, đắc chỉ qua đây làm toàn quyền hai lược, lần đầu từ 21-2-1920 đến 17-12-1920 (theo chỉ dụ ngày 10-12-1919), một lần nữa từ 1-4-1921 đến 14-4-1922, tuy vậy thật, nhưng khi chú ng tôi bỏ trường, tựu nhau tại vườn này làm reo để kẻ bị đuổi, người bị mất học bổng, cũng vào năm 1920 – 1921 ấy, thì danh từ “Vườn ông Thượng” đã có từ trước, (không lý ông Long tự cho cho ông, và tức nhiên phải ông sau suy tôn ông trước làm vậy, phải có một quãng thời gian khá lâu, trái lại nếu danh từ “vườn ông Thượng”, chúng tôi lúc biểu tình, đã nghe đầy tai, tức đã có từ trước lâu rồi, vậy xin đính chính: “ông Thượng được lấy tên đặt cho khu vườn này, theo tôi, là quan tả quân họ Lê, vì dân chúng ngưỡng mộ và tôn thờ làm thượng công nên lấy tên cho miếng đất trước thuộc lãnh vực chỗ ông Lê Văn Duyệt ngồi ngự trị, chớ ông Maurice Long, đã là thống đốc toàn quyền cỡi Đông Dương nầy, thì chức vị lớn hơn chức thượng thơ kia rất nhiều, sự thật cho ta thấy sau đó toàn quyền P. Pasquier, lật đổ một hơi, bốn năm ông thượng thơ ở Huế (Bài, Đại, Liêm, v.v.) chớ đâu màng tưởng chức “thượng” này, “thượng” kia đâu, vả lại lỗi của bạn Sơn Nam, đáng lướt qua, phàm viết nhiều viết mau thì tránh sao khỏi sơ sót.

Đây là bàn với nhau, gọi nhắc và nhớ nhau, chớ không phải bắt tì bắt ố. Nhắc lại, năm 1919, từ nhà ga xe lửa Mỹ Tho bước ra, Ba tôi và tôi, được xa phu xúc gọng xe mời, Ba tôi nhã nhặn từ chối rằng chợ Bến Thành trước mắt, và tôi bỗng giựt mình, té ra Sài Gòn nhỏ xíu, không phải như trong óc tưởng, đồ sộ nguy nga, bóng cây yêm tợp, gió mát dịu dàng.

Ôi! Bước đầu tiếp xúc tôi đã có một ý tưởng không được tốt với cảnh phồn hoa Sài Gòn này, Duyên hay nợ Nghiệp vĩ hay tiền căn, muốn làm ông viên ngoại ngồi góp lúa ăn lộc già nơi tỉnh quê Sốc Trăng, muốn mà không được, nay được làm tên mọi giữ của và làm tên biên chép tào lao, mặc cho đời xét có công hay đắc tội. Khi Ba tôi, sắp đặt cho tôi vô học trường theo ý muốn xong và lui về xứ an bài rồi, tôi ở lại, việc đầu tiên nơi trường, được tắm chung đưới mấy cái bông sen phun nước phong tên lên trên đầu xòa xòa, tôi tính ngộ, nước mát mé, ngọt xớt, trong ngần, thôi cũng còn hơn nước giếng nước ruộng dưới mình một bực! Cơ khổ thì thôi, khi mãi lên bốn giờ chiều, chợ Bến Thành lặng trang, quét sạch và đóng cửa sắt, không một người được ở lại bên trong, vì tránh trộm đạo, nơi mái hiên cũng không ăn mày ăn xin nằm ngủ đêm khuya, vì quá trống trải, gió lạnh, thêm lính phú lít và biện Tây không dung tha sợ bị bắt về bót, nên bọn hành khất tìm chỗ ngủ nơi khác, nay ngày nghỉ học, ở trường ra, cag Mới Sài Gòn quá tấp nập vui và náo nhiệt hơn chợ tỉnh mình nhiều, quán sách Lê Mai, bán tạp chí Nam Phong và Hữu Thanh, bốn cắc, năm cắc mỗi số lẻ, tiếc cho mình, không đủ tiền mua… còn trên đường phố, kèn xe hơi inh ởi, từ xe lớn chạy rầm rầm, chở người đầy nhóc, đến thứ xe hai bánh cao su do người kéo, vừa kéo xe, miệng vừa hô ép ép, chuông xe đạp, quen gọi là “xe máy”, thêm có thứ xe chạy trên đường sắt, gọi “đường rầy”, xe cả dọc, gọi là xe điển, xe điện, chạy nghiến bánh còi thổi điếc tai, ở tỉnh mình đâu có như vầy và giờ trưa xế chiều, mấy thầy ở hãng, mấy ông ở sở, mãn giờ về nhà, lòng tôi rộn rực, vừa suy nghĩ: Ồn ào như vầy hoài, chịu sao cho thấu, lại thầm ước ao trông mau học xong, thử đóng một vai tuồng làm thầy thông thầy ký, nghe nói họ quen ăn của đút, thứ mình cũng hành nghề như họ mà đừng thèm nhận của hối, cho xứng với lời Ba mình đạy, cho khác với họ, xem có được chăng. Và sau này, quả khi học thành tài, từ năm 1923 đến 1927 – 1928, về làm thơ ký nơi trường máy của ông Rosel, vừa có lập nhà hàng Charner nơi gốc Bồn Kèn, ngồi ghế đá nơi lề đường, ké né dòm vào hãng Tây nầy, xét thấy phận mình ti tiện, nhà gì có vách bằng kiếng pha lê dày, trong trẻo thế cho vách gạch, cả tòa xây cất bằng sắt đá mà vén vang không thấy nặng nề, gạch miếng nhỏ lót thế cho gạch Tàu, láng cốt, trên trần nhà có quạt máy cánh quây vo vo, hàng hóa bày la liệt quên thôi, thang lên lầu thì khoanh tròn đi mát cẳng, thêm có thang máy đứng lên nó, nó rút mình lên lầu thượng êm ru, còn nhớ tiên khởi, bị thang máy hãng Charner rút lên một cái, tựa như bị hỏng giò, sắp té, may vịn và níu kịp… lúc đó chắc lốt nhà quê của mình không lọt qua khỏi mắt tinh ranh của mấy cơn đầm lai cùng chạn với mình, chúng mi là trẻ mồ côi bị bỏ rơi, nhưng chúng mi dựa hơi kẻ mạnh cướp nước, chúng mi hỉnh mũi, lát nữa ta ngồi xong vào bàn khách, kêu một cái sọt bê (kem nước đá xi cô la), gái chỉ có bốn hào, thứ chúng mi phải bưng lại cho ta dùng, ai trọng ai khinh, thì biết: Màng tưởng tượng viễn vong, lốt nhà quê bay tan hồi nào, chỉ còn lại một thằng học trò trường tỉnh mới lên đây, gót chưa sạch phèn, thân bé mọn xếp ve như con gà độ, mắc mưa, mấy lần đi trên đường Catinat, không dám dòm ngó vào nhà hàng bán cơm Tây Continental, mấy tên đọn bàn, dựa hơi cọp, ta đuổi, cái thứ ở mướn ở đợ không biết xấu lại còn làm phách, nhưng nghĩ cũng phải, thi đậu có cấp có bằng mà đồng lương một tháng, chỉ bằng giá tiền mướn phòng một ngày và đêm nơi đây, lúc ấy chớ chi có ai hô “Sài Gòn là kinh đô của hoàn cầu’, ắt tôi cũng một bề không dám cãi!

Mà quả như vậy, có một hôm trường cho nghỉ vài ba bữa nhơn lễ ki tô gì đó, bảo chứng (correspondant) cho ngồi xe song mã ngoạn cảnh, xe êm gió mát, càng làm cho điếng hồn hơn nữa: Dọc mé sông, nào là Sở Thương chánh (nhà đoan), nào là Đông Dương ngân hàng, cột cờ Thủ Ngữ, nhà hay dinh chủ lãnh Thủy binh, sở Ba Sơn sửa tàu đi biển, nhà các dì phước, tu viện do Nguyễn Trường Tộ xây cất rồi qua Sở Nhà Rồng, bến tầu hàng hải, nơi gọi Lăng Tô (phái láng tên Thọ, đọc giọng Tây cho nghe oai hay chăng?), dưới nước thì đông nghẹt tầu ghe, đi ngang Khánh Hội, bên mé kinh Tàu Hủ này, bên kia là nhà của thầy dạy Việt văn, quan đốc Nguyễn Văn Mai, chủ tiệm Quỳnh Mỹ vựa nước mắm Phan Thiết, nghe và nhớ năm trước, ông khoe trước nhà ông thường có ghe nước mắm ngoài ấy vào đây sinh nhai, không biết ông Tất Thành, Ái Quốc có từng lưu gót nơi này hay chăng, sử sách sau này sẽ cho biết, còn bên ni kinh là vùng Cầu Kho, nơi xưa kia có nhà của Huỳnh Tịnh Của, Tôn Thọ Tường và chỉ biết và còn lại là nhà mồ của Trương Vình Ký và nhà bà Hà Minh Phải, dựng trên nền nhà ông Sĩ Tải và Sĩ Tải là biệt hiệu của nhà thông thái miền Nam, Trương Vĩnh Ký đó chi.

Tôi ngồi trên nệm xe êm ái, nghĩ miên man, xe đảo vòng thầy Cầu Mống cong vòng cao nghều nghệu (nay bết thời, chờ ngày búa thầu đến đập phá), xe tới xóm Chợ Cá, thấy sở Ngân khố trung ương, Nhà Nước Tây để lại, choán gần đầy nền trống của chợ cũ ấy, Chệc Chà lúc ngúc, ngó đâu cũng có mặt chúng, chí đến mấy quán cóc sạp gỗ nóc thiếc, bán thập cẩm hầm bà lằng, bao diêm, dầu cù là, xí mụi, ô môi, cà na mặn, cánh chỉ, toàn những thức ăn ngon mà trẻ em ngày nay chưa từng thưởng thức và biết tên và toàn là đồ nội hóa xí gạt, bưởi Biên Hòa hái đem về để ít lâu cho da trổ màu vàng, treo vào giỏ với nhãn hiệu bưởi “bên Tàu” (nay còn lại với tên bình dân “bưởi Năm Roi”!) và một thứ cơm nếp có quết chút ít sầu riêng vừa đủ mùi đặc biệt của giống quả ấy, lại bán cao giá với nhan gạt gẫm “mút sầu riêng” từ Nam Vang, Băng Cốc mang về (ăn đồ ăn nội địa dưới danh hiệu ngoại bang, ngu mà không chịu là ngu, lại khoe có như vậy mới là khoái khẩu, nói nôm na là sướng miệng).

Lúc làm thơ ký nơi trường máy Kosel, có dịp thưởng thức cơm Tây nơi nhà hàng Rotonde, sau đó hãng Denis Frères mua đứt nhà bán cơm này và nới rộng hãng, từ ngày Giải Phóng vô đây, phá bỏ hãng Denis Frères, thay vào là hãng mới của Nhà Nước ta, dưới danh hiệu “sở chuyên về thủy sản, tôm cá bán ra nước ngoài”, tôi nhớ lại quãng tuổi còn đi học, ngang Rotonde, có nhà báo Trung Lập, là báo Việt do báo Pháp “L’ Impartial” biến ra, không hiểu vì sao nhà báo TL. (vị trí là rạp Majestic và bây giờ là nhà hàng Cửu Long) lại tô vách màu đỏ như máu, thấy bắt lạnh mình, từ đây hướng về nhà thờ có cửa hàng Giuntoli, và Caffort, chuyên bán kim cương, hột xoàn, Caffort thì bán súng đi săn và súng bỏ túi gọi súng sáu (lục liên), nhà Tàu bán cổ ngoạn Phác Ngọc (Faa-Yue) và nhà Vương Ngọc Ký (Woong-Yue-Ky) hai ba nhà bán thuốc Tây, hiệu Pharmacie Normale, Pharmacie Centrale gì gì đó và hiệu Solirène, kế nghiệp Pharmacie Holbé et Renoux là cổ nhứt, một tủ kiếng có chưng bày hình nộm mặt mày như sống, nhà bán sách thì có hiệu C. Ardin và hiệu Albert Portail, nhà bán vải lụa mắc tiền đó có nhà Marty ngang ngang tờa đô chánh, và đừng quên đường nay là Đồng Khởi, có nhà Courtinat và nhà Tourier, nay là cao ốc Caravelle, và cũng đừng quên tiệm buôn thực phẩm đồ sộ A. Hy (tiệm Chú Hỳ, bán từ phó mát, thịt giò ram bông (jambon), cá hộp, rượu Tây, muốn hỏi mua giống gì đây cũng có.

Xe Sáu Thiệt, cặp ngựa chạy móng khua dòn trên mặt đường tráng nhựa, chạy ngang Nhà Hát Tây nguy nga, trước mặt nhà hát có ghế xanh, tượng đồng, ghế xanh bằng gỗ nay vẫn còn, duy thay ghế đá, tượng đồng tưởng thiên niên nay đã hóa kiếp, luật tuần hoàn là vậy, tượng Một Hình, rồi cái đầu bằng đồng đỏ của mụ Ngô Đình Nhu, lăn lóc kéo chạy vo vo rồi liệng mất, trong khi con đò Thủ Thiêm xưa để lại câu hát bất hủ: “Bắp non mà nướng lửa lò…” vị trí bến đò còn đó, duy chiếc ghe mỏng manh nay là một chiếc phà thiết giáp, và tổi tân tiến hóa là bến phà xê dịch vài tầm thước, tránh chỗ cho hải đảo Úc châu đặt quán cơm và bán rượu trên Thủy lâu.

Thú thật, tôi thà chịu nhà quê, nhịn tiền mua sách – tỷ như ba tập, Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố chúng ta và Thành phố Hồ Chí Minh – đói xơi cơm nguội, hơn là làm sang bước cẳng lên phòng ngủ nổi mặt nước này và thà chết khát chớ không dùng ly nước chanh trên chiếc tàu lêu bêu từ xứ con Căng Ga Ru Úc nầy.

Tôi nhớ hoang mang và viết lại không đầu không đuôi, mấy buổi xế chiều, ghé tạm trước nhà thờ ngang nhà dây thép, chờ giờ trở vào trường, một lần gặp một lính lê dương nửa say nửa tỉnh, dạy rằng: “Nước mầy, đàn bà không hôi, cho nên không biết làm dầu thơm (nước hoa), còn đàn bà xứ tao, uống rượu nhiều, tiết ra mồ hôi nồng nực, nên phải chế ra chất hương nước bán bớt mùi kia đi và tao đã quen mũi, thiếu mùi hôi ấy thì chưa phải là đàn bà”. Giữa lúc nói ba hoa, bỗng một chệc con bán đậu phộng rang, ngồi gần đó, nghe lính say nói xàm, chệc con, mặc quần cụt, kéo vòi trong xà lỏn ra, tôi thấy tõ ràng, nó níu đầu con cu, nó bóp, nó làm thế nào, có một lằn xịt nhỏ xíu xịt ngay vào má tên lính, lính tưởng trời sắp mưa, lấy tay chùi má đứng lên đi mất, chệc con, ngó tôi cùng cười, dòm lại thấy hình đồng Bá Đa Lộc, to lớn dềnh dàng che chở, trái lại hình Đông Cung Cảnh, bé tí hơn núp dưới tay cha cả nầy, hai tượng đứng lâu mới chân, nhường chỗ cho một tượng Đúc Mẹ khác, duy bệ tượng bằng đá đỏ, làu làu còn mãi, trẻ con Tây rồi trẻ bụi đời, phá phách nhiều đời mà đá kia vẫn bóng.

Vào giỏ tre của Chệc mua ve chai, còn khá, đời nảy toàn là phù du, làm học giả cũng không xong. Oanh liệt như Chu Ân Lai, cũng hỏa táng cho đừng còn dấu tích… thánh như Ghadhi, mà cũng bị cuồng điên ám sát, có lẽ như vậy mới xứng là ông thánh chăng? Một dòng họ Doumet, ông qua đây chức là thống đốc toàn quyền, xây dựng mở mang rồi bỏ đó trở về xứ làm giám quốc, mấy đứa con, đều chết cho nước ngoài mặt trận chống Đức Phổ, tiệt tự, chính thân ông cũng bị tên cuồng đồ Nga Gorgouloff bắn chết, làm chánh trị can trực cách mấy cũng không tránh được viên đạn của đứa điên, đã nói là phù du, đời này đừng mong xây mồ đẹp mà còn tồn tại, không có công của Trương Vĩnh Ký in tập “Thông loại khóa trình” (Miscellanées) bán trọn năm giá sáu các bạc (0$60) thì chúng tôi và kẻ hậu sanh làm sao biết được văn chương ngoài ấy và bộ Nam Phong của Phạm Quỳnh, xưa giá ba hào lên bốn hào rồi tăng lên năm hào, nay toàn bộ giá mấy chục lạng vàng mà Thích Tâm Châu tìm mua không có, còn định xin sao bản của tạp chí này còn lưu trữ tại Thư viện quốc gia của Pháp. Đúng ra thân cát bụi, đừng trông trường cửu, các vua Ai Cập là hách, nay còn lại xác khô để chưng bày nơi vài viện bảo tàng, có lẽ nếu viết được thì nên viết, thiếu chi giấy in nhám nhí, hết bị đốt rồi trở lại tái bản lộn lạo chung với cảo thơm, Lục Vân Tiên của Đồ Chiểu, ngoài ấy, Nghiêm Liễn in dư ngót trăm câu, truyện Kiều, có câu ‘Thì con người ấy, ai cầu làm chi”, lúc Tiên Điền viết câu ấy thì vua Tự Đức chưa chào đời thế mà ngày nay có người dám đại ngôn, vua ghét Nguyễn Du phạm thượng. Nói nữa nhàm tai, tạm kết luận giấy má, sách viết trên lá bối, lá tre, giẻ rách có chữ viết, tìm gặp trong hang Đôn Hoàng bên Trung Quốc, thế mà tồn tại và bền hơn xác người. Ấn Độ mấy đời vua đều độc tài, Phật giáo, Hồi giáo, v.v. tranh nhau phế hưng nhớ làm sao hết, xin lấy một tỉ dụ nhỏ, vua Shah ]ahan, thương vợ mà ham chiến tranh, ra trận, bà hoàng hậu chờ không được, tắt hơi, vua trở về xây bạch cung, tốn hao cả mấy trăm ngàn triệu đô la, hai chục ngàn thợ khéo kéo và lao công, hai chục năm kiến trúc, đừng trách vua lãng phí, dẫu chi nay cũng còn lại bạch cung Tai Mahal, cho hậu sanh thấy được một kỳ công vô song trên thế, tượng trưng cho một mỗi tình bất diệt, đá cứng có vân hoa đục trổ khéo như đăng ten lụa móng, dát ngọc nạm vàng, đến lượt Shah lahan mướn xây bắc cung cho mình, thì vua bị đứa con út Aurangazeb khởi loạn cướp ngôi và giam nhốt vua trong thành Agra suốt tám năm dài, vua Shah Jahan mãn phần năm 1666 (thọ 74 tuổi), dầu sao vẫn còn lại lăng Taj Mahal lưu truyền hậu thế, không bì vua Kiền Long nhà Thanh bên Trung Quốc (1736- 1796), thiếu chi cung phi mỹ nữ, lại cũng mê sắc một bà hoàng hậu đạo Hồi, vua Tàu giết vua Hồi, đoạt vợ, nhưng bà này một lòng thủ tiết, Thanh đế Kiền Long đem về xây cung mới theo kiểu cung Hồi, phong làm “Hương phi” nhưng vẫn không lay chuyển lòng sắt đá của nàng trinh nữ, bà ưng cho thái hậu ra lịnh treo cổ, ba thước lụa điều dát mối tình không nguôi của vua nhà Thanh, sai làm lễ an táng theo bực quí phi, vua cái thế mà không chiếm được tình một gái Hồi, bên nước ta, bà Huyền Trân, khỏi bị hóa táng theo chồng Chàm, còn lại bao nhiêu Tây Thi, Bao Tý, Mụi Hỷ, Đác Kỷ, Dương Quí Phi, lầu Trích Tinh, cung A Phòng, nay chỉ còn ghi trong sách, điện cổ Đế Thiên Để Thích, bọn lưu manh cướp cạy lần hồi, nhưng điện đá vẫn còn khá khá, đáng thương cho cung điện bằng gỗ nơi Huế đô, mối, mọt, bàn tay nhám của quân tham, vài mươi năm nữa đâu còn gì… lăng tẩm xây bằng ô dước, tưởng được đời đời, ngờ đâu lớp gió bão, lớp búa to kẻ trộm đồ cổ, những cổ tích đất Thần kinh rồi cũng không còn, lăng Kiền Long, vùi dưới năm chục thước đất bề sâu, cũng bị moi lên lấy của quí và tại sao nay báo chí vẫn còn kể lại, lăng cổ Tần Thủy Hoàng, còn gặp hình nhơn bằng đất lớn như người sống, vua Khang Hi (1662 – 1722) (thọ 70 tuổi), minh quân, sáng suốt, mà không trị được bầy con đông, khi lâm chung, các hoàng tử tranh và giết nhau để giựt ngôi, ô hay, duyên trăm năm cũng đứt tình phụ tử cũng phai, vàng, ngọc đều mất mát, chỉ cát bụi trở về cát bụi, trước khi là tóc bạc răng long và mối trường hận bên lòng hết ngang dọc cỡ Hạng Vương, xin chút nới tay, bớt đập phá và xin chừa lại chút ít cho hậu thế biết những gì là đồ cổ, đồ xưa, điện vua, đền thánh, miễu thần, hãy bớt bớt kiêu căng, tưởng mình vô địch, kìa kìa Tứ thần, Tạo Hóa trên cao vẫn có ông Trời, người muốn mà Trời không muốn, thì sứng mạnh, sức bền, cũng trở về bụi cát…

Sống dai có ích gì, hãy sớm sớm để sự nghiệp lại, càng mau trao tay, càng được giổ quải, khóc nhiều, miệng chúc cha mẹ bách niên, bụng thèm những gì trong tủ sắt, và số bạc ký quí nhà băng, hôm nay chủ nhựt 17-6 ngồi đánh máy mấy hàng ngơ ngẩn nầy, pháy pháy giọt mưa, không tiền đi ăn phở sáng! Khi chết rồi, thây thì về nằm nơi đâu, mình trăn trối mà nó chẳng làm theo, vọng mơ nghiền nát ra tro, sẽ lén rắc tro ấy trên bồn cỏ xanh trước viện mà suốt mười bảy năm làm quản thủ với đồng lương công nhựt hạng thơ ký tuyển dụng, hồn còn phảng phất nơi chốn làm việc cũ, thế mà yên lòng hơn, còn của cải, muốn thấy có người ghi chép, giữ cho đừng mất, và lưu lại nơi một chỗ vừng chắc, cho người đi sau thấy chút công trình mót máy sưu tập, đừng để những chút di tích cổ thời phanh phui bán rẻ và nhớ câu xưa Ba tôi thường nhắc: “Nhơn sanh vô bá tuế, Uổng tác thiên niên kế.”

Ấy đó, tôi ngồi xe song mã, mắt mở trao tráo, mà không khác chiêm bao, ngày nay ghi lại, lộn lạo trước sau, pha chuyện cũ với chuyện nay, ba đào thay đổi, xin người đọc, thứ tha cho sự xáo trộn trong óc lão chín mươi tuổi này. Nhớ trong sách ấn, triết lý của người da đen dạy không nên lắm lời, nói quá nhiều ắt có nhiều lỗi sai, và phần đông, miệng đàn bà, sắc càng đẹp, lòng càng hiểm hóc, vua nhà Minh, Châu Nguyên Chương hắn nói: “Nếu trong số phụ nữ, không có người đã sanh ra tôi, thì tôi có thể cho giết hết phái cái, mới bớt có loạn trong xã hội”, và chính bà Tây Thái Hậu, mẹ vua Đồng Trị trước khi băng, còn dặn lại: “Không nên để cho đờn bà cầm quyền…” đa ngôn thất thiệt, lắm lời, lời sai. Xin viết thêm vài trang, nhắc lại những gì đã thấy năm 1919, bắt tay biết Sài Gòn, rồi sẽ viết thêm vài mươi trang tớm tắt những gì nghe thấy lúc bóng xế tuổi già này, đánh dấu mấy phen sống và chứng kiến những đổi thay mảnh đất Chàm qua Miên, nay làm chủ là dân Việt Miền Nam, cháu con phần đông là dân tránh nạn bắt lính buổi loạn lạc, pha lộn với người bị chế độ phong kiến đày vào đây khai thổ lập ấp giống dòng người Ngũ Quảng và Miền Trung còn người phương Bắc lâu sau mới có.

Bên hông nhà dây thép lớn, có trường Da tô danh gọi Taberd, mấy từng cao như tán nhốt và khuyến dụ học trò theo đạo mới, kể đó là nhà in ông Nguyễn Văn Của trước ở đường Ca ti na, trên làm khách sạn Hôtel de France, sau mua đất dời về đây, cho đến mãn phận vẫn ưng chức huyện hàm “Huyện Của” và vẫn hiển từ không quên cảnh nghèo buổi nhỏ, tay xách đèn lồng cho chị đi bán bánh ếch, bánh da lợn, ít hô ếch, da heo đổi làm da cơn lợn, lạ chưa?

Xe quẹo ra đường Norodom nữa, dơm thấy phủ Toàn quyền, nguy nga trước một hàng cây giá ty, trồng từ đời Trương Vĩnh Ký mà không thấy lớm, hai hàng cây sao cổ thụ, mọc như bàn cờ che mấy giếng chứa nước ngọt xưa, trông lần lượt tả hữu là nhà tiệc của bọn võ quan Tây, hãng bán xe hơi và chế tạo xe xích lô, chủ là Jean Comte, mà phu xe đã gọi quen tai, “thằng Công, trước làm công chức phủ toàn quyền, nay lập hãng, mau có tiền về hưởng bên Pháp quốc. Có tòa án nhà binh, kế bên là dinh quan Sáu sau đổi làm dinh đại sứ, nhà thờ lạc đạo, nay là nhà âm nhạc (nay đây là 1990), đồn lính sơn đá nay làm đại học xẻ đại môn thông quá đường Đình Tiên Hoàng, giúp cho khỏi bế tắc sự giao thông, lính thì phải gan dạ ở xa trấn giữ cho dân, Pháp lại để lính ở ngay thị tứ châu thành, từ đồn lie R.I.C nẩy xuống Chợ Bến Thành, trước đây xa phu kéo xe kéo tay, thường bị sơn đá nhón mông mô xu lúi trong thùng xe, có một phu xe bị mất tiền hoài hoài, nghĩ ra một kế lạ, vẫn đẩy xe đón lính Tây xuống chợ, anh phu đa mưu, nhốt sẵn mấy con cua cắt dây cho bò trong thùng xe, lính Tây ăn quen, xe chạy nửa đường, nhớm đít đút tay mà, tiền không gặp, gặp cua kẹp đau quá lính Tây xổ nho, anh phu xe cong lưng chạy một hơi đến bót san đầm, hạ gọng xe phân chứng, bằng cớ ràng ràng, Tây cò phạt Tây sơn đá. Một phen khác, một anh phu khác, chở sơn đá đi kiếm gái, mấy phen bị đổ lợp, ngồi xe gặp gái, làm lơ không trả tiền, anh lập tâm chờ một phen nọ, kẻ cắp gặp bà già, anh không cho cua kẹp, nhưng anh đưa xe đến vườn thú, lúc ấy chưa có hàng rào kiên cố, anh đút xe ngay vào một lùm óc ó, anh lẹ chưn thoát kịp, lính Tây bị ong vò vẽ túa ra đánh chích cho biết tài, vò vẽ bảy con, thay nhau chích trâu, nọc độc bảy con đủ chết một trâu tơ, san đá Tây mà sức mấy! Buổi ấy trường sư phạm xây thêm lầu, ở chung với chuồng cọp, nên gọi trường Sở Cọp, học trò trường tính có xẹt, học đủ bốn niên, thi đỗ, bổ làm giáo viên, phải trả nợ áo cơm làm đủ mười niên, bằng như muốn đổi nghề, phải trả đủ bốn năm học bổng, nhưng lắm trò tuy học giỏi mà làm thi rớt, khỏi trả học phí, như Nguyễn Văn Công, ra làm bút toán cho hãng Denis Frères, lương cao, như Trần Khải Hoàng, chúng tôi đặt tên là Bố Lí Mài, Hoàng nói tiếng Hẹ (khách gia, Hakas) không khác chệc Lù, và nói tiếng Pháp như lặt rau, giọng Pa ri diên thế mà Hoàng vẫn không đậu, ra trường làm nghề bán xe hơi Wippet cho hãng Garage Charner, mỗi xe bán, Hoàng lời gấp mấy lần lương thầy giáo, có tiền nhiều, sắm súng mạnh, cùng đi săn với vua B.Đ. bắn cọp bắn voi, Hoàng khuyên tôi đừng tin nhiều nơi cao hổ cốt, Hoàng chơi với bạn hết lòng, mỗi lần chạy xe mới xuống rao hàng ở Sa Đéc, ghé nhà tôi, cơm thì còn, thức ăn đã hết, mời đi quán, Hoàng từ chối, sai lấy cơm nguội và chút nước thịt kho, Hoàng lua ngon lành sạch nồi, nhưng phải có ớt thật cay, và tánh Hoàng giản đị, coi tiền như nước, anh em chúng bạn đều cảm mến, trước đây, sau năm 1975, Hoàng bị nạn lật xe, cưa mất một cánh tay, đến nhà tôi ở Bà Chiểu, cùng nhau nhắc lại chuyện xưa, rồi hai tôi không gặp nhau nữa, Hoàng, Bồ lí mài, ở Phan Thiết còn tên khác là “Mua”, Trần Khải Hoàng, mày ôi!

Xe chạy lòng vòng, đếm giờ tính tiền, mỗi giờ ba đồng bạc tròn (3$00), nãy giờ đã mới mắt nên xem không được kỹ càng nữa, lộn xộn nào dinh Thượng Thơ ở góc đường Đồng Khởi và Lý Tự Trọng ngày nay, đã cổ hơn trăm năm, nghe một ôrg già làm tùy phái lâu đời, thuật lại lối những năm 1865 lối đó,

Tây xây cất dinh này, chỉ có lao công gánh gạch và xi măng là Việt, bao nhiêu thợ hồ thợ mộc đều lính Tây chuyên môn xen một mớ thợ rành nghề là người Quảng Đông, dinh Phố soái, sau đổi gọi dinh Thống đốc, ngày nay là viện bảo tàng, trước có dựng hình hai đàn bà giữ cửa, Hoeffel sai phá đi xây lại ít lố lăng hơn, sát bên dinh, cách một con đường MacMahon, lại là Khám Lớn, cửa giữa có đắp một đầu hình to, trên trán xiềng một sợi dây gai, mắt nhểu mấy giọt lụy to bằng ngón cái, miệng mếu lòi mấy chiếc răng xếu xáo, cần chi bày hình ghê tởm và lạ thay chỗ nhốt người yêu nước, đối với họ là có tội, nhưng khéo nực cười, vẫn là khách bàng cận của viên đầu đảng của bọn cướp! Cướp nước của chúng tôi, lính Tây chết vì bịnh hơn là vì súng bắn, người thừa hướng là bên Ky tô giáo, choán ruộng, và đem tiền gới về Tàu là chệc… ngang

Khám Lớn là tòa pháp đình đồ sộ, xe đổ về hướng chợ cũ, có dãy chùa của người Ẩn, dòng Chetty làm nghề cho vay bạc, nuôi chi giống bồ câu phóng uế dơ nước mưa, mấy năm thịnh thời, rằm tháng giêng có cộ Chà, xe nặng cả mấy trăm kí lô, khi cho bò kéo, khi bắt người mê tín thế cho bò, bò cho ăn tẩm bổ dừa nạo, đậu xanh, người cho đóng khố, trần truồng, trên lưng có móc hai móc sắt dính liền qua sợi lòi tói sắt khác nữa, tôi đứng gần vẫn không thấy tay bợ để lén giúp sức nào, thế mà bốn người mặt bơ phờ mất thần ấy, chưn đi vính cướng, khệnh khạng như gần tắt hơi, thế mà xe vẫn di chuyển tới trước, thiệt là lạ, trên xe, toàn là bạc rồng chạm trổ làm tháp, đặt tượng một Phật bà, trên cao, ngày nay, phá nghĩa địa Mạc Đính Chi mà nào thấy ma hiện hình, nhưng tại sao năm 1919, cộ đèn có đốt pháo bông, đêm rằm tháng giêng, Chà chưng cộ, người thế cho bò, kéo xe đi được một khúc đường ngang của chùa, và xe ấy được đưa đi giáp khu chợ cũ, được thay người kéo lưng bò lông trắng, bò đực có sừng nhọn hoắt, chót sừng bịt bạc, phải mắt thấy mới tin và hãy khoan cắt nghĩa theo khoa học việc này…

Trên đây là cảnh lộn xộn, không trật tự, thấy bởi một tên học trò nhà quê tính Sốc Trăng lên đất Sài Gòn lần thứ nhứt, năm 1919, nay thuật lại cũng tên trò ấy nhưng đã tám, chín mươi tuổi đầu, nhưng trí óc còn minh mẫn, duy tí đã bất chấp lề lối, và cách diễn tả nầy, những bạn nhỏ tuổi, không nên dựa theo đó mà ước định Sài Gòn năm xưa là thể nào, các bạn lão thành nay đã không còn, phải là người cố cựu sanh sống tại đây nhiều năm, họa may hiểu tôi đây muốn nói gì, và xin thách ai kia thử viết cho có trật tự xem nào, hay là cũng phải để cho ngòi bút sắt hay máy đánh chữ tha hồ ghi lại như vầy, chưa phải là phóng bút, có lẽ là loạn bút hay chăng, nhưng dẫu sao, tôi tưởng cũng đã nói được những gì chất chứa trong tâm não, nay có dịp phô bày cho hả hơi và như vậy, có cần gì là trật tự. Tiếp theo đây, tôi sẽ thử cố gắng, cũng một đề tài “cảnh Sài Gòn trước đây vài chục năm, từ 1919 cho đến hiện tại”, nhưng ngược lại, nghe và thấy, bởi một tên già đã trãi “ăn cơm nhà máy, uống nước phong tên đất nầy suốt ba phần thế kỷ”, tuy chưa phải sanh tại đây nhưng đã sống tại đây khá nhiều năm hơn nhiều bạn mới, và bài này, tôi cũng bất chấp trật tự, không ghi ngày tháng, chỉ nhớ sao viết vậy và nhớ tới đâu, thì viết tới đó, mặc cho người thức giả suy gẩm về sau.

(viết ngày 17-6-1990)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply