Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

4. Chương 4

Nhớ hai bạn đồng lứa ở Sốc Trăng: Cậu Hai Emile Penne và Cậu Ba Etienne Penne

(Viết Ngày 6-8-1990)

Sốc Trăng nay mỗi năm mỗi khai tiệc “tất niên” để bạn cũ gặp lại nhau, tôi xin hỏi:

– Có nhớ hai anh này chăng.

Và tôi xin kể lại đây cho nhớ:

Đồng một lứa tuổi với tôi, ở trước mặt chủa Ông Bổn, có nhà Thím Thông Reng, ông là người Miên, đi học bên Pháp về, nhập tịch lang sa, làm chức thông ngôn tòa án, trở nên giàu có, rúi thất lộc sớm, để lại ba người con. Hai anh em song sinh: anh là cậu hai tên Emile Penne, em là cậu ba Etienne Penne; và người chót là chị Tư Emilie Penne, vợ ly dị của Nguyễn An Ninh, nay Emile đã mất, Etienne vẫn còn và ở bên Pháp, chị Emilie cũng còn và ở Pháp.

Trong bài nầy, tôi xin miễn viết về chị Tư là ân nhân của tôi chỉ xin gợi lại vài trang chuyện hai bạn tằng ní (đồng niên hữu) E Minh và E Chen.

Xin nhắc chị Tư và E Chen, hiện đang còn sống ở Pháp,

E Minh chôn ở Mạc Đính Chi, có lẽ không ai lấy cốt dời đi và đã mất tích, mà như vậy là xong, bận bịu làm chi.

Minh và Chen, nay gọi vậy cho gọn, sanh đôi, năm 1902, giống nhau như đúc một khuôn, giống cả giọng nói, tiếng cười, lớn lên vóc vạc như nhau, có thói quen y nhau, chơi túc cầu có danh, đánh bi da tài dách, cả hai đều hảo ngọt, mèo nhiều, không tiếc tiền với gái và rắn mắu trên đời, không một ai bì kịp.

Khi còn trong nôi, chính mẹ ruột cũng không phân biệt đứa nào anh đứa nào em, để cho gọn, bà xỏ tai đứa nhỏ và đeo khoen còn lại một thẹo nhỏ lâu ngày chỉ còn lại một dấu ít thấy, và sự lầm lộn huynh huynh đệ đệ trở lại như xưa. Chính trong vòng bạn thân, nếu vắng gặp ít lâu, khi gặp lại, khó tránh chuyện ngộ nhận, và những trò cười tự mình không muốn đụng, vẫn xảy ra như cơm bữa, bắt tay anh mở tâm sự em ra kể, khi khác thân mật bắt tay em rồi khui chuyện tồi tệ ăn hút của anh ra bàn…

Một chị sồn sồn ở chợ Sốc Trăng, tên chị là Ba Bộn, chuyên nghề tú bà lậu, buộc mai buộc mối, xe duyên lộn ngược mỗi, một hôm tưởng trúng mối to, vì được cậu hai để ý nhờ trao lời hò hẹn với một ả tứ thời từ Cần Thơ xuống tá túc nhà chị, cậu hai nhắn khi rảnh rang sẽ ghé đàm đạo tỏ tình, chiều lại trời vừa chênh chênh xế bóng, chị Ba Bộn bỗng thấy dạng một người chắc da chắc thịt, cỡi xe đạp loại bánh bự thật êm, hiệu Alcyon, pneu confort, chạy nhong nhong trước nhà. Chị Ba Bộn mừng quá, chạy ra đường đứng đón, lấy tay ngoắc chỉ vào trong: “Còn ở trong buồng kia kìa!” Người đi xe đạp, không nói không rằng, xuống xe, dựng kỹ bên thềm, bước vào buồng, nửa giờ sau trở ra, liếc mắt cười thoa mãn, lấy xe ra đường, ung dung đạp đạp, như không có xảy ra chuyện gì, Chị chủ chứa rất thản nhiên, không đòi không hỏi, thòa hiệp tay ba, tiền trao cháo múc là đồi với ai kìa, và chị Bộn có dại gì sớn sát đời bấc tử, cậu giận thì khôn, mất mối về lâu… và trời chưa đi ngủ, cơm tối chưa kịp dọn, đồng hồ chưa gỗ sáu giờ, bỗng lơn tơn có một cậu ngừng xe, cũng Alcyon bánh bự, cũng xe sơn màu đen cắt chi, chị Bộn nói thầm đủ nghe: “Hứ! Cái đồ tham ăn, có ngày sẽ cỡi ngựa gió! Mới nãy bây giờ trở lại! Đồ cường!” Còn trong buồng cón rủa thầm theo còn, ngoài buồng, chị chủ chứa, có kinh nghiệm, chỉ kêu trời thầm thầm, thôi rồi mắc tay bợm già, thằng anh bao gái, thằng em đổ lọp, hưởng nước nhứt, để anh trả tiền!

Té ra em chơi điểm, rình mò, biết của mới anh đặt, em lại thử nước tiên: ngon khá! Người vô đầu là cậu Ba, em, người lại sau mới chính là người đặt cọc. Việc nhỏ nhặt không đáng kể ấy, xảy ra buổi quân đội

Nhựt lăm le toan đoạt và phóng tay trên miếng phố mát Đông Dương của Pháp, nồi rắng tuy nhỏ, nhưng cũng đủ làm vui nhộn các bàn cà phe quán nước buổi sáng sớm chợ

Sốc Trăng, ai ai cũng tưởng việc cứ êm êm trôi cháy, chảy chạy bon bon y như hai bánh xe thật tròn thật êm ái của chiếc xe đạp hiệu Alcyon, tra bánh lớn lăn tròn trên đường tráng nhựa, hạnh phúc của tỉnh nhỏ giàu lúa gạo nằy tưởng không bao giờ tận, bỗng dùng một cái, kèn tò le tò lét nơi trại giam lính tập, 6 lên điềc tai, có lịnh toàn quyền đặc sứ Đờ cu, dạy nhập ngũ cấp tốc, binh lùn phù tang tràn vào bờ cối, giấy tòa bố gới ra, cậu hai, cậu ba, phải trả nợ “dân Tày” cho mẫu quốc! Người anh, nhập thành sơn đá lIè R.I.C. (nay là khu

Đại học và Nông lâm), nhận chức lính Đơ dèm cùi bắp, của đoàn bộ binh số II của thuộc địa, nguyên văn tiếng Tây nghe thật dòn: “soldat de deuxième classe, caserne de l’Infanterie Coloniale, enzième régiment, viết tắt như trên là Ilè R.I.C., V.V…..

Người em, cùng một tuổi, cùng một ngày sanh, cũng nhập ngũ vào cùng một thành sơn đá, cùng một chức lính tay trơn hạng nhì, của bộ binh Tây thuộc địa.

Ba mươi ngày đầu khi vào thành, đối với cặp song sinh rất khó chịu: còn đâu phè phỡn dưỡng vóc, sáng ngồi tiệm nước ngã tư đường cái, chiều nhập chời Ba Bộn… từ đây phải thức sớm theo tiếng kèn đánh thức, phải tập đi bộ “la mát” (marche), phải vác súng đứng canh gác chịu cho muỗi hút bớt máu 35, giày mang giày đi nghe cộp cộp hết ê lê găng (élégant), cơm là khúc bánh liệng chó chó u đầu, món xúp lỏng phèo, miếng bít tết nhai như nhai miếng keo su dai nhách, nhưng thét rồi cũng quen, vì cả hai sinh lực trai dồi dào.

Qua đầu tháng thứ nhi, bữa xọt ti giê nê ranh (sortie générale), sướng quá, cả anh và em đề huề nắm tay nhau ra thành phố tìm nhà em rể (chồng sau của chị Tư E mi li) ở đường Bồ rệt (Boresse), gần bốt quận Nhì, xả hơi đỡ khổ.

Luôn dịp cổi bộ đồ nhà binh, đưa ra cho trẻ trong nhà giặt, phơi khô, ủi sạch sẽ. Người anh, tóc dài ngứa ngáy, nhột nhạt, không nói không rằng, bèn lấy bộ đồ bà ba nhụt nhịt của dượng Tư, em rể, tra vào, thốt lên một chiếc xe kéo tay đậu trước cửa, dạy kéo thắng ra tiệm hớt tóc để cho thợ bế cái đầu lại cho dễ coi.

Hớt tóc cạo râu xong, lại nhảy lên xe kéo cho kéo một mạch về nhà em gái, cổi áo quần, lấy chăn tắm vận sơ khúc thân dưới, để mình trần, nằm chồng cắng lấy báo ra xem, chờ cơm…

Người em, đi dạo phố về, tờ báo duy nhứt, người anh đã khẩn, người em không biết làm gì cho hết thì giờ, thấy sẵn quần áo bỏ trên bộ ván, nhớ lại tóc đã dài, bèn thay đỗ lính và mặc bộ bà ba ấy, cũng thót lên xe kéo, lại cũng anh xa phu khi nãy, dạy kéo lại tiệm hớt tóc, xa phu dạ một tiếng rồi phóng nước đại, cũng kéo ngay lại tiệm buổi sáng… Tội nghiệp cho anh thợ hớt tóc, anh vừa hớt xong cho một khách lạ, đang đứng lui cui phủi tóc vụn, phủi phần thừa vướng víu trên ghế trên bàn, anh thợ vừa day mặt ngó đường giú mạnh cái khăn choàng, chưa kịp hút một điếu thuốc cho thấy khóe, khi day mặt lại thì thấy ngồi sẵn chễm chệ trên ghề một người: mẹ ôi! Ông nầy mình mới hớt ban nãy đây mà! Tay anh giựt giựt, tim đập nghe thình thịch, anh chưa choàng khăn vội… đứng xa xa, mắt liếc vào tấm gương lớn treo trên vách:

– Trời đất thánh thần, tóc đâu mọc mau dữ vậy cà? Minh mới hớt khi nãy mà?

Lấm là lấm lét, anh thợ đứng tần ngần, vừa nối đủ nghe:

– Thôi! Đích thị là hắn đây rồi! Nếu không phải như vậy, thì tại sao cũng thì cái áo nhụt nhịt có hai túi xệ xệ như thể nầy? Phải rồi!

Mình nhớ ra: chính nơi vai tay mặt, cũng thì có một miếng rách, mạng lại rất khéo, không thể lầm, mạng bằng tay mà y như bằng máy, đường kim mối chỉ đều đều, mình nhìn kỹ khi nãy! Chết cha rồi! Còn đôi guốc dưới cắng nầy nữa! Cũng thì đôi guốc quai vỏ xe hơi. Người hay ma đây.

Bụng thì ngán, nhưng nghề phải theo nghề. Anh thợ lấy kéo, làm nghe xấp xấp, mà vẫn chưa chịu hớt. Người khách móc túi, lấy thuốc vấn ra hút. Anh thợ run lên như thằn lần đứt đuôi. Gói thuốc Bách tốt (Bastos) nầy cũng y như gói thuốc ban nãy Anh thợ vừa hớt, mắt vẫn ngó chừng ra cửa, có bề gì thì phóng ra đó là xong. Người khách ung dung hút điếu thuốc, miệng phi phà, mặt liếc vào gương treo trên vách. Đến lượt cạo lông mặt. Anh thợ cố tình nhấn mạnh tay thì rõ ràng khách biết nhăn mặt, tó vẻ biết đau, xem gân cổ thì thấy nhúc nhích. Anh thợ thêm vững bụng, vì nếu quả là ma, thì đâu có những cử chỉ như vậy! Anh thợ lấy được thần hồn, cho lưỡi dao chạy rà dưới cằm, tiếng nghe sột sạt, đúng là thứ râu rễ tre, cứng và khó cạo đứt. Vừa mừng vừa ngại ngại, cũng một thứ râu bạn nãy!

Hớt cạo xong, khách trả tiền ra cửa, thợ tiễn ra đường cái bụng nhẹ nhàng như mẹ đẻ lẫn thứ hai, nửa đăm chiều, nửa lo lo: nếu là ma, ma gì đám hiện ra giữa ban ngày, thạnh thiên bạch nhựt, biết hút thuốc, và chơn đi sát đất. Thợ trở vô nhà, miệng láp váp: ma hay người, trối kệ.

Mai nầy, tiền không biến mất, thể là xong!

Từ nhập ngũ, lật bật đã được sáu tháng mà không hay. Cu kêu lúa chín ngoài đồng, nước dưới sông Sài Gòn cứ chảy… cậu ba, viện có còn ruộng dưới tỉnh nhà, không ai coi sóc, luật nhà binh đặt lệ cho tạm miền dịch, về lo ruộng góp lúa đi. Thương hại cho cậu hai ăn chơi phung phí, phá sản, ruộng bán từ lâu, không viện được chứng minh nào, đành ở lại làm cho tròn chưn quân chưn lính. Bốn tháng kể đó trôi rất lẹ, tin đâu sét đánh, mập và mạnh khỏe như cậu hai Ê Minh, tuổi chưa tới bốn mươi, thây cọp ăn không hết, có ai dè đau chơi bịnh ban cua, thuốc chạy không kịp, hóa ra ban cua lưỡi trắng, cậu Ê Minh chầu trời không kịp trối. Cậu ngủm cù đèo trong bộ sắc phục đơ dèm cùi bắp. Thi thể quản nơi nhà thương Tây Grall.

Một mặt liệm và gới quan tài nơi nhà xác, có bốn anh sơn đá da đen, cắt ra canh gác đứng bồng súng đứng bốn góc cái hồm, chờ người thân lên đủ mặt, sẽ đưa ra nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi mai táng.

Một mặt đánh điện tín công khai xuống tòa bố tỉnh Sốc Trăng dạy mời thân quyến người xấu số, đại diện là cậu Ba Ê Chen, gấp gấp lên Sài Gòn, tiễn đưa tống táng.

Nên nhớ buổi ấy ét xăng kiếm xức mũi không ra, có bao nhiêu, bị quân đội Nhựt trưng thu ráo, xe nhà để phơi ngoài sân trồng hành, xe đò xe đưa hành khách, chạy bằng rượu cồn pha thuốc màu vàng khè, tuy vậy xe đường Sốc Trăng lên Sài Gòn chạy rất đúng giờ khắc và chạy rất mau, và vẫn quen chạy vào ban đêm, cắt nghĩa, thêm được mát máy, vả lại trong xứ an ninh hoàn toàn.

Chiếc xe đò của hãng Thuận Hưng, của khách Tàu làm chủ, khởi hành tại bến Sốc Trăng đúng bảy giờ tối, chạy thắng thét đến bến chợ Bến Thành (Sài Gòn) là đồng hồ chợ gỗ mười hai giờ khuya, lúc ấy không có thiết quân luật, và cậu Ba, nóng lòng anh mất không vuốt mặt kịp, cũng không về nhà em rể, nhảy lên một chiếc xe kéo tay, hối chạy cho mau vào dưỡng đường Đồn Đất. Giấy tờ hợp lệ, cậu Ba Ê Chen được vào cửa dễ dàng trong giờ khuya khoắc, trên mình mặc bộ đồ kaki sơn đá, trên tay xách một va li nhỏ, cậu Chen bước thẳng vào nhà xác.

Bốn anh lính đứng gác quan tài, đứa thì ngủ gà, đứa thì mắt mở mắt nhắm lim dim, thoạt nghe tiếng cửa động có người bước vào. Tám con mắt, tròng trắng nhiều hơn tròng đen, da chúng đã đen sẵn nên không thấy đen thêm, tròng trắng muốn lòi ra… chơn thì muốn chạy, mặt không còn chút máu, bỗng nghe bốn cây súng trường chào nghe một cái “rột”, rồi bốn cây súng ấy hạ báng súng xuống mặt gạch lót nhà xác nghe một cái “rụp”, y như bốn cái máy, mà máy gì?

Cậu Ê Chen khóc thút thít, đứng ngó ngay quan tài của anh, sụp lạy hai lạy theo nghi lễ Việt Nam, lạy xong, đứng dậy, gõ mạnh hai giày chào theo quân pháp.

Anh sơn đá cầm đầu bốn đứa, hườn hồn, hỏi lớn bằng tiếng Pháp:

– Chúng tôi hân hạnh chào ai đây?

– Etienne Penne, em ruột của người quá vãng!

– Xin thành thật chia buồn. Chúng tao tưởng mới liệm hồi sáng nay hiện hồn về.

Emile Penne được nằm yên nơi nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi,

Etienne Penne và chị Tư Emilie, được sang Pháp trước khi có lịnh lấy cốt nơi nghĩa địa châu thành, Etienne và Emilie, vẫn ở Pháp nhưng tôi bặt vô âm tín, còn xác, hài cốt của Emile, tôi không tin tức, chẳng biết tòa đại sứ Pháp có tưởng và đưa về Tây địa hay đã tiêu tan chung số với các mồ vô chủ kia.

Mấy hàng ai điếu Ê Minh, có linh xin chứng.

(viết ngày 6-8-1990)

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

Phần 11 – Chuyện về một bài thơ

Dạo đó, tôi bị vào trại giam Mỹ Đức, còn có tên là PC 25B. với tội danh chưa rỏ ràng là “Phản cách mạng, âm mưu lật đổ chính quyền” .Trại thuộc tỉnh Ninh Thuận, nơi tôi cư trú. Chuyển từ Huyện xuống, tôi được đưa ngay vào biệt giam. Gặp ngày tù nhân đang tắm nên lênh láng nước. Tôi ngồi co ro trên nền xi măng của phòng biệt giam chật chội , chẳng buồn nhìn xung quanh, chỉ có một câu hỏi trong đầu: Phải ở nơi nay bao lâu?!

Câu trả lời chỉ có đúng hai năm bốn tháng sau đó!

Người ta thì chỉ ở vài ngày, có khi chỉ vài tuần hay quá lắm là hai tháng, (không tính đến những tù mang án Tử hình. vì họ phải chờ phúc thẩm, khoan hồng…có khi đến cả hai năm)

Không hiểu sao, tôi, không thuộc diện đó nhưng vẫn phải ở tới hai năm một tháng trong cái phòng 1m8X2m này (hai người) lâu như vậy. Sau này tôi đoán biết là cùng bị bắt với tôi có 3 người, hai người kia ở nhà H và nhà B, tôi nằm trong là an toàn, khỏi liên hệ đươc với nhau!!!

Có được ra ngoài hai tháng ngồi cạo trúc (mành trúc) nên tôi có kinh nghiệm rằng: ở trong ấy tiện hơn ở nhà ngoài, tha hồ nằm, tha hồ nghĩ ngợi, tha hồ nhớ nhà…khỏi lăng xăng lao động , nhất là không đụng chạm với ai để bị báo cáo láo, viết kiểm điểm vô duyên!

Chừng hơn một năm sau, thỉnh thoảng bạn chung phòng rủ tôi cổng nhau đứng trên “thùng cầu”nhìn ra ngoài xem sinh hoạt của trại cho đỡ buồn, người này đứng lên vai người kia bám vào tường lén nhìn ra ngoài, thấy các trại viên lui tới mà …thèm!

Trại có hai dãy biệt giam D và Đ , tôi không nhớ mình ở dãy nào, chỉ biết nó nằm đối diện với “nhà nữ”. Nhà nữ hình như trước đây là một nhà chùa hay nhà thờ nhỏ dành cho Tù trong chế độ cũ , nay dùng cho quý phạm nhân nữ.

Mới hai sáu tuổi đời, chưa có gia đình nên tôi thích thú nhìn “nhà nữ” khi có dịp leo lên cửa sổ! Có ở trong hoàn cảnh ấy bạn sẻ thấy tâm lý mình thật lạ. Chẳng hạn có một lần nhìn ra, tôi hốt hoảng thấy một đứa bé chập chửng trên sân, tôi hét lên vì sợ những phạm nhân qua lại vô tình dẫm chết đứa bé, nó mỏng manh và yếu ớt quá!!! (Con của Trại trưởng hay là Y Tá của trại gì đó). Hậu quả là tôi bị còng hai tay, hai ngày sau mới tha, hình phạt này tuy không nặng nề gì nhưng thật khổ. Bình thường, ta ngứa đâu gãi đó, khi còng hai tay rồi, nó ngứa lung tung mà không gãi được. Lăn qua lăn lại như một con giun đất, không khác một cực hình!

Hôm ấy, tôi cùng người bạn chung phòng leo lên, nhìn qua nhà nữ như mọi khi! chao ôi là đẹp! Trước mắt tôi là một cô gái trẻ trung, đứng nhìn trời, hai tay chắp sau lưng tựa người vào cây dừa trước nhà giam…Cô mặc bộ đồ trại phát, vải thô, màu trắng nhưng được sửa lại gọn gàng và nhuộm thành màu xám, màu duy nhất có thể nhuộm vì thuốc nhuộm là một loại bột màu đen được lấy từ một quả pin (có thể tìm được trong những lần đi lao động bên ngoài)

Dáng hình thon thả quá, mắt ngước nhìn trời vu vơ quá, buổi chiều êm ả quá ..và tôi…xao xuyến quá!

Tôi phải xuống để cho bạn thế chỗ! Hình ảnh cô Phạm nhân cứ đeo đẳng trong tôi không tài nào quên được, mà tôi cũng chẳng muốn quên! Mấy lần sau, thỉnh thoảng tôi cũng được nhìn thấy cô ấy, nhưng thật hiếm .

Hồi đó, tôi ít khi làm thơ. Đối với tôi, thơ Tiền chiến là quá đủ cho mình, những dòng thơ ấy là mẫu mực và là đỉnh cao của sự lãng mạn, cứ nhẫn nha với các nhà thơ ấy là quá đủ: Yên Thao, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Hữu Loan. Nguyễn Bính…đủ quá cho tôi!

Nhưng bây chừ, tôi quay quắt với hình ảnh cô phạm nhân này quá, không làm một bài thơ thì không biết nói sao cho vơi nỗi…tương tư! Không bút, không viết, không cả thuốc đỏ đễ làm mực, tôi cư nhẩm trong đầu từng chữ, từng câu rồi học thuộc nó:

Nhìn cô Phạm (nhân)

Em trông mây, bên này tôi củng thế,

Cũng như nhau chúng ta còn quá trẻ,

Tuổi đương xuân và tóc chửa sang màu.

Em môi thơm, còn thoang thoảng hương cau,

Tôi trán phẳng, mới hằn lên nét nghĩ.

Quê em đâu, mẹ cha còn không nhỉ?

Có chồng chưa và có nghĩ gì không?

Tôi mất cha, mẹ già tóc bạc trắng,

Buổi tôi đi người buồn không căn dặn,

Bởi lòng người đã rối rắm như tơ!

Bao đêm rồi chắc hẳn vẩn còn mơ,

Ngày gặp lại đứa con yêu mến nhất,

Tôi hằng nguyện: Mẹ ơi, xin đừng mất,

Trước khi con trở lại sống bên người!!!

Tôi có người em tuổi đôi mươi,

Tóc rẻ mái, má hây hồng tươi tắn,

Mỗi sớm mai khi trời chưa ló nắng,

Hai chúng tôi cùng chung lối lên nương.

Chừ ra sao con chim nhỏ thân thương,

Được êm ấm hay cũng vương sầu khổ?!

Bởi vì thế, khi nhìn em dáng nhỏ,

Tôi chạnh thương và nghe nặng trong lòng!

Xa quê hương đào hơn một lần bông,

Mà cứ ngỡ bao lần hoa mai rụng!!!

Ninh Thuận. Mỹ Đức, XI-1981.

Tôi được ra nhà A sau đó vì ghẻ nhiều quá. Nằm bên một bạn nhỏ hơn tên là Hưng, sợ quên đi bài thơ nên tôi đọc cho Hưng nghe, Hưng học thuộc và hứa sẽ đọc lại cho anh tôi nghe khi nào về được (Hưng làm thủ kho của TNXP ở Quán thẻ. dính líu chút ít thuốc rầy chủ yếu vì bạn bè …nên chắc chắn về sớm).

Ra nhà ngoài, tôi thất vọng đến không tin những gì anh em cho biết về “cô phạm” của tôi! làm sao tin được một cô gái dịu dàng như thế lại có thể có mặt nơi đây vì tội “bóp cổ lấy vàng” chịu án tới hai năm!!! Cái miệng mom móm mà tôi cho là có duyên lại là do mấy cái răng bên trong không còn!!! Và nửa, giang hồ còn gọi cô là “Thu hăng rết” (hết răng). Ối trời!!!

Tháng sau Hưng về, như đã hứa, thay vì đến nhà, Hưng chép cho anh tôi bài thơ, gởi qua đường bưu điện. Cái nhắc lại đây là vì Hưng quá hiền lành, chỉ biết chân thành thôi, nên viết cho anh tôi rằng: …Em chép cho anh bài thơ của người “khuất mặt”.!

Cả mẹ và anh tôi hốt hoảng, khóc lu loa … chắc là tôi chết rồi nên Hưng mới dùng chữ “khuất mặt”. Lo lắng lắm nhưng mẹ và anh tôi chẳng làm  sao được. chỉ mong đến ngày thăm, hy vọng có tin rõ hơn về tôi!

Hơn một năm sau, tôi về với cái giấy lệnh tha ghi rõ: Miễn tố. Quản chế tại đia phương 12 tháng.

Biết mọi chuyện, tôi muốn gặp Hưng nhưng không biết tìm gặp thế nào. Mấy tháng sau, không xin phép địa phương, vì biết xin cũng chẳng được.

Tôi vào Hàm Tân thăm chị đầu của tôi ở đó, chuyện trò qua quýt với chị xong, tôi ra chợ Tân Hà, buổi chiều nên chợ vắng, có quán cà phê ngay chợ với mấy chàng trai trẻ đang uống rượu cùng nhau…Tôi gọi ly cà phê nhìn bâng quơ ra đường, tôi đang lơ đãng thì chợt lắng tai nghe phía bàn rượu có tiếng ngâm thơ nho nhỏ, tôi nghe họ ngâm bài “Đôi mắt nguời Sơn Tây” của Quang Dũng. bài thơ này tôi thuộc nằm lòng nên cũng không chú ý lắm, chỉ vui vui vì đám thanh niên này có vẽ “có hồn thơ”. Một lát, tôi giật mình vì một bạn đọc… “Tôi mất cha, mẹ già tóc bạc trắng…Buổi tôi đi người buồn không căn dặn…” Tôi quay hẳn qua phía họ, bài thơ của tôi, sao họ biết được nhỉ?! Tôi có viết cho ai đâu, in thì càng không, tôi gần như quên nó rồi…Lân la qua bàn bên, Các chàng trai nhìn tôi nghi ngại không đọc nũa. Tôi hỏi họ với nụ cười thật hiền:” Bài thơ vừa rồi của ai thế?” Một bạn nhìn tôi, chăm chú không có vẻ gì thiện cảm, Thú thực, tôi ăn vận khá nghiêm túc, áo vô thùng, cố ý muốn ra dáng cán bộ để …khỏi bị hỏi giấy đi lại!

Vừa may đứa cháu của tôi đạp xe đến, nó vừa học xong, về nhà nghe cậu vào nên đi kiếm. Ở chỗ mà ai cũng biết ai này cũng hay. Cháu tôi chào họ rồi ngồi bên tôi, so ra cháu tôi nhỏ hơn họ, nhưng vì học giỏi, lại tính tình vui vẽ nên nhều người biết.

Không khí đã nhẹ nhàng đi, tôi hỏi lại anh bạn trẻ. Rụt rè anh bạn cho biết là …”bài thơ vừa đọc là của một người tù tử hình!!!” Tôi tá hỏa! “Vậy sao mấy bạn biết?”. Họ lắc đầu không nói, tôi bối rối thật lâu, cháu tôi hỏi tôi sao thế. Tôi muốn nói với Họ là bài thơ đó của tôi, không phải tù tử hình mà chỉ ở tù hai năm bốn tháng và bây giờ đang ngồi với họ đây.., Nhưng chắc gì họ tin! Tôi nghĩ có khi mình đọc cả bài thơ thì họ dễ tin hơn. Nghĩ vậy tôi đọc nho nhỏ cả bài thơ, đang đọc thì một bạn ngồi quay mặt ra đường bổng gọi to: Hưng, Hưng!

Tôi quay người muốn vẹo xương sống. Hưng thật rồi. hai chân chà xèn xẹt làm thắng, Chiếc xe đạp sườn ngang chở hai rỗ cá hấp phía sau, tôi lao ra ôm lấy Hưng làm Hưng ngọ nguậy ngữa người ra sau đễ nhìn tôi cho rõ!”…Anh Hội, anh được tha rồi sao!?…”

Năn nỉ người chủ quán hấp lại dùm hai con cá ngừ, biết anh em lâu ngày gặp nhau, chủ quán nhiệt tình hơn khi ngỏ ý muốn bán số cá còn lại dùm cho Hưng. Chúng tôi uống nhiều và gần như suốt đêm không ngủ, bên hàng hiên nhà một trong những người bạn trẻ.

Bài thơ của tôi không hay, tôi biết vậy, nhưng hai chữ “tử tù ” mà Hưng gán thêm làm nó trở thành…hay!

Tháng  19 tháng XI năm 2012

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

Phần 11 – Người tù vĩnh viễn ở lại rừng Kà-Tót

Đời tù, chiếc lá, hư không

Tấm thân cát bụi giữa dòng tử sinh

Tôi nhớ có lần từ vườn hoa lầu nước Phan Thiết, tôi cong lưng leo giốc, đạp chiếc ce đạp lọc cọc qua mấy nhịp cầu Quan, đổ giốc quẹo trái theo bờ sông bến Trưng Trắc đến nhà Nguyễn Văn Tân gần Air Việt Nam. Tụi tôi 6 đứa thuộc nhóm Toán, tới kỳ học chung và nhà Tân là một trong những chỗ gặp mặt. Năm đó là năm đệ tứ, khi tổ học toán thì tôi cùng nhóm Tân, khi làm bích báo thì tôi thuộc nhóm Huỳnh Ngọc Phẩm và Trần Khánh Thiện. Phẩm viết chữ đẹp, Thiện vẽ và trình bày hết xẩy, tôi viết bài và làm thơ con cóc cạp áo dài trong sân trường Phan Bội Châu…

Lớp tôi còn có một đội bóng tròn mà tôi là thủ môn, Tân chạy trung phong và Đặng Hùng chạy góc mặt, và mấy cô bạn gái cùng lớp Bạch Nga, Kim Cúc… 7,8 cô ngồi bìa sân cạnh trưởng lớp Huỳnh Ngọc Ghênh, phó trường lớp Hoàng Công Bình vỗ tay, cổ võ, hoan hô. Tôi thấy không cô nào đả đảo khi tụi tui thua! Thương mấy cô là ở chỗ này!

Thời buổi đó, em trai của bạn chỉ biết mà không thân quen cho lắm. Biên học sau tôi và Tân một hai lớp gì đó. Tôi biết Biên nhưng không có mối liên hệ thân tình nào. Nếu là em gái của bạn mà lại học cùng trường thì chắc thằng con trai nào cũng nhớ kỹ, còn nếu biết nháy lông nheo nhau thì nhớ chết bỏ, tới ngày thi tương tư chắc rớt là cái chắc. Và cái này thì tôi nói thiệt! Tôi chơi khá thân với Tân, nhưng không rành nhiều về gia đình Tân và Biên.

Tôi vẫn coi thời gian dưới mái trường Phan Bội Châu là thời gian của tuổi thơ, của những đám mây, của những tà áo dài. Trường Phan Bội Châu mà không có tà áo dài của mấy cô nữ sinh thì chắc là sân trường buồn lắm lắm, và chắc là đời cũng thiếu mất những bài thơ của mấy ông thi sĩ học trò Phan Bội Châu! Con trai cái xứ gì đâu mà nhặt bút lên là làm thơ, nhưng để bút xuống thì làm tiền dỡ ẹt! Biết bao nhiêu kỷ niệm, ngọt cũng có, đắng cũng có, cay cũng có, đều có bóng dáng mấy tà áo trắng, mà giờ đây hỏi lại, tôi nào nhớ nỗi cái tà áo nào. Thiệt là tệ hết biết!

Thời gian đi qua, nó đi qua kéo theo tuổi đời chồng lên đầu, kéo cuộc đời những đứa từng ngọt bùi dưới sân trường đi xa trăm lối. Chiến tranh, khói lửa nó như cái lò hồ lô vô hình trong chuyện phong thần, hút cuốn mỗi người đi mỗi ngả; kẻ chết chân đồi, người chôn góc biển, thằng sống bơ vơ hay lao mình trong lửa đạn… Về sau thì tù tội, lưu xứ, vượt biên, tôi không còn gặp Tân và Biên từ đó.

Và rồi cuộc đổi đời oan nghiệt, núi vỡ, sông chia, trời cao xuống mộ, quả đất lại vẫn còn tròn, tôi gặp lại Biên. Nơi gặp nhau là rừng Kà Tót. Nơi gặp nhau là trại “tù tàn binh Kà Tót”. Buổi sáng, chim kêu, buổi chiều vượn hú. Đám tù thất thần, mặt thằng nào cũng như ma nhập, mất trí, khờ khờ trong cảnh chờ chết. Tuần nào dường như cũng có người ra đi heo hút, không vợ con cha mẹ, không bạn bè đưa tiển và những giọt nước mắt của vợ hiền, người yêu nhỏ xuống. . .

Có đêm, trăng rừng rọi sáng sân trại, nhìn trăng, tôi không còn thấy trăng với chị Hằng, chú Cuội, với những vần thơ lảng đảng giăng mắc trên mây, mà tôi chỉ thấy bóng dáng tử thần nhe nanh cười nhìn xuống sân trại, tay cầm búa, tay cầm liềm mà thiên lôi là mấy ông nội giép râu, nón cối kè kè AK chăm chăm vào đám tù, sẵn sàng bắn bất cứ lúc nào.

Có đêm tôi nghe tiếng hú của một ai đó lên cơn sốt và nổi cơn mê sảng trùm chiếu chạy lòng vòng ngoài sân cho đến khi gục xuống, anh em dìu vô sạp. Sáng hôm sau, tôi hỏi thăm, anh em cho biết người lên cơn sốt mê sảng khi đêm là Trung Úy Nguyễn Văn Biên, sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị Chi Khu Tuy Phong. Tôi ngỡ ngàng, thương xót, không biết bây giờ Tân ở đâu mà Biên ở đây. Không biết Biên trình diện hay bị bắt, không biết Biên vô đây hồi nào, nhưng rõ ràng là Biên vô Kà Tót trước tôi.

Đến cái thung lũng chết người này sớm một ngày là đến gần với cái chết sớm một ngày. Cũng như số phận nhiều anh em khác, Biên tàn tạ với những cơn sốt rét ác tính mà những người cộng sản coi như chuyện thường, tù chết chôn nơi xó rừng như một con gà. con vịt. Đó là mệnh số của những người bại trận trong tay kẻ thù mà công ước quốc tế Geneve về tù binh là cái khỉ gió gì, lũ người chiến thắng không hề biết, không hề nghe; mà có biết, có nghe họ cũng cóc cần.

Ngày nghĩ Chúa nhật, tôi lọ mọ qua thăm Biên, Biên đờ đẫn trong cơn sốt, thiếu thuốc men, cơm cháo. Biên đã không nhận ra tôi. Biên như người vô hồn. Hôm sau, vác cuốc đi lao dịch, các bạn tù tiết lộ là “trước khi các ông lên đây, nhiều người đã chôn xác. Biên có lẽ là anh em kế tiếp trên con đường không trở lại đó. Không chừng số kiếp tụi mình cũng nằm trên con đường ra đi không ngày trở lại!”

Tôi làm thinh nghĩ tới phận số của mình. Ngày còn sống trở về coi như giao cho mấy đám mây, mấy cơn mưa trong rừng, mấy con muỗi sốt rét trong đêm, mấy viên đạn trong tay giặc. Và tôi bỗng như lạc thần, coi thân mạng mình nhẹ như không có, không cần thiết gì cuộc sống. Tôi quên đi cha mẹ, không biết mình chui vào thế giới này tự lúc nào, và khi nào sẽ trở lại hư không. Tôi không thấy ông Chúa trên núi, ông Phật trong rừng, tôi chỉ thấy nỗi tuyệt vọng mênh mang, phù du, hư ảo theo những chiếc lá sầu đời rời cành đong đưa về đất sau những cơn mưa, sau những trận gió.

Dù vậy, cơn đói vẫn là cái gì hiện hữu, nó lôi tôi về với hiện tại oan nghiệt, nó cồn cào, nó giục phải nhớ tới mấy dãy bàn tre phát cơm mục lộn sỏi tàn phá răng hàm buổi trưa, buổi chiều cạnh sân trại. Cơm gạo mục với muối chó còn chê mà sao người tù vẫn nhớ, vẫn thèm. Đói quá!

Ngước nhìn lên cây đu đủ trĩu quằn những trái màu vàng chín ngay trên đầu mình mà tay không dám vói, “chỉ trong gang tấc mà xa nghìn trùng”, động dậy, vói tay đụng tới hoa quả của cán bộ, người tù có thể nhận một bá súng, hay một phát AK cũng không chừng. Cây trái, hoa quả mình trồng mà không được ăn, chỉ được quyền làm lụng và ngả chết. Lạ thật! Mạng sống người tù trên rừng Kà Tót nhẹ như chiếc lá mục. Cách mạng gì đâu mà thật là rừng rú, mọi rợ?

Biên nằm trong dãy trại đối diện dãy trại tôi, cách nhau bằng một cái sân hôi mùi nước tiểu. Sân trại, nơi tập họp điểm danh, nơi anh em đái trên đường ra hố tiểu phòng hờ mấy tên bộ đội đuổi ngược vô khi bàng quang còn căn cứng. “Báo cáo cán bộ, hai người dãy A xin đi tiểu?” – Có tiếng hét đâu đó: “Vô! Làng chàng tôi bắn bỏ!” Tiếng AK lên đạn lách cách. Có lúc nó cho phép bằng tiếng: “Đi!” Có lúc nỗi điên vì bị phá giấc ngủ, nó quát: “Vô!” Đám tù Kà Tót không biết đâu mà mò, vô lại mắc tiểu chịu sao nỗi.

Ngủ lại sao nỗi khi đêm trong rừng Kà Tót lạnh căm căm không một manh chiếu đắp với “cái bầu tâm sự mỗi lúc thừa thắng xông lên căng cứng bàng quang!”

Thế là không hẹn mà “cùng biến, cùng thông”, trong những đêm mưa, trong những đêm trăng sáng, anh em bước ra khỏi sạp đều cho phép con chim “phản động” của mình đái trước khi xin phép, nếu cho đi thì tiếp tục tiểu trên đường ra hố tiểu, nếu nó bảo vô thì cái bầu tâm sự cũng đã cạn. Đất Kà Tót là đất của Việt cộng, đâu là đất ông cha, ông cố nội mình mà không dám đái lên đầu nó! Hôm nào trời mưa, nước mưa cuốn bớt mùi hôi,”hôm nào trời trăng, sáng mai trời nắng, mùi khai “thoang thoảng hương bay” phả tràn khắp trại, không ai phàn nàn, không ai thắc mắc. Cái chết rình rập, cận kề, mùi khai nước tiểu là mùi hương của cuộc đời mà người tù Kà Tót nếu có chết đi, thì vẫn còn một chút gì để lại với núi sông!

Sau hơn 4 tháng “hòa tan” thân thế trong rừng Kà Tót, tôi gần như lạnh lùng với chính cuộc đời mình. Gia đình, bè bạn, dĩ vãng… nó biến mất tiêu; tương lai thì đen như rừng Kà Tót ban đêm, tương lai là những tối nghe tiếng heo của trại hét thảm thiết rồi biến mất dần trong rừng sau khi bị cọp chụp kéo đi. Mấy thằng bộ đội chỉ ăn hiếp tù, chứ cọp về chụp heo, nó sợ xanh mặt, chỉ nghe tiếng cơ bẩm AK lách cách chứ chưa nghe thấy nó bắn phát nào vào bóng đêm. Mỗi lần nghe cọp gầm bắt heo, đám tù cũng lạnh cẳng, vì trại không có hàng rào.

Dãy trại tôi có một cái cùm dài tập thể dành khóa những thằng được đảng coi là nguy hiểm, phản động, ban đêm cho tiểu trong lon. Mỗi thằng xỏ chân vô một tổ, khóa bằng khúc gỗ dài thoảng, lỡ cọp chụp kéo đi thì còn cái cùm giữ tấm thân ở lại; dãy không có cùm dài, thân tù đứa nào cũng nhẹ như cái lông heo, cọp nó chụp một phát, chưa kịp hét “Trời ơi”, nó đã bê tù vào tận rừng sâu mất dạng. Tù chết, cọp tha là chuyện nhỏ. “Đảng lãnh đạo, nhà nước sáng suốt, quân đội nhân dân anh hùng” có chịu trách nhiệm, có cần khai báo ai đâu mà thắc mắc, bận tâm? May mà cọp Kà Tót cũng thương tù, ghét Việt cộng, nên chỉ rình bắt heo trại chứ chưa có người tù nào bị cọp vồ!

Buổi chiều thứ Bẩy lao động về, nghe tin dãy trại bên cạnh có anh em chết. Hay tin Biên qua đời, tôi không ngạc nhiên, tôi bình thản như biết trước là Biên sẽ chết. Sáng hôm sau, mặt trời vừa chiếu xéo xuống những tàn cây, rọi sáng sân trại, anh em còn ngủ, tôi thức dậy và bỗng nghĩ đến Tân, người bạn cùng lớp, rồi tôi nghĩ đến Biên. Tôi bước ra khỏi sạp, đi thẳng lên ban chỉ huy trại. Gặp Trung ống vố, trưởng trại đang ngồi rít thuốc lào, tôi lên tiếng:

– Thưa cán bộ! Người chết là anh Biên, em của người bạn thân cùng lớp tôi thời học chung Phan Bội Châu. Tôi quen gia đình Biên. Xin cán bộ cho người về Phan Thiết báo cho gia đình anh Biên đem xác anh Biên. . .

– Im! Anh đùa với cách mạng hả? Ai chết cũng báo về Phan Thiết để nhân dân căm thù và bôi bác cách mạng hả?? Chết đâu thì chôn đó, nghe chưa!

Tôi giật mình vì câu vừa trả lời, vừa hỏi như cáo buộc của Trung ống vố. Tôi hiểu ngay thêm rằng số phận của đám tù Kà Tót đã bị đóng khung, đã bị định đoạt. Trung ống vố xoay người ném cho tôi một tấm bạc, đúng ra là một tấm poncho cũ và lạnh lùng ra lệnh:

– Anh cho người chẽ tre làm nẹp, quấn xác anh Biên chờ chiều nay đem chôn!

Tôi kéo hai tay Biên thẳng theo thân mình. Tôi bó Biên trong poncho. Tôi cột chân Biên. Tôi quàng giây qua mình Biên… Trời ơi! Những cuộn giây rừng oan nghiệp Nó theo Biên về đất và tan theo Biên trong đất. Không còn gì, không còn gì. Tội quá? Tân bây giờ ở đâu?!

Toán chôn Biên do tôi chọn, tất cả 12 anh em gồm tôi, BS Lê Bá Dũng, BS Nguyễn Lê Chánh, Phạm Văn Nhàn, Phan Đạt và 7 anh em nữa tôi không nhớ tên. Chúng tôi đập tre, bện giây và đan thành một vành 7 miếng, xác Biên nằm trọn trong tấm poncho cũ rách, đặt lên các miếng tre và quấn lại. Mắt Biên đã nhắm kín, an phận. Không biết người bạn nào đã vuốt mắt Biên.

Buổi xế, một toán bộ đội không rõ bao nhiêu tên, khi ló ra, khi hiện mất trong bìa rừng, do tên Mẹo chỉ huy. Chúng dắt chúng tôi khiêng xác Biên len lách qua đám rừng tranh theo một con đường mòn hẹp, đến một nơi mà chúng tôi không định được vị trí. Đến một chỗ trống đủ rộng để đào huyệt, Mẹo chỉ: “chôn chỗ này” rồi cùng đám bô đội lẩn vào trong rừng bên cạnh để canh chừng đám tù.

Chúng tôi bắt đầu làm việc, hì hục đào, phá được lớp rễ tranh trên mặt đất là đổ mồ hôi, nhưng khi đào qua một lớp đất đen khoảng tới đầu gối là tới lớp đất đỏ mềm như đất sét pha trộn cát. Lớp đất đen có thể là lớp cây cỏ mục hàng ngàn năm, lớp đất đỏ có thể là lớp đất nguyên thủy đầu tiên khai thiên lập địa. Đất Kà Tót vô cùng mầu mỡ, mỗi cụm khoai mì trong mật khu này, đào lên, tù khiêng một giỏ cống rống, củ nào củ nấy như con heo con.

Vì mệt, anh em thấy huyệt đã tạm sâu, muốn đặt Biên xuống, nhưng tôi chận lại. Tôi nghĩ bộ đội họ không hối, không giục thì mình nghỉ vài phút rồi đào huyệt Biên sâu thêm chút nữa để Biên nghỉ an toàn trong lòng đất. Tôi nghĩ đến đám heo rừng nhiều như Việt cộng trong khu rừng này, tôi sợ chúng ủi mộ Biên. Anh em nghe lời tôi, tiếp tục đào.

Huyệt Biên đã quá sâu, chúng tôi bê Biên đặt xuống đáy huyệt, mỗi anh em ném xuống Biên một nấm đất, cùng nhau lấp Biên, vun thành một nấm mồ lớn. Để chắc ăn là thú rừng không xâm phạm mộ Biên, tôi yêu cầu anh em chặt cây làm hàng rào quanh mộ, và trong thời gian đó, tôi đến một cây lớn cạnh mộ Biên, vạt một mảng thân cây, dùng mũi rựa khắc tên Biên cùng với mũi tên chỉ về hướng mộ. Tôi nghĩ đến cái ngày mồ xiêu mã lạng theo năm tháng, thân nhân Biên có muốn tìm mộ hốt cốt thì có chút ít dấu tích để tìm.

Là một trưởng toán có cấp bậc tương đối cao nhất trong số anh em đào huyệt, tôi bỗng thấy mình có chút trách nhiệm phải làm một cái gì đó cho Biên, trước khi bỏ Biên ở lại vĩnh viễn nơi này. Tôi quyết định làm lễ truy điệu Biên. Chẳng biết tại sao tôi đột nhiên có ý định làm chuyện này. Anh em bất ngờ nghe tôi lên tiếng:

– Anh em đứng hai hàng bên mộ Biên!

Anh em tự động bỏ cuốc và rựa xuống đất, xếp hàng quanh mộ Biên. Tôi hô lớn:

– Tất cả! Nghiêm! Vĩnh biệt Biên? Chào tay… ? Chào…!”

Tiếng tôi hô vang giữa rừng, toàn bộ 11 anh em thẳng người, đứng nghiêm, nâng tay lên chào theo tiếng hô của tôi. Cả một khu rừng cây và tranh bỗng im lặng đến lạ kỳ. Mấy tên VC dắt toán tù lảng vảng ở đâu đó trong rừng tôi không biết. Có thể họ thấy nhưng làm lơ, có thể họ không thấy, song khi tôi quyết định làm lễ truy diệu cho Biên thì tôi bất chấp họ thấy hay không.

Tôi chấp nhận bị trừng phạt, tôi chấp nhận hậu quả của việc mình bày đàng cho anh em truy điệu Biên. Và đó là những giây phút thiêng liêng nhất trong chuỗi đời tù tội của tôi dành cho một anh em cùng trường, cùng hoàn cảnh nhưng hẩm hiu và oan nghiệt hơn tôi. Tôi cũng khó mà quên được những phút giây bỏ Biên lại trên rừng Kà Tót khi quay lưng cùng anh em trở về trại. Nhìn lại mô đất Biên nằm bên dưới, tôi đau xót, cho Biên và cho cả anh em chúng tôi. Cái hoang lạnh, lẻ loi của núi rừng thật ghê rợn.

Đến khoảng cuối tháng 8/1975, toàn trại bất ngờ được báo nghỉ lao động buổi sáng. Linh tính có một biến chuyển gì đó, hên, xui gì không biết. Thình lình lệnh chuyển trại được ban ra. Tất cả anh em đều mừng, dù không biết sẽ đi đâu Đi về đâu cũng được, thoát khỏi địa ngục Kà Tót cái đã càng xa càng tốt.

Chúng tôi dắt díu, khiêng, cõng, dìu nhau rời trại hướng về liên tỉnh lộ số 8. Khi nhìn lại, dòng suối Kà Tót nước chảy trong veo thơ mộng trong những đêm trăng vẫn chảy, nơi anh em tắm giặt trầm mình để vơi bớt trầm luân, nơi Trần Bích Thành Thiết giáp mò nhặt những phiến đá đen tạc tượng Đức Mẹ… chúng tôi thấy người mỗi lúc một nhẹ đi khi xa dần nó. Tuy vậy cái cảm giác bỏ anh em, bỏ Biên lại hiện ra, đau xót, thê lương.

Khi rừng Kà Tót khuất chìm trong tầm mắt, tôi có cảm tưởng có những bàn tay vẫy gọi chia lìa trong rừng thẫm, của Biên và những anh em chịu ở lại muôn đời trên đất chết…

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

Chương 6

Ngay khi vừa qua khỏi cánh cửa, chúng tôi không còn nghe tiếng la hét nữa và tiếng chó sủa cũng xa dần; không còn lính SS nữa. Như là bị di động vì những lò xo vô hình, chúng tôi luôn luôn bước tới trước, Vừa đi ai nấy vừa đoán trong màu xám của bóng đêm, các con đường có doanh trại hai bên làm bằng gỗ và có cả những tòa nhà rất lớn tối om. Và rồi đoàn người dừng lại trước một cánh cửa được soi sáng bởi một ánh đèn đêm màu xanh. Hai người lực lưỡng nói tiếng Đức nhưng lại mặc quần rằn rện 1 cử động để chỉ cho chúng tôi đi vào. Sau chúng tôi, các tù nhân những toa khác dồn tới vì tất cả mọi người đều phải đi qua khung cửa hẹp nầy. Trước hết, đó là một căn phòng với nhiều ghế dài, móc áo và do một cửa khác chúng tôi đi vào một phòng tắm rộng mênh mông. Và như thực vật trời cho, nước bắt đầu chẩy xuống. Lúc ấy, chỉ còn nghĩ đến mỗi một điều, đầu ngửa ra sau, miệng há lớn đón cơn mưa rào quảng đại. Mỗi vòi bông sen, một màn lưới mỏng chẩy xuống vì tất cả mọi người không thể nào vào hết trong phòng, những thùng chứa dị dạng được sử dụng để tiếp tế cho những người khốn khổ, trong số đó có vài người chân đầy máu chỉ có thể tiến vào từng chút một. Những người khác đau đớn vì vết chó cắn và sau cùng có những người điên và người bệnh hoạn. Nhưng tất cả đều chỉ còn nghĩ đến một thứ khoái lạc tập thể mới: uống nước.

Trong bầu không khí kỳ dị nầy, người ta thấy nhiều người dìu bạn mình bị thương hay mê sảng và người khác cầm gào-mên chứa chất lỏng quí giá. Sự cao cả đi cạnh nỗi kinh khiếp.

Nỗi kinh hoàng đầu tiên được xoa dịu dần dần, mỗi người cố tĩnh trí lại và tập họp thành nhóm. Tâm trí trở lại từ từ, cơn mệt mỏi như biến mất. Tóm lại, chúng tôi chỉ khát. Một nhu cầu thú vật đã tạo ra thảm cảnh mà chúng tôi vừa sống trong ba ngày ba đêm. Tất cả băng thuộc trại Compiègne, được thêm đông vì các phần tử mới, hoàn toàn bình yên vô sự. Kỷ lục số nước được uống òng ọc vượt quá chục lít, trung bình là năm.

– Tôi, – Michael nói, – tôi chỉ bắt đầu nhận thấy mùi của chất lỏng khi uống gào-mên thứ tư, mỗi gào-mên chứa gần một lít. Và rồi khi bắt đầu gào-mên thứ năm, đột nhiên tôi buồn nôn.

Chúng tôi dơ bẩn đến nỗi không nhận ra mình trước một tấm gương soi. Lúc khởi hành ở Compiègne, chúng tôi còn là những người dân sự, mỗi người có y phục riêng và nhân cách riêng. Tại đây chúng tôi trông giống nhứ một bầy người múa rối xồm xoàm bị tháo rời từng mảnh. Trong đám đông hỗn loạn, nhiều linh mục mặc áo dòng xuất hiện thật trái cựa. Một trong số đó, một tu viện trưởng trẻ tuổi mang bộ mặt bê bết máu. Vì muốn giúp một người bạn xuống toa xe, ông đã nhận nguyên một báng súng vào trán. Và người bạn nầy lẽ ra cần, được dìu đi, lại phải dìu lại ông bởi vì ông bị đánh bất tỉnh. Nước đã giúp ông ta hoàn hồn một chút, nhưng ngã mình xuống một chiếc ghế dài, hai tay ôm đầu, ông ta tự hỏi không biết có phải mình ở trong phòng đợi của “Địa ngục” “chăng.

Michael luôn luôn đi dọ hỏi tin tức, đã tìm cách nói chuyện với một công nhân phục dịch trong trại nầy. Lập tức một nhóm người tập họp lại vì tất cả mọi người đều tự hỏi, không phải là không lo lắng, người ta sẽ làm gì chúng tôi. Tôi nghe anh ta nói với giọng khàn đặc:

– Tôi cũng là tù nhân như các anh, tôi là dân Đức, tất nhiên… các anh nghĩ gì? Không phải tất cả đối lập chúng tôi đều bị chết hết… còn nữa… tôi đã bị nhốt ở đây mười năm rồi..

Chúng tôi chân thành uống những lời anh ta nói, và họ đa số không hiểu tiếng Đức năn nỉ xin chúng tôi địch dần dần. Người kia, bị vô số câu hỏi tấn công, luôn luôn trả lời, tỏ vẻ rất thỏa dạ vì là đối tượng của một sự chú ý như thế:

– Với các điều kiện hiện tại, người ta không còn chết ở trại Buchenwald nữa, trừ ra những người bệnh ngặt. Thời gian nầy rất tốt… Bây giờ, đây là một nhà dưỡng bệnh thật sự, các, anh sẽ thấy ở đây có đủ sắc dân, đúng, đúng, có cả người Nga nữa. Tiến đến gần hơn chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy anh ta an nói tự do ở đây, anh ta trả lời: “Quân SS đưa các anh cho đến cửa ngoài, ở đây, bên trong toàn trại được các tù nhân chính trị cai quản. Chắc chắn là phải làm việc, nhưng các anh tha hồ nhận quà mà thân nhân có sức gởi cho và viết thơ mỗi tháng một lần. Nhiệm vụ của tôi là mơ ước và cả một hệ thống sát trùng. Vả lại lát nữa các anh sẽ đi qua đó. Cái gì vậy, một tu sĩ?

Anh ta trông thấy ông linh mục bị thương ở trán và tò mò quan sát y phục của nhà tu. Rồi, không có vẻ gì có ác ý, nhưng với giọng chế riễu:

– Sao, Cha còn tin chớ?

Vị đại diện Tòa Thánh ngước đầu nhìn chăm chú người đối thoại và nói với giọng chậm rãi:

– Tại sao không? Hơn bao giờ hết!

Anh kia phá lên cười và bỏ đi, tôi nghe anh ta lẩm bẩm:

– Nhất định là tôi không hiểu nổi.

Những tin tức mà anh bạn tù vừa cho biết có vẻ làm thỏa mãn và chúng tôi tò mò chờ đợi diễn tiến tiếp theo của các biến chuyển. Đã gần bốn giờ sáng. Một chuyển động đưa đám đông về phía bức tường của gian phòng để áo, nơi đó có một ghi-sê nhìn ra một hành lang mở rộng. Hơn một chục vẻ mặt còn thanh niên xuất hiện và chúng tôi nhận thấy những chiếc nón dã chiến của binh sĩ Nga với cái chóp nhọn và hai cánh tai buông thõng. Họ nhìn mặt chúng tôi như những con sóc nhỏ và chỉ nói hai tiếng: “Dai chleb” (cho bánh mì). Michael gốc Nga, lúc nầy tỏ ra có ích hơn bao giờ hết. Một cuộc nói chuyện thân mật diễn ra, chúng tôi chỉ nghe toàn là các âm r. Sau cùng, bị thúc giục khắp phía, Michael thông dịch:

– Họ xin bánh mì và khnyên chúng ta có gì nên ăn hết, vì lẽ chúng ta phải trút bỏ hết áo quần đồ đạc để qua một cuộc tẩy trùng tổng quát sắp sửa bắt đầu ngay. Họ nói hiện nay trong trại có chừng 20.000 tù nhân đủ mọi loại quốc tịch và trong đó có cả người Pháp nữa.

Chúng tôi còn giữ lại bánh mì được phân phát tại Compiègne. Trong thoáng chốc, cả một núi những mẩu bánh mì kèm theo các thực phẩm khác được đưa qua ghi sê có vẻ quá nhỏ hẹp. Hàng chục tiếng “Spassiba”(cảm ơn) lập đi lập lại rập ràng trên các nét mặt rạng rỡ đáp lại “quà tặng của chúng tôi. Một lát sau là bắt đầu một loạt hoạt động giống như trong các lò sát sinh ở Chicago, nhưng với một ý nghĩa khác, may mắn thay cho chúng tôi.

Trước hết, từng nhóm nhỏ, sau khi đi qua một chiếc sân nằm ngay trung tâm của tòa nhà vĩ đại, chúng tôi tiến vào một gian phòng trong đó các tù nhân cũ lấy tất cả đồ đạc của chúng tôi. Tất nhiên là phải cởi hết áo quần, trần truồng. Họ để tất cả mọi thứ vào trong một gói, ghi tên trên một tấm phiếu danh mục tất cả đồ vật quí: tiền bạc, đồ trang sức v..v… các thứ sau được bỏ vào trong một phong bì đặc biệt.-Hubert tuyệt đối muốn giữ lại một tờ giấy một ngàn quan, nên đã nhét nó vào một nơi tự nhiên nhất!

Sau đó, toán nhỏ tù nhân ấy, lúc nầy trần như nhộng, đi qua một gian kế có vào khoảng 20 thợ hớt tóc chờ sẵn với các tông-đơ điện, họ cắt tất, từ dưới lên trên. Lẽ tự nhiên là sau chúng tôi sự việc lại tiếp diễn bởi vì tất cả mọi người đều phải đi qua các giai đoạn biến dạng nầy.

Khi đến phiên tôi, tôi đối diện với một thanh niên tranh dấu Tiệp khoảng hai mươi tuổi. Anh ta biết nói tiếng Đức và nhờ đó tôi được biết hớt tóc là một trong các địa vị tốt đẹp nhất trong trại.

– Sao, người Anh và Mỹ đã đổ bộ lên đất Pháp rồi hả? Anh ta hỏi tôi, trong khi chiếc tông đơ của anh thọc lét vào nách tôi. Tỏ ý tiếc, tôi phải nói với anh ta là tin ấy sai lầm, nhưng nói thêm, chuyện đó cũng sắp xảy đến.

Tiếp theo là một phòng tắm, nhỏ hơn phòng chúng tôi được uống nước hồi đầu hôm nhiều. Bên phải một chiếc bể tắm vĩ đại được gắn liền xuống đất và vào vách tường, trong đó chứa một chất lỏng màu xanh, đang mời chúng tôi nhào vào, đúng hơn, một tù nhân người Ba Lan khổng lồ đứng sẵn đó và anh ta cho chúng tôi hiểu là phải trầm mình xuống hoàn toàn, kể cả đầu, đối với những người ngần ngại, anh ta có nhiệm vụ không để cho họ đợi chờ. Khi chừng 20 người đã lần lượt nhúng mình vào chất sát trùng hơi làm xốn mắt một tí ấy, một công nhân cho nước trên bông sen chảy sau khi phát cho mỗi người một nhúm bột sà bông. Được hớt tóc, sát trùng, tắm rửa xong, chúng tôi đi thành hàng nối đuôi nhau lên tầng thứ nhất và quang cảnh những người đủ hạng tuổi, đủ kích thước, di chuyển trần truồng qua các hành lang và cầu thang thật là bi bài. Trong một phòng lớn, đằng sau các quầy, xứng đáng là một cửa hàng vĩ đại, hàng đống quần, áo vét sơ mi quần cụt, áo len, sẵn sàng cấp phát cho chúng tôi. Một tù nhân làm việc, ở đó, liếc nhìn khổ người chúng tôi và trong niềm hạnh phúc nhỏ bé, sự may mắn, chúng tôi nhận được một gói. Cũng giống như khi hớt tóc, toàn là chuyện bất ngờ; một chiếc nón kết hay một chiếc mũ không ai biết đã được sản xuất tại đâu. Dưới chân, một đôi thiết hài thắt chặt vào nhượng chân. Áo quần được phát ra thì sạch sẽ nhưng vá chằng chịt khắp tứ phía.

Một người Hòa Lan thuộc nhóm nhân viên giải thích rằng, áo quần của chúng tôi đã được sát trùng rồi sắp xếp trong một nhà kho, từ đó, theo lý thuyết, chúng sẽ được lấy ra hoàn trả, khi chúng tôi được phóng thích.

Trái lại, áo quần của những người chết sẽ đưa vào chỗ dự trữ để phát cho người mới đến. Không ai được giữ lại đồ đạc riêng của mình.

Anh ta cũng hỏi chúng tôi làm nghề gì và nói, trước sự tò mò của chúng tôi:

– Ở đây, những tù nhân chính trị Đức cai quản bên trong trại tập trung. Những công nhân có ưu thế rõ rệt. Lát nữa các anh sẽ qua nhiều câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp của mỗi người. Tốt hơn nên khai mình là thợ luyện kim khi hơn là Tiến sĩ Triết học!

Những điều nghe thấy rất được chúng tôi chú ý, nhưng nhiều người đã lo sợ vì các tiết lộ ấy.

Dẫu sao trong hiện tại; không còn phải sợ hãi một cái chết dữ dội nữa, và chúng tôi có cảm giác rõ rệt là họ cần nhân công cho những công việc lớn lao. Tất cả bây giờ là phải lòn lõi vào thật lẹ, bởi vì ngay cả ở địa ngục cũng phải có chỗ sơ hở!

Vụ ăn mặc đã xong, từng người chúng tôi đi qua nhiều bàn giấy, tại mỗi bàn, một câu, hỏi đặt ra liên quan đến huyết thống của chúng tôi. Một trong những câu hỏi đó là: “Địa chỉ thông báo trong trường hợp bị tai nạn”. Nói tổng quát, tất cả các hoạt động nầy, không kể nơi chốn và tuổi tác của một vài người, có thể coi như hoạt động của một hội đồng tuyển mộ.

Một chuyên viên cũng có mặt tại đó. Ông ta hỏi về tất cả những gì có liên quan đến sức khỏe của cơ thể mỗi người. Mọi công chuyện đều được thực hiện với phương pháp hoàn toàn khoa học.

Sự cấp phát một số thứ tự để may trên ngực phía trái ra trên ống quần bên phải đã hoàn thành thủ tục tiếp đón. Khi đến phiên tôi đi ngang qua người có nhiệm vụ phân phối các con số, tôi chú ý con số dành cho tôi đã sẵn sàng từ trước. Trên hai mảnh vải trắng tôi đọc: 44.809. Một tia nhìn buồn rầu hướng vào mặt tôi, và khi tôi đón lấy con số, người quan sát tôi nói: “từ nay con số ấy là tên của anh”.

Phần đông các điều tra viên đều là người Tiệp Khắc biết ít nhiều tiếng Pháp. Vì đa số là người trí thức, họ tỏ ra đứng đắn rất dễ chịu, công việc của họ ở tòa nhà nầy là xếp hạng và sửa soạn áo quần, nhưng khi có công-voa quan trọng đến, họ sẽ đến giúp các đồng nghiệp tại “Poliitsche Ableilung” (Ban điều tra chính trị) nơi đây. các tù nhân có thể chứng minh biết được nhiều thứ tiếng sẽ được phái đến làm việc như thơ ký bàn giấy. Người biết nhiều thứ tiếng, và lẽ tất nhiên, người nào ngoài tiếng mẹ đẻ còn biết thêm tiếng Đức, có hy vọng lớn lao được nhận một trong những công việc nầy.

Như thế, hoàn toàn bị biến đổi, chúng tôi bước ra để đi về phía các dãy trại, mà chúng tôi sẽ sống trong đó. Tòa nhà mà chúng tôi vừa rời khỏi gọi là Effekten Kammer (kho áo quần). Nơi đó có trang bị vòi bông sen, nhiều phòng để sát trùng và một nhà kho có thể giữ đồ vật của vài chục ngàn tù nhân. Với màu sắc tăm tối, nó là kiểu mẫu cổ điển của một trại binh Đức. Gần đó, một kiến trúc đồng kiểu được dùng làm nhà bếp vĩ đại, và giữa hai khối vật liệu đó, trong một khoảnh đất giống một cái sân mọc đầy có còm cõi như bị bỏ hoang; đứng sừng sững, đường bệ, và cô độc, một cây sồi mà dưới gốc đã từng được Goethe, cách đây gần một trăm năm mươi năm, vốn ở gần đó, ở Weimar, thường đến ngồi suy tư.

Phải chăng là do số mệnh trớ trêu, hay là do ý muốn của Himmler 2, lãnh tụ SS tối cao, một trại tập trung có nhiệm vụ bóp nghẹt đời sống tinh thần, đã được quyết định xây cất tại một nơi từng được một trong các bộ óc vĩ đại nhất Đức Quốc, nếu không muốn nói là nhất thế giới đã thường hay đến trầm tư?… Nhưng đổi vtâ chúng tôi đây không phải là chỗ để triết lý, chúng tôi đến đây lúc 2 giờ sáng và lúc bước ra, là 2 giờ chiều. Từ khi nhảy xuống tàu hỏa, trong bụng chúng tôi chỉ có mấy lít nước.

Chúng tôi đi qua các lối đi nhờ có lề đường thô sơ đây đó, và với đôi thiết hài trong chân chúng tôi không thế nào theo kịp người hướng dẫn. Sau khi gót chân bắt đầu đau nhói, chúng tôi được đưa vào một dãy trại được tiêu chuẩn hóa giống như trong bất cứ trại tù binh nào. Hoàn toàn bị chi phối bởi những gót chân đau đớn, chúng tôi không có thì giờ quan sát có gì xảy ra chung quanh trong lúc đi qua khu vực được gọi là tiểu trại.

Khu vực nầy, gồm có hơn mười dẫy nhà được gọi là “khối” và được đánh số, nằm bên dưới của một triền đất nghiêng trên đó trại tập trung Buchenwald được xây dựng. Đó là trú khu của những người mới đến để chịu đựng thời gian kiểm dịch bốn mươi ngày mà chúng tôi vừa được biết các phương thức.

Ngay khi bước vào “khối” dành cho chúng tôi và mang số 62, một tù nhân phát cho chúng tôi mỗi người một chiếc mền nhà binh và từng nhóm tám người chúng tôi đi về phía chỗ nằm. Mỗi “khối” được chia làm 10 hoặc 12 phần gọi là “ngăn mỗi “ngăn” lại gồm có 1 tầng dưới và 2 tầng gác, mỗi tầng lại được phân ra làm 2, chứa 48 người trong tình trạng bình thường nghĩa là khi không có sự ứ đọng tù nhân nội trú. Mỗi người có chỗ vừa nằm duỗi dài, và nếu giữa tầng gác thứ nhì và trần nhà còn có một khoảng trống thì các tầng dưới phải di chuyển bằng cách bò trong bụi bặm và bóng tối, vì giữa hai tầng khoảng cách không quá bảy mươi lăm phân. Tất cả đều bằng gỗ, có hai đệm rơm cho mỗi tám người. Chúng tôi mệt nhoài đến nỗi ngả xuống một cách yên lành đối với chúng tôi là cả một sự giải thoát, nhưng cơn đói đã kềm kẹp chúng tôi. Chúng tôi hy vọng được phát một thứ gì đó để ăn. Nhưng thay vì là thức ăn, chúng tôi nghe một hồi còi và người ta đọc cho chúng tôi một bài diễn văn.

Người diễn thuyết cũng là một tù nhân, bên cạnh số thứ tự trên ngực còn có một hình tam giác đỏ và một chữ N trên đầu cho biết quốc tịch của ông ta. Trong trường hợp nầy N là chữ đầu của Nederland (Pays Bas), vậy ông ta là người Hòa Lan. Ông ta nói tiếng Pháp khó khăn, tuy nhiên cũng đủ để hiểu được. Nhờ đó chúng tôi biết là sẽ ở đây chừng một tháng, một thời gian dùng để khảo sát chúng tôi. Trong thời gian đó, chúng tôi sẽ được chích một loạt sáu mũi thuốc trừ thương hàn, qua một cuộc thẩm vấn khác, và một cuộc khám sức khỏe quyết định với một y sĩ trưởng SS. Sau đó mới được chỉ định vĩnh viễn vào một đội lao tác, và sẽ được qua ở trại lớn, khang trang hơn nếu ở đó còn chỗ. Chúng tôi phải thức dậy lúc 4 giờ 30 sáng và để mình trần, đi qua sân để đến chỗ rửa mặt. Cà-phê hay là một thứ chất lỏng được gọi như vậy và đôi khi là nửa lít cháo lạt lẽo vô vị, sẽ là bữa ăn sáng của chúng tôi. Phần bánh mì dành cho ca ngày cũng được phát vào buổi sáng. Một lít súp được phát cho buổi ăn trưa, và buổi chiều lại cà-phê y như buổi sáng. Một lóng Margarine và tùy theo ngày, một muỗng mứt hay phó mát được phát cùng với bánh mì và thỉnh thoảng với một lát xúc xích. Chương trình trong ngày được bổ túc bằng công tác chùi rửa, nhiều loại tạp dịch bên ngoài và để chấm dứt, cuộc điểm danh.

Chúng tôi cũng biết là mỗi khối sẽ được điều khiển bởi một viên chỉ huy một “Schreiber” (thư ký) và hơn mười “Stubendienst” (phụ tá) mà diễn giả giới thiệu với chúng tôi, tất cả những người nầy đều là người Slaves (Tư Lạp Phu) trừ ra ông ta.

Mỗi người trong nhóm điều khiển có một chuyên môn riêng, chẳng hạn trường hợp ông ta, đó là công tác bảo vệ sức khỏe, một người khác là thợ hớt tóc, một người thứ ba, phụ trách súp, người thứ tư, bánh mì và cứ thế tiếp tục. Tổng quát, họ cai quản cả 500 người chúng tôi. Ông ta yêu cầu mỗi ngăn đề cử một người có trách nhiệm để phụ giúp vào công việc phân phối thực phẩm và cho các công việc tạp dịch đã được nói ở trên được dễ dàng. Tốt hơn hết là một người biết nói tiếng Đức vì được thông dụng ở đây. Diễn giả cũng bảo trước là mỗi “khối” có một Fuhrer, một tên SS đặc trách đích thân điểm danh vì y chịu trách nhiệm về số lượng tù nhân trước ông Lager Fuhrer (Trưởng trại tập trung). Ông ta nó tiếp đến vấn đề kỷ luật phải tôn trọng và nhất là vấn đề vệ sinh rất khắt khe. Thật vậy, khắp nơi chúng tôi đi qua, rất nhiều bích chương được dán trên đó chúng tôi đọc thấy qua nhiều thứ tiếng: “Một con rận = thần chết” với hình một con rận to tướng.

“A! Diễn giả nói tiếp sau một lúc ngừng nghỉ khi nào các anh cần hỏi thăm tin tức, tôi tên là Léo. Vả lại, ngay bay giờ các anh cũng có thể đặt câu hỏi”. Một người, có lẽ đã chờ đợi sự cho phép nầy từ lâu, vì có giọng hỏi cất lên:

“Công việc của trại Buchenwald gồm có những gì?” Đây là điều mà tất cả chúng tôi đều tha thiết muốn biết. Nằm vắt vẻo trên giường giống như các lồng nuôi thỏ không có lưới chắn, những cái đầu thò ra khỏi chăn vươn lên, và chúng tôi lắng nghe một cách kính cẩn.

“Sau thời gian 40 ngày, có anh sẽ được phải đến một biệt đội. Người nào có nghề tay chân liên quan đến sự sản xuất kim loại sẽ được phải tới công xưởng nằm đầu trại tập trung, đó là những người gặp vận hên. Được ở suốt ngày trong nhà, họ sẽ làm đủ thứ chuyện theo nghề chuyên môn và vĩnh viễn được ở lại đấy làm việc. Những người khác – ông ta ngần ngại trước khi nói tiếp, như là có gì trầm trọng phải thú nhận, – những người khác thì sẽ làm việc ngoài sân, hầm đá, đường sắt, đường lộ, tất cả những gì ở bên ngoài, và công tác chuyển vận định kỳ sẽ có những chuyến công-voa đi đến các công trường, mỗi nơi đó lại trở thành một tiểu trại lệ thuộc Trại Buchenwald. Có đủ mọi thứ: mỏ muối, nhiều loại nhà máy, tất cả những thứ đó cũng khá tốt. Tuy nhiên khổ nhọc nhất là ở Dora. Đó là một nhà máy được lập dưới lòng đất, đang được xây cất, và chính nơi đó cần nhiều nhân công nhất. Nó là một quái vật nuốt người khổng lồ”. – Và như muốn bù trừ lại, ông ta nói thêm:

“Tuy nhiên đừng có lo, các anh còn một tháng chờ đợi nữa và chiến tranh còn tiến triển”.

Ông ta còn muốn nói thêm, nhưng một hồi còi báo hiệu giờ điểm danh. Mọi người đều leo xuống đứng vào lối đi chính giữa chia “khối” ra làm hai. Chúng tôi được đặt từng toán năm người và sau khi được đếm kỹ càng, viên chỉ huy khối và viên thư ký đến nhìn mặt chúng tôi. Người đầu tiên là một người Đức miền Sudètes, to lớn, vẻ mặt lạnh lùng ăn mặc ấm áp với một áo khoát ngắn và giày bốt. Người thứ hai là người Nam Tư. Hai giờ sau khi đã được đem chúng tôi còn phải đứng, không thể cử động, không những chỉ vì không có chỗ mà còn vì lý do đơn giản là bất cứ lúc nào tên SS cũng có thể xuất hiện đột ngột. Sau cùng, y đến, tay cầm cuốn vở. Viên chỉ huy khối sau khi hô chúng tôi đứng nghiêm, trình diện nhân số với y. Y đếm, ghi chép và bỏ đi, nhưng như vậy chưa phải là xong. Tất cả các tên SS có người chỉ huy khối đi kèm lại hội họp trong văn phòng trung ương sau khi công tác kiểm soát chúng tôi xong, và bắt đầu cộng tổng số. Nếu kết quả tốt, cuộc điểm danh chấm dứt sẽ được loan báo bằng máy phóng thanh. Trong mỗi dãy trại, một loa phóng thanh được mắc vào phòng của viên chỉ huy khối, và chỉ sau khi lệnh Hay được ban hành, chúng tôi mới được giải tán.

Lập tức mỗi “ngăn” chỉ định một người trách nhiệm. Michael là người được chỉ định trong “ngăn” của anh, và Ramelin ở chung với tôi, đề nghị tôi đại diện cho “ngăn”. Tuy nhiên, trong “ngăn” chúng tôi lại có cả ông tu viện trưởng bị thương trên đầu. Nhận thấy ông ta biết tiếng Đức, tôi khuyên ông nhận nhiệm vụ nầy vốn là nhiệm vụ của một vị lãnh đạo tinh thần. Ông ta nhận lời. Đói và chân cẳng tê liệt, chúng tôi nằm duỗi ra, nhưng một ngạc nhiên khác lại dành cho chúng tôi. Nếu không có rận, thì đệm rơm và sàn ván đầy cả bọ chét và chúng không bị thất nghiệp, đồ mất dạy. Chúng tôi nghĩ rằng người ta bỏ bọ chét vào đó để ngăn không cho chúng tôi ngủ.

——————————–

1Đồng phục của tù nhân.
2Đọc! “Hitler và tên ác quỷ SS Himler” – Sông Kiên xuất bản.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 10 Nov 2025

Bài 29

Cuộc sống ở đảo Royale (tt)

Thế là không bận tâm đến tư thế sẵn sàng tấn công của tất cả những tên cảnh binh có mặt lúc bấy giờ, chúng tôi kéo nhau trở về khối. Khối “B” đang lũ lượt kéo nhau đi làm cả khối “C” cũng vậy. ở khối chúng tôi thấy có chừng mười hai tên cảnh binh đến, và một việc không bình thường xảy ra: họ đóng cánh cửa sắt lại. Một giờ sau, bốn chục tên cảnh binh đứng thành hai hàng hai bên khung cửa, tiểu liên cầm lăm lăm trong tay. Viên phó chỉ huy trại, viên chỉ huy đội gác, viên giám thị trưởng và cả bọn giám thị đều có mặt đông đủ chỉ trừ viên chỉ huy trại đã đi thanh tra đảo Quỷ từ lúc sáu giờ sáng, trước khi xảy ra biến cố vừa qua. Viên phó chỉ huy trại nói:
– Dacelli, gọi từng người một ra.
– Grandet? Bước ra!
Grandet bước ra đứng giữa hai hàng cảnh binh xếp hai bên cửa sắt. Dacelli nói:
– Đi làm đi!
– Tôi không đi được.
– Anh từ chối phải không?
– Tôi không từ chối. Tôi ốm.
– Từ bao giờ? Lúc điểm danh lần đầu anh có cáo ốm đâu?
– Hồi sáng tôi không ốm. Bây giờ tôi mới ốm.
Sáu mươi người được gọi ra khỏi hàng sau Grandet đều lần lượt trả lời đúng như vậy. Chỉ có một người nói thẳng ra là mình không tuân lệnh. Chắc anh ta có ý định làm cho họ phải đưa anh ta về Saint~Laurent để ra tòa án binh. Khi họ hỏi: “Anh từ chối à?” anh ta trả lời:
– Đúng, tôi từ chối, mà từ chối đến ba lần.
– Ba lần? Tại sao?
– Vì các người làm tôi buồn mửa. Tôi dứt khoát không làm việc cho những hạng người đểu cáng như các anh.
Không khí càng thẳng đên tột độ. Bọn cảnh binh nhất là những tay hãy còn trẻ, khó chịu đựng nối khi bị phạm nhân sỉ nhục đến mức ấy. Họ chỉ chờ có một dịp: một cừ chỉ đe dọa của đám phạm nhân, sẽ cho phép họ ra tay trấn áp. Nhưng trong khi chờ đợi. súng họ vẫn phải chĩa mũi xuống đất.
– Tất cả những phạm nhân đã gọi tên, cởi hết ra. Đi về xà lim!
Trong khi áo quần được cởi bỏ tụt xuống đất chốc chốc lại nghe tiếng ruột con dao rơi xuống khoảng sân tráng nhựa đánh cách một cái. Vừa lúc ấy bác sĩ đến.
– Thôi, đứng lên đã! Bác sĩ đây rồi. Xin bác sĩ khám cho mấy người này. Những ai không được công nhận là ốm sẽ vào xà lim. Những người ốm thật sẽ được trả về khối.
– Có sáu mươi người ốm sao?
– Thưa bác sĩ vâng, trừ người kia không chịu đi làm.
– Nào, tôi bắt đầu khám người thứ nhất? – bác sĩ nói. – Grandet, anh ốm thế nào?
– Tôi mắc bệnh rối loạn tiêu hóa của cai ngục bác sĩ ạ. Chúng tôi dầu là phạm nhân bị xử tội nặng, phần lớn đều là án chung thân. ở quần đảo này không có hy vọng gì vượt ngục. Cho nên chúng tôi chỉ có thể chịu đựng nổi cuộc sống này nếu quy chế nhà tù được áp dụng một cách co giãn chút ít và có hiểu biết, thông cảm với chúng tôi. Thế nhưng sáng nay, trước mặt tất cả chúng tôi, một viên giám thị đã tự cho phép mình giơ cán cuốc định đánh một bạn tù được mọi người kính trọng. Đó không phái là một động tác phòng ngự, vì người tù không hề đe dọa ai cả. Bác ta chỉ nói là bác ta không muốn dùng cuốc. Nguyên nhân của bệnh dịch tập thể của chúng tôi là như thế. Xin bác sĩ cứ suy xét.
Bác sĩ cúi đầu nghĩ ngợi dễ đến một phút, rồi nói:
– Y tá, hãy ghi vào: “Do ngộ độc tập thể vì thức ăn, y tá giám thị Mỗ sẽ thi hành nhưng biện pháp cần thiết để phát cho tất cả các phạm nhân khi ốm hôm nay mỗi người một liều hai mươi gam sulfat natri để tẩy ruột. Còn phạm nhân X thì hây đưa vò bệnh viện để chúng tôi kiểm tra xem khi tuyên bố từ chối lao công anh ta có đang ở trong trạng thái tâm thần bình thường hay không”.
Nói đoạn, bác sĩ quay lưng lại, bỏ đi thẳng. 
– Tất cả về khối – Viên phó chỉ huy trại hô. – Nhặt quần áo lên, và chớ quên mấy con dao. 
Hôm ấy ai nấy đều ở lại phòng giam. Không ai ra ngoài được, kể cả người đưa bánh mì. Đến trưa không thấy đưa xúp vào, mà chỉ thấy viên giám thị y tá, có hai phạm nhân y tá đi theo, xuất hiện với một cái xô bằng gỗ đựng thuốc tẩy sulfat natri. Chỉ có ba người phải uống thuốc. Người thứ tư tự nhiên lên cơn động kinh ngã đúng vào xô thuốc, làm cả cái xô, cả cái gáo và cả cả chỗ thuốc mỗi thứ văng ra một nơi: anh ta bắt chước cơn động kinh giống như hệt! Thế là cái biến cố kia chấm dứt, nếu không kể cái lệnh loan cho trưởng khối là phải lau cho khô chỗ thuốc đổ lênh láng ra sàn nhà.
Suốt buổi trưa hôm ấy tôi ngồi nói chuyện với Castelli. Bác ta đến ăn với chúng tôi. Tổ của bác ta thì có một người Toulon tên là Louis Gravon, bị đày vì tội ăn trộm lông thú. Khi tôi nói chuyện vượt ngục, mắt anh ta sáng quắc lên. Anh nói:
– Năm ngoái tôi đã suýt vượt ngục được, nhưng rốt cuộc cũng bị thất bại. Tôi cũng đã cảm thấy anh chẳng phải là người cam phận, đành chịu bó gối ở đây. Chỉ có điều là đã ở Quần đảo này mà nói chuyện vượt ngục thì chẳng khác nào nói chuyện lên cung trăng. Mặt khác, tôi nhận thấy anh chưa hiểu được dân tù khổ sai ở Quần đảo. Trông thế chứ tám mươi phần trăm tự cảm thấy mình ở đây cũng tương đối sung sướng. Sẽ không có ai tố giác anh bao giờ, dù anh có làm gì chăng nữa. Anh giết người nào. Sẽ không có ai ra làm chứng. Anh lấy trộm ư. Cũng thế thôi. Dù một bạn tù có làm gì thì mọi người đều kết lại bênh vực bạn ấy. Dân tù quần đảo chỉ sợ có mỗi một điều: đó là một cuộc vượt ngục thành công. Vì trong trường hợp đó, cảnh sống tương đối yên ổn của họ bị đảo lộn hoàn toàn: khám xét liên tục, không còn được đánh bài, không còn chơi nhạc được nữa- các nhạc cụ đều bị phá huỷ trong những cuộc khám xét,. không còn được đánh cờ vua, cờ đam nữa. Cũng không được làm đồ mỹ nghệ nữa. Mọi thứ không trừ một thứ gì đều bị xúp hết. Họ lục xoát liên hồi. Đường, dầu ăn, bít tết, bơ đều biến sạch. Xưa nay tất cả những người trốn được khỏi Quần đảo với Quần đảo thì đó vẫn là những cuộc vượt ngục thành công: dù sao họ cũng đã trốn được ra khỏi Quần đảo. Do đó bọn gác bị phạt, và lẽ tự nhiên là họ phải trả thù cả đám phạm nhân.
Tôi vểnh hết tai lên mà nghe. Tôi nghe mà không sao khỏi bàng hoàng. Tôi chưa bao giờ xem xét vấn đề dưới góc độ này.
Castelli nói:
– Đến cái ngày cậu quyết định chuẩn bị một cuộc vượt ngục, cậu hãy coi chừng. Trước khi điều đình với một cậu nào, phải suy nghĩ cân nhắc cho thật kỹ, trừ phi đó là một người bạn chí cốt.
Jean Castelli, chuyên gia bẻ khóa, có một nghị lực và một trí thông minh hiếm có. Bác rất ghét sự hung bạo. Anh em gọi bác ta bằng cái biệt hiệu người Cổ đại. Chẳng hạn bác ta chỉ tắm rửa bằng xà-bông giặt Marseille, và nếu tôi vừa tắm bằng xà-bông Palmolive, bác ta liền nói: “ồ, cậu sặc mùi pê-đê, thật đấy! Cậu lại tắm bằng xà-bông đàn bà rồi!” Tiếc thay, bác ta đã năm mươi hai tuổi, nhưng những gân cốt sắt thép của bác trông thật sướng mắt. Bác nói: “Papi ạ, trông cậu người ta có thể ngỡ cậu là con tôi. Sinh hoạt ở Quần đảo không làm cho cậu quan tâm. Cậu ăn nhiều chỉ vì muốn giữ phong độ, chứ không bao giờ cậu nghĩ đến việc tổ chức một cuộc sống lâu dài trên Quần đảo. Tôi mừng cho cậu. Trong cả đám tù khổ sai ở đây chẳng có nổi sáu người nghĩ như cậu. Nhất là nghĩ đến chuyện vượt ngục. Quả tình, cùng có khối người chi ra hàng gia tài để được miễn giảm và chuyển về đất liền, toan tính sẽ vượt ngục từ đấy. Nhưng ngay ở đây thì không một ai tin là có thể vượt ngục”.
Ông già Castelli khuyên tôi: nên học tiếng Anh và hễ có dịp là phải nói chuyện bằng tiếng Tây Ban Nha với một người Tây Ban Nha. Ông ta có cho tôi mượn một cuốn sách học tiếng Tây Ban Nha trong hai mươi bốn bài. Một cuốn từ điển Pháp-Anh. Ông ta có một người bạn rất thân, người Marseille, tên là Gardès, có am hiểu chuyện vượt ngục. Ông này đã vượt ngục hai lần, lần thứ nhất trốn khỏi trại khổ sai Bồ Đào Nha; lần thứ hai trốn từ Đất Liền. Ông ta có quan điểm riêng về việc vượt ngục từ Quần đảo, Jean Castelli cũng có Gravon, ông bạn người Toulon, lại có một cách nhìn khác nữa đối với sự việc. Không ai nhất trí với ai. Kể từ hôm ấy, tôi quyết định tự mình tìm hiểu lấy vấn đề, và không nói với ai về chuyện vượt ngục nữa.Kể cũng gay, nhưng sự tình có thế. Điểm duy nhất mà cả ba người đều nhất trí là đánh bạc chỉ có mỗi cái lợi kiếm được tiền, nhưng lại rất nguy hiểm. Bất cứ lúc nào cũng có thể bị lâm vào cái thế phải đọ dao với một tay anh chị nào đấy. Cả ba đều là những con người hành động, và quả là những tay cừ khôi đáng gườm so với tuổi tác của họ: Louis Gravon bốn mươi lăm tuổi, Gardès gần năm mươi.
Tối hôm qua tôi được dịp phô bày cho mọi người trong khối thấy cách nhìn nhận sự việc và cách hành động của tôi. Một cậu quê ở Toulouse, người nhỏ bé, bị một tay người Nimes thách đấu dao. Cậu bé người Toulouse mang biệt hiệu Cá Trích, còn anh chàng người Nimes, rất to con được gọi là Con cừu. Con Cừu, đánh trần trùng trục, đúng giữa lối đi, dao lăm lăm trong tay.
– Mỗi ván poker phải nộp tao hăm nhăm francs, nếu không, tao cấm mày đánh.
Cá Trích đáp:
– Xưa nay đánh poker có ai phải nộp ai bao nhiêu tiền đâu. Tại sao anh lại nhè vào tôi mà đòi nộp tiền? Thế sao anh không đòi mấy tay chủ sòng Mareilaise nộp tiền đi?
– Tại sao thì chẳng việc gì đến mày. Một là mày nộp, hai là mày không được chơi nữa, hay mày không muốn đánh nhau?
– Không, tôi chả muốn đánh nhau.
– Mày rét à?
– Tôi rét đấy. Vì tôi có thể ăn một nhát dao, có thể chết vì tay một gã anh chị như anh là một kẻ chưa bao giờ vượt ngục. Tôi là dân vượt ngục. Tôi ở đây không phải để giết ai, mà cũng chẳng phải để bị ai giết.
Tất cả chúng tôi đều chăm chú chờ xem những việc sắp diễn ra. Grandet nói với tôi: “Đúng là thằng bé can đảm thật, mà lại là dân vượt ngục. Thật đáng buồn là mình không thể nói gì vào đây”. Tôi mở con dao xếp để dưới bắp vế. Lúc bấy giờ tôi đang ngồi trên cái “võng” của Grandet. Con Cừu nói:
– Thế thì mày định nộp tiền hay thôi chơi, hở thằng chết rét kia? Nói di.
Đoạn hắn bước một bước về phía Cá Trích. Tôi liền quát: 
– Câm mồm đi Con cừu, hãy để cho nó yên!
– Kìa Papillon, cậu điên rồi ư? Grandet nói.
Vẫn ngồi yên không nhúc nhích, tay đặt sẵn vào chuôi con dao để dưới bắp vế chân trái, tôi nói:
– Không, tôi không điên và tôi yêu cầu tất cả các anh hãy nghe những điều tôi sắp nói. Con Cừu ạ, trước khi đánh nhau với anh (nếu anh bắt buộc tôi phải đánh nhau ngay cả sau khi tôi nói xong), anh hãy để cho tôi ngỏ lời với anh và với mọi người rằng từ khi đến ở cái khối gồm hơn một trăm người toàn là dân trong giới này, tôi đã phải xấu hổ mà nhận thấy rằng cái hành động đẹp đẽ nhất, xứng đáng nhất, cái hành động duy nhất đánh gọi là chân chính: vượt ngục, không được kính trọng ở đây. Thế mà bất kỳ ai đã chứng tỏ được rằng mình là dân vượt ngục, rằng mình có đủ gan mật để đem sinh mạng mình đặt lên bàn cân trong một cuộc vượt ngục, thì kẻ ấy cũng phải được mọi người kính trọng, bất kể mọi chuyện khác. Có ai cho là tôi nói không đúng không? Ai phản đối? (Im lặng) Trong luật lệ của các anh thiếu mất một điều, một điều cơ bản nhất: mọi người đều có bổn phận không những phải kính trọng, mà còn phải giúp đỡ, ủng hộ những người vượt ngục. Không ai bị bắt buộc phải ra đi và tôi chấp nhận rằng hầu hết các anh đều đã quyết định sống suốt đời ở đây Thế cùng được. Nhưng nếu các anh không đủ can đảm để tìm cách sống lại, thì ít ra các anh cũng phải có được lòng kính trọng mà những người vượt ngục xứng đáng được hưởng. Và kẻ nào quên mất điều luật của đạo làm người này, kẻ ấy phải chờ đón những hậu quả nghiêm trọng. Tôi đã nói xong. Con Cừu! Bây giờ nếu anh vẫn muốn đánh nhau, thì có tôi đây.
Nói đoạn, tôi cầm dao nhảy ra giữa phòng. Con Cừu ném dao đi, nói:
– Cậu nói đúng, Papillon ạ, cho nên tôi muốn đánh nhau với cậu không phải bằng dao, mà bằng quả đấm, đề cậu thấy tôi không phải là thằng hèn.
Tôi đưa dao cho Grandet giữ. Hai đứa chúng tôi đánh nhau như hai con chó dữ trong khoảng hai mươi phút. Cuối cùng, nhờ một miếng đòn húc đầu đúng lúc, tôi thắng sát nút. Chúng tôi cùng vào phòng vệ sinh rửa cho sạch máu trên mặt. Con Cừu nói:
– Quả thật sống ở Quần đảo mãi đâm u mê ra. Tớ ở đây thế là đã mười lăm năm nay, mà cũng chưa chi được đến ngàn francs để được miễn giam. Thật xấu hổ.
Khi tôi về tổ, Grandet và Galgani mắng tôi một trận.
– Cậu phát rồ rồi hay sao mà lại đi thách thức và lăng mạ mọi người như thế? Tớ không thể hiểu nổi tại sao không có đứa nào cầm dao nhảy ra “hành lang” để đánh nhau với cậu.
– Không đúng đâu các bạn ạ, chẳng có gì khó hiểu đến thế. Bất cứ ai đã ở trong giới chúng ta, hễ thấy ai nói phải thực sự là chịu ngay.
– Thôi được, – Galgani nói. – Nhưng tôi khuyên cậu đừng bày trò đùa giỡn quá nhiều với cái núi lửa này.
Suốt buổi tối hôm ấy có những gã đến gặp tôi. Họ làm như thể tình cờ ghé qua, nói bâng quơ chuyện này chuyện nọ, rồi trước khi bỏ đi, buông một câu: “Tớ đồng ý với những điều cậu nói đấy. Papi ạ”. Cái biến cố vừa qua đã cho tôi có được một vị trí rõ ràng giữa các bạn tù.
Kể từ buổi ấy, chắc chắn là tôi được họ coi như người cùng giới với họ, nhưng lại không dễ gì chấp nhận những điều đã được mọi người coi như đương nhiên mà không phân tích, phê phán. Tôi dần dần nhận thấy rằng hễ tôi làm chủ sòng, đám bạc không mấy khi có chuyện cãi cọ, và nếu tôi ra một lệnh gì thì họ tuân theo rất nhanh.
Như tôi đã nói, chủ sòng được hưởng hồ năm phần trăm mỗi món tiền được bạc. Hắn ngồi trên một chiếc ghế dài, lưng quay vào tường để đề phòng bất trắc, vì bất cứ lúc nào cũng có kẻ muốn đâm hắn từ phía sau. Trên đùi hắn thường có một tấm chăn che một con dao mở sẵn. Xung quanh hắn, ngồi hay đứng thành vòng tròn, là ba mươi, bốn mươi hay có khi đến năm mươi con bạc từ khắp các miền của nước Pháp sang, lại có cả những dân ngoại quốc nữa, như dân A-rập chẳng hạn, cũng khá đông. Cách chơi rất dễ: một người làm cái (làm “chủ nhà băng”), một người cúp bài ngồi cạnh. Mỗi khi nhà cái thua thì nhường quyền làm cái cho người bên cạnh. Cỗ bài gồm năm mươi hai con. Người cúp bài chia bài rồi giấu đi một con. Người làm cái rút một con bài rồi lật ngửa nó ra trên tấm chăn. Thế là mọi người bắt đầu đặt tiền. Có thể đặt vào cửa của nhà cái hay vào cửa của nhà cúp bài. Khi ai nấy đã đặt xong, tiền xếp thành từng chồng nho nhỏ, nhà cái bắt đầu rút từng con bài một, lật lên. Nhà nào cùng bậc với một trong hai con đã lật trên “thảm” thì thua. Chẳng hạn: nhà cúp giấu một con Năm, còn nhà cái đã lật lên một con Đầm. Nếu rút ra được một con Đầm trước khi rút ra một con Năm, nhà cúp thua. Nếu trái lại, rút ra được một con Năm trước khi rút ra một con Đầm, thì nhà cái thua. Người chủ sòng phải biết mỗi món tiền phải chung cho ai. Việc đó chẳng phái là dễ. Lại phải bênh vực những kẻ yếu, sao cho những kẻ mạnh đừng dùng uy thế bắt nạt họ. Khi người chủ sòng quyết định cách xử lý một trường hợp nghi vấn, quyết định của chủ sòng phải được chấp nhận, không lôi thôi gì hết.
Đêm ấy có kẻ đã giết chết một người Ý tên là Carlino. Anh này sống chung với một cậu thiếu niên được anh ta coi là vợ. Cả hai cùng làm việc ở một khu vườn. Anh người Ý chắc cũng biết là tính mạng của mình đang bị đe dọa, vì khi nào anh ta ngủ thì cậu bé thức, khi nào câu bé ngủ thì anh ta lại thức. Phía dưới hai tấm vải căng làm giường ngủ (“võng”) họ bày lổn ngổn những cái hộp sắt tây rỗng để không ai có thể lần mò đến chỗ họ mà không gây thành tiếng động.
Thế mà có kẻ đã đâm anh ta từ phía dưới lên. Tiếng kêu của người bị đâm lập tức được kế tiếp bằng những tiếng loảng xoảng của đống hộp sắt tây bị sát nhân xô đấy trong khi rút lui vội vàng.
Lúc bấy giờ Grandet đang điều khiển một ván bài “Marseillaise”, xung quanh có đến ba mươi con bạc. Tôi thì đang đứng nói chuyện gần đấy. Tiếng kêu của Carlino và tiếng hộp sắt tây xủng xoảng đã làm cho ván bài phải ngừng lại. Ai nấy đều đứng dậy hỏi xem việc gì xảy ra thế. Cậu bạn trai của Carlino chẳng trông thấy gì, còn Carlino thì đã tắt thở. Ông trưởng khối hỏi mọi người xem có nên gọi giám thị đến không. Không? không nên. Để đến mai, khi điểm danh, báo cho họ biết cũng vừa, anh kia đã chết rồi thì còn cứu giúp được gì nữa mà vội? 
Grandet lên tiếng:
Không có ai nghe thấy gì hết. Cả cậu nữa, cậu nhé – Grandet dặn cậu bé của Carlino. – Mai, khi cậu thức dậy, cậu mới nhận là anh ấy chết rồi. Xong. A-lê, lại đánh tiếp. Thế là đám bạc lại nhốn nháo lên như không hề có việc gì xảy ra cả: “Nhà cúp. Không phải, nhà cái chứ!” vân vân. Tôi sốt ruột chờ xem những gì sẽ diễn ra khi bọn gác phát hiện ra vụ án mạng. Năm giờ rưỡi, tiếng chuông thứ nhất. Sáu giờ, tiếng chuông thứ hai sau đó là cà- phê. Sáu giờ rười, tiếng chuông thứ ba, mọi người ra điểm danh, thường ngày vẫn thế. Nhưng hôm nay thì khác. Đến tiếng chuông thứ hai, khối trưởng nói với tên cảnh binh đi kèm người đưa cà-phê:
– Thưa sếp, có một người vừa bị giết.
– Ai thế?
– Carlino.
– Được
Mười phút sau, sáu tên cảnh binh đến:
– Người chết đâu?
Họ nhìn thấy con dao găm cắm vào lưng Carlino từ phía dưới, qua lần vải. Họ rút nó ra.
– Cáng đi!
Hai người khiêng cáng đưa cái xác chết ra ngoài. Trời dã sáng hẳn. Tiếng chuông thứ ba đã điểm. Tay vẫn cầm con dao vấy máu, viên giám thị trưởng ra lệnh:
– Tất cả ra ngoài, xếp hàng điểm danh. Hôm nay không ai được khai ốm nằm lại.
Mọi người đều ra sân. Những buổi điểm danh ban sáng, bọn chỉ huy và giám thị trưởng bao giờ cũng có mặt. Cuộc điểm danh bắt đầu. Nghe đọc đến tên Carlino, khối trưởng đáp:
Chết đêm qua, đã đưa ra nhà xác.
– Được – tên cảnh binh điểm danh đáp. Khi ai nấy đều đã trả lời: “có”, viên chỉ huy trại giơ con dao lên hỏi:
– Có ai biết con dao này không?
Không ai trả lời 
– Có ai trông thấy kẻ giết người không?
Im lặng tuyệt đối 
– Vậy là không ai có hay biết gì hết, như thường lệ. Các người hãy lần lượt giang tay đi qua trước mặt tôi, rồi sau đó người nào đi làm việc người nấy.
– Thưa thiếu tá, bao giờ cũng chỉ có thế. Không có cách gì biết được kẻ nào là hung thủ.
– Xếp việc này lại, – viên chi huy trại nói. Giữ con dao lại, găm một tấm phiếu ghi là con dao này đã được dùng đem giết Carlino.
Thế là xong. Tôi trở về khối nằm ngủ, vì suốt đêm qua tôi không chợp mắt. Trong khi dần dần thiếp đi, tôi nghĩ cái thân một thằng tù khổ sai thật chẳng ra gì Dù có bị ám sát một cách hèn hạ, người ta cũng chẳng buồn bỏ công tìm cho ra thủ phạm. Đối với ban Quản trị, mạng một thằng tù chẳng là cái gì hết. Chẳng bằng mạng một con chó.
Tôi đã quyết định bắt đầu làm công việc đổ thùng thứ hai. Đến bốn rưỡi sáng tôi và một người nữa sẽ đi đổ các bô phóng uế của khối A tức khối của chúng tôi. Theo nội quy của trại thì phải đưa ra tận bờ biển mà đổ. Nhưng chúng tôi trả tiền cho người đánh xe trâu: hắn đợi chúng tôi ở một nơi có khe xây xi-măng dẫn xuống biển. Chúng tôi đổ bô xuống đấy, rồi anh đánh xe trâu trút xuống ba ngàn lít nước biển đựng trong một cái phùng ton-nô khổng lồ mà anh ta vừa xe từ biển lên cuốn hết các thứ xuống biển. Để thật sạch, chúng tôi dùng thêm một cái chổi cứng để lùa các thứ bẩn. Công việc chỉ trong vòng không đầy hai mươi phút là xong. Mỗi ngày chúng tôi phải trả hai mươi francs cho anh kia – một anh da đen đảo Martinique rất dễ thương. Vì đây là lần đầu, tôi phải xách một dãy bô xỏ quai vào hai thanh gỗ, cho nên mỏi cổ tay lắm. Nhưng tôi sẽ chóng quen.
Người bạn mới của tôi rất sốt sắng niềm nở, thế mà Galgani nói đó là một con người cực kỳ nguy hiểm. Đâu như hắn đã phạm đến bẩy vụ giết người ở Quần đảo. Nghề làm ăn của hắn ở dây là bán cứt. Số là mấy người làm vườn đều cần phân. Anh làm vườn đào một eái hố, lót vào đấy một ít lá khô và có thể là anh da đen Martinique bí mật đưa vài xô cứt đến đổ vào đấy. Dĩ nhiên việc này không thề làm một mình, cho nên tôi buộc lòng phải giúp anh ta. Nhưng tôi biết đây là một lỗi rất nặng, vì qua rau quả bị ô nhiễm, có thể lan truyền bệnh kiết lỵ trong các gia đình nhân viên giám thị cùng như trong các khối phạm nhân. Tôi quyết định là một ngày nào đó, khi đã quen nhau hơn, tôi sẽ bảo anh ta đừng làm việc này nữa. Dĩ nhiên tôi sẽ đền bù cho anh ta số tiền mà anh ta sẽ mất vì thôi nghề bán phân.
Ngoài công việc này ra, anh ta còn biết khắc chạm sừng bò. Về phần đánh cá, anh ta nói với tôi là chẳng biết gì để bày vẽ cho tôi, nhưng nếu ở bến tàu, Charpar hay một người nào khác sẽ có thể giúp ích cho tôi.
Thế là tôi làm nghề đổ thùng. Xong việc, tôi tắm rửa sạch sẽ, mặc đồ sọc và ngày ngày ra bờ biền câu cá, muốn câu bao nhiêu thì câu. Tôi chỉ có một bổn phận: đúng giữa trưa phải có mặt ở trại. Nhờ Chapar, tôi không thiếu cần câu và lưỡi câu. Nhưng hôm tôi từ dưới bờ biển đi lên, tay cầm sợi dây thép xâu cá một chuỗi cá hồng, chẳng mấy khi không có những cô vợ giám thị đứng trong nhà gọi ra rối rít. Họ đều biết tên tôi:
– Bươm bướm ơi! Bán tôi hai cân cá hồng nào!
– Bà ốm à?
– Không.
– Thằng bé con bị ốm à?
– Không.
– Thế thì tôi không bán cá cho bà đâu.
Tôi câu được khá nhiều, thường đem cho các bạn ở trại. Tôi đổi tôm cá lấy bánh mì sáo, lấy rau quả hay trái cây, ở tổ tôi mỗi ngày ít ra cũng có một bữa cá. Một hôm, tôi đang đi từ biển lên, tay xách một tá tôm he lớn và bảy tám ki-lô cá hồng. Đi ngang nhà thiếu tá Barrot thì thấy một bà, người hơi đẫy, nói với tôi:
– Anh câu được nhiều quá, Papillon nhỉ. Biển động thế này có ai câu được gì đâu? ít ra đã mười lăm hôm nay tôi không được ăn cá. Thật đáng tiếc là anh không bán cá. Nhà tôi có cho tôi biết anh không chịu bán cá cho vợ các nhân viên giám thị. 
– Thưa bà đúng thế. Nhưng đối với bà thì có thể khác?
– Tại sao?
– Tại bà hơi mập, ăn thịt không được tốt.
– Đúng đấy, họ nói là tôi chỉ nên ăn rau và cá luộc. Nhưng ở đây làm gì có đủ mà ăn?
– Đây, xin bà cầm lấy mớ tôm he và mấy con cá hồng này.
Đoạn tôi đưa cho bà ta cả xâu tôm he và khoảng hai cân cá hồng.
Kế từ hôm ấy, cứ lần nào câu được kha khá, tôi lại đem biếu bà ta một ít, đủ để có được một chế độ ăn thích hợp với tạng người bà. Bà thừa biết rằng ở Quần đảo này thứ gì cũng phải mua bán sòng phẳng, nhưng lần nào bà cũng chỉ đáp lại món quà của tôi bằng hai tiếng “cám ơn” mà thôi. Bà làm như thế là phải, vì bà đã cảm thấy rằng nếu đưa tiền, tôi sẽ phật lòng. Nhưng có nhiều lần bà lại mời tôi vào nhà. Bà tự tay rót cho tôi một ly rượu hồi hay một cốc vang trắng. Nếu bên Corse có gửi figatelli cho bà, bà cũng cho tôi một ít. Không bao giờ bà Barrot hỏi tôi về dĩ vãng. Chỉ có một lần, nhân nói đến trại khổ sai, bà lỡ lời nói: “Quả tình, ở Quần đảo thì không vượt ngục được, nhưng ở đây khí hậu lành, còn hơn phải thối rữa ra như một con vật ở đất liền”.
Chính bà đã giảng giải cho tôi biết sự tích tên gọi Quần đảo: dạo có dịch sốt vàng ở Cayenne, các tu sĩ dòng áo trắng và các bà xơ trong một tu viện nọ đã đến đây lánh nạn, và đều đã thoát nạn. Vì thế mà Quần đảo được gọi là Quần đảo Salut (Quần đảo Cứu nạn). Nhờ cái nghề câu cá, tôi được đi khắp đảo. Tôi làm công việc đổ thùng đã được ba tháng nay, và tôi biết rõ địa thế của đảo hơn ai hết. Tôi đi quan sát các khu vườn lấy cớ là đến đổi cá lấy rau quả. Người trông khu vườn ở cạnh nghĩa địa giám thị là Matthieu Carbonieri, bạn cùng tổ với tôi. Anh ta làm việc ở đấy một mình, cho nên tôi tự nhủ là sau này chúng tôi có thể đóng bè và giấu bè trong khu vườn của anh. Còn hai tháng nửa thì ông chỉ huy trại sẽ đổi đi nơi khác. Tôi sẽ được tự do hành động.
Tôi đã tổ chức được nếp sinh hoạt của tôi: về danh nghĩa tôi là phu đổ thùng, nhưng công việc lại do anh chàng người Martinique làm thay, dĩ nhiên là có trả tiền. Tôi đã có những thao tác làm thân với hai anh em su gia Narric và Quenier, bị khổ sai chung thân. Người ta thường gọi họ là hai anh em rể Đẩy Xe. Họ kể lại rằng hai anh em bị tố cáo là đã biến cái xác của một người đi thu tiền mà họ vừa giết chết thành một khối xi-măng rồi đem đổ cái khối ấy xuống sông. Có những nhân chứng khai là nhìn thấy hai anh em chở khối xi-măng trên một chiếc xe đẩy, đem trút xuống sông Marne hay sông Seine gì đấy. Cuộc điều tra xác định rằng người thu tiền có ghé nhà họ thu một món gì đấy rồi từ đấy không còn thấy tăm hơi đâu nửa. Hai anh em đã phủ nhận tội này từ đầu cho đến nay. Ngay ở trại tù họ cũng nói là mình vô tội. Thế nhưng, nếu người ta không bao giờ tìm được cái xác, thì người ta lại tìm thấy cái đầu của nạn nhân bọc trong một chiếc khăn mùi soa. Thế mà ở nhà hai anh em lại có những chiếc khăn mù soa dệt cùng một kiểu chính thứ sợi ấy, theo lời “các chuyên gia thẩm định”. Nhưng các trạng sư và bản thân các chuyên gia ấy lại chứng minh được rằng có đến mấy ngàn thước vải như thế đã được khâu thành mùi soa. Ai cũng có thể có những chiếc mùi soa như thế. Tuy vậy, cuối cùng hai anh em vẫn bị khổ sai chung thân, và vợ của một trong hai người, em gái của người kia, bị hai mươi năm tù cấm cố.
Tôi đã làm thân được với họ. Vì làm thợ nề cho nên họ có thể ra vào công xưởng của trại. Có lẽ họ có thể tuồn dần ra cho tôi, từng ít một, những vật liệu cần thiết để đóng một cái bè. Nhưng còn phải thuyết phục họ.
Hôm qua tôi đã gặp ông bác sĩ. Lúc ấy tôi đang vác một con cá nặng ít ra là hai mươi ki-lô, thịt rất bùi, gọi là cá mérou. Bác sĩ cùng đi với tôi lên đỉnh đồi.
Lưng chừng dốc, chúng tôi ngồi xuống nghỉ trên một bức tường thấp. Bác sĩ nói với tôi là đầu con cá này nấu canh ngon tuyệt. Tôi bèn biếu bác sĩ cái đầu cá, dính theo một mảng thịt lớn. Bác sĩ ngạc nhiên và cái cử chỉ ấy của tôi, ông nói:
– Anh chẳng thù dai, Papillon nhỉ.
– Thưa bác sĩ, tôi làm như vậy không phải vì bản thân tôi. Chẳng qua tôi thấy có bổn phận phải trả ơn bác sĩ và bác sĩ đã hết lòng cứu chữa Clousiot bạn tôi.
Chúng tôi nói chuyện qua lại một lát, rồi bác sĩ nói:
– Anh muốn vượt ngục lắm phải không? Anh chẳng phải là tù khổ sai đâu. Tôi có cảm giác anh là một hạng người khác.
– Bác sĩ nói đúng đấy. Tôi không thuộc trại khổ sai, tôi chỉ ghé vào tham quan thôi.
Bác sĩ cười. Tôi tấn công luôn:
– Bác sĩ không tin rằng một con người có thể cải hóa được sao?
– Tôi tin chứ..
– Bác sĩ có thể nghĩ rằng tôi có thể làm việc hữu ích ở ngoài đời mà không gây hiểm họa gì cho xã hội và có thể trở thành một công dân lương thiện được không?
– Tôi thành thật tin như thế:
– Thế thì tại sao bác sĩ không giúp tôi đạt được điều đó?
– Bằng cách nào?
– Bằng cách cho tôi miễn giam vì bệnh ho lao. Đến đây bác sĩ đã xác nhận một điều mà tôi đã từng nghe nói.
– Làm như thế không được, và tôi khuyên anh đừng nghĩ đến cách đó. Nó quá nguy hiểm, Ban Quản trị chỉ miễn giam một phạm nhân vì bệnh sau khi hắn đã nằm ở khu điều trị dành riêng cho bệnh ấy ít nhất là một năm.
– Để làm gì?
– Cái này nói ra cũng xấu hổ, nhưng tôi nghĩ rằng họ làm như thế là để phạm nhân biết, nếu hắn giả vờ bệnh, rằng hắn rất có khả năng bị nhiễm vì sống chung với các bệnh nhân thật, và để hắn nhiễm bệnh thật sự. Cho nên tôi không thể giúp anh được.
Kể từ ngày ấy, chúng tôi trở thành đôi bạn… Cho đến ngày ông ta suýt làm cho Carbonieri bạn tôi mất mạng. 
Số là Carbonieri, với sự thỏa thuận của tôi, đã nhận làm đầu bếp kiêm giữ kho cho nhà ăn các giám thị trưởng. Nhận việc này là để nghiên cứu xem có thể lấy trộm ba cái thùng ton-nô trước đó đựng rượu vang, đựng dầu và đựng dấm, tìm cách buộc nó lại với nhau làm thành một thứ bè để ra biển không. Dĩ nhiên là khi nào thiếu tá Barrot đã đi khỏi. Việc này rất khó, vì cùng một đêm phải lấy trộm cả ba cái thùng, đưa ra bờ biển đừng để ai trông thấy hoặc nghe thấy, rồi dùng dây cáp buộc lại. Phải vào một đêm giông bão, mưa to gió lớn may ra mới có thể làm được. Nhưng nếu mưa to gió lớn thì việc khó nhất sẽ là đưa cái bè này xuống nước, vì tất nhiên sóng sẽ đánh vào bờ đá hết sức dữ dội.
Vậy Carbonieri là đầu bếp. Viên quản lý bếp đã đưa cho anh ta ba con thỏ để chuẩn bị cho bữa ăn hôm sau, vào ngày chủ nhật. Carbonieri lột da thỏ ra (điều này thật là may), đem một con gửi cho thằng em ở bến tàu còn hai con gửi cho chúng tôi. Rồi anh ta thịt ba con mèo to nấu một nồi xi-vê ngon không thể tả. 
Chẳng may cho Carbonieri, hôm sau bác sĩ được mời dự bữa ăn. Trong khi nhấm nháp món xi-vê thỏ, ông ta nói với viên quản lý:
– Ông Filidori ạ, xin có lời khen ngợi thực đơn của ông: món thịt mèo này ngon tuyệt.
– Xin bác sĩ đừng xỏ tôi, chúng ta đang ăn ba chú thỏ tuyệt vời.
– Không đâu, – ông bác sĩ khăng khăng nói quả quyết- Đây là thịt mèo. Ông có nhìn thấy mấy miếng xương sườn tôi đang ăn đây không? Xương sườn này dẹp, mà sườn thỏ thì tròn. Vậy không thể có sự nhầm lẫn gì được: chúng ta đang ăn thịt mèo.
– Lạy Chúa, Cristacho! – viên quản lý người Corse nói. – Trong bụng tôi có một con mèo rồi.
Thế là hắn chạy bổ xuống bếp dí súng lục vào mặt Matthieu nói:
– Mày có là dân sùng mộ Napoléon như tao cũng mặc, tao sẽ giết mày chết ngay bây giờ về tội đã cho tao ăn thịt mèo.
Mắt hắn trợn lên như mắt người điên. Carbonieri không hiểu nổi làm sao hắn biết được, nhưng vẫn nói:
– Nếu ông gọi mấy cái con gì mà ông đưa cho tôi là mèo, thì tôi cũng đến chịu: đó chẳng phải là lỗi của tôi.
– Tao đưa cho mày ba con thỏ kia mà!
– Ông đưa gì tôi nấu nấy. Ông cứ nhìn mà xem: da với đầu còn kia kìa.
Lão cớm nhìn ba bộ da và ba cái đầu thỏ, chẳng còn biết nói sao.
– Thế ông bác sĩ chỉ nói mò à?
– Té ra ông bác sĩ nói thế sao? – Carbonieri vừa thở hắt ra vừa hỏi. – Ông ấy trêu ông đấy. Ông phải nói cho bác sĩ biết là không nên đùa cái kiểu như vậy.
Nguôi giận, yên lòng, Filidori trở vào phòng ăn, nói với bác sĩ:
– Ông cứ tha hồ nói đi, muốn nói gì thì cứ nói ông bác sĩ ạ. Men rượu bắt đầu bốc lên rồi đấy. Mấy cái xương sườn của ông nó bẹp hay nó tròn mặc nó, chứ tôi thì tôi biết chắc mười mươi đây là thịt thỏ. Tôi vừa nhìn thấy ba bộ lông và ba cái đầu của nó còn sờ sờ ra đấy.
Thật hú vía cho Matthieu, nhưng mấy hôm sau anh ta thấy nên xin từ chức đầu bếp thì tốt hơn.
Ngày tôi có thể sắp sửa hành động đã đến gần.
Chỉ còn mấy tuần nữa là Barrot ra đi. Hôm qua tôi vừa ghé thăm bà vợ béo tốt của ông ta (nhân thể cũng xin nói rằng nhờ chế độ ăn cá luộc với rau tươi, bà ta đã gầy bớt đi nhiều). Ngời đàn bà tốt bụng này đã mời tôi vào nhà để tặng tôi một chai rượu canh-ki-na. Trong phòng khách tôi nhìn thấy mấy cái rương đi tàu thủy đang được xếp đồ đạc vào. Họ đang chuẩn bị cho chuyến ra đi. Bà thiếu tá, như mọi người vẫn quen gọi bà ta, nói với tôi:
– Papillon ạ, tôi không biết lấy gì để cảm ơn anh đã quan tâm đến tôi mấy tháng gần đây. Tôi biết những hôm biển động cá hiếm anh đã cho tôi tất cả những gì anh câu được. Tôi cảm ơn anh nhiều lắm. Nhờ anh bây giờ tôi thấy trong người dễ chịu lắm. Tôi đã bớt được mười bốn ki-lô. Tôi có thể làm gì để tỏ lòng biết ơn anh đây?
– Thưa bà, một việc rất khó đối với bà: kiếm cho tôi một cái la bàn tốt. Chính xác, nhưng đừng to quá.
– Cái này vừa không đáng là bao, lại vừa là việc lớn đấy, Papillon ạ, mà chỉ trong vòng ba tuần phải kiếm cho ra thì hơi khó cho tôi đấy.
Tám ngày trước khi ra đi, người đàn bà cao thượng này, bực mình vì mãi không kiếm đâu ra được một cái la bàn; đã dám lên tàu thủy đi Cayenne. Bốn hôm sau, bà trở về với một cái la bàn chống nhiễm từ tuyệt hảo.Sáng nay, hai ông bà chỉ huy trại lên đường. Hôm trước ông đã trao quyền chỉ huy cho một sĩ quan cảnh binh cùng cấp với ông, một người quê ở Tunisie tên là Prouillet. Một tin mừng: viên chỉ huy mới đã quyết định cho Dega giữ nguyên chức kế toán trưởng. Điều này rất quan trọng đối với mọi người, nhất là đối với tôi. Trong bài diễn văn đọc trước đám phạm nhân tập hợp thành đội ngũ hình vuông trong khoảng sân lớn, viên chỉ huy mới làm cho mọi người cảm thấy đây là một con người rất cương nghị, nhưng thông minh. Ngoài những chuyện khác ra, ông ta có nói với chúng tôi:
– Kể từ hôm nay, tôi đảm nhiệm quyền chỉ huy Quần đảo Salut. Nhận thấy có phương pháp cai quản của người đi trước tôi đã đem lại những kết quả tích cực, tôi không thấy có lý do gì để thay đổi chế độ hiện hành. Nếu các người không làm điều gì buộc tôi phải có biện pháp khác, tôi sẽ không thay đổi gì trong nếp sống của các người.
Tôi nhìn hai ông bà chỉ huy cũ ra đi mà lòng mừng khấp khởi. Điều đó cũng rất dễ hiểu, tuy thời gian chờ đợi đã trôi qua một cách nhanh chóng lạ lùng. Cuộc sống tưởng chừng như tự do mà hầu hết các phạm nhân trên đảo được hưởng, những ván bài, những buổi đi câu những cuộc chuyện trò, những người bạn mới, những cuộc cãi vã những trận đánh nhau làm thành những phương tiện giải trí rất hữu hiệu, khiến người ta không còn thì giờ để mà buồn chán nữa.
Tuy thế, tôi đã không để cho cái không khí này lôi cuốn tôi thực sự. Mỗi lần tôi kết thân với một bạn mới, bao giờ đồng thời tôi cũng tự đặt ra câu hói: “Anh này liệu có ý định vượt ngục không? Nếu không, anh ta có đủ lòng tốt để giúp người khoẻ chuẩn bị một chuyến vượt ngục không?”
Tôi chỉ vì cái mục đích ấy mà sống: vượt ngục, vượt ngục cho bằng được, dù đi một mình hay cùng đi với bạn cũng thế thôi. Đó là một ý nghĩ thường xuyên ám ảnh tôi, tuy tôi theo đúng lời như Jean Castelli đã khuyên tôi, không nói hở ra với ai hết, nhưng ý nghĩ ấy không giây phút nào rời khỏi tâm trí tôi. Và tôi sẽ vững lòng thực hiện lý tưởng của tôi: vượt ngục.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 9 Nov 2025

3. Chương 3

Khóc cho tuổi già vô dụng

(Viết từ ngày 30-4-1990)

Vừa rồi, ngày 29/4, một bạn trẻ đến nhà, cho tôi xem tờ Lao Động số 15/90 (20) đề ngày chủ nhật 29-4-1990. Nơi chương 3 có bài của ông Nguyễn Đắc Xuân, dưới nhan điều tra xã hội về vấn đề lăng mộ vua, chúa Nguyễn ở Huế bị đào “Đâu Rồi Những Báu Vật”?

Tôi đọc bài nầy mà nước mắt cứ tuôn… và tự trách sống làm chi để nghe thấy những việc thương tâm như vầy. Và lại, tôi còn năm tháng nữa, đến ngày 27 tháng 9 âm lịch tới đây là tôi ăn tuổi chín chục, đâu còn dư nước mắt khóc chuyện bá vơ. Với tuổi già lẩn thẩn, xin cho tôi tóm tắt kế lại những gì anh Nguyễn Đắc Xuân đã viết. Ban đầu tôi gọi ông, nay tôi lại gọi anh, rõ tôi lầm cẩm và lần thần chưa? Lý do là giữa hai tôi có chút tình biết nhau từ trước nơi trường Đại học Văn khoa Huế, Đắc Xuân là sinh viên, còn tôi vốn là trợ giáo giảng viên chỉ dẫn môn “văn chương miền Nam”, dấu nặng ra dấu huyền, một tỷ dụ khác, năm đó tôi đen quán cơm, xin một món gà xáo măng, khi dọn ra, tôi không thấy chút măng kho măng tươi nào, tôi hỏi chủ quán, ông tỉnh bơ trả lời: “Mặn như vậy thôi chứ còn muốn mặn làm sao nữa”, tôi là giáo cá ra dạy tiếng Miền Nam, đành chịu thua ông chủ quán Huế!

Tóm tắt để phê bình bài của anh Xuân, và xin Xuân đừng phiền:

Bài anh viết khéo, khéo đón ngó ngăn rào. Bấy lâu tôi từng đọc bài của anh trong báo Sông Hương, anh từng đi kháng chiến, nên anh mạnh viết, chớ như tôi đã già, đã về vườn, không chút công với xã hội, tôi dư biết cho thân, thà làm dế trốn trong hang, có lẽ được yên thân hơn là múa mép gáy cho trẻ nhỏ biết chỗ trốn, chúng đổ nước ngập hang, bắt về nuôi trong hộp diêm (hộp quẹt), thinh thoảng bắt ra đá độ, gãy càng queo râu toi mạng.

Vô đầu, anh nhắc một anh bạn tên Huế, đã từng cùng anh ở chung một cơ quan Tuyên huấn Thành ủy, nay anh Huế cho biết bọn gian đào mồ cuốc mả, đã đào phá lăng bà Từ Dũ thái hậu nhà Nguyễn, để lấy vàng. Tôi nay không biết bọn quân gian ấy, cả tháy sáu tên, đã bị xử tội cách nào, nay duy biết số vàng chúng cướp đã bị Nhà Nước thâu lại. Việc đào phá mộ lăng xảy ra năm 1983, mà cho đến nay 1990, mới được anh mạnh dạn phanh phui, riêng tôi tuy giận và ghét quân gian ăn trộm vàng, nhưng một lẽ khác tôi lại thấy nhờ tay chúng nó, của báu mới chường ra mặt trời, và theo tôi tội đáng trách nhứt là ông, mấy ông cầm cân nẻ mực, xử lý, tôi không trách hết cả đám đâu, và đây tôi xin kể dài dòng cách thức anh Nguyễn Đắc Xuân, theo dấu và dò lần từ đầu chí cuối. Thâu tóm được tang vật, giao cho ban quản lý ngân hàng tỉnh Bình Trị Thiên (nay là Thừa Thiên, Huế), nhưng việc theo dấu tang vật để thâu lại, việc ấy không phải dễ dàng. Anh Xuân vào Đại Nội hỏi thăm, gặp ban giám đốc công ty quản lý, di tích nơi cất giữ báu vật, thì đồng chí giám đốc cơ quan nẩy cho biết các báu vật ấy đã giao qua ngân hàng B.T.T., khi ấy anh Xuân không nệ khó nhọc, di lần từ tòa án tỉnh, tòa án thành phố Huế, rồi qua ban trị sự Nguyễn Phước tộc, qua ban trị sự Phủ Tuy Lý Vương, các cơ quan ấy đều tận tình giúp anh Xuân, và anh Xuân cho hay các cơ quan lập thống kê gần giống nhau.

Nhắc lại công an thành phố Huế bắt được vụ trộm vào ngày 18-5-1983, các tang vật được niêm phong tại ngân hàng B.T.T. vào năm 1983. Hội đồng niêm phong có chữ ký rô ràng là các vị: Nguyễn Hữu Nhĩ (công ty di tích Huế), Lê Minh Huê (công an thành phố Huế), Ánh Tuyết (viện kiểm sát thành phố Huế), – tôi đọc đến đây thấy việc họ làm là rất chu đáo, và như lời anh Xuân viết trong bài, nhìn nhận các cơ quan và ngân hàng B.T.T., làm việc rất chặt chẽ, nghiêm túc. Và kể từ đây, việc làm mới thật là đáng trách:

Vụ án được tòa án Bình Trị Thiên xử sơ thẩm, và tòa án Nhân Dân tối cao tại Đà Nẵng xử phúc thẩm. Tòa sơ thẩm quyết định đem sung công một số báu vật, nhưng tòa xử phúc thẩm (ông Mãn Vi Đinh, ngồi đầu tòa, bồi thẩm có Nguyễn Trọng và Huỳnh Mạo), lại quyết định cái án sơ thẩm (về vụ Hoàng Văn Huỳnh), giữ tất cả di vật vàng bạc châu báu đăng ký, gới tại ngân hàng B.T.T., theo phiểu gởi 785 gồm 19 khoản (chớ không phải 18 như Xuân đã kể nơi đoạn trước), có danh sách kèm theo “nay đem vào sang công quỹ Nhà Nước”.

Và đây nguyên văn của bài anh Nguyễn Đắc Xuân:

“Những báu vật đã bị hành quyết”.

“Thực hiện quyết định của tòa án tối cao, ngày 26-12-1988, ngân hàng B.T.T cùng với các vị Trần Nguyên Lượng, (đại diện tòa án B.T.T), bà Nguyễn Thị Thu Dung (Sở Tài chánh),

Hoàng Thị Như An, (viện kiểm sát tỉnh Thừa Thiên), Lê Duy Lâm (công an thành phố Huế); không có đại diện cơ quan Văn hóa, tổ chức hội đồng Hóa nghiệm, để sung số báu vật trên vào công quỹ.

“Và sự hóa nghiệm đã cho thâu:

“vùng 13 lượng 9 chí 5 phân,

“bạc: 0,010kg,

“ngọc: 1890 ca-ra:

“Tất cả số vật chất này đưa qua công ty vàng bạc bán được 23.362.122 đồng, (Thời giá lúc đó 2.300.700đ/lượng). Số vàng ngọc bị rổ, có cái bán 4.000 đồng, có cái chí bán được 2.000 đồng (tương đương một lon bia ở khách sạn du lịch). Lấy số tròn là 23.300.000 đồng… Không phải tất cả những báu vật trên đều bị ngân hàng hóa nghiệm. Một số đã bị bọn tội phạm đem đi hóa nghiệm làm ra khâu trước. Ngân hàng chỉ thâu lại bằng vàng chớ không phải bằng báu vật. Hơn nữa muốn nhập vô ngân sách, Nhà Nước trước nhất phải hóa nghiệm ra vàng rồi mới nộp được.

“Thế là tất cả những báu vật mà công ty quản lý di tích giờ nảy cứ tưởng đang được cất giữ rất bảo đảm ở ngân hàng tỉnh nhà, thì ra chúng đã bị hóa nghiệm từ cuối năm 1988”.

Đọc đến dây, lòng tôi bị cảm kích quá độ, tôi khóc ngay hay là nước mắt cứ tuôn trào, tôi nay thuật lại đây, vẫn bời rời đứt đoạn như nước mắt, xin độc giả niệm tình dung thứ và hãy cho tôi chép lại đây đoạn cuối của bài anh học trò cũ Nguyễn Đắc Xuân, mặc dầu như vầy là dài dòng, nhưng cốt để cho câu chuyện có thủ có vĩ. Bài anh Xuân viết tiếp:

“Đ/c Ưu (Lê Văn Ưu, người quản lý vàng bạc phạm pháp của ngân hàng tỉnh), đ/c Ưu cho biết số tiền trên đây đã được trích theo chế độ đã được ban hành để thưởng cho đơn vị đã phát hiện và tớm cổ được bọn tội phạm. Số còn lại theo quyết định 242 của tỉnh, nộp 50% vào ngân sách thành phố và 50% vào ngân sách tỉnh.

“Việc hóa nghiệm vừa nói gây ra nhiều điều thiệt hại:

“1) Dưới cái nhìn đơn thuần kinh tế: Nếu để nguyên những báu vật ấy, trao cho mọi người biết đó là những báu vật của bà Hoàng Thái Hậu có thế lực nhất của triều Nguyễn, là bà Từ Dũ, lại lấy dưới mộ của bà, theo cái giá của những nhà chơi đồ cổ, chắc cũng phải lên đến hai trăm ba mươi triệu, một cái vòng ngọc ít nhất cũng bán được 100.000 đồng, chứ không phải chỉ bằng một tô bún hoặc lon bia xuất khẩu. Nói như thế cho hết lý, chớ nữ nào lại đem đi sản văn hóa của cha ông đi bán đấu giá!

“2) Dưới cơn mắt của người làm văn hóá, chì đó là một thiệt hại không thể nào bù đắp được. Những báu vật ấy gớp phần biểu thị cho nền văn hóa vật chất của dân tộc ta thế ký thứ XIX là những báu vật vô giá.

“3) Dưới cơn mắt của người lao động, (trí óc và chơn tay), đó là một xúc phạm thô bạo. Tài năng của người nghề gì, của người thợ làm nên tác phẩm để đời không được tôn trọng bằng vàng!

“Có cách vào để sửa chứa sự sai lắm này? Câu trả lời, xin nhường lại các cấp thẩm quyền”.

Huế 24-3-1990. Nguyễn Đắc Xuân.

Tiếp theo đây, đến lượt tôi nói chuyện và bàn riêng với Nguyễn Đắc Xuân.

Tôi lấy làm hãnh diện được có một người bạn nhỏ, tiếp tuc biết “thương hoa tiếc ngọc”, biết muốn bảo tồn văn hóa và xem văn hóa là quan trọng, tôi cũng xin lỗi anh Xuân, vì quá đau lòng trước một sự mất mát quá ư to lớn và không đáng phải xảy ra, anh có kể nơi phần đầu bài bảng danh sách các bầu vật đã mất, và đến đây tôi mới chép lại như sau để tiện góp cùng anh chút ít ý kiến nghe hiểu riêng về chuyên môn, các báu vật đã mất, theo anh đã kể là:

“Một vòng xuyến, kim loại màu vàng. (Theo tôi hiểu, xuyến là một nữ trang để đeo nơi cổ tay người phụ nữ.

Anh nói một vòng xuyến kim loại, như vậy là hết sức dè dặt, đáng khen. Tôi nhớ lúc trước, trào Pháp, họ cũng cẩn thận lắm và dùng danh từ hết sức là đề phòng (đề phòng xảy ra chuyện rắc rối kiện thưa lòng vòng rối rắm, cho nên thay vì gọi “bằng vàng, bằng kim cương, hột xoàn, hột thủy xoàn, nói tỷ vậy, thì họ dùng danh từ phân hai, là “supposé or”, “supposé diamant”, có nghĩa giả thiết, cứ cho vật ấy là vàng “supposé or) hoặc giả thiết cứ cho vật ấy là kim cương (supposé diamant, supposé brillant), và như vậy, sẽ vanh cánh dứt khoát việc tranh giành kiện thưa cãi cọ về sau);

“Một vòng xuyến kim loại bằng vàng, ở giữa có khắc bốn chữ Hán (Đến đây tôi xin nêu ra một câu hỏi, tại sao lúc ấy không tìm người phiên âm bốn chữ Hán ấy, để hiểu nghĩa là gì, bộ ở Huế đã hết người thông thạo chữ Hán hay sao?).

Nếu phiên âm rành rẽ, sẽ tránh được sự hờ hững về sau.

“Một vòng đeo tay kim loại màu vàng có đính 11 hạt trắng lống lánh (có lẽ là kim cương, vì đời bà Từ Dũ, trong Đại Nội còn tích trữ nhiều kim cương báu vật lắm, Bà Thái Hậu Từ Dũ đã mất rất nhiều báu vật kim cương châu ngọc trong năm loạn ly vua Hàm Nghi bôn đào lên Tân Sở, bà và bà Học phi cùng hoàng cung đã chạy ẩn náu nơi Khiêm cung lúc binh Pháp xâm nhập phá phách Đại Nội, và gần đây, chính lão Cẩn Trầu cũng đã đoạt một mớ kim cương của dòng họ Phạm ở Huế và làm mất hết buổi lão bị bắt…).

“Sáu chiếc nhẫn bằng vàng, trên có đính một hạt trắng lóng lánh (kim cương chớ không phải đá tầm thường, theo tôi hiểu).

“Ba hộp kim loại màu vàng;

“Một miếng kim loại màu vàng, trên có nhiều hạt li ti màu trắng (cũng chắc đó là kim nữa, theo tôi); nơi sau có bản lề (tức vàng thấp).

“Một vòng đeo tay kim loại màu vàng;

“Chín mươi ba hạt kim loại màu vàng, gồm ba loại hình tròn hạt cườm (theo tôi, có lẽ đó là hạt chuỗi vàng nguyên chất, vàng cao);

“Một đoạn kim loại màu vàng được uốn cong, có hai nhánh nhỏ, (anh Xuân tả như vậy, nhưng tôi không hiểu đó là gì, nếu có ảnh chụp thì mới biết rõ);

“Bảy chiếc cúc cài áo kim loại màu vàng (theo tôi, cúc là bông cúc bằng vàng đơm vào áo quần để gài cho kín, trong Nam gọi đó là “nút áo”);

“Hai mươi ba (23) hạt bằng đá đủ màu đeo hình thay khuy nút (theo tôi đó là ngọc nhiều màu);

“Bảy mặt đá màu xanh, hình chữ “Nhật” trên mặt đá có hình chim phượng, (theo tôi, không phải mặt đá, và có lẽ đó là ngọc thạch (jade) gọi bích ngọc; “sáu mặt đá màu xanh hình tơ (toi không hiểu “hình tơ” là gì, xin anh Xuân vui lòng giải nghĩa thêm), trên mặt đá ấy, cũng khắc hình chân chim phượng, (chim phượng, theo tôi, là biểu hiệu của hoàng hậu, vợ vua);

“Ba mặt đá màu xanh hình vảm (trên lòng), trên khắc hình chim phượng;

“Vòng đeo tay bằng đá, trong có hai vòng màu xanh, một vòng màu trắng”.

Tất cả, theo Đắc Xuân, là 18 hiện vật, nhưng theo biên bản của tòa, là 19 món).

Tái bút

Nói riêng với Nguyễn Đắc Xuân, việc đã dĩ lỡ ra rồi, nay sửa chữa làm sao kịp. Nhè “con gà đẻ trứng bằng vàng”, lại đem giết đi như gà thịt! Theo thầy, những trang sức phẩm của bà Từ Dũ, đừng hóa nghiệm và cứ đem ra chưng bày nơi tủ kính sáng sủa nơi một viện bảo tàng, hoặc ở Hà Nội, hoặc ở Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều khách viễn phương đến viếng, hoặc trình bày nơi viện bảo tàng ở Huế, để cho dân, cho thợ trong xứ, cho người ngoại quốc theo tin đồn đến xem, thì lợi thu kể sao cho xiết, chớ chi nào mười mấy ký vàng kia. Lễ ra tòa án tối cao kia nên gới hồ sơ và mời vài sở chuyên môn (sở coi về giá trị vàng kim cương, sở Văn hod túe, chang hạn), đen lay y kien, chơ co dâu nău chày cho đành?

Thầy đây, vốn học chưa tới đâu, chữ Tây vừa đủ làm mọi kiếm cơm nuôi vợ con, và thiên bất đáo, địa bất chí,

Hán Nôm tịt mù, nhưng vậy kinh nghiệm thầy ắt có thừa, và không như mấy ông kia, ít nữa cha mẹ thầy, vốn làm chủ lò thợ làm đồ kim hoàn trước đây, gọi là thợ bạc và chủ lò làm nữ trang bằng vàng bằng bạc, đã dạy thầy, phảm đồ vàng y, vàng nguyên chất thì chủ lò phải chạm chữ “y” (hiểu đó là vàng thật tốt, không pha trộn với kim khí nào khác), bằng như nếu là vàng thấp, do người đặt làm món đồ đem vàng tới để làm “ăn tiền công” thì chủ lò chạm chữ “công” (hiểu là món đồ lãnh làm ăn tiền công, và như vậy, chủ lò không đảm bảo về chất vàng tốt hay xấu, v.v.) và ngày xưa không có việc hóa nghiệm ác ôn như vầy: Ngày xưa, thợ khéo không thiếu, làm cây trâm, cây thoa giất tóc, khi tạp hình chim phụng, thì con chim vàng ấy biết lay chuyển rung rinh tựa hồ như biết bay biết nhảy, lúc người đeo trâm hay thoa ấy, khi đứng, khi đi, khi cử động mạnh, v.v. tức nhiên vàng làm ra chim ấy phải dau, kec bang “vay” và vay fy là nhiều mảnh vàng vụn

mún, nhỏ như hạt phấn, hạt cát, và “vảy hàn” cổ nhiên phải bằng vàng tuổi thấp, mau chảy, mau gắn dính vào nhiều mảnh khác, và vật ấy (cây thoa, cây trâm), vẫn quí và có giá trị về sức khéo của người thợ bạc có hoa tay, chớ món ấy không kể về tuổi và vàng nữa. Nhờ thầy có tuổi nhiều và đã từng lăn lộn khá nhiều trong nhóm người lao động, làm việc bằng chơn tay hơn làm bằng trí ốc, nay thầy có chút kinh nghiệm và có chút nghe thấy vẫn khác hơn mấy ông tòa tối cao kia, nói thật với Xuân, sở dĩ thầy rút lui từ năm 1963, khi ở Pháp học về nghề khảo cổ nơi viện GUIMET trở về đây, thầy định nhường chỗ cho người biết việc và thầy có ngờ đâu mấy ông có bề thế, phe đảng, đi học nhiều tiền ở Mỹ, ở Pháp về, choán chỗ tốt, ăn lương cao, nhưng xin lỗi, thảy đều một loại “Mã Tắc đời Tam quốc, nói nghe hay mà đã làm thất cơ binh nơi Nhai đình”, nay việc đã lỡ rồi, nói nữa làm chi, và Xuân còn trẻ, còn dư sức, Xuân hãy rán đảm đương lấy. Sẵn dịp nối luôn năm ni là năm du lịch mà thầy cũng không giúp ích được chút nào, vì tuổi cao không lao động được nữa.

(viết sáng sớm ngày 1-5-1990)

Sự tích tóm tắt của bà Hoàng thái hậu nhà Nguyễn, mỹ danh Từ Dũ thái hậu Tôi xin kể lại đây đại lược sự tích của bà cho người hậu thế biết:

Tôi chịu thất lễ và nói tên bà ra đây. Nguyên Miền Nam, gọi theo tên cũ là đất Nam kỳ lục tỉnh, trước đây có đến hai bà làm hoàng thái hậu nhà Nguyễn Phước:

– Một bà, họ Hồ, có lăng mộ nay ở vùng Thủ Đức, và là mẫu thân của đức Thiệu Trị, bà sanh vua nầy vừa được mười ba ngày, thì quy tiên, tuổi thọ chỉ có mười mấy tuổi, bà gốc người tỉnh Biên Hòa, tên thụy là Tả thiên lệ thánh Thuận Đức, hoàng thái hậu;

– Một bà nữa là mẹ vua Tự Đức, bà họ Phạm, cha là Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng, một công thần trụ cốt nhà Nguyễn Phước, tên thụy của bà là Nghi Thiên Tán Thành Từ Dũ Thọ Đức Chương hoàng hậu, bà sanh nơi giồng Sơn Qui, giồng nầy xưa có nhiều chim công đến làm ổ, nên cũng gọi là Gò Công. Vừa mười bốn tuổi ta, đếm theo Pháp là mười ba tuổi, là được tuyên triệu vào cung Đại Nội ở Huế, hầu việc khăn áo cho hoàng tử sau nầy lên ngôi là vua Thiệu Trị. Bà có diễm phúc thấy được long nhan nội tổ là Đức Cao Hoàng Gia Long, bà lạy vua cha là Đức Minh Mạng, và bà nâng khăn sửa tráp cho vua Thiệu Trị, mà cơ khổ vậy thôi, được làm dâu nhà vua thuở ấy, cực nhiều hơn sướng, vì vua Thiệu Trị còn một bà chánh hậu khác nữa, là ái nữ của ông Nguyễn Văn Nhơn, gốc người tỉnh Sa Đéc, nhưng khi Thiệu Trị ngự hành ra đất Bắc để thụ phong, thì chính bà Từ Dũ được cho theo hộ giá, lo trước lo sau, thức khuya dậy sớm, cho nên khi hồi loạn, vóc hạc hao gầy, vóc liễu kém trước, đức Thiệu Trị, người hiền lương bổn tánh cộc, tỷ như khi giận binh Pháp gây chiến tranh, giận cá chém thớt, vua đập gần hết những đồ sứ đặt làm ở Pháp, và vua trị vì chỉ có bảy năm, khi vua áng giá, bà chưa ráo lệ, tuổi vừa tròn xuân, bà vừa hai mươi đã chịu cảnh son giá, chứng minh bà lên ngôi Thái hậu, con là vua Tự Đức, khi làm thơ thuật thế sự, cặp trạng là: “Tranh giành trước mắt, mây tan tác” (đó là vua nhớ việc Tây gây chiến tranh…) “Đày đọa sau thân núi nặng nề” (Núi đây là vua nhớ đến mẹ, tuổi cao…).

Nhưng ngờ đâu tre lại khóc măng, chính vua băng trước, một lần cho bà nhỏ lệ, trước khóc chồng, nay lại khóc con, và bà chưa hết khổ, bà còn chứng kiến xiết bao bi thảm đau lòng, cảnh ba vua bốn chúa, ông bị bóp cổ, ông bị bỏ đói, ông khác bị đầu độc, rồi vua Hàm Nghi vừa lên ngôi, lại bị quyền thần chuyên quyền, kế bị mất ngôi thêm bị đày xứ lạ, vua Đồng Khánh nối ngôi, cảnh chạy giặc thật là khổ sở, Hàm Nghi bị ép lên Tân Sở, bà thì cùng với cung nữ và bà Học Phi đùm đề bỏ thành nội cho giặc Tây cướp phá, các bà lụi đụi chạy lên Khiêm lăng rồi lại kéo về Đại Nội, chứng kiến cảnh tan hoang mất mát châu báu kim cương, rồi sống làm chi thật nhiều tuổi mà phải mù lòa, rốt lại đến năm 1912, vào đời Thành Thái, hơn chín mươi tuổi ngoài, bà nhắm mắt qui tiên, tang lễ cử hành long trọng, tưởng như vậy là hạnh phúc, một người như bà chứng kiến gần suốt thế hệ Nguyễn triều, kể từ Gia Long đến Thành Thái, để đến năm 1983 thì lăng mộ bị đào, “hồng nhan đa truân”, miệng thế nói không lầm, sống lâu là khổ.

(viết ngày 2-5-1990)

Chuyện con bò cạp nước (bài viết ngày 4-5-1990)

Hôm nay nhớ chuyện mua cua như sau, xin chép lại đây cho độc giả xem chơi giải muộn. Chuyện nầy trích trong tập “chuyện giải buồn” của ông Huình Tịnh Của, chớ không phải do tôi đặt bày. Chuyện rằng:

“Mua cua.

Có tên nhà quê nọ, xuống đất thiềng thị, nghe người ta nói “cua ngon”, và tả hình tích cua có hai cùng, tăm ngoe, cùng có tên là “con hoành hành”‘ là vì nó đi hàng ngang, cũng có tên nữa là “vô trường công tử” 3), là vì nó không có ruột. Đến khi tên nhà quê về nhà, bèn hỏi vợ, biểu phải xuống chợ dinh, mua cho được một con cua, để ăn thứ cho biết nó ngon thế nào. Người vợ liền đem tiền xuống chợ, thấy con sam cũng có ngoe càng, ngỡ là cua, nên mua một con đem về cho chồng. Người chồng thấy mai sam khum khum mắng vợ “sao có mu rùa”, hai đàng không nhịn, liền đánh lộn la làng. Việc phải đem ra làng, chú xã thấy con sam có đuôi, lại nói là “con cá đuối”, xử hai đàng phải thất. Vợ chồng tên nhà quê không nghe, đi kiện huyện. Quan huyện cho đời làng kinh tương nội vụ tới nha. Đầu hết, quan huyện dạy đem con cua cho người coi, rồi người phê thị chi làng cùng hai vợ chồng biết ai quấy ai phải. Phê rằng:

Trần Giản Trai có đề lại câu: “Đảng kiến hoành hành nghi thị táo, bất tri công từ thật vô trường”, nghĩa là: chín thấy nghêng ngang ngờ là hốp, chẳng hay công từ thiệt không lòng. (Hóp: tiếng xưa trong Nam, có nghĩa là vội quá, tảo tính quá, hồp tốp, hồp quá. (Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị).

Con cua mua đã chẳng xong,

Ấy thị là con bò cạp nước!

Thẳng cha xã xử con cá đuối,

Thẳng nói rùa lại càng thêm rồi?

Hễ con dại thì có mẹ cha,

Ấy ba đàng giai quấy củ ba.

Để ông phê minh chỉ thượng,

Dân dại cậy cùng quan trưởng.

Cua, rùa, cá đuối, giai phi.

Cho khỏi hoài nghi.

Ờ! Ờ! Đem cho ông coi lại.

Bình

Tôi trích bài trên đây trong tập cũ “Chuyện Giải Buồn”, cuốn 2, của ông Huình Tịnh Của, bản in năm 1895, sách in tại Nhà in quản hạt Sài Gòn, sách nầy không đầu có bán, và rất ít nhà còn tàng trữ. Tôi cố ý chép y nguyên văn, duy có một chữ “mu sam khum khum”, tôi cho là tục, không được thanh, nên tôi đổi lại là “mai” (mai sam khum khum) và chỉ có chữ ấy bị sửa đổi. Tôi đã nói “tánh già thường hay giận lâu, và lâu hết giận”, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, mình là dân quèn, nào dám giận ai nhứt là quan, duy nhớ lại tỷ như “chuyện giải buồn” của Huỳnh Tịnh Của, tôi từng đọc kỹ, thấy không có chỗ nào là bại hoại, thế mà chầu xưa cô một thầy giáo dạy học ở một trường trong Chợ Lớn, thầy nây nói với tôi thấy đã ra lịnh cho học trò góp sách và đem chôn hết, để tránh giữ sách cũ nhiều vi trùng, tôi tiếc không kịp vớt vát, uống quá… Và tôi xin tạm kết luận, đời nào cũng như đời nào, vẫn y nhau không khác, rất đổi, đây là ông huyện, ngồi chễm chệ cầm cân nẻ mực, vẫn trịnh trọng lên án “con dại thì có mẹ có cha, dân dại thì có ông quan xét xử”, thể mà quan huyện xử cũng không ra hồn.

Rất may thứ huyện quan ấy nay đã không còn. Nói thêm nữa cũng chẳng thừa, duy nơi mấy trang đã viết, tôi còn bỏ sốt một danh từ đồng nghĩa với chữ “công” (nữ trang làm ăn tiền công)”, đó là danh từ “đồ” nay còn thấy lưu dụng, (tiệm cầm “đồ”, và “đồ” có nghĩa “vàng đồ” tức vàng thấp, không đáng gọi “vàng y” và đời xưa không có “hóa nghiệm tư trang tinh xảo” (mấy hàng thêm, tôi viết ngày 6-5-1990, có ý muốn tỏ bày vàng nữ trang khéo, tinh xảo giá trị quí hơn vàng nguyên chất và nấu chảy hóa nghiệm, thì hại cho văn hóa…

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên

Post by Sơn râu 9 Nov 2025

Chương 6

Ngay khi vừa qua khỏi cánh cửa, chúng tôi không còn nghe tiếng la hét nữa và tiếng chó sủa cũng xa dần; không còn lính SS nữa. Như là bị di động vì những lò xo vô hình, chúng tôi luôn luôn bước tới trước, Vừa đi ai nấy vừa đoán trong màu xám của bóng đêm, các con đường có doanh trại hai bên làm bằng gỗ và có cả những tòa nhà rất lớn tối om. Và rồi đoàn người dừng lại trước một cánh cửa được soi sáng bởi một ánh đèn đêm màu xanh. Hai người lực lưỡng nói tiếng Đức nhưng lại mặc quần rằn rện 1 cử động để chỉ cho chúng tôi đi vào. Sau chúng tôi, các tù nhân những toa khác dồn tới vì tất cả mọi người đều phải đi qua khung cửa hẹp nầy. Trước hết, đó là một căn phòng với nhiều ghế dài, móc áo và do một cửa khác chúng tôi đi vào một phòng tắm rộng mênh mông. Và như thực vật trời cho, nước bắt đầu chẩy xuống. Lúc ấy, chỉ còn nghĩ đến mỗi một điều, đầu ngửa ra sau, miệng há lớn đón cơn mưa rào quảng đại. Mỗi vòi bông sen, một màn lưới mỏng chẩy xuống vì tất cả mọi người không thể nào vào hết trong phòng, những thùng chứa dị dạng được sử dụng để tiếp tế cho những người khốn khổ, trong số đó có vài người chân đầy máu chỉ có thể tiến vào từng chút một. Những người khác đau đớn vì vết chó cắn và sau cùng có những người điên và người bệnh hoạn. Nhưng tất cả đều chỉ còn nghĩ đến một thứ khoái lạc tập thể mới: uống nước.

Trong bầu không khí kỳ dị nầy, người ta thấy nhiều người dìu bạn mình bị thương hay mê sảng và người khác cầm gào-mên chứa chất lỏng quí giá. Sự cao cả đi cạnh nỗi kinh khiếp.

Nỗi kinh hoàng đầu tiên được xoa dịu dần dần, mỗi người cố tĩnh trí lại và tập họp thành nhóm. Tâm trí trở lại từ từ, cơn mệt mỏi như biến mất. Tóm lại, chúng tôi chỉ khát. Một nhu cầu thú vật đã tạo ra thảm cảnh mà chúng tôi vừa sống trong ba ngày ba đêm. Tất cả băng thuộc trại Compiègne, được thêm đông vì các phần tử mới, hoàn toàn bình yên vô sự. Kỷ lục số nước được uống òng ọc vượt quá chục lít, trung bình là năm.

– Tôi, – Michael nói, – tôi chỉ bắt đầu nhận thấy mùi của chất lỏng khi uống gào-mên thứ tư, mỗi gào-mên chứa gần một lít. Và rồi khi bắt đầu gào-mên thứ năm, đột nhiên tôi buồn nôn.

Chúng tôi dơ bẩn đến nỗi không nhận ra mình trước một tấm gương soi. Lúc khởi hành ở Compiègne, chúng tôi còn là những người dân sự, mỗi người có y phục riêng và nhân cách riêng. Tại đây chúng tôi trông giống nhứ một bầy người múa rối xồm xoàm bị tháo rời từng mảnh. Trong đám đông hỗn loạn, nhiều linh mục mặc áo dòng xuất hiện thật trái cựa. Một trong số đó, một tu viện trưởng trẻ tuổi mang bộ mặt bê bết máu. Vì muốn giúp một người bạn xuống toa xe, ông đã nhận nguyên một báng súng vào trán. Và người bạn nầy lẽ ra cần, được dìu đi, lại phải dìu lại ông bởi vì ông bị đánh bất tỉnh. Nước đã giúp ông ta hoàn hồn một chút, nhưng ngã mình xuống một chiếc ghế dài, hai tay ôm đầu, ông ta tự hỏi không biết có phải mình ở trong phòng đợi của “Địa ngục” “chăng.

Michael luôn luôn đi dọ hỏi tin tức, đã tìm cách nói chuyện với một công nhân phục dịch trong trại nầy. Lập tức một nhóm người tập họp lại vì tất cả mọi người đều tự hỏi, không phải là không lo lắng, người ta sẽ làm gì chúng tôi. Tôi nghe anh ta nói với giọng khàn đặc:

– Tôi cũng là tù nhân như các anh, tôi là dân Đức, tất nhiên… các anh nghĩ gì? Không phải tất cả đối lập chúng tôi đều bị chết hết… còn nữa… tôi đã bị nhốt ở đây mười năm rồi..

Chúng tôi chân thành uống những lời anh ta nói, và họ đa số không hiểu tiếng Đức năn nỉ xin chúng tôi địch dần dần. Người kia, bị vô số câu hỏi tấn công, luôn luôn trả lời, tỏ vẻ rất thỏa dạ vì là đối tượng của một sự chú ý như thế:

– Với các điều kiện hiện tại, người ta không còn chết ở trại Buchenwald nữa, trừ ra những người bệnh ngặt. Thời gian nầy rất tốt… Bây giờ, đây là một nhà dưỡng bệnh thật sự, các, anh sẽ thấy ở đây có đủ sắc dân, đúng, đúng, có cả người Nga nữa. Tiến đến gần hơn chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy anh ta an nói tự do ở đây, anh ta trả lời: “Quân SS đưa các anh cho đến cửa ngoài, ở đây, bên trong toàn trại được các tù nhân chính trị cai quản. Chắc chắn là phải làm việc, nhưng các anh tha hồ nhận quà mà thân nhân có sức gởi cho và viết thơ mỗi tháng một lần. Nhiệm vụ của tôi là mơ ước và cả một hệ thống sát trùng. Vả lại lát nữa các anh sẽ đi qua đó. Cái gì vậy, một tu sĩ?

Anh ta trông thấy ông linh mục bị thương ở trán và tò mò quan sát y phục của nhà tu. Rồi, không có vẻ gì có ác ý, nhưng với giọng chế riễu:

– Sao, Cha còn tin chớ?

Vị đại diện Tòa Thánh ngước đầu nhìn chăm chú người đối thoại và nói với giọng chậm rãi:

– Tại sao không? Hơn bao giờ hết!

Anh kia phá lên cười và bỏ đi, tôi nghe anh ta lẩm bẩm:

– Nhất định là tôi không hiểu nổi.

Những tin tức mà anh bạn tù vừa cho biết có vẻ làm thỏa mãn và chúng tôi tò mò chờ đợi diễn tiến tiếp theo của các biến chuyển. Đã gần bốn giờ sáng. Một chuyển động đưa đám đông về phía bức tường của gian phòng để áo, nơi đó có một ghi-sê nhìn ra một hành lang mở rộng. Hơn một chục vẻ mặt còn thanh niên xuất hiện và chúng tôi nhận thấy những chiếc nón dã chiến của binh sĩ Nga với cái chóp nhọn và hai cánh tai buông thõng. Họ nhìn mặt chúng tôi như những con sóc nhỏ và chỉ nói hai tiếng: “Dai chleb” (cho bánh mì). Michael gốc Nga, lúc nầy tỏ ra có ích hơn bao giờ hết. Một cuộc nói chuyện thân mật diễn ra, chúng tôi chỉ nghe toàn là các âm r. Sau cùng, bị thúc giục khắp phía, Michael thông dịch:

– Họ xin bánh mì và khnyên chúng ta có gì nên ăn hết, vì lẽ chúng ta phải trút bỏ hết áo quần đồ đạc để qua một cuộc tẩy trùng tổng quát sắp sửa bắt đầu ngay. Họ nói hiện nay trong trại có chừng 20.000 tù nhân đủ mọi loại quốc tịch và trong đó có cả người Pháp nữa.

Chúng tôi còn giữ lại bánh mì được phân phát tại Compiègne. Trong thoáng chốc, cả một núi những mẩu bánh mì kèm theo các thực phẩm khác được đưa qua ghi sê có vẻ quá nhỏ hẹp. Hàng chục tiếng “Spassiba”(cảm ơn) lập đi lập lại rập ràng trên các nét mặt rạng rỡ đáp lại “quà tặng của chúng tôi. Một lát sau là bắt đầu một loạt hoạt động giống như trong các lò sát sinh ở Chicago, nhưng với một ý nghĩa khác, may mắn thay cho chúng tôi.

Trước hết, từng nhóm nhỏ, sau khi đi qua một chiếc sân nằm ngay trung tâm của tòa nhà vĩ đại, chúng tôi tiến vào một gian phòng trong đó các tù nhân cũ lấy tất cả đồ đạc của chúng tôi. Tất nhiên là phải cởi hết áo quần, trần truồng. Họ để tất cả mọi thứ vào trong một gói, ghi tên trên một tấm phiếu danh mục tất cả đồ vật quí: tiền bạc, đồ trang sức v..v… các thứ sau được bỏ vào trong một phong bì đặc biệt.-Hubert tuyệt đối muốn giữ lại một tờ giấy một ngàn quan, nên đã nhét nó vào một nơi tự nhiên nhất!

Sau đó, toán nhỏ tù nhân ấy, lúc nầy trần như nhộng, đi qua một gian kế có vào khoảng 20 thợ hớt tóc chờ sẵn với các tông-đơ điện, họ cắt tất, từ dưới lên trên. Lẽ tự nhiên là sau chúng tôi sự việc lại tiếp diễn bởi vì tất cả mọi người đều phải đi qua các giai đoạn biến dạng nầy.

Khi đến phiên tôi, tôi đối diện với một thanh niên tranh dấu Tiệp khoảng hai mươi tuổi. Anh ta biết nói tiếng Đức và nhờ đó tôi được biết hớt tóc là một trong các địa vị tốt đẹp nhất trong trại.

– Sao, người Anh và Mỹ đã đổ bộ lên đất Pháp rồi hả? Anh ta hỏi tôi, trong khi chiếc tông đơ của anh thọc lét vào nách tôi. Tỏ ý tiếc, tôi phải nói với anh ta là tin ấy sai lầm, nhưng nói thêm, chuyện đó cũng sắp xảy đến.

Tiếp theo là một phòng tắm, nhỏ hơn phòng chúng tôi được uống nước hồi đầu hôm nhiều. Bên phải một chiếc bể tắm vĩ đại được gắn liền xuống đất và vào vách tường, trong đó chứa một chất lỏng màu xanh, đang mời chúng tôi nhào vào, đúng hơn, một tù nhân người Ba Lan khổng lồ đứng sẵn đó và anh ta cho chúng tôi hiểu là phải trầm mình xuống hoàn toàn, kể cả đầu, đối với những người ngần ngại, anh ta có nhiệm vụ không để cho họ đợi chờ. Khi chừng 20 người đã lần lượt nhúng mình vào chất sát trùng hơi làm xốn mắt một tí ấy, một công nhân cho nước trên bông sen chảy sau khi phát cho mỗi người một nhúm bột sà bông. Được hớt tóc, sát trùng, tắm rửa xong, chúng tôi đi thành hàng nối đuôi nhau lên tầng thứ nhất và quang cảnh những người đủ hạng tuổi, đủ kích thước, di chuyển trần truồng qua các hành lang và cầu thang thật là bi bài. Trong một phòng lớn, đằng sau các quầy, xứng đáng là một cửa hàng vĩ đại, hàng đống quần, áo vét sơ mi quần cụt, áo len, sẵn sàng cấp phát cho chúng tôi. Một tù nhân làm việc, ở đó, liếc nhìn khổ người chúng tôi và trong niềm hạnh phúc nhỏ bé, sự may mắn, chúng tôi nhận được một gói. Cũng giống như khi hớt tóc, toàn là chuyện bất ngờ; một chiếc nón kết hay một chiếc mũ không ai biết đã được sản xuất tại đâu. Dưới chân, một đôi thiết hài thắt chặt vào nhượng chân. Áo quần được phát ra thì sạch sẽ nhưng vá chằng chịt khắp tứ phía.

Một người Hòa Lan thuộc nhóm nhân viên giải thích rằng, áo quần của chúng tôi đã được sát trùng rồi sắp xếp trong một nhà kho, từ đó, theo lý thuyết, chúng sẽ được lấy ra hoàn trả, khi chúng tôi được phóng thích.

Trái lại, áo quần của những người chết sẽ đưa vào chỗ dự trữ để phát cho người mới đến. Không ai được giữ lại đồ đạc riêng của mình.

Anh ta cũng hỏi chúng tôi làm nghề gì và nói, trước sự tò mò của chúng tôi:

– Ở đây, những tù nhân chính trị Đức cai quản bên trong trại tập trung. Những công nhân có ưu thế rõ rệt. Lát nữa các anh sẽ qua nhiều câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp của mỗi người. Tốt hơn nên khai mình là thợ luyện kim khi hơn là Tiến sĩ Triết học!

Những điều nghe thấy rất được chúng tôi chú ý, nhưng nhiều người đã lo sợ vì các tiết lộ ấy.

Dẫu sao trong hiện tại; không còn phải sợ hãi một cái chết dữ dội nữa, và chúng tôi có cảm giác rõ rệt là họ cần nhân công cho những công việc lớn lao. Tất cả bây giờ là phải lòn lõi vào thật lẹ, bởi vì ngay cả ở địa ngục cũng phải có chỗ sơ hở!

Vụ ăn mặc đã xong, từng người chúng tôi đi qua nhiều bàn giấy, tại mỗi bàn, một câu, hỏi đặt ra liên quan đến huyết thống của chúng tôi. Một trong những câu hỏi đó là: “Địa chỉ thông báo trong trường hợp bị tai nạn”. Nói tổng quát, tất cả các hoạt động nầy, không kể nơi chốn và tuổi tác của một vài người, có thể coi như hoạt động của một hội đồng tuyển mộ.

Một chuyên viên cũng có mặt tại đó. Ông ta hỏi về tất cả những gì có liên quan đến sức khỏe của cơ thể mỗi người. Mọi công chuyện đều được thực hiện với phương pháp hoàn toàn khoa học.

Sự cấp phát một số thứ tự để may trên ngực phía trái ra trên ống quần bên phải đã hoàn thành thủ tục tiếp đón. Khi đến phiên tôi đi ngang qua người có nhiệm vụ phân phối các con số, tôi chú ý con số dành cho tôi đã sẵn sàng từ trước. Trên hai mảnh vải trắng tôi đọc: 44.809. Một tia nhìn buồn rầu hướng vào mặt tôi, và khi tôi đón lấy con số, người quan sát tôi nói: “từ nay con số ấy là tên của anh”.

Phần đông các điều tra viên đều là người Tiệp Khắc biết ít nhiều tiếng Pháp. Vì đa số là người trí thức, họ tỏ ra đứng đắn rất dễ chịu, công việc của họ ở tòa nhà nầy là xếp hạng và sửa soạn áo quần, nhưng khi có công-voa quan trọng đến, họ sẽ đến giúp các đồng nghiệp tại “Poliitsche Ableilung” (Ban điều tra chính trị) nơi đây. các tù nhân có thể chứng minh biết được nhiều thứ tiếng sẽ được phái đến làm việc như thơ ký bàn giấy. Người biết nhiều thứ tiếng, và lẽ tất nhiên, người nào ngoài tiếng mẹ đẻ còn biết thêm tiếng Đức, có hy vọng lớn lao được nhận một trong những công việc nầy.

Như thế, hoàn toàn bị biến đổi, chúng tôi bước ra để đi về phía các dãy trại, mà chúng tôi sẽ sống trong đó. Tòa nhà mà chúng tôi vừa rời khỏi gọi là Effekten Kammer (kho áo quần). Nơi đó có trang bị vòi bông sen, nhiều phòng để sát trùng và một nhà kho có thể giữ đồ vật của vài chục ngàn tù nhân. Với màu sắc tăm tối, nó là kiểu mẫu cổ điển của một trại binh Đức. Gần đó, một kiến trúc đồng kiểu được dùng làm nhà bếp vĩ đại, và giữa hai khối vật liệu đó, trong một khoảnh đất giống một cái sân mọc đầy có còm cõi như bị bỏ hoang; đứng sừng sững, đường bệ, và cô độc, một cây sồi mà dưới gốc đã từng được Goethe, cách đây gần một trăm năm mươi năm, vốn ở gần đó, ở Weimar, thường đến ngồi suy tư.

Phải chăng là do số mệnh trớ trêu, hay là do ý muốn của Himmler 2, lãnh tụ SS tối cao, một trại tập trung có nhiệm vụ bóp nghẹt đời sống tinh thần, đã được quyết định xây cất tại một nơi từng được một trong các bộ óc vĩ đại nhất Đức Quốc, nếu không muốn nói là nhất thế giới đã thường hay đến trầm tư?… Nhưng đổi vtâ chúng tôi đây không phải là chỗ để triết lý, chúng tôi đến đây lúc 2 giờ sáng và lúc bước ra, là 2 giờ chiều. Từ khi nhảy xuống tàu hỏa, trong bụng chúng tôi chỉ có mấy lít nước.

Chúng tôi đi qua các lối đi nhờ có lề đường thô sơ đây đó, và với đôi thiết hài trong chân chúng tôi không thế nào theo kịp người hướng dẫn. Sau khi gót chân bắt đầu đau nhói, chúng tôi được đưa vào một dãy trại được tiêu chuẩn hóa giống như trong bất cứ trại tù binh nào. Hoàn toàn bị chi phối bởi những gót chân đau đớn, chúng tôi không có thì giờ quan sát có gì xảy ra chung quanh trong lúc đi qua khu vực được gọi là tiểu trại.

Khu vực nầy, gồm có hơn mười dẫy nhà được gọi là “khối” và được đánh số, nằm bên dưới của một triền đất nghiêng trên đó trại tập trung Buchenwald được xây dựng. Đó là trú khu của những người mới đến để chịu đựng thời gian kiểm dịch bốn mươi ngày mà chúng tôi vừa được biết các phương thức.

Ngay khi bước vào “khối” dành cho chúng tôi và mang số 62, một tù nhân phát cho chúng tôi mỗi người một chiếc mền nhà binh và từng nhóm tám người chúng tôi đi về phía chỗ nằm. Mỗi “khối” được chia làm 10 hoặc 12 phần gọi là “ngăn mỗi “ngăn” lại gồm có 1 tầng dưới và 2 tầng gác, mỗi tầng lại được phân ra làm 2, chứa 48 người trong tình trạng bình thường nghĩa là khi không có sự ứ đọng tù nhân nội trú. Mỗi người có chỗ vừa nằm duỗi dài, và nếu giữa tầng gác thứ nhì và trần nhà còn có một khoảng trống thì các tầng dưới phải di chuyển bằng cách bò trong bụi bặm và bóng tối, vì giữa hai tầng khoảng cách không quá bảy mươi lăm phân. Tất cả đều bằng gỗ, có hai đệm rơm cho mỗi tám người. Chúng tôi mệt nhoài đến nỗi ngả xuống một cách yên lành đối với chúng tôi là cả một sự giải thoát, nhưng cơn đói đã kềm kẹp chúng tôi. Chúng tôi hy vọng được phát một thứ gì đó để ăn. Nhưng thay vì là thức ăn, chúng tôi nghe một hồi còi và người ta đọc cho chúng tôi một bài diễn văn.

Người diễn thuyết cũng là một tù nhân, bên cạnh số thứ tự trên ngực còn có một hình tam giác đỏ và một chữ N trên đầu cho biết quốc tịch của ông ta. Trong trường hợp nầy N là chữ đầu của Nederland (Pays Bas), vậy ông ta là người Hòa Lan. Ông ta nói tiếng Pháp khó khăn, tuy nhiên cũng đủ để hiểu được. Nhờ đó chúng tôi biết là sẽ ở đây chừng một tháng, một thời gian dùng để khảo sát chúng tôi. Trong thời gian đó, chúng tôi sẽ được chích một loạt sáu mũi thuốc trừ thương hàn, qua một cuộc thẩm vấn khác, và một cuộc khám sức khỏe quyết định với một y sĩ trưởng SS. Sau đó mới được chỉ định vĩnh viễn vào một đội lao tác, và sẽ được qua ở trại lớn, khang trang hơn nếu ở đó còn chỗ. Chúng tôi phải thức dậy lúc 4 giờ 30 sáng và để mình trần, đi qua sân để đến chỗ rửa mặt. Cà-phê hay là một thứ chất lỏng được gọi như vậy và đôi khi là nửa lít cháo lạt lẽo vô vị, sẽ là bữa ăn sáng của chúng tôi. Phần bánh mì dành cho ca ngày cũng được phát vào buổi sáng. Một lít súp được phát cho buổi ăn trưa, và buổi chiều lại cà-phê y như buổi sáng. Một lóng Margarine và tùy theo ngày, một muỗng mứt hay phó mát được phát cùng với bánh mì và thỉnh thoảng với một lát xúc xích. Chương trình trong ngày được bổ túc bằng công tác chùi rửa, nhiều loại tạp dịch bên ngoài và để chấm dứt, cuộc điểm danh.

Chúng tôi cũng biết là mỗi khối sẽ được điều khiển bởi một viên chỉ huy một “Schreiber” (thư ký) và hơn mười “Stubendienst” (phụ tá) mà diễn giả giới thiệu với chúng tôi, tất cả những người nầy đều là người Slaves (Tư Lạp Phu) trừ ra ông ta.

Mỗi người trong nhóm điều khiển có một chuyên môn riêng, chẳng hạn trường hợp ông ta, đó là công tác bảo vệ sức khỏe, một người khác là thợ hớt tóc, một người thứ ba, phụ trách súp, người thứ tư, bánh mì và cứ thế tiếp tục. Tổng quát, họ cai quản cả 500 người chúng tôi. Ông ta yêu cầu mỗi ngăn đề cử một người có trách nhiệm để phụ giúp vào công việc phân phối thực phẩm và cho các công việc tạp dịch đã được nói ở trên được dễ dàng. Tốt hơn hết là một người biết nói tiếng Đức vì được thông dụng ở đây. Diễn giả cũng bảo trước là mỗi “khối” có một Fuhrer, một tên SS đặc trách đích thân điểm danh vì y chịu trách nhiệm về số lượng tù nhân trước ông Lager Fuhrer (Trưởng trại tập trung). Ông ta nó tiếp đến vấn đề kỷ luật phải tôn trọng và nhất là vấn đề vệ sinh rất khắt khe. Thật vậy, khắp nơi chúng tôi đi qua, rất nhiều bích chương được dán trên đó chúng tôi đọc thấy qua nhiều thứ tiếng: “Một con rận = thần chết” với hình một con rận to tướng.

“A! Diễn giả nói tiếp sau một lúc ngừng nghỉ khi nào các anh cần hỏi thăm tin tức, tôi tên là Léo. Vả lại, ngay bay giờ các anh cũng có thể đặt câu hỏi”. Một người, có lẽ đã chờ đợi sự cho phép nầy từ lâu, vì có giọng hỏi cất lên:

“Công việc của trại Buchenwald gồm có những gì?” Đây là điều mà tất cả chúng tôi đều tha thiết muốn biết. Nằm vắt vẻo trên giường giống như các lồng nuôi thỏ không có lưới chắn, những cái đầu thò ra khỏi chăn vươn lên, và chúng tôi lắng nghe một cách kính cẩn.

“Sau thời gian 40 ngày, có anh sẽ được phải đến một biệt đội. Người nào có nghề tay chân liên quan đến sự sản xuất kim loại sẽ được phải tới công xưởng nằm đầu trại tập trung, đó là những người gặp vận hên. Được ở suốt ngày trong nhà, họ sẽ làm đủ thứ chuyện theo nghề chuyên môn và vĩnh viễn được ở lại đấy làm việc. Những người khác – ông ta ngần ngại trước khi nói tiếp, như là có gì trầm trọng phải thú nhận, – những người khác thì sẽ làm việc ngoài sân, hầm đá, đường sắt, đường lộ, tất cả những gì ở bên ngoài, và công tác chuyển vận định kỳ sẽ có những chuyến công-voa đi đến các công trường, mỗi nơi đó lại trở thành một tiểu trại lệ thuộc Trại Buchenwald. Có đủ mọi thứ: mỏ muối, nhiều loại nhà máy, tất cả những thứ đó cũng khá tốt. Tuy nhiên khổ nhọc nhất là ở Dora. Đó là một nhà máy được lập dưới lòng đất, đang được xây cất, và chính nơi đó cần nhiều nhân công nhất. Nó là một quái vật nuốt người khổng lồ”. – Và như muốn bù trừ lại, ông ta nói thêm:

“Tuy nhiên đừng có lo, các anh còn một tháng chờ đợi nữa và chiến tranh còn tiến triển”.

Ông ta còn muốn nói thêm, nhưng một hồi còi báo hiệu giờ điểm danh. Mọi người đều leo xuống đứng vào lối đi chính giữa chia “khối” ra làm hai. Chúng tôi được đặt từng toán năm người và sau khi được đếm kỹ càng, viên chỉ huy khối và viên thư ký đến nhìn mặt chúng tôi. Người đầu tiên là một người Đức miền Sudètes, to lớn, vẻ mặt lạnh lùng ăn mặc ấm áp với một áo khoát ngắn và giày bốt. Người thứ hai là người Nam Tư. Hai giờ sau khi đã được đem chúng tôi còn phải đứng, không thể cử động, không những chỉ vì không có chỗ mà còn vì lý do đơn giản là bất cứ lúc nào tên SS cũng có thể xuất hiện đột ngột. Sau cùng, y đến, tay cầm cuốn vở. Viên chỉ huy khối sau khi hô chúng tôi đứng nghiêm, trình diện nhân số với y. Y đếm, ghi chép và bỏ đi, nhưng như vậy chưa phải là xong. Tất cả các tên SS có người chỉ huy khối đi kèm lại hội họp trong văn phòng trung ương sau khi công tác kiểm soát chúng tôi xong, và bắt đầu cộng tổng số. Nếu kết quả tốt, cuộc điểm danh chấm dứt sẽ được loan báo bằng máy phóng thanh. Trong mỗi dãy trại, một loa phóng thanh được mắc vào phòng của viên chỉ huy khối, và chỉ sau khi lệnh Hay được ban hành, chúng tôi mới được giải tán.

Lập tức mỗi “ngăn” chỉ định một người trách nhiệm. Michael là người được chỉ định trong “ngăn” của anh, và Ramelin ở chung với tôi, đề nghị tôi đại diện cho “ngăn”. Tuy nhiên, trong “ngăn” chúng tôi lại có cả ông tu viện trưởng bị thương trên đầu. Nhận thấy ông ta biết tiếng Đức, tôi khuyên ông nhận nhiệm vụ nầy vốn là nhiệm vụ của một vị lãnh đạo tinh thần. Ông ta nhận lời. Đói và chân cẳng tê liệt, chúng tôi nằm duỗi ra, nhưng một ngạc nhiên khác lại dành cho chúng tôi. Nếu không có rận, thì đệm rơm và sàn ván đầy cả bọ chét và chúng không bị thất nghiệp, đồ mất dạy. Chúng tôi nghĩ rằng người ta bỏ bọ chét vào đó để ngăn không cho chúng tôi ngủ.

——————————–

1Đồng phục của tù nhân.
2Đọc! “Hitler và tên ác quỷ SS Himler” – Sông Kiên xuất bản.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 9 Nov 2025

Bài 28

Cuộc sống ở đảo Royale

Chúng tôi vừa đến sân trại đã được sự quan tâm niềm nở của toàn thể phạm nhân. Tôi gặp lại Plerrot le Fou, Jean Sartrou, Coloudim, Chissilia. Viên giám thị bảo cả ba chúng tôi phải vào bệnh xá. Chúng tôi đi qua sân để vào bệnh xá, xung quanh có đến vài chục phạm nhân hộ tống. Chỉ mấy phút sau, Maturette với tôi đã có trước mặt hơn chục gói thuốc lá điếu và thuốc lá sợi, một bình cà-phê sữa nóng hổi, mấy tấm sô-cô- la làm bằng ca-cao nguyên chất. Ai cũng muốn tặng chúng tôi một thứ quà gì đó. Clousiot được anh y tá tiêm cho một mũi dầu long não và một liều adrenalin để trợ tim. Một anh da đen gầy gò nói: “Anh y tá ạ, anh lấy phần sinh tố của tôi phát cho anh ấy đi, anh ấy cần hơn tôi”. Cái cảnh tỏ tình đoàn kết thân ái đối với chúng tôi thật cảm động.
Pierre người Bordeaux nói với tôi:
– Cậu cầm lấy ít tiền nhé? Trước khi cậu lên đường đi Royale, tớ sẽ có đủ thì giờ quyên cho cậu một món.
– Thôi, cám ơn cậu nhiều, tớ có tiền. Nhưng sao cậu biết tớ đi Royale à?
– Biết. Viên kế toán có nói với tớ cả ba cậu sẽ đi. Tớ còn đoán chắc là cả ba sẽ được vào bệnh viện.
Viên y tá vốn là một tên cướp ở vùng núi đảo Corse. Anh ta lên là Essari. Về sau tôi đã có dịp biết anh ta rất rõ. Tôi sẽ kể lại đầu đuôi câu chuyện của anh ta. Đó là một câu chuyện thật thú vị.
Hái tiếng đồng hồ ở bệnh xá trôi qua rất nhanh. Chúng tôi đã được ăn uống ngon lành. No nê và hồ hởi, chúng tôi lên đường đi Royale. Suốt thời gian vừa qua Clousiot mắt cứ nhắm nghiền, chỉ trừ những khi tôi đến cạnh đặt bàn tay lên trán anh, anh mới mở đôi mắt đã mờ đục, nói:
– Papi, bạn ơi! Chúng mình thực sự là bạn của nhau nhỉ.
– Hơn thế nữa, chúng mình là anh em ruột thịt, – tôi đáp
Vẫn chỉ có một viên giám thị đi kèm, chúng tôi xuống bến. Đi giữa là cái cáng qua Clousiot, còn tôi và Maturette mỗi đứa đi một bên. Đến cổng trại, tất cả phạm nhân đều ra từ biệt và chúc chúng tôi may mắn. Chúng tôi cám ơn anh em. Tuy họ đều không chịu nhận. Pierrot le Fou quàng lên cổ tôi một túi dết đựng đầy thuốc lá sợi, thuốc điếu, sô-cô la, sữa hộp Nestlé. Maturette cũng được một túi như thế. Cậu ấy chẳng biết người nào đã quàng lên vai cậu cái túi quà ấy nữa.
Chỉ có anh y tá Fernadez và một viên giám thị đưa chúng tôi ra bến. Fernadez trao cho mỗi đứa chúng tôi một cái phiếu nằm bệnh viện đảo Royale. Tôi hiểu ra rằng chính hai phạm nhân khổ sai làm y tá là Essari và Fernadez đã cấp giấy nhập viện cho chúng tôi, chẳng hỏi ý kiến bác sĩ nữa. Chiếc ca~nô đã chờ sẵn.
Sáu người chèo, hai viên giám thị đeo súng trường ngồi ở phía sau và một viên nữa cầm lái. Một trong những người chèo thuyền là Chapar, bị xử trong vụ chứng khoán ở Marseile.
Chúng tôi lên đường. Sáu mái chèo vỗ xuống nước Chapar vừa chèo vừa nói với tôi: 

– Ổn cả chứ Papi? Cậu vẫn nhận được dừa đấy chứ?
– Không, bốn tháng sau thì không nhận dược nữa. 
– Tớ biết. Có trục trặc xảy ra. Cái cậu bị liên lụy đã xử sự rất cừ. Cậu ấy chỉ biết có một mình tớ, nhưng không hề khai tớ ra.
– Cậu ấy bây giờ ra sao?
– Chết rồi.
– Thế à? Tại sao? 
– Theo một viên y tá thì hình như cậu ấy bị chúng nó đá vỡ gan.
Thuyền cặp bến đảo Royale, đảo lớn nhất trong quần đảo. Đồng hồ cửa hàng bánh mì chỉ ba giờ. Nắng chiều ở đây quả là gay gắt. Tôi thấy chói và bức quá.
Một viên giám thị yêu cầu hai người khiêng cáng. Hai phạm nhân vạm vỡ đồ trắng tinh, cổ tay đeo nịt da đen, nhấc cáng của Clousiot lên trông nhẹ bỡn như nhấc cái lông chim. Maturette và tôi bước theo, đi sau cùng là một viên giám thị cầm mấy thứ giấy tờ gì đấy. Đường đi rộng hơn bốn mét, lát bằng đá cuội lớn lấy ở bờ biển, rất khó đi lên dốc. May mà hai người khiêng cáng chốc chốc lại dừng lại đợi chúng tôi lên kịp. Mỗi lần như vậy tôi lại ngồi ghé xuống khung cáng phía đầu Clousiot, tay khẽ vuốt lên trán và lên tóc anh
Clousiot mở mắt ra, mỉm cười với tôi nói:
– Cậu, Papi!
Maturette cầm lấy tay anh.
– Cậu đấy à cậu bé? – Clousiot thì thầm.
Clousiot có vẻ tràn trề hạnh phúc khi thấy chúng tôi ở bên cạnh. Vào một lúc dừng lại nghỉ, khi đã gần đến trại, chúng tôi gặp một tốp phạm nhân đi làm cỏ về. Hầu hết là những phạm nhân cùng sang một chuyến với tôi. Đi ngang qua, ai nấy đều nói với chúng tôi một lời thân ái. lên đến đỉnh dốc bằng phẳng, chúng tôi trông thấy những viên chức cao cấp nhất trên đảo ngồi trong bóng râm trước một tòa nhà vuông quét vôi trắng.
Chúng tôi đến trước mặt thiếu tá Barrot biệt hiệu là “Dừa khô” và mấy viên chỉ huy trại khác. Không đứng dậy, và không làm ra vẻ nghi thức, thiếu tá nói:
– Thế nào, ở nhà lao Cấm cố không đến nỗi gay quá chứ? Còn anh nằm cáng kia là ai thế
– Clousiot đấy ạ
Thiếu tá nhìn Clousiot rồi nói:
– Đưa cả ba vào bệnh viện đi. Khi nào họ ra viện, yêu cầu bảo cho tôi biết để họ đến gặp tôi trước khi được đưa về trại nhé.
Ở bệnh viện, họ cho chúng tôi nằm trong một căn phòng rộng rãi, rất sáng sủa, giường nằm rất sạch, có trải drap và có gối mềm hẳn hoi. Người y tá đầu tiên mà tôi nhìn thấy là Chatal – chính viên y tá ở phòng dành cho phạm nhân nguy hiểm ở Saint-Laurent-du- Maroni. Anh ta lập tức đến săn sóc Clousiot và bảo một viên giám thị gọi ngay bác sĩ. Khoảng đến năm giờ chiều bác sĩ đến. Sau khi khám nghiệm kỹ lưỡng một hồi lâu, bác sĩ lắc đầu, vẻ không hài lòng. Bác sĩ viết đơn thuốc rồi đi về phía tôi. Ông ta nói với Chatal:
– Papillon với tôi chẳng ưa gì nhau đâu.
– Thế thì tôi lấy làm lạ vì anh ta rất tốt, bác sĩ
– Có thể. Nhưng anh ta bướng lắm.
– Nhân dịp nào?
– Nhân một lần tôi khám bệnh cho anh ta ở Nhà giam cấm cố.
– Bác sĩ ạ, – tôi nói – đứng ngoài hành lang hỏi tôi mấy câu như thế mà cũng gọi là khám bệnh được sao?
– Ban Quản trị có lệnh cấm mở cửa phòng giam.
– Rất đúng, thưa bác sĩ, nhưng tôi hy vọng rằng bác sĩ không phải là một thành viên của Ban Quản trị: như thế tốt hơn cho bác sĩ nhiều.
– Ta sẽ nói chuyện này vào một dịp khác. Tôi sẽ cố làm cho anh bạn anh hồi phục. Còn anh ta thì tôi e là đà quá muộn.
Chatal kể cho tôi nghe rằng anh bị nghi là có chuẩn bị cho một cuộc vượt ngục nên bị đày ra Quần đảo. Anh ta cũng cho tôi biết rằng Jésus, kẻ đã lừa tôi trong chuyến vượt ngục của tôi, đã bị một người hủi giết chết.
Chatal không biết tên người này. Tôi cứ băn khoăn không biết đó có phải là một trong những người hủi đã giúp đỡ chúng tôi một cách hào hiệp trong chuyến vượt ngục vừa qua hay không.
Cuộc sống của tù khổ sai ở đảo Salut hoàn toàn khác với những điều người ta có thể tưởng tượng. Phần đông phạm nhân đều cực kỳ nguy hiểm, vì nhiều nguyên do. Trước hết ở đây mọi người đều được ăn rất khá, vì ở đây người ta buôn đủ thứ: rượu, thuốc lá, cà-phê, sô-cô-la, đường, thịt, rau tươi, cá, tôm he, dừa v.v… Cho nên phạm nhân đều khỏe mạnh. Khí hậu lại rất lạnh. Chỉ có những phạm nhân có thời hạn mới có hy vọng được trả tự do, còn tù khổ sai chung thân thì hoàn toàn vô vọng, cho nên họ đều rất nguy hiểm: họ còn có sợ gì nữa đâu? Mọi người đều dính dấp vào việc buôn bán lén lút hàng ngày, phạm nhân cũng như giám thị. Đấy là một sự pha trộn chăng dễ gì hiểu nổi. Có những người vợ giám thị tìm cách đưa phạm nhân trẻ về làm việc nội trợ – và cũng nhiều khi kiêm cả việc làm tình nữa. Những phạm nhân ấy được gọi là “tù gia đình”. Người thì làm vườn, người thì nấu bếp. Chính loại phạm nhân này là đầu mối liên lạc giữa trại tù và các gia đình cảnh sát. Bọn “tù gia đình” không bị các phạm nhân khác khinh ghét. vì chính nhờ bọn này mà họ có thể tha hồ buôn bán các thứ. Nhưng bọn này cũng không được họ coi như những người “trong sạch”. Trong giới giang hồ chân chính không có một ai hạ mình xuống làm những công việc như thế. Cũng như họ không chịu làm việc “giữ chìa khóa” hay hầu bàn ở nhà ăn của bọn giám thị. Ngược lại, họ rất chuộng những công việc không buộc họ phải dính dáng gì với bọn gác ngục: đổ rác, nhặt lá vàng, chăn trâu, làm y tá, làm vườn cho nhà giam làm thịt súc vật, làm bánh mì, chèo thuyền, đưa thư, canh hải đăng. Tất cả các công việc này đều do những người “giang hồ chính cống” lĩnh lấy. Một kẻ giang hồ chính cống không bao giờ làm những công việc lao dịch nhằm bảo quản tường rào, đường sá, cầu thang, hay trồng dừa; tức là những công việc lao dịch dưới ánh nắng trực tiếp hay dưới sự kiểm soát của cảnh sát. Phạm nhân phải làm việc từ bảy giờ sáng đến mười hai giờ trưa và từ hai giờ trưa đến sáu giờ nhiều, những điều trên đây có thể giúp bạn đọc hình dung sơ sài cái không khí sống trà trộn của những con người hết sức khác nhau, phạm nhân lẫn cánh sát: đây thật là một cái làng nhỏ trong đó việc gì cũng được mọi người bình luận, việc gì cũng được phán xét, trong đó mọi người đều chứng kiến và quan sát cách sống của nhau.
Dega và Galgani đã đến bệnh viện thăm tôi suốt ngày chủ nhật. Chúng tôi đã cùng ăn món ailloli nấu cá, món canh cá, khoai tây, pho-mát, uống cà-phê, rượu vang trắng. Bữa ăn này chúng tôi gồm có Chatal, Dega, Galgani, Maturette và tôi, đã cùng nấu với nhau trong phòng của Chatal. Các bạn yêu cầu tôi kể lại chuyến vượt biên thật tỉ mỉ. Dega đã quyết định là không tìm cách vượt ngục. Bác ta chờ đợi tin được giam ba năm, thành thử nếu được giam thì chỉ còn có bốn năm. Bác ta đã đành lòng ngồi cho hết bốn năm ấy. Còn Galgani thì nói là nghe đâu đang được một thượng nghị sĩ người Corse lo cho.
Sau đó đến lượt tôi hỏi. Tôi muốn biết ở đây có những chỗ làm nào thuận tiện hơn cả cho việc vượt ngục. Thế là ai nấy đều kêu vang lên. Đối với Dega vấn đề này chưa bao giờ thoáng hiện trong tâm trí. Galgani cũng vậy. Riêng Chatal thì nghĩ rằng nên tìm một mảnh vườn để chuẩn bị một cái bè. Còn Grandet thì cho tôi biết rằng anh ta làm thợ rèn cho “Công trường” của trại. Đó là một cái xưởng có đủ cái loại thợ: thợ sơn, thợ mộc, thợ rèn, thợ nề, thợ hàn – cả thảy gần trăm hai mươi người. Xưởng lo việc bảo trì nhà cửa của Ban Quản trị. Dega vốn làm kế toán trưởng, có thể xin cho tôi vào đấy làm một việc gì tùy tôi chọn. Grandet tỏ ý sẵn sàng nhường cho tôi một nửa chân chủ sòng bạc, để lấy số tiền ăn được của các con bạc mà giữ gìn sức khỏe, khỏi lạm vào tiền giấu trong plan. Về sau tôi sẽ rõ rằng việc này rất thú vị, nhưng cũng cực kỳ nguy hiểm. Ngày chủ nhật trải qua một cách nhanh chóng lạ lùng. “Năm giờ rồi – Dega nhìn cái đồng hồ tuyệt đẹp đeo trên cổ tay, nói – phải về trại thôi”. Khi ra về, Dega cho tôi năm trăm francs để đánh poker, vì trong phòng chúng tôi đôi khi có những đám bạc rất khá. Grandet cho tôi một con dao thượng hảo hạng có chốt chắn tay, lưỡi bằng thép do chính tay anh ta tôi.
– Đó là một vũ khí đáng gờm. Đêm ngày cậu bao giờ cũng phải thủ dao trong người.
– Thế nhỡ chúng nó khám thì sao?
– Phần nhiều, việc này do bọn giữ khóa A-rập làm. Đối với một người được coi là nguy hiểm, không bao giờ chúng nó phát hiện là có vũ khí, dù có sờ thấy dao rõ ràng chúng nó cũng phải lờ đi.
– Sẽ gặp lại ở trại – Grandet nói.
Trước khi ra về, Galgani nói là đã dành cho tôi một chỗ trong góc của anh ta và hai đứa sẽ cùng một tổ với nhau (người cùng tổ thì ăn chung và tiền của mỗi người cũng là tiền của cả tổ). Dega thì không ngủ ở trại: bác ta có một buồng ngủ riêng trong dãy nhà của Ban Quản trị.
Chúng tôi đến đây đã được ba ngày, nhưng vì đêm nào tôi cũng ở bên cạnh Clousiot, cho nên tôi không biết rõ cho lắm cảnh sinh hoạt ở căn phòng lớn của bệnh viện có đến gần sáu mươi người nằm. Rồi vì Clousiot mệt nặng quá, người ta cách ly anh vào một phòng riêng đã có một người bệnh nặng nằm từ trước.
Chatal cứ tống mãi morphin vào cho anh. Chatal sợ anh không qua khỏi đêm nay.
Trong phòng có sáu mươi giường xếp lại làm hai dãy, ở giữa là một lối đi rộng ba mét. Hầu như giường nào cũng có người nằm. Hai ngọn đèn dầu hỏa thắp sáng gian phòng. Maturette nói với tôi: “Ngoài kia họ đang đánh poker”. Tôi ra chỗ đánh bài. Có bốn người đang chơi.
– Tôi vào thêm một chân có được không?
– Được, ngồi xuống đi. Mỗi ván tối thiểu chừng một trăm francs. Mỗi chầu ba ván vị chi ba trăm francs.
– Này, cầm lấy ba trăm tiền cắc.
Tôi đưa Maturette giữ hộ hai trăm đồng tiền cắc.
Một người Paris tên là Dupont nói:
– Ở đây đánh theo luật Anh, khòng dùng joker. Cậu biết cách chơi chứ?
– Biết.
– Thế thì chia bài đi, cậu làm cái trước.
Mấy người này đánh bài với một tốc độ khó tưởng tượng nổi. Bài phải đỡ rất nhanh, nếu không người làm cái sẽ nói: “Đỏ chậm rồi”, và người kia sẽ phải đền. Chính ở đây tôi đã phát hiện được một loại phạm nhân mới: loại con bạc. Họ sống bằng cờ bạc, vì cờ bạc trong cờ bạc. Ngoài cờ bạc ra, họ không còn quan tâm đến một cái gì khác nữa. Họ quên hết: trước kia họ là gì, họ bị xử án gì, họ có thể làm gì để cho cuộc sống của họ thay đổi ít nhiều. Họ không cần biết người ngồi đánh bài với họ là ai, tốt xấu ra sao, chi cần người đó đánh bài, thế là đủ.
Chúng tôi chơi suốt đêm hôm ấy. Đến giờ uống cà- phê mới thôi. Tôi được một ngàn ba trăm francs. Tôi đang đi về giường thì Paulo đến gặp tôi hỏi vay hai trăm để đi đánh tiếp mấy ván belote tay đôi. Cần hai trăm mà anh ta chỉ có một.
– Đây, cầm lấy ba trăm. Chung vốn một nửa, tôi nói.
– Cám ơn Papillon. Anh đúng là gã trai tôi đã được nghe nói. Ta sẽ là bạn.
Anh ta chia tay, tôi bắt tay anh ta, và anh ta vui vẻ cầm tiền đi.
Clousiot chết vào sáng hôm ấy.
Đêm trước, vào một lúc tỉnh táo, anh đã yêu cầu Chatal đừng tiêm morphin cho anh nữa:
– Tôi muốn được trọn vẹn khi chết, ngồi trên giường bên cạnh có các bạn tôi.
Có lệ tuyệt đối cấm vào các phòng cách ly, nhưng Chatal đã tự ý bỏ lệ đó, và bạn chúng tôi đã được chết trong tay chúng tôi. Tôi đã vuốt mắt cho anh. Maturette biến dạng đi vì đau đớn.
– Anh ấy là người bạn đường trong cuộc phiêu lưu tuyệt vời của chúng ta. Thế mà bây giờ người ta đã ném anh ấy xuống biển cho cá mập.
Khi nghe mấy tiếng “ném cho cá mập”, tôi lạnh toát cả người. ở Quần đảo quả nhiên không có nghĩa địa cho phạm nhân. Khi một người tù qua đời, họ đem xác ném xuống biển vào lúc mặt trời lặn, khoảng giữa hai đảo Saint-Joseph và Royale, một nơi nhung nhúc những cá mập.
Cái chết của người bạn làm cho tôi không tài nào ở lại bệnh viện được. Tôi nhắn Dega là ngày kia tôi sẽ ra viện. Dega liền viết cho tôi mấy chử: “Cậu hãy xin Chatal ký giấy cho nghỉ mười lăm ngày ở trại, để cậu có thì giờ chọn một công việc vừa ý”. Maturette sẽ nằm viện mấy ngày nữa. Có lẽ Chatal sẽ giữ cậu ta lại làm y tá phụ việc.
Hôm tôi ra viện, họ dẫn tôi đến trụ sở ban Quản trị gặp thiếu tá Barrot biệt hiệu “Dừa khô”.
– Bươm bướm ạ, – ông ta nói, – trước khi cho anh về trại, tôi thấy cần nói chuyện với anh một chút. ở đây anh có một người bạn quý làm kế toán cho tôi: Louis Dega ấy. Lão ta nói anh không phải là người như trong các hồ sơ từ Pháp gửi cho chúng tôi nhận xét và vì coi anh là một người vô tội bị xử oan, việc anh thường nổi loạn là việc bình thường. Tôi xin nói với anh rằng tôi không đồng ý lắm với Dega về vấn đề này. Điều tôi đang muốn biết là hiện nay trạng thái tinh thần của anh ra sao.
– Thưa thiếu tá, trước tiên, để có thể trả lời ngài, xin ngài cho biết trong hồ sơ nhận xét về tôi như thế nào?
– Anh cứ xem đi thì biết.
Và thiếu tá đưa cho tôi một cái cặp bìa vàng, trong đó tôi đọc thấy những điều đại loại như sau:
“Henri Charrière, biệt hiệu Bươm bướm, sinh ngày 16 tháng Một năm 1906 ở…, tỉnh Ardèche, bị Tòa Đại hình quận sông Seine xử án khổ sai chung thân vì tội giết người. Nguy hiểm về mọi phương diện, cần được giám sát nghiêm ngặt. Không thể giao những công việc ưu đãi”
“Nhà lao trung tâm Caen: một phạm nhân bất trị, không thể cải hóa. Có khả năng khuấy động và chỉ huy một cuộc nổi loạn. Cần quan sát thường xuyên.
“Saint-Martin-de-Ré : một tù nhân có kỷ luật nhưng rất có ảnh hưởng đối với các bạn tù. Sẽ tìm cách vượt ngục từ bất kỳ nhà giam nào.
“Saint-Laurent-du-Maroni: đã tấn công một cách man rợ vào ba viên giám thị và một viên giữ khóa để trốn khỏi bệnh viện. Được đưa từ Colombia về. Có thái độ đứng đắn khi ra tòa trừng giới. Bị xử nhẹ hai năm cấm cố.
“Nhà lao cấm cố Saint-Joseph: hạnh kiểm tốt cho đến mãn hạn”.
Khi tôi trả lại tập hồ sơ, viên thiếu tá nói:
– Anh bạn Bươm bướm ạ, với một hồ sơ như thế, người có nhiệm vụ quản lý anh khó lòng có thể yên tâm. Bây giờ anh có thể ký kết với tôi một bản giao kèo không? 
– Sao lại không ạ? Tuy cũng còn tùy ở nội dung bản giao kèo.
– Tôi tin chắc mười phần là anh sẽ làm hết cách để vượt ngục khỏi Quần đảo, mặc dầu việc này hết sức khó khăn. Rất có thể anh sẽ thành công nữa là khác.
– Thế mà về phần tôi, tôi còn phải quản lý Quần đảo năm tháng nữa. Anh có biết một vụ vượt ngục xảy ra thì Giám đốc Quần đảo phải trả giá như thế nào không? Một năm phụ cấp. Tôi sẽ bị tước bỏ số phụ cấp của viên chức hải ngoại, sẽ bị hoãn nghỉ phép sáu tháng và hạn nghỉ phép rút bớt ba tháng. Và tùy theo kết luận sau khi điều tra về vụ vượt ngục, nếu thấy có sự sơ xuất của Giám đốc trại, có thể mất một lon. Anh thấy đấy: chẳng phải chuyện đùa. Nhưng nếu tôi là người làm việc một cách trung thực thì không thể chỉ vì anh có cơ vượt ngục mà tôi lại có quyền nhốt anh vào ngục hay vào xà lim. Trừ phi tôi đặt điều vu cho anh phạm lỗi này nọ. Cái đó tôi không muốn làm chút nào. Cho nên tôi mong anh lấy danh dự hứa với tôi là sẽ không tìm cách vượt ngục trước khi tôi rời Quần đảo. Năm tháng thôi.
– Thưa thiếu tá, tôi xin lấy danh dự hứa với ngài là chừng nào ngài còn ở đây, nếu không quá sáu tháng, tôi sẽ không đi khỏi Quần đảo.
– Không đến năm tháng nữa tôi sẽ ra đi: đó là điều hoàn toàn chắc chắn.
– Vậy thì rất tốt. Ngài cứ hỏi Dega: bác ta biết tôi đã hứa là giữ lời.
– Tôi tin anh.
– Nhưng đổi lại, tôi có một yêu cầu.
– Yêu cầu gì?
– Trong cái thời hạn năm tháng ấy tôi phải được phân những công việc mà lý ra về sau tôi mới được nhận, và hơn nữa, khi cần tôi sẽ được đổi sang đảo khác.
– Được, tôi đồng ý. Nhưng việc này chỉ có hai chúng ta biết thôi.
– Thưa ngài vâng.
Thiếu tá cho gọi Dega đến: Dega nói rằng chỗ của tôi không phải ở trong đám các “tù nhân tử tế” mà là trong đám giang hồ. Trong tòa nhà giam các tù nhân nguy hiểm: tất cả các bạn tôi đều ở đấy. Người ta trao cho tôi cái bị đựng toàn bộ trang phục và đồ dùng của tù khổ sai. Thiếu tá ra lệnh thêm cho tôi mấy bộ quần áo lao động màu trắng tịch thu của bọn thợ may.
Thế là tôi đi theo một viên cảnh sát về khu trung tâm của trại, với hai cái quần trắng mới tinh khôi, ba cái áo va-rơi và một cái mũ rơm. Muốn đến dãy nhà nhỏ của Ban Quản trị trại phải đi qua cả khoảng đất bằng trên đỉnh đồi. Chúng tôi đi ngang trước mặt bệnh xá của giám thị, men theo một bức tường cao bốn mét bao quanh trại giam. Sau khi đi gần hết chu vi cái hình chữ nhật rộng mênh mông này, chúng tôi đến cửa chính trại trừng giới Quần đảo “Phân trại Royale”. Cánh cửa gỗ to tướng của trại mở toang hoác. Nó cao phải đến sáu mét. hai tốp gác mỗi tốp bốn viên giám thị. Một viên đeo lon ngồi trên một chiếc ghế tựa. Không thấy có súng trường: ai nấy đều đeo súng lục. Tôi còn thấy có năm sáu tên giữ khóa người A-rập.
Khi tôi vào đến vòm cửa, bọn giám thị đều bước cả ra. Viên chỉ huy, người Corse, nói: “Đây là một phạm nhân mới, thuộc loại có hạng”. Bọn giữ khóa toan lục soát tôi, nhưng hắn ngăn họ lại:
– Thôi đừng bày trò bắt hắn giở hết cả bạc-đa ra. Vào đi Papillon. ở nhà tù trung tâm chắc chắn là có nhiều bạn cũ đang đợi mày. Tao tên là Sofram. Chúc mày gặp may mắn ở Đảo này!
– Cám ơn sếp.
Tôi bước vào một khoảng sân rộng mênh mông xung quanh có ba tòa nhà lớn. Tôi đi theo viên giám thị, vào một tòa nhà có đề trên cửa: nhà A – Khối Đặc biệt” trước cánh cửa rộng mở viên giám thị gọi lớn: “Khối trưởng đâu!” Một người tù khổ sai già bước ra. Viên sếp nói: “Đây là một tay mới”, đoạn bỏ đi. Tôi bước vào một gian phòng lớn hình chữ nhật có một trăm hai mươi người ở. Cùng như trong cái lán đầu tiên của tôi ở Saint-Laurent, hai bên có hai thanh sắt dài chạy song song với hai bức tường làm thành chiều dài của gian phòng, chỉ đứt quãng ở chỗ có cánh cửa sắt đóng vào ban đêm. Giữa mỗi thanh sắt và bức tường đối diện có căng rất thẳng những tấm vải bố dùng làm giường, được gọi là “võng” tuy nó chẳng giống võng chút nào. Nhưng cái “võng” này rất tiện nghi và hợp vệ sinh. Phía trên mỗi tấm vải có hai tấm ván đóng vào tường dành cho phạm nhân để đồ đạc: một tấm để áo quần, một tấm để cà-mèn và thức ăn v.v… Giữa hai hàng võng có một lối đi rộng ba mét, gọi là “hành lang”. ở đây phạm nhân cũng họp thành từng nhóm nhỏ gọi là “xóm” hay “tổ” sinh hoạt. Có những tổ chỉ có hai người, nhưng cũng có nhưng tổ có đến mười người.
Chúng tôi vừa vào một cái là các tù nhân mặc đồ trắng đổ xô lại.
“Papi, ra phía này!”
“Không, cậu ấy đến chỗ chúng tớ”.
Grandet cầm lấy cái bị của tôi, nói: “Papi sẽ ở một tổ với tớ”
Tôi đi theo Grandet. Họ lắp “võng” cho tôi, kéo thật căng.
– Này. cầm lấy cái gối lông gà này mà gối. Grandet nói.
Tôi gặp lại cả một lô bạn bè cũ. Rất nhiều Người Corse và người Marseille, cùng có mấy người Paris: đều là những bạn từ Pháp sang, hoặc giả nhưng người tôi đã làm quen ở nhà lao Sante, nhà lao Conciergie hay trên tàu thủy. Nhưng tôi lấy làm lạ sao giờ này mà họ đều có mặt ở đây cả. Tôi hỏi: “Giờ này mà các cậu không phải đi làm à?” Thế là ai nấy đều cười rộ.
– Chà! Câu này cậu phải chép lại cho chúng tớ làm kỷ niệm đấy! ở nhà A này ai phải đi làm thì nhiều nhất là mỗi ngày một tiếng. Sau đó là về tổ.
– Cuộc đón tiếp của các bạn thật là nồng nhiệt. Được như thế này mãi thì hay quá. Nhưng tôi chợt nhận thấy một điều mà tôi không hề dự kiến: tuy chỉ nằm bệnh viện có mấy ngày, giờ đây tôi thấy mình phải học lại cách sống tập thể.
Tôi được chứng kiến một cảnh mà tôi khó lòng có thể tưởng tượng nổi. Một anh chàng mặc đồ trắng bước vào hai tay bưng một cái khay lớn phủ một tấm vải trắng tinh, rao: “Bít-tết, bít-tết đây! Ai bít-tết nào?” Một lát sau hắn đã đến ngay chỗ chúng tôi, dừng lại, giở tấm vải trắng ra, để lộ cả một khay bày toàn là bít-tết xếp từng chồng sắp rất ngang hàng thẳng lối như trong một cửa hàng thịt chính quy ở Pháp. Có thể thấy rõ Grandet là một ông khách thường xuyên, vì cái anh bưng bít-tết không hỏi xem anh ta có mua bít-tết không, mà chỉ hỏi xem anh ta lấy bao nhiêu suất.
– Năm suất.
– Phô-phi-lê hay thịt vai nào?
– Phô-phi-lê. Hết bao nhiêu đây? Cậu tính sổ lại thử xem, vì bây giờ tổ tớ thêm một nhân khẩu, chẳng giống mọi hôm.
Cậu bán bít-tết rút ra một cuốn sổ tay, tính toán cái gì một lúc.
– Cả thảy vị chi một trăm ba mươi lăm francs: tổng cộng đấy.
– Thế thì tớ thanh toán hết, để bắt đầu ghi sổ lại từ đầu
Khi anh bán thịt đã đi chỗ khác. Grandet nói với tôi:
– ở đây mà không có bím thì chỉ có chết. Nhưng cũng may là có một phương pháp để lúc nào cũng rủng rỉnh: đó là “biện pháp D”.
ở trong đám giang hồ chính cống, “biện pháp D” (tức là “debrouille”) là cái cách xoay sở riêng của từng người để kiếm tiền xài. Anh đầu bếp của trại lấy suất thịt của cái tù nhân, rán bít-tết đem bán. Khi nhận thịt ở nhà bếp, hắn cắt bớt đi chừng một nửa. Tùy loại thịt, hắn làm bít-têt, làm ra-gu hay đem hầm nhừ. Một phần đem bán cho bọn giám thị thông qua vợ họ, một phần đem bán cho các phạm nhân có tiền. Dĩ nhiên, anh đầu bếp cũng có chia phần lời cho viên giám thị phụ trách bếp núc. Nhà đầu tiên anh ta mang hàng đến bao giờ cũng là nhà A, nhà của khối Đặc biệt tức của chúng tôi.
Vậy thì biện pháp D là biện pháp của anh đầu bếp bán thịt bán mỡ, của anh làm bánh mì bán bánh mì phăng-te-di và bánh mì trắng ba-ghét, tức bánh mì ống sáo nướng dòn tan, dành cho bọn giám thị, của anh đồ tể ở lò thịt bán thịt cho anh đầu bếp; của anh y tá bán thuốc tiêm; của anh kế toán ăn tiền để chỉ định cho phạm nhân nhận việc này việc nọ, hay chỉ để cho anh miễn một khoản cỏ vê nào đấy; của anh làm vườn, bán rau quả tươi; của anh tù làm ở phòng thí nghiệm bán kết quả xét nghiệm, nhiều khi còn sản xuất ra cả những bệnh nhân ho lao dỏm, cùi dỏm, lỵ dỏm, v.v…, của những chuyên gia ăn cắp các thứ vặt vãnh trong sân nhà bọn giám thị rồi đem ra bán: trứng, gà, xà-bông Marseille; của những anh “tù gia đình” chuyên móc nối đổi chác với bà chủ nhà, ai cần gì cứ nhờ họ kiếm cho: bơ, sữa đặc, sữa bột, hộp cá thu, hộp cá trích, pho-mát, và dĩ nhiên là cả rượu vang, rượu mạnh (chẳng hạn tổ tôi bao giờ cũng có một chai Ricard và mấy bao thuốc lá Mỹ hayĂng-lê); rồi lại còn những anh tù được phép đi câu, chuyên bán cá tươi và tôm he nữa.
Nhưng cái biện pháp D hời nhất, và cũng là nguy hiểm nhất nữa, là làm chủ sòng bạc. Lệ ở đây quy định là không bao giờ được có hơn ba hay bốn chủ sòng trong một khối gồm một trăm hai mươi tù nhân. Người nào định kiếm chân chủ sòng thì đang đêm cứ đến một sòng đang chơi tuyên bố:
– Tớ muốn kiếm một chân chủ sòng.
Người ta thường trả lời hắn là không được đâu.
– Mọi người đều đồng ý là không được chứ?
– Không được.
– Vậy thì tớ chọn cậu Mỗ đây: tớ chiếm chỗ cậu.
Cái anh mỗ được chọn kia đã hiểu. Hắn đứng dậy, ra giữa phòng và hai người rút dao ra đọ sức. Ai thắng thì được giữ chân chủ sòng. Chủ sòng được hưởng hồ năm phần trăm mỗi số tiền thắng được.
Cờ bạc cũng là cơ hội thực hiện những biện pháp D vụn vặt khác, có những anh chuyên trải những tấm chăn thật thẳng thóm xuống đất cho mọi người ngồi, lại có những anh cho thuê mấy cái ghế đòn con con dành cho những con bạc không quen ngồi xếp bằng, có những anh bán thuốc lá điếu bên sòng bạc: họ đặt lên tấm chăn mấy cái hộp xì gà cũ, đựng những bao thuốc Pháp, Anh, Mỹ hay những điếu thuốc quấn lấy. Mỗi thứ đều có giá nhất định. Ai muốn hút cứ việc tự lấy ra, nhưng không được quên bỏ vào hộp số tiền đã ấn định cho từng loại thuốc. Lại có cả những anh chuyên trách mấy cái đèn dầu noa, trông nom cho đèn đừng bốc khói nhiều quá. Đó là những cây đèn làm bằng hộp sữa, mặt trên đục lỗ xâu bấc. Lâu lâu lại phải gạt bấc cho đỡ bốc khói. Những con bạc không hút thuốc thì dùng kẹo hay bánh ngọt: việc sản xuất các thứ này cũng làm thành một nghề D riêng. Mỗi khối nhà đều có một hay hai anh bán cà-phê. Cà-phê theo kiểu A-rập, được ủ nóng suốt đêm trong hai cái bao bố gấp kín lại và được để ở một chỗ cố định. Lâu lâu người bán cà-phê lại đảo qua sòng bạc chào mời, tay cầm một cái bình thủy tự chế đựng cà-phê hay ca cao nóng.
Cuối cùng là nghề tiểu thủ công. Đây có thể nói là một biện pháp D có tính chất mỹ nghệ. Có người mua lại đồi mồi của những tù nhân chuyên đi câu để gia công. Mỗi cái mai như vậy có mười ba mang có thể nặng tới hai ki lô. Nhà mỹ nghệ dùng đồi mồi làm vòng đeo tay, làm hoa mai, làm vòng đeo cổ, làm cán điếu, làm lược và làm bàn chải. Tôi còn được trông thấy một cái hộp làm bằng đồi mồi vàng, thật là một tuyệt phẩm. Lại có những người chạm trổ sọ dừa, sừng trâu sừng bò, gỗ mun và gỗ đảo hình rắn. Cũng có người làm những thứ đồ gỗ cao cấp đòi hỏi độ chính xác rất cao, không có lấy một cái đinh, toàn dùng khớp làm lại. Những người khéo tay nhất thì làm đồ đồng đen. Lại có cả những họa sĩ nữa.
Cũng có nhiều tài nghệ khác nhau được liên kết lại để làm một sản vật duy nhất. Nói giả dụ có một người tù câu được một con cá mập. Hắn liền lấy xương hàm con cá đánh thật sạch rồi gia công sao cho xương và hai hàng răng thật bóng, thật thẳng, chốt cho cái hàm há rộng thành một cái khung xung quanh toàn răng nhọn hoắt. Một anh thợ gỗ làm một cái mô hình neo bằng gỗ mịn thớ đánh thật bóng, phần giữa thật rộng để có thể vẽ tranh lên trên. Cái neo được gắn vào giữa cái hàm cá mập, và một họa sĩ vẽ lên đấy một cảnh Quần đảo Salut giữa biển cả. Chủ đề hay được sử dụng nhất là chủ đề sau đây: mũi đảo Royale, có biển và đảo Saint~Joseph. Trên mặt biển màu xanh biếc ánh tà dương lấp lánh. Trên mặt biển là một con thuyền có sáu phạm nhân mình trần đứng cầm chèo đứng thẳng, phía sau lại có ba viên cảnh binh cầm tiểu liên. ở mũi thuyền, hai người đang dốc một cỗ quan tài: từ đấy tụt ra một cái xác chết bọc trong bao bột. Trên mặt nước có thể trông thấy mấy con cá mập đang há mõm đợi ăn. ở phía dưới bức tranh, bên góc phải có đề “Mai táng ở Royale” và ngày tháng vẽ tranh.
Tất cả các “mỹ nghệ phẩm” như trên đều bán cho các nhà giám thị. Những chế phẩm đẹp nhất thường được đặt mua trước hay đặt làm riêng. Phần còn lại bán cho các chuyến tàu ghé đảo. Đây là lãnh vực của mấy anh chèo thuyền. Cũng có những anh bịp đời, lấy một cái ca cũ kỹ mép méo, khắc dòng chừ “cái ca này trước kia là ca của Dreyfus – Đảo quỷ, – ngày… tháng…” Thìa và cà-mèn cũng được dân bịp đời sử dụng kiểu đó. Đối với mấy anh lính thủy người Bretagne thì có một món ăn chắc: bất cứ đồ vật gì có khắc tên “Sezenec”.
Những cuộc mua bán thường xuyên này thu hút vào Quần đảo rất nhiều tiền, và bọn giám thị thấy rõ điều đó có lợi cho họ, cho nên họ cứ để mặc. Mải lo việc sản xuất và bán chác, tù nhân dễ điều khiển hơn và dễ an phận với cuộc sống đày ải của họ hơn. Thói pê-đê ở đây đã trở thành một nếp sống chính thức. Mọi người, cho đến cả chi huy trại giam, đều biết rằng cậu Mỗ nào đó là vợ của một cậu Mễ nào đó, và nếu có trót chuyển một trong hai cậu ấy sang đảo khác mà quên mất cậu kia thì người ta làm đủ cách để cho cái đôi bị “chia loan rẽ thúy” kia sớm đoàn tụ. Trong cả đám phạm nhân ấy không có lấy được ba phần trăm có ý định tìm cách trốn khỏi quần đảo. Ngay cả những người bị án chung thân cũng không. Cách duy nhất để có cơ vượt ngục là làm sao được miễn giam và được chuyển về Đất liền, về Saint-Laurent, Kourou hay Cayenne. Điều đó chỉ có thể có được với những người bị giam có thời hạn. Đối với những người bị án giam chung nhân thì không có cách gì, trừ phi là giết người. Vì nếu phạm nhân giết chết một người nào, thì sẽ bị đưa về Saint-Laurent để xử. Nhưng vì muốn đến Saint-Laurent phải qua thủ tục thú nhận tội sát nhân, người ấy có nguy cơ bị năm năm cấm cố mà không biết là liệu trong cái thời hạn ngắn ngủi ở trại trừng giới Saint-Laurent (tối đa là ba tháng) có đủ thì giờ để tổ chức vượt ngục hay không?
Cũng có thể tìm cách xin được miễn giam vì lý do sức khỏe. Nếu được công nhận là ho lao thì được chuyển đến trại của phạm nhân ho lao, gọi là “Trại mới”, cách Saint-Laurent tám mươi cây số.
Còn có bệnh hủi hay bệnh kiết lỵ kinh niên nữa. Muốn được công nhận có một trong hai bệnh này cũng tương đối dễ, nhưng làm như thế có một nguy cơ rất khủng khiếp: phải chung sống hai năm, cách ly trong một căn nhà riêng với những người mắc bệnh hủi thứ thiệt hay bệnh kiết lỵ thứ thiệt. Trong hai năm ấy chẳng khó gì mà chẳng chuyển từ hủi dỏm thành hủi xịn và từ kiết dỏm thành kiết xịn: không ít người đã qua cái quá trình ấy.
Thế là tôi đã an cư lạc nghiệp trong khối nhà A với một trăm hai mươi bạn tù của tôi. Phải cố học cách sống trong cái khối cộng đồng này, nơi mà người ta phân loại được anh ngay. Trước hết phải làm sao cho mọi người biết rõ rằng không thể nào tấn công mình mà không bị giáng trả đích đáng. Được mọi người e sợ rồi, còn phải được họ kính trọng vì thái dộ của mình khi đối xử với bọn cớm, không được nhận một số chức việc nào đấy, phải khước từ một số công việc nhất định, không bao giờ được khuất phục một tên giữ khóa, không bao giờ tuân lệnh hắn, dù có phải vì thế mà xung đột với một viên giám thị cũng vậy. Nếu đã đánh bạc suốt đêm rồi thì đến giờ điểm danh cũng không ra. Người trường khối chỉ việc trả lời: “ốm phải nằm”, thế là xong. ở các khối khác, nhiều khi bọn giám thị vào tận phòng tìm “người ốm” và bắt hắn ra điểm danh. Nhưng ở khối dân cứng đầu thì không bao giờ. Chung quy, điều mà từ cấp cao đến cấp thấp bọn họ quý nhất là được yên thân ở trại khổ sai này.
Bạn cùng tổ với tôi, Grandet, là một người Marseille ba mươi lăm tuổi. Người cao lêu đêu, gầy như que củi, nhưng rất khỏe. Chúng tôi là chỗ bạn thân từ hồi ở Pháp. Chúng tôi hay gặp nhau ở Toulon, cũng như ở Marseille và ở Paris. Đó là một tay khoét tủ sắt nổi tiếng. Anh ta hiền nhưng có lẽ rất nguy hiểm. Hôm nay tôi không ra ngoài. Trong gian phòng rộng mênh mông hầu như chỉ có một mình tôi. Ông già trưởng khối đang quét và lau cái sàn xi măng. Tôi trông thấy một phạm nhân đang ngồi sửa đồng hồ, mắt trái đeo cái gì bằng gỗ. ở phía trên võng của hắn có một tấm ván treo đến ba chục cái đồng hồ. Nhìn nét mặt thì hắn độ ba mươi tuổi là cùng, nhưng đầu hắn bạc trắng. Tôi đến cạnh hắn, nhìn hắn làm việc một lúc. Rồi tôi thử bắt chuyện với hắn. Hắn cứ câm như hến. Thậm chí cũng chẳng thèm ngẩng mặt lên một lần nào, hơi trạnh lòng, tôi bỏ đi ra sân, đến ngồi ở cạnh máy nước. ở đây đà có Titl la Belote, đang tập dượt với một cỗ bài mới tinh khôi. Mười ngón tay mềm mại của hắn thoăn thoắt trang di trang lại ba mươi con bài với một tốc độ không tài nào tưởng tượng nổi. Vẫn không ngừng ngưng động tác chớp nhoáng của nhà ảo thuật, hắn bảo tôi:
– Thế nào anh bạn? ở Royale có ổn không?
– ổn, nhưng hôm nay tớ chán quá. Tớ sẽ tìm việc gì làm, để ra ngoài trại một chút. Ban nãy tớ muốn nói chuyện một lát với cái tay gì sửa đồng hồ trong kia, nhưng hắn cũng chẳng buồn trả lời tớ nữa.
– Anh không biết đấy Papi ạ, chứ thằng cha ấy nó có coi ai ra gì đâu. Nó chỉ biết mấy cái đồng hồ của nó. Ngoài ra nó đếch cần. Quả tình sau những chuyện nó phải chịu đựng, nó có quyền điên lắm. Nó chưa điên là may. Anh hãy tương tượng mà xem, cái anh chàng trẻ tuổi ấy – có thể gọi hắn như vậy vì hắn chưa đến ba mươi – năm ngoái đã từng bị xử tử vì bị buộc tội là “hiếp” vợ một thằng cớm. Chuyện láo toét cả. Hắn ngủ với cô chủ từ lâu – cô ta là vợ một viên giam thị trưởng người Bretagne. Vì hắn là “tù gia đình” ở nhà họ, cho nên cứ đến ngày trực của viên giám thị là hai anh chị tha hồ. Nhưng anh chị đã phạm một sai lầm lớn: cô nàng không cho anh chàng giặt là áo quần nữa, cô ta tự làm lấy: thế là anh chồng mọc sừng xưa nay vốn biết tính cô ta lười, thấy lạ và sinh nghi. Nhưng anh ta chưa có bằng chứng là mình bị mọc sừng. Cho nên anh ta quyết định bày mưu để bắt quá tang tại trận và giết chết cả đôi. Anh ta đã không lường trước được cách phản ứng của cô nàng. Một hôm, trực được hai tiếng thì anh ta bỏ phiên về nhà, gọi một viên giám thị về theo lấy cớ là để biếu tay này một súc giăm-bông nhà mới gửi cho. Hai người khẽ khàng đi vào cổng, nhưng vừa vào đến nhà thì con vẹt nuôi trong nhà ré lên “Ông chủ đã về!” như nó vẫn quen làm mỗi khi viên giám thị về. Ngay tức khắc cô vợ hét lên: “Cứu với! Nó hiếp tôi đây này?” Hai tên gác xông vào buồng đúng vào lúc cô vợ vừa vùng ra khỏi tay anh tù. Anh này vội nhảy qua cửa sổ chạy. Viên giám thị bắn theo, một phát trúng vai anh ta. Trong khi đó, cô nàng xé rách áo choàng, cào xước vú và má mình ra. Anh tù ngã xuống, tên gác người Breton toan bắn chết thì tên gác kia giật súng đi. Tớ cần nói rõ là tên gác này người Corse, ngay từ đầu đã hiểu rằng ông sếp phịa chứ ở đây chẳng có chuyện hãm hiếp gì hết. Nhưng tên người Corse không thể nói chuyện này với tên kia, cứ làm như thể mình tin câu chuyện hiếp dâm là chuyện thật. Anh thợ đồng hồ bị xử tử hình. Đến đây thì chẳng có gì phi thường hết, anh bạn ạ. Sau đó mới ly kỳ.
“ở Royale, trong những khu trừng phạt có một cái máy chém, mỗi bộ phận đều có chỗ cất riêng trong một căn nhà đặc biệt. Ngoài sân là năm phiến đá xây kỹ thành bệ bằng phẳng để đặt máy chém. Cứ mỗi tuần, đao phủ thủ và hai người tù giúp việc cho hắn lại đem cái máy ra lắp lên bệ, lưỡi dao lười diếc đầy đủ bộ sậu, rồi cho máy chém thử hai ba cây chuối. Để cho chắc là máy vẫn trơn tru, khi cần đến không lo trục trặc. (anh thợ đồng hồ người Savoie lúc bấy giờ đang nằm trong khám tử hình với bốn người nữa, hai người A-rập và một người Sicilia). Cả năm người đang đợi phúc đáp đơn xin ân xá do những viên giám thị đã bênh vực họ viết hộ cho.
Một buổi sáng nọ người ta lắp máy chém và đột nhiên mở cửa buồng giam anh thợ đồng hồ. Tốp đao phủ xông vào trói chân anh ta lại và cũng sợi dây ấy buộc hai cổ tay, dây liền với chân. Họ lấy kéo xén cổ áo rồi dắt anh ta đi từng bước ngắn trong ánh sáng mờ mờ của buổi bình minh, từ từ vượt qua cái khoảng cách chừng hai mươi mét từ buồng giam đến máy chém. (chắc bạn cũng biết rằng khi anh đến trước máy chém, anh giáp mặt với một tấm ván dựng đứng cao ngang vai anh, có đính sẵn nịt da để buộc sấp anh vào đấy, sau đó, tấm ván sẽ được lật ngang ra và thế là anh chuyển sang tư thế nằm sấp, cổ đặt vừa đúng vào chỗ lưỡi dao sẽ rơi xuống. Vậy thì người ta đang sắp sửa lật ngang tấm ván có buộc anh thợ đồng hồ, nhưng vừa đúng lúc ấy ông chỉ huy trại – ông “Dừa khô” đương kim trại trưởng đấy – ra sân: theo lệ của trại, ông ta bắt buộc phải dự cuộc hành quyết. Tay ông ta cầm một cây đèn bão lớn, và khi giơ đèn lên soi, ông ta mới thấy là bọn cớm chết tiệt ấy nhầm: chúng nó suýt chặt đầu anh thợ đồng hồ trong khi anh ta chẳng dính dáng gì với cuộc hành quyết sáng hôm ấy.
– Dừng lại Dừng lại! – Barrot quát lớn.
Ông ta xúc động đến mức dường như không nói được nữa. Ông ta buông cây đèn bão rơi xuống đất, xô lấn mọi người, cảnh sát cũng như phạm nhân, tự tay đến cởi trói cho anh sửa đồng hồ Savoie. Mãi sau đó ông ta mới ra lệnh được:
– Y tá, đưa anh ta về buồng giam. Săn sóc kỹ, cho uống rượu rhum. Còn các anh, cái lũ ăn hại kia, vào bắt ngay tên Rencassen đưa ra đây. Hắn mới là kẻ phải xử tử hôm nay, chứ không phải ai khác!
“Hôm sau, anh thợ đồng hồ đã bạc trắng cả đầu ra như anh thấy đấy. Trạng sư của hắn là một cảnh binh ở Calvi, bèn viết thêm một lá đơn xin ân xá nữa gửi ông Bộ trưởng Tư pháp, trong đơn có kể lại việc này. Anh thợ đồng hồ được ân xá, chuyển án tứ hình thành án chung thân. Từ đấy, anh ta suốt ngày sửa đồng hồ cho nhân viên trong trại. Anh ta say mê công việc quên hết mọi sự trên đời. Sửa xong anh ta giữ lại rất lâu để kiểm tra, điều chỉnh, cho nên trên ván mới treo ngần ấy đồng hồ. Bây giờ thì anh đã hiểu ra rằng hắn có quyền hơi điên một chút chứ? 
– Hiểu, Tita ạ, sau một cái sốc như thế, hắn có quyền không hồ hởi với mọi người cho lắm. Tôi thành thật thương hại hắn. 
Mỗi ngày tôi lại học thêm được chút ít về cuộc sống mới này Khối A quả là một nơi tập trung những con người đáng sợ, xét về những thành tích dĩ vãng cũng như về cách phản ứng của họ trong sinh hoạt hàng ngày. Tôi vẫn chưa làm việc: tôi còn đợi một chân đổ thùng. Kiếm được chân này; tôi chỉ phải làm mỗi ngày bốn mười lăm phút, rồi sau đó được đi lại tự do trên đảo và được phép xuống biển đánh cá. Sáng hôm ấy, đến buổi điểm danh lấy người đi làm cỏ vê ở đồn điền trồng dừa, họ chỉ định Jean Castelli. Ông ta bước ra khỏi hàng hỏi:
– Cái gì? Tôi mà cắt di làm cỏ-vê à? Tôi ấy à?
– Phải, anh đấy! – Tên gác đội cỏ-vê nói. – Đây, cầm lấy cái cuốc chim này.
Castelli lạnh lùng nhìn hắn;
– Anh kia. anh không hiểu rằng phải là dân cái xứ Auvergne nhà anh mới biết cánh dùng cái thứ cuốc quỉ quái ấy à? Tôi là người Corse ở Marseille. ở Corse người ta ném các dụng cụ đi cho thật xa, còn ở Marseille người ta còn không biết nó là cái gì nữa. Anh cứ giữ lấy cái cuốc và để cho tôi yên.
Tên cớm trẻ, chưa am hiểu công chuyện ở đây lắm (như về sau tôi được biết), giơ cao cái cán cuốc lên dọa Castelli. Lập tức một trăm hai mươi người quát lên cùng một lúc:
– Buông cuốc xuống, không thì chết ngay bây giờ!
Grandet hô:
– Giải tán!

Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 9 Nov 2025

Phần 10 – Hy vọng của “Thăng tử hình”

Ô cửa sáo mở ra đột ngột, một gương mặt nghiêm khắc của cán bộ biệt giam nhìn chòng chọc vào tôi và phạm nhân chung phòng, cuối cùng một ngón tay chỉ đúng vào tôi:

-Chuẩn bị đồ đạc.

Khẩu lệnh này đã quá quen thuộc với tôi vì đã hơn hai năm nằm biệt giam, chuyển phòng không biết bao nhiêu lần. tuy vậy lần nào cũng hồi hộp lo âu vì không biết là chuyển phòng hay chuyển trại.

Lần này thì tôi biết chắc là chuyển phòng, bởi sáng nay, cán bộ phát hiện “ chậu hoa” trên ô cửa phòng tôi và lập tức tịch thu với anh mắt ngờ vực, đe dọa.

Từ ngày vào tù. tôi vào ngay biệt giam, chỉ những lần hỏi cung là được ra ngoài, còn lại, nằm trong căn phòng 2×2 mét. Một bệ xi măng cao hai mươi phân, rộng một mét hai mươi phân cho hai người nằm, nhưng thường thì một người nằm trên và một người nằm dưới. tôi luôn chọn nằm dưới. Khoảng này tám mươi phân, hẹp hơn, không tô láng. dành cho sinh hoạt và để thùng cầu. Có những lúc xui xẻo gặp thùng câu thủng là suốt đêm phải ngồi, luôn tay dùng giẻ thấm rồi vắt ngược vào lại thùng cho đến sáng! Bù lại. nằm dưới có cái lợi là có thể nghe dộng tỉnh bên ngoài dễ hơn, thấy bóng cán bộ rình nghe lén và mát hơn nhờ cửa chính có một khe hở nhỏ chừng năm, bảy ly. Năm bảy ly thôi nhưng là cả một “khoảng trời mênh mông”đối với người nằm dưới. “Chậu hoa” chúng tôi bị tịch thu sáng nay là một mất mát lớn, bởi công sức chăm trồng của cả hai chúng tôi hơn tháng nay!

Trong biệt giam, cứ chừng vài tháng là có lệnh xem lại những đồ đạc ít dùng. Những món đồ thường dùng thì để trước cửa phòng, những gì ít dùng tới, cho vào giỏ gởi phục vụ đem đến phòng đồ đạc tập thể. Khi xem lại đồ dùng, tôi thích thú vì bao nilon đựng hạt ném(*) tua tủa mầm xanh. Mẹ tôi luôn gởi ném cho tôi, bà dặn là khi nào cảm hay đau bụng thì nhai vài hạt sẽ bớt ngay. Bởi ít khi bị cảm, nên tôi cho vào giỏ đồ ít dùng. Tôi và bạn cùng phòng, một phạm nhân hình sự, tội mổ bò lậu. Biệt giam luôn bố trí cho tù chính trị ở chung với hình sự. Tuy mới ở tù bốn tháng nhưng bạn tù chung phòng với tôi cũng rất thích thú khi nhìn những hạt ném mọc mầm xanh tươi. Chúng tôi giữ lại bốn hạt có mầm cao nhất với ý định trồng. Muốn trồng những hạt ném sẽ cần một cái chậu, nhanh trí, tôi lấy lại hai hộp diêm rồi gởi lại giỏ đồ cho tù phục vụ mang lại phòng kho.

Tôi mở hẳn hộp diêm ra rồi cắt đôi, ghép lại thành một ô chữ nhật, cao chừng ba phân, đặt chồng lên nắp hộp diêm, như vậy là có một cái chậu đủ cho bốn hạt ném. Bây giờ cái khó là đất, phòng luôn sạch không một chút bụi, kiếm ra đất thật khó! Tôi nghỉ đến chuyện khi nào đi hỏi cung, trong này thường gọi là “đi làm việc”, sẽ lén lấy một nắm đất. Ý tưởng này trở thành khó thực hiện vì tôi từ hơn một năm nay không thấy gọi đi làm việc, bạn chung phòng cũng hình như đã kết cung, chờ ra tòa. Hai chúng tôi cùng chọn cách lót dưới một lớp giẻ, dặt bốn hạt ném vào rồi xé vụn giẻ nhét thêm xung quanh. Sau một hồi “hì hục”, đã có một chậu ném tươi xinh tua tủa mầm…Chúng tôi nhỏ nước hàng ngày làm chất dinh dưỡng…May mà hộp diêm bằng gỗ, hơn tháng rồi vẫn chưa bị hư!

Suốt ngày, hai chúng tôi nhìn những lá xanh tăng trưởng! “Chậu hoa” được đặt cuối phòng, đến chừng sáu giờ chiều, chúng tôi đứng lên vai nhau, cho“chậu hoa” lên ô cửa có song sắt hóng sương đêm, rồi sáng mai, nán đến chín giờ cho hoa tắm nắng mai, rồi lại đứng lên vai nhau đưa trở lại phòng. Chúng tôi nâng niu hộp diêm như một chậu hoa hồng mỏng manh.

Chúng tôi ngây thơ, sau khi phát hiện và tịch thu chậu hoa, tôi bị lên phòng đều hành trại, cán bộ hỏi tôi là đã làm ám hiệu liên lạc với ai. ở nhà nào?

(Nhà là trại tập thể, ở chừng ba, bốn chục người.) Lúc này tôi mời biết là có thể bỏ một vật gì đò lên cửa sổ, làm ám hiệu cho bạn tù ở ngoài định vị phòng biệt giam mình đang ở, trong những lần trốn trại trước dây đã xảy ra đều này.

Vậy là tôi bị chuyển phòng! Phòng tôi chuyển đến nằm dãy đối diện với phòng cũ, vừa chào bạn tù mới, đã nghe tiếng gõ tường, Tôi đưa mắt hỏi bạn mới:

-Ai bên phòng đó vậy?

– Thăng tử hình!

“Thăng Tử hình” là đồng hương với tôi. Tội đốt kho lương thực, chung vụ của Thăng gần như cả phòng lương thực, trưởng, phó phòng và hai mươi mấy nhân viên. Phiên tòa lớn nhất từ trước tới nay, phải hơn hai năm mới kết cung và xét xử, Thăng là thủ kho, tự tay châm lửa, lãnh án nặng nhất: Tử hình, còn lại chung thân, hai mươi hai năm, mười tám năm… Thăng đang chờ ân xá hoặc giảm án. Theo nguyên tắc, tù nhân sau khi tuyên án, có quyền xin phúc thẩm hoặc viết đơn lên Chủ tịch nước xin ân xá. Bởi chỉ là nguyên tắc nên không mấy khi tù nhân được thỏa mãn. phần nhiều được phê “Y án tỉnh Ninh Thuận”. Lúc này, tù nhân chỉ còn chờ ngày thi hành án: Xử bắn !

Nguyên tắc này cho tù nhân tử hình kéo dài thời gian có khi cả năm, bởi đơn đi và về rất lâu.

Tôi biết mình sẽ chuyển phòng lần nữa vì sớm muộn gì ban đều hành trại giam cũng phát hiện ra sơ suất của cán bộ: Tôi và Thăng tử hình là đồng hương.

Thăng bị cùm cố đinh, khác vời cùm thường là không thể di chuyển, cùm cố định được xuyên qua tường, sau khi xỏ hai chân vào, cán bộ đích thân bấm khóa từ bên ngoài. Bên trong, tù nhân chỉ được đứng, ngồi hoặc nằm tai chỗ!

Lại nghe tiếng gõ tường, tôi vờ hỏi bạn mới:

-Thăng tử hình nói gì vây?

-Anh ấy hỏi có phải anh Hân chính trị, ở Sông Pha không?

Tôi vờ không biết nghe và gõ tường vì chưa thể tin bạn mới, tội liên lạc với nhau có thể bị còng hoặc cùm 15 ngày đến một tháng!.

-Trả lời giùm anh với, nói là đúng rồi.

Bạn mới gõ tường, tiếng gõ thật nhanh chứng tỏ cũng đã ở biệt giam lâu rồi.

Qua phút làm quen ban đầu, tôi có thể tin là bạn mới không tố cáo, tôi tự mình nghe và gõ lại. Có hai bảng mã cho tù nhân dùng liên lạc với nhau bằng cách gõ lên tường. Cách liên lạc này cần một vật cứng, nhỏ chừng ngón tay, thường thì dùng cán quạt, rồi lấy thun quấn chặt là có thể gõ. : Bảng mã 5×7 và 6×7. Bảng 5×7 là 5 ô hàng ngang và 7 ô hàng dọc, mỗi ô chứa một chữ cái theo mẫu chữ a, ă, â,b,c….Thí dụ chữ “a”, nằm ô thứ nhất hàng ngang và cũng ô thứ nhất hàng dọc, gõ: Cạch – cạch…Hàng ngang được gõ trước, hàng dọc gõ sau. Xem thật là khó khăn và rắc rối, nhưng như người xưa nói: “Nước sông, công tù”. Trong tù ai cũng tỷ mỷ và kiên nhẫn bởi suốt ngày nằm không, tháng này qua tháng nọ, năm này qua năm kia!

Thăng ở đã lâu, dùng mẫu 5×7, tôi lại quen dùng mẫu 6×7, ban đầu có khó hiểu đôi chút nhưng rồi chuyển đổi rất nhanh.

Thăng tâm sự nhiều về vụ đốt kho, hỏi tôi chuyện ở địa phương, ngoài đời…và cuối cùng thì hỏi tôi có biết Hương, người yêu của Thăng không?

Thăng bị bắt từ khi tôi còn ở ngoài, bởi Thăng nhỏ hơn tôi nhiều nên cũng ít quan tâm, nhưng Hương thì tôi biết, tôi có dạy Hương năm lớp chín. Hương bỏ học sớm để giúp gia đình. Sau khi Thăng bị bắt, tình cờ tôi gặp Hương trong một hoàn cảnh, mà nói ra chắc Thăng sẽ thất vọng và đau lòng lắm!

Tôi trả lời là không biết.

Thăng kể chuyên tình của mình thật lâm ly, thật đẹp! Hôm ra tòa, Hương khóc lóc và hứa ở vậy không lấy chồng nếu Thăng bị tử hình thật! Thăng luôn hy vọng là được ân xá, giảm án qua chung thân, rồi giảm qua 22 năm, nếu chấp hành tốt thì sẽ được giảm dần và cuối cùng thì chừng 12 năm là có thể trở về sống hạnh phúc cùng Hương! Có đều làm Thăng cứ ray rứt băn khoăn là không hiểu tại sao, từ sau ngày ra tòa, không thấy Hương thăm nuôi. Nhưng Thăng cũng tự an ủi là có lẽ trại không cho phép vì Hương không phải là vợ, chỉ cho gia đình thăm mà thôi.

Tôi an ủi Thăng là hắn đã nghỉ đúng, trong lòng mong sớm chấm dứt câu chuyện!

Phát hiện của trại giam nhanh hơn tôi tưởng. Ô cửa sáo lại mở ra, may là cuộc chuyện trò của tôi với Thăng vừa dứt, nếu không, không những chuyển phòng mà còn bị lãnh cùm vào chân!

– Chuẩn bị đồ đạc!

Tôi khỏi chuẩn bị vì chưa kịp soạn đồ dùng cá nhân ra.

oOo

Trước khi bị bắt, cũng như bao người trong địa phương tôi sinh sống, làm nông thì chỉ là công việc phụ bởi chẳng đủ sống, đi buôn mới là công việc đem lại cái ăn hằng ngày. Không kể đàn ông hay đàn bà, cứ còn sức khỏe thì đi buôn. Khi thì hàng nông sản, khi thì hàng điện máy linh tinh. Nông sản có gạo từ Tuy Hòa, Quảng Ngãi… Thuốc lá, đậu xanh, mì lát, từ Cam Ranh vào Sài Gòn. Điện máy là gọi cho to tác thế chứ thực ra chừng chục, mười lăm kg đinh, dăm cái bóng đèn tròn… mua được ở cửa hàng phân phối cũng mang vào Sài Gòn kiếm lời. Ga tàu là nơi hội tụ nhiều hạng người lăn lộn mưu sinh.

Hung thần của ga là Thuế vụ, Du kích. Mọi mặt hàng đều là hàng lậu.

Bởi ga là nơi dễ gặp, dễ quen nhau, nhất là người cùng địa phương. Tôi gặp Hương một vài lần. Hương thuộc hạng buôn lớn, hàng nhiều và là hàng có lãi cao. Hương thuê người áp tải hàng, lo chuyện vào ga, lên tàu thì thường ngồi trên toa Trưởng tàu và Kiểm soát viên. Dưới ga có thuế vụ che chở, lên tàu có Kiểm soát viên bao che.

Hôm ấy, tôi mang một ba lô 6kg và một túi xách 4kg thuốc lá ra Nha Trang. Mười kg thuốc lá là cả một gia tài, tất cả vốn liếng của tôi là đó!

Đang ngồi một góc trong sân ga, nơi có đám tranh lúp xúp, chờ tàu chợ từ Sài Gòn ra thì Thuế vụ cùng Du kích xuất hiện. Cả ga nhốn nháo, con buôn chạy mọi hướng. Tôi không kịp mang ba lô, chụp vội túi xách chạy theo những con buôn khác.

Tàu vào ga nhưng con buôn hầu hết kẹt không lên tàu được. Khi tàu đã qua, tôi dấu túi xách vào nơi khác rồi trở lại tìm ba lô, không còn ở đó nữa!

Tôi thất vọng vì hơn phân nữa vốn liếng nằm trong ba lô. Mua thêm hàng thì không có tiền, đi ra Nha Trang với 4kg thì lỗ chi phí! Tôi quết định vào xin lại ba lô hàng. Với giấy đi lại là giáo viên, tôi hy vọng các nhân viên thuế thông cảm. Giáo viên thời này, thỉnh thoảng, vào dịp nghỉ, cũng đi buôn gọi là “cải thiện”.

Chờ cho trạm thuế vắng người, thường thì khi tàu ra khỏi ga chừng hai tiếng thì sinh hoạt sân ga vắng lại.

Tôi vào trạm với tâm trạng hồi hộp lo âu. Nhìn đống hàng ngổn ngang, đảo mắt qua tìm cái ba lô có nằm ở đó không nhưng không thấy, có lẽ nó nằm dưới những bao hàng khác. Thấy cửa phòng khép hờ, tôi cố xua đi nỗi sợ hải thường trực, đẩy cánh cửa. Hai tấm thân trần truồng trên chiếc sạp gỗ sau bàn làm việc, họ bật dậy vội vã kéo tấm chăn che, tôi nhận ra Hương và một nhân viên thuế vụ.

Đóng nhanh cửa, tôi ra ngoài với nỗi thất vọng tột cùng, trong lòng cứ nghỉ giây phút chứng kiến vừa qua là một tai họa, bởi nhân viên thuế sẽ ác cảm không hy vọng gì cảm thông, cho tôi lại ba lô!

Nhưng Hương lại là cứu tinh, tôi đang ngồi bần thần lo lắng nơi một góc của quán nước gần trạm thuế thì Hương đến.

-Thầy bị mất hàng à?

Tôi không còn đi dạy, nhưng trong địa phương vẫn quen gọi bằng thầy.

-Ừ, tôi bị mất một ba lô thuốc lá.

-Thầy vào đây.

Tôi theo chân Hương vào trạm thuế

– Cái nào là của thầy?

Anh thuế vụ ngồi sau bàn làm việc nhìn tôi dò xét, ánh mắt lườm lườm ác cảm. Tôi tìm trong đống hàng, ba lô của tôi nằm dưới mấy bao hàng khác, có bao là gạo, có bao là đậu đen…Tôi xách lên đưa cho Hương.

-Thầy mang ra đi, cẩn thận nghe thầy! Thầy của em đó anh!

Tôi cảm ơn rồi đi nhanh ra khỏi trạm, như sợ chậm chân sẽ làm gã thuế vụ đổi ý, lòng băn khoăn sao mọi chuyện lại dễ dàng như thế!

Qua ngày hôm sau, trong lúc chờ tàu, gặp một đồng hương, anh này là tay buôn chuyên nghiệp, hôm qua biết tôi bị mất hàng:

-Xin được rồi à, nhờ Hương phải không?

-Vâng.

-Gặp Hương là hên rồi, “vợ bé” trưởng trạm đó.

oOo

Sau cuộc chuyện trò ngắn ngủi trong biệt giam, Hai tháng sau tôi được ra trại. tháng sau nữa thì nghe tin Thăng bị đưa đi xử bắn ở Cà Đú!

Tôi băn khoăn không biết trong thời gian ngắn ngủi đó, có ai biết sự thật phủ phàng về Hương, vô tình hay cố ý, tiết lộ với Thăng không?!

Mong rằng đừng có ai, cho hắn mang theo niềm hy vọng thủy chung của Hương về bên kia thế giới, như thế vẫn tốt hơn!

Sài Gòn, tháng 5, năm 2015.

Trạch An-Trần Hữu Hội

(*) Hạt ném: dạng củ, giống như củ hành, nhưng nhỏ hơn, chỉ bằng ngón tay, màu trắng đục. Củ chứa nhiều nước có vị hăng. Giải cảm, đau bụng rất tốt.

Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều – Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 9 Nov 2025

Phần 10 – Bên bờ tử sinh

Từ Phan Thiết ra, qua khỏi ngã 3 Chợ Lầu – Sông Mao chừng khoảng một cây số, có một con sông nhỏ chảy qua một cái cầu trên quốc lộ 1. Con sông này là phần đuôi cuối cùng của con sông tên Sông Lũy trước khi đổ ra biển ở Phan Rí, nếu tôi không lầm.

Thằng em lớn tôi đã vô Phan Thiết bốc tôi bằng xe Honda để ra Bắc Bình Thuận, để vượt mật khu Lê Hồng Phong băng ra biển đón ghe. Chiếc xe Honda hàng ngày chạy ngon lành, nhưng đúng cái ngày mình cần làm một chuyến đi định mệnh thoát khỏi Việt Nam, nó cứ ì ạch theo đường, hết Long Thạnh tới Bàu Ôc, hết Bàu Ôc tới Lương Sơn, rồi cuối cùng nó mới lết qua khỏi Chợ Lầu và bỏ tôi xuống ngay cái cầu nhỏ trên QL1.

Tôi và thằng em 8 tuổi ngồi bên vệ cầu, chờ trời sập tối, thấy đêm bắt đầu xuống, không có ai trên đường, hai anh em tuột cái ào xuống bờ ruộng, vượt sông, băng rừng xuyên mật khu Lê Hồng Phong ra biển.

Theo kế hoạch, Lương không đi chung với tôi mà phải ẳm cu Nguyên đi với nhóm Sài Gòn theo một con đường khác, rồi gặp nhau trên một động cát. Lương bỏ lại sau lưng quê hương, thân nhân và trường Phan Bội Châu ngày ngày trên bục giảng. Hai mẹ con không gặp tôi trên động cát trên biển rộng, mà gặp nhau trong tù.

Mật khu Lê Hồng Phong là một giải rừng thưa dựa lưng tận tới biển với những con đường mòn cát trắng thơ mộng dưới bóng trăng. Tôi đi dưới bóng trăng, tay dắt đứa em, tay ôm cái hải bàn tổ bố trong bao lác, mõi tay thì vác trên vai. Con đường thanh vắng, nó như một giải nam châm cứ hút tôi về hướng Đông để tới điểm hẹn rồi cùng nhau ra biển. Tôi không để ý con trăng sáng vằng vặc trên đầu, cũng chẳng màng tới cọp beo, chẳng thấy con đường trăng cát trắng thơ mộng ra sao… Trong đầu chỉ có một con thuyền, một con thuyền trên sóng nước vượt trùng dương lìa xa mảnh đất thân yêu ngộp thở trong cùm gông cộng sản.

Tôi đi. Chân vẫn bước, và ý niệm thời gian biến mất. Trăng vẫn sáng, người vẫn mơ theo ánh trăng soi chân đi trên cát. Rồi chợt trong một sát-na, không gian cứng đọng, ta-bà thế giới gom lại trên đỉnh đầu, giá băng tụ lạnh, buốt dài xuống hai bàn chân:

– Đứng lại! Giơ tay lên!

Thế là hết. Tôi không thấy vầng trăng vỡ trên trời, dường như nó vỡ đột ngột. Tôi có cảm giác toàn thân biến mất trên cõi trần. Thiên đàng, địa ngục, khổ đau, bất hạnh tụ lại trong một hạt cát, rồi biến tan. Mắt tôi nhắm lại, hai tay giơ cao, hai cạnh sườn bị dí mấy lưỡi lê nhưng cảm giác không còn. Tôi trở thành cục đá. Tôi trở thành Từ Hải trên lưng ngựa, chết cứng khi bất ngờ nghe tiếng pháo phục kích của quân Hồ Tôn Hiến nổ vang. Tôi thua cuộc. Thế là cùng đường. Không còn gì để mơ. Cả một trung đội công an Bắc Bình đã được báo để vây bắt một mình tên đại úy ngụy mang vàng và tài liệu đi vượt biên. Sau này, khi thẩm cung ở Sông mao, tôi biết như thế.

Thời gian chết, không gian chết. Tôi coi như cũng đã chết tự thuở nào không hay, không biết. Tên VC kéo ngược hai cánh tay tôi quặt xuống ra phía sau và trói mấy bận giây. Đến khi cổ tay đau buốt, tôi tỉnh lại. Tôi tỉnh lại để thấy nỗi tuyệt vọng đau đớn dồn ứ trong tim. Tôi không còn muốn sống. Tôi nghiêng người muốn chạy cho họ bắn. Một băng AK là nỗi đau đớn trong tôi sẽ biến đi, và tôi không còn là tôi, không còn là cái chi trên cõi đời. Thằng em tôi chợt ôm cổ tay tôi. Nó vừa đi, vừa nắm cứng hai tay bị trói của tôi như thể nó hiểu những giây thần kinh chuyển động trong đầu tôi, như thể nó biết tôi muốn chạy để bị bắn. Nó khóc và nó kêu “anh Hai! Anh Hai!…”

Tôi nhìn đứa em bé nhỏ lếch thếch theo tôi với đội công an, súng đạn quanh mình. Thương em, hai dòng nước mắt tôi chợt lăn xuống. Cái mộng anh em qua Mỹ tìm tự do đã vỡ giữa rừng xanh oan nghiệt. Trăng vẫn trải một vệt sáng vô hồn trên lối về tuyệt vọng.

Trên đường áp tải ra hướng quốc lộ 1, khi hai cánh tay quặt ngược ra sau quá đau, tôi chùng tay xuống thì sợi giây tròng qua cổ xiết lại, tôi thở rất khó khăn. Tôi nói với tên VC nới giây một chút cho tôi đỡ đau tay và dễ thở, hắn làm thinh, hắn coi tôi như khúc gỗ biết đi, không thương không xót. Tôi liếc nhìn hắn, mũ tai bèo, giép râu, AK, lưỡi lê vẫn chưa xếp lại, và tôi thấy hắn cũng như khúc gỗ, không nhân không tính.

Tôi cắn răng chịu đau nâng cao hai tay để thở, khi tay đau, nín thở để buông thỏng hai tay xuống. Cứ lê lết như thế cho đến khi qua khỏi vùng đất cát, tôi biết là đã gần tới cánh đồng. Đất dưới chân đã đổi, cứng và lởm chởm. Chân tôi không còn cảm giác đau khi đạp những hòn sỏi.

Đám công an cho dừng chân nghỉ trên một chỗ đất khô bên cạnh một mô đất nhô lên cao mà tôi đoán là một cục gò mối. Lúc này, trăng đã ngả về Tây, ánh trăng vàng vọt, thê lương và mờ dần. Sương đẫm ướt vai lúc nào không hay. Tôi thấy hơi lạnh. Thịt đa bên ngoài cảm được khí trời nhưng trong đầu tôi là một khối mông mênh vô hồn. Một tên VC được lệnh canh tôi, đứng cách tôi chừng hai thước, súng vẫn chỉa vào tôi. Tôi và đứa em ngồi phệt xuống đất. Tôi thấy hắn không phản đối, nhưng hắn vẫn là một khúc gỗ ma quái trong cuộc đời tôi lúc đó.

Toán VC chùm nhum bên kia gò mối gần bờ ruộng. Trong cái thanh vắng lạnh người đó, tôi bỗng nghe tiếng được tiếng mất của họ bàn nhau về số phận của tôi. Tôi vẫn tưởng là họ nói chuyện giải tôi về lao xá Phan Thiết hay đưa tôi về trại giam Sông Mao, nhưng không, họ nói cái gì trước đó tôi không biết, nhưng tôi chợt lạnh người khi nghe một tên đề nghị…

– Bắn nó! Các đồng chí cứ báo cáo nó là sĩ quan ngụy bị bắt và chạy nên bị bắn. Cái bao nó mang theo cả trăm lượng vàng, chúng ta chỉ nộp lên huyện một nửa, còn bao nhiêu chúng ta chia nhau! Các đồng chí nghĩ sao?

Một tên lên tiếng:

– Tôi nhất trí!

Dường như lúc này toàn bộ giác quan trong con người tôi biến đi đâu mất, chỉ còn lại có thính giác, công lực dồn hết cho thính giác. Tôi nghe rất rõ, và biết rất rõ số phận mình. Tôi nghĩ đến vợ con, cha mẹ, tôi nghĩ đến mây viên đạn AK phóng vào người, và tôi sẽ ra đi thanh thản. Mọi toan tính, mọi cảm giác đông lại.

Toán VC đứng dậy. Họ không tới gặp tôi mà đi vòng qua phía bờ ruộng trước mặt tôi, đối diện cục gò mốì. Họ cho một tên đến gặp tên canh giữ tôi, nói nhỏ thì thầm cái gì đó tôi không nghe, nhưng khi tên kia bước xa ra, tên VC bỗng đến kéo đứa em tôi đi chỗ khác và bảo tôi:

– Anh đứng dậy! Đứng sát vào cột gò mối!

Tôi hiểu cái gì sắp xẩy ra. Tôi đứng dậy. Tôi định nói về cái bao lác không có vàng nhưng miệng tôi bất ngờ bị bịt khóa bằng một tấm vải dày siết cứng cột từ phía sau. Tự nhiên tôi buông trôi định mệnh. Tôi đứng yên. Tôi thanh thản nhìn vào rừng sâu để quên cái vô cùng tận của khoảnh khắc cuối đời.

Tên VC lùi ra xa. Trăng sắp lặn. Tôi không thấy hắn làm động tác gì, chỉ nghe tiếng lắc cắc lạnh lùng của cơ bẩm cây AK. Bỗng trong khoảnh khắc một phần nghìn giây, thần trí tôi tỉnh ra khi nghe tiếng em tôi khóc. Dường như nó nghe và biết tất cả những gì tôi đã nghe. Tôi bàng hoàng đoạn ruột khi nghĩ ra rằng, nếu nó bắn mình thì nó phải diệt khẩu em mình để che dấu cái vụ sát nhân chia vàng. Tôi lại đứt ruột. Chả lẽ hai anh em cùng chết chung một lúc? Nhưng cũng ngay lúc đó, tôi nghe đâu đó tiếng ra lệnh:

– Khoan! Các đồng chí phải chắc trong cái bao đó có vàng hay thứ gì khác? Và vàng thì bao nhiêu thẻ cái đã!

Sau câu nói này của một tên VC dường như là cấp chỉ huy, không biết hắn chỗ nào hiện ra đúng cái lúc mà tôi chuẩn bị chấp nhận cái chết. Và tôi thấy càn khôn dường như đảo ngược, tử sinh chập chờn đánh cuộc trên đầu tôi. Tôi biết ngay tôi có cơ hội sống. Tôi nghe chúng chửi thề:

– Địt mẹ! Chỉ có 2 lượng vàng và cái hải bàn mắc dịch!

Tôi đoán biết là tôi sống. Cái hải bàn hải quân nặng mấy ký lô là của bạn tôi, kỷ sư Dương Đình Học, chồng Khánh Linh, rể Thầy Giảng ở Phan Thiết, mang ra từ Sài Gòn. Anh đi toán khác cùng vợ con tôi. Hai lượng vàng là của má tôi nhét theo cho tôi, không phải để cho tôi ra nước ngoài sống, mà để tôi phòng thân khi chuyến đi bị lộ phải thoát vô Sài Gòn hay ra Nha Trang có tiền mà sống chui sống nhủi…

 Ở tù cải tạo về vượt biên bị bắt lại là chết. Đó là lý do tại sao tôi phải đi bằng một lộ trình riêng một mình. Song chuyến đi của tôi bị nội tuyến. Tôi đã qua bờ tử, với tới bờ sinh bằng cái lệnh “khoan” định mệnh. Hắn mà không ra lệnh, hay ra lệnh trễ, những dòng chữ hôm nay không có trên trang giấy. Định số chưa tận, hay phúc đức ông bà? Tôi không biết, nhưng “cái phút lạnh người đêm trăng ấy, nghìn năm hồ dễ đố mà quên!”

Khi VC áp tải tôi lên quốc lộ 1, tôi ngạc nhiên thấy bạn bè và vợ con chùm nhum ngồi đó tự lúc nào. Một toán du kích ngồi hút thuốc, vây quanh đám tù vượt biên bị gom chung một chỗ trên cây cầu. Lương thấy tôi bị trói, ôm mặt ngồi khóc dưới bóng trăng sắp tàn. Cu Nguyên không khóc, vẫn còn thức nhìn trăng. Phản xạ tự nhiên, tôi dợm chạy lại ôm con, sợi giây cột tay tôi giật mạnh làm tôi muốn bật ngữa: “Đứng im! Nát sọ bây giờ!”

Nằm trong trại giam Sông Mao, đêm nghe tiếng con khóc, tôi biết là mình còn sống. Niềm vui, mạch sống bắt đầu mọc rễ đâm chồi trở lại từ tiếng khóc của cu Nguyên mỗi đêm, từ đáy tuyệt vọng cùng đường của bố nó, và may mắn thay, đáy tuyệt vọng dường như không có kẽ nứt nào để tôi chui sâu thêm xuống địa ngục.

Tôi thầm tạ ơn Trời Phật đã cho tôi còn sống để tôi còn cơ duyên tìm đường ra biển trở lại! Mệnh số man man, không biết đâu mà tìm ra câu trả lời! Cuối cùng, tôi đã thắng cái số kiếp đen thui của mình.

Xén nửa vầng trăng đêm Sàigòn
Bên đèn rực rỡ dấu chân son
Triệu người nheo nhóc không màn chiếu
Soi Bắc vô Nam, nước không hồn.