Post by Sơn râu 6 Nov 2025

Kỷ niệm 80 năm ngày chấm dứt Thế Chiến Thứ II

Mặt sau của bì thơ (đồng tiền có hình vua Charles nước Anh)
Post by Sơn râu 6 Nov 2025

Kỷ niệm 80 năm ngày chấm dứt Thế Chiến Thứ II

Mặt sau của bì thơ (đồng tiền có hình vua Charles nước Anh)
vietmessenger.com
Serge Miller
Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên
Post by Sơn râu 6 Nov 2025

Chương 3
Tối ngày lễ tháng giêng, người ta đến kiếm tôi. Khi bước ra hành lang, tôi thấy trước mỗi phòng giam một hay hai người đứng đợi sẵn. Chúng tôi nhìn nhau, đầy râu tóc, xanh xao, như ma quỷ. Tên lính canh nói với chúng tôi bằng giọng gần như lễ phép rằng đây là một cuộc khám bệnh và ngày mai chúng tôi sẽ lên đường sang Đức, qua Compiègne, trại giam chính. Tin tức chiến tranh chấm dứt và do đó, tự do của chúng tôi không còn tác dụng gì với chúng tôi nữa. Đối với chúng tôi, thoát ra khỏi nhà mồ nầy là thực sự được phóng thích rồi. Chấm dứt nỗi lo âu hàng ngày, có lẽ chấm dứt luôn các cơn đói bụng và chấy rận.
Trong tận cùng sân, nơi để chiếc bàn giấy, người ta đưa từng nhóm 10 người vào một bác sĩ, chung quanh nhiều hạ sĩ quan vây bọc, lục vấn chúng tôi, Sau khi ghi đầy các mẫu phiếu khác nhau, một người trong bọn, có vẻ là cấp chỉ huy, ứng khẩu phải ra một bài diễn văn ngắn:
– Montluc, đã chấm dứt với các anh. Nội vụ của các anh đã được xếp, và các anh có thể nói là mình đã gặp may mắn. Các anh sẽ sang Đức làm việc, mỗi người sẽ theo ngành chuyên môn của mình.
Kể từ lúc đó, chúng tôi có thể được kể vào hàng những người sống sót. Ba hôm trước, 24 con tin đã được lựa chọn một cách ngẫu nhiên trong số tù nhân để đem đi bắn bỏ. Vậy thì thoát được chuyện đó, chẳng qua chỉ là một ân huệ đối với phần số mỗi người. Cũng như ngoài mặt trận: một mảnh đạn trái phá hay một viên đạn lạc.
Vậy là những điều Paul kể lại đêm nào nay đã được xác nhận. Cơ quan Gestapo bị tràn ngập hồ sơ. Các cuộc điều tra chồng chất và ngay cả những tên điểm chỉ sốt sắng quá mức cũng đành chịu để mọi chuyện rối tung. Như vậy, ngoại trừ các vụ quan trọng và các tử tội, từng đoàn công-voa đều đặn đưa những người bị bắt về phía thị trường nô lệ mới là nước Đức dưới thời Đệ III Quốc Xã
Đêm cuối cùng trong nhà mồ, tôi không hề chợp mắt được chút nào. Như một cuốn phim bất tận, tất cả câu chuyện phiêu lưu tuần tự diễn ra trong trí tôi, và những gì thiếu sót trong mấy tháng qua, nay hiển hiện trước mắt, ngay trong tầm tay. Sáng hôm sau, lúc trời còn thật sớm, tôi rời các bạn cùng phòng giam. Sau khi biểu lộ tình đồng bạn trong cùng cảnh ngộ, người ta chúc nhau được may mắn. Tâm trí tôi phiêu dạt đâu đâu… tôi sẽ không bao giờ gặp lại họ nữa.
Một niềm vui khác chờ đợi tôi lúc sắp khởi hành: Pierre. người bạn mà tôi chưa được gặp lại từ buổi nói chuyện bên bồn rửa mặt, và Hubert với viên đạn trong đùi, cũng lên đường với tôi. Cũng như tôi, hồ sơ của họ cũng bị chìm ngập trong vô số các hồ sơ khác, và cũng như tôi, họ có thể nhận thấy điều đó là đúng. Chúng tôi bị dồn cục trong sân một lần cuối. Sau khi nhận một khúc bánh mì và một mẩu phó mát, cho cả cuộc hành trình, họ đưa chúng tôi lên xe ca để ra ga Lyon- Perrache, nơi đây cả một chiếc xe lửa đợi chúng tôi. Chiếc cổng ra vào rộng lớn, những bức tường nhà lao lùi xa dần, rồi sau một khúc quanh, biến mất. Trên đường, bộ hành đã đi lại nhưng chúng tôi chỉ nghĩ đến tốc độ của chiếc xe ca. Nhiều lần đã có sự lầm lẫn và chúng tôi bị cho trở lại Montluc! Brr.. một nỗi run sợ khi nghĩ đến chuyện đó. Đi đến đâu cũng được, nhưng đừng trở lại trong đó, vì lẽ làm sao quên được nhưng nỗi âu lo mỗi lần có vụ gọi tên các tù nhân bị chọn một cách bất ngờ làm con tin để đem đi bắn bỏ thị uy; mỗi lần nghe tiếng rên la của những người bị tra tấn và người đàn bà có chửa còn trẻ bị một tên thô bạo đánh đập trước mắt tôi?
Sau cùng xe đến ga xe lửa. Chúng tôi đông hàng trăm. Đầu máy đã huýt còi. Một giai đoạn đã trải qua, một giai đoạn nhọc nhằn, nhất là về phương diện tinh thần. Tất nhiên là không ai biết gì về chỗ đến thật sự của chúng tôi.
Đời sống trở lại thật nhanh, và trên tàu, tràn ngập niềm vui sướng. Cùng với Pierre và Hubert, chúng tôi sắp xếp để được ở cùng một toa, gần cửa sổ. Ai biết đâu, một cơ hội tốt có thể xảy đến… Trước mỗi toa, vẫn có một lính canh nhưng vào lúc 2 giờ sáng, giấc ngủ đi vào mức say sưa, nhất là tên lính gát toa chúng tôi lại không có vẻ gì là có mưu lược. Nhưng vẫn còn là một ảo tưởng nếu tin rằng họ đưa chúng tôi đi mà không một biện pháp đề phòng nào, nhất là lúc ban đêm. Các viên thanh tra đã đổ xô đến vào lúc đầu hôm cùng với còng và dây trói, và mọi dự định đều tan ra mây khói! Thật đáng tiếc, một vụ như vậy Hubert rất rành. Anh ta đã từng trốn thoát khỏi một trại giam Đức năm 1942.
Tôi quen anh ta ở Vichy. Thời đó ai cũng đến Vichy vì đó là thủ đô. Nơi đây sự hèn nhát và sự tầm thường liên kết với nhau một cách thường trực. Và cùng với những người khác, ngay cả với những tù nhân vượt ngục, người ta quyết định làm một cái gì, tất nhiên là để quấy rối người Đức. Và, coi, tại sao lại không bày trò giải trí bằng cách giúp những người còn kẹt trong tù tẩu thoát? Mỗi người ít ra cũng biết được vài chàng trai dễ thương, và một khi về đến Pháp, họ làm cho con số người không chấp nhận sự bại trận và sự nhục nhã càng thêm đông.
Trong các bưu phẩm chính thức gởi cho những người bị bắt; một cục xà bông, một bộ cờ đam, lưng của một chiếc bàn chải giặt áo quần, đều có chứa giấy tờ cần thiết để vượt qua biên giới như là công nhân được phép. Cần phải có thì giờ để tổ chức, nhưng mỗi lần thành công là cả một ngày hội! Không có vụ vớt hàng tàu chìm nào thú vị hơn! Các chi bộ được tổ chức, cần cho các hoạt động vừa nhiều vừa thay đổi. Những điều mà chúng tôi làm như chơi trò thể thao đã trở thành bi kịch và trở thành một cuộc chiến tranh bí mật chống lại kẻ thù chung, và những kẻ trở về được, không bao giờ chịu nghỉ ngơi. Không có một cuộc tiếp rước nào được dành cho họ, họ bắt buộc phải vào chiến khu. Và cũng giống như các cuộc chiến tranh khác, bao giờ cũng có tổn thất. Nhiều người hữu trách đã bị bắt năm 1943 và tôi gặp họ trong bóng tối vài tháng sau. Đến phiên Hubert kể chuyện của anh. Đến Grenoble ngày 11 tháng 11, anh ta bị bắt trong một cuộc bố ráp sau một cuộc biểu tình do kháng chiến địa phương tổ chức.
Nhưng vì anh dự định tẩu thoát, một cảnh sát bắn vào anh. Bị một viên đạn vào đùi trái, anh nhào lăn xuống vỉa hè và bị tên sát nhân (là cảnh sát thời bị chiếm đóng) giữ cho đến khi một xe tuần tiễu của Gestapo đến lượm. Trong khi chờ đợi, chỉ có vài phút sau, hai người Pháp một yêu nước, một phản bội, có thì giờ dò dẫm chiều sâu của hố ngăn cách giữa hai người.
Trong toa xe, khi đêm đến, mọi người đều ngủ say. Chúng tôi thì tiếp tục chuyện trò nho nhỏ. Tàu chạy ngang qua Ba-lê vào lúc rạng đông, vì phải làm cách nào cho người khác không trông thấy chúng tôi, và chúng tôi đến Compiègne sáng ngày 20 tháng giêng. Trời mưa, và dân chúng đứng trên sân ga, không áo choàng, nhìn chúng tôi đi qua. Sau khi kiểm điểm, viên chỉ huy nói với giọng ngọt ngào rằng ông ta tin tưởng chúng tôi không để xẩy ra chuyện gì giữa nhà ga và trại tập trung ở bên kia thành phố. Chúng tôi sắp hàng năm đi tới, lính gát bao xung quanh, nhưng với khoảng cách khá xa. Rõ ràng là tình trạng thuận lợi đáng thử lắm, những con đường mỗi bên, những nhà đổ nát vì bom, nhưng trước hết phải tạo ra một sự hỗn loạn, như đó mới dễ trốn thoát được. Phải trải qua nhiều thử thách khác với các thử thách mà chúng tôi chịu đựng mới dám mạo hiểm như thế. “Nói cho cùng, mỗi người đều tự nhủ, làm việc ở Đức hay ở Pháp cho tổ chức; “Todt” cũng giống nhau cả, và sự dễ dàng đã được tâm trí chấp nhận mau hơn là sự mạo hiểm. Một hàng rào đã xuất hiện, một hàng rào nữa, trại tập trung đến gần. Cơ hội vẫn còn đến trễ. Ừ, thì sẽ tẩu thoát trên chuyến tàu đưa chúng tôi sang Đức vậy. Họ biết rõ những gì họ đã làm khi để chúng tôi thiu thối trong xà lim hàng mấy tháng, Ở đó thoát ra với vẻ mệt nhọc, chúng tôi bước đi một cách vô thức, bước đi mãi, và đi vào trại Compiègne, như một bầy cừu.
Sau khi bị đếm đi đếm lại, mỗi người chúng tôi nhận một thẻ bài có số và đi về phía khu vực dành cho những kẻ mới đến. Họ là những người bị bắt khắp nơi trên đất Pháp, nơi đây người ta có thể nghe hầu hết các giọng nói địa phương đặc biệt. Trong khi trà trộn tham dự vào câu chuyện của các nhóm, những cựu tù nhân ở Montluc được chú ý mau lẹ; họ chịu đựng sự đầy ải tồi tệ nhất.
vietmessenger.com
Henri Charrière
Bản dịch Thái Huy Quang
VÀNG SON xuất bản 1973
Post by Sơn râu 6 Nov 2025

Bài 25
Quần đảo Salut – Đến Quần đảo
Mai là ngày chúng tôi phải lên tàu ra Quần đảo Salut. Mặc dầu tôi đã đem hết sức bình sinh ra cưỡng lại số phận, thế mà giờ đây chỉ còn mấy tiếng nữa tôi sẽ bị đưa đến nơi giam hãm suốt đời. Trước hết tôi phải qua hai năm cấm cố ở đảo Saint-Joseph. Tôi hy vọng sẽ làm cho cái biệt hiệu mà tù khổ sai đã đặt cho nó: đảo “ăn thịt người”, không còn đúng nữa.
Tôi sẽ thua cuộc, nhưng không hề có tâm trạng của một kẻ bại trận.
Tôi phải lấy làm mừng là chỉ phải giam hai năm trong cái nhà tù của một trại tù này. Như tôi đã tự hứa, tôi sẽ không để tình trạng hoàn toàn cô độc đưa tôi đến chỗ mất trí. Tôi đã có phương thuốc chống lại nguy cơ dó. Tôi phải thấy trước là tôi sẽ được tự do, lành mạnh như một tù nhân khổ sai bình thường trên quần đảo. Khi ra khỏi nhà cấm cố, tôi sẽ được ba mươi tuổi.
Ở Quần đảo, những vụ vượt ngục hết sức hiếm hoi, tôi biết điều đó. Nhưng dù có thể đếm trên đầu ngón tay, vẫn có những người đã vượt ngục. Thế thì tôi, tôi cũng sẽ vượt ngục đó là điều chắc chắn. Hai năm nữa tôi sẽ trốn khỏi Quần đảo, tôi nhắc đi nhắc lại như vậy với Clousiot đang ngồi cạnh tôi.
– Bươm bướm, anh bạn già của tôi, quả thật khó lòng có thể làm cho anh nản chí, và tôi thật thèm muốn niềm tin mà anh mang trong lòng, niềm tin là chắc chắn một ngày kia anh sẽ được tự do. Đã suốt một năm ròng anh không ngừng vượt ngục, và chưa có lần nào anh từ bỏ ý định. Vừa mới thất bại vụ này anh đã chuẩn bị một vụ khác. Tôi lấy làm lạ rằng ở đây anh không thử làm gì cả.
– Ở đây chỉ có một cách thôi, bạn ạ: tổ chức một cuộc nổi loạn. Nhưng để làm việc đó tôi không có đủ thì giờ nắm vững trong tay tất cả những con người khó điều khiển này. Tôi đã suýt gây nên một cuộc nổi loạn, nhưng tôi đã thấy sợ bị nó nuốt chửng. Bốn mươi người bị giam ở đây đều là tù khổ sai lâu năm. Con đường của sự thối nát đã cuốn hút họ, họ phản ứng khác chúng ta. Dẫn chứng: “ăn thịt người, hai anh chàng giết người bằng kiến, lại còn cái người đã bỏ thuốc độc vào xoong xúp nữa: để giết một người, hắn đã không do dự đầu độc luôn bao người khác chưa hề làm gì phương hại đến hắn.
– Nhưng ở quần đảo vẫn sẽ là kiểu người đó.
– Đúng nhưng tôi không sẽ vượt ngục ra khỏi Quần đảo mà không cần đến ai hết. Tôi sẽ ra đi một mình, hay quá lắm, là với một người bạn. Tại sao cậu lại cười mỉm hở Clousiot?
– Tôi cười là vì không bao giờ cậu chịu bỏ cuộc. Ngọn lửa dang thiêu đốt ruột gan cậu, sự nóng lòng được về Paris chìa sổ nợ ra cho ba ông bạn kia, cổ vũ cậu mạnh mẽ đến nỗi cậu không thể thừa nhận rằng những điều mà cậu mong muốn thiết tha đến thế lại có thể không được thực hiện.
– Thôi chào Clousiot, hẹn đến mai. Phải, chúng mình sẽ trông thấy cái Quần đảo Salut chết tiệt ấy. Điều đầu tiên cần phải hỏi là tại sao những hòn đảo giết người ấy lại được gọi là Quần đảo Salut (Quần đảo Cứu vãn)?
Rồi quay lưng lại với Clousiot, tôi nghiêng đầu một chút cho mặt tôi đón lấy gió biển ban đêm.
Sáng hôm sau, từ rất sớm chúng tôi đã được đưa lên tàu để ra Quần đảo. Có cả thảy hai mươi sáu người trên một chiếc tàu thủy trọng tải bốn trăm tấn gọi là chiếc Tanon, một chiếc tàu chuyên chạy ven biển đi đi lại lại như con thoi giữa Cayenne, Quần đảo Saint-Laurent và khứ hồi. Cứ hai người một bị ghép vào nhau bằng sợi xích chân và một đôi khóa tay. ở phía trước là hai nhóm tám người, mỗi nhóm được bốn tên lính canh cầm súng trường giám sát. Một nhóm mười người ở phía sau với sáu tên lính canh và hai viên chỉ huy đội áp giải. Tất cả đám người ấy đều đứng trên boong của chiếc tàu cũ nát chỉ chực đắm bất cứ khi nào biển động.
Vì đã quyết định sẽ không suy nghĩ trong khi đi đường, tôi muốn bày trò giải trí một chút. Chỉ để làm cho tên giám thị đứng gần tôi nhất bực mình (hắn có một bộ mặt đưa đám), tôi nói với hắn rõ to:

– Với những thứ xiềng xích mà các anh bắt chúng tôi mang, chúng tôi sẽ không có cách gì trốn thoát nếu chiếc tàu mục nát này chìm; điều này rất có thể xảy ra khi biển động.
Đang ngái ngủ, tên gác phản ứng đúng như tôi đã dự tính.
– Chúng mày có chết đuối hết ông cũng đếch cần. Đã có lệnh xích chúng mày lại, chỉ có thể thôi. Trách nhiệm thuộc về những người ra lệnh ấy. Còn chúng tao thì có thể nào cũng không quan hệ gì.
– Xét cho cùng ông nói có lý lắm, thưa ông giám thị, vì có bị xích hay không bị xích thì khi cái quan tài này vỡ dọc đường, tất cả chúng ta đều chìm xuống đáy biển như nhau.
– Ồ! – Tên gác đần độn kia nói, – tàu này đi biển đã lâu lắm rồi mà chưa bao giờ làm sao cả.
– Đúng quá, nhưng chính vì nó đi biển đã quá lâu cho nên đến bây giờ nó đã đến mức sẵn sàng chìm bất cứ lúc nào.
Tôi đã đạt được ý muốn: lay chuyển cái không khí im lặng ở xung quanh đang làm cho tôi bứt rứt. Lập tức đề tài của tôi được tù nhân và giám thị cùng hưởng ứng.
– Đúng, chiếc tàu này đã ọp ẹp đến mức độ nguy hiểm, mà người ta lại xích chúng tôi. Không có xích thì dù sao cũng chút hy vọng.
– Ồ! Cũng thế cả thôi. Bọn tao mặc quân phục đi ủng đeo súng thế này, cũng chẳng nhẹ hơn.
– Súng thì không kể, vì hễ tàu đắm có thể bỏ ngay ra, – một người khác nói.
Thấy câu nói ăn khách, tôi cho ra câu thứ hai:
– Xuồng cấp cứu đâu cả rồi nhỉ? Tôi chỉ thấy một chiếc rất nhỏ. Quá lắm cũng chỉ được tám người, vừa đủ cho ông thuyền trưởng và đội thủy thủ. Còn những người khác thì đi tong!
Thế là nổ ra một phản ứng hàng loạt, ở một cung bậc rất cao.
– Đúng đấy chẳng có xuồng xiếc gì cả, mà cái tàu này thì ọp ẹp đến nỗi người ta phải vô trách nhiệm một cách không thể nào chấp nhận được mới bắt những người có vợ có con phải bất chấp hiểm nghèo để đi áp giải cái lũ khốn kiếp này.
Vì tôi ở trong nhóm tù đứng ở phía sau, hai người chỉ huy đội áp giải đều đứng gần tôi. Một trong hai người nhìn tôi rồi nói:
– Anh là Bươm bướm ở Colombia mới về phải không?
– Vâng.
– Tôi thấy điều đó không có gì lạ: anh có vẻ thông thạo về nghề hàng hải lắm nhỉ.
Tôi trả lời một cách hợm hĩnh:
– Vâng, cái đó thì tôi thạo.
Câu nói của tôi gây được một không khí rờn rợn.
Vừa lúc ấy viên thuyền trường từ trên lầu chỉ huy bước xuống, vì bây giờ chúng tôi vừa ra khỏi cửa sông Maroni, và đó là chỗ nguy hiểm nhất cho nên ông ta phải thân hành cầm bánh lái. Bây giờ ông ta đã trao nó cho một người khác. Vậy thì ông thuyền trưởng, da đen láy như người Tombouctau, khổ người thấp và mập, mặt còn khá trẻ, cất tiếng hỏi xem những tay đã cưỡi mấy mảnh ván nhỏ xíu giong buồm đến tận Colombia ở đâu.
– Đây tay này, và tay kia nữa đứng bên cạnh, – viên chỉ huy đội áp giải nói.
– Ai là thuyền trưởng? – ông thuyền trưởng lùn nói.
– Thưa ông, tôi ạ.
– Thế thì, với tư cách thủy thủ, tôi có lời ngợi khen anh bạn. Anh chẳng phải là người tầm thường. Tôi có cái này! – Ông ta thọc tay vào túi áo rồi nói tiếp – Anh hãy nhận lấy gói thuốc lá xanh và mớ lá quấn thuốc này. Anh hút để chúc sức khỏe cho tôi đi.
– Cám ơn ông thuyền trưởng. Nhưng về phần tôi, tôi cũng phải ngợi khen ông đã có đủ can đảm đi biển trên cái quan tài này, hình như mỗi tuần một hai lần thì phải.
Ông ta cười ha hả, làm cho những kẻ tôi đang muốn trêu thấy tức đến tận cổ. Ông ta nói:
– Chà! Anh nói đúng quá! Cái tàu khổ này đáng lẽ phải được đưa vào nghĩa địa từ lâu, nhưng bên công ty họ nhất định đợi cho nó chìm để lĩnh tiền bảo hiểm.
Tôi liền kết thúc bằng một câu xỏ xiên:
– Cũng may mà ông và đội thủy thủ còn có được một cái xuồng cấp cứu.
– Phải, cũng còn may – ông thuyền trường nói một cách thiếu suy nghĩ trước khi mất hút trong cầu thang.
Cái đề tài tranh luận mà tôi đã cố ý nêu ra đã làm cho tôi được khuây khỏa trong hơn bốn tiếng đồng hồ. Ai nấy đều có ý kiến riêng để nói ra, và đến một lúc nào đó, tôi chẳng hiểu bằng cách nào, cuộc bàn cãi đã lan ra đến tận mũi tàu.

Vào khoảng mười giờ sáng, biển không động mấy, nhưng gió không thuận lợi cho chuyến đi. Tàu chúng tôi đi về hướng đông bắc, nghĩa là ngược chiều với sóng và gió, cho nên tất nhiên nó phải tròng trành cả theo chiều ngang lẫn theo chiều dọc hơn mức trung bình. Nhiều tù nhân và giám thị bị say sóng. Cũng may mà người bị xích liền vào tôi chịu sóng giỏi, vì không có gì khó chịu hơn là có một người nôn ọe ngay bên cạnh mình. Anh này là một gã du côn Paris thứ thiệt. Anh ta bị đày đến Quần đảo năm 1927. Vậy là đã được bảy năm. Anh ta còn tương đối trẻ, chỉ ba mươi tám tuổi.
– Người ta gọi tôi là Titi la Belote, vì tôi phải nói cho cậu biết rằng bài Belote là môn sở trường của tôi. Vả lại ở Quần đảo tôi sống bằng nghề đánh bài này. Belote suốt đêm, mỗi điểm ăn hai francs, Nếu đánh có “loan báo” thì có thể ăn thua rất lớn. Nếu anh thắng bằng một con bồi hai xu thì người thua phải trả cho anh bốn trăm francs và một ít tiền lẻ cho các điểm khác nữa.
– Nhưng ở Quần đảo sao lắm tiền thế?
– Sao mà chả lắm hở anh bạn Bươm bướm. ở quần đảo đầy những plans nhét tiền chật ních. Có người thì đến nơi đã có sẵn, có người thì nhận được tiền qua bọn giám thị với điều kiện chia cho chúng năm mươi phần trăm. Rõ ràng anh còn mới toanh, có vẻ như chưa biết gì cả phải không?
– Đúng, tôi chẳng biết chút gì về Quần đảo. Tôi chỉ biết là ở đấy khó vượt ngục lắm.
– Vượt ngục ấy à? – Titi nói. – Thôi đừng nói nữa cho mệt. Tôi ở Quần đảo đã bảy năm, có xảy ra hai vụ vượt ngục, với kết quả là ba người chết và hai người bị bắt. Chưa ai thành công cả. Vì vậy chẳng mấy ai dám cầu may.
– Vừa rồi anh lên đất liền để làm gì?
– Vừa rồi tôi đi chiếu điện xem thử có bị loét dạ dày hay phổi gì không.
– Thế mà anh không cố trốn khỏi bệnh viện à?
– Khéo nói nhỉ! Chính anh đã làm hỏng hết đấy. Papillon ạ. Thế mà vừa rồi tôi lại có cái may mắn rơi đúng vào căn phòng trước kia, anh đã trốn đi. Anh cũng thừa hiểu họ giám sát kỹ như thế nào! Cứ mỗi lần ra gần cửa sổ để thở một chút là họ bắt lùi lại ngày. Khi hỏi tại sao thì họ trả lời: “Để phòng trường hợp anh nảy ra cái ý làm như Papillon”.
– Titi này, cái tay cao lớn ngồi bên cạnh viên chỉ huy đội áp giải là ai thế? Một tay chỉ điểm à?
– Anh điên rồi sao? Gã này ai cũng phải quý trọng. Cậu ta vốn là dân trường giả, nhưng lại biết xử sự đúng như một tay giang hồ: không đi lại với bọn gác, không tìm cách chiếm vị trí ưu đãi, biết giữ tư cách một người tù khổ sai. Có khả năng mách bạn một lời khuyên tốt, nói chung là một người bạn tốt, rất biết giữ khoảng cách với bọn cảnh sát. Ngay cả ông linh mục và ông bác sĩ cũng không sử dụng được cậu ta. Con người gốc gác thì trưởng giả nhưng tư cách thì giang hồ chân chính này là con cháu của Louis XV. Thế đấy anh bạn ạ, đó là một bá tước, một bá tước chính cống, dược gọi là bá tước Jean de Bérac. Tuy vậy, khi cậu ta mới đến, ai nấy đều xa lánh, và phải một thời gian rất dài cậu ta mới chinh phục được sự kính nể của mọi người, vì cái tội khiến cho cậu ta bị đày khổ sai là một trò rất tởm.
– Cậu ta đã làm gì thế?

– Ấy, cậu ta đã đứng trên cầu ném thằng con trai ruột xuống sông, và khi thấy thằng bé rơi xuống chỗ quá cạn, cậu ta đã đủ gan góc xuống bế nó đến ở một chỗ sâu hơn.
– Sao! Như thế là gần như giết thằng con hai lần còn gì?
– Theo một người bạn của tôi vốn làm kế toán và đã đọc hồ sơ của cậu ta thì cậu ta đã bị giới quý tộc khủng bố. Và mẹ cậu ta đã ném người mẹ của con mình ra đường như một con chó. Cô ấy là một nữ tỳ trẻ tuổi trong lâu đài nhà họ. Theo bạn tôi thì cậu này chịu sự chế ngự của một bà mẹ kiêu ngạo, câu nệ đã hạ nhục con trai đến cùng cực, đã làm cho cậu ta thấy rằng mình là một bá tước mà đi lại với một con đầy tớ là ô nhục cho cả giòng họ, đến nỗi cậu ta hoang mang quá nói với mẹ thằng bé là mình đưa nó ra cho trại Tế bần nuôi rồi đi ném nó xuống sông: lúc ấy cậu gần như mất trí, cũng chẳng biết mình làm gì nữa.
– Cậu ta bị xử bao nhiêu?
– Mười năm thôi. Papillon ạ, cậu cũng thừa biết cậu ta không phải là một tay như chúng mình. Chắc là bà bá tước phu nhân, người bảo vệ danh dự của gióng giõi de Berac, đã làm cho bọn quan tòa hiểu rằng giết con của đày tớ không phải là một tội quá nặng khi tội nhân là một bá tước muốn cứu vãn thanh danh của gia đình.
– Kết luận?
– Kết luận của tôi, một thằng du đãng Paris hèn mọn, là như sau: về căn bản, bá tước Jean de Bérac này là một anh chàng quý tộc nông thôn đã được giáo dục như thế nào để đi đến chỗ quan niệm rằng trên đời này chỉ có “dòng máu xanh” (huyết thống quý tộc) là có giá trị, còn mọi thứ khác đều vô nghĩa lý và không có chút gì đáng cho người ta để tâm đến. Những người không phải là quý tộc thì không hẳn là hạng nông nô, nhưng dù sao cũng là những con người không cần đếm xỉa đến. Mẹ cậu ta là một quái vật của sự ích kỷ và sự hợm hĩnh, đã nhào nặn và khủng bố cậu ta đến mức làm cho cậu ta trở thành một kiểu người quý tộc như thế. Chính cuộc sống ở trại khổ sai đã làm cho vị chúa đất ấy, xưa kia vẫn tin rằng mình có đặc quyền thưởng thức trước tất cả những người con gái trên lãnh địa của mình trong đêm đầu tiên họ đi lấy chồng, nay đã trở thành một người tôn quý thật sự, theo cái nghĩa đúng của từ này. Nói ra nghe cũng ngược đời, nhưng phải đến bây giờ cậu ta mới thực sự là một người quý phái, là một bá tước.
Quần đảo Salut chỉ còn mất giờ nữa sẽ không còn là một cái gì xa lạ đối với tôi như trước nữa. Tôi biết rằng trốn khỏi quần đảo là rất khó. Nhưng không phải là không thể được. Vừa khoái trá hít mạnh gió biển khơi vào lồng ngực, tôi vừa nghĩ: đến bao giờ thì làn gió ngược này sẽ biến thành một làn gió xuôi trong một chuyến vượt ngục”?
Chúng tôi đã đến. Quần đảo kia rồi? Ba cái đảo ấy làm thành một hình tam giác. Đảo Royale và đảo Saint-Joseph làm thành cái đáy. Đảo quỷ là đỉnh. Mặt trời, lúc bấy giờ đã xế bóng, chiếu vào các đảo những tia sáng rực rỡ mà chỉ có ở vùng nhiệt đới mới có thể chói chang như vậy. Cho nên chúng tôi có thể tha hồ ngắm nghía từng đảo đến những chi tiết nhỏ nhất. Trước hết là đảo Royale với một dải đất cong phẳng lì bao quanh một ngọn đồi tròn cao hơn hai trăm mét. Đỉnh đồi bằng phẳng. Nhìn toàn cục, nó rất giống một cái mũ Mexico đặt trên mặt biển, cái chóp đã bị cắt mất, đâu đâu cũng có những rặng dừa rất cao và rất xanh tốt. Những nếp nhà nho nhỏ lợp ngói đỏ làm cho hòn đảo này có một sức hấp dẫn lạ thường, và ai không biết rõ trên đảo có gì chắc sẽ mơ ước được sống trên đảo suốt đời. Trên đỉnh đồi bằng phẳng có đặt một ngọn hải đăng được thắp về đêm để khi sóng to gió lớn tàu bè khỏi đâm vào các tảng đá ở xung quanh. Bây giờ tàu đã đến gần hơn, tôi có thể trông rõ năm tòa nhà lớn và dài.
Nhờ có Titi tôi được biết rằng trước hết đó là hai phòng giam rộng mênh mông chứa đến bốn trăm phạm nhân. Rồi đến khu trấn áp với những căn buồng giam, xà-lim và chuồng sắt, có một bức tường cao vây quanh. Tòa nhà thứ tư là bệnh viện của tù khổ sai và tòa nhà thứ năm là bệnh viện của những người canh gác trại tù. Và rải rác khắp nơi trên các sườn dốc là những ngôi nhà nhỏ, mái lợp ngói đỏ, của các cảnh sát viên. Xa chúng tôi hơn, nhưng rất gần với mũi nhọn cuối đảo Royale là đảo Saint-Joseph, ít dừa hơn, ít cành lá um tùm hơn, và trên đỉnh cao nguyên là một cái nhà trệt rộng mênh mông mà từ ngoài biển nhìn vào trông rất rõ. Tôi hiểu ngay: đó là nhà tù cấm cố và Titi la Belote cũng xác nhận điều đó. Anh ta chỉ cho tôi xem, ở phía dưới, những tòa nhà của trại tù, nơi giam các phạm nhân bị án bình thường. Các tòa nhà này rất gần biển. Các tháp canh nổi lên rất rõ trên nền trời, với những ổ súng của nó. Rồi lại đến những nếp nhà xinh xắn đỏm dáng, tường quét vôi trắng, mái ngói đỏ. Vì chiếc tàu đi vào ngỏ đảo Royale từ phía nam cho nên bây giờ chúng tôi không trông thấy đảo Quỷ, đảo nhỏ nhất trong cả Quần đảo. Trước đây tôi đã có dịp nhìn thoáng qua đảo này từ xa: đó là một tảng đá khổng lồ mọc đầy dừa, không có công trình xây dựng gì lớn. Vài nếp nhà ven bờ biển, sơn vàng, mái đen mồ hóng. Về sau tôi sẽ được biết rằng đó là nhà ở của những người bị đày vì chính trị.
Tàu chúng tôi đang đi vào bến cảng của đảo Royale, được che kín sóng bằng một cái đập dài làm bằng những khối đá lớn. Công trình này chắc đã phải tốn nhiều sinh mạng của phạm nhân mới xây được.
Sau ba tiếng còi, chiếc Tanon bỏ neo cách bến khoảng hai trăm năm mươi mét. Bến này xây rất chắc bằng xi-măng và bằng đá tảng, chiếm một quãng dài và cao hơn ba mét. Lùi vào phía trong những tòa nhà sơn trắng chạy dài song song với bến. Tôi đọc thấy những dòng chữ sơn đen trên nền trắng: “Trạm gác” – “Sở Dịch vụ thuyền bè” – “Xưởng bánh mì” – “Ban Quản trị cảng”.
Có thể trông thấy mấy người tù khổ sai đang đứng nhìn chiếc tàu. Họ không mặc đồ sọc, mà đều mặc quần dài thường và một thứ blouson trắng. Titi la Belote nói với tôi rằng ở Quần đảo những người có tiền thì thuê thợ may “may đo” áo quần bằng những cái bao bột đã tẩy sạch chữ: họ có được những bộ áo quần mặc rất thoải mái và trông có phần diện nữa là khác. Hầu như không một người nào mặc đồng phục tù khổ sai.
Một chiếc xuồng đến gần chiếc Tanon.
Một viên giám thị ngồi sau lái; hai tên cầm súng trường ngồi hai bên mạn; ở phía sau là sáu người tù khổ sai, mình trần, quần trắng, đứng chèo bằng những mái chèo rất lớn. Chỉ một lát là ra đến tàu.
Chiếc xuồng của họ kéo theo sau một chiếc thuyền lớn kiểu xuồng cấp cứu của tàu thủy. Cuộc chuyển từ lên bờ bắt đầu. Trước hết mấy viên chỉ huy đội áp giải xuống thuyền và ra ngồi ở phía sau. Rồi hai viên giám thị cầm súng trường đi ra phía trước. Chân được tháo xiềng, nhưng tay vẫn bị khóa, chúng tôi xuồng thuyền từng hai người một; mười người trong nhóm tôi, rồi đến tám người trong nhóm đứng ở phía trước tàu. Mấy người chèo thuyền bắt đầu cho thuyền tách khỏi chiếc tàu. Họ còn chở ra một chuyến nữa để đưa số tù còn lại vào bờ.
Chúng tôi lên bến, xếp hàng trước tòa nhà “Ban Quản trị cảng” và đứng đợi. Trong chúng tôi không có ai có hành lý gì. Chẳng đếm xỉa gì đến bọn cảnh sát, các phạm nhân tại chỗ bô bô nói chuyện với chúng tôi từ một khoảng cách năm sáu mét – đủ để đừng bị bọn cảnh sát tấn công. Nhiều phạm nhân cùng vượt Đại tây dương trên một chuyến tàu với tôi thân ái chào tôi. Cesari và Essari, hai tên cướp đảo Corse mà tôi đã làm quen ở Saint-Martin, cho tôi biết hiện nay họ chèo xuồng cho sở dịch vụ ở cảng. Vừa lúc ấy tôi trông thấy Chapar, bị đày trong vụ Chứng khoán ở Marseille, mà tôi có quen khi anh ta còn được tự do ở Pháp. Không hề e ấp trước mặt bọn lính canh, anh ta nói với tôi:
– Đừng buồn Papillon ạ! Cậu cứ tin ở bạn bè, ở nhà giam cấm cố cậu sẽ không thiếu thứ gì hết. Cậu bị bao nhiêu?
– Hai năm.
– Được cũng chóng qua thôi, rồi cậu sẽ ra đây với chúng tớ, và sẽ thấy rằng ở đây cũng khá.
– Cám ơn Chapar. Còn Dega ở đâu?
Bác ta làm kế toán ở trên kia. Bác chưa ra đây thì lạ thật. Không gặp được cậu bác ta sẽ tiếc lắm. Vừa lúc đó Galgani đến. Anh ta xăm xăm đi về phía tôi, tên lính gác toan cản, nhưng anh ta cứ đến, nói: “Chẳng lẽ ra ôm hôn anh ruột tôi mà anh cũng cản à? Thật quá quắt. Rồi anh ta ôm hôn tôi, nói: “Cứ tin vào tôi”. Đoạn anh ta lùi ra.
-Anh bây giờ làm gì?
– Đưa thư, giao liên.
– Có ổn không?
– Tôi được yên thân lắm.
Những người tù còn lại đã được đưa hết lên bờ và cho nhập bọn với chúng tôi. Mọi người đều cởi khóa tay. Titi la Belote, de Bérac và mấy người không quen tách ra khỏi nhóm. Một viên giám thị nói với họ: “Nào, lên đường về trại”. Mấy người này có mang theo bị đựng đồ của trại. Họ vác bị lên vai và đi theo một con đường dốc dẫn lên phía trên đảo. Viên chỉ huy Quần đảo đến với sáu viên giám thị. Điểm danh. Viên chỉ huy nhận đủ số tù. Đội áp giải chúng tôi lui ra.
– Kế toán đâu? – Viên chỉ huy hỏi.
– Thưa sếp hắn đây.
Tôi thấy Dega đến, mặc một bộ đồ trắng tươm tất, áo vét có nhiều khuy, cùng đi với một viên giám thị; mỗi người cắp một cuốn sách lớn. Cả hai gọi từng người một ra khỏi hàng, theo cách phân loại mới: anh tù cấm cố Jean Mỗ, số tù X, sẽ có số tù cấm cố là Z.”
– Bao nhiêu?
– X năm.
Khi đến lượt tôi, Dega ôm hôn tôi mấy lần liền.
Viên chỉ huy lại gần.
– Anh này là Papillon à?
Thưa ông chỉ huy vâng, – Dega nói
– Mong anh giữ sức khỏe ở nhà tù cấm cố. Hai năm cũng chóng qua thôi.
Trạch An – Trần Hữu Hội
Giao Chỉ xuất bản 2017
Post by Sơn râu 6 Nov 2025

Phần 7 – Bức tranh
-Hình như cậu thích tranh?
Luận nhìn quanh xem câu hỏi ấy phát ra từ đâu, khi biết chắc là từ ông già bất động trên chiếc xe lăn, Luận cúi đầu chào kính rồi nói:
-Vâng, cháu có thích thật, nhưng …chỉ ngắm thôi chứ chưa hề mua một bức nào!
-Tại sao?
-Tranh giống như phụ nữ đẹp nhưng kiêu kỳ, muốn đến với họ thì phải có tiền, mà cháu thì nghèo!
Một tràng cười phát ra từ chiếc xe lăn. Âm thanh dòn dội váo các ngóc ngách của quán vắng, làm Luận thấy rờn rợn.
-Sao hả Bác?
-Hai mươi hai năm trước tôi cũng nói câu này, nhưng là nói với một người phụ nữ.
Luận rụt rè:
-Dạ…
Lại im lặng, im lặng như mọi khi. Chỉ còn tiếng nhạc nhè nhẹ.
Hơn sáu tháng nay, Kể từ ngày ra tòa chia tay với người vợ gần mười lăm năm chung sống không lấy gì làm hòa thuận, đều đau nhất của anh trong cuộc ly hôn này là không dành được quyền nuôi đứa con! Anh trở thành một kẻ độc thân ở tuổi bốn mươi ba! Luận chọn quán cà phê này trú thân, ngoài căn nhà trọ chật hẹp, cũng ấm cúng vì nó thích hợp với mẫu người cô độc như anh. Quán này cũng thế, sâu, hẹp nhưng ấm áp, vắng và nhiều tranh…Chủ quán, một thiếu phụ, chỉ xuất hiện khi có khách vào, pha cà phê xong là biến mất, còn lại ông già bất động trên chiếc xe lăn, ngồi trầm tư như thế suốt ngày, hiếm khi nghe ông nói gì, ông ở đó như một pho tượng, khách vào, ra không hề nghỉ đến sự hiện hữu của ông!
Luận cũng quen dần và cảm thấy những bức tranh trên tường ý nghĩa hơn cả sự tồn tại im lìm đó!
Hôm nay, pho tượng ấy đột ngột mở lời khi anh đang lơ đãng ngắm bức tranh chép lại của Levitan, “Ngày nắng”. Treo gần cửa ra vào.
-Cậu biết gì về hội họa?
-Dạ hầu như không biết chút gì! Lại một tràng cười….
Luận bối rồi không vì kiến thức ít ỏi của minh mà vì câu hỏi đến từ một người mà anh vừa mới đây thôi, cảm thấy thú vị, tò mò…
-Tôi cũng đã nói như cậu!
-Với ai ạ?
-Bà ấy! Chủ nhật này cậu có đến đây không?
-Thưa.. ngày mai?
-Ngày mai là chủ nhật rồi à? Tôi quên mất ngày tháng! Ừ, ngày mai cậu đến chứ?
-Dạ vâng, cháu đến, buổi chiều được không Bác?
-Được.
Lại im lặng, một khoảng lặng mênh mông….
Người đàn bà rời mắt khỏi giá vẽ, ngước mắt nhìn người khách vừa vào phòng:
-Ông muốn mua tranh?
Người khách trung niên bối rối:
-Tôi muốn một bức sơn dầu, khoảng 0m70- 0m90.
-Vậy là ông cần kích cỡ hơn tác giả và trường phái?!
Người đàn ông bối rối chưa biết nói gì thì một câu hỏi tiếp, lạnh lùng:
-Ông không thích hội họa?
-Thời trẻ tôi có thích, nhưng chưa bao giờ có đủ tiên để mua một bức tranh nào!
Một nụ cười thoảng nhẹ trên đôi môi người phụ nữ:
-Thế sao?!
-Bà hỏi gì ạ?
-Như vậy rồi ông không tìm hiểu gì về tranh, về hội họa nữa ư?
-Vâng, hoàn toàn không biết gì!
-Tôi không nghỉ thế, ít ra thì ông biết thích tranh sơn dầu…
Câu nói như khuyến khích người đàn ông mạnh dạn thêm một chút:
-Tôi thích tranh sơn dầu về tỉnh vật hoặc chân dung. Với tôi, màu sắc vẫn là chính .
Người phụ nữ cười thành tiếng:
-Khó cho ông rồi, những phòng chép tranh chỉ chép toàn tranh phong cảnh để dễ bán. Ông có muốn đặt một bức theo ý mình không? Khá lâu mới lấy và giá tiền cũng cao hơn .
-Vâng thế cũng được, tôi không vội, miễn là đẹp.
Người phụ nữ nhìn vào mắt ông. Đôi mắt buồn của người đàn ông góa vợ mười sáu năm nay bổng xuyến xao pha chút trìu mến, khiến người đàn bà bối rối, lãng tránh bằng cách lật những bức tranh mẫu trong cuốn album dày cộm…
-Bức tranh đầu tiên tôi đặt là một giỏ hoa, chép theo mẫu của Rachel Ruysch. Treo đối diện cửa sổ thứ nhất đó.
Luận nhìn theo hướng ông già vừa nói. Bức tranh vẽ giỏ hoa với màu nền tối, nhưng những đóa hoa thì rực rỡ …trắng nhạt và hồng. Mặc dù treo đối diện, ngang với cửa sổ, vẫn không sáng lên được bao nhiêu!
-Rồi những bức kế tiếp…Tôi đến phòng tranh thường hơn.
-Những bức tranh trong quán này đều do bà ấy vẽ, thưa bác?
-Ừ, trong hơn một năm, bà ấy chỉ vẽ cho tôi. Bà ấy tự chọn mẫu, còn tôi, tôi thì chỉ cần được đến đó, ngồi xem bà ấy vẽ.
-Bác đã trở thành…người giàu?
-Tiền bán căn nhà của tôi ở Đà Nẵng, mua lại căn nhà này, mở cái quán cho con gái, tôi vẫn còn tiền để sống. Những bức tranh chép bây giờ không còn là một cài gì quá cao để tôi không thể mua nổi! Nhưng cái chính là do… bà ấy vẽ. Ông già khoa tay quanh tường…Được mười một bức thì bà ấy không vẽ nữa!
Luận nhìn ông già định hỏi, nhưng gương mặt của ông già đã chìm trong một nỗi buồn vừa ập đến sau câu nói. Quán như trống trải hơn, tối hơn và im lặng hơn…
Bên ngoài cửa sổ, chiều xuống trên dàn hoa pháo, nơi cánh cổng nhà bên cạnh.
Im lặng , Luận nhìn vu vơ những bức tranh…
-Tôi có chuyện phải về Đà Nẵng, mười hai ngày sau trở lại thì bà ấy đã chết, bà ấy bị Ung thư đại tràng giai đoạn cuối trước khi tôi đến đó. Một căn nhà nhỏ trong hẻm sâu, nơi đứa con trai đã có gia đình ở cùng bà ấy. Cậu ta trao cho tôi một bức tranh:
-Mẹ tôi bảo trao lại cho ông và dặn ông thay khung cho bức tranh.
Luận bật hỏi và lập tức đưa mắt nhìn bức “Người đàn bà xa lạ “của Kramskoi treo đối diện:
-Bức tranh nào ạ?
-Không có ở đây, “Bà ấy” ở trong phòng của tôi. Khi thay khung, tôi thấy bức thư của bà ấy. Im lặng lại bao trùm căn phòng, Luận nhìn những bức tranh giờ như những mảng màu loang lỗ quanh tường, mắt anh không tập trung được vào một chổ nào. Khi quay lại nhìn ông già, anh có cảm giác như ông đã ngủ, đầu gục xuống lọt vào đôi vai gầy…Luận rụt rè đến bên tấm thân bất động:
-Bác có …khỏe …không ạ?
Ông già ngẩng đầu nhìn Luận, gương mặt ông như nhão ra với những giọt nước mắt. Tiếng nói của ông bất ngờ vang lên, rõ ràng, tương phản với vẻ yếu ớt của cơ thể:
-Nếu tôi trao toàn bộ tranh cho cậu, cậu có đồng ý không?
-Sao, Bác không thích nữa à?
-Tôi vẫn quý chúng như những đứa con, nhưng tôi phải vào Viện Dưỡng Lão!
-Ở đâu ạ?
-Ở Long Thành, Tôi có cô em tu ở một ngôi chùa dưới ấy. “Viện mồ côi” thì đúng hơn
-Thế con gái bác, chị ấy?
-Tôi làm khổ nó đủ rồi. Từ ngày bị tai biến, mười sáu năm nó phải chăm sóc tôi, không nghỉ chi đến chuyện chồng con, nó trở thành gài già khi nào không hay! Giờ nó gặp một Việt kiều góa vợ, tôi muốn nó xuất cảnh theo chồng.
Cuối cùng thì chiếc xe “ ba gác” chở hàng thuê cũng vào được con hẻm chật chội nơi căn phòng trọ. Hai ngày bận rộn với việc tháo gở, đóng gói cẩn thận những bức tranh, Luận ở trong tâm trạng ray rứt, mâu thuẫn. Phần thì xót xa với hoàn cảnh của ông già, đàng khác, anh mừng vì bổng dung lại có được những bức tranh….Nghỉ đến chuyện phải treo những bức tranh này lên bức tường nham nhở của phòng trọ mà não lòng.
Không nôn nóng với những bức đã thấy hàng ngày trong quán, anh hồi hộp dặt bức tranh “Người phụ nữ đợi chết” lên bàn. Báu vật của ông già là bức chân dung một người phụ nữ trạc ngoại tứ tuần, chính là người đã chép lại những bức tranh. Bức tranh thật đẹp, trong không gian dìu dịu của buổi xế chiều, một gương mặt phụ nữ trong chiếc mủ len màu nâu trùm kín đầu, bên khung cửa sổ, đôi tay khoanh hờ hững, ánh sáng chếch tôn lên chiếc mũi thanh tú.” Bà ấy đây sao !” Luận buột miệng không hoàn toàn là bởi nét đẹp của người thiếu phụ mà do đôi mắt buồn, đăm chiêu của người phụ nữ vẫn hài hòa được với đôi môi mỏng, mĩm cười như khinh bạc thách thức.
Một linh cảm mơ hồ một đều gì đó thật buồn, thật xót xa ập đến trong tâm hồn Luân làm anh xao xuyến lo âu khi chợt nhớ lại lời ông già:
-Tôi đã “sống” với bà ấy hơn hai mươi năm. Giờ thì tôi không cần gì nữa, Tôi vào viện mồ côi nhưng rồi cũng sẻ không phiền ai… Bức thư vẫn ở đằng sau bức tranh. Cậu cứ giữ lấy tất cả, tôi không nở đốt nó !
Luận run run lật úp bức tranh, mở lưng tìm lá thư. Một tờ giấy gấp tư, như được dán vào khung vải:
Ngày … tháng … năm 1993.
Này, người đàn ông vô duyên!
Tôi đã nghĩ như thế từ khi gặp ông, cho đến lúc này, hơn một năm và trong những ngày cuối cùng của đời mình, khi những tế bào ung thư đã di căn và hủy hoại hầu hết các bộ phận trong cơ thể, gây nên những cơn đau thật khủng khiếp! Tôi vẫn gọi ông như thế “người đàn ông vô duyên”.
Trước hết, tôi cảm ơn ông đã đi xa đúng lúc để tôi không ray rứt vì sao không có ông bên cạnh, không ngóng đợi trông mong như những ngày ông thỉnh thoảng bận việc, không đến phòng vẽ.
Tôi gọi ông là người đàn ông vô duyên bởi: Ông đến và làm tôi xao lòng khi vừa phát hiên ra căn bệnh chết người một tuần lễ. Tôi quyết định không phẫu thuật hay đều trị vì nó đã ở giai đoạn cuối. có nghĩa là tôi không còn sống được bao lâu!
Trong đôi mắt ông từ lần gặp đầu tiên ấy, tôi đọc được một đều là Tôi sẽ yêu ông, và ngược lại.
Nhưng ông có thấy vô duyên không khi không hề có đoạn kết trọn vẹn cho cuộc tình này. Ông vẫn không biết gì, nhưng tôi, tôi biết sẽ phải xa ông khi tình yêu vừa đến! lẽ ra lúc này chính tôi phải nhận lấy hai chữ “vô duyên” nhưng tôi vẫn gọi như vậy, bởi nó mang nghĩa định mệnh cho cả hai chúng ta. Vâng, đó là một định mệnh!
Bức tranh này tôi vẽ cho người đàn ông vô duyên của tôi, bức tranh duy nhất tôi vẽ chứ không chép. Hai tháng sau khi đã trải qua lo âu, sợ hải tột cùng…Thật lạ, tôi lại trở nên bình thản, chấp nhận ngày nó đến. Tôi đặt tên cho bức tranh là”Người thiếu phụ đợi chết”. Hãy nhìn màu xám nhạt của bầu trời, ông sẻ thấy…Ông cũng cứ gọi như thế nhé.
Thông thường, người bị ung thư, đều trị bằng phương pháp Hóa trị đều rụng hết tóc, tôi không hóa trị, nhưng tôi muốn ở trong tâm trạng thường trực đối mặt với căn bệnh khi vẽ, chiếc mủ len trùm kín đầu có làm ông hình dung được đều đó không?!
Không biết lúc nào thì cái chết đến để giải thoát cho tôi khỏi những cơn đau! Ôi. tôi tiếc biết mấy những phút giây gần gũi bên ông, êm đềm quá, yên bình quá… sẽ không bao giờ có được nữa!
Đau quá! Tôi… tôi… vĩnh biệt ông thôi…!Người đàn ông vô duyên.
Sài gòn, tháng I, năm 2014.
baovecovang2012.wordpress.com
Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 6 Nov 2025

Phần 7
Tầm thù
Bầu trời kéo mây đen nghịt trên đường về, gió thổi chuyển mây từ hướng núi Tà Cú, cơn mưa sắp đổ đến mấy đám ruộng cần nước của ông để ruộng mềm cày vỡ đất, nhưng lòng ông Bảy dửng dưng. Đây là cảm giác vô cùng lạ lùng lần đầu tiên xuất hiện trong đầu ông với những mảnh ruộng mà từ lâu ông coi như da thịt, mồ hôi của mình.
Ông vào nhà ngồi thở dài trên sạp trước khi cơn mưa ào ào đổ xuống. Ông nhìn mưa, ông nhìn ra những mảnh ruộng mờ trong cơn mưa nặng hạt, ông quay vào trong nhìn mông lung lên trần nhà, xoay nghiêng nhìn bàn thở tổ tiên. Ông đứng dậy thắp nhang trên bàn thờ và trở lại chỗ ngồi cũ, hai tay ôm trán. Những sợi tóc bạc như dài ra theo giữa mấy ngón tay da nhăn guộc gầy của ông. Ông Bảy bỗng đập tay xuống sạp, nói một mình:
– Không! Tại sao có chuyện trắng tay vô lý như vậy, còn hơn là ăn cướp!
Nghèo khổ và chân lấm, tay bùn, đổ không biết bao nhiêu mồ hôi trên đồng ruộng của tổ tiên, của ông cha mình để lại từ thuở sinh thời đến nay, ông Bảy không hiểu nổi hai chữ bóc lột mà đám cán bộ chế độ mới dán trên lưng lớp trung nông như ông. Cái đầu mộc mạc của ông bắt làm việc, lời cán bộ xã huyện trong các buổi học tập ở xã nó quỷ quỷ, ma ma, nó mập mờ ẩn hiện trong tâm trí ông:
“Đảng và nhà nước vận động toàn dân bỏ hết ruộng đất vào hợp tác xã đế xã ta góp phần tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên đảng không bắt buộc đồng bào gom ruộng đất vào hợp tác xã… Thái độ của đồng bào sẽ được đảng đánh giá trong tinh thần cách mạng, văn minh, tiến bộ . . . “
Sau mấy hôm học tập đêm ngày, ông Bảy bắt đầu cảm thấy đau đớn, cái đau hằn trên gương mặt hốc hác của ông về viễn ảnh một ngày ông không còn làm chủ mấy đám ruộng, cái đau làm ông mất ngủ, cái đau cũng bắt nguồn từ những buổi học dông dài, nhàm chán, ngồi đến còng cái lưng ở xã để nghe cán bộ nói chuyện. Mọi người phải nghe thuyết giảng và học tập về đề tài: “Công tác vận động quần chúng vào hợp tác xã và tính ưu việt của sản xuất xã hội chủ nghĩa.”
Buổi tối sau cùng, ông Bảy từ xã trở về, ông ho húc hắc, tay cầm một khúc tre làm gậy, khập khểnh về nhà . Ông gọi đứa cháu mang cho ông hộp dầu cù là, sau đó lăn ra sạp gỗ cho thằng cháu đánh lưng ông như mọi hôm. Hai tay ông ôm chiếc gối dưới ngực, chống cằm lo lắng. Ông Bảy nhớ lại những gì cán bộ xã nói trong lớp học tập như sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, hợp tác xã sản xuất, làm chủ tập thể mà lần đầu tiên trong đời ông nghe và hiểu rất mơ hồ. Tuy nhiên, linh tính báo cho ông biết những điều bất thường mất mát ruộng đất chắc chắn sẽ xẩy đến cho ông và bà con trong xã .
Ông thấy tim ông trĩu nặng khi nghĩ đến viễn tượng đen tối mà theo đó, ruộng đất, mồ hôi nước mắt làm việc cả đời người bỗng chốc không cánh mà bay. Ba mẫu ruộng phì nhiêu, một cặp bò, một chiếc xe bò và máy bơm nước, rồi đây chỉ bằng vào miếng giấy lộn gọi là biên bản vào hợp tác xã mà tất cả thi nhau chui vào tay kẻ khác dưới tên đội, dưới tên hợp tác xã nông nghiệp, hay dưới tên gì đó của những kẻ mà đảng tự nhận là đại diện cho nhân dân.
Sống dưới chế độ mới chưa quá một năm, ông Bảy nghe người ta thổi vào tai bà con những chuyện thần kỳ như thể dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản, đất nước sẽ hóa vàng, giang sơn sẽ chuyển dịch, càn khôn vũ trụ cũng lung lay . . . “Thằng trời đứng dang một bên. Để cho nông hội đứng lên thay trời” . . . .
Ông chưa hiểu thực tế và ngôn ngữ của những người cộng sản nó khác bà con miền Nam ra sao, nó khả thi ra sao, nó chính xác ra sao, nhưng ông quả thấy lớp người mới cầm quyền xã ông lộng ngôn, vô đạo với đất với trời; nhưng với bản tính cẩn trọng và thầm lặng, ông không bao giờ hở môi. Ông nhắm mắt lim dim suy nghĩ rồi bỗng nhớ ra điều gì như thể ông tìm ra được một tia hy vọng mong manh, sương khói nào đó, dù chỉ là một cái gì mờ ảo mà tay ông chưa chắc nắm tới, nhưng ông nghĩ biết đâu may ra nó giúp ông tìm được một lối thoát, giúp ông giải quyết chuyện đất đai, chuyện đã làm ông mất ngủ mấy đêm nay.
Ở đường cùng, ông Bảy chụp nắm bắt bất cứ sợi giây nào; giây thừng cũng được, giây cước cũng xong; ông muốn thoát khỏi vũng lầy bì bõm không thấy bờ để bước khỏi vũng lầy bằng mọi cách. Ông ngồi bung dậy, thằng cháu bất ngờ tuột khỏi lưng ông, văng cả hộp cù là. Nó sợ, nó khóc mếu máu. Mấy đứa con ông nghe tiếng thằng bé khóc, chạy ra:
– Cái gì vậy Ba? Thằng Tèo làm gì ông nội vậy? Cào xướt da ông nội như hôm qua phải không?
– Không! Không phải Tèo đâu? Tại tao đấy? Dậy đi con! Tí nữa ông Nội mua cho con mấy cây kẹo nhen!
Ông quay qua con ông:
– Tao qua nhà ông Ba Hạ một tí!
– Ba ăn cơm rồi hãy đi!
– Tao còn no! Tối về ăn cũng được!
Quả thật, cái ý nghĩ mình có thể giữ lại được ruộng vườn, vì cán bộ bảo không buộc bà con vào hợp tác xã, đã gieo cho ông một tia hy vọng bồng bềnh, không có gì chắc, song ông cũng mừng đến quên cả đói, và nó còn làm cái đau trên lưng ông biến mất.
Ông đi nhanh qua nhà ông bạn già. Con chó nhà ông Ba Hạ thấy có người chạy thốc vào nhà, nó nhảy chồm lên sủa dữ dội.
– Ông Hạ! ông Hạ! Ra đây tôi nói cái này!
Người bạn già của ông Bảy chống gối đứng dậy, chống gậy ra cửa:
– Cái gì mà gấp gáp vậy ông Bảy?
– Tôi nghĩ là mình có thể giữ lại được ruộng!
– Ủa! Tôi điên đầu về vụ này cả tuần nay? Vô kế khả thi rồi ? Làm sao giữ lại được ruộng đất? Bộ anh không đọc các chính sách nhà nước như đinh đóng cột sao?
– Biết ! Nhưng ra nhà sau tôi nói cho mà nghe !
– Ờ thì mình vào trong, để con Mực ở ngoài nó canh cổng!
Hai ông già chụm đầu vào nhau thì thầm:
– Ông nhớ trong buổi học tập ở xã chiều hôm qua, thằng cán bộ huyện nó nói “đảng không ép ai vào hợp tác xã” . . . ông nhớ không?
– À! Tui có nhớ nó nói như vậy, nhưng ai cũng sợ câu thòng thật đáng sợ. Anh có thấy ai mừng đâu ! Đố cha thằng nào lại muốn mất ruộng đất, mất trâu bò, nhưng mọi người im như thóc, chỉ ngó mặt nhìn nhau ? . . .
Ông Bảy ngó ra cửa sổ, ông sợ một bóng người lạ, một tiếng chó sủa sau hè, ông sợ cả một tiếng động vu vơ ngoài hiên nhà. Cả đời ông, trước đây ông đâu có sợ cái gì, tính ông ngay thẳng, công bằng với mọi người, trong thôn xã vợ chồng gây lộn nhau, người ta mời ông Bảy đến can ngăn, dàn xếp, mọi chuyện êm ấm trở lại, nhưng bây giờ ông lại bí chuyện của riêng ông, ông biết sợ những người của chế độ mới. Ông Bảy nhìn người bạn già như chờ đợi sự chia sẻ, chờ đợi một sự đồng cảm cho ông bớt cô đơn. Ông Bảy ngần ngừ rồi lên tiếng:
– Ừ, thì tôi cũng biết vậy, song tụi nó giấy tờ thì mình cũng giấy tờ! Tôi lại anh ngày mai lên xã trả lại giấy tình nguyện sung ruộng đất vào hợp tác xã. Mình nêu lý do là cán bộ huyện bảo đảng và nhà nước không có bắt buộc vào hợp tác, xem họ nói thế nào. Còn nước còn tát! May ra có thể làm thêm mùa này để có gạo cho gia đinh ăn. Giao hết cho họ rồi tính công điểm lao động để lấy lúa ăn thì được mấy hột!
– Tôi ngại cái bản mặt chầu quậu của thằng xã trưởng quá nhưng anh liều thì tui cũng liều, chứ chả lẽ tôi bỏ anh!
Hôm sau, ông Ba Hạ đến nhà ông Bảy thật sớm, tấm giấy tình nguyện gom ruộng vào hợp tác xã được bỏ cẩn thận trong bao “nylon”. Trên đường đi, hôm nay, ông có cảm giác gần gũi và thương yêu các mảnh ruộng của ông như chưa bao giờ ông cảm thấy trước đây. Ông nhìn những thửa ruộng mầu mỡ do cha ông để lại mà bàn tay ông vun xới mấy chục năm nay. Nó là tấc lưng, nó là mồ hôi, nó là khúc ruột của cả một đời người. Ông nghĩ tới mảnh giấy xã đánh máy sẵn mà ông có trong tay, chỉ cần một chữ ký nguệch ngoạc của ông là cả ruộng, cả bò, cả xe bò đều mọc cánh bay xa. Ông thấy ông Bảy cũng có lý: “Còn nước, còn tát!”
Ông Bảy ra cửa đón ông bạn già . Hai ly trà bốc khói bên hai mái đầu bạc trắng. Ông Bảy kéo hộc bàn lấy ra mảnh giấy tình nguyện vô hợp tác xã để lên bàn. Ông càu nhàu:
– Nó liệt kê cả tài sản mình vào, không thiếu một món, ký vào đây một dòng chữ ký như con trùn bò trên trang giấy trắng thì coi như tay trắng cả nhà . Trên đời này tại sao lại có một thứ cướp của người dân nhanh và kỳ lạ như vậy?
Ông Ba Hạ tiếp lời ông Bảy:
– Bộ anh không nghe người ta nói “30 năm mới có một ngày” sao? Lát nữa lên xã, không chừng mình sẽ bị tụi nó làm khó dễ mệt cầm canh. Tụi nó muốn thi đua làm xã đầu tiên trong huyện thành xã vô hợp tác xã hội chủ nghĩa!
Ông Bảy gọi người nhà dọn cơm. Mâm cơm võn vẹn chỉ có một tô cơm độn khoai mì, một dĩa rau lang luộc, dĩa nước mắm và mấy con cá khô. Ông Bảy không quên cúi xuống gầm bàn lôi ra một xị đế. Những ngụm rượu ấm bụng như theo máu chuyển sự can đảm lên đầu hai ông. Hai ông là những người đầu tiên hiếm hoi trong xã dám công khai trả phiếu vào hợp tác xã cho “chính quyền cách mạng xã” .
Ông Bảy và ông Ba Hạ không hẹn mà cùng lúc đều nghĩ đến tên xã trưởng Tám Thẹo, tên chăn trâu cho hai ông cách đây mười mấy năm, bỏ trâu theo Việt cộng, rồi giờ này chễm chệ trên ghế cầm quyền hét ra lửa, coi dân làng và hai ông chủ cũ như người xa lạ. Hắn xấc láo, mở miệng là bác, là đảng; các thứ gọi là “cách mạng, bác đảng” được hắn dùng như một đạo linh phù ghìm sắn trong tay, sẵn sàng tung mũ CIA và “ngụy phản động” lên đầu bất cứ ai nếu hắn muốn. Tám Thẹo mà ra tay thì dường như không ai thoát khỏi “trại tù cải tạo” mà ngày về lại gia đình như sương như khói ở cuối biển, đầu sông.
Không có bản án nào cả, công lý của nhà cầm quyền mới là quyền của đảng, là quyền tối hậu, không cần tòa án, không cần quan tòa, không cần luật sư biện hộ mà chỉ cần cái báo cáo của xã với chữ ký như con trùn mắc mưa của Tám Thẹo là nạn nhân vô tội phải chui vào tù. Vô cùng đơn giản!
Chưa hết, ngoài việc có thể tán gia, bại sản, tù đày vì tay Tám Thẹo, sau khi ra khỏi tù cải tạo, muốn về lại địa phương với vợ con thì cũng phải có ý kiến của Tám Thẹo. Tám Thẹo như một thứ tiểu vương gian ác. Ông Bảy và ông Ba Hạ bị ám ảnh trong đầu một Tám Thẹo chăn trâu ngày xưa chân chất, hiền lành và một Tám Thẹo xã trưởng của “cách mạng” ngày nay hợm mình, thâm độc. Ông Bảy ực một ngụm rượu cuối cùng rồi đứng dậy:
– Kệ cha nó! Tụi mình già rồi! Tụi mình liều thử một phát xem sao! Đi anh!
Tám Thẹo ngồi chồm hỗm trên một chiếc ghế đẩu mà bà con gọi là ngồi theo thế nước lụt, đầu hắn nghiêng một bên, miệng khi méo khi tròn cố viết mấy dòng chữ cua bò trên tờ đơn của nông dân. Hắn ngẩng đầu lên, đẩy tờ giấy sang một bên. Thấy hai ông già đứng trước cửa trụ sở xã, làm như không quen biết, hắn hất đầu cộc lốc:
– Gì đó?
Ông Ba Hạ hơi ngạc nhiên về thái độ khác thường của thằng chăn bò của ông khi xưa, ông từ tốn, rón rén bước vài bước về bàn giấy của Tám Thẹo:
– Tôi và anh Bảy có ít việc định nhờ chú !
Tám Thẹo bỏ hai chân xuống đất, đạp chân lên hai chiếc dép râu, cất giọng một cách trịnh trọng:
– Tôi bây giờ là đại diện cho nhà nước, cho cách mạng, cho đảng, ông nên nhớ tôi không còn là người ở của ông khi xưa, tôi đề nghị lần sau ông nói cho đúng khi đến đây gặp tôi làm việc. Tôi là chủ tịch xã ! Làm việc cho cách mạng phải “có hệ thống, có trật tự”, không thể xưng hô linh tinh, phải nghiêm túc mới làm việc được !
Tám Thẹo ngưng một chút, căng giọng hỏi:
– Hai ông muốn nhờ chuyện gì?
Cả ông Bảy và ông ba Hạ không hẹn mà cùng móc trong lưng quần 2 bọc “nylon”, trong đó có hai cái đơn tình nguyện góp ruộng và sức kéo vào hợp tác xã. Đó là hai tờ giấy chưa điền chi tiết và ký tên. Ông Bảy lên tiếng:
– Trình ông xã trưởng! Chiếu tinh thần các buổi học tập tuần qua, trong đó các cán bộ xã và huyện có vận động nông dân xã ta vô hợp tác xã nông nghiệp, nhưng cũng có nói là không bắt buộc. Trong tinh thần đó, chúng tôi xin hoãn lại việc vô hợp tác, và xin ở ngoài hợp tác để làm ăn vài ba năm nữa rồi sẽ tính…
Tám Thẹo khá bất ngờ, bỏ ghế đứng dậy:
– Ông Bảy nói sao? Bộ ông giỡn hả? Ông muốn chống chính sách đảng hả? Tôi đã báo cáo lên huyện là xã ta đã “hồ hởi phấn khởi” tình nguyện vô hợp tác xã một trăm phần trăm rồi! Ai xúi hai ông phá chính sách của đảng và nhà nước?
– Xin ông xã trưởng đừng nóng! Chúng tôi chỉ xin làm thêm một vài mùa lúa ngoài hợp tác để có lúa cho gia đình sống. Việc này, trong bữa học tập, cán bộ huyện có nói là không ép buộc gấp rút, chắc ông xã trưởng còn nhớ!
Thật vậy, chính Tám Thẹo cũng nghe và biết điều đó trong buổi học tập, nhưng Tám Thẹo không thấy ai có phản ứng gì. Tất cả đám đông im như thỏ con trước miệng cọp, Tám Thẹo chắc như bắp là trong không khí bừng bừng của “cách mạng”, đố có ông nông dân “gốc ngụy” nào dám lội ngược dòng. Tám Thẹo vẻ mặt hầm hầm hất mặt nhìn hai ông già, và hắn nghĩ bụng: “Hai lão già này có con, có rễ là quân ngụy trước 75, đang còn nằm trong trại cải tạo của cách mạng, lẽ ra hai lão phải là những người ngoan ngoãn xung phong nộp ruộng đất vô hợp tác xã, không ngờ hai lão có vẻ còn ngoan cố, cứng đầu..” Nghĩ như vậy, nhưng Tám Thẹo dường như có vẻ đuối lý, hắn vớt vát:
– Hai ông là trường hợp đặc biệt duy nhất gây khó khăn cho chính sách nhà nước. Hai ông muốn trả lại đơn thì để đơn trên bàn, tôi sẽ trình trên để lãnh đạo xử lý và làm việc với hai ông.
Tin hai ông Bảy và Ba Hạ giữ lại ruộng đất và trả đơn gia nhập cho xã chẳng mấy chốc lan nhanh khắp thôn xã. Và như một phản ứng giây chuyền lan rất nhanh, những người chưa ký tên tình nguyện vô hợp tác xã thì thừa cơ hội lờ luôn, những người đã lỡ ký đơn nạp cho xã rồi thì bức đầu bức tóc. Dù vậy, cho đến thời kỳ hết hạn mười ngày kể từ ngày kết thúc buổi học tập và vận động, xã chỉ nhận không tới 50 phần trăm đơn vào hợp tác, xem ra, toàn là những phần ruộng xấu mà nông dân cho vào hợp tác xã như thể “thí cô hồn” cho đảng và nhà nước.
Tám Thẹo cảm thấy bị xúc phạm, đây là thử thách đầu tiên kể từ ngay hắn bỏ trâu “đi làm cách mạng”. Hắn cảm thấy cái đầu ngày xưa chỉ biết chăn bò, cày ruộng, tá, dí, nay ngồi trên ghế xã trướng mà bị đông cứng, làm sao hắn không tức; làm sao hắn có thể báo cáo lên huyện cho rành rẽ , cho xuôi dòng chữ nghĩa! Hắn đã từng tự hào hắn là một du kích diệt Mỹ anh hùng thuở trước, nay được làm chủ tịch một xã anh hùng thì báo cáo về sự trì trệ hay thất bại của chiến dịch vận động nông dân vô hợp tác xã là điều Tám Thẹo khó mà chịu nổi. Nói dân xã mình phản động cũng không dám, đổ thừa cuộc vận động “không đạt yêu cầu” cũng không xong, trút trách nhiệm lên đầu các cán bộ huyện thì Tám Thẹo có gan trời cũng không dám phóng bút.
Chữ nghĩa của Tám Thẹo chỉ tròn trong một muỗng canh như cái đầu hạn hẹp trí thông minh của hắn. Trong cái đầu mù tịt chữ nghĩa của Tám Thẹo, bỗng lóe sáng một con đường thoát: “Đổ hết lên đầu ông Bảy và ông Ba Hạ khi huyện ủy mở khóa họp đợt hai để giải quyết những sự cố bất thường trì trệ của xã Tám Thẹo.”
Tám Thẹo không còn cảm thấy cô đơn khi hay tin “đồng chí” bí thư xã Ba Càng của hắn từ Hà Nội về sau thời gian về thăm nhà ngoài Bắc. Nghe nói Ba Càng là bí danh của tên bộ đội “sinh Bắc tử Nam” chuyên vác chân ba càng cho cây đại liên Đông Đức trong đoàn quân miền Bắc đi B, nhưng nhờ phúc đức gì đó của ông bà hắn mà hắn không chết ở chiến trường miền Nam, hắn nay là xếp Tám Thẹo. Tám Thẹo tổ chức một bữa nhậu thịt chó đón Ba Càng, và hắn tường thuật tất cả những khó khăn về việc vận động đồng bào vô hợp tác xã của xã hắn cho Ba Càng nghe. Ba Càng vô hết cả xị đế nhưng vẫn rất tỉnh, hắn nghiêng đầu sang Tám thẹo, nói nhỏ:
– Đồng chí đừng lo! Tôi đã có phương án giải quyết vấn đề. Mai tôi lên huyện làm việc!
Bẵng đi một tuần, xã cho người vát loa gọi đồng bào dự buổi học tập khẩn cấp đợt nhì trong chiến dịch vận động nông dân đem ruộng đất vô hợp tác xã. Lần này, các cán bộ cấp huyện về dự khá đông. Công an xã huyện chìm nổi ẩn hiện trong đám đông lô nhô chật hội trường. Và trong đám đông đó dĩ nhiên có mặt cả ông Bảy và ông Ba Hạ. Phần đầu chương trình buổi họp, cán bộ nông nghiệp huyện cũng đọc lại các văn thư chỉ đạo từ tỉnh, huyện đưa xuống, nhắc lại nhiều lần. Các cán bộ cộng sản tin rồi ra 100 phần trăm nông dân xã sẽ giác ngộ, sẽ đổ hết ruộng đất vào làm chung trong hợp tác xã nông nghiệp, để tỉnh, huyện mở đầu một thời đại cách mạng mới, văn minh, tiến bộ ở miền Nam trong chính sách hợp tác xã nông nghiệp xã hội chủ nghĩa..
Buổi chiều bắt đầu trở lại với phần thảo luận và giải đáp thắc mắc. Loa nhắc đồng bào thể hiện quyền làm chủ tập thể bằng cách mạnh dạn nêu câu hỏi hay thắc mắc để được “trên” giải đáp hay giải quyết. Loa gọi muốn vỡ loa, đồng bào nông dân chỉ ngáp và thủ khẩu như bình. Khi tiếng loa dứt, không khí trở nên im lặng, nặng nề . . .
Trên bàn chủ tọa, bí thư xã Ba Càng gốc từ miền Bắc, đứng lên xin phát biểu ý kiến, không khí hội trường như căng cứng, chờ đợi những điều bí thư xã phát biểu. Có lẽ ông Bảy và ông Ba Hạ là hai người sốt ruột nhất chờ đợi câu phát biểu của Ba Càng. Không khí nồng bức, cả trăm con mắt chăm chăm nhìn vào mặt Ba Càng, người ta chỉ nghe tiếng quạt lá phe phẩy rột rạc trong đám đông. Ba Càng quay về bàn chủ tọa và phát biểu:
– Kính thưa đồng chí chủ tọa! Xã chúng tôi đã thi hành và vận động ốết các chỉ thị của trên, nhưng dù chúng tôi dù đã cố gắng tối đa, số bà con gom ruộng đất vào hợp tác xã cũng không tới con số “đạt yêu cầu” . Quá trình làm việc và kết quả tiêu cực sau cuộc vận động đợt một đã buộc chúng tôi phải xét lại toàn bộ vấn đề. Song nghĩ lại, chúng tôi nhận ra rằng kết quả tiêu cực trong địa bàn. xã chúng tôi một phần cũng bắt nguồn từ các lời phát biểu và văn thư thiếu sức ép của trên . . .
Không khí bỗng như chuyển động trên từng gương mặt mọi người. Trên bàn chủ tọa, một cán bộ cấp huyện đứng bật dậy như một cái lò xo:
– Đồng chí nói sao? Thế là thế nào? Yêu cầu đồng chí khẩn trương nói rõ !
Ba Càng cúi xuống uống một ngụm nước, xong rồi hắn nhìn lên mái tranh hội trường, rồi nhìn một lượt khắp đám đông, dừng lại chỗ hai ông già. Sau cùng, hắn quay qua bàn chủ tọa:
– Kính thưa quý đồng chí kính mến, chính một đồng chí trên huyện đã tuyên bố trước đồng bào rằng đảng và nhà nước không bắt buộc bà con vô hợp tác xã trong buổi học tập trước, nhưng trong các văn thư liên hệ đến cuộc vận động nhân dân lại không có điều nào viết như vậy. Từ vấn đề cơ bản đó, nhân dân trở nên tiêu cực, không tình nguyện theo chính sách của nhà nước do đảng chỉ đạo. Xã chúng tôi là trường hợp điển hình. Vậy xin quý đồng chí lãnh đạo chỉ thị phương án tốt để chúng tôi hoàn thành tốt công tác do trên giao!
Đây là lời phát biểu làm bà con nông dân nặng ngực, trong lúc trên bàn chủ tọa, các cán bộ huyện nghiêng đầu thì thầm trao đổi ý kiến để tìm câu trả lời cụ thể có tác dụng. Người ta không hiểu tại sao bí thư Ba Càng lại tung ra một câu phát biểu vừa hóc búa, vừa quy trách vào cấp trên của Ba Càng và Tám Thẹo. Khi Ba Càng ngồi xuống, những giây phút nặng nề u ám trôi lềnh bềnh trong hội trường như chờ một cơn gió.
Gần mười phút đồng hồ ngột ngạt trôi qua mà bàn chủ tọa không ai lên tiếng. Để giải tỏa không khí có vẻ căng đó một cán bộ huyện đứng lên tuyên bố cho đồng bào nghỉ giải lao nửa giờ. Ngay sau đó, cả hội trường xôn xao, xúm nhau từng nhóm bàn tán chuyện ký đơn hay không ký đơn, chuyện câu hỏi của bí thư xã, chuyện câu trả lời của cán bộ huyện là câu gì. Và trong đám đông ẩn hiện những gương mặt âu lo, những nụ cười cay đắng, những phân vân về một tướng lai u ám của đời người, và trên những thửa ruộng vườn có chủ dù không cánh mà có thể bay xa kể từ hôm nay.
Buổi học tập bắt đầu trở lại. Khi mọi người ngồi vào chỗ, một cán bộ huyện đứng dậy. Mọi người im lặng chờ đợi Người ta chờ lợi một câu trả lời mà từng lời, từng câu, từng chữ của hắn có thể là những cộc mốc cắm như đinh đóng cột lên phần đất của ông bà họ để lại . Đất là đất mà họ đã làm chủ hàng mấy đời, mấy mươi năm chứ nào phải đất họ cướp giật của ai.
Ông Bảy và ông Ba Hạ hồi hộp, suýt nữa giật mình khi tên cán bộ huyện rời bàn chủ tọa và bước ra gần đám đông. Câu trả lời của hắn chính là chìa khóa, và gần như là quyết định sau cùng của chiến dịch vận động gom ruộng đất vào hợp tác xã. Hắn nhìn bao quát hết mọi người, gằn giọng bằng một giọng Bắc lạnh lùng.
– Tôi xin được thay mặt đảng và huyện trả lời đồng chí Ba Càng và đồng bào có mặt trong buổi họp hôm nay. Thưa các đồng chí! Thưa đồng bào! Cuộc chiến đấu thần thánh của đảng ta và nhân dân ta 30 năm qua đã thành công rực rỡ. Chúng ta đã giải phóng miền Nam, đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào, song chúng ta vẫn còn nhiều kẻ thù ẩn kín trong quần chúng chưa đánh gục được. Dưới ánh sáng quang vinh của chủ nghĩa Mác Lê, đảng ta coi kẻ thù của nhân dân là những đối tượng ngoan cố, đi sai đường nhà nước, hay không hưởng ứng đường lối đảng. Đảng là đuốc sáng, là chân lý, đảng không bao giờ sai lầm. Qua cuộc vận động vào hợp tác xã nắm bắt những tên và hộ nhân dân trong danh sách xong, các đồng chí có thể biết ai là kẻ thù của nhân dân, ai là người giác ngộ cách mạng.. .
Hắn gằn giọng, chậm và chắc nịch; giọng hắn như một lưỡi lê cắm phập vào thân cây chuối. Cả hai ông Ba Hạ và ông Bảy rùng mình, một luồng cảm giác lạnh chạy dài theo cột sống lưng, một thứ cảm giác lạnh người chưa bao giờ hai ông có trong suốt đời người. Hắn làm thinh một chút như chờ câu nói của mình thẩm nhập vào đầu mỗi người, thể như người thợ săn chờ liều thuốc độc của mũi tên phát tán trên thân thể con mồi, hắn nói tiếp.
– Các đồng chí nên nhớ kỹ rằng số kẻ thù của nhân dân và số nông dân giác ngộ cách mạng sẽ được minh chứng, hiện rõ qua báo cáo của các đồng chí trong danh sách nông dân vô và không vô hợp tác xã . Đây là thời điểm nhân dân, cách mạng, đảng và nhà nước nhận diện kẻ thù rõ nét nhất ! Các đồng chí nghe rõ chưa?
Những câu kết sau cùng trong phần trả lời của tên bí thư huyện như một quả bom nổ giữa đám đông, như một khối nước lạnh giội lên những cái đầu lớp nông dân đang phập phồng lo sợ trước một tên bạo chúa được quyền sinh sát trên các mảnh vườn rau ruộng lúa của mình, kể cả mạng sống và tương lai của đám con cháu nông dân bị cho là phản động. Lớp nông dân ngồi bên dưới lặng dính xuống ghế như trời trồng, vì họ thừa hiểu bí thư huyện nói cái gì và muốn cái gì. Một bản án tử hình cho đất hay một bản án tử hình cho người? Dường như cả hai!
Buổi học tập chấm dứt với những đợt bàng hoàng, lo sợ trong lòng mọi người. Mọi người ra về, tuy cũng con đường đó, cũng bờ ruộng đó, cũng con mương đó họ đã đi mòn gót chân từ thời thơ ấu đến thuở bạc đầu, nhưng hai chân ông Bảy và ông Ba Hạ lại cảm thấy xa lạ, nặng nề trong từng bước đi trên từng tấc đất ngày xưa của mình.
Tuần lễ kế tiếp, xã nhận hầu hết đơn tình nguyện gom ruộng đất vào hợp tác xã, câu nói “nhận diện kẻ thù” của tên bí thư huyện có tác động như một phép mầu “di sơn đảo hải” biến ruộng đất riêng của thiên hạ thành ruộng chung của hợp tác xã dưới sự chỉ đạo của nhà nước cộng sản. Tám Thẹo mở tập hồ sơ đơn tình nguyện, cẩn thận đếm từng mảnh giấy, hắn ngạc nhiên không thấy tên ông Bảy và ông Ba Hạ, hắn xếp tập hồ sơ, gọi tên du kích xã:
– Đồng chí mời hai ông Ba Hạ và ông Bảy ở thôn dưới lên xã gấp cho tôi làm việc!
– Báo cáo đồng chí xã trưởng! Tôi ở gần nhà ông Ba Hạ, tôi biết ông Ba Hạ bịnh liệt giường cả tuần nay sau bữa học tập tuần rồi. Sáng nay người nhà đưa ổng xuống nhà thương rồi !
– Vậy sao? Thôi thì mời ông Bảy cho tôi !
Tên du kích vát AK xuống nhà ông Bảy. Đang ngồi bên bình trà suy nghĩ mông lung, thấy tên du kích từ bờ ruộng đi vào cổng nhà ông, ông linh cảm có một điều gì vô cùng bất thường. Ông đứng dậy bước ra khỏi nhà, chưa kịp hỏi thì tên du kích đã nói trước:
– Ông xã trưởng biểu tôi mời bác Bảy lên xã làm việc!
– Chuyện gì và chừng nào?
– Ông xã nói là ngay bây giờ, và chuyện gì con không biết !
– Ngay bây giờ? Thôi mày về xã đi, để tao thay đồ cái đã !
– Dạ !
Ông Bảy lên xã với hai tay không. Tám Thẹo vừa thấy ông đã hất hàm hỏi:
– Sao? ông Bảy? Ông còn muốn đứng ngoài hợp tác xã nữa hay chờ xã gởi ông lên tỉnh, lên huyện làm việc?
– Cho tôi ngồi xuống ghế được không?
– Được! Xong rồi trả lời tôi đi !
Ông Bảy trầm tĩnh, nói bằng một giọng cương quyết:
– Tôi già rồi! Ôm ruộng của ông bà làm thì cũng chả sống được bao lâu. Tôi không ký đơn từ gì hếy! Ruộng đất của ông bà, cha mẹ tôi đó, các ông muốn lấy thì lấy! Tuần sau tôi và mấy đứa con đánh xe bò lên vùng kinh tế mới phá rẫy làm ăn. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi bỏ ruộng!
Tám Thẹo đứng dậy, đập bàn tay lên bàn:
– Ông Bảy mà đi kinh tế mới cũng phải có phép của xã, có lệnh của tôi ! Còn cặp bò, xe bò, mấy cái cày và bừa, và luôn cái máy bơm nước ruộng . . . cần cho hợp tác nông nghiệp cũng không được quyền đem ra khỏi xã !
Nói xong, mặt Tám Thẹo đỏ lên bừng bừng với cảm giác vừa giận vừa chiến thắng; chiến thắng của một tên từng chăn trâu, chăn bò, dậm ruộng cho ông Bảy mấy mươi năm trước, nay thành ông xã trưởng “cách mạng” quyền uy phun ra khói, khạc ra lửa. Ông Bảy bỏ ra về, không màng nói một lời từ giả Tám Thẹo. Ông khinh Tám Thẹo ra mặt. Ông như một kẻ sĩ chân chính chân lấm tay bùn ngẩng mặt cao, đứng thẳng người trước nghịch cảnh, trước bạo lực. Tám Thẹo hơi bất ngờ trước thái độ quyết liệt, bất cần của ông Bảy, nhưng hắn làm thinh.
Về đến nhà, ông sai thằng cháu ra quán mua hai xị đế, đêm đó ông say lướt khướt, ông say nhưng trong tai ông cứ văng vẳng câu thằng bí thư huyện: “Đây là thời điểm nhân dân, cách mạng, đảng và nhà nước nhận diện kẻ thù rõ nét nhất! Các đồng chí nghe rõ chưa ?” Độ nặng của đế không độc và nặng bằng câu nói của tên cán bộ cộng sản; vì cuối buổi học tập, chính nó đã làm cho khung trời như vỡ tan, nông dân đầy nghẹt hội trường choáng váng, loạng choạng, run rẩy trên đường về nhà.
Cơn say đã không làm nguôi nỗi tuyệt vọng đầy ắp những uất hận trong lòng ông. Ông thực sự nhận ra ông là một trong những nông dân bị nhà nước mới coi là kẻ thù ngoan cố chống nhà nước, chống cách mạng, chỉ vì chuyện ông từ chối gom ruộng đất vô hợp tác xã. Họ đã nhận diện ông như một thứ đối tượng họ cần triệt tiêu trên con đường máu xương, mồ hôi, nước mắt của muôn dân để “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”.
Ông Bảy nốc tiếp phần đế còn lại trong chai, rồi nằm xuống sạp gụ, và thiếp đi lúc nào không hay. Ông có cảm tưởng mình như đã chết từ ngày hôm nay!
bbc.com
6 April 2019
Debbie Jackson
BBC Scotland
Post by Sơn râu 5 Nov 2025
Đây là câu chuyện có thật xảy ra bên Anh về một người thợ lặn suýt chết dưới độ sâu khoảng 300 ft (100m) được dựng thành film và đưa vào Netflix rất lôi cuốn, xin mời bạn đọc theo dõi qua bản tiếng Anh của BBC.

Chris Lemons’ story has been made into a documentary film
A North Sea diver cheated death after a catastrophic computer failure saw his boat drift away and his oxygen supply cut off.
Chris Lemons lay almost 100m (about 300ft) under the surface, resigned to ending his days in the dark water.
But the miracle of his colleagues’ superhuman efforts to save him, and his body lasting 35 minutes on a six-minute emergency air tank, saw him not only living to resume his diving job and marry his fiancée, but to suffer no ill effects of a lack of oxygen.
His extraordinary true story has been made into a documentary film, Last Breath.
Edinburgh-born Chris, who lives near Mallaig in the Highlands, is a saturation diver. This is a specialized type of diving which reduces the risk of decompression sickness due to use of a mixture of oxygen and helium.
Chris worked in the North Sea, diving from his ship the Bibby Topaz in a diving bell, repairing oil rig structures.

Chris Lemons Chris Lemons and his wife Morag Martin Chris Lemons
Chris Lemons and his wife Morag Martin
But what started as a normal day in September 2012 ended in a drama no-one thought Chris would survive.
Chris, with colleagues Dave Youasa and Duncan Allcock, were lowered 91m in their diving bell to fix a pipe on the sea bed at the Huntington Oil Field east of Peterhead in Aberdeenshire.
The ship was enduring 35-knot winds but Chris says that was standard weather for that time of year.
‘Get out of the structure’
Chris was in the middle of the repair when he heard an alarm.
He told BBC Scotland news: “We had a constant line of communication with dive supervisor Craig – up in the ship – through an earpiece in our helmets. “The first and only indication was to hear the alarm sounding in dive control, which was not unusual because they test them. “But it was quickly followed by Craig asking us to get out of the structure, get on top of it and get back to the diving bell as quickly as we could and we could tell from the urgency in his voice that this wasn’t a drill, this was something serious.”
Last Breath Footage from the rescue Last Breath

Last Breath features real and reconstructed footage from the North Sea drama
What Chris and Duncan didn’t know was that the ship was moving away. The computer which kept the ship in position had failed.
What happened next was nothing short of a disaster.
Chris’s umbilical cable – a tether back to the diving bell and the ship, which provided the divers with breathing gas, hot water to keep the suits warm in the three-degree sea as well as light and electricity – became snagged on part of the metal structure.
Straight away he knew he was in serious trouble.
I had about five, maybe six minutes of gas to sustain me which wasn’t long enough
He said: “You had 8,000 tons of boat essentially pulling against you and I was basically an anchor to that in the bottom and there was only going to be one winner in that circumstance.
“The umbilical provides us with everything. The only thing we carry in addition to that is a bail-out bottle which is a set of normal diving cylinders on your back with emergency gas in them, but because of the depth you’re working at you use that extremely quickly so I estimated I had about five, maybe six minutes of gas to sustain me which it turned out wasn’t long enough.”
His colleagues could not give him any slack – the umbilical was pulled so tight it was bending a stainless-steel rack off the wall in the diving bell.

Last Breath Chris lay unconscious on the structure he was working on when his gas bottles ran out
Chris recalled: “First, the communications cable snapped. Then the gas hose stretched to the point I had nothing to breathe. I opened the supply on my back. This happened within about 30 seconds.
“Soon after that the umbilical snapped like a shotgun going off and I fell down to the sea bed. Nearly 100m (approx. 300ft) down in absolute darkness at two in the morning. I managed to find the structure we had been working on and found a way to climb up on top of that.”
But the diving bell wasn’t there and Chris began to calculate he had already used up about two or three minutes of gas. ‘This is where I would end my days’
The chances of rescue in that timeframe were almost non-existent.
Chris said: “I realized very quickly that the end was nigh. I was on a countdown clock and it was counting very fast.”
Last Breath, Chris lay unconscious on the structure he was working on. Last Breath

Chris’s colleagues thought they were recovering his body when they finally reached him
The realization saw a calmness descend upon Chris as he accepted his fate and blacked out.
He remembered: “I think once I accepted there was no hope of survival, I was powerless to do anything to save myself. A quiet resignation came over me.
“I remember it being a period of great sadness really, of disbelief. How I could find myself in this dark sad horrible place and this is where I would end my days. I thought of everybody at home and the chaos I would cause.”
His colleagues put in a superhuman effort to locate him, believing they were coming down to recover a body.
Dave hauled him to the diving bell where his colleague Duncan gave him two breaths. Miraculously – he spluttered to life.
It was 35 minutes after he had turned on his emergency supply of air.
With nothing to breathe for that long, Chris could easily have suffered brain damage. But he was fine.

Morag and Chris
Morag is grateful for Chris’s rescue: “I came ridiculously close to losing him and being robbed of the life we were going to have”
He said: “I assumed it was the extreme cold of the water that slowed my functions down. But the gas we breathe has a high concentration of oxygen which saturated my tissues and cells to allow me to survive.”
Chris was back in the sea with his team three weeks later and married fiancée Morag Martin a few months later.
And six years later, Morag is still grateful to Dave and Duncan.
She said: “My stomach still churns to hear the story. I came ridiculously close to losing him and being robbed of the life we were going to have.
“I’m extremely grateful to both of them.”
Last Breath is in cinemas from Friday.
DIVER cheated DEATH – Chris Lemons | Cave Diving Gone Wrong
Trên đây là một phần của film nói trên trên Youtube, nếu bạn không có trương mục Netflix để xem film này có thể coi tạm trên Youtube.
vietmessenger.com
Serge Miller
Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên
Post by Sơn râu 5 Nov 2025

Chương 2
Như đã định trước, sáng thứ hai, một viên cảnh sát đến kiếm tôi. Mặc dù chờ đợi trước, nhưng nghe tiếng giày ống dừng lại đột ngột trước cửa, tiếng chìa khóa xoay trong ổ, rồi cửa mở, và tiếng gọi tên, tất cả những âm thanh đó làm ta rợn óc. Do bản năng, ai cũng thường lùi sát vào tường.
Một chiếc xe đưa tù đi lại ngày đêm đã chở chúng tôi đến trường y tế, và đối với ngày đầu tiên nầy, vì chúng tôi quá đông, cuộc thẩm vấn sẽ kéo dài suốt ngày, tất nhiên là chẳng được ăn uống gì. Nhưng mọi chuyện đều trôi chẩy. Cố nhiên là đã có vụ dàn cảnh: tên giết người tỏ vẻ lơ đễnh phì phà điếu thuốc và lúc lắc chiếc gậy cao su, trong khi đồng nghiệp của y ngồi đánh máy các lời thú nhận”.
Thật là một lợi điểm vô giá nếu biết tiếng Đức. Trong trường hợp như thế, viên thông ngôn tự động chống lại ta. Đối với tôi, dẫn dải các người hỏi cung đi khắp nước Pháp là chuyện dễ dàng. Vì họ chẳng tìm thấy trên người tôi một tài liệu buộc tội nào, tôi tha hồ vẽ vời, và buổi tối trở lại phòng giam, bằng lòng với công chuyện trong ngày. Từ 48 giờ qua, đây là lần đầu tiên tôi ăn súp ngấu nghiến.
Sáng hôm sau, cuộc thẩm vấn tiếp tục, vẫn gặp may mắn như hôm qua. Biết tiếng Đức thật có phước thay.
Đến lần thứ ba, tôi ký vào cung từ.
– Tốt, bây giờ người ta sẽ kiểm nhận lại tất cả các lời khai nầy, viên thanh tra báo cho tôi biết.
Sau một tuần, thêm một người thứ tư nữa được đưa vào phòng chúng tôi: Paul, 21 tuổi, khuynh hướng De Gaulle. Anh ta báo tin Kiev đã được giải phóng; về phía Tây, vẫn chẳng có gì.
Thêm một người mới là có chuyện phiền phức vì vấn đề thiếu chỗ, nhưng rồi ai nấy cũng quen, anh ta kể cho chúng tôi nghe cuộc đời của anh, câu chuyện anh bị bắt, giúp chúng tôi trải qua những giờ dễ chịu.
Lúc nầy tôi mới lo, vì cuộc điều tra chắc sắp kết thúc và chắc họ sẽ đến kiếm tôi lại. Vì tất cả lời khai đều giả hay gần như thế, tôi phỏng tính trước hình thức điều chỉnh lời khai sao cho không ta hại quá.
Nhưng không, chẳng có gì xảy đến. Buổi sáng, khi cửa mở, lo âu biết bao, nhưng người ta chỉ gọi tù nhân thứ tư. Một đêm, anh ta trở về, gần như là vui vẻ: “Họ điên đầu ra rồi, họ bắt loạn cả lên vì bất cứ lý do gì và như thế là các cuộc điều tra phải chậm”. Tôi nghe câu nầy với tất cả lạc thú, và trong đêm, tôi ngủ bình yên.
Tháng 11 sắp chấm dứt và chúng tôi vẫn được để yên. Với một miếng bìa, chúng tôi chơi cờ tướng hoặc cờ đam lại thêm được một trò giải trí nữa. Về trò giải trí thì hiếm hoi quá! Chẳng có thư từ, quà cáp, chẳng có sách báo đọc, chẳng có thuốc lá, chẳng có gì cả! Chúng tôi bị đối xử như súc vật.
Chuyện hấp dẫn nhất là trò điện thoại. Tin tức được truyền qua các vách tường dày của các phòng giam bằng một hòn sỏi lượm được buổi sáng. Phương pháp rất giản dị nhưng dài dòng: A – một tiếng gõ, B – hai tiếng, cho đến Z – 25 tiếng, chữ W không kể.
Sau nhiều tiếng gõ, những chữ rồi những câu thành hình. Người ta viết tin bằng một cây viết chì được dấu kỹ và sau mỗi lần tin tức được tẩy đi.
Thường thường khi một tù nhân mới đến một phòng giam nào đó với tin sốt dẽo, tiếng gõ lách cách bắt đầu từ tầng nầy đến tầng khác, từ phòng nầy qua phòng kia. Biết bao là tin thất thiệt và biết bao là ảo mộng!
Một buổi sáng, toàn thể bị chấn động như một tiếng nổ mạnh. Chúng tôi trở lên phòng giam được một lúc, tiếng gõ bắt đầu, ông chủ tạp hóa không bao giờ cho ai mượn mẩu bút chì, đảm trách phần ghi chép. Ông ta sửa lại kính cận và bắt đầu làm việc:
“Đổ bộ ở Gênes 1, tiến quân vũ bão ở Ba-Lan
Làm sao có thể tả được nỗi sung sướng của chúng tôi! Như vậy là cuộc đổ bộ đã xảy đến rồi, đây có lẽ là phòng tuyến thứ nhì, sau cùng người ta sắp thấy hồi chung cuộc. Tiếng gõ tiếp tục vì mọi người đều đánh đi tin vui và ta có thể hình dung niềm phấn khởi lan tràn khắp nơi. Buổi tối, giọng một phụ nữ la to hơn thường lệ: “Chào các ông” một người nào đó trả lời: “Chào các bà”. Một người khác vẫn huýt sáo miệng một bản dân ca và có tiếng hét Vạn tuế ông Râu (Slaline), ta sắp gặp họ rồi” đó là dấu hiệu đi ngủ, nhưng đêm đó, không ai chợp mắt được. Tiếng động nặng nề và đều đặn của máy bay Đồng Minh hay hàng ngày trên đầu chúng tôi đã làm chúng tôi tỉnh ngủ.
– Chúng bay về phía Nam, – Paul la lớn. Các anh thấy thông tin đó đúng, chúng yểm trợ bộ binh đổ bộ tại Gênes.
Và rồi chúng tôi lại đi vào thế giới suy đoán, nhưng có lẽ chúng tôi hơi ồn ào, vì có tiếng hừ tiếp theo là tiếng gậy đập vào cửa.
Sáng hôm sau, lúc rửa mặt, không ai có thể xác nhận bản tin hay ít ra là nói cho biết tin từ đâu đến. Niềm phấn khởi của chúng tôi vốn không bao giờ cố định, lại bị rơi rụng một lần nữa, và đến chiều hôm đó, trở thành tệ hại.
Một tù nhân thứ năm được đưa vào phòng chúng tôi, một thanh niên công giáo nhiệt tâm tại Roanne. Anh ta loan báo là tất cả những điều chúng tôi biết điều sai lạc. Không có một bước tiến nào tại Ý đáng được thông báo, và ở phía Đông, một cuộc phản công của Đức đã cho phép họ lấy lại Jitomir và họ đang tiến về Kiev.
– Tôi rất buồn khi nói với các anh như thế, nhưng đó là sự thật.
Các cuộc chuyện trò tắt ngủm, trò chơi bị buông trôi và mỗi người chìm đắm trong suy tư. Tư tưởng của tôi đột nhiên tập trung vào cuộc điều tra kiểm chứng cung từ của tôi. Những ý tưởng đó đều đặn đến trong trí tôi. Cuộc điều tra chắc đã hoàn tất; thế tại sao họ chưa đến kiếm tôi? hay là họ đã liệt tôi vào hàng tử tội chờ hành hình. Một ngày nào đó tôi sẽ được chuyển lên các phòng giam trên cao, những phòng giam dành cho các tử tội. Và rồi tôi sẽ bị đem bắn bỏ. Trên báo chí, lại xuất hiện một cáo phó quen thuộc và người ta sẽ nói: “lại một tên nữa”.
Không, không thể như thế được! Tôi tự bắt buộc phải lạc quan, và luôn luôn, giống như sau các cơn khủng hoảng, tinh thần tôi bình thường trở lại dần. Lão già Bastié đề nghị một cuộc đấu cờ đam phục thù và tái phục thù, không khí được thay đổi một chút. Một hôm vợ và con gái lão ta được phép thăm chồng và cha. Lão được gọi một cách đặc biệt, và khi trở lên, lão ta mang theo một gói đồ. Thật bối rối. Không một ai được nhân quà, vậy là ông ta được ân huệ. Chúng tôi làm như không trông thấy gì và ra cái điều bị trò chơi cờ lôi cuốn. Nhưng lão ta thì tự nhiên như không, tên già khốn kiếp, lão nhai rau ráu kẹo sô-cô-la và bánh bích qui. Ai cũng biết ông ta là tay keo kiệt nhưng không ngờ đến nỗi thế!
Sau cùng ông ta phát cho chúng tôi mỗi người một chiếc kẹo. Chiếc kẹo cho tôi gần như làm tôi uất người lên vì bất bình.
Một buổi sang, sau giờ đi dạo, lúc đó đã bắt đầu tháng 12, người ta đến báo cho anh tài xế trẻ rằng anh ta sẽ được đưa sang Đức ngay tối hôm đó. Suốt ngày bận rộn cho sự ra đi của anh ta, nào là dự đoán, nào là chương trình. Ai cũng bối rối cảm động. Đó là người đầu tiên ra đi kể từ khi tôi bị nhốt ở đây.
Anh ta lên đường vào chập tối trước khi phân phát súp; mỗi người được hưởng lợi thêm một ít súp phần của người ra đi và anh ta đã đãi chúng tôi một cách ngoài ý muốn nhân cuộc ra đi nầy.
Với bốn người, cứ luân phiên nhau, chúng tôi có thể cảm thấy thoải mái. Nhưng rồi tiện nghi đó không kéo dài được lâu. Lyon chiến đấu chống quân chiếm đóng và quân chiếm đóng mất bình tĩnh, bạ ai bắt đó. Số lượng tù nhân được viết bằng phấn trên cửa phía hành lang giúp cho quân canh kiểm soát thường trực. Chúng tôi chú ý đâu đâu cũng năm hoặc sáu người trong khi chúng tôi vẫn có bốn. Tình trạng nầy không kéo dài được lâu, và một đêm người ta nhét vào hai đứa bé con khoảng từ 15 đến 17 tuổi. Chúng tôi nhìn nhau sững sờ:
– Nhưng chúng ta sẽ bị chết ngộp mất, phải khiếu nại. Anh biết tiếng Đức hãy đập cửa và nói với họ là chắc có lầm lẫn.
Tôi trấn an lão già Bastié và nói đừng nên bao giờ khiếu nại với bọn Đức và chúng tôi không phải là những người duy nhất gặp tình trạng đó. Nhưng với sáu người, đúng là ngộp thở. Đêm đến, chỉ có năm người được nằm và phải ép sát vào nhau. Người thứ sáu phải nằm ngang qua chân chúng tôi và phải tự lo liệu lấy với chiếc thùng vệ sinh luôn luôn đầy. Vì vậy chúng tôi phải luân phiên làm người thứ sáu. Lão già Bastié vì có tuổi nên được miễn. Hai tên mới đến đều là con nhà buôn bán, lộ vẻ tự thị và ngạo mạn. Một tên tóc hung, vẻ nhìn nham hiểm, môi mỏng luôn luôn mím chặt, ai trông thấy cũng phải đề phòng, không tin được. Tên kia tóc nâu, xoắn tít, có cái miệng dầy vẻ con cưng và tự động chấp nhận ý kiến của bạn mình. Chúng chẳng biết chiến tranh là gì nếu không phải là mọi chuyện đều tốt đẹp. Sự thật là chúng không dính dáng gì đến chiến tranh và chúng hoàn toàn không biết gì về vấn đề đó. Chúng tự cho rằng thuộc đạo quân bí mật. Một tổ chức kỳ cục tên A.S, như chúng vẫn gọi, thu nhận vào hàng ngũ những người ngợm như vậy! Nhưng khi nghe chúng thật dễ trông thấy một phần thời trẻ vàng son đang chơi trò Sherlock Holmes dưới danh nghĩa kháng chiến. Chúng bị bắt trong một cuộc bố ráp được thực hiện trong quán cà-phê thuộc, quyền sở hữu của cha mẹ Gerard, tên tóc nâu.
– Chỉ có gà mên súp nầy mà thôi sao? – Chú nhỏ la lên, hôm đầu tiên, – Ồ! Nhưng thế nầy không thể kéo dài được. Các ông thanh tra Gestapo ăn cơm với mẹ tôi luôn, bả sẽ tìm ra cách gởi đồ vào cho tôi.
Jean, tên tóc hung không nói gì, hay nói thật ít. Có cái gì đó ám ảnh anh ta, và anh ta như có vẻ đầy tâm sự. Sáng hôm sau, y được gọi, một mình. Lúc trở về vào chập tối, và khi cửa phòng đóng lại, y đổ sụm người xuống chỗ trống hẹp còn lại, và lập tức chúng tôi chú ý vẻ mặt tái mét kỳ lạ nơi y. Lúc nầy hình như thần kinh rung động đang làm anh ta bị kích thích. Hẳn là chú nhỏ đã biết thế nào là cuộc thẩm vấn trong ngày, nhưng tối hôm đó, chẳng ai dám nói câu nào. Không khí nặng nề như có bão tố, và thật là một quang cảnh kỳ dị với năm cái đầu bị khích động nhìn chăm chú cái thứ sáu cũng bị khích động không kém, trong một khoảng không gian nhỏ bé thế nầy.
– Ê! Các anh nhìn gì tôi dữ vậy? – Đột nhiên hắn hét. – Ê! ở đó, tôi đã khai, nhưng trước hết, họ không cần gì đến tôi cả, họ đã có tất cả địa chỉ. – Trong khi chờ đợi, quay sang Gerard, tên tóc nâu: – tao đã lợi dụng một chút, tao đã đớp với họ ở nhà má mày, Gérard ạ. Tao đã có thể nói chuyện với má mày rồi. Bả đã nói chuyện với ông thanh tra và mày sẽ nhận được đồ vài bữa nữa.
Hắn cố ra vẻ trấn tĩnh, cười nói và lôi Gerard vào câu chuyện, nhưng không xong, một “tên điểm chỉ” trong chúng tôi!
Người ta đến kiếm hắn cách hai ngày một lần, và trong khi vắng mặt hắn, chúng tôi “điện thoại” cho nhau, khốn thay, chẳng có gì mới lạ.
Giáng sinh đã đến! Đã từ vài ngày nay lão Bastié huýt sáo bài “Nửa đêm Thiên Chúa” và vì ông ta biết cả lời ca, chúng tôi quyết định học hát để hợp ca nhân lễ Giáng Sinh. Trong khoảng thời gian nầy, mọi người tạm quên các tư tưởng, sở thích để họ hát với lão thầy của chúng tôi. Lão ta thích thú thật sự khi điều khiển chúng tôi bằng ngón tay trỏ, và bắt chúng tôi khởi sự ca, giữ đúng nhịp. Viên quản lao cho phép tổ chức một lễ cầu kinh lại căn phòng tầng trệt, một ban nữ hợp ca được phép hát. Tất cả các tiết mục đều xảy ra ở đó. Ai nấy đều tỏ ra đầy vẻ tin tưởng ngu muội, nhưng điều đó cũng giúp mỗi người nghỉ ngơi bằng yên một chút.
Lễ đã xong, người ta đến kiếm lão Bastié, lão ta được phóng thích. Lão ta biết chuyện đó từ nhiều ngày qua, nhưng không muốn nói ra sợ người ta kiếm chuyện. Thật ra, bị bắt như nhiều người chỉ vì một sự vu cáo, lão ta đã được lợi nhân cơ hội gọi là ân xá nhân ngày lễ. Chắc là lão ta phải tin nơi Chúa ghê lắm sau biến cố nầy! Lão ta chúc chúng tôi may mắn và ôm tất cả đồ đạc đi theo, để cho người con rể, lão ta nói, cũng bị bắt, và bị giam đằng kia, cùng dãy lầu.
Lão ta cho chúng tôi hai trái bôm để ăn vào sáng hôm sau ngày lễ. Suốt đêm mọi người nghe lão hát như bò rống, và ngoài buổi cầu kinh và hai trái táo cằn cỗi, tất cả quà Giáng-sinh của chúng tôi là không ai có thể tìm được giấc ngủ!
Vì trong mùa lễ, quân canh được nghỉ phép nhiều, chúng tôi được đi xuống sân nhiều hơn thường lệ. Một lần tôi nghe có ai gọi lên, giọng quen thuộc đâu đó, nhưng, tôi không nhận ra. Một hàm râu nhiều tuần không cạo và những gì còn lại của người đàn ông đều xa lạ đối với tôi.
– Anh không nhớ sao, Pierre Rouen?
– Phải, tôi đây, lúc ấy, anh có ở đó không?
– Tôi bị chộp ở Grenoble ngày 11 tháng 11, đụng độ dữ. Nhân tiện, anh hiết không, Hubert, bạn anh ở Vichy đó, anh ta cũng ở đây, trên kia, phòng l27. Không, không, đừng sợ gì cả, anh ta không bị kết án tử hình đâu. Anh ta lãnh một viên vào đùi, nó hiện vẫn còn trong ấy. Chào anh, tôi ở phòng 50, hy vọng gặp lại.
Tôi chỉ biết anh ta sơ sơ, gặp một đôi lần, và chỉ biết anh ta đảm trách việc liên lạc giữa hai “vùng”. Thật vui thú khi gặp được bạn bè trong các hoàn cảnh như vậy điều đó làm ta nhớ lại các cuốn phim, các cuốn tiểu thuyết, nhưng lúc đó đâu có gì là điên tàng. Ít nhất là ta cũng cảm thấy bớt cô đơn.
Giữa Giáng-sinh và Tết dương lịch, Jean, tên điểm chỉ cũng đã ra đi. Chúng tôi như được trút gánh nặng, ít ra là bây giờ người ta cũng có thể nói chuyện. Một người khác ở Saint Fons thế chỗ y ngay đêm đó, một công nhân ngành kim khí. Luôn có khuynh hướng xã hội ngay từ thời đấu tranh bất hợp pháp và anh ta không hề dấu giếm quan điểm của mình.
– Đối với một nhiệm vụ như vậy, anh ta kêu lên. Họ không đủ cứng đối với đảng xã hội. A! nếu từ năm 1936 trở đi chỉ có một đảng công nhân duy nhất, chuyện nầy sẽ không bao giờ xảy ra. Khi tôi nghĩ rằng từ lúc chiến tranh Tây Ban Nha bùng nổ, chúng ta được cai trị bởi một người mơ mộng và trong vụ Munich, bởi một người say rượu 2.
——————————–
vietmessenger.com
Henri Charrière
Bản dịch Thái Huy Quang
VÀNG SON xuất bản 1973
Post by Sơn râu 5 Nov 2025

Bài 24
Cuộc xét xử
Sáng hôm ấy, râu cạo nhẵn, tóc hớt gọn ghẽ, mình mặc một bộ đồ phạm nhân có sọc đỏ, chân đi giày, chúng tôi đứng trong sân đợi đến giờ được đưa ra tòa.
Chân Clousiot đã được tháo băng bột từ hai tuần trước. Anh ta đi bình thường, không bị khập khiễng.
Hội đồng trừng giới bắt đầu họp từ ngày thứ hai.
Sáng hôm nay là ngày thứ bảy, vậy trước chúng tôi đã có năm ngày xét xử các vụ khác: việc xét xử hai người cho kiến ăn tên A-rập đã choán hết một ngày. Cả hai đều bị xử tử, và từ đấy tôi không gặp lại họ nữa. Hai anh em Graville chỉ bỉ bốn năm cấm cố (vì thiếu bằng chứng về hành động ăn thịt người). Việc xét xử hai người đã kéo dài hơn nửa ngày. Trong phần còn lại, các phạm nhân can tội giết người bị xử năm hay bốn năm cấm cố.
Nhìn chung đối với mười bốn phạm nhân bị đưa ra xử, những hình phạt được ứng dụng đều có phần nghiêm khắc nhưng cũng đều chấp nhận được, không có trường hợp nào quá đáng….
Buổi xử bắt đầu lúc bảy giờ ba mươi phút. Chúng tôi đang đứng trong phòng xử thì một viên thiếu tá mặc quân phục kỵ binh lạc đà bước vào, có một viên đại úy bộ binh già và một viên trung úy đi theo phụ tá.
Ở bên phải tòa một viên giám thị đeo lon đại úy làm người đại diện cho Ban quản trị, tức cho phía buộc tội.
Hôm nay Hội đồng xét vụ Charrière. Clousiot, Maturette.
Chúng tôi đứng cách tòa khoảng bốn mét. Tôi có đủ thì giờ nhìn kỹ mái đầu dãi nắng gió sa mạc của viên thiếu tá bốn mươi, bốn nhăm tuổi ấy, với đôi thái dương ngả màu bạch kim. Một đôi mày rất rậm trên một đôi mắt đen và sáng quen nhìn thẳng vào mắt mọi người. Đó là một quân nhân thực thụ. Cái nhìn của ông ta không có gì tàn ác. Ông nhìn kỹ vào mắt chúng tôi, như thể cân nhắc, đánh giá chúng tôi trong vài giây.
Mắt tôi gắn chặt vào cái nhìn của ông một lát, rồi tôi cố tình cụp mắt xuống.

Viên đại úy đại diên cho Ban quản trị lên án chúng tôi một cách gay gắt quá mức, và chính điều đó sẽ làm cho ông ta thua cuộc. Ông ta gọi hành động đánh vào đầu mấy tên giám thị để vô hiệu hóa chúng trong chốc lát là một “cuộc mưu sát”. Về phần tên giữ chìa khóa A-rập, ông ta khẳng định rằng chúng tôi đánh hắn tới tấp như vậy mà hắn không chết chẳng qua là do một sự may mắn thần kỳ. Ông ta lại phạm một sai lầm nữa khi nói rằng chúng tôi là những tên khổ sai đã đem nỗi ô nhục của nước Pháp đi bêu riếu tận những nơi xa xôi nhất kể từ khi trại khổ sai được thành lập cho đến nay: “Đến tận Colombia. Những con người này, kính thưa quan chánh án, đã vượt qua hai ngàn năm trăm cây số để làm cái việc đó. Trinidad, Curacao, tất cả các quốc gia đó chắc chắn là đã phải nghe những lời vu khống hèn hạ nhất về chế độ trừng giới của nước Pháp.
“Tôi yêu cầu Tòa xử hai tội tách biệt với tổng số tám năm cấm cố: năm năm vì tội mưu sát, và ba năm vì tội vượt ngục. Đó là về phần Charrière và Clousiot.
Còn về phần Maturette thì tôi chỉ yêu cầu giam ba năm về tội vượt ngục, vì qua cuộc điều tra có thể thấy rõ tên này không tham dự vào cuộc mưu sát.
Quan Chánh án:
– Tòa muốn được nghe kể hết sức vắn tắt về hành trình vượt biển này”.

Tôi kể lại chuyến vượt biển đến Trinidad, bỏ qua phần trên sông Maroni. Tôi mô tả gia đình Bowen với những hành động đầy tình nhân ái của họ. Tôi dẫn lại lời viên chỉ huy cảnh sát ở Trinidad: “Chúng tôi không có bổn phận phán xét hệ thống tư pháp của nước Pháp, nhưng chúng tôi không thể tán thành việc họ đày các phạm nhân của họ sang Guyane, và chính vì thế mà chúng tôi giúp các anh”; Curacao, Đức Cha Irénée de Bruyne, câu chuyện cái túi tiền florins, rồi xứ Co-lom-bia, tại sao chúng tôi đến đấy. Vài câu vắn tắt về mấy tháng tôi ở với người Anh-điêng. Ông thiếu tá im lặng nghe tôi kể, không lần nào ngắt lời. Ông chỉ hỏi thêm vài chi tiết về sinh hoạt của tôi trong bộ lạc Anh-điêng, một giai đoạn đã làm cho ông ta hết sức thích thú. Rồi đến các nhà tù Colombia, đặc biệt là cái chuồng giam ngầm của nhà tù Santa Marta.
– Cám ơn, những điều anh vừa kể đã giúp Tòa sáng tỏ thêm và đồng thời đã khiến cho Tòa rất quan tâm. Ta sẽ nghỉ mười lăm phút. Tôi không trông thấy các trạng sư bào chữa cho các anh ở đâu cả, vậy họ ở đâu?
– Chúng tôi không có trạng sư bào chữa. Tôi xin Tòa chấp nhận cho tôi được bào chữa cho các bạn tôi và cho bản thân tôi.
– Anh có thể làm việc đó, quy chế thừa nhận quyền tự bào chữa của anh.
– Cám ơn.
Mười lăm phút sau phiên tòa lại tiếp tục.
Quan Chánh án:
– Charrière, tòa cho phép anh trình bày phần bào chữa cho các bạn anh và cho bản thân anh. Tuy nhiên chúng tôi báo trước để anh biết rằng Tòa sẽ tước quyền phát biểu của anh nếu anh tỏ ra thiếu tôn trọng vị đại diện của Ban quản trị. Anh hoàn toàn có quyền tự bào chữa một cách tự do, nhưng với những lời lẽ đứng đắn. Tòa nhường lời cho anh.
– Tôi xin Tòa dứt khoát gạt bỏ lời tố cáo chúng tôi mưu sát. Đây là một điều không thể tin được, và tôi xin chứng minh điều đó: năm ngoái tôi hai mươi bảy tuổi, còn Clousiot thì ba mươi. Chúng tôi đều đang tuổi sung sức, lại mới ở Pháp sang. Chúng tôi cao một mét bảy mươi tư và một mét bảy mươi lăm. Chúng tôi đã dùng hai cái chân giường bằng sắt để đánh người A-rập giữ chìa khóa và mấy người giám thị. Trong cả bốn người ấy không có ai bị thương tích gì đáng kể. vậy họ đã bị đánh một cách rất thận trọng vì chúng tôi nhằm làm cho họ choáng đi mà không làm cho họ bị thương, và chúng tôi đã đạt dược mục đích ấy. Viên giám thị buộc tội chúng tôi đã quên nói, hoặc không biết, rằng hai cái chân giường đều quấn giẻ rất kỹ để đừng làm ai bị thương. Quý Tòa gồm toàn những quân nhân chuyên nghiệp, nên biết rất rõ những tác hại mà một người đàn ông khỏe mạnh có thể gây ra khi đánh vào đầu một người khác, dù chỉ bằng má lưỡi lê. Thế thì xin Tòa hình dung với một cái chân giường bằng sắt một người đàn ông như chúng tôi có thể làm gì. Tôi xin lưu ý Tòa rằng trong bốn người bị tấn công không có ai phải vào bệnh viện.
Tôi nghĩ rằng khi một người tù chung thân vượt ngục, tội của người ấy không nghiêm trọng bằng tội của một người bị xử tù ngắn hạn hơn mà vượt ngục. ở tuổi chúng tôi người ta khó lòng có thể đành tâm chấp nhận rằng mình sẽ không bao giờ được sống lại nữa. Tôi xin Tòa khoan dung với cả ba chúng tôi.
Viên thiếu tá nói thì thầm mấy câu với hai người phụ tá, rồi ông dùng cái búa của Chánh án gõ lên bàn giấy.
– Bị cáo nhân, hãy đứng dậy
Cả ba chúng tôi đứng lên, thẳng đơ như ba cái cọc, đợi lời tuyên án.
Quan Chánh án:
– Tòa gạt bỏ hoàn toàn lời buộc tội mưu sát; về khoản này tòa không cần tuyên án, dù là tuyên án tha bổng.
Về tội vượt ngục, các anh được Tòa thừa nhận là có tội ở mức thứ hai. Vì tội này Tòa xử các anh hai năm cấm cố.
Chúng tôi cùng nói một lượt: “Cám ơn thiếu tá”.
Tôi nói thêm: “Xin cám ơn Tòa”.
Trong phòng xử án, những tên cảnh sát đến dự phiên Tòa cứ ngẩn người ra.
Khi chúng tôi trở về phòng giam, mọi người đều hài lòng về tin này, không ai ganh tỵ. Ngược lại. Ngay cả những người bị xử nặng cũng thành thật mừng cho sự may mắn của chúng tôi.
Francois Sierra đến ôm hôn tôi. Anh ta mừng đến phát điên lên được.
Trạch An – Trần Hữu Hội
Giao Chỉ xuất bản 2017
Post by Sơn râu 5 Nov 2025

Phần 6 – Giáng Sinh
Thủ mở cửa đẩy chiếc xe ra, chân anh đau như có ái đó lấy kẹp mà kẹp cả bắp chân. Nhìn lề dường trước mắt đất đá lổm chổm, cao như ngọn đồi mà ngao ngán. Con đường Quốc lộ đang đi lại được, tự dung cày ra, đổ đá, đổ đất từng ụ cả năm nay rồi để vậy, không biết bao giờ mới chịu làm! Thùy nhìn anh nhăn nhó, nói:
– Mười giờ đêm rồi, hay để sáng mai lên thăm anh ấy cũng được, đằng nào cũng chết rồi!
-Tội nó quá!
Thủ nói rồi đẩy lùi chiếc xe vào lại nhà.
Hơn hai mươi ngày nay, chân phải anh đau kinh khủng, cơn đau bắt đầu từ bắp chân, lan lên tới mông, mỏi như muốn kéo rị người anh xuống giữa nển nhà! Đêm nằm ngủ, phải ngủ nơi salon, thòng chân phải xuống mới đỡ đau! Bác sĩ chẩn đoán là đau thần kinh tọa, chích thuốc cả mười lăm ngày không giảm, bèn chích Terneurin vào bắp chân, không giảm được cơn đau mà còn đau hơn!
Cuốc điện thoại vừa rồi của Sáng, một người bạn thân báo tin Hướng vừa chết, có lẽ do trụy tim làm Thủ nghẹn ngào. Mới chiều nay, Hướng ghé thăm anh, thất thểu bước vào nhà với túi đồ nghề làm mộc, uể oải buông người xuống salon than thở:
-Cúp điện dài dài thế này làm không đủ tiền nuôi con! Thủ nhìn lên cái quạt trần vẫn xoay:
-Đâu có cúp!
-Tao gắn cửa cho ông Tá trong xóm, trong đó cúp toàn bộ. Mày đau sao vậy?
-Cái chân mấy năm nay đau âm ỉ, mấy hôm nay trở nặng, thần kinh tọa hay sao ấy!
-Sao không đi châm cứu?
-Tao ghét cái màn nằm ẹp chờ, ngày nào cũng vậy! Đang chích thuốc, không biết có đúng bệnh không mà chẳng thấy khá hơn chút nào!
Hướng lấy cái mũ vải trên đầu lau mặt, thở dài:
-Con với cái, hai đứa đang học Cao đẳng, bỏ ngang thị lại Đại học, nói không chịu nghe. Nó đậu thì mình chết!
-Sao vậy?
-Muốn vay lại tiền vay dành cho sinh viên thì phải trả tiền vay cũ, sau đó mới được vay lại cho khoản mới. Nó biết mình khổ, cứ học tạm Cao đẳng, sau này ra trường đi làm rồi liên thông Đại học thì đỡ mình biết mấy!
-Nó cũng sỉ diện với bạn bè, trả tiền cũ là bao nhiêu?
-Ba chục triệu hơn, cả hai đứa!
Thủ nhìn bạn mà thương xé lòng! Dĩ nhiên không vì một việc này mà Hướng bị trụy tim, nhưng cái nghèo, cái lo âu lâu nay thường trực trong lòng làm cho con tim ngày càng yếu! Trời vừa hửng sáng, Thủ uống vội chén trà rồi cố kìm cơn đau, chạy xe lên nhà Hướng. Anh đứng ngay cửa nhìn vào trong. Hướng nằm như đang ngủ trên chiếc giường kê giữa nhà, Khuyên, vợ của Hướng và bốn đứa con ngồi khóc rấm rức. Anh ngồi xuống nền nhà, ôm xác bạn mà khóc, anh hét lên: Hướng ơi, Hướng ơi!
Anh kêu tên bạn, trong lòng anh như trút tất cả nỗi uất ức giận hờn lên sự nghèo khó!
Khuyên cùng bốn đứa con nhào tới, ôm chồng, cha, khóc như mưa. Hướng vẫn nắm với gương mặt thanh thoát vô ưu. Thủ cảm thấy được hơi ấm từ thi thể của Hướng, anh ôm ghì bạn, nói trong thổn thức:
-Khốn khổ chi rồi cũng qua được, như bao năm nay đã qua, sao mày không ráng thêm vài năm nữa hở Hướng!
Anh ngồi như thế, nói với các con của bạn:
-Từ nay không còn Ba, mọi khó khăn đổ lên vai mẹ, các cháu cố gắng chấp nhận thiếu thốn, vượt qua cho được mấy năm học, Cao đẳng hay Đai học gì cũng được. Không có quyền chậm trễ năm nào cả nhé!
Cả bốn đứa lớn nhỏ “Dạ” rồi khóc. Đứa lớn nắm lấy cánh tay Thủ kéo anh dậy, dìu anh ngồi vào chiếc ghế gỗ. Bạn bè hôm qua thức khua cùng Hướng, gần sáng chạy về nhà một lát giờ đã lục tục kéo đến. Thủ cà nhắc ra ngồi với bạn.
Phùng, một người bạn hay đùa, nói:
-May nhà nghèo! Không có đồ đạc gì phải dọn dẹp bên trong, lát nữa gom mấy chậu bông ra sau nhà cho trống chỗ này đi là được!
Hai ngày nay chân Thủ đau hơn, nằm ẹp trong nhà, không lên thăm lại Hướng, sáng nay cũng không đưa bạn ra nghĩa địa được, Thủ lẩm nhẩm:
-Mày đi đi, con cái nó có số phần của nó, linh thiêng thì phù hộ cho nó khỏe mạnh. Mày đi sướng hay ở lại như tụi tao sướng hơn, chỉ mày có thể biết! Hồi chưa đau cái chân, tao mơ ước lo lắng đủ điều, giờ đau quá, tao mong đổi tất cả những gì có được, lấy cái khỏi đau thôi Hướng ơi!
Thùy, vợ của Thủ sáng đi đám tang, xong ghé thăm bên nhà ngoại về, vừa vào nhà vội vã hỏi:
-Chị Mai tới chích thuốc chưa?
-Chưa, chắc phải đi Sài gòn em ạ, anh đau lắm!
-Anh uống cái này xem có bớt đau không đã rồi tính.
-Cái gì vậy?
-Có thể anh bị hơi. Mấy người đi liệm xác chết về, thường xông và uống cái này.
-Ở đâu mà có vậy em?
-Em lên trên làng, nói chuyện anh đau, họ cho đó.
Thùy với xem chai rượu, còn một ít. Mấy ngày nay đau quá, anh bảo chị mua cho anh lít rượu. Khi đau thì anh uống ực một ly, có khi hai ly nhưng cũng chỉ êm êm được một lát rồi đau như cũ!
Chị trút gói giấy vào chai, bột gì trăng trắng, lắc mạnh rồi rót ra ly đưa cho Thủ. Anh uống vào gờn gợn ở lưỡi, có mùi như long não.
Thùy vào phòng thay đồ xong, đem cho Thủ tô bún mua dọc đường, anh ăn chầm chậm, có vẻ ngon miệng, không thấy ngán như mọi khi. Thùy cũng mừng.
Chưa được mười phút, anh nôn thốc tháo ra giữa nhà. Chị vuốt lưng anh rồi ra múc đầy thau nước, nhúng khăn lau mặt, lo lắng hỏi:
-Anh thấy trong người ra sao, mệt lắm không?
-Không sao đâu em!
Thùy lại đi thay thau nước, Thủ nôn nhiều hơn, anh với tay lấy chai dầu nhưng mắt hoa lên, không nhìn thấy gì, vừa lúc Thùy trở vào, thấy tay anh quéo lại, mắt trợn trừng, chị hét lên: Anh Thủ! Rồi chay ra xô mạnh hai cánh cửa hét lớn:
-Chương ơi, chị Lan ơi, anh Thủ bị tai biến!
Chị hét như vậy, không biết có ai nghe thấy không, hai tiếng “tai biến” làm chị liên tưởng tới bài đọc cách sơ cứu người trong trường hợp này, chị vừa khóc vừa vào phòng lấy cái kim may, đặt anh nằm xuống salon, chích mấy đầu ngón tay, ngón chân rồi hai dái tai. Chị lại chạy ra cửa hét.
Chương là hàng xóm sát nhà, nhưng là nhà sản xuất bánh kẹo nên lu bu đằng sau, nghe được liền chạy qua, hắn không cần hỏi han, kêu lớn qua quán cà phê phía đối diện:
-Có đứa nào bên đó qua phụ tao đưa anh Thủ đi cấp cứu với.
Hàng xóm và khách uống cà phê chạy qua nhà, Chương bồng ngang người Thủ, nhảy lên xe của một thanh niên, một người khác chở Thùy chạy theo.
Bệnh viện huyện xem qua, Huyết áp 190/90. Họ cho anh uống thuốc, anh tỉnh dần, rồi chuyển về bệnh viện tỉnh theo yêu cầu của Thùy với câu ghi: Nghi ngộ độc rượu, huyết áp tăng. ( người bệnh nhân nồng nặc mùi rượu!).
Oan cho anh, 17 năm không uống rượu vì bị ngộp tim, hôm nay uống hai ly, bị ói, bệnh án ghi như anh là một tay bợm!
Chân anh đau buốt, anh nói với Chương khi xe còn đợi làm thủ tục chuyển viện:
-Mồi cho anh diếu thuốc rồi bóp bắp chân cho anh với, đau lắm!
Chương mồi thuốc, vừa bóp vừa vuốt bắp chân, tay Chương mạnh nên đau lắm nhưng anh không dám nói. Một lát, nhớ là nhà không có tiền, anh nói với Chương:
-Chú về trước, chuẩn bị cho anh mượn ít tiền, chừng mười triệu, xe đi ngang đưa cho chị!
-Có cần em đi theo xuống bệnh viện không?
-Không cần, có gì thì chị gọi về. Chú cho anh gởi nhà.
Chương dạ nhỏ rồi đi. Là hàng xóm, sát vách nhau hơn hai chục năm, coi nhau như anh em. Chương làm ăn khá hơn, thiêu thốn tiền nong Thủ mượn đỡ nơi Chương. Con của Chương thương Thủ như bác ruột. Hồi các con của Thủ chưa vào Sài gòn học và đi làm, chúng như anh chị em với nhau. Tối ngủ chung, râm ran chuyện trò. Mấy năm nay bốn đứa con anh vào học và làm việc trong đó, ở nhà chỉ hai vợ chồng, anh dự tính năm tới chị về hưu sẽ chuyển vào ở với con.
Khi xe dừng lại trước nhà, Chương đưa tiền cho Thùy, Thủ nằm trong xe không thấy được nhưng anh nghe nhiều lời chào, chúc anh mau khỏe, có lẽ hàng xóm và bạn bè cũng đợi chào anh.
Về đến Bệnh viên Tỉnh. Bác sĩ, sau một hồi siêu âm tim và bụng, xem lại bệnh án hỏi:
– Chú uống có nhiều rượu không?
– Chú chỉ uống hai ly, không phải Huyết áp, Tim và ngộ độc đâu cháu. Chân phải chú đau lắm, hơn hai mươi ngày các Bác sĩ trên phòng y tế chích thuốc mà vẫn đau. Cháu xem dùm chú với!
– Đau chỗ nào chú?
– Đau nhất là bắp chân.
Bác sĩ trẻ siêu âm từ dưới bụng, dọc theo chân phải, chân trái, kết luận nhanh chóng:
– Chú bị tắc nghẽn đông mạch chi dưới rồi, chú hút thuốc nhiều không?
– Chừng hai gói mỗi ngày.
– Cũng nhiều nguyên nhân gây tắc động mạch, nhưng chú coi bõ thuốc lá đi. Chắc là phải chuyển chú vào Sài gòn, trong đó mới điều trị hoặc phẫu thuật thông động mạch được chứ ở đây không có đều kiện.
Lần đầu tiên Thủ nghe đến bệnh này.
– Có nguy hiểm lắm không cháu? Ý chú là có cần chuyển ngay không?
– Tính mạng thì không nguy hiểm gì nhưng giải quyết sớm thì tốt hơn.
– Ngày mai Chủ nhật, 20/11. Các con chú về thăm mẹ và thầy cô giáo. Chú muốn về nhà gặp các cháu rồi thứ Hai vào Chợ Rẫy cùng các cháu luôn được không, phương tiên chú tự lo?
– Cũng được, nếu đau quá chú uống thuốc giảm đau. Bệnh này đau lắm!
– Chú cảm ơn cháu. Cháu ghi cho chú loại giảm đau nào dùng được nhé.
.Bệnh viên Chợ Rẫy sau khi thăm khám, Thủ được đưa vào khoa “Lồng ngực và Mạch máu”, nằm ở lầu năm. Uống và chích thuốc mười hai ngày nhưng không tiến triển gì. Các bước siêu âm và chụp xi ti cũng đã làm xong nhưng cứ chờ làm Thủ chán nản! Cái mụt ở chân như muốn lở to ra thêm. Tối lại, đau quá anh ngồi, gần như cả đêm không ngủ.
Sáng nay, khi đứa em đưa anh đi vệ sinh về phòng, ngang qua bảng thông báo, anh thấy tên mình nằm trong số bệnh nhân chuẩn bị phẫu thuật thông mạch máu. Khi bác sĩ vào thăm bênh buổi sáng, anh hỏi:
-Chú phẫu thuật thông hai chân hay một chân vậy cháu?
-Chắc hai chân, chú tắc nhiều lắm. Hôm nay đi siêu âm tim lại.
Đã siêu âm tim một lần, bây giờ lại siêu âm tim. Từ phòng siêu âm về, không có thông bào gì về tim mà chỉ biết là chuẩn bị chuyển qua Khoa Tim, Thùy cùng các con anh lo lắng lắm nhưng không biết hỏi ai.
Khoa lồng ngực mạch máu ít bệnh nhân, qua khoa tim thì quá tải đến không có chỗ nằm, Thủ nằm chung giường với hai bệnh nhân khác, Thùy nằm ở sàn nhà, dưới giường, trải tấm chiếu nhỏ! Một bệnh nhân chung giường cho biết là có hai mươi lăm người bị tim ở bệnh viện Trà Vinh chuyển lên, theo một chương trình gì đó, hai tuần rồi chưa mổ được nên phòng chật. Họ có vẽ ốm nhưng không yếu, ăn uống, chuyện trò đùa cợt râm ran, náo loạn cả phòng!
Gần chiều, một Bác sĩ trẻ vào gọi tên Thủ rồi nói ngắn gọn:
-Chú chuẩn bị đóng 90 triệu, mai phẫu thuật. Thủ ngạc nhiêu hỏi lại:
-Phẫu thuật tim hay chân vậy cháu?
-Mổ tim.
Quá ngạc nhiên anh bật cười nhìn bác sĩ không nói gì. Bác sĩ trẻ nhìn anh nói trước khi ra khỏi phòng:
-Sẽ có Bác sĩ lớn tuổi đến nói chuyện với chú!
Lát sau, một bác sĩ trạc 50 tuổi, đến nhìn anh chằm chằm nói:
-Bệnh của anh thì đóng 90 triệu, mai mổ tim, sau đó cắt chân phải, hết!
Thủ cười gằn ngạc nhiên với thái độ của vị lương y, không biết ông này đem nổi bực dọc ở đâu, đến đây trút lên anh!
Một bệnh nhân trong số chờ phẫu thuật lên từ Trà Vinh hỏi to, tức tối:
-Tụi tôi chờ nữa tháng nay, đã nhổ răng, khám, siêu âm đủ cả rồi mà chưa mổ, chú này mới vào, đóng tiền mai mổ là sao?
-Ông này một mình, còn quý vị thì đông, lên lịch làm một lần nên phải chờ.
Bác sĩ đi rồi, Thùy nhìn anh rươm rướm nước mắt:
-Chạy đâu cho ra ngần ấy tiền đây anh?!
Nếu con đường trước mặt nhà không làm lại, nâng cao lên, thì vợ chồng Thủ không đến nỗi thiếu thốn, 90 triệu hay nhiều hơn cũng có thừa để lo, nhưng vừa qua anh dốc tất cả những gì dành dụm được lâu nay, sửa sang, nâng nền nhà lên cho bằng đường nhựa, thế là hết. Nhà vừa hoàn tất đúng một tháng, anh trở bệnh! Thủ trấn an vợ:
-Em đừng lo. Chờ anh chút.
Thủ gọi điện cho đứa cháu ngoại, đang là bác sĩ khoa thần kinh bệnh viện Phan Thiết, nó tốt nghiệp hệ chính quy cũng đã lâu, hôm nhập viện, nó muốn vào gởi gắm với các đồng nghiệp nhưng anh không muốn. Nghe qua, cháu anh nói:
-Mổ tim khó khăn ở chỗ hậu phẫu, xuất viện rồi cậu về lại Ninh Thuận xa quá, khó theo dõi, có gì vào lại cũng quá chậm. Theo con, cậu bị thế này đã lâu. Tim cũng có thể đã thích nghi, nếu giải quyết được các chỗ tắc nghẽn thì tim sẽ được cải thiện dần. Cậu từ chối phẫu thuật tim rồi xin phẫu thuật thông mạch chân lại thử xem bênh viên có chịu không!
Bênh viên không chấp nhận yêu cầu của anh. Thủ có ý định đến các bệnh viện tư, hy vọng họ có thể giải quyết, và dù tư nhân hay Chợ rẫy. cũng phải có thời gian để chạy khoản tiền quá lớn đối với kinh tế của Thủ. Anh nói với Thùy:
-Em nói với con xin xuất viện đi, về nhà rồi tính!
Đứa con gái lớn của anh vào trọ học ở Sài Gòn mấy năm nay, rồi các em cũng vào, nó khá nhanh nhạy với các việc gia đình, từ hôm anh vào viện, mọi thủ tục đều giao cho nó…Thùy nhìn anh lo lắng:
-Lỡ có chuyện gì thì sao anh?
-Chỉ có những cơn đau chân là đáng lo, nhưng giờ anh biết là cứ thuốc giàm đau mà uống, có ảnh hưởng về sau thì cũng chưa là bây giờ. Về ngoài mình, tính toán chuyện tiền nong rôi vào lại sau em ạ.
Nói với vợ như vậy nhưng trong lòng anh cũng lo lắng không kém. Với 90 triệu đồng cho ca phẫu thuật thì chỉ có bán nhà đi chứ khó xoay xở đâu ra. Chương hay bạn bè có giúp, cho mượn thì cũng chỉ vài chục triệu, tiền làm
ăn có dư nhiều đâu. Còn chuyện trả lại nữa! Bán cho được nhà thì biết đến bao giờ!
Từ hôm đi bệnh viện đến nay, Trung, đứa em cột chèo giao việc nhà cho vợ, theo anh vào Sài gòn, túc trực thường xuyên lo cho anh, từ chuyện vệ sinh đến đẩy xe đưa đi siêu âm, thử máu…Không có xe đẩy, Trung ẵm, cõng anh đi. Bây giờ sắp lễ Giáng Sinh, chú ấy lại là lo việc Giáo xứ, không lẽ vì mình mà mất cả niềm vui. Thủ lại gọi cho con gái, bảo con xin xuất viện!
Lo xong thủ tục thì cũng đã chiều, bệnh nhân chung giường với Thủ, ở Nha Trang, nhập viện mười ngày nay, chờ phẫu thuật. Ban ngày về nhà con gái, tối đến ngủ ở bệnh viện. Thấy tình trạng bệnh của Thủ nói:
-Ở Nha Trang, có một ông thầy thuốc Nam, trị bệnh tắc đông mạch rất hay. Xóm tôi có bà bị bệnh này, châm tím hết rồi mà uống chỉ ba chai thuốc nước, loại chai ba xị, là hết đau.
Thủ mừng lắm, níu lấy ông ta hỏi:
-Anh có địa chỉ hay số điên thoại không, giúp tôi với!
-Để tôi gọi về cho con tôi, nhờ nó chạy tới hỏi. Nói rồi ông gọi ngay cho con, lát sau anh có trong tay địa chỉ và số điện thoại của cơ sở thuốc Nam. Thủ nói với Thùy:
-Mình đi thẳng ra Nha Trang tối nay luôn em ạ. Em nói Trung và con chuẩn bị đi.Tiền bạc thế nào em?
Thùy gọi con gái, hỏi. Con gái anh đếm tiền trong túi, rồi mở mấy bì thư mà bạn bè anh đến thăm, nói với Thùy:
-Tất cà tiền mẹ mượn chú Chương và bạn ba, bạn mẹ… thăm cho quà là 29 triệu, con thanh toán viện phí và mua thêm thuốc về nhà còn 22 triệu mẹ ạ.
Thùy nhìn Thủ:
-Không biết có đủ cho tiền thuốc Nam không!?
-Anh ấy bảo thuốc rẻ lắm!
Thủ vào bệnh viện Chợ Rẫy mười mấy ngày. Hôm đi, tiền nhà và mượn thêm Chương nữa chỉ 15 triệu. Ăn uống và sinh hoạt, viện phí đủ là quá mừng.Anh cảm ơn bạn bè, nghe tin anh nằm bệnh viện, đã thông bào cho nhau đến thăm. Biết anh khó khăn về tài chính, bạn nào cũng giúp, nhờ vậy anh bớt buồn và có tiền trang trải cho sinh hoạt.
Xe ra Nha Trang là xe giường nằm, nhưng vì không nằm được, Thủ ngồi suốt đêm. Cứ một giờ hay hơn chút thì anh uống một bịch sữa rồi nuốt một viên giảm đau! Khó khăn phiền toái nhất là chuyện vệ sinh, Trung cõng anh lên xuống xe, vào nhà vệ sinh dọc đường nơi các trạm dừng thật vất vả!
Đến Nha Trang, ngồi trên taxi Thủ gọi điện cho thầy thuốc Nam. Vào nhà, ông ấy như đang chờ.
Khi xuất viện, vết lở ở bàn chân chỉ bằng hai ngón tay, thấy khó nhìn nên anh đắp một miếng gạc lên vết thương, khi ông thầy gở miếng gạc, da dính theo thành một đám loét lớn bằng cả bàn tay! Xem vết thương và sờ xem bắp chân, ông thầy nói:
-Thuốc của tôi chỉ làm thông mạch cho máu xuống chi. Vết thương này anh phải dùng kháng sinh để chữa. Phải kháng sinh loại mạnh đó!
Thủ hơi thất vọng nhưng anh nghỉ nếu thông được mạch máu, thì chuyện chữa vết loét bằng kháng sinh chắc không khó. Thầy thuốc bán cho anh một tháng thuốc, thuốc viên chứ không phải thuốc nước như người bệnh chung phòng nói.
-Anh uống hết số thuốc này thì bệnh giảm, đây là tài khoản và số diện thoại của tôi, muốn lấy thêm thuốc thì cứ chuyển tiền vào tài khoản, tôi sẽ gởi xe đò đưa thuốc vào cho anh.
Từ nhà thầy thuốc, Thùy thuê xe taxi vào thẳng nhà. Mới mười mấy ngày mà Thủ thấy như cả năm. Hàng xóm, bạn bè đến thăm liên tục làm anh vui, nhất là niềm hy vọng vào thuốc Nam mà anh sẽ uống! Buồn cười nhất là bạn anh, số hút thuốc nhiều, cứ đưa chân cho anh xem rồi lo sợ căn bệnh “lạ” này! Thủ đùa:
-Đứa nào hút in ít thì không sao, còn nếu hút cỡ một gói một ngày thì coi chừng!
Bạn anh phần nhiều thuộc loại nhả khói như chiến hạm, có đứa nói liều:
-May, tao hút hai gói nên ngoại lệ rồi, ung thư phổi mau chết hơn!
Đã nghe vọng đến tiếng nhạc Giáng sinh. Anh về nhà đã hơn mười ngày. Hằng ngày, buổi sáng, Thùy làm vệ sinh cho vết loét rồi đắp một miếng gạc, xong xuôi mới đi dạy. Anh uống thuốc Nam, cách giờ uống thuốc Tây chừng hai tiếng. Kháng sinh và giảm đau, bao tử anh đã có dấu hiệu đau, nhưng chẳng biết phải làm sao!
Sáng nay, sau khi làm vệ sinh xong, Thùy nói như reo:
-Anh sờ bắp chân xem, hình như âm ấm chứ không lạnh như mọi khi! Thủ sờ xem nhưng không nhận ra. Thùy quả quyết trong nỗi mừng vui:
-Em thấy ấm lên thật mà, đễ em gọi Trung xuống sờ xem.
Trung nghe Thùy gọi, tất tả chạy xuống sờ chân Thủ, chần phải rồi chân trái:
-Em thấy có nóng hơn đó anh, hy vọng uống thuốc này một thời gian nữa thì máu xuống chân tốt.
-Mấy hôm nay chú làm gì?
-Về tới nhà là có việc ngay, em đang phụ làm máng cỏ và trang trí cho nhà thờ! Anh tính sao cái vụ mổ tim?
-Quên nó đi, ngoài “khả năng chi trả” của mình rồi thì nghỉ chi cho mệt. Trung cười, chỉ lên trần nhà:
-Phú cho Trời thôi!
-Anh Thủ!
-Gì vậy em?
Thùy trợn tròn mắt chỉ vào vết thương:
-Anh xem phải giòi không?
Thủ cúi gần hơn, nhìn chăm vào vết loét, có cái gì trăng trắng nhúc nhích, anh nhờ Thùy lấy cái kính, nhìn kỹ, đúng là giòi!
Thùy lấy bông thấm nước muối lau qua lại vết thương, thở dài:
-Thuốc kháng sinh không tác dụng, làm sao đây anh? mấy hôm nay em nghe có mùi hôi nhưng không nói!
-Anh cũng biết, để anh gọi nhờ Dũng xem sao.
Dũng là bạn của Thủ, Học Đại học Y khoa Huế, Tốt nghiệp năm 1979, bị chuyển lên Kom Tum, Dũng không tuân theo bố trí nên không được cấp bằng. Anh về địa phương hành nghề lâu nay nhưng không mở phòng mạch.
-Alô, mình nghe đây Thủ.
-Dũng đang ở đâu, ghé nhà mình chút được không?
-Chờ 15 phút, chuyền xong chai nước mình ghé lại.
-Cảm ơn Dũng, mình chờ nghe.
Dũng nhìn vết thương, ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
-Máu không xuống được bàn chân nên thuốc kháng sinh không đến được vết thương, tác dụng của thuốc rất ít, mình rất ngại hoại tử nặng dẫn đến nhiễm trùng máu, hay là vào Sài gòn lại đi!
Nghĩ đến niềm vui Giáng sinh của đứa em cột chèo, Trung. anh hỏi:
-Có chờ thêm được vài ba hôm không Dũng, qua Noel?
-Minh sợ không được, như thế này là nặng rồi! Thủ nhìn Thùy, như muốn hỏi ý. Thùy dứt khoát:
-Đi ngay tối nay thôi anh. Anh gọi Kháng hiệu trưởng, xin phép cho em.
Em gọi Trung báo cho nó biết.
-Tội chú ấy quá, còn ba ngày nữa là Giáng sinh rồi!
Cả Thùy và Thủ cùng im lặng, lát sau, Thủ nói như dò ý Thùy:
-Em, anh quyết định tháo khớp chân! Chấp nhận cụt chứ cứ loay hoay thế này có vẻ bế tắc, lo lắng mãi!
-Anh cụt một chân sao?!
-Anh thấy nếu điều trị thì lâu lắm, vào ra Sài gòn tốn kém, thêm phần lo lắng không yên, chưa nói đến chuyện có thể chửa hoài không khỏi! Con cái thì chỉ bé út là còn tốn kém, sang năm em về hưu thì có mấy đứa lớn lo cho nó, mình còn cái nhà, bán đi vào với các con, mắm muối qua ngày cũng được! Từ hôm bệnh đến giờ, em và các con vất vả. lo lắng. buồn phiền quá rồi, cụt một chân còn hơn là chết, anh sẽ làm những gì có thể làm với cái chân như thế, nghe em!
Thùy chưa hề nghĩ đến chuyện Thủ phải mất đi cái chân, hình ảnh Thủ tật nguyền chưa hề đến trong đầu chị bao giờ, nhưng con giòi xuất hiện sáng nay ở vết thương và nỗi lo sợ nhiễm trùng máu dẩn đến cái chết làm chị thấy nhẹ nhàng hơn khi Thủ đưa ra quyết định đột ngột này.
-Tháo khớp thế nào anh?
-Tháo khớp từ gối xuống, minh làm ở bệnh viện tư. Anh sẽ hỏi, tiền bạc hôm về nhà đến giờ bà con, bạn bè cho thêm cũng đủ, nhưng anh vẫn gọi vào cho cháu Vinh, phòng hờ nếu thiếu, nó lo giúp rồi sau tính lại.
Thủ lấy chiếc điên thoại xem lại tài khoản, còn kha khá, anh gọi cho một Bác sĩ ở Bệnh viện Hồng D. , Bác sĩ này anh quen khi con gái anh bị tai nạn, phẫu thuật bắt ốc ở ống chân. Bác sĩ trả lời:
-Chuyện tháo khớp gối không khó khăn gì, nhưng cháu đề nghị chú vào trực tiếp, khám rồi giải quyết chú ạ. Tình hình vậy thì nên vào sớm chừng nào tốt chừng đó. Chú cứ vào thẳng phòng cấp cứu của bệnh viện rồi gọi cho cháu.
Từ khi đi bênh viện, rồi tứ bệnh viện trở về, tư tưởng phải vào lại Sài gòn lúc nào cũng sẵn trong đầu Thủ và Thùy nên việc chuẩn bị không mất nhiều thời gian. Trung, với cái túi xách vào nhà trước giờ xe chạy chừng một tiếng. Thủ nhìn đứa em nói:
-Khổ cho chú quá, anh làm chú cực!
Xe vào đến sài gòn trời cũng vừa sáng, Trung gọi taxi, Thùy, Thủ và đứa con gài lên xe về Bệnh viện Hồng D., Vẫn chưa đến giờ làm việc, anh gọi cho bác sĩ quen, chừng 15 phút sau thì bác sĩ đến. Xem vết lở ở chân xong, bác sĩ lấy một cái túi nilon bao vết thương lại rồi gọi con gái anh vào trong:
-Với vết thương của chú thì không chỉ tháo khớp gối mà phải cắt bỏ trên gối! Bệnh viên Hồng D. làm được nhưng việc xử lý cái chân thải theo nguyên tắc môi trường thi không được phép, bây giờ cứ qua bệnh viện 115, sẽ có bác sĩ đón ở phòng cấp cứu. Vấn đề quan trọng nửa là làm công tác tư tưởng cho chú, làm sao để chú đứng quá sốc khi tỉnh dậy thấy mình bị mất một cái chân, đã có trường hợp hét la náo loạn, làm bậy…rất nguy hiểm!
Thùy nghe con nói lại, nhìn Thủ. Chị biết không hề có chuyện đó. Thủ đã tự ý chấp nhận mất cái chân trước khi vào đến đây. Xe taxi lại đưa Thủ qua bệnh viện 115. Đúng là có bác sĩ đón ở phòng cấp cứu.
Thủ kìm tiếng rên vì những cơn đau liên tục, anh muốn thiếp đi nhưng hôm nay lại có một số sinh viên thực tập. Họ mở bao nilon, cố chịu mùi thối, xem, chụp hình…dưới sự hướng dẫn của Bác sĩ giảng dạy, cũng là trưởng khoa “Lồng ngực và mạch máu” của bệnh viện.
Chừng 02 giờ chiều, Thủ được đưa đi siêu âm tim. Mấy tiếng sau thì bác sĩ gọi Thùy thông bào:
-Hoại tử nặng quá, không thể chờ qua đêm nay vì khả năng nhiễm trùng máu rất cao, đã nhiễm trùng máu thì rất khó chửa trị, chỉ có cách cắt bỏ phần chân bị tắc. Nhưng khó khăn là tim rất yếu, phẫu thuật cắt bỏ chân với tình trạng tim như vậy cũng rất đáng lo. Quyết định bây giờ tùy vào gia đình, chị bàn bạc rồi ký vào giấy đồng ý phẫu thuật hay không!
Thùy trở lại phòng cấp cứu, chị nhìn Thủ thật lâu rồi nói lại lời bác sĩ.
Thủ nắm tay Thùy:
-Cứ phẫu thuật đi em, bác sĩ khi nào cũng tính chuyện chắc ăn. Em và các con cầu nguyện xin bình an cho anh. Nếu phải chết trong khi phẫu thuật thì cũng đừng quá buồn, tin vào số phần của anh chỉ đến thế!
Các con anh đều có mặt, các cháu ở Sài gòn cũng đến thăm. Tất cả xúm quanh anh, khóc thút thít. Thủ đùa với Trung, cũng cho cả nhà bớt buồn:
-Chúa Trời đang bận lo sinh quý tử, không rảnh mà phán xét anh đâu! Trung cười đùa thêm:
-Đúng rồi, giờ này các Thiên thần đang tập hát, lôi sổ sách ghi công ghi tội ra rách việc lắm, cho qua!
Hộ lý bệnh viện đẩy chiếc băng ca nhôm sáng bóng đến. Trung ẵm anh qua, cô hộ lý nói:
-Thân nhân đi theo lối khác đến phòng phẫu thuật, có phòng chờ ở đó. Thùy vuốt tóc trên trán Thủ nói nhỏ:
-Trước khi vào phòng phẫu thuật, anh nhớ cầu nguyện lại.
Thủ nhìn Thùy, anh mỉm cười. Không rõ từ đâu, từ niềm tin nào, anh không tin mình sẽ chết:
-Ừ, anh nhớ!
Thủ đau đớn nằm trên chiếc băng ca rời phòng phẫu thuật. Thời gian phẫu thuật khá nhanh, thuốc mê cũng tan sớm. Phóng hậu phẫu đông đúc vì tai nạn giao thông vào những ngày sắp giáng sinh. Tiếng rên la náo loạn xung quanh làm Thủ chán nản. Anh không chết, con tim anh đã ngoan ngoãn nằm im, anh sờ xuống phần thân thể còn tê buốt, cắt khá cao, đau quá anh thử ngồi dậy, có phần đỡ đau hơn! Thì ra bác sĩ phẫu thuật đã băng chặt quá, khi ngồi dậy phần bắp vế anh đỡ bị ép, bớt đau. Anh ngồi như thế cho đến sáng, trông dùm những chai nước truyền cho bệnh nhân gần mình. Có người hết thuốc, máu chảy ngược về chai, anh hốt hoảng gọi cho y tá trực! Chừng hai tiếng sau, anh đau ước chừng không chịu nổi, gọi y tá hỏi:
-Cháu cho chú thuốc giảm đau với, đau quá! Y tá đến xem bệnh án, trở vào nói:
-Chú còn một bình giàm đau nhưng ba giờ sáng mới chuyền được,
-Bây giờ là mấy giờ rồi cháu?
-Hai giờ!
-Chú uống sữa được không cháu?
-Được, chú uống đi.
-Chú nghe nói sau phẫu thuật không được uống sữa hay nước mà? Y tá cười:
-Chú cắt chân chứ đâu có phẫu thuật bụng, sữa chú để đâu?
-Chú nhờ cháu ra phòng chờ bào thân nhân Trần Thủ đưa sữa dùm được không?
Y tá nam vui tính đi ra. Thủ mừng là qua y tá lấy sữa, Thùy có thể biết anh còn sống. Anh lại hỏi khi y tá vào:
-Chú thấy mấy người mổ sau chú được ra ngoài mà sao chù ở lại lâu vậy cháu?
-Bác sĩ chưa cho chú ra, có lẽ sáng mai, sau khi giao ban mới ra được.
Chú ngủ đi, nói nhiều mệt lắm!
Thủ không ngủ được vì đau và lo, sợ Thùy và các con anh tưởng anh đã chết nên mới lâu đưa xác ra!
Đau quá, Thủ cứ chờ được chuyền chai giảm đau. Rồi cũng tới lúc, đến với anh là Bác sĩ nữ gây mê anh khi phẫu thuật, anh hỏi:
-Sao chú lại ở trong này lâu vậy cháu?
-Tại trong toa thuốc chú uống trước khi phẫu thuật có Asperin. Giữ chú lại trong này phòng khi vết thương chảy máu, dễ theo dõi hơn. Sáng mai ra, chù ngủ đi cho khỏe.
Yên tâm với giải thích của bác sĩ và chai thuốc giảm đau, anh gục người vào thành giường ngủ ngồi chờ sáng!
Khi hộ lý vào đẩy chiếc băng ca của Thủ ra, anh mừng như được tái sinh! Nằm thì đau và vì muốn trống thấy Thùy cùng các con nên anh cứ ngồi vậy, mặc cô hộ lý bảo nằm! Thấy anh ra, Thùy củng các con anh hét lên, tiếng hét vượt lên trên những âm thanh huyên náo của phòng chờ khi thấy anh ngồi mà không nằm, không phủ tấm vải trắng kín người như xác chết, hình ảnh mà suốt đêm qua Thùy cứ lo lắng sợ hải! Thùy chạy nhanh hơn cả, chị nắm tay chị hộ lý dừng lại, ôm Thủ hôn vào môi anh thật dài, nụ hôn hệt như thũa mới yêu nhau mà phải vắng xa nhau hàng tháng!
Cô hộ lý bước nhanh và dài, Thủy cùng các con lúc thúc chạy theo. Hộ lý hỏi:
-Muốn nằm phòng nào đây?
Đêm qua thao thức chờ, Thùy có nghe thân nhân đến trước nói chuyện là có hai loại phòng, phòng bình thường và dịch vụ, phòng dịch vụ thì phí cao nhưng có các tiện nghi như tủ lạnh, TV…chị đáp nhanh:
-Chị cho phòng dịch vụ!
Một chọn lựa “xa xỉ”, khác với tính cách của anh chị lâu nay!
Yên vị trong phòng dịch vụ, giường bên có một cậu thanh niên bị đâm thủng ngực và mấy nhát ở bụng, đã phẫu thuật, đang nằm mê man.
Thùy vuốt ve phần chân cụt của Thủ qua lớp băng, nói trong nước mắt:
-Ngày mai là Giáng sinh, anh đã không chết, mất một cái chân mà được sống cùng nhau, cùng các con…may mắn lắm rồi anh ạ!
Thủ ôm ngang lưng Thùy:
-Ừ, anh cảm ơn em, cảm ơn em!
Anh nghĩ ngợi: Khi đã trót mang thân phận con người, ai cũng có một thập giá, thập giá nào cũng nặng như nhau, nhưng tùy vào thái độ tiếp nhận của người phải mang thập tự ấy, sẽ làm cho nó nhẹ bớt đi hay là nặng nề thêm…
Ngoài kia, tiêng còi xe cấp cứu vọng vào phòng, Thủ lại nghĩ và nhận ra rằng:
Nếu không chết, thì mọi tai ương đều là hồng ân. Vâng, lâu nay anh đã sống chan hòa với tha nhân, từng đón nhận khổ đau và hạnh phúc từ cuộc nhân sinh… bằng tâm hồn của mình chứ không phải bằng đôi chân…”
Sài gòn, mùa Giáng sinh 2015. (Kỷ niệm 05 năm, mất một chân.)
baovecovang2012.wordpress.com
Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 5 Nov 2025

Phần 6
Nửa đêm nghe tiếng mẹ thở dài
Sau gần hàng chục năm “cày trong sở làm”, tôi bị hãng cho nghỉ việc cùng với hàng loạt nhân công khác. Cái lý do cho đám nhân công về nhà “rửa chén cho vợ” của ông chủ hãng nó rất ư là có “chính nghĩa”. Ông chủ bảo hãng sắp bị “băng-rắp” vì kinh tế suy thoái; cho nhân công nghỉ việc, ổng cũng buồn lắm, ổng nói lời cám ơn, ổng nói “so-ri”, và sau cùng chia tay, ổng nói thêm “gút-lắc!”..
Có mấy chị buồn ra mặt, mắt các chị dường có hơi sương. Có mấy anh cúi đầu sầu đời lo cho một tương lai lầm lũi chui vào đêm đen. Còn tôi, tôi có vẻ tỉnh bơ. Mấy thằng bạn trố mắt ngạc nhiên khi tôi bảo với ông chủ là ông đã cho tôi nghỉ việc rất hợp lúc, tôi cám ơn ông vì được nghỉ việc một cách có lý do chính đáng, chứ tôi mà bỏ việc ngang xương thì “nhà tôi” sẽ cằn nhằn là cái chắc, không đốt nhà là phúc đức ông bà!
– Người ta tìm việc không ra, còn anh thì xin thôi việc! Tiền nợ nhà băng, tiền “biu bộng”, tiền cơm áo, tiền con cái ăn học… Anh đào đâu ra tiền, anh nói tui nghe coi!?
Câu hỏi này sẽ thành một bản đơn ca có nhiều điệp khúc, bảo đảm sẽ được nàng hát không guitar hàng ngày rất ư là có “chính nghĩa”. Nay thì cái giấy nghỉ việc có trong tay, đâu phải do tôi ký mà tôi sợ! Nàng sẽ làm thinh, cao lắm là lo lắng, ngao ngán thở dài. Và cái đó nó “tiện việc sổ sách” cho tôi vô cùng. Nàng làm sao mà biết nguồn cơn nhảy múa trong lòng tôi! May ra chỉ có ông Trời và tôi!
Thật ra, hãng không cho nghỉ việc thì vài tháng sau tôi cũng xin nghỉ việc. Tôi đã đau lưng khá lâu vì làm công việc nặng, tôi cũng chán cái cảnh “sáng vác cơm đi, tối vác lon về”, rồi tiếp theo là hàng chục năm dài chong mắt với những ca đêm, tôi chán cái cảnh chạy hụt hơi với cái đồng hồ treo trên vách, và nhất là cái đồng hồ reo mắc dịch trên đầu giường phá hoại giấc ngủ say về sáng của tôi! “Dậy đi làm! Dậy đi làm! Reng reng! Reng reng!!!”. Trời ơi! “Đoạn trường ai có say giấc trên giường mới hay”!
Đôi lúc tôi thấy dường như đời mình vướng nghiệp tù, tù cộng sản vừa thoát xong, qua xứ này lại dính “cái tù phải đi cày để kiếm sống”. Cũng biết cái tù sau này ở xứ người thì có tiền nuôi vợ con, không bị nhà tù, công an, quản giáo đày đọa, nhưng theo tôi, cái gì làm cho người ta lệ thuộc, ràng buộc, khó nhọc, mất tự do… cũng đều có thể coi như là ở tù ráo trọi
Từ lâu, nhớ lại những ngày oằn lưng lao động trong tù vc, tôi thương cái lưng tội nghiệp của mình khi phải làm việc nặng, nên tôi đã dự liệu trong đầu một số công việc tương đối thong thả, tự do hơn để “xù” việc làm hiện tại; nên khi ông chủ hãng cho nghỉ việc thì tôi cám ơn ông, bắt tay ông xiết mạnh rồi hớn hở ra về. Mấy thằng bạn cùng sở ngạc nhiên về thái độ mất việc nhưng tỉnh bơ, vui vẻ của tôi. Tôi chia tay từ giã lũ bạn, và dường như trong mắt, trong đầu chúng nó, có thể nó nghỉ tôi sắp qua Florida đáp phi thuyền con thoi lên định cư ở mặt trăng với chị Hằng Nga!
Sau khi lương thất nghiệp chấm dứt với hơn sáu tháng nằm nhà, thoải mái và tự do, cái lưng không còn bị hành hạ, tôi mua một chiếc ghe nhỏ, hai tay lưới Salmon và một chiếc xe truck một tấn, bắt đầu một công việc mới xa nhà trên sông nước mênh mông, trên đường thiên lý vạn dậm… rày đây mai đó, khi ở đầu sông Skeena gần Alaska, lúc ở cuối sông Fraser gần tiểu bang Washington State, đầu Nam đầu Bắc trên đường bộ kéo dài sơ sơ cũng cỡ từ ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu
Tôi đã lái xe vượt qua lưng dãy Rocky Mountains dài và cao nhất thế giới, hiểm trở gấp trăm lần đèo Hải Vân ở Việt Nam, có điều khác với đường xá của nước Việt Nam cộng sản đầy ổ voi đến ổ gà từ Nam tới Bắc, đường xá Canada nó “hiện đại”, bằng phẳng như bộ ván của vợ chồng ông Đỗ Mười chở từ Nam về Bắc sau 75 trong chiến dịch đánh tư sản miền Nam!!! Tôi đã xuôi ngược trên con đường thiên lý đó từ thành phố tôi ở, Vancouver, đến cảng Ruppert gần Alaska, với chiếc xe truck chở mấy tay lưới, kéo theo chiếc ghe trên chiếc trailer… Mỗi năm, tôi xuôi ngược không dưới 3 ngàn cây số trên con đường dài ngút ngàn, thăm thẳm với đồi núi, với sương mù, với những mảng tuyết trắng trải rải rác hai bên đường đèo.
Có đi nhiều ở xứ người mới thấy tội nghiệp cho quê hương Việt Nam. Trên những nẻo đường vạn dậm tôi qua, xứ người chỗ nào cũng trù phú, an bình; người ta không có những trạm kiểm soát kinh tế, song kinh tế vẫn phát triển, dân lành ấm no, hạnh phúc; nếu không vượt đèn đỏ hay phóng xe quá tốc độ thì ít khi thấy cảnh sát hú còi dán cho cái ticket; tài xế muốn tắp xe ngủ chỗ nào theo bìa rừng cũng không ai thắc mắc, hỏi giấy hỏi tờ. Tôi đã từng ngủ dọc đường như thế trong hơn 5 năm trời lữ thứ tha phương.
Có những đêm trăng “một mình một ngựa” trên xa lộ 16 vạn dậm từ Đông sang Tây, Bắc tỉnh British Columbia, Canada; theo tôi suốt đêm là vầng trăng sáng như cái mâm đồng treo trên đỉnh Rocky Mountain, tôi bỗng nhớ đoạn ruột vầng trăng nhỏ của quê hương trên đỉnh Trường Sơn nghìn trùng xa cách. Vừa lái xe, vừa ngâm thơ, vừa hát quốc ca, vừa hát nhạc hùng để tỉnh ngủ, để chiếc xe truck nuốt thêm đoạn đường dài cho đến khi mắt mờ, tôi tắp xe ngủ bên vệ đường ven rừng. Tôi ngủ mê mệt, không biết trời, không biết đất, không biết trăng, không biết sao, cho đến khi giá rét ướp lạnh da lưng, tôi giật mình thức dậy, đề máy xe chạy tiếp..
Tôi lái xe hết đêm đến ngày, những vệt nắng sớm dệt từng mảng sáng vàng lên lưng núi rừng trùng điệp, xe lại vượt qua những đoạn đường hùng vĩ, vách núi một bên, sông lạch một bên. Nhiều lúc nhìn những cảnh đẹp thiên nhiên mà chợt nghĩ thầm, nếu cái đất nước giàu đẹp này, nếu những con đường thiên lý nên thơ này, mà con dốc trước mặt bỗng hiện ra một tên cầm AK, cờ đỏ, bắn vào xe thiên hạ như ở Việt Nam trước 1975, thì đất nước này không mấy chốc cũng sẽ trở thành hoang sơ, nghèo đói không thua gì những vùng đất nghèo nàn, xơ xác ở miền Trung Việt Nam dưới chế độ cộng sản.
Cái cẩm tú và an bình của nước người giúp tôi thoải mái lái xe liên tục hàng ngàn cây số mà không biết mệt, dù đôi lúc anh tài xế cũng cảm thấy vô cùng cô đơn. Có lần về lại nhà, tôi phone Hà Thúc Sinh và “dụ” tác giả Đại Học Máu nếu có gan rời Cali làm một chuyến Bắc du đi Canada mùa Hè, tôi sẽ đưa anh cùng tôi theo xe, đi về hướng Bắc, anh sẽ có dịp hít thở cái không khí trong lành khi xe trèo trên lưng dãy Rocky Mountain, hay ra biển rộng, hay trên sóng nước sông Skeena. Và có thể sau đó cái phổi bệnh hoạn của anh sẽ đầy ắp sinh lực trở lại, anh sẽ có dịp nhìn những nẻo đường đất nước của người ta mà tủi phận cho những nẻo đường Việt Nam của mình
Chuyến đi xa vào cuối tháng 9 năm 93, đã đưa tôi đên tận đầu đảo Queen Charlottes của Canada giáp ranh Alaska.
Muốn qua đảo này, người ta phải đi phà 6 tiếng đồng hồ từ thành phố Prince Rupert. Tôi dự trù làm việc ở Queen Charlottes một hai tháng rồi trở về Vancouver trước khi mùa Đông đổ tuyết lên đầu. Mặc dù có khá nhiều kinh nghiệm lái xe trên tuyết, nhưng tôi cũng rất ớn và lạnh cẳng khi vượt những đường quanh co, trơn trợt phủ đầy tuyết, sẳn sàng ném chiếc xe và tôi xuống vực sâu bất cứ đoạn đường nào. Tôi nghĩ bụng là phải bảo trọng thân thể và tay lái để còn có ngày về lại quê hương sau khi chế độ cộng sản “đi chỗ khác chơi”. Nhưng tôi không tránh được cái số..
Mùa Đông chưa đến, tôi chưa lái chiếc xe truck về Vancouver, nhưng chiếc máy bay đã bốc tôi một mạch từ đảo Queen Charlottes về Vancouver vì một tai nạn bất ngờ trên tàu. Tay trái tôi gãy cụp như cọng lá chuối bị bẻ ngang. Người ta đã chụp thuốc mê tôi, mỗ tay trái, kéo thẳng hai xương gãy, kẹp mỗi xương một mảnh kim loại đặc biệt, dùi xương, bắt ốc xương dính vào mảnh kim loại như mấy ông thợ mộc làm bàn ghế
Sau khi may lại thịt da trên cánh tay tôi, họ đẩy tôi xuống phòng hồi sức lúc nào tôi không hay. Khi tỉnh dậy, thuốc mê tan dần, điều duy nhất tôi biết là cơn đau kinh khiếp đang nhảy múa trên cánh tay trái sưng vù, băng kín như một đòn bánh tét lớn… Tôi cựa mình, dùng bàn tay phải mò mẫm, mân mê từng ngón tay trái tê rần, bất động, và chưa bao giờ tôi thấy bàn tay phải của tôi nó yêu thương bàn tay trái em nó trìu mến đến thế..
Bác sĩ cho tôi về nhà sau mấy hôm vật vờ trong nhà thương, và sau khi về đến nhà, tôi lại tiếp tục lừ đừ, đau đớn thêm cả tuần nữa. Dường như thuốc mê, thuốc ngủ và thuốc giảm đau còn đọng trong cơ thể, nên nó đã biến tôi thành một cơ thể yếu như sên
Mấy hôm bà xã nghỉ việc ở nhà, tôi được bà xã săn sóc, chiều chuộng cẩn thận. Ngày nàng phải đi làm, tối về lo cơm nước, buổi tối, nàng cẩn thận lót từng cái gốì dưới cánh tay gãy của tôi. Tôi cảm động và bỗng thấy mình yếu đuối trước cuộc đời. Tính tôi không muốn nhờ vả, không muốn lệ thuộc hay làm khổ ai, kể cả vợ con, nhưng tôi bất lực. Cơn đau càng hành hạ tôi, tôi càng cần thêm thuốc giảm đau. Tôi nhừ và yếu đuôi như một đứa bé lên cơn sốt mọc răng.
Những đêm đầu ngủ ở nhà, mỗi khi tôi cựa mình đau đớn, mò dậy tìm Tylenol thì vợ cũng thức giấc theo, kê lại gối dưới tay tôi. Mỗi đêm tôi cựa mình không biết bao nhiêu lần, và qua nhiều đêm thì dường như vóc dáng người vợ hiền cũng nhuốm mầu đêm trường, hốc hác thấy rõ. Tôi nhận ra điều này, nên có lúc để vợ ngủ say khỏi biết tôi cựa mình đau đớn, tôi bỏ gối xuống thảm nằm yên để khỏi phá giấc ngủ của vợ, nhiều lúc phải chịu đựng cơn đau cho tới sáng.
Lọ thuốc Tylenol cạn sạch, cơn đau nhức vẫn còn, vợ đi làm đầu tắt mặt tối đến chiều mới về nhà, tôi khật khừ chả buồn mua thêm thuốc. Tôi biết đêm tôi sẽ bắt đầu một giấc ngủ không có thuốc giảm đau, tôi phải trở giấc trong tình trạng nửa mơ nửa tỉnh nhiều hơn suốt đêm dài.
Nửa đêm, tôi mở mắt, thức giấc lơ mơ với cơn đau không tài nào ngủ lại. Nghiêng đầu nhìn vợ ngủ say, tôi giữ mình bất động. Cái yếu đuối và đau đớn của cơ thể trong đêm tối, dường như đã đẩy tôi trở về tuổi ấu thơ với Mẹ tôi bên cạnh giường trong những khi tôi đau yếu. Tôi chợt nhớ tới Mẹ tôi, người Mẹ mà mấy mươi năm nay tôi chưa một lần gặp lại. Tôi nhắm mắt, mơ màng, tự thả trôi mình ngược dòng dĩ vãng mông mênh, mờ ảo.
Trong bóng đêm tịch mịch, tôi bỗng có cảm tưởng như Mẹ tôi đang đứng cạnh giường. Rồi bỗng như tôi bị đẩy lùi lại một thời dĩ vãng xa xôi, nhỏ nhít trở lại với những phút giây của một thời thơ ấu bên cạnh Mẹ. Tôi lim dim mắt và lòng thương nhớ bao la trào dâng về hết cho Mẹ. Và tôi bồng bềnh trong mờ ảo, trong tiềm thức mông mênh, tận hưởng những phút giây phút ảo diệu thần tiên này.
Dường như tôi nghe tiếng Mẹ tôi thở dài đâu đó bên cạnh giuờng. Tôi chợt mở mắt ra như tìm kiếm một bóng hình yêu thương của Mẹ tôi trong bóng đêm. Hư hay thực, tôi không biết, dường như là hư, nhưng hai hàng nước mắt của tôi bỗng trào ra, lăn trên má, ứa tràn xuống gối tự lúc nào mà tôi không hề hay biết.
Tôi chợt thảng thốt gọi: “Má!” Và tôi giật mình tỉnh dậy, bàng hoàng tiếc nuối hình bóng mờ ảo của người Mẹ biến mất sau cơn mơ. Tôi biết mình vừa qua một cơn mơ ngắn bất chợt, nhưng tim tôi đau thắt lại, trí tôi bần thần lảng đảng nguyên một buổi sáng nắng trải đầy trời Bắc Mỹ ở bên ngoài khung của kính..