vietmessenger.com
Serge Miller
Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên
Post by Sơn râu 17 Nov 2025

Chương 13
Một lần nữa, tôi lại leo lên được khỏi miệng vực thẳm, nhưng ngay trong những ngày đầu tiên tôi nhận thấy chúng tôi đang ở trong sào huyệt của một đảng cướp thật sự. Cái dá để phân phát xúp không đúng một lít theo tiêu chuẩn và người ta cố ý làm như vậy để giúp Helmut có thêm một số lượng cần thiết cho công cuộc mua bán. Ai mà khiếu nại sẽ được lãnh ngay mấy cán xẻng.
Cứ như thế khi tối đến, cả một bầy đói rách chạy ào ào như để tấn công vào tầng lầu một, tại đây tôi sửa soạn dọn xúp với sự giúp đỡ của người phụ tá gốc Ba Lan. Bureau cấp tốc kể cho tôi nghe rằng anh ta thích vận động để có gấp đôi phần xúp như tại Buchenwald, nhưng đã có sự khác biệt.
Trong mỗi đội lao tác, hình phạt roi rất khắc nghiệt, và khi đi làm về phải chạy và trải qua một cơn mưa gậy. Tên gia nô nhỏ bé nhứt tay cầm một khúc cây, dấu hiệu để phân biệt cấp bậc của y, và luôn luôn có sự cạnh tranh trong việc bày tỏ sự tận tụy quá đáng.
Bởi vì đó là kiểu thời thượng, tên trưởng khối của chúng tôi cũng giống như các “ônghoàng” khác trong trại, có riêng cho mình một tên Tzigane để sử dụng như là hầu cận, điểm chỉ viên, và như là tấm chùi chân. Lúc phân phối xúp, y mò đến đi thơ thẩn, trong khi tôi ghi các danh số để phát xúp. Trước mặt tôi bốn trăm tên tù khổ sai đi ngang qua phần đông rất trẻ, có cả trẻ con từ mười bốn đến mười sáu tuổi. Khi phân phát xong, những cặp mắt van xin các nồi đựng súp để vét sạch bằng muỗng, bằng ngón tay hay bằng lưỡi. Tôi thử tổ chức một vòng luân phiên, nhưng tôi bị chìm mau lẹ dưới làn sóng người và sau đó là đánh lộn. Helmut nhào vào và đánh đập loạn lên trong đống người, sau đó, quá mệt, y bỏ rơi cây gậy và tôi thấy y thích bạt tay hơn. Y rình một chiếc má lộ ra, nhắm kỹ và bang!… Trò tồi bại nầy là cố tật và y rất vui vẻ một khi làm như thế. Không ai dám quấy nhiễu y, trái lại, đã có một vài người cười theo để nịnh nọt. Tôi phải nói với y mới được, tôi còn cảm thấy rõ mùi vị của cái bạt tay của y đêm thứ ba, y giáng cho tôi một phát, chiếc bạt tay gây đau đớn còn hơn bị đánh bằng gậy khi tôi bị thẩm vấn. Không vì lý do gì cả? Tôi đang đếm phần bánh mì khi y đi qua gần tôi với cái nhìn kỳ lạ; chắc y đang lên cơn. Lập tức tôi muốn bóp cổ y, nhổ móng tay và dùng búa chẻ y ra từng mảnh.
Buổi sáng trong giờ cà-phê, lại đánh lộn tiếp và suốt ngày không có một phút nghỉ ngơi giữa các công tác khổ dịch khác nhau. Để giúp tôi, Helmut phái tên cận vệ của y đến, nhưng con heo cái nầy lại muốn nghe tôi kể chuyện về Ba-lê. Thỉnh thoảng tên chủ lại gọi hắn và cố ý khiêu khích hắn để thỏa mãn đam mê riêng. Tôi nghe hoạt cảnh từ đàng xa. “Giày bốt của tao không sạch mậy!”
– Một cái tát. “Mền tao sao không dũ mậy!”.
– Một cái tát nữa. Cứ thế năm, sáu cái bạt tay. Từ trong góc, tôi rất thú vị và đối với tôi đó là lúc nghỉ ngơi dễ chịu nhất trong ngày.
Một thảm kịch trên trời rơi xuống vào tối chúa nhật, đúng làm ngày sau khi tôi được chỉ định. Khi đi làm về, với sự hấp tấp thường lệ để được là người đầu tiên được ăn, bọn tù nhân không ý thức được rằng chiếc cầu thang bằng gỗ trắng chật hẹp đưa lên tầng lầu một, cũng phải than thở vì mệt nhọc; nó đổ sụp đúng lúc đó, kéo theo một chùm người. Sàn nhà cũng qhịu không nổi và nhiều tù nhân nằm la liệt dưới nền. Helmut bắt tên hầu cận chạy mau đến kiếm viên quản trại và tên nầy xuất hiện trong một trạng thái giận dữ đến nỗi người gan dạ nhất cũng phải rùn mình.
– Mau lên, phạng vào bọn hạ tiện nầy coi, – y ra lệnh cho tất cả những tên đứng bao quanh, và không thiếu gì kẻ tình nguyện. Chính y cũng nện vào những người không đứng dậy nổi vì các vết thương do tai nạn gây ra. Hai lối thoát ra ngoài của tầng trệt bị canh giữ, và những tù nhân chạy ùa ra đó bị một cơn mưa gậy tứ phía. Ba cán xẻng đã bị gãy trong đám hỗn loạn và xương người ta chắc phải cứng lắm vì cán xẻng đâu có gãy một cách quá dễ dàng như vậy. Và để chấm dứt cuộc chiến, hãy bỏ việc phân phát súp. Tên quản trại cho khiêng qua một khối khác, và còn có vẻ chưa nguôi giận, y thở hổn hển.
– Nầy cầm lấy, đây là vũ khí của các anh, tôi muốn thấy nó bị gãy đều đều.
Mỗi tù nhân thuộc viên được y phát cho một cán xẻng mới do các tên phụ tá ôm đến.
Không trông thấy tôi đứng đầu hàng người thuộc “lực lượng trật tự”, y gọi tôi và ngạc nhiên thấy tôi không cầm gì cả. Tôi biết trước sẽ chuốc họa vào thân nhưng tôi vẫn cứ thử giải thích rằng tôi không biết xử dụng thứ dụng cụ nầy và dẫu sao cho đến lúc đó tôi thấy nó mang lại hậu quả bất lợi. Y không để cho tôi nói hết, và bọn thân cận tự hỏi không hiểu sao tôi dám thảo luận thay vì tỏ ra bảo một làm mười để củng cố địa vị. “Ngày mai anh sẽ đi lao tác”. Đó là một tiếng gầm gừ rít vào lỗ tai tôi và tôi có cảm tưởng là vừa tránh khỏi bị đánh. Có lẽ là nhờ Montmartre, một sự hổ thẹn không đâu đã ngăn cản y làm vậy. Lẽ dĩ nhiên, tôi có thể tạo cho mình một chức nghiệp ngon lành bằng chiếc cán xẻng.
Đây không phải là lần cuối tôi bị rơi đài. Phải, rồi lại thoát ra, và phát lặp đi lặp lại để in điều đó. Nhưng đêm đó, khi tôi nằm dài ra với chiếc bao tử trống rỗng, đầu óc tôi toàn mầu đen tối và trong tận cùng sâu thẳm của bóng tối, một con số chợt hiện ra trong trí nhớ của tôi: hôm đó, tôi vừa đúng hai mươi bảy tuổi.
Hình ảnh lúc hai mươi tuổi tròn lúc đi thi hành quân dịch, với một vài ảo tưởng và, tại sao không thừa nhận, một vài phấn khởi trong lòng, so với bây giờ sao có vẻ xa vời quá.
Là con dân một nước, phải rời ghế nhà trường lúc còn trẻ, nhưng vì ưa thích và vì không được cuộc đời ưu đãi lắm và, đúng hơn vì ăn uống thiếu thốn, thì trại binh tượng trưng cho một thứ trường trung học lớn, nơi đó người ta được ở, được ăn miễn phí. Tuy nhiên, thất vọng biết bao nhiêu!
Chaumont-sur-Marne, một thành phố tỉnh lẻ một vài quán rượu, hai rạp chiếu bóng, và một nhà chứa. Toàn thể như bị bao phủ bởi một tấm vải liệm âu sầu và hung dữ. Hai năm đần độn, chìm ngập trong rượu chát đỏ của các câu lạc bộ trại binh.
A! Những ngày chúa nhật, tôi nhu nhược làm sao, và tôi chưởi bới những ngày khác cùng với một viên thượng sĩ, một người, mà hồi tưởng lại tôi thấy rất giống các tên Kapo ở đây.
Một vài người bạn hiếm hoi, một vài ngày nghỉ phép, những khoảng rừng thưa trong khu rừng rậm rạp.
– Tiêu tiền của chú hết mau đi, chú lính con, và sau đó, đi cho khuất mắt!
Chắc những con buôn trong thành phố trại binh nầy nghĩ như thế. Chúng tôi ra đi, toàn khóa 37, nhưng là đi ra tiền tuyến! Thoạt tiên, chiến tranh có vẻ “kỳ cục” như người ta nghĩ. Thật sự, nó giống như một cuộc thao diễn, mặc dù một mùa đông mà ngay cả dân cư vùng Alsace, đã không mấy hoan hỷ vì sự hiện diện của chúng tôi, cũng phải lấy làm ngạc nhiên. Và, tuy nhiên, cùng với mùa xuân 1940, một mùa xuân đẹp bên bờ sông Rhin giữa Mulhouse và Ba-lê, nơi sư đoàn của tôi trấn đóng, biết bao nhiêu người còn tin là chiến tranh sẽ chấm dứt nhanh chóng, trong chiến thắng hay trong hòa bình như phép lạ.
Thế rồi, cái vụ nổ như sấm động ngày 10 tháng 5, cuộc khởi hành đến sông Somme, đến vùng chiến tranh thật sự, sự khám phá tất cả kinh hoàng của chiến tranh, chấm dứt mọi ảo tưởng. Ông Trung úy Đại đội trưởng nói với tôi trước khi tiến lên phòng tuyến trước Amiens:
– Nếu nằm luôn lại ở đó, chú mày sẽ là một thây ma, nếu trở về được, chú mày sẽ trở thành anh hùng.
Tôi nghĩ phớt qua hai giải pháp, nhất là giải pháp đầu, nhưng một giải pháp thứ ba lại xuất hiện: tù binh chiến tranh.
Các trại giam chờ chúng tôi trên khắp lãnh thổ Đức, có thể trở thành nơi nghỉ mát đối với những kẻ biết nói tiếng Đức, và mặc kệ các hàng rào kẽm gai, các chòi canh, với một chút liều lĩnh và may mắn, người ta có thể ra khỏi các trại giam ấy. Cũng như nhiều người khác, tôi đã thử, sau 18 tháng nghỉ ngơi bó buộc, và tôi thành công. Đó là một cuộc mạo hiểm không gian nguy gì lắm, ít ra là trong một vài cơ hội nào đó. Mặc y phục thường đân, chữ Vạn Quốc Xã trên hàng nút áo, và tiếng hô “Heil Hitler” tự động, vừa đưa tay mặt lên cao, để chào hỏi nhau, cả một dân tộc, từ đứa con nít trong nôi cho tới ông già sắp xuống lỗ, đều chào nhau theo kiểu đó. Ngay giữa thế kỷ 20, sau Goethe và Schiller, sau Bach và Beethoven, và sau những gì của 2000 năm văn minh thiên chúa, và tiến bộ kỹ thuật phi thường! Định mệnh con người xét ra thật bi hài biết bao!
Ông cựu Đại sứ của chúng tôi ở Bá-linh, ngài Scapini, đã nói rằng vượt ngục là chứng cớ của sự vị kỷ. Chỉ có những người muốn tìm cách tỏ bày ân hận về sự nhu nhược của mình mới cho ông ta có lý.
Đến vùng phía Nam, sau vài giai đoạn bi hài, tôi phải trốn kỹ. Những biến chuyển đủ loại đã gặm mòn vài người như là bệnh ung thư, trong vùng không bị chiếm đóng, có vô số kẻ sẵn sàng tình nguyện phục vụ chế độ Vichy, biết bao nhiêu kẻ sẵn sàng hợp tác với khu vực bị chiếm đóng miền Bắc. Phải chăng chiến tranh đã là cơ hội đặc biệt để thay đổi dòng định mệnh và để làm giàu nhanh chóng? Cơn mơ ước đó há chẳng phải đã biểu hiện trong óc não từ khi quả địa cầu là quả địa cầu ư! Bọn Quốc Xã hiểu rõ vấn đề nầy và vì tiền bạc có thể làm thối nát tất cả, chúng đã vung vãi thật nhiều tiền. Tham nhũng, tố cáo hèn hạ, chợ đen… Người tù binh chiến tranh vượt ngục trở về để khám phá thấy vào năm 1942 một quê hương bạc nhược và phân hóa, yếu hèn và qui phục.
Tuy nhiên nếu tìm kỹ, người ta cũng có thể khám phá ra bên cạnh đám người hèn mọn thời đó cũng có một bông hoa mong manh: kháng chiến, ở đó, không có thì giờ để buồn bực; nhưng cùng với sự thoái bộ của thời gian, bộ mặt thật của nó từ từ xuất hiện. Những gương hy sinh cao cả! Những anh hùng vô danh! Phải, nhưng luôn luôn cũng chỉ phát xuất từ cùng một hạng người, những người có ý thức quốc gia, ý thức xã hội. Rõ ràng họ chỉ là một thiểu số trong cả một dân tộc. Dẫu sao đây cũng là một sự thỏa mãn duy nhất, nhưng rất sâu sắc và rất thật, sự thỏa mãn của người không đứng chung trong đàn, với bầy cừu. Phải, dẫu sao, cho đến khi bị bọn Gestapo bắt và trải qua nhà ngục Montluc, Compiègne, Buchenwald cho đến chiếc giường thô kệch của trại Ellrich.
Thực cũng là một thời gian dài, bảy năm những năm đẹp nhứt của thời trưởng thành, những năm mà ở đó người ta cảm thấy mình thành nhân, có khả năng làm những việc lớn lao nhứt.
Thế nhưng tất cả những gì diễn ra trong trí tôi đêm đó như một cuốn phim câm, đã chết rồi và chưa hết. Ở đây còn tệ hại hơn trong trại lính bội phần, tệ hại hơn chiến tranh và tôi không biết tệ hại hơn các nhà giam tù binh chiến tranh bao nhiều lần.
Sáng hôm sau khi đi xuống sân nơi tập họp các lao công, tôi thấy tổng số lên đến cả ngàn. Ba phần tư sẽ được xe lửa chở đi đến một công trường cách xa sáu cây số, và số còn lại phải ở tại trại để tiếp tục công cuộc xây cất, sửa sang. Công việc khoan núi lập nhà máy là một việc đặt cái cầy trước con trâu, đòi cho nhiều tù dễ làm việc nhưng không lo sắp đặt chỗ ở. Như vậy phải cấp tốc chuẩn bị các hạ tầng kiến trúc tổng quát và nơi tạm trú cho các đoàn công-voa sắp đến. Trong khi chờ đợi cơ sở ấy, người ta không được tắm rửa và một chiếc hố sâu được đào để làm hố tiêu. Cho đến lúc đó, tôi chưa hề bước quá hai khối khác đã có sẵn. Helmut “săn sóc”chúng tôi kỹ quá. Nay tôi mới thấy mặt những người đến trước chúng tôi vài tuần. Áo quần họ bẩn thỉu và rách, và thật khó để đọc chữ đầu mang dấu hiệu quốc tịch trên áo họ. Nhưng, luôn luôn là những người mang chữ “R” (Nga). Chưa có một tổ chức lao tác nào được thành lập. Một tên thô bạo đếm những người phải di chuyển, và trong số ở lại, bọn Kapo đến lấy bất ngờ, 20, 30 hay 50 người. Tù nhân có thể len lỏi đứng vào bất cứ nhóm nào, nhưng phải biết nhóm ấy phụ trách công tác gì. Vì lẽ tôi chỉ mới được báo cho biết phải đi lao lúc đêm hôm trước, tôi để cho bị dẫn dắt như một tên tù. Trả lời một câu hỏi sẽ làm gì, một tù Nga làm một cử động bằng tay mơ hồ. Không có gì quan trọng đối với anh ta.
Chúng tôi đi qua nhiều sân ngổn ngang gạch ngói đổ nát, đâu đâu bọn khổ sai chúng tôi cũng đã bắt đầu một ngày làm. việc. Dọc theo con hương lộ, gần nhà ga một con kênh đã được đào khá dài đang chờ chúng tôi. Tôi nhận một cái xẻng, nhưng vì làm việc theo từng cặp hai người, nên phải thay phiên nhau xử dụng cuốc và xẻng. Người ta có thể đoán quang cảnh sau cùng của trại tập trung một khi được xây dựng xong, bằng cách nhìn chung quanh, hiện tại, nó còn là một đống vôi vữa. Có một điều chắc chắn, cổng trại sẽ hướng thẳng về sân ga, để tránh cho các biệt đội khỏi phải đi qua xóm dân cư mà các căn nhà đầu tiên có thể đứng đây nhìn rõ được ba toán trộn hồ, bị chặn lại hoặc làm việc chậm lại, theo một kế hoạch tập trung kỹ nghệ, đã được trưng dụng để xây cất chỗ cư trú cho 15.000 tù nhân, nhân số lấy từ trại Buchenwald. Chúng tôi chỉ là số đầu tiên của kế hoạch đó, và trong khi chờ đợi, tôi đưa đẩy chiếc xẻng trên lớp đá vôi, chúng tôi đã đào sâu 80 phân, phải đào đến một thước. Một toán khác sẽ đặt các ống cống bằng sa thạch, sau đó chúng tôi phải trở lại để lấp đất. Khi mà người ta chứa bao giờ làm công việc đào đất, thì đã rất khó rồi, nhưng khi có mưa xen vào, thì thật như bị giết tại chỗ. Vì lẽ không thể đi ẩn nấp, chúng tôi bị ướt như chuột rất mau. Đất dính bết vào xẻng và càng vung vẩy, nước càng chẩy vào cổ áo nhiều hơn. Mưa rơi không lớn hột lắm, nhưng rơi đều đều đủ để một môn đệ của thi hào Verlaine cảm hứng làm thơ và đủ để chúng tôi nổi sùng. Không có cách nào để tự giúp đỡ, phải đứng đó, chân ngâm dưới nước, thân hình ướt nhẹp. Dẫu là, lạnh thấu xương, và cái cử động khi làm việc không đủ để sưởi ấm. Bọn Kapo thì có thể đi nấp mưa dưới các kiến trúc gần đó. Tù nhân cũng lợi dụng cơ hội để nghỉ. Trải qua cơn mưa – là cả chuyện khổ nhọc. Người bạn cuốc đất của tôi có thể đốt một điếu thuốc mà chất liệu chính được cuộn lại là một mẩu giấy báo. Không cần trao đổi lời nào, anh ta chuyển cho tôi hít vài hơi. Loại thuốc trộn nầy có đó mùi vị và khi rít một hơi người ta có cảm giác được ấm áp đôi chút và nó cũng làm cho ta thêm nhiều mộng lương. Mưa rơi suốt ngày. Tôi có thể nói là mình đã bắt đầu trong tình cảnh thật xấu, và tôi chưa quen được ai. Những tù Pháp đến cùng lúc với tôi nay làm việc trong các biệt đội khác, và trong khối, họ chia từng toán ba người cách xa nhau dự trù để nhận bưu kiện. Tôi không thể dối họ, tôi chẳng nhận được gì, và vì tôi vừa mất chỗ làm tốt, không chắc trong tình thế mới tôi có thì tạo ra những giao thiệp.
Paul, lên người Alsace, đã trở thành Kapo thật sự, và ở riêng cách xa chúng tôi. Hắn đã gỡ chữ F trên ngực và càng ngày càng ít nói tiếng Pháp. Vì không phải nơi tên nhãi ranh ấy mà tôi sẽ đến xin xỏ được vật gì. Phải, một lần nữa tôi đã lại rơi sâu xuống vực thẳm và mỗi giọt mưa lại nhắc nhở tôi điều đó.
Trở về khối, đến lượt tôi phải đứng nối đuôi để nhận phần súp.
Vừa ăn xong, tôi leo lên giường ngay. Người bị ướt nhưng sung sướng được nằm nghỉ tôi khám phá thấy với tất cả lòng vui sướng rằng tôi có được một người bạn. Từ trước, vì đi ngủ trễ, tôi không có dịp nói chuyện với người nằm cùng giường tên là Vladimir. Anh ta giải thích rằng có một thông lệ gần như trở thành qui tắc, trong trại tập trung, đó là một nhân viên, sau khi bị rơi đài, phải chịu điếc tai vì bị mắng chửi, hậu quả của những việc xấu xa mà y đã làm trong khi có địa vị, nhưng đối với tôi, tình trạng khác hẳn. Mọi người đã biết câu tôi trả lời tên quản trại, và đã thấy tôi làm việc trong 8 ngày có thẩm quyền. Anh ta như không mãi mãi lưu tâm khi tôi kể lại ngày lao tác khó nhọc.
– Ngày mai anh sẽ đi với tôi, – anh ta bảo trong khi chờ đợi, – chúc anh ngủ ngon.
Vào lúc sáng, phải thức dậy. Và lúc tập họp tôi không rời Vladimir và khi tên Kapo đếm lấy 30 người, tôi có mặt trong số đó. Y dẫn chúng tôi đến một trong các tòa nhà của trại, công việc gồm có dọn sạch tất cả vật liệu còn sót lại trong đó. Tên Kapo tối ngày ở miết trong một phòng nhỏ tầng trệt và trách nhiệm duy nhất của y là đưa chúng tôi về buổi tối, khi hết giờ và trình diện đủ số lúc điểm danh. Y không cần phải sự một sự vượt ngục nào. Vì ngoài hàng rào kẽm gai đã được đặt chung quanh trại, tất nhiên còn có các lính canh mà một phần đứng trên các chòi vừa mới được cất. Một người dân sự có trách nhiệm canh chừng tiến triển của công tác trong mỗi khu vực, tuy nhiên trong tòa nhà nơi chúng tôi có mặt, hiệu năng công việc không thể nào kiểm soát được. Chúng tôi phân tán ra làm việc lại nhiều tầng, nhiều phòng, và liệng gạch, gỗ, sắt vụn qua cánh cửa sổ. Những người khác đến lượm để sắp lại cách đó một khoảng xa. So với ngày lao tác hôm trước, tôi có cảm tưởng hôm nay được nghỉ hè, và buổi tối khi trở về tôi không biết nói sao để cảm ơn Vladimir. Tôi sẽ ước phải chi mình nhận được một bưu kiện, ít ra là một lần nhận bưu kiện để chia xẻ với anh ta. Khi biết tôi không nhận được gì cả, anh ta dặn tôi: “Đừng nói gì với ai cả, nhất là với tên Kapo, vì như anh đã để ý thấy, y o bế người Pháp, hy vọng là được họ cho quà. Trong thâm tâm, lý do chính là thế đó. Vậy phải để y không biết gì cả. Trong khi chờ đợi thư tin từ Buchenwald đến, thời gian sẽ lâu chừng mười ngày; cứ giả định là anh sẽ nhận được quà, duy có điều không phải là người đầu tiên đó mà thôi. Cần nhất là phải tranh thủ thời gian. Hè sắp đến rồi và anh sẽ thấy cuộc đại tấn công”.
-A! thế hả, mặt trận thứ hai?
– Không, quân đội của chúng tôi, họ không chỉ tiến quân trong mùa đông. Tất nhiên nếu Anh Mỹ cũng lúc đó có thể đổ bộ được thì rất lý tưởng, tuy nhiên họ đã hứa điều đó bao lần rồi…
Vladimir chưa đầy mười chín tuổi nhưng được đời làm cho chín chắn, anh ta nói như một người lớn tuổi. Một đêm tại Bá-linh, cuộc oanh tạc đã làm sập một phần doanh trại của nhà máy nơi anh làm việc, đây không phải là lần đầu tiên, và cũng như mọi lần, anh ta cùng một số bạn lợi dụng sự lộn xộn, lẻn ra phố kiếm thêm thực phẩm bổ túc bữa ăn thường nhật, và đưa về một số đồ ăn dự trữ, dấu trong đệm rơm. Nhưng một đêm, một cảnh sát viên có bọn thiếu niên Hitler đi kèm, chộp được họ và thế là con đường cổ điển mở rộng; thẩm vấn tại sở cảnh sát hình sự ở Alexanderplatz, và hoặc bị treo cổ, hoặc bị tống đi trại tập trung. Vladimir bị hình phạt thứ nhì, may mắn. Anh gốc ở Kharkov, con một kỹ sư hỏa xa. Mộng của anh ta: trả thành sĩ quan và đến Tachkent, “thành phố sung túc”. Khi nói với tôi về thành phố đó, mắt anh ta sáng rực vì say mê. Cả một thiên tiểu thuyết được xây dựng quanh thành phố mới nầy. Sau bữa súp, thay vì chạy chỗ này chỗ kia kiếm thuốc hút, Vladimir nằm dài trên đệm và đầy khao khát hiểu biết, anh ta hỏi tôi về Ba-lê, về nước Pháp, cả ngàn chuyện. Cũng như nhiều người đồng hương khác của mình, anh ta biết một phần văn chương Pháp và không ngừng bày tỏ với tôi sự ngưõng mộ Victor Hugo, Banlzac và Alexandre Dumas. Anh ta đoán quyết là không một làng mạc nào ở xứ anh mà thanh niên không biết và ngưỡng mộ cha đẻ của “Ba người ngự lâm pháo thủ”.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.