This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Những ngày vừa qua thiên hạ bàn chuyện “cái gậy thằng mù” hơi nhiều, hết Dominique Strauss-Kahn, Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF bị tố cáo là tìm cách hiếp dâm một phụ nữ dọn phòng ở New York đến chuyện Georges Tron, Bộ trưởng Các Vấn Đề Công Cộng Pháp, bị cáo buộc “có chuyện” với hai phụ nữ từng làm việc với ông. Một tòa án Israel lại mới tuyên phạt cựu tổng thống Moshe Katsav mức án 7 năm tù do hiếp dâm, quấy rối tình dục. Gần đây là chuyện cựu Thống Đốc California Arnold Schwarzenegger thừa nhận rằng ông đã “tằng tịu” với một người giúp việc, rồi xa xưa hơn là vụ Thủ tướngÝ Silvio Berlusconi ngoại tình, lăng nhăng cô người mẫu.
Toàn là những nhân vật tai to mặt lớn, tột đỉnh danh vọng, thân bại danh liệt chỉ vì cái gậy con con. Sở dĩ người ta ví von đến cái gậy thằng mù vì anh mù phải dùng cây gậy để dò đường, nên lổ nào cũng thọc gậy vào. Thành ngữ Việt Nam không có câu nào là “cái gậy thằng ăn mày”, vì anh ăn mày sáng mắt, cái gậy chỉ đỡ cho đôi chân yếu và dùng để đánh chó (đả cẩu bổng), chứ không quờ quạng lung tung, thọc bậy thọc bạ như của anh mù. Biết bao nhiêu sự nghiệp danh giá phải tan tành theo bọt biển, đến như anh hùng trận mạc, trăm trận trăm thắng cũng không qua được ải mỹ nhân, cuối cùng chết thảm vì cái “sự đời”. Người ta đem lửa thử vàng như các ông thợ kim hoàn, đem vàng thử đàn bà như Hồ Tôn Hiến hối lộ Thúy Kiều “lại riêng một lễ với nàng, hai tên thể nữ ngọc vàng nghìn cân”, đem đàn bà thử đàn ông thì xưa nay, không ai là không biết. Trừ những người đàn ông bị liệt dương hay như ông Liễu Hạ Huệ là hiền nhân nước Lỗ, ôm một thiếu nữ vào lòng để sưởi ấm cho cô khỏi chết lạnh, mà trong lòng không hề có một chút tà tâm, còn thì nam nhi trong thiên hạ, từ tướng, tá, vua, quan cho đến kẻ bần dân tục tử không ai qua khỏi lưới dục tình.
Không nói đến những người phàm tục, mà cho đến các chức sắc tôn giáo, dù đã từ bỏ việc đời đôi khi cũng bị gậy thẳng mù lôi kéo về địa ngục, chỉ thăng hoa chốc lát mà bị ô nhục, mất cả danh dự suốt đời. Tục ngữ Việt Nam đã chẳng nói “sướng lỗ khu thì su (sâu) con mắt” là gì! Dù ở chốn công đường, hay hò hét giữa ba quân, nhưng rồi quý ông cũng hành xử như câu ca dao:“ban ngày quan lớn như thần – đêm về quan lớn tần mần như ma”. Nhiều mỹ nhân như Tây Thi, Điêu Thuyền, Đắc Kỷ … đã nắm “chỗ yếu” đó của đàn ông để kéo vua chúa, quan quân đi theo, khuynh đảo được cả một triều đại, khiến cho nước cũng mất mà thành cũng tan. Ngày xưa ông bà ta cũng đã có câu nói rất độc để mô tả sự việc này: “trâu lấy thừng mà dắt, người thì nắm c … mà lôi”. Bác Hồ cũng vì “gậy” mà đạo đức chẳng ra gì, cả nước học tập theo gương bác nên mới sinh ra một lũ súc sinh Hà Giang từ Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Trường Tô cho đến Hiệu trưởng Sẩm Đức Giang.
Vì sợ “cái gậy thằng mù” thọc bậy, nên đời xưa, từ Đông sang Tây, đàn ông muốn phục vụ trong cung cấm, gần gũi với thê thiếp, cung tần của nhà Vua đều phải được chọn từ những người bị khiếm khuyết bộ phận gậy gộc hay phải hủy hoại nó đi mới được tuyển dụng. Những người này có rất nhiều tên như thái giám, hoạn quan, công công, tự nhân, yêm nhân, nội thị, thị nhân, yêm hoạn, hoạn giả, trung quan, nội quan, nội thân hay nội giám. Những vị hoạn quan này tuy không can dự đến chính trị, nhưng vì gần gũi trong cung cấm, được vua tin dùng nên có khi trở nên lộng quyền như nhiều chuyện đã từng xẩy ra trong lịch sử. Không phải ai lúc đã lớn mới bị cắt thiến khi muốn làm hoạn quan, nhiều gia đình muốn cho con mình sau này được tuyển vào cung, có bổng lộc, chức quyền, đã chuẩn bị khi con còn nhỏ, nuôi bảo mẫu chuyên môn, hằng ngày nắn bóp cho dịch hoàn teo nhỏ lại, hay lấy dây cột chặt dịch hoàn đứa bé, dần dần bộ phận sinh dục bị hủy hoại, để lớn lên có đủ điều kiện làm ứng viên. Việc hoạn thiến là một cực hình đau đớn tột cùng (đau hơn hoạn), nhưng vì muốn được hầu hạ trong cung, sống đời nhàn hạ nên họ đã chấp nhận chuyện “dao kéo” này. Bộ phận bị cắt lìa thân thể được cất giữ, xem như “bảo cụ” được làm khô, tẩm hương liệu, bọc trong lụa, cho vào hộp treo lên xà nhà, mỗi năm lại kéo lên cao để mong hoạn quan được thăng quan tiến chức. Khi vị hoạn quan này qua đời, bảo vật được đem xuống may ráp lại cho người đã bị cắt, và chứng từ vụ hoạn (yêm chứng thư) được đem ra đốt thành tro để đương sự về Suối Vàng gặp lại cha mẹ, ông bà, khỏi phải hổ thẹn, mà kiếp sau có đầu thai làm người lại thì cũng đủ toàn vẹn, không sứt mẻ.
Con heo đực, con gà trống muốn nuôi mập mạp bán được giá cao, con chó muốn hết chạy rông thì phải đem thiến, thiến rồi thì con vật chỉ lo ăn với ngủ, còn tơ tưởng gì chuyện trăng hoa mà sợ “vóc hạc xương mai.” Quý bà cũng đồng lập trường, quan điểm như vậy, nên khi thấy ông chồng lăng nhăng chuyện trăng gió, thì chi có việc “cắt”, “chặt”, “xẻo”, “băm” một phát, thẩy vào toilet là xong. Mới tháng 5-2011 đây thôi, một bà vợ 34 tuổi sống tại làng Vaskovo, tinh Kemerov, Nga đã trị tội ong bướm của chồng, bằng cách dùng dao cắt phăng của quý của ông này rồi ném vào nhà cầu. Ở Mỹ thì dư luận chưa quên vụ cô Lorena Bobbitt nổi tiếng ở Virginia năm 1993, xẻo của chồng rồi quẳng ra đường. Người Việt cũng có vụ cô Kim Trần ở. Alaska vài năm trước, rồi mới đây trong tháng 7-2011, bà Katherine Kiều ở quận Cam đã phục thuốc mê, trói ông chồng da trắng lại, và … cắt.
Ở Việt Nam cũng có hằng trăm vụ tương tự cùng chủ trương, “đào tận gốc, bóc tận rễ” vì nguyên nhân tất cả những vụ bỏ bê vợ con, lăng nhăng, phản bội thảy đều do cái “gậy thằng mù” khốn nạn ấy. Ở Trung Đông, kẻ ăn cắp phải chịu tội chặt tay, nhưng chưa nghe nói ở đâu tội hiếp dâm phải chặt .. gậy. Tóm lại tất cả những vụ rắc rối, ngoại tình, phản bội từ người đàn ông trên đời nay đều do một tay thằng nhỏ làm nên. Bao nhiêu kẻ quyền cao, chức trọng đã chết vì mỗi cái gậy, bao nhiêu linh mục, thượng tọa đã lánh cuộc đời trần tục, vẫn bị ma quỹ lôi kéo vì cái vật cỏn con. Từ xưa đến nay, có nghe nói làm hoạn quan trong cung cấm thì phải thiến, nhưng chưa nghe ai nói người đã dốc lòng đi tu, thề không vướng bận trần tục, thì còn để chi cái ấy cho thêm rắc rối sự đời mà không xẻo vất nó đi. Vì khi “cái gậy thằng mù” đã khua lên, thì con người không còn lý trí, đạo đức, luân thường đạo lý gì nữa, hành động đôi khi như loài súc vật. Xưa nay, chúng ta đã thấy báo chí kể những chuyện loạn luân cả đối với chị dâu, con dâu hay con gái trong nhà, đạo lý gọi hành động này là “cẩu hợp” quả không oan.
Kể ra ví von như thế cũng tội nghiệp cho những người khiếm thị, mù thì có tội tình gì, mà kết tội cho cây gậy, một vật vô tri, vô giác, cũng oan. Nhưng không có gậy thì thằng mù cũng hết đường dò dẫm, đàn ông không gậy như quân nhân bị tước đoạt vũ khí, lính ra trận không có súng, chỉ lấy miệng hô “pằng pằng”, mà xung phong lên thì đếch có con … địch quân nào sợ!
Ba mươi tám năm sau, trên bảo chí, đải phát thanh và internet hổm nay vẫn có nhiều mầu nhắn tin tìm cha nghe rất thống thiết và làm não lòng người, đại để như sau:.
– Tìm Cha: Tìm Cha là ….. nguyên Thiếu Úy phi công thuộc phi doàn …. Sư Đoàn 1 KQ Đà Nẵng, di Mỹ từ tháng 4-1975. Từ ngày cha đi, không có tin tức gì, mẹ đem con về nhờ bên ngoại nuôi. Nay con đã khôn lớn, muốn tìm Cha cho thỏa lòng mong ước!
– Con gái là Bích, hiện ở Pháp, tìm cha là ……… trước 75 làm việc tại Air Việt Nam, văn phòng đặt tại số 116 Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Ba ơi, có còn nhớ con không? Con gái là Bích đây. Hồi những năm 70 -71, nhà mình ở Cư xá Nguyễn Hoàng, sang năm 72 thì dọn về Cư xá Lữ Gia Quận 11, Phú Thọ . Hồi đó con còn nhỏ lắm, nhưng vẫn nhớ mỗi lần Ba về thăm đã bồng ẳm con và cho con nhiều đồ chơi , bánh kẹo. Từ ngày 30/04/75 đến nay con không còn nhận dược tin tức gì cuà Ba nữa, vậy được tin này mong Ba, nếu còn sống ở dâu đó cho con được biết tin.
– Cha tôi là Thiếu Úy CSQG tên … trước làm việc ở ….. bỏ mẹ và con ra đi ngày Saigon thất thủ. Con là ….. muốn tìm lại Cha. Nay con đã khôn lớn, có gia đình, mong tìm Cha để có tình phụ tử ấm áp, không có ý định mong Cha giúp đỡ gì. Ông là người có quen biết với cộng đồng ở Nam Cali, nơi đông người Việt, xin lảm ơn tìm giúp Cha tôi.
Mới đây lại có trường hợp một người con gái từ Đan Mạch muốn tìm cha. Cha mẹ cô vượt biển và gặp nhau ở Đảo. Sau khi cô sinh ra đời, thì cha mẹ cô chia cách, cha cô di dịnh cư ở Mỹ và mẹ con cô đi Đan Mạch. Bây giờ cộ đã trưởng thành muốn đì tìm cha, mà những gì còn lại trong trí nhớ chỉ con lại một cải tên họ duy nhất!
Ngày nay với những phương tiện thông tin, báo chí, internet … thế giới này cũng như một ngôi làng nhỏ, những người cha này cũng quanh quẩn đâu đây thôi, nhưng làm sao họ bước qua được những vòng vây nghiệt ngã và sự sợ hãi để ôm những đứa con rơi rót ngày xưa vào lòng.
Còn tìm mẹ thì sao? Ít nhất hai lần, người viết bài này dã kể chuyện trong những phóng sự tìm mẹ cho hai em.
Một em lai Mỹ trắng, bị mẹ đem con cho người khác khi em còn nhỏ. Một em khác lai Philippines bị rnẹ dắt bỏ giữa đường, được người khác thương tình đem về nuôi. Ca sĩ Randy, lai Mỹ Việt đã nhiều lần về Việt Nam tìm mẹ những không có kết quá. Những người mẹ bất hạnh, sau tháng 4-1975, bị xã hội khinh ghét, kỳ thị và vì nghèo khổ đành đem cho hay buông bỏ đứa con của mình. Nỗi dau đớn của người mẹ mất con cũng to lớn như nỗi xót xa của đứa con mất mẹ. Qua thời gian dài xóa nhỏa, các em không còn nhớ gì dến khuôn mặt hay quê quán, gốc gác của mẹ mình. Và những người mẹ bỏ con ngày ấy, hôm nay đã qua dời, thất lạc hay còn sống dó, nhưng có những lý do xót xa riêng, muốn chôn vùi dĩ vãng, không thể nảo lên tiếng nhận lại đứa con mà chính họ đã bò rơi. Sở dĩ phải qua một thời gian hơn ba mươi tám, ba mươi chín năm, các em mới muốn di tìm lại mẹ, tìm lại chủ là vì trong tuổi thơ lưu lạc, các em còn chưa biết suy nghĩ hay còn chạy theo cuộc sống, nay đã lớn khôn, đã lập gia đình, có con cái. Lúc bây giờ tình huyết thống mới réo gọi. “- Cha tôi đâu? Mẹ tôi là ai?” Nhưng người cha, người mẹ đó bây giờ, trong nghịch cảnh, biết có thuận tiện và can đảm để có cơ hội ôm lấy đứa con lưu lạc hơn ba mươi năm của mình, ứa giòng lệ mà nói: “-Ba của con đây con! -Mẹ của con đây!”
Tại Mỹ, ít nhất đã có hai trường hợp những người cha vượt biến ngày xưa đã tìm lại dược những đứa con bị hải tặc Thái Lan bắt đem về nuôi, nhưng những người cha trong câu chuyện này không những không muốn đi tìm những đứa con thất lạc mà lại đang lâm vào một nghịch cảnh rắc rối khó xử. Nếu bạn là một trong những người cha trong những đoạn nhắn tin trên, chắc hẳn khi biết mình đích thực là người cha dó, hẳn “bầm gan, héo ruột” sống trong ân hận, mà không hiết phải xử trí ra sao? Ngày chúng ta bỏ miền Trung, rồi mất Saigon, trong cơn hỗn loạn các bạn ra đi, vội vàng phải bỏ lại vợ hay một người tình đang mang thai hay đã có con với bạn. Ngày đó có ai nghĩ sẽ có một ngày về sum họp với những người thân yêu. Đến một miền đất tự do nào dó rồi, bạn quay cuồng theo sự sống, lo học hành. xây dựng cuộc đời mới, nhưng không phải ai cũng còn nghĩ dến người đàn bà ở lại, những đứa con rơi rớt. Nhiều khi bạn đã quên hẳn hay nghĩ rằng mọi sự dã an bài, rồi thời gian sẽ xóa đi tất cả. Bạn có duyên mới, có một gia đình hạnh phúc, đã xếp dĩ văng và chôn những hình ảnh xưa kia trong ngăn xếp sâu kín của đời mình, ngay cả bạn bè cũng chẳng hề hé môi nói chi đến người vợ sắp cưới, mà dĩ vãng kia có thể làm đổ vỡ cả một tương lai màu hồng đang chờ bạn. Đạo lý lên án bạn là kẻ bạc tình, là con người vô trách nhiệm. Chiến tranh, chia lìa đã đẩy chúng ta đến những nghịch cành mà vì sự yếu đuối của con người đôi khi không thể giải quyết nổi. Thủ phạm của những nổi thương tâm này chính là “biến cố tháng 4-1975″ đã đẩy hàng chục nghìn người Việt, trong cơn hỗn loạn, vội vàng rời khói đất nước. Nhiều cô xuớng ngôn viên phát thanh hay biên tập báo chí đã vô ý, không có kinh nghiệm về những vấn để xã hội, đã đợc hay đăng nguyên lời nhắn tin với tên họ, gốc gác người cha, để khiến cho bao nhiêu cảnh dỡ khóc dỡ cười xảy ra, Thử tưởng tượng, một ngày nào đó tên, cấp bậc, đơn vị của bạn dược réo gọi trên làn sóng phát thanh: *Cha ơi! Bây giờ Cha ở đâu!” Bạn như đang ngồi trên đống lửa. Người vợ hiện nay của bạn có rộng lượng tha thứ cho sự việc bạn đã có một dứa con bỏ lại hay một đứa con rơi đang di tìm cha. Bạn đã lừa dối, che dấu dĩ vãng không nói thật với người bạn đời Đâ sợ sự thật không dược chấp nhận, Đây là những ngày đen tối ập lên gia đình bạn. Bạn có can đảm nói với vợ: “Em bình tĩnh ngồi xuống đây, nghe anh nói, anh có một đứu con rơi trước khi gặp em, năm nay dã 40 tuổi, đang đi tìm anh!” Gia dình sẽ sóng gió đi đến chỗ tan vỡ: “- Hoặc chọn gia đình này, hoặc chọn dứa con rơi của anh!”.
Cha trước ngày 30 tháng 4- 1975 làm việc tại số 116 Nguyễn Huệ, Sai Gòn mà con và má thi ở cư xá Lữ Gia Quận 11, Phú Thọ, nghĩa là chung một thành phố, nhưng vẫn nhớ “mỗi lần Ba về thăm” đã bồng ẳm con và cho con nhiều đồ chơi , bánh kẹo. Vậy thì rõ rảng người được tìm trong câu chuyện này mắc tội song hôn, một cảnh hai quê rồi còn gì nữa? Con ơi, “nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta …. “
Xin Quý Bà chuyên mục “Gỡ Rối Tơ Lòng” trên các tờ báo cho bạn tôi một lời khuyên, hơn nữa, nếu bà là người vợ trong câu chuyện, bà sẽ xử sự ra sao cho có tình, có lý. Trách nhiệm của một người đàn ông, nỗi khó xử và lòng ích ký cua người đàn bà, ai khổ tâm hơn ai? Chiến tranh trên đất nước chúng ta đã gây ra bao nhiêu chuyện trớ trêu, chia lìa xót xa, khó xử mà người chồng, người vợ, đứa con lạc loài, tất cả đều là nạn nhân.
Nhưng bạn cũng chớ nên đùa dai lấy tên kẻ thù của bạn đăng trong mục “Tìm Cha” trên mặt báo hay phát tán trên internet, thì dù đời kẻ thù của bạn có như tờ giấy trắng cũng phải nghe vợ nhà nhỏ nhẹ nói: “Anh bình tinh ngồi xuống đây, nghe cm nói … ” hay là chén bát bắt đầu loảng xoảng vì trận cuồng phong cấp 6 đã “đổ bộ” vào gia đình người đàn ông ấy!
Ngài Hung Cao, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ (hình của navy.mil/Leadership/Flag-Officer-Biographie)
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, Ngài* Hung Cao đã nhậm chức Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ, sau khi ông John Phelan, Bộ trưởng Hải quân đương nhiệm bị sa thải, theo Ngũ Giác Đài thông báo vào ngày 22/4. Cùng lúc, ông Hùng Cao, Thứ trưởng Hải quân được bổ nhiệm giữ chức Quyền Bộ trưởng Hải quân (Acting Secretary of the Navy). Cũng theo nguồn tin tiết lộ với CNN và các báo cáo khác, mối quan hệ giữa Bộ trưởng Hải quân Mỹ, John Phelan và Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth đã căng thẳng trong nhiều tháng trước khi ông Phelan bị sa thải. Một nguồn tin khác cho biết, ông John Phelan có quan hệ không tốt với Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth và Thứ trưởng Quốc phòng Steve Feinberg, cũng như quan chức dân sự số hai của Hải quân là ông Hùng Cao.
Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ (United States Secretary of the Navy) là Viên chức dân sự đứng đầu Bộ Hải quân Hoa Kỳ. Chức vụ này từng là một thành viên nội các của Tổng thống Hoa Kỳ cho đến năm 1947 khi Hải quân Hoa Kỳ, Lục quân Hoa Kỳ và quân chủng Không quân Hoa Kỳ mới được thành lập được đặt dưới quyền của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và Bộ trưởng Hải quân được đặt dưới quyền của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ. Bộ trưởng Hải quân được Tổng thống Hoa Kỳ đề cử và phải được Thượng viện Hoa Kỳ xác nhận với tỉ lệ đa số phiếu trước khi được bổ nhiệm.
Theo Điều 10, Bộ luật Hoa Kỳ, Bộ trưởng Hải quân có trách nhiệm tiến hành tất cả công việc của Bộ Hải quân Hoa Kỳ bao gồm: tuyển mộ, tổ chức, trang bị, tổng động viên và chấm dứt tổng động viên. Bộ trưởng cũng trông coi việc đóng, tân trang, và sửa chữa các tàu Hải quân, trang bị và các cơ sở căn cứ Hải quân. Bộ trưởng có trách nhiệm soạn thảo và thực hiện các chính sách, chương trình phù hợp với chính sách và mục tiêu an ninh Quốc gia mà Tổng thống và Bộ trưởng quốc phòng lập ra. Bộ Hải quân gồm có hai quân chủng đồng phục, đó là Hải quân và Thủy quân lục chiến.
Tân Thứ trưởng Hải quan Hung Cao tuyên thệ tuyên thệ nhậm chức trước Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth ngày 3 tháng 10 năm 2025 (hình của Thượng sĩ Hải quân Alexander Kubitza).
Trường hợp cựu HQ Đại tá Hung Cao, Thứ trưởng Bộ Hải quân đang giữ chức Quyền Bộ trưởng Hải quân thay thế Bộ trưởng John Phelan bị sa thải, ông có quyền như Bộ trưởng, nhưng chức vụ chính thức và lương bổng vẫn là Thứ trưởng Hải quân. Bởi vì chức vụ Bộ trưởng phải do Tổng thống đề cử nên phải có Thượng viện điều tra và thông qua. Nhưng trong quá khứ có nhiều “Quyền” Bộ trưởng Hải quân lên thay thế Bộ trưởng Hải quân mà không cần Thượng viện thông qua, vì là chức vụ tạm thời, tính từ năm 2000 đến nay. Như trường hợp ông Robert B. Pirie Jr, quyền Bộ trưởng Hải quân, thay thế ông Richard Danzig, Bộ trưởng Hải quân; Bà Susan Livingstone và ông Hansford T. Johnson làm quyền Bộ trưởng thay thế ông Gordon R. England, Bộ trưởng; Ông Dionel M. Aviles, quyền Bộ trưởng thay thế ông Gordon R. England, Bộ trưởng; Ông Dionel M. Aviles, quyền Bộ trưởng thay thế ông Gordon R. England, Bộ trưởng (ông Gordon R. England 2 lần làm Bộ trưởng Hải quân); Ông B. J. Penn, quyền Bộ trưởng thay thế ông Donald C. Winter; Ông Sean Stackley, quyền Bộ trưởng thay thế ông Ray Mabus, Bộ trưởng; Ông Thomas Modly, quyền Bộ trưởng thay thế ông Richard V. Spencer, Bộ trưởng; Ông Thomas Harker, quyền Bộ trưởng thay thế ông Kenneth Braithwaite, Bộ trưởng; Ông Terence Emmert, quyền Bộ trưởng thay thế ông Carlos Del Toro, Bộ trưởng mà không qua Thượng viện, vì chỉ là chức tạm thời.
Nhiệm vụ của Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao hiện nay là chịu trách nhiệm quản lý hoạt động phát triễn gần một triệu Quân nhân các cấp và Nhân viên dân sự Hải quân và Thủy quân Lục chiến, với ngân sách hàng năm hơn 250 tỷ đô la của Bộ Hải quân. Nhiệm vụ chính bao gồm giám sát các lãnh vực như mua sắm trang bị chiến cụ vũ khí, kiểm toán, quản lý tài chính và thông tin, hiện đại hóa hệ thống hoạt động của Hải quân, và cải thiện cơ sở vật chất và dịch vụ cho Quân nhân Hải quân và Thủy quân Lục chiến cùng gia đình họ. Lần đầu tiên trong lịch sữ Hải quân Hoa Kỳ, một người Việt Nam tị nạn được làm Quyền Bộ trưởng Bộ Hải quân với một lực lượng 300 Chiến hạm các loại bao gồm: Hàng không mẩu hạm, Tàu ngầm, Tuần dương hạm, Khu trục hạm, Chiến hạm thuỷ bộ, và 4012 Phi cơ tối tân, hiện đại. Và Lực lượng Thuỷ quân luc chiến, tinh nhuệ hùng mạnh của quân đội Hoa Kỳ, một hải lực hùng mạnh nhất Thế giới.
Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy) năm 1996, với Văn bằng Cử nhân khoa kọc kỹ thuật đại dương, và thụ huấn chương trình hành quân đặc biệt Hải quân. Sau khi hoàn tất huấn luyện tại các trường huấn luyện đặc biệt Hải quân từ năm 1997 đến năm 2013, ông được chỉ định phuec vụ nhiều đơn vị chuyên môn trong ngành người nhái Hải quân. Trong thời gian phục vụ tại các đơn vị trên, ông theo thụ huấn nhiều chương trình huấn luyện chuyên môn như tháo gỡ đạn dược và mìn bẫy dưới nước (EOD), hành quân đặc biệt, thợ lặn, chiến tranh trên biển, kỹ thuật (cao cấp) tháo gỡ đạn dược-thủy lôi-mìn (Master EOD Technician), và bằng nhảy dù.
Cựu HQ Trung tá** Hung Cao, Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện người nhái trục vớt Hải quân Hoa Kỳ (hình của commons.wikimedia.org)
Tháng 9 năm 2013, HQ Trung tá Hung Cao được chọn làm Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện người nhái trục vớt Hải quân Hoa Kỳ (Naval Diving and Salvage Training Center), là Trung tâm huấn luyện lớn và quy mô nhất trên thế giới, chuyên môn đào tạo 23 ngành lặn dưới biển. Mỗi năm trung tâm đào tạo 1200 Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Thủy thủ, Binh sĩ và Nhân viên từ các quân binh chủng Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh gởi đến thụ huấn. Đến tháng 6 năm 2016, HQ Trung tá** Hung Cao bàn giao lại chức vụ Chỉ huy trưởng lại cho HQ Trung tá Cameron Chen, sau đó ông được thuyển chuyển phục vụ tại Ngũ giác đài.
Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao tốt nghiệp và hoàn tất các văn bằng: Vắn bằng Cử nhân kỹ thuật đại dương, Học viện Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy) năm 1996; Văn bằng Cao học khoa học vật lý ứng dụng, Trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School) năm 2008. Và được học bổng nghiên cứu tại hai Đại học MIT và Harvard.
Cựu HQ Đại tá** Hung Cao và con trai Sinh viên Sĩ quan thụ huấn tại Hoc viên quân sự Marion Military Institute (hình của en.wikipedia.org).
Trong suốt thời gian phục vụ và chiến đấu trong Hải quân, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: Huy chương Bronze Star; Huy chương Meritorious Service Medal; Huy chương Joint Service Commendation Medal; 2 huy chương Navy Commendation Medal; Huy chương Army Commendation Medal; 3 huy chương Navy Achievement Medal; Huy chương National Defense Service Medal with one bronze star; 3 Huy chương Iraq Campaign Medal; Huy chương Global War on Terrorism Expeditionary Medal; Huy chương Global War on Terrorism Service Medal; Global War on Terrorism Service Medal; huy chương Military Outstanding Volunteer Service Meda; Huy chương NATO Medal và một số huy chương cấp đơn vị various unit and service awards.
Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao là một trong năm HQ Trung tá gốc Việt được đề cử thăng cấp HQ Đại tá vào tháng 5 năm 2017, bốn vị khác đó là HQ Trung tá Han Quang Bui, Bác sĩ y khoa; HQ Trung tá Hien Trinh, Bác sĩ nha khoa, HQ Trung tá Tu Amh C. Halquist, Bác sĩ nha khoa và HQ Trung tá Tuan Nguyen, ngành giao tế Hải quân, nay là Phó Đề đốc, Tùy viên cao cấp Quốc phòng Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh, Trung Quốc.
Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao nguyên là sĩ quan cao cấp gốc Việt duy nhất theo ngành chiến tranh đặc biệt Hải quân (Lực lượng đặc biệt Hải quân), đây là ngành đòi hỏi phải có thể lực, gian khổ và nguy hiểm. Nhiệm vụ của người nhái tác chiến Hải quân (SEAL) được biết đến như: Đột kích, do thám, chống khủng bố, trinh sát, giải cứu con tin, truy lùng buôn lậu ma túy v.v… Người nhái Hải quân là lực lượng tinh nhuệ nhất của quân đôi Hoa Kỳ, họ là những chiến sĩ đa năng, hoạt động và chiến đấu trên không, trên bộ và dưới biển.
Ông Hung Cao, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ (hình của govconwire.com).
Năm mươi mốt năm trước, cậu bé Hung Cao đến đảo Guam với tư cách người tị nạn Việt Nam, rồi năm mươi năm sau, Thứ trưởng Hải quân Hung Cao trở lại đảo Guam với tư cách là một Quan chức cao cấp của Bộ Quốc phòng và Bộ Hải quân tại đảo Guam, nơi ông giám sát, vận động và yểm trợ phát triển cơ sở hạ tầng quân sự trên đảo phù hợp với các yêu cầu tác chiến. Và hiện nay Ngài Hung Cao, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ tại Ngũ Giác Đài. Nguyên là Sĩ quan cao cấp ngành tác chiến Hải quân (Line Officer) với kiến thức và 25 kinh nghiệm phục vụ Hải quân, Quyền bộ trưởng Hải quân Hung Cao sẽ phát triễn Lực lượng Hải quân và Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ hùng mạnh, một hải lực mạnh nhất thế giới.
Chúc mừng Ngài Hung Cao, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ.
Chú thích: *Ngài Hung Cao nhậm chức Quyền Bộ trưởng Hải quân vào ngày 22 tháng 4 năm 2026./The Honorable Hung Cao assumed responsibility as Acting Secretary of the Navy on April 22, 2026; **Ghi theo cấp bậc HQ Trung tá-Navy Commander, HQ Đại tá=Navy Captain.
Nguồn: navy.mil/Leadership/Flag-Officer-Biographie; congress.gov; insidedefense.com; news.usni.org; breitbart.com; en.wikipedia.org; thuymyrfi.blogspot.com; bienxua-Cựu Hải quân Đại tá Hung Cao (gốc Việt), được Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn làm Thứ trưởng Bộ Hải quân Hoa Kỳ.
Tôi yêu thơ của bà Hồ Xuân Hương, nói tội trời vì “mềnh cùng một họ”. Nhiều người ghét họ Hồ, tôi hiểu được, nhưng không chối cãi rằng có lắm người mến chuộng nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Trong bài “Thân Phận Người Đàn Bà” có hai câu thần sầu qủi khóc:
“Bố cu lổm ngổm bò trên bụng Thằng bé hu hơ khóc dưới hông”.
Tuyệt! Khơi mở ra hình ảnh lắm ẩn dụ, giàu liên tưởng. Xưa từ hồi nảo hồi nào, hình như bà Hồ Xuân Hương là người đi tiên phuông, lén phén bàn qua chuyện cấm kị và lên giọng thoải mái khi đụng tới những vùng “nhạy cảm”. Những Đánh Cờ, những Cái Quạt, những Đánh Đu… Nhiều bài lắm, tạm đưa ra bài Quả Mít dẫn chứng:
“Thân em như quả mít trên cây Da nó xù xì múi nó dày Quân tử có thương thì đóng cọc Xin đừng mân mó nhựa ra tay”. Tôi vụng nghĩ, chỉ nghĩ suy vớ vẩn thôi, rằng thi sĩ Bùi Giáng vào cuối đời thích làm thơ lẻ (hai tới bốn câu) có thể mượn “điển tích” quả mít nọ để bàn qua hoàn cảnh xã hội đẻ ra loạn vị chủ tịch:
“Cây mít ra quả sớm chiều Đại ca chủ tịch còn nhiều bận tâm”.
Bận tâm chuyện gì? Ôi, chủ tịch nước ta thì có chán khối việc để mần, để chấm mút, để đóng cọc. Thơ “vui thôi mà”, rất “tâm tư” việc đùa cợt, chế giễu. Phong vị chừng như chẳng khác mấy Hồ Xuân Hương. Ấy ái uông là chữ của riêng bà Hồ Xuân Hương nhằm đặc tả một bọn ngọng khi đứng xem chuông. Thi sĩ đã tiên tri, nhìn thấy trước cái viễn cảnh “đất nước mình nhiều thằng ngọng lắm phải không anh?” Ngọng với ngộ cũng một nghĩa như nhau. Và trong thơ Hồ Xuân Hương, luôn bày rõ khẩu khí của bà. Ví như:
“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ”.
Nói dại mồm và hơi bị sai quy trình là giả dụ sống tới thời nay, Hồ Xuân Hương mà post hai câu này lên facebook thì đám dư luận viên sẽ lôi trái mít ra đập cho bầm dập. 500 bằng hữu xa gần cạy mặt, nghỉ chơi, thôi kết bạn ngay tắp lự. Con cái nhà ai mà trạng cóc rứa bây! Nhưng “quân tử” sẽ hối hận liền khi nếu hôm sau lén phén đọc thấy thêm thơ “chị” ấy trình làng:
“… yếm đào trễ xuống dưới nương long đôi gò bồng đảo sương còn ngậm một lạch đào nguyên nước chửa thông quân tử dùng dằng đi chẳng dứt đi thì cũng dở, ở không xong”.
Like mạnh đi chứ lỵ. Không biết “chị” tả một bộ phận không nhỏ nào mà mường tượng ra một đặc khu rất dễ dành đất đóng cọc. Ngay cả khi chị tả cái quạt cũng kỳ khôi, nghe đứng gió, thấy nực nội lạ lùng:
“Chành ra ba góc, da còn thiếu Khép lại đôi bên, thịt vẫn thừa”.
“Chị” chỉ được tài làm thơ Nôm thôi, chị khác mấy em lúc nào cũng thích kèm theo ảnh hình “dung tục”. Vừa vừa phải phải thôi, tụi kiểm soát Facebook nó chẳng ưa dòm cái quạt của chị đâu, nó chua hàng chữ làm mình ngọng: “Chưa tiện hiển thị ảnh này lên”. Ui, ấy ái uông.
Đến đây chị bảo đôi điều Quê mình khổ cực ít nhiều lầm than Sao em quay mặt không màng Những lo đi bão nửa tàng nửa điên.
Bà Hồ Xuân Hương không làm thơ lục bát, chỉ thất ngôn. Được hậu thế đánh giá là “Bà chúa thơ Nôm”. Chức vụ ấy có to không? Bà chúa làm sao so bì được với chủ tịch, nhỉ? Chủ tịch hô hào:
Nay ở trong thơ nên có thép Làm nhà thơ phải biết xung phong.
Bỏ đi nha. Đừng ngồi đó mà đánh đu, mà lộ hàng cái quạt (phú ông xin đổi ba bò chín trâu). Quỡn quá lại ra vườn ví mình là quả mít (khiến xui đại ca chủ tịch bận tâm). Mân mê sờ mó (không phải ấu dâm) thì buộc múi mít chảy nhựa. Khi lỡ dính tay, biểu sao đại ca chủ tịch không phát minh ra từ “bôi trơn”. Mang phong bì nằng nặng một tí, nhớ? Ảnh có hỏi “cái gì thế” thì cứ việc thưa “ấy ái uông”. Giả dại qua truông, nói ngọng thì ảnh sẽ ngộ ra: Ờ, lần này để ta xắn tay giải quyết cho, chậm lắm là ba ngày sẽ đạt thành tựu. Nên khuyến mãi tiếp thị thêm, lại gần cho tớ rờ cái nào, ăn gì mà thịt thơm thế?
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương để lại cho văn chương xứ Việt một gia tài không nhỏ về những vần thơ táo bạo, là người đi đầu ở mặt tranh đấu nữ quyền, đả phá bao xấu xa mà xã hội phong kiến bày ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho quần chúng cuốn Ngục Trung Nhật Ký “đình đám”, nghe đâu “ngài” lỡ cọp dê từ một tác giả người nước lạ:
Đau khổ chi bằng mất tự do Đến buồn đi ỉa cũng không cho.
Đau khổ thật đấy! Nhưng đừng quên cảnh sớm nắng chiều mưa. Có gì hạnh phúc cho bằng khi đi đâu ta cũng được đón tiếp nồng hậu, được ôm ấp nựng nịu các cháu ngoan trong đôi vòng tay năng động? Các chú xử thằng Nguyễn Hữu Linh từ 6 tháng đến 3 năm tù vì tội sờ mó một bé gái trong thang máy là chơi ép nó quá đấy, vì dù gì thì nó đã noi theo gương sáng của ta mà manh động trong nhất thời. Mấy bé ấy chưa tựu thành ra quả mít đâu nhỉ? Da chưa sần sùi và múi chưa tiết ra nhựa đâu nhỉ? Thôi thì ta nên thống nhất mọi việc bằng ba chữ Ấy Ái Uông. Đằng ấy nghe không chuẩn hơn là ma-dzê-in Việt Nam hay sao?
Tui quen anh Mười Sử hồi còn ở trong nước lận. Anh Mười là người có ăn học, tốt nghiệp Ðại học Sư phạm đàng hoàng. Ảnh dạy môn Sử Ðịa nên có cái biệt danh là Mười Sử.
Sau 75, tui bị đuổi về quê chăn trâu thì anh Mười vẫn còn được ‘Vi Xi’ cho lưu dụng, cho ảnh tiếp tục dạy thêm một khoảng thời gian nữa. Không phải tụi nó tốt lành gì mà để câu giờ, chờ cái đám sinh viên Luật, Văn khoa chuyển qua học Sư phạm. Xong xuôi đâu đó, nó nắm đầu thầy Mười Sử đuổi cũng giống hịt tui thôi. Vì Việt Cộng nói mấy tay giáo Ngụy, nhứt là dạy Sử Ðịa rất phản động! Không thể nào cải tạo được nữa. Cách đây 47 năm, nếu không là giáo mà là lính, nghe nói không cải tạo được nữa là 100% phải dựa cột. Mấy bữa chiều mưa rỉ rả, dắt trâu ngoài đồng về ngang nhà, anh Mười Sử hay kêu tui ghé vô đụt mưa, tiện thể lai rai ba sợi, nói dóc chơi! Chuyện tình như trúng số độc đắc của anh Mười Sử trong lúc cả nước ăn độn bo bo, nó ẩm ướt ‘ca dao’ lắm nhe. Có lần học trò mời anh Mười đi ăn đám gả, đám vu quy. Khách đến phụ nấu nướng đêm nhóm họ toàn là đàn bà, con gái nên ảnh dắt tui theo cho đỡ khớp. Khuya hơi ngơi tay một chút, thì mấy anh chưa vợ, mấy chị chưa chồng xúm lại cái bàn gần bếp vừa lai rai, nối dòng lá thắm để sớm se chỉ luồn kim, kẻo ‘ế chồng’ bất tử!
Một em bèn thử tài Sử Ðịa của thầy Mười như vầy: “Thấy thầy hay chữ, em đây hỏi thử đôi lời. Ðường từ Châu Ðốc, Hà Tiên. Kinh nào chạy thẳng nối liền hai nơi? Thầy Mười biết nói nghe chơi! Còn lỡ không biết? Một lời chịu thua!”. Gặp tui, thua là cái chắc. Nhưng anh Mười là dân cự phách, giáo sư Sử Ðịa trường làng chớ bộ. Dễ gì chịu thua nè?!
Anh Mười bèn tằng hắng lấy giọng, đáp lại rằng: “Nghe em hỏi tức, anh đây nói phứt cho rồi. Ðường từ Châu Ðốc, Hà Tiên có kinh Vĩnh Tế nối liền hai nơi”. Em đưa vạt áo bà ba lên miệng nhai nhai rồi ỏn ẻn gật đầu nói: “Ðúng vậy!”. Anh Mười nghe người đẹp ụt ịt như cái hột mít, xấu hoắc hè nhưng bù lại giàu nứt đố đổ vách, khen khoái quá, hỉnh mũi, méo mó nghề nghiệp giảng thêm rằng: “Cả 100 ngàn lượt dân công, binh lính đào bằng tay. Kinh Vĩnh Tế dài tới 87km, rộng 30m và sâu 2.55m. Ðào ạch đụi mất tới 5 năm. Từ 1819, thời Gia Long, tới năm 1824, thời Minh Mạng mới xong.
Sách xưa có ghi: Công đầu là của ông Thoại Ngọc Hầu chỉ huy. Bà Châu Thị Vĩnh Tế đã giúp chồng nhiều việc nên mới được vua lấy tên bà đặt cho con kinh đào dài hết biết này!
Anh Mười nhấn nhấn: “Tui nói ra điều nầy không có chủ ý phủ nhận công lao của ông Thoại Ngọc Hầu và bà Châu Thị Vĩnh Tế. Nhưng đời mà! Sự thực bao giờ cũng là: “Nhứt tướng công thành vạn cốt khô!”. Bởi công việc đào kinh ở chốn đồng không mông quạnh, nhiều sơn lam chướng khí, nên việc ăn uống, thuốc men thảy đều thiếu thốn. Số dân phu chết vì thú dữ như sấu, rắn rít; chết vì kiệt sức, bịnh tật nhiều lắm. Rồi số người bỏ trốn bằng cách vượt thoát qua sông Vàm Nao rồi bị bỏ mạng cũng nhiều. Vì thế kinh đào xong, ông Thoại Ngọc Hầu có làm bài tế cô hồn kinh Vĩnh Tế, dưới thể thơ song thất lục bát, khóc những người lính không bỏ mạng ở sa tràng mà lại bỏ mạng lúc đào kinh, đọc lên nghe oái oăm, bi thiết lắm:
“…Đào kênh trước, mấy kỳ khó nhớ?
Khoác nhung y chống đỡ biên cương.
Xông pha máu nhuộm chiến trường
Bọc thây da ngựa, gửi xương xứ này
Quê cách trở, lấy ai hộ tống,
Sống làm binh, thác chống quỷ ma.
Than ôi, ai cũng người ta,
Mà sao người lại thân ra thế này?
…Giờ ta vâng lệnh bệ rồng,
Dời ngươi an táng nằm chung chốn nầy.
Chọn đất tốt thi hài an ổn,
Cảnh trời thanh vui nhộn cùng nhau.
Hằng năm cúng tế dồi dào,
Tràn trề lễ trọng dám nào để vơi…”.
Bài biên khảo bằng mồm về Kinh Vĩnh Tế của anh Mười Sử thao thao diễn thuyết thiệt là hay. Nhưng cử tọa là mấy em, tóc dài em cài hoa thiên lý không thèm để ý nghe gì hết ráo?! Ai nấy cũng đều ngáp dài ngáp vắn.
Thức khuya để thả dê nhưng coi bộ không êm, tui nháy mắt anh Mười ra sau hè nói nhỏ: “Ðám nhóm họ để rủ ra bụi chuối, se chỉ tình ta, mà cha lại đi giảng bài Sử địa? Thiệt làm ‘ọt rơ’ hết trơn, hết trọi hè!”
Anh Mười Sử có vẻ giận lời phê bình như tát nước vào mặt ảnh của tui. Nên từ đó về sau, mỗi chiều mưa, dắt trâu về ngang lối cũ, anh Mười không còn kêu tui vô nhà đụt mưa và nhậu nữa. Hai đứa tui xa nhau từ độ ấy.
Rồi mãi tới 20 năm sau, mới biết ảnh lấy được em hỏi câu đố đó, tức chị Mười bây giờ. Gia đình bên vợ giàu cho được mấy cây vàng để ảnh chỉ vượt biên qua tới Mỹ. Anh Mười Sử hay không bằng hên, đúng là thằng cha đẻ bọc điều.
Tui bèn gởi thơ coi ảnh còn giận tui hông? “Chuyện đã hai chục năm rồi! Giận gì?” Ảnh trả lời. Vậy là hai đứa tui lại ‘tao đàn, mầy đàn’. Lại Bá Nha, Tử Kỳ như năm cũ dẫu cách nhau tới hơn hai chục giờ bay.
Khi viết bài có dính về Sử Ðịa là tui hỏi ảnh, một cuốn bách khoa toàn thư chạy bằng rượu cho nó gọn; để khỏi mất công tra cứu trên Google!
Hôm rồi nè; tui đọc trên báo mạng, có một ông viết vầy: “Ngồi trên xe, chạy dọc theo kinh Vĩnh Tế lúc hiện ra, lúc mất… Lòng tôi bất chợt nhận ra con ‘kênh’ do công lao của ông Thoại Ngọc Hầu và người vợ chính là bà Châu Thị Vĩnh Tế với cái Tâm lớn, cái Tầm nhìn xa, cái Trí thật rộng… Những dãy nhà phố cao tầng khang trang, những nhà máy xay xát lúa, những cánh đồng ruộng mênh mông uống dòng nước phù sa, những con thuyền, ghe tàu lớn nhỏ giương hai con mắt to tròn, vẽ màu đỏ rạng rỡ trước mũi, đang ngày đêm xuôi ngược chở đầy hàng hoá của miền Tây sông nước đi khắp nơi…Cuộc sống phồn vinh, sôi động được bắt nguồn từ đây, tất cả những hy sinh, những công ơn to lớn đó…”
Ðọc xong thấy ngứa miệng quá, nên tui hỏi anh Mười Sử nghĩ sao? Thì anh Mười trả lời tui hai chuyện như vầy: Một là: Kinh Vĩnh Tế chớ không có cái vụ hồi ‘Kinh’, hồi ‘Kênh’ gì hết ráo. Tiếng địa phương là phải tôn trọng như nó có! Nhứt là cái ‘địa danh’. Phải là ‘Kinh Vĩnh Tế’ chớ không phải là ‘Kênh Vĩnh Tế’. ‘Kinh Xáng Xà No’ chớ không được quyền viết ‘Kênh Xáng Xà No’ cho được. Không thể tự tiện muốn viết sao thì viết.
Hai là: Việc đào kinh là do Bộ Binh (Bộ Quốc Phòng) của triều đình nhà Nguyễn thời Vua Gia Long đề ra mục đích chánh là phòng thủ biên cương. Cũng như kinh Bảo Ðịnh đào trước đó. Nói đào kinh là vì kinh tế như các nhà biên khảo Ba Ke 75 nói là tán phét!
Lúc đó, đồng bằng sông Cửu Long bao la! Dân số không bao nhiêu! Ðất giồng làm còn không xuể! Thì đào kinh để làm thuỷ lợi, để có thêm đất điền để làm cái giống gì? Ai làm?
Mãi thời Tây, di dân từ ngoài Bắc, ngoài Trung vào, việc đào Kinh Xáng Xà No, Kinh Quản Lộ, Kinh Phụng Hiệp (Ngã Bảy) v.v. mục đích chính mới là kinh tế.
Tui hoàn toàn đồng ý với anh Mười Sử là viết một bài về địa phương chí cũng giống như viết một bài Sử về miền Thất Sơn Châu Ðốc. Phải cẩn trọng như nhà biên khảo Sơn Nam mới đặng. Nếu viết ẩu là: đào Kinh Vĩnh Tế là do cái tâm, cái tầm, cái trí…của một quan võ (về kinh tế) thì cố tình viết không chánh xác?
Cộng thêm cái chuyện chế độ CS bây giờ luôn có ác cảm, không ghi công gì cho triều Nguyễn suốt 300 năm ở phương Nam? Ðó là sự lập lờ trong lịch sử. Nên tránh! Viết sử không có cái vụ khi thương trái ấu cũng tròn. Khi ghét trái bồ hòn cũng méo! Viết Sử là chụp hình chân dung! Có sao để vậy! Không được dùng ‘photoshop’ để chỉnh sửa theo chánh kiến của riêng mình. Quen thói lập lờ lịch sử suốt bấy lâu nay bằng cách tán phét thì kỳ lắm đó nhe!
(Ai từng đi giữa dòng đời như người lữ khách mới thắm thía được cuộc đời chỉ là cơn gió thoảng qua. Tuy dòng đời ngắn ngủi, vậy mà con người ta kỳ vọng bao nhiêu ước mơ, khao khát. Nhưng nó chỉ đem đến những niềm vui cũng như lắm cảnh ưu phiền… Khi cuối cuộc đời thì mới thấu hiểu, cả cuộc đời chỉ thu gọn vào có bao nhiêu; sanh ra, lớn lên, đi làm kiếm cái ăn; ăn để sống, sống để đợi chờ cái… cuối cùng!
Rồi một ngày “lữ khách” gối mỏi chân chồn mới chịu dừng lại, trở về một nơi gọi là… nhà! Thì tất cả quá khứ khép lại như một giấc mơ…)
Buổi chiều đọc tin tức khí tượng mới biết đêm nay gió bão từ hướng Tây Nam, biển Bắc kéo về trùm lên vương quốc Hoà Lan nhỏ bé này. Cùng lúc có tin thông báo, dân chúng cả nước nên rút tiền mặt thủ trong nhà đề phòng chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mặc dù hơn hai năm qua, chúng tôi có theo dõi tin tức về chiến tranh Nga xâm lược Ukraina, tạo một vùng Đông Âu thành mưa bom, gió đạn làm cho người chết như rạ và làm tổn thương kinh tế toàn cầu. Nước Nga hung hăng dọa đánh bom các nước Âu châu và cũng hăm sẽ tiêu diệt nước Hoà Lan. Ấy vậy mà dân Hoà Lan vẫn điềm nhiên không chộn rộn và cũng không bàn tán gì nhiều về chuyện chiến tranh. Có lẽ người Hoà Lan ý thức cao nên không cảm thấy lo sợ, bất an khi đối diện với những lời đe doạ của Nga. Có lẽ cũng nhờ vậy mà không khí của đất nước này rất là thanh bình. Trong lòng tôi và Trúc Thanh cũng ảnh hưởng cái không khí yên bình đó nên không có chút lo âu và sợ hãi. Chúng tôi hay so sánh chuyện chiến tranh ở nước Việt Nam cách đây hơn năm mươi năm trước và Ukraina bây giờ và có ý nghĩ giống như nhau; xót xa cho những thành phố bị chiến tranh tàn phá, đau lòng những người dân vô tội và những người lính hai phe tham chiến chết nằm la liệt trên khắp chiến trường, chỉ biết hồi hướng và nguyện cầu cho chiến tranh chấm dứt. Nhưng vì tánh cẩn thận nên Trúc Thanh nói:
– Một lát nữa mình ra chợ rút tiền.
Nhưng chưa tới “một lát” thì mưa, gió đã nổi lên, trong nhà kín mít mà vẫn nghe tiếng gió. Ngó xuyên qua vách kiếng, trong ánh sáng yếu ớt của buổi chiều, tuy gió chưa mạnh, mưa chưa nhiều nhưng đủ làm những cành cây trụi lá bị gió đẩy ngã nghiêng, những giọt mưa tạt vào vách kiếng rào rào nghe như lời của thiên nhiên cảnh báo. Những ngày mưa rơi và tuyết đổ, tôi chỉ nghĩ thoáng qua ánh mặt trời và không có ý chờ ánh nắng ấm như những ngày hè.
Trời sắp sang đông ngày ngắn, đêm dài, trời lạnh và thường hay mưa, thỉnh thoảng có tuyết rơi. Những ngày mưa rơi và tuyết đổ là của thiên nhiên phô trương màu sắc, để rồi nhiều màu sắc đẹp đẽ mùa thu sẽ biến đổi vào buổi chiều u ám như hôm nay. Cả tuần qua mưa gió làm cho đường xá ướt nhẹp, không gian hoàn toàn không có dấu hiệu của mặt trời. Thời tiết đổi thay là vòng xoay bốn mùa chuyện bình thường chớ không có gì phải nuối tiếc. Tôi đã hẹn với John, chiều nay sau khi bơi, chúng tôi lên căn tin uống cà phê. Nhìn màu trời ảm đạm, chưa tới đêm mà trời đã tối, làm tôi có hơi nản lòng. Lưỡng lự không biết có nên nhắn tin hồi cuộc hẹn với John hay không? Chợt nghe Trúc Thanh kêu:
– Papa vặn thêm lò sưởi.
– Lạnh hả?
– Ừa, nghe hơi lạnh.
Tôi đứng lên đi tới chỗ gắn nhiệt kế vặn thêm độ ấm. Thanh nằm trên sa long dán mắt vô màn điện thoại, hai tai nhét tai nghe, im ru không phát ra tiếng nên không biết cô đang coi chương trình gì? Thanh có mua thẻ dài hạn của phòng tập thể dục, nhưng thường hay làm biếng, phải nhờ tôi nhắc chừng mỗi buổi tập. Đã vậy mà có khi cũng không muốn đi, làm tôi phải “dùng kế” không đi xe đạp và nhờ cô chở tôi ra hồ tắm. Hôm nay, thấy Trúc Thanh nằm lì ra đó, không biết tâm trạng cô ra sao, tôi mới hỏi dò:
– Chiều nay mama có đi tập không?
Nghe tôi hỏi Thanh chồm dậy, ưỡn ẹo thân hình, tay vẫn cầm điện thoại, ngó mặt nhìn ra ngoài vách kiếng, hỏi lại:
– Papa có đi bơi không?
Thấy Trúc Thanh uể oải coi mòi chán chường. Tôi hít vào một hơi thiệt sâu, thở ra nhè nhẹ, lấy lại tinh thần. Dù sao hồ tắm và phòng tập thể dục cũng là nơi lành mạnh và kích thích năng lượng tích cực cũng tốt hơn là ở nhà nằm ôm điện thoại hoặc xem truyền hình cho tâm thức mù mờ, mệt mỏi và làm tiêu hao năng lượng. Tôi cũng biết cái lạnh làm con người ta chùn bước, nhứt là những người có tuổi, nhưng cũng phải rán làm cái gì đó cho đầu óc có việc mà làm. Tôi bỏ ý định hồi cuộc hẹn với John và nói:
– Đi chớ, nhưng lát nữa mama phải chở papa ra hồ tắm.
– Dĩ nhiên.
Trả lời xong Trúc Thanh nằm xuống bấm điện thoại xem tiếp cái gì đó. Trước kia cô cũng theo tôi đi bơi, mặc dù trong hồ nước ấm nhưng khi bơi xong, nhứt là mùa xuân, mùa thu và mùa đông ra ngoài trời gặp gió bị rung nên cô ta sợ lạnh không bơi trong hồ nữa. Sau đó cô mua thẻ tập với máy móc trong phòng thể dục, vì phòng tập cách xa nhà và hồ tắm nên mỗi chiều cô đi xe hơi ra phòng thể dục, còn tôi thì đạp xe ra hồ tắm. Hôm nay gió bão, trời tối, gió, mưa tôi ngại đạp xe mới nhờ Thanh chở bỏ tôi trước cửa hồ tắm rồi chạy ra phòng tập, tập xong cô ra rước tôi cùng về.
Tuy ngoài trời mưa gió, đường xá vắng vẻ, nhưng trong hồ ấm áp và rất đông người. Bà Gerrie và John đang bơi thấy tôi vô hai người liền vẫy tay chào. Tôi chào lại hai người và bước xuống hồ, mặc dù nước dưới hồ hai mươi bảy độ C nhưng vừa bước chân xuống bậc thang thì nghe lạnh nổi da gà, tôi bèn nhào ùm xuống hồ, bơi thiệt lẹ cho tăng hơi ấm, bơi được hai vòng thì cơn lạnh tiêu tan nhưng nghe hơi mệt. Tôi bèn đứng lại chỗ nước cạn, dựa lưng vô bờ hồ để thở, khi hơi thở trở lại bình thường mới hít vô một hơi đầy và nín thở cúi đầu, úp mặt xuống nước, đây là thói quen mỗi khi bơi trong hồ cũng như ngoài biển, cách này giúp tôi phân biệt được sự khác nhau giữa âm thanh dưới lòng nước và tiếng ồn ào ở phía trên. Khi cúi đầu dưới nước, tai chỉ nghe tiếng sóng biển, những con sóng gợi cảm vỗ bờ. Khi ngước lên thở hắt ra thiệt mạnh, nước đọng trong mũi bị hơi ém khi nín thở bắn ra tua tủa. Tôi hít mạnh một hơi và thở ra nhè nhẹ, lúc tâm thức ổn định, mới phân biệt được rõ ràng âm thanh trong phòng tắm, ngoài tiếng nhạc phát ra trên trần nhà dành cho nhóm người tập thể dục nhịp điệu ở hồ nước ấm kế bên và tiếng hô bắt nhịp của hướng dẫn viên ra, còn có tiếng óc ách vỗ vô thành hồ nghe như sóng biển. Tôi nhắm mắt lại, thả hồn về quá khứ, mới một năm lên bờ mà đã là quá khứ rồi, nhớ lại cuộc hành trình với những ngày sóng gió, những cơn bão và những ngày êm ả, ấm áp trong vùng Địa Trung Hải với vài cánh buồm trên mặt biển xanh hay là một đêm trăng đẹp giữa đại dương mênh mông và cũng có nhiều đêm đen tối đã rơi xuống trong những chuyến đi… Những suy nghĩ của những chuyến hải hành trong đời bị đứt ngang vì có một bàn tay đặt lên vai tôi rồi hỏi:
– Bộ mệt hả?
Mở mắt ra tôi thấy John và bà Gerrie đứng trước mặt cười.
Tôi cũng cười đáp:
– Dạ, nhưng cũng khoẻ rồi.
John nói:
– Tui bơi tới tám giờ rưỡi rồi lên chờ ông ở căn tin.
Tôi chỉ qua Gerrie nói:
– Bà cũng uống cà phê chớ.
Gerrie lắc đầu:
– Không, tui về nhà.
Tôi ngó lên đồng hồ thấy chưa tới tám giờ, day qua John nói:
– Ok, giờ đó tui cũng lên.
Nói xong chúng tôi tiếp tục bơi. Trong căn nhà rộng có hai hồ tắm, một hồ nước hai mươi bảy độ C, một hồ nhỏ nước ba mươi mốt độ C. Bên hồ hai mươi bảy độ rộng và dài, được dùng những chiếc phao hình bầu dục lớn bằng bắp chưn màu đỏ, màu trắng và màu xanh dương được xỏ xâu thành sợi dây phao ba màu và kéo ra trên mặt nước hồ để ngăn chia ra làm ba ranh, một cho người bơi sải, một cho người bơi nhanh, một dành cho người bơi tà tà và người vừa bơi vừa nói chuyện. Bên hồ nhỏ nước ấm ba mươi mốt độ C và mực cạn hơn dành cho những người không có bằng và những người lớn tuổi đau khớp tập nên không có phao chia ranh. Mọi người vào bơi phải tuân theo luật, nếu bơi loạng quạng nhân viên canh hồ thấy được bắt đi học lấy bằng bơi, nếu không thì qua hồ nhỏ, nước cạn thì tới ngang ngực, nước sâu tới trên cổ, tha hồ mà bơi, cho nó được an toàn. Người Hoà Lan vừa bơi vừa nói chuyện được, còn tôi thì trong lúc bơi mà nói chuyện thì bị sặc nước. Có vậy thôi mà John và Gerrie cũng tìm ra nguyên nhân, cuối cùng hai người kết luận là vì cần cổ tôi ngắn nên vừa bơi vừa nói thì nước vô miệng mới bị sặc. Thấy cũng đúng, cần cổ người Hoà Lan cao hơn tôi một khúc. Cũng tốt thôi, bơi ngậm miệng chú ý hơi thở và dễ tập trung tư tưởng.
Bơi xong tôi và John lên phòng thay đồ rồi đi ra căn tin. Tôi tới quày mua hai tách cà phê đen, tôi và John uống cà phê đen không đường sữa gì hết. John giành trả tiền. Tôi nói:
– Lần trước ông trả, lần này tui trả.
– Oh, vậy hả?
Tôi chỉ tay ra chiếc bàn giữa căn tin nói:
– Ông ra đó ngồi đi, ăn bánh ngọt không?
John nói không rồi quay lưng đi, nhưng hổng đi lại chiếc bàn giữa mà đi ra bàn cạnh cửa kiếng ngồi. Tôi quay lại thì thấy người phục vụ để hai tách cà phê trên quày trước mặt, nói:
– Cà phê của ông đó.
Tôi nói cám ơn và gạt thẻ trả tiền. Bưng hai tách cà phê ra để trước mặt John một tách, trước mặt tôi một tách và ngồi xuống đối diện. John bưng cà phê lên mời. Chúng tôi hớp một hớp để tách xuống. John hỏi:
– Nghỉ hải hành một năm rồi, còn nhớ biển không?
– Oh, mới đó mà một năm rồi.
– Ờ, gần một năm rồi!
Tôi còn nhớ ngày tôi ghi danh mua thẻ dài hạn, lúc đó trời lạnh, mưa và tuyết nhưng khônng có gió như hôm nay. Lúc đó tôi ngồi chung bàn với John uống cà phê trong căn tin này và chúng tôi bắt chuyện làm quen. John nhỏ hơn tôi hai tuổi nhưng trong giấy tờ thì bằng tuổi nhau và John nghỉ hưu sớm hơn tôi hai năm. Tôi nói:
– Năm ngoái quen ông cũng tại đây, nhưng mình ngồi bên bàn kia.
John nhìn theo tay tôi chỉ chiếc bàn giữa căn tin rồi gật gật cái đầu:
– Ờ ờ đúng rồi.
Tôi nhìn xuyên qua vách kiếng, những chùm đèn dọc mái hiên nhà nhấp nhá theo cơn gió, ngoài sân trước hồ tắm là bãi đậu xe và nhiều cây cối, bây giờ trời tối thui hổng thấy gì hết, nếu không nhờ những ánh đèn li ti treo khắp thân cây thông thì cũng không biết ở đó có cây Giáng Sinh. Tôi day vô nói:
– Tháng mười hai ngoài trời mưa gió, bão bùng, vậy mà ngồi trong này ấm áp và cảm thấy năng lượng tràn đầy.
Jonh ờ ờ rồi hỏi:
– Còn nhớ những ngày hải hành không?
Lo nói chuyện năm ngoái mà quên trả lời câu hỏi ban đầu của John. Tôi nói:
– Nhớ, nhớ chớ, nhưng thỉnh thoảng thôi, hồi nãy dưới hồ tắm tôi cũng nhớ.
– Nhưng quen với cuộc sống trên đất liền chưa?
– Thì ông cũng biết đó, vì sợ sự nhàm chán nên tui mới ghi danh học thêm tiếng Hoà Lan, tiếp xúc với nhiều người và trao đổi nhiều chuyện bằng tiếng Hoà Lan cũng thấy vui vui.
John cười:
– Hèn chi nghe ông nói tốt hơn lúc mới gặp.
– Vẫn chưa tốt.
– A ha!
Tôi móc chiếc điện thoại trong túi ra để lên bàn nói:
– Tui với ông nói chuyện có nhiều tiếng không hiểu phải nhờ Google dịch mà.
John gật gật cái đầu:
– Ờ ờ… thông minh, thông minh.
Tôi chỉ xuống chiếc điện thoại cười, nói:
– Điện thoại thông minh.
Chúng tôi cười ha hả và cầm tách cà phê lên hớp một hớp rồi để xuống. John khoe:
– Con trai tui vừa đi du lịch Việt Nam về.
– Vậy à, nó thấy thích không?
– Nó khen Việt Nam đẹp lắm.
Tôi gật gật cái đầu cười nói với giọng dí dỏm:
– Dĩ nhiên Việt Nam quê hương tui mà, nơi nào cũng đẹp.
– Thức ăn rất nhiều và rẻ tiền nữa.
Tôi trầm giọng:
– Nước nghèo mà giá cả sinh hoạt mắc quá thì dân làm sao sống được.
– Ở Việt Nam có trợ cấp xã hội không?
– Làm gì có.
– Oh, vậy sao!
– Nhưng có những tổ chức từ thiện cho tiền, cho thức ăn và giúp những người nghèo.
– Ông có định về Việt Nam không?
– Oh!
Câu hỏi bất ngờ làm tôi chưa biết trả lời sao. John cũng nhận ra sự lúng túng của tôi nên nói:
– Tui biết có nhiều người Việt hay về nước, có người ở bên đó rất lâu.
Tôi cười gượng gạo nói:
– Tui biết, cũng có người về ở luôn nữa, nhưng đây là ý riêng của mỗi người.
– Oh?
– Tuổi của ông chắc còn nhớ những người Việt tị nạn bằng ghe cách đây hơn bốn chục năm trước?
John gật gật đầu:
– Nhớ, nhớ chớ. Có vấn đề sao?
– Ờ ờ… Cũng là một vấn đề, vấn đề là cách nghĩ của mỗi người.
– Là sao?
Tôi không biết giải thích sao về sự khác biệt cách sống của những người tị nạn sau năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm với những người qua sau này cho John hiểu. Thiệt ra thì người Việt sống trên đất nước Hoà Lan không nhiều, nhưng rất phức tạp từ suy nghĩ cho tới cách sống, ai cũng có một nhân cách và một lối sống riêng khó mà phân tích, nói chung mỗi người là một ốc đảo. Riêng tôi thì nếu nghĩ về quê hương thì nó bềnh bồng giữa một quê hương quá khứ và một quê hương hiện tại. Khái niệm một quê hương “mới” dù trong định nghĩa nào đó, lúc ban đầu “còn chưn ướt chưn ráo” tới đây khó mà chấp nhận. Nhứt là người tị nạn bằng ghe sau năm 1975, mỗi người mang theo một mảnh quê hương, ai cũng biết quê hương của mình như thế nào. Quê hương trong tôi là căn nhà lá có khói bếp nấu cơm buổi sớm, buổi chiều, nơi có một dòng sông thông ra biển, trên sông có ghe đánh cá ra, vô nườm nượp sớm chiều. Đó là vàm Sông Ông Đốc, cạnh bên là một thị tứ với những cửa tiệm tạp hoá và một nhà lồng chợ bán buôn. Một ngôi chùa nhỏ với tiếng chuông, mõ sớm khuya, là nơi có con đường đất thẳng cũng là con đê ngăn nước mặn; nhứt là nỗi sợ ma lúc trời chạng vạng và khi màn đêm buông xuống, những đêm không trăng, tối thui mà đi từ xóm chợ về xóm ngoài, trên con đê dài chừng một cây số. Nói chung quê hương là nơi sanh ra và lớn lên, được ghi khắc trong ký ức và cũng như là cha mẹ, anh, chị, em, họ hàng dòng dõi là nơi tình làng, nghĩa xóm phải được lưu truyền bằng tình yêu hương, tương trợ và kính trọng. Nếu thiếu những thứ trên thì hai tiếng quê hương chỉ là một địa danh như bao nhiêu địa danh khác mà tôi từng đi ngang qua trên trái đất này… Những suy tư của tôi nếu kể ra có thể làm cho buổi nói chuyện nhàm chán. Cuối cùng tôi cũng nghĩ ra cách trả lời:
– Gần năm mươi năm qua, người Việt Nam tị nạn bằng ghe trước kia phần đông đã hội nhập vào thế giới tự do, họ sống theo người bản xứ với tánh chừng mực và giản dị. Còn người Việt di cư từ bên Đông Âu qua và những người theo diện hôn nhân và đoàn tụ sau này, mặc dù những người này sống trong một xã hội nghèo khổ và bất công làm cuộc sống họ khó khăn nên họ mới tìm đường ra đi. Nhưng khi qua được xứ tự do rồi họ quên hết những chuyện xảy ra ở quê nhà, cũng có thể trong đầu họ không có gì để so sánh nên không mang trong lòng sự thù ghét như nhiều người tị nạn trước kia. Những người này làm có tiền họ phung phí, tiêu xài rất thoải mái. Mỗi khi nhớ quê hương họ liền mua vé máy bay, bay trở về không đắn đo và cũng không cân nhắc như người tị nạn bằng ghe của thế hệ trước.
John hỏi lại:
– Ông còn gia đình ở Việt Nam không?
– Tui thì hổng còn ai, vợ tui thì còn.
– Bao lâu rồi ông chưa về Việt Nam?
– Năm năm rồi.
– Ông có định về không?
– Có chớ, tôi và vợ tôi định hè năm sau về cho vợ tui thăm họ hàng và đi một chuyến du lịch qua Thái Lan.
– Ông không tính về bển ở luôn sao?
Nhớ lại trước đây niềm khao khát về một quê hương thanh bình và hy vọng phép mầu có thể xảy ra trên quê hương mình để tôi còn có dịp quay về. Thời gian sau này, tôi tự hỏi; liệu một ngày nào đó tôi có thể quên hết quá khứ, để sống cuộc sống mới trên một quê hương mới được không? Những ý nghĩ ấy làm trong đầu rối loạn kéo dài kể từ ngày tôi rời xa đất nước cho tới gần hết đời người. Trải qua bao năm lang bạt xứ lạ quê người, bây giờ dừng lại thì tuổi cũng đã cao, nhìn về dĩ vãng nó đã nguội lạnh như đống tro tàn. Tôi nhìn John và lưỡng lự không biết có nên tâm sự với John về chuyện này không? Chợt có tiếng điện thoại reo, tôi vừa cầm điện thoại lên vừa trả lời John:
– Tôi nghĩ là không. Tôi bấm máy lên nghe. Bên kia Trúc Thanh cho biết khoảng mười phút nữa cô tới.
Tôi nói:
– Hôm nay mama tập mau vậy?
– Còn ra chợ lấy tiền nữa.
– Ok, đúng mười phút papa ra bãi đậu xe.
Tôi tắt điện thoại day qua John:
– Vợ tôi nói mười phút nữa sẽ tới rước tui.
John hỏi:
– Oh, về sớm vậy?
– Cô ấy ra chợ rút tiền nên không dám đi một mình.
John cười:
– Lấy tiền mặt đề phòng chiến tranh đó hả?
– Oh, sao ông biết?
– Thì ai cũng phải lấy tiền dự trữ mà.
– Vậy ông lấy chưa?
John đưa ngón tay trỏ chắn ngang miệng, nói:
– Suỵt ! Nhưng đừng cho ai biết, coi chừng ăn trộm rình nhà.
– Thì tui và ông cũng vừa nói biết hết rồi.
Chúng tôi cùng cười ha ha. Tôi nhìn đồng hồ thì đã gần tới giờ hẹn. Tôi hớp cạn chỗ cà phê còn lại, đứng lên sửa lại áo lạnh, khăn choàng và mang túi lên vai, chào John rồi bước ra ngoài.
Ngoài trời gió mạnh hơn ban nãy, bước ra bãi đậu xe thôi mà đã thấy lạnh rung người. Trúc Thanh cũng tấp xe bên lề, máy xe còn nổ và đèn xe còn cháy. Tôi tới mở cửa chui vô xe ngồi rồi đóng cửa lại, cài dây an toàn xong, Trúc Thanh cho xe chạy. Khi xe ra tới con lộ gió tạt mạnh làm chiếc xe rung rung. Tôi sợ nguy hiểm nên mới đề nghị:
– Mưa gió nhiều quá, hổng ấy về nhà đi, mai mình ra rút tiền cũng được.
Trúc Thanh liền nói:
– Chuyện ngày nay không để ngày mai! Hơn nữa tin tức khí tượng đã báo, khuya nay cho tới ngày mai cơn bão rất mạnh.
Sợ Trúc Thanh không yên lòng nên tôi hổng cản. Thực sự tôi chợt nghĩ ra, nếu có chuyện loạn lạc thiệt thì chợ búa, tiệm tùng sợ cướp cũng đóng cửa hết, chưa kể nếu cúp điện chẳng lẽ họ lấy giấy bút cộng tiền bằng tay… Nhớ hồi xưa mỗi khi chộn rộn má tôi lo mua gạo, khô, mắm, dầu hôi trữ. Còn bây giờ lo cất tiền, hổng biết cái nào hay hơn?
Chúng tôi đi hàng nhiều ngày. Các máy bay đầu tiên xuất hiện trên bầu trời. Chúng tôi chạy qua các tuyến chuyển vận. Súng, súng. Con đường xe lửa nhẹ nhặt chúng tôi. Tôi tìm liên đoàn tôi. Chả ai biết rõ nó nằm đâu. Tôi chạy ngược chạy xuôi tìm chỗ ngủ đêm, xoay sở tìm chút lương thực và hỏi dọ được vài tin mơ hồ. Và cứ thế với ba. lô với súng tôi lại lên đường. Tôi vừa đến nơi thì liên đoàn không còn ở nơi tàn phá ấy nữa. Tôi nghe nói chúng tôi đã trở thành một trong số các đoàn lưu động hễ đâu ác liệt nhất thì được tổng lại đó. Tôi nghe mà chán. Họ còn nói tôi những tổn thất nặng nề mà chúng tôi phải chịu đựng. Tôi hỏi thăm về Kat và Albert. Chả ai biết gì về họ. Tôi tìm xa hơn và lang thang hết nơi này đến nơi khác; thật là một cảm tưởng kỳ lạ. Đêm này rồi đêm khác, tôi ngủ ngoài trời như một anh Da Đỏ. Rồi mãi tôi cũng lần được vài tin chính xác và chiều đến tôi lại Văn phòng trình diện. Thượng sĩ văn phòng giữ tôi ở lại đó. Hai ngày nữa ông đại đội trường mởi trở lại. Có gửi tôi đi cũng vô ich.
«Thế nào, khác gì đi nghỉ phép nhỉ? » bác ta hỏi, «khoái tỉ nhé ?»
«Phần nào thôi, » tôi nói.
«Ừ, » bác thở dài, «ử, giá như đừng phải ra ngoài đó nữa kia. Cái phần hai khi nào cũng bị cái chuyện đó phá thối. »
Tôi thơ thần đi quanh mãi đến sáng tinh sương thì đại đội trở về, xám xịt, bẩn thỉu, chua chát và buồn chảy. Tôi nhảy lại, xô người này đầy người kia, mắt lơ láo tìm. Kìa là Tjaden, kia là Muller đang hỉ mũi và kìa
là Kat kìa là Kropp. Chúng tôi soạn lại ổ rơm sát liền nhau. Tôi cảm thấy bứt rứt khi nhìn họ, mà chẳng rõ tại sao. Trước khi đi ngủ tỏi lôi mấy chiếc bánh khoai còn lại với mứt cho họ nhá. Hai chiếc bên ngoài đã mốc, nhưng ăn còn được. Tôi để cho tôi còn đưa những cái kia cho Kat và Kropp.
Kat nhai và nói: «Của bà cụ làm? »
Tôi gật,
«Ngon lắm,» bác nói, «ăn là biết liền. »
Tôi gần muốn khóc. Tôi không còn dằn lòng được nữa. Nhưng trở lại đây với Albert với Kat chả mấy lúc lại đâu vào đấy. Nơi đây mới thực là nơi của tôi.
«Mày số hên. » Kropp thì thầm với tôi trước khi nằm xuống ngủ, họ nói chúng mình sắp đi Nga. »
Đi Nga. Ở đó mà đánh đấm gì. Xa xa mặt trận rền như sấm. Vách lều kêu răng rắc.
Chúng tôi phải đánh bóng đến lắm. Mỗi công tác xong lại thanh tra. Bất cứ cái gì rách là được đổi mới liền. Tòi được một chiếc áo mới toanh và Kat dĩ nhiên được cả bộ. Có tin đồn rằng sắp hoà bình, nhưng cái tin kia nghe có phần đúng hơn – rằng chúng tôi sắp phải đi Nga. Nhưng tại sao đi Nga lại phải cần đồ mới? Mãi rồi mới bật mí – Hoàng đế đến duyệt chúng tôi. Do đó mà thanh tra liên miên. Luôn tám ngày chúng tôi tưởng đâu mình ở một quân trường, tập dượt lu bù, cứ rối cả lên. Người nào cũng bẳn tính cũng nóng nảy, chúng tôi đã chán cái trò diễn hành. Những trò này còn làm thằng lính bực mình hơn là ra mặt trận.
Rồi là giờ phút trọng đại đến. Chúng tôi đứng không nhúc nhích và Hoàng đế giáng lâm. Chúng tôi tò mò muốn xem ông tướng mạo ra sao. Ông thủng thẳng bước dọc theo hàng và thú thực tôi có phần thất vọng:
xem các hình ảnh tôi tưởng đâu ông to lớn hơn thế và vạm vỡ hơn thế và nhất là giọng phải vang như sấm cơ chứ. Ông phân phát huy chương và nói vởi người này hỏi chuyện người kia. Rồi là chúng tôi diễn hành.
Sau đó chúng tôi cãi vã nhau. Tjaden nói có vẻ ngạc nhiên:
«Ra đó là cái Đấng cao nhất đấy. Và ai nấy, không trừ một ai, phải đứng nghiêm trước mặt ông ta!» Nó suy nghĩ: «Cả Hindenburg nữa, cũng phải đứng nghiêm trước mặt òng ta nhỉ?»
«Hẵn nhiên, » Kat nói,
Tjaden đâu đã nói hết. Suy nghĩ một lúc. nó nói: «Thế ông vua có phải đứng nghiêm trước ông hoàng đế không nhỉ? »
Chúng tôi chả thằng nào biết chắc, nhưng chúng tôi nghĩ rằng không. Cả hai đều cao cả nên vấn đề đứng nghiêm hẳn không nhất thiết bó buộc.
« Chúng mày khéo vớ vẫn, » Kat nói.
« Điều chính yếu là chúng mày phải đứng nghiêm.
Nhưng Tjaden vẫn còn thắc mắc. Cái óc tưởng tượng có phần thiết thực của nó đang lúc cao hứng. « Nhưng mà này, » nó tuyên bố:
«Tớ không tin rằng một vị Hoàng đế lại cũng phải đi nhà cầu như tớ.»
« Mày dám cá đôi bốt mày không nào. »
« Nghĩ lắm quá khùng, » Kat nói. « Mày khùng rồi, Tjaden à, chạy đi nhà cầu đi mày cho cái đầu mầy nó tỉnh táo ra, ngồi đấy mà nói quàng nói xiên như trẻ lên hai. »
Tjaden biến.
« Nhưng có điều tớ muốn biết, » Albert nói, là liệu có chiến tranh hay không nếu ông Hoàng đế lại nói Không»
« Tao thì tao tin điều này, » tôi ngắt lời
«rằng ông chống chiến tranh ngay từ đầu.
« Ử, nếu một mình ông không đủ, thì có lẽ phải vài ba chục người trên thế giới này nói Không.»
« Hẳn thế rồi; tôi đồng ý, nhưng khốn nỗi họ lại nói phải Có. »
« Kể cũng lạ, khi người ta nghĩ đến nó,»
Kropp nói tiếp, «chúng mình ở đây là để bảo vệ tồ quốc mình. Và tụi Pháp ở bên kia là đề bảo vệ tổ quốc chúng Vậy thử hỏi ai phải?,
« Có lẽ cả hai, » tôi nói, mà không tin ở lời mình nói.
«Ử, thi cho là vậy đi, » Albert nói tiếp và tỏi thấy ý nó muốn dồn tôi vào ngõ bí, «nhưng các giáo sư và mục sư và báo chí mình bảo rằng chỉ có chúng mình là phải và mình hãy hy vọng là thế: nhưng các giáo sư và muc sư và các báo chí Pháp lại bảo rắng cái phải và bênh họ thế là thế nào? »
« Tao xin chịu » tôi nói, « nhưng cái phải ở bên nào đi nữa là chiến tranh vẫn có đó và mỗi tháng lai có thêm các nước lăn xả vào Tjaden tái hiện. Hắn vẫn còn hào hứng lắm và lại xen vào câu chuyện, thắc mắc không hiểu chiến tranh khởi sự cách nào. Phần lớn là vì một nước làm nhục một nước khác quá mức, » Albert đáp có vẻ ta đây hiều biết. Thể là Tjaden giả bộ ngớ ngẩn. Một nước? Tao không hiểu rồi. Một hòn núi ở Đức đâu có thể làm nhục gì một hòn núi ở Pháp. Hay một con sông, hay một khu rừng, hay một cánh đồng lúa. »
«Bộ mày ngu thật hay mày định xỏ tao phỏng? » Kropp nói gằn. «Ý tao đâu nói vậy. Mà là một dân tộc này làm nhục một dàn tộc khác».
«Nếu thế thì việc quái gì tao phải có mặt ở đây Tjaden đáp, «Tao chả cảm thấy gì là tao bị nhục cả.».
«Mày nghe tao nói đây này,» Albert nói mỉa, «những thẳng đần độn như mày thì có ăn nhằm gì.»
«Đã thế thì tao có thể về nhà luôn ngay giờ, » Tjaden đáp, và chúng tôi cười ồ.
«Này, bồ ý nó muốn nói là toàn thể dân tộc nói chung, là Quốc gia -» Muller thốt.
«Quốc gia. Quốc gia, » – Tjaden bật ngón tay vẻ khinh miệt. «Sen đầm a, cảnh sát a, thuế má a, đó cái Quốc gia của nhà mày đó;
– nếu thế mày muốn nói, thì tao xin lậy. »
«Đúng,» Kat nói, «Tjaden, đã lâu mới nghe mày một câu nghe được. Quốc gia và xứ sở quê hương, thật cả một trời một vực.»
«Nhưng hai cái đi đôi với nhau,» Kropp cãi, không có Quốc gia làm gì có xứ sở què hương. »
«Đúng, nhưng mày nghĩ xem, chúng mình đây hầu hết những thường dân bình dị. Và ở Pháp, đa số thường dân là dân cày, dân thợ, hay thư ký quên. Giờ tao hỏi mày một anh phỏ rèn Pháp hay một anh thợ giầy Pháp tội vạ gì mà lại muốn đánh chúng mình kìa? Không, chẳng qua chỉ là bọn cầm quyền. Trước khi ra đây tao cả đời chẳng thấy một anh Pháp mặt mũi ra sao, thì đa số dân Pháp đối với chúng mình thì cũng thế. Họ cũng như mình đâu có được hỏi đến. »
«Thế thì đúng ra chiến tranh để làm gì? Tjaden hỏi.
Kat nhún vai. «Hẳn có những người mà chiến tranh làm lợi cho họ.
«Trong bọn ấy không có thằng tôi rồi đó, »
Tjaden nhe răng.
«Chẳng có mày, mà cũng chẳng có thằng nào ở đây.»
«Thế thì họ là ai? » Tjaden hỏi gặng.
«Cũng chẳng có lợi gì cho ông Hoàng đế. Những gì ông ấy cần ông ấy có đủ rồi.»
«Tao không dám chắc», Kat ngắt lời, «cho đến nay ông ấy còn cần một cuộc chiến tranh. Và bất cứ ông hoàng để nào muốn là đại đế cũng cần ít nhất là một cuộc chiến tranh, bằng không sao nổi danh được. Mày cứ đọc lại sách vở nhà trường thì thấy ngay. »
«Và cả đại tướng nữa, » Detering nói thêm, «họ nổi danh cũng nhờ chiến tranh. »
«Còn nổi danh hơn cả các hoàng để là khác, » Kat nói thêm.
*Có nhiều thằng đứng sau ở hậu phương cũng lại đầu cơ chiến tranh, chắc chắn thế rồi, » Detering nói gằn.
«Tao cho nó cũng như thể một cơn sốt,
Albert nói. «Chả ai nói riêng lại muốn chiến tranh, ấy thế mà đùng một cái chiến tranh bùng nổ. Chúng mình không muốn chiến tranh, bọn kia cũng nói thế ấy thế mà phân nữa thế giới lâm vào chiến tranh. »
«Nhưng có điều tụi bên kia chúng nói láo nhiều hơn mình, »tôi nói;« cứ đọc các truyền đơn mà bọn tù binh mang trong người đủ biết, trong đó chúng bảo tụi mình ăn thịt con nít. Những cái thẳng nào viết như thế đáng đem treo cổ. Chính chúng mởi là thủ phạm. »
Muller đứng lên. « Dù sao, thi thà chiến tranh diễn ra tại đây còn hơn là ở Đức. Cứ nhìn các hố bom mà tởn. »
«Đúng, » Tjaden tán thành, «nhưng giá dừng có chiến tranh còn hay hơn biết mấy. »
Nó tự đắc ra mặt vì có lần nó đã chỉ trích chúng tôi là đã tình nguyện. Và ý kiến của nó ở đây khá tiêu biểu, thỉnh thoảng người ta lại gặp, và người ta không biết viện lý gì ra để phản đối, vì đó là cái giới hạn của sự hiều biết của họ về các yếu tố trong cuộc. Ý thức quốc gia của thằng lính rút cục lại là ở điều này là nó có mặt tại đây. Và đến đây là hết; Còn những gì khác từ lúc nhập ngũ trở đi nó có chỉ trích cũng chỉ là ở trên quan điềm thực tế.
Albert nằm trên cỏ lầm bầm cáu kỉnh:
« Tốt hơn hết là đừng nói đến cái vấn đề khốn nạn này.
«Nói cũng chẳng đi đến đâu, đúng thế, »
Kat đồng ý.
Còn như của trời cho, thì chúng tôi phải hoàn lại tất cả những thứ gì mới và lại khoác lại đồ rách cũ của mình, Các thứ tốt lành kia chẳng qua chỉ để chưng lúc duyệt binh.
***
Thay vì đi Nga, chúng tôi lại ra tiền tuyến. Dọc đường chúng tôi đi qua một khu rừng bị tàn phá với thân cây sứt mẻ và đất bị cày lên. Nhiều chỗ có những hố bom to tướng. « Chu choa, chứ trúng thứ gì vậy », tôi hỏi Kat.
« Súng cối chiến hào », bác đáp và chỉ lên một ngon cây. Các xác chết treo trên cành. Một anh lính trần như nhộng ngồi trên một chĩa, đầu còn đội mũ sắt, bằng không thì hoàn toàn lõa thể. Chỉ có nửa người anh ngồi trên ấy, nửa trên, cẳng đâu mất.
« Thế là thế nào? », tôi hỏi.
« Hắn bị bắn văng quần áo», Tjaden lầm bầm.
« Kể cũng nực cười », Kat nói, « tao từng thấy mấy lần rồi. Hễ trúng súng cối là gần như cởi truồng. Đó là vì sức nổ ».
Tôi tìm quanh. Và đúng thế. Chỗ này phất phơ những mảnh binh phục, chỗ kia là một đống máu bầy nhầy cái gì trước kia là chân là cẳng. Đằng kia là một cái xác chả còn gì ngoài một mảnh quần đùi đắp lên một cẳng và cái cổ áo đắp quanh cổ. Bằng không thì trần truồng và quần áo nằm phơi trên cây. Cả hai cánh tay đều mất như thể bị giật ra. Tôi thấy một cánh tạy nằm trong một bui cây cách đó hai chục thước. Người chết nằm áp mặt. Cạnh vết thương cánh tay, đất đóng máu đen đặc. Dưới chân lá bị rách như thể bị người kia đá.
« Đâu phải chuyện đùa, Kat », tôi nói.
« Cũng như mãnh miễng găm vào bụng vậy»», bác đáp, nhún vai. Thôi đa cảm vừa chứ », Tjaden nói.
Tất cả cảnh lượng này chỉ mới xảy ra đây, máu còn tươi. Cũng như mọi người thấy có người chết chúng tôi không đề mắt thì giờ, mà báo cho trạm phu cáng gần đấy hay. Dù sao thì công việc của chúng tôi đầu phải là tranh việc của mấy anh phu cáng.
***
Một toán tuầu tiểu được phái đi xem vị trí địch đã tiến bao xa. Từ ugày đi phép về tôi cảm thấy quyến luyến mấy thằng bạn một cách lạ kỳ, nên tôi tình nguyện đi theo chúng. Chúng tôi đồng ý làm theo kế hoạch là luồn qua dây kẽm đoạn phân tán và bò lên. Được một hồi tôi thấy một hố đạn nông, tôi bò vào. Từ đấy tôi quan sát trước mặt. Có hỏa lực đại liên cũng vừa phải, Bắn chéo từ mọi hưởng, không dữ dằn lắm, nhưng lúc nào cũng vừa đủ bắt mình phải nằm ẹp. Một bỏa châu dù tỏa ra. Mặt đất nằm trơ trụi dưới ánh sáng lờ mờ và rồi đêm tối khép lại còn đen hơn bao giờ hết. Ở chiến lũy chúng tôi được dặn là có những tụi lính đến đối diện chúng tôi. Thế mới rầy, vì khó nhận ra chúng lắm; chúng lại giỏi tuần tiễu. Nhưng kể cũng kỳ là chúng cũng lại hay ngu xuẩn; chẳng hạn; Kat và Kropp cả hai đã có lần bắn hạ một toán tuần tiễu đen của địch cũng vì chúng trong lúc phởn phơ them thuốc nên vừa bò vừa hút, Kat và Albert chỉ việc nhắm các đốm lửa thuốc mà nã súng, Một trái bom hay gì đó rơi cạnh tôi, Tôi không nghe nó đến nên hoảng kinh. Đồng thời một cái sợ phi lý tràn ngập tôi. Giờ đây có một mình mình bất lực trong đêm tối – không chừng đôi mắt khác đang rình tôi từ lâu từ một hố bom khác đằng trước tôi, với một quả bom sẵn sàng tung tôi ra từng mảnh. Tôi cố lấy lại bình tĩnh. Đâu phải lần đầu tôi đi tuần tiễu và cũng đâu phải là đặc biệt nguy biềm gì. Nhưng mà là lần đầu đi tuần tiễu từ ngày đi phép về và thêm nữa, địa thế đối với tôi còn bỡ ngỡ. Tôi tự nhủ mình rõ khéo lo vớ lo vần, rằng trong đêm tối chả có gì rình mình, vì nếu có thì quả bom đã chả rơi lệch.
Nhưng vô ích. Bối rối hoang mang, các ý nghĩ vo ve trong óc tôi – Tôi nghe giọng căn dặn của mẹ tôi hãy cẩn thận, tôi thấy bọn người Nga râu ria phất phơ tựa vào hàng rào lưới sắt, tôi thấy rõ ràng cái cảnh một quản rượu với các ghế đẩu, một rạp hát bóng ở Valenciennes; dằn vặt, kinh hoàng, trong tưởng tượng tôi thấy cái họng xám xì mờ ảo của một cây súng nó âm thầm bò trước mắt tôi dù là tôi quay đầu đi hướng nào cũng không khỏi thấy. Mồ hôi toát ra từng lỗ chân lông. Tôi vẫn nằm trong cái hốc nông. Tôi nhìn đồng hồ; mới được vài phút. Trán tôi ướt, hốc mắt tôi ướt, tay tôi run lẩy bẩy và tôi thở hổn hển nhỏ nhẹ. Đó chẳng qua chỉ là một cơn sợ, một cái sợ đặc thù tính không dám thò đầu ra và không dám bò lên nữa. Mọi sự cố gắng của tôi tiêu tan như bọt nước vào cái muốn duy nhất là được nằm lại đây luôn. Chân tay tôi như dính vào mặt đất.
Tôi cố nhúc nhích: chúng chẳng chịu nhấc tới. Tỏi trì mình xuống đất. Tôi không sao bò lên được, tôi nhất định nầm lại đây. Nhưng tức thì cái làn sóng lại tràn lên tôi, một cảm thức lẫn lộn cả thẹn thùng, cả hối hận, và đồng thời cả cầu an. Tôi sẽ ngước lên nhìn quanh. Trố lên nhìn vào đêm tối, mặt tôi rát bỏng. Một hỏa châu tung mình lên; – tôi lại rúc đầu xuống. Trong tôi là cả một sự giằug co mảnh liệt và phi lý, tôi muốn trườn ra khỏi hốc tuy nhiên lại trườn vào, tôi bụng bảo dạ; mình phải tiến lên, vì các bạn mình, chẳng phải vì cái mệnh lệnh ngu xuẩn nào cả, » và rồi:
«Thì ăn nhằm gì đến mình, mình chỉ được sống có một lần -».
Đó là cải kết quả của ngàv đi phép, tôi tự trách một cách chua chát. Nhưng tôi không thuyết phục nổi tôi, tòi trở thành bạc nhược lạ. Tôi từ từ ngước lên đưa hai cánh tay nhoài lên trước, lết người theo và nằm trên bờ hốc, nửa trong nửa ngoài. Tôi nghe có tiếng động và thut lùi xuống. Những tiếng khả nghi nghe rõ mồn một bấồchấp tiếng ồn ào của hóa lực trọng pháo. Tôi nghe ngóng; tiếng ở sau tôi. Tiếng người, chúng tôi bò dọc theo chiến lũy. Giờ thì tôi nghe giọng nói thì thầm. Nghe như giọng Kat. Tức thì một sự ấm áp mới trào lên trong tôi. Các giọng nói này, vài tiếng nhỏ nhẻ này. các bước chân này trong chiến lũy sau tôi tức thì lôi tôi ra khỏi cái cô đơn khủng khiếp, khỏi sợ chết nó gần hủy diệt tôi. Đối với tôi, chúng còn hơn cả sự sống, các giọng nói này, chúng còn hơn cả tình mẫu tử và hơn cả sự sợ hãi; chúng là cái gì mạnh mẽ nhất, phấn khởi nhất, không đâu có được, chúng là các giọng nói của mấy thằng bạn đồng đội của tôi.
Tỏi không còn là một cái bọt bèo run rẩy của sự sống, cò đơn trong tối tăm nữa; -tôi thuộc vào họ và họ thuộc vào tôi, chúng tôi củng chia sẻ một cái sợ và một cái sống. tôi còn gần gũi nhau hơn là đôi uyên ương, gần gũi một cách bình dị, cứng rắn hơn; tôi có thể vùi mặt vào chúng, vào các giọng nói này, các lời này, những giọng những lời đã cứu sống tôi và sẽ vẫn đứng bên tôi.
Từ từ tôi trườn lên miệng hố và trườn tới. Xa hơn một chút tôi bò bốn cẳng, tôi giữ phương hướng, nhìn quanh mình và quan sát vị tri hỏa lực trọng pháo để dễ bề rút lui. Đoạn tôi tìm cách liên lạc vởi mấy thẳng bạn. Tôi vẫn còn sợ nhưng mà một cái sợ minh mẫn, một sự thận trọng cao độ phi thường. Đêm có gió và các bóng chập chờn đây kia trong ánh lửa chớp nhoáng của hỏa lực trọng pháo. Nó tiết lộ quá ít và cũng quá nhiều. Tôi ngóng nhìn trước mặt, nhưng thường chẳng thấy gì. Cứ thế tôi bò tới một quãng dài rồi quay vòng lại theo một đường vòng rộng. Tôi không tìm liên lạc với bọn kia. Mỗi thước sát lại gần chiến lũy của chúng tôi làm tôi thêm yên dạ:- và cũng vội vã nữa. Vì giờ đây mà lạc thì thật khốn đốn. Rồi tôi lại đâm hoảng. Tôi không còn nhớ phương hưởng. Tôi ngồi yên trong một hố bom và cố nhận định vị trí của mình. Chuyện rất thường xảy ra là người ta hớn hở nhảy vào một chiến hào để rồi thấy rằng mình đã lầm.
Sau một lúc tôi lắng nghe lại, nhưng vẫn chưa chắc lắm. Hố bom đầy rẫy khiến trong lúc hoang mang tôi không còn biết đường nào mà lần. Không chừng tôi đang bò song song với chiến tuyến và nếu thế bò chừng nào cho hết. Nên tôi bò lại vòng quanh một vòng nữa theo một vòng rộng. Mấy cái hỏa châu chết tiệt! Chúng hình như cháy hàng giờ không hết và cứ hơi nhúc nhích là đạn bay rào rào quanh mình. Nhưng biết làm sao, cũng cứ phải bò ra chứ. Tôi chập choạng bò tới, tôi quờ quạng trên mặt đất như một con cua, tay đụng phải các mảnh niễng răng cưa sắc như lưỡi dao cạo. xước ra đau buốt. Lắm lúc tôi tưởng như trời sáng hơn ở chân trời, nhưng có thể đó chỉ là tưởng tượng. Rồi dần dà tôi nhận thấy rằng vấn đề sinh tử là phải bò sao cho đúng hướng. Một quả đạn rớt xuống đánh sầm. Tức thì hai quả nữa tiếp theo. Rồi là bắt đầu rơi liên miên. Một cuộc pháo kích. Đại liên lạch tạch; giờ thì không còn cách nào khác là nằm ẹp mình xuống. Rõ ràng là sắp có cuộc công kích. Kuắp nơi hỏa châu bắn lên. Không ngừng. Tôi nằm phục mình trong một hốc bom lớn, nước lên ngang bụng. Khi cuộc công kích bắt đầu, tôi sẽ buông mình xuống nước, mặt úp xuống bùn làm sao cho đừng nghẹt thở. Mình phải vờ chết. Bỗng tôi nghe giải tỏa hỏa lực. Tức thì tôi trườn xuống nước, mũ sắt trên gáy, miệng tránh bùn để còn thở. Tôi nắm bất động; – đâu đó một cái gì lạch cạch, thình thịch, đổ xuống, tiến lại – tất cả gân cốt tôi se lại, đọng lại. Nó loảng xoảng trên tôi rồi xa dần, làn sóng đần tiên đã qua. Tôi chỉ có một ý nghĩ:
Lỡ có kẻ nhảy xuống hốc đạn mình thì mình làm sao đây? – Tôi vội rút con dao ra, nắm chặt lấy và vùi tay lại vào bùn. Nếu kẻ nào mà nhảy xuống đây là tôi quyết một còn một mất; cái ý nghĩ nện vào trán tôi tôi thì đâm hắn giữa họng khiến hắn chết không kịp ngáp; chỉ có cách ấy; hắn cũng sẽ hoảng sợ như tôi, khi hai thằng rơi lên nhau trong lúc kỉnh hoàng và tôi phải là thằng ra tay trước. Giờ là đển trọng pháo chúng tôi khai hỏa. Một quả đan rơi gần tôi. Điều này làm tôi điên tiết; không gì oái oăm bằng mình lại chết vì chính hom đạn của mình; tôi chửi thề, nghiến răng trèo trẹo trong bùn; thật Ià điên lên được; rút cuộc tôi chỉ còn biết lầm bầm và cầu nguyện. Tiếng đạn nổ chát chúa bên tai. Nếu tụi bạn mình mà phản công thì mình thoát. Tôi áp đầu xuống đất lắng nghe tiếng sấm rền, như tiếng mìn nổ ở các lò đá — và lại ngước lên nghe ngong các tiếng động bên trên. -Các đại liên lạch tạch, Tôi biết hàng rào kẽm gai của chúng tôi vững chắc và gần như không hư hao; – phần lớn lại được truyền điện mạnh. Hỏa lực súng trường tăng gia. Chúng đã chọc không thủng; chúng phải rút lui. Tòi lại chìm mình xuống, lại áp đầu, lại căng thẳng đến cực độ. Tiếng đì đùng, tiếng bò, tiếng lách cách lại rõ mồn một. Một tiếng kêu duy nhất thét lên giữa chúng. Chúng bị hỏa lực quạt tả tơi, cuộc công kích bị đẩy lui.
***
Hỏa lực đã có phần nhẹ hớt. Các bước chân hởt hãi trên tôi. Tên đầu tiên, Gục. Lại một tên nữa. Tiếng lạch tạch của đại liên trở thành một sợi dây không muốn dứt. Tôi vừa toan cựa mình thì có cái gì nặng đổ xuống, và một thân hình rơi lên tôi đánh thịch trong hố bom, tụt xuống, và nằm ngang tôi – Tôi không suy nghĩ gì cả, tôi không quyết định – tôi đâm ngay vào như điên và chỉ cảm thấy cái thân xác bỗng quằn quại, rồi mềm nhũn, và đồ sụp. Khi tôi hồi lại, tay tôi dinh dính ươn ướt. Kẻ kia khò khè. Tôi nghe như thể hắn rổng, mỗi hơi thở phều phào là một tiếng kêu một tiếng sấm – nhưng chẳng qua chỉ là tiếng tim tôi đập mạnh. Tôi muốn chặn miệng hắn lại, nhét đất vào nó, lại đâm hắn nữa, hắn phải câm ngay, hắn đang bại lộ tôi; nhưng rồi tôi lấy lại binh tĩnh, nhưng bỗng cảm thấy kiệt lực đến nỗi không tài nào giơ dao lên được đề đâm hắn.
Tôi mới bò ra xa, ra tận góc và ngồi đấy, mắt dán vào hắn, tay nắm chặt con dao – sẳn sàng, nếu hắn cử động, là chồm lên bắn. Nhưng hắn không còn nhúc nhích nổi, tôi nghe rõ điều này trong cái khò khè của hắn. Tôi không thấy rõ hắn. Tôi chỉ mong mỏi một điều, thoát khỏi nơi đây. Bằng không chả mấy lúc sẽ sáng quá; ngay bây giờ cũng đã khó khăn rồi. Tôi toan ngẫng đầu lên và thấy ngay là đã không thể được. Hỏa lực đại liên quét khắp mặt đất và nhảy ra là bị bắn thủng tơi bời. Có lần tôi thử bằng mũ, tôi cầm mũ giơ lên để dọ tầm cao của đạn. Vừa giơ lên một viên đạn đã bắn văng mũ khỏi tay tôi. Đạn lia thật sát đất. Tôi không xa chiến tuyến địch là bao nên nếu toan thoát thế nào cũng có một thằng bắn sẻ cho mình một phát.
Trời sáng thêm. Tôi nóng ruột chờ bên mình phản công. Cùi tay tôi trắng bệch vì tôi nắm quá chặt, nôn nao chờ đợi hóa lực ngưng cho bạn tôi tiến lên. Phút này qua phút khác, tôi không dám nhìn lại cái thân hình nằm lù lù trong hốc bom. Tôi cố nhìn qua nó và đợi, đợi. Đạn réo, làm thành một lưới thép, không ngừng, không ngừng. Hoa lực không giảm. Cả hai bên đều bắn dữ. Mấy thằng bạn tôi hẵn cho tôi là tiêu đã lâu. Mới sáng tinh sương, vừa trong vừa xám. Tiếng khò khè tiếp tục, tôi bịt tai tôi, nhưng rồi lại bỏ tay ra, vì như thế tôi khỏng thể nghe tiếng động kbác. Cái bóng dáng trước tôi cử động. Tôi thu người lại và vô tình nhìn nó. Rồi là mắt tôi dán vào nó. Một con người với một bộ râu cằm nhọn nằm kia, đầu ngã sang bên, một cánh tay co lại, đầu tựa vào bất lực. Tay kia đặt trên ngực, đầy máu. Hắn chết rồi, tỏi tự nhủ, hắn chắc chết rồi, hắn không còn cảm thấy gì nữa; chỉ còn cái xác khò khè. Rồi cái đầu toan ngóc lên, trong một lúc tiếng rên rỉ lại to lên, trán hắn gục vào cánh tay. Hắn ta không chết, hắn ta mởi hấp hối, nhưng chưa chết. Tôi lết lại gần hắn, do dự, chống tay lên, bò lại gần hơn, đợi, lại một cuộc hành trình khủng khiếp dài ba thước, một cuộc hành trình khủng khiếp dài dằng dặc. Và rồi tôi đến bên bắn. .
Rồi bắn mở mắt. Hắn hẳn nghe thấy tôi và nhìn tôi với đôi mắt trợn trừng khiếp sợ. Cái thân hình nằm yên, nhưng trong đôi mắt biểu lộ cả một sự trốn chạy khiến tôi nhìn mà tưởng chừng như chúng đủ sức mạnh để khiêng cả cái thân hình chạy theo chúng. Hàng trăm dặm bằng một cái nhảy vọt. Cái thân hình bất động, hoàn toàn bất động, không một âm thanh, tiếng khò khè cũng đã dứt, nhưng đôi mắt kêu lên, thét lên, tất cả sinh lực tụ lại ở đôi mắt trong một sự cố gắng tầu thoát, tụ lại trong một cái khiếp đảm sợ chết, sợ tôi. Tôi quỳ xuống chống khuỷu tay. «Không, không, » tôi thì thầm. Đôi mắt theo dõi tôi. Đôi mắt còn đấy tôi không đủ sức đề bỏ đi. Đoạn bàn tay hắn từ từ tuột khỏi ngực, chỉ một chút thôi, chỉ tụt đi vài đốt ngón tay, nhưng cái cử động này phá tan thần lực của đôi mắt. Tôi cúi xuống, lắc đầu nói sẽ:
«Không, không, không. » Tôi giơ một bàn tay, tỏi cho hắn thấy rằng tôi muốn giúp hắn tôi vuốt trán hắn.
Đôi mắt thu nhỏ lại khi bàn tay đến gần, đoạn không còn trừng trừng nữa, mí mắt hạ xuống, sự căng tbẳng đã qua. Tôi mở cồ áo hắn và đặt đầu hắn lại cho ngay ngắn thoải mái.
Miệng hắn vẫn hẻ mở, cố nói điều gì. Đôi môi khô. Binh nước tôi không có đây. Tôi đã không mang theo. Nhưng có nước trong bùn, dưới đáy hố bom. Tôi leo xuống, lấy khăn mù soa, trải ra, ấn xuống vét lấy tí nước vàng khè chảy qua khăn vào lòng bàn tay. Hắn hớp nước. Tôi lấy thêm. Đoạn tôi mở khuy áo hắn đề băng cho hắn nếu như băng được. Dù sao tôi cũng phải làm, cho bọn bên kia nếu bắt được tôi cũng thấy rằng tôi muốn cứu hắn, và do đó sẽ không bắn tôi. Hắn toan cưỡng, nhưng tay hắn yếu quá. Sơ mi bó chặt cởi không ra, vì gài cúc đằng sau. Nên chỉ còn cách rọc nó ra. Tôi tìm dao và tìm lại được. Nhưng khi tôi bắt đầu rọc chiếc sơ-mi thì đôi mắt lại mở ra và tiếng kêu lại hiện ra trong đôi mắt với cả cái nét mặt cuờng loạn kia khiến tôi phải khép chúng lại, khép chặt và nói sẽ:
«Tôi muốn giúp anh, anh bạn, bạn, bạn, bạn -» lập đi lập lại tiếng này một cách thành khẩn, đề cho hắn hiểu. Có ba vết đâm. Tôi lấy băng ra băng, máu thấm ra, tôi ấn chặt rồi; hắn rên rỉ. Tôi chỉ làm được thế. Giờ thì chúng tôi đợi, đợi.
***
Ba tiếng đồng hồ … Tiếng khò khè lại trỗi lên – con người ta chết mới chậm chứ! Điều này tôi biết – hắn vô phương cứu. Thật vậy, tôi cứ tự nhủ rằng hắn sẽ qua, nhưng đến trưa, sự tự dối ấy không còn đứng vững và
tiêu tan hắn trước các tiếng rên rỉ của hắn. Phải chi tôi đừng mất khẩu súng lục khi bò quanh, tôi hẳn đã cho hắn một phát. Còn bảo đâm hắn tôi không đâm nổi. Trưa đến tôi đã mò đến mức lận cùng của lý trí. Cái đói cồn cào tôi. Tôi sẵn sàng khóc đề xin ăn, tôi không thể cưỡng lại nó. Chốc chốc tôi lại đi lấy nước cho kẻ hấp hối và chính tôi cũng uống. Đây là người đầu tiên mà tôi hạ sát bằng tay, mà tôi được thấy tận mắt, mà cái chết là do tôi làm. Kat và Kropp và Muller đã từng trải qua vụ này, từng tay mình hạ sát; nhiều người đã trải qua, nhất là khi xáp lá cà. – Nhưng mỗi cái khò khè là như phơi trần tim tôi. Kẻ hấp hối này còn có thời gian đi với hắn, hắn có một con dao vô hình để hắn đàm vào tôi: đó là Thời gian và các ý nghĩ của tôi.
Tôi sẵn sàng cho hết miễn sao hắn sống. Còn nằm đày và phải nhìn hắn phải nghe hắn thì quả thật không sao chịu nổi.
Chiều đến, vào khoảng ba giờ, hắn chết. Tôi thở đánh phào. Nhưng chỉ được một lúc. Rồi sự im lặng còn khó chịu hơn là những tiếng rên rỉ. Tôi lại mong nghe lại tiếng khò khè, tiếng hổn hển, tiếng khan khàn khi thì rít nhẹ khi thì rên to. Thật là điên, điều tôi làm. Nhưng tôi phải làm một cái gì. Tòi kéo kẻ chết kia lại sắp xếp cho hắn nắm sao cho thoải mái mặc dầu hắn có còn cảm thấy gì nữa đâu. Tôi vuốt mắt hắn. Đôi mắt nâu. Tóc hắn đen và hai bên hơi quăn. Miệng đầy đặn và mềm dưới bộ râu mép; mũi hơi cong, da nâu nâu; giờ đây không nhợt nhạt hơn trước, như khi hắn còn sống. Khuôn mặt có lúc nhìn như khỏe mạnh; đoạn nó bồng xẹp xuống thành cái khuôn mặt lạ kỳ của những người chết mà tôi thường thấy, những bộ mặt lạ kỳ, mặt nào cũng như mặt nào. Chắc chắn là vợ hắn còn ngbĩ đến hắn; nàng đâu đã biết chuyện gì đã xảy ra. Trông hắn như thể hắn thường hay viết thơ cho vợ; nàng hẳn còn nhận được thư hắn-ngày mai, trong một tuần nữa – không chừng thư thất lạc, một tháng nữa. Nàng sẽ đọc, trong thư bắn còn trò chuyện với nàng.
Tâm trạng tôi mỗi lúc mỗi tệ, tôi không còn kềm chế nồi các ý nghĩ của tôi. Vợ hắn nhìn người ra sạo? Có giống cái nàng tóc nâu nhỏ nhắn ở bờ kênh bên kia không? Giờ nàng có là của. mình không? Không chừng vì cái hành động này mà nàng trở thành của mình. Ước gì có Kantorek ngồi đây bên mình. Nếu mẹ mình mà lại thấy mình kẻ chết kia lẽ ra còn có thể sống thêm ba chục tuổi nữa nếu như tôi lại in sâu được vào ký ức tôi con đường trở lại chiến lũy của mình. Nếu hắn chỉ chạy chệch sang bên trái chừng hai thước thôi, thì giờ đây hắn đã ngồi ở chiến lũy bên kia và viết một lá thư khác về cho vợ. Nhưng tôi không muốn suy nghĩ vẫn vơ thế nữa, vì đó chẳng qua là số phận của mọi người chúng ta: nếu chân thằng Kemmerich mà lại chệch chừng sáu ngón tay về bên phải; nếu thẳng Haie Westhus mà lại cúi xuống chừng ba đốt tay nữa về phía trước
-Im lặng lan rộng. Tôi nói và tôi phải nói. Nên tôi trò chuyện với hắn và bảo hắn «Này bạn, tôi đâu muốn giết bạn. Nếu bạn lại nhảy lại vào đãy, tôi sẽ không giết, nến như bạn cũng biết điều. Nhưng trước kia đối với tôi bạn chỉ là một ý niệm, một trừu tượng sống trong tâm trí tôi và khích gợi sự phản ứng thích thời của nó. Tôi đâm là đâm cái trừu tượng ấy. Nhưng giờ đây, lần đầu tiên, tôi thấy bạn là một thằng người cũng như tôi.
Tôi nghĩ đến các quả lựu đạn, đến lưỡi lê, đến cây súng của bạn; giờ đây tôi thấy vợ bạn và mặt bạn và tình bạn giữa chúng ta. Xin bạn thứ lỗi cho. Chúng ta khi nào thấy được thì cũng đã muộn. Tại sao họ không bao giờ nói cho bạn biết rằng các bạn cũng chỉ là những kẻ khốn khổ khốn nạn như chúng tôi, rằng các bà mẹ các bạn cũng lo âu như các bà mẹ chúng tôi và rằng chúng ta cũng đều sợ chết như nhau, cũng đều hấp hối và cũng đều đau đớn như nhau – Bạn ơi, xin ban tha thứ; làm sao bạn lại có thể là kẻ thù của tôi? Nếu ta quăng các cây súng và bộ binh pbục này đi bạn cũng có thể là anh em tôi như Kat như Albert. Bạn ơi, hãy lấy đi hai mươi tuổi của đời tôi và hãy đứng dậy – lấy nữa đi, vì giờ đây tôi cũng chẳng biết tôi còn thể toan tính làm gì vởi cái tuổi của tôi. »
Cảnh vật êm lặng, mặt trận cũng yên tĩnh ngoại trừ tiếng tạch tạch của hỏa lực súng trường. Đạn bay rào ràơ như mưa trên đầu, chẳng phải là bắn bừa, mà từ mọi phía nhắm bắn có chủ đích. Tôi không thể bò ra.
«Tòi sẽ viết thư cho chị ấy,» tôi nói vội với kẻ chết, «tôi sẽ viết cho chị ấy, chị ấy phải nghe tin từ tôi, tôi sẽ kể hết những gì tôi đã nói với bạn, chị ấy sẽ không đau khổ, tôi sẽ giúp chị ấy, và cả ông cụ bà cụ bạn nữa, và cả con bạn -»
Áo anh ta nửa hở. Cuốn sổ tay tìm cũng dễ. Nhưng tôi ngui ngùng không dám mở. Trong đó có tên anh. Còn chưa biết tên không chừng tôi còn có thể quên anh, thời gian sẽ tẩy xóa hết, cái hình ảnh này. Nhưng tên anh, nó là một chiếc đinh đóng vào tôi và không bao giờ còn nhổ ra được. Nó có cái phép nhắc nhở lại hình ảnh này đời đời, nó sẽ lúc nào cũng trở lại đứng trước mặt tôi Do dự tôi cầm cái vi trong tay. Nó tuột khỏi tay tôi, rơi xuống mở toang. Vài tấm hình và vài lá thư rơi ra. Tôi thu lại và có ý bỏ lại vào ví, nhưng tâm trạng căng thẳng của tôi lúc đó, sự hoang mang, cái đói, cái nguy hiềm, những giờ một mình vởi người chết này làm tôi bối rối, tôi muốn mau được nhẹ lòng, muốn tăng gia và chấm dứt cái cực hình, như khi người ta đấm một cái bàn tay đau không chịu nổi vào một thân cây, bất chấp mọi sự.
Có mấy bức hình của một thiếu phụ với một con bé con, những hình chụp lấy nhỏ bé, đứng trước một bức tường có hoa Tường Vi. Cùng với hình là thư từ. Tôi lấy ra đọc thử. Phần lớn tôi không hiểu, chữ viết đã khó đọc và tôi lại chả biết gì về tiếng Pháp. Nhưng chữ nào tôi dịch được thì lại như thể một viên đạn bắn vào ngực tỏi: – như một nhát dao đâm vào ngực tôi.
Óc tôi mỏi mệt quá sức. Nhưng tôi nhận thức được điều này, là tôi không bao giờ lại dám viết cho những người này như tôi địnb. Tôi nhìn lại các tấm chân dung một lần nữa: trông họ không phải là những người giàu. Tôi có thể vô danh gửi tiền cho họ nếu sau này tôi làm ra tiền. Tôi níu lấy ý nghĩ này, ít ra cũng là một cái gì cho minh bấu víu. Kẻ chết này được rằng buộc với đời tôi, do đó tôi phải làm mọi cái, phải hứa hẹn mọi điều, để tự cứu lấy mình; tôi thề liều rằng tôi sẽ sống chỉ để cho anh và gia đình anh với đôi môi ướt tôi cố xoa dịu anh – và trong thâm tâm tôi, tôi mong rằng mình có thể chuộc tội bằng cách này và không chừng còn thoát khỏi nơi đây; âu cũng là một kế mọn: nến tôi mà được thoát khỏi cảnh hiểm nghèo này tôi sẽ xin lo mọi sự được chu đáo. Nên tôi mới giở sách ra đọc chầm chậm:
-Gérard Duval, thợ sắp chữ. Bằng bút chỉ của kẻ chết, tôi biên địa chỉ trên một phong bì, đoạn bỏ nhanh mọi cái vào trong áo anh ta. Tôi đã giết chết anh thợ in Gérard Duval. Ta sẽ làm thợ in tôi nghĩ hoang mang, là thợ in, thợ in –
***
Chiều đến, tôi bình tĩnh hơn. Nỗi sợ của tôi thật vô lý. Cái tên không làm tôi bận tâm nữa. Sự điên loạn đã qua. «Này bạn, » tôi nói vởi kẻ chết, nhưng nói bằng một giọng bình tĩnh, chôm nay là bạn, mai là tôi.
Nhưng bạn hỡi, nếu tôi thoát khỏi vụ này, tôi sẽ tranh đắu chống chiến tranh, nó đã đánh gục cả hai ta; lấy của anh mạng sống – và của tôi -? Cũng sự sống. Bạn hỡi, tôi xin hứa với bạn. Cảnh tượng này sẽ không bao giờ còn diễn ra,»
Mặt trời đã tà. Tôi thẫn thờ cả mệt cả đói. Đối với tôi hôm qua như một sương mù, chưa có hy vọng gì thoát ra khỏi nơi đây. Tôi ngủ gà ngủ gật và thoạt đầu không nhận ra là trời buông tối. Hoàng hôn đã đến. Tôi cảm như giờ đây nó đến rất mau. Thêm một giờ nữa. Nếu là mùa hè, phải ba giờ nữa. Một giờ nữa.
Bỗng tôi bắt đầu run; không chừng có chuyện gì xảy ra trong khoảng cách. Tôi không còn nghĩ đến kẻ chết kia, giờ thì hắn ta không còn nghĩa lý gì đối với tôi. Vọt một cái ham sống lại lóe lên và mọi cái từrng làm đầy ý nghĩ tôi chìm hẳn trước nó. Giờ thì cốt đề tránh cái đen, tôi lầm bằm như máy: «Tôi xin làm trọn mọi điều, làm trọn mọi điều tôi đã hứa với anh- nhưng tôi đã biết ngay rằng mình sẽ không làm trọn.
Bỗng tôi chợt nghĩ rằng chính mấy thắng bạn mình có thể bắn vào mình nếu mình bò lên; họ đâu có ngờ là mình bò về. Mình sẽ gọi lên ngay khi thuận tiện để họ nhận ra mình. Mình sẽ nằm trước chiến hào cho đến khí họ trả lời mình. Ngôi sao đầu tiên mọc. Mặt trận vẫn yên tĩnh. Tôi hít mạnh hồi hộp bụng bảo dạ:
«Giờ thì coi chừng, đừng có điên rồ nghe Paul- bình tĩnh nghe Paul, hãy bình tĩnh rồi mày sẽ thoát chết. Paul à.» Khi tôi dùng đến tên tục của tôi, tôi có cảm tưởng như người nào khác nói với tôi, nó mầu nhiệm hơn.
Trời tối thêm Tôi bớt hồi hộp, Tôi thận trọng chờ đợi cho đến khi chiếc hỏa châu đầu tiên bay lên. Đoạn tôi bò ra khỏi hố đạn. Tôi đã quên kẻ chết kia rồi. Trước tôi là đêm đi đến và cánh đồng lấp loáng lờ mờ.
Tôi nhắm chừng một hố đạn: ánh sáng vừa tắt tôi phóng nhanh vào đây, bò xa hơn, phóng vào một lỗ khác, phục mình xuống, bò tới. Tôi đến gần. Ở đấy, nhờ ánh sáng một hỏa châu tôi thấy cái gì động đậy trong đám kẽm gai, rồi khựng lại và nằm yên. Lần sau tôi nhìn lại, đúng, có người trong chiến hào chúng tôi. Nhưng tôi còn nghi ngại chờ nhận xem có phải mũ bọn mình không. Rồi tôi gọi. Và tức thì một tiếng đáp vang lên, tên tôi
« Paul – Paul _
Tôi đáp lại . Đúng là Kat và Albert mang cáng đi theo để tìm tôi.
« Mầy có bị thương không?
«Không, không –
Chúng tôi nhảy xuống chiến hào. Tôi đòi ăn và nuốt như vâm như voi. Miller đưa tôi điếu thuốc. Trong vài câu tôi thuật lại những gì đã qua. Chả có gì lạ; đó là chuyện thường xảy ra, Chỉ có công kích ban đêm là điều bất thường trong vụ này. Ở Nga Kat có lần phải nằm hai ngày sau chiến tuyến địch trước khi lần được đường về. Tôi không nói đến anh thợ in chết. Nhưng sáng hôm sau tôi không thể giữ kín được lâu nữa. Tôi thuật lại cho Kat và Albert nghe. Cả hai để cố an ủi tôi: « Mày không thể làm khác. Mày còn biết làm gì hơn?
Đã ra đây là phải thế rồi. »
Tòi nghe họ và cảm thấy nhẹ lòng một phần nào, an tâm trước sự hiện diện của bạn. Thật là rõ khéo lảm nhảm ngồi nói một mình trong cái hốc đạn đẳng kia.
«Nhin kia chẳng hạn, » Kat trỏ. Trên cấp tác xạ có vài anh bắn sẻ đứng. Họ đặt súng có ống kinh viễn vọng lên bờ lũy và quan sát mặt trận địch. Thỉnh thoảng lại nổ một phát.
Đoạn chúng tôi nghe kêu: «Trúng cái phócl » «Mày có thấy thẳng ấy nó nhảy lên trời không? Trung sĩ Oellrich quay lại đắc chỉ và ghi điểm mình. Hôm nay bác ta đứng đầu số với với ba phát trúng.
«Cậu nghĩ sao? » Kat hỏi. Tôi gật đầu.
«Nếu cứ giữ được cai đa này thì đến tối nay bác sẽ được một con chim màu nhỏ đinh ve áo.» Albert nói.
«Hoặc chả mấy lúc lên lon trung sĩ nhất, » Kat nói.
Chúng tôi nhìn nhau. «Tôi thì tôi xin hàng, » tôi nói.
«Thế cả, » Kat nói, «giờ cậu được thấy là phúc còn lớn.»
Trung sĩ Oellrich trở lại cấp tác xạ. Họng súng mò đi mò lại.
« Đừng vì cái chuyện ấy mà mất ngủ nghe, Albert nhắn.
Và giờ thì tôi không sao hiểu nổi nữa.
«Chỉ vì mình phải nằm ở đó với hắn ta có hơi lâu,» tôi nói. «Dù sao, chiến tranh là thế.»
Có người hỏi Krishnamurti: “Ngài là người đã giác ngộ. Xin cho biết bên kia sự chết là gì?” Đây là vấn đề, xưa nay hàng tỉ ti người, qua bao thế hệ trên mặt đất hoang mang. Người chết thì đi luôn, không trở lại. Người sống thì chưa qua biên giới tử sinh, không ai đủ thẩm quyền để nói về một vấn đề mình không có kinh nghiệm. Vì thế, câu hỏi xem chừng như ngớ ngẩn. Nhưng, Krishnamurti đã trả lời. Ông chưa hề chịu bí với bất cứ câu hỏi nào. Đầu tiên, ông chỉnh người đặt câu hỏi. Rằng chỉ có người đã giác ngộ mới biết người khác có giác ngộ hay không. Ông chưa giác ngộ, sao biết tôi đã giác ngộ? Những gì tôi nói, ông nên suy nghĩ, xem có chấp nhận dược hay không mà thôi. Còn chuyện tôi giác ngộ hay không, chỉ có tôi biết. Và điều ấy cũng chẳng liên quan gì đến ông, Sau đó, Krishnamurti nói về bên kia sự chết. Lời lẽ văn hoa bóng bẩy, trơn tru dễ dàng như nước chảy, luồn lách qua mọi ngóc ngách tâm lý và triết học. Người đọc theo dõi từng chữ từng câu, nóng lòng tìm cho ra giải đáp về một thế giới bí ẩn bện kia. Nhưng ông cứ nói vòng vo tam quốc. Kiên nhẫn theo dõi đến hết dòng chữ cuối cùng, chẳng hiểu ông nói gì. Ôi, một bậc thông tuệ, được nhiều người, trong đó có tôi, xem như ông thánh, mà ánh sáng tư tưởng của ông không soi rọi đưực cái đầu tăm tối của tôi sao? Có phải dầu tôi dóng kin bưng không chịu hiểu, hay ngọn đèn trí tuệ của ông chỉ là một ảo ành, không làm sáng tỏ được bức màn ngăn che phía sau sự chết?
Thôi, vấn để sau khi chết thì đành mờ mịt vậy. Nhưng trước khi chết, tâm trạng con người ra sao? Ở đây, không đặt trường hợp những người chết vì già nua, bệnh tật. Chỉ nói đến những tử tội, khi sắp ra pháp trường, ngoài những buồn rầu rối loạn, hoặc thù hằn nguyền rũa, có người muốn được ăn một bữa thật ngon. Thậm chí, còn yêu cầu được thoả mãn tình dục lần cuối cùng. Không có nỗi sợ hãi nào lớn hơn sợ chết. Trong giờ phút ấy, mà còn nghĩ đến miếng ăn và tình dục, là một điều ngoài sức tưởng tượng của tôi. Nhưng đó là những biểu hiện bên ngoài. Còn ý nghĩ thầm kín và tâm trạng cận kề cái chết, không ai có cơ hội ghi lại. Những ông văn sĩ, khi viết về vấn đề này, chỉ hư cấu, chứ chưa thật sự trải qua kinh nghiệm kinh hoàng của người khác. Ông ta suy diễn tâm trạng của kẻ đang đối mặt tử thần, bằng tâm trạng của ông, một người đang sống bình yên. Nếu lâm vào đường cùng, có thể ông lại nghĩ khác.
Tôi có một thời gian dài, đi trong vùng lửa đạn. Tính mạng bị đe doạ thường xuyên. Người xưa coi cái chết nhẹ như lông hồng. Nhưng tôi thì lo âu, tìm mọi cách trấn an tinh thần. Đời người chỉ có một lần, tôi không thể coi thường sự chết. Tôi cố tin vào khả năng tự vệ, qua những vật dụng tùy thân được trang bị và sự hỗ tương đồng đội. Những người bạn của tôi cũng cố tin như thế. Nhưng, trong nhiều trường hợp vẫn không tránh khỏi chết. Tôi từng nhìn thấy nhiều cái chết của người chung quanh. Có người, trước giờ lâm tử, còn nhắn với tôi, xin chuyển giùm cai radio về cho mẹ. Anh bình tĩnh đến độ làm tôi muốn quỳ sụp xuống mà lạy anh. Sau đó, anh hiên ngang đi vào đất chết. Kinh Kha khi qua sông Dịch, có ba ngàn tân khách mặc đồ tang đưa tiễn. Ông ta vì chịu cái ân đãi ngộ và lời hứa với thái tử Đan. Cuối cùng lại tổ chức tiễn đưa rầm rộ. Ở vào cái thế, dù Kinh Kha có sợ chết, nhưng vì cái danh, nên không thể quay đầu lại được. Còn bạn tôi, thuộc hàng vô danh tiểu tốt, có tỏ ra hèn nhát cũng chẳng ai cười. Anh không vì cái danh và tự ái mà đi vào đất chết như Kinh Kha, Anh đi, chỉ vì bồn phận của người lính trong thời chiến. Và anh cũng biết rằng cái tên anh chẳng có một chỗ đứng nào trong lịch sử. Thời đại của tôi, có rất nhiều người dũng liệt còn hơn Kinh Kha. Cũng chính vì nhiều quá, nên chẳng ai còn quan tâm đến nữa. Trở lại chuyện người bạn của tôi. Lời nhắn gửi của anh, làm tôi nhức nhối từng dêm. Thân xác khong giữ được thì tiếc chi vật mọn ngoại thân, chẳng qua anh muốn lưu lại một kỷ vật cho đấng sinh thành. Trong kỳ nghỉ phép, tôi tìm đến nhà anh ở một vùng quê hèo lánh, mien Trung. Mẹ anh đang ngồi ngoáy trầu. Trên bàn thờ lạnh vắng khói hương, có tấm hình anh vô hồn ngơ ngác, nhỏ như bàn tay. Tôi trao lại cái radio loại bỏ túi và cái balô đựng bộ quần áo cũ. Mẹ anh ôm di vật của con, sửng sờ, chết diếng không khóc được. Nổi đau đớn đã vượt qua giới hạn của khóc than vật vã. Một lúc lâu sau, bà hỏi tôi về giây phút cuối cùng của người con. Tôi không dám nói hết điều gì đã chứng kiến, sợ làm bà xúc động thêm, chỉ lập lại lời nhắn gửi của anh. Lúc ấy, bà mới bật khóc và kêu lên thảm thiết:
“Con ơi … Con ơi … ” Tiếng kêu ai oán não nùng, nghe muốn đứt ruột.
Trường hợp khác, khi tôi cùng đồng đội được lệnh tấn công vào mục tiêu. Đạn từ trong bắn ra như mưa. Mục tiêu xa chừng hai mươi thước, nhưng khi xung phung là thời gian đem thân làm tấm bia di động trước tầm đạn, thì có cảm tưởng rất xa. Liếc qua phải qua trái, thấy người này ngã xuống, người kia ngã xuống. Tôi sợ đến lạnh mình. Chiếm xong mục tiêu, mồ hôi thì đổ dầm dề, ướt mặt. Trời không nóng nực, nhưng sợ quá làm tháo mồ hôi. Sau đó, việc ưu tiên là lo giải quyết những người bị thương. Kẻ chết thì đã chết rồi, từ từ tính sau. Trong số bị thương, có một anh bị thương đầu rất nặng. Không cần phải có khả nang chuyên môn y khoa, cũng biết rằng anh sẽ chết trong thời gian rất ngắn. Lúc đang chờ trực thăng tải thương, anh cứ bò qua bò lại, tay sờ soạng tìm kiếm một vật gì trên mặt đất. Hai mắt anh vẫn mở, nhưng hình như không nhìn thấy gì hết. Hỏi anh tìm gì, để giúp cho anh. Anh không trả lời. Có thể, anh cũng không còn nghe ai hỏi nữa.
Những đêm yên tĩnh, nằm trên võng, giữa rừng già, nhìn qua kẽ lá. Trên trời điểm những vì sao khuya, xa xăm buồn bã. Hình ảnh người bạn bị thương đầu, mặt be bết máu, còn hiện trong trí tôi. Chiến tranh thảm khốc đã mang đi quá nhiều người tuổi trẻ của cả hai phe lâm chiến. Những kẻ chủ xướng chiến tranh, ở xa nơi nguy hiểm. Họ đang êm ấm trong những dinh thự, canh gác ngày đêm cẩn mật. Con cháu của họ cũng được bảo bọc an toàn. Họ đọc báo cáo về sự tổn thất nhân tnạng, như đọc một hóa đơn làm ăn buôn bán, suy tính lời lỗ hơn thua. Lòng không một mảy may xúc động tình nguời. Họ không tận mắt nhận thấy những chết chóc. Nếu người bị thượng đầu ấy, chính là con cháu ruột thịt thân yêu của họ, chắc họ sẽ đau lòng và suy nghĩ lại những gì mà họ đã nghĩ trước kia.
Người bạn tôi làm công tác tháo gỡ mìn bẫy. Lựu đạn phát nổ, khi anh đang trong thế quỳ để khóa chốt an toàn. Đầu anh gục xuống, hai khuỷu tay còn chống đỡ thân mình. Trong tư thế ấy, anh im lặng một lúc. Bỗng anh rướn người lấy hết tàn lực, hít vô một hơi thật dài, ngước mặt lên và bật ngữa người ra phía sau. Trời ơi, tôi không tưởng tượng nổi khuôn mặt nào rùng rợn đến thế. Cái mặt nát bấy, không còn nhìn thấy mắt mũi đâu nữa. Hai cánh tay anh lòi xương trắng hếu, dính những chùm thịt bầy nhầy, đỏ như chùm giẻ rách nhúng trong máu. Trong giây phút, tôi thấy trời đất tối sầm. Khủng khiếp và xúc động làm tôi muốn ngất đi. Mấy tháng sau, khuôn mặt anh vẫn còn ám ảnh tôi. Đêm cứ chập chon ác mộng. Tinh thần khủng hoảng. Tôi không dám tâm sự điều này với ai, ngại sẽ bị chê là hèn. Trong một lần hành quân rừng già. Đơn vị bất ngờ chạm địch. Hỏa lực của cả hai phe bắn ra, nhiều dến nổi chỉ còn nghe tiếng súng ro ro như tiếng của một nhà máy xay lúa. Phe nào cũng sợ bị phía bên kia xung phong, nên bắn dữ dội để cản địch. Sau vài phút đầu, mọi người đã lấy lại bình tĩnh, điểu chỉnh lại hoa lực, nhầm triệt hạ đối phương một cách chính xác hơn. Tôi quay qua, vội kiểm soát đồng đội của mình. Thấy một anh bạn trẻ đang loay hoay cởi dây ba chạc trên vai, để tháo sợi dây nịt đạn. Anh bị thương bụng. Máu nhuộm ướt một phần áo và lưng quần. Ruột đổ ra lòng thòng. Anh cầm ruột nhét vô bụng và bò đi nơi khác. Nhưng một đoạn ruột ruột vướng víu gai góc bên ngoài, nên khi anh bù đi, thì ruột lại tháo ra. Lúc này là lúc lo chống trả đối phương, không thể săn sóc cho thương binh. Tôi la lên: “Nằm im đó. Đừng di chuyển.”
Một ông thượng sĩ già, bò tới gần, lấy sợi dây đạn của anh.
Anh hỏi: “Thượng sĩ có sao không?”
Thượng sĩ nói: “Tao bị mãnh B40.”
Anh quan sát ông thượng sĩ, rổi nói một câu rất tĩnh:
“Ông chỉ bị nhẹ. Còn tôi hơi … nặng.”
Chao ôi! Cái bụng banh ra, ruột đổ lòng thòng, máu me thấm đỏ, mà anh nói hơi … nặng?
Và anh đã chết, khi trận đánh còn chưa kết thúc. Nhiều ngày sau, tôi vẫn thắc mắc. Trong giờ phút nguy ngập trên chiến trường, ôm vết thương như thế, sao anh có thể bình tĩnh đến lạ lùng? Tâm trạng anh thế nào? Anh nghĩ gì lúc ấy?
Trung cuộc di tản từ miền Trung về phía Nam. Đoạn đường ngang Rừng Lá đã bị cắt đứt. Đoàn người và xe bị đọng lại ở Bình Tuy. Thành phố đang thưa người yên vắng, bỗng ôn ào rộn lên. Người đổ về càng lúc càng đông, chật đường chật phố, tràn ra bờ biển. Xe cộ không còn đường chạy, bỏ nằm dài dài bên các lề đường, bò vô trật tự trên bải cát. Trong cảnh hổn loạn này, kẻ bất lương gặp đúng thời cơ, nghênh ngang thể hiện bản chất của những tay anh chị giang hồ. Chỉ tội cho người hiền lương chơn chất, khép nép chịu bắt nạt thiệt thòi. Tội nhất là đàn bà con gái bơ vơ. Họ là những mục tiêu dễ bị phiền hà. Tôi dang ngồi trên bãi cát, dưới bóng cây dương, nhìn ra biển.
Một cô gái bước đến: “Chú ơi, làm ơn cho cháu theo về Sài Gòn.”
Có lẽ, cô tưởng tôi là người hùng giữa đám loạn quân?
Tôi nói: “Cái thân tôi còn lo chưa xong. Làm sao giúp cô được?”
Cô ngồi sà xuống bên tôi: “Nếu có ai hỏi, xin chú nói cháu là vợ của chú.”
“Nhưng cô đâu phải … “
“Cháu van chú, Chú cứ nói thế đi.”
Vì muốn có một bình phong che chở, cô đã quên đi bản tính e thẹn của người con gái bình thường. Hỏi ra mới biết cô bị thất lạc gia đình trong dòng người di tản. Tôi trở thành chiếc phao trong giờ phút nguy ngập của cô. Xế chiều hôm ấy, có hai chiếc GMC của chính quyền địa phương đến, bắc loa kêu gọi, trẻ em và phụ nữ hãy lên xe, để được đưa đến một nơi an toàn. Chẳng cần biết nới an toàn này là nơi nào, người ta cứ ùn ùn chen lấn leo lên, kể cả đàn ông thanh niên mạnh khoẻ. Loa lại nói, phái nam đừng lên xe. Xe chỉ dành cho trẻ em và phụ nữ. Nhưng không ai thèm nghe. Tất cả đều muốn giành ưu tiên trong đợt đầu. Tôi bảo cô gái: “Hảy cố gắng lên xe đi. Đừng theo tôi nữa. Tôi không đủ khả năng bảo vệ cho cô đâu.” Và cô đã biến mất trong đám người đang chen lấn. Bỗng có tiếng nổ phía sau thành xe, như tiếng của một loại mini lựu đạn. Đám người giạt ra. Nhiều người bị thương nhẹ. Tôi đi tìm lại cô gái, chẳng thấy đâu. Xe đã chạy. Bỏ một anh thanh niên nằm lăn lộn trên bãi cát. Anh là một trong những người phái nam chen lấn lên xe và là người duy nhất bị thương rất nặng. Tiếng nổ làm tanh banh phần hạ bộ và cặp đùi. Đất cát dính đầy vết thương. Người coi đứng vây thành một vong tròn. Trong tình thế hổn độn, người ta chỉ biết đứng nhìn mà không giúp được gì cho anh. Anh còn rất tỉnh, nhưng với vết thương này, chắc không sống nổi. Có người buột miệng: “Thôi, chết liền đi. Sống chi chọ khổ.”
Anh nghc được, và lên tiếng:
-Đụ mẹ, thằng nào nói đó?”
Người khác hỏi: “Anh là ai, tên gì?”
Anh nạt: “Đừng hỏi.”
Lại một người hỏi nữa: “Trái gì nổ vậy? Có phải trái nổ của anh không?”
Anh gắt lên: “Tao đã bảo đừng hỏi.”
Anh nói chuyện leo lẻo, rất tỉnh táo. Thế mà không đầy hai mươi phút sau, đã nằm bất động. Trên đường di tản, còn nhiều cái chết rùng rợn như thế. Ai xô dân tộc vào thảm hoạ tang thương, lịch sử lần hồi đã điểm mặt chỉ tên. Họ nhân danh đủ mọi thứ tốt đẹp trên đời để che khuất những mưu đồ tham vọng cá nhân. Bàn tay của kẻ đui ác vươn ra đầy móng vuốt, nhưng miệng luôn luôn nói điều nhân nghĩa. Nếu vì lý do thực hiện một lý tưởng, mà gây lầm than chết chóc cho bao người khác, thì lý tưởng nào cũng đáng bị nguyền rủa.
Những năm tai ương khổ nạn nhất của cuộc đời, có lần tôi bỏ trại cải tạo, cùng ba người bạn trốn đi. Đồng loại thì quá dữ. Áp bức chà đạp lên nhân phẩm con người không thương tiếc. Muốn hướng ra thiên nhiên, tìm đường đào thoát, thì núi rừng Việt Bắc trung trùng. Nhìn đâu cũng thấy núi non bốn bề vây hãm, Đường lên Trời, gần hay xa, không ai biết, cũng chẳng thay ai di. Đường xuống Địa Ngục rất gần, thoắt cái là tới ngay. Chi có đường trần gian là cay cực nhiêu khê. Bạn đồng hành của tôi nói thế. Dãy núi hình rẽ quạt Hoàng Liên Sơn, ngày nào học trong sách địa dư, cứ tưởng có thể đến đó chạy nhảy rong chơi, hết ngọn đồi này sang ngọn đồi khác. Đâu ngờ một cái nhăn mặt của địa cầu, mà xuất hiện những non cao, lũng sâu dường ấy. Đứng trước thiên nhiên mới thấy thân phận con người vô cùng nhỏ bé. Ra đi. Mười ngày sau, một người bạn bị chứng sốt vàng da cấp tính. Khi biết mình sắp bỏ cuộc, anh nói trong nước mắt: “Hãy lấy hết những vật dụng cần thiết của tôi và di đi. Đừng vì tôi mà chậm trễ nữa.”
Những vật dụng cần thiết của anh có gì đâu, ngoài bộ quần áo đang mặc trên người, trong túi vải đeo lưng đựng hai cái lon Guigoz, một lọ muối, một tấm nylon làm áo che mưa và mấy viên thuốc Aspirine nội hóa đổi chác với người địa phương bằng đôi vớ mùa đông. Dù hùm beo đang truy đuổi, nhưng không ai đành lòng bỏ lại người bạn đang cơn ngắc ngoải. Tôi sờ ban chân anh. Bàn chân nóng hổi. Tôi mân mê những ngón chân xướng xẩu của những năm dài thiếu ăn, mà vô cùng thương cảm. Sau cơn mê sảng, bỗng anh tỉnh táo lạ thường. Anh nói về những ngày tho ấu của anh. Ba mạ anh mất sớm. Gia đình chỉ còn hai chị em côi cút. Người chị dẫn em lìa xứ Huế, vào Sài Gòn, làm nghề thợ may. Chị hy sinh tuổi trẻ của mình, cho tương lai của em. Khi em nên người, thì chị đã thành gái lỡ thời. Chưa kịp đền ơn chị, em đã lâm vào khốn khó … Chúng tôi ngồi im, nghe anh nói, tôn trọng giờ phút thiêng liêng cùng tận một đời người. Anh bỏ mình nơi góc núi. Thời gian đứng lặng. Rừng sâu u uất. Không một làn gió trên cây. Không một tiếng chim kêu. Người chết âm thẩm, xa nơi cố thổ. Chúng tôi khuân những tảng đá, làm nấm mồ lộ thiên cho anh, dưới những cội cây già trăm năm rợp bóng. Sau này, không ai còn có thể tìm lại được mồ anh, giữa muôn trùng núi non hiểm trở.
Còn ba người, chúng tôi tiếp tục đi về phía trước. Tương lai mịt mù những cây rừng, dốc núi. Lòng nặng u hoài tiếc thương người nằm lại. Không biết số phận của mình rồi sẽ ra sao. Tiếng động của chim muôn trọng rừng già cũng làm tôi giật mình lo sợ. Như con thú hị săn đuổi, tôi sợ cả những nơi quang đãng chiếu rọi mặt trời, chỉ muốn thu mình trong lùm bụi âm u. Một buổi trưa. Một phụ nữ người Dao đang gùi bắp xuống núi, nhìn thấy chúng tôi băng qua đường mòn. Chị hoảng hốt bỏ chạy, chúng tôi cũng hoảng hốt. Dân miền Việt Bắc đã được lệnh, nếu ai phát hiện tù trốn trại và báo cho chính quyền địa phương, sẽ được thường mười ký thóc mỗi đầu người. Ai không báo hoặc chc giấu, sẽ mang tội đồng lõa. Có thể người ta không muốn gây nguy khốn cho người khác để được mười ký thóc, nhưng ai cũng sợ bị tội đồng lõa. Vô tình nhìn thấy nhau trong sự bất ngờ, tình thế bắt buộc phải triệt tiêu một bên để đổi lấy sự tồn tại cho mình. Tôi thấy bạn tôi thoáng một giây ngần ngừ, rồi quăng vội cái túi đoo lưng, xách con dao, loại dao phát quang của trại tù, chúng tôi tra thêm cái cán dài để chống thú dữ, nhảy ra chận đường xuống núi. Tôi cũng tay dao, phóng ngay đến người phụ nữ. Một ý nghĩ rất nhanh trong đầu, trời ơi, tôi sắp giết người. Điều ấy làm tim tôi thắt lại, đau đớn như có một vật gì đâm ngang. Và tôi đã vấp ngã trước khi đến gần người phụ nữ. Chị chạy qua. Dù sao thì chị cũng không thoát chết, nhưng không phải chính tôi ra tay hạ sát một mạng người. Bạn tôi đã chận phía đưới con đường rổi. Không còn ngõ nào khác, người phụ nữ đáng thương đành quỳ sụp dưới chân bạn tôi.
“Con lạy các ông. Con không làm gì các ông cả. Xin tha cho con …,”
Chị van và lạy như tế sao. Cái khăn trên dầu chị rớt xuống dất. Dáng người nhỏ thó của chị, bị khống chế hoàn toàn. Chị run rẩy nói thêm diều gì đó, nhưng chỉ ú ớ trong cổ họng, không nghe được. Bạn tôi dang chân, lấy thế dứng rất vững, hai tay cầm con dao giợ lên cao, trợn đôi mắt ác liệt như một đao phủ thủ sắp sửa hành hình. Chưa chi mà tôi đã mường tượng một cái đầu bị tét làm hai, óc và máu văng tung toé, lúc con dao chém xuống. Nhưng, tay dao của bạn khựng lại. Anh đứng như trời trồng và cuối cùng từ từ hạ xuống.
“Chạy đi””
Tội nghiệp người phụ nữ, chị không tin hai tiếng “chạy đi”. Chị sợ vãi trò đùa của con mèo vờn cho con chuột mệt nhoài trước khi ăn tươi nuốt sống. Anh phải lập lại lần nữa. chị mới dám ngước mặt nhìn anh, rồi nhỏm dậy, bỏ khăn, quăng gùi, chạy thục mạng. Sau đó, chính chúng tôi cũng phải vội vả băng rừng, tránh nơi vừa gặp mặt chị người Dao, càng xa càng tốt.
Chuyện gì phải đến, đã đến. Trưa hôm sau, chúng tôi biết mình bị bao vây. Hình như chính quyền địa phượng đã huy động tất ca dân thôn bản vùng cao, bỏ công ăn việc làm, để giăng bủa một khu vực mà người ta nghi ngờ chúng tôi lẩn khuất. Lúc đang trấn trên lưng chừng núi, tôi trách bạn: “Hôm qua, nếu anh dứt mạng người đàn bà ấy, thì hây giờ đâu đã lâm vào thế bí.”
Bạn nhìn tôi, cái nhìn soi thấu tim gan: “Anh tưởng tôi không biết rằng anh cố ý vấp ngã, để tạo điều kiện cho người đân bà chạy qua? Tại sao anh tránh né, dồn việc ác cho tôi?”
Thì ra chúng tôi đều là những kẻ yếu lòng nên chịu thiệt thân. Bị đoa đày khốn khổ trong trại “học tập cải tạo” bao năm rồi, vẫn chưa học được bài học nhẫn tâm của những người thầy ác nghiệt. Bạn để nghị nên rút lên đỉnh. Tôi bảo, vòng vây đang từ từ khép lại. Đỉnh núi là tụ điểm sau cùng. Tốt hơn, nên trốn ở lưng chừng núi, sự lục soát còn thưa, có cơ may lọt lưới. Ban đêm. Trời tối mịt. Xa xa có những chỗ đốt lửa tỏa ánh sáng bập bùng. Dân quân còn vây bủa. Tôi đưa ý kiến, lần mò trong bóng tối, thoát ra ngoài vòng vây. Bạn nói, không thể xuống núi ban dêm. Địa thế trắc trở, dễ bi vấp ngã nguy hiểm, lại gây ra tiếng động làm lộ mục tiêu. Trưa hôm sau. Tổi xuống triền hứng nước uống nơi khe đá. Mùa khô nước rỉ từng giọt, hứng đầy lon Guigoz cũng mất cả buổi. Trời đứng gió, oi nồng. Hình như có tiếng xào xạc cây lá và cành khô gãy răng rắc ở đâu đó của thú rừng di chuyển. Khi tôi xác định được những tiếng động bất thường, thì không còn trở lại gặp hai người bạn được nữa. Có tiếng chó sủa, tiếng reo hò của bọn săn người ở phía trên kia.
“Đây rồi! Đây rồồ!.. Lủi giỏi như chồn cũng không thoát.”
Bạn tỏi đã sa lưới. Tim tôi đập rộn ràng muốn nhảy tung ra khỏi lồng ngực. Tôi nép mình sau tảng đá lớn, nhìn lên những cây lá che khuất, không thấy được gì. Chỉ nghe tiếng người tở mở reo hò như đang vây bắt cọp. Một ý nghĩ thật nhanh trong đầu, dù còn lại một mình, tôi cũng quyết không bỏ cuộc hành trình.
Đội ngột, phía sau lưng tôi, có tiếng hô vang: “Đứng dậy! Gio tay lên!”
Tiếng hô làm tội giật mình ngó lại. Một họng súng đang chỉa về phía tôi. Còn hai người nữa, thủ hai cây lao đầu nhọn bịt sắt, trong tư thế sẳn sàng phóng lao đâm lút ngọn. Tới đường cùng rồi. Thế là hết. Tôi từ từ đứng dậy.
“Giơ tay lên!”
Tôi lắc đầu.
“Giơ tay lên!”
Tôi lại lắc đầu, không chịu giơ tay. Trong thâm tâm, tôi muốn nhận một viên đạn thật chính xác vào tim, chết tức khắc. Nếu tôi chạy cũng không khỏi, nhưng thằng xạ thủ tồi này, sẽ bắn trầy trật nhiều viên, gây đau đớn quằn quại nhiều hơn trước khi chết. Tôi đứng yên, làm một mục tiêu thật tốt. Hắn kéo cơ bẩm đẩy viên đạn lên nòng, nghiêng đầu đưa mất vào lỗ chiếu môn. Tiếng cơ bẩm khô dòn như chạm vào xương tôi rạn nứt. Tôi nghe một luồng băng lạnh từ bàn chân vụt rần lên tới đỉnh đầu nhanh như chớp. Toàn thân thì lạnh ngắt, rợn người nổi gai ốc. Mỗi cái gai ốc, tường chứng to bằng hạt gạo. Tóc tôi cơ hồ dựng đứng cả lên. Sự chờ chết khủng khiếp đến nỗi làm tôi cứng đơ như pho tượng thạch cao. Không ai có thể đoán được tâm trạng hãi hùng cùng tột của tôi lúc ấy. Nếu chỉ nhìn hình ảnh hiên ngang bên ngoài, người ta dễ cho rằng tôi là kẻ gan da phi thường. Bỗng một kè từ phía sau tên xạ thủ, đưa tay hất họng súng chỉa lên trời. Ra lệnh: “Trói hắn lại!”
Hai tên cầm lao xông lên, xô ngã và đè tôi xuống …
Trên đường áp giải đi về, chúng tôi bị trói tay sau lưng, cái túi đựng đồ máng trên cổ treo ngược về phía trước ngực. Qua những sơn khê và thôn bản của người thượng du, tôi thấy những đôi mắt tò mò từ trên nhà sàn nhìn xuống chúng tôi. Thỉnh thoảng, viên trung úy, người đã ra lệnh trói, nhìn tôi mìm cười. Tôi không hiểu ý nghĩa của nụ cười ấy, có ngụ ý gì. Anh ta nể phục thái độ có vẽ cứng cỏi của tôi khi đứng trước tầm đạn? Hay cười theo kiểu răn đe, mày ngon hả? Rồi đây mày sẽ biết tay tao! Buổi chiều. Dừng lại nghĩ qua đêm, chúng tôi bị còng tay ở văn phòng xã địa phương. Những kẻ áp giải lánh mặt, khi có khoảng mười người dân trong vùng kéo đến. Họ đánh đập và sỉ vả chúng tôi đủ điều, bằng những ngôn từ đã thuộc lòng từ những bài tuyên truyền về sự xấu xa và tội ác của Mỹ Ngụy. Chúng tôi im lặng, gồng mình chịu đựng. Lúc chúng tôi ngất ngư vì trận mưa đòn, viên trung uý xuất hiện.
“Đồng bào không được hành hung người khác. Làm thế là trái chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng và nhà nước.”
Những người dân giạt ra, lãng đi nơi khác. Anh ta nói với chúng tôi: “Nhân dân đánh các anh, vì căm thủ. Các anh phải la lên, để chúng tôi kịp thời bảo vệ các anh.”
Ai cũng biết, chính anh ta đã kêu gọi mọi người kéo tới đánh chúng tôi. Trong một xã hội, mà tư tưởng và hành động của người dân đều bị kiểm soát gắt gao, nếu không có lệnh, không ai dám hành hung chúng tôi, nhất là khi chúng tôi đang nằm trong tay của cơ quan quyền lực. Chiều hôm sau. Ở một địa phương khác, chúng tôi lại bị bề hội đồng và viên trung úy cũng nói những lời y như thế! Hai trận đòn bầm dập làm chúng tôi kiệt sức. Chiều ngày thứ ba, phải dừng lại nghỉ sớm hơn. Chúng tôi bị nhốt trong một nhà kho của Hợp Túc Xã, Tôi chuẩn bị tình thần, chờ trận đồn như hai hôm trước. Nhưng, điều ấy không xảy ra. Một vệ binh bưng vào một mâm cơm, gồm ba tô cơm trắng và ba tô thịt heo luộc, Anh ta mở còng hai cánh tay và chuyển xuống còng chân chúng tôi.
“Hãy ăn đi.” Nói xong, anh ta bỏ ra ngoài. Từ khi ra Bắc cải tạo, chỉ có ngày mồng một Tết là được ăn cơm không độn ngô sắn, nhưng cũng chỉ le ngoe vài miểng thịt trâu, thịt hên là cùng. Bữa cơm chiều nay thịnh soạn khác thường, lại được đặt trong cái mâm cũng trịnh trọng tử tế khác thường. Tôi nghĩ ngay đến bữa cơm ân huệ cuối cùng cho tử tội. Bao năm nhục nhằn đói khát, nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho một con người bị giới hạn tối đa. Cơm trắng thịt heo, chỉ còn là một ước mợ trong những đêm nằm trằn trọc với cái dạ dày luôn luôn réo gọi miếng ăn. Thể mà giờ đây, tổi không màng đến nữa. Dù chỉ ăn một miếng thôi, cũng chưa chắc nuốt trôi qua cổ. Hai người bạn của tôi cũng ngồi im lặng buồn thiu. Không ai nói với ai lời nào, tất cả đều cùng chưng một ý nghĩ. Nắng chiều xuyên qua vách liếp nhà kho, đổ những vệt vàng úa xuống nền. Bên ngoài có tiếng khua lách của khoen dây súng và những bước chân rời rạc của vệ binh canh giữ. Tôi cộ cảm tưởng, vì tôi mà cả thế gian cũng di vào một chiều tàn phai hủy diệt. Nghĩ đến sáng mai, người ta sẽ đem tôi ra bắn nơi một hãi đất hoang nào đó. Thân xác vùi chôn. Cỏ dại hắt hiu mọc đầy lên nấm mồ vô chủ. Tôi chỉ buồn mà không sợ hãi như mấy hôm trước, đứng ngay tầm mũi súng. Và lạ lùng hết sức, từ ngày đi cải lạo, tôi căm ghét người Cộng Sản vô cùng, nhưng sao chiều nay, lòng tôi lại sạch trơn niềm thù hận. Tôi coi họ như những con người không hề ân oán. Chẳng qua tất cả đều là những sinh vật lao xao trong cõi phù sinh của vô cùng thiên địa mà thôi. Nhiều năm sau, suy gẫm lại lúc ấy, toi hiểu đuợc tấm lòng từ bi của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ khi sắp bị hành hình. Ngài chỉ cầu xin cho những kè giết Ngài được tha thứ tội lỗi. Ôi, những bậc Bồ Tát hóa hiện, vì chúng sinh mà lao vào vòng sinh tử, thì khi lìa bỏ thế gian cũng nhẹ tênh, không bợn chút oan cừu. Trời sắp tối. Viên trung ủy hước vào nhà kho, nhìn thấy mâm cơm còn nguyên.
Anh ta ngạc nhiên: “Các anh còn chờ gì nữa mà không ān?”
Bạn tôi hằn học: “Không cần phải bày chuyện ăn uống. Có bắn thì đem bắn ngay di!”
“Không đâu, Các anh yên tâm ăn đi. Đồng chí nào nói chuyện bắn giết với các anh, đồng chi ấy sẽ bị kiểm điểm.”
Anh ta bước đến gần hơn, quan sát ba cái xác bèo nhèo rũ rượi của chúng tôi, ra vẽ xót thương: “Các anh có đau nhiều lắm không?”
“Cút đi!” Bạn tôi hét lớn.
Viên trung úy lắc đầu: “Tôi hiểu các anh, nhưng tôi khuyên đừng làm thế. Chỉ thiệt thân thôi.”
Anh ta bước ra ngoài, khép nhẹ cánh cửa. Chẳng ai còn lòng dạ nào nghĩ tới mâm cơm. Đến tối, vệ binh vào dọn đẹp tất cả và còng tay chúng tôi lại như cũ. Suốt đêm, toi không hề ngủ được. Lòng rầu rầu nghĩ về những người thân nơi quê nhà, đứng trông ngóng một người đi không bao giờ trở lại. Nước mắt ứa ra. Thế mà từ lâu, tôi tưởng mùa hạn cơ cực của cuộc đời, đã làm cạn khô mạch nguồn ẩn tàng sâu thẩm trong tôi.
Bình minh lên. Giờ báo tử đến rồi. Tôi nghe nhiều người lào xào bên ngoài nhà kho. Cửa mở. Viên trung úy bước vào, dáng điệu bình thường. Nhưng tôi thấy như anh ta đang đội cái lốt của từ thần. Tôi không sợ, mà nghe toàn thân cảm giác đau nhức. Không thể nào toi hiểu đưoc tâm trạng kỳ quặc của tôi lúc ấy. Có lẽ, tôi quá thương thân xác mình và tiếc nuối sự sống.
Viên trung úy đứng nhìn chúng tôi một lúc lâu: “Thế này thì còn đi đứng gì được. Thấy các anh đuối quá, cho các anh bồi dưỡng để lấy sức đi đường. Các anh không chịu ăn. Thế có phiền không chứ? Lại phải huy động xe trâu của nhân dân để đưa các anh về.”
Câu nói làm chúng tôi nhìn nhau sửng sốt. Khi biết mình đã hiểu lầm bữa cơm bồi dưỡng, thành bữa cơm ân huệ cuối cùng cho tử tội, bao nhiêu nỗi buồn rầu trong tôi vụt tan biến, Và cơ thể đang ê ẩm rã rời, bỗng khỏe lại như vừa được uống một liều thuốc hồi sinh. Qua thái độ của viên trung úy, tôi nghiệm ra rằng, người Cộng Sản dù ác độc gian trá, nhưng họ cũng là con người, thì một lúc hiếm hoi nào đó, họ cũng biết nói thật và biết động lòng trắc ẩn.
Xc trâu chở chúng tôi về đoàn 779. Thân xác mềm như trái chuối chín. Và dĩ nhiên, cái giá phải trả cho một lần khước từ cải tạo, là những ngày cùng cực tối đen. Thê thảm như một thiên tai phủ xuống đời người.
Nếu ở Việt Nam có cái thú đón Xuân thì ở Virginia người ta chờ mùa Thu. Vì mùa Thu đẹp nhưng cũng vì không chịu nổi cái nóng khủng khiếp của mùa Hè, nhất là vào khoảng tháng Bảy, tháng Tám, nóng có khi trên trăm độ. Bầu trời trong xanh không một gợn mây, những cơn gió hừng hực tạt vào cửa xe như từ một lò lửa. Ai cũng bực bội, bức rức, như quẩn trí nhưng không biết làm cách nào, đành nhìn trời cam chịu. Đột nhiên, mấy hôm sau, buổi sáng đi làm mà không thấy mặt trời. Thì ra chân trời đã được che phủ bởi một lớp mây xám và buổi tối, không khí bỗng dịu hẳn lại, từng cơn gió mát nhẹ thổi về.
Năm nay mùa Thu làm xôn xao bao người bằng những báo hiệu rõ rệt và đúng hẹn. Bà mẹ đã soạn những chiếc áo ấm, những đôi vớ dày cho chồng, cho con. Người cha, buổi sáng đã vang vang dặn dò con cái “Nhớ thay mấy cái gạt nước, xem lại cái máy sưởi trong xe. Coi chừng, trời sắp mưa lạnh rồi đấy!” Bọn trẻ ít khi để ý đến những điều đó vì chúng không biết lo xa, nhưng cũng bảo nhau “Mùa Thu sắp đến rồi!” Chúng nhớ lại những cơn mưa năm ngoái với thời tiết chợt nóng, chợt lạnh đã làm hầu như tất cả cây cối đổi màu lá.
Mùa Thu đến bằng vài cánh lá màu đỏ nhạt, lấp ló trong tàng cây trong vườn, những cây nhỏ ở tim đường cũng bắt đầu có màu hồng. Rồi mấy hôm sau, chúng bỗng đồng loạt đổi màu. Khắp nơi rực rỡ, lộng lẫy, như cô bé có áo mới, vừa hãnh diện vừa làm như vô tình đứng bên đường cho mọi người trầm trồ, chiêm ngưỡng. Không khí rộn ràng hẳn lên. Ánh nắng như nhảy múa với gió, với lá cây, với tiếng chim. Vạn vật đang mở hội mùa Thu. Màu lá khác nhau tùy loại cây. Có hai màu chính, màu vàng và màu đỏ. Có những cây có một lúc ba màu, đứng xa mới nhìn tưởng chúng là trái trĩu cành với những trái còn xanh, những trái vừa chín màu vàng và trái chín đỏ. Có loại cây lá mỏng, vàng ửng, như hoa mai nở rộ, buổi sáng có nắng, đứng dưới tàng lá nhìn lên, trông giống những miếng vàng dát mỏng. Đẹp nhất là những dây leo trong rừng, lá đỏ rực như hoa trạng nguyên, nổi bật trên nền xám của đất, của thân cây. Tuy nhiên cũng có loại cây mà chẳng mùa nào khiến chúng thay đổi cả. Mùa Thu lá vẫn xanh, mùa Đông lá vẫn xanh. Giữa cảnh thê lương, lạnh lẽo của bầu trời xám, của tuyết trắng mênh mông, màu lá xanh của chúng như biểu hiệu của sự sống. Đó là những cây tùng, cây thông, cây holly và những cây trúc của người Á Đông trồng trong vườn. Đối với ông Điền, tuy sống ở Virginia khá lâu nhưng mùa Thu nào ông cũng như một khách lạ, ngỡ ngàng trước cảnh vật của chuyện cổ tích. Những ngôi nhà tầm thường trong góc rừng trở nên đẹp đẽ, quyến rũ, những công viên, lối mòn trông như bức tranh. Mỗi chiều đi làm về, ông thường ghé vào một công viên nào đó, tìm một nơi thật vắng vẻ, ngồi ngắm cảnh chiều tà, lắng nghe tiếng chim gọi nhau trong tàng lá đủ màu. Ông ngồi lặng hàng giờ, thần trí chìm đắm trong một khoái lạc thanh thoát, nhẹ nhàng. Ông cảm nhận được thứ hạnh phúc được thoát ra khỏi những hệ lụy của cuộc đời, thấy mình không còn buồn, không còn vui, không nhớ tiếc hay ước vọng điều gì. Tâm hồn như hòa nhập vào thiên nhiên, như tan loãng trong sự tĩnh mịch, mát mẻ của ánh hoàng hôn.
Ông Điền đến phi trường từ sáng sớm. Ông sợ trễ. Biết đâu kẹt xe, đến phi trường phải chạy lòng vòng tìm chỗ đậu … Tuy biết mình lẩm cẩm nhưng đến sớm vẫn yên tâm hơn. Ông đi đón một người bạn gái, người bạn cách nay gần ba mươi năm chưa gặp lại. Ông không tưởng tượng được cô ta bây giờ ra sao? Và ngay chính ông, bao nhiêu năm sống cô độc, ông ít khi soi gương để tự thẩm định mình, nhưng mái tóc bạc và những đường nhăn trên cánh tay gợi cho ông sự chán nản, mệt mỏi khi phải tiếp xúc với phái nữ. Ông không muốn làm phiền ai hay bị ai làm phiền. Thế nên khi phải đi đón người bạn gái, ông cứ áy náy, thấp thỏm rồi tự bực tức chính mình. Nguyên nhân, cách đây không lâu, ông gặp một người bạn rất thân từ thời còn trai trẻ. Trong lúc chuyện trò, người bạn chợt bảo:
– Tháng trước, tôi đi Florida có gặp Niệm, cô ấy mừng lắm, cứ hỏi thăm bạn, nhưng tôi không có địa chỉ của bạn. Nhân tiện bạn cho tôi địa chỉ, số điện thoại, tuần sau tôi qua Florida, sẽ cho cô ta. Theo lời bạn, ông ngoáy cho mấy chữ rồi quên bẳng đi. Tuần rồi, buổi tối, có điện thoại gọi đến ông:
– Anh Điền đấy phải không? Biết ai đang gọi anh không?
– Điền đang nghe thì đúng rồi, nhưng người gọi thì chịu. Trước giờ chẳng có cô nào gọi nên không đoán ra!
– Niệm đây!
– Nhớ rồi, có phải bạn Kỳ cho số điện thoại, bây giờ gọi, phải không?
– Em gọi anh chẳng phải tử tế gì với anh đâu. Nghe đây thì biết. Em sẽ đến phi trường National Washington
Airport lúc mười giờ sáng Chủ Nhật tới. Nhờ anh đi đón được không? Em đi dự đám cưới con của một đứa bạn. Em không muốn làm phiền người khác
– Hân hạnh được người đẹp làm phiền, cũng không phải làm phiền nữa mà là ban phước lành cho tôi.
– Giọng nịnh đầm vẫn còn!
– Người đẹp không nịnh, nịnh ai bây giờ?!
– Cám ơn anh, nhớ nghe!
Ông Điền ghi ngày giờ vào một tờ giấy. Một chuỗi dài những kỷ niệm đẹp nhưng tan vỡ giữa ông và cô bạn, ông đã cố quên, nay như một vết thương tái phát, khiến ông vừa cay đắng, buồn phiền vừa háo hức, nhớ nhung đến mềm lòng “Lạ thực, sao mình lại nhớ rõ ràng, tỉ mỉ đến như vậy?!”
Rồi ông lầu bầu “Chuyện mới không nhớ, chuyện cũ không quên!” Đến ngày hẹn, ông dậy sớm, tắm rửa, chải chuốt. Ông lựa một bộ đồ đẹp nhất, một chiếc cà vạt hơi sặc sỡ một chút. Ông soi gương, nghiêng ngó. Khi đứng gần gương, ông thấy rõ những đường nhăn ở khóe mắt, ở gò má, ở cổ … Ông ngạc nhiên sao mình chóng già thế?! Mặc cảm đó khiến ông bối rối, nản chí, nhưng ông vẫn phải lên đường. Ông Điền đậu xe và đi vào phòng chờ đợi của phi trường. Ông tìm bảng báo giờ đi, đến các chuyến bay thì thấy hãy còn sớm. Ông mua một tờ báo và ngồi đọc. Thỉnh thoảng nghe tiếng xôn xao ở cửa ra của những hành khách xuống phi cơ, ông lại đứng lên, tiến đến chỗ đám đông, nhưng đứng riêng một nơi, hy vọng cô bạn sẽ nhận ra ông. Ông thầm nghĩ “Có lẽ mình thay đổi nhiều lắm. Mình già quá! Nhưng Niệm cũng vậy. Không biết bây giờ cô ta ra sao?” Hình ảnh cô bạn, thời nào, dáng thon nhỏ, tóc bờ vai, mắt sáng vẻ tinh nghịch … chắc chắn không còn nữa. Ông thở dài ngồi xuống, lại giở tờ báo ra. Rồi ông chìm đắm trong tờ báo, quên cả thời gian, cho đến khi nghe gọi:
– Anh Điền!
Ông giật mình ngẩng lên, thấy cô Niệm đang đứng trước mặt, mỉm cười:
– Anh mê tờ báo, quên cả em!
Ông vội đứng lên, nhìn người bạn. Ông ngạc nhiên thấy cô vẫn không thay đổi mấy. Đôi mắt vẫn long lanh niềm vui, gương mặt vẫn sáng rỡ tuy có hơi tròn vì cô mập hơn trước. Cô choàng khăn màu đỏ, ánh sáng phản chiếu khiến má cô hồng. Ông lúng túng:
– Xin lỗi Niệm. Tôi đến trước cả tiếng đồng hồ. Và ông vứt tờ báo vào sọt rác “Từ giờ tôi sẽ mê Niệm hơn
mê tờ báo”. Cô lại cười:
– Trời đất, bao nhiêu năm mà anh không thay đổi chút nào! Ngoài em ra, anh có nói với ai như thế không?
– Trước đây tôi cũng có nói như thế với một cô. Nhưng người ta đã quên rồi!
Cô nói nhỏ: Em xin lỗi anh! Nhưng như thế là anh có phân biệt đối xử, phải không?
Sự thân mật của cô Niệm khiến ông yên tâm và tự tin, ông đổi cách xưng hô:
– Ngay cả anh còn thay đổi huống gì thời gian!
– Em thì vẫn thấy anh, vẫn nghĩ về anh giống như trước đây.
Những lời của cô làm ông cảm động. Ông xách va ly cho cô ra xe.
– Bây giờ mình ra chợ Eden kiếm chút gì điểm tâm rồi hãy tính sau. Ông đưa xe ra xa lộ. Bỗng cô kêu lên:
– Ôi cây cối sao đẹp quá vậy nè! Em thấy trong TV nhưng cứ tưởng người ta làm cảnh giả. Anh chạy từ từ cho em ngắm cảnh với!
– Ngày mai, ngày mốt anh sẽ đưa em đến nhiều nơi, như tranh vẽ, như trong những phim chuyện cổ tích tây phương mình thường coi lúc nhỏ vậy.
Khi vào chợ Eden cô bảo:
– Ở đây tuy không đông đúc hơn Cali nhưng có vẻ ấm cúng.
– Ông đưa cô vào một tiệm phở. Trong lúc chờ đợi, ông nhìn cô và hỏi:
– Có gì lạ, kể anh nghe. Lâu quá mới gặp nhau.
Cô cười:
– Anh kể trước, em nóng lòng muốn biết về anh. Em lúc nào cũng theo dõi anh, nhưng sau bảy lăm, em không được tin tức gì về anh cả. Anh được mấy cháu? Chị có mạnh khỏe không?
– Anh không có bà xã, được một cháu lớn lắm rồi.
– Anh nói lạ! Không vợ mà có con? Hay là con nuôi? Năm nay nó được bao nhiêu tuổi rồi?
– Gần sáu mươi!
Cô vỡ lẽ: Anh lúc nào cũng đùa được. Rồi cô hỏi nhỏ. Anh cứ sống độc thân hoài sao?
Ông định nói một câu gì đó, nhưng lại thôi và hỏi:
– Niệm đi dự đám cưới ngày nào, nhà hàng nào, tối nay đến trọ nhà ai?
Cô lục trong xách tay ra một phong bì:
– Đây là thiệp cưới, em mù tịt, chưa đến đây lần nào. Chỉ biết mấy đứa bạn, có lẽ lúc ở Đa Lạt anh biết tụi nó. Có cả địa chỉ nơi em đến trọ trong đó. Anh thấy chưa?
Ông mở thiệp hồng ra:
– Nhà hàng dự tiệc cưới thì gần đây, anh biết, nhưng nhà cô bạn em đến trọ ở dưới Richmond, không có cách gì em đi, về cho kịp, cỡ hai giờ lái xe.
– Chẳng ai nói với em điều đó, con bạn mời dự đám cưới năn nỉ em đến nhưng em đã từ chối vì sợ phiền, còn con ở Richmond có lẽ nói đường xa lại sợ mình nghĩ rằng nó không muốn chứa mình nên chỉ mừng rỡ chứ không nói gì. Mà sao anh không mời em về nhà anh?
– Anh cũng có ý nghĩ đó, nhưng chắc em sẽ dội ngược ngay. Phòng trọ của anh chỉ khác cái thùng rác là có anh nằm trong đó mà thôi. Hay là em ở khách sạn.
– Đâu còn cách nào khác. Nhưng em không ở một mình đâu nghe! Em chỉ sợ …
Ông ngắt lời:
– Anh thề sẽ giữ gìn cho em.
Giọng cô buồn buồn: Em còn gì mà anh phải giữ gìn!
Ông nhớ có một lần, đã lâu lắm ông nói với cô như thế để trấn an cô khi ông rủ cô đi trại hè với các bạn trên Bảo Lộc, Lâm Đồng …
– Ăn uống xong anh đưa em đến một khách sạn để em nghỉ ngơi một lát, rồi chúng ta đi lòng vòng ngắm cảnh mùa Thu ở Virginia.
– Em tắm xong sẽ đi chơi với anh ngay. Em không thấy mệt mỏi chút nào cả.
Ông đưa cô đến khách sạn và ngồi chờ cô trang điểm. Khi cô đứng lên, ông khen:
– Trông em vẫn như xưa, lại có vẻ phúc hậu.
– Tại vì em mập ra, nhưng thực sự thì em chẳng có phúc mà cũng không có hậu chút nào.
Ông yên lặng nhưng đoán chừng cuộc sống của cô không có gì vui. Có lẽ vì thế mà khi ông hỏi cô, cô hỏi ngược lại ông, cô không muốn kể chuyện buồn của cô chăng? Nhưng ông đã nhất quyết, dù sao đi nữa, ông cũng phải hỏi, nếu cô hiện đang sống với chồng thì tối nay ông sẽ để cô ngủ một mình. Từ thời trai trẻ, ông tối kỵ chuyện dính líu đến đàn bà có chồng, ngay cả đến các cô đã có bạn trai, ông cũng tránh.
Suốt buổi chiều, ông đưa cô đến các công viên, hồ nước, những con đường thật đẹp của vùng Falls Church, Springfield, Greatfalls … lân la vào các tiệm sách, quán ăn, tiệm cà phê … Lúc đưa cô về để sửa soạn, trang điểm đi dự tiệc cưới, ông hỏi thẳng:
– Bây giờ nói rõ anh nghe, em sống ra sao, chồng con thế nào?
– Em đang sống với chồng, với con. Các con em đã lớn, học hành xong, ra đời. Cũng không đến nổi tệ.
Nhưng với chồng thì em đã ly dị.
– Em nói anh không hiểu! Đang sống với chồng mà lại ly dị chồng?
– Để em dài dòng một chút. Em ly dị chồng từ lâu lắm. Lúc vừa qua Mỹ, em cố gắng làm lụng để ảnh có thể học bổ túc y khoa. Sau khi tốt nghiệp, ảnh mở phòng mạch, coi bộ khấm khá thì em quyết định ly dị,
– Có lẽ chồng em làm điều gì em không vừa lòng. Sao em không nói thẳng những bất bình của mình, chồng em, là người có học, ắt phải sửa chữa …
Cô ngắt lời ông:
– Anh biết, trong vợ chồng, điều tối kỵ là lăng nhăng. Lúc ở Việt Nam ảnh đã thế, qua đây vẫn không bỏ, mà nói ra thì ảnh mắng em. Có đời thuở nào, bác sĩ khám bệnh cả tiếng đồng hồ? Mấy con bồ, hễ đến thì đóng cửa suốt buổi bắt khách ngồi chờ. Qua xứ Mỹ, bồ Việt Nam, bồ Mỹ … Tối nào cũng dẫn hết con nầy đến con kia đi ăn nhà hàng, nhảy đầm … Bởi vậy khi em đòi ly dị ảnh hỏi móc họng “Sao trễ quá vậy?” Em bắt con mà không đòi trợ cấp, ảnh mừng quá. Sống tự do lại làm nhiều tiền … Bao nhiêu năm, đố mà ảnh hỏi thăm một tiếng. Con cái ra sao cũng không cần biết, chỉ biết chơi bời, em út …
Đang nói giọng gay gắt, cô bỗng ngừng lại: Xin lỗi anh, hễ nhớ lại là em giận quá!
– Em cứ nói hết, những bực tức sẽ đi khỏi tâm trí, em sẽ vui vẻ.
Cô chép miệng: “Thật em ngu quá!” Rồi cô yên lặng. Ông biết cô nghĩ đến những sai lầm nào đó trong đời, có lẽ là sai lầm trong hôn nhân. Ông tưởng mình sẽ vui sướng, thỏa mãn tự ái khi biết cô đã lấy chồng tiền tài, danh vọng hơn ông mà không hạnh phúc, nhưng ngược lại, ông thấy thương cảm cho cô, muốn an ủi, vỗ về cô:
– Mỗi người một số phận. Em còn có niềm vui là nuôi dưỡng các con nên người. Cũng đáng hãnh diện lắm chứ! Bây giờ lại được thảnh thơi …
– Thảnh thơi sao được anh! Cái nợ oan gia biết bao giờ mới trả xong?
– Ủa! Còn nợ nần gì nữa?
– Thì ông chồng em chớ ai! Đang vui thú với em út, đùng một cái, ảnh bị liệt, bán thân bất toại, mấy cô nhân tình chạy làng, bỏ ảnh nằm một đống. Các con em năn nỉ quá, bèn đem về săn sóc. Coi như kiếp trước mắc nợ ảnh, kiếp này phải trả. Nhưng em vẫn tử tế chứ không có thái độ gì khác. Bây giờ ảnh thất thế, đâu có xứng để mình nói gì. Theo như đã hẹn, ông đưa cô đến dự tiệc cưới rồi quay về, đúng mười một giờ, ông đến nhà hàng đón cô. Khi về khách sạn, ông ra đứng ngoài ban công. Một lát cô ra đứng bên ông. Cô mặc bộ đồ lụa trắng, trông thướt tha, dịu dàng. Ông quay nhìn, tưởng cô như vẫn còn là cô gái ngày xưa, một buổi tối nào ra cửa đón ông đến thăm. Cả hai yên lặng. Trời đầy sương mù. Những ngọn đèn trong khuôn viên khách sạn nhạt nhòa như được dìm trong một bình sữa trắng đục. Cô thì thầm, giọng xa vắng:
– Ở đây cũng sương mù, giống Đa Lạt của mình. Em nhớ, buổi tối, đang học bài, hễ nghe anh và các bạn gọi là bỏ đấy, ra nhập bọn đi uống cà phê. Thật thú vị! Cứ ước, ngày nào về lại quê cũ, lại cùng anh, cùng bạn bè lang thang trên các đường phố Đa Lạt. Em nhớ mãi từng con dốc, từng vĩa hè, từng ánh đèn vàng vọt, và tiếng nói cười của tụi mình vang vọng trên những con đường ngoằn ngoèo, trong đêm vắng. Đường Hoàng Diệu, đường Phan Đình Phùng, nơi nhà em … và cà phê Tùng nữa.
Ông định nói: “Sương mù ở Bảo Lộc đẹp hơn” nhưng giữ lại kịp, vì ở đó, đã một lần ông ngỏ lời yêu cô, ông không muốn gợi lại giây phút ông ôm hôn cô giữa biển sương mù lành lạnh của Bảo Lộc. Ánh đèn đường mơ hồ, và tiếng hát từ một quán nhạc bên đường vọng ra những lời tình tự … Ông bảo:
– Sáng mai anh sẽ đưa em ra xa lộ, lên một chỗ thật cao để em được dịp nhìn bao quát phong cảnh mùa Thu ở đây. Nó giống như một bức tranh sơn dầu vĩ đại mà chỉ có tạo hóa mới vẽ được. Nhưng mùa Xuân mới là chuyện thần kỳ. Khi mùa Đông vừa đi qua, trời chỉ vừa ấm lên một chút, là tất cả cây cối, đang trơ cành, bỗng nẩy mầm xanh. Chỉ trong một tuần thôi, khắp nơi đều vươn lên sức sống. Anh thích lên đồi cao ngắm cảnh mùa Xuân trở về, nhất là buổi sáng, giống hệt những buổi sáng tụi mình nghỉ hè ở Lâm Đồng, ngồi trên đồn điền trà nhìn xuống. Cả một vùng trà xanh mướt, long lanh sương sớm, như kim cương dưới ánh ban mai. Mùi đất, mùi cỏ mục bốc lên … Thật khó quên!
Cô yên lặng, rùng mình, hơi tựa vào ông.
– Em lạnh rồi phải không? Vào phòng, để anh đóng cửa.
Ông gài cửa, tắt bớt đèn. Cô lên giường, nằm xuống, kéo mền đắp lên người, nhìn ông mỉm cười. Ông yên lặng nằm bên cạnh. Cô hơi nhỏm đầu lên, ông hiểu ý, lót cánh tay mình dưới cổ cô, thành ra đầu cô tựa hẳn trên vai ông. Ông xoa xoa lưng cô: “Em ngủ đi! Cả ngày nay em mệt lắm rồi” Ông nhớ có lần cô bảo ông “Lúc nhỏ, mẹ em muốn dỗ em ngủ, chỉ cần xoa nhẹ ở lưng là em ngủ ngay” Khi yêu cô, ông chỉ ước được nằm bên cô, xoa lưng cho cô ngủ như thế nầy. Nhưng khi đặt bàn tay lên lưng cô, làn da mềm mại khiến ông rung động cả tâm hồn. Ông đã từng trải chuyện đời, người đàn bà không có gì lạ, riêng cô, đối với ông, vẫn còn nguyên như một khu rừng bí ẩn. Một chuỗi dài những hồi tưởng, với những lời hẹn hò về một ngày thiêng liêng bên nhau, khiến ông ngậm ngùi. Nghe hơi thở cô đều đặn, ông biết cô đã chìm vào giấc ngủ, nhưng ông vẫn thao thức, nhìn lên trần nhà. Tất cả đã đi qua rồi. Tuổi trẻ sung sức, tự tin không còn nữa. Tình yêu cũng không còn! Người đàn bà đang nằm trong tay ông, thế giớihuyền diệu, thân yêu mà ông đã đặt vào đó những dự định bình thường về một mái ấm gia đình có vợ, có con cũng không đạt được! Nhưng ông chợt nhận ra là dù có đạt được những dự định đó, chưa chắc đã an vui hơn khi gạt bỏ được chúng ra khỏi tâm trí như ông đang cố làm. Cô bỗng cựa mình, nghiêng người choàng tay qua ôm ông. Cô không mặc áo lót và ngực cô vẫn còn căng, tựa vào người ông. Ông tự hỏi, có phải ước mơ của ông với cô là như thế nầy chăng? Và còn gì nữa?… Ông ngạc nhiên thấy tất cả đều yên tĩnh. Căn phòng yên tĩnh, lòng ông yên tĩnh và cả đến thân xác trần tục của ông cũng yên tĩnh. Ông mỉm cười, thấy mình như đã ngộ được ý nghĩa cuộc đời. Có phải hạnh phúc là đã vượt lên trên những ham muốn tầm thường, giữ cho tâm hồn không vướng bận bất cứ những chuyện vui buồn nào? Bao lâu nay ông cố sống tự nhiên, bình thản như cỏ cây .. Rồi ông ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Khi ông thức dậy đã thấy cô ngồi chải tóc trước gương. Ánh nắng mai từ cửa kính làm nổi bật hình ảnh cô trong phòng. Ông yên lặng ngắm cô. Giả tưởng như trước đây, ông đã cưới được cô và hiện hai người đang sống như thế nầy, thì cảm tưởng của ông sẽ ra sao? Ông thở dài lắc đầu. Ông chưa hề trải qua cảnh vợ chồng bao giờ! Cô quay lại nhìn ông và cười:
– Chờ đánh đòn mới chịu dậy hay sao đây?
Ông cũng cười: Bữa nay nghỉ hè rồi, đâu còn đi học mà phải dậy sớm.
– Không đi học thì đi chơi lang thang. Hôm nay định đi đâu?… Hay là chúng mình ở nhà quách!
– Để anh nhớ xem, còn nhiều cảnh đẹp lắm, nhất là mấy hồ nước …
Cô bỗng đứng lên, nhìn ông một lúc rồi đến bên giường, ngồi cạnh ông, cô cúi xuống, thì thầm:
– Em nói điều nầy, anh đừng nghĩ khác về em. Từ ngày lấy chồng đến nay, em chưa nghĩ rằng em thích, em cũng biết, giờ đây, em chẳng còn gì, nhưng nếu anh thích, em cho anh. Mai em đi rồi!
Nói xong, cô nằm xuống, kéo mền đắp cho cả hai. Ông hơi ngỡ ngàng rồi chợt hiểu, ông biết cô nói thật, tuổi của ông và cô, không lạ gì chuyện chăn gối, nhưng cô tin rằng ông vẫn còn ước ao với cô. Ông ôm cô và hôn lên trán:
– Cám ơn em. Em thật tử tế, lúc nào cũng muốn làm cho anh vui lòng. Quả thật, anh luôn luôn mơ tưởng điều đó với em, không phải vì ham muốn mà vì anh yêu em. Nhưng nếu được em rồi thì khi nhớ em, anh sẽ không còn gì để ước ao nữa.
Rồi ông cười: Em có nhớ, lúc còn bé, có cây kẹo, đâu dám ăn, càng thèm càng phải để dành.
Cô ứa nước mắt, âu yếm vuốt mái tóc bạc của ông:
“Anh thật tội nghiệp” …
“Anh thân yêu,
“Về đến nhà lúc trưa, tối nay em viết thư cho anh đây. Cám ơn anh về những ngày thú vị ở Virginia. Cảnhđẹp, đi chơi thật vui. Nhất định mùa Thu sang năm em sẽ qua thăm anh, thăm Virginia. Em sẽ được anh đưa đi lang thang trong rừng Thu, ra quán cà phê ngồi chuyện trò, la cà trong các tiệm sách, co ro trong cái lạnh nhẹ nhàng, gợi cho anh và em biết bao kỷ niệm đẹp đẽ của thời niên thiếu ở Đà Lạt, với nhau, với bạn bè … Anh nhớ năm tới chờ em. Em sẽ gọi điện thoại, hoặc biết đâu, một buổi chiều anh đang mơ màng bên ly cà phê ở Eden, em sẽ đến, ngồi bên cạnh và suýt soa “Anh Điền, cho em uống cà phê với, lạnh quá!
Thân mến, Niệm”
Ông Điền không ngạc nhiên khi không thấy địa chỉ hay số điện thoại của cô. Lúc tiễn cô, ông không hỏi, ông không muốn làm bận tâm cô. Năm nay ông Điền đón chào mùa Thu với nhiều háo hức chờ bạn. Dù tin tưởng mong manh, nhưng khi thấy lá đổi màu, ông cũng đã tưởng tượng đến giây phút gặp lại cô Niệm. Mỗi chiều đi làm về, ông ngồi chỗ cũ ở hàng cà phê, buổi tối ông lắng nghe tiếng chuông điện thoại. Vừa mỏi mòn vừa hy vọng. Lòng ông chợt buồn, chợt vui, như màu lá ngoài kia, như mùa Thu man mác, bâng khuâng chút nắng, chút gió, làm xao động cuộc sống cô độc, tâm hồn yên tĩnh của ông. Ông chờ đợi, nhưng mùa Thu đâu có chờ đợi, khắp nơi, lá vàng, lá đỏđã nở rộ. Đôi khi ông vào một công viên vắng vẻ, ngồi trên ghế đá nhìn vẩn vơ, lắng nghe tiếng lá rì rào như thì thầm, bàn tán với nhau điều gì, rồi ông tưởng như hàng cây nghiêng xuống với ông và hỏi: “Ủa, người đẹp đâu rồi?” Ông nhìn chúng và cười: “Sắp qua rồi, ít bữa nữa thôi” …
Rồi mùa Đông đến, tuyết trắng bay đầy trời, ông xếp những mong đợi vào một góc tâm trí, để mùa Thu năm sau lại dở ra và hy vọng.
Trong mục “Blog Bolsa” của Nhật Báo Người Việt ngày 5 tháng 11-2010, có nói đến câu chuyện của một phụ nữ ở Việt Nam mới được con bảo lãnh sang Mỹ, vì giọng nói, cách dùng chữ và thái độ của bà, bà đã phải nhận kỳ thị, bị coi thường của đồng bào sang trước. Bà cho biết bà là con của một quân nhân miền Nam trước năm 1975 ở Việt Nam, nhưng chỉ qua câu viết của bà: “Ba tôi là người lính Cộng Hoà suốt thời Diệm cho đến thời Thiệu” thì tôi e rằng bà đã không “thành thật khai báo”. Nếu thật sự bà là con của một cựu quân nhân miền Nam, bà đã không có cách nói tên Diệm và Thiệu cộc lốc như thế, mà bà phải nói là dưới “thời Đệ I, Đệ II Cộng Hoà” hay là dưới “thời Tổng Thống Diệm đến thời Tổng Thống Thiệu” như người miền Nam chúng tôi vẫn thường dùng .. ” Cũng như trước đây chúng tôi có nhận được lá thư của một người nhận là thương binh VNCH ở Việt Nam viết sang xin giúp đỡ, nhưng trong thư người này nói là “đã đi lính cho chính phủ Saigon từ năm 1970 cho đến ngày giải phóng”. Những người lính miền Nam không có lối nói như thế. Chính cách nói của bà đã đẩy bà vào cái thế, những người ty nạn Cộng Sản chạy sang đây coi bà như là gốc gác của những người thắng trận, đã đoạ đày khiến chúng tôi phải bỏ nước ra đi. Phản ứng của họ phát xuất từ những đau khổ, tù đày, chia ly mà họ và gia đình phải gánh chịu sau ngày quân đội miền Bắc thắng trận và thi hành chính sách trả thù lên những người lính, người dân miền Nam.
Tôi biết đất nước chúng ta đã trải qua nhiều giai đoạn chia cắt, lòng người ly tán, phân biệt hay kỳ thị, lẫn nhau. Năm 1955 chúng tôi vào Saigon được đồng bào miền Nam coi là người Huế, chứ không phải là người “Diệt” .Từ con sông Gianh thời Trịnh Nguyễn cho đến con sông Bến Hải thời Quốc Cộng là những dấu tích ô nhục khó rửa sạch, nhưng chính cái cách san bằng, thống nhất của nó lại càng ô nhục nghìn lần cho nghìn sau. Khi nghe một giọng nói mang âm điệu mà chúng tôi nhận ra là “Bắc Kỳ 75” rất nhiều người không khỏi có phản ứng, lẽ cố nhiên là trong tình cảm, chứ không biểu lộ ra bằng hành động hay thái độ.
Những giọng nói đó chúng tôi đã nghe qua đài phát thanh Hà Nội, chúng tôi đã nghe trong trại tù, chúng tôi đã nghe tại đồn công an. Nỗi sợ hãi ám ảnh nhiều người đến suốt đời. Ai cũng biết suy nghĩ cái đáng ghét là chế độ, là guồng máy cầm quyền chứ đâu phải là một giọng nói, một lối phát âm từ những người dân bình thường, vô tội trên những nỗi khổ đau của dân tộc, nhưng liên tưởng vẫn là một tâm lý khó gột rửa.
Cũng đôi khi chúng ta không “kỳ thị” với một giọng nói từ trong nước ra, nhưng lại bực mình vì thái độ thiếu văn minh của những người này. Tuần trước tại phi trường Boston, trong khi vợ chồng chúng tôi và vợ chồng một người bạn đang ngồi chờ giờ lên máy bay, thì một người Việt trung niên tiến tới trước mặt chúng tôi. Trong khi miệng y vội vã thốt lên câu hỏi “Các bác là người Việt Nam?”, chúng tôi chưa kịp phản ứng thì cả thân y chồm đến, y chìa tay ra bắt tay từng người một, kể cả hai người phụ nữ, một cách quá đỗi thân thiết. Mặc dầu khá ngạc nhiên vì thái độ suồng sã này, chúng tôi cũng chỉ có phản ứng chìa tay ra, nhưng không ai nói một lời, khiến cho người kia ngượng ngùng bỏ đi. Không nói thì quý vị cũng dư biết anh chàng kia đến từ đâu. Chúng tôi biết các bạn cũng sẽ “dị ứng” nếu một buổi sáng nào đó gặp phải năm ba ông Việt Cộng, không dấu được căn cước của mình qua giọng nói, y phục và thái độ của họ trong một tiệm ăn ở Bolsa hay trong khu Eden hôm nay, hay buổi tối, vô ý bật phải băng tần của một đài truyền hình, có cô xướng ngôn viên từ bên nhà, và chương trình thì chiếu toàn bộ quảng cáo, sinh hoạt, chương trình thu sẵn bên Hà Nội mang sang. Chúng ta thực có đáng trách về sự “dị ứng” này hay không?
Tôi thông cảm với nỗi khó chịu của đồng bào trong nước ra ngoài có khi phải nhận chịu những đôi mắt lạnh nhạt, những thái độ thờ ơ hay những cử chỉ thiếu thân thiện. Nhưng tôi cũng hết sức thông cảm với những gì đã đưa đến những sự dị ứng như thế, cao hơn đôi khi còn là lòng hận thù. Đó là những mất mát mà họ đã gánh chịu, sự gian truân họ đã trải qua, sự đau khổ mà họ đã phải chịu đựng vì chế độ Cộng Sản ở quê nhà, và nhất là những sự thất vọng về chính sách cố chấp, thù hận của những kẻ cầm quyền hiện nay ở trong nước. Chính sách ấy càng ngày càng đẩy xa những con người đã bỏ quê hương, càng ngày càng xa quê hương hơn, nó chỉ có tính cách chiêu dụ, trục lợi, giai đoạn mà không hề có sự thành tâm, chân thật. Phải chăng từ xưa, bản chất con người Cộng Sản vẫn trí trá như vậy.
Chính vì chế độ trong nước chưa thích ứng được với những người Việt hải ngoại, những đứa con xa quê hương, nên ở đây, đôi khi chúng ta vẫn còn thái độ dị ứng đối với những người mà chúng ta coi họ như những con người có liên hệ, gốc gác hay mang hình ảnh của chế độ ấy. Cái hố ngăn cách, chia rẽ, lạnh lùng và kỳ thị này là một nỗi đau chung của dân tộc chúng ta. Trong phạm vi một bài viết nhỏ này, tôi cũng không thể đại diện được cho ai để ngõ một lời xin lỗi cho những người bị kỳ thị về giọng nói trên, vì thành thật mà nói, bản thân tôi cũng chưa gột rửa được sự dị ứng mỗi lúc tôi nghe phải một giọng nói như thế làm cho tôi mất vui. Chúng tôi biết đó là một điều không phải. Nếu nói là ghét Cộng Sản, vì sao người ta không ghét giọng nói, ví dụ, của một cán bộ Cộng Sản gốc Quảng Ngãi mà lại dị ứng với giọng nói của một người dân bình thường sinh sống tại Hà Nội, mà người đó có thể đã là nạn nhân của chế độ Cộng Sản. Hải ngoại đã từng chịu nghe những giọng “Bắc 75″ của những ca sĩ, những MC trong những băng nhạc hay trên sân khấu, và đã cổ vũ họ bằng những tràng pháo tay? Cũng vì sao những giọng nói này chúng ta đã nghe thường trực trên đài BBC hay VOA mà không phản ứng, lại dị ứng với cũng giọng nói đó, của một người xa lạ trong một khu chợ hay ở một chỗ đông người. Còn nói rằng chúng tôi “dị ứng với … dân tộc” thì không. Chế độ chỉ là nhất thời, dân tộc mới vạn đợi, xin quý vị đừng đồng hoa dân tộc Việt Nam với chế độ Cộng Sản. Vì không hề dị ứng với dân tộc nên mỗi năm chúng tôi đã gởi về 8 tỉ đô la cho đồng bào ruột thịt, bà con, họ hàng, và chúng tôi còn quan tâm đến sự đói nghèo, bệnh tật, khó khăn của đa số đồng bào thấp cổ bé miệng, vì từ ba mươi lăm năm nay,”cách mạng”, chỉ là một sự cướp quyền, đem thêm “đặc quyền, đặc lợi” cho một băng nhóm, cấu kết với nhau vì quyền lợi.
Hiện nay hải ngoại đã không ý thức, dần dà quen với thứ ngôn ngữ từ trong nước mang ra, qua các đài phát thanh, truyền hình, báo chí, vì lười biếng hay có chủ ý, “bê nguyên con” một bản tin viết sẵn từ trong nước. Ngôn ngữ này, trước nghe lạ, lâu ngày thành quen, dần dần chúng ta bị đồng hóa lúc nào không hay. Vậy thì rồi đây, giọng nói nào cũng thuận tai, trở thành quen thuộc, một thời gian nữa sẽ không còn “dị ứng”, nhất là đối vớí lớp trẻ lớn lên sau này, không có những kinh nghiệm chua chát, đắng cay với những gì đã xẩy ra trên đất nước chúng ta trong thời gian năm mươi năm trở lại đây. Nhưng tôi tin rằng, chế độ Cộng Sản và cung cách cai trị của những người Cộng Sản đối với đất nước, sẽ khó lòng hết “dị ứng” với những người đã không chấp nhận Cộng Sản, bỏ nước ra đi. Chỉ còn một con đường, một là chế độ sẽ suy tàn, hai là những người như chúng tôi không còn hiện hữu.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.