Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 5 May 2026

Có người hỏi Krishnamurti: “Ngài là người đã giác ngộ. Xin cho biết bên kia sự chết là gì?” Đây là vấn đề, xưa nay hàng tỉ ti người, qua bao thế hệ trên mặt đất hoang mang. Người chết thì đi luôn, không trở lại. Người sống thì chưa qua biên giới tử sinh, không ai đủ thẩm quyền để nói về một vấn đề mình không có kinh nghiệm. Vì thế, câu hỏi xem chừng như ngớ ngẩn. Nhưng, Krishnamurti đã trả lời. Ông chưa hề chịu bí với bất cứ câu hỏi nào. Đầu tiên, ông chỉnh người đặt câu hỏi. Rằng chỉ có người đã giác ngộ mới biết người khác có giác ngộ hay không. Ông chưa giác ngộ, sao biết tôi đã giác ngộ? Những gì tôi nói, ông nên suy nghĩ, xem có chấp nhận dược hay không mà thôi. Còn chuyện tôi giác ngộ hay không, chỉ có tôi biết. Và điều ấy cũng chẳng liên quan gì đến ông, Sau đó, Krishnamurti nói về bên kia sự chết. Lời lẽ văn hoa bóng bẩy, trơn tru dễ dàng như nước chảy, luồn lách qua mọi ngóc ngách tâm lý và triết học. Người đọc theo dõi từng chữ từng câu, nóng lòng tìm cho ra giải đáp về một thế giới bí ẩn bện kia. Nhưng ông cứ nói vòng vo tam quốc. Kiên nhẫn theo dõi đến hết dòng chữ cuối cùng, chẳng hiểu ông nói gì. Ôi, một bậc thông tuệ, được nhiều người, trong đó có tôi, xem như ông thánh, mà ánh sáng tư tưởng của ông không soi rọi đưực cái đầu tăm tối của tôi sao? Có phải dầu tôi dóng kin bưng không chịu hiểu, hay ngọn đèn trí tuệ của ông chỉ là một ảo ành, không làm sáng tỏ được bức màn ngăn che phía sau sự chết?

Thôi, vấn để sau khi chết thì đành mờ mịt vậy. Nhưng trước khi chết, tâm trạng con người ra sao? Ở đây, không đặt trường hợp những người chết vì già nua, bệnh tật. Chỉ nói đến những tử tội, khi sắp ra pháp trường, ngoài những buồn rầu rối loạn, hoặc thù hằn nguyền rũa, có người muốn được ăn một bữa thật ngon. Thậm chí, còn yêu cầu được thoả mãn tình dục lần cuối cùng. Không có nỗi sợ hãi nào lớn hơn sợ chết. Trong giờ phút ấy, mà còn nghĩ đến miếng ăn và tình dục, là một điều ngoài sức tưởng tượng của tôi. Nhưng đó là những biểu hiện bên ngoài. Còn ý nghĩ thầm kín và tâm trạng cận kề cái chết, không ai có cơ hội ghi lại. Những ông văn sĩ, khi viết về vấn đề này, chỉ hư cấu, chứ chưa thật sự trải qua kinh nghiệm kinh hoàng của người khác. Ông ta suy diễn tâm trạng của kẻ đang đối mặt tử thần, bằng tâm trạng của ông, một người đang sống bình yên. Nếu lâm vào đường cùng, có thể ông lại nghĩ khác.

Tôi có một thời gian dài, đi trong vùng lửa đạn. Tính mạng bị đe doạ thường xuyên. Người xưa coi cái chết nhẹ như lông hồng. Nhưng tôi thì lo âu, tìm mọi cách trấn an tinh thần. Đời người chỉ có một lần, tôi không thể coi thường sự chết. Tôi cố tin vào khả năng tự vệ, qua những vật dụng tùy thân được trang bị và sự hỗ tương đồng đội. Những người bạn của tôi cũng cố tin như thế. Nhưng, trong nhiều trường hợp vẫn không tránh khỏi chết. Tôi từng nhìn thấy nhiều cái chết của người chung quanh. Có người, trước giờ lâm tử, còn nhắn với tôi, xin chuyển giùm cai radio về cho mẹ. Anh bình tĩnh đến độ làm tôi muốn quỳ sụp xuống mà lạy anh. Sau đó, anh hiên ngang đi vào đất chết. Kinh Kha khi qua sông Dịch, có ba ngàn tân khách mặc đồ tang đưa tiễn. Ông ta vì chịu cái ân đãi ngộ và lời hứa với thái tử Đan. Cuối cùng lại tổ chức tiễn đưa rầm rộ. Ở vào cái thế, dù Kinh Kha có sợ chết, nhưng vì cái danh, nên không thể quay đầu lại được. Còn bạn tôi, thuộc hàng vô danh tiểu tốt, có tỏ ra hèn nhát cũng chẳng ai cười. Anh không vì cái danh và tự ái mà đi vào đất chết như Kinh Kha, Anh đi, chỉ vì bồn phận của người lính trong thời chiến. Và anh cũng biết rằng cái tên anh chẳng có một chỗ đứng nào trong lịch sử. Thời đại của tôi, có rất nhiều người dũng liệt còn hơn Kinh Kha. Cũng chính vì nhiều quá, nên chẳng ai còn quan tâm đến nữa. Trở lại chuyện người bạn của tôi. Lời nhắn gửi của anh, làm tôi nhức nhối từng dêm. Thân xác khong giữ được thì tiếc chi vật mọn ngoại thân, chẳng qua anh muốn lưu lại một kỷ vật cho đấng sinh thành. Trong kỳ nghỉ phép, tôi tìm đến nhà anh ở một vùng quê hèo lánh, mien Trung. Mẹ anh đang ngồi ngoáy trầu. Trên bàn thờ lạnh vắng khói hương, có tấm hình anh vô hồn ngơ ngác, nhỏ như bàn tay. Tôi trao lại cái radio loại bỏ túi và cái balô đựng bộ quần áo cũ. Mẹ anh ôm di vật của con, sửng sờ, chết diếng không khóc được. Nổi đau đớn đã vượt qua giới hạn của khóc than vật vã. Một lúc lâu sau, bà hỏi tôi về giây phút cuối cùng của người con. Tôi không dám nói hết điều gì đã chứng kiến, sợ làm bà xúc động thêm, chỉ lập lại lời nhắn gửi của anh. Lúc ấy, bà mới bật khóc và kêu lên thảm thiết:

“Con ơi … Con ơi … ” Tiếng kêu ai oán não nùng, nghe muốn đứt ruột. 

Trường hợp khác, khi tôi cùng đồng đội được lệnh tấn công vào mục tiêu. Đạn từ trong bắn ra như mưa. Mục tiêu xa chừng hai mươi thước, nhưng khi xung phung là thời gian đem thân làm tấm bia di động trước tầm đạn, thì có cảm tưởng rất xa. Liếc qua phải qua trái, thấy người này ngã xuống, người kia ngã xuống. Tôi sợ đến lạnh mình. Chiếm xong mục tiêu, mồ hôi thì đổ dầm dề, ướt mặt. Trời không nóng nực, nhưng sợ quá làm tháo mồ hôi. Sau đó, việc ưu tiên là lo giải quyết những người bị thương. Kẻ chết thì đã chết rồi, từ từ tính sau. Trong số bị thương, có một anh bị thương đầu rất nặng. Không cần phải có khả nang chuyên môn y khoa, cũng biết rằng anh sẽ chết trong thời gian rất ngắn. Lúc đang chờ trực thăng tải thương, anh cứ bò qua bò lại, tay sờ soạng tìm kiếm một vật gì trên mặt đất. Hai mắt anh vẫn mở, nhưng hình như không nhìn thấy gì hết. Hỏi anh tìm gì, để giúp cho anh. Anh không trả lời. Có thể, anh cũng không còn nghe ai hỏi nữa.

Những đêm yên tĩnh, nằm trên võng, giữa rừng già, nhìn qua kẽ lá. Trên trời điểm những vì sao khuya, xa xăm buồn bã. Hình ảnh người bạn bị thương đầu, mặt be bết máu, còn hiện trong trí tôi. Chiến tranh thảm khốc đã mang đi quá nhiều người tuổi trẻ của cả hai phe lâm chiến. Những kẻ chủ xướng chiến tranh, ở xa nơi nguy hiểm. Họ đang êm ấm trong những dinh thự, canh gác ngày đêm cẩn mật. Con cháu của họ cũng được bảo bọc an toàn. Họ đọc báo cáo về sự tổn thất nhân tnạng, như đọc một hóa đơn làm ăn buôn bán, suy tính lời lỗ hơn thua. Lòng không một mảy may xúc động tình nguời. Họ không tận mắt nhận thấy những chết chóc. Nếu người bị thượng đầu ấy, chính là con cháu ruột thịt thân yêu của họ, chắc họ sẽ đau lòng và suy nghĩ lại những gì mà họ đã nghĩ trước kia.

Người bạn tôi làm công tác tháo gỡ mìn bẫy. Lựu đạn phát nổ, khi anh đang trong thế quỳ để khóa chốt an toàn. Đầu anh gục xuống, hai khuỷu tay còn chống đỡ thân mình. Trong tư thế ấy, anh im lặng một lúc. Bỗng anh rướn người lấy hết tàn lực, hít vô một hơi thật dài, ngước mặt lên và bật ngữa người ra phía sau. Trời ơi, tôi không tưởng tượng nổi khuôn mặt nào rùng rợn đến thế. Cái mặt nát bấy, không còn nhìn thấy mắt mũi đâu nữa. Hai cánh tay anh lòi xương trắng hếu, dính những chùm thịt bầy nhầy, đỏ như chùm giẻ rách nhúng trong máu. Trong giây phút, tôi thấy trời đất tối sầm. Khủng khiếp và xúc động làm tôi muốn ngất đi. Mấy tháng sau, khuôn mặt anh vẫn còn ám ảnh tôi. Đêm cứ chập chon ác mộng. Tinh thần khủng hoảng. Tôi không dám tâm sự điều này với ai, ngại sẽ bị chê là hèn.  Trong một lần hành quân rừng già. Đơn vị bất ngờ chạm địch. Hỏa lực của cả hai phe bắn ra, nhiều dến nổi chỉ còn nghe tiếng súng ro ro như tiếng của một nhà máy xay lúa. Phe nào cũng sợ bị phía bên kia xung phong, nên bắn dữ dội để cản địch. Sau vài phút đầu, mọi người đã lấy lại bình tĩnh, điểu chỉnh lại hoa lực, nhầm triệt hạ đối phương một cách chính xác hơn. Tôi quay qua, vội kiểm soát đồng đội của mình. Thấy một anh bạn trẻ đang loay hoay cởi dây ba chạc trên vai, để tháo sợi dây nịt đạn. Anh bị thương bụng. Máu nhuộm ướt một phần áo và lưng quần. Ruột đổ ra lòng thòng. Anh cầm ruột nhét vô bụng và bò đi nơi khác. Nhưng một đoạn ruột ruột vướng víu gai góc bên ngoài, nên khi anh  bù đi, thì ruột lại tháo ra. Lúc này là lúc lo chống trả đối phương, không thể săn sóc cho thương binh. Tôi la lên: “Nằm im đó. Đừng di chuyển.”

Một ông thượng sĩ già, bò tới gần, lấy sợi dây đạn của anh.

Anh hỏi: “Thượng sĩ có sao không?”

Thượng sĩ nói: “Tao bị mãnh B40.”

Anh quan sát ông thượng sĩ, rổi nói một câu rất tĩnh:

“Ông chỉ bị nhẹ. Còn tôi hơi … nặng.”

Chao ôi! Cái bụng banh ra, ruột đổ lòng thòng, máu me thấm đỏ, mà anh nói hơi … nặng?

Và anh đã chết, khi trận đánh còn chưa kết thúc. Nhiều ngày sau, tôi vẫn thắc mắc. Trong giờ phút nguy ngập trên chiến trường, ôm vết thương như thế, sao anh có thể bình tĩnh đến lạ lùng? Tâm trạng anh thế nào? Anh nghĩ gì lúc ấy?

Trung cuộc di tản từ miền Trung về phía Nam. Đoạn đường ngang Rừng Lá đã bị cắt đứt. Đoàn người và xe bị đọng lại ở Bình Tuy. Thành phố đang thưa người yên vắng, bỗng ôn ào rộn lên. Người đổ về càng lúc càng đông, chật đường chật phố, tràn ra bờ biển. Xe cộ không còn đường chạy, bỏ nằm dài dài bên các lề đường, bò vô trật tự trên bải cát. Trong cảnh hổn loạn này, kẻ bất lương gặp đúng thời cơ, nghênh ngang thể hiện bản chất của những tay anh chị giang hồ. Chỉ tội cho người hiền lương chơn chất, khép nép chịu bắt nạt thiệt thòi. Tội nhất là đàn bà con gái bơ vơ. Họ là những mục tiêu dễ bị phiền hà. Tôi dang ngồi trên bãi cát, dưới bóng cây dương, nhìn ra biển. 

Một cô gái bước đến: “Chú ơi, làm ơn cho cháu theo về Sài Gòn.”

Có lẽ, cô tưởng tôi là người hùng giữa đám loạn quân?

Tôi nói: “Cái thân tôi còn lo chưa xong. Làm sao giúp cô được?”

Cô ngồi sà xuống bên tôi: “Nếu có ai hỏi, xin chú nói cháu là vợ của chú.”

“Nhưng cô đâu phải … “

“Cháu van chú, Chú cứ nói thế đi.”

Vì muốn có một bình phong che chở, cô đã quên đi bản tính e thẹn của người con gái bình thường. Hỏi ra mới biết cô bị thất lạc gia đình trong dòng người di tản. Tôi trở thành chiếc phao trong giờ phút nguy ngập của cô. Xế chiều hôm ấy, có hai chiếc GMC của chính quyền địa phương đến, bắc loa kêu gọi, trẻ em và phụ nữ hãy lên xe, để được đưa đến một nơi an toàn. Chẳng cần biết nới an toàn này là nơi nào, người ta cứ ùn ùn chen lấn leo lên, kể cả đàn ông thanh niên mạnh khoẻ. Loa lại nói, phái nam đừng lên xe. Xe chỉ dành cho trẻ em và phụ nữ. Nhưng không ai thèm nghe. Tất cả đều muốn giành ưu tiên trong đợt đầu. Tôi bảo cô gái: “Hảy cố gắng lên xe đi. Đừng theo tôi nữa. Tôi không đủ khả năng bảo vệ cho cô đâu.” Và cô đã biến mất trong đám người đang chen lấn. Bỗng có tiếng nổ phía sau thành xe, như tiếng của một loại mini lựu đạn. Đám người giạt ra. Nhiều người bị thương nhẹ. Tôi đi tìm lại cô gái, chẳng thấy đâu. Xe đã chạy. Bỏ một anh thanh niên nằm lăn lộn trên bãi cát. Anh là một trong những người phái nam chen lấn lên xe và là người duy nhất bị thương rất nặng. Tiếng nổ làm tanh banh phần hạ bộ và cặp đùi. Đất cát dính đầy vết thương. Người coi đứng vây thành một vong tròn. Trong tình thế hổn độn, người ta chỉ biết đứng nhìn mà không giúp được gì cho anh. Anh còn rất tỉnh, nhưng với vết thương này, chắc không sống nổi. Có người buột miệng: “Thôi, chết liền đi. Sống chi chọ khổ.”

Anh nghc được, và lên tiếng:

 -Đụ mẹ, thằng nào nói đó?”

Người khác hỏi: “Anh là ai, tên gì?”

Anh nạt: “Đừng hỏi.”

Lại một người hỏi nữa: “Trái gì nổ vậy? Có phải trái nổ của anh không?”

Anh gắt lên: “Tao đã bảo đừng hỏi.”

Anh nói chuyện leo lẻo, rất tỉnh táo. Thế mà không đầy hai mươi phút sau, đã nằm bất động. Trên đường di tản, còn nhiều cái chết rùng rợn như thế. Ai xô dân tộc vào thảm hoạ tang thương, lịch sử lần hồi đã điểm mặt chỉ tên. Họ nhân danh đủ mọi thứ tốt đẹp trên đời để che khuất những mưu đồ tham vọng cá nhân. Bàn tay của kẻ đui ác vươn ra đầy móng vuốt, nhưng miệng luôn luôn nói điều nhân nghĩa. Nếu vì lý do thực hiện một lý tưởng, mà gây lầm than chết chóc cho bao người khác, thì lý tưởng nào cũng đáng bị nguyền rủa.

Những năm tai ương khổ nạn nhất của cuộc đời, có lần tôi bỏ trại cải tạo, cùng ba người bạn trốn đi. Đồng loại thì quá dữ. Áp bức chà đạp lên nhân phẩm con người không thương tiếc. Muốn hướng ra thiên nhiên, tìm đường đào thoát, thì núi rừng Việt Bắc trung trùng. Nhìn đâu cũng thấy núi non bốn bề vây hãm, Đường lên Trời, gần hay xa, không ai biết, cũng chẳng thay ai di. Đường xuống Địa Ngục rất gần, thoắt cái là tới ngay. Chi có đường trần gian là cay cực nhiêu khê. Bạn đồng hành của tôi nói thế. Dãy núi hình rẽ quạt Hoàng Liên Sơn, ngày nào học trong sách địa dư, cứ tưởng có thể đến đó chạy nhảy rong chơi, hết ngọn đồi này sang ngọn đồi khác. Đâu ngờ một cái nhăn mặt của địa cầu, mà xuất hiện những non cao, lũng sâu dường ấy. Đứng trước thiên nhiên mới thấy thân phận con người vô cùng nhỏ bé. Ra đi. Mười ngày sau, một người bạn bị chứng sốt vàng da cấp tính. Khi biết mình sắp bỏ cuộc, anh nói trong nước mắt: “Hãy lấy hết những vật dụng cần thiết của tôi và di đi. Đừng vì tôi mà chậm trễ nữa.”

Những vật dụng cần thiết của anh có gì đâu, ngoài bộ quần áo đang mặc trên người, trong túi vải đeo lưng đựng hai cái lon Guigoz, một lọ muối, một tấm nylon làm áo che mưa và mấy viên thuốc Aspirine nội hóa đổi chác với người địa phương bằng đôi vớ mùa đông. Dù hùm beo đang truy đuổi, nhưng không ai đành lòng bỏ lại người bạn đang cơn ngắc ngoải. Tôi sờ ban chân anh. Bàn chân nóng hổi. Tôi mân mê những ngón chân xướng xẩu của những năm dài thiếu ăn, mà vô cùng thương cảm. Sau cơn mê sảng, bỗng anh tỉnh táo lạ thường. Anh nói về những ngày tho ấu của anh. Ba mạ anh mất sớm. Gia đình chỉ còn hai chị em côi cút. Người chị dẫn em lìa xứ Huế, vào Sài Gòn, làm nghề thợ may. Chị hy sinh tuổi trẻ của mình, cho tương lai của em. Khi em nên người, thì chị đã thành gái lỡ thời. Chưa kịp đền ơn chị, em đã lâm vào khốn khó … Chúng tôi ngồi im, nghe anh nói, tôn trọng giờ phút thiêng liêng cùng tận một đời người. Anh bỏ mình nơi góc núi. Thời gian đứng lặng. Rừng sâu u uất. Không một làn gió trên cây. Không một tiếng chim kêu. Người chết âm thẩm, xa nơi cố thổ. Chúng tôi khuân những tảng đá, làm nấm mồ lộ thiên cho anh, dưới những cội cây già trăm năm rợp bóng. Sau này, không ai còn có thể tìm lại được mồ anh, giữa muôn trùng núi non hiểm trở.

Còn ba người, chúng tôi tiếp tục đi về phía trước. Tương lai mịt mù những cây rừng, dốc núi. Lòng nặng u hoài tiếc thương người nằm lại. Không biết số phận của mình rồi sẽ ra sao. Tiếng động của chim muôn trọng rừng già cũng làm tôi giật mình lo sợ. Như con thú hị săn đuổi, tôi sợ cả những nơi quang đãng chiếu rọi mặt trời, chỉ muốn thu mình trong lùm bụi âm u. Một buổi trưa. Một phụ nữ người Dao đang gùi bắp xuống núi, nhìn thấy chúng tôi băng qua đường mòn. Chị hoảng hốt bỏ chạy, chúng tôi cũng hoảng hốt. Dân miền Việt Bắc đã được lệnh, nếu ai phát hiện tù trốn trại và báo cho chính quyền địa phương, sẽ được thường mười ký thóc mỗi đầu người. Ai không báo hoặc chc giấu, sẽ mang tội đồng lõa. Có thể người ta không muốn gây nguy khốn cho người khác để được mười ký thóc, nhưng ai cũng sợ bị tội đồng lõa. Vô tình nhìn thấy nhau trong sự bất ngờ, tình thế bắt buộc phải triệt tiêu một bên để đổi lấy sự tồn tại cho mình. Tôi thấy bạn tôi thoáng một giây ngần ngừ, rồi quăng vội cái túi đoo lưng, xách con dao, loại dao phát quang của trại tù, chúng tôi tra thêm cái cán dài để chống thú dữ, nhảy ra chận đường xuống núi. Tôi cũng tay dao, phóng ngay đến người phụ nữ. Một ý nghĩ rất nhanh trong đầu, trời ơi, tôi sắp giết người. Điều ấy làm tim tôi thắt lại, đau đớn như có một vật gì đâm ngang. Và tôi đã vấp ngã trước khi đến gần người phụ nữ. Chị chạy qua. Dù sao thì chị cũng không thoát chết, nhưng không phải chính tôi ra tay hạ sát một mạng người. Bạn tôi đã chận phía đưới con đường rổi. Không còn ngõ nào khác, người phụ nữ đáng thương đành quỳ sụp dưới chân bạn tôi.

“Con lạy các ông. Con không làm gì các ông cả. Xin tha cho con …,”

Chị van và lạy như tế sao. Cái khăn trên dầu chị rớt xuống dất. Dáng người nhỏ thó của chị, bị khống chế hoàn toàn. Chị run rẩy nói thêm diều gì đó, nhưng chỉ ú ớ trong cổ họng, không nghe được. Bạn tôi dang chân, lấy thế dứng rất vững, hai tay cầm con dao giợ lên cao, trợn đôi mắt ác liệt như một đao phủ thủ sắp sửa hành hình. Chưa chi mà tôi đã mường tượng một cái đầu bị tét làm hai, óc và máu văng tung toé, lúc con dao chém xuống. Nhưng, tay dao của bạn khựng lại. Anh đứng như trời trồng và cuối cùng từ từ hạ xuống.

“Chạy đi””

Tội nghiệp người phụ nữ, chị không tin hai tiếng “chạy đi”. Chị sợ vãi trò đùa của con mèo vờn cho con chuột mệt nhoài trước khi ăn tươi nuốt sống. Anh phải lập lại lần nữa. chị mới dám ngước mặt nhìn anh, rồi nhỏm dậy, bỏ khăn, quăng gùi, chạy thục mạng. Sau đó, chính chúng tôi cũng phải vội vả băng rừng, tránh nơi vừa gặp mặt chị người Dao, càng xa càng tốt.

Chuyện gì phải đến, đã đến. Trưa hôm sau, chúng tôi biết mình bị bao vây. Hình như chính quyền địa phượng đã huy động tất ca dân thôn bản vùng cao, bỏ công ăn việc làm, để giăng bủa một khu vực mà người ta nghi ngờ chúng tôi lẩn khuất. Lúc đang trấn trên lưng chừng núi, tôi trách bạn: “Hôm qua, nếu anh dứt mạng người đàn bà ấy, thì hây giờ đâu đã lâm vào thế bí.”

Bạn nhìn tôi, cái nhìn soi thấu tim gan: “Anh tưởng tôi không biết rằng anh cố ý vấp ngã, để tạo điều kiện cho người đân bà chạy qua? Tại sao anh tránh né, dồn việc ác cho tôi?”

Thì ra chúng tôi đều là những kẻ yếu lòng nên chịu thiệt thân. Bị đoa đày khốn khổ trong trại “học tập cải tạo” bao năm rồi, vẫn chưa học được bài học nhẫn tâm của những người thầy ác nghiệt. Bạn để nghị nên rút lên đỉnh. Tôi bảo, vòng vây đang từ từ khép lại. Đỉnh núi là tụ điểm sau cùng. Tốt hơn, nên trốn ở lưng chừng núi, sự lục soát còn thưa, có cơ may lọt lưới. Ban đêm. Trời tối mịt. Xa xa có những chỗ đốt lửa tỏa ánh sáng bập bùng. Dân quân còn vây bủa. Tôi đưa ý kiến, lần mò trong bóng tối, thoát ra ngoài vòng vây. Bạn nói, không thể xuống núi ban dêm. Địa thế trắc trở, dễ bi vấp ngã nguy hiểm, lại gây ra tiếng động làm lộ mục tiêu. Trưa hôm sau. Tổi xuống triền hứng nước uống nơi khe đá. Mùa khô nước rỉ từng giọt, hứng đầy lon Guigoz cũng mất cả buổi. Trời đứng gió, oi nồng. Hình như có tiếng xào xạc cây lá và cành khô gãy răng rắc ở đâu đó của thú rừng di chuyển. Khi tôi xác định được những tiếng động bất thường, thì không còn trở lại gặp hai người bạn được nữa. Có tiếng chó sủa, tiếng reo hò của bọn săn người ở phía trên kia.

“Đây rồi! Đây rồồ!.. Lủi giỏi như chồn cũng không thoát.”

Bạn tỏi đã sa lưới. Tim tôi đập rộn ràng muốn nhảy tung ra khỏi lồng ngực. Tôi nép mình sau tảng đá lớn, nhìn lên những cây lá che khuất, không thấy được gì. Chỉ nghe tiếng người tở mở reo hò như đang vây bắt cọp. Một ý nghĩ thật nhanh trong đầu, dù còn lại một mình, tôi cũng quyết không bỏ cuộc hành trình.

Đội ngột, phía sau lưng tôi, có tiếng hô vang: “Đứng dậy! Gio tay lên!”

Tiếng hô làm tội giật mình ngó lại. Một họng súng đang chỉa về phía tôi. Còn hai người nữa, thủ hai cây lao đầu nhọn bịt sắt, trong tư thế sẳn sàng phóng lao đâm lút ngọn. Tới đường cùng rồi. Thế là hết. Tôi từ từ đứng dậy.

“Giơ tay lên!”

Tôi lắc đầu.

“Giơ tay lên!”

Tôi lại lắc đầu, không chịu giơ tay. Trong thâm tâm, tôi muốn nhận một viên đạn thật chính xác vào tim, chết tức khắc. Nếu tôi chạy cũng không khỏi, nhưng thằng xạ thủ tồi này, sẽ bắn trầy trật nhiều viên, gây đau đớn quằn quại nhiều hơn trước khi chết. Tôi đứng yên, làm một mục tiêu thật tốt. Hắn kéo cơ bẩm đẩy viên đạn lên nòng, nghiêng đầu đưa mất vào lỗ chiếu môn. Tiếng cơ bẩm khô dòn như chạm vào xương tôi rạn nứt. Tôi nghe một luồng băng lạnh từ bàn chân vụt rần lên tới đỉnh đầu nhanh như chớp. Toàn thân thì lạnh ngắt, rợn người nổi gai ốc. Mỗi cái gai ốc, tường chứng to bằng hạt gạo. Tóc tôi cơ hồ dựng đứng cả lên. Sự chờ chết khủng khiếp đến nỗi làm tôi cứng đơ như pho tượng thạch cao. Không ai có thể đoán được tâm trạng hãi hùng cùng tột của tôi lúc ấy. Nếu chỉ nhìn hình ảnh hiên ngang bên ngoài, người ta dễ cho rằng tôi là kẻ gan da phi thường. Bỗng một kè từ phía sau tên xạ thủ, đưa tay hất họng súng chỉa lên trời. Ra lệnh: “Trói hắn lại!”

Hai tên cầm lao xông lên, xô ngã và đè tôi xuống …

Trên đường áp giải đi về, chúng tôi bị trói tay sau lưng, cái túi đựng đồ máng trên cổ treo ngược về phía trước ngực. Qua những sơn khê và thôn bản của người thượng du, tôi thấy những đôi mắt tò mò từ trên nhà sàn nhìn xuống chúng tôi. Thỉnh thoảng, viên trung úy, người đã ra lệnh trói, nhìn tôi mìm cười. Tôi không hiểu ý nghĩa của nụ cười ấy, có ngụ ý gì. Anh ta nể phục thái độ có vẽ cứng cỏi của tôi khi đứng trước tầm đạn? Hay cười theo kiểu răn đe, mày ngon hả? Rồi đây mày sẽ biết tay tao! Buổi chiều. Dừng lại nghĩ qua đêm, chúng tôi bị còng tay ở văn phòng xã địa phương. Những kẻ áp giải lánh mặt, khi có khoảng mười người dân trong vùng kéo đến. Họ đánh đập và sỉ vả chúng tôi đủ điều, bằng những ngôn từ đã thuộc lòng từ những bài tuyên truyền về sự xấu xa và tội ác của Mỹ Ngụy. Chúng tôi im lặng, gồng mình chịu đựng. Lúc chúng tôi ngất ngư vì trận mưa đòn, viên trung uý xuất hiện.

“Đồng bào không được hành hung người khác. Làm thế là trái chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng và nhà nước.”

Những người dân giạt ra, lãng đi nơi khác. Anh ta nói với chúng tôi: “Nhân dân đánh các anh, vì căm thủ. Các anh phải la lên, để chúng tôi kịp thời bảo vệ các anh.”

Ai cũng biết, chính anh ta đã kêu gọi mọi người kéo tới đánh chúng tôi. Trong một xã hội, mà tư tưởng và hành động của người dân đều bị kiểm soát gắt gao, nếu không có lệnh, không ai dám hành hung chúng tôi, nhất là khi chúng tôi đang nằm trong tay của cơ quan quyền lực. Chiều hôm sau. Ở một địa phương khác, chúng tôi lại bị bề hội đồng và viên trung úy cũng nói những lời y như thế! Hai trận đòn bầm dập làm chúng tôi kiệt sức. Chiều ngày thứ ba, phải dừng lại nghỉ sớm hơn. Chúng tôi bị nhốt trong một nhà kho của Hợp Túc Xã, Tôi chuẩn bị tình thần, chờ trận đồn như hai hôm trước. Nhưng, điều ấy không xảy ra. Một vệ binh bưng vào một mâm cơm, gồm ba tô cơm trắng và ba tô thịt heo luộc, Anh ta mở còng hai cánh tay và chuyển xuống còng chân chúng tôi.

“Hãy ăn đi.” Nói xong, anh ta bỏ ra ngoài. Từ khi ra Bắc cải tạo, chỉ có ngày mồng một Tết là được ăn cơm không độn ngô sắn, nhưng cũng chỉ le ngoe vài miểng thịt trâu, thịt hên là cùng. Bữa cơm chiều nay thịnh soạn khác thường, lại được đặt trong cái mâm cũng trịnh trọng tử tế khác thường. Tôi nghĩ ngay đến bữa cơm ân huệ cuối cùng cho tử tội. Bao năm nhục nhằn đói khát, nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho một con người bị giới hạn tối đa. Cơm trắng thịt heo, chỉ còn là một ước mợ trong những đêm nằm trằn trọc với cái dạ dày luôn luôn réo gọi miếng ăn. Thể mà giờ đây, tổi không màng đến nữa. Dù chỉ ăn một miếng thôi, cũng chưa chắc nuốt trôi qua cổ. Hai người bạn của tôi cũng ngồi im lặng buồn thiu. Không ai nói với ai lời nào, tất cả đều cùng chưng một ý nghĩ. Nắng chiều xuyên qua vách liếp nhà kho, đổ những vệt vàng úa xuống nền. Bên ngoài có tiếng khua lách của khoen dây súng và những bước chân rời rạc của vệ binh canh giữ. Tôi cộ cảm tưởng, vì tôi mà cả thế gian cũng di vào một chiều tàn phai hủy diệt. Nghĩ đến sáng mai, người ta sẽ đem tôi ra bắn nơi một hãi đất hoang nào đó. Thân xác vùi chôn. Cỏ dại hắt hiu mọc đầy lên nấm mồ vô chủ. Tôi chỉ buồn mà không sợ hãi như mấy hôm trước, đứng ngay tầm mũi súng. Và lạ lùng hết sức, từ ngày đi cải lạo, tôi căm ghét người Cộng Sản vô cùng, nhưng sao chiều nay, lòng tôi lại sạch trơn niềm thù hận. Tôi coi họ như những con người không hề ân oán. Chẳng qua tất cả đều là những sinh vật lao xao trong cõi phù sinh của vô cùng thiên địa mà thôi. Nhiều năm sau, suy gẫm lại lúc ấy, toi hiểu đuợc tấm lòng từ bi của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ khi sắp bị hành hình. Ngài chỉ cầu xin cho những kè giết Ngài được tha thứ tội lỗi. Ôi, những bậc Bồ Tát hóa hiện, vì chúng sinh mà lao vào vòng sinh tử, thì khi lìa bỏ thế gian cũng nhẹ tênh, không bợn chút oan cừu. Trời sắp tối. Viên trung ủy hước vào nhà kho, nhìn thấy mâm cơm còn nguyên.

Anh ta ngạc nhiên: “Các anh còn chờ gì nữa mà không ān?”

Bạn tôi hằn học: “Không cần phải bày chuyện ăn uống. Có bắn thì đem bắn ngay di!”

“Không đâu, Các anh yên tâm ăn đi. Đồng chí nào nói chuyện bắn giết với các anh, đồng chi ấy sẽ bị kiểm điểm.”

Anh ta bước đến gần hơn, quan sát ba cái xác bèo nhèo rũ rượi của chúng tôi, ra vẽ xót thương: “Các anh có đau nhiều lắm không?”

“Cút đi!” Bạn tôi hét lớn.

Viên trung úy lắc đầu: “Tôi hiểu các anh, nhưng tôi khuyên đừng làm thế. Chỉ thiệt thân thôi.”

Anh ta bước ra ngoài, khép nhẹ cánh cửa. Chẳng ai còn lòng dạ nào nghĩ tới mâm cơm. Đến tối, vệ binh vào dọn đẹp tất cả và còng tay chúng tôi lại như cũ. Suốt đêm, toi không hề ngủ được. Lòng rầu rầu nghĩ về những người thân nơi quê nhà, đứng trông ngóng một người đi không bao giờ trở lại. Nước mắt ứa ra. Thế mà từ lâu, tôi tưởng mùa hạn cơ cực của cuộc đời, đã làm cạn khô mạch nguồn ẩn tàng sâu thẩm trong tôi.

Bình minh lên. Giờ báo tử đến rồi. Tôi nghe nhiều người lào xào bên ngoài nhà kho. Cửa mở. Viên trung úy bước vào, dáng điệu bình thường. Nhưng tôi thấy như anh ta đang đội cái lốt của từ thần. Tôi không sợ, mà nghe toàn thân cảm giác đau nhức. Không thể nào toi hiểu đưoc tâm trạng kỳ quặc của tôi lúc ấy. Có lẽ, tôi quá thương thân xác mình và tiếc nuối sự sống.

Viên trung úy đứng nhìn chúng tôi một lúc lâu: “Thế này thì còn đi đứng gì được. Thấy các anh đuối quá, cho các anh bồi dưỡng để lấy sức đi đường. Các anh không chịu ăn. Thế có phiền không chứ? Lại phải huy động xe trâu của nhân dân để đưa các anh về.”

Câu nói làm chúng tôi nhìn nhau sửng sốt. Khi biết mình đã hiểu lầm bữa cơm bồi dưỡng, thành bữa cơm ân huệ cuối cùng cho tử tội, bao nhiêu nỗi buồn rầu trong tôi vụt tan biến, Và cơ thể đang ê ẩm rã rời, bỗng khỏe lại như vừa được uống một liều thuốc hồi sinh. Qua thái độ của viên trung úy, tôi nghiệm ra rằng, người Cộng Sản dù ác độc gian trá, nhưng họ cũng là con người, thì một lúc hiếm hoi nào đó, họ cũng biết nói thật và biết động lòng trắc ẩn.

Xc trâu chở chúng tôi về đoàn 779. Thân xác mềm như trái chuối chín. Và dĩ nhiên, cái giá phải trả cho một lần khước từ cải tạo, là những ngày cùng cực tối đen. Thê thảm như một thiên tai phủ xuống đời người.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment