Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 5 May 2026

“Lũ chúng ta, ván cờ dở cuộc

Tướng bỏ thành, phá tượng, buông xe

Ta thân tốt chân trời góc bể

Buổi qua sông chăng hẹn ngày về.”

(Bài Tháng Tư- Huy Phương)

** Chúng tôi là những con Tốt trong bàn cờ, nay đã qua sông, khó còn có thể trở lại nơi mình đã xuất phát ra đi. Trong các môn cờ, có lẽ cờ tướng là món cờ thanh lịch, phong lưu và phổ thông trong dân gian nhất. Không thanh lịch, phong lưu sao chúng ta thường thấy cảnh hai ông tiên, râu dải, tóc bạc phơ ngôi đánh cờ trong chuyện cổ tích hay trên hòn giả sơn, bên dòng suối chảy róc rách trong một khung cảnh thần tiên. Chuyện cổ có kể hai ông Nam Tào Bắc Đầu vì mãi dánh cờ trên ngọn Nam Sơn, bị chàng trai tên Triệu Nhan phục dâng rượu thịt mà phải sữa sổ tử, thập cứu (19) thành cửu thập cứu (99). Không bình dân sao người ta bày bàn cờ nơi công viên, trong tiệm hớt tóc hay ở quán cả phê để đấu trí mỗi ngày quên cả giờ giấc, ăn uống. Ngày xưa ít nghe ai nói dến cở tướng là môn cờ bạc. ăn thua bằng tiền, cũng không ai xếp môn đánh cờ vào chuyện đỏ đen, nhưng ngày nay khi cờ tướng dã đi vào quán rượu, ra ngoài công viên, đôi khi trở thành môn chơi sát phạt nhau bằng tiền, hết còn là thú vui tao nhã.

Đàn ông, con trai ngày lrước hầu như ai cũng biết đánh cờ tướng, đó là một trong bốn món phong lưu tài tử: cầm-kỳ- thi- tửu. Nếu bất tài không biết đàn địch. làm thơ thì nam nhi, tệ lắm, cũng phải biết uống rượu và đánh cờ. Cờ tướng không chỉ là một môn tiêu khiển thuần túy, nhưng là cả một nghệ thuật. mà người chơi phải “đau đầu” vì vận dụng trí não. Chuyện đánh cờ đã đi vào đời sống của dân gian, nên Việt Nam có nhiều thành ngữ dính dáng đến việc cờ, ứng dụng vào sinh hoạt của chúng ta, nào là “lật ngược thế cờ”, “con tốt thí”, “mách nước”, “chưa sạch nước cản”, “chầu rìa” … Nhưng cờ tướng phát xuất từ đâu, lịch sử nó ra sao? Có hai giả thuyết chính về nguồn gốc cờ tướng:

1. Cờ tướng do cờ Lục Bác phát triển mà thành. Cờ Lục Bác du nhập vào Ấn độ, phát triển thành Saturanga. Saturanga sao đó lại du nhập ngược vào Trung quốc, kết hợp với cờ tướng đang có để trở thành cờ tướng ngày nay:

2. Cờ tướng là do Saturanga, một phát minh của người Ấn độ, du nhập vào Trung quốc phát triển mà thành, không liên quan gì đến cờ Lục Bác. Theo các trang weh của Tầu thì cờ tướng đã có ở Trung quốc rất lâu trước khi người Ấn có Saturanga. Trong các tác phẩm tử thời Chiến quốc như “ Thuyết Uyển” và “Chiêu hồn-Sở từ” đã có nhắc đến cờ tướng (mà người Trung quốc vẫn gọi là Tượng kỳ)

Photo by Sơn râu

Cờ Để Thích.

Nhân gian có câu: “Rượu Lưu Linh, Cờ Đế Thích” và Đế Thích được coi như Vua Cờ. Theo nhiều sách vở, thì Đế Thích là một vị Tiên, nổi tiếng uống rượu và đánh cờ không ai bì kịp. Có nguồn thì cho rằng trong thần thoại Ấn Độ thì Đế Thích là Indra, một vị Thiên Đế trợ thủ Đức Phật Thích Ca sơ sinh, là bậc Vua Cờ.

Ở Việt Nam, xưa kia, tại làng Mộ Trạch, Huyện Đường An, tỉnh Hài Dương, có một người tên là Vũ Huyến. Khi mới sinh ra, ở giữa trán, nổi lên một nốt đỏ, trông hình như quân cờ. Lúc bé có chí khí ngang tàng, khi 15 tuổi, học được phép tiên, đánh cờ rất cao, trong nước không ai địch nổi.

Đánh cờ: chuyện không đơn giản!

Đánh cờ là một thú giải trí tao nhã nhưng đầy mưu lược và mỗi người điều khiển quân cờ phải vận dụng trí óc, mưu mô, đấu trí gay go để chiến thắng. Người đánh cờ khi ngồi vào bàn, không khỏi để lộ bản tính (mưu lược, háo thắng, nóng náy hay trầm tĩnh, lạnh lùng), nên nhiều bàn cờ đã trở thành chuyện đấu đá tay chân.

Kỵ nhất là những ông “ăn không ngồi rồi” chuyên đứng ngoài mách nước, là diều xấu nhất mà không người đánh cờ nào thích. Nhiều người đánh cờ khi ăn được một con xe hay pháo xong. “liều nhân đắc chí” rung đùi cười khanh khách, thế nào cũng có ngày bị bàn cờ gỗ đánh lên đầu. Người đánh cờ lịch sự phải từ tốn, khi loại được một con cở đối thủ, nhẹ nhàng dời con cờ địch ra khỏi bàn, chứ không lấy cờ mình gõ mạnh lên đầu con cờ đối thủ một cách thô lổ.

Khởi đầu, tuy chúng ta đã biết “chậm một nước cờ” có thể đem đến thất bại, nhưng vào bàn cờ, nguyên tắc cùng sự tao nhã, chúng ta phải:

– Nhường người nhỏ tuổi đi trước

– Người cấp bậc, chức tước nhỏ đi trước

– Nhường khách đi trước (tiên khách hậu chủ)

Về luật cờ có quy định:

– Mỗi lượt suy nghĩ để đi con cờ là 120 giây (như vậy là quá lâu, một bản cờ đôi khi kéo dài cả vài tiếng đồng hồ!)

– Hạ thủ bất hoàn (ăn con cờ của đối thủ rồi không dược trả lại để hoàn nước đi.)

– Chỉ cho dùng 6 nước liên tiếp cho một quân cờ. 12 nước liên tiếp cho hai quân, 18 nước liên tiếp cho ba quân.

– Bị xử thua khi vị phạm luật chiếu và đuổi. khi để lâu không đi cờ của mình (quá 120 giây), khi thoát khỏi trận đấu một cách đột ngột.

– Xử hòa khi hai bên đều đồng ý ngưng cuộc “cầu hòa”, dây dưa 6 nước liên tục, hay sau 300 lượt đi mà chưa phân thắng bại.

Để xếp loại người chơi cờ theo trình độ, theo sách vở, gồm có tổng cộng 7 cấp độ, từ thấp lên cao:

– Nhập môn,-Tập sự,- Tân thủ,- Kỳ thủ,-Kỳ nhân, – Kỳ vương, – Kỳ tiên

Bàn cờ: trận địa.

Bàn cờ tướng chính là trận địa mà hai quốc gia đang dàn trận, quân cờ hai bên, tượng trưng có:

*Tướng (Vua hay tổng Thống),

*Sĩ (Bộ Tham Mưu).

*Tượng (Liên Bình Phòng Vệ Tổng Thống Phủ)

*Xe- Mã (Ky Binh, Thiết Giáp).

*Pháo (Pháo binh), và

*Tốt (Khinh Binh).

Một bàn cờ tướng mỗi bên 16 quân gồm một Tướng, hai Sĩ, hai Tượng, hai Xe, hai Pháo, hai Mã và năm Tốt, nhưng dã tạo nên hằng trăm nghìn thế cờ, không thế nào giống thế nào. “Sạch nước cản” là bước đầu tiên của người đánh cờ, cho nên người ta chê người không biết đánh cờ là “chưa sạch nước cản”. Tướng tá dở đôi khi cũng thất bại vì không có tài điều quân, để gặp những sai lầm rất cơ bản, làm tổn thất bao nhiêu nhân mạng binh sĩ.

Một vài nguyên tắc căn bản như “mã nhật, tượng điền, xe liền, pháo cách”, tướng không dược xuất cung. Để bảo vệ Tướng. Sĩ chỉ được đi chéo trong cung. Tốt là loại khinh binh thiệt thòi nhất, không bao giờ được lùi, trước khi sang sông, chỉ cắm đầu tiến tới, “thi hành trước, khiếu nại sau”, qua đến đất địch rồi mới được đi ngang nhưng không thể đi lùi. Người dánh cờ chính là vị Tổng Tư Lệnh Mặt Trận, chỉ huy quân sĩ, dàn mặt trận, bố trí phòng thủ, hay triển khai thế tiến công, biết địch tình, chiến lược của địch, tiến thoái tùy theo mưu tri của người cầm quân. Người dánh cờ cũng như Tướng cầm quân, phải đủ kinh nghiệm chiến trường, trầm tĩnh, nhẫn nại không háo thắng (ăn quân nhiều) để sơ hở (bị phục kích). Có người mạnh về phòng thủ, nhưng cũng có người sở trường về tiến công, không khác gì một trận túc cầu hay một trận địa chiến giữa hai quốc gia. Trong thế cờ, cũng có phục kích, truy cản địch, lừa địch tạo những thế cờ làm cho địch quân khó cứu gỡ. Người cao cờ di dịch một quân cờ phải tính trước năm mười nước, kẻ bị động chống đỡ thụ dộng chỉ chống dỡ từng nước một. Chống đỡ hay tính loán một nước cờ chỉ mới là “chiến thuật”.

Người đánh cừ nghĩ trước năm bảy nước như tướng cầm quản ngoài trận chiến, mới dược gọi là tướng “chiến

lược”. Có người đánh thí quân (đánh biển người) để dành vài con cờ chủ lực. dể tấn công vào phút chót, gài phía địch vào một thế khó lòng gỡ ra. Người la dùng chữ “thiên hình vạn trạng” để nói về những thế cờ trên bàn cờ tướng.

· Sách dạy đảnh cờ cũng như binh thư cho tướng lãnh ngoài mặt trận. Các nguyên tắc chiến lược sau đây cần tôn trọng:

1. Phải nhanh chóng triển khai toàn bộ quân chủ lực . Quân chù lực Xe, Pháo và Mã của cả hai cánh phải được huy động nhanh chóng tiến chiếm lấy những mục tiêu thuận lợi, án ngữ chận bước tiến của đối phương hay dể che chở hỗ tương chiến đấu,

2. Phải hình thành một thế bố trí quân linh hoạt. Phải sử dụng hợp lý các nước đi Tốt và Sĩ, Tượng để không làm cản trờ cho việc phòng thủ từ hai cánh của xe. Vai trò tốt đầu rất quan trọng, vừa giữ vai trò phòng thủ vừa tấn công.

4. Trong lúc mới ra quân không nên sử dụng một quân đi nhiều lần, trong lúc để các quân khác án bình bất động nếu đối phương ra quân đầy đủ để tiến tấn công, sẽ không có lực lượng để đối phó kịp thời.

5. Khi chưa triển khai đủ lực lượng thì không nên vội tấn công

6. Không nên tham lợi nhỏ mà hư việc lớn, bị vào bẩy (phục kích) làm tiêu hao lực lượng.

7. Phải tránh tình trạng bố trí lực lượng cản trở đường đi của quân nhà.

Một vài điều trong binh pháp Tôn Tử áp dụng cho cờ tướng:

– Tấn công vào chỗ địch không phòng bị. ra quân khi địch không chú ý.

– Lấy cái lợi mà dụ địch

– Làm cho đối phương rối loạn để giành lấy chủ động.

– Tuyệt đối không cho địch rõ đường đi nước bước (chiến thuật, điều quân) của chúng ta.

– Khiêm tốn làm cho địch kiệu ngạo chủ quan.

Tàn cuộc cờ.

Cuối cùng phe địch được một nước “chiếu Tướng” cũng như công hãm được nội cung, Tướng bị tấn công phải dùng Bộ Tham Mưu và Lực Lượng Phòng Vệ “Sĩ-Tượng” để bảo vệ cho mình. Khi Lực Lượng Phòng Vệ tan tác, để Pháo địch rót trúng. Thiết giáp. Kỵ Binh cùng khinh binh địch tràn vào thành, thì Tướng ắt nguy cơ (tốt nhập cung, Tướng khốn củng).

Theo nguyên tắc của cờ tướng, một cách quân tử, không được chiếu hậu, nghĩa là không được chiếu tướng từ phía sau, nhưng cũng nhiều ván cờ chấp nhận chuyện đánh bọc hậu. Trong chiến tranh, đánh bọc hậu (nhảy dủ hay thả biệt kích vào hậu tuyến của địch bất ngờ thì tướng phải khốn nguy, trở tay không kịp).

Sĩ Tượng không được ra khỏi thành, lực lượng phòng vệ và hộ tham mưmu phải theo sát để bảo vệ nguyên thủ quốc gia. Nguyên thủ quốc gia (tượng trưng là con Tướng) phải ở hậu cung, nếu lên trực thăng bỏ thành bay đi thì ván cở coi như tàn cuộc, quốc gia tan nát. Khi hết nước đi, cờ không còn quân, chiến trường tan hoang, không phân thằng bại thì hai bên công nhận thủ huề (ký hòa ước,) hay nếu một bên bí nước, quân bị tàn sát gần hết, vộ phương cứu chữa thì xin chịu thua (đầu hàng.)

Dã sử về chuyện dánh cờ.

Ngày xưa, dười đời vua Trần Dụ Tôn (1311-1369) nước ta đang ở trong thời kỳ bị nước Tàu dòm ngó muốn xâm lăng. Vua Tàu sai sử giả sang nước ta để thách đố đánh cờ với vua Dụ Tôn. Vua Dụ Tôn là một tay cờ dỡ nên trong lòng rất lo ngại. Quần thần hiến kế cử người đi tìm người cao cờ dế giải quyết chuyện đấu cờ với sứ Tàu. Khi ấy ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An có ông Vũ Huyến là một hảo thủ tượng kỳ. Ông Vũ Huyến vào yết kiến vua, cam đoan giúp nhà vua thắng sứ Tàu, nhưng cuộc cờ phải bắt đầu vào đúng ngọ và xin nhà vua cho Vũ Huyến được đóng vai lính hầu che lọng trong khi hai bên đấu cờ. Lọng Vũ Huyền che cho nhà Vua đã dùi thúng một lổ để ánh sảng mặt trời lọt qua chiếu thẳng xuống bàn cờ. Vua cứ theo tia nắng đó mà đi cờ nên đã thắng sú giá Trung Hoa. Nhờ sự thắng cở này, Trung Hoa cho nhà vua là người tài giỏi và không dám gây cuộc binh đao với nước ta nữa. Cầu chuyện này chẳng hay ho gì, cũng chẳng phải là mưu lược, mà chỉ là mưu chước xảo quyệt, gian lận, tiêu lòn của kẻ yếu, vì chơi như vậy là ăn gian!

Thơ về cờ tướng.

Nội về cở tướng, bài thơ hay và nồi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là bải “Vịnh Cuộc Cờ Người” của Hồ Xuân Hương. Cũng như những bài vịnh Cái Quạt. Hang Cắc Cớ. Vịnh Trải Mít … , bài thơ này dược hiểu theo hai nghĩa:

“Chàng với thiếp đêm khủya trằn trợc,

Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người.

Hẹn rằng đấu trí mà chơi,

Cấm ngoại thuý không ai được biết.

Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,

Để đôi ta quyết liệt một phen.

Quân thiếp trắng, quân chàng đen,

Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa.

Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa,

Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.

Hai xe hà, chàng gác hai bên,

Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.

Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,

Đem tốt đầu dú dí vô cung.

Thiếp đang mắc mước xe lồng.

Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.

Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu

Thua thì thua quyết níu lấy con.

Khi vui nước nước non non.

Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.”

Hồ Xuân Hương ởm ờ với những câu như” đem tốt đầu dú dí vô cung” hay” nước pháo đã nổ đùng ra chiếu” là những câu tuyệt tác, ví von chính xác, hiểu thế nào cũng xong.

Cờ Người.

Ở đây chúng ta không nhắc đến chuyện đánh “Cờ Người” của Hồ Xuân Hương, mà nói chuyện dùng người thật, thay quân cờ hai bên, dàn trận trên sân rộng, vẽ hình bàn cờ để giao đấu cho mọi người tham dự cùng xem. Quân cờ là những nam nữ trẻ tuổi, ăn mặc đẹp. Tướng đội mũ tướng, soái, mặc triều phục chân đi hài thêu, có lọng che. Sĩ đội mũ cánh chuồn (quan văn). Mỗi người trong đội cờ cầm một chiếc trượng phía trên có gắn biểu tượng quân cờ được chạm trổ tinh xảo, áo được vẽ hình quân cờ trước ngực và sau lưng. Hai dội cờ ăn mặc khác mầu xanh đỏ hay tím vàng.

Sau khi quân cờ đã vào các vị trí, hai đấu thủ cờ mặc áo dài. khăn xếp xuất hiện để được giới thiệu danh tính. mỗi người cẩm một cây cờ duôi nheo ngũ sắc nhỏ để chỉ huy trận đánh. Quân hai bên tiến thoái, ngang dọc theo lệnh của người đánh cờ và được hô to trong máy khuếch âm. Ngoài ra một bản cờ lớn cũng được treo lên gần dó, móc những quân cờ hai phe dang quần thảo, để mọi người có thể theo dõi “trận chiến” một cách dễ dàng.

Đánh cờ để giết thời giờ.

Một ván cờ có thể kết thúc trong vòng mươi phút khi hai lực lượng (người đánh cờ) không tương xứng, nhưng một ván cờ hay có thể dằng dai, kéo dài vài tiếng đồng hồ, cho nên đánh cờ lướng là một cách giết thời giờ tốt nhất. Ở trong các trại tù lập trung sau 1975, những ngày nghỉ chúng tôi không có sách dể đọc, không có nhạc để nghe, đành dùng bản cờ giấy, cưa củi gỗ vẽ quân cờ để “giao chiến” cho hết khoảng thời gian vô vọng, gọi là “đánh cờ chờ giờ cơm.”

Đánh cờ tướng nhiều nhất là người Tàu và người Việt. Ở trong nước tại các công viên tại các thành phố lớn như Los Angeles. San Francisco đều có những nhóm người Hoa tụ tập đánh cờ. Người Việt hải ngoại ờ  California thì vô những khu vực đấu cờ như sân Phước Lộc Thọ (Nam) và Lion Plaza (Bắc).

Ván cờ dỡ cuộc.

Nhiều người cho rằng chiến tranh Việt Nam là một ván cừ “dỡ cuộc,” trong khi quân cờ của miền Nam xem như nguyên vẹn nhưng Tướng, Sĩ dã xuất cung, để bàn cờ nghiêng ngữa. Trong lịch sử cờ tướng chưa có ai cho thay Tướng nửa chừng. Cuối cùng, khi Xe, Mã và bọn Tốt của đối phương dã “dú dí” vô cung, “chiếu Tướng” chúng ta đành thua cuộc.

Chúng tội là những con Tốt trong bàn cờ, nay đã qua sông, khó còn có thể trở lại nơi mình đã xuất phát ra đi.

Ao nước lã

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 4 May 2026

“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”- Ngạn ngữ. 

1. 

Trước đây tôi là lính tác chiến. Cấp bậc cuối cùng: Đại úy. Tôi ở tù thiếu hai tháng là đủ bảy năm. Giờ này tôi là thường dân, nghề nghiệp không nhất định và sống một mình chẳng thân thiết với ai. Ông nói sao? Gia đình? Ba Má tôi mất sớm, tôi có hai đứa em, một gái một trai. Lập gia đình chưa? Tôi? Không phải đùa chứ những câu hỏi của ông làm tôi nhớ tới mấy tay cán bộ quá. Nghiêm chỉnh trả lời, thành thật báo cáo với ông là tôi đã lập gia đình rồi. Theo ông thì đời người nên lập gia đình bao nhiêu lần thì vừa đủ? Tôi giỡn chơi đó. Ông nhìn tôi là biết được cái vô sản mà tôi đang có, kể cả sức lực. Tóc tôi đã bạc quá nửa đầu và khi soi mặt xuống suối nước, tôi nghĩ đời mình nên lật qua một trang khác, ở cái trang mà phía dưới cùng có in chữ “Chung”. Tôi không bi quan, nếu bi quan tôi đã chết trong tù rồi. Một người sắp chết, những lời trăn trối của hắn ta dĩ nhiên phải thành thật, đúng không? Ông đã từng chứng kiến cảnh người bị xử bắn ngoài pháp trường chưa? Họ nhét giẻ vào mồm con vật khốn nạn kia bởi vì họ sợ những tay súng đang nhắm vào mục tiêu sẽ run lên khi nghe phải một sự thật từ phía nạn nhân kêu gào lần cuối. Không cần phải dõng dạc hoan hô phía này, đả đảo phía nọ, hắn ta chỉ than: “Em ơi!”. Có vậy thôi. Ông tưởng tượng đi, nghe có nát lòng không?

 Vợ tôi? Ông nóng lòng muốn biết? Thôi thì cũng nên kể ra, một lần cho nguôi ngoai. Xin thưa cùng ông là cô ấy nhỏ thua tôi sáu tuổi. Chúng tôi lấy nhau năm 74, khi ấy cô vừa ra trường và được bổ nhiệm dạy môn Vạn vật ở ngôi trường trung học nằm ngoài thành phố. Cho dù ông là kẻ có trí nhớ tồi tệ cách mấy hẳn ông cũng chẳng quên được năm 75. Phải thế không? Chúng tôi như hai diễn viên trong rạp xiếc đang đèo nhau đi trên giây mà không biết. Ngắn ngủi quá những tràng pháo tay. Chưa tới một năm. Sao kỳ vậy? Những lời chúc trăm năm hạnh phúc tuy là có gian dối thật nhưng tệ lắm nó phải kéo lê được một đoạn dài hơn là ba trăm hai mươi chín ngày chứ? Tôi có ngớ ngẩn không? Có ích kỷ không trong khi mọi người mặt cắt chẳng còn hột máu? Tan hàng. Đứt phim. Vợ tôi khóc. Chúng tôi tự lừa dối nhau để trấn an. Học tập đâu có lâu lắc gì, còn ngắn ngày hơn thời gian huấn luyện ở quân trường. Thôi về đi, anh đi… Và tôi đi, lầm lủi đi, câm lặng đi, bịt mắt mà đi. Đi lao lung, đi xuống từng bậc cấp của địa ngục… Ông xem phim “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” chưa? Ông thấy tên tài tử Anthony Quin khóc chưa? Đoàn tù tôi có nhiều đứa khóc còn “tới” hơn thế nhiều. Ông đừng nói là đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất nhé. Phản động đấy! Nước mắt có phải là lệ thủy không? Trời ơi! Chữ mút mùa lệ thủy sao mà đầy tính sang tạo thế! Sáng tạo và oan nghiệt…

 Thăm nuôi à? Có chứ. Cô ấy đi cả chục lần, tôi đoán vậy, nhưng chỉ chính thức gặp mặt nhau có hai lần. Một ở Hàm-tân, một ở tuốt ngoài Bắc. Ông hiểu cho, một cô gái thị thành, một cô giáo sư lớp đệ Lục mà phải thân cò lặn lội như vậy thì hết nước! Tôi đang mang thân tù tội mà khi nhìn cô ta, tôi lại có cảm tưởng ngược lại. Ai đày đọa ai đây? Lòng tôi tan hoang và miệng tôi như có ai khóa cứng, niềng lại… Thôi, tôi không nên nói nhiều. Tôi nghĩ là ông đã nghe nhàm quá rồi những trường hợp, những hoàn cảnh na ná như vậy. Nụ cười của Mona Lisa ai cũng khen đẹp khiến tôi nhìn riết thấy xấu. Tôi kể chuyện buồn của cá nhân tôi biết đâu lại mang tội với anh em, những người mà nỗi đau của họ viết tới ngàn trang cũng chưa đủ chạm đáy. Ông bảo sao? Vợ tôi giờ này ở đâu? Huế Nha-trang Đà-lạt Sài-gòn Cần-thơ… Ở đâu đó, tôi không biết đích xác. Tôi ra tù và chưa hề nghe thấy tin tức… Tình người? Có phải ông vừa nói tới hai chữ ấy? Ông hiểu gì về tình người? Để tôi kể cho ông nghe một hoạt cảnh. Ở ngoài Bắc về, đoàn tù chúng tôi là những con mắm chất vào mấy toa tàu nêm cứng. Tàu Thống nhất chạy chậm khi vào ga Truồi. Bình minh, ánh sáng chiếu từng đường sọc qua những khe hở. Trái với ma cà rồng, những khe sáng đó rất cần thiết đối với bọn tôi. Ngoài kia, sương đọng trên cỏ, ướt lai láng trên những bẹ lá chuối. Dọc theo một mô đất uốn lượn, tôi thấy có đôi nam nữ đi sánh vai nhau. Họ đang trò chuyện, trao đổi điều gì đó mà hai tay luôn vung vẫy để diễn tả thêm. Hình như họ là công nhân đang trên đường tới chỗ lao động. Họ ngước nhìn tới con tàu và bỗng chốc cả hai đồng loạt đứng sửng người lại. Ông đoán thử họ phát hiện được điều gì nghiêm trọng để khiến họ chùn bước? Không quá một phút cả hai đều đổ xô chạy hối hả tới sát bên toa tàu, họ vội vàng mở toang túi xách ra và bao nhiêu lương thực chứa trong đó thảy đều biến thành vũ lượng hải hà rơi vung vãi tới phía bọn tôi. Nắng sớm mai vỡ sáng trên gương mặt hân hoan của họ, đi đường viền hào quang trên thân thể họ, trên bộ áo quần có nhiều miếng vải vá. Và thú thật với ông, suốt cả cuộc đời tôi, chưa bao giờ tôi thấy có đôi nhân tình nào mang nét đẹp lạ thường như họ cả. Họ đói bụng trưa hôm ấy, năng suất lao động sẽ kém đi, nhưng ngược lại lòng họ no nê một thứ “thực phẩm” khác. Có đúng vậy không? Tình người. Chịu. Tôi không lý giải được. Tôi cảm thấy đau khổ, cảm thấy mình là đứa có tội và tôi bị hình ảnh của đôi nhân tình nọ dằn vặt suốt cả lộ trình xuôi về quê cũ.

 2.

Tôi tên An. Ông thấy đầu con hẻm kia có hàng chữ viết lên tường vôi không? Cái chỗ ấy luôn hôi khai và chữ cấm đái dường như càng lúc càng nhạt nhòa. Ba Má nào mà không thương con, họ đặt tên tôi và cầu mong mai này tôi hưởng được một cuộc sống an lành. Họ giống như chủ nhân căn nhà đầu ngõ, cắm cúi viết chữ cấm đái và hậu quả thì lại bất ưng. Mà có phải đêm tối gì cho cam, có buổi trưa tôi thấy một ông nội vừa huýt gió vừa uốn éo người để dùng cái vòi kia vẽ rồng vẽ rắn lên tường. Tôi là đàn bà, lý ra thằng chả phải biết mắc cỡ mà vội thu cái vật khó nhìn ấy đi ngay. A, không. Chả còn quay tới hướng tôi để mong cho tôi ngó thấy. Vậy đó, bây giờ người ta sống trân tráo và chữ liêm sĩ là gì, hỏi mấy đứa đang cắp sách đến trường xã hội chủ nghĩa chúng khó mà giải đáp cho vẹn toàn. Tôi nghĩ ông bà mình là những kẻ tiên tri đầy nhu nhược. Họ mơ mộng và sự kỳ vọng ấy cứ tiếp tục kế thừa cho đến giờ này. Không gián đoạn, chẳng ngơi nghỉ. Ở mấy nước Tây phương có ai đặt tên cho con bằng những chữ được tra cứu cẩn thận trong từ điển không? Hôm kia, con bạn tôi vừa đẻ thêm đứa thứ hai. Đứa đầu con trai, mang tên kẻ cựu thù: Nguyễn Mỹ Quốc. Nó bảo là tao ước ao sớm qua được bên nước Mỹ đoàn tụ với Bố mẹ. Lần này thì con gái, cháu có tên Nguyễn thị Hòa Bình. Ô hay, con này khéo đùa, đất nước ta chưa thật sự hòa bình hay sao?

 Ông nói gì? Tôi có con chớ. Tại sao không? Cháu đã được tám tuổi rồi. Tôi đặt tên cho nó là Vô Úy. Ông hiểu nghĩa chữ đó không? Chẳng có úy với tá tướng gì ráo, chỉ toàn một đoàn tù mà người này giống người kia như hai giọt nước. Ông bỏ qua nhé, tôi chỉ khôi hài đen thôi. Ông bảo sao? Phải, trước đây tôi từng là giáo sư trung học đệ nhất cấp, không phải dạy môn Việt văn đâu, tôi dạy Vạn vật. Nhưng mà tạm quên chuyện ấy đi, nói ra thêm hổ thẹn. Lý lịch một con mẹ bán bún bò ngồi đầu đường xó chợ như tôi đây mà có khi từng đứng trên bục để giảng dạy đám học trò đệ Lục thì nghe như chuyện thần thoại hoang đường. Giờ này tôi đã quên hết ráo sự cấu tạo của thân cây. Cái gì gọi là diệp lục tố. Tại sao cây luôn vươn mình về phía có ánh sáng? Vân vân và vân vân. Những thứ ấy nên quên đi là phải. Cái mà mình luôn trăn trở là tại sao nên ngồi ở ngã tư này thay vì đằng ngã ba kia. Vì sao mình cho thằng này thiếu nợ mà lại cạy mặt con mẹ kia ra. Phải tư duy động não nên biếu xén anh công an này điếu thuốc ba con 5, nên bỏ thêm nhiều thịt vào tô bún cho gã cán bộ nọ. Vậy đó. Quy luật sống của con người nó không giống như loài cỏ cây. Con người thì ưa chúi đầu về phiá bóng tối. Ông hiểu không? Những gì xẩy ra trong bóng tối cũng mang lại một kết quả như ý hơn là nó được diễn ra trần trụi dưới ánh sáng mặt trời. Trồng cây mười năm trồng người trăm năm. Đúng thế không? Khốn nạn thật! Nói ông tha lỗi cho, trồng làm gì cho chật đất. Ở xứ sở này họ đã từng bứng đi tận gốc rễ biết bao là tài năng…

 Ông ăn bún không? Tôi làm cho ông một tô hỉ? Mấy người ở trong xóm đằng kia luôn hoài nghi, chẳng biết dòng họ nhà tôi ba đời nấu bún hay tôi chỉ là tay nghiệp dư mới đổi đời. Có đứa lân la: Tui ngậm đắng nuốt cay đã lâu, nay ăn tô bún cô vào thấy giận hờn cuộc đời trôi đi đâu mất tiêu! Có nhiều cái ba xạo làm mình ghét, có những dối gạt làm mình mát lòng. Tỉ như những lời tán tỉnh của bọn đàn ông, biết tụi nó chẳng thật lòng mà sao con gái chóng chui đầu vào cạm bẫy thế! Ông đừng đùa, tôi làm gì có được ba thứ kinh nghiệm máu me đó. Tôi kể ông nghe chuyện này xem thử ông nghĩ sao về đàn bà con gái. Ngày xưa, có con mẹ đó lấy chồng đâu gần được một năm thì uyên ương gãy cánh. Ông chồng Đại úy họ còng đi học tập cải tạo mất đất. Con mẹ kia đầu tắt mặt tối giữa cái đời sống từ ngửa bị lật úp bất ngờ. Tôi không kể ông cũng biết là cái lon Đại úy của người chồng tác hại như thế nào trên đời sống mới của con mẹ kia. Nó bỏ thành phố cũ đi lưu lạc mười phương. Nó trốn kỷ niệm hay nó lánh phong ba thì cũng đồng một nghĩa. Đúng đắn hơn là nó phải tự bương chải để sống còn. Trôi nổi đâu được ba bốn năm như vậy, một hôm nó tình cờ gặp phải một thằng đàn ông. Lý ra tôi nên dông dài về cái nhân vật đặc biệt này cho ông rõ. Nhưng thôi, chỉ xin tạm vắn tắt ở đây những chi tiết quan trọng: Hắn ta là người đứng trong hàng ngũ phe chiến thắng. Hắn quen biết nhiều, có thế lực và lạ lùng thay khuôn mặt hắn mang những nét trùng hợp với ông chồng Đại úy. Đó có phải là lý do giản dị nhất để giải thích tại sao con mẹ này sớm gần gũi với tên đàn ông kia? Hay do bởi tên kia có biệt tài ăn nói? Hay do bởi một thiếu phụ xuân thì đã từ lâu quên bẵng mùi đàn ông? Con mẹ đáng thương đó có hai lần nổ lực đi thăm nuôi chồng. Tôi dùng chữ nổ lực là có hơi khiêm nhường. Ngày xa xưa, người ta lều chõng trèo đèo lội suối để về kinh thi Hương thi Hội quái qủy gì đó thì có thấm vào đâu so với đội ngũ đàn bà có chồng con tù tội ngày hôm nay. Chẳng có chi mang ra so sánh được cả. Rừng rú nếu có cọp beo thì chắc beo cọp kia cũng động lòng mà không nỡ giở thú tính ra để sát hại những kẻ bị trời đày nọ. Cuối cùng thì con mẹ kia vào gặp được chồng. Nói làm sao đủ phút giây đó? Thảm thương! Ông chồng thì thầm: Hãy quên anh đi, đừng tự đày đọa mình mà làm gì. Đừng cất công thất tha thất thểu lộn hồn lộn viá nữa, cố tìm một người đàn ông tử tế mà sống yên nửa đời còn lại… Họ có chính sách “nhân đạo” là dành ít thời gian cho những cặp vợ chồng được thỏa đáng chuyện xác thịt nhưng ông chồng Đại úy xem đó là hành động của bọn thú vật. “Mình đừng bôi mặt bôi mày diễn thêm những vở tuồng khôi hài cho bọn chúng xem”. Chấm hết. Con mẹ kia đi về, tả tơi trên sạn đạo xa ngái. Câu nói “xem như anh có lỗi với em và mong em tha thứ” chất đá trong lòng bả. Và sau này, sống với thằng đàn ông thứ hai, bả vơi mất dần những mặc cảm phạm tội. Bả tự tra vấn lấy mình để nghĩ rằng ở đời chẳng có gì toàn vẹn cả, nhất là tự dưng ông trời đã bù đắp cho bà một người đàn ông y hệt như ông chồng cũ. So với bạn bè cùng tham dự một trò chơi liều lĩnh, con mẹ đó tựa như một kẻ trúng số ở lô an ủi. Ngày qua tháng lại, bả có thai và bả đau chẻ người để sinh con. Mọi chuyện xẩy ra có vẻ bình thường, cho tới một hôm… cho tới một hôm… bả tình cờ biết được một sự thật điếng hồn. Ông còn nhớ chuyện kể về sự tích trầu cau không? Chuyện ra sao nhỉ, tôi đã khuấy quên những tình tiết. Hình như nó thảm sầu và nghiệt ngã quá lắm, phải không ông? Dẫn tới cái chết, đi vào kết thúc bằng biến thân thành cây này lá nọ và cục đá dị thường kia. Nói tới đá mới chợt nhớ ra, ông có biết là hiện nay ở đất nước giàu mạnh văn minh tiến bộ này đã thực sự biến mất vĩnh viễn cái gọi là “Hòn Vọng Phu”. Tụi làm nghề đục đá, đào đá, đẻo đá, bán đá đã ăn tươi nuốt sống nó rồi. Nó đã tiêu vong. Vọng phu, vọng phu. Buồn quá mạng! Ông nghĩ sao?

 Thôi, tôi thu dọn đồ đoàn để trở về kẻo thằng Vô Úy đợi, tội nghiệp. Giữa trần gian lớn rộng này đây tôi chỉ còn có mỗi mình nó. Nó cóc có sợ ai thì đó là điều tôi mãi mong. Nhưng tôi thì mãi sợ nó, mãi đợi chờ cái ngày nó sẽ tra khảo vặn vẹo: Má, má, chớ tiá tui đâu mà sao hổng thấy. Ổng còn sống hay ổng đã chết. Khai lý lịch thì nên để ổng ở về phiá nào, vàng hay đỏ?

3.

Tôi học ở Đại học Văn khoa Huế. Nghe bạn bè xúi bậy, bỏ tương lai, bỏ tuổi xuân, bỏ thành phố, theo mặt trận lên Trường sơn năm 68. Nhà tôi nghèo, cha mẹ mất sớm. Ông anh đầu là Sĩ quan của chế độ miền Nam. Bà chị kế lấy chồng lúc vừa đôi tám và hiện ở Mỹ, thủ đô tỵ nạn. Cơ quan tôi đang công tác là Ty thông tin văn hoá. Mấy năm gần đây tôi có viết vài ba cái truyện ngắn và đó là loạt truyện mà trên đánh giá chúng mang mầm phản động. Vì sao? Vì tôi thẳng ruột ngựa quá. Tôi không biết hư cấu, tôi dốt lòn lách. “Có sao nói dzậy người ơi” là thứ phương ngữ giết người. Xã hội ta không ưa những kẻ thật thà. Bộ mày tính bêu rếu chế độ à? Trắng mà nói cho ra đen, đó là tính ưu việt của nền văn hoá nước nhà, cứ an tâm đi dưới những tấm bảng chỉ đường của Đảng. Tôi sống rất chật vật, cũng may bà chị ở Mỹ còn đoái lòng ngó xuống, nghĩ tình ruột thịt để thương hại gửi tiền về “cứu trợ nạn lụt”. Bia đang uống này, thịt cá chất tươi đang cải thiện cuộc nhậu hôm nay cũng do mấy “đồng cứng” của bà chị tôi rãi mưa xuống sa mạc. Bia đổ vào mồm rồi, không nói phét được thì xin kể chuyện tiếu lâm mà nghe: “Có con nhím nọ cô đơn đi lang thang trong rừng, đang rượi buồn bất chợt ngó thấy có cái bàn chải thật lớn nằm lăn lóc xơ cứng bên triền cỏ mượt. Cậu ta mừng vui vô hạn, khẩn trương chạy tới để hồ hỡi leo vội lên trên. Loay hoay trèo lên trụt xuống một hồi liền đỏ mặt sau đó mà lí nhí: Chà, ở đời ai mà chẳng có khi nhầm tưởng!”

 Đang ngồi trước mặt ông hôm nay là một con nhím tua tủa những gai nhọn. Hắn nhầm lẫn đôi phen và lầm lỗi bộn lần. Làm hết chai bia này đi, lâu lắm rồi tôi chẳng có ai để thù tạc. Tôi đã sống một cuộc sống chẳng ra gì cả. Tôi vắt kiệt tuổi xanh của mình để đánh đổi những hoài nghi chẳng bao giờ đi đến cuối sự minh bạch. Tôi tự hỏi những diễn viên ở trên sân khấu khi chấm dứt vở tuồng, họ bước xuống lại đời thường họ sẽ đối xử với nhau ra sao? Họ có thật lòng với nhau hay cứ ngỡ đối phương đang đeo mặt nạ và điều đó buộc mình phải phòng thủ? Bia uống được quá phải không ông? Bia này thuộc loại xuất khẩu đấy. Nồng độ cao nhưng uống vào chẳng thấy đắng. Người ta bảo mật ngọt chết ruồi, bia không đắng dễ vật nguời ra. Ừ thì cũng đúng, nhưng chỉ phần nào thôi. Tôi biết quanh đây có những con ruồi chẳng bao giờ thấy đủ ngọt về cái hủ mật mà chúng đang chấm mút. Khi anh không chết vì bội thực dĩ nhiên cái bao tử anh cứ cảm thấy đói mãi. Tôi đang cưu mang nhiều ý tưởng để viết nên một cuốn truyện dài. Trong lúc này đây, tôi cho văn chương là một cứu cánh, là phương tiện. Nói một cách hồ đồ và kém thơ mộng, văn chương chính là cái thau hứng đầy mật đắng mỗi khi tôi nôn thốc tháo, hay chính nó là chung rượu lớn giúp tôi vùi đầu vào một cơn say? Tôi trả thù cuộc đời bằng chữ viết. Tôi làm bảng kiểm điểm tự khai bằng tiểu thuyết. Tôi chẳng cần độc giả, tôi ghi tên thật không dùng bút hiệu và tôi cầu mong cho anh chị tôi có dịp đọc lấy nó. Vậy là đủ. Ông nhớ cho điều này, có nhiều áng văn bất hủ mà khi ông này viết ra chỉ cốt gửi riêng mình bà kia đọc phải, thế thôi, chẳng nuôi mộng mị to lớn gì cả. Chẳng biết tôi có đủ sự tỉnh táo và can đảm viết nó ra mặt giấy không? Một cuốn tiểu thuyết đồi trụy, loạn luân… “âm mưu thâm độc do Mỹ ngụy cài lại”… Ôi! Sao cái đầu bỗng dưng nặng nề… Để đếm xem có bao nhiêu ngọn đèn… Ủa, nhậu đi chứ ông, đừng ái ngại là vách có tai, chúng tựa cá mè một lứa với chủ nhân, tất cả đều điếc đặc cả rồi, chúng lặng yên ở đó như đã từng, chẳng tội tình gì vác thân đi báo cáo cho ai kia. Trước đây tôi ghét câu nói “ác khẩu”: Cái cột điện nếu có chân cũng bỏ trốn. Giờ này ngẫm lại thấy thấm thiá. Địt mẹ mày, sao mày không bỏ ta mà đi, sao mày còn đứng đó dãi dầu nắng mưa? Mày chiếu làm gì thứ ánh sáng nhợt nhạt xuống mặt đường loang lỗ bóng tối và mày ngoan ngoãn để cho người ta tròng vào thân mày những khẩu hiệu vẽ vời chuyện giả tưởng…

 Người đàn ông đứng lên, những chai bia đồng loạt lăn quay trên chiếu lát. Hắn bước ra sân, chếnh choáng khi trạc quần đứng đái. Hắn cúi mặt nhìn xuống vũng nước sủi bọt. Đất nồng mùi. Hắn vác mặt ngó lên trời cao. Trời mùa hè, xứ nhiệt đới đầy sao không vẩn mây. Nóng rít rát, thăm thẳm đen. “Thiên địa ơi. Anh ơi. An ơi. Chớ tội tình chi mà tất cả chúng ta phải chịu đọa đày! Ngày xưa, giả như anh chiến thắng thì câu chuyện sẽ dẫn tới đâu? Có tốt đẹp hơn không? Còn An. Tại sao lại là An mà không vấp phải một người đàn bà nào khác? An hãy trở về cho tôi khấn đầu gọi là chị. Chị An ơi, chị hãy lộn lui và chính chị ra tay giải phóng em cho cốt truyện nó có hậu. Hãy cầm dao mà thiến đi cái vật dư thừa suốt đời mãi đeo lủng lẳng bên mình một thằng đàn ông hèn mạt. Thiến đi. Hãy chặt bỏ không nương tay những giây mơ rễ má luôn vướng viú để được thong dong, cho giản dị cuộc đời…”

 Hắn ngã vật xuống đất, nằm co quắp trên vũng nước đái đang ngấm rút mất dấu. Ở xứ sở này, đất quen thẩm thấu xương thịt, máu, nước mắt, nước đái và vô số những chất tạp nhạp khác. Đất hận thù. Đất đói khát.

 Hồ Đình Nghiêm

Anh Mười Ké

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 4 May 2026

Tranh Bảo Huân

Thú thiệt với bà con là trình độ học vấn của tui, nói theo kiểu trong nước bây giờ, rất là hạn chế. Chớ hồi xưa nói dễ hiểu hơn là tui học ít, là trình độ Bình dân học vụ. Mà tui học ít thiệt! Hết lớp 5, thi đậu bằng Tiểu học, biết đọc, biết viết là tui nghỉ. Vì Tía tui nói rằng: “Ðọc thông, viết thạo ở trường là đủ rồi. Con còn phải học hoài, học mãi, học đến rờ râu râu rụng, rờ rún rún rung rinh; con sẽ còn học ở trường đời. Ðó mới là cái học thực tế, mới là đáng kể. Còn bằng cử nhân, tiến sĩ chỉ là tờ giấy photocopy, chỉ cần điền tên vô là có ngay lập tức nên nước ta bây giờ có tới cả trăm ngàn Giáo sư Tiến sĩ.

Phần nhà mình có con trâu cày mà nó ốm o, gầy mòn quá! Vì không có đứa nào chăn dắt hay cắt cỏ đủ cho nó ăn. Thôi nghỉ học, về chăn trâu đi nhé! Sau nầy có cái gì không biết con cứ hỏi vợ con hoặc hỏi ‘Google’!

Thời đó chưa có máy vi tính, nhưng Tía tui thiệt là người thông tuệ, nhìn xuyên thấu cả tương lai nên đưa ra một lời khuyên rất chí lý cho tui.

Nhưng thân nam nhi chi chí; cái gì bí mà đi hỏi vợ hoài; tất có ngày sẽ bị nó khinh khi. “Ăn cái giống gì mà ngu như con bò tót thế hả anh?” Mất mặt bầu cua lắm đó! Vậy là ngộ biến phải tòng quyền, trước mặt em yêu tui giấu dốt bằng cách đi hỏi bạn nhậu của tui! Phần chữ cũng có câu rằng: “Học Thầy không tầy học bạn!”.  May mắn thay, tui có một anh bạn nhậu mà tui hằng ngả nón cúi đầu, tâm phục, khẩu phục, tôn xưng, kêu ảnh bằng sư phụ. Vì cái não của anh bự chà bá. ‘Memory’ của ảnh ít nhứt phải trên ‘64 bit’. Trên (tức cái đầu) ảnh thông Thiên văn. Dưới (tức cái mông) ảnh tường Ðịa lý. Chính giữa, (tức cái bụng) thì ảnh rành Sử ký.

Tên của ảnh là Tất Hữu Giang! Ðúng là cái tên tiền định như cái sông Tiền Ðường của Thúy Kiều vậy. Ảnh dịch Nôm, Tất Hữu Giang là ‘Tất Có Giang’. Gặp ai khét tiếng, có chức (xin đừng nói lái), có quyền, có danh, có phận là ảnh đòi có giang tất tần tật.

Cái chủ nghĩa ăn theo, cái thói dựa hơi, thấy sang bắt quàng làm họ nầy nó đang nở rộ như nấm gặp mưa rào trong và ngoài nước nên tụi tui đặt cho ảnh cái biệt danh là ‘Mười Ké’.

(Ké là ngồi chầu rìa ngoài sòng bài, thấy tụ nào đang lên, đang hên thì mình bỏ tiền theo tụ đó. Nó ăn bạc trăm thì mình ké theo ăn được bạc chục)

o O o

Tuần lễ rồi, đọc được cái tin nầy thấy cũng hay hay nhưng vẫn còn hồ nghi là thiên hạ nói dóc. Tui bèn mời Sư phụ Mười Ké đi nhậu để vấn ý, coi ảnh nghĩ thế nào?

“Nhà văn lừng danh Nguyễn Huy Thiệp hồi còn sinh tiền có rất nhiều bạn nối khố. Những người bạn thân thiết đó đã từng đèo ông trên xe đạp cà tàng. Ông Thiệp ngồi sau bọt-ba-ga, ôm eo ếch thiệt chặt cho khỏi té. Sau một khúc chạy ngoằn ngoèo hình chữ chi, hai người xuống xe, bá cổ quàng vai, anh một cốc, chú mầy một cốc ‘quốc lủi’ trên hè phố Hà Nội.

Nghe vậy, anh Mười Ké cười hé hé, phán rằng: “Tin tụi nó viết là chú ngây thơ. Ðó là những tên theo chủ nghĩa cơ hội ăn theo!” “Nghĩa là chúng thấy ông nào khét tiếng bỗng ngã lăn đùng ra chết; thì dù có quen biết hay không, cứ nhận đại là bạn nối khố của mình ngày xưa. Vì ổng đã chết nhăn răng, chết thẳng cẳng rồi thì đâu thể mở mồm ra mà đính chánh tới lui: “Nó là thằng nào? Tui có biết nó đâu! Ðừng cho nó mượn cắc nào nhe mấy cha! Coi chừng bị gạt!”

Cái sách thấy sang bắt quàng làm họ là sách của tui. Chính vì thế tui mới có cái tên Mười Ké đó chớ. Nhưng nói thiệt với chú em là cái đám lòng tong cá chốt, nhân cơ hội để ăn theo nầy không kể số gì so với thằng Tèo Ðía, người bạn chí cốt làm chung sở với Mười Ké nầy đâu.

“Tèo là một nhân viên siêng năng, giỏi giắn, hòa đồng và tốt bụng, nhưng Tèo luôn làm lơ tất cả các cuộc họp mặt ăn nhậu mừng công của công ty.

Cuối cùng, Sếp gọi Tèo đến yêu cầu giải thích lý do tại sao Tèo không thể chan hòa với những người cùng phận ‘cu-li’ như mình?

“Xin lỗi Sếp” Tèo nói: “Tại tui rất bận rộn với tất cả những người bạn nổi tiếng của tui. Rồi ở nhà, tui còn thay tã cho con, giặt đồ, rửa chén cho vợ thì tại sao tui lại phải bỏ thời giờ vàng ngọc còn ít ỏi của mình ra để gặp những người không nổi tiếng chớ?”

Nghe vậy, vẻ chế nhạo, Sếp hỏi: “Là cu-li làm sao chú mầy quen được với ai nổi tiếng?”

Tèo nhún vai: “Sếp không tin thì cứ kể đại một tên đi. Tui cá với Sếp là tui sẽ quen người đó”

Sếp của Tèo, một cách vô tội vạ, nêu ra một cái tên, “OK! Tèo! ‘Mít tơ’ Ðàm?”

Tèo Ðía nhếch mép. “Ồ vâng! Thưa Sếp, ‘Mít tơ’ Ðàm đã từng làm chung một tiệm hớt tóc với tui. Tui chuyên cạo mặt; còn nó chuyên lấy ráy tai cho khách. Tui có thể chứng minh với Sếp điều đó!”

Vì vậy, từ Hà Nội, cả hai bay vô Sài Gòn và gõ cửa biệt thự triệu đô của ‘Mít tơ’ Ðàm. “Tèo! Rồng đến nhà tôm! Rất vui được gặp lại bồ! Vô nhà, tụi mình lai rai vài chai bia Sài Gòn xanh đi!”

Dù rất ấn tượng nhưng Sếp của Tèo vẫn tỏ ra nghi ngờ, Sếp nghĩ rằng Tèo biết được ‘Mít tơ’ Ðàm chẳng qua là do ngẫu nhiên, may mắn.

“Không, không dám may mắn đâu! Sếp chỉ cần nêu thêm một tên của bất kỳ ai khác”

“Người đẹp nội y xóm rẫy Vĩnh Bình!”

“Nội y là quần lót. Tui biết chớ sao không? Tui đã từng với em đi gánh nước đêm trăng cạnh đình làng. Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài; dè đâu giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây. Lâu rồi nhưng trái tim của tui vẫn còn rỉ máu đây nè!”

“Ðía vừa vừa thôi cha nội! Da em trắng như sữa tươi, còn chú mầy mặt nám da nhăn! Ðỉa mà đòi đeo chưn hạc!” “Sếp không tin hả thì mình ghé Quận Chín thăm em chút đi!”

Bấm chuông cái biệt thự bành ky nái. Chờ một hồi không thấy ai ra mở cửa nên Sếp cười khẩy: “Té ra chú mầy chỉ có cái ba đía là ăn trùm thiên hạ”. Nào ngờ ngay lúc đó một chiếc xe Huê Kỳ ngừng nghe cái kịt. Hoa hậu xóm rẫy run lẩy bẩy bước ra, khóc tấm tức: “Trời ơi! Tèo ơi! Bấy lâu nay anh phiêu dạt phương nào? Em đăng báo tìm trẻ lạc mà hổng có ăn thua! Em đang buồn vì bọn đạo chích mới nhập nha, khoắng của em bộ sưu tập đồng hồ 13 tỷ. Nào ngờ lúc tang gia bối rối như thế nầy người xưa lại hiện về như mộng mị. Thôi vô nhà đi, em nấu bún mắm Vĩnh Bình cho anh ăn để khuây khỏa bớt nỗi nhớ thương em? Còn đây là ông nào? Anh kêu ổng đi chỗ khác chơi đi. Em muốn chỉ hai đứa mình đêm nay thôi nhé?”

Tèo thoái thác bữa nay anh hơi bận! Phần đâu bỏ Sếp của anh cho được nè. Ðể tuần tới huỡn, anh sẽ ghé rồi đôi ta mặc tình mà tâm sự”.

Sếp bây giờ cũng hơi ngán ngán Tèo rồi. Nhưng nghĩ những nhân vật đình đám trong giới ‘showbiz’ nầy là đồ lô-can không đáng kể!

“Sếp còn chưa tin hả! Cho thêm tên một ai khác đi! Ðồ ngoại cũng được!” “Kim Chính Ân!” Tèo nói: “Tui biết Kim Chính Ân trong nhiều năm lúc còn ở Thụy Sĩ.”

Ðể chứng minh Tèo không bố lếu, bố láo, cả hai bay đến Bình Nhưỡng. Kim Chính Ân đang đứng trên lễ đài chứng kiến quân đội CS Bắc Hàn với hỏa tiễn tầm xa rầm rộ duyệt binh qua Quảng trường Kim Nhựt Thành.

Sếp nghĩ: Lần này Tèo sẽ không thành công. Nó không thể lọt vào mắt của lãnh tụ CS Bắc Hàn cho được!

Nhưng nửa giờ sau, Tèo xuất hiện với Kim Chính Ân trên lễ đài. Lúc Tèo quay lại mới hay rằng Sếp của mình lên cơn nhồi máu cơ tim đang được các nhân viên cấp cứu vây quanh.

“Chuyện gì đã xảy ra?” Sếp của Tèo nhìn lên và nói: “Khi chú mầy xuất hiện trên lễ đài thì một ông đứng bên cạnh tớ hỏi: “Thằng mập như con heo đó là thằng nào mà nó lại đứng bên cạnh ông Tèo vậy chú?!”

Chôn đi quá khứ

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 4 May 2026

Thôi quá khứ từ nay xin vùi lấp

Bước chân hoang không vướng bụi trần

Buổi chiều trên bến cảng Hamburg đã bớt ồn ào náo động. Nhiều chiếc tàu buôn đã nằm yên bên kè đá và những chiếc đò dọc chạy dưới dòng sông cũng thưa thớt khách du hành. Một gã đàn ông trạc năm mươi tuổi bước thong thả từ dưới bến cảng lên con đường lót gạch hướng về đường hầm xuyên qua sông Elbe. Một người đàn bà đứng ở đầu đường hầm, tóc chấm vai, mặt không phấn, môi không son, thân hình tròn trịa, dốc dáng thấp và gọn gàng trong chiếc áo lạnh màu tro, thấy gã đàn ông đi tới, bà ta ra dáng lắc lư làm chiếc túi da đeo vai đu đưa qua lại. Mắt bà mở to nhìn gã từ đầu tới chưn, gật gật đầu, miệng mĩm cười. Gã đàn ông không tỏ vẻ mừng rở cũng không một cử chỉ xã giao, gã cười và cất tiếng hỏi trỏng:

– Khoẻ hông?

– Được thôi. Còn anh?

– Vẫn vậy.

Người đàn bà đưa tay lên đầu gã tha tha:

– Vậy gì mà vậy, tóc bạc trắng, sói sọi, già tới nơi rồi.

– Ngót nghét năm mươi rồi, còn trẻ trung gì nữa. Chờ có lâu lắm hông?

Người đàn bà chỉ tay thẳng về hướng con lộ:

– Ba mươi phút mới thấy anh thấp thoáng ở đằng kia.

– Biết cô tới sớm tui đi tắc-xi cho lẹ.

Bà lắc lắc cái đầu dịu giọng:

– Không sao, lâu lắm rồi tui không có dịp đợi ai, hôm nay đứng đợi anh tui thấy cũng thinh thích.

– Biết vậy tui lên trễ cho cô đợi thoả thích.

– Lối nói chuyện của anh tới già vẫn vậy.

Người đàn bà câu tay gã, hai người sánh vai nhau đi vô thang máy, bấm nút cho thang chạy xuống đường hầm. Trong đường hầm không một bóng người. Họ trò chuyện vừa đủ nghe nhưng âm thanh vẫn vội vô vách đá rền rền.

– Cuối cùng rồi tui cũng gặp lại cô, nhưng cô thay đổi nhiều quá, nếu gặp nhau chỗ khác thì chắc nhìn hổng ra.

– Anh đen hơn xưa nên trông già dặn chớ không thay đổi gì cho lắm.

– Đàn bà dễ thay đổi hơn đàn ông.

– Nhưng họ nhớ dai lắm, hơn hai mươi năm qua, đây là lần thứ hai tui băng ngang đường hầm nầy, mà cả hai lần đều đi với anh.

– Nghĩa là cách đây hơn hai mươi năm. Lạ thật, lần nào tàu ghé Hamburg tui cũng qua đây ít nhứt một bận. Nhưng mỗi bận đi ngang đây là nhớ tới cô. Cô còn nhớ hông, lần đó đi tới giữa đường cô sợ tường bể nước ngoài sông tràn vô chết ngộp cô câu tay tôi cứng ngắt, đi trong hầm mà cô làm như đi ngang mấy chiếc cầu ván long đinh ở quê mình.

Người đàn bà nép sát vô người đàn ông như muốn tìm hơi ấm:

– Bây giờ không sợ chết ngộp nữa, nhưng mà lạnh quá.

– Mình ở dưới lòng sông mà, trong nầy chỉ có mùa hè mát mẻ, còn lại thì lạnh ngắt lạnh tanh.

– Mà nè, anh nói anh nhớ tui mà sao hổng ghé nhà thăm?

– Sống bên nầy ai cũng bận rộn chuyện sở làm, còn dư thời giờ lo cho gia đình. Tui thì đến, đi bất thường sợ tới nhà sẽ làm sai lệt thời khóa biểu của gia đình cô. Hơn nữa còn chồng cô, tui hổng biết tánh tình ông ấy ra sao.

– Hồi nghe tui nói xuống thăm anh, ảnh có nhắn, nếu rộng thời giờ mời anh ghé nhà chơi.

– Được đức ông chồng như vậy là hết xẩy rồi.

– Xạo nữa đi.

Vài bóng người xuất hiện phía trước, ai ai cũng thông thả đi không có vẻ vội vàng. Hai người đi tà tà một lát đã lên tới bên kia bờ. Nắng vàng trãi trên mặt nước, đò dọc chở du khách ngược xuôi giữa dòng, chim nhàn bay theo sau lái từng bầy. Trên bờ sông người ta bận áo ấm dầy đi dạo rất đông. Hai người dừng lại dưới thềm đá phân vân. Người đàn bà hỏi:

– Đi đâu đây?

– Trước kia cô thích ngắm sông lắm mà.

– Gió chiều lạnh quá, hổng ấy lênh Reeperbahn chơi đi.

Gã đàn ông chỉ tay qua mấy bực thang bắt lên con đường dẫn vô Reeperbahn, nói:

– Vậy mình leo lên đường nầy.

Họ vừa đi vừa tiếp tục trò chuyện:

– Nghe Hùng nói, hồi tết Tây nó thấy anh trong casino.

– Nhờ gặp Hùng mới có số điện thoại của cô, hông thôi biết đâu mà tìm.

– Anh biết đánh bài hồi nào vậy?

– Đâu phải ai vô casino cũng để đánh bài.

– Ăn tết trên nầy vui hông?

– Cũng vui.

– Vui ra sao kể nghe đi.

Gã đàn ông khoa tay chỉ dọc theo con đường:

– Trước tới giờ tui cứ nghĩ những ngày Tết ai ai cũng quây quần bên nhau trong căn nhà ấm cúng. Chỉ có những người vô gia cư như tui mới lang thang ngoài trời. Nào ngờ ở trên nầy người ta ăn Tết nhộn nhịp vô cùng, ngay giờ giao thừa trên trời pháo bông sáng tua tủa, dưới đất pháo nổ như trận đánh tết Mậu Thân. Người ta tràn ra đường đông như ong vỡ tổ, tiếng ca hát vang rân hoà trong khói pháo mịt mù…

– Vui hén.

– Nhờ vậy mà mình thấy đỡ lẻ loi trong ngày Tết.

– Lẻ loi thì vô ngắm Tiên Nữ.

– Tiên tục gì, mấy ngày đó họ đóng cửa ăn Tết, có đâu ngồi cho mình ngắm.

– Sao nữa kể tiếp đi.

– Sau khi chen chúc đã rồi tui chui vô Casino ngồi vừa uống bia vừa coi người ta đánh bạc, thì gặp Hùng nó đương chơi rulex. Sau khi thua sạch túi nó mới dẫn tui đi ra chỗ người Việt mình tổ chức.

– Vui hông?

– Bia, rượu, Karaoke, Disco, nhảy nhót, cuối cùng người ta lấy vỏ chai bia, bẻ chưn ghế đập nhau loạn xịa máu chảy lênh láng, cả hội trường náo loạn. Tui vội vã từ biệt Hùng rồi ba chưn bốn cẳng chạy ra lộ đón tắc-xi về tàu.

– Ghê vậy.

– Còn cô, cuộc sống có vui vẻ lắm không?

– Thì như anh biết đó, một ông chồng và hai đứa con, ở một nơi lúc nào cũng canh đồng hồ, vô sở làm trông cho mau hết giờ, về nhà sắp xếp giờ giấc cho chồng, con, đi ngủ cũng phải bấm đồng hồ báo thức. Nhứt nhứt chuyện gì cũng phải tính giờ tính giấc, sống đơn điệu đôi khi buồn chán lắm.

– Gia đình, hạnh phúc chớ?

Người đàn bà ậm ờ rồi yên lặng. Gã đàn ông áy náy nhìn trời. Mặt trời lặng từ hồi nào mà nền trời vẫn còn hưng hửng sáng. Đèn phố hiện lên nhiều màu sắc. Gió đêm lùa hơi lạnh trên đường, khách bộ hành kẻ ngược người xuôi. Người đàn ông cất tiếng:

– Tui nhớ trước kia mỗi lần đi ngang đường nầy, cô nhắm mắt lại hoặc cúi mặt ngó xuống đất, chưn bước đi như ma đuổi một mạch tới tiệm McDonalds đằng kia, bây giờ cô rủ tui lên đây ngắm người xem cảnh.

– Còn con gái thì khác, bây giờ già rồi, mặt dầy xà beng đâm hổng lủng, sợ gì. Vả lại lâu lắm rồi tui hổng có dịp ra đây. Hôm nay anh trở lại, tui muốn đi với anh.

– Ôn kỷ niệm đó hả?

– Coi là vậy đi.

– Dù sao con đường nầy cũng thanh lịch hơn Amsterdam, những ai chưa quen sinh hoạt khu nầy đi ngang không thấy khó chịu. Nhớ có lần qua thăm cô, mấy người bạn rủ đi DOM chơi, ai dè chúng nó đem bỏ tui ở đây, rồi dông mất biệt. Tui phải tự mò đường về, bị lạc hết mấy bận mới về tới nhà. Sau nầy tui mới biết DOM nằm ở đầu đường kia, đi chưa đầy mười phút đã tới.

– Anh còn giận mấy người đó hông?

– Hông, đôi khi mình nhớ họ cũng như nhớ một kỹ niệm vui, mấy người đó bây giờ ra sao?

– Cũng cày ngày cày đêm, nhà mới, xe mới. Anh còn nhớ Toàn không?

– Sao quên được, hồi đó nghe anh ta cưới Hồng, mở nhà hàng. Bây giờ hai người làm ăn ra sao?

– Toàn bịnh bán thân ngồi xe lăn, Hồng thì làm trong hảng Phi Líp.

– Tội nghiệp Hồng quá vậy.

– Tội gì, tụi nó khá lắm, mới mua đất cất một căn nhà riêng rất lớn. Có anh kìa, hổng lo ở đó lo cho người khác. À, mà anh có bồ bịch gì chưa?

– Trước kia có nhì nhằng vài nơi nhưng rốt cuộc rồi chẳng ra cơm ra canh gì hết.

– Sao anh hổng dìa Việt Nam cưới vợ?

– Chi vậy?

– Cho anh hết lẻ loi, cho cuộc sống có ý nghĩa.

– Ý nghĩa cuộc sống! Nghe hấp dẫn quá hén, cô đã sống trong gia đình gần hết cuộc đời rồi, ý nghĩa ra sao cô kể tui nghe?

Người đàn bà ỡm ờ một lát rồi ngó qua hỏi:

– Ủa, sao tui hỏi anh anh không trả lời mà cứ hỏi vặn hỏi vẹo chi vậy?

Gã đàn ông nhìn mông lung trong đám người đông như kiến:

– Khắp thế giới, nơi nào cũng đông nghẹt đàn bà, nhưng tìm không ra một người vợ thì cũng thuộc loại dở hơi, nhưng hình như trên mặt đất nầy không một người đàn bà nào chịu làm vợ tui hết cô à.

– Tui hiểu anh, nhưng anh cũng hiểu cho tui chớ, lúc đó chưn ướt chưn ráo mới sang, anh thì đi biền biệt, tui sống mình ên, xứ lạ quê người…

Giọng người đàn bà nghèn nghẹn. Gã đàn ông hấp tấp chận ngang:

– Í chết! tui đâu bắt cô phải chịu trách nhiệm về chuyện tui ở giá đâu mà cô nói vậy.

Người đàn bà mở xách tay lấy xấp giấy, rút một tờ chậm chậm mí mắt:

– Nhưng thấy anh cà nhỏng hoài tui hổng yên tâm.

– Chuyện qua rồi cô nghĩ tới làm gì. Phần tui, tui đã cố hết sức mình rồi, nhưng nó như vậy là như vậy, coi như định mệnh đi. Cô yên tâm, hiện giờ tui rất hài lòng với cuộc sống lẻ loi của mình. Gặp lại, thấy cô khoẻ mạnh ú na ú nầng như vầy là tui vui rồi, bây giờ mình kiếm chổ nào chơi chớ chẳng lẻ cứ long nhong ngoài phố như vầy.

– Ừa, phải đó, hổng ấy mình ghé vô DOM dạo một lát, rồi đi qua McDonalds kiếm đồ ăn, sau đó anh đưa tui xuống bến xe điện về là vừa.

– Cô còn thích hamburgers sao?

– Lâu lắm rồi tui hổng tới đó, hôm nay chợt nhớ lại…

– Ừa, đi chơi bao nhiêu cũng đủ rồi. Đi thêm nửa ông xả ở nhà nôn ruột.

– Đừng có mỉa mai như vậy, người ta dám để vợ đi chơi với anh thì không phải tầm thường đâu nhé.

– Đàn ông bây giờ ở nhà giữ con cho vợ đi chơi là văn minh chớ đâu phải tầm thường.

– Anh bỏ lối nói móc nói nghéo ấy được hông vậy.

Nghe người đàn bà nói gã giựt mình ái ngại trong lòng, trong thâm tâm gã thấy có một điều gì đó hổng ổn cho cuộc gặp gở hôm nay. Gã miễn cưỡng nói:

– Xin lổi, mình đi chơi vui vẻ đi.

DOM tức là hội chợ lớn ở Hamburg, mở cửa mỗi đầu mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bây giờ là đầu mùa xuân. Từ nãy giờ tự dưng gã đàn ông trầm ngâm len lỏi đi theo người đàn bà trong tiếng nhạc xình xập hoà cùng tiếng ồn ào của rừng người lố nhố. Đi ngang quày bắng súng, người đàn bà hỏi:

– Anh bắn súng còn giỏi hông?

– Lâu lắm rồi tui hổng bắn.

– Thử bắn lại coi.

Họ vô quày mướn súng. Gã đàn ông bồng súng lên bắng ba phát trật hết ba. Trả súng lại, gã day qua cười nói:

– Hết thời rồi.

Người đàn bà gật gật cái đầu và mĩm cười, nắm tay gã trì nhẹ và hai người chen chúc vô đám đông. Tới vòng đu quay, người đàn bà chỉ tay lên những chiếc đu:

– Mình lên vòng quay kia chơi đi.

– Ừ được đó.

Họ lên ngồi trong chiếc lồng cùng với cặp trai gái rất trẻ, hình như cô, cậu mua vé lên đây không phải để ngắm cảnh, hay tìm cảm giác bồng bềnh trên không. Từ khi vòng quay cất lên, bốn cánh tay như trói chặt hai thân hình, hai cái miệng và hai cái lưỡi bấu riết với nhau, chưn cẳng quíu lại, co cúm, đê mê không biết chung quanh còn có trời, trăng, mây, gió và có mặt hai người.

Để tôn trọng giây phút tuyệt vời của tuổi trẻ, họ yên lặng và hướng mặt nhìn ra phía ngoài. Vòng quay bây giờ đã dừng lại ở đỉnh cao nhứt. Không gian bao la, mây trắng, trăng lưỡi liềm và những vì sao lấp lững ngang nền trời. Bên dưới lập loè đèn lu, đèn tỏ theo các cao ốc và những khu nhà ở. Những hàng cây trong thành phố chỉ là chiếc bóng mờ. Sinh hoạt trong hội chợ là nhóm đèn nhiều màu sắc, dòng người loi nhoi lóc nhóc. Tiếng nhạc xập xình nghe văng vẳng phía dưới …

***

Dưới bến xe điện ngầm, tấm bảng báo giờ hiện lên còn bảy phút nữa xe tới. Họ đứng chung với đám đông chờ xe, người đàn bà hỏi:

– Có gặp nữa hông?

– Hơn hai mươi năm qua nếu muốn gặp nhau thì tui với cô được gặp nhau nhiều lắm. Điều quan trọng mình gặp nhau để làm gì? Hổng lẻ mỗi lần gặp nhau cô bỏ chồng, bỏ con ở nhà theo đi tui lang thang trên đường phố như vầy.

– Nãy giờ nghĩ ra được bao nhiêu đó hả?

– Bao nhiêu đó cũng đủ thấy mình bất lương lắm rồi?

– Anh muốn lương thiện thì lần sau ghé nhà chơi đi.

Gã lắc đầu:

– Khỏi.

– Vậy thi đừng gặp nữa.

Gã đưa ngón tay cái lên gật gật:

– Thà vậy còn hơn.

Xe tới, ngưới đàn bà chồm qua hôn lên má gã đàn ông, bà nói nhỏ:

– Thôi đi bình an nha.

– Giữ gìn sức khoẻ, chúc cô nhiều hạnh phúc.

Người đàn bà theo dòng người lên xe. Gã nhìn người ta chen chúc lên, xuống giống như bầy chuột đồng bị nước ngập hang. Khi hành khách lên hết, cánh cửa xe từ từ đóng lại và tiếng còi rít dài âm thanh bén soi thẳng vô lỗ tai người ta. Liền theo đó tiếng máy rú mạnh và thân xe lao vút vô đường hầm tăm tối. Chiếc thang máy cuốn dòng người trả lên mặt đất. Bến xe chỉ còn mình ên gã. Gã móc túi quần ra gói thuốc xẹp lép. Lạ thật, hơn hai mươi năm qua mỗi khi buồn gã đã đốt thuốc liền tay, vậy mà từ lúc gặp người đàn bà ấy tới giờ không hiểu sao gã không nghe thèm hút thuốc. Gã rút điếu thuốc nhăn nheo đưa lên môi, bật quẹt châm lửa, điếu thuốc rách, rít thốn lòng ngực vẫn không ra hơi. Gã xăm xoi điếu thuốc, bất chợt gã gộp điếu thuốc rách cùng gói thuốc xẹp liệng vô thùng rác, chà chà hai bàn tay vô quần. Gã thầm nghĩ, bắt đầu bây giờ gã bỏ tật hút thuốc mỗi khi buồn, nhớ và chôn mọi chuyện trong quá khứ, như chôn một thây ma, cũng được lắm rồi.

Dronten 1982018

Lò Cừ

dutule.com

Lâm Chương

Post by Sơn râu 4 May 2026

Từ nhà tôi, ngó qua bên kia đường là nhà bà Jaguar. Thật ra, bà có một cái tên na ná như thế, nhưng do tôi phát âm sai thành Jaguar và bà tự nhận luôn.

Tôi mới sang Mỹ, còn ăn tiền trợ cấp của chính phủ. Ngoài vài giờ học Anh văn ở trường, thì giờ còn lại tôi chẳng biết làm gì cho hết một ngày trống trải. Đi dạo phất phơ qua mấy khu phố gần nhà mãi cũng chán. Tôi thường ngồi trước thềm hiên, trông sang nhà một bà già đầu tóc bạc phơ. Không biết bà vốn đã có màu tóc bạch kim trắng xoá như thế, hay vì tuổi già mà bạc tóc? Ngôi nhà của bà kiến trúc rườm rà theo kiểu xưa như một lâu đài cổ nho nhỏ. Chung quanh có nhiều cây cối rậm rạp âm u. Bà đi ra đi vào âm thầm như chiếc bóng, làm tôi liên tưởng đến những nhân vật kỳ bí trong các truyện cổ tích dành cho nhi đồng. Ngoài cô y tá đến chăm sóc bà mỗi sáng, tôi ít thấy bà giao tiếp với ai. Những buổi chiều oi bức, bà cũng thường ngồi trên chiếc ghế dựa, trông sang nhà tôi. Nhiều khi bà giơ tay vẫy vẫy chào tôi. Tôi cũng vẫy vẫy chào lại. Mấy tháng trời vẫy chào nhau mà chưa hề nói chuyện.

Một hôm, tôi thấy bà chống gậy băng qua đường, đi về phía tôi. Với sức khỏe còn khá tốt như bà, đâu cần phải chống gậy? Hay bà cầm gậy phòng thân như một loại “đả cẩu bổng” của những người già?

Tôi vội chạy ra, xổ ngay một câu tiếng Anh đã học trong những ngày đầu ở trường: “Hi! How are you?”

Bà nói: “Fine. And you?”

Và tôi đáp lại: “Fine.”

Sau cái thủ tục tục chào hỏi thông thường của người Mỹ, tôi hỏi bà có cần tôi giúp gì không? Bà trả lời líu lo cả tràng dài. Tôi lắc đầu, bảo bà nói chậm hơn. Bà lập lại rõ ràng từng tiếng một. Có tiếng tôi hiểu nghĩa, có tiếng không. Nhưng tôi cũng đoán mò ra rằng, bà hỏi tôi có thấy hai đứa con nhỏ của bà chạy sang đây không? Già như bà cũng có con nhỏ sao? Tôi nói không thấy, và cũng chưa từng biết mặt người con nào của bà. Sau một hồi nói qua nói lại, tôi hiểu được vấn đề.

Bà sống một mình trong ngôi nhà cổ. Để bớt cô đơn, bà nuôi năm con mèo làm bạn, và coi chúng như con. Trong giờ ăn trưa nay, bà phát giác hai con vắng mặt. Tôi nói, nó đi tìm tình nhân quanh quẩn đâu đó. Khi nào đói, nó sẽ tự động quay về. Sẵn dịp, tôi mời bà vào nhà chơi. Bà đồng ý, nhưng chỉ đi đến thềm hiên và ngồi xuống chỗ tôi thường ngồi mỗi buổi chiều. Tôi cũng ngồi cạnh bà. Hai bên bắt đầu nói chuyện bằng một thứ ngôn ngữ trật vuột của tôi.
Tôi nói: “Mèo ở xứ tôi, người ta chỉ cho ăn những cơm thừa canh cặn, và xương xẩu vất đi. Nhà nào nghèo, không còn cơm thừa canh cặn thì mèo phải tự mưu sinh bằng cách bắt chuột. Bất tài không bắt được chuột thì ráng nhịn đói.”

Bà hỏi: “Người ta không thương mèo?”

Tôi nói: “Con người thương nhau còn chưa đủ, nói chi tới chó mèo.”

“Thế, nuôi mèo làm gì?”

“Để bắt chuột.”

“Chỉ với mục đích bắt chuột thôi sao?”

“Còn nữa. Để ăn thịt.”

Bà trợn mắt: “Ồ! Ăn thịt mèo? Tàn nhẫn!”

Tôi vận dụng tất cả vốn liếng sinh ngữ kém cỏi của mình, phụ họa thêm đôi tay làm dấu hiệu để nói với bà rằng thịt mèo cũng giống như thịt thỏ. Tại sao không thể ăn? Mỗi ngày, ở Mỹ có hàng triệu bò heo gà được đưa vào lò sát sinh. Như thế có tàn nhẫn hay không? Bà nói: “Ông có những thắc mắc kỳ cục. Người Mỹ không ai thắc mắc như thế cả. Dù tôi có giải thích, thì qua một thứ ngôn ngữ còn quá mới mẽ đối với ông, ông cũng không thể nào hiểu hết ý nghĩa.”

Bà còn khuyên tôi, đừng nên nghi ngờ về tình thương của người Mỹ. Tôi được đến xứ này là một bằng chứng về lòng tốt đó.

Tôi cám ơn, và nói: “Người Mỹ thường rêu rao về lòng nhân đạo. Bất cứ nơi nào trên thế giới gặp thiên tai, đều được người Mỹ cứu trợ. Nhưng bất cứ nơi nào trên thế giới xảy ra chiến tranh chết chóc, cũng đều có bàn tay của người Mỹ nhúng vào.”

“Để làm cho vấn đề trở nên tốt đẹp hơn.”

Tôi tiếp theo: “Vâng. Tốt đẹp hơn cho quyền lợi của Mỹ.”

Bà già cười lớn cởi mở, cho rằng trong quá khứ có những vấn đề làm tôi hiểu lầm người Mỹ nên mất niềm tin. Nhưng dù sao, những ý nghĩ của tôi cũng làm bà thú vị. Bà tỏ ý muốn làm bạn với tôi để nói chuyện cho đỡ buồn. Bà gọi tôi là bạn, rồi tự giới thiệu tên là Jackwar, Jacquewar, hay gì gì đó. Và bảo tôi lập lại.

Tôi phát âm: “Jaguar.”

Bà cười lớn: “Jaguar là cái hiệu xe hơi, và cũng là tên của một con vật có sức chạy rất nhanh. Năm nay tôi tám mươi ba tuổi, nhận thêm cái tên mới do bạn đặt như một kỷ niệm. Tôi rất thích tên này. Và, bạn tên gì?

Tôi nói: “Tôi tên Lâm.”

Bà phát âm tên tôi thành Lamb: “Lamb cũng là con vật. Như thế, bạn và tôi đều là hai con vật. Tôi là con Jaguar. Bạn là con Lamb.”

Không ngờ một bà già cô đơn, âm thầm trong ngôi nhà buồn hiu phía bên kia đường, lại vui tính đến thế. Bà đặt ra nhiều câu hỏi.

Tôi trả lời: “Tôi từ Việt Nam sang đây, được tám tháng.”

Bà kêu lên: “Việt Nam hả? Thế mà tôi cứ tưởng bạn là người Tàu.” Bà còn cho biết, người chồng đầu tiên của bà bỏ mạng ở Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh vừa qua.

Tôi chia buồn với bà. Và tiếp rằng: “Bà thấy chưa? Ở đâu có chiến tranh là có mặt người Mỹ.”

Bà nói: “Nếu ở Mỹ một thời gian lâu hơn, bạn sẽ biết tại sao người Mỹ làm như thế.”

Trước khi ra về, bà hẹn gặp lại tôi trong một lần khác, và đưa tay vỗ vai tôi, nói “Good boy.”

Tôi ngạc nhiên về lời nói, và cử chỉ này. Năm nay, tôi đã ngoài bốn mươi, sao bà nói good boy và coi tôi như đứa trẻ nít? Không biết đó là cách biểu lộ thân tình theo kiểu Mỹ, hay dưới con mắt của bà, tôi chỉ là thằng bé con?

Mấy ngày sau.

Bà Jaguar đứng bên nhà, ngoắc tôi sang. Bà đón tôi ở cửa, sắc diện tươi vui rạng rỡ, nói líu lo. Tôi đứng nhìn bà, chỉ mỉm cười và lắc đầu. Bà chợt hiểu tôi không bắt kịp lời nói nên nắm tay tôi, dẫn vào phòng khách. Sao lại nắm tay? Sự thân mật nào cũng phải có giới hạn chứ? Bà Jaguar đã già quá rồi, còn muốn gì nữa đây? Tôi còn đang e dè, bà chỉ chiếc sofa, bảo ngồi đó.

Bà lại vỗ vai tôi, nói: “Thằng con đầu của tôi năm mươi tuổi, nhưng trông nó to xác hơn bạn nhiều.”

Thì ra bà nắm tay, vỗ vai vì coi tôi ngang hàng đứa con của bà. Mỗi dân tộc có những đặc tính riêng, tôi chưa quen thân mật kiểu Mỹ nên thấy ngượng. Rồi bà đi lại phía cửa sổ, nơi có chiếc dương cầm đóng bụi, đem đến một cái gói bọc giấy hoa sặc sỡ trông như chiếc hộp.

Bà nói: “Đây là quà tặng cho bạn, hãy mở ra coi.”

Gói quà khá nặng. Khi tôi mở, bà ngồi quan sát một cách thích thú. Tôi mở thật chậm, ra vẻ trịnh trọng. Thật ra là để để suy nghĩ một thái độ sao cho vừa phải. Nếu tỏ vẻ vui mừng quá lố, bà sẽ tưởng tôi là người ham của. Nếu không vồn vã mà chỉ cám ơn suông, bà sẽ nghĩ tôi thờ ơ với quà tặng. Quà của bà là hai quyển tự điển, Anh Việt – Việt Anh.

Tôi cầm giơ lên: “Cám ơn. Đây là hai thứ mà tôi rất cần, dự định đi mua thì được tặng.”

Nói thế cho bà vui, chứ tôi cũng đã có hai quyển tự điển loại này rồi.

Và bà đã vui thật: “Tôi đã đoán đúng những gì bạn đang cần thiết.” Bà nói thêm, “Nếu bạn muốn, mỗi ngày tôi sẽ luyện giọng cho bạn vài giờ.”

“Tôi ngại chuyện này sẽ làm bà bận rộn.”

Bà khoát tay: “Không đâu, thì giờ của tôi quá dư thừa, không biết làm gì cho hết. Luyện giọng cho bạn cũng là một cách để tôi cảm thấy thời gian bớt trống trải.”

Từ đó, tôi trở thành học trò của bà Jaguar. Mỗi buổi chiều, tôi ôm hai quyển tự điển sang ngôi nhà cổ. Bà và tôi nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Tiếng nào bà nói mà tôi không hiểu thì mở tự điển Anh Việt. Tiếng nào tôi muốn nói mà không tìm ra chữ tương đồng thì mở tự điển Việt Anh. Lớp học cứ thế, diễn ra với người học trò duy nhất, và cô giáo cũng chẳng cần soạn trước đề tài.

Vài tháng sau, bà Jaguar khen tôi có tiến bộ. Bây giờ, tôi nghe khá hơn, và thuộc nhiều từ ngữ hơn.

Một hôm, bà Jaguar nhìn chiếc đàn, nói: “Lâu rồi tôi không lái xe, cũng như không sử dụng ngón đàn. Bạn biết đàn dương cầm không?”

Tôi lắc đầu: “Tôi chẳng biết chi về âm nhạc. Đặc biệt ở xứ tôi, chỉ có giới thượng lưu, hoặc những kẻ nhà giàu muốn làm ra vẻ thượng lưu mới sử dụng dương cầm. Còn tôi là dân nghèo, chỉ lo làm sao sống mà khỏi bị đói.

“Thế ở Việt Nam bạn làm nghề gì?” Bà hỏi.

“Đi lính.” Tôi trả lời.

“Chỉ đi lính mà không làm nghề gì khác?”

“Sau khi đi lính, tôi đi tù. Ra khỏi tù là gần hết cuộc đời. Có thể coi lính và tù là cái nghề không?”

“Không. Trong tù, bạn làm những gì?”

Tôi kể cho bà nghe một lô những việc phải làm: “Cuốc đất, trồng khoai, cày bừa, cấy gặt, nhổ cỏ, đốn cây, vác gỗ, làm nhà, đắp đê, đào giếng, nung đá vôi… Tóm lại, tất cả những việc làm trong tù, không đòi hỏi điều kiện phải biết chữ. Vì vậy, ở xứ tôi, ai cũng có đủ điều kiện để vào tù.”

Bà Jaguar bảo: “Đừng đem sự bất hạnh ra làm điều khôi hài.”

Tôi nói tiếp: “Trong tù người ta còn tập cho chúng tôi cái khả năng chịu đói trường kỳ, cũng có cho ăn cầm hơi qua ngày, nhưng chỉ là những thứ rất ít dinh dưỡng như sắn khô và nước muối. Ai chịu đựng giỏi thì tiếp tục sống. Ai không chịu thì chết. Chúng tôi gầy rạc như những thầy Fakia Ấn Độ. Thầy Fakia chỉ nhịn đói tối đa trong thời hạn bốn mươi ngày. Chúng tôi đói từ năm này sang năm nọ, trong điều kiện phải làm việc hàng ngày.”

“Khắc nghiệt như thế mà vẫn sống được.” Bà Jaguar lắc đầu ngao ngán.

“Hiện tại phần lớn những người tù chúng tôi đã sang Mỹ hoặc các nước Tây Phương. Tôi thấy ở đây có một hiện tượng lạ là nhiều người quá mập. Người ta gọi mập là béo phì, là bệnh và loay hoay tìm cách để làm giảm cân, nhưng kết quả không mấy khả quan. Xứ tôi có một phương pháp chữa bệnh béo phì rất có kết quả.”

“Thật thế sao?” Bà hỏi, có vẻ quan tâm.

Tôi gật đầu: “Chỉ cần vào tù. Nhà cầm quyền xứ tôi gọi tù là cải tạo. Muốn đi cải tạo, chỉ cần truyên bố một câu gì khác với chính sách của chế độ, hoặc phê bình chỉ trích các nhà lãnh đạo là được đi cải tạo ngay. Khi đã vào trại cải tạo, người mập sẽ mỗi ngày một sụt cân nhanh chóng. Bảo đảm trong vòng vài tháng, người ấy sẽ chỉ còn da bọc xương.”

Bà Jaguar bảo: “Ở Mỹ, người ta nghiêm cẩn trước sự đau khổ của mình và của người khác. Còn bạn hay đem sự đau khổ ra làm chuyện khôi hài. Có phải đó là đặc tính của dân tộc Việt Nam?”

“Dân tộc tôi thường xuyên sống trên đau khổ, và lấy đó làm đề tài tạo nên nụ cười như một cách hóa giải bớt thương đau. Do đó, dù đi trong gian nan khổ ải, nhưng miệng vẫn mỉm cười. Người ngoại quốc làm sao thấy được phía sau nụ cười ấy là một nỗi niềm cay đắng?”

“Những người lãnh đạo bất tài chỉ làm cho dân đau khổ. Tại sao họ cứ tiếp tục nắm giữ chức vụ quyền hành chi cho mang tiếng xấu?”

“Ở Mỹ, kẻ giàu sang thích làm lãnh đạo vì muốn có danh. Người Cộng Sản Việt Nam thích làm lãnh đạo vì muốn có quyền lực và có tiền. Nếu rời bỏ quyền lực, họ hiện nguyên hình là tên dốt nát, và chỉ có thể làm đồ tể, hoặc đi chăn bò.”

Bà Jaguar ra vẻ suy nghĩ một lúc, rồi nói: “Vận mệnh đất nước mà đặt trong tay của những tên chăn bò thì nó sẽ nhốt người dân vào chuồng. Giao sinh mạng cho đồ tể thì trước sau gì cũng bị nó đưa vào lò thịt!

Một hôm khác.

Tôi hỏi: “Mấy con mèo của bà dạo này ra sao?”

Bà nói: “Có một con đã sinh tư, và một con sắp đẻ. Với cái đà sinh đẻ theo kiểu nhân giống này, chẳng mấy chốc nhà tôi sẽ đầy những mèo. Tôi ngại trong tương lai, nuôi mèo không còn là một thú vui nữa, mà là một gánh nặng.”

Nói xong, bà dẫn tôi xuống basemaent. Vừa mở cửa, tôi nghe mùi hôi xông lên tận óc. Mùi của nước đái và cứt mèo. Tôi dội ngược trở lên. Bà Jaguar kéo tôi lại, bảo hãy vào coi cho biết sự thể.

Khi chúng tôi vào, đàn mèo tưởng bà Jaguar mang đồ ăn nên bu lại ngóc mỏ kêu meo meo. Rải rác dưới nền, và trong các góc kẹt basement là những cứt mèo khô bẩn thỉu.

“Hiện tại, tôi có đến chín con mèo. Nay mai, một con đang chửa sẽ đẻ nữa.”

“Rồi đây nhà bà sẽ biến thành cái trại nuôi mèo hôi không chịu nổi.”

“Có cách nào giải quyết?”

“Bán chúng cho Pet Shop.”

“Đã có gạ bán nhưng người ta không mua. Tặng người ta cũng không lấy. Họ nói khách hàng vùng này không chuộng mèo, chỉ thích nuôi chó.”

Tôi đề nghị bà chọn con nào thích nhất, giữ lại một con. Còn bao nhiêu tống hết ra rừng. Rồi một ngày cuối tuần, tôi sẽ giúp bà tẩy uế basement.

Bà ái ngại: “Không ai cho ăn, chúng sẽ bị đói. Trời mưa gió, chúng sẽ trú ẩn nơi đâu? Đó là chưa kể chúng sẽ bị làm mồi cho những loài thú dữ khác.”

Tôi nói: “Chính sự nuông chìu và cung cấp thức ăn hàng ngày của bà, nên đàn mèo ỷ lại vào sự đùm bọc nuôi nấng của chủ. Và điều này, đã làm chúng mất hết bản năng tự mưu sinh. Nếu đem bỏ giữa rừng, chúng phải tự tranh đấu để giành sự sống. Lần hồi chúng sẽ phục hồi bản năng thiên nhiên của loài vật. Đói, chúng biết tự tìm mồi. Mưa gió, chúng biết tìm chỗ ẩn núp. Gặp thú dữ, chúng biết nhanh chân chạy trốn. Loài nào yếu đuối chậm chạp thì làm mồi cho loài mạnh hơn. Đó là luật rừng xanh. Thiên nhiên dù khắc nghiệt, nhưng muôn loài vẫn có cách riêng để tồn tại. Bà lo chi những con mèo của bà sẽ không sống được.”

Thế là hai hôm sau, bà Jaguar cho đàn mèo ăn một bữa thật no. Rồi nhờ một người láng giềng cùng tôi đưa chúng lên xe, chở đến một khu rừng cách nhà vài dặm, đẩy chúng xuống. Khi đàn mèo còn đang bỡ ngỡ kêu meo meo và đưa mũi ngửi những cây lá chung quanh, chúng tôi quay xe trở về.

Bà Jaguar đón chúng tôi trước cửa. Bà đang ôm con mèo còn lại, có vẻ buồn. Đôi mắt già đỏ hoe, ngấn lệ.

Bà hỏi: “Khi những con mèo xuống xe, chúng có buồn không?”

Tôi nói để bà yên tâm: “Được sống giữa rừng xanh, chẳng những chúng không buồn, mà còn vui nữa là khác.”

Sau đó, tôi bỏ ra một ngày để dọn dẹp, tẩy uế basement cho bà Jaguar. Bà cứ lẩn quẩn bên tôi, săm soi thương tiếc những dấu tích của đàn mèo. Khi tôi ném những chiếc nôi nhỏ vào thùng rác, những chiếc nôi mà bà đã mua để làm nôi cho mèo ngủ thì bà bật khóc thật sự. Nước mắt của bà không làm tôi xúc động. Cả đời bà Jaguar chưa từng gặp cảnh đau thương. Tâm hồn chưa bị ai dày xéo. Cái túi nước mắt đầy ứ lâu ngày, chực chờ một chút gì xao động là rò rỉ tuôn ra. Để bà khóc cho đã nư. Tôi lo làm sạch sẽ. Đã nhiều năm không ai quét dọn, basement đầy những bụi bặm, đồ đạc chất chứa ngổn ngang. Tôi quét dọn sạch sẽ, sắp xếp đồ đạc lại gọn gàng ngăn nắp. Vất đi một số lớn những thứ cũ kỹ dư thừa không cần thiết.

Lúc mọi việc đã hoàn tất, tôi lên ngồi trước thềm hiên, hóng gió. Bà Jaguar đem cho tôi ly nước lạnh, cùng ngồi đó với tôi. Bà lại nhắc đến những con mèo, không biết chúng lấy gì để ăn?

Tôi nói: “Trong rừng có chuột, cóc, nhái, thằn lắn, rắn mối… Đó là thức ăn của mèo.”

“Nhưng làm sao chúng bắt được, vì như bạn đã nói mỗi loài đều có bản năng chạy trốn khi gặp nguy hiểm?

“Dù có chạy trốn, nhưng không lẽ lần nào cũng thoát? Thiên nhiên đã bày sẵn thức ăn ra đó. Không nhanh nhẹn chụp bắt để đưa vào mồm, trách chi tạo hóa bất công?” Nói tới đây, tôi bỗng nhớ lại một chuyện cũ, và kể cho bà Jaguar nghe.

Có một ông luật sư người Việt Nam, đi du học và hành nghề lâu năm ở Pháp. Không biết tại sao ông lại léng phéng về xứ vào giai đoạn chót của chiến tranh. Dĩ nhiên ông trở thành đối tượng nghi ngờ của chế độ mới, bị đưa ra miền Bắc cải tạo. Một hôm, cán bộ trại tập họp anh em lại để nghe chuyện Bác Hồ. Nghe xong, ông luật sư cũng nổi hứng kể chuyện Bác Hồ. Tiêm nhiễm cái tinh thần tự do dân chủ kiểu Tây Phương quen rồi, ông nói năng không kiêng dè ai cả. Tiếng Việt của ông vụng về như tôi đang nói tiếng Anh.

“Ngày Bác Hồ còn lang thang ở Pháp. Bác có đến xin được gặp tôi, rủ tôi theo Bác về xứ tham gia cách mạng. Nhưng tôi từ chối.”

Cán bộ lấy làm tiếc: “Nếu hồi đó, anh chịu theo Bác thì bây giờ đã được quyền cao chức trọng rồi.”

Ông nói: “Hồi đó, tôi đâu biết Bác là ai mà theo? Tôi là một luật sư của luật sư đoàn Pháp Quốc. Bác không theo tôi thì thôi. Sao tôi lại theo Bác, một kẻ vô danh, không nghề nghiệp?”

Nghe xong, cán bộ sửng người. Chúng tôi không ai dám cười.

Ra Bắc, chúng tôi phải làm việc khổ sai cật lực. Ông luật sư già yếu quá rồi, lại không rành ngôn ngữ Việt Nam. Cán bộ chỉ định ông luật sư đi chăn trâu.
Buổi sáng. Trước khi dẫn hai con trâu ra đồng, ông ta hỏi: “Tôi phải đem món gì theo cho lủy ăn?”

Cán bộ không biết “lủy” là gì. Một anh tù giải thích: “Lủy tiếng Tây có nghĩa là nó, chỉ ngôi thứ ba.”

Cán bộ hỏi: “Ngôi thứ ba là ngôi gì?”

“Ngôi thứ ba là con trâu.”

Cán bộ mỉa mai: “Con trâu thì bảo là con trâu. Ngôi thứ chỉ đặt ra cho con người. Các anh lắm chuyện rắc rối!”

Từ đó, cán bộ đinh ninh “lủy” là con trâu. Và nói: “Dẫn lủy ra đồng, cho lủy tự ăn cỏ. Không cần đem theo gì cả.”

Buổi trưa. Ông luật sư chạy về trại, báo cáo: “Lủy không ăn cỏ nữa, lủy lội ra nằm giữa hồ nước. Tôi gọi mãi, lủy không vào. Bây giờ, làm sao gọi lủy vào?”

Trước sự ngờ nghệch của ông luật sư, cán bộ nổi nóng: “Lủy nằm đó, kệ lủy!. Mắc mớ gì anh mà gọi vào?”

Ông luật sư quay qua hỏi người bạn tù: “Mắc mớ nghĩa là gì vậy?”

Lần này, chúng tôi cười thoải mái.

Sau khi nghe chuyện, bà Jaguar thắc mắc: “Tại sao ông luật sư không biết rằng con trâu phải tự gặm cỏ ngoài đồng mà ăn?”

Tôi nói: “Cũng như bà đấy. Tại sao bà không biết rằng con mèo phải tự bắt chuột trong rừng mà ăn?”

Bà cười lớn: “Không ngờ bạn kể một câu chuyện dông dài, mục đích gài bẫy cho tôi đặt câu hỏi để bạn trả lời con mèo phải tự mưu sinh.”
Vào một ngày mùa hè. Bà Jaguar nói với tôi về một bà bạn tên Julie vẫn hay đến đây làm việc thiện nguyện như giúp bà đi chợ, nấu ăn, hoặc dọn dẹp lau chùi nhà cửa. Chung quanh nhà bà Julie là một khu vườn rộng, đang cần một người cắt xén, chăm sóc hoa cỏ.

Bà Jaguar hỏi: “Bạn thích làm công việc ấy không?”

Tôi nói: “Chỉ ngại người ta không chịu mướn tôi.”

“Tôi sẽ giới thiệu, và chắc chắn bà Julie bằng lòng.” Bà cười với vẻ khôi hài, “Bởi vì đây là công việc không cần điều kiện biết chữ, như bạn đã từng làm ở trong tù.”

Hôm sau. Tôi thấy một người đàn ông đến nhà bà Jaguar, lôi chiếc xe hơi bỏ phế lâu ngày từ trong garage, đem đi. Và hôm sau nữa. Chiếc xe được lái về đậu ngay trước cửa, sau khi đã lau chùi sạch sẽ.

Bà Jaguar gọi tôi sang, bảo: “Chiếc xe này đã được tu bổ sửa chữa hoàn hảo rồi. Tôi tặng bạn, để có phương tiện đi làm vườn nhà bà Julie.”

Tôi từ chối: “Tôi không muốn nhận một cái ơn quá lớn, khi tôi chẳng làm được điều gì đáp lại.”

Bà nài ép mãi, nói cái tuổi của bà không còn có thể tự lái xe. Nếu tôi không nhận thì bà cũng để đấy vô ích thôi. Cuối cùng, chúng tôi thỏa thuận bằng cách tôi mua lại với điều kiện trả góp. Bà dặn, khi nào chiếc xe bị hư hao trục trặc, hãy báo cho bà biết vì thời gian guarantee là… một năm.
Tôi cũng ậm ờ cho qua chuyện, nhưng không bao giờ muốn làm phiền một kẻ có lòng.

Khi bà trao cái title để tôi đi sang tên, tôi thấy bà ghi giá bán một trăm đô la.

Tôi la lên: “Thế này thì thiệt thòi cho bà quá. Phải ghi thêm một con số không.”

Bà lắc đầu: “Đã quyết định rồi, không thay đổi. Trên đời sao lại có chuyện người mua đòi trả cao hơn giá bán.”

Từ khi làm vườn cho bà Julie, tôi ít sang nhà bà Jaguar. Những cuối tuần, thỉnh thoảng thấy bà đứng trước sân, tôi sang thăm hỏi bà có cần tôi giúp gì không? Bà bảo, mọi sự bình thường. Khi nào cần, bà sẽ gọi. Bà cũng nói thêm rằng mùa đông sắp tới rồi, bà Julie dự định sẽ đưa tôi vào làm cleaner trong cái hãng do chồng bà làm chủ. Bà Julie đánh giá quả không lầm. Tôi chẳng biết chi về máy móc kỹ thuật, nhưng nếu giao công việc lau chùi dọn dẹp, chắc chắn tôi sẽ tỏ ra vô cùng xuất sắc.

Hàng ngày, tôi vẫn đi làm bình thường nơi khu vườn của bà Julie. Một buổi sáng, khi tôi đang mở cửa nhà kho để lấy dụng cụ, bà Julie xuất hiện.

Bà hỏi: “Hôm nay ông không đi đưa tiễn người bạn già của ông hay sao?”

Tôi hỏi lại: “Bà muốn nói bạn già của tôi là ai?”

“Jaguar.” Bà Julie nói.

“Sao bà cũng biết người ấy có cái tên Jaguar?”

“Chính bà kể cho tôi nghe lai lịch về cái tên này.”

“Nhưng bà Jaguar đi đâu mà cần đưa tiễn?”

“Ông không biết gì sao? Bà ấy chết rồi!”

Tôi tưởng như nghe lầm: “Cái gì?”

“Jaguar chết rồi.” Bà Julie lập lại

Tôi thảng thốt: “Tại sao?”

“Tai biến mạch máu não. Chết trên bàn giải phẩu vì tuổi già không đủ sức chịu đựng. Tôi cũng đang chuẩn bị đưa tang đây.”
Tôi sửng sờ trong giây lát. Nghe có một nỗi gì nghèn nghẹn dâng lên trong cổ. Rồi quên cả chào bà Julie, tôi lên xe phóng về cho kịp tiễn đưa người bạn già kính mến của tôi. Trên đường về, tôi tiếc đã quên hỏi địa chỉ nhà quàn để nhìn mặt bà Jaguar lần cuối. Không khéo, khi tìm được đến nơi thì người ta đã đưa bà ra nghĩa trang rồi.

Lâm Chương

Lời tỏ tình

vvnm.vietbao.com

Phạm Thành Châu

15/05/2011

Post by Sơn râu 4 May 2026

Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hoà, hiện là cư dân Virginia. Nhà văn Phạm Thành Châu đã cộng tác với các báo Van, Thế Kỷ 21 và có ba tập truyện ngắn đã xuất bản. “Nhân vật trong truyện của anh thật tuyệt vời! Họ chung tình quá sức.” Nhà văn, nhà biên khảo Võ Phiến khi đọc truyện của Nguyễn Thành Châu đã nhận xét như trên. Sau đây là một truyện ngắn mới của ông.

***

Sau khi chiếm được nam Việt Nam, năm 1975, Cộng Sản miền Bắc lùa số lớn công chức, quân nhân, đảng viên các đảng phái quốc gia, các nhà tu hành của các tôn giáo miền Nam, ra Bắc “khổ sai biệt xứ”. Liên Xô có Xi-bê-ri thì Việt Nam có vùng núi non Tây Bắc khắc nghiệt, tuy không lạnh bằng Xi-bê-ri nhưng cũng đủ cho tù chết dần. Chết vì lạnh, vì đói, vì lao động kiệt sức và vì bịnh mà không có thuốc chữa.

Thông thường, tù phải tự đốn cây, cắt tranh làm lán cho mình ở, phải phá rừng, làm rẫy trồng trọt khoai củ nuôi thân. Nhà nước Cộng Sản không phải tốn phí nuôi tù cải tạo. Ban ngày tù vào rừng lao động, chiều về, vào lán, cán bộ coi tù khóa cửa lại, sáng hôm sau, mở cửa cho tù đi lao động tiếp.

Mấy năm đầu, tù chết quá nhiều nên chính quyền Cộng Sản Việt Nam cho thân nhân tù được gửi thuốc, áo quần (giới hạn) bằng đường bưu điện, về sau được thăm nuôi, nghĩa là được gặp mặt tù và tiếp tế lương thực, mùng mền, thuốc men…giúp tù chịu đựng, tiếp tục khai phá núi rừng và chết chậm hơn.

Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.

Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thiên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi

– Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất. Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.

Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào. Họ được gọi là “con bà xơ” (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng. Các tù nhân con bà xơ nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối.

– Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.

Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại”

Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường…hết cả! Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo.

– Đây là lần chót!

Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên.

– Ai thăm tôi” Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!

Tôi cười bảo.

– Không phải vợ thì ai vào đây”

Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.

Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao” Đúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh.

Sau đây là câu chuyện theo lời Anh kể.

. . .

– Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Đắc của tôi tuyệt tự. Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưỡng trong cõi u minh. Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường. Tôi thì không để ý đến chuyện đó. Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ…

Đến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi “Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào. Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên”. Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa” Tôi thưa rằng “Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu”. Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô. Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta. Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng “Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời”. Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.

Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình. Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta. Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng “Một túp lều tranh hai quả tim vàng”. Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử. Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình “nhà thơ” nên không muốn làm sui gia với họ. Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng “Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao. Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ…” Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.

Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay “Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi” Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không””

Tôi trả lời “Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi. Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường. Tôi sẽ vào quân đội. Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau” Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận. Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi” Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp “Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi. Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu. Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được… Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà. Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi…” Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt “Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì”..” Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế. Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp “Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi” Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngữa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi. Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.

Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi “Có chuyện gì vậy”” Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn. Tôi nói “Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do”. Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi “Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác. Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu” Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại “Tôi đồng ý lấy anh. Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế” Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh “Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau. Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu. Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô. Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi”

Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi “Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao” Chúng tôi có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay” Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi “Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai”” Tôi nhìn và nói ngay “Giống anh chứ giống ai” Con anh phải không” Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi”” Anh trầm tư “Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh. Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra. Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói “Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai…”

Tôi ngắt lời anh “Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao”” “Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng “tôi” và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi “anh, em” như vợ chồng bình thường… Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.

– Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không”.

– Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằng muốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù. Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi “Ai thăm nuôi mình”” vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.

– Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không” Anh có thương vợ không”

Anh trầm ngâm.

– Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bương chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi. Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng nầy…Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi. Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần. Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm. Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh. Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi. Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi. Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên. Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị. Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ. Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.

Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.

Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi. Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.

Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò. Tù chỉ có mười lăm phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết. Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không” Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ. Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.

Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ. Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn. Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.

Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.

Chúng tôi ở tù trên mười năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt. Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó, chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.

Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư…Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.

Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp…Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.

Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe. Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu. Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi. Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.

Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau. Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.

Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên.

– Sao” Chị nói sao” Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu” Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!

Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi.

– A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị”

Bên kia đầu giây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng.

– Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu “Đau đầu quá!” rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây”

– Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa”

– Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải năm giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.

– Ảnh không sao đâu. Chị bình tỉnh. Đưa vô bịnh viện là yên tâm.Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tỉnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện.

Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.

Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm.

– Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không” Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh…

Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.

– Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá” Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy…

Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ.

– Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao”

– Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời…

Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bịnh mới cần trăn trối trước khi từ giả cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.

– Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tỉnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.

Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm.

– Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết em yêu thương ảnh…

Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu” Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta.

– Xin chị bình tỉnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hi vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.

Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hi vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi.

– Tôi là Nguyễn văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam, anh còn nhớ không” Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm… Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không”.

Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại. Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng.

– Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.

Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một.

– Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh… Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!

Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.

– Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.

Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ.

-Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá…

Thật ra, là chị ấy đã trăn trối với chồng.

Phạm Thành Châu

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 May 2026

Trong mục “Blog Bolsa” của Nhật Báo Người Việt ngày 5 tháng 11-2010, có nói đến câu chuyện của một phụ nữ ở Việt Nam mới được con bảo lãnh sang Mỹ, vì giọng nói, cách dùng chữ và thái độ của bà, bà đã phải nhận kỳ thị, bị coi thường của đồng bào sang trước. Bà cho biết bà là con của một quân nhân miền Nam trước năm 1975 ở Việt Nam, nhưng chỉ qua câu viết của bà: “Ba tôi là người lính Cộng Hoà suốt thời Diệm cho đến thời Thiệu” thì tôi e rằng bà đã không “thành thật khai báo”. Nếu thật sự bà là con của một cựu quân nhân miền Nam, bà đã không có cách nói tên Diệm và Thiệu cộc lốc như thế, mà bà phải nói là dưới “thời Đệ I, Đệ II Cộng Hoà” hay là dưới “thời Tổng Thống Diệm đến thời Tổng Thống Thiệu” như người miền Nam chúng tôi vẫn thường dùng .. ” Cũng như trước đây chúng tôi có nhận được lá thư của một người nhận là thương binh VNCH ở Việt Nam viết sang xin giúp đỡ, nhưng trong thư người này nói là “đã đi lính cho chính phủ Saigon từ năm 1970 cho đến ngày giải phóng”. Những người lính miền Nam không có lối nói như thế. Chính cách nói của bà đã đẩy bà vào cái thế, những người ty nạn Cộng Sản chạy sang đây coi bà như là gốc gác của những người thắng trận, đã đoạ đày khiến chúng tôi phải bỏ nước ra đi. Phản ứng của họ phát xuất từ những đau khổ, tù đày, chia ly mà họ và gia đình phải gánh chịu sau ngày quân đội miền Bắc thắng trận và thi hành chính sách trả thù lên những người lính, người dân miền Nam.

Tôi biết đất nước chúng ta đã trải qua nhiều giai đoạn chia cắt, lòng người ly tán, phân biệt hay kỳ thị, lẫn nhau. Năm 1955 chúng tôi vào Saigon được đồng bào miền Nam coi là người Huế, chứ không phải là người “Diệt” .Từ con sông Gianh thời Trịnh Nguyễn cho đến con sông Bến Hải thời Quốc Cộng là những dấu tích ô nhục khó rửa sạch, nhưng chính cái cách san bằng, thống nhất của nó lại càng ô nhục nghìn lần cho nghìn sau. Khi nghe một giọng nói mang âm điệu mà chúng tôi nhận ra là “Bắc Kỳ 75” rất nhiều người không khỏi có phản ứng, lẽ cố nhiên là trong tình cảm, chứ không biểu lộ ra bằng hành động hay thái độ.

Những giọng nói đó chúng tôi đã nghe qua đài phát thanh Hà Nội, chúng tôi đã nghe trong trại tù, chúng tôi đã nghe tại đồn công an. Nỗi sợ hãi ám ảnh nhiều người đến suốt đời. Ai cũng biết suy nghĩ cái đáng ghét là chế độ, là guồng máy cầm quyền chứ đâu phải là một giọng nói, một lối phát âm từ những người dân bình thường, vô tội trên những nỗi khổ đau của dân tộc, nhưng liên tưởng vẫn là một tâm lý khó gột rửa.

Cũng đôi khi chúng ta không “kỳ thị” với một giọng nói từ trong nước ra, nhưng lại bực mình vì thái độ thiếu văn minh của những người này. Tuần trước tại phi trường Boston, trong khi vợ chồng chúng tôi và vợ chồng một người bạn đang ngồi chờ giờ lên máy bay, thì một người Việt trung niên tiến tới trước mặt chúng tôi. Trong khi miệng y vội vã thốt lên câu hỏi “Các bác là người Việt Nam?”, chúng tôi chưa kịp phản ứng thì cả thân y chồm đến, y chìa tay ra bắt tay từng người một, kể cả hai người phụ nữ, một cách quá đỗi thân thiết. Mặc dầu khá ngạc nhiên vì thái độ suồng sã này, chúng tôi cũng chỉ có phản ứng chìa tay ra, nhưng không ai nói một lời, khiến cho người kia ngượng ngùng bỏ đi. Không nói thì quý vị cũng dư biết anh chàng kia đến từ đâu. Chúng tôi biết các bạn cũng sẽ “dị ứng” nếu một buổi sáng nào đó gặp phải năm ba ông Việt Cộng, không dấu được căn cước của mình qua giọng nói, y phục và thái độ của họ trong một tiệm ăn ở Bolsa hay trong khu Eden hôm nay, hay buổi tối, vô ý bật phải băng tần của một đài truyền hình, có cô xướng ngôn viên từ bên nhà, và chương trình thì chiếu toàn bộ quảng cáo, sinh hoạt, chương trình thu sẵn bên Hà Nội mang sang. Chúng ta thực có đáng trách về sự “dị ứng” này hay không?

Tôi thông cảm với nỗi khó chịu của đồng bào trong nước ra ngoài có khi phải nhận chịu những đôi mắt lạnh nhạt, những thái độ thờ ơ hay những cử chỉ thiếu thân thiện. Nhưng tôi cũng hết sức thông cảm với những gì đã đưa đến những sự dị ứng như thế, cao hơn đôi khi còn là lòng hận thù. Đó là những mất mát mà họ đã gánh chịu, sự gian truân họ đã trải qua, sự đau khổ mà họ đã phải chịu đựng vì chế độ Cộng Sản ở quê nhà, và nhất là những sự thất vọng về chính sách cố chấp, thù hận của những kẻ cầm quyền hiện nay ở trong nước. Chính sách ấy càng ngày càng đẩy xa những con người đã bỏ quê hương, càng ngày càng xa quê hương hơn, nó chỉ có tính cách chiêu dụ, trục lợi, giai đoạn mà không hề có sự thành tâm, chân thật. Phải chăng từ xưa, bản chất con người Cộng Sản vẫn trí trá như vậy.

Chính vì chế độ trong nước chưa thích ứng được với những người Việt hải ngoại, những đứa con xa quê hương, nên ở đây, đôi khi chúng ta vẫn còn thái độ dị ứng đối với những người mà chúng ta coi họ như những con người có liên hệ, gốc gác hay mang hình ảnh của chế độ ấy. Cái hố ngăn cách, chia rẽ, lạnh lùng và kỳ thị này là một nỗi đau chung của dân tộc chúng ta. Trong phạm vi một bài viết nhỏ này, tôi cũng không thể đại diện được cho ai để ngõ một lời xin lỗi cho những người bị kỳ thị về giọng nói trên, vì thành thật mà nói, bản thân tôi cũng chưa gột rửa được sự dị ứng mỗi lúc tôi nghe phải một giọng nói như thế làm cho tôi mất vui. Chúng tôi biết đó là một điều không phải. Nếu nói là ghét Cộng Sản, vì sao người ta không ghét giọng nói, ví dụ, của một cán bộ Cộng Sản gốc Quảng Ngãi mà lại dị ứng với giọng nói của một người dân bình thường sinh sống tại Hà Nội, mà người đó có thể đã là nạn nhân của chế độ Cộng Sản. Hải ngoại đã từng chịu nghe những giọng “Bắc 75″ của những ca sĩ, những MC trong những băng nhạc hay trên sân khấu, và đã cổ vũ họ bằng những tràng pháo tay? Cũng vì sao những giọng nói này chúng ta đã nghe thường trực trên đài BBC hay VOA mà không phản ứng, lại dị ứng với cũng giọng nói đó, của một người xa lạ trong một khu chợ hay ở một chỗ đông người. Còn nói rằng chúng tôi “dị ứng với … dân tộc” thì không. Chế độ chỉ là nhất thời, dân tộc mới vạn đợi, xin quý vị đừng đồng hoa dân tộc Việt Nam với chế độ Cộng Sản. Vì không hề dị ứng với dân tộc nên mỗi  năm chúng tôi đã gởi về 8 tỉ đô la cho đồng bào ruột thịt, bà con, họ hàng, và chúng tôi còn quan tâm đến sự đói nghèo, bệnh tật, khó khăn của đa số đồng bào thấp cổ bé miệng, vì từ ba mươi lăm năm  nay,”cách mạng”, chỉ là một sự cướp quyền, đem thêm “đặc quyền, đặc lợi” cho một băng nhóm, cấu kết với nhau vì quyền lợi.

Hiện nay hải ngoại đã không ý thức, dần dà quen với thứ ngôn ngữ từ trong nước mang ra, qua các đài phát thanh, truyền hình, báo chí, vì lười biếng hay có chủ ý, “bê nguyên con” một bản tin viết sẵn từ trong nước. Ngôn ngữ này, trước nghe lạ, lâu ngày thành quen, dần dần chúng ta bị đồng hóa lúc nào không hay. Vậy thì rồi đây, giọng nói nào cũng thuận tai, trở thành quen thuộc, một thời gian nữa sẽ không còn “dị ứng”, nhất là đối vớí lớp trẻ lớn lên sau này, không có những kinh nghiệm chua chát, đắng cay với những gì đã xẩy ra trên đất nước chúng ta trong thời gian năm mươi năm trở lại đây. Nhưng tôi tin rằng, chế độ Cộng Sản và cung cách cai trị của những người Cộng Sản đối với đất nước, sẽ khó lòng hết “dị ứng” với những người đã không chấp nhận Cộng Sản, bỏ nước ra đi. Chỉ còn một con đường, một là chế độ sẽ suy tàn, hai là những người như chúng tôi không còn hiện hữu.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 May 2026

Biến cố 30 tháng 4-1975 như một cơn đại hồng thủy, đất trời sụp đổ, xóa sạch tất cả, tan nát tất cả, chia lìa tất cà. đến với tất cả ngỡ ngàng của người dân miền Nam. Ngày đó trên chuyến phi cơ bỏ xứ sở ra di những người Việt nghĩ là sẽ không có lúc trở về, trên con tầu ra cửa biển có ai mong dến một ngày nhin lại quê hương. Cho nên dẫm trong những dòng nước mắt, chúng ta nghĩ là đã “Vĩnh biệt quê hương, vĩnh biệt Saigon!”

Cũng tưởng là vĩnh biệt những người thân yêu ở lại bên kia nửa vòng trải đất nên nhiều người đàn ông khi bỏ nước ra đi, trong thởi gian tưởng như vô vọng, trước một hoàn cảnh mới, cách xa quê nhà, nơi họ để lại những ngày tháng cũ, trên xứ người, tạo dựng thêm một mái gia đình, để ngày nay phải chịu những nghịch cảnh xỏt xa. Không ai còn nghĩ có thể gặp lại người xưa cho nên nhiều gia đình đã tan vỡ, chia cách, nhiều mối tình đã đi vào quên lãng, làm sao ai biết trước được lần tái ngộ, gặp gỡ mười, hai mươi năm sau đó. Rồi những đứa con ở lại, lớn lên, nhu cầu phải đi lìm lại nguồn cội, trên báo chí nhiều lời nhắn tin tìm cha thống thiết, kể lại những kỹ niệm ngày trước cùng với đầy đủ tên tuổi, chi tiết. Những người cha này, dầu có ở xa, có khi hiện diện gần gũi đây thôi, nhưng cuộc đời dã thay đổi, làm sao dòng sông lại có cơ hội chảy về nơi chốn cũ, Họ đã có một gia đình mới, những đứa con mới, không đủ can đảm nhận trách nhiệm của một người cha. một người chồng, sợ gia đình hôm nay tan vỡ, nếu còn chút lương tâm, chắc chắn phải sống dằn vặt cho đến hết cuộc đời. Nhiều phụ nữ, trong khi chồng đang ở trong các nhà tù cộng sản, tương lại mờ mịt, đã kiếm đường vượt thoát ra di. Trên xứ lạ quê người, phận đàn bà, với những đứa con thơ, cô đơn, yếu đuối, hoàn cảnh đưa đẩy đành phải nhờ cậy một bàn tay cưu mang giúp đỡ khác. Ít ai ngờ trước có ngày người chồng ra tù, vượt biển đến đây, gặp gỡ lại nhau trong một hoàn cành éo le, bây giờ con cái đã đổi tên, đổi họ, nhin nhau lạ lạ quen quen, tất cả chỉ còn là kỷ niệm, đành ngậm ngùi mà than thở: “Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!” (Phan Khôi).

Sau ngảy miền Nam sụp đổ, nhiều đứa con lai, vì hoàn cảnh khó khăn, chế độ khắc nghiệt kỳ thị, đã bị những người mẹ bỏ rơi giữa chợ đời, cô đơn, đói khát, lang thang kiếm sống trên đường phố, nơi bến xe hay chỗ chợ búa đông người. Ngày trưởng thành, các em được quê cha rộng lượng mang về, nhưng nỗi khao khát của những đứa con vẫn là di tìm lại người mẹ. Các em không hề oán trách, lên án ai, chỉ vì tiếng gọi thống thiết của tình mẫu tử, như trên đời này ai cũng cần có một người mẹ. Với những chi tiết và ký ức mơ hồ, rất nhiều em dã trở lại quê hương không phải chỉ một, mả nhiều lần để tìm mẹ, nhưng hầu hết là tuyệt vọng. Qua bao nhiêu năm, không những đất nước, xóm làng dã thay đổi, mà những người thiếu phụ dã lầm lỡ một lần, đau xót một lần đã muốn xóa hẳn dĩ vãng và dấu tích của một thời, có người bây giờ dã yên ổn với một mái gia đình mới, ai muốn khơi dậy chi đống tro tàn năm cũ, cho thêm ngỡ ngàng dau xót.

Cũng tưởng là vĩnh hiệt, ngày tập kết ra Bắc, những cán bộ Việt Cộng, bỏ lại vợ con ở quê nhà. Được một vài năm. đảng cầm chân, bố tri cho họ kết hôn với những đảng viên kiên trung có lập trường, để có thể kiểm soát được tư tưởng hành động các cán binh gốc miền Nam. Những người này không những không còn mơ tưởng, trông ngóng gì những liên hệ gia dình ở miền Nam mả còn an bài với số phận, cắt đứt con đường về để hết lòng chung thủy, tận tụy với đảng,

Phải lâu lắm sau ngày gọi là “giải phỏng,” những người này mới “được phép” trở về miền Nam. Phải nói là họ hết sức ngỡ ngàng, khi thấy hầu hết những người đàn bà miền Nam, vợ những cán bộ cộng sản tập kết, hơn hai mươi năm nay vản ở vậy nuôi con khôn lớn thành người. So với thế giới miền Bắc, nhưng “cơ ngơi,” thành quả những ngày tảo tần của những người vợ và những đứa con trong nước họ để lại miền Nam đã làm cho những cán binh trờ về sau hai mươi năm, cảm thấy ngỡ ngàng, mặc cảm thua sút, xấu hổ trong ngày tái ngộ “bất đắc dỉ” khi nhìn lại cái thân phận “bên thắng cuộc” của mình. Người cán binh cộng sàn trở về đã trở thành xa lạ với những người ruột thịt mả họ đã bỏ ở lại hai mươi mốt năm về trước, người vợ mới và những đứa con sinh trường. lớn lên ở miền Bắc, hoàn toàn xa lạ và lạnh lùng dưới cái nhìn của người miền Nam. Vợ chồng đã không còn có thể “đồng sàng” mà cha con cũng không thể ngồi nói chuyện với nhau dăm phút chỉ vì quá “dị mộng!” Tưởng chừng như vĩnh biệt chế dộ cộng sản khi cà triệu người miền Bắc bỏ quê hương, mồ mà cha ông để di cư vào Nam, có ngờ đâu có ngày nón cối, dép râu, AK 47 lại đuổi theo bước chân của họ dến đường cùng, để cuối củng đành phải rởi bỏ nước lần nữa ra đi, dủ phải chấp nhận cái chết trên biển cả mịt mùng.

Tưởng chừng như vĩnh biệt, mà con Tạo trớ trêu là cho con người ta trùng phùng, tái ngộ trong những hoàn cảnh đau xót không ai mong muốn. Chỉ có con người và đất nước Việt Nam khốn khổ mới phải chịu nhiều nỗi tai ương, gian truân, chia lìa, đắng cay như thế. Giá mà số phận đất nước hơn nừa thế kỷ trước dã không bị loài ma quỹ du nhập vào một sản phẩm tồi tệ là chủ nghĩa cộng sản, thì con người Việt Nam hôm nay đâu có nhận chịu nhiều nỗi khổ đau như thế!

Anh hùng Richard Norden

dongsongcu.wordpress.com

Đoàn Xuân Thu

Posted on July 23, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 May 2026

Richard Norden hy sinh khi còn rất trẻ. (Hình: thechronicle.com.au)

Gần 60 năm sau ngày bom đạn dội xuống rừng rậm Việt Nam, cái tên Richard Norden, một chàng trai mới 19 tuổi đến từ thị trấn nhỏ Gundagai, cuối cùng cũng được viết lên trang vàng lịch sử như một biểu tượng của lòng quả cảm.’

Ông vừa được truy tặng Victoria Cross (VC) (Huân Chương Chữ Thập Victoria) – phần thưởng quân sự cao quý nhất của Commonwealth. (Khối Thịnh Vượng Chung), vì những hành động anh hùng trong một trận đánh khốc liệt vào năm 1968 tại chiến trường Việt Nam.

Trong một buổi lễ trang trọng tại Canberra, tấm huân chương ấy được trao cho góa phụ của ông – bà Robynn Norden, người đã âm thầm chờ đợi hơn nửa thế kỷ để công lý được thực thi cho người chồng đã khuất.

Năm 1968, giữa lúc chiến sự ở Việt Nam đang lên đến đỉnh điểm, Binh Nhì Richard Norden tham gia vào một chiến dịch quân sự cùng đồng đội thuộc lực lượng Úc. Trong một lần hành quân giữa rừng sâu, trung đội của ông bất ngờ rơi vào ổ phục kích của quân Bắc Việt. Trong cơn hoảng loạn và tiếng đạn xé toang không khí, những người lính trẻ đối mặt với hiểm nguy trước mắt và cái chết kề cận.

Giữa làn đạn không ngớt và sự hỗn loạn, khi tiểu đội trưởng và người trinh sát tiền phương bị thương nặng, Norden đã không chần chừ. Ông xông thẳng lên phía trước, bắn hạ một binh sĩ đối phương, sau đó nhanh chóng thu lấy vũ khí và tiêu diệt thêm một lính Bắc Việt khác. Bằng sự quả cảm không nghĩ đến tính mạng, ông đã cứu sống người chỉ huy tiểu đội là Joe Kelly.

Nhưng chưa dừng lại ở đó, ông còn dùng lựu đạn để dọn sạch khu vực, tìm lại thi thể của đồng đội thân thiết là Chris Nisbet, người đã hy sinh tại chỗ. Chính nhờ sự liều lĩnh ấy, thi thể của Nisbet được đưa về, để người vợ trẻ của ông, bà Barbara, có thể chôn cất chồng mình đàng hoàng.

Barbara và Chris Nisbet lấy nhau chỉ vài tuần trước khi ông lên đường ra trận. Lúc đó, bà đang mang thai đứa con đầu lòng. Khi nghe tin chồng hy sinh, điều duy nhất khiến bà an ủi được phần nào là biết rằng ông đã được đồng đội, đặc biệt là Richard Norden, đưa trở về.

“Tôi luôn yêu anh ấy, nhưng không thể hiểu nổi tại sao mọi thứ lại kết thúc như vậy,” bà Barbara chia sẻ trong nước mắt. “Nếu không có Dick (tên gọi thân mật của Richard Norden), tôi đã chẳng bao giờ có cơ hội nói lời từ biệt.”

Ngay sau chiến tranh, Richard Norden được trao tặng the Distinguished Conduct Medal (Huân Chương Dũng Cảm) – một danh hiệu đáng kính. Tuy nhiên, với nhiều người, nhất là những ai từng cận kề với cái chết bên ông, như cựu quân nhân Stan Barrett, thì chừng đó là chưa đủ. “Nếu không có Dick hôm đó, đã có nhiều người trong chúng tôi không còn trở về nhà nữa. Chúng tôi bị áp đảo cả về quân số lẫn hỏa lực, và hoàn toàn bị cô lập,” Barrett nhớ lại.

Ngay cả Sir Roden Cutler – Toàn quyền tiểu bang New South Wales khi đó, người từng nhận Distinguished Conduct Medal (DCM (Huân Chương Chiến Công Hạng Nhất), cũng cho rằng hành động của Norden xứng đáng với Victoria Cross. “Ngày nay, người ta phải làm gì nữa mới xứng đáng nhận Huân Chương VC?” ông từng đặt câu hỏi đầy chua xót.

Phải mất hơn năm thập niên, nhờ nỗ lực không ngừng của cựu chiến binh George Hulse – người đã kiên trì gõ cửa mọi cấp chính quyền, từ quân đội đến quốc hội, mà cuối cùng, sự công nhận cũng đã đến. Vào năm 2022, chính phủ Úc chính thức đề xuất truy tặng Norden tấm huân chương danh giá nhất.

Điều trớ trêu là Richard Norden không sống lâu để được thấy thành quả của lòng dũng cảm ấy. Sau khi trở về từ Việt Nam, ông gia nhập lực lượng Cảnh Sát Liên Bang Úc, tiếp tục phục vụ cộng đồng. Nhưng số phận nghiệt ngã đã không buông tha ông. Năm 1972, Richard Norden qua đời trong một tai nạn xe máy, khi mới chỉ 24 tuổi.

Tấm huân chương hôm nay được trao cho bà Robynn, người vợ góa đã sống với ký ức và sự mất mát suốt hơn nửa đời người. Trong buổi lễ, bà nghẹn ngào nhận lấy tấm huân chương, không phải chỉ cho chồng mình, mà cho tất cả những người lính đã chiến đấu, hy sinh và bị lãng quên.

Câu chuyện về Richard Norden không chỉ là một phần lịch sử được viết lại – nó còn là minh chứng rõ ràng cho lòng dũng cảm, tinh thần đồng đội và sự hy sinh thầm lặng mà chiến tranh để lại. Dù huân chương đến muộn, nhưng nó là biểu tượng cho công lý, cho sự ghi nhận mà một người hùng thực sự xứng đáng.

Ở thị trấn nhỏ Gundagai, nơi Richard từng lớn lên, người dân giờ đây có thể tự hào nhắc đến ông như một người con kiệt xuất. Và ở khắp đất nước Úc, tên tuổi ông sẽ mãi được nhớ như một biểu tượng không bao giờ phai mờ của tình đồng đội và lòng quả cảm. Lòng dũng cảm không cần tiếng vỗ tay, nhưng luôn xứng đáng được ghi nhớ.”

Richard Norden – xin vĩnh biệt ông, một người anh hùng!

Lò Cừ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 3 May 2026

Bảy thằng Viễn Thám chúng tôi được trực thăng vận vào vùng hành quân. Theo kế hoạch, giữa trưa sẽ nhảy xuống khu rừng giáp ranh đồn điền cao su Choup, thuộc lãnh thổ Kampuchia. Nhưng mấy thằng phi công ôn dịch cứ bay tít ở trên cao, và lượn tới lượn lui mãi. Chắc nó muốn ăn đạn phòng không? Nó không biết phía dưới có hàng vạn quân Bắc Việt đang giương mắt ngó lên sao? Bay lượn cái kiểu trêu người này, chẳng khác nào báo cho địch biết rằng, tao sắp thả mấy thằng Viễn Thám xuống đây, hãy chuẩn bị bắt nó. Nhưng làm sao nói với thằng phi công? Lỗ tai nó đã bịt kín lại bằng cái máy nghe. Gió tạt mạnh và tiếng cánh quạt phần phật làm át đi mọi tiếng nói. Không những thế, nó còn làm sai bét cả nguyên tắc nghi binh của Viễn Thám. Một chiếc trực thăng đổ quân, hai chiếc Cobra yểm trợ có trang bị đại liên và rocket, sà xuống bắn xối xả, ít nhất là vài ba cái trảng trống trong rừng. Trong những lần sà xuống ấy, chúng tôi nhảy ở một nơi đã được chọn lựa trước, để địch không biết chắc chúng tôi xuống điểm nào. Đằng này, sau khi quần cho đã, bỗng chiếc đổ quân hạ ngay xuống điểm chính. Hai chiếc Cobra kè hai bên, bắn qua loa vài phát. Xong, cất đầu lên, bay về luôn.

Thằng Sử trợn mắt nhìn theo, chửi thề: “Đù má! Nó làm ăn cái kiểu gì kỳ cục vậy?”

Không ai có thì giờ ở đó mà chửi phụ hoạ theo thằng Sử. Chúng tôi lủi nhanh vào lùm rậm. Kiểm lại quân số. Rồi tức tốc rời khu vực vừa đổ quân, càng xa càng tốt. Chậm trễ, địch kéo tới bao vây thì bỏ mạng. 

Vào đất Kampuchia lần này, chúng tôi có nhiệm vụ theo dõi tình hình và ghi nhận những nơi tập trung quân của địch. Đây không phải lần đầu tôi nhảy toán. Nhưng chuyến đi này, tôi lo lắng rất nhiều, nếu không nói rằng sợ. Theo tin phòng nhì, Công Trường 7 và Công Trường 9 của Bắc Việt, hiện đang có mặt trong vùng rừng rậm Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt, trải quân chiếm cả hai đồn điền cao su Choup và Mimot. Mấy tháng trước, chiến đoàn phối hợp nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp, vào Choup và đã bị đánh bật ra ngoài, gây tổn thất khá lớn về nhân mạng. Sau đó, người ta không muốn dùng lực lượng bộ binh để tấn công vào đồn điền nữa, vừa tốn kém nhiều, lại không nắm chắc được phần thắng. Vì thế, Không Quân và Pháo Binh được nghĩ đến. Và Viễn Thám được điều động vào vùng, để đưa những mục tiêu lên “lưới”.

Liên tiếp trong hai tuần lễ vừa qua, có hai toán Viễn Thám được thả vào đồn điền Choup. Nhưng  tất cả đều mất tích một cách khó hiểu. Những chàng Kinh Kha thời đại, chẳng ai tiễn qua sông mà cũng một đi không trở lại. Toán chúng tôi là toán thứ ba. Kế hoạch có thay đổi chút ít. Xuống ở vùng rừng rậm, để từ đó, mò vào Choup. Lấy hướng Đông, xuyên qua đồn điền, về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Trên đường đi, sẽ chấm toạ độ đóng quân của địch, đưa lên “lưới viễn thám” cho phi pháo oanh kích. Nhiệm vụ đơn giản chỉ có thế, nhưng thi hành thì tính mạng ngàn cân treo sợi tóc.

Từ nửa tháng nay, tinh thần chúng tôi hơi căng. Lúc những đơn vị lớn nằm án binh bất động, là lúc bọn Viễn Thám lao vào vùng địch. Thời gian hạn định cho một chuyến công tác là ba ngày hai đêm. Đã hơn mười ngày rồi, hai toán trước vẫn biệt tăm. Máy siêu tần số của trung tâm vẫn trực 24/24. Không một tín hiệu gọi về. Đứt liên lạc. Tình hình địch ra sao, không nắm vững. Trong chiến tranh, mạng người như những đồng bạc lẻ, tiêu pha không tiếc. Mất mười bốn thằng Viễn Thám, chẳng nghĩa lý gì so với với những thiệt hại vừa qua ở Dambert, Soul, Mimot, Choup. Thí mạng thêm bảy thằng Viễn Thám nữa, để thăm dò tình hình địch, không phải là một cái giá quá đắt.

Tôi được gọi lên phòng thuyết trình, nhận lệnh hành quân. Sáu thằng trong toán lảng vảng bên ngoài, lo lắng. Khi tôi bước ra, không thằng nào lên tiếng hỏi, nhưng những cặp mắt ái ngại nhìn tôi, chờ đợi một câu trả lời.

Tôi nói ngắn gọn: “Chuẩn bị.”

Có mấy tiếng lảm nhảm chửi thề. Đó là dấu hiệu của sự bất mãn. Trong cái đầu của những thằng lính trận, hình như luôn luôn có sự bất mãn. Và miệng sẵn sàng tuôn ra những câu chửi thề vô tội vạ. Bất mãn, chửi thề là cái bệnh chung của anh em. Không cần chữa trị, căn bệnh này cũng biến mất lúc đứng trước thượng cấp. Vì thế mà kỷ luật được duy trì, mệnh lệnh được thi hành một cách triệt để.

Trong lúc anh em lo kiểm lại cấp số đạn dược, và sơn mặt ngụy trang, tôi bảo trung sĩ Năng lên kho tiếp liệu, lãnh khẩu phần cho cả toán.

Khi vác khẩu phần về, Năng nói: “Kèo nài mãi, mới xin dư được một túi mưu sinh.”

Thằng Nhiêu hỏi: “Để làm gì?”

“Bán cho mấy thằng trực thăng. Cũng được chầu nhậu linh đình.”

“Chưa biết còn mạng trở về hay không. Nói chi đến chuyện nhậu.”

Năng sừng sộ: “Đù má! Sắp hành quân. Miệng ăn mắm ăn muối, đừng nói bậy nhe.”

“Mày là thằng sợ chết nhất. Mới cưới con vợ ngon lành. Sáu tháng chưa về phép. Đêm ngủ mộng tinh. Bỏ vợ nhà lâu quá, hôi ê.”

Anh em cười rộ.

Năng nhìn tôi: “Xong chuyến đi này, trung úy đề nghị cho tôi về phép?”

Tôi trợn mắt: “Mày giỡn? Tình hình đang căng thẳng, cấm trại trăm phần trăm. Ai dám cấp giấy phép cho mày?”

“Lúc nào cũng nghe nói tình hình căng thẳng, và cấm trại. Đánh giặc lâu dài, chứ đâu phải đôi ba bữa là xong. Không thể trấn con người ta vô rừng mãi được. Phải liệu cách giải quyết chứ?”

“Mày có gan thì lên gặp Đại Bàng Già mà khiếu nại. Trên ổng còn có Mặt Trăng, Mặt Trời, Bắc Đẩu…, cứ theo hệ thống quân giai mà khiếu nại dài dài lên Tổng Thống. May ra trường hợp của mày được giải quyết.”

“Những thằng lính văn phòng, chẳng cần phép tắc mà vẫn tà tà ở thành phố, ôm đít vợ hằng đêm. Còn mình trông cái phép gần chảy máu mắt, không được. Bất công!” Năng càm ràm.

Tôi nói: “Bất công là lẽ thường. Trên cõi đời chó má này, làm gì có sự công bình?”

“Nghĩ tức. Nhiều khi muốn đào ngũ.”

“Cứ đào ngũ đi. Bọn Quân Cảnh ngồi ngáp gió, không có việc gì làm. Nó đang chờ mày đấy. Còn ở đây, không có mày thì có thằng khác thế vào.”

Thượng sĩ nhất Sử, nói: “Năng ơi, trước khi hành quân, mày đừng lải nhải ba cái chuyện đó nữa, được không? Nhìn bộ mặt nhăn như cái bánh bao của mày, tao nản!”

Thằng Sử là toán phó Viễn Thám. Nó ra trường Đồng Đế năm mười chín tuổi. Liều mạng và háu đá. Năm năm chiến trường, chưa một lần bị thương. Nó khoe, thầy của nó tu luyện ở Thất Sơn, chuyên môn uống máu dơi và ăn gan rắn hổ. Ngày vẽ bùa trấn ma. Đêm ngậm ngải mà ngủ. Cái nanh heo rừng, nó đeo lủng lẳng trước ngực, thầy nó đã tươm bùa vào rồi. Nó coi cái nanh này là một thứ bùa hộ mạng, bom đạn không thể xâm phạm được nó. Từ tiểu đoàn Biệt Động Quân, nó xin qua Viễn Thám. Mới đầu, tôi không chịu nhận nó vào làm toán phó. Tôi chỉ cần thằng nào dè dặt và cẩn trọng, chứ không cần liều mạng và háu đá. Bởi nhiệm vụ của chúng tôi là theo dõi địch tình, và né tránh tối đa những đụng độ. Nhưng nó nói, ông thầy yên tâm đi, thằng Sử này cũng biết tùy hoàn cảnh, không phải lúc nào cũng làm ẩu đâu. Tôi nhận, và đề nghị cho nó đi thụ huấn một khoá Viễn Thám ở Dục Mỹ. Học xong, nó về với tôi, đã hơn năm. Sau những lần vào ra hang hùm, tôi thấy nó đã biết… sợ.

Từ lúc đổ quân cho đến chiều, chúng tôi luồn lách trong khu rừng rậm. Phát hiện nhiều dấu vết di chuyển của địch qua cây cỏ bị rạp. Phần lớn rạp xuôi về hướng đồn điền. Chiều gần chạng vạng, chúng tôi dừng lại bên ven rừng, giáp ranh đồn điền. Dự định “lót ổ” qua đêm. Tôi mở máy siêu tần số, báo về trung tâm hành quân những gì đã nhìn thấy, và ước đoán tình hình địch đang dồn thêm quân về Choup.

Có tiếng của Đại Bàng Già: “Dấu vết mới hay cũ?”

Tôi trả lời: “Có mới, có cũ.”

Lệnh Đại Bàng Già: “Ngày mưa phùn. Chồn Đầu Bạc lần theo dấu mới. Hết.”

Trong đặc lệnh truyền tin, “ngày mưa phùn” là ngày mai. Ám danh của trưởng toán 3 Viễn Thám là Chồn Đầu Bạc. Chẳng biết tại sao, khi làm đặc lệnh truyền tin, người ta lại lấy tên của con thú đặt cho tôi? Đã là chồn, thì có chồn hôi, chồn mướp, chồn đèn. Làm gì có chồn đầu bạc?

Có lần, đang ngồi chơi trước Bộ Chỉ Huy, trông thấy vị sĩ quan truyền tin đi qua, tôi gọi: “Ê! Thuận Phong Nhĩ. Sao đặt tôi là Chồn Đầu Bạc?

Hắn cười: “Chồn già.”

“Trai ba mươi tuổi còn son. Gái ba mươi tuổi đã toan về già. Tôi ba mươi, sao gọi rằng già?”

“Già mưu mô, như con chồn của La Fontaine dụ con gà trống gáy. Còn bạn, sao gọi tôi là Thuận Phong Nhĩ?”

“Trong Tây Du Ký, Thuận Phong Nhĩ là thằng truyền tin của Ngọc Hoàng, có cái lỗ tai nghe xa ngoài ngàn dặm.”

Hắn gục gật cái đầu: “À, ra thế.”

Rồi bỏ đi. Cái tướng phục phịch như con gấu đực, nhưng vô cùng chung thủy. Không bao giờ hắn chơi đĩ. Hắn sợ mắc tiêm la, rồi sang mầm bệnh cho vợ. Nhiều thằng lén rỉ tai, hắn bị vợ khoá cu, không cho chơi bậy.

Tôi chọn chỗ ngủ có nhiều gai góc, và lùm bụi che khuất. Ban đêm, nếu địch di chuyển qua đây, cũng phải né tránh những nơi vướng mắc khó đi. Thế là chúng tôi được an toàn. Bóng tối đổ xuống rừng già rất nhanh. Đêm mù. Khí ẩm hơi sương. Thỉnh thoảng, có những trận gió cuốn qua, rào rào trên đọt cây. Tiếng hú của cú mèo, như tiếng ma kêu. Tiếng “cốc cốc” của con chim gì không biết, như tiếng gõ nhịp song lang. Chúng tôi nằm im, nhưng không thằng nào ngủ được. Nghĩ đến mai đây, lần theo dấu địch vào đồn điền cao su, ai cũng ớn xương sống. Địch đông như kiến cỏ. Chúng tôi chỉ bảy thằng. Nếu bị lộ tung tích, biết chạy đàng nào?

Thằng Năng, nằm kế bên tôi, thì thầm: “Xong chuyến này, thế nào trung úy cũng ráng tìm cách cho tôi về thăm vợ vài ngày?”

Thì ra, thằng Năng không ngủ vì nhớ vợ. Chẳng phải như chúng tôi, không ngủ vì lo một ngày mai.

Tôi nói nhỏ: “Lúc này, cầm giấy phép về phố, Quân Cảnh cũng nắm đầu. Tao sẽ năn nĩ, xin Đại Bàng Già cấp sự vụ lệnh cho mày đi công tác. Lợi dụng chuyến đi này, mày ghé về thăm vợ.”

“Trung úy hứa thì giữ lời nhe.”

“Tao giữ lời. Còn cấp trên chịu cho hay không, là chuyện khác.”

“Tôi nghĩ, trung úy nói là ổng thông cảm liền.”

Tôi nằm xích lại gần Năng hơn: “Tao hỏi thiệt. Đêm động phòng, vợ mày còn nguyên không?”

“Làm sao biết còn hay không?”

“Rách màng trinh, chảy máu.”

“Tối quá. Không nhìn thấy.”

“Có tỏ vẻ đau đớn không.”

“Không biết. Chỉ nằm im như khúc gỗ. Có thể đau, nhưng mắc cở nên cắn răng chịu đựng.”

“Có “bót” không?”

“Bình thường.”

Tôi vặn: “Bình thường là sao?”

Năng lí nhí: “Hỏi khó nói quá.”

“Mày như con bò rừng. Chỉ biết hùng hục, chẳng nhận xét gì cả.”

Năng nói, nghe rất tội nghiệp như tự nói với chính mình: “Người ta thương mình. Chịu làm vợ mình, đủ rồi. Mất hay còn trinh, không quan trọng. Miễn sau này, đừng bậy bạ với thằng nào. Trước khi lấy người ta, mình cũng… tơi bời hoa lá, chứ tốt lành gì, mà đòi hỏi người ta còn nguyên xi.”

Nằm một lúc lâu, Năng khều vai tôi: “Hồi còn bên Trinh Sát, nghe trung úy sắp cưới vợ?”

Tôi nói: “Xù rồi.”

“Ai xù?”

“Đàng gái.”

“Tại sao?”

“Ông bố của cô ta bảo, khi nào tao xin được về văn phòng, mới chịu cho đám cưới. Mà gia đình tao nghèo, không quen “gốc lớn”. Làm sao xin?”

“Thương thì lấy. Văn phòng hay tác chiến, đâu quan trọng?”

“Ổng sợ con ổng sớm thành goá phụ.”

Năng chửi thề: “Đù má! Đi tác chiến, đều là những thằng gia đình nghèo nàn, không thân thế. Sống hùng sống mạnh, nhưng không không sống lâu.”

“Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.”

Tôi lan man nghĩ về cô sinh viên Sư Phạm. Tưởng mối tình sẽ tốt đẹp, sau khi cô ra trường. Nào ngờ, bố cô như một bóng đen trùm xuống với một điều kiện, mà tôi biết rằng tôi không đủ khả năng thực hiện. Thế là cô ta đi lấy chồng. Rồi mọi chuyện cũng đâu vào đó. Cô vẫn bình thường, như chưa từng trải qua một lần thề sống chết với tôi. Khi tôi tình nguyện qua Viễn Thám, có thằng bảo tôi thất tình, lao vào chỗ chết. Tôi chỉ cười. Thật ra, tôi có buồn buồn một thời gian. Nhưng không quằn quại đau thương bỏ ăn mất ngủ, đến nỗi điên khùng muốn tự tử, như mấy thằng bạn nói.

Rọ rạy một hồi, Năng lại hỏi: “Không cưới được vợ, có thất tình không?”

Tôi nói có. Năng bảo nhiều thằng vì thất tình mà trở thành thi sĩ. Và hỏi tôi có làm thơ thất tình không?

Tôi trả lời bằng cách đọc ẩu:

Em như cục cứt trôi sông

Anh như con chó đứng trông trên bờ

Em như cục cứt dật dờ

Anh như con chó trên bờ đứng trông.

Năng cười rúc trong cổ: “Thơ thất tình gì mà chỉ thấy chó với cứt. Con vợ tôi nghe được bài thơ này, chắc cười chết bỏ.”

Tôi nhắc lại lần nữa: “Thôi, ngủ đi Năng ơi. Khuya, mày còn lên phiên gác.”

Trời hừng sáng. Đủ loại chim rừng hót rộ trên cây. Chúng tôi nhìn nhau, thấy lạ. Màu chàm ngụy trang trên mặt cho tiệp với màu xanh cây lá, đã đã làm mặt người đổi khác. Tôi trải tấm bản đồ, chỉ cho cả toán biết điểm tập trung trong ngày, nếu chẳng may thất lạc.

Lại dặn dò hạ sĩ Nhiêu: “Mày đi đầu, không cần phải theo đúng phương giác địa bàn. Tùy theo địa thế mà đi. Phải hết sức cẩn thận.”

Theo đội hình hàng dọc, Nhiêu là khinh binh đi đầu, kế là tôi…, và thằng Sử toán phó, đi sau cùng.

Đồn điền Choup. Những cây cao su được trồng ngay hàng thẳng lối. Thân cây già cỗi, to đến cả người ôm. Tàn lá rợp, che bóng mặt trời. Thời kỳ chiến tranh, đồn điền bị bỏ hoang nhiều năm. Gai mắc cở là đà ngang đầu gối. Cỏ dại gần lút đầu người. Những loài cây tạp cũng chen nhau, vươn lên cùng với cao su. Lợi dụng địa hình che khuất, quân Bắc Việt đã vào đây trú ẩn.

Gần đứng trưa. Thằng Nhiêu dừng lại, nép vào gốc cao su, ngắc tay gọi tôi lên.

Nó nói nhỏ: “Lắng nghe.”

Trên trời có tiếng rì rì như tiếng của con ong bay qua.

Tôi nói: “Con đầm già L19, bay quan sát.”

Nó lắc đầu, chỉ tay về phía trước. Có tiếng nói văng vẳng, vọng lại từ xa. Thỉnh thoảng có tiếng động, hình như tiếng chặt cây.

Tôi ngó về phía sau, làm thủ hiệu cho anh em bố trí tại chỗ. Tôi và thằng Nhiêu len lỏi mò lên. Không dám tới quá gần vì sợ bị lộ, nhưng tôi cũng ghi nhận được những dữ kiện cần thiết để ước đoán tình hình. Khi quay lại chỗ cũ, tôi mở máy báo về trung tâm hành quân. Thuận Phong Nhĩ tức tốc gọi Đại Bàng Già đến ngay đầu máy.

Tiếng Đại Bàng Già: “Tao đưa mục tiêu lên “lưới”. Chồn Đầu Bạc xáp lại gần, quan sát, điều khiển “thiên lôi” làm việc, và cho biết kết quả. Hết.”

Trời đất! Phi pháo dội xuống mục tiêu. Quân địch như ổ kiến lửa, bị động sẽ bung tràn lan ra ngoài. Đại Bàng Già bảo xáp lại gần. Ông tưởng bọn tôi có thể tàng hình trước con mắt địch quân hay sao?

Tôi bảo mấy thằng trong toán: “Lệnh là thế. Nhưng tụi mình phải “dọt” khỏi chỗ này cho xa.”

Chúng tôi đổi phương giác. Né tránh mục tiêu. Chừng mười lăm phút sau, pháo nổ ầm ầm dữ dội. Dứt đợt pháo, phản lực cơ bắt đầu gầm thét và thả bom Napalm, đốt cháy một khu vực đồn điền.

Đang di chuyển, tôi nghe tiếng Đại Bàng Già hỏi, tốt không, có cần điều chỉnh gì không?

Nhìn về phía mục tiêu, tôi nói tốt rồi. Đâu biết phi pháo dội có chính xác hay không. Tôi nghĩ, dù sao cũng phải lo cho mạng sống của bảy thằng chúng tôi trước. Bỗng có tiếng súng AK nổ dòn, bên hông trái đội hình. Tiếp theo, nhiều loạt súng khác nổ ran.

Trời ơi! Né tránh chỗ đóng quân, lại đâm đầu vào “chốt” tiền đồn của địch. Tôi la lên trong máy: “Đụng rồi.” Và bấm cái nút báo động đỏ. Máy siêu tần số trang bị đặc biệt cho Viễn Thám, khi bấm nút đỏ, sẽ tự động báo nguy về máy trung tâm bằng những tiếng “cạp… cạp… cạp…” liên tục, như tiếng vịt kêu hoảng hốt.

Chúng tôi vừa bắn trả, vừa tạt về bên phải. Chạy! Tiếng súng đuổi nà theo sau lưng. Phi pháo vẫn hoành hành ngút khói tại mục tiêu chính.

Chạy trối chết ra khỏi đồn điền, chúng tôi lủi nhanh vào rừng rậm, nơi đã dặn dò điểm tập trung. Kiểm lại quân số. Không thấy thằng Nhiêu. Những cặp mắt tởn thần mở lớn, chưa hết nỗi kinh hoàng. Địch quân đang truy lùng khắp khu vực. Tôi liên lạc về trung tâm, báo tổn thất của ta, và ước đoán thiệt hại của địch.

Lệnh của Đại Bàng Già: “Tung tích đã bị lộ. Lo dọn bãi đáp. Trực thăng bốc về.”

Trong khi ẩn trốn, chờ thằng Nhiêu, tôi mệt mỏi nằm gối đầu trên chiếc ba lô. Đến chiều vẫn không thấy tăm hơi. Có thể nó đã gục ngả ngay đợt nổ súng đầu tiên. Nếu tính cái giá hơn thua bằng xác chết, thì mất một thằng Nhiêu, đổi lại bao nhiêu sinh mạng địch quân trong trận oanh kích vừa qua. Nhưng tình cảm con người, không đơn giản như đơn vị đo lường. Chúng tôi buồn thảm nhìn nhau. Tự dối lòng, biết đâu thằng Nhiêu vẫn còn thất lạc đâu đó.

Ngày thứ ba, kể từ khi vào đất Kampu chia. Không thể xuyên qua đồn điền để về điểm hẹn tại biên giới Việt Nam. Chúng tôi đi ngược về phía rừng già, tìm bãi bốc trực thăng. Nhưng trực thăng không xuống được. Những con chuồn chuồn vừa lảng vảng vào khu vực, đã bị phòng không từ dưới đất bắn lên. Đành phải bay về. Địch quyết phong toả vùng trời, để chận bắt cho được chúng tôi. Liên tiếp hai ngày sau, vẫn thế.

Lương thực mang theo đã cạn. Chúng tôi bắt đầu mở túi mưu sinh. Túi này chỉ trang bị đặc biệt cho Viễn Thám. Những chàng phi công phải mang dù khi cất cánh, đề phòng bất trắc. Còn chúng tôi được trang bị túi mưu sinh, phòng khi gặp khó khăn không trở về đúng thời hạn. Trong túi chứa đủ thứ lỉnh kỉnh. Thuốc tăng sức, dùng khi có biến phải chạy thoát thân. Chẳng biết đây có phải là thứ thuốc chích cho ngựa chạy trường đua hay không. Dẫu sao điều này cũng không thực tế. Vì khi gấp rút chạy bán mạng, thì giờ đâu mà mở túi mưu sinh để lấy thuốc? Thuốc chống buồn ngủ, dùng ban đêm, lúc cần phải tỉnh thức canh chừng. Thuốc muỗi thoa ngoài da. Thuốc lọc nước, có công hiệu sát trùng rất mạnh. Sáu cái bánh mặn, theo chỉ dẫn, mỗi ngày chỉ dùng hai cái. Những viên thịt bò khô màu nâu, mỗi viên làm ngọt nước một tô canh. Một chùm lưỡi câu, lớn bé đủ loại. Một cuộn dây cước màu xanh nhạt, làm dây câu cá. Và sau cùng là quyển sách nhỏ, in hình một số cây lá trong rừng, cùng những lời giải thích để phân biệt loại nào có thể, và không thể ăn.

Có túi mưu sinh, chúng tôi vẫn bị đói. Không tìm được cây, lá, củ, trái nào giống như trong sách chỉ dẫn. Có lần, moi được củ khoai, như một loại khoai mỡ, ruột màu vàng nhạt. Thằng Năng bảo khoai nần. Muốn ăn phải xắt lát, ngâm nước vài ngày cho ra hết chất độc, sau đó phơi cho thật khô, rồi mới luộc. Nhưng thằng Sử cắn một miếng nếm thử. Nó khẳng quyết đây là một trong những loại khoai mỡ, và muốn lên lửa để nấu.

Tôi nói: “Muốn chết hả? Nếu địch quân nhìn thấy khói, dù bọn mình có mọc cánh cũng bay không thoát.”

Sau chừng mười phút, bàn ra tán vào về cái củ khoai lạ, môi miệng thằng Sử bị ngứa và sưng vều lên. Mọi người đều hoảng. Cũng may, nó chỉ nếm thử, chứ chưa nuốt.

Chúng tôi xuống sức vì đói. Đêm nằm trong vùng đất ẩm, lại bị vắt hút máu. Mặt người phờ phạc. Tinh thần khủng hoảng. Tôi thường xuyên kêu cứu về trung tâm. Nhưng mỗi lần trực thăng vào vùng lại bị phòng không. Địch biết chúng tôi chưa ra khỏi vùng, báo động khắp nơi. Chúng tôi lẩn vô rừng già. Đi về hướng Bắc, nơi có lữ đoàn Dù đang hoạt động ở Dambert. Hy vọng đi gần về phía quân bạn, sẽ bớt được áp lực của địch.

Tiết trời nóng nực, mà rừng rú vẫn xanh um cây lá. Tiếng ve buồn râm ran mùa hạ. Như những con thú hốt hoảng, chúng tôi sợ hãi bất cứ tiếng động nào. Sợ nhất là những con chim “tắc cọ”. Loài chim quái ác! Mỗi khi thấy có người đi, nó sẽ lượn theo mãi ở trên đầu, và la “tắc cọ… tắc cọ…” vang cả rừng. Gặp trường hợp này, phải dừng lại ngồi im trong lùm, không dám động. Kêu một hồi không thấy ai, nó sẽ chán, và bay nơi khác. Ngược lại, cũng nhờ chim “tắc cọ” báo động, mà chúng tôi biết địch đang di chuyển từ xa, để kịp thời tránh né. Lính hành quân trong rừng, gọi loài chim này theo cái tên nhà binh: “chim tiền sát”.

Chúng tôi lại chạm địch lần thứ hai. Hoả lực địch rất hùng hậu. Tôi biết ngay đây là một đơn vị lớn, không phải “chốt” tiền đồn. Chúng tôi thối lui, đồng thời ném những trái mini lựu đạn về phía sau, nhưng không cản được bước địch. Súng nổ rát bên mang tai. Địch đuổi theo, truy bức. Tôi thấy thằng Năng chạy cà nhắc. Một chân nó đã bị đạn. Tôi lướt tới, kè thằng Năng bằng cách nắm cánh tay của nó choàng qua vai mình, lôi bừa.

Năng lắc đầu tuyệt vọng: “Thôi, chạy đi.”

Tôi hét: “Ráng!”

Nó xô tôi ra: “Không được.” Và sà xuống một gốc cây, xả súng bắn ngược về phía sau cản địch, cho những thằng còn lại thoát thân.

Từ hai ngày trước, tôi yếu sức vì đói. Nhưng bây giờ, tôi chạy rất khoẻ. Đôi chân nhanh nhẹn lạ thường. Tuôn qua những gai góc, phóng qua những lùm bụi dễ dàng. Thân thể tôi dường nhẹ tênh, lướt như bay qua những chướng ngại. Những thằng kia cũng nhanh không kém. Nó chạy mà không cần biết anh em có theo kịp hay không. Nhờ thằng Năng cản địch, chúng tôi bỏ tiếng súng xa dần. Lúc dừng lại, tôi hấp tấp báo về trung tâm hành quân. Tiếng nói đứt quảng. Vừa nói vừa thở hổn hển như sắp đứt hơi. Bây giờ, tôi mới để ý đến tôi, và thấy mệt như chưa bao giờ mệt đến thế.

Bom và trọng pháo lại dội tan tành xuống mục tiêu. Đại Bàng già quyết định, bằng mọi cách phải mang chúng tôi về. Trong khi địch đang bị sấm sét, lợi dụng cơ hội này, trực thăng lao vào vùng, thả dây cấp cứu. Năm thằng chúng tôi ôm nhau thành một khối, treo tòn ten phía dưới trực thăng. Gió ù ù rát mặt. Từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy một vùng khói mù. Oanh tạc cơ vẫn còn tiếp tục thả bom. Giữa ngàn xanh mênh mông u uất dưới kia, có thằng Nhiêu, thằng Năng vĩnh viễn nằm lại đất Kampuchia.

Tôi xin ra khỏi Viễn Thám từ dạo ấy. Đời lính vẫn thường chứng kiến nhiều thương đau mất mát của anh em đồng đội. Thế nhưng, những đêm nằm rừng, nghe tiếng súng xa xa, tôi lại nghĩ đến hai thằng em trong toán của tôi, nhất là thằng Năng. Tội nghiệp, sau cái đêm động phòng với vợ, nó đi luôn không bao giờ về nữa.

§

Lâm Chương