Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 11 May 2026

Ngã tư Xóm Gà là chỗ gặp nhau của hai con đường Ngô Tùng Châu Gia Định và Lê Quang Định. Từ Ngô Tùng Châu lên nữa sẽ đến ngã ba Cây Thị. Trước khi đến ngã ba, bạn sẽ thấy bên trái một bảng hiệu to tướng “Xưởng Hóa Chất 5” chiếm nguyên cả bề rộng của con hẻm. Bảng hiệu ngoài đường nhưng xưởng thì nằm sâu vào trong xa, lọt thỏm giữa một xóm nhà có con đường chạy vòng theo vách tường của xưởng. Đây là con đường cụt, những tay cướp giật khi bị đuổi nà, chạy bừa vào đây, hi vọng giống như xóm Bàn Cờ hay trong Chợ Lớn, chạy riết sẽ ra đường cái, nào dè chạy đến cuối đường lại là nhà của người ta. Chủ nhà quá kinh nghiệm, đã làm đúng nghĩa “Kín cổng cao tường” Phía trên lại rào kẽm gai, cho nên dù võ công cao cường như trong truyện tàu cũng đành chưởi thề, đưa tay vào còng.  Thỉnh thoảng cứ nửa đêm về sáng, hễ nghe tiếng xe gắn máy hoặc tiếng chạy rầm rập, tiếng hò hét, đấm đá thình thịch của công an là cả xóm bật dậy, mở đèn trước nhà để xem mặt kẻ sa cơ. Gọi là xưởng hóa chất chứ thực ra trước đây là xưởng làm nước đá. Sau năm 75, chủ bỏ chạy ra nước ngoài, nó thành của nhà nước. Mấy tay bên đảng ủy thích dao to búa lớn, mới tương cái bảng “Xưởng Hóa Chất 5″, ra điều ta đây làm khoa học kỹ thuật chứ không phải làm nước đá. Nhưng làm gì, sản xuất gì cũng mất vốn dần. Cách làm kinh tế chắc ăn nhất là cho mướn xưởng, có tiền bỏ túi dài dài mà khỏi quản lý, kiểm tra vất vả. Một tay tàu Chợ Lớn, nhân cái bảng hiệu đó, dựa hơi nhà nước mới sản xuất xà bông, nước amoniac tức là “nước đái quỉ” và sản xuất cả oxyt kẽm nữa.

Từ khi chú chệt nhúng tay vào thì cái xưởng, ngày cũng như đêm, cứ náo loạn cả lên. Bất cứ cái khoa học kỹ thuật nào, đã vào tay mấy chú ba tàu đều thành khoa học thủ công hết trọi. Đơn sơ nhưng kết quả không thua gì máy móc miễn đừng nói đến chất lượng sản phẩm. Muốn sản xuất xà bông? Dễ ợt! Cái thùng phuy cắt đầu để trên ba cục gạch lớn, đốt lửa lên, đổ dầu dừa, nước xút, nước muối vào, vừa nấu vừa đảo một lát,  khiêng thùng phuy ra, đổ vào các thùng nhỏ, để nguội rồi cắt, dập vào khuôn. Đó là xà bông. Sản xuất  amoniac lại càng dễ hơn. Cứ vôi với nước lạnh bỏ vô một thùng to tổ bố, dưới đốt lửa. Hơi bốc ra được đưa qua các ống giải nhiệt, kiểu như mình chưng cất rượu. Thứ nước nồng nồng đó gọi là amoniac hay “nước đái quỉ” Chú ba tàu nầy chả hề học trường nào, không biết phản ứng hóa học là gì, cũng chẳng biết gì về Kinh Tế Học, nhưng hàng của chú, sản xuất đến đâu khách giành mua đến đó. Chú thu tiền vô như nước, nhưng chi ra thì giống con voi đau bịnh kiết lị. Chú chỉ có một công thức là vắt kiệt sức công nhân và giữ bí mật nghề nghiệp. Chú giữ cũng phải vì muốn biết những cái đơn giản đó, chú đã tốn bao nhiêu công, của để học hỏi, đâu cứ giở sách ra là làm được, lại phải có máy móc kiểm tra, đo lường phân tích nữa. Ở đây, máy đó là cặp mắt và bàn tay. Nhiệm vụ của công nhân là cắm đầu đảo – giống người ta đua thuyền, nhưng lại chèo trong một cái thùng phi – Thỉnh thoảng chú đến dùng mãnh gỗ nhỏ quẹt cái chất đang sôi sùng sục đó, nhúng vào nước lạnh, xong lấy tay bóp bóp, nghiêng ngó một lát rồi ra lịnh thêm vá muối, gáo nước hoặc xút vào. Nói đúng ra, xưởng cũng có một cái máy duy nhất là máy đo áp xuất của nồi amoniac, để canh chừng nếu sôi quá độ, nực hơi, nó sẽ nổ như quả bom. Việc làm ăn đang phát đạt, đùng một cái, chú được công an phường mời lên làm việc. Nguyên do là thứ nước đái quỉ – amoniac – của chú bay khắp xóm, không ai chịu nổi bèn đi thưa. Chú lên công an phường rồi về cưới hề hề “Không xao lâu, ngộ lo cả dzồi, cứ làm li!” Nhưng ít lâu sau lại đến công an quận, rồi ủy ban quận gọi. Họ đưa cái đơn của dân trong xóm thưa cho chú coi. Cơ quan nhà nước là phải lo cho dân, nên lúc đầu các đồng chí la hét om sòm, coi bộ còn tức giận hơn cả các nạn nhân nữa. Nhưng chú ba nhà ta vẫn tỉnh bơ, chú gặp màn nầy nhiều lần rồi và chú biết mình phải làm gì. Chỉ cần móc tiền ra đút lót rồi về xưởng chú có nấu thuốc độc cho cả xóm chết hết cũng chẳng có ai hoạnh họe gì. Cho nên sau khi chung đủ cái hụi chết đó chú được phán một câu “Chính quyền sẽ đả thông cho đồng bào rõ, nhưng anh cũng đừng ỷ lại vào nhà nước mà làm quá. Đây là bà Tư đứng đầu đơn thưa anh, anh phải đến thông cảm với bà ấy vài tiếng” Chú về nghiên cứu đối phương trước khi gặp mặt. Đó là bà Tư Cầu Muối. Trong xóm có nhiều bà Tư, bà nầy buôn bán ở chợ Cầu Muối nên có tên đó. Người bà cao, to, mập tròn, mặt mũi dữ dằn, giọng nói rổn rảng. Bà có chồng và hai cô con gái. Ông chồng đã chết được vài năm rồi. Ai cũng mừng cho ông ta thoát khỏi tay người bạn đời dữ hơn cọp cái. Nhưng bà lại buồn vì không còn ai để hành hạ, chửi mắng nữa. Bà buồn nên sinh bịnh. Bịnh phải đến bác sĩ. Bác sĩ khám bảo bà bị tăng xông. Chú ba nhà ta gõ cửa nhà bà Tư gọi là thăm xã giao. Vừa mở cửa, thấy chú ba, bà xạm mặt lại, mắt long lên như con mèo nhe răng gầm gừ. Nhưng chú vẫn cười hề hề:

– Chào pà chủ. Ngộ tến thăm pà chủ, piếu pà chủ ít tà tung cúc, ún chửa pịnh tăng xon hay lắm à, quí lắm à. Khôn có pán ngoài chợ lâu. Nghe nói chữa bệnh tăng xông hay lắm, con mèo hết nhe răng, nhưng vẫn cảnh giác:

– Ông đến có chuyện chi không? Mời ông vô nhà. Chú để gói trà bự trên bàn và bắt đầu vòng vo tam quốc. Đại ý là chú chỉ làm gia công cho nhà nước, nghĩa là chú không phải là chủ. Mùi hóa chất đó khó chịu một chút nhưng không sao, có khi hít vô còn khỏe người nữa. Bà Tư chỉ tử tế với một hạng người, đó là khách hàng của bà, nhưng đây, thấy gói trà trị tăng xông, bà tưởng như thuốc tiên nên không nghe bà nạt nộ, la lối gì. Bà dẫn chú ba lên lầu rồi đưa chú ra ban công:

– Ông đứng đây, hít thử xem ông có chịu nổi cái mùi chất gì đó của ông không? Tôi đi suốt ngày, chỉ buổi sáng, buổi chiều ra đây đứng hóng mát một chút cũng không xong. Mấy chậu bông, ớt kiểng cũng chịu không thấu. Trước đây nó đâu có xác xơ như thế nầy. Chú ba cứ dạ luôn miệng:

– Dạ, dạ, tể ngộ piểu tụi ló lấu khi pà chủ khôn có ở dà. Còn mấy chậu pông, chậu ớt kẻn lầy, ngộ thay cái khác tẹp hơn.

– Mà ông có biết mùi ông đang hít là mùi gì không?

– Mùi a mô nắc lớ.

– Nắc lớ là mùi gì?

– Lước lái quỉ lớ.

– Ờ, nước đái quỉ, ông đứng sát ngoài nầy một chút, nhìn xuống xưởng của ông xem. Đó! Chỗ góc tường đó.

Vũng nước đái của mấy con quỉ của xưởng ông, ngày nào cũng ra đó đái. Hôi nồng nực, có ai mà chịu thấu!

– Thôi chết cha ngộ dồi, tể ngộ chửi chết cha tụi ló. Có cầu tiêu không lái, lái pậy pạ.

Nhà bà Tư cách vách tường của xưởng bằng con hẻm nhỏ, chỉ vừa cho hai xe gắn máy tránh nhau. Nhà xây theo kiểu ăn gian, cái ban công lồi ra ngoài, như mái che con đường. Từ trên ban công nhìn xuống phía xưởng hóa chất, con kiến không thấy, nhưng lớn hơn một chút thấy rõ ràng. Dĩ nhiên đứng ngoài đường thì chịu vì bức tường cao quá đầu người. Nguyên từ khi bị bịnh tăng xông, bà Tư đi hỏi thăm khắp nơi, ai chỉ gì cũng ăn, bảo gì cũng làm. Có người bày cho bà luyện “Dịch Cân Kinh”, nghĩa là đứng thẳng, hai tay đong đưa giống quả lắc đồng hồ. Sáng ngủ dậy, đong đưa một lát, chiều về đong đưa, tối trước khi đi ngủ cũng vậy. Một buổi chiều, đang đứng đong đưa hai tay, bà nghe tiếng cãi cọ, bèn dòm xuống thì thấy mấy cậu thanh niên ở trần trùng trục đang kéo quần xịt vòi vào vách. Nói nôm na là đang đái vào vách. Nhìn thấy nguyên con các cậu công nhân, bà Tư choáng váng, ngất ngây cả người, trống ngực bà đánh như trống trận, chân tay cứ run lên. Cũng may nhờ mấy chậu bông kiểng che nên dù có nhìn lên các cậu cũng không thể phát giác ra bà. Thế là từ đó, chiều nào, chưa tan chợ bà đã hối hả dọn hàng, về nhà chờ mấy con quỉ kia xịt vòi vào vách. Bà không luyện “Dịch Cân Kinh” nữa. Bà bắt một chiếc ghế dựa ngồi đọc sách. Tuy nhìn vào sách nhưng mắt bà liếc chừng về phía vách tường. Đến chiều, khi công nhân chuẩn bị ra về và cuốn phim sống động bắt đầu thì bà lấy quyển sách che mặt, chỉ chừa cặp mắt, ngồi im lặng, không thở, nhìn không nháy mắt. Bà giống con mèo đang rình mồi. Thực tâm, có lúc bà cũng muốn thành con mèo, nhảy xuống chộp hết bầy chuột dưới kia nhai ngấu nghiến. Ôi, những con chuột đẹp đẽ, thơm ngon! …

Không hiểu thời gian thần tiên của bà kéo dài bao lâu, chỉ biết càng ngày bà càng trở nên vui vẻ, dễ tính với mọi người. Bà cười nói luôn miệng. Bà giống như đóa hoa nở rộ. Da bà căng, hồng hào, mắt bà long lanh.

Người ta ngạc nhiên khi thấy bà Tư hồi xuân một cách bất ngờ như thế. Thật vậy, đối với bà, mỗi buổi chiều là cả một mùa Xuân, cả đến trong giấc ngủ, mùa Xuân cũng hiện về, dĩ nhiên trong giấc mơ bà là con mèo đang đùa vui với bầy chuột ngon lành đó. Nhiều buổi chiều, ngồi rình xem không biết mấy con chuột người kia có gì thay đổi không mà bà sướng đến lịm cả người. Một hôm tình cờ bà đi bác sĩ vì bị đau đầu, uống thuốc hoài không hết. Bác sĩ khám bà. Bắt mạch, đo tang xông rồi bác sĩ phán một câu “Tôi không hiểu sao, tang xông bà cao như thế nầy mà bà còn sống được? Tôi phải cho bà uống thuốc tức khắc, nếu không có thể bà chết ngay tại đây. Khi có thuốc rồi bà cũng phải giữ cho đầu óc thanh thản, tránh những chuyện có thể gây xúc động. Vui quá, buồn quá cũng không được, tránh ăn mặn, đừng ăn nhiều thịt mỡ. Tình trạng của bà rất nguy hiểm. Bà phải nghe lời tôi. Đây là toa thuốc, đây là lời dặn bà phải theo, kể cả chuyện ăn uống nữa” Nghe bác sĩ nói, bà đâm sợ hãi. Bà suy nghĩ để tìm xem những gì làm bà buồn? Không có! Làm bà vui? Có chứ ! Chiều nào bà cũng vui vì bọn thanh niên bên xưởng hóa chất ra trình diễn “thời trang” cho bà xem. Thôi chết, đúng rồi! Nguy thật! Biết đâu, một ngày nào đó, đang rập rình dòm ngó, người bà sẽ nóng lên, tim đập nhanh hơn, chân tay đang run rẩy trong khoái cảm. Bỗng “Bựt” một cái, mạch máu não đứt bung ra. Thế là bà chết, ít ra cũng liệt nửa người, nằm một chỗ. Đâu có khác gì chết, còn đau khổ hơn nhiều. Thôi, chi bằng từ giã thú vui hấp dẫn nhưng nguy hiểm đó. Nhưng từ giã cách nào trong khi bọn người ngợm cứ lồ lộ ra đó? Bà không muốn mà chân bà vẫn bước tới, người bà vẫn thập thò sau chậu cây cảnh, mắt vẫn mở thao láo ra mà nhìn và quả tim hồi xuân của bà thì đập loạn xị lên? Mà cứ nhìn và tưởng tượng thôi, chẳng tiến lên hiện thực, cũng đủ tức mà chết rồi!.. Cuối cùng bà đành đi thưa cho cái xưởng dẹp quách việc sản xuất, nhưng không được nên bà mới bảo chú ba không cho bọn trẻ phóng uế chỗ vách tường nữa. Nhưng từ khi cái vách được sạch sẽ thì bà Tư lại buồn. Bà nhớ nhung, thẫn thờ như người thất tình. Mỗi buổi chiều, bà vẫn đong đưa hai tay một cách vô tri, tất cả tâm trí bà đều hướng về bên kia bức tường, giống như dàn ra-đa cứ quét qua, quét lại mà vẫn không bắt được một tín hiệu nào khả dĩ làm bà vui. Bọn công nhân vẫn cười nói, hò hét, chộn rộn bên kia xưởng. Chúng như đông hơn nhưng góc tường vắng vẻ, bà vẫn thấy vắng vẻ. Người ta bảo thời gian là liều thuốc chữa bao người bị tâm bịnh rất thần hiệu. Đối với bà Tư cũng thế, lâu dần bà cũng nguôi ngoai. Vả lại xưởng của chú ba ngày càng vắng, có những chiều đi làm về, bà Tư nhìn qua xưởng chẳng thấy ai cả. Chẳng phải việc làm ăn củachú thua lỗ mà đó là mánh của chú để tránh chuyện thuế má. Gì chứ thuế thì nhà nước đặc biệt quan tâm, thu càng nhiều càng tốt. Nhưng cũng giống như bao chú ba tàu Chợ Lớn khác, chú chẳng phải đóng xu teng nào về thuế mà vẫn làm ăn ỳ xèo. Theo nguyên tắc, sau khi có giấy phép làm ăn, ba tháng đầu có quyền khai lỗ vốn nên khỏi đóng thuế. Sau ba tháng, nhà nước mới cho nhân viên đến ăn dầm nằm dề để nắm vững số lượng mua bán và tính thuế. Đến giai đoạn đó, chú ba khai sập tiệm trả giấy phép và bán cơ sở hành nghề lại cho một chú ba khác, trên thực tế chú vẫn là chủ, nhưng người khác đứng tên. Cái vòng sang tên nầy tái diễn mỗi chu kỳ là ba, bốn tháng. Nhà nước thất thu nhưng nhân viên thuế vẫn tiếp tục thu, tuy ít hơn, và bỏ túi riêng. Dĩ nhiên được lợi như thế thì sở thuế quận phải tận tâm giúp đỡ chú trong mọi thủ tục. Cho nên ít lâu nay chú tạm ngưng sản xuất, chờ làm giấy phép mới, chỉ lò amoniac nổi lửa cầm chừng, không để ông táo lạnh, không tốt, theo như người Tàu tin tưởng. Phụ trách lò là Phú, một cậu thanh niên mới tuyển. Nhiệm vụ của cậu là dòm chừng cái máy đo áp suất, nếu nó cao quá thì bớt lửa, thấp thì thêm củi vào, đơn giản như thế nên cậu không biết dùng thì giờ làm gì, hết đọc báo đến nghe nhạc rồi ngủ gật. Nguyên cậu là học sinh trung học, học giỏi có tiếng nhưng thi vào đại học, cậu bị đánh rớt vì lý lịch. Muốn thi, cứ đóng tiền ghi tên, nhưng chẳng bao giờ đậu cả. Cậu là con sĩ quan ngụy, bị loại là đương nhiên, như ngày xưa đi thi làm bài bị phạm húy vậy.

Chiều nay xong việc, dẹp lò, cất vào kho các dụng cụ, cậu Phú chuẩn bị tắm rửa để ra về. Cũng giống như bao cậu thanh niên vô tư khác, xưởng vắng vẻ, một mình một cõi, cậu Phú thản nhiên kéo quần, vạch vòi cho vào vách. Cậu không ngờ trên sân thuợng cách cậu khoảng bốn mét có một cặp mắt đang sững sờ nhìn cậu. Không phải cặp mắt của bà Tư mà là cặp mắt của cô cháu bà, cô Lan. Mẹ cô sai cô đến gặp dì cô là bà Tư có công chuyện nhưng bà Tư chưa về, chỉ có cô con gái đang ngủ trong phòng. Trong lúc chờ đợi, cô Lan ra ngồi ngắm nghía mấy chậu bông, chậu ớt kiểng. Đây là những chậu cảnh đẹp nhất do chú ba “bồi thường chiến tranh” thời còn thưa gửi kiện cáo nhau. Cũng may nhờ mấy cành hoa che giấu, vả lại cậu Phú cũng đang mơ  màng nên chẳng thấy gì … Xong từ lâu mà cậu vẫn đứngnhư thế, thỉnh thoảng lại nhíu mày, gật gù rồi cười như người bị bịnh tâm thần. Cô Lan ngồi chết trân, không dám nháy mắt, không dám cục cựa. Cô sợ chỉ một cử động nhỏ là thằng con trai đang đứng kia biết liền. Hắn không cần la lên mà chỉ cười ruồi với cô một cái là cô chỉ còn nước chui xuống đất mới hết xấu hổ. Tình ngay lý gian, ai đời con gái đi rình coi con trai tè bao giờ! Người cô run lên vì mắc cỡ, vì sợ hãi và cũng vì bất ngờ được thấy cả một tòa thiên nhiên. Đời cô trong trắng, tâm hồn cô trong trắng, trắng hơn cả tờ giấy trắng, đột nhiên hình ảnh thiên thần đó in vào, rõ ràng, sinh động như chạm trổ vào trí óc, vào cả quả tim ngây thơ của cô. Cậu Phú ở trần đẫm mồ hôi, da cậu trắng nâu, người cao ráo. Cậu không giống một lực sĩ vai u thịt bắp, nhưng người cậu liền lạc, mạnh khỏe, sung mãn của tuổi thành niên. Khi cậu Phú quay đi rồi, cô Lan mới rón rén vào phòng khách, vớ lấy một tờ báo ngồi đọc, nhưng cô đâu thấy chữ gì. Người cô vẫn còn run, tim cô vẫn còn đập liên hồi. Cô lặng người, lắng nghe tiếng thình thịch của quả tim đang rộn rã bôm những giòng máu nóng hổi đi khắp châu thân, làm rung động những bắp thịt, làm ngây ngất từng giây thần kinh, từng tế bào nhỏ nhất, kín đáo nhất … Gần nửa giờ sau cô mới tạm bình tĩnh, xuống nhà ra về. Cô vừa đẩy xe Honda ra khỏi cửa thì bên kia, cửa xưởng hóa chất cũng vừa mở và cậu Phú dẫn xe đạp ra. Cô Lan thất kinh dừng lại, không có cách nào quay vào nhà được vì xe đang nổ máy. Cô đứng như trời trồng, chân tay luống cuống vì mắc cỡ, cô tưởng như mọi người trong xóm đã biết rõ chuyện vừa xảy ra, tưởng như cậu Phú sẽ kêu lên “Cô Lan, lúc nãy cô nhìn gì thế?” Nhưng cậu vẫn vô tình lên xe đạp, vượt qua cô, ra ngoài đường cái. Đây là lần thứ hai cô nhìn thấy cậu Phú, gương mặt không đẹp nhưng ngây thơ như một đứa trẻ, đôi mắt vô tư thoáng chút buồn. Cậu vô tư đến độ không thấy cô Lan. Cô nhẹ người, vậy là chẳng ai biết gì cả. Cô Lan lên xe, rồ ga chạy vượt qua cậu Phú, nhưng còn lưu luyến nên chạy chậm lại, nhìn vào kiếng chiếu hậu ngắm nghía cậu, tự nhiên cô thấy thương anh chàng đang đạp xe lửng thửng phía sau. Mải mê nhìn vào kiếng chiếu hậu, cô Lan để xe lủi vào lề, ủi sập cái miếu con thờ cô hồn vừa lúc cậu Phú trờ tới nhào ngay vào xe Honda, ngã xuống, nhưng không sao, cậu vội nhỏm dậy đỡ cô Lan lên. Cô bị góc miếu bằng tôle cắt rách tay áo, đứt vào thịt chảy máu, chân cô bị ống bô xe đè lên, gần cháy ống quần nhưng chưa phỏng đến đùi, cô bị đau không đứng dậy được. Người hiếu kỳ xúm lại xem, bàn tán xôn xao

– Kêu xích lô đưa đi nhà thương mau lên, máu chảy quá trời!

– Coi chừng gãy chân rồi, cứ ngồi yên đó, động đậy  gãy thêm!

– Miếu cô hồn nầy linh lắm nghe, mấy người chết chỗ nầy vì tai nạn xe cộ rồi đó!

– Ủi sập miếu rồi, cô hồn lấy chỗ nào ở đây? Phảixây bồi thường một cái building, nếu không, cô hồn giận coi bộ khó sống à nghe!

Một chiếc xích lô xề tới, đám đông giãn ra. Cậu Phú hỏi:

– Bây giờ lên xích lô được không?

– Anh đỡ dùm em, chân đau quá!

Nhưng người cô Lan nhũn ra, không đứng dậy được, cậu Phú phải bồng lên xe. Cô Lan vẫn cứ rên, thỉnh thoảng lại “ui da”, thế là cậu Phú phải ngồi luôn lên xe, chân bị thương của cô gác lên đùi cậu, đầu thì tựa vào vai cậu. Chiếc xe Honda được mọi người phụ đưa luôn lên xích lô. Xe đạp của cậu Phú được ông già sửa xe gần đó xung phong giữ dùm còn dặn với theo:

– Mầy làm Lục Vân Tiên cứu khổn phò nguy, có dzớt được Nguyệt Nga nhớ đừng quên tao nghe mầy!

Anh xích lô chồm người đạp như gió cuốn, nhưng đến đường Lê Quang Định thì chịu thua, đường chật ních người. Cô Lan thều thào:

– Anh cho tôi về nhà luôn nghe!

– Nhà ở đâu?

– Bên hông chợ Bà Chiểu, tiệm vàng Liên Thành. Chiếc xích lô nhích từng chút một. Cậu Phú sợ xe sóc đau cô Lan nên ôm cô cứng ngắt, đầu cô vừa tầm mũi nên cậu lặng lẽ thưởng thức mùi thơm con gái từ tóc cô. Lần đầu trong đời cậu được diễm phúc ôm một cô gái. Tự nhiên từ trên trời rơi vào tay cậu một cô bé xinh như tiên, thơm phức. Cậu ước sao được ôm mãi như thế nầy thì dù phải chết cậu cũng vui lòng. Còn cô Lan thì lịm người trên ngực cậu Phú. Chân và vai đã bớt đau nhưng cô vẫn lặng yên tận hưởng giây phút thú vị, êm đềm nầy. Cô cũng ước được ngồi như thế, cho chiếc xích lô chạy vòng quanh trái đất độ mươi vòng thì còn gì vui sướng cho bằng. Chợt như nhớ ra điều gì cô hỏi nho nhỏ:

– Có phải anh tên Phú không?

– Phải rồi, sao biết được?

– Anh học Lê Văn Duyệt phải không, em cũng học ở đó. Em nhớ ra anh rồi vì ai cũng khen anh học giỏi.

Hèn gì em cứ ngờ ngợ …

– Giỏi gì? Thi ở đâu cũng rớt hết, chán quá!

– Sao kỳ cục vậy?

Vừa lúc xe về đến nhà, cô Lan dặn:

– Ít bữa nữa em sẽ ghé thăm anh.

Lúc xe dừng lại, cô Lan miễn cưỡng ngồi dậy, nét mặt rất đau đớn. Bà chủ tiệm vàng thấy trước, chỉ kịp kêu lên: “Trời ơi! Con tôi bị gì dzậy nè?” Rồi chạy tuông ra cửa, ông chủ sau nhà bương theo, hai người làm công cũng sớn xác chạy ra. Cô Lan là con gái rượu của ông bà chủ. Bà sinh một dọc bốn cậu con trai, cầu khẩn đình chùa miếu võ, tốn hao bao nhiêu tiền của mới sinh được cô út Lan. Cô đã xinh còn khôn ngoan, học giỏi, phụ buôn bán cũng tài, giao thiệp với khách hàng mềm mỏng, vui vẻ nên ai cũng khen. Cô Lan hoàn hảo như thế, cha mẹ cô yêu thương là điều dĩ nhiên. Nay đột nhiên thấy cô ngồi xích lô về, mặt mũi bơ phờ, đau đớn, ai mà không hoảng hồn. Bà chủ cứ hỏi dồn:

– Sao vậy con? Con bị gì vậy con? Bị xe tung hả? Bị đau chỗ nào? Trời ơi, sao con vô ý, vô tứ vậy, đi xe phải cẩn thận chứ!

Bà nói liên miên trong khi cô Lan cứ rên “ui da, ui da!” Cô đã bớt đau nhưng phải làm như thế hàng xóm mới khỏi xì xầm cảnh cô tựa vào cậu Phú không muốn rời. Xe Honda được khiêng xuống, ba cô một bên, cậu Phú một bên dìu cô vào nhà sau. Cậu Phú ít nói nên anh xích lô thao thao tả lại tai nạn từ đầu đến cuối mặc dù anh đâu có thấy gì! Anh kể hay đến chừng tưởng như anh cứu được cô Lan, nhờ thế tiền công anh cũng được trả rất hậu hỉ. Cậu Phú chẳng thấy ai để ý gì đến mình nên lẳng lặng ra về. Bây giờ đến lượt cô Lan kể lể sự tình, bỗng cô nhỏm dậy hỏi:

– Má có đưa tiền cho người ta về xe không? Chiếc xe đạp hư cũng vì xe Honda của con đó, coi mà trả tiền sửa xe. Má kỳ quá! Làm vậy người ta tưởng mình bần tiện.

Lúc đó bà chủ mới sực nhớ đến cậu thanh niên, bà đưa tiền cho người làm, thúc hối hắn mau đuổi theo.

Nhưng một lát sau, hắn quay về bảo chẳng thấy ai cả. Cô Lan tấm tức khóc, trách mẹ hà tiện lại không một lời cám ơn. Bà chủ phải bắt ông chủ chở đến miếu cô hồn bị đụng sập, trả tiền sửa xe cho cậu Phú và tính toán việc xây lại miếu. Lúc đó cậu Phú vẫn chưa về đến, hai ông bà chỉ nghe ông già sửa xe kể lại mọi chuyện mà thôi. Cô Lan bị xây xát nhẹ nên vẫn bình thường nhưng đầu óc cô đã bị xáo trộn hoàn toàn. Những ngày sau đó, cô sững sờ như người mất hồn. Khi đứng trông cửa hàng, khách đến cô không thấy, khách nói cô không nghe, mắt cô nhìn vào cõi mông lung nào đâu. Trong nhà, có khi cô ngồi lặng hàng giờ, cô cười rồi cô nhíu mày, thở ra. Không ai hiểu được cô, và chính cô cũng đâu có muốn ai biết những gì cô đang nhớ lại, mơ màng. Thấy vẻ bất thường đó, ông bà chủ đưa cô đi bác sĩ, nhưng không tìm ra bịnh, bà lo lắng thì thầm với ông “Hay là nó bị ma bắt hồn không chừng?!” Tuy thì thầm nhưng cô cũng nghe được, cô sáng mắt lên và mỉm cười. Hôm sau cô bắt đầu trở bịnh. Đêm nào, nửa khuya, đang ngủ cô cũng la lên “Tôi không đi, tôi không đi, đừng bắt tôi!” Cô kể thấy hai người, mặt mũi dữ dằn cột chân tay cô khiêng đi. Cô hay đi lang thang vì sợ phải ở trong nhà. Có lần bà chủ cho người theo dõi thì thấy cô đến quán nước đối diện miếu cô hồn ngồi nhìn qua miếu. Thực ra cô ngồi chờ cậu Phú. Có khi cô lấy xe gắn máy đi suốt buổi chiều, mẹ cô càng thêm lo. Khật khùng như thế, lủi vào xe hơi không chừng! Đâu có biết cô đến đón cậu Phú đi chơi, đi xem hát, ăn quà rong, có khi lên Thủ Đức, Lái Thiêu hóng gió đồng quê. Chỉ những lúc đó cô mới thực sự vui  vẻ, thỏa mái. Khi về nhà cô lại có vẻ sợ hãi. Mới chập tối cô đã bắt đóng cửa lại “Họ tới rồi, họ đứng trước cửa kìa!” Nhưng có ai thấy gì đâu. Lên lầu cô cũng bắt đóng cửa sổ lại “Họ thò tay vô chộp con”. Ban đêm cô ngủ với bà chủ, còn ông chủ thì bắt ghế bố nằm ngay cửa phòng. Vậy mà đang ngủ, cô vẫn hét lên “Đừng bắt tôi, đừng bắt tôi!” Đúng là cô bị ma ám rồi. Bà chủ lẳng lặng ra Lăng Ông Bà Chiểu, sà xuống một ông thầy bói già ngồi ở góc lăng. Sau khi hỏi ngày tháng năm sinh, thầy bấm tay rồi phán:

– Tuổi nầy năm nay hạn nặng. Không nên đến gần đền chùa miếu võ vì tuổi hạp với cõi âm, rủi nhằm giờ linh ngài chấm thì khó sống. Lúc đó bà chủ mới thú thực mọi chuyện, xin thầy cứu giúp. Thầy nghe xong tắc lưỡi hít ha:

– Bà gặp tôi sớm, trước khi xảy ra tôi còn có cách, bây giờ tình thế coi bộ nguy ngập rồi. Ngài đã chấm thì tôi có tài gì gỡ được! Nhiều lắm là ba bảy hăm mốt ngày, cô ấy ngủ một đêm, sáng không thức dậy chứ chẳng bịnh hoạn gì. Chẳng phải con bà vô ý đụng sập miếu đâu, ngài đã sai cô hồn kéo cô ta vô đấy.

– Thầy xem còn cách gì cứu con tôi, tốn phí bao nhiêu tôi xin chịu. Tụi tôi chỉ có mình nó là con gái!

Thầy ngồi lặng thinh một lúc rồi thở dài:

– Thôi được, tôi đành làm chuyện thất đức để cứu con bà. Cứu con bà thì hại người khác. Chắc tôi giảm thọ vì dám cãi mệnh trời.

Bà chủ mừng rỡ:

– Cám ơn thầy nhiều, cách gì thầy chỉ dùm.

– Thì kiếm người thế mạng chứ sao bây giờ. Theo bà kể thì còn một cậu đi sau cũng bị ngài kéo vô luôn.

Có thể cậu kia cũng cùng một tuổi. Nếu cậu kia không cùng tuổi thì phải kiếm một cậu khác thế mạng. Bà về làm gấp rồi cho tôi biết tên họ, quê quán, ngày giờ sinh của người thế mạng để tôi lập đàn cúng bái, xin chuyển người nam nầy chết thay con bà. Nhưng với điều kiện phải cho hai đứa sống chung nhau, khi người khuất mặt đến bắt, tất phải dẫn hồn cậu kia đi. Ý tôi muốn nói là phải làm đám cưới trong vòng tháng sau. Nếu trễ nãi, hối không kịp, lại đâm trách tôi!

Bà hối hả về thì thầm với ông chủ, ông bảo:

– Đời nầy làm gì có chuyện ma quỉ. tôi nghi có gì bất thường đây. Ngày mai bà đi hỏi thầy khác, còn tôi sẽ lục soát xem nó có thư từ bồ bịch với ai không, từ đó mới truy ra được.

Hôm sau bà chủ lại ra Lăng Ông tìm một thầy bói khác, thầy cũng phán:

– Tuổi nầy gặp đại hạn. Mười phần chết chín. Ra đường gặp ngài chấm thì coi như xong Ở nhà, ông chủ chờ lúc cô Lan đi vắng, giở tất cả các hộc bàn, sách vở, áo quần tìm kiếm, nhưng chẳng thấy gì. Ông biết rõ con ông, nó khôn lanh thực nhưng chưa để ý đến đứa con trai nào. Thế rồi ông bà đành theo lời thầy bói, tìm cách dụ cho được cậu thanh niên kia về làm vật hy sinh thế mạng. Bà chủ cứ thở dài, buồn bã, sinh được có cô gái út sáng sủa, đẹp đẽ như viên ngọc quí, bây giờ phải trao cho một tên cầu bơ cầu bất nào dày vò. Thà chúng yêu nhau hoặc cậu kia giàu có cũng đỡ mất mặt, đằng nầy đã thế còn lập mưu lập kế mà dâng cho nó, lại phải dấu diếm bàng dân thiên hạ, rủi đến tai nó, dại gì nó chịu nhận bản án tử hình! Bà cũng để ý hỏi thăm trong đám bạn bè, đồng nghiệp xem có con em gì cùng tuổi với con bà để làm sui gia, nhưng chẳng có ai, dù có họ cũng nói trớ đi, cái tin cô Lan bị ma nhập đã lan tràn khắp chốn rồi. Bà cứ theo hỏi con gái xem có quen biết gì nhiều về cậu kia không nhưng cô chỉ biết mơ hồ hắn là công nhân làm gần chỗ xảy ra tai nạn, thế thôi. Hỏi để dò lòng dạ con bà thôi chứ hôm đến coi việc sửa lại miếu, lão sửa xe đã kể hết gia phả của cậu kia cho bà nghe rồi. Phần cô Lan ngày càng bịnh nặng, ngủ với mẹ mà cô vẫn bị người khuất mặt đến bắt. Nửa khuya, cô hét lên, thật rùng rợn. Cô còn đem theo con dao để dưới gối, bảo rằng bọn ma quỉ đến thì cô đâm. Bà chủ nghe đủ lạnh xương sống, đang mơ màng, cô lụi cho bà một phát thì còn gì đời!

Cuối cùng ông bà mới nghĩ ra được một kế vẹn toàn. Một buổi chiều, bà đích thân đến xưởng hóa chất.

Xưởng vắng hoe, bà gõ cửa, cậu Phú chạy ra.

– Xin lỗi, cậu có phải là cậu Phú không?

– Dạ phải.

– Tôi là mẹ con Lan đây.

– Dạ, Lan nào ạ? Cháu không quen ai tên Lan cả.

– Con nhỏ hôm tuần rồi đi xe gắn máy tung sập miếu cô hồn đầu đường, nhờ cậu đưa về đó!

– Dạ, cháu nhớ ra rồi.

Bà chủ hỏi han đủ thứ, từ tuổi tác đến gia đình, công ăn việc làm. Cậu Phú trả lời như làm bài ở trường, chính xác, rõ ràng, không thêm bớt rườm rà. Khi biết chắc tuổi cậu ta cùng tuổi con mình, bà chủ mới đi vào đề:

– Tôi thấy cậu hiền lành, chân thật, nếu không có chuyện đổi đời năm 75 thì cậu cũng con ông nọ bà kia chứ đâu đi làm công nhân cực khổ mà lương hướng chẳng bao nhiêu. Dù sao thì cậu đã giúp đỡ con Lan nhà tôi hôm trước, chúng tôi rất cám ơn cậu nên mới đề nghị như thế nầy. Tôi sắp sang một cửa hàng máy móc điện tử. Buôn bán thứ nầy khá lắm, tôi cần một người trông coi cửa hàng. Ý tôi muốn giúp cậu có công việc làm ăn mà thu nhập cũng khá lắm. Vì muốn tránh tiếng giàu có, tư bản tư biếc phiền phức nên cậu có toàn quyền trong cửa hàng, ai hỏi cậu tự xưng là chủ, giấy tờ đều đứng tên cậu. Cậu đừng nghi ngại gì cả. Chúng tôi thỉnh thoảng sẽ ghé vào để giúp cậu khi có trở ngại. Con gái tôi cũng sẽ ra phụ với cậu. Cậu chỉ nhớ một điều cậu là chủ, ngoài ra không ai được biết gì cả.

Thế là tự nhiên cậu Phú làm chủ một tiệm máy móc điện tử, bán đủ thứ TV, radio,cassette trên đường Huỳnh Thúc Kháng. Cậu dọn nhà khỏi xóm lụp xụp ở khu ngã tư Xóm Gà cậu đi xe dream, ăn mặc sang trọng. Cậu hoàn toàn lột xác, trông rất bảnh bao, đẹp trai. Cô Lan thỉnh thoảng ra phụ bán với cậu, nhưng vẻ khật khùng, lãng trí vẫn còn, không thấy cô cười bao giờ. Rồi không hiểu bà chủ bàn định gì với cậu Phú mà cậu lại chính thức xin cưới cô Lan. Bà chủ tưởng cô Lan đồng ý, không ngờ cô cứ lắc đầu. Hỏi riết, cô trả lời:

– Con không còn là con của ba má nữa, người ta sắp đến bắt con đi rồi.

Bà chủ phải tỉ tê, năn nỉ suốt mấy đêm, bảo rằng:

– Con phải lấy chồng, để khi ngài đến bắt đi, chỉ bắt chồng con thôi, con sẽ sống với ba má …

Thật chẳng khác gì lúc cô còn bé tí, má cô phải dỗ dành để đút cho xong chén cơm! Thế rồi đám cưới cũng diễn ra rình rang, tốn kém như bao đám cưới nhà giàu khác. Bà con, bạn bè hai họ được mời đến. Ai cũng khen cô dâu chú rể đẹp đôi. Cô dâu đã đẹp lại con nhà giàu, chú rể còn trẻ mà làm chủ một cửa hàng điện tử, cả mấy trăm cây vàng chứ ít sao. Nhưng họ không khỏi ái ngại khi thấy vẻ mặt ngớ ngẩn, lạnh lùng như người mất hồn của cô dâu, không thấy cô chào hỏi, cười nói với ai cả! Họ nghe đồn cô bị ma ám sao đó, nhưng không ngờ cô bị trầm trọng đến như vậy. Sau đám cưới, dĩ nhiên cô cậu được cho tiền đi hưởng tuần trăng mật Đa Lạt, Nha Trang. Mẹ cô mừng thầm trong bụng, coi như con gái mình thoát nạn, tuy bà có ái ngại cho thằng rể, mặt mũi sáng sủa mà chỉ ít lâu nữa nó phải lìa đời. Nhưng đời mà! Khôn sống bống chết, bà chỉ muốn cứu con bà chứ bà đâu hại ai. Bà đã dự định sẽ làm một đám tang long trọng cho thằng rể ngắn ngày khi người cõi âm đến bắt hồn nó đi, để gọi là “Nghĩa tử, nghĩa tận”. Bà cũng đã nghĩ cách sẽ o bế lại cô con gái cưng sau khi nó hết bịnh tà ma, để tìm cho nó một khách đông sàng xứng đôi. Phần cô Lan, ngay lúc ngồi trên xe đò ở bến xe đi Đa Lạt, cô vẫn còn ngớ ngẩn. Ba má và các anh cô đưa tiễn, cô không nói tiếng nào. Cho đến khi xe lên tới Định Quán cô mới thở phào một tiếng rồi tựa đầu vào ngực cậu Phú, lim dim đôi mắt, thưởng thức lại cảm giác hôm đụng xe, cô ngồi trên xích lô trong vòng tay cậu Phú.

– Có gì mà em thở dài?

– Bây giờ em mới hết lo.

– Em lo chuyện gì?

– Còn chuyện gì nữa, chuyện tụi mình.

Cậu Phú hôn lên tóc vợ:

– Bây giờ em kể anh nghe mọi chuyện, tại sao má kêu gả em cho anh, lại còn giúp đỡ đủ thứ? Anh chỉ biết nghe lời em, bảo gì làm nấy.

Cô thì thầm vẻ hãnh diện:

– Em giả điên để má tưởng bị ma bắt mới đi coi thầy bói, thầy bảo phải gả cho người cùng tuổi để chết thay em. Em biết anh và em cùng tuổi. Má khó lắm, sơ sẩy một chút, má biết được, trời có sập má cũng không chịu đâu.

– Nhưng thầy bói làm sao biết để nói như vậy?

– Ém vô Lăng Ông cho tiền tất cả các thầy bói trong đó, kể cho họ nghe và dặn họ phải dọa cho dữ, má mới sợ. Mà dù chẳng cho tiền, mấy thầy bói nghe nói em bị ngơ ngẩn, chắc chắn thầy nào cũng sẽ bảo em bị ngài chấm, ma bắt ngay.

– Nhưng tại sao em lại chọn anh, lại còn vất vả đóng vai cô gái điên một cách xuất sắc?

Cô Lan bẽn lẽn:

– Em đâu biết. tự nhiên thương anh … Cô định nói

“Không lấy được anh chắc em điên thiệt quá” nhưng cô làm thinh.

Cậu Phú tỏ vẻ biết ơn vợ:

– Em biết chuyện “Nàng Tiên Dong và Chữ Đồng Tử” không? Nàng Tiên Dong giàu sang mà chịu lấy Chữ Đồng Tử, nghèo đến độ không có một cái khố để mặc nữa.

– Nhưng tại sao nàng ta chịu lấy Chữ Đồng Tử?

– Hình như nàng cho là số trời đã định.

– Chưa chắc, nếu nàng ta không ưa Chữ Đồng Tử thì có chịu lấy làm chồng không? Nhưng khi đã chịu rồi, phải tranh đấu mới đạt được ý nguyện chứ. Cứ đổ cho duyên số, buông trôi như chiếc lá giữa dòng rồi than thở, đau khổ sao được.

– Dù có nói gì thì em cũng đúng là nàng Tiên Dong, còn anh là Chữ Đồng Tử. Cám ơn em nhiều lắm!

Cô Lan có vẻ thích chí khi được chồng khen. Nhưng không hiểu ngẩm nghĩ sao, cô đỏ mặt lên, thò tay ngắt đùi chồng một cái đau điếng:

– Không được nói chuyện Tiên Dong nữa, nghe chưa!

Cậu Phú suýt soa:

– Ui da, được rồi, không nói chuyện Tiên Dong nữa!

Cậu hứa với vợ mà không hiểu vì sao. Trong khi cậu so sánh giàu nghèo, sang hèn thì cô Lan lại nghĩ đến cảnh nàng Tiên Dong tắm bên bờ sông, dội nước lòi ra Chữ Đồng Tử trần truồng vùi mình trong cát, giống như cô tình cờ nhìn thấy cậu Phú đứng tè ở góc tường. Chẳng biết có khi nào cô kể cho chồng nghe không? Nhưng mỗi khi nhớ lại chuyện cũ, cô vẫn thấy rạo rực và mắc cỡ. Rồi chính cô cũng lại phân vân, có phải là duyên số hay là vì cái hôm thấy “người ta” chỉ một lần mà đâm si mê đến ngẩn ngơ?


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment