Lâm Chương, đi giữa bầy thú dữ

Post by Sơn râu 11 May 2026

Tôi xuống ga Nha Trang vào buổi sáng. Màu trời xám đục. Lất phất mưa. Tôi ôm gói quần áo, co ro đứng đưới hiên ga. Bên kia sân ga, công viên có những cây me già buồn rũ trong mưa. Mưa ở đây rất lạ. Mưa nhẹ như sương. Mưa mù mù như bụi. Mưa hoài không tạnh. Mưa như có, như không. Mưa ri rả, sầu héo ruột gan. Tôi đứng chờ thật lâu. Đồng hồ trong ga chỉ mười giờ, Trời vẫn còn mưa. Lòng tôi nôn nao muốn đi coi biển, Tôi nghĩ, biển lạ lùng như một kỳ quan vĩ đại của trần gian. Tôi vào phòng đợi, lượm được tấm nylon che đậy hàng hóa của ai đó bỏ lại. Tôi choàng lên vai, ôm gói quần áo, đầu trần ra đi. Tôi đi trên đường phố. Hai bên nhà cửa cũ kỹ. Mái ngói âm dượng rêu xám, Tường vôi trắng cũ mốc. Cảm giác buồn thiu như màu bênh viện. Những hiệu buôn lớn, không ồn ào tấp nập. Người ở đây không vội vã. Họ bình lặng, với một chút thờ ơ trong mắt. Không ai biết tôi là kè lạ. Tôi vừa đi vừa nhìn. Sau này, tôi biết con đường tôi đi lần đầu tiên ấy, là đường Độc Lập, nối dài Phan Bội Châu. Tôi đến một khu chợ. Chợ rất rộng, nhưng che bằng những mái tôn thấp lè tè, lụp xụp. Trong chợ ẩm thấp. Lối đi nhớp nháp, đen sì. Cũng sau này, tôi hiết đó là Chợ Đầm.

Tôi hỏi thăm đường ra biển. Tôi đi với nổi háo hức của người đi tìm một ước mơ kỳ thú. Khi tôi nhìn thấy tấm bang Bưu Điện, đồng thời cũng nghe tiếng ì ào. Đoán chừng là tiếng của đoàn xe đang chạy phía trước. Tôi đứng ở Bưu Điện, chờ đoàn xe qua. Chờ mãi. Tiếng ì ào vẫn tiếp nối. Tôi bước tới, coi đoàn xe dài thế nào mà chạy hoài không đứt. Tôi bước tới, và bất ngờ, tôi thấy biển. Biển rộng mù khơi, ngoài sức tưởng tượng của tôi. Mưa bụi bay đầy trời. Biển và trời cùng một màu xảm đục liền nhau. Hồn tôi lao đao choáng ngộp trước cảnh bao la trời nước. Nhớ lại lần đầu nhìn thấy con sông Vàm Cò Đông. Tôi ngạc nhiên, không ngờ trên mặt đất lại có một nơi chứa nhiều nước đến thế. Bây giờ đột ngột thấy biển, tôi chưa kịp ngạc nhiên, sự sợ hãi đã ủa chụp lấy  tôi. Mùa biển dộng, từng đợt sóng lớn nhô lên từ ngoài khơi chạy vào, như con quái vật khổng lồ há miệng táp xuống một cách kinh dị. Hóa ra tiếng ì ào mà tôi tưởng tiếng động của đoàn xe, là tiếng sóng đập vàn bờ. Thiên nhiên dữ dội và mênh mông quá. Tôi cảm thấy mình nhỏ nhoi yếu đuối. Tôi nép vào gốc cây tre, run rẩy xác xơ vì gió. Bờ hiển vắng tanh. Tôi bơ vơ, nghĩ đến thân phận tứ cố vộ thân của mình. Mưa bay tràn lên mặt. Trong phút chốc, cành vật nhòa đi. Dường như có chút nước mắt hòa cùng nước mưa. Tôi trở lại khu Chợ Đầm. Ăn hai gói xôi bắp vào chiều tối. Đêm đó, tôi ngủ trên sạp vải ở chợ. Gối dầu lên gói quầnắáo, đắp mình bằng tấm nylon. Nữa đêm lạnh quá, tôi trở dậy mặc thêm hai bộ đồ nữa. Vì ngủ sạp vải, tôi quen với người dàn ông quét chợ, và trông coi khu vực hàng hóa còn để lại qua đêm trong những cái thùng có khóa đưới sap. Mới dầu, ông ta không cho tôi ngù ở dây. Tôi năn nì, và bịa chuyện rằng tôi mồ cội cha mẹ, phải bỏ quê lên tỉnh thành kiếm ăn. Chuyện bịa làm ông động lòng, chấp nhận cho tôi ngủ trên sạp vải mà không làm khó đễ. Để lấy cảm tình, tôi phụ việc với ông sau khi tan buổi chợ chiều. Công việc chẳng có gì nặng nhọc. Quét dọn rác rến trong chợ, cho lên cái xe hai càng và mang đi đổ. Có khi ông tặng tôi cái bánh, hoặc bao tôi ly nước đá, gọi là trả công. Do gần gũi, tội hiết ông tên là Bốn Cọp, quê ở Bình Định. Ông vào Nha Trang đạp xích lô, chiều tối còn làm thêm công việc như tôi đã phụ. Ông nói, bon nhà giau, và quyền thể đều bất nhân. Tôi không nghĩ thế, tôi chỉ thấy họ ích kỳ. Ông lại nói, chế độ này là độc tài thối nát. Tôi không hiểu ý nghĩa độc tài thối nát ra sao, chỉ thấy nhân viên công lực giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Ông bảo, cần phải làm cách mạng, san bằng mọi bất công, đem lại cơm no áo ấm cho mọi người, bản than tôi cũng được hưởng điều đó. Tôi hỏi, làm cách mạng là làm sao? Ông giải thích, kháng chiến chống lại bọn cầm quyền. Toi hỏi, người ta có sức mạnh của súng đạn, kẻ tay không. chống sao được? Ông bảo, kháng chiến cũng có súng đạn và đề nghị dẫn tôi về Bình Định cho tôi làm cách mạng. Tôi nói, tôi không biết bắn súng. Ông nói, người ta sẽ phân công tác nào thích hợp với tôi. Ông cho tôi quyết định. Tôi phân vân mãi. Mấy ngày sau, tôi từ chối đi Bình Định, Ông hỏi, tôi có yêu tổ quốc không? Tổ quốc là điều gì trừu tượng, không gợi trong tôi một tha thiết nào cả. Tôi trả lời, không, Ông hỏi, tôi có thương nhân dân không? Nhân dân là người đời, mà người đời ai cũng thờ ơ lạnh nhạt với tôi. Làm sao tôi thương được những người như thế. Tôi cũng trả loi, không. Thế là ông Bốn Cọp chửi tôi là đứa trôi sông lạc chợ. Lòng dạ gỗ đá, chẳng biết thương ai. Lớn lên chỉ làm sâu mọt đục khoét xã hội mà thôi. Và ông thẳng thừng tuyên bố đứt khoát, không cho tôi tiếp tục ngủ trên sạp vãi. Sự xua đuổi của ông. cũng vừa đúng lúc tôi có một nơi khác trú ngu an toàn.

Trong những ngày quen ông Bốn Cọp, tôi cũng quen với những thằng bui đời. Tụi nó bán cà rem và rủ tôi cùng bán cà rem. Tôi nghĩ, cà rem rất khó bán vào mùa mưa, Vì thế, tôi bán bong bóng và đồ chơi trẻ con. Khỏi cạnh tranh nghề nghiệp. Tôi không rành đường ở Nha Trang, nên chọn một thằng hiền lành nhất, đi chung với tôi. Nó bán cà rem, tôi bán đồ chơi. Tôi mua thêm cây kèn bằng nhựa có những nút bấm, thổi tò ti te gây sự chú ý. Tiếng kèn có cái ma lực làm trẻ con gióng lổ tai nghe ngóng, giương dôi mắt kiếm tìm nơi phát xuất. Tiếng kèn dụ chúng bu lại. Có đứa muốn mua cây “kèn thần” của tôi. Gặp trường hợp này, tôi bán rất đươc giá. Tiền lời bán đồ chơi, đủ ăn một ngày hai bữa ở quán cơm xã hội. Số tiền có được khi rời khỏi gia đình, tôi giấu rất kỷ, phòng khi bất trắc ốm đau.

Những buổi trưa, mấy thằng bụi đời tụ lại bên hông Chợ Đầm, hút thuốc lá, chơi bài và đánh bi ăn tiền. Cùng một hoàn cảnh lây lất trên hè phố, nhưng tụi nó sát phạt nhau rất dữ. Có thằng cháy túi, phải vay nợ của thằng khác để thế chân muớn bình cà rem. Dù sao, tôi cũng không thể là bạn thân của những thằng này được. Lắm lúc tụi nó tỏ ra tinh ranh và chửi thể không ngượng miệng. Hầu hết đều có tính ăn cắp vặt. Vài thằng còn kiêm cái nghề móc túi ở những chỗ chen lấn đông người. Tôi nhớ những thằng bạn chăn trâu chăn bò ở quê nhà. Bạn tôi hiền lành chất phác, chứ đâu tinh quái như tụi này. Khi chúng chơi bài, tôi lân la vào sạp vải, nơi tôi ngủ hàng đêm. Tôi quen với bà chủ sạp, bởi mỗi sáng tôi hay giúp bà sắp vãi lên sạp. Bà là người Huế. Tôi gọi là bác Huế. Đôi khi, bà mời tôi cùng ăn cơm trưa. do một đứa bé gái đem tới. Bà cho biết nó là con của bà. Con bé có đôi mắt lúc nào cũng như ngạc nhiên và cái miệng cười mỉm mỉm như chế nhạo. Tôi kể với bà về những buồn vui trong nghề bán dạo bong bóng, đồ chơi. Tôi nói, kèn của thầy Ấn Độ dụ rắn, kèn của tôi dụ trẻ con. Chuyện tầm phào như thế, cũng làm bà cười thú vị. Ăn xong, tôi mau mắn đem cặp cà mèng đi rửa.

Không quên để lại gói quần áo làm vật thế chân, như một bảo đảm rằng tôi sẽ trở lại.

Một hôm bà hỏi: “Quê con ở mô?”

Tôi nói: “Tây Ninh.”

“Tây Ninh là ở mô?”

“Con cùng không biết. Chỉ biết từ đây đi Sài Gòn. từ Sài Gòn phải di thêm sáu mươi cây số, là tới quê con.”

“Xa dữ rứa à? Răng con không ở với gia đình?”

Tôi dâu ngu dại gì mà nói thật lý do của sự ra đi, Tôi bịa ra một hoàn cảnh thương tâm, gợi lòng trắc ẩn. Đó là kinh nghiệm sống sau những ngày rời khỏi gia đình. Kinh nghiệm nói dối. Trong thâm sâu của sự khổ nhục dối trả, nó thể hiện sự ăn mày tình thương xã hội. Tôi nói: “Má con mất. Ba con lấy vợ kế. Nghe lời vợ kế, đánh đuổi con đi.”

Bà chắc lưỡi xót xa: “Đàn ông thời mô cũng tệ bạc! Khi còn me, con có đi học không?”

“Dạ, có.”

“Lớp mấy?”

“Đang học đệ ngũ thì bỏ dỡ nửa chừng.”

Hôm sau, bà gọi tôi lai. Bà nói đã bàn với chồng về trường hợp của tôi. Vợ chồng bà đều đồng ý đùm bọc, nuôi cho tôi đi bc. Và tôi sẽ kiểm soát bài vỡ, dạy kèm thêm cho hai con bé của bà.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment