Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 13 May 2026

Tôi có tên họ đàng hoàng nhưng bạn bè thường gọi tôi là thằng cù lần, vì chẳng đứa nào rủ được tôi tham gia một trò chơi gì, ngay cả khi tôi đã lớn cũng vậy.

Khoảng năm 64, 65 gì đó, khi quân Mỹ tràn vào miền Nam thì quán rượu mọc rộ như nấm chung quanh các căn cứ Mỹ, sau đó mọc thêm nhà tắm hơi, Tôi đã có một lần góp phần đáng kể cho kỹ nghệ tắm hơi nầy phát đạt. Đó là câu chuyện dưới đây. Nhớ năm đó tôi học năm cuối ban Đốc Sự, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh mà mùi đời chẳng biết chút gì. Trong ký túc xá, tụi bạn thích tụ tập trong phòng tôi để nói chuyện bù khú, tôi thường làm nghiêm không thèm nghe nhưng hai tai cứ vễnh lên không bỏ sót tiếng nào … Hầu như đứa nào cũng có ít nhất một cô bạn, không ở quê nhà cũng ở Sài Gòn. Chuyện tán gái, bồ bịch thì tôi chịu thua. Từ nhỏ cho đến bây giờ, hễ mở miệng ra với cô nào là y như là được một cái nhìn coi khinh ra mặt. Thời đó, hằng năm các cô nữ sinh Trưng Vương, Gia Long thường đến trường Hành Chánh bán báo Xuân. Môn giao tế nhân sự có dạy trong trường nên các bạn tôi giao tế với các em thật vui vẻ. Trong khi mọi người mua bán, chuyện trò rôm rả thì không hiểu sao tôi lại mở miệng nói to một câu chả ra làm sao “Gia Long, da lông … da chỗ nào mà chẳng có lông!” Ai cũng quay nhìn tôi quái dị. Dĩ nhiên tôi đi đến đâu, các em tự động tránh ra như trong chuyện xưa người có viên ngọc trị thủy, xuống nước, nước tách ra thành lối đi như trên đất liền vậy. Thế cho nên tôi là người rất cô đơn, cô đơn đến độ phải tìm bạn bốn phương trên báo mà cũng chẳng ra gì. Số là tôi có thư từ qua lại với một em, tuy chưa đến độ mùi lắm, nhưng em cũng hẹn cho gặp mặt. Điểm hẹn đã được “xác định tọa độ” trên đường Lê Lợi, “dấu hiệu nhận bạn” cũng có rồi, nên sáng Chủ Nhật đó tôi và em nhận ra nhau rất dễ dàng. Chúng tôi vui vẻ đưa nhau đến tiệm kem. Chúng tôi đây gồm có tôi và em và năm đứa em của em nữa. Thứ trẻ con, kem thì chúng ăn bao nhiêu cho vừa! Nhìn chúng ăn mà tôi đau lòng, xót dạ! Ăn chán chê, các cô cậu còn đòi đi ciné. Tôi đành vui vẻ đưa chúng tôi đi xem hát bóng. May mà bác Lâm văn Ty “phát ngân viên” của trường, vừa phát học bổng, nếu không tôi đã khai phá sản rồi. Vô rạp thì các cô cậu ngồi giữa, tôi và em “hai đứa ở hai đầu xa thẳm”. Bản tính tôi vốn cù lần còn bần tiện nên sau bữa đó, muốn làm quen với em nào tôi cũng không dám vì sợ tốn kém.

Vì không biết đàn bà con gái là gì nên tôi quyết định thử đi tắm hơi một phen xem sao. Chưa bao giờ tôi được hân hạnh đứng gần một người đẹp, nay nghe các bạn tả cảnh, tả tình khi đi tắm hơi, nào là em mặc bikini như đi tắm biển mà lại đứng sát mình, nhìn hấp dẫn không thể tả, nào là em đấm rồi em bóp “đã làm sao”, ngoài ra còn có mục kia hay lắm. Mới tưởng tượng tôi đã mê người nên tò mò hỏi giá tiền, hoá ra cũng chẳng bao nhiêu, kể cả khoảng phụ thu kia nữa. Các bạn thấy tôi hỏi tới, bèn rủ đi chung cho vui, tôi lắc đầu. Tôi sợ đi chung với chúng sẽ lòi cái dốt, cái cù lần ra, cho nên tôi quyết đi một mình, rủi có quê cũng không ai biết. Ngay trước trường Hành Chánh, góc ngã tư Phan Thanh Giản, Cao Thắng bấy giờ có một tiệm tắm hơi. Một buổi sáng vắng người, sau khi qua lại trước tiệm mấy lần để lấy can đảm tôi mới bước vào. Một chị đàn bà sồn sồn ngồi kết ở giữa nhà, hai bên là hai lối đi đến các phòng. Không rõ mặt mũi tôi ra sao mà chị hỏi một câu, có lẽ chẳng bao giờ hỏi người nào như thế:

– Cậu hỏi ai?

– Tôi đi tắm hơi.

Chị nói giá tiền, tôi móc bóp đặt tiền, chị xé cho tôi một cái vé, giống như vé xem ciné rạp Cao Thắng vậy, xong chị chỉ cho tôi lối đi. Đây là một hành lang dài, dọc theo là các phòng có cửa đóng kín hoặc mở hé. Tôi thấy ở cuối dãy có một số cô gái đang chuyện trò. Họ mặc áo choàng trắng, giống như các cô y tá vậy. Tôi lại tiếc tiền, ngẫm nghĩ “Ăn mặc như thế, có gì hấp dẫn mà tụi nó nói nghe ghê lắm!”. Một cô thấy tôi cầm cái vé đứng xớ rớ, bèn đến, chỉ tôi vào một căn phòng có một chiếc giường nệm nhỏ, một cái thùng gỗ lớn cỡ cái bàn nhưng cao hơn. Cô bảo tôi:

– Cởi đồ ra!

Xong cô ra ngoài tiếp tục chuyện trò. Tôi cởi áo quần ra và đứng chờ, đoán chừng cô sẽ dẫn đến một phòng tắm nào đó. Cô quay vào bảo:

– Cởi quần ra!

Tôi vâng lời, cởi quần đùi ra. Cô lại bảo:

– Cởi quần xì ra!

Đến đây thì tôi không thi hành, ai đời lại “cuỗng chời” trước mặt đàn bà con gái bao giờ !. Cô nạt tôi:

– Lẹ lên!

Tôi quýnh quíu xây lưng về phía cô ta và cởi ra. Cô đến mở cái thùng gỗ, chỉ một chiếc ghế đẩu trong đó và bảo:

– Ngồi xuống!

Tôi bước vào, ngồi xuống. Cái thùng nầy thiết trí rất hay, khi ngồi thì vừa thò cái đầu ra ngoài thùng, khi cô đóng phần kia thì toàn thể con người tôi đều ở trong thùng chỉ trừ cái đầu. Nó giống cái cùm cổ thời xưa dùng cho tội phạm vậy. Cô mở mấy cái vòi gì đấy và lại bỏ ra ngoài. Hơi nóng bắt đầu bốc ra chung quanh người tôi. Chỉ còn một mình ngồi trong thùng, tôi tự nghĩ “Hóa ra tắm hơi là như thế nầy”. Lúc đầu tôi cảm thấy thích vì hơi nước âm ấm, sau hơi nóng tăng dần khiến tôi đâm hoảng “Hay là cô nầy mở lộn nhiệt độ sao chớ, kiểu nầy khác gì luộc thịt, nóng quá!”. Chờ quá lâu, tôi gọi nho nhỏ:

– Cô ơi! Cô ơi!

Sợ cô cười nói với bạn, ham vui mà quên vào cứu tôi thì nguy to. Tôi không sợ chết, nhưng sợ xấu hổ. Thân trai nam nhi mà chết trong phòng tắm hơi, e lịch sử trường Quốc Gia Hành Chánh chỉ có tôi là một. Có lẽ tôi toát mồ hôi nhiều lắm, vì sợ hơn là vì nóng. Một lúc thật lâu – không hiểu mấy phút, mấy giờ nhưng với tôi thì độ vài thế kỷ – cô ta bước vào. Tôi mừng thôi, như thấy mẹ về chợ, nhưng cố làm vẻ ta đây, cứ bình tỉnh xem cô làm gì. Cô vặn tắt các vòi hơi, mở cửa thùng gỗ, bảo:

– Đi ra!

Tôi đi ra nhưng lấy tay che chỗ đó. Cô đưa tôi một cái khăn lông trắng lớn, tôi vấn quanh người như mặc xà rông, đứng lóng ngóng chờ cô ra lệnh. Cô bảo tôi:

– Lên giường nằm!

Tôi lên giường nằm, liếc nhìn thấy cô cởi áo choàng ra. Bây giờ mới đúng lời bạn bè nói: “Nó mặc bikini như đi tắm biển”. Cô hơi tốt nái, người mập tròn, trắng nõn, chân tay mũm mĩm, mắt híp lại. Cô đi gài cửa cẩn thận rồi đến bên tôi, ra lệnh:

– Nằm sấp xuống!

Tôi nằm sấp xuống. Và cô ra tay. Đấm. Kể cũng khoái thiệt. Cô thiện nghệ như mấy tay đấm bóp đi ngoài đường buổi tối vậy, nhưng dẻo và dịu dàng hơn nhất là khi cô đi trên lưng tôi. Tướng cô mập như thế, dậm lên, chắc tôi gãy xương, không ngờ thấy gân cốt như dãn ra, đau một cách dễ chịu. Sau tiết mục đó, cô bắt tôi nằm ngữa. Cô mím mím cười liếc nhìn tôi vẻ tinh quái và bắt đầu. Hai bàn tay cô sờ soạng, vuốt ve, nắn bóp không chừa chỗ nào trên người tôi … Một lúc lâu cô giận dỗi bảo:

– Con gà chết!

Quả tình cô làm tôi nhột quá, lại thêm sợ và mắc cỡ nữa, nên “nó” thành con gà chết thật. Cô bảo:

– Xong rồi!

Và mặc áo, mở cửa ra khỏi phòng, tiếp tục chuyện trò với các bạn. Sau nầy tôi mới biết, phải có “mục đó” cô mới kiếm nhiều tiền, chứ đấm bóp, chia với chủ, cô chẳng được bao nhiêu. Không may cho cô, gặp phải

“con gà chết” chẳng làm ăn gì được! Cô giận cũng phải.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 13 May 2026

Một cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến Hoa  Kỳ, nguyên sĩ quan Tuỳ viên Hải Quân tại Đại Sứ Quán Mỹ, Hà Nội, đã có ý hướng muốn thuyết phục người Việt Nam, nơi xứ sở ông đã phục vụ trước đây, thay đổi một nếp sống văn hoa, là từ bỏ thói quen … ăn thịt chó. Ông Robert Lucius kể lại cảm giác đầu tiên của ông, năm 2006, trong một chuyến đi phát dụng cụ y tế ở Lai Châu, đã nhìn thấy những con chó bị nhốt trong rọ trên một chiếc xe gắn máy đem đến lò thịt, với những đôi mắt sợ hãi, tuyệt vọng. Vào lúc ấy, ông không làm gì được và về sau vẫn ân hận về sự “hèn nhát” của mình. Hình ảnh những đôi mắt bầy chó ấy ám ảnh ông, khiến ông từ bỏ việc ăn thịt và chọn việc ăn chay. Từ Việt Nam trở về, ông Lucius đã thành lập một tồ chức bất vụ lợi phát động việc đối xử tử tế với loài vật, đào tạo những thanh niên đi nói chuyện tại những nơi đông người, nhất là trong giới sinh viên chuyện phải suy nghĩ lại về việc xem chó là loại súc vật cung cấp thịt cho loài người, và việc giết chó làm thịt được xem như là một hành động độc ác tàn nhẫn. Ở các nước Á Châu, chúng ta xem việc ăn thịt chó là bình thường như ăn thịt heo, thịt bò vậy, nhưng dưới mắt người Tây Phương, đây là một việc hết sức quái đản, dã man, mọi rợ. Chính bản thân tôi đã có phen ngượng chín người, vào cuối năm 1966, khi ở giữa một lớp học sinh tiểu học Mỹ, bối rối vì không thể không trả lời câu hỏi của một bé gái ngây thơ mới  lên 8 tuổi: “Có phải người Việt Nam các ông ăn thịt chó không?” Có hay không? Và phải giải thích ra làm sao?

Năm ấy tôi phải theo một lớp tu nghiệp ngắn hạn về  thông tin báo chí tại Hoa kỳ và được nhà trường sắp xếp cho tiếp xúc và sinh hoạt với một gia đình sponsor của một vị Mục Sư tại thành phố Indianapolis. Đó là vào thời điểm quân đội Mỹ đã ồ ạt vào Việt Nam, trong thành phố nhỏ này cũng có nhiều lính Mỹ đang chiến đấu ở Pleiku, Lai Khê, Cam Ranh hay đâu đó. Bà Mục Sư nài nĩ tôi, một sĩ quan miền Nam đang có mặt ở đây, cố gắng thu xếp đến thăm một lớp tiểu học, nơi hai đứa con gái bà đang theo học để cho học sinh biết Việt Nam ở đâu, một người Việt Nam ra sao? Trông một ông lính VNCH mang hia, đội mão, bề ngoài cũng không khác mấy anh lính Mỹ, nhưng cái câu hỏi của cô bé kia có lẽ đã khiến cho các em có cha, anh đang phục vụ tại Việt Nam nghĩ rằng thân nhân họ đang chiến đấu tại một đất nước không mấy văn minh, vì ở đó người ta … ăn thịt chó.

Cứ nghĩ đến hình ảnh một con “pet” cưng được bồng bế, quấn quýt bên con người, biết mừng rỡ, xúc cảm, trung thành, cùng ăn, ngủ với con người, được vuốt ve hôn hít, được chăm sóc thuốc men khi đau ốm, được chôn cất tử tế khi chết; với hình ảnh một con chó mới bị đập đầu bằng cái búa tạ, bị cắt tiết, dội nước sôi, cạo lông, thui vàng rộm, còn nhe răng, được treo lểnh nghểnh trên mấy cái móc sắt ở cửa hàng thịt  chó ở Hà Nội hay Ngã Ba Ông Tạ, Saigon mà thấy kinh hãi. Ông Jason Picard, một người Mỹ, kể chuyện, sau một thời gian đi du lịch ở Việt Nam về đã thú nhận với bố mẹ là đã có lần ăn thịt chó. Lúc ấy bà mẹ đang ngồi trên sàn nhà chơi với con chó nhỏ tên KC. Mẹ ông và cả con KC đã nhìn ông với vẻ mặt khiếp sợ và ghê gớm như nhìn một kẻ sát nhân. Sau một giây phút bối rối, bà mẹ bảo ông với giọng kiên quyết: “Jason, con lại đây và xin lỗi con KC ngay đi … “.

Tranh luận chuyện chính trị, tôn giáo đã là điều khó. Nói chuyện tôn giáo bây giờ có khi oan mạng, nói chuyện chính trị thế nào cũng có cãi vả, nhưng chớ có đụng vào văn hoá. Chính ông Lucius, người mở chiến dịch chống việc ăn thịt chó, cũng đã coi mình như một tên “đế quốc văn hoá”, dám làm chuyện xâm lược, đòi thay đổi văn hoá của dân tộc khác. Này ông! Mỹ ăn “hot dog” được thì tôi chén “dồi chó” có sao đâu? Chớ có đụng vào “văn hoa của chúng tôi! Đối với dân tộc Việt Nam, chuyện ăn thịt chó là thứ văn hoa muôn đời rồi, mùi chả chó, rựa mận đã thơm ngát cả khu rừng văn học dân gian làm sao dứt bỏ được:

– “Sống trên đời ăn miếng dồi chó, Chết xuống âm phủ biết có hay không?

– “Làm trai biết đánh tổ tôm, Uống rượu thịt chó, ngâm nôm Thúy Kiều”

– “Một trăm con chó, Một lọ mắm tôm, Một ôm rau húng, Một thúng rau răm”.

Dân khoái thịt chó thường ca tụng đặc tính của thịt chó không thua gì người ta quảng cáo dược thảo  hiện nay: “không độc, bổ tỳ, bổ thận, trợ dương … ” nghe mà ham. Không biết mùi vị thịt con chó trắng với thịtchó đen có khác nhau không chứ theo các vị sành chó thì: “Nhứt bạch, nhì hoàng, tam khoang, tứ đốm.”Có thật không, hay đây cũng chỉ là những lời bốc phét, như câu nói “ăn thịt chó ba ngày, xỉa răng vẫn còn thơm?”

Một vài nước ở châu Á như Nam Hàn, Trung Quốc có những vùng các nông dân nuôi chó trong nông trại để lấy thịt như nuôi, bò, cừu dê, heo, gà vịt. Họ còn nhập cảng giống từ phương Tây để có con giống lớn nhiều thịt. Các trại chủ Trung Quốc đã học hỏi cách nuôi “chó thịt” từ người Đại Hàn và thú nhận rằng nuôi chó lợi gấp ba lần nuôi gà vịt và gấp bốn lần lợi tức nuôi heo. Ở thủ đô Seoul (Nam Hàn) có cả một “phố thịt chó”. Trong thời gian diễn ra Thế Vận Hội Seoul 1980 và World Cup năm 2002, chính quyền phải cho đóng cửa các nhà hàng thịt chó để tránh những  cái nhìn thiếu thiện cảm của người phương Tây đối với dân tộc này. Nhiều người Đại Hàn cũng đã cho rằng cách làm thịt chó bằng lối treo ngược con chó lên và đánh cho đến chết, để thịt chó được mềm mại và có  mùi thơm hơn là quá dã man, nên đã thuyết phục  chính phủ ban những biện pháp để ngăn chận lối làmchó độc ác, tàn bạo này.

Một người Nam Hàn hiện đang sống tại Hoà Lan cũng đã cho biết quốc gia này cũng có xuất cảng chó sang Nam Hàn và việc người Hàn ăn thịt chó sẽ làm hoen ố hình ảnh của Đại Hàn khiến người ta sẽ kỳ thị và ghét người Đại Hàn hơn. Vào tháng 4 năm 2000, tổ chức Hiệp Hội Quốc Tế Bảo Vệ Súc Vật tại Thuy Sĩ đã kêu gọi chính phủ ngăn cấm việc xuất cảng chó sang các xứ Á châu, đặc biệt là Tàu, Việt Nam và Đại Hàn, là những nước có văn hoá … “sống trên đời”. Không thể xem thịt chó như là thịt rùa, thịt rắn, thịt vịt hay thịt heo. Chúng ta lại không thể xem loài  chó cũng như các động vật vì nó có trí khôn và tình cảm, những ai đã từng nuôi chó đều biết đến điều đó. Loài chó khôn ngoan và biểu lộ sự đau đớn khác thường khi chúng biết sắp bị con người đem ra giết. Người Tây phương gọi chó bạn của con người (man’s best friend), trung thành và đáng tin cậy.Vì vậy người mù đã dùng chó để dẫn đường, cảnh sát đã dùng chó để tìm ma tuý, truy lùng dấu tích tội phạm và để cứu người kẹt trong lửa, vùi dưới tuyết hay dưới sông.  Con chó còn biết đi săn giúp người hay giúp giữ đàncừu, kể cả việc bảo vệ cừu khỏi nanh vuốt của bẩy sói. Con chó biết mừng rỡ khi thấy chủ về nhà, dù đó là người lính viễn chinh xa nhà đã nhiều năm, con chó biết bảo vệ khi chủ bị tấn công, con chó nằm yên trên thềm nhà cũ, không ăn uống và chết theo người chủ. Con chó có nhiều đức tính mà con người đôi khi không có được. Thế giới đặt câu hỏi, vậy mà vì sao, trên trái đất này lại có những người Tàu, người Việt, người Đại Hàn, người Cambodia lại có thể đập đầu, dội nước sôi, thui vàng, banh thây những con vật “bạn  người” ấy chỉ vì miếng ăn. Hơn nữa miếng ăn này cũng không phải miếng ăn cứu đói như ly sữa, khúc bánh mì, chén cơm hay củ khoai, mà chỉ vì cái văn hoá khoái khẩu, đàn đúm (chưa thấy ai ngồi ăn thịt chó một mình), rượu chè (không ai ăn thịt chó mà uống nước lã.)

Tuy vậy người Việt Nam vẫn chưa có ai mở nông trại nuôi “chó thịt” cho sinh sản, vỗ béo rồi đem đi bán hay bỏ mối cho các nhà hàng thịt chó đang mọc lên nhan nhãn, nhiều nhất là tại Hà Nội, đất ngàn năm văn vật. Cũng vì Việt Nam chưa có trại nuôi chó thịt quy mô, nên ở miền Bắc, quá nhiều người còn mê ăn món chó, mà số thịt không đủ “cung”, nói nôm na là không đủ chó bán. Do vậy, mấy năm nay, nghề trộm  chó nở rộ khắp nơi, một bọn người chuyên lùng sục bắt chó của người khác đem về bán cho các cửa hàng thịt. Để bảo vệ chó của mình, dân chúng đã đoàn kết, tự làm bản án, phục kích và giết những kẻ trộm chó một cách độc ác không nương tay như đánh chết tại chỗ, đổ xăng thiêu xác họ hay nhẹ là đốt xe của bọn trộm. Con chó đổi một mạng người, tình cảnh ấy chỉ thấy trong xã hội đương thời ở miền Bắc, mà chẳng qua cũng vì miếng ăn tồi tàn. Theo thống kê có 5 triệu/47 triệu, người Đại Hàn  ăn thịt chó, không biết trong 85 triệu người Việt Nam, có bao nhiêu triệu người ăn món “mộc tồn?” Ít nhất cũng có ba triệu người ra hải ngoại không còn có cơ  hội ăn thịt chó, và có thể không còn thích ăn món “cờ tây” này nữa, vì vậy tôi tin rằng văn hoa … ẩm thực cũng có thể thay đổi. Thay đổi để theo kịp đà văn minh, tiến bộ, thay đổi để cho chúng ta khỏi mang tiếng là những người đến từ một xứ sở còn thói quen dã man là … ăn thịt chó.

Thay đổi cho tốt hơn mới gọi là cách mạng chứ, lâu nay các ông lạm dụng hai chữ “Cách Mạng” quá nhiều rồi!

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 13 May 2026

“Người Việt thông minh, chăm chi và anh hùng. thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không? (Câu hỏi của Báo Thanh Niên trong nước.)

Trong bài “Đ êm Của Những Cánh Bướm Việt ở Malaysia” đăng trên NB Người Việt (2009) trước đây, ký giả Đông Bản đã vô tình nhắc lại câu nói của giới taxi Kuala Lumpur. “Con gái Việt Nam đẹp lắm!” Thủy, một “cánh bướm đêm” tại Beach Club dã cay đắng hỏi lại những người ký giả cùng quê hương với cô: Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không! Câu trả lời tất nhiên là không! Ai lại hảnh diện khi có dồng bào, con em của mình, dù được khen là đẹp phải thất thân đi làm đĩ tứ xứ. Không những được khen đẹp lắm, mà dân địa phương còn một “lắm” nữa, khi nói: “Con gái Việt Nam rẽ lắm!”

Khi Đông Bàn đang đứng trên dất Malaysia, hẳn ông không thể nào hãnh diện là … người Việt Nam. Chúng ta cũng không hãnh diện là người Việt Nam, nếu chúng ta đang từ Đài Loan. Theo số liệu thống kê kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người Dài Loan trong 14 năm (1995-2008) đã có 117,679 trường hợp, chiếm 82% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Trong một đảo quốc nhỏ như Đài Loan đã có hơn 10.000 phụ nữ Việt bỏ xứ sang đây lảm vợ người, dù hạnh phúc hay khốn khổ, thì cũng vì thân phận nghèo đói. tương lai mờ mịt, có vinh dự gì cho đất nước khi đàn bà phải ly hương, với những cuộc hôn nhân không tình yêu chỉ vì đồng tiền. Điều khốn nạn nhất là trong tâm lý của người dận đồng bằng Cửu Long, “lấy chồng Đài Loan” là chuyện mơ ước của tất cả mọi người. Một đôi vợ chồng đem con gái về thăm quê được một người bà con buột miệng khen: “Úi, con bé này ngộ quá, lớn chút nữa lấy chồng Đài Loan dược à nghen!”

Cũng ở Đài Loan, năm người lao động Việt Nam làm thuê ở một công ty thùy sản địa phương đã hợp lực khiêng lồng đi bắt hai con chó của dân địa phương bỏ vào bao tải, dìm xuống biển cho chết, sau đó mang lên làm thịt. Ngoài việc phải quỳ hai giờ cúi lạy bản thờ chó để tạ tội và để quần chúng giảm cơn thịnh nộ, năm người lao động Việt Nam này còn bị phạt 10.000 tiền Đài Loan. Câu trà lời cũng là không, nếu chúng ta dang ở Nhật. Trên nhiều diễn đàn của Nhật, nhiều người Nhật “cực đoan” kêu gọi tẩy chay người Việt, đuổi hết người Việt về nước, cắt vĩnh viễn các khoản viện trợ cho Việt Nam. Có người so sánh viện trợ cho Việt Nam uồng hơn là đổ tiền vào … cống, bởi tiền thuế của họ đang dược dùng để nuôi bọn “giòi bu” ở Việt Nam, sau những vụ: – PCP, một tập doàn cung cấp dịch vụ của Nhật bị Việt Nam đòi hối lộ 15% để được trúng thầu các dự án dùng tiền viện trợ của Nhật lại Việt Nam, – nhân viên, tiếp viên hàng không và phi công Vietnam Airline, tổ chức đánh cắp hàng hóa trong các siệu thị Nhật để vận chuyển hàng gian về tiêu thụ tại Việt Nam, các tu nghiệp sinh Việt Nam trước khi sang Nhật đã bị các doanh nghiệp xuất khẩu lao động CSVN bóc lột thậm tệ, – lãnh sự quán Việt Nam ở Nhật tại Osaka tố chức bán passport Việt Nam. Trong các siêu thị tại Nhật, có bảng cảnh cáo dành cho người Việt về chuyện … ăn cắp vặt sẽ bị … vào tù! Bức ảnh đã làm rộ lên tin đồn về nạn ăn cắp vật của người Việt ở bên Nhật. Nhiều người cho rằng, người Việt đã để lại ấn tượng xấu xa trong mắt người Nhật Bản khi xuất ngoại sang đất nước của họ.

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta dang ở Singapore. Trang mạng với tên gọi là Craigslist có mặt tại Singapore đưa thông tin rằng khách hàng có thể lựa chọn “gải Việt còn trinh,” giá khoảng $3,000 một tuần, ngay tại sân bay, khách sạn hoặc bất cử nơi nào khách hàng yêu cầu. Tinh trạng các cô gái, Việt Nam bán trinh tại Singapore dường như công khai, ai cũng hay biết. Cảnh sát Singapore cho biết, hầu hết các cô gái Việt còn trinh đều ở độ tuổi từ 16 dến 17, đến và “làm việc” qua nhân vật trung gian và năm ngoái, tại đây, một cô gái Việt Nam 17 tuổi cũng đã rao bán trinh tiết với giá $1.500!

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Nga. Bọn buôn người đưa hàng nghìn phụ nữ Việt Nam vào các nhà chứa Nga, nhưng Đại Sứ Quán Việt tại Nga từ chối trả lời câu hỏi cảa BBC cho rằng cơ quan này không có thẩm quyền để nói về việc này. Theo TS Nguyễn Đình Thắng: “Trong tất cả các trường hợp ở Nga này, thủ phạm là những người Việt được bao che bởi một số giới chức ở Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Nga, thậm chí họ thành Hiệp Hội May Dệt dưới sự bảo trợ của Tòa Đại Sứ Việt Nam,” Cảnh sát Nga vừa khám phá một xưởng may “đen” dưới lòng đất lại khu chợ Cherkivav ở thủ đỏ Moscow, bắt hằng trăm di dân lậu Việt Nam. Nạn buôn lậu của người Việt tại Nga là chuyện xầy ra hẳng ngày, có lẽ bởi nguyên nhân trong 80,000 người Việt ở Nga đã có 80% làm nghề buôn hán, phần lớn là chợ trời, mánh mung. Ở Ba Lan: “Cầm quyền Hà Nội và nhân viên Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Warsaw là một băng nhóm tội phạm có tổ chức, một hệ thống Mafia.” (Đài báo Weltspiegel Đức).

Câu trả lời là không, ở mọi nơi trên thế giới. Trên VietNamNet, người Việt Nam sinh sống ở Nhật, ở Nga, ở Anh, ở Úc, ở Nam Phi, ở Mozambique và ngay cả ở Cali, đã trình bảy những “những mẫu chuyện về người Việt đọc xong … chỉ muốn “độn thổ.” với bao nhiêu thói hư, tật xầu khác của người Việt từ trong nước dến như trộm cắp, gian dối, đái bậy, khạc nhổ, vứt rác bừa bãi, ăn uống thô tục, tranh giành, chen lấn nơi công cộng, không biết nói cảm ơn, xin lỗi khi cần, Nói về chuyện ăn cắp và ăn cắp vặt thì Việt Nam chắc hẳn bỏ xa đàn anh Trung Quốc. Ngay cả cuộn giấy đi cầu trong hotel, khách người Việt cũng không tha. Một người Việt làm nghề thông dịch cho tòa án và cảnh sảt ở Úc, cho biết phần lớn thủ phạm ăn cắp trong siêu thị và trồng cần sa trong nhà là những người mới định cư, đặc biệt những người từ Bắc Việt Nam và du học sinh. Mỗi lần người này đi dịch là anh ta khổ tâm vì cảm thấy nhục nhã cho dân tộc mình. Trong khi trao đổi chuyện này với một phụ nữ trong nước, bà này dã viết cho chúng lôi: “Năm 2008 vào dịp Tết Nguyên Đán, tôi dược con trai cho di du lịch Doha (Qatar,) sẵn dịp công ty của con bảo lãnh qua chơi Dubai. Nhưng đến chiều về lại Doha thì bị giữ lại phi trường vì nghe nói có chuyện gì xảy ra ở một siêu thị mà có người Việt mình dính vô. Trong khi cả đoàn “check in” thì riêng tôi bị giữ lại vi mang passport CHXHCN Việt Nam. Mang hộ chiếu Việt Nam đi nước ngoài buồn lắm ông ơi !!!! “

Lâu nay, người ta nhắc đến hai chữ Việt Nam hơi nhiều, không phải vì “tiếng tăm” mà vì “tai tiếng!” Như vậy cũng không nên trách câu phát biểu của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt  “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nha khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm

chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nọ cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gi cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế.”

Nhân cầu nói này, các co quan truyền thông tại Việt Nam đã chỉ trích, lên án ông và đặt câu hỏi về lòng yêu nước của óng. Tôi thì nghĩ khác, vì yêu nước nên ông Ngô Quang Kiệt mới cảm thấy nhục nhã. Tôi cũng không hãnh diện lắm về chuyện làm người Việt Nam. nhưng không phải như vậy là tỏi không yêu nuớc, mà có thể vì lòng yêu nuớc, biết đâu có tác giá sẽ cho ra đời một cuốn sách mang tên “Người Việt Xấu Xa.”

Chúng ta đang nói chuyện người Việt dưới chế độ Cộng Sản. Để công bằng chúng ta nên có thêm một cái nhìn về người Việt ở Mỹ. Ngoài những chuyện dược đề cao là làm “vã vang dân tộc Việt,” không có gì hơn là xin trich dẫn lời của ông Nguyễn Hữu Hạnh, Cựu Thống Đốc Ngân hàng VNCH:

“Những năm tiếp theo đó ở nước Mỹ, tôi lại càng thêm ngao ngán và tuyệt vọng. Ngoài một số thành tích sáng chói của sinh viên Việt Nam và một vài thành công đá ng kể của các chuyên gia Việt Nam trẻ tuổi, thì cộng đồng người Việt di tản dã gây nên tai tiếng xấu xa trong cái xã hội đã dung dưỡng họ: bên cạnh những người đang cố gắng làm lụng để nuôi nấng con cái, một số người di tản lại dem qua đây những thói xấu cũ, lừa đào và chôm chỉa bất cứ khi nảo có dịp. Không phải chỉ với những người nghèo khổ phải sống bằng tiền trợ cấp, mà cả những tầng lớp trên (bác sĩ, dược sĩ, những người môi giới cổ phần, mua bán bất động sản v,v …). Một ngày nọ tại Westminster, bang California, người ta trông thấy tám mươi vị bác sĩ và dược sĩ Việt Nam bị còng tay dẫn di sau một toán cành sát Mỹ. Xấu hỗ thay cho cộng đồng người Việt chúng ta ở đây và xấu hồ lây cho cả quê hương dất nước chúng ta bên kia nữa!” (“Lời Nói Đầu” -“Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới” hồi ký, xb. 2004.)

Như vậy, sau một người có tên tuổi tr ong nước là Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt cảm thấy “nhục nhã,” bây giờ một người ngoài nước, lại là một viên chức cao cấp của hai nền Cộng Hoà Việt Nam, cảm thấy “xấu hổ,” một phụ nữ bình thưởng thì than “buồn lắm!” Thể mà không biết sao thời “chống Mỹ” báo chí miền Bắc lại phịa ra câu chuyện một anh chăng “bá vơ” nào đó tuyên bố; “mơ ước một buổi sáng thức dậy, thấy mình được trở thành một người … Việt Nam!”

Ông Nguyễn Hồi Thủ khi dịch cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xi” đã có nhận xét: “Thường trong lịch sử Việt Nam vốn đã rất it người thật tình có can đảm và trung thực đề tìm hiều, phê bình, những cái xấu, cái dỡ của dân tộc mình. Gần đây lại chỉ toàn thấy ca tụng dất nước rừng vàng biển bạc, con người cần củ, thông minh, cao cả, dẹp đẽ, kiên cường, anh hùng, trong sáng … Thậm chí lại có cả người lãnh đạo lấy tên giả viết sách để ca ngợi cá nhân mình, có cả nhà văn bịa tên một người nước ngoài để ca ngợi dận tộc minh.”

Báo Thanh Niên trong nước đã dặt câu hỏi: “Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng, thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”

Thưa, các yếu tố thông minh, chăm chỉ và nhất là kiểu “ra ngõ là gặp … anh hùng.” chua đủ dể tạo thành một con người .. .tử tế và một đất nước tử tế để cho thế giới tôn trọng và yêu mến!

Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Post by Sơn râu 12 May 2026

Chủng tôi được giao phó một công tác bở béo. Tám thằng có phận sự canh gác một ngôi làng đã bị di tản vì bị pháo nặng nề. Đặc biệt là phải canh chừng một kho quân nhu vì chưa tiêu thụ hết. Chúng tôi được tự tiếp tế lấy cũng trong kho tàng này. Chúng tôi đúng là hợp người hợp cảnh; -Kat, Albert, Muller, Tjaden, Detering, đủ bọn. Tuy nhiên Haie đã chết. Nhưng kể ra chúng tôi còn là may chán, tất cả các đội kia đều tồn thất nặng hơn chúng tôi. Chúng tôi chọn, làm hầm trú ẩn, một hầm bê tông cốt sắt có bực thang từ trên xuống dưới. Đường vào lại có một bức tường bê-tông riêng biệt bảo vệ. Giờ thì chúng tôi phát triển một nền kỹ nghệ vĩ đại. Đây là một cơ hội không những được duỗi chân duỗi cẳng mà duỗi cả linh hồn. Chiến tranh quá tuyệt vọng nên không cho phép chúng tôi được đa cảm lâu dài, Chỉ có thể đa cảm lâu dài khi nào tình hình không đến nỗi quá bi đát. Dù sao, chúng tôi cũng không thể là gì khác hơn là thực tế. Thật vậy, thực tế đến nỗi lắm khi tôi rùng mình khi một tư tưởng từ những ngày trước chiến tranh thoáng qua trong đầu tôi, Nhưng nó cũng không ở lại lâu. Chúng tôi phải coi mọi sự càng nhẹ càng hay, nên chúng tôi tận dụng mọi cơ hội, và phi lý đứng trần truồng ngay bên khủng khiếp. Không thể làm gì khác, đó là cách tự phấn chấn của chúng tôi. Nên chúng tôi sốt sắng ra công thiết lập một địa đàng – một địa đàng ăn với ngủ, lẽ dĩ nhiên. Trước hết sàn nhà được trải nệm mà chúng tôi vác từ các nhà xuống. Ngay cả đít một thẳng lính thì cũng thích được ngồi êm. Chỉ ở giữa nhà là để một khoảng trống. Rồi chúng tôi đi vơ vét chăn, nệm bông, toàn những thứ luých. Trong thị trấn có đủ thứ chả thiếu thứ gì. Albert và tôi tìm ra một chiếc giuờng gỗ gu có thể tháo ra từng mảnh có đính màn lụa xanh lơ và vải trải đăng-ten. Chúng tôi mướt mồ hôi mới khiêng về được, những của quí như thế mà bỏ lơ thì thật uổng vì một vài ngày nào đó thế nào cũng bi pháo tan tành.

Kat và tôi đi tuần tiễu khắp các nhà. Trong một thời gian rất ngắn chúng tôi đã sưu tầm được một lô trứng một kí bơ tươi. Bỗng rầm một tiếng trong phòng khách và một cái lò sắt văng thủng tường qua chúng tôi rồi đâm thủng bức vách sau chúng tôi chừng một thước. Hai lỗ. Nó từ ngôi nhà đằng trước văng qua, nơi vừa trúng một quả đạn đại bác. «Đồ chó chết.» Kat nhăn mặt, và chúng tôi tiếp tục lục lọi. Bỗng cả hai chúng tôi đều vễnh tai, chạy ủa qua và rồi đứng ngây người – trong một cái chuồng nhỏ hai con lợn sữa chạy tung tăng. Chúng tôi dụi mắt nbìn nhau để xem mình tỉnh hay mê. Mà thật đúng là hai con lợn sữa. Chúng tôi túm lấy chúng – không còn nghi ngờ gì nữa, – đúng là hai con lợn sữa.

Thứ này ăn thì mê ly. Cách hầm chúng tôi chừng hai chục thước có một ngôi nhà nhỏ trước dùng làm nhà trọ cho sĩ quan. Dưới bếp là một cả lò sưởi lớn tướng với hai hàng nào nồi niêu soong chảo – đủ thứ, lại có cả một đống củi chẻ sẵn trong một nhà ngang – một thiên đàng của một đầu bếp thực thụ. Hai thằng trong bọn tôi đã ra đồng từ buổi sáng để bới khoai, cà rốt và đậu xanh. Chúng tôi ra mặt khinh khỉnh trước các thứ đồ hộp trong lương thực, chúng tôi cần rau tươi. Trong phòng ăn đã có sẵn hai chiếc su lơ. Hai con lợn sữa được làm thịt. Chuyện đó đã có Kat lo. Chúng tôi muốn dùng bánh khoai ăn với thịt quay. Nhưng chúng tôi không tìm ra cái nạo khoai. Tuy nhiên, sự khó khăn này được giải quyết ngay. Chúng tôi dùng một chiếc đinh đục lỗ một cái vung nồi thế là có cái nạo. Ba thằng đeo găng tay vào để cái nạo đừng xây xát tay, còn hai tay khác gọt khoai, thế là đâu vào đấy. Kat nếm lợn sữa, cà rốt, đậu và su lơ. Bác còn làm sốt trắng để ăn su lơ. Mười phút sau tôi đã quen nhồi quánh khi bánh đã chin một bên nhồi bánh lên lật ngược trên không rồi hứng lại vào quánh. Hai con lợn sữa được quay nguyên con. Chúng tôi đứng quay quanh chúng như trước một bàn thờ.

Đồng thời chúng tôi cũng đãi khách, hai anh vô tuyến điện viên được chúng tôi mời vào cùng đớp. Họ ngồi trong căn phòng khách có cây dương cầm. Một anh chơi đàn, anh kia hát bài ‘An der Weser’ Anh hát có tình cảm nhưng bằng một giong Saxon. Dù sao chúng tôi nghe cũng vẫn cảm xúc, chúng tôi đứng tại lò sưởi lo làm món ăn.

Sau đó chúng tôi mới bắt đầu nhận thấy là mình đang lâm nguy. Các khinh khí cầu quan sát đã nhận ra khói bốc lên từ lò sưởi và đạn pháo bắt đầu rơi xuống chúng tôi. Toàn là loại đạn ria chết tiệt rơi xuống chỉ thủng một lỗ nhỏ nhưng vừa sát đất là toẻ rộng ra. Chúng rơi mỗi lúc mỗi siết chặt quanh chúng tôi; tuy nhiên đâu bỏ rơi các món hầu sực được. Hai mảnh niễng vèo một cai chém thủng đầu cửa sổ nhà bếp. Lợn thì quay rồi. Còn rán bánh thì khó quá. Nổ nhanh đến nỗi các mảnh niễng loáng cái đã lại đập vào tường nhà và văng tua tủa qua cửa sổ. Mỗi lần nghe có quả nào bay đến tôi lại cầm cả chảo bánh quỳ xuống, nép minh sau tường cửa sổ. Sau đó tức thời tôi lại đứng lên lại tiếp tục rán. Hai chàng Saxon đã ngưng hát một mảnh niễng đập vào dương cầm. Mãi rồi các món đều sẵn sàng và chúng tôi tổ chức chuyển dịch lại vào hầm. Tiếng nổ kế vừa dứt hai thằng ôm các chậu rau băng qua năm chục thước vào hầm. Chúng tôi thấy họ biến. Tiếng nổ khác. Ai nấy nằm ép và hai thằng khác phóng đi, mỗi thằng ôm một hộp lớn dựng cà phê thứ hảo hạng và vừa đến hầm thì lại thèm một tiếng nổ. Rồi đến Kat và Kropp nắm lấy món thượng thặng chiếc đĩa lớn với hai con lợn sữa quay vàng dòn. Một tiếng hô, một đầu gối quì xuống, và cả hai thoát đi một mạch năm chục thước ở ngoài trời. Tôi ở lại rán nốt bốn chiếc bánh; tôi phải nằm xuống đất hai lần:- dù sao, thế là cũng thêm được bốn chiếc bánh nữa và bánh này là thứ tôi khoái nhất. Đoạn tôi cầm cái đĩa với chồng bánh ụ nép mình sau cảnh cửa. Một tiếng rít, một tiếng rầm, thế là hai tay ôm đĩa ghì vào ngực phi như bay. Tôi gần đến nơi, tôi phóng như hươu: chạy vòng bức tường, các mảnh miễng va chan chát vào bê-tông, tôi trượt chân xuống các bực bầm, hai khuỷu tay bị trầy da, nhưng không rơi lấy một chiếc bánh và dĩa cũng chẳng vỡ.

Vào khoảng hai giờ thì chúng tôi bắt đầu ngồi vào ăn. Bữa tiệc kéo dài đến sáu giờ. Chúng tôi uống cà phê đến bảy giờ rưỡi – cà phê sĩ quan lấy ở kho ra – hút xì gà thuốc lá sĩ quan – cũng lấy ở kho ra. Đúng bảy rưỡi chúng tôi bắt đầu vào ngồi ăn cơm tối. Vào khoảng mười giờ chúng tôi vứt xương lợn sữa ra ngoài cửa.

Rồi thưởng thức cô-nhắc và rum – cũng trích ở cái kho quí hóa kia ra; và lại phi phà cái thứ xì gà dài bự có dán nhãn hiệu ở giữa. Tjaden ân hận còn thiếu một thứ gái ở lục xì sĩ quan. Về khuya chúng tôi nghe cỏ tiếng meo meo. Mot con mèo xám nhỏ ngồi ở cửa hầm. Chúng tôi dụ nó vào cho nó ăn. Thế là chúng tôi lại thấy buồn mồm xoay ra đánh chén thêm chầu nữa. Miệng nhai, lưng đặt xuống ngủ. Nhưng ngủ không xong.

Ăn nhiều mỡ quá. Lợn sữa ăn vào đầy bụng. Thế là chúng tỏi cứ thẳng vào thằng ra không ngớt.

Các ngôi nhà trúng đạn bốc cháy như đuốc trong đêm, Đạn bay ngang bay dọc, rơi ầm ầm. Các đoàn tiếp vận vẫn chạy nối đuôi nhau ngoài đường. Kho lương bị trúng bom toang hoác một bên. Mặc dầu miễng bay vèo vèo các anh tài đoàn xe tiếp vận tràn vào như đàn ong vồ lấy bánh. Chúng tôi mặc họ lấy thả dàn. Có nói gì lại chỉ tổ rước lấy một trận đòn nhừ tử. Nên chúng tôi mới phải quyền biến. Chúng tôi bảo chúng tôi có nhiệm vụ canh giữ nên biết rõ đường đi nước bước trong kho, chúng tôi đề nghị đổi các đồ hộp lấy những thứ mà chúng tôi đa g thiếu. Đù sao có ăn nhằm gì – rồi đây tất cả cứ gọi là tan tành xí oách. Riêng chúng tôi, chúng tôi lấy ít súc củ là trong kho ra để ăn. Kat bảo thứ này ăn dễ tiêu. Suốt gần nửa tháng cứ thế, chỉ ăn, uống, la cà suốt ngày. Chả ai hoạnh hoẹ. Thị trấn tiêu dần dưới bom đạn pháo kích và chúng tôi sống thảnh thơi vui thú. Ngày nào còn chút gì ở kho ngày đó chả có gì phải lo, chúng tôi chả ước ao gì hơn là nằm lai chốn này cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Tjaden đâm ra xài sang đến nỗi xì gà chỉ hút có nửa. Mũi hếch lên trời hắn bảo chúng tôi là nó sinh ra quen thói phong lưu rồi. Và Kat thì hớn hở ra mặt. Cứ sáng ra là trước hết bác gọi: « Emil, bưng ca-vi-a và cà phê lên đây ». Chúng tôi thằng nào thẳng nấy lên mặt ta đây, thằng này coi thằng kia như tôi tớ, quát tháo ra lệnh.

«Dười bàn chân tao có cái gì rân rân ngứa ngáy; thằng Kropp đâu, bắt cái con rận ấy cho tao coi, » Leer nói giơ chân lên như có vũ nữ ba-lê, thế là Albert cầm cẳng lôi nó xềnh xệch lên gác. «Tjaden! » – «Cái gì? »

– «Nghỉ, Tjaden; nhưng mà này, không được nói ‘Cái gì,’ mà phải ‘Dạ, thưa ông gọi gì,’ – nào thử xem: Tjaden! » Tjaden đáp lại bằng cái câu trứ danh của Goethe trong «Gotz von Berlichingen», mà xưa nay nó hằng xài không biết chán. Thêm tám ngày nữa, rồi là chúng tôi được lệnh trở lại mặt trận. Những ngày vàng son thế là hết. Hai chiếc cam nhông tải chúng tôi đi. Xe chất đầy ván. Tuy nhiên Albert và tôi vẫn thượng lên chiếc giuờng bốn cọc với đình màn lụa xanh, với nệm, và hai tấm vải trải giường bằng đăng-ten. Và đầu giường treo một cải bao đầy món đớp hảo hạng. Chốc chốc lại thọc tay vào, xúc xích dai, xúc xich gan đóng hộp, trái cây đóng hộp, thuốc lá hộp, chúng tôi thấy tâm hồn sảng khoái. Thẳng nào cũng có một bao riêng.

Kropp và tôi cùng kéo theo hai chiếc ghế bành to nệm đỏ. Ghế lồng vào lòng giường và chúng tôi ngồi đường bệ như ngồi ghế lỏ ở rạp hát. Trên đầu chúng tôi, đình màn lụa phồng lên như một cái trướng. Thằng nào thằng nay miệng ngậm xì gà. Ngồi thượng trên xe chúng tôi ngắm cảnh. Giữa chúng tôi là một cái lồng vẹt dành cho con mèo. Nó đi theo chúng tôi, nằm trong lồng, trước đĩa thịt, và rù rì. Xe từ từ chạy trên đường. Chúng tôi cất tiếng vang ca. Đằng sau chúng tôi, bom đạn rơi làm tung tóe từng cụm trên cái thị trấn giờ đây hoàn toàn tan nát.

Vài ngày sau, chúng tôi được phái đi di tản một ngôi làng. Trên đường chúng tôi gặp dân chúng tị nạn mang theo của cải tài sản hoặc trên xe cút kít, hoặc trên xe nôi, hoặc trên lưng. Những thân hình khòm khòm những bộ mặt bi đát, đầy tuyệt vọng, hấp tấp và chịu đựng. Con trẻ níu chặt tay mẹ, thỉnh thoảng con chị dắt mấy đứa em thơ ngã lên ngã xuống chốc chốc lại quay nhìn lại. Có đứa còn ôm theo những con búp bê trông đã thểu não. Tất cả đều lẳng lặng đi qua.  Chúng tôi đi thành hàng dài; bọn Pháp không pháo kích một thị trấn mà còn dân chúng. Nhưng vài phút sau không trung gào thét mặt đất chuyển động, các tiếng kêu vang lên, một quả đạn rơi giữa đội tập hậu. Chúng tôi tản ra nằm ẹp xuống đất, nhưng vừa lúc ấy tôi cảm thấy cái lanh lẹ bản năng đã rời tôi cái bản năng nó xưa nay vẫn khiến tôi tự động làm đúng cái phải làm dưới hỏa lực; cái ý nghĩ thoáng đến với một sự thất thần khiếp đảm: Mày nguy rồi» – và ngay sau đó một quả quất như một ngọn roi bên trên cẳng trái tôi. Tôi nghe Albert kêu lên một tiếng, nó nằm bên tôi.

« Albert, mau lên! » tôi hét, vì mình nằm phơi ngay giữa trời, không vật ẩn nấp. Nó lảo đảo đứng lên chạy. Tôi đeo bên nó. Chúng tôi phải chạy đến một bờ dậu, bờ dậu cao hơn chúng tôi. Kropp nắm lấy một cành, tôi giữ chân nó nâng nó lên, nó kêu lên, tôi hất mạnh lưng nó sang bên kia. Tôi nhảy lên theo nó và rơi vào một cái rãnh bên bờ dậu. Mặt chúng tôi dính đầy rêu và bùn, nhưng chổ ẩn tốt. Nên chúng tôi dầm mình xuống đến cổ. Mỗi lần nghe một quả đạn rít chúng tôi lại rúc đầu xuống nước. Cứ thế hàng hơn chục lần, tôi mệt lử.

« Ta đi đi thôi, bằng không tao dám chìm và chết đuối luôn,» Albert rên.

« Mày trúng đâu? » tôi hỏi nó.

« Đầu gối thì phải. »

« Còn chạy được không? »

« Có lẽ được. »

« Vậy thì chạy. »

Chúng tôi nhắm cái rãnh bên đường chạy tới đoạn khom người chay dọc theo rãnh. Đạn rơi theo chúng tôi. Con đường đưa đến kho đạn. Kho đạn mà nổ thì chúng tôi không thẳng nào còn đầu cắm vai. Nên chúng tôi đồi ý, chạy băng qua đồng. Albert đã bắt đầu lết chân. «Mày cứ đi, tao sẽ theo sau, » nó nói, và nằm ẹp xuống.

Tôi túm cánh tay hắn lắc. « Alberl, đứng lên, đã nằm xuống là hết đi nổi. Đứng mau, tao dìu.»

Mãi rồi chúng tôi đến một cái hầm nhỏ. Kropp nhào vào và tôi băng bó cho nó. Đạn trúng trên đầu gối một chút, Xong rồi tôi soát lại tôi. Quần tôi có mán và cánh tay tôi cũng rướm máu. Albert lấy băng của nó ra băng cho tôi. Chân nó giờ nhấc không nổi và cả hai không hiểu mình làm thế nào mà lại chạy xa được thế. Chỉ có sợ mới mọc cánh; khi đó bàn chân có đứt vẫn cứ chạy; — chạy trên hai ống. Tôi còn bò được. Tôi lên tiếng gọi một xe cứu thương chay qua và họ đến nhặt chúng tôi. Xe đầy thương binh. Có một anh cai y tá đi theo, anh tiêm cho tôi mỗi thằng một mũi ngừa sài uốn ván vào ngực. Đến trạm cứu thương chúng tôi dàn xếp để được nằm gần nhau. Họ cho chúng tôi ít cháo loãng, chúng tôi cầm thìa múc ăn ngon lành nhưng vẽ miệt thị, vì từng ăn ngon nhưng bây giờ thì đói.

«Albert, giờ thì về nhà chứ, » tôi nói. «Hy vong vậy, nó đáp, «Tao chỉ ước tụi mình bị gì. »

Vết thương đau thêm. Băng nóng như lửa. Chúng tôi uống hết ly nước này đến ly nước khác mà vẫn khát.

«Tao trúng trên đùi bao xa? » Kropp hỏi.

«Ít ra cũng mười phân. » tôi đáp. Không chừng mà rắc rối.

«Tao nhất định rồi, nó nói sau một hồi sny nghĩ, nếu họ cưa cẳng tao, tao sẽ kết liễu luôn. Tao không muốn suốt đời sống quẻ quặt,»

Chúng tôi nằm đấy với các ý nghĩ của mình và chờ đợi.

Tối đến chúng tôi được đưa đến khu mộ. Tôi hoảng vía chợt nghĩ mình phải làm gì; vì ai ai cũng đều biết rằng các y sĩ ở trạm cứu thương hễ động chút là cưa thẳng tay. Chà đông quá mà, cưa còn giản dị hơn là băng bó lôi thôi. Tôi nghĩ đến Kemmericb. Muốn gì thì tôi gì sẽ không để họ đánh thuốc mê tôi, dù cho tôi phải đập vỡ sọ vài thằng. Không sao. Y sĩ ấn ấn quanh vết thương và mắt tôi thấy tối sầm. «Gì mà sợ,» ông nói cộc cằn và cắt bỏ băng bông. Các dụng cụ lóng lánh dưới ánh sáng như những con thú độc. Đau chết người được. Hai anh y tá ghì chặt hai cánh tay tôi, nhưng tôi giằng được một tay và giáng vào đôi kính của ông, nhưng vừa thấy nên nhảy lui né kịp. «Đánh thuốc mê thằng quỉ này coi, » ông gầm lên. Tôi bình tĩnh lại .« Xin lỗi bác sĩ, tôi xin ngồi yên, nhưng đừng đánh thuốc mê tôi. »

«Được rồi, » ông hục hặc lại cầm dụng cụ lên. Ông trông cũng điển giai, không ngoài ba mươi, có sẹo và đeo đôi mục kỉnh trông đếm tởm. Giờ thì tôi thấy ông ta muốn hành tôi, ông chỉ có nạo nạo trong vết thương và liếc nhìn tôi trên đôi kính. Tay tôi siết chặt quanh cái móc, nhất quyết không kêu một tiếng. Ông ta lôi ra một mảnh miễng và ném cho tôi. Ông ta có vẻ khoái cải gan lì của tôi, vì giờ thì hình như ăn nói cũng từ tốn hơn, ông bảo tôi: «Mai là anh về nhà. » Rồi tôi được bó thạch cao. Khi trở về với Kropp tôi nói nó nghe là mai có chuyến tàu cứu thương đến.

«Albert, mình phải tán lão thượng sĩ y tá làm sao cho lão xắp hai thằng cùng đi một chuyến. »

Tôi dấm dúi cho lão ta hai điếu xì gà có cỏ nhãn dán bụng và ngỏ ý mình cho lão biết. Lão hít hà đoạn hỏi: «Chú mày còn nữa không? »

«Còn cả nắm, » tôi nói, «cả thằng bạn tôi nữa,» tôi chỉ Kropp, «nó cũng có ít nhiều. Sáng mai ra tàu chúng tôi sẵn sàng dúi cho bác qua cửa sổ. »

Dĩ nhiên lão hiểu, hít hà một lần nữa và nói «Được rồi. »

Suốt đêm chúng tôi không lúc nào chợp måt. Trong phòng chúng tôi bảy thằng chết. Một thằng hát thánh ca bằng một giọng têno lệnh vỡ trước khi khò khè đi đứt. Một thằng nữa bò từ giường ra cửa sổ. Hắn nằm trước cửa như thể đề nhìn ra ngoài một lần chót.

Cáng chúng tôi nằm trên sân ga. Chúng tôi chờ tàu. Trời mưa, ga lại không mái. Chăn đắp lại mỏng. Chúng tôi chờ đã hai tiếng. Lão thượng sĩ chăm sóc chúng tôi như mẹ đẻ. Mặc dầu đau buốt tôi vẫn nhớ đến kế hoạch đã tính. Thỉnh thoảng tôi lại hé cho lão thấy gói xì gà và cho lão một điếu trước. Đề đền bù lão đắp cho chúng tôi một tấm vải dầu.

« Albert, bồ à, tớ sực nhớ lại cái giường bốn cột của chúng mình với con mèo -..

«Và hai chiếc ghế bành, » nó nói thêm.

Ừ nhỉ, hai chiếc ghế bành nệm đỏ. Tối đến hai thẳng thường ngồi xuống ghế như hai vị vương tôn công tử, và đã tính sau đó cho thuê giờ. Mỗi giờ ngồi một điếu thuốc. Có thể cứ thế làm ăn đều đều, đủ phong lưu chán.

«Rồi cái bao cao lương mỹ vị nữa chứ, Albert. »

Chúng tôi đâm buồn. Có những thức ấy kể cũng đỡ. Phải chi tàu chậm lại một ngày Kat thế nào cũng tìm ra chúng tôi và mang lại cho chúng tôi. Rõ thật đen! Trong bụng mình toàn là  cháo, thực đơn khốn nạn của bệnh viện, mà trong bao tử mình lại có lợn quay. Nhưng chúng tôi còn yếu quá nên cũng không đủ sức mà sảng khoái thêm. Sáng ra tàu đến thì cáng cũng vừa ướt đẫm. Lão thượng sĩ lo xắp chúng tôi lên một toa. Có cả một đoàn nữ y tá Hồng Thập Tự. Kropp được đặt nằm giường dưới, còn tôi được khiêng đặt lên giường trên nó.

«Trời đất ơi!» tôi bỗng thốt lên.

«Gi thế? » một cô hỏi.

Tòi liếc nhìn giường. Trải vải sạch trắng bong, còn in dấu bàn là. Mà sơ mi tôi thì sáu tuần chưa giặt lại dính đầy bùn.

«Anh không nằm xuống lấy được à? » cô ta dịu dàng hỏi.

«Được chứ,» tôi đáp hổn hển, «nhưng trước hết cô lấy vải giường ra cái đã. »

«Đề làm gì? »

Tôi cảm thấy mình bẩn như lợn. Mà chui vào đấy sao được – «Sợ nó – » tôi ngập ngừng.

«Hơi bẩn phải không? » cô đỡ lời. «Có sao, bẩn thì lại giặt. »

«Không, không, không phải -» tôi nói bối rối. Tôi không xứng với cái thanh lịch kia chút nào cả.

«Anh đã phải nằm ngoài mặt trận trong hang hố, chúng tôi giặt một tấm vải thì đã sao, » cô nói tiếp.

Tôi nhìn cô, trẻ trung xinh xắn, sạch sẽ tươm tất, như mọi cái ở đây; một thằng lính không thể ý thức được rằng đây chẳng phải chỉ dành riêng cho sĩ quan, nó cảm thấy bỡ ngỡ, và tệ hơn thế, cảm thấy hoảng hốt.

Đàn bà là đàn bà, lúc nào cũng thích hành người ta, cô lại muốn buộc tôi phải nói ra. «Chỉ vì là -» tôi lại cố, chắc chắn là cô phải biết ý tôi muốn nói gì chứ.

«Vì là gì nào? »

«Vì rận,» mãi rồi tôi nói toạc ra.

Cô cười. «Thì chúng cũng được chia vui chứ sao. »

Giờ thì tôi cọc cằn’ nữa. Tôi chui vào giường, kéo chăn lên đắp. Một bàn tay lần trên vải giường. Lão thượng sĩ. Lão lấy xì gà đi. Một giờ sau chúng tôi thấy mình đang di chuyển.

Đêm đến tôi ngủ không được. Kropp cũng trần trọc. Con tàu lướt nhẹ trên đường rày. Tỏi còn chưa ý thức nổi; nằm giường, tàu chạy, về nhà. «Albert la tôi gọi sẽ.

«Gì -»

«Cậu biết chổ đi tiểu đâu không? »

«Hình như phía bên phải cửa. »

«Tở lại đi xem chút. » Trời tối, tôi đi mò thành giường và từ từ toan tụt xuống. Nhưng chân tôi không có chỗ đặt, tôi tuột luôn, cẳng bỏ thạch cao đâu đỡ nỗ i, thế là tôi rơi xuống sàn cái rầm.

«Mẹ kiếp» tôi thốt.

«Bồ rơi à? » Kropp hỏi.

«Thì mày nghe đấy, » tôi hậm bực, cha cái đầu -»

Một cánh cửa mở đằng cuối toa. Cô y tá soi đèn đến thấy tôi.

«Nó trên giường lăn xuống –

Cô y tá bắt mạch tôi, sờ trán tôi. «Anh đâu có sốt.»

«Không, » tôi đồng ý.

«Chắc anh nằm mơ? » cô hỏi.

«Có lẽ -» tôi nói lãng. Cô lại hỏi. Cô nhìn tôi với đôi mắt trong sáng và cô càng ngọt ngào càng khả ái tôi lại càng không sao nói được tôi muốn gì.

Tôi lại được đỡ lên giường. Thế là ổn.

Nhưng cô vừa đi khỏi tôi lại toan leo xuống. Phải như cô là một bà già, mình còn dễ nói mình muốn gì, nhưng cô còn trẻ quá, giỏi lắm hăm mốt, thì sao mà nói nỗi, quả thật tôi không thể nói với cô ta được.

Albert mởi phải giúp tôi. nó không rụt rè, muốn gì thì nói, chẳng nể nang ai. Nó gọi cô y tá. Cô quay lại. « Cô à, nó muốn – nhưng ngay cả Albert cũng không biết diễn tả sao cho thanh nhã lịch sự. Ngoài mặt trận chúng tôi chỉ vỏn vẹn nói một tiếng, còn ở đây, với một tiểu thư thế kia – Bỗng nó nhớ ra hồi còn đi học và vội chấm dứt: « Nó muốn ra ngoài, cô à.»

«À ra thế» cô y tá nói, «nhưng băng bó thế kia chớ nên leo ra khỏi giường. Thế anh muốn gì? » cô nói, quay lại tôi. Lần này thì tôi chết khiếp, vì tôi không biết những cái đó tiếng nhà nghề gọi là gì. Cô đỡ lời tôi.

«Tiểu hay đại? »

Thật là của nợ! Tôi mướt mồ hôi, thẹn thùng nói: «Dạ, tiểu chút chút thôi.

Dù sao thì cũng có hiệu quả. Tôi được một cái chai. Vài giờ sau tôi không còn là kẻ duy nhấi, mà gần về sáng chúng tôi đâm quen và đòi hỏi những cái mình cần không còn giữ kẻ nữa. Con tàu chạy chậm chậm. Đôi khi dừng lại và những người chết được khiêng xuống. Tàu dừng luôn. Albert lên cơn sốt. Tôi cảm thấy đau khổ và nhức nhối, nhưng bực nhất là hình nhự còn có rận cả dưới lớp băng. Ngứa kinh khủng mà không sao gãi được. Chúng tôi ngũ li bì suốt mấy ngày trời. Cảnh vật êm lặng lướt qua cửa sổ. Đêm thứ ba thì đến Herstal. Tôi nghe cô y tá nói đến ga sau phải cho Albert xuống vì nó sốt quá.

« Tàu chạy đến đâu? » tôi hỏi.

« Đến Cologne, »

«Albert, » tôi nói, « chúng mình phải bám lấy nhau; bồ thấy không. »

Lần đi soát sau của cô y tá, tôi nín thở làm máu dồn lên đầu. Mặt tôi sưng lên đỏ gay. « Anh đau lắm không? » « Đau lắm, » tôi rên, « bỗng nhiên à.»

Cô đưa tôi một ống nhiệt độ kế rồi đi luôn. Nhờ Kat dạy bảo nên giờ tôi phải biết mình làm gì. Cái thứ nhiệt độ kế của quân đội này chẳng phải làm cho mấy tay lính cựu. Chỉ làm sao cho thủy ngân lên là rồi nó nằm chết đấy không xuống nữa. Tôi cắm nhiệt độ kế vào nách hơi chênh chếch đoạn dùng ngón tay trỏ chà chà luôn tay. Xong rồi lắc mạnh một cái. Nhiệt độ lên đến 39. Thế cũng chưa đủ. Tôi lại miết thật kỹ đưa lên 41 độ. Khi cô y ta trở lại, tôi làm mặt sưng lên, thở hổn hà hổn hển, nhìn cô mắt trợn trừng, vật mình vật mẩy và lầm bà lầm bầm:

« Trời ơi đau chết mất thôi … »

Cô ghi lên một miếng giấy. Tôi thừa biết là người ta chỉ tháo băng khi không thể dừng được kìa. Albert và tôi được xếp với nhau.

Chúng tôi nằm cùng một phòng tại một  bệnh viện Thiên chúa giáo. Thật là phúc đức, các bệnh viện Thiên chúa giáo nỗi tiếng là điền trị hay và ăn uống ngon lành. Chuyến xe lửa của chúng tôi làm bệnh viện chật ních, trong số có lắm vụ trầm trọng. Hôm nay chúng tôi chưa được khám vì đơn bác sĩ quá. Các xe cáng bánh cao su lăn đi lăn lại không ngừng dọc theo hành lang, lúc nào cũng với người nằm thẳng cẳng ở trên. Một hế nằm khốn nạn, người cứ thẳng đơ đơ; – thời gian duy nhất dễ chịu là khi mình ngủ.

Tối đến là chán nhất. Không ai ngủ được. Vào chập choạng sáng mới chợp mắt được đôi chút. Tôi tỉnh giấc thì trời vừa sáng. Cửa mở toang và nghe có nhiều giọng ngoài hành lang. Bọn kia cũng tỉnh giấc cả. Một anh ở đây đã được hai ngày nói chúng tôi biết: «Ngoài hành lang sáng nào các dì phước cũng cầu kinh. Họ gọi đó là Công phu sáng. Và để chúng mình cũng được nghe kinh, họ để cửa mở.»

Dĩ nhiên là hảo ý, nhưng lại làm buốt đầu buốt xương chúng tôi.

«Thật là vớ vẫn»  tôi nói, ngay khi mình vừa thiu thỉu ngủ. »

«Tất cả các vụ nhẹ được quy tụ tại đây, nên họ mới cầu kinh tại đây,» anh ta nói.

Albert rên. Tôi cáu tiết hét to: «Ngoài đó hãy im đi! ».

Một phút sau, một dì phước chạy vào. Trong bộ áo đen trắng cô trông như một cái giành ấm đẹp. «Đóng dùm cái cửa dì. » có người nói.

«Chúng tôi đang cầu kinh, vì thể nên để cửa mở, » dì đáp.

«Nhưng chúng tôi cần ngủ -»

«Cầu nguyện còn tốt hơn là ngủ, » dì ta đứng đấy mỉm cười ngây thơ. «Vả lại cũng bảy giờ rồi. »

Albert lại rên. «Đóng cửa lại, » tôi gằn giọng. Di không hề nao núng. Rõ ràng là dì không hiều nổi. «Nhưng chúng tôi đang cầu nguyện cả cho các người nữa kia mà. »

«Cầu cứ cầu, nhưng đóng cửa lại. »

Dì đi biến, vẫn để cửa mở. Giọng cầu kinh vẫn tiếp tục. Tôi điên tiết nói. «Tôi đếm đến ba. Nếu mà không ngưng tôi sẽ ném. »

«Cả tôi nữa, » một anh khác nói. Tôi đếm đến năm. Đoạn cầm một cái chai, nhắm, và ném qua cửa ra ngoài hành lang. Chai vỡ toan. Tiếng cầu dừng lại. Một bầy dì phước xuất hiện và đồng thanh khiển trách chúng tôi.

«Đóng cửa lại! » chúng tôi hét.

Họ rút lui. Nhà dì nho nhỏ thoạt đầu đến cũng lại là người tháo lui cuối cùng. «Trời đấ t,» dì chép miệng, nhưng rồi cũng đóng cửa lại. Chúng tôi đã thắng.

Trưa đến ông thanh tra bệnh viện đến và nguyền rủa chúng tôi. Ông dọa bỏ nhà giam và này khác. Nhưng một thanh tra bệnh viện thì cũng chẳng khác gì một thanh tra cảnh sát, hay bất cứ một kẻ nào đeo gươm đeo đai, nhưng thật ra chỉ là một anh thơ lại và có bao giờ được lính, ngay cả tân binh, coi là một sĩ quan. Nên chúng tôi mặc cho lão nói. Dù sao thì họ làm gì được chúng tôi kìa

-«Ai ném chai, » lão hỏi.

Trước khi tôi chưa biết có nên tự tố cáo mình không thì đã có người đáp:

«- Tôi.»

Một người râu ria tươi tốt ngồi lên. Ai nấy đều hồi hộp: tại sao anh ta lại nhận kìa?

«Anh? »

«Phải. Tôi bực mình vì đánh thhức chúng tôi dậy một cách không cần thiết nên điẻn tiết không biết là mình đã làm gì.»

Anh ta nói như đọc bài.

«Tên anh là gì? »

«Trừ bị tiếp viện Josef Hamacher. »

Viên thanh tra bỏ đi. Chúng tôi đều chưng hửng. Nhưng tại sao lại nhận là anh? Đâu phải là anh! »

Anh cười «Ăn nhằm gì. Tôi có chứng chỉ loạn thần.»

À thì ra thế, chúng tôi đều vỡ lẽ. Ai mà có chứng chỉ này muốn làm gì thì làm.

«Ử,» anh cho biết. «Tôi bị bắn trúng đầu nên cấp cho tôi một chứng chỉ rằng tòi có khi không còn trách nhiệm về hành động của mình. Từ đó trở đi tôi sướng như tiên. Chả ai dám làm bực tôi. Và chả ai làm gì được tôi.

«Tôi nhận là vì tôi khoái cái cú ném ấy. Mai mà họ còn để cửa mở mình còn ném.

Chúng toi mừng rơn. Đã có Josef Hamacher trong bọn chúng tôi giờ chả có gì phải ngán. Rồi các xe cảng êm ru đến đưa chúng tôi đi. Băng dính chặt quả. Chúng tôi rống như bò.

Phòng chúng tôi có tám thằng. Peter, tóc đen quăn, bị nặng nhất; – trọng thương ở phổi. Franz Wachter, cạnh hắn, trúng canh tay, thoạt đầu trông cũng vậy vậy. Nhưng đến đêm thứ ba hắn gọi chúng tôi nhờ chúng tôi rung chuông, hình như bắn bị ra máu.

Tôi rung ầm lên. Dì phước trực không đến. Suốt đêm chúng tôi có phần không ngớt kêu dì ta vì chúng tôi vừa được băng hó xong, nên thường nhức buốt. Thằng thì muốn đặt chân mình thế này, thằng thì thế kia, thằng thì khát nước, thẳng thì muốn rũ gối lại; – thét rồi cái thân hình bồ tượng già nua của dì cũng đâm bực mình và dì đóng cửa sầm sầm. Giờ đày chắc dì cũng lại cái gì đại loại như thế nên dì không đến.

Chúng tôi đợi. Đoạn Franz lại nói: «Rung nữa đi. »

Tôi lại rung. Cũng chẳng thấy mặt mũi gì. Bên phía chúng tôi chỉ có độc một dì trực đêm, có lẽ dì bận làm gì tại một phòng khác. «Franz, mày có chắc mày ra máu không? » tôi hỏi «Bằng không chúng mình lại bị rủa nữa.»

«Băng ướt đẫm. Ai thử bật đèn lên coi. »

Bật cũng chẳng được. Chỗ bật bên cạnh cửa và chúng tôi có thẳng nào đứng lên được. Tôi di ngón tay cái vào nút chuông đến nỗi tê cả tay. Không chừng dì ta ngủ quên. Họ phải làm nhiều quá và cứ thế hết ngày này đến ngày khác. Đã thế lại lúc nào cũng cầu nguyện. «Ta ném một chai nữa chăng? » Josef Hamacher có chứng chỉ loạn thần hỏi. «Chuông nghe còn chưa ra huống hồ là chai. »

Mãi rồi cánh cửa mở. Di phước già xuất hiện lầm bẩm lầm bầm. Khi thấy tình trạng của Franz bà mới cuống cuống lên, hỏi:

«Tại sao không ai gọi tôi cả? »

«Chúng tôi bấm chuông. Chứ có thằng nào đi được đâu.»

Nó ra máu nhiều quá và dì vội băng lại. Sáng ra chúng tôi nhìn mặt hắn, nó đã trở thành hốc hác, vàng khè, trong khi mới đêm hôm trước trông nó gần như bình phục. Giờ thì dì phước đến thường hơn.

Đôi khi cũng có những cản bộ Hồng Thập Tự tình nguyện. Họ vui vẻ khả ái, nhưng thường thì vụng. Họ thường làm đau chúng tôi khi làm lại giường nệm và rồi cuống cuồng lên họ lại còn làm đau thêm. Các dì phước đáng tin hơn. Họ biết phải chăm sóc chúng tôi như thế nào nhưng nếu họ lại tươi tỉnh hơn thi chúng tôi thích biết mấy. Có đôi dì thật là đầy tinh thần, thật là khả kính. Không ai lại không muốn xả thân cho Di Libertine, một dì phước có một không hai, đi đến đâu là làm phấn kbởi đến đấy mặc dù chỉ thấy dì ở xa xa.

Cũng có những dì khác như dì. Bà bảo nhảy vào lửa chúng tôi cũng dám nhảy. Thật ra thằng lính chả có gì phải phàn nàn, ở đây nó được các dì chăm sóc cũng y như một thường dân. Trái lại mỗi khi nghĩ đến bệnh viện đồn trú thằng linh không khỏi rùng mình. Franz Wachler không hồi lại sức. Một hôm nó được đưa đi và không thấy trở lại. Josef Hamacher rõ đầu đuôi cân chuyện. «Không còn thấy nó nữa đâu. Họ cho nó vào phòng Chết rồi. »

«Mày bảo sao. Phòng Chết? » Kropp hỏi.

«Thì phòng Hấp Hối – «Là nhà gì? »

«Một căn phòng nhỏ ở đằng góc. Auh nào sắp đi đoong thì được đưa lên đấy. Đấy có hai giường. Người ta gọi đó là phòng Hấp Hối.»

«Nhưng tại sao họ lại làm thế? »

«Để cho tiện việc. Tiện hơn nữa là phòng nằm ngay cạnh thang máy xuống nhà xác. Không chừng cũng vì thương mấy thằng khác, đề đừng thằng nào lại chết theo vì tình cảm. Và cũng để chăm sóc cũng chu đáo hơn, nếu nó nằm một mình.»

«Thế còn nó? »

Josef nhún vai: «Thường thì nó cũng chẳng bận tâm đến nữa.»

«Ở đây mọi người đều biết thế chứ? »

«Ở đây một thời gian dĩ nhiên ai lại không biết. »

Tôi được mỗ và mửa luòn hai ngày. Xương tôi sẽ không bao giờ còn liền, cô thư ký bác sĩ bảo. Một thằng khác bị vẹo cũng vì thế và rồi lại gãy. Nghĩ mà tởn. Trong số mới dến đó hai thẳng lính trẻ chân lệch. Y sĩ trưởng trong lúc khám bệnh khám phá ra, ông mừng rơn. «Để ta chữa cho các chú, » òng bảo chúng, «chỉ mỗ chút xíu là chân lại hoàn toàn. Dì ghi tên họ. »

Ông vừa đi khỏi, Josef, chả gì không biết, cảnh cáo chúng : «Chớ để lão mổ mà khốn! Lão hơi có máu điên khoa học. Vớ được ai có chút gì là lão lại nổi máu điên. Lão mà mỗ chân chúng mày, thì cứ gọi là chân lệch tiêu cha nó luôn, thành chân què, suốt đời chống nạng. »

« Thế vậy phải làm sao? » một thẳng hỏi.

« Nói Không. Đến đây là đề chữa vết thương, chứ không để chữa chân lệch. Lệnh thì lệch thì chứ chúng mầy ra trận đã sao chưa? Chưa chúng mầy thấy không? Đến nay chúng mầy vẫn đi vẫn đứng, nhưng để cho lão ta mà xở rở thọt dao vào là chúng mầy què luôn. Lão chỉ cần những con chó con để thí nghiệm, nên chiến tranh là lão khoái tỉ, mấy gã giải phẫu khác cũng thế cả. Chúng mình hãy nhìn mấy bọn dưới kia xem; còn hơn chục thằng kbập khà khập khiễng nhảy cò cò toàn là tụi lão mổ cho đấy. Nhiều thằng ở đây từ năm « mười bốn » mười lăm. Không có lấy một thẳng nào lại đi đứng ra hồn hơn là trước kia, hầu hết còn tệ hơn và đa số còn bó chân. Cứ sáu tháng lão lại túm lấy chúng lại bẻ gẫy xương chúng và mỗi lần lại bảo lần này là hoàn toàn. Nhớ lấy lời tao nói, chúng mầy cứ nói Không là đố lão dám. »

« Thôi cha nội, » một thẳng bạc phước kia nói, «thà mất chân còn hơn mất óc. Ai biết được mình sẽ ra sao nếu lại trở lại ngoài ấy. Cho họ muốn làm gì tôi thì làm, miễn tôi được ở nhà. Thà là chân què còn hơn là ngỏm củ tỏi. »

Thằng kia, một thằng còn trẻ cũng như chúng tôi, nhất định không để mỗ. Một buổi sảng lão y sĩ gọi hai thang lên thuyết phục nhăng cuội làm sao chả rõ mà hai thằng đều bằng lòng. Chúng biết làm sao? – Chúng chỉ là những thẳng lính hạng bét, còn lão thì là tay bự. Chúng được đưa về mê man và bó bột.

Bệnh tinh Albert có vẻ bi quan. Họ đưa hắn đi cắt chân. Cắt cả đùi. Giờ thì nó câm như hến, Có lần nó đã bảo nó mà vớ được súng lục là nó tự cho mình một phát là rồi đời. Một chuyến công-voa mới đến. Phòng chúng tôi thêm hai tên mù. Một tên là nhạc công còn trẻ măng. Khi cho hắn ăn các dì không bao giờ mang dao theo; có lần nó đã giật dao của một dì. Nhưng mặc dầu đã đề phòng vẫn có chuyện xảy ra. Tối  đến trong khi cho hắn ăn, dì ta bị gọi đi nên đề đĩa với nỉa trên bàn. Hắn mò được cái nỉa, nắm lấv và đâm bết sức mạnh vào tim, rồi vớ lấy chiếc giầy đóng thình thịch lèn cán nỉa. Chúng tôi kêu cứu và phải ba người mới lấy được cái nỉa ra, Răng nỉa đã tà mà còn cắm sâu. Suốt đêm hắn chửi chúng tôi khiến không thằng nào ngủ được. Sáng ra hắn bị sài uốn ván. Thế là giường lại trống. Ngày này qua ngày khác cũng vẫn chỉ đau đớn, sợ hãi, cũng chỉ những tiếng rên rỉ, những tiếng khò khè của thần chết. Ngay cả căn phòng Chết cũng trở thành vô vị, cũng nhỏ quá; trong phòng chúng tòi đêm nào cũng có thẳng tử biệt. Tử biệt nhanh đến nổi các di phước không kịp săn sóc đến. Nhưng một hôm cửa mở toang, chiếc xe cáng lăn vào và kìa trên cáng thằng Peter ngồi, xanh xao, gầy gò, ngay ngắn và hớn hở. Dì Libertine hân hoan đầy nó về giường cũ cua nó. Nó từ phòng Hấp Hối trở về. Chúng tôi đã tưởng nó chết từ lâu.

Nó nhìn quanh: «Chúng mày bảo sao? »

Và ngay cả Josef cũng phải công nhận rằng đây là lần đầu tiên nó được thấy chuyện lạ này.

Dần dần chúng tôi có vài thằng thử đứng dậy. Và người ta cho tôi nạng để cò cò quanh quẩn. Nhưng tôi không hay sử dụng; tôi không chịu được cái nhìn của Albert khi tôi cò cò quanh phòng. Đôi mắt nó luôn luôn theo dõi tôi với một cái nhìn kỳ dị. Nên thỉnh thoảng tôi lẻn ra ngoài hành lang; -ở đảy tôi cử động được tự do hơn. Ở ngay tầng dưới là các người bị thương ở bụng và xương sườn, bị thương ở đầu và cưa cả hai chân. Bên cánh phải là các người bị thương ở cằm, bị hơi ngạt, bị thương ở mũi, tai và cổ. Bên cánh trái là các người bị mù, bị thương ở phổi, ở hông, ở các gân, ở dịch hoàn, ở ruột. Ở đây thẳng lính mới đầu tiên nhận thấy rằng đến lắm chỗ mình có thể bị trúng thương. Hai tên chết về sài uốn ván. Da xanh lè, chân tay cứng đơ, sau cùng chỉ còn có đôi mắt là sống – sống cho được. Nhiều người bị thương nằm với chân cẳng dập nát treo lên trên không; dưới vết thương đặt một cái chậu để hứng mủ. Cứ vài ba giờ lại mang chậu đi đổ. Kẻ thì nằm băng bó cứng ngắc với những quả tạ treo ở cuối giường. Tôi thấy những vết thương ở ruột lúc nào cũng đầy phân. Anh thư ký y sĩ cho tôi xem những hình chiếu điện những xương háng, xương đầu gối, xương vai dập nát. Thằng lính không ngờ được rằng trên những thân hình rách nát ấy lại còn có những bộ mặt người trên đó cái sống vẫn ngày ngày qua lại. Và đây mới chỉ là một cái bệnh viện, một trạm mà thôi; còn có hàng trăm hàng ngàn cái khác ở Đức còn có hàng trăm hàng ngàn cái khác ở Pháp, hàng trăm hàng cái khác ở Nga. Tất cả những gì đã viết ra, đã từng được làm, đã từng được nghĩ thật chả có nghĩa lý gì khi còn có những cái như thế này. Tất cả chỉ là láo khoét và vô tích sự khi mà nền văn hóa của hàng ngàn năm đã không ngăn chặn được suối máu này tràn chảy, đã khòng dẹp bỏ được những phòng cực hình này nảy nở hàng trăm hàng ngàn. Chỉ một bệnh viện thôi cũng đủ cho thấy chiến tranh như thế nào. Tôi còn trẻ, tôi mới hai mươi tuổi đầu; ấy thế mà tôi chẳng biết gì về đời sống ngoài tuyệt vọng, chết chóc, sợ hãi, và cái phiến diện huyền hoặc đắp lên một vực thẳm phiền não. Tôi thấy các dân tộc tập thù giết nhau như thế nào, và lẵng lặng, dốt nát, ngu xuần, ngoan ngoãn, ngây thơ, giết chóc nhau ra sao. Tôi thấy rằng các đầu óc thông minh nhất thế giới chỉ chế biến ra các vũ khí cùng các lời nói làm cho chiến tranh thêm tinh xảo và thêm dằng dai. Và tất cả những thằng người trạc tuổi tôi, ở đây và ở bên kia, ở khắp nơi trên thế giới, đều thấy rõ những điều này; tất cả thế hệ tôi đang thực nghiệm những điều này với tôi. Cha ông chúng tôi sẽ làm gì nếu đột nhiên chúng tôi đứng lên trước họ và nói lên tâm trạng của chúng tôi? Họ chờ đợi gì ở chúng tôi một khi chiến tranh rồi cũng phải chấm dứt? Trong mấy  năm qua còng việc của chúng tôi là chém giết; – đó là công tác đầu tiên của chúng tôi trong đời sống. Kiến thức của chúng tôi về đời sống chỉ giới hạn ở cái chết. Rồi những gì xảy ra sau đó? Rồi thân phận chúng tôi sẽ ra sao”?

Vài tuần sau cứ sáng sáng tôi lại phải đến phòng nắn bóp. Đến để treo chân lên và làm cho bắp thịt chuyển động. Cánh tay đã khỏi từ lâu. Nhiều chuyến công – voa khác từ mặt trận trở về. Băng không còn bằng vải nữa, mà bằng giay cờ-rếp trắng. Mặt trận thiếu băng vải. Cái đùi cụt của Albert lành lặn khả quan. Vết thương đã gần khép hẳn. Trong vài tuần nữa nó sẽ đến viện cbỉnh hình để làm chân giả. Nó vẫn lầm lầm lì lì, và trịnh trọng hơn trước nhiều. Hắn thường bỏ ngang câu chuyện và nhìn đăm chiêu trước mặt mình. Nếu nó không ở đây với chúng tôi, hẳn nó đã tự thí cho mình một phát từ lâu. Nhưng giờ đây nó như đang qua một cơn khủng hoảng và thường nhìn đi đâu trong kbi chúng tôi đánh các-tê. Tôi được phép nghỉ dưỡng bịnh. Mẹ tôi không muốn cho tôi đi. Bà yếu lắm. Còn tệ hơn lần trước nhiều. Rồi tôi lại được từ cứ phái ra mặt trận lại. Phải chia tay với thằng bạn Albert Kropp của tôi thật quá đau đớn. Nhưng thằng lính trong quân đội phải quen với những tình trạng này.

Bắc Nam hai nhà

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 18 Jun 2021

Post by Sơn râu 12 May 2026

Tôi ở phương bắc giá lạnh hai mùa, anh ở phía nam quanh năm nắng ấm. Một cục thịt dấu trong ngăn đá hoặc thi thể con người đút trong hộc lạnh thì bảo quản được dài lâu, không thối vữa; nhưng để “nó” trần như nhộng, ơ hờ chả ngó ngàng tới, giao mạng cho thiên nhiên hành xử thì sẽ chóng bốc mùi. Trật một li sai một dặm cho lối so sánh vụng về kia bởi chúng ta nào phải tử thi! Năng động với nắng nôi, với biển cả, so ra anh “tươi nhuận” hơn tôi vạn lần, đứa mãi co ro với khí hậu khắc nghiệt. Bốn mươi năm tôi xa vùng nhiệt đới, cũng chừng ấy năm tôi chưa thấy lại biển và ngó ra anh. 

Cuộc hội ngộ nào cũng mang tới ít nhiều cảm động, sóng gào ngoài xa để vồ vập từng đợt vào bờ chào đón tôi không mỏi mệt. Anh thì không, tính khí trời sinh vốn vậy, ít biểu tỏ, ít để lộ ra ngoài cảm xúc, cô lại một sự dửng dưng. Tôi đã dự cảm ra “tình hình” đó nên không lấy thế làm điều. Cứ nghĩ hôm nay còn nhìn thấy nhau, chuyện mai này thì khác gì sóng xô cát lún rong rêu tấp đầy. “Vui là vui gượng đấy mà”, tôi chẳng buồn nhớ câu sau in trong truyện Kiều. 

Biển không ngừng rì rào như dẫn bắt trí nhớ tôi lục lạo về những hồi tưởng. Cao uỷ đặc trách vấn đề những người tỵ nạn của Liên hiệp quốc cho hay, có gần triệu thuyền nhân, những linh hồn lạc lối phải chịu “định cư vĩnh viễn” dưới lòng thuỷ mộ hoặc thất tung trên các hoang đảo nào đó. Biển mang tôi tới phương bắc, Hương Cảng trong khi sóng bạc đầu xô anh tấp vào Mã Lai, hướng nam. Rồi tôi đổi đời trú thân ở Canada, phương bắc và anh lại thiên di về đậu Mỹ quốc, phương nam. Da dẻ anh rám nắng có thể ngay từ khi khoác áo chiến binh chứ không mới thay hình đổi dạng nhờ sóng nước vùng Tampa hiền hoà này. Các ông quan xưa khi về già thường vui thú điền viên, ở đây sáng tối anh mang tơi đội nón ra biển ngồi trì chí buông cần câu cá. Thú vui lành mạnh chưa kể công việc làm ngư ông ấy là niềm hãnh diện cần tỏ bày, tự mãn: Đời nào tao tốn tiền chợ, sẵn “cây nhà lá vườn” tội gì không săn bắt thụ hưởng! Anh giỏi chế biến thực đơn, với đôi ba con cá tươi rói, với dao thớt với củi lửa anh có thể nghĩ ra tới sáu bảy món khác biệt. Anh mời tôi đánh chén nhưng tôi chẳng mặn thứ “sơn hào hải vị” kia. Cơm hàng cháo chợ e tiện cho đứa đi bụi như tôi, chính hiệu Tây ba-lô đầu đường xó chợ. Liên tưởng ra thành phần “Tây ba-lô” bởi vì chốn tôi ở người ta sử dụng tiếng Pháp, Anh ngữ tôi gà mờ, chất lỏng lẻo trong ba lô bèo nhèo khi xâm mình sang đây. Ngán chi chuyện ú ớ, bốn phương vô sản đều là anh em! Lo bò trắng răng? 

Do một phần biết thắt lưng buộc bụng, anh để dành được hơn trăm ngàn. Anh cho hay và tôi phải vận dụng chất xám để giải trình một bài toán đố. Tôi không tin đâu, tôi nhủ thầm. Bên xứ lạnh tôi làm công nhân đầu tắt mặt tối cũng chỉ tay làm hàm nhai. Chưa rơi vào cảnh “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi, van nợ lắm khi tràn nước mắt” như cụ Tú Xương là đã sướng trong bụng rồi. Một trăm ngàn tiền “In God We Trust”? Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Không dám đâu! Mạ tôi dùng chữ rất hay để bình phẩm tôi: Đồ mạt máu! Cảm rằng hay nhưng hiểu cho thông thì bù trất. Không hiểu rõ nhưng nói nào ngay, tôi mạt máu thật. 

Anh nào là thầy bói, giỏi chấm số tử vi, biết xem mặt mà bắt hình dong; tuy vậy anh khẳng định là anh sẽ chết trước tôi. Chứ gì nữa? Đứa nào sinh trước một năm thì về gặp ôn mệ sớm một năm, cứ theo thứ tự như vậy mà xuôi tay. Tôi không nói gì, giá mà gần đây có một nghĩa trang tôi sẽ xúi anh cùng vào để nhìn mặt từng tấm bia. Bọn hưởng dương vắn số chết trẻ nằm hà rầm ra đó. Có đọc báo không? Nhiều sản phụ sinh con gặp ca khó, bác sĩ cùng y tá quyết định có sự đồng ý của ông chồng, vì muốn cứu sinh mệnh của người mẹ buộc lòng phải để hài nhi tắt thở. Anh mà làm bác sĩ trưởng khoa, với thứ quan niệm “lá rụng về cội” kiểu phản khoa học đó chắc anh sẽ hạ đao không khoan nhượng, giết phăng người đàn bà đi biển mồ côi? Hài nhi lớn lên ai nuôi? Thọ được bao lăm khi vắng tình và thiếu tiền? 

Anh không rượu bia, chẳng thuốc lá, chỉ hơi bị ham mùi đàn bà. Anh có khiếu viết văn, hồi ký tự thuật chuyện đời đã lên tới con số 600 trang nhưng muốn dùng kính lúp để soi, có là tài thánh mới phát hiện ra chuyện  “mèo biết dấu cứt”. Theo thông tin chùng vụng của bạn bè anh đưa tin: Chừng một tá bóng hồng từng đi qua đời ổng. Chao ôi! Giá mà tôi được phân nửa chất hào hoa, sát gái của anh nhỉ? Chí ít thì con người anh cũng khiến tôi ba phần tâm phục bảy phần khẩu phục. Một gã đàn ông thân nầy ví xẻ làm đôi sống với hai vợ, chừng đó cũng khiến tôi nhất bộ nhất bái rồi. Gã có hao tâm tổn trí không? Gã làm sao đơn thân đương cự và dẹp yên cùng lúc hai mặt trận lúc nào cũng dầu sôi lửa bỏng? Ba đầu sáu tay chăng? Mưu thần chước quỷ chăng? Giỏi dương đông kích tây chăng? 

Có lúc buồn miệng anh bộc lộ quan điểm: Miền Nam mất nào lạ gì, bởi đó là guồng máy của tham nhũng, vận hành từ trung ương xuống địa phương… Tôi ngồi nhấp nhổm trên ghế khi nghe thứ bán trời không văn tự kiểu đó, hoặc khi nói anh quên đưa tay rờ lui sau ót. Không phải anh từng là quan tham nhũng một thời đó sao? Tiền khi đó vào nhiều như quân Nguyên. Bạn đếm lá trên rừng được không? Tôi cũng lắc đầu giống bạn vậy. Tôi làm thinh, vác mặt ngó những cánh cò cùng đôi ba loài chim biển bay dật dờ bên bãi vắng. Vì nghĩ mình “ra đi” trước tôi nên anh có ý định xuất bản một cuốn hồi ký cho con cháu nó tường cảnh sinh hoạt thời đó đầy bom rơi đạn lạc mà cha ông từng cầm cự đối kháng. Vì nghe người ta đồn đãi rằng tôi từng in ra đôi ba cuốn sách nên anh tỏ vẻ tín nhiệm khi trao thứ niềm riêng, vật bất ly thân ấy cho tôi nhuận sắc trước khi trình làng. Mày tuyệt đối không được sửa, được cắt bỏ, nhớ chưa? Chỉ thay đổi chấm phết sao cho văn cảnh được trơn tru thôi, ô-kê? Viết cho tao lời dẫn nhập sao cho lôi cuốn để dụ người đọc. Tao đưa trước cho mày 250, một nửa tiền thù lao, số còn lại tao sẽ thanh toán sau. Hãy luôn nhớ câu “huynh đệ chi binh”, ngày xưa mày đứng nghiêm kính cẩn chào tao đến gãy tay, mấy khi mà được, bởi gặp mặt “phượng hoàng” đâu phải dễ. Tôi gật đầu, dạ đại bàng nói vậy thì em xin nghe. Hô xung phong phải xung phong, bảo cố thủ thì quyết không chạy làng. Bắn tới viên đạn cuối cùng rồi buông súng, an tâm đi cải tạo như lời chúng nói. 

Nhận hai trăm rưỡi tiền ông thầy lè lưỡi đếm từng tờ, tôi mạnh bạo đi thử các quán ăn ở vùng này. Thật mấy khi. Đời có bao lăm mà hững hờ! Nên thụ hưởng số tiền vừa từ trên trời rớt xuống. Nằm thư giãn dưới gốc sung thế nào cũng có lúc sung rơi vào mồm khi đang hả miệng ngáp vặt. Quán phở hôm ấy đông thực khách, nhiều người ăn thì ắt ngầm thông báo là đầu bếp cao tay nghề. Vào quán vắng ngắt như chùa bà Đanh thì ngay cả nước trà mang ra cũng lạnh nhạt mất hương mùi. Ế ẩm thì thực phẩm phải tồn đọng, hai ba ngày cứ xào đi nấu lại chừng ấy thứ, ngán lắm. Tiệm vắng thì vui chân muốn ngồi ở đâu xin tuỳ hỉ, nhưng đông như này phải đứng ở cửa chờ nhân viên trong quán dẫn lỗi. Tôi được dắt vào trong góc, sát cái mũi tên đỏ chỉ vào nhà vệ sinh nữ. Cạnh bàn tôi có hai mẹ con đang nắm tấm thực đơn chúi mũi vào săm soi. Người mẹ kiên nhẫn trả lời những dọ hỏi mà cậu con trai cỡ sáu bảy tuổi luôn thắc mắc. Mẹ nghĩ là con nên thử cái số 4 ấy, bởi con thích ăn gà. Thế mẹ chọn số mấy? Số 3. Khi người phục vụ cầm giấy viết đến gần han hỏi, tôi nói gọn: Số 3. Tôi chẳng biết đó là thức gì, tôi chờ một bất ngờ và tôi tin người đàn bà ngồi sát tôi đã bỏ công cân nhắc, quyết định. Bà khởi sự lau muỗng đũa cho đứa con, ý tứ liếc xéo về đứa vừa cất cao giọng chọn món giống y như mình. Tôi rất dốt việc định tuổi đàn bà, nhưng biết chắc bà này chưa qua ngũ thập tri thiên mệnh. Vì sao ư? Vì nhan sắc bà còn tươi, lại nữa đứa con bà đâu đã lớn khôn. Mặt thằng nhỏ có thứ gì khiến mắt tôi phải đậu lại khá lâu, hơi soi mói, hơi sỗ sàng, hơi bị bất lịch sự. Trước khi biết cái số 3 là bát phở tái chín gân thì tôi đã phát hiện kịp: Thằng nhỏ ngồi gần có khuôn mặt giống anh quá, tựa một bản sao mà độ chính xác lên tới 90%. Không biết cách đưa ra một giải pháp khả dĩ làm ổn thoả nỗi tò mò, tôi bèn mở túi ny-lông đựng xấp bản thảo của anh, cố ý gây tiếng động và giả bộ vụng về đánh rơi trang đầu xuống đất. Người đàn bà cúi xuống nhìn, tôi cũng cúi xuống, tờ giấy không che hết những ngón chân có bôi sơn hồng ở móng. Tờ giấy có ghi đủ đầy tên họ tác giả và cái tựa rõ to: “Bắc Nam Hai Nhà”. 

Bát phở chẳng ngon, tôi đồ vậy vì người đàn bà chỉ ăn phân nửa rồi gát đũa. Chừng như có thứ gì đã làm bà no ngang. Tôi biết bà muốn bắt chuyện với tôi nhưng mãi ngại ngần, sau cùng bà quyết định dắt con rời khỏi quán trong khi tôi làm như bị chữ nghĩa của anh ấy quyến rũ, xem say sưa. Không quá năm phút tôi cũng đứng dậy, tiến tới quầy trả tiền. Dự cảm tôi có là mình sẽ gặp lại hai mẹ con, đâu đó bên ngoài tiệm phở đầy bát nháo và thọc mạch của vô số thực khách vào ra. 

Chiếc xe Nissan hai cửa sơn xám để máy nổ nhưng chưa rời chỗ đậu. Tôi bước lại gần cửa, phía người lái, nơi có cánh tay vừa đưa ra. Chào chị. Tôi nói trong lúc cố nhìn rõ khuôn mặt của thằng con trai. Ba tôi lỡ dại gây hậu hoạn để có một người con ngoài giá thú và lạ lùng thay “đứa em xấu số” ấy nó giống ba tôi hơn hẳn những thằng con ruột của ông. Mạ tôi lập luận, ông trời có mắt, rằng chạy trời không khỏi nắng, rằng đó là thứ “lạy bà tôi ở bụi này”. Bụi nào mà che được với thứ hình dong quá sức lộ liễu kia? Anh là chi với ông ấy? Người mẹ khởi sự lên tiếng. Đó là chất giọng pha tạp vùng miền, không rõ Nam Trung Bắc. Cần gì gốc gác chánh quán, miễn người Việt là đã đủ, đủ cho hơn một lần phải chịu lưu lạc. Dạ, ngày trước tôi là đệ tử của ông ấy, là lính thuộc hạ, dưới trướng. Tôi ở chốn khác sang đây đi thăm các bạn cùng đơn vị cũ và xui khiến bắt được liên lạc với thẩm quyền. Chị có gì thắc mắc thêm? Do đâu anh có được xấp giấy coi bộ dầy nặng kia? Ồ, thưa thật với chị là tôi có viết lách lăng nhăng nên ông ấy nhờ tôi ôm về chỉnh sửa lỗi chính tả và nhuận sắc đôi chỗ. Có nghĩa là ông ta dự định in thành sách? Vâng ạ. Anh đã đọc xong? Chưa ạ, gấp gì, ngày dài tháng rộng, bởi tác giả cho biết đợi Giáng sinh năm nay mới phát hành, nhằm kỷ niệm một mối tình vụt mất. 

Người đàn bà nói: Mình không thể đứng ở parking của quán phở trò chuyện dông dài như thế này được. Anh chạy xe gì? Có rành đường không? Mình tìm tới Starbucks tôi mời cà phê. Tôi làm bộ ho hen: Sang đây tôi không thuê xe, bạn bè lo việc đưa đón cả. Thế à! Người mẹ quay sang nói nửa tiếng Mỹ nửa tiếng Việt với cậu con trai: You lui ngồi phía sau cho mom chở mít-tơ này đi nhờ tới quán cà phê, ok? Tôi ngồi vào ghế thằng nhỏ, con ai mà dễ ghét, nói biết nghe! Cách người đàn bà chạy xe ra, cách đổi đường, cách quay chữ U ngược hướng khiến tôi lé mắt, bọn Mỹ chưa chắc điệu nghệ có tay lái lụa cho bằng. Lái với tâm thức đời nhẹ như mây và cõi đời đó tuồng không có mặt bọn cảnh sát siêng ẩn nấp rình phạt. Nãy giờ sao chưa nghe anh hỏi tôi một câu nào cả? Trông anh chẳng lộ ngờ vực khi ngồi chung xe với hai mẹ con tôi? Tôi thắt dây an toàn. Thực ra thì tôi có rất nhiều câu hỏi dành cho chị nhưng vẫn ngại ngùng sợ chị phật lòng. Người mẹ trẻ, nhỏ tuổi thua cả tôi cười gằn. Ông ấy nghĩ tôi làm tiền khi nghe tôi bảo đang cấn thai. Có tin được không, khi mà người đàn ông thứ hai của tôi thương thằng Micheal này hơn cả con ruột. Tôi không có ý bảo rằng “ông thầy” của anh là hạng tiểu nhân, chỉ nhằm tô son vào người đại trượng phu mà tôi đang sống với. Những ngày nhằm xoa dịu bớt nỗi đau, tôi ra biển vắng và bình tâm ghi lại đủ đầy những diễn tiến vụ việc, những thứ khiến tôi nhúng chàm. Tôi không dấu người chồng mới, anh ấy đã đọc hai trăm trang giấy vở học trò và tôi mang ơn lòng độ lượng khoan dung của anh ta. 

Chúng tôi ghé vào Starbucks, tôi ngồi với thằng bé cho mẹ nó rảnh tay đi mua thức uống. Tôi ước tôi có được sự hồn nhiên giống nó khi chẳng nề hà trước mình mang họ này, nay mang họ khác. Kêu một thằng đàn ông xa lạ bằng dad với chất giọng thương yêu tin cậy. Tôi tự giới thiệu tên với Micheal, tôi bảo tôi ở Canada thường hằng lạnh giá vừa đi giang hồ sang đây. Tôi nói mẹ của chú mày là một người đàn bà mà thằng tôi luôn nể nang, ưa được làm bạn, thứ tình bạn đúng nghĩa, chẳng vẩn đục. Vẻ mặt thằng con rơi của đại bàng chẳng lộ buồn vui. Theo sách vở nghiên cứu của các nhà khoa học, phải đợi tới 10 tuổi, chúng nó mới nghiệm được sự trống lạnh đáng sợ của cái chết. Mới ý thức rõ niềm đau cũng như hạnh phúc mà con người vật vã muốn chống chọi hoặc thụ hưởng. Nói quanh co gần xa một hồi, Micheal mới cho hay mẹ nó tên Hồng. Nó phát âm không chuẩn nhưng tôi thừa trí khôn để hiểu ra. Like Pink? Yeah. 

Hồng trở lại, ly kem cho cục cưng và cà phê đá cho thằng người xa lạ. Anh có muốn làm một cuộc thương lượng với tôi không? Hồng hỏi tôi. Tôi khuấy đường đến sủi bọt. Tôi chẳng biết văn tài của anh đến đâu nhưng khi lọt vào mắt xanh của ổng thì cũng nên tin cậy. Anh có thích đọc cuốn nhật ký của tôi không? Tôi chẳng tin tính trung thực của cuốn hồi ký mà tác giả là người nhiều thủ đoạn kia viết ra, nhưng cần khẳng định những gì tôi trải lòng hoàn toàn là cả một sự thật. Nghe một nguồn tin, quan trọng là ta nên nắm bắt càng nhiều thông tin càng tốt, để gạn lọc lấy cốt lõi hư thực. Tôi muốn anh dùng nó, có quyền chỉnh sửa để in vào cuối tập như một thứ phụ bản hiếm quý của loài uyên ương đã gãy cánh. Anh nghĩ sao? Tôi lắc đầu quầy quậy. Tôi nghĩ e không xong, tác giả sẽ điên loạn kiện tôi ra toà vì vấp quá nhiều lỗi lầm sơ đẳng.  Ông ta đã uỷ thác cho tôi, thậm chí bắt tôi không được tuỳ tiện mang cảm tính vào để vẽ chuyện. Vị tình tôi đã nhận lời, cũng như đồng ý với hợp đồng là 500 đô la trả công.  

OK. Hồng nhún vai. Từ đây tới Giáng sinh anh có bận rộn việc gì không? Có lên kế hoạch nào không? Cuốn vở học trò tôi để sau cốp xe, tôi trao cho anh để nếu có hứng thú, dựa vào những tình tiết ghi sẵn, anh có thể biến nó thành một cái truyện đầy toan tính, đầy hàm oan, đầy tráo trở, đầy nước mắt. Tôi sẽ ký ngân phiếu 2000 cho anh và mong nó chào đời ngay sau cuốn hồi ký của ổng xuất hiện. Mùa Giáng sinh cũng gợi nhắc về một kỷ niệm đớn đau của tôi. Tôi từng làm con dã tràng hăm hở xe cát… Tôi đưa tay chống đỡ lấy đầu mình, tôi ngó vào khuôn mặt dễ nhìn của Hồng: Không phải tôi hám tiền nhưng tôi xin bằng lòng được góp tay vào để vực dậy một sự thật bị lãng quên đã 6,7 năm. Tôi hứa sẽ trình bày câu chuyện mang đầy tính văn chương  nghệ thuật nhất, nếu có thể. Và như thế, công tâm mà nói tôi sẽ viện lý do để từ chối, không buồn đọc hết bản thảo tập hồi ký kia, và trả lại số tiền ông ấy vừa ứng trước. 

Tôi phải về, phút chia tay đã gần kề, Hồng ghi số điện thoại, địa chỉ email vào cuốn vở học trò dầy nặng chất đống những hàng chữ mực xanh có đoạn hoen mờ vì nước mắt.  Chưa gì tôi đã vẽ ra được một cái sườn và cả tin đó là một tiểu thuyết đáng đọc. Hồng mở ví, nhặt ra một tấm ảnh chụp hồi còn son trẻ. Thời hai kẻ mù quáng yêu nhau. Hồng phụ chú khi đưa cho tôi, để in vào bìa sau cuốn sách, Hồng nói. Bà ta ý tứ kín đáo nhét hai tấm ngân phiếu 1000 đô vào cuốn vở: Cho anh dễ đổi, chứ hai ngàn một lần lắm lúc lại lôi thôi. 

Tôi bắt tay người mẹ, cám ơn về lòng tín nhiệm vô điều kiện. Bắt tay thằng con trai chắc không còn nhớ mặt bố đẻ là ai. Ông thầy của tôi mang nhiều lỗi lầm quá, từ độ làm quân nhân cho tới hồi gãy súng rã ngũ vẫn sân si tạo nghiệp chướng. Tôi gọi điện thoại cho người bạn, loan báo là tôi hiện đang ngồi trong quán cà phê góc đường 39 đụng 40. Cứ thong thả, tôi chưa tính ra là mình sẽ tấp về đâu. Tôi mở cuốn vở học trò, bắt đầu đọc những con chữ mềm mại đầy nữ tính. Chữ như run lên bởi người viết đang cố đè nén bao phẫn hận trong lòng. Tôi nhớ dáng Hồng vén tóc khi ngồi vào tay lái, nói vọng ra: Trao cho anh quyền được đặt tên một câu chuyện buồn. Tôi dong cao bàn tay vẫy, đứng nhìn chiếc Nissan nhỏ bé khuất dần trước một con đường mở rộng, quá đỗi thênh thang.

Tháng 6 ở Tampa Bay.

Hồ Đình Nghiêm

Bậc thầy về xào nấu

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 12 May 2026

Bác sĩ Nhãn khoa Lý Văn Lượng làm việc ở Bệnh viện Trung tâm thành phố Vũ Hán chữa trị một bệnh nhân bị tăng nhãn áp. Bệnh nhân cũng bị sốt nên được Bác sĩ Lý cho đi làm xét nghiệm. Kết quả cho thấy bệnh nhân bị nhiễm trùng phổi. Tất cả các chỉ số khác rất giống với những gì mà Bác sĩ Lý đã biết về ‘coronavirus’ vốn đã gây ra bệnh viêm phổi cấp ‘SARS’.

Bác sĩ Lý Văn Lượng sau đó đã gởi tin nhắn trên ‘WeChat’ cho 150 đồng nghiệp, trong đó có những người là bạn học cũ ở trường Y Khoa, nhằm cảnh báo về một căn bệnh nhiễm trùng phổi bí ẩn.

Sau nầy, trả lời giới truyển thông trong và ngoài nước, Bác sĩ Lý Văn Lượng cho biết là:

“Kèm theo tin nhắn là một kết quả xét nghiệm; vì tôi muốn nhắc nhở các bạn học của tôi, những người làm việc ngay trên tuyến đầu chống dịch bệnh phải biết mà tự bảo vệ mình. Vì tôi lo ngại rằng sẽ có một đợt dịch bệnh mới sẽ bùng phát”

“Tôi cũng nhấn mạnh rằng tin nhắn không nên lan truyền ra ngoài nhóm, bởi tôi có thể gặp rắc rối với chánh quyền; vì ngay thời điểm đó Thành ủy Vũ Hán đang họp đảng bộ bầu bán cho nhiệm ký 5 năm tới mà số người tham dự lên tới 40 ngàn đảng viên, một thời điểm rất ‘nhạy cảm về chánh trị”

“Thật đáng sợ! ‘SARS’ đang trở lại à?” một người nhận tin nhắn đã hỏi, khi nhắc đến đại dịch viêm phổi ‘SARS’ khởi phát ở Trung Quốc năm 2003 khiến khoảng 800 người thiệt mạng.

“Dịch này không phải ‘SARS’, nó do một chủng ‘coronavirus’ mới gây ra và lây truyền từ người sang người rất rõ ràng; vì cùng ngày nữ bệnh nhân nầy bị sốt, các thân nhân trong gia đình của bệnh nhân cũng bị sốt.”

“Chúng tôi đã báo cáo trường hợp nguy hiểm nầy đến Ban Giám đốc Bệnh viện và mời các bác sĩ cao cấp khác đến kiểm tra rồi cho bệnh nhân này đi kiểm dịch. Việc nhiễm trùng của bệnh nhân nầy lan rộng đã khiến 7 người phải bị cách ly tại khoa cấp cứu.

“Tôi nhấn mạnh rằng đó là một loại ‘coronavirus’ mới cần phải được xác dịnh.

“Sau khi tin nhắn lan truyền, Sở Y tế Thành phố Vũ Hán đã triệu tập tôi và 7 người khác đến một cuộc họp và yêu cầu giải thích lý do tại sao chúng tôi lại chia sẻ thông tin nầy?”

“Ba ngày sau, cả bọn 8 người đều bị Công an thành phố Vũ Hán mời lên làm việc. Họ bắt chúng tôi phải thừa nhận là đã phao tin đồn thất thiệt và phải cam kết không được tái phạm nữa.”

“Tôi không cho đó là tin đồn; vì kết quả xét nghiệm đã xác nhận rõ ràng rằng đó là chủng loại ‘coronavirus’ mới. Tôi chỉ muốn các bạn học cũ nên cẩn thận kẻo bị lây nhiễm từ bệnh nhân nhưng cũng đừng hoang mang hoảng sợ.”

Tất cả đều đã trễ, cơn đại dịch nầy sau đó lây lan khắp thành phố Vũ Hán 11 triệu cư dân, rồi lan ra toàn quốc và trên toàn cầu. Số người chết mỗi ngày một nhiều hơn. Số người bị lây nhiễm lên tới hàng chục ngàn. Hàng chục thành phố bị cô lập, nội bất xuất ngoại bất nhập. Dân Trung quốc lên cơn hoảng hốt! Công dân nước ngoài thì được chánh phủ của họ khẩn cấp gởi phi cơ đến để di tản họ về nước.

Rồi Bác sĩ Lý Văn Lượng và thân nhân trong gia đình gồm cha, mẹ và vợ con đều bị nhiễm loại ‘coronavirus’ mới phải nhập viện để điều trị. Trên giường bệnh, nằm trong khoa cấp cứu vì Bác sĩ Lý là người bị bệnh trầm trọng hơn hết. Khi được giới truyền thông trong và ngoài nước hỏi Bác sĩ Lý có cần được giải oan hay không?

Bác sĩ Lý nói:

“Có giải oan hay không? Không quan trọng. Công lý nằm trong trái tim của mọi người. Điều quan trọng là mọi người phải biết sự thật. Nếu các quan chức cho tiết lộ thông tin về dịch bệnh sớm hơn, tôi nghĩ tình hình ít tệ hại hơn rất nhiều. Họ cần phải minh bạch và cởi mở hơn!”

***

Tòa án Nhân dân Tối cao tại Bắc kinh đã khiển trách nặng nề Sở Công an thành phố Vũ Hán về hành động bịt miệng, ngăn chặn lời cảnh báo về dịch bệnh của Bác sĩ Lý Văn Lượng.

Bí thư Thành ủy Vũ Hán Mã Quốc Cường và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Chu Tiên Vượng nhận lỗi và sẵn sàng từ chức.

Bác sĩ Lý Văn Lượng, dù e ngại, không muốn; nhưng cuối cùng cũng phải đụng tới Trùm băng đảng Mafia của thành phố Vũ Hán; rồi ngay cả những tay chóp bu tại Trung Nam Hải ở Bắc Kinh khi công khai đòi hỏi về quyền được thông tin; quyền được tự do ngôn luận.

Hành động đòi hỏi rất chánh đáng và quả cảm trong chế độ CS toàn trị là không yên thân rồi.

Quả nhiên, ngày mùng 6, tháng Hai năm 2020, Bác sĩ Lý Văn Lượng từ trần khi tuổi đời còn quá trẻ, chỉ mới vừa 34 tuổi, bỏ lại cha mẹ già, vợ dại đang mang thai và đứa con thơ chỉ mới lên 5 tuổi.

***

Bác sĩ Lý Văn Lượng, lần đầu tiên được tuyên bố là đã chết, sau đó còn sống nhưng nguy kịch và cuối cùng, lại chết, chết tới hai lần. Các thông báo mâu thuẫn, trống đánh xuôi; kèn thổi ngược nầy đã chứng tỏ sự hoảng hốt của bè lũ CS chóp bu đang cầm quyền ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc.

Sự thực là tim Bác sĩ Lý đã ngừng đập vào lúc 9 giờ 30 phút, tối thứ Năm, ngày mùng 6, tháng Hai, năm 2020 trong tiếng khóc lóc tiếc thương của những đồng nghiệp đang đứng trước cửa cách ly của phòng cấp cứu Bệnh viện Trung tâm thành phố Vũ Hán.

Vậy mà mãi tới 3 giờ 48 phút, rạng sáng ngày thứ Sáu, cố ý chờ cho dân Trung Quốc đi ngủ gần hết, Bệnh viện Trung tâm Vũ Hán mới thông báo trên ‘Weibo’ rằng: “Bs Lý đã chết vào lúc 2 giờ 58 giờ sáng”.

(Ghi rõ giờ và ngay cả từng phút để nhằm mục đích lập lờ đánh lận con đen rằng đây không phải là tin đã được xào nấu lại)

Cả hằng triệu lượt người Trung Quốc phẫn nộ, phản ứng liền lập tức trên trang mạng Weibo:

“Các ông nghĩ rằng tất cả chúng tôi đã đi ngủ ư? Không. Chúng tôi không đi ngủ! Chúng tôi muốn tự do thông tin và ngôn luận”

***

Nhân Dân Nhựt báo, tiếng nói chánh thức của Đảng CS Trung Quốc, tát nước theo mưa, nhỏ những giọt nước mắt cá sấu rằng cái chết của Bác sĩ Lý Văn Lượng đã gây ra “nỗi đau cho cả nước”.

Để xoa dịu sự căm phẩn của người dân Trung Quốc, Bắc Kinh đã cử người về Vũ Hán để điều tra hậu tử cái chết của Bác sĩ Lý Văn Lượng.

Với lý do là thiệt mạng trong lúc công tác, chánh quyền CS thành phố Vũ Hán đã đem vài trăm ngàn nhân dân dân tệ, khoảng hơn 100 ngàn đô la Mỹ để bồi thường cho gia đình bác sĩ Lý, kể cả tiền chi phí an táng để nhằm xoa dịu sự phẫn nộ đang dâng cao của người dân Trung Quốc.

Đau buồn thay Bác sĩ Lý là một nhân vật chánh trong một bi kịch mà chính ông lại bị nhiễm ‘coronavirus’, bị thiệt mạng; sau khi cố gắng cảnh báo cho những người khác phòng tránh dịch bệnh.

***

Người Trung quốc xưa giờ rất giỏi về nghề xào nấu thức ăn, vang danh thế giới. Chánh quyền Cộng sản Trung quốc ngày nay còn hay còn giỏi hơn nữa trong nghề xào nấu tin tức.

Tin tức nào có lợi cho chế độ thì loan ra; không có thì ‘chế’ ra. Còn tin tức nào không có lợi cho chế độ thì ém nhẹm đi. Bằng ém nhẹm không được thì đem đi xào nấu.

Nên Cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu có nói một câu, không những đúng cho CS Việt Nam mà cho cả CS Trung Quốc là:

“Đừng tin những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm!”

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Lâm Chương, đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 12 May 2026

Nếu bác Huế không ngỏ lời đùm bọc, chắc tôi sẽ theo ông Bốn Cop về Bình Định làm cách mạng. Dù không tha thiết với những từ mang ý nghĩa tổ quốc nhân dân, nhưng tôi cần một chỗ dựa. Tôi không có lý tưởng nào để theo đuổi, cũng không có định hướng gì về tương lai. Tôi sống cho hiện tại và chụp bắi ngay những gì xảy đến, Tôi đi bằng những bước chân mù lòa, không hề dò dẫm dắn đo, Bàn tay vô hình của định mệnh không cho ai nhìn thấy một cách rõ ràng những bí mật của bến bờ sẽ đến. Chồng bác Huế là người Quảng Nam, làm công chức tòa án. Bác hỏi tôi, Tây Ninh có gì đặc biệt? Tôi nói, có núi Bà Đen. Bác cười, tưởng gì chứ núi thì quê bác có rất nhiều. Tôi nói, núi Bà Đen cao tám trăm tám mươi bốn mét, Quảng Nam có ngọn núi nào cao như thế không? Bác lắc đầu, rằng bác không để ý tới chiều cao, nhưng cao mà hoang dã thì cũng chẳng ích chi. Tôi nói, có nhiều núi mà thập lè tè, chỉ choán đất đồng bằng, mất diện tích canh tác mà thôi. Sau nhiều lần nói chuyện, bác kết luận tôi là người nặng đầu óc địa phương. Ngược lại, tôi thấy bác còn nặng tính địa phương hơn tôi nữa. Đối với bác, cùng một loại cá nhưng con cá bắt lên từ song Thu, sông Hàn ngon hơn ở địa phương khác. Tôi nói rất nhẹ, có lẽ muối lấy từ Quảng Nam vị cũng đậm đà hơn các nơi khác. Bác biết ý tôi, cười rằng tôi nói ra điều gì cũng gợi sự tranh cãi. Tôi nói, tôi ảnh hưởng đặc tính đó từ bác. Mỗi tháng, đến kỳ lương bác dẫn tôi và hai con bé của bác đi ăn phở. Ăn phở, nhưng bác lại ca tụng mì Quảng. Bác tả tỉ mỉ tô mì Quảng bằng những hương vị mâu sắc đậm đà hấp dẫn. Tôi nói, tôi đã thử qua mì Quảng rồi, thấy cũng không có gì đặc sắc. Bác nói, mì tôi ăn là mì Quảng lai Nha Trang. Đã là Quảng lai thì không còn nguyên chất Quảng thật. Cũng như cà ri cay Ấn Độ, khi vào Việt Nam thì hết cay, mà biến thành cà ri nước cốt dừa. Tôi hỏi, bác thích mì Quảng, sao không bảo bác Huế nấu cho bác? Bác xua tay, mụ ấy nấu sẽ thành mì Quảng lai Huế. Hai bác Huế Quảng đóng tiền cho tôi học trường tư thục Văn Hóa, Nha Trang. Đáng lẽ, tôi học đệ ngũ, nhưng nóng lòng muốn đạt thành quả sớm hơn, tôi ghi danh vào đệ tứ. Tôi nhảy một bước hụt. Mất căn bản. Vào lớp, tôi ngóng chứ không học được gì. Đêm tôi thức khuya, bù đầu với những định luật công thức như lạc vào khu rừng bí ẩn, đầy những gai góc dây leo chẳng chịt. Nhìn bề ngoài, bác Quảng khen tôi là người hiếu học. Bác đâu biet cái đầu tôi đóng kín bưng, mù mờ tâm tối.

Tôi ở trên tầng gác. Phòng học cũng là chỗ ngủ của tôi. Những đêm trăng sáng lung linh, nhìn trăng xuyên qua cây dương lã ngọn vào hành lang hẹp. Nhớ trăng quê nhà. Nhớ ruộng đồng quen thuộc nơi tôi lớn lên. Những rẽo đất bằng mọc đầy cỏ dại và hoa mua tím ngắt. Màu hoa mua buồn buồn lúc chiều tàn đắm đuối mộng mơ. Nhớ những thằng bạn nhỏ cùng tôi ngụp lặn nơi con rạch bùn sình ngầu đục. Những buổi trưa mua hà, rong chơi trên những cánh đồng chói chan, có thằng bạn nào còn nhắc đến tôi? Có thắc mắc, sao tôi đi mà không lời từ giã? Bây giờ, tất cả đều đã xa, đã quá khứ hết rồi. Tôi nhớ và muốn đi lang thang hồi tưởng. Tôi chuyền qua cây dương, tuột xuống đất. Tôi đi và nghĩ về những ngày đã qua. Tôi đi như kẻ mộng du trôi trong quá khứ bồng bềnh hư ảo. Nhiều lần như thế. Cây dương trở thành cái thang quen thuộc lên xuống tầng gác vào những dêm trăng. Tôi tưởng không ai biết chuyện này. Một lần trong bữa cơm, bác Huế nói, giữa khuya con không nên dầm mình trong sương đêm, coi chừng bị nhiễm lạnh. Vậy là bác dã biết hành động của tôi trong những đêm khuya. Tôi nói, con đi một lúc cho tỉnh ngủ. Sau đó, một lần bất chợt tôi nghe bác Quảng nói riêng với vợ, hắn buồn, hãy để hắn làm theo ý thích. Bác Huế coi tôi như đứa con trong gia đình. Tôi cũng đón nhận tình thương của bác như người mẹ dịu dàng thay thế má tôi.

Mỗi tối, hai con bé lò dò ôm cặp sách leo lên tầng gác. Tôi kiểm soát bài vở và dạy thêm những điều nó chưa thông suốt. Bé Đông học lớp nhất, thông minh tò mò liến láu. Bé Hà học lớp ba. Nó còn quá nhỏ, mà trong đôi mắt ngây thơ đã phảng phất nét sầu Công Tằng Tôn Nữ nhờ cơ đồ của mẹ. Phần lớn thì giờ, tôi kể chuyện cổ tích hoang đường. Tâm hồn bé thơ chắp cánh bay bổng lên cõi thần tiên. Trí óc non nớt vẽ ra những cảnh trời thơ mộng không có thực ở trần gian. Tôi cũng hay kổ chuyện đồng quê, những trò chơi ngày tôi thơ ấu.

Chúng tôi thường cười vang trên tầng gác. Đó là kỳ niêm đẹp, nhớ đời.

Be Hà hay hỏi những câu vớ vẫn buồn cười.

“Anh Hiên nì. Em đố anh, anh mạnh hay con chuột mạnh?”

Tôi nói: “Dĩ nhiên là anh mạnh hơn.”

“Con chuột dùng răng khoét gổ được. Anh dùng răng khoét gổ được không?”

Tôi nói: “Không.”

“Rứa là anh không mạnh bằng con chuột.”

Lần khác, nó chỉ hai chiếc máy bay đang bay tít trên cao xanh, vạch ngang bầu trời một làn mây trắng.

“Anh có thấy cái đuôi khói dài đằng sau tê không?”

Tôi nói: “Thấy.

“Răng máy bay đó có khói?”

Tôi nói: “Máy bay cũng giống như chiếc xc hơi xịt khói.”

“Rãng những máy bay khác không xịt khói?”

Tôi ngần ngừ: “Oh …  … Để anh suy nghĩ … “

“Chịu thua chưa?”

Tôi nói: “Thua. Em trả lời đi.”

“Ông lái máy bay đang hút thuốc.”

Chuyện của bé Hà thì vun vặt ngồ ngộ như thế. Nhưng chuyện bé Đông, không đơn giản. Nó làm tôi điên đầu với những câu hỏi rất bình thường.

“Anh Hiên nì. Vì răng ăn muối khát nước?”

Tôi nói: “Vì muối mặn.”

“Rãng mặn làm khát nước?”

Tôi nói: “Vì nước làm trung hòa chất mặn trong cơ thể,”

“Trung hòa là răng?”

Tôi nói: “Là phân tán đều nhau.”

“Răng chất mặn phải phân tán đều nhau trong cợ thể?”

Tôi ôm đầu: “Trời ơi, cm cứ răng rứa hoài. Anh điên mất.”

Nó vẫn chưa chịu tha. Suy nghĩ một hồi, nó hỏi nữa: “Ăn nhiều đường, chất ngọt có cần phân tán đều nhau trong cơ thể không?

Tôi nói: “Có.”

“Răng muối cần nước dể trung hòa, mà dường thì không cần nước?”

Tôi nói: “Cũng cần chứ.”

“Rằng ăn đường không khát nước như ăn muối?”

Tôi chạy trốn câu hỏi của nó, bằng cách trả tời: “Trời sinh như vậy.”

Nó đăm chiêu: “Răng trời sinh như vậy hỉ?”

Tôi nói: “Cái này phải hỏi ông trời.”

Những câu hỏi ấy, tưởng chừng một kiến thức sơ đẳng, có thể trả lời được. Nhưng với lối truy bức tận cùng của bé Đông tôi mới thấy có rất nhiều vấn để mình không giải thích được.

Nhớ Huế

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 12 May 2026

Bảo rằng hắn là bạn thân cũng không đúng lắm, hắn chỉ thân với tôi khi hắn cần thôi. Chẳng hạn muốn tôi đưa thư tỏ tình cho con nhỏ bà con của tôi thì trước đó hắn hết sức vồn vã, rủ tôi đi ciné, ăn quà rong, dĩ nhiên hắn móc túi. Sau khi cho “ăn xôi chùa nghẹn họng” hắn mới nhờ tôi chuyển thư. Việc đó thì đâu có gì khó khăn, tôi đến nhà con nhỏ, chờ khi vắng người tôi đưa ra. Dù không nhận tôi vẫn xúi “Cứ mở xem hắn viết gì, miễn đừng trả lời là được” Thế là chúng tôi mở thư ra nghiên cứu. Không biết hắn sáng tác kiểu gì mà lời lẽ lá thư giống hệt một bản vọng cổ, lại còn có chút nước hoa mà tôi biết rõ cùng mùi với các tiệm hớt tóc. Hôm sau tôi bảo hắn:

– Em nhận rồi, trả lời hay không tao không biết, mầy muốn chắc ăn phải kiên nhẫn gửi tiếp, nhưng đừng nhờ tao nữa, dì tao biết thì tao ăn đòn ngay. Tôi muốn làm khó để tiếp tục được xem ciné và ăn quà rong. Được ít lâu sợ đổ bể, vả lại hắn nghi tôi không đưa thư, nên tôi bảo con nhỏ viết mấy chữ trả lời:

– Cám ơn, tôi đã có bồ rồi.

Tôi với hắn tuy học cùng lớp nhưng khác trường. Tôi học trường công, hắn học trường Bồ Đề, là trường do nhà chùa lập ra. Hắn hơn tôi ít nhất cũng năm tuổi. Thi tú tài một rớt hoài, nhưng vẫn đi học nên tôi gọi hắn là “Đệ Nhị Vương muôn năm”. Sở dĩ hắn không phải đi lính vì được hoãn dịch gia cảnh, hắn là đứa con duy nhất của ông thầy thuốc bắc gần chợ thị xã. Tỉnh ly của tôi thường được nhắc trong câu hát “Em Pleiku má đỏ môi hồng”. Có lẽ Pleikku chỉ đẹp với mấy ông thi sĩ chứ với tôi thì chán phèo. Khí hậu đã bực mình mà lại chẳng có gì vui, người đẹp đếm trên đầu ngón tay. Sau nầy đi lính, có về thăm gia đình, tôi cũng ở lì trong nhà, cùng lắm buổi sáng ra tiệm hủ tiếu của chú ba tàu đầu ngã tư điểm tâm, uống cà phê, có gặp bạn cũ thì tán phét mấy câu rồi về nằm đọc báo cho giãn gân cốt. Tôi cũng chẳng có em nào ở Pleiku để thấy đời còn dễ thương cả. Riêng thằng bạn tôi, hầu như không muốn rời đó bao giờ. Đối với hắn, đời lúc nào cũng đẹp. Quả tim hắn thật vĩ đại, hắn có thể yêu rất nhiều người cùng một lúc, yêu một cách say sưa, dù cho người đẹp có mắng chưởi, hắn vẫn yêu. Chẳng phải hắn xấu trai, ngược lại là khác nữa, nhưng vì yêu bừa bãi nên hắn bị xuống cấp trầm trọng. Cô nào có cảm tình với hắn cũng không dám đáp lại, sợ bị mất giá trị theo hắn. Cho nên cả đời hắn chưa có một mối tình nào ra hồn. Ra hồn đây có nghĩa là chân chính, chung thủy kia, chứ kiểu yêu thì cứ yêu, chạy làng cứ chạy làng thì hắn có khối. Hắn đã đẹp trai, ăn diện lại hết sẩy. Áo quần lúc nào cũng sạch sẽ thẳng thớm. Mái tóc của hắn, chải brillantine láng mướt. Đến nhà ai, hễ thấy gương soi là hắn rút cái lược sau túi quần, nghiêng nghiêng, ngó ngó, chải chuốt cả buổi. Đầu tóc hắn, chẳng khác đầu con nhồng biết nói nhà tôi nuôi, hai bên ép sát vào, phía sau chụm lại thành một cái đuôi nho nhỏ. Đầu óc hắn hình như có gì bất thường. Hắn thích đọc sách chứ không thích học bài. Cái gì có chữ là hắn đọc. Từ chuyện tàu, sách triết, báo chí cho đến cái nhãn dầu Nhị Thiên Đường hắn cũng không tha. Cho nên ai nói chuyện với hắn lần đầu cứ tưởng hắn trí thức khoa bảng gì đấy. Nhưng cái lạ là hắn dốt toán kinh khủng. Không biết cái gì hết! Học đệ nhị mà đưa bài toán đệ tứ mò không ra. Hắn tự bào chữa là mất căn bản môn toán. Thi hoài không đậu, hắn xin làm cán bộ thông tin tỉnh. Coi bộ hắn thích nghề nầy lắm, vì có vẻ quan trọng. Khi chính quyền cần thông báo điều gì, hắn ngồi trên xe, cầm cái micro “A lô, a lô! Kính mời đồng bào nghe thông cáo … ” Đọc xong hắn mở một bản nhạc, loại nhạc diễn binh rập rình, lại thêm cái máy phóng thanh, thỉnh thoảng hú lên, nghe điếc con ráy. Buổi tối, ngay trên nóc phòng thông tin và nóc chợ có mấy cái loa to tướng, hắn đọc tin tức, cố sửa giọng cho giống xướng ngôn viên đài Sài Gòn, nghe cũng tạm, nhưng mấy bản nhạc thì hết chịu nổi. Thường là những bản tân cổ giao duyên, nghe riết, đến lũ trẻ cũng thuộc lòng. Những buổi lễ lạc, văn nghệ, làm gì hắn cũng xuất hiện đầu tiên. Hắn gõ gõ cái micro “A lô, a lô! Một, hai, ba …. Một, hai, ba, dưới nghe rõ không?” Hắn làm long trọng như hắn là ông chủ tịch sắp đọc diễn văn. Mấy đứa nhỏ reo lên “Rõ, rõ!” vì biết chương trình đã bắt đầu.

Từ khi làm cán bộ thông tin tỉnh, hắn có vẻ chững chạc hơn. Buổi sáng đến sở làm, hắn đi thong thả, mắt nhìn thẳng, tay cầm cuốn sách, nghiêm trang như giáo sư đến trường. Nắng mưa gì cũng áo trắng dài tay, cài khuy cẩn thận, giày đánh láng bóng. Chuyện mèo chuột hắn đã biết dè dặt, kín đáo hơn. Năm đó tôi vừa lên đệ nhất, một buổi sáng hắn mời tôi đi ăn điểm tâm, phở, cà phê sữa đàng hoàng. Xong hắn ngỏ ý nhờ tôi chỉ bài cho hắn học thi.

– Mầy làm cán bộ thông tin ngon rồi, học hành chi  cho mệt

– Ông già tao bắt tao phải cố gắng học. Ông cũnggià rồi, tao phải làm bộ chăm chỉ để ít lâu nữa ổng có  chết cũng vui lòng.

Nghe hắn nói một câu chí hiếu như thế, tôi cảmđộng nên sắp xếp buổi tối bỏ thì giờ giúp hắn làm bài. Nhà tôi bán tạp hóa, phía trước là cửa hàng, sau bếp thông với một con hẻm. Hắn thường đi ngã sau viện lẽ sợ làm phiền mẹ tôi và khách hàng. Nhưng cách học của hắn cũng kỳ, ngồi học mà cứ nhấp nhỏm, chẳng chú ý nghe gì cả. Chỉ mới một lát mà đã ôm sách vở xuống lầu, ra về. Cả đến nửa tháng sau tôi mới biết lý do hắn đến nhờ tôi. Nguyên trong nhà có con nhỏ giúp việc, tuổi độ mười tám, lúc mới đến, trông như con mèo ướt, ngớ ngẩn, quê mùa, nhưng chỉ ít lâu sau, trổ mã, văn minh tiến bộ thấy rõ, biết ca vọng cổ, ca tân nhạc, biết  nói chuyện làm duyên với con trai. Thằng bạn tôi đếnhọc vì con nhỏ đó. Trong lúc mọi người lo buôn bán trước nhà thì hắn tán tỉnh, chuyện trò với con nhỏ mỗi lần đến học. Cho đến một hôm mẹ tôi phát giác con nhỏ đi suốt đêm, cửa sau không cài. Mẹ tôi vội vã cho một số tiền rồi mời chị ta về quê với gia đình. Dĩ nhiên hắn chẳng còn đến học hành gì nữa. Mẹ tôi cứ suýt soa “May mà biết được, chứ để cái bụng sình lên thì là đại họa.”

Các cô mới gặp, thấy hắn đúng là con người lý tưởng, mày râu nhẫn nhụi, áo quần bảnh bao. Riêng khoa ăn nói hắn số một, nhất là từ khi làm cán bộ thông tin, hắn nói rất văn chương, thỉnh thoảng còn thêm vào một câu dí dỏm nữa. Và rồi có hai con mòng sa lưới hắn. Chẳng phải hai em khờ khạo gì mà là hai em  thượng thừa, thuộc loại tứ chiến. Hai em từ phương xađến hành nghề bán bar, chiều chiều hắn cùng hai em lang thang dưới những hàng cây cổ thụ bên đường, thật thánh thiện, thật tình tứ. Không hiểu hắn nói cách nào mà hai em làm được bao nhiêu tiền gửi cả ở hắn, tưởng chừng như đấy là cái tủ sắt kiên cố nhất trần gian. Đến khi một em lâm bịnh nặng, phải đưa đi bịnh viện cấp cứu, mổ xẻ sao đó, em kia tìm hắn để lấy tiền chi dụng, hắn trả lời rằng không có tiền, xong hắn lặn mất tiêu. Mấy cái loa phóng thanh buổi chiều đọc tin tức không nghe giọng của hắn nữa. Em kia đâu chịu thua dễ dàng vậy nên đến nhà hắn, đứng trước cửa chửi vào. Em đã vứt bỏ vẻ dịu dàng, yểu điệu của một kiều nữ, hiện nguyên hình là một tay giang hồ lão luyện, chửi bằng một thứ văn chương tục tĩu nhất nhưng có câu có kéo, vần điệu đàng hoàng. Không may đụng lúc ông già hắn say rượu, ngồi trong nhà chửi ra để đối đáp. Lúc em vừa mở miệng “Mầy có ngon ra đây!” Ông già hắn, tuy đi ngã xiêu, ngã tó, nhưng hai tay cầm hai con dao sáng giới, múa may loạn xạ, em vội co giò chạy tuốt. Ít lâu sau hắn lại xuất hiện, lửng thửng đến sở làm, vẫn áo quần bảnh bao, nghiêm trang chững chạc, còn hai em không biết đi về phương trời nào. Ở cái tỉnh lỵ đi năm phút đã về chốn cũ nầy, những chuyện bê bối như thế của hắn, ai cũng biết, nhưng không vì thế mà hắn ế độ. Nơi nào cũng có ngoại ô, cũng có xã ấp lân cận, những dịp đi công tác hắn lại có đối tượng để tán tỉnh, dụ dỗ. Cái mã bảnh trai, lịch sự của hắn đã khiến bao em tàn một đời hoa, mà em nào cũng đều âm thầm khóc hận. Cha mẹ có đay nghiến cũng nhỏ giọng, sợ hàng xóm nghe. Cho nên nếu kể ra đây những chuyện tình Lan và Điệp của hắn e không đủ giấy mà viết.

Rồi có tin hắn lấy vợ. Ai cũng đoán đây là một vụ úp hụi của hắn không chừng. Mẹ hắn đi khoe với mọi người như con bà là người đàng hoàng, vả lại bà sẽ có cháu nối dõi tông đường. Một buổi chiều hắn rủ tôi vào chợ “Ghé hàng bà xã tương lai của tao có chút chuyện”. Hóa ra đấy là cô Hồng bán hàng xén, bán từ kim, chỉ cho đến áo, quần, mùng mền … Sạp cô ngồi, tuy không rộng nhưng gì cũng có. Đa số khách từ các nơi về bổ hàng sĩ, khách mua lẻ chỉ lai rai trong đó có hắn. Cô ta sắc đẹp dưới trung bình. Tôi thấy mặt mũi, tóc tai, dáng người không có gì khuyết điểm, nhưng tất cả gộp lại trông chả ra làm sao. Cô ta tầm thường như chiếc lá bên đường. Tên của cô khi nhắc đến phải kèm tên của cha mẹ cô như sự hiện diện của cô chỉ dựa vào cái bóng của người khác vậy “Con Hồng Tám Nhạn.” Hồng là tên cô ta, Tám Nhạn là tên cha cô, nổi tiếng về đá gà. Cô ta yêu hắn có lẽ cũng bằng một quả tim vĩ đại như hắn, nhưng tim hắn có vô số ngăn trong khi tim cô chỉ có một ngăn và một bóng hình của hắn mà thôi. Theo hắn kể thì hắn quen cô ta từ lúc mới lên trung học kia. Buổi  chiều đi học về, cô ra chợ phụ với mẹ bán hàng, hắn thường ra mua brillantine, dầu thơm về trang điểm. Hễ mẹ cô bận khách thì cô sẽ thối tiền cho hắn theo cách của một học sinh dốt toán. Ví dụ đưa năm đồng, mua hàng hai đồng, cô sẽ thối cho hắn mười ba đồng, dĩ nhiên tờ mười đồng nằm phía dưới khó mà thấy được.

Học hành đại khái, cô nghỉ, ra bán hàng thay cho mẹ cô về nhà làm chủ hụi và cho vay. Từ khi cô chủ trì sạp hàng, hắn không còn dè dặt nữa, hắn ra ngồi ghé bên sạp, nói chuyện linh tinh một lát, hắn đứng dậy móc túi mua đại khái món gì đấy, cô Hồng biết ý, hỏi hắn cần bao nhiêu và thối cho hắn những tờ bạc chẵn. Cô  thường  rất kín đáo để tránh những cặp mắt soi mói của mấy chủ sạp bên cạnh, những kẻ đó suốt ngày ngồi trong chợ buồn miệng, nên mỗi chiều, về dọc đường làm gì cũng dừng lại vài nơi để phao tin, sau khi đã thêm thắt một cách thâm độc và hấp dẫn chuyện thấy được, nghe được trong ngày. Mục đích chi tiêu của hắn, dĩ nhiên chỉ vì gái. Mua quà tặng, dẫn em đi coi hát, ăn tiệm, nhưng tuyệt nhiên không thấy hắn đi chung với cô Hồng bao giờ. Cô như biết rõ mọi sự nhưng vẫn làm lơ. Cô có cách khôn khéo để lấy cảm tình gia đình hắn. Mỗi chiều, sau khi tan chợ, cô ghé nhà hắn, khi thì để trên bàn ông già lọn chả, gói thịt quay nhậu rượu, khi thì biếu bà già bó rau, con cá tươi. Cho nên gia đình hắn coi cô ta như con dâu rồi, nhưng nói gì hắn cũng làm thinh, hắn không chịu nhưng cũng không muốn mất cái vú sữa đó, chỉ có điều lạ là sạp hàng của cô ta chưa sập tiệm mà thôi. Có lẽ cha mẹ cô phải bù lỗ để cho cô có chỗ giao thiệp kiếm tấm chồng. Bây giờ đột nhiên hắn gọi cô Hồng là vợ tương lai. Tôi hỏi hắn:

– Bộ mầy nhắm vào gia tài bên vợ chứ gì? Tao sợ chỉ ít lâu nữa mầy thuốc ông bà già vợ mầy tiêu tùng quá!

– Không có đâu, nhưng nó rất tốt, bây giờ nó muốn làm vợ tao thì tao cho nó làm vợ. Tao chỉ giao hẹn là tao có bồ bịch thì đừng có quậy lên, nó chịu liền. Mầy nhớ vụ hai em ca ve vừa rồi, nó đưa tiền bảo tao trả lại nhưng tao đem tiền đó đi phép thường niên, lên Đa Lạt chơi đã đời.

– Bây giờ mầy thương hại cô ta, muốn lập gia đình để tu tỉnh làm ăn chứ gì?

– Tao mà tu tỉnh?! Thà chết sướng hơn. Chỉ vì tao không muốn mỗi khi cần tiền phải cà rà ngoài chợ phiền phức, tao cưới nó về, tiền trong tủ, xài lúc nào có ngay.

– Bộ cô ta không biết mầy xài bậy bạ sao?

– Biết chứ, nó nói tao xài gì cũng được, chỉ đem tiền cưới con nào làm vợ thì nó không chịu. Hôm đi chơi Đà Lạt về, tao ghé nó, bảo “Có tiền cho mượn chút đỉnh cưới vợ” Nó hỏi “Cưới ai?” Tao nói “Cưới em chứ cưới ai” Nó lại hỏi “Thật không?” Tao bảo “Đứa nào nói láo trời đánh” Nó ngồi lặng một lúc rồi rưng rưng nước mắt

“Anh cần bao nhiêu em cũng lo được cả.”

Thế là đám cưới diễn ra rình rang, cả hai họ đều nở mặt nở mày. Hôm đó tôi cũng được mời dự, thấy hắn thật đẹp trai, đi với cô Hồng không xứng chút nào. Trông hắn không vui, không buồn nhưng cô dâu thì mặt sáng rỡ, miệng cô tươi cười, mắt cô long lanh nhìn mọi người một cách hãnh diện. Cô khoác tay hắn mà như đang ôm một hạnh phúc vĩ đại. Niềm hạnh phúc, vui sướng đó tràn ngập khắp tiệc cưới khiến mọi người cảm động. Cô lúng túng, vụng về một cách dễ thương, như em bé nhận được món quà hằng ao ước. Mọi người cầu mong cho cô mãi mãi được như thế, nhưng khi nhìn hắn đi bên cạnh, ai cũng lo sợ cho cô, thật chẳng khác gì cô bé quàng khăn đỏ đi với con sói. Tên sở khanh nức tiếng đó, với vẻ mặt lạnh lùng kia, chắc chắn, khi cô hết tiền, hắn sẻ tống cổ ra khỏi cửa ngay.

Năm đó, thi tú tài hai xong, tôi vào quân đội, họa hoằn lắm mới về thăm nhà, thấy hắn vẫn bảnh bao, chững chạc trên đường đến sở làm và cái thói mèo mã gà đồng của hắn vẫn tiếp tục gây ra bao chuyện nghe chẳng đẹp đẻ gì. Ấy vậy mà một lần ghé vào chợ, thấy vợ hắn vẫn giữ nguyên nét rạng rỡ trên gương mặt như hôm đám cưới. Vợ hắn gặp tôi mừng lắm:

– Ông xã em nhắc anh hoài, chiều nay mời anh ghé nhà. Nhớ nghe! Em sẽ chuẩn bị cho mấy anh nhậu một bữa, chuyện trò. Lâu ngày quá!

Tôi nhớ lại mấy câu phương ngôn về tình yêu, thấy vợ chồng hắn đều có lý. Vợ hắn như muốn nói cho mọi người rõ “Hạnh phúc hay không là ở tự mình”, còn hắn lại quá khôn “Lấy người yêu mình chứ đừng lấy người mình yêu”.

Suốt mấy năm sau đó, tôi ít khi về phép. Đời lính đi năm non bảy núi, ra Trung vào Nam, chẳng thì giờ đâu nhớ đến thằng bạn ích kỷ, sở khanh hạng bét đó.  Rồi vụ sập tiệm năm 75, ai cũng biết, tất cả đều lộn tùng phèo. Ông xuống thằng, thằng lên ông. Tôi là ông quan ba đi làm thằng tù, hết tù làm thằng đạp xích lô.

Có điều không ngờ là thằng bạn tôi cũng thay đổi theo. Hắn là ông chủ “Viện Uốn Tóc Hoàng Hậu” trong chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Sài Gòn, Lúc đầu tôi tưởng nhìn lầm vì không ngờ hắn lại ở Sài Gòn, mà còn bảnh trai hơn trước nữa. Quần áo rất mực sang trọng, đeo cặp kiến trắng lại thêm bộ râu con kiến trên môi, miệng ngậm “điếu thuốc có cán”, trông vừa phong lưu vừa trí thức. Hắn đứng chống nạnh trước cửa tiệm, tôi đạp xe chậm chậm trước mặt hắn xem hắn có nhận ra tôi không, nhưng đôi mắt hắn cứ dán chặt vào mông, vào ngực những cô, bà mơn mởn, hấp dẫn đi ngoài đường. Đầu hắn xoay qua, xoay lại như người xem đánh quần vợt tuy có chậm hơn, lại có một chị đàn bà mập tròn, trắng nõn đứng bên cạnh, thỉnh thoảng đập tay lên vai hắn, nói cười có vẻ thân mật như một người vợ. Hoá ra hắn đã bỏ con vợ xấu xí, mê muội kia rồi, đó là điều mọi người tiên đoán. Cái mã đẹp trai, chưng diện cộng với lối ăn nói văn hoa của hắn đã giúp hắn sống an nhàn, sung sướng. Tôi không trách hắn nhưng không muốn gặp vì sợ hắn ngại là bạn của thằng đạp xích lô.

Tiệm uốn tóc của hắn rất đông khách. Trước kia chung cư nầy không có chợ vì bên kia đường là chợ Bàn Cờ. Sau nầy các ông chủ nhà đều vô tù, các bà phải bương chải nuôi con, người thì thúng xôi, người gánh bánh cuốn, cháo, chè … có bà sáng kiến bán rau, cá, thịt, riết thành cái chợ chồm hổm chen chân không lọt, nhất là buổi sáng.

Một hôm đang đạp xe lửng thửng tìm khách, bỗng nghe hắn gọi tôi, hắn mừng rỡ thật tình:

– Vô đây, vô đây, lâu quá không gặp mầy. Cứ để xe trước nhà tao, không sao đâu, để tao giới thiệu mầy cho bà xã tao biết, nhưng nhớ đừng hỏi gì chuyện cũ cả nghe! Em ơi, em, đây là anh bạn của anh, lâu ngày lắm mới gặp. Tụi anh là bạn từ lúc còn nhỏ lận. Khi anh về Sài Gòn học đại học (?!) thì bạn anh đi sĩ quan Đà Lạt.

Xa nhau từ đó đến giờ, e hơn chục năm rồi. Vợ hắn đúng là loại người buôn bán, miệng dẻo quẹo. Chị ta coi bộ lớn tuổi hơn hắn, mắt xanh mỏ đỏ, mặt trát phấn như quét vôi.

– Chào anh, mời anh ngồi, nhà em thường nhắc đến anh hoài, nay mới biết. Xin anh thông cảm nghe, khách khứa bận rộn quá! Hay là mình đưa anh đây đi lai rai, tâm sự. Em suốt ngày bận túi bụi, xin lỗi anh nghe! Mời anh chiều nay ghé dùng cơm với tụi em. Mình nhớ nhắc anh đây chiều nay ghé lại. Lát nữa em đi chợ, nấu nướng chút gì cho vui.

– Tụi anh ra quán cà phê đằng kia …

– Mình đưa anh đây đi nhậu lai rai, cà phê sáng nay ai cũng uống rồi.

Vợ hắn móc túi, lấy tiền nhét vào túi hắn, xong vỗ vỗ lưng hắn, đẩy đi. Hắn bảo tôi:

– Mầy ngồi lên, tao chở đi, tao cũng từng hành nghề xích lô mà.

– Mầy để tao. Mầy đạp, áo quần nhăn hết.

Thấy nói trúng ý hắn cười ngồi lên:

– Về Trương Minh Giảng, tao cần ghé thăm nhà một chút. Nhưng mầy nhớ đừng nhắc đến chuyện gì lúc nãy, tao nói gì, mầy cứ ừ là được.

Tôi tự hỏi: Có gì mà hắn phải dặn dò kỹ vậy?

Qua khỏi ngã ba Trần Quang Diệu, chúng tôi phải xuống xe, đẩy bộ vào trong hẻm. Quanh quẹo bao nhiêu lần, qua một cầu gỗ mới đến một căn nhà sàn. Từ ngoài đường hẻm, hắn đã kêu lên:

– Em ơi, có bạn đến thăm, đoán là ai? Đây, anh nầy đây.

Có lẽ đó là căn nhà sàn ọp ẹp nhất xóm, mỗi lần bước đi, nó cứ đong đưa như chiếc thuyền. Dưới chân, những tấm ván sàn chắp vá, mục nát kêu lên như cảnh cáo coi chừng bị lọt xuống sình. Nhà trống trơn, chẳng thấy cửa nẻo, một cái bàn với hai ghế dài xập xệ. Một chiếc giường cũ có chị đàn bà ốm tong ngồi giương mắt nhìn tôi. Tôi cũng nhìn lại thấy quen quen.

– Ủa, chị Hồng phải không?

– Anh là anh Tài đây mà!

– Đúng rồi!

Tôi tưởng cảnh nhà tiêu điều như thế nầy, vợ hắn ắt phải mặc cảm hoặc buồn rầu, nhưng ngược lại vẫn vui vẻ, linh hoạt:

– Mời anh ngồi chơi, nhà chẳng có nước nôi gì đâu. Con nhỏ đi chợ chưa về nên chưa nấu nướng gì cả

Hắn đến bên vợ ôm vai âu yếm:

– Tụi anh với nhau mà khách sáo gì. Sao, bữa nay em đi được chưa, ông thầy sáng nay có đến châm cứu không?

– Có, thầy nói ráng tập độ mươi ngày nữa là đi bình thường được rồi. Nhưng anh gặp anh Tài ở đâu mà dẫn về đây vậy?

– Anh đi công tác, ghé nhà thăm một lát. Vừa xuống xe đầu đường thì gặp nên dẫn vô đây. Ủa bữa nay bé Thu sao chưa về, mọi khi con về mấy giờ?

– Em chẳng biết mấy giờ, bán hết thì về, còn đi chợ mua chút gì về nấu ăn nữa chứ!

Vợ hắn quay qua tôi phân bua:

– Anh tính coi, từ ngày em bịnh đến nay, gần hai năm, nằm một chỗ, chẳng buôn bán gì được, phải cho con nhỏ nghỉ học, buổi sáng ra đầu chợ bán xôi, kiếm mấy đồng lời mua rau mắm. Chỉ có thằng nhỏ là còn đi học, nhưng trưa mới về. May mà ảnh xin được việc làm mới có tiền thuốc men cho em, không thì đã xanh cỏ rồi. Ít nữa lành bịnh, em sẽ ra buôn bán cho ảnh đỡ vất vả.

Hắn dỗ dành vợ:

– Được rồi, cố ăn uống, tập đi cho giỏi rồi buôn bán, làm gì cũng được. Bây giờ tụi anh ra đầu ngã ba uống cà phê, chờ xe sở đến đón đi làm luôn. Hắn móc túi lấy ra nùi tiền lúc nãy mà chị vợ mập cho hắn, rút một tờ, còn bao nhiêu bỏ vào túi áo vợ, xong hắn hôn lên trán vợ. Tôi thấy cách hôn đó chứng tỏ hắn yêu thương vợ thật tình. Vợ hắn gượng đứng dậy, ôm lấy lưng chồng. Hai bàn tay gầy guộc ôm cứng lấy cái lưng chắc nịch của hắn như không muốn rời.

– Tuần sau anh có về phép không?

– Có chứ, nhưng cũng chỉ vài tiếng rồi đi, công việc bận rộn lắm!

Chúng tôi ra đường.

– Bây giờ tìm cái quán nào làm chai bia rồi tính sau. Tôi phật ý, tưởng hắn đãi tôi để trả công chở hắn thăm vợ:

– Thôi, bia bọt gì. Tao uống vô say, lạng quạng đạp xe đâu được.

– Không uống bia thì cà phê, nói chuyện chút đã.

Tôi miễn cưỡng theo hắn vào một quán cóc.

– Mầy uống gì thì gọi, tao phải làm chai bia, để khi về, mụ vợ tao nghe mùi rượu, không hạch sách tao đi đâu, tiền làm gì hết?

– Vậy thì tao cũng làm một chai. Chỉ cần một chai, vợ mập của mầy thấy mặt tao đỏ rần là tin ngay. Bây giờ mầy nói tự sự cho tao nghe, tao mù tịt chuyện của mầy.

Hắn bốc hạt đậu phọng rang, bỏ vô mồm nhai nhai, uống một ngụm bia rồi khà một tiếng có vẻ khoái chí lắm, không phải vì bia mà như sắp khoe với tôi một thành tích vĩ đại:

– Mầy nhớ, trời cho cái gì thì xài cái nấy. Trời cho tao cái mã coi cũng được lại thêm tính ưa sang trọng, ăn diện nên tao cũng nhờ đó mà sống qua ngày.

– Ừ, trời cho mầy một lượt hai mụ vợ, cơm no bò cưỡi. Nhưng làm cách nào mà hai mụ không biết nhau?

Có ngày đổ ghè tương ra thì mầy khổ.

– Biết chứ, nhưng mụ sau biết mụ trước thôi, còn mụ nầy không biết mụ kia.

– Nghĩa là sao? Có phải bà mập ở Nguyễn Thiện Thuật biết bà ốm nầy, còn bà ốm nầy không biết chuyện gì hết, cứ tưởng mầy đi làm xí nghiệp, công sở chứ gì? Cũng lạ, đáng lẽ ngược lại mới phải. Bà kia giàu có dại gì chịu mầy khi biết mầy đã có vợ con đùm đề. Hắn chỉ vào đầu hắn và triết lý:

– Tao thấy mấy thằng học giỏi ra làm bác sĩ, kỷ sư gì đó thì được, nhưng gặp chuyện ngoài cái chuyên môn

đó thì chịu chết. Tao dốt thiệt, nhưng bất cứ hoàn cảnh nào tao đều xoay xở được hết.

– Rồi, mầy giỏi rồi. Bây giờ kể tao nghe mầy gặp chuyện gì, xoay xở ra sao?

– Mầy biết năm 75 sập tiệm, vụ di tản chiến thuật của phe ta đúng là cơn ác mộng. Tao không hiểu sao vợ chồng con cái tao còn sống mà về được Sài Gòn. Lúc đầu tụi tao định về lại Pleiku, nhưng nghe tin ông bà già vợ tao bị đánh tư sản, tài sản bị tịch thu, hết hi vọng nhờ vả nên đành ở lại Sài Gòn. Cũng vì lúc trước tao tiêu xài hoang phí nên ngày chạy loạn vợ tao chỉ còn chút đỉnh mua chiếc nhà sàn và chiếc xích lô cho tao đạp, còn vợ tao thì sáng sớm ra chợ Cầu Muối mua rau quả về chợ Xếp đầu đường bán, sống cũng qua ngày. Đùng một cái, nó bị bịnh liệt nửa người, có bao nhiêu chạy  thuốc hết sạch. Tao rầu thúi ruột. Một lần, tao đưa vợ tao vô chung cư Nguyễn Thiện Thuật để châm cứu vì cóông thầy ở đây giỏi lắm. Trong lúc chờ đợi, tao tán phét với một cậu sửa xe đạp. Hỏi chuyện linh tinh tao mới biết bà chủ tiệm uốn tóc ở đó có con mà không có chồng. Thế là tao lên kế hoạch. Tao chỉ chạy xe buổi chiều, buổi sáng bắt thằng bạn chở tao ra đó, độ vài giờ sau quay lại chở tao về. Tao diện bộ đồ vía vô, mắt đeo kiến trắng cho ra vẻ trí thức, vô quán nước ngay sát tiệm uốn tóc gọi ly cà phê rồi ngồi đọc sách chứ không chuyện trò với ai cả. Quán nước đó là của cô em bà ta nên bà thường chạy qua chạy lại. Thấy tao không giống ai lại thêm cái mã bảnh bao, bà ta chú ý, thế là con mồi sập bẫy. Lúc đầu chuyện trò, sau mời đi coi hát. Mầy cũng biết mấy mụ nạ dòng, không có đàn ông chịu sao thấu, nên chuyện đó phải đến. Bà ta mê tơi, nhưng tao lại làm như người si mê bà ta ghê lắm. Tao than thở cho số phận, gặp được người yêu lý tưởng, đẹp đẽ, cao thượng nhưng quá muộn màng vì tao đã có vợ. Tao có thể bỏ vợ để sống với bà ta, nhưng kẹt là vợ tao bịnh nặng không biết chết ngày nào, nếu bỏ thì bất nhẫn quá.

Nếu tao kể đúng giọng ba xu, mầy nghe cười cũng bể bụng, nhưng bà ta lại cảm động, khen tao quân tử. Nhưng tao biết làm sao mà bà ta rời được tao một ngày. Lần nào cũng rên như lên cơn sốt rét! Thế là chúng tao thỏa thuận là tao sẽ nói với vợ ở nhà là đi làm ăn xa, mỗi tuần về một lần, còn mọi người ở đó chỉ biết là tao độc thân, chúng tao làm một buổi tiệc nhỏ mời bà con hàng xóm đến dự gọi là hợp thức hóa chuyện sống chung, thế thôi. Mỗi tuần bà ta đưa tiền cho tao đem về nhà, coi như tiền lương. Tao làm đúng vai trò một tên đỉ đực, suốt ngày chải chuốt rồi đứng trước cửa tiệm cười xã giao. Các bà, các cô vui vẻ kéo đến, tiệm đâm ra đông khách. Nhưng càng đông khách bà ta càng ghen, thêm tính tao thì mầy cũng biết, thấy gái như mèo thấy mỡ. Riết rồi bà ta không cho tao đi đâu cả, mỗi tuần tao chỉ về nhà được vài giờ. Tao nghĩ cái xích chó bà ta chưa tròng cho tao mà thôi. Không hiểu mắc chứng gì, sáng nay bà ta thả tao đi với mầy, có lẽ thấy vẻ đứng đắn của mầy nên bà ta tin tưởng, chứ người khác là sa sầm mặt.

Tôi lắc đầu:

– Cũng chẳng được bao nhiêu, đạp xích lô coi bộ còn tự do hơn. Hay là mầy cũng khoái bà ta lắm rồi?

Hắn lại uống bia, lấy tay chùi mép rồi tiếp tục:

– Đạp xích lô đâu đủ tiền chạy thuốc cho vợ! Tao làm chìa khóa riêng, mở tủ chôm mỗi ngày một ít, tuyệt đối không cách gì bà ta biết được. Nhờ vậy vợ tao bớt bịnh. Hy vọng tháng sau đi được, tẩm bổ vô, khỏe mấy hồi. Nó còn dành dụm được chút vốn kha khá nữa đó. Tụi tao dự định kiếm cái nhà khác ở cho đàng hoàng.

– Nhưng sao mầy lại dấu vợ mầy? Mầy làm chuyện đó chỉ vì vợ con. Vợ mầy biết tất sẽ nhớ ơn mầy, yêu thương mầy nhiều hơn.

– Không được đâu. Tao hiểu vợ tao. Nhiều lần tao nói với nó, chỉ mánh mánh thôi, nó đã phản đối rồi. Nó bảo thà chết chứ không chịu nhục. Tất cả đàn bà, con gái có liên hệ với tao đều phải ở dưới nó, kiểu như nó là hoàng hậu còn tụi kia là cung phi, mỹ nữ vậy. Tụi nó là để cho tao giải trí. Tao có lừa lọc, tệ bạc với ai tùy thích nhưng chỉ cho bản thân tao mà thôi. Còn nó, nó không chịu ơn ai hết, không nhờ ai hết.

– Mầy có thấy nhục không?

– Đồng tiền thằng ăn hối lộ và đồng tiền thằng đạp xích lô giá trị như nhau. Còn nghề của tao mấy đứa làm nổi? Tao không đòi thêm mà chỉ chôm chỉa thôi vì đó là cái tật bất lương của tao, là thú vui của tao. Vả lại đòi hỏi sẽ lòi thế yếu của mình ra ngay. Nghĩ cũng tức cười, trước kia dê gái là để mua vui, bây giờ thành cái nghề!

– Thế bây giờ có một em thật đẹp, thật giàu yêu mầy, mầy có bỏ vợ theo nó không?

– Theo nó thì có, bỏ vợ thì không.

Tôi nghĩ đến vụ chạy loạn từ cao nguyên về, có lẽ  vợ hắn đã liều mạng cứu hắn trong một cơn nguy cấp nào đó:

– Lạ thật! Hay là vợ mầy đã làm một việc gì mầychịu ơn ghê lắm?

– Không có đâu. Những chuyện đó chỉ có trong tiểu thuyết thôi. Nó chẳng làm gì cả, chỉ là một người bình thường. Nhưng mầy thử nhận xét xem vợ tao có gì khác với người khác không?

– Tao thấy vợ mầy yêu thương mầy mà không thấy ghen tương. Lẽ ra càng yêu thì càng ghen chứ. Hình như vợ mầy … không bình thường

– Mầy nói nó ngu chứ gì? Mấy bà hoàng hậu ngàyxưa ngu hết chắc. Có thể nó đau khổ, nhưng vì yêu tao nên nó nghĩ ra được cách giữ tao là không đòi hỏi gì ở tao cả. Như vậy là nó khôn. Mầy thử tưởng tượng xem. Mầy có vợ mà đi lăng nhăng, vợ mầy biết nhưng chẳng nói gì, vẫn vui vẻ, tử tế thì mầy suy nghĩ làm sao?

Hắn ngồi suy nghĩ một lúc rồi nói: “Tao dốt nát, không biết giải thích cách nào, chỉ nghiệm ra rằng:

Người vợ khôn ngoan giống như người đàn bà tần tiện, lúc nào cũng tìm cách góp nhặt tình yêu thương của chồng, lâu ngày xây thành cái tổ mà người chồng chỉ thấy an toàn, thỏa mái khi về đấy mà thôi. Ngoài đời, có thể người ta khinh khi tao, nhưng về nhà, tao là số một. Tao không sai lầm điều gì. Từ lúc quen nhau cho đến bây giờ, vợ tao lúc nào cũng kính trọng, quí mến tao, lúc nào cũng chỉ biết một lòng đoan chính và phục tòng. Chưa bao giờ nó lớn tiếng với tao một câu. Nó quì xuống làm một tên nô lệ, rồi đến một lúc tao cũng phải cúi xuống nâng nó lên. Chẳng phải vì thương hại, chẳng phải vì chịu ơn nó. Nhưng nó đã trở thành một phần của cuộc đời tao rồi. Chính tao cũng không hiểu tao yêu vợ tao từ lúc nào! Nó không ở cái xấu hay đẹp, cũng không phải chuyện gần gũi vợ chồng, mà ở cái tình … Không có nó tao không sống nổi! Đúng ra chúng tao là một.”

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 12 May 2026

Có lẽ trong cuộc đời, chúng ta ai cũng một đôi lần nói dối. Tôi nghĩ lại cuộc đời mình từ lúc còn là đứa trẻ cho đến lúc tóc bạc, quả là tội lỗi đầy mình chắc đã nhiều lần mình nói dối, tuỳ theo mục đích này hay mục đích khác. Lúc nhỏ, tôi thường nói dối vì sợ hãi. Bố tôi thường dạy dỗ con bằng roi vọt, nên để tránh roi vọt đôi khi phải nói dối. Đi ra ngoài chơi đánh lộn sưng mặt thì về nhà nói là bị vấp té. Đua xe đạp bị té dập mặt cũng có thể nói dối là bị ong cắn, miễn là phải che mắt ông bố bằng cách bôi chút vôi ăn trầu lên chỗ sưng. Chỉ tội nghiệp cho bà mẹ luôn luôn đồng loã với tội lỗi của con vì xót xa không đành thấy con phải roi vọt. Đánh lộn, chơi nghịch bổ té, phải trái chưa cần phân trần, về nhà ông bố đã rút cây roi ve vẩy trong tay: “Vào đây. Nằm xuống!” Đó là mệnh lệnh. Đứa con chưa thấy đau rát ở mông đít, trong nhà bà mẹ đã thấy đau lòng như chính bà bị đánh. Nền giáo dục cổ hũ ngày xưa chưa dạy con người ta phải nói thực, dù phải trả giá đắt khi nói thực,  nhưng điều đó có sự lợi ích về sau. Nếu không vì sợ hãi những trận đòn, tôi đâu cần phải nói dối.

Bây giờ nếu có người hỏi tôi trong thời gian “học tập cải tạo”, Cộng Sản “dạy” những gì cho chúng tôi, và những người tù “học hỏi” được những gì, thì tôi không ngần ngại trả lời rằng họ dạy chúng tôi dối trá và chúng tôi chỉ học được những điều dối trá. Trong nhà tù ai cũng phải nói những điều dối trá để sống còn.

Lớn lên tôi thấy người ta ai cũng biết nói dối và đôi khi thích nói dối. Tôi cũng phân vân không biết nói dối để làm vừa lòng người khác có mang tội không? Bí quyết của “đắc nhân tâm” là phải biết khen người khác, dù lời khen đó không được một phần trăm sự thật. Cứ nghĩ một người đàn bà được khen đẹp, một ông già được khen trẻ họ sẽ cảm thấy hạnh phúc, đem lại hạnh phúc cho người khác, dù nhỏ đến đâu cũng là việc thiện phải làm. Nhưng cũng có những người xử dụng lời khen quá lời, nghĩa là quá láo thì những lời khen đó trở thành lố bịch. “Sự thật mất lòng”, cho nên người ta cứ mãi dùng sự dối trá để vừa lòng nhau.

Người đời thường nói dối vì lợi lộc, cho được việc của mình. Trong một tạp chí chuyên đề về xe hơi, người ta viết bài bênh vực cho chuyện nói dối của salemen. Hầu hết đều than phiền nghề bán xe hơi là nghề nói dối nhất, nhờ miệng lưỡi trơn tru người ta mới bán được nhiều xe. Họ nói dối về sự bền bĩ của thân xe, tối tân của máy móc, sự chịu mưa gío của nước sơn, nói dối việc tiêu thụ nhiên liệu và nhất là nói dối về giá cả, cho nên nhiều người cả tin đi mua xe hơi, phải trả đắt hơn giá thực cả vài ba nghìn đồng bạc. Và cuối cùng là anh chàng bán được nhiều xe nhất là anh chàng lẻo mép nhất và nói dối hay nhất, chinh phục người mua, với nghệ thuật chiêu dụ: “con rắn cũng phải bò ra khỏi hang.” Bài báo này đặt câu hỏi: “Vậy thì người đi mua có nói dối không?” Cứ mười người vào xem xe, đòi lái thử xe chưa hẳn được một người thực sự muốn mua xe. Người ta lấy đủ lý do, nào là cần hỏi ý kiến vợ, chê máy chạy chưa êm, tay lái còn cứng. Thành ra thế giới này người ta tranh nhau nói dối, ai nói dối giỏi sẽ thành công. Nhiều ông ra ứng cử Tổng Thống, Dân Biểu, Nghị Viên nói còn hay hơn salemen nên cử tri như người đi mua sản phẩm phải lầm. Giới làm chính trị cũng thích nói dối, nói dối để lừa dân, m dân cho dân ăn bánh vẽ. Trong lúc nước Nhật vốn không có nhiều tài nguyên để khai thác, chính phủ biết nói thật với người dân để tận lực làm cho dân giàu nước mạnh, thì nước mình luôn luôn rêu rao “rừng vàng biển bạc”, nhưng phải ngửa tay đi xin, bán phụ nữ ra nước ngoài đi ở đợ hay làm vợ người ta, đàn ông thì bỏ quê hương, làng mạc đi làm thuê làm mướn xứ người. Chính quyền thông qua các công cụ tuyên truyền của nhà nước nói dối mà dân vẫn nghe, vẫn tin, vì dân ngu mới dễ bị chính phủ lừa gạt. Ở trong nhà tù “cải tạo”, cai tù kể những chuyện mà chúng hoàn toàn tin tưởng là thật cho đám tù miền Nam ra, những chuyện ngây ngô buồn cười đến chảy nước mắt. Chuyện kể về “lòng nhân hậu của bác Hồ”:“Một biệt kích miền Nam len lỏi ra Hà nội, đột nhập vào nơi ở của Bác. Nó leo lên nấp trên trần nhà. Bác biết nhưng Bác không nói gì, mỗi bữa Bác gọi cần vụ đem thêm một suất cơm nữa. Hàng ngày, lúc ăn xong, Bác tránh đi chỗ khác, để cho tên biệt kích leo xuống ăn suất cơm kia. Được vài ngày, tên biệt kích cảm thấy hối hận và cảm kích lòng nhân hậu của Bác, nó leo xuống quỳ trước mặt Bác mà xin tha tội chết.”- “Các anh có biết tên biệt kích miền Nam đó ở đâu không? Bây giờ anh ta là trưởng toán cảnh vệ thân cận nhất của Bác đấy!”

Trong câu chuyện kể không nghe nói “thằng biệt kích” ỉa ở đâu? Mô Phật. Chuyện như thế mà toàn dân miền Bắc đều tin là thật, tương tự như chuyện phi cơ “của ta” phục kích trong mây hay chuyện chỉ một chiến sĩ anh hùng vũ trang “của ta” tiêu diệt được ba  xe bọc thép, hai phi cơ con ma và diệt gọn một tiểu đoàn địch. Vì nói láo giỏi nên dân miền Bắc mới “xẻ dọc Trường Sơn” đi cứu nước, chia cơm xẻ áo với miền Nam, sau tháng 5-1975 mới vào cứu đói bà con  bằng mấy lon gạo và chục chén ăn cơm. Truyền thông ngày nay là một sức mạnh vô địch vì kỹ thuật tuyên truyền là phải nói đi nói lại, lập đi lập lại cả hàng trăm nghìn lần. Nhờ truyền thông, kỹnghệ mỹ phẩm, dược liệu, máy móc hay cả dịch vụ đều được giới tiêu thụ thuộc lòng từng lời rao, tiếp tay cho các cơ sở sản xuất mỗi ngày một phát đạt. Sự thật được bao nhiêu phần trăm? Đúng hay sai, dóm hay thật, điều đó đã được các đài phát thanh, truyền hình xác định: họ nhận tiền quảng cáo nhưng không chịu trách nhiệm về nội dung những lời quảng cáo. Trong xã hội này nhiều người bị lừa, vẫn còn ngây thơ đặt  câu hỏi: “Không hay, sao người ta quảng cáo nhiều thế?”

Trong Cổ Học Tinh Hoa, kể chuyện người bán cam, rao mời người mua, vỏ cam trông thì đẹp mà trong ruột đã thối nát. Có người đến mắng anh bán cam, anh bình tĩnh trả lời, ở đời “thiên hạ giả dối cả, đâu phải mình tôi.” Trong một xã hội khi người ta nói  thật không ai tin, vì cuộc đời dối trá, đánh mất hết niềm tin của con người rồi. Trong năm giới con nhà Phật phải giữ, điều thứ tư là cấm nói dối, trong mười điều răn của Chúa cũng có điều cấm dối gian, chỉ trong năm điều “bác Hồ” dạy nhi đồng thì bác quên mất chuyện này, nên đời nay trẻ con trong Xã hội Chủ Nghĩa nói dối như Cuội. Chế độ ấy sản sinh ra một lớp lãnh đạo toàn dối trá. Xa hơn nữa, thời nhập nhằng từ khi chủ nghĩa Cộng Sảnxuất hiện, thì nhân gian lại có thành ngữ “nói dối như Vẹm” (Vẹm đây là V.M. nói nhanh). Từ nhiều chục năm nay, câu nói của ông Tổng Thống Thiệu đã trở thành danh ngôn bất hủ là “đừng nghe những gì Cộng Sản nói … ” nghĩa là bọn này chuyên nói dối như Cuội. Thằng Cuội nói dối xem chừng vô hại, nhưng bọn chính trị dối trá có thể đưa cả một dân tộc đi lạc đường. Xin đừng tiếp tục nghe những lời dối trá. Nhà văn Nga Alexandre Soljenitsym đã nói: “Khi thấy thằng CS nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở lại nghe nó nói láo. Nếu ta không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại, những lời nó đã nói láo với người khác.” Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel đã phát biểu: “Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối.”

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo, một người trong nước đã dám nói rằng: “Ông cha ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Nguyên, Minh, Thanh … để bảo tồn đất nước. Tất cả thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá tổ quốc ta, giống nòi ta … ” Xin hãy đọc thêm một bài thơ ngắn về sự dối trá:

“Được lập đi lập lại nhiều lần

Nó trở nên quen tai

Và một lúc nào đó

Nó dường như

Là một điều như thật

Người ta làm theo quán tính

Của những nhồi nhét ấy

Như con chó polov nghe tiếng chuông!

Cộng Sản học được điều đó

Họ dạy cho thuộc cấp

Sự dối trá

Và quen dần

Như những con chó săn thấy mồi chạy tới

Bất kể lương tri, đạo đức

Ôi! thống khổ cho đất nước Việt Nam

Cai trị bởi những loại người dối trá.”

(Hoàng Chương – Phiếm Đàm online)

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 12 May 2026

Ông nhạc sĩ Tô Hải viết tập sách “Hồi Ký của Một Thằng Hèn” xuất bàn năm 2009, ai cũng khen ông là người can đảm, không ai chê ông đã hèn trong một thởi gian quá lâu như thế, qua những câu chuyện “hèn” được viết lại. Nhưng qua câu chuyện người ta kể, khi vào Saigon. đi thăm mộ thân phụ ông, thấy cái bia mộ do người “nghĩa tế” trong quân đội miền Nam là một Trung Tướng “phụng lập,” thi ông nổi giận đùng đùng, bắt phải đập bỏ ngay tẩm bia ấy. Hèn đã không phụng dưỡng dược cha, ông lại hèn mang mặc cảm của người thắng trận, hèn để chứng tò “lập trường giai cấp” quyết tâm triệt ha tất cả cái gì của miền Nam, dù cái dó là nét đẹp đạo lý của chữ hiếu, chữ nghĩa! Người ta có thể tha thứ cái hèn trong thời gian “kháng chiến” của ông Tô Hải nhưng khó có thể chấp nhận được cái hèn khi ông tỏ ra cái “khí phách” của người đi theo nương nhờ súng đạn những người mới thắng thế.

Người ta không chê ai đã cúi đầu trước bạo lực, cường quyền, trong một xã bội công an trị đã làm cho con người tê cứng vì sợ hãi trước gỏng cùm và song sắt. Chúng ta thành tâm mà nói, ở vào vị trí như thế, chúng ta làm gì hơn được. Trong chuyện Hán Sở Tranh Hùng, Hàn Tin thưở hàn vi, chưa lập nghiệp lớn, lòn trôn thằng bán thịt giữa chợ mà người đời sao không ai gọi là thằng hèn. Hèn cho qua buổi, hèn để nuôi chí lớn,

Trên cõi đời này thường người ta hèn không phải vì một lý do duy nhất mà tới ba lý do: sợ hãi vì thế yếu, không bị ép buộc nhưng vì mưu lợi và cuối cùng là cái hèn trong thế thượng phong, thắng thế. Vậy thì hèn cũng có ba bảy đường hèn!

* Cái hèn thử nhất thường được người ta tha thứ vì sự yếu duối của con người. Dưới họng súng, lưỡi lê, tra tấn. nhà tù của những chế độ bạo ngược, người dân đành thúc thù, câm nín. Thời Việt Minh, chúng dùng thủ đoạn ám sát. chặt đầu, thả trôi sông, gây sự khiếp hãi, nên không ai dám không theo Việt Minh Cộng Sản, không ai dám lên tiếng phê bình hay chống đối. Sự sợ hãi làm tê liệt ý chí của con người, phải hèn cho qua thời buổi khó khăn.

Trọng các trại tù tập trung của Cộng Sản, người ta có thể thông cảm cho phần lớn những người ta chịu hèn, chịu cảnh “nín thờ qua sông”, “giả dại qua ải” … “an tâm, học tập tốt, lao động tốt” chẳng qua cũng vì sợ hãi, sợ trả thù và khổ nhục. Dưới chế dộ kìm kẹp của Cộng Sản, cũng không ai trách người dân ta hèn vì không dám chống lại bạo lực, nhưng người trách giới văn nghệ trí thức hèn vi không chì phải câm nín mà còn theo đường lối chỉ thị, múa môi, múa bút tâng bốc lãnh tụ, ơn đàng là những điều mà chính lòng họ không tin. Trong một chế dộ người ta dùng lương thực như một vũ khi để trấn áp người đối nghịch cũng như để nuôi duỡng lòng trung thành của kẻ thuộc hạ thì chế độ “tem phiếu” quả là hữu hiệu. Đó là thái độ hèn vì miếng ăn.

Những người chưa đói, chưa thấy cảnh vợ con nhco nhóc mà xót xa thì chưa hiểu nổi vì sao Cộng Sản luộn luôn dùng “chinh sách bao tử” để khống chế con người. Hiện nay tại Việt Nam, chế độ công an trị, roi vọt, giam cầm từ nửa thế kỳ nay, hà khắc hơn cả chế dộ thuộc địa, khiến cho người dận phài cúi đầu chịu đựng, chấp nhận cái hèn, biết sợ để sống còn. những con người dũng cảm không hề hèn, thì phải chịu bao nỗi thiệt thòi.

* Cải hèn thứ hai là hèn vì lợ i dục. Không ai kê súng vào đầu, không ai bắt buộc, dủ không làm cũng chẳng sao, vì nó không cần thiết, bị dồn vào thế ép buộc phải làm. Không ai bắt một ông bộ trưởng khi vào gặp tổng thống lúc quay ra phải đi giật lủi vi sợ thất lễ, để dến nổi phải vấp và làm bể cái đôn sứ. Cũng không ai bắt chúng ta xu thời, đổi đạo để đổi lấy địa vị chức tước. Cả hai chuyện này không cần phải làm vi không nguy hiểm đến mạng sống của con người, động lực chính chẳng qua chỉ vì chức tước, danh vọng, vì từ chức quyền danh vọng có thể đưa dến giàu sang, quyền lực. Người liêm sĩ không cần phải có chức vụ, quyền lực hay ơn mưa móc nên không cần phải cúi mình. Trong thời loạn, nhiều kẻ hèn đã tự nguyện dâng vợ cho cấp trên, dắt gải cho cấp chỉ huy, tư cách như một tên “ma cô” để đổi lấy những ân sủng, mà chúng đã những không biết hổ thẹn. mà còn lấy lảm hãnh diện vì những ơn mưa móc này.

Trong hoàn cánh khó khăn tận cùng của đời giam cầm tù tội, cũng có những người tù chấp nhận số phận. nhưng cũng có những thằng hèn thủ doạn, chịu hèn hạ để tố cáo đồng đội, ton hót bọn cai tù để thêm dược một cái phiếu quà, dược thêm giờ thăm nuôi hay được tin cậy trongnhững chức vụ nhằm khống chế, kiểm soát đồng đội. Đó là hên để mưu lợi lộc. Một ca sĩ bỏ nước ra đi rồi trở về nước ca hát để kiếm tiền, đâu cần phải ca ngợi cái chính quyền của đất nước mà họ đã chối bỏ ngày trước, đó cũng là chuyện hèn vì lợi nhuận.

Tổ Hữu cũng không cần phải khoc Staline như khoe ông nội hay ca tụng Hồ là cha già, nhưng Tố Hữu cũng cần dùng ngòi bút và cái luỡi dể tiến thân mà tiến thân vượt bực. Nhờ đó, dù sự học không bao nhiêu, Tố Hữu cũng lên đến chức phó thủ tướng đặc trách kinh tế (!) nên Việt Nam có một đống bạc mà trên thể giới không ai có, dó là đồng bạc $30.00. Cái hèn của Tổ Hữu trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm còn là sự ganh ty, đố ky với những người giỏi hơn mình và muốn làm lãnh tụ văn nghệ vì thực tế tác phẩm của Tổ Hữu chỉ là loại truyền đơn phục vụ cho tuyên  truyền, không có giá trị lâu dài. Ai đó đã nói một câu nghe thấm thía: “Muốn sang, muốn có lương thực thì ít nhất trong đời cũng phải có một bài thơ suy tôn bác!”*

* Còn một cải hèn không biết xếp hạng vào đâu là cái hèn của bọn người mọi rợ. Trong cuộc tranh chấp đảo Điếu Ngư giữa Nhật và Tàu vừa qua, dân Trung Cộng không những biểu tình đốt phá khu thương mại của Nhật, đốt xe Nhật, chúng còn bắt một con chó Nhật giống Akita, trói vào gốc cây đánh đập cho đến chết trước sự hoan hỹ của “quần chúng.” Không chơi nổi tàu chiến, máy bay, dân hèn Trung Cộng trút đòn thù lên đầu một con chó, chỉ vì đó là một con cho giống Nhật! Còn “hèn với giặc, ác với dân!” thì ai cũng biết đó là thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay dưới sự chỉ đường của đàng cộng sản.

*Cuối cùng là cái hèn của người thắng trận … Cái hèn đáng nguyền rủa nhất là sự trả thù của người thắng trận.

Câu chuyện trả thù này chúng tôi đã có dịp nói nhiều rồi. Câu nói “đánh người chạy di chứ không đánh người chạy lại” là một khẩu hiệu dối trá. Chúng ta thua trận nhưng chỉ tiếc là đã thua những con người dã man, hèn hạ nên nhân phẩm của chú ng ta bị chà đạp, quyền sống cùa chúng ta bị tước đoạt nên dể lại bao nhiều khổ lụy cho gia đinh khi chúng ta đang phải vào nhà tù. Không những trà thù những người khác trận tuyến, người cộng sản còn trả thù giai cấp bằng cách tước đoạt tài sản và đày đọa những người giàu có hơn chúng vì lòng ganh ty, để cuối cùng tạo ra một giai cấp mới, thế chỗ, còn tham lam tàn độc hon là chế độ tư sản cũ, bởi sự bóc lột được nâng đỡ, yểm trợ bằng quyền lực và súng đạn, nhà tù. Khi người “bộ đội cụ Hồ” chỉ có một bộ áo quần, cái nón cổi, đôi dép râu, cái “xắc cột” (sacoche), cái chén ăn com, đôi đũa. vợ con ở nhà có hợp tác xã lo, thì dễ nói chuyện lý tưởng. Bây giờ thắng trận, có tài sản có chức phận thì phải giữ. “Thà mất nước, không thể mất đàng,” vì đảng chính là xội thịt, nên dù bị chửi hới, xấu hồ cũng phải giữ rịt lấy đảng. Bỏ đảng là mất ghế. Những anh bỏ đảng đều là những người bị thất sủng, vô công rồi nghề. không còn chức vụ, cái thẻ đảng chẳng còn giá trị, trả lại hay đốt đi cũng chẳng anh hùng gì! Chẳng thấy ai đang có chức quyền, nhà cao cửa rộng, mỗi tháng kiểm năm ba triệu đô la, con đạng du học ngoại quốc, mà bỏ đảng?

Tôi cho biểu tượng về “cái hèn” của những con người cộng sản đang cầm vận mệnh đất nước Việt Nam hiện nay là ba con khì Mizaru. Kikazaru và Iwazaru bịt tai, bịt mắt, bịt miệng. Bịt tai để không nghe tiếng ta thán của trăm họ. bịt mắt đề không thấy cảnh khổ của lê dân, bịt miệng để khỏi phải nói tiếng nói chính trực với giặc. Bịt miệng cũng đồng nghĩa với “ngậm miệng ăn tiền,” bất cố liêm sĩ. Nhưng người dân Việt Nam dã bắt đầu dõng dạc lên tiếng, lắng nghe tiếng gọi của nước non và mở rõ mắt nhìn thấy bộ mặt thực của chế dộ.