This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Từ ngày Trung Cộng chiếm cứ Hoàng Sa, phong toả biển Đông, tỏ thái độ ngạo mạn đối với Việt Nam, bắn giết bắt bớ ngư dân chúng ta ngay trên vùng biển của quê hương, tôi bỗng dưng nhớ đến những người lính Địa Phương Quân Quảng Nam trên đảo Hoàng Sa ngày trước đã chiến đấu và sống chết với đảo nhà. Từ ngày chính quyền Cộng Sản Việt Nam đàn áp thanh niên trong nước khi đụng đến chủ quyền Hoàng Sa và xem hai chữ Hoàng Sa như tiếng húy ky phải kiêng dè mà truyền thông trong nước không có quyền nói đến, chúng ta không khỏi nghĩ tới người lính Hải Quân VNCH một thời đã dám đương đầu với một thế lực mà ngày nay Hà Nội đang cúi đầu chịu nhục.
Trời thì quá cao, đất thì quá rộng, kẻ cầm quyền thì mắt mù tai điếc, chẳng biết xót xa cho nỗi đau của “nhân dân” người được đề cao trên miệng lưỡi thời cướp chính quyền, nhưng thân phận không khác hơn con vật thời chiến thắng. Trong tình nghĩa đồng bào, chúng ta làm sao khỏi xót xa khi nhìn thấy hình ảnh xác những ngư dân bị giết được ướp nước đá đang được đưa về đất liền, hay những người sống đang co ro như những kẻ tội phạm ngồi trên thuyền của mình, trong vùng biển của quê hương trước mũi súng của lính biển Trung Cộng. Người lính miền Nam ngày trước đã bày tỏ thái độ biết bảo vệ tổ quốc, người lính Cộng Sản ngày nay chỉ biết bảo vệ đảng hơn là bảo vệ tổ quốc.
Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn, nguyên Tư lệnh HQ trong thời điểm trận Hoàng Sa xẩy ra, đã nói rằng “hải quân của chúng ta là hải quân một nước nhỏ, không dự trù phải đánh nhau với hải quân các nước lớn như Trung Cộng chẳng hạn, nhưng khi chúng ngang ngược xâm phạm vùng biển của chúng ta thì bắt buộc chúng ta phải nổ súng.” Đó phải chắc chắn là một thái độ anh hùng. Qua thất trận, tù đày, mất mát, chia ly và chịu bao nhiêu điều đắng cay của người lính phải buông súng bất đắc dĩ, tôi cho rằng chưa lúc nào hình ảnh người lính miền Nam hiển hách và sáng chói trong lòng dân tộc như hôm nay, dù thời gian ba mươi lăm năm quá dài, tưởng chừng như đã làm lu mờ mọi vết tích, mọi câu chuyện, đôi khi tưởng như thần kỳ của một thời đã qua. Những người chết, hình hài, xương cốt đang bị bỏ quên hoang lạnh trong nghĩa trang, trên vùng núi đồi, sông rạch của quê hương, dưới những hầm chôn tập thể sau ngày thất trận, hay thất lạc trong những vùng đất tù đày khổ nhục. Những người sống mang nỗi hận xót xa trọn đời, lưu lạc xứ người hay lạc loài, lạ lẫm trên quê hương. Những ai đã quên và những ai còn nhớ?
Tướng Douglas MacArthur có nói “người lính không chết, người lính chỉ phai nhạt dần” nhưng hôm nay chúng ta có bao nhiêu người lính đã nằm xuống, mà sao hình ảnh họ vẫn còn như hiển hiện trước mắt chúng ta. Trước mệnh nước, bao nhiêu tướng lãnh của chúng ta như người hạm trưởng phải là người rời con tàu cuối cùng, nên đã đành chọn cái chết để rửa mối nhục của kẻ mất thành. Với phong cách như thế, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà đã chết theo con tàu Nhật Tảo, thân xác ông cùng với thủy thủ đoàn đã chìm sâu xuống biển Đông, nơi thủy mộ, cho chúng tôi những kẻ đời sau được ngưỡng mộ và mang ơn.
Những người lính của chế độ CSVN hôm nay chỉ biết đàn áp những người yêu tổ quốc thay vì bảo vệ tổ quốc, vì bây giờ chống Tàu Cộng là có tội, nói như nhà thơ Trần Mạnh Hào: “Tôi yêu Tổ quốc tôi mà tôi bị bắt.”
Cũng nhà thơ này, người đã mang tội chống đảng và ly khai đảng, đã viết những dòng về một người lính miền Nam, một người yêu tổ quốc, “Người Anh Hùng Họ Ngụy” tức là Hạm trưởng Ngụy Văn Thà của chúng ta:
“Người yêu nước không thể nào là ngụy
Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy
Nhưng anh:
Là Ngụy Văn Thà
Anh- hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo
Lao thẳng vào tàu giặc cướp
Tên anh còn mãi với Hoàng Sa
Biển vật mình thét đại bác
Giặc bủa vây chiến dịch biển người
Lửa dựng trời dìm tàu giặc
Máu anh cùng đồng đội ngời ngời
Ôm chặt tàu
Ôm chặt đảo
Anh, người lính Miền Nam …
Anh hóa thành tổ quốc giữa trùng khơi
Gió mùa đông bắc gào khóc
Ngụy Văn Thà
Mãi mãi neo tàu vào quần đảo
Tổ Quốc ngoài Hoàng Sa
Trận chiến ba mươi phút
Tượng đài anh là phong ba
Đỉnh sóng khói hương nghi ngút
Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu
Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ
Linh hồn anh hú gọi đất liền
Ngụy Văn Thà
Tên anh không phải bài ca
Tên anh là lời thề độc:
– Phải giành lại Hoàng Sa
Sóng vẫn vồ lấy đảo …
***
Anh, Người Lính Miền Nam, chúng tôi mang ơn và hãnh diện vì Anh.
Vào tháng 9 năm 1866, dưới thời Vụa Tự Đức, việc xây dựng lăng tại Vạn Niên, dưới sự cai quan của Thống Chế Nguyễn Văn Xa và Biện Lý Nguyễn Văn Chất quá hà khắc, khiến quân dân làm việc tại công trường bất mãn, ta thán. Lợi dụng việc này, hai anh em Đoàn Trưng và Đoàn Trực lãnh đạo cuộc nổi dậy, gọi là “loạn Chày Vôi,” bắt người chỉ huy công trường, nhờ có nội ứng, kéo nhau về kinh thành, xông vào Đại Nội và Cấm Thành, định bắt giết Vua Tự Đức, Lúc bấy giờ quan Chưởng Vệ Hồ Qại, đang chỉ huy quân tức vệ, tả xung hữu đột để cứu giá. Vua Tự Đức thoát nạn trong gang tấc và cuộc nổi loạn bị dẹp tan, những người lãnh đạo đều bị bắt và xử trảm, Trong lúc cầm gươm bảo vệ nhà Vua, Chưởng Vệ Hồ Oai đã bị Đoàn Trực chém đứt một lỗ tai tay phải. Sau dó ông dược Vua Tự Đức phong chức Đô Thống, phong tước Nghĩa Dũng Từ và cấp thưởng nhiều quý vật, trong dó theo truyền thuyết ở Huế, ông được Vua Tự Dức ban thưởng một lỗ tai giả dúc bằng vàng ròng.
Chưởng Vệ Hồ Oai cẩm gươm bào vệ cho nhà Vua, tránh được một cuộc binh biến cho dất nước, được ân thưởng tượng trưng một cái lỗ tai bằng vàng. Ngày nay anh em thương binh chúng ta. vì tận trung, bảo quốc, mất nhiều thứ trên thân thể, quan trọng hơn cái lỗ tai nhiều như đôi mắt, tứ chi mà chỉ may ra được một cải nạng. Vì sao? Vua Tự Đức còn tại vị và biết chuyện đền ơn đáp nghĩa. Sau tháng 4-1975, vua quan chúng ta không còn tại vị nhưng đã đi ra nước ngoài, còn cả cây kim sợi chỉ, nhưng chỉ tiếc là những người này không có tấm lòng thương xót cho những người đã đổ máu xả thân bảo vệ cho chức tước, địa vị, gia đình, tài sản của họ, được an toàn ra đi, đã bò anh em lại, mà không cần biết hay nhớ đến những người này là ai. Vào những giờ phút cuối cùng khi anh em vẫn còn trên trận tuyến, Tổng Thống đã ra khỏi đất nước, như vị thuyền trưởng tránh trách nhiệm dể khỏi chết theo con tàu. Thủ Tướng cũng ra di. Đại Tướng cũng ra đi. Chi còn lại những con người liêm sĩ chon cái chết dể khỏi sống ô nhục và h àng trăm nghìn thanh niên đã hứng chịu cành tàn khốc củanhững người bị thất trận, nhất là những người với thân thể không còn nguyên vẹn, người cụt chân, kẻ mù mắt. Phải chi anh em được chết trên trận mạc, thân thể dược phủ ngọn cờ ngày trước, cho khỏi khổ đến gia đình vợ con phải hứng chịu những ngày cơ cực khi đất nớc không còn, quân đội không còn, đơn vị không còn.
Tổng Y Viện Cộng Hòa 4/1975
Giữa bao nhiêu “vạn cốt khô” dã được để lại sau chiến tranh, ba mươi lăm năm nay, chưa hề thấy “tướng công thành” nào hy sinh của cải, thời gian để làm một nghĩa cử mang ơn, chia sẻ với những người lính đã tận tuy một đời, hy sinh một đời để bây giờ phải sống những ngày tàn tạ trên quê hương mình như những kẻ lạc loài, xa lạ. Nếu ngày nay họ được cưu mang phần nào, gọi là chút an ủi cuối đời bằng những món quà nhà nhỏ thì dó chính là tấm lòng của những đồng đội ngày xưa đã qua thời gian cay đắng tù tội, những đồng bào hậu phương ngày trước đã mang ơn họ.
Có thể dây là một cộng nhân hưu tri, chia món tiền nhỏ nhoi vào mỗi cuối tháng, có thể là những vị cao niên, chắt chiu những dồng tiền trợ cấp, mà không quên những người lính năm xưa, những người trẻ tuổi mới lớn lên khi nghe nói về quả khứ hào hùng của đất nước, xót xa cho thế hệ của cha ông. Động lực nào đã thúc đẩy bao nhiêu người hy sinh thời gian, công sức để vận động những phong trảo đền ơn đáp nghĩa thương binh, gần suốt hơn hai mươi năm nạy, dù sự giúp đỡ như giọt nước trong ngày nắng hạn, như hạt muối bỏ biển hay như ngọn gió thổi vào căn nhà hoang trống trải. Những người có lòng này không phải là những người làm thương mai thành công, cũng không phải là những người ôm được tài sản lớn lúc chạy ra được nước ngoài, cũng không phải là những người đã từng sống trên xương máu của đồng đội. Họ chỉ là những người lính bình thường, những người dân đã chứng kiến những thăng trầm cùa lịch sử, biết ai là người mình phải mang ơn, biết ai là người dã mất mát để cho mình được có cái hôm nay. Nhưng đó chính là ngọn lửa của niềm tin thắp lên trong những dêm dài tuyệt vọng của những người thương binh đã mất một phần thân thể cho tổ quốc, phải sống trong những hoàn cảnh ghẻ lạnh dưới chế độ mới, từ hàng mươi năm nay, đang là một gánh nặng cho gia đình, con cái. Mỗi năm chúng ta có bao nhiêu lần làm lễ vinh danh cho những người tiếng tăm, nơi này và nơi khác, chỉ cho một người, mà vinh quang của họ được xây đáp bằng công trận của hàng vạn người tử sĩ và thương binh vô danh ngày trước. Những người sau này, chết thì mồ mả xiêu lạc, sống thì lây lất qua thời gian đầu đường xó chợ. Những người này bây giờ không còn cần đến một vòng hoa chiến thắng. Ngậm ngủi vì khi biết mình là kẻ chiến bại, hay muốn nghe những bài hát ca tụng họ là anh hùng, vì chính họ thực sự là anh hùng, nhưng đã là anh hùng cùng đường, mạt vận. Bây giờ có thể họ ràn rụa nước mắt, cầm trong tay món tiền nhỏ từ hài ngoại gừi về, từ đám đông những người họ chưa hề quen biết, chưa hề là bạn bè, cấp chi huy hay là tướng lãnh của họ. Một bữa cơm tươm tất chiều nay hay một tấm tôn lợp nhà trong mùa mưa bảo, những mơ ước thật tầm thường mà những người hạnh phúc, no đủ nhiều khi không thể nào tưởng tượng ra nổi. Đúng hai mươi năm sau biến cố đổi đời, năm 1995, khi những người linh vừa ra tù, đặt chân dến Mỹ. ngồi lại với nhau để tìm cách gây quỹ giúp cho những người thương binh bất hạnh còn ở lại, anh em dã nhận được $100 đỏ la từ người tổng tư lệnh ngày trước, người đã bò anh em trước khi chiến xa địch vào dến Saigon và dã có những căn nhà trị giá bạc triệu ở từ Anh Quốc đến Hoa Kỳ. Đây không phải là cách biện minh “của ít. lòng nhiều” mà là như hạt muối xát vào vết thương đang còn rỉ máu. Nhưng thôi thì đây cũng là lộc của nhà Vua, anh cm hòa thuận như trong truyện Quốc Văn Giáo Khoa Thư thì mang quả lê bỏ vào nồi “ba mươi” nấu nhừ nát thành nước rổi moi người húp một thìa cho qua cơn hạn khát.
Khi những dòng chữ này đến bạn đọc, thì mới hôm qua dây, tại San José- Bắc California, hải ngoại đã tổ chức một buổi ca nhạc ngoài trời để gây quỹ giúp cho anh em thương binh đang sống cuộc đời khốn khổ ở quê nhà. Mà không phải là lần đầu, trải dài trong mười năm người ta đã làm công việc này lần thứ bảy. Tiền gây quỹ, có năm nhiều năm ít, nhưng tấm lòng của người hải ngoại thì không bao giờ suy chuyển. Sáng kiến được nảy ra từ tấm lòng vị tha, họ ngồi lại với nhau trong khi đang khó khăn làm lại cuộc đời trên mảnh đất mới. Từ đó đã rất nhiều người nhập cuộc biết chia xẻ sự no đủ và hạnh phúc cho những người bất hạnh hơn mình.
Khi chúng ta không có đủ tiền, chúng ta có công sức và tấm lòng. Nhiều nhạc sĩ, ca sĩ, nghệ sĩ, nhiều người cựu chiến binh, thuyền nhân đi tìm tự do và đồng bảo hải ngoại, trẻ già, đã đến dây để cùng chung một tiếng nói, gửi một lời cám ơn đến những người thương binh của chúng ta ở quê nhà.
Xin những người có lòng ở hải ngoại hoan hỷ gửi một chút quà cho những người đã hy sinh cả tuổi thanh xuân vả hôm nay không có cả tuổi già hạnh phúc!
Nếu một ngày có hai mươi bốn giờ thì trong cơ thể em cũng nhốt đủ hai mươi bốn cái xương sườn. Một ngày kia, có thể gọi là giờ thứ hai mươi lăm, em gặp phải tai nạn làm gãy mất một cái xương sườn. Vào bệnh viện, chụp quang tuyến X và người ta ra tay giải phẫu, thò tay vào chỗ hóc hiểm để bắt tạm cho em một con vít bằng kim loại, hy vọng đôi ba tháng sau em thôi ca cẩm hát hò bản nhạc “chuyện một chiếc cầu đã gãy”.
Gọi giờ thứ 25 là vì nó đi ra ngoài dự kiến, nó đột ngột hiện tới gây ra bao thảm cảnh nằm mộng cũng chẳng ngờ. Cái iPhone của em văng ra khỏi hiện trường đến bốn thước, va vào lề đường trầy trụa, mặt kính rạn nứt, tuy vậy cảm ứng bén nhạy có ở màn hình chưa mất đi. Một người tốt bụng đã nhặt lên, có thể bà dùng nó để thử bấm số 911 trước tiên. Đang trong sở làm, anh buộc phải ngừng tay để trả lời một cuộc gọi thất thường xuất phát từ phía em nhưng vang bên tai là một giọng nói lạ, ngập ngừng, bối rối. Anh nhìn đồng hồ, còn hơn tiếng nữa mới khép một ngày cày bừa, tuy nhiên anh đã đến gặp thằng cai: Việc bất khả kháng, tao đành phải dông thôi. Ừ, có ở lại cũng đâu còn lòng dạ mà tập trung với công việc, hy vọng bạn ấy không đến nỗi nào, chúc may mắn.
Bà Lucie, người loan tin thất thường có nhắn gửi lời cuối: Tôi bấm số cầu may trong một loạt số vừa hiện lên, sẽ hoàn trả lại chiếc điện thoại này vào tay khổ chủ. Ambulance đang tới, có thể họ chở cô ấy vào bệnh viện Jean Talon. Anh nghe nhói đau một bên hông, anh nhớ câu chuyện thần thoại từng đặt điều “đàn bà được cấu thành từ một cái xương sườn của đàn ông”. Em bị nạn và anh chịu chung một nỗi đau lây lan.
Vì gần hiện trường xẩy ra tai nạn, xe cấp cứu tiện đường mang em vào nhà thương, nơi mà anh phải nương nhờ Google hiện lên bản đồ chỉ lối. Nói cho đúng thì khoảng sáu năm trước anh từng ngại ngùng đặt chân vào lãnh địa đó một lần, nơi treo cái dấu cộng màu đỏ thật to. Anh vào thăm một người bạn mang bệnh hiểm nghèo mà bác sĩ đã không dối lòng: Ông Nguyen còn ở chơi với trần thế này thêm đôi ba tuần nữa. Hôm đó anh mọc lên một ý nghĩ rồ dại, lý ra nhà thương nên dùng dấu trừ làm “logo”. Cộng là gộp thêm niềm đau? Trừ là soán đoạt lấy bớt niềm vui. Không ai đi vào chốn này mà mặt tươi mày tỉnh cả, kể luôn tới thằng đàn ông vừa nghe tin vợ tròn con vuông. Trước mắt hắn hiện đầy bao toan tính, rồi một hôm trái gió trở trời hắn sẽ nghe vợ hiền than: Ông trời bất công, sao chẳng cho đàn ông mang trước ngực một cặp vú đầy sữa!
Mất chừng mười phút, anh tìm ra nơi em nằm. Vạn bất đắc dĩ, sự bất khả kháng mới vậy chứ bình thường đó là thế giới riêng tư mà một người con gái luôn tìm cách che đậy, có thể dán tấm giấy trước cửa phòng: “Vô phận sự, miễn vào”. Chỉ duy nhất một đứa có phận sự: Thằng chồng. Anh muôn đời chẳng phải là chồng em. Và ông trời có công bằng khi tạo ra hai đứa thương yêu nhau mà chả đoái hoài gì tới sợi dây trói thân: Vợ chồng? Đó chỉ là danh xưng ở mặt pháp lý, chưa chắc những gì được hợp thức hoá, ghi vào sổ sách làm bằng chứng đều thơ mộng đáng quý cả. Giấy trắng mực đen, bút sa gà chết vẫn luôn kéo theo bao điều phiền toái nằm ngoài dự tưởng.
Em nằm trên giường, phòng có hai giường và hai tấm màn che chắn thế bình phong. Hiện tại “dậu mồng tơi” kia không định ra biên giới bảo bọc, cửa sổ cũng thế, mở toang cho nắng gió vào hoán đổi môi sinh. Hai cô y tá có phận sự chăm nom, anh nhìn qua gã hàng xóm của em, một chân bó bột và khúc thạch cao trắng được treo lên như con mực ống bị phơi khô, một ngày kia hắn ta sẽ biểu những đứa vào thăm mang bút ra để ghi lên đó ít nhiều cảm nhận về sự què quặt hắn phải hứng chịu. Đèn bắt trên trần rất sáng, mặt em xanh và anh rất muốn chải gỡ giúp em những cụm tóc rối. Hình như y tá vừa cho em uống thuốc giảm đau. Chăn mỏng đắp ngang bụng, chiếc áo rộng kỳ cục của bệnh viện khiến em rất gầy, anh đồ rằng người ta biểu em chớ nên mặc áo nịt vú hoặc chính họ đã cởi ra giúp em, vú thoi thóp chẳng tượng hình dưới tấm chăn có in tên nhà thương. Anh ngồi xuống chiếc ghế đặt bên giường, mắt em nhắm và anh ngại lay em ra khỏi cái hiệu ứng do thuốc thang vừa tác động. Trên đầu giường có ghim miếng giấy bọc nhựa: “Mỗi cái bàn phím đều thu giữ nhiều vi trùng, yêu cầu bạn rửa sạch tay trước khi tiếp xúc với bệnh nhân”. Lời nhắc nhở kia chắc chỉ dành riêng cho y tá, bác sĩ. Anh nhớ tới đoản văn vẫn còn dở dang đã ba hôm chưa tìm được thông lộ, anh ngó xuống bàn phím bày từng hàng mẫu tự q w e r t y u i o p… nó có là nơi cho vi trùng ẩn náu? Chưa khi nào anh rửa tay sau khi đóng gập cái laptop lại. Tay anh đút túi quần khi đi tới chỗ hẹn hò em vừa cho hay địa chỉ, thường là một hàng quán cà phê. Anh vẫn tin rằng, ngồi cả giờ bên em, chia tay xong, khi trở về sẽ tìm ra lối thoát cho những con chữ đang bị dồn vào cul de sac.
Anh tôn trọng em nhưng bà y tá thì không, bà sẵn lòng đánh thức cũng như độ lượng trao cho bệnh nhân vài viên thuốc ngủ. Không ai có quyền hờn oán đến “mẹ hiền” cả, đơn giản vì họ tận tuỵ và quan ngại đến sự an nguy của bạn. Phải cảm ơn họ mới đúng. Em không cảm ơn thì anh sẽ nói merci. Em mở mắt ra. Bà y tá nói khi lôi một cánh tay em ra khỏi tấm chăn: Tôi đo huyết áp, chừng mười phút nữa cô sẽ có buổi ăn tối. Thấy bớt đau chưa? Tốt lắm. Bà ghi những con số vào tờ giấy kẹp dưới chân giường. Và em nhìn thấy anh. Tròng mắt em loáng ướt như trong mơ em vừa đi băng qua một độc đạo ngập mưa lũ. Một đôi mắt anh chưa từng thấy nó rơi lệ, gần em là đón nhận toàn những điều vui thú. Em có vẻ cứng rắn kể cả lúc người ta buộc phải mềm lòng. Em xa nhà từ nhỏ, từ vùng cô quạnh đi xe đò băng đồng vượt suối tới thành phố này kiếm việc làm, tự lực cánh sinh. Một kẻ như vậy, thứ hành trang cần trang bị trước tiên là sự can đảm. Can đảm đánh rơi những uỷ mị. Anh giống em chỉ một nửa, ở cái khoảng làm đứa xa nhà, ở đậu. Nửa khác biệt với em là anh chưa học được chút cứng rắn nào cả. Nếu chai lỳ anh đã không tìm tới với chữ nghĩa, với văn chương, với những trang viết đa phần xiêu đổ nhiều than thân trách phận. Anh phân bua cùng em mà em nào tin: Chúng ta giống nhau để hiểu nhau và khác nhau để bù đắp cho nhau. Câu nói đó của một văn sĩ anh quên tên mà khi đón nghe em hiểu duy một điều: Khác giống giữa đực, cái, nam, nữ. Một tháng, em dành ra hai bữa để làm tình cùng anh.
Em thấy sao? Thấy người nhẹ như mặt đất thôi còn sức hút. Thuốc tê vẫn chưa tan và morphin vẫn còn ngăn chận cơn đau. Khi anh về, hãy tạt qua chỗ em lấy giúp ít áo quần lót để thay, vài đôi vớ, bàn chải đánh răng… sớm mai mang vào cho em, có được không? Chìa khoá nằm trong xách tay, hình như họ cất vào cái tủ sắt ấy. Mấy giờ rồi anh? Sáu giờ rưỡi. Anh mở cánh cửa tủ có đánh số, dành cho chủ nhân nằm giường 725A. Áo quần và vật dụng cá nhân đều dồn vào một cái túi ny-lông có ghi tên Debbie bên ngoài. Anh mó tay vào lục lọi, anh ngửi mùi hương quen thuộc từ đó xông lên.
Một người mặc trang phục của bệnh viện, đầu tóc tóm gọn trong cái nón ny-lông xanh đẩy chiếc xe chứa từng khay thức ăn dừng lại trước cửa. Khuôn mặt không phấn son cố làm bộ tươi tỉnh khi mang buổi cơm chiều vào. Bà dùng một tay điều chỉnh cái bàn ăn sao cho thật đúng vị trí rồi đặt khay nhựa xuống đó, xong thì dùng chân để điều khiển chiếc giường thay đổi vị trí, nâng người em lên, gập lưng cho vừa tầm. Bà ngó anh như thông báo, chỉ có vậy, phần còn lại mày hãy giúp cô ấy tìm được sự thoải mái khi nuốt trôi thực phẩm nhiều sinh tố, chóng tiêu hoá.
Anh mở nắp nhựa úp trên dĩa: Khoai tây nghiền đứng kề một hòn thịt băm chen cài với bốn năm cọng đậu đũa luộc nhừ. Trên khay có chén súp còn bốc khói, bánh croissant nhỏ và một cốc nước trái táo. Chưa bao giờ, đây là lần đầu tiên trong đời anh đút thức ăn cho một kẻ khác. Ơn đền oán trả? Dù chẳng tiết ra sữa, Debbie từng cho anh ngậm lấy vú. Khi đó anh nhớ tới mẹ mình, anh bất hiếu ở chỗ là đã khuấy quên hình dáng cái bầu sữa mẹ già. Có no tròn? Có hồng hào? Có thơm mát? Có sự khác biệt nào giữa cấu trúc ta và tây?
Rất khéo tay, anh chu toàn công việc êm ru bà rù. Tên hàng xóm bị treo giò bên kia giường nhìn anh với tia mắt đong đầy sự ganh tị, hờn ghen các thứ, hoặc tủi thân do đang cô quạnh mình ên. Cô y tá mang thuốc vào cho em, một cốc nước, một ly giấy đựng bốn viên xanh đỏ trắng vàng. Cô giải thích, cái này chống nhiễm trùng, cái này giảm đau, cái này chống táo bón, cái này giúp bạn ngủ yên. Có thấy buồn tiểu không? Cô khom lưng lấy từ dưới giường ra cái thau hình dáng lạ thường rồi vén chăn đút nó dưới mông em. Anh nhìn thấy một vùng da thịt trắng muốt, ở đâu đó phía bên kia hẳn là nơi đang bưng bít vết mổ dài 15 phân được đậy đệm bằng bông băng. Em nói, thôi anh về đi.
Anh nghe lời. Anh về “con đường xưa anh đi vàng lên mái tóc Debbie ngõ hồn không tái tê”. Trước, anh nhấn chuông, anh gõ cửa. Nay, anh ung dung với chiếc chìa khoá, tuỳ nghi mở đóng. Sylvie, cô bạn chia tiền phòng góp gạo nấu ăn chung đang lui cui cùng bếp núc lấy làm ngạc nhiên khi thấy anh bước vô. Sylvie chỉ mặc quần lót với lại xú-chiên, cô hơi hoảng nhưng kịp trấn tĩnh vì cái nồi đang bị lửa táp gần bỏng khét. Mùi thơm quá. Anh phát biểu cảm tưởng, tính nấu spaghetti hả? Ừa, con Deb đâu? Deb bất cẩn bị xe đụng hiện nằm nhà thương, giao chìa khoá cho tôi về tìm vài món bới xách cho bạn ấy. Tôi thế Deb có được không? Mon Dieu, nó bị nặng lắm không? Ờ, ở lại ăn cùng tôi cho đỡ buồn. Gãy xương, bệnh viện đã tìm cách chắp nối lại, dự tính phải nằm trong đó cả tuần lễ. Tội nghiệp. Nằm bệnh viện nào? Dắt tôi vào thăm với nhé. Phải luôn xáo tay kẻo nó cháy dưới đít, coi giúp để tôi mặc lại áo quần ngó cho tử tế. Vậy là tử tế rồi, có đâu như Debbie giờ này chỉ có chiếc áo choàng kỳ cục che không kín người. Sylvie cười, không dám đâu, hổ ngươi lắm, thà mà bạn gái với nhau.
Không cất công mở youtube ra học hỏi gia chánh, chỉ mua nguyên vật liệu có sẵn bán đầy chợ, tôi chỉ thêm chút thịt xay, thêm chút hành tỏi, chút muối đường, sợi thì vừa trụng xong. Thích ăn cùng lát mì có trét bơ không? Tương đối thôi, chẳng có lắm thời giờ. Hồi nào quởn bày tôi cách nấu phở đi. Ngày mai chứ hồi nào nữa, vào thăm Debbie xong chúng ta cùng đi chợ Á đông, bạn phải đứng sát tôi, nhất nhất cử động đều phải nhìn ngó, nhập tâm. Thực sự thì chẳng có gì nhiêu khê đâu, Debbie từng đùa là nếu có tiền chúng tôi sẽ mở một quán bán phở.
Hai đứa ngồi vào bàn, thưởng thức món ăn Ý, truyền thống hay không thì chẳng rõ. Ăn cho có, ăn để sống chứ không phải sống để mà ăn. Đã sống thở thì đời bày ra chán khối việc để lo toan, để đối đầu, để giải quyết dù bụng đang đói meo. Có thực mới vực được đạo lại là chuyện khác. Ăn no bò cỡi cũng vậy. Nói cho cùng tận thì ăn là động từ khẩn thiết, chiến tranh xẩy ra cũng vì miếng ăn. Ăn cũng là một thứ triết lý chẳng bao giờ già cỗi, lạc hậu. Miếng ăn là miếng tồi tàn. Ô kê, đừng tranh cãi thêm cho nhọc sức. Anh ngồi vào chiếc ghế lệ thường có Debbie đặt đít, cách vuông bàn hẹp anh thấy rõ những nhịp tim rung động trên ngực mát mẻ của Sylvie. Vòng một của cô ấy lớn hơn Debbie, điều này khẳng định được là nếu sinh con đẻ cái, mấy baby nọ hẳn phải bụ bẫm lắm. Kinh nghiệm cá nhân? Mẹ anh gầy nhom nên anh khẳng khiu cả xương chẳng mấy có thịt, đi đến trường học bạn bè đặt cho danh hiệu: Thằng ni đại diện cho hãng sản xuất tăm tre xỉa răng. Anh bú sữa bình nhãn hiệu Hột Xoàn, xong đổi qua măm sữa Con Chim. Rồi chơi sữa Ông Thọ, cứ cầu âu vậy mà thân thể chẳng tráng kiện một mảy may. Mẹ anh nói “bị cái tạng nó vậy” chứ sức nó ăn thì khiếp lắm, mỗi bữa ba bốn chén cơm vung cũng chưa nhằm nhò. Nói tội trời, mấy đứa mập mạp dễ sinh bệnh hơn là mấy thằng rọm rơ như hắn. Đặt lưng xuống là ngủ quên trời quên đất.
Thời còn bé cơ, dạo còn ngây thơ cơ. Chứ giờ này nương nhờ vào “bơ thừa sữa cặn” phương này thì trông cũng có da có thịt như người ta. Người ta thông thoáng thì hắn cũng biết nghía, biết thèm thuồng, biết háu ăn, biết săm soi một cách kín đáo, biết đè nén và trấn nước nỗi dục vọng thầm kín, chết chìm. Hắn từng đọc ở đâu đó một lề luật chẳng in thành văn bản: Chơi với bạn mà tơ tưởng đến bạn của bạn là một tội trạng khó tha thứ. Vắng chủ nhà gà mọc niêu tôm? Con cá từng bắt đang nằm ngáp, vậy có nên bắt thêm con cá đang bẹo hình bẹo dạng bơi lội thoải mái kia?
Là người tử tế, ăn xong anh dành phần rửa chén dĩa. Anh mở những ngăn tủ, chỉ thấy lọ cà phê hoà tan, chỉ thấy trà đóng gói, những thứ mà với anh có chết khát cũng không uống. Đã vậy còn chú thích hàng chữ bên ngoài “caffeine free”. Chẳng có gì kỳ cục bằng đi nhậu, đi phá mồi mà lựa toàn mấy món giả chay. Đã thò chân xuống sông để lội qua bờ kia mà vẫn ngại bùn vấy bẩn?
Anh vào phòng Debbie. Rõ là người ta chẳng thể nào biết trước những gì đang chờ chực ở thì tương lai để hiện tại nên bỏ công tập vén khéo. Bừa bộn, bầy hầy, vung vãi, xộc xệch mọi thứ. Một người con gái sống đơn thân thì không việc gì phải tập ngăn nắp, thứ lớp? Vậy chứ người con gái đó trước khi đi ngủ vẫn tiêu tốn chút thời gian để rửa mặt rửa mày, thoa kem, chải tóc. Chi vậy? Để nhỡ có gặp ai trong mơ, họ nhìn ra dung mạo mình không đến nỗi tệ! Trong mơ, anh từng bắt gặp Debbie nhưng cô chỉ phát quang từ ngực trở xuống, anh thức giấc trên giường với bao hối tiếc về giấc mộng đã chẳng đi hết đường. Không phải ác mộng, nhưng luôn luôn nó y như một câu chuyện chẳng có hậu.
Anh máng những gì vương vãi dưới sàn lên thành ghế, mớ áo xống hỗn độn trên giường thì dồn chúng vào trong cái rá nhựa; xong thì vật mình xuống tấm nệm. Đã hai năm, chừng như nệm vẫn chung tình ở sự đàn hồi đáp trả khi hứng chịu sức nặng của người nằm đè. Anh và Debbie đã đi vào cửa hàng Ikea của Thuỵ Điển để lựa mua, họ quảng cáo tuổi thọ của nệm là mười năm, bạn sẽ hài lòng vì kẻ nằm bên có vặn vẹo trăn trở cách gì thì nó chẳng lây lan độ rung sang chỗ bạn đặt lưng, êm ru bà rù, mộng đẹp là cái chắc!
Ngọn đèn nhỏ trên đầu nằm đủ soi tỏ những tấm ảnh Debbie dán tuỳ tiện ở vách, đa số đều chụp lấy thứ quang cảnh ở quê cũ, một thành phố biển chẳng lấy gì làm sầm uất nhiệt náo dẫu là vào hè, mùa đông nó biến thành những cánh đồng tuyết ngập giá băng. Tám tuổi đứng bên mẹ. Mười hai tuổi quàng vai bá cổ với người bạn trung học. Mười sáu tuổi mặc đồ tắm nghịch nước với cậu bạn trai đầu đời… Những tấm ảnh đã ố vàng, những chặng đời lớn lên được ghi nhận đi kèm với tàn phai. Đã xẩy ra điều gì không vui khiến Debbie quyết định từ bỏ nó, cô lên phố rậm rật này tìm cách sống và cô từng hỏi về quá khứ anh: Làm sao bạn sống qua với những ngày đầy khói lửa của chiến tranh? Rồi hoà bình, sự bạc ác nào buộc bạn phải làm đứa vô tổ quốc? Anh thua thiệt, so với Debbie, ngay cả thứ nhỏ nhặt nhất là anh chẳng có lấy một tấm ảnh ghi nhận về thời bể dâu. Anh trắng tay, trắng tận cùng của chữ trắng. Sạch bong, lạnh giá như màu tuyết.
Buồng phổi anh đang điều hoà với không gian nhốt ngập hương mùi riêng biệt của Debbie. Hình như Sylvie đang chiếm ngự phòng tắm, tiếng nước chảy như cơn mưa rơi ở tận phương xa len lỏi đổ xuống giấc ngủ khó cưỡng chống, anh ngó tới cái MacBook Air của Debbie đặt trên bàn nhưng anh chẳng biết password để vọc tay vào lục soạn. Anh nhìn cái nịt vú móc ngang thành ghế và rồi mắt anh từ tốn đóng lại.
Nhà có ma. Anh nghe tiếng Sylvie thoảng nhẹ bên tai. Đồ đạc bọn tôi thỉnh thoảng bị xáo trộn dời đổi. Và rồi hôm nay thì Debbie bị xe đụng. Hồi nãy đứng tắm, sống lưng tôi nghe lạnh như kiểu có ai nhìn trộm. Có thấy người tôi đang run lên không? Tôi vừa khoá cửa lại, đêm nay tôi sẽ ngủ chung với anh trong phòng này, anh tin chuyện ma không? Sylvie choàng tay qua ôm siết lấy thân anh, da thịt cô có thể đang nổi ốc, mát lạnh như một cây kem đang tan vữa. Anh nhớ khúc phim về người Eskimo sống trong hầm nước đá, để chống lạnh họ cởi trần để ôm cứng lấy nhau, bu như sam. Có thể anh chưa bị lôi ra khỏi cơn mê, anh tự cởi áo quần mình trong vô thức. Anh ôm lấy Sylvie, nín thở để phát hiện thân nhiệt hai đứa vừa giao hoà nhau, vây bọc lấy nhau, ấm dần ấm dần cho tới nóng lên. Nóng đến độ cơ thể phải chảy nước. Sylvie nói: Em la lên nghe, biểu tỏ cái sướng để xua đuổi tà ma. May mà tối nay có anh, em không quen sống cu ki một mình trong căn nhà lạnh.
Anh thức dậy, mặt trời thập thò sau màn cửa sổ. Ngọn đèn trên đầu nằm chẳng có ai mó tay, chừng như nó thức suốt đêm. Cơ thể và tứ chi nghe rã rời cơ hồ năm canh đã bơi qua mặt sông rộng. Chăn nệm nhăn nhàu, con ma trong nhà đã bỏ đi, hết ôm hết bấu víu hết mè nheo lấy anh. Thường thì ma không dại để hiện hình giữa thiên thanh bạch nhật? Anh vào phòng tắm làm vệ sinh qua loa, chùi rửa thật kỹ một cái bàn chải đánh răng để đút vào mồm cọ xát cho bọt kem đầy tràn, suýt nhợn ói. Hôm nay thứ mấy? Có thể Sylvie đã đi làm. Sự lặng yên trong căn nhà khiến anh hồi hộp, gây thứ cảm giác khó chịu. Anh dồn những vật dụng cá nhân mà Debbie căn dặn vào trong cái túi xách có in thương hiệu một siêu thị chuyên bán sản phẩm Organic. Bạn hãy chọn ăn lấy những thứ không bị ngâm tẩm hoá chất độc hại, bạn sẽ trường thọ ngoại trừ bạn ra đường không may bị xe đụng, ngoài ý muốn. Những đứa thập tử nhất sinh, nằm lặt lìa trên giường bệnh, hắn có mọc lên sự hối tiếc: Biết vậy tao đã ăn chơi không sợ mưa rơi, tao trả thù đời cho bõ kiếp người mãi cơ cực ép mình nghe theo bao điều răn vô bổ.
Chỉ qua một đêm, khuôn mặt Debbie xuống sắc thấy rõ. Em không ngủ được, một phần vì đèn sáng loà, vì nhiều tiếng động vang dội suốt hành lang. Em nghĩ tới chỗ nằm này, đã có biết bao cơ thể rời đi để biến thành hồn ma? Ngôi giáo đường ở phố cổ cũng có ma huống hồ là bệnh viện, phải không? Anh thò tay vào chăn để nắm lấy năm ngón lạnh, anh bóp nhẹ: Chỗ em thuê có ma thành ra em cứ ám ảnh tới thế giới vô hình nọ. Debbie nhăn mặt: Ai nói cái apt. ấy có ma? Bệnh nhân nằm giường kề cận ngóc đầu lên, hắn ngó anh với khuôn mặt thiếu máu. Cho dù là rơi vào tình huống tồi tệ nào chăng nữa, chuyện ma vẫn luôn thu cất sự hấp dẫn, lôi cuốn, muốn được đón nghe; và theo bình bầu chung thì ma quỷ phương Đông rùng rợn khốc liệt dữ dằn hơn quỷ ma phương Tây.
Debbie vọc tay vào cái túi xách kiểm soát xem những vật cần thiết nhờ anh mang tới có sơ sót hoặc thừa thãi. Cái gì đây? Anh lấy từ đâu ra? Nội y này là của con Sylvie mà. Đêm qua hai người đã làm gì nhau? Đầu gã “hàng xóm” càng lúc càng ngóc lên cao. Một đôi lúc chuyện ma cũng tầm thường thôi, không sánh được bằng chuyện ghen tuông mờ ám tình tiền tù tội. Đêm qua anh bị ma đè, anh nói đằng chỗ em thuê có ma là vì vậy. Con ma kia chỉ muốn trêu chọc hai ta, và cách duy nhất để chống chọi lại nó là khẩu quyết “đoàn kết thì sống, chia rẽ là chết”. Chưa gì mà anh đã thế, mai này tôi chống gậy tật nguyền cà nhắc thì anh tha hồ lộng hành tác yêu tác quái!
Y tá đi vào trong lúc bệnh nhân bà chăm sóc đang trùm chăn lên tận đầu. Bệnh nhân run rẩy tuồng như đổ lệ tủi hờn mãi ấm ức. Y tá nói nhỏ với riêng anh: Ông nên đi về thì hay hơn, khi người ta bị chấn thương ở thể xác, tinh thần theo đó cũng yếu đuối đi. Trong thời gian tĩnh dưỡng này, khóc lóc là điều cần tránh, đêm qua anh John nằm giường bên có kể chuyện và cô Deb đã hưởng ứng bằng những nụ cười, theo tôi đó là phương thuốc chớ nên gián đoạn. Hiểu ở mặt nào đó, Deb và cá nhân tôi vô tình đã mang ơn anh John.
Anh bước ra khỏi bệnh viện, nhớ là đã hơn hai mươi bốn giờ qua miệng lưỡi chưa được thưởng thức một cốc cà phê. Anh tìm tới Starbucks, kêu một cốc đen đậm, nặng nhất mà cửa hiệu có bán. Nhấp môi hai bận thì chuông điện thoại đổ dồn trong túi áo. Tôi đây, đang ở đâu? Có nhớ không, là bọn mình cùng đi chợ Á đông mua nguyên vật liệu xong thì về nhà chung tay ninh hầm món phở? Ô kê, tôi đang ngồi ở Starbucks, chỗ gần bệnh viện đấy. Ô kê, mười phút nữa tôi lại, see you. Nhớ đấy, quán chẳng có ai, sợ ma chết khiếp!
Trong điện thoại thông minh, sóng dồn đẩy âm lượng tiếng cười trong vắt của Sylvie, nghe sướng lỗ tai. Chỉ có ma nữ mới tạo được giọng cười áp đảo thần hồn như vậy. Anh từng ngồi xếp bằng dưới gốc cây bồ đề, mắt mở thao láo canh me bóng dáng ma nữ đầy phép thuật diễu hành qua. Giữa cuộc đời điên đảo này đây, chỉ có ma nữ mới cứu chuộc ta ra khỏi cảnh địa ngục. Debbie, e rằng em cũng tin điều anh trải lòng là cả một sự thật!
Ðại dịch suốt 18 tháng nay đã và đang làm thay đổi không riêng gì nước Úc mà cả toàn thế giới. Thay đổi đủ thứ. Rõ ràng dễ thấy nhứt là cách hành xử lúc ra đường.
Mới bước ra cửa, gặp vợ của thằng cha hàng xóm người Úc, tui xáp tới định ôm. Tính má tựa vai kề, biểu lộ tình thương mến thương như mọi khi. Nhưng em lắc đầu nguầy nguậy nói: No way.
Gặp thằng chả, tui tính đưa tay ra bắt. (dẫu là Mít đặc, nhưng sống ở xứ Úc văn minh, mình phải “cọp dê”; cái gì cũng giả bộ quên tiếng Việt rồi nên chỉ OK! OK!). Ai dè nó khuỳnh tay lại. Tui né qua một bên vì sợ nó giựt cùi chỏ vô cái bản mặt của mình vì nghi tui tính ôm con vợ nó. Ai dè nó khuỳnh tay lại, chạm vào cùi chỏ của tui để thay cho cái bắt tay ngày cũ.
Rồi hồi xưa, vô ngân hàng mà đeo khẩu trang như Ninja Nhựt Bổn là bị chúng kêu lính còng đầu; vì nghĩ mình đi ăn cướp. Bây giờ, vô ngân hàng mà không đeo khẩu trang cũng bị chúng kêu lính bắt; vì tội cố tình phát tán biến thể Delta của con COVID-19 cho quần chúng nhân dân.
Thú thiệt với bà con, tui khờ câm hè, đâu biết đeo khẩu trang ra làm sao cho đúng cách. Nên tui đi hỏi ông bác sĩ gia đình. Ông chỉ tui là: “Cái gì có lỗ thì che lại! Ở nhà với vợ, nhớ che luôn hai cái lỗ tai; kẻo bị nhức đầu”.
o O o
Ðó là chuyện giao tiếp ngoài xã hội. Còn chuyện đi làm không nhứt thiết phải vô sở như xưa nữa, nếu có thể làm việc ở nhà. Giờ cao điểm vắng hoe, con đường xưa anh đi không còn nhộn nhịp. Không phải dậy sớm, vội đi làm kẻo trễ.
Vợ bữa nào cũng cho ăn bacon và trứng rán. Thiệt là chán vì ngán! Lại làm tui nhớ bàn tay u nu, ú núc của con nhỏ Úc gốc Ý mắt xanh, mỏ đỏ và mũi lõ. Nhớ cái mặt tàn nhang của em cười chúm chím pha cho tui ly cappuccino ngạt ngào hương cà phê Brazil trong sương sớm.
o O o
Hiện giờ có hơn phân nửa dân Úc, 12 triệu người ở NSW và VIC và South Australia bị giới nghiêm, bị bế quan toả cảng, bị nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Tiểu bang NSW bị nặng nhứt! Cả trăm ca nhiễm mỗi ngày. Nhứt là vùng Tây Nam Sydney như: Fairfield, Bankstown… nơi có đông bà con người Việt mình sinh sống.
So với các tiểu bang khác, Victoria cũng có nhiều cái nhứt. Số ngày dân bị cô lập, bị nhốt dài nhứt. Một năm rưỡi bị dịch vật là bị nhốt tới nửa năm. Số người chết nhiều nhứt, tới 820 trong số 935 người Úc. Và một ông Thủ hiến đổ thừa cho thiên hạ cũng nhiều nhứt.
Mông-xừ Daniel Andrews, Thủ hiến tiểu bang Victoria, đổ thừa bà đầm Gladys Berejiklian, Thủ hiến tiểu bang New South Wales, chậm lụt như con rùa lật ngửa. Dịch bùng lên ở vùng ngoại ô phía Ðông Sydney mà mãi tới 9 ngày sau, bả mới chịu ra lịnh cô lập. Hành động lề mề, chậm trễ nầy làm dịch lây lan tới Victoria.
Ngay cả một ông ở vùng quê Mildura, tiểu bang Victoria tới sân vận động MCG trong thủ phủ Melbourne xem trận đấu bóng bầu dục kiểu Úc giữa hai đội Carlton và Geelong rồi trở về nhà. Kết quả xét nghiệm của ông là dương tính. Vậy là cả một vùng quê nháo nhào đi xếp hàng chờ xét nghiệm coi có bị thằng chả lây hay không?
Hậu quả là tiểu bang Victoria bị đóng cửa lần thứ 5, kể từ khi đại dịch Coronavirus bắt đầu từ năm ngoái. Dân Victoria cực kỳ thất vọng khi bị đẩy trở lại tình trạng cô lập, chưa đầy một tháng, sau đợt cô lập suốt hai tuần gần đây nhứt!
Cảnh sát Victoria phải đến ga Flinders Street, trung tâm thành phố, lúc 7 giờ tối khi một đám đông giận dữ, cầm biểu ngữ có ghi những hàng chữ như: “Một đại dịch không cần quảng cáo. Vũ khí là một ống chích! Hãy đuổi cổ Thủ hiến Dan Andrews cho về vườn chăn vịt!”.
Họ vừa đi, vừa đốt pháo sáng, la lối om sòm tiến về Tòa nhà Quốc hội. La làng cho đỡ tức vậy thôi chớ cũng phải về nhà trước giờ giới nghiêm vì Thủ hiến Daniel Andrews loan báo là: “Quý vị sẽ bị nhốt bắt đầu từ 11 giờ 59 phút đêm nay cho tới hết ngày 27 tháng 7”.
o O o
Người thì ì ì đi biểu tình phản đối chánh phủ tiểu bang làm công việc mần ăn trì trệ khiến cho mình mậu lúi. Nhưng cũng có ông, 39 tuổi, không lo ăn mà lo yêu.
Từ Brisbane, ông bay qua Tây Úc định thăm một em (ngoài luồng) cho vơi nỗi nhớ thương thời đại dịch. Ai dè ổng bị nhốt. Ông bèn lấy ra trải giường tết làm dây. Từ lầu bốn, ông tuột tòn ten khỏi khách sạn cách ly nhưng bị lính bắt lại.
Dẫu xét nghiệm âm tính; nhưng phú lít tiểu bang Tây Úc vẫn đưa đi gặp ông Tòa. Ông Tòa phán: “Áp giải nó ra máy bay, đuổi nó về với con vợ nó ở tiểu bang nắng ấm Sunshine State, Queensland trong 48 giờ sắp tới cho ta”.
o O o
Tiểu bang Victoria bị cô lập như vậy mới thấy cái tình của người Úc với nhau trong cơn hoạn nạn. Nhà hàng Maria’s Pasta vùng Fitzroy North thăm nuôi cho ai đang bị nhốt: mì Ý, nước sauce và nước soup không tính cắc nào. Chỉ cần xách lại cái tô.
Chơi ngon vậy mà có một cha xấu miệng nói: “Bị nhốt thêm vài tuần nữa thì mấy thứ này sẽ quá date phải bỏ nên nó mới cho”. (Còn cái công nấu của người ta đâu cha nội?).
Rồi thằng chả bĩu môi chê cái nhà hàng Úc gốc Ý nầy không dám chơi sộp như đám quan chức CS trong nước. Tàu cao tốc, phi cơ Boeing 787, tụi nó dám dẹp ghế ngồi hết ráo. Lấy chỗ để chở rau, chở củ, khoai lang, khoai mì, khoai môn, khoai mỡ, khoai từ vô Sài Gòn cho dân đang bị cô lập vì đại dịch ăn độn thay cơm.
“Nói thiệt, nói chơi, hay nói xỏ vậy cha nội? Dân Sài Gòn gần 9 triệu. Mấy chiếc tàu, mấy chiếc máy bay nầy chở được bao nhiêu ký? Rồi tiền xăng dầu gấp mấy lần tiền mua tại chỗ. Chỉ có thằng khùng mới làm ngu như thế!”.
o O o
Nói nào ngay, lúc con Corona virus từ Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc bên Tàu tràn ra, thì Úc đã đóng cửa ngay biên giới quốc tế nghe cái rầm! Cùng lúc, Úc lập một hệ thống kiểm tra và truy tìm nguồn lây COVID-19 một cách hiệu quả. Số người Úc chết vì COVID-19 so với các nước khác ít hơn nhiều. Ðó là một thành công khiến nhiều nước khác phải ganh tị. Tuy nhiên giờ đây con biến thể Delta (Ðeo-ta) lây lan dữ quá, cứ “đeo ta” hoài. Làm kiểu cũ không còn ăn nữa!
Tham gia vào dàn đồng ca của giới truyền thông quốc tế chỉ trích Thủ tướng Úc Scott Morrison về cách đối phó với COVID-19, tờ Financial Times của Anh đã thẳng thừng bác bỏ lời khẳng định khét tiếng của Morrison rằng việc khai triển vaccine không phải là một cuộc “chạy đua”. Nói vậy là sai!
Tờ Financial Times cho rằng phương pháp phòng dịch bằng pháo đài không thể thành công nếu không có chương trình chích ngừa hiệu quả.
Bài báo so sánh Morrison với Boris Johnson, Thủ tướng Anh. Với khoảng 50% dân được chích ngừa đầy đủ, nước Anh đã dỡ bỏ gần như tất cả các hạn chế vào ngày 19 tháng 7.
Trong khi dân Úc: 25,693,059 người, chỉ chích ngừa đầy đủ: 2,669,571 chiếm 10.39%. Hậu quả là các thủ phủ tiểu bang như Sydney, Melbourne, Adelaide đang bị hoàn toàn cô lập khiến toàn thế giới phải sửng sốt.
Tờ báo hàng đầu của Pháp Le Monde đánh giá các biện pháp cô lập của Úc đang áp dụng là “hà khắc”. CNN thẳng thừng đặt câu hỏi: “Úc có thể tiếp tục làm như thế này trong bao lâu nữa?”.
Con Kangaroo được chọn làm quốc huy biểu tượng cho nước Úc vì nó không biết đi lui. Nó chỉ biết nhảy tới về phía trước. Năm ngoái, Úc kiểm soát được, không cho dịch bùng phát. Nhưng đất nước Kangaroo nầy lại ngủ gục trên vòng nguyệt quế. Nó không nhảy về phía trước như mong đợi; mà lại nhảy vòng vòng. Rồi lạc luôn không tìm được lối ra.
Australia đã “phung phí” chiến thắng ban đầu của mình trước virus. Ðất nước Kangaroo từ một mô hình cho thế giới noi theo thì giờ đây lại là một lời cảnh báo u ám cho các quốc gia khác biết để né!
(Chuyện xảy ra trước đây hơn mười năm. Tên những quán rượu và tên nhân vật do hư cấu, nếu trùng hợp, hoàn toàn ngoài dụng ý của tác giả.)
Tôi ngồi bó gối trong khoang đò tốc hành Sông Đốc – Cà Mau, nhìn đám người lố nhố bán buôn trên bến và những hành khách lần lượt xuống đò. Yến với Hằng đứng trước mũi, vai mang túi hành trang, đảo mắt ngó quanh quất tìm chỗ ngồi. Chợt thấy tôi, hai đứa cố chen lấn đám hành khách đi vô khoảng giữa để ngồi kế tôi cho bằng được. Cả ba lần gặp Yến và Hằng hoàn toàn do sự ngẫu nhiên, vậy mà hai đứa xem tôi như người quen thân từ lâu lắm. Đò chật nứt, chen mông ngồi chưa đụng sạp, Hằng mở miệng định hỏi gì đó nhưng Yến đã nhanh miệng hớt lời:
‘Chú đi đâu vậy?’
‘Mỹ Tho.’
‘Chừng nào chú dìa bển?’
‘Tuần tới.’
Bây giờ Hằng mới được chen vào, hỏi:
‘Rồi bao lâu chú mới dìa nữa?’
‘Có lẽ vài ba năm.’
‘Chừng nào dìa chú ghé nhà con chơi.’
Tôi ừ hữ cho qua chuyện, nào ngờ hai đứa cắm cúi ghi địa chỉ đưa cho tôi còn căn đi dặn lại biểu tôi đừng quên. Khi đò tách bến ra giữa dòng, gã thanh niên ngồi bên cạnh day qua, hỏi:
‘Tụi mày chừng nào trở xuống nữa?’
Thấy cả hai đứa không trả lời, gã bèn bồi thêm một câu:
‘Tụi mày mà bỏ đi thì ‘Hoa Biển’ sẽ ế!’
Gã thanh niên bận áo sơ mi trắng, hở cổ khoe sợi dây chuyền vàng mặt mỏ neo, quần màu xám tro, tay ôm cặp táp. Có lẽ anh ta là cán bộ huyện hoặc cán bộ xã gì đây. Thấy tôi nhìn, gã ta nở nụ cười đểu đưa ra ba bốn cái răng vàng như thầm nói với tôi: “Đừng tưởng hai con nhỏ đó hiền mà lầm!”. Yến và Hằng vòng tay bó chưn, càm kê lên đầu gối giống như hai con trút cuốn tròn, mắt long lanh muốn khóc!
Sự yên lặng của hai đứa làm tôi áy ngáy, tôi lơ đãng ngó mặt ra dòng sông. Ðò lướt nước ào ào, qua mặt những chiếc xuồng chèo dọc theo hai bên mé nước. Những thiếu nữ áo bà ba đủ màu sắc, quần đen mượt, đầu đội nón lá, hai tay ghì chặt cán chèo đưa đẩy, xuồng nhẹ lướt nước theo nhịp đẩy của mái chèo. Hình ảnh anh trai làng đứng chèo chở cô thôn nữ trên chiếc xuồng ba lá trông giống như một bức tranh ngày mùa.
À, đây là cảnh quê hương mà tôi đã ước mơ trong những năm dài nơi xứ lạ quê người, tôi ước ao một quê hương yên bình, tôi sẽ trở về sống đời sống bình thường với quê hương và quên đi những ngày lưu lạc. Nhưng khi nhìn qua Yến và Hằng tôi nhớ lại trong những ngày về bên dòng sông cũ. Và một ý nghĩ mới lạ len lỏi vào tâm tư. Phải rồi, cái ý nghĩa của sự thanh bình đâu chỉ đơn giản trên một giòng sông!
***
Đúng ra lần nầy tôi trở về Sông Đốc cũng được, hổng về cũng chẳng sao. Vì những việc còn lại sau đám ma của má tôi, anh Bảy và chị Năm tôi ở nhà lo cũng được. Nhưng hôm chị Sáu sửa soạn về Úc, chỉ có dặn tôi:
‘Chị có nhờ anh Hai ở Mỹ Tho đặt trên thành phố làm tấm bia, em chịu khó lên trển lấy, gắn xong cho má rồi hả dìa bển.’
Ngày trước vì hoàn cảnh chiến tranh, ba má tôi phiêu bạt xuống miệt này. Mãi đến ngày ba tôi giải ngũ, ông bà mới dắt nhau về xứ sở. Ông bà nội, ngoại tôi đã qua đời. Mang ân hận ở trong lòng, nên mỗi khi nhớ tới, hai người tủi thân sụt sùi rơi nước mắt, nói: “Giàu đặng trung đặng hiếu, nghèo mất thảo mất ngay”. Và cũng vì nghèo quá ba má tôi phải thêm một lần nữa dắt bầy con tha phương cầu thực.
Còn tôi không phải nghèo mạc rệp đến đỗi không có tiền mua vé xe đò về xứ như ba má tôi. Ai đi xa về thì phải rủng rỉnh tiển túi, nhứt là đi nước ngoài, khi trờ về phải sang thiệt là sang, sang giống như… Việt Kiều mới được. Còn tôi chỉ là một tên giang hồ vặt vảnh, không nhà cửa, không gia đình, tài sản chỉ có vài bộ quần áo lưng lửng trong một chiếc vali. Nếu không hay tin má tôi qua đời thì tôi cũng chẳng về đây để làm gì. Cũng vì lẽ đó mà anh chị em trong gia đình xem tôi như người con bất hiếu. Sợ tôi mang mặc cảm tội lỗi, hễ có dịp tỏ lòng hiếu thảo thì anh chị em ‘nhường’ cho tôi làm. Theo tôi, chuyện hiếu thảo là chuyện của tấm lòng, màu mè bên ngoài chỉ là hình thức không đáng kể. Tuy nhiên tôi đồng ý đi hàng trăm cây số lấy tấm bia, là vì tôi nhận thấy việc làm này có ẩn chứa một ý nghĩa thiêng liêng nào đó.
Cũng như những tấm bia mộ khác, khắc tên họ, ngày tháng năm sanh và ngày tháng năm từ trần. Cuối cùng có hàng chữ ‘các con lập mộ’. Đại khái vậy thôi, nhưng ở suối vàng, má tôi biết được chắc bà sẽ vui lòng vì khi bà mất, các con tản lạc tứ xứ đã tụ hết về đây cùng góp phần xây mộ cho bà. Thấy chân dung cẩn trên tấm bia hơi mờ, tôi thắc mắc hỏi vì sao? Anh Hai, người anh bạn dì của tôi ở Mỹ Tho giải thích: “Tuy hình cẩn vô bia không được rõ ràng, nhưng mưa gió, thời gian sẽ không làm phai nhạt”. Ảnh nói sao tôi nghe vậy, chớ thiệt ra tôi thấy bên Âu Châu những thợ cẩn kiểu nầy đứng ngoài đường phố, chụp ảnh khách hàng rồi cẩn liền tại chỗ vô tách, ly, dĩa… bằng sành, để người ta đem về nhà chưng trong tủ kiếng. Hình ảnh màu sắc rõ ràng, chớ đâu mờ câm như chiếc bóng, mà còn phải đặt tuốt trên Sài Gòn mới làm được.
Tuy vậy tôi cũng cẩn thận gói tấm bia lại bỏ vô bao. Đêm hôm đó tôi ngủ lại nhà anh Hai ở Mỹ Tho, rạng sáng hôm sau tôi ra bến xe liên tỉnh đi thẳng một lèo về bến xe Cà Mau. Sau đó tôi đón xe lôi xuống bến đò.
Không quen cách sinh hoạt nơi đây, khi đổi tiền, tôi nhét đầy túi quần túi áo, cho nên chen chúc giữa đám đông, tôi sanh nghi những người chung quanh ai ai cũng là dân chôm chĩa, cứ chốc lát tôi rờ túi thăm chừng. Thật ra chỉ vì ở Âu Châu không khi nào tôi bỏ tiền nhiều trong túi nên bị ấn tượng đó thôi chớ xứ sở này chắc đâu đến đỗi tệ dữ vậy.
Xe lôi vừa đổ tôi xuống bến đò, tức thì cả đạo quân phu đò vây quanh mời la chói lói. Người này hỏi: “Anh dìa Khánh Hưng, Đá Bạc hả? Xuống đây chạy liền”, kẻ nọ hỏi: “Anh dìa Bà Kẹo, Cái Đôi hả? Xuống đây chạy liền”. Tôi nói: “Tui dìa Sông Đốc vàm”. Tức thì một anh chồm tới hô lớn:
‘Sông Đốc hả? Sông Đốc vàm, xuống đây, xuống đây chạy liền!’
Anh ta vừa nói vừa giơ tay chỉ xuống chiếc vỏ lải đậu dưới bến. Những ngày đầu tôi rất khó chịu khi nhìn cảnh giành giựt khách của mấy anh lơ xe, phu đò và sự bán buôn mời mọc, nhưng dần dà tôi cảm thấy vui vui. Để khỏi lôi thôi mất thời giờ, tôi nói với anh ta:
‘Được rồi, tui sẽ đi đò anh, nhưng tui chưa xuống bây giờ, tui ngồi ở quán cơm bên kia đường, chừng nào đò anh ‘chạy liền’ anh qua đó kêu tui thì tui xuống liền!’
Anh lái đò thấy tôi dí dỏm cũng có duyên, anh ta cười một cái rồi ân cần bước theo tiễn tôi tới cửa quán cơm. Có một chiếc xe lôi mới đổ người xuống, cũng những giọng ban nãy: “Khánh Hưng, Đá Bạc chạy liền”, “Bà Kẹo, Cái Đôi chạy liền” và có cả tiếng anh phu đò của tôi: “Sông Đốc, Sông Đốc vàm chạy liền”…
Hôm mới về tôi thấy một cô gái duyên dáng ngồi bán cơm trong quán, nhưng bây giờ lại là một bà già và một bé gái trạc tuổi mười ba, mười bốn chạy bàn. Thấy tôi bước vô em lăng xăng, miệng tía lia:
‘Chú chú, mời chú vô trong kia ngồi.’
Tôi theo em đi vô trong góc quán ngồi xuống cái ghế nơi có chiếc bàn trống.
‘Chú ăn gì?’
Chưa đợi tôi mở miệng thì cô bé đã kể vanh vách:
‘Ở đây có cơm sườn, thịt nướng và cháo lòng; nước uống có cà phê đá, nước đá me, nước chanh…’
Cô gái còn muốn kể thêm nhưng tôi chận:
‘Ở đây có rượu hông?’
‘Dạ, dạ có, chú uống rượu đế hả chú?’
‘Ừ cho chú một xị và một dĩa sườn nướng.’
‘Dạ, chú ăn cơm hông chú?’
‘Hông cưng.’
Cô bé đi vô trong tự tay gắp thịt bỏ lên lò nướng. Sẵn than đương đỏ, mỡ sườn nhiểu xuống, lửa phựt xèo xèo, mùi gia vị bốc lên thơm lừng.
Tiếng la ó như ong vỡ tổ bên ngoài làm tôi giựt mình ngó ra. Một chiếc tàu đò vừa cặp bến. Người lên kẻ xuống lao xao, mấy anh khuân vác chuyền nhau những bao bố nặng trịch. Tôi đoán chừng, đó là những bao cá khô đồng được chở ra từ miệt U Minh.
Cô bé khệ nệ bưng mâm rượu và thức ăn ra để trên bàn, sắp ngay ngắn, rồi nói:
‘Mời chú.’
Tôi cám ơn rồi rót rượu ra nhâm nhi và nhấm nháp thức ăn. Những người bán buôn theo bến xe, bến đò lúc nào cũng hấp tấp, vội vàng. Những phần ăn dành cho khách đường xa thì thiếu vệ sinh. Rượu pha nước nhiều quá nên lạt nhách lạt nhẽo, sườn nướng bủng xì bủng xịt, nước mắm chế biến làm sao mà hương vị như nước muối pha dấm đường. Vậy mà những người ngồi bên kia bàn hì hục vừa ăn vừa húp trông ngon đáo để. Mấy em nhỏ bận áo quần như tấm lưới rách, đi tới đi lui chờ thực khách ăn xong, chúng bưng thức ăn thừa đổ vô chiếc thau nhôm móp méo, đóng ten, có đứa cúi xuống húp cặn tô nước lèo. Tôi rót rượu uống liền liền, nhưng rượu lạt quá chưa đủ độ ngăn chận nỗi buồn dâng lên cùng khắp.
‘Anh ơi anh! Xuống đò, tới giờ chạy rồi!’
Tôi ngó ra, thấy anh phu đò hồi nãy giơ tay ngoắc ngoắc, miệng hối lia hối lịa. Tôi hớp vội hớp rượu cuối cùng, xếp lại đồ đạc, kêu cô gái tính tiền và thưởng cho cô phần tiền dư. Tôi nhìn xuống đồng hồ tay, hơn ba giờ rưỡi. Tính ra từ lúc anh phu đò mời tôi đến khi đò ‘chạy liền’ mất gần hai tiếng đồng hồ.
Tôi là người xuống cuối cùng, nên khi chen ngồi ngay ngắn xuống khoang, thì đò đã de ra khỏi bến. Máy xe hơi được tân trang gắn đuôi tôm, đặt xuống chiếc vỏ lải chạy xé nước ào ào, đúng là đò tốc hành thứ thiệt. Tôi thích thú ngồi ngó lên dãy nhà hai bên bờ sông giựt lùi. Chẳng bao lâu đò đã ra khỏi ngã ba Tắc Thủ và rẽ ra sông Ông Đốc.
Đây dòng sông rộng, hai bên ruộng lúa, chen lẫn vài tán rừng, xa xa vài vườn dừa cao đọt in dưới nền trời xanh xanh và mây trắng gợn. Sóng chập chờn tạt nước vô khoang. Chủ đò liền buông rèm xuống. Ngắm cảnh không được nữa, tôi mới day người lại dựa vô be đò. Hành khách trong khoang không đông lắm, nên ngồi rất thoải mái. Những người dân quê lên tỉnh trở về trông người nào cũng mệt lả, có vài người lim dim ngủ gà ngủ vịt, một bà mẹ ngồi vạch vú cho con bú rất tự nhiên. Ngồi cạnh bên tôi có hai cô gái trạc mười sáu mười bảy tuổi. Cô bận áo màu xanh lá cây, cổ tròn, quần đen đọc chầm chậm: “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không duyên, đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành…”. Cô bận bộ đồ bông ngồi cắm cúi ghi ghi chép chép bài hát xuống quyển sổ học trò kê trên bắp đùi. Nhìn hai cô gái hồn nhiên với bài hát của tuổi yêu đương, tôi cũng vui lây.
Đợi cô bận áo xanh đọc hết câu, tôi hỏi:
‘Cô tên gì dậy?’
Cô bé lễ phép trả lời:
‘Dạ con tên Yến chú.’
‘Còn cô kia?’
Nghe tôi hỏi cô bận bộ đồ bông đương đọc rà lại bài hát ngưng ngang, ngước lên trả lời:
‘Dạ, con tên Hằng.’
‘Hai cô ở Sông Đốc vàm hả?’
Yến đáp:
‘Dạ hổng phải chú, tụi con quê ở Long An, xuống thăm bà chị ở Sông Đốc.’
Bắt được chuyện tôi bèn hỏi tiếp:
‘Chị cô mần gì ở dưới?’
‘Dạ, bán quán cà phê.’
‘Quán nằm khu nào?’
‘Dạ, tụi con mới xuống đây lần đầu nên cũng hổng biết nữa, nhưng bà chị có dặn khi tới Sông Đốc vàm hỏi quán Hoa Biển thì nhiều người biết.’
‘Hoa Biển… tên nghe hay quá hén.’
Hằng chen vô, hỏi:
‘Mà chú biết hôn chú?’
‘Rất tiếc, chú đi mần ăn xa, lâu lắm rồi chú mới dìa nên chú hổng biết.’
Chuyện vãn trời trăng mây nước một hồi, đò đã tới bến huyện. Chúng tôi mua bánh mì thịt, nước đá chanh chia nhau ăn uống. Nhờ trên đò có bạn đồng hành, tôi cảm thấy đường sông rút ngắn lại. Chẳng bao lâu đò đã đến Sông Đốc vàm, tôi từ giã suông hai đứa, bước lên bến và không nghĩ sẽ gặp lại dầu bất cứ ở nơi nào.
Xong chuyện mồ mả, tính ra tôi còn lưu lại Sông Đốc được hơn hai tuần lễ. Trong thời gian này tôi có thể thăm bạn bè và viếng cảnh quê hương. Nhưng sau những ngày tang chế, đi tới đi lui mệt mỏi, trước tiên tôi cần nghỉ ngơi cho khoẻ cái đã. Chiều hôm đó tắm rửa, cơm nước xong tôi lên giường đánh một giấc thẳng cẳng…
Đương mê man trong giấc ngủ chợt nghe như có tiếng sấm sét nổ vang. Phản ứng tự nhiên, tôi ngồi bật dậy bước nhanh xuống giường. Cùng lúc tôi nhận ra, cái quán cà phê cạnh bên nhà mở máy hát gì mà nghe như tiếng pháo kích. Dòm đồng hồ tay mới có năm giờ sáng, có lẽ người trong nhà đã quen với cảnh nầy nên còn ngon giấc. Tôi nằm xuống định ngủ lại, nhưng máy cứ hát hết liên khúc này tới liên khúc khác, làm tôi không sao chợp mắt.
Trời vừa sáng, thằng Hiếu với thằng Chiến vô nhà rủ tôi ra phố uống cà phê. Uống chưa hết tách cà phê thì thằng Hân tới, như đã hẹn trước, tụi nó đứng dậy trả tiền cà phê, rồi kéo tôi xuống bến sông kêu đò đi qua vàm xẻo Quau.
Tôi thắc mắc, hỏi:
‘Mởi tảng sáng mà tụi mày qua xẻo mần gì? Bộ muốn bắt ba khía hả?’
Thằng Hân giọng có vẻ hãnh diện, nói:
‘Xẻo Quau bây giờ hổng có rừng rú như hồi trước nữa đâu nghe mậy.’
‘Có gì ở bển?’
‘Thì qua bển đi rồi sẽ biết.’
Xẻo Quau ngày trước là một thẻo đất với rừng cây dà, cây dá, cây mắm, cây dẹt, mọc tạp nhạp và có một vườn cò trong khu rừng chà là. Hai bên rạch xẻo ô rô, cóc kèn, dây choại đan chằng chịt với nhau. Nhờ rừng rú âm u rất thuận tiện cho cá tôm sanh sôi nẩy nở, nâng đỡ rất nhiều dân nghèo còn chưn ướt, chưn ráo tới đây lập nghiệp. Gia đình tôi cũng có một thời gian sống nhờ tài nguyên của con xẻo nầy.
Bây giờ thì khác hơn xưa nhiều lắm, nhà cửa mọc lên như nấm. Dọc theo bờ sông nhà sàn dựng lên lổm chổm. Đò cặp vô một căn nhà sàn rộng, lúc chưa bước lên tôi ngỡ đây là một vựa cá tôm khô gì đó. Nhưng sao không nghe mùi khăn khẳn quen thuộc? Sự thắc mắc nầy chưa được hỏi, thì sự ngạc nhiên kia liền tràn tới. Vừa bước lên bến cầu, một chị phấn son lòe loẹt từ trong buồng đi ra vồn vã chào mời:
‘Lâu rồi mới thấy mấy anh qua chơi.’
Đoạn chị ta day qua tôi, nói:
‘Mấy anh nầy thì quen quá rồi, còn anh tui ngờ ngợ đã gặp ở đâu rồi.’
Cái kiểu nói dóc một cách ‘lịch sự’ trơn tru như vầy tôi không mấy gì ngạc nhiên. Tôi gượng cười và nói:
‘Ờ, gặp nhau hồi mười mấy năm trước ở đâu đó.’
Chị ta cười một cái:
‘Mấy anh chờ chút.’
Có lẽ mấy thằng bạn của tôi đã quen sinh hoạt với quán. Tụi nó tự động rinh bàn ghế trong góc nhà sắp ra một khoảng trống. Cạnh bên có một căn buồng che bốn phía bằng những tấm màn bông, tôi đoán chừng có một nhóm người đương ăn nhậu ở trỏng vì có tiếng cười nói lào xào. Như thể xác định sự thắc mắc của tôi, một người đàn ông đứng tuổi, bận quân phục, vai mang quân hàm đỏ tươi, từ trong vẹt màn đi ra. Mặt ông ta đanh cứng, đỏ ngầu, không ngó ai, ông đi thẳng ra sàn cầu, đứng vạch quần đái lỏn tỏn xuống sông.
Sau khi sắp xong bàn ghế, các bạn kêu tôi cùng ngồi. Cái chị hồi nãy, tôi đoán là chủ quán, từ trong đi ra, chị ta kéo rẹt rẹt bốn tấm màn bông treo bốn bên lại. Trong nháy mắt chúng tôi ngồi trọn lỏn trong căn buồng dã chiến. Tôi hơi sửng sốt, không ngờ ở nơi mà lòng tôi luôn nghĩ là khỉ ho cò gáy lại có chuyện lạ như vầy. Liền đó Yến cùng với ba cô gái khác ăn bận hở hang, lòe loẹt, mặt trét phấn, môi thoa son như sắp sửa ra tuồng, mỗi cô cầm một chai bia khui sẵn và một cái ly. Cái chị hồi nãy bưng ra một dĩa đậu phộng để lên bàn, rồi phân chia mỗi cô ngồi cạnh một chàng. Tôi từ xa mới về được các bạn nhường cho cô trẻ nhứt là Yến. Chị chủ coi như xong nhiệm vụ, chị ta lịch sự rút lui ra ngoài, nhưng không quên chúc chúng tôi ăn chơi vui vẻ.
Mọi chuyện diễn biến quá nhanh làm tôi cứng mình không kịp phản ứng gì hết. Bạn bè đặt đâu tôi ngồi đó, rủ uống tôi uống, mời ăn tôi ăn. Thằng Chiến nhướng mắt ra hiệu biểu tôi ‘làm gì’ với Yến đi… Đời tôi phiêu bạt đã nhiều và nhớ quê nhà lung lắm. Nhưng hôm nay tôi trở về đây đâu phải vì nhớ nhung ba cái chuyện tầm bậy tầm bạ nầy. Cho nên tâm trí tôi lúc nào cũng quay về người xưa cảnh cũ. Giả dụ bây giờ là một đêm đầy trăng, dưới dòng sông ngập ánh lung linh, hiện tại đều biến mất, còn lại một chòi lá xác xơ, mơ màng bên khu rừng tạp nhạp. Tôi sẵn sàng đóng vai chú Bảy Chài, bác Tư Cua hay ông Ba Đặt Lợp… rồi tôi sẽ kể cho con Yến nghe những câu chuyện về người dân trước đây với hai bàn tay trắng, nhờ sự tương ái với nhau mỗi khi tắt lửa tối đèn, họ khai hoang rừng rậm lập nên làng xã. Cũng từ đó, mới có tiếng hát hò của gái, trai miền sông nước cất lên giữa đêm khuya thanh vắng…
Có lẽ thấy tôi không bộp chộp nên Yến mới rụt rè, bưng ly lên, nói:
‘Mời chú.’
Bất chợt thằng Chiến nổi quạu móc tiền chìa qua cho Yến rồi quát:
‘Nè, cầm lấy rồi đi ra ngoài!’
Tôi ngạc nhiên day qua hỏi:
‘Cái gì vậy mậy?’
Nó trả lời với vẻ bất bình:
‘Bộ mầy hổng thấy nó kêu mầy bằng chú hả?’
Tôi nói:
‘Tưởng chuyện gì, chớ tao thấy Yến cũng cỡ tuổi cháu tao ở nhà.’
‘Nhưng mà chỗ này thì khác, mày ở ngoải mới dìa hổng biết chớ chơi với mấy đứa này mà thiệt thà quá nó lờn mặt.’
Tôi cười. Bạn bè rủ mình đi chơi vậy mà uống chưa hết ly bia đã muốn gây lộn với người ta rồi. Tôi định nói ý mình cho nó nghe, nhưng thấy không tiện nên mới xoa dịu:
‘Thôi, tao biết rồi cho tao xin, đương vui vẻ mà.’
Đoạn tôi day qua Yến, nói:
‘Cháu cứ tự nhiên, thằng bạn chú nó hơi cà chớn.’
Nói xong tôi mới bưng ly lên mời bà con vô một cái. Có như vậy thằng Chiến mới im cái miệng và nhét tiền vô túi. Thằng Hiếu không biết nghĩ gì cứ nhìn tôi cười cười, lâu lâu hớp một ngụm bia, nuốt ực rồi day qua con nhỏ ngồi bên hun cái chụt. Còn thằng Hân vô mấy chai sần sần, nổi hứng ôm con nhỏ kế bên, vừa hun vừa bóp vú như thể chết thèm đâu từ đời kiếp nào vậy.
Tôi kiếm chuyện dả lả với Yến để cho mấy thằng bạn dân chơi ‘miệt biển’ của tôi khỏi bận tâm rầy rà. Tôi hỏi:
‘Yến bao nhiêu tuổi?’
‘Dạ, mười bảy.’
‘Mười bảy bẻ gãy sừng trâu.’
Yến cười duyên rồi ngả đầu lên vai tôi. Nhìn con nhỏ mà lòng tôi đầy ắp nỗi buồn. Mấy đứa cháu tôi ở nhà cũng cùng trang lứa, tuy không giàu có nhưng chúng nó may mắn đủ cơm ăn áo mặc, có cha mẹ lo lắng đàng hoàng. Còn Yến cha mẹ ra sao mà mới tuổi này đã lao vào cuộc sống trụy lạc như vầy. Tôi muốn hỏi về gia cảnh của Yến nhưng ngại. Bạn bè bày tiệc đãi tôi với mục đích giới thiệu cảnh quê hương đổi mới. Nhưng tôi cứ lo hỏi chuyện đâu đâu, chỉ tổ gây khó chịu bạn bè. Thấy tôi cứ mãi trầm ngâm nên Yến mới gợi chuyện:
‘Bộ chú là Việt kiều hả chú?’
‘Ừa.’
‘Dậy mà hồi gặp chú con hổng biết.’
‘Dậy hả. À, còn cô gì đi chung với Yến đâu rồi?’
‘Con Hằng hả, nó đang ngồi hát bên kia kìa.’
Tôi lắng tai nghe phía buồng bên kia, có tiếng đũa gõ vô chén dĩa lóc cóc leng keng nhịp theo tiếng hát, điệu dân ca: “Trèo lên… lên trèo lên.. lên em cởi cởi nút quần…” Tiếng hát dứt ngang, tiếp theo tiếng ai ái của người con gái và tiếng cười rộ của mấy gã đàn ông…’
Âm thanh bên kia buồng như gợi hứng cho mấy thằng bạn của tôi. Bây giờ tụi nó không còn ra vẻ sành sỏi để lưu ý tôi nữa, mạnh đứa nào đứa nấy vạch vú của mấy con nhỏ vừa bóp vừa hun. Bên trong kia có một cái buồng kín, cứ một lát lại nghe dội nước rào rào. Chưa đầy mười một giờ sáng nắng đã tỏa vàng trên mặt sông và gió chướng hiu hiu thổi, vậy mà không khí trong phòng ngột ngạt làm sao. Tôi đứng dậy, móc túi giơ cho Yến tờ giấy bạc, Yến cầm lấy nói lời cám ơn trong cổ họng. Mấy bạn tôi giựt mình, buông mấy cái ‘vú’ ra và hỏi tôi tại sao chưa ‘chơi’ gì hết mà định bỏ đi đâu. Tôi viện cớ, cần về nhà bàn với anh tôi chút chuyện. Hiếu đề nghị Chiến và Hân ở lại tiếp tục chơi, rồi câu vai tôi ra bến gọi đò.
Khi đò vừa de ra khỏi bến, tôi ngó lên thấy trên vách có tấm bảng nền xanh đề chữ màu đỏ: ‘Cà Phê Hoa Biển’. Tôi đã sống lăn lộn đó đây, dễ dàng thích nghi với hoàn cảnh bất cứ ở nơi nào, vậy mà về lại quê hương tôi phải cố gắng hòa hợp với mọi người như đến một xứ lạ. Tôi bị lạc loài ngay trên chính quê quán ngỡ còn mộc mạc của mình. Đò ra giữa dòng, mà tôi vẫn còn như mộng. Chợt Hiếu hỏi tôi:
‘Mầy còn nhớ Lệ Hương hông?’
‘Nhớ chớ.’
Một kỷ niệm đẹp thoáng hiện về trong trí, tôi liên tưởng ngay đến một cô hàng quán, duyên dáng, khuôn mặt tròn trịa, mắt đen lay láy, chưn mày rậm, môi không thoa son nhưng lúc nào cũng đỏ mọng. Tóc Lệ Hương đen mượt và dài tới mông, nàng thường bận áo cổ rộng, đeo dây chuyền vàng mặt cẩm thạch kiểu trái tim ôm vừa cần cổ trắng nõn trắng nà. Tôi và Hiếu có thể đến nhậu bất cứ lúc nào và ký sổ bao nhiêu cũng được. Hai đứa đều mê Lệ Hương, cuối cùng nàng chọn thằng Hiếu vì nó đẹp trai hơn tôi rất nhiều.
Tôi hỏi:
‘Lệ Hương dạo này ra sao?’
Hiếu trả lời một cách bình thản:
‘Cô ta bây giờ làm ‘chị đĩ’ ở ngoài đê, mầy muốn hông? Tao dẫn mầy đi!’
Như bị tát thêm ly nước lạnh vô mặt, tôi nói một câu không cần phải dè dặt nữa:
‘Đủ rồi, chắc tao hổng còn gì để thăm và cũng chẳng còn gì để lưu luyến…’
‘Mày nói sao?’
‘. . . ‘
Những gương mặt hiền lành, những tên gọi chất phác tôi giữ ở trong lòng trong những năm lưu lạc giờ đây đã tan biến. Làm sao những địa danh rạch Ruộng, rạch Bần, xẻo Quau… lại có thể ăn nhập với những từ Hoa Biển, Chiều Tím, quán Trầm, quán Gió, khiêu gợi hơn nữa có quán Sáu Cô? Chợt nhiên tôi thấy lòng mình trống trải, không là nỗi trống trải của dòng sông dài và rộng trước mặt, mà là sự trống vắng của biển đêm đen đặc, mênh mông.
***
Chiếc vỏ lải cứ lướt nước ào ào. Sông Đốc vàm từ từ biến khuất vào con doi thứ nhứt. Quê hương tôi chỉ còn lố nhố những ngọn ăng-ten. Tôi day lại, thấy Yến và Hằng vẫn ngồi co ro gục mặt lên đầu gối. Gã thanh niên vẫn tiếp tục chọc ghẹo bằng những lời xàm sỡ… Trong những hành khách ngồi chung quanh, có người thản nhiên, có kẻ khinh khỉnh cười. Tôi muốn nói vài câu chận lời gã để Yến và Hằng còn có thể ngước mặt lên nói chuyện bình thường như mọi người. Nhưng quai hàm tê cứng, tôi ngồi đó ấm ức như một người câm.
Suốt mùa xuân, cuối tuần nào Phương Nghi cũng tìm lý do tới nhà bác Huế. Tôi chào hỏi qua loa, giả vờ quen mà không thân. Nó đưa hai em Đông và Hà đi ăn kem ăn chè, đi dạo bờ biển. Tôi muốn tháp tùng di theo, nhưng e bác Huế nghi ngờ. Chúng tôi trao đổi với nhau vài quyển sách. Tất cả dều là cái cớ. Mục đích chính là để liếc nhìn nhau và nói những câu bâng quơ chẳng liên quan gì tới tình cảm. Bao nhiêu thương nhớ, chúng tôi trải đầy trong những lá thư kẹp vào quyền sách khi trả lại, Coi như ngoài chuyện trao đổi sách, chẳng còn tình ý gì khác. Có lần bác Huế hỏi, răng con không đi chơi với Phương Nghi và hai em? Tôi nói, di với tụi nó ngoài đường dể bị hiểu lầm. Bác hỏi, hiểu lầm răng? Tổi nói, sợ người ta sẽ nghĩ con thích nó. Bác cười, Phương Nghi đóng kịch khéo lắm, sợ chi?
Tôi hỏi, nó đóng kịch gì hả bác? Bác nói, trong tuồng Lã Bố hí Điêu Thuyền, nó đóng vai đào lẳng, liếc con mắt đứt đuôi luôn. Tôi làm bộ, con có thấy nó liếc ai đâu? Bác dứ dứ ngón tay, răng con cứ vờ với bác? Lấy vải thưa mà che mắt thánh được à?
Tôi báo động ngay với Phưong Nghi, về những lời bác Huế. Nó sợ, không dám tới lui nửa. Bé Đông thành sứ giả giao liên giữa tôi và Phương Nghỉ. Con bé chạy qua chạy lại như con thoi, cầm những quyển sách có giấu những bức thư tình mùi mẫn. Nó cho biết, thư tôi làm nó rưng rưng nước mắt. Đêm nó ấp những lá thư vào ngực mà ngủ, với nhiều mông mị chiêm bao. Tôi bồi hồi xúc dộng, tưởng có thể chết vì nhau.
Mùa hè năm ấy, bé Đông thi tuyển, đậu vào đệ thất trường Nữ Trung Học, Nha Trang, Hai bác Huế Quảng cho đó là công tôi dạy kèm. Nhưng tôi biết con bé học rất giỏi, không có tôi, nó vẫn đạt kết quả tốt. Gần dến kỳ thi trung học đệ nhất cấp, chúng tôi ít thư từ qua lại. Hai đứa bận vùi đầu vào bài vỡ. Tội vốn mất căn bản,
nên chuyên môn học “bài tủ”. Hy vọng đời vẫn có những cơ may bất ngờ. Ngày bước vào phòng thi, tôi tháo mồ hôi với hai môn toán lý hóa. Gãy hai môn có hệ số cao, tôi về nằm rũ trên tầng gác. Người choáng váng lững lơ. Nhìn ra cửa sổ. cành dương in lên bẩu trời một màu xanh ngăn ngắt. Buồn hiu rỗng lặng.
Phương Nghì lại đến, sau một thời gian dài không đến. Bé Đông réo gọi tôi xuống, nhưng tôi cáo bệnh, Nó xin phép bác Quảng, theo con bé lên gác thăm tôi. Tôi nằm trùm mền, quay mặt vào vách.
Nó kéo ghế, ngồi sát bên giường: “Anh Hiên, bệnh thế nào?”
Tôi nói: “Cảm xoàng thôi.”
Bé Đông nói: “Thi xong là anh Hiên bệnh luôn.”
Nó bảo: “Anh quay lại cho Nghi nhìn.”
Tôi trở mình quay lại,
“Mới bệnh mà trông anh hốc hác ghê.”
Nó đặt bàn tay lên trán tôi, thăm dò. Bàn tay dịu dàng ấm ấp. Có lẽ, nó biết tôi không bệnh gì cả.
Nó nói với bé Đông: “Em xuống nhà lấy cho chị mươn cái khăn ướt đấp trán anh Hiên.”
Bó Đông đi khỏi. Tôi cầm bàn tay nó, úp lên mặt mình. Nó nhẹ rụt tay về, cúi đầu sát xuống, Tóc nó đổ lên mặt tôi. Mùi tóc, mùi da thịt và hơi thở của nó làm tôi ngây ngất. Tôi ghì mặt nó, hôn lên má. Tôi mười bảy tuổi, mới hiết cái hôn nồng nàn lần dầu tiên, cùng lúc với nỗi lòng xót xa tan nát. Khi nó ngẫng lên vuốt lại mái tóc gọn gàng, khuôn mặt nó toát ra cái vẽ trong sáng, đẹp não nùng. Tôi nhìn nó chăm chăm, khắc ghi một hình ảnh. Hình ảnh như gần như xa. Phương Nghi là một vưu vật ở trần gian. Tôi số hèn phận mỏng, làm sao đủ phúc đức giữ được báu vật trên đời?
Nghe tiếng bé Đông lên tầng gác, nó sửa lại thế ngồi chững chạc.
Tổi nằm đấp khăn ướt lên trán.
Nó hỏi: “Bài thi của anh ra sao?”
Tôi đau khổ: “Hỏng rồi. Còn Nghi?”
Nó không trả lời tôi. Nét mặt buồn không thể tả. Tôi biết nó buồn cho tôi. Hai đứa im lặng một lúc lâu. Nó quay ra bàn. ngồi hí hoáy viết gì đó vào mảnh giấy, rồi xếp lại thật nhỏ. Trước khi xuống tầng gác, nó kín đáo nhét mành giấy vào tay tôi. Tôi nằm lại với nỗi trống không. Thần trí hụt hẫng như rơi vào hoang liêu vô tận.
Lúc nghe dưới nhà có tiếng nó chào bác Quảng để đi về, tôi giờ mảnh giấy ra đọc, “Anh Hiên ơi! Dù thi cử có thế nào, cũng dừng bỏ em. Phương Nghi,” Có lẽ nào nó linh cảm được rằng chuyện tình của nó và tôi, sắp bước vào một khúc quanh huồn thảm? Tôi trùm mền, ứa nước mắt.
Tôi mơ làm nhà văn. Tác phẩm đầu tay của tôi là lá thư tình tám trang học trò. Gửi đi rồi bị trả về với lời phê bên lề “Văn chương sến, đơn bị bác”. Thời đó chữ “sến” dùng chỉ các cô giúp việc, họ thích những bài hát nỉ non, những câu vọng cổ mùi mẩn nhưng rỗng tuếch. Lá “Đơn xin tình yêu” của tôi trước khi trả lại, đã được chuyền tay nhau đọc và phê bình khắp trường Trần Quí Cáp. Hội An là thành phố cổ thuộc tỉnh Quảng Nam, nhỏ chút xíu, chẳng mấy chốc tôi nổi danh, chúng gọitôi là “Thằng Sến”. Mà người tôi yêu chẳng có gì đặc biệt, sau nầy lớn lên, xa nhà, thỉnh thoảng ghé về phố cũ, gặp lại “thần tượng”, tôi ngạc nhiên sao mình say mê được! Đó là cô bé lớp đệ ngũ tóc dài, mắt đen, dung nhan cũng tạm, chỉ có chiếc miệng hơi móm. Mà tôi lại yêu cái miệng móm đó mới chết chứ! Cô ta tên Mai Móm để phân biệt với các cô Mai khác. Từ đó tôi không bao giờ viết thư tình. Yêu ai tôi nhờ người khác nói dùm. Tôi muốn thành nhà văn vì mấy ông thi sĩ, văn sĩ là thần tượng của bọn học trò. Tôi xấu trai, học dở, nên chỉ có cách là làm văn sĩ họa may các người đẹp mới để mắt đến. Thế nên sách báo nào liên hệ đến sáng tác, văn chương tôi đều tìm đọc, nghiền ngẫm, rồi thử theo sách dạy. Nhưng chỉ viết đến trang thứ hai là tôi tịt, không có cách nào làm cho nhân vật suy nghĩ, hành động đúng như ý tôi. Nó cứ ỳ ra đó, như một tượng gỗ không hồn. Tôi đoán có nguyên nhân gì đây? Thời đó Hội An có một anh chàng, thỉnh thoảng có truyện đăng trên báo, nhất là báo Tiếng Chuông ở Sài Gòn, trong trang ruột có mục “Cuộc thi truyện ngắn”. Thế giới người mù kẻ chột làm vua, anh ta được nể phục lắm. Trong giới học trò làm thơ thì nhiều chứ viết truyện rất hiếm. Tôi tìm cách làm quen với anh văn sĩ nầy. Một lần tôi xin gặp anh để hỏi về bí quyết viết văn. Thấy được trọng vọng, anh chịu liền. Anh bảo:
– Viết văn là một thiên tài – Ý anh muốn nói anh là thiên tài – Chả ai dạy, chả ai học được. Tiếp theo là phải có cái gì trong lòng muốn nói ra. Sau cùng đừng viết sai chính tả, sai văn phạm.
Tôi tâm sự là tôi mê một cô bé tức là tôi có cái gì trong lòng cần nói ra, vậy sao thư bị trả lại? Anh bảo:
– Mầy phải viết cho đúng sự thật, người ta chột mắt, mầy viết đôi mắt long lanh; đi cà thọt thì bảo dịu dàng,
uyển chuyển. Nó chưa đập guốc lên đầu mầy là may. Nhưng để đấy, tao giúp cho. Tao chỉ cần viết một truyện ngắn, đề tên mầy là tác giả, còn phụ thêm “Thân tặng em gì gì đấy” là nó yêu mầy liền. Bây giờ mầy chỉ tao, mầy mê con nào để tao nghiên cứu đối tượng trước đã. Tôi mừng rơn, nói tên con bé. Anh ta hẹn chiều hôm sau đến gặp. Chiều đó, anh đưa tôi ra chợ Hội An, bắt ngồi xuống thềm chợ, nhìn qua bên kia đường là nhà con bé tôi yêu. Anh hỏi:
– Bà già ngồi nhai trầu là ai?
– Bà ngoại nó.
– Còn bà đứng bán hàng là ai?
– Là mẹ nó.
– Bây giờ tao giúp, tụi mầy yêu nhau, biết đâu sẽ thành vợ chồng. Nhưng chỉ ít lâu sau thôi, vợ mầy sẽ móm như mẹ nó, rồi móm xọm như ngoại nó. Tao nói trước, nếu mầy thấy bà ngoại nó móm như thế mà vẫn đẹp thì tao giúp, còn không, tao không muốn mầy oán trách tao sau nầy phiền phức. Khi yêu mầy mù quáng, nhưng có lúc mầy sẽ tỉnh táo hơn. Về suy nghĩ đi, rồi trả lời cho tao.
Tôi chán tôi quá! Thi hỏng tú tài hai, tôi đi Thủ Đức rồi ra đơn vị tác chiến, vài dòng gửi về ông bà già nhắc chừng rằng tôi còn sống cũng không có thì giờ viết, hơi đâu mà văn với chương. Tôi học hành thì dở chứ đánh nhau chả hề thua, thấy ăn không được bỏ chạy coi như huề. Ấy vậy mà đến năm 75 tôi cũng phải vất súng, đi tù. Ra tù, tôi ở lì tại Sài Gòn, không hộ khẩu, không nhà cửa, ngủ vĩa hè. Rồi tôi lấy vợ. Vợ tôi chẳng có tóc thề, ngây thơ, yểu điệu. Ả lam lũ làm ăn. Ả và tôi không hề nghĩ đến đẹp xấu ra sao cả! Nguyên nhân, tù về, tôi đặt một bàn vé số bên đường. Gốc cây bên cạnh là bàn vé số của ả. Đúng ra tôi không có quyền giành khách vì ả buôn bán trước tôi từ lâu. Nhưng thay vì nhảy chồm lên gây gỗ, ả lại giúp tôi trong bước đầu hành nghề còn lọng cọng. Ả là con gái đầu của một lão trung tá còn trong tù. Tôi biết được vì cái tật hay khoe của ả:
– Bố tôi trung tá đấy, còn trong tù ấy!
Làm như cả nước chỉ có bố ả là trung tá đi tù! Thực ra bàn vé số nào cũng giống nhau, vậy mà ả lại có nhiều khách, người thì cười nói, người thì nhăn nhó lầu bầu … Sau nầy mới biết là ả còn bán số đề nữa, kiếm ăn khá lắm. Tính tôi ham vui, có bạn tù đến rủ là bỏ đi uống cà phê hoặc uống rượu. Mỗi lần như thế, tôi phải gửi bàn vé số cho ả coi chừng. Một lần, nhân trong người còn chút hơi men, tôi gạ gẩm:
– Hai bàn vé số mình hùn nhau làm một, coi bộ khỏe à nghe!
– Định giao hết cho tôi, còn ông đi tán phét với bạn bè rồi về chia lời?
– Không có đâu. Ngày cho tôi hai bữa với vài đồng uống cà phê là đủ.
Ả ngạc nhiên:
– Ủa, chứ trước giờ anh ăn uống ở đâu?
– Làm sao mà nhớ được, gặp đâu ăn đó. Bây giờ khổ hơn trước nhiều. Trước kia ăn có người nấu sẵn, ngủ
có người canh gác.
– Bộ anh làm lớn lắm sao?
– Ở tù thì lớn nhỏ như nhau. Tôi nói lúc tôi đi tù, có lính gác chung quanh nhà tù, ăn thì có nhà bếp nấu sẵn.
Thế là ả hỏi tôi đủ thứ chuyện, từ lính tráng đến chuyện ở tù, chẳng khác gì công an chấp pháp. Hôm sau, buổi sáng ả để trên bàn vé số của tôi gói xôi:
– Chẳng phải tôi thương anh đâu!
– Vậy chớ thương ai mà lại cho tôi ăn xôi?
– Tôi thương bố tôi. Anh kể chuyện trong tù, tôi thương bố quá!
– Thương bố thì gửi xôi cho bố, sao lại cho tôi?
– Thì tôi thương lây qua anh vậy đó. Anh nầy kỳ cục, ăn đi, đừng hỏi nữa!
Tôi không nhớ diễn tiến cuộc sống chung của tôi với ả ra sao, nhưng mùi kênh Nhiêu Lộc bốc lên mỗi buổi chiều khi nước rút vẫn còn là một ám ảnh. Cả năm mạng người – mẹ ả và hai em – cùng chung sống trong một căn nhà sàn ọp ẹp, đong đưa như chực đổ ụp xuống con kênh toàn sình lầy, rác rưởi đen ngòm. Nhưng chả có ai phàn nàn hay mặc cảm điều gì. Ả an ủi tôi:
– Chịu cực ít lâu, có anh phụ với em, mình tìm căn nhà khá hơn. Trước ở cư xá sĩ quan, sau bị tịch thu nhà, chưa ngủ đường ngủ chợ là may rồi. Tôi là gánh nặng của ả chứ phụ được gì, họa chăng phụ cho căn nhà đong đưa nhiều thêm! Ít lâu sau có vụ H.O, ả điều khiển, chỉ vẻ cho tôi cách chạy hồ sơ xuất cảnh, dĩ nhiên tốn kém ả móc hầu bao chứ tôi chỉ có cái mạng mộc. Chuyện H.O ả nói như máy, đơn giản là khách nào đến, hỏi được là ả hỏi sa đà. Ả còn biết cả chuyện lên máy bay qua Thái Lan phải đem theo quạt giấy vì trên máy bay nóng lắm. Qua đến Mỹ, chỉ một tháng sau, ả có việc làm lãnh tiền mặt. Ký cóp được đồng nào, gửi hết về Việt Nam. Lần nào viết thư cũng lau nước mắt, hỉ mũi lia lịa, ả bảo nhớ mẹ nhớ em, thương bố quá. Thư ả viết đơn giản như nói chuyện mà tôi đọc lại mủi lòng, so với loại văn chương ba xu của tôi trong bức thư tỏ tình tám trang ngày nào quả là một cách biệt lớn. Ít lâu sau tôi cũng xin việc làm, tôi về báo cáo, có hai nghề có thể làm được. Một là làm phu trường, tức là dọn vệ sinh các trường học, ả phê:
– Bói ra ma quét nhà ra rác, có làm cách mấy chúng cũng chê được.
Việc thứ hai là ngồi két cây xăng, ả sáng mắt lên:
– Được đấy! Em có thấy rồi, nhàn lắm. chỉ no sir, yes sir, thank you … rồi lấy tiền. Tính anh chậm chạp, cứ từ từ, không có khách thì ngồi chơi. Nhưng anh nhớ tìm cây xăng nào ế khách, càng ế càng khỏe.
Theo sách lược của ả, tôi kiếm được một chỗ làm, quả thật quá nhàn nhã. Làm được một tháng, ả ngắm nghía, sờ nắn tay tôi:
– Anh coi bộ lên cân, trắng ra. Để em mua bánh kẹo đem theo ăn cho khỏi buồn miệng.
Không buồn miệng nhưng tôi buồn tay chân. Ngồi trong chuồng cu, chẳng khác gì con búp bê bị đặt vào hộp kính trong các cửa hàng, tôi chợt nghĩ đến giấc mộng hằng ấp ủ. Tôi làm nhà văn! Người ta bảo “Văn chương là tình yêu” Vậy thì tôi phải chuẩn bị một chuyện tình có đủ yêu đương, xa cách, tái ngộ, hạnh phúc … Nhân vật nữ dĩ nhiên phải đẹp. Nhưng tả người đẹp thế nào? Tôi cố nhớ lại những cô gái mà tôi mơ tưởng. Ngoài cô Mai móm tôi còn yêu cô Kín, một cô Tàu lai. Nói lai cũng không đúng, cha mẹ cô tàu rặt, nhưng cô nói tiếng Việt còn giỏi hơn tiếng Tàu. Cô là con chủ tiệm kem Phú Sĩ Sơn ở Hội An. Hễ có đồng nào trong túi là tôi và vài đứa bạn chờ lúc cô ra trông hàng kéo vào mua, đứng hỏi chuyện linh tinh cả giờ. Cô thường trả lời một cách nghiêm trang, mắt không nhìn lên. Ai nói câu nào tức cười lắm cô cũng chỉ mím miệng lại, trông càng xinh. Cô đẹp chẳng thua Lý Lệ Hoa, tài tử Tàu nổi tiếng thời đó. Có chuyện tình cờ lạ lùng là khi ở Mỹ, một lần từ Virginia qua Maryland thăm bạn, tôi ghé vào một tiệm chạp phô, nghe bà bán hàng nói tiếng Việt giọng Quảng Nam, tôi hỏi thăm mới biết là cô Kín ở tiệm kem Phú Sĩ Sơn ngày xưa. Cả hai mừng rỡ nhìn đồng hương nhau. Bây giờ thì cô đã là phụ nữ sồn sồn, nhưng vẫn còn chiếc mũi dọc dừa và hai má đồng tiền phinh phính. Cô không làm nghiêm nữa mà còn cảm động khi nghe kể chuyện tôi trồng cây si trước tiệm của cô.
– Em không nhớ rõ anh vì lúc đó có nhiều anh đến hỏi chuyện mỗi khi em ra trông hàng. Ông bà già cứ canh chừng và dặn không được cười. Nhưng có một anh hễ nói là em tức cuời, có phải là anh không?
Tôi vội nhận lấy phần thưởng:
– Chính tôi đây chứ ai!
– Anh cũng biết, thời đó khác bây giờ, con gái và cả con trai nữa, hễ người Tàu phải lập gia đình với người Tàu. Có yêu thương người Việt cũng đành chịu đau khổ mà thôi.
Chính câu nói đó đã thành một đề tài ướt át cho tôi sáng tác. Tôi sẽ dựng một chuyện tình, trong đó tôi và cô Kín yêu nhau nhưng trở ngại gia đình, sắc tộc đành phải xa nhau. Nơi xứ người tình cờ gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Hay quá đi chứ! Tôi còn cho hai nhân vật đi xa hơn nữa, ôm nhau, hôn hít, linh tinh đủ thứ … Có hậu như thế người đọc mới thích. Thế là tôi cặm cụi sáng tác trong lúc không có khách hàng. Viết được mấy trang, tôi đọc lại, thấy mình viết quả là rất hay. Xong, tôi chép lại sạch sẽ và để ý tìm một tờ báo có tiếng tăm để gửi chuyện đi. Trong lúc chuẩn bị, tôi đem tác phẩm về nhà, cất kỹ vào hộc bàn, không cho mụ vợ biết.
Chuyện nầy ả không rành, chỉ đến khi nào báo đăng bài, tôi sẽ đem về khoe cho ả phục lăn. Ả thương yêu tôi thực, nhưng đánh giá tôi thấp, lúc nào cũng lo lắng, săn sóc tôi như một em bé, tôi phải điều chỉnh sự suy nghĩ của ả về tôi. Người ta bảo “văn mình, vợ người” thật không sai, tuy chưa gửi bài đi, nhưng mỗi lần đọc lại là mỗi lần tôi thấy mình viết quá hay. Đọc chuyện người khác thì tôi nghĩ “Chuyện thế nầy, quá tệ mà cũng đăng!”, đôi khi tôi không thèm đọc chuyện người khác vì cho rằng dở hơn của tôi. Đối với bạn bè, tôi cảm thấy đã vượt trên họ, khi nói chuyện, tôi thường tỏ vẻ trịch thượng, kênh kiệu, tưởng chừng như đã ban cho họ cái hân hạnh được là bạn tôi, một nhà văn lớn. Dĩ nhiên chẳng ai hiểu thái độ đó, khiến tôi bực mình. Và tuy chưa có giòng chữ nào trình làng mà tôi đã tưởng tượng biết bao độc giả ngợi khen, những nhà phê bình viết bài ca tụng, rồi các em gái lãng mạn yêu tôi, tìm hiểu về tôi. Lúc đó tôi sẽ làm gì? Trước hết phải có một tấm ảnh trông cho thật nghệ sĩ. Tôi sẽ để râu tua tủa, để tóc bồm xồm, cầm ống vố, ngồi vênh mặt lên cho thợ ảnh lấy góc cạnh. Và cũng có thể một họa sĩ danh tiếng – dĩ nhiên, danh tiếng tôi mới chịu – sẽ vẽ nghệch ngoạc vài nét về tôi, các báo sẽ đăng hình kèm với tác phẩm của tôi. Và nếu có phỏng vấn tôi sẽ làm ra vẻ khiêm nhường. Tôi sẽ nói gì về văn chương của tôi, về triết lý của câu chuyện, sâu sắc ra sao? Ôi, cái tôi của tôi sao mà vĩ đại thế! Xin thông cảm cho tôi, nhà thơ nào mà không mơ được các em chép thơ vào tập, các nhạc sĩ phổ nhạc, nhà văn nào mà lại không có chương trình ra mắt sách, muốn dịch sách mình ra ngoại ngữ cho cả thế giới biết văn chượng của mình, có khi còn dám nghĩ đến cái “giải” Nobel nữa cũng nên! Dĩ nhiên, tất cả chỉ mới ở trong giấc mơ, trong tưởng tượng chứ cái tác phẩm văn chương đầu tay của tôi vẫn còn nằm trong hộc bàn ở nhà.
Tính tôi ham vui, bạn bè rủ đâu cũng đi. Tôi thường qua Maryland vì có nhiều bạn, đôi khi trò chuyện quên cả ngày giờ. Một hôm về khuya, thói thường lúc nào vợ tôi cũng dọn sẵn thức ăn trên bàn, bỏ vô máy hâm vài phút là vợ chồng cùng ăn, nhưng lần nầy, bàn trống, bếp lạnh. Vô phòng thấy ả nằm một đống, xây mặt cô vách
– Có gì ăn không em?
Vẫn yên lặng.
– Có gì bất mãn cho anh nhịn đói đây? Nói anh nghe!
Ả úp mặt vào gối, hai vai bắt đầu rung lên.
– Anh đi ăn nhà hàng, có người nuôi rồi, cần gì tôi nữa.
– Từ sáng đến giờ chỉ mấy lon bia với con khô mực, nhà hàng nhà họ gì đâu.
– Thôi đừng nói láo. Ông theo con đĩ ngựa đó, tình cũ nghĩa xưa, đâu cần đến tôi.
Rồi ả khóc ngất, khóc mùi mẫn. Tôi kinh ngạc:
– Ai mét bậy bạ với em gì đó?! Con đĩ ngựa nào, ở đâu, anh có biết gì mà em nói vậy!
– Còn ai nữa! Con mẹ chạp phô già khú đế, cái miệng dẻo quẹo bên Maryland chứ ai. Tôi còn biết hai người đi đâu, làm gì với nhau nữa kia, còn chối nữa à?
Tôi càng ngạc nhiên:
– Thì người quen biết, gặp hỏi chuyện thôi. Người ta có chồng con đàng hoàng, đừng nghĩ bậy bạ. Anh thề với em …
– Thề cá trê chui ống. Tôi qua bên đó, đến tận nơi, xem thử nó là người thế nào mà ông mê nó. Cái thứ già quắc, thấy muốn ói mà ôm ấp. Nè, đừng có đụng vào người tôi. Tôi ghê tởm ông quá rồi, ông đi cho khuất mắt.
– Nói thực anh nghe, có chuyện gì xảy ra? Có bao giờ anh không thương em, đi theo người nào đâu?
– Có phải ông với con chủ tiệm chạp phô bồ nhau lúc còn ở Hội An không?
– Làm gì có, người ta người Tàu, mình người Việt, bồ bịch nhau sao được.
– Không được mới phải xa nhau. Bây giờ gương vỡ lại lành, giọt máu rơi còn đó …
Bấy giờ tôi mới ngã ngữa ra! Thì ra ả đã đọc chuyện tôi viết, có lẽ lúc tình cờ dọn dẹp nhà cửa. Ả rất siêng chuyện nhà, đi làm về là giặt giũ, nấu nướng, chùi nhà, xếp quần áo … ả làm không ngơi tay trong lúc tôi nằm khểnh xem TV, đọc sách, báo.
– Anh biết rồi, đó là chuyện ngắn anh viết gọi là sáng tác văn chương. Em chẳng hiểu gì cả
– Sáng tác gì, người thật, chuyện thật mà sáng tác. Ông còn xưng tôi trong đó nữa
Rồi thấm ý, ả càng khóc nức nở. Tôi dỗ dành
– Em phải thông cảm cho “nhà văn” họ phải lấy một ít ngoài đời, rồi thêm thắt vô cho hay, họ phải có bao nhiêu người đẹp, bao nhiêu mối tình, bao nhiêu chuyện éo le. Thế vợ ông nhà văn nào cũng ghen như em thì ai chịu thấu.
Nói gì ả cũng không chịu, sau tôi phải thề sống thề chết là chỉ yêu thương mình ả thôi. Ả là người đẹp nhất trên đời, còn mụ chủ tiệm chạp phô thì xấu không thể tưởng … ả mới tạm nguôi ngoai. Tôi dẫn ả vô phòng tắm, rửa mặt mũi, lại còn hôn ả một cái nữa ả mới chịu xuống bếp nấu gói mì ăn liền. Tôi đi tìm đứa con tinh thần của tôi, nhưng hộc bàn trống trơn
– Tập truyện của anh đâu rồi?
Xé rồi!
– Sao lại xé đi. Công trình của người ta cả thángtrời. Thôi được để anh dán lại, chép lại. Em bỏ nó đâu?
– Vứt thùng rác rồi
– Thùng rác nào?
– Xe rác đem đi rồi.
Đức ghen của vợ tôi, e hơn cả Hoạn Thư, vì Hoạn Thư ghen với người có xương thịt đàng hoàng và rõ ràng có linh tinh với chồng mình. Đằng nầy vợ tôi ghen cả với vật vô tri nữa. Một lần tôi vờ ôm cái gối hôn và nói:
– Gối đẹp quá, yêu gối quá!
Không nói một tiếng, ả chộp ngay cái gối, lấy dao rạch nát teng beng và bỏ thùng rác sau hè. Trở lại cái chuyện ngắn của tôi, tôi có thể nhớ lại, chép lại nhưng ả giao hẹn:
– Không được nhắc tới chuyện đó. Không được qua Maryland.
– Bộ em giận nhân vật trong truyện lắm sao? Được, để anh cho cô ấy chết cho em hả dạ.
– Nó chết ông lại càng nhớ thương nó. Đã nói không được là không được.
Tôi hân hoan:
– Anh viết em đọc phải nổi xùng lên, như thế là anh viết rất hay, thành công rồi, nhà văn lớn rồi đấy!
– Hay cái khỉ mốc, viết dở ẹt. Cứ viết và gửi đi xem, cũng vô thùng rác thôi.
– Sao em lại ghen? Nó phải gợi hình gợi cảm …
– Gợi cái khỉ khô. Tôi qua Maryland tìm, thấy rõ có thực. Ông lại hay qua đó. Tôi rình … bắt được, tôi chém cả hai. Đồ gian phu dâm phụ!
Khi ghen thì ả chẳng thèm giữ lời. Cái gì cũng nhịn tôi được, riêng mục ghen tương là ả phủ đầu, chiếm thượng phong liền. Chả lẽ tôi bỏ ả theo nghiệp văn chương, rồi ai nấu cơm, dọn giường, chiều chuộng tôi.
Tôi còn khám phá ra là ả chẳng phải cù lần đâu. Trong cuộc sống, ả đón ý tôi rất tài, về mọi thứ, cho nên tôi phải cẩn thận, rủi ả bỏ tôi, tôi sẽ là một tên homeless chứ chẳng chơi. Nhưng tôi là người mưu kế, tôi đã có cách, tôi sẽ viết nhưng không đem tác phẩm về nhà và đề tên tác giả khác, ả không biết được. Câu vợ tôi phê bình:
“Hay cái khỉ mốc, viết dở ẹt” đã làm mất tinh thần văn nghệ của tôi. Ả là người chân thật, không phải vì giận mà nói thế, cho nên tôi đã bớt máu tự tôn. Lần nầy tôi viết và gửi ngay đến một tờ báo địa phương. Cộng đồng Việt Nam ở Mỹ có hai loại báo. Báo địa phương, phát hành trong vài tiểu bang gần nhau, thường tặng không cho người đọc. Báo sống bằng quảng cáo, chuyên đăng tin tức, bình luận là chính. Loại thứ hai phát hành khắp nước Mỹ và thế giới, bán chứ không tặng. Nội dung, chất lượng không khác với báo địa phương nhưng nặng về văn học, nghệ thuật. Tôi gửi chuyện đến báo địa phương, hy vọng vì ít bận tâm đến nghệ thuật, họ sẽ cho đăng. Tôi gửi đến tờ báo X., nhưng cả tháng trời mà chẳng thấy đăng! Tôi gọi đến tòa báo hỏi. Chẳng ai biết bài của tôi ở đâu, gửi khi nào, đề tài, tác giả là gì? Tôi giận quá, đòi gặp ông chủ nhiệm, chủ bút gì cũng được. Tôi nghe tiếng lao xao trong điện thoại rồi có người nói:
– Tôi là chủ nhiệm báo X. đây. Vâng, tháng trước chúng tôi có nhận được bài của ông. Vâng, tôi đọc rất kỹ, chuyện rất hay, cấu kết rất vững, tình tiết bất ngờ, văn rất chải chuốt, nhiều âm diệu … Nhưng rất tiếc bài không hợp với chủ trương của báo chúng tôi. Xin ông vui lòng gửi đến báo khác. Và nếu có những sáng tác mới xin cứ gửi đến chúng tôi, nếu hợp, chúng tôi sẽ cho đăng ngay. Tôi nghe khoái quá, hết cả giận. Tôi đoán ông ta chỉ đọc vài giòng chuyện của tôi là vứt vào thùng rác đúng như vợ tôi nói, nhưng ông cứ khen búa xua, vậy là tôi vui lòng, lại phục ông ta là người có con mắt tinh đời, biết thưởng thức văn chương của tôi. Nhưng quái lạ, tôi gửi đến các báo khác, cũng chẳng thấy đăng?! Có lẽ tuy chủ trương khác nhau nhưng báo nào cũng có một sọt rác giống nhau!
Nhờ thấm nhuần triết lý “Thất bại là mẹ thành công” nên tôi vẫn tiếp tục đẻ những đứa con văn nghệ, tiếp tục tìm cách cho trình làng. Lần nầy, khôn hơn, tôi gửi một chuyện ngắn đến một tờ báo văn học nghệ thuật, ngoài những lời khen tặng tờ báo, tôi còn kèm theo một chi phiếu đặt mua một năm báo. Có lẽ kẹt cái chi phiếu nên ông chủ bút cho đăng, coi như “bài cậy đăng”! Tôi gửi tiếp một chuyện ngắn nữa, cũng kèm một chi phiếu một năm báo, mua để tặng một người bạn, dĩ nhiên không phải bạn trai. Thế là chuyện của tôi lại xuất hiện trên tập san đó. Nghe một năm báo tưởng nhiều chứ chỉ có mấy chục bạc thôi. Mà các cô bạn được tôi tặng báo, chỉ cám ơn về tờ báo chứ chẳng nói năng, bình luận gì về văn chương của tôi đăng trong đó cả dù tôi thường gợi ý:
– Tôi thấy chuyện ngắn của cây viết Ba Trợn (tức là tôi) đọc được lắm, (chị, cô, bà) đọc chưa? Thấy thế nào?
Dù biết tôi là tác giả, nhưng quá dở, tìm mãi không ra điểm nào khả dĩ để mà khen, mà nói láo thì ngượng miệng, nên họ thường nói lãng sang chuyện khác. Trở lại chuyện mụ vợ Hoạn Thư của tôi. Vì tôi viết nhưng không để tên thật, muốn chắc ăn, mỗi khi báo gửi đến tôi bảo:
– Anh có bài trong nầy.
Ả không thèm nhìn tôi:
– Người ta mà đăng bài ông, tôi đi đầu xuống đất! Vậy là tôi yên tâm. Nhưng có lẽ vì thấy tôi ngồi ngoài cây xăng, làm việc mà cứ viết lách mãi, nên ả sinh nghi. Trước giờ chưa hề cầm đến tờ báo, nhưng sau nầy tôi thấy thỉnh thoảng ả có đọc. Một buổi tối, khi đi ngủ, ả nhẹ nhàng hỏi:
– Anh có viết thư, gửi quà về Việt Nam cho người yêu cũ chưa? Cho nó chút ít kẻo tội nghiệp, tình cũ nghĩa xưa. Khi nào về Việt Nam đã có sẵn một em chờ đợi, dẫn đi chơi …
Có lẽ tưởng tượng lúc tôi dẫn em đi chơi, ả tức, không kềm được, nhào đến ngắt véo tôi khắp người, mắt cứ long lên trông phát khiếp. Tôi ngạc nhiên:
– Em nào, ở đâu? Anh có về Việt Nam lần nào đâu?
– Con nào? Con mặt mụn, tối ngày phấn sáp, ở nhà lầu ngay trước đường Trương Minh Giảng chỗ ông ngồi bán vé số. Nó có ngắt bông ngọc lan đưa cho ông qua hàng rào không? Ông có nắm tay nó không? Tôi đâu có ngờ. Biết vậy tôi chẳng thèm lấy ông nữa, mang tiếng giành chồng người ta!
– Này đừng có ghen bóng ghen gió, bằng chứng đâu?
Ả vùng dậy, lấy tờ báo, giở cái chuyện ngắn, dí vào mặt tôi:
– Cái gì đây? Ông tả đúng y boong, tôi đọc biết ngay. Còn câu nầy, chỉ có ông mới thường nói mà thôi:
“Vợ chồng muốn gì cứ vô phòng đóng cửa lại. tội gì lại hôn hít giữa đường, kỳ cục!”
Tôi chịu thua! Nguyên nhân khi xem TV thấy hôn hít tôi bực mình thường nói câu đó. Vậy mà ả tìm ra trong cả một tập sách dày mới tài. Thì ra con người tôi, thói quen và cả những câu nói thường ngày của tôi đã thuộc về ả tự lúc nào rồi. Ả biết hết! Tôi hiểu ra chỉ vì ả yêu thương tôi mà thôi. Trong một chuyện ngắn khác, tôi kể chuyện ngoài miền Trung, người ta nói tiếng Huế, ăn cơm hến … Ả chưa hề ra đó bao giờ, vậy mà ả biết ngay – Trước tôi ông có một đời vợ rồi phải không? Tại sao bỏ người ta? Ông bị thương, người ta vô quân y viện chăm sóc, nuôi nấng, khi lành bịnh ông dụ dỗ người ta, ăn ở với người ta xong rồi đi thẳng. Ông là đồ đểu cáng!
Lại còn viết “Lấy chồng đời chiến binh, mấy người đi trở lại” Người ta chết trận, người ta không trở lại, còn ông thì quất ngựa mo. Hay quá mà! Tôi chối biến, lại làm mặt giận vì bị vu cáo. Ả tức quá:
– Ông cởi áo quần ra tôi chỉ cho. Ông viết bị một băng đạn, ba phát vào đùi, một phát vào bụng. Cái gì đây? Mấy cái sẹo đây? Đếm coi.
Rồi hầu như tất cả những chuyện tôi viết ả đều tìm ra cả. Mỗi chuyện ngắn, ai viết cũng thế, đều có những nhân vật, những chuyển biến tâm lý trong từng hoàn cảnh riêng … Mụ vợ tôi thì không thèm để ý đến, vì ả đâu có thưởng thức văn nghệ, văn gừng gì. Ả đọc một chuyện là tìm kiếm xem có phải tôi là tác giả không, sau đó xem nhân vật nam có làm gì nhân vật nữ không? Nếu có hôn hít, ôm nhau mùi mẩn là ả xé ngang chỗ đó, chờ tôi mới bước chân vào cửa là ả cứ thế mà đánh đập, ngắt véo tôi, đôi khi lấy chổi lông gà rượt tôi chạy khắp nơi, vừa rượt vừa chửi:
– Đồ con dê, đồ đàn ông mà mất nết … Đi theo “nó” đi, đừng về nhà nữa!…
Tôi muốn viết vì đó là thú vui duy nhất của tôi chứ không muốn nổi danh như trước đây tôi ước ao, vì tôi biết văn chương của tôi chả hay ho gì. Tôi để nhiều tên khác nhau, tôi không muốn ai để ý đến, cả vợ tôi nữa, người mà đáng lẽ cùng tôi thưởng thức thú vui đó, lại quay ra hành hạ tôi vì tánh hay ghen. Nhưng vì yêu thương ả nên tôi không muốn ả buồn tội nghiệp. Cuối cùng, sau bao đêm tỉ tê, giải thích, vợ tôi có phần thông cảm, nhưng ả bảo:
– Anh muốn viết gì thì viết, nhưng chuyện không được liên hệ chút xíu nào đến anh cả. Không được xưng tôi, không ôm ấp, hôn hít, vuốt ve “nó”. Đọc mấy chỗ đó em tức muốn nghẹt thở.
– Được rồi, anh viết về người khác. Họ yêu nhau chân thành, chuyện có hậu nên họ lại gặp nhau. Nhưng theo em, họ cưới nhau có được không?
– Đám cưới thì được, nhưng cưới ngoài đường, không có chuyện dẫn vô phòng, bậy bạ.
– Cưới ngoài đường là sao?
– Thì anh viết đám cưới có cô dâu, chú rể, có đốt pháo, quần áo đẹp … Rồi có công chúa, hoàng tử, có vua, hoàng hậu. Dân chúng đứng coi tùm lum, có sao đâu?
Tôi thở dài ngao ngán:
– Không có hôn hít, ôm nhau, làm sao mà chuyện hay được!
– Sao không hay? Tại anh viết dở quá. Có biết bao chuyện hay, muốn bao nhiêu em kể cho, rồi anh viết lại. Mà ả kể hay tuyệt, tôi viết cũng hay, biết bao nhiêu là chuyện … Nhưng chẳng báo nào đăng cả, dù lúc nào gửi bài, tôi đều kèm một chi phiếu mua một năm báo.
Bây giờ trẻ con nói tiếng Mỹ, đọc sách Mỹ, tiếng Việt chúng không rành. Người lớn thì không phải tuổi để đọc chuyện của tôi. Tôi viết chuyện cổ tích.
Cái quên làm cho tôi khó chịu và xấu hổ nhất là quên tên bạn bè đang đứng trước mặt mình. Rõ ràng chúng tôi biết nhau quá nhiều, có khi đã sống với nhau qua một thời gian mài đũng quần trên ghế nhà trường, trong đơn vị quân đội hay lăn lóc với nhau trong trại tù. Giá như mà sơ giao thì còn có thể giả lả:
“Xin lỗi ông, lâu ngày quá tôi quên mất tên ông”, đằng này quá thân tình, thú thật không biết phải xử trí làm sao, không lẽ cứ “mày mày tao tao” hay “anh anh tôi tôi” mà không gọi được cái tên cho thân mật. Được nhớ lại cái tên mà reo lên một tiếng mừng rỡ, thân tình, thì đẹp đẽ, vui sướng biết bao nhiêu. Nói chuyện này ra, cũng có nhiều bạn bè đồng cảnh ngộ đem lòng thương hại, thông cảm với mình và nếu có người giúp mình trong tình huống khó khăn này, thì chỉ có bà vợ. Nếu có vợ đi bên cạnh thì đành quay sang hỏi nhỏ tên người này. Có khi đang ở ngoài phố, phải điện thoại về nhà hỏi có còn nhớ tên cái ông này, bà nọ, hồi đó, ở đâu tên gì không? Rõ ràng là đến tuổi này, trí nhớ coi bộ bắt đầu trục trặc, khó có thể phục hồi như người ta có thể phục hồi bu-gi xe gắn máy. Chuyện nhỏ như cái chìa khoá xe vào nhà không nhớ vứt ở đâu, cái bill điện đến ngày quá hạn trả, lúc lấy ở thùng thư vào thuận tay không biết bỏ nơi nào, mặc dầu ngay cửa ra vào đã có tấm gỗ gắn mấy chùm chìa khoá, hay cái ngăn đựng bill. Chuyện lớn như ngày sinh nhật mẹ vợ, ngày giỗ ông già, hứa cuối tuần này đưa vợ đi công việc. Chuyện lớn hay nhỏ đều phải nhờ cậy đến bộ nhớ của “một nửa kia” của mình là bà vợ nhà, người thân tín đang ở bên cạnh. Các bạn cũng biết đàn bà có khả năng nhớ rất lâu, mà nhớ rất dai, họ có thể dễ dàng giúp bạn trong những trường hợp như thế, nhưng phải khéo léo mà xử dụng đừng bấm nhầm nút mà toi mạng. Bây giờ đôi khi lái xe ra khỏi nhà, lên freeway rồi mới chợt hỏi, mình đi đâu đây? Định thần một hồi mới nhớ ra công việc phải làm, nơi mình phải tới. Có khi quên cái cell phone ở nhà, cũng có lúc quên cả ví đựng bằng lái xe, giấy tờ. Buồn lắm, nếu một ngày kia ở chỗ làm việc ra, hay đi đâu đó mà không còn nhớ cả con đường về nhà, thì giờ này làm sao nhớ nỗi “con đường xưa em đi.” Thì ra, lú lẫn, quên trước quên sau cũng là một cái bệnh. Có những cụ già không còn nhận ra con cháu, không nhận ra đêm ngày, không nhận ra mình đã dùng bữa chưa. Ôi tuổi già u ơ như một đứa trẻ nít. Ngay cả người đầu gối tay ấp của mình gần hết cuộc đời cũng không còn nhớ mà lẩn thẩn hỏi: “Ai đây?” Người bị bệnh lú lẫn Alzheimer’s thường quên những điều trong hiện tại mà còn nhớ lại những điều rất xa trong quá khứ, rồi dần dần, trí óc như có một đám mây mù che kín. Tưởng như những khuôn mặt thân yêu, những khổ đau, hạnh phúc ở đời “fade out” như một đoạn phim rồi tan biến hẳn. Hạnh phúc thay có những điều chúng ta đã quên được như nhiều điều bất hạnh trong quá khứ, nhưng cũng khổ đau cho chúng ta, nếu giờ đây không còn nhớ những gì chúng ta đã từng muốn nhớ mãi. Bi quan thì người ta cho rằng được quên tất cả là một điều hạnh phúc, nhưng nếu chúng ta còn thấy cuộc đời đẹp mà không còn nhớ gì thì cũng tội nghiệp.
Hình như những người bị bệnh lãng quên, không cảm thấy buồn mà cũng không thấy vui, cũng không để lộ cảm xúc trên nét mặt, như những triết gia, những nhà tu đã đạt tới ý nghĩa của cuộc đời này, vốn tất cả đều là huyễn ảo, không có thực. Có nhiều điều chúng ta tưởng mình đã quên, nhưng không? Nó được dìm sâu vào trong tiềm thức, nếu tiềm thức có đáy sâu thì nó ở dưới đó, rồi một ngày kia, trong giấc mơ nó hiện ra. Đó là những ngày xưa thơ ấu, con đường làng, khuôn mặt của những người thân yêu trong ngày tháng cũ mà trong những lúc bình thường, có muốn nhớ lại cũng không làm sao nhớ nỗi. Có những chuyện muốn quên đi mà không làm sao quên được. Ba mươi lăm năm rồi, nhiều đêm tôi vẫn còn thấy ác mộng, những ngày trong trại tù tuyệt vọng không có ngày về.
Có những biến cố xẩy ra trong cuộc đời mà người ta khó có thể quên. Bạn nghĩ gì khi có những cuộc vượt biên hãi hùng đầy máu và nước mắt, mà sự kêu gào khóc than không với được đến Trời, những nỗi đau khổ nghẹn ngào như xuống đến tận cùng Địa Ngục. Và cuối cùng, chúng ta đã sống sót để có được ngày hôm nay. Bạn nghĩ gì với những ngày đói khát giữa biển cả mênh mông, trong tình trạng tuyệt vọng phải ăn thịt đồng loại để sống còn, những đêm cầu nguyện để có được một những giọt nước mưa từ trời cao để có thể thấm vào đôi môi khô héo vì nắng cháy giữa biển Đông. Và cuối cùng chúng ta đã sống sót đến đây, ăn uống dư thừa, đôi khi phải sợ cả thực phẩm, phải kiêng khem. Bạn còn nhớ những ngày chúng ta bỏ nước ra đi trọng đêm cuối cùng của cuộc chiến, ở ngoài trận tuyến súng vẫn còn nổ và người anh em chúng ta đang còn ngã xuống, chưa bao giờ tháo chạy hay biết đầu hàng. Bạn có bao giờ nhớ lại ngày đứng trước hàng quân, nhận lấy tấm huy chương và vòng hoa chiến thắng giữa tiếng kèn khai quân hiệu, trong nhà Vĩnh Biệt, anh em chúng ta, thi thể không còn nguyên vẹn, chưa được chôn cất. Niên trưởng là người tướng lãnh cầm quân, có còn nhớ gì không? Mỗi lần thêm một ngôi sao trên cổ áo thì trong nghĩa trang dài thêm những hàng bia mộ, và những vòng khăn tang đã được quấn lên đầu bao nhiêu mẹ goá, con mồ côi.
Có những điều mới được nói ra hôm qua đây, nay đã trở thành xa lạ, chẳng những như người ta chưa hề nói, mà còn hành động trái ngược hoàn toàn lại những điều đã nói. Có thể trong cuộc đời có nhiều điều phải quên để mà sống, nhưng cũng có nhiều điều quên có thể trở thành những điều ô nhục không bao giờ rửa sạch, nhiều điều quên của người sống có thể cho linh hồn bao nhiêu người chết oan khuất không được siêu thoát.
“Anh nói với em như rìu chém xuống đá
Như rạ chém xuống đất
Như mật rót vào tai
Bây chừ anh đã nghe ai
Xiêu lòng lạc dạ, chẳng đoái hoài đến em.”
Đây không phải là quên, mà là phản bội. Xin tạ lỗi cùng người yêu dấu, bằng hữu xa gần, trong cuộc đời này có nhiều điều muốn quên đi để sống mà quên không được, cũng có nhiều điều rất muốn nhớ mà nhớ mãi không ra.
Khoảng mười năm trở lại đây, chúng ta dược nghe nhiều câu chuyện cảm động và thường quan tâm tìm hiểu về những trẻ em Việt Nam được người ngoại quốc mang về nuôi, được học hành, lớn lên thành danh hay không thành danh. Số phận những trẻ bất hạnh ở trong các trại mồ côi hay lang thang ngoài dường phố Việt Nam thường được thế giới biết đến qua những hình ảnh và bải viết của các ký giả quốc tế đang công tác tại Việt Nam thời đó. Nhanny Heil hay Trần Thị Hết là một trường hợp như vậy. Vào Tháng Hai năm 1973, ông Chick Harrity, phóng viên nhiếp ảnh của Associated Press, đang làm việc ở Sài Gòn đã chụp được bức ảnh một em bé gái gầy gò, dơ bần đang ngủ, nằm co quắp bên trong chiếc hộp giấy bằng cạrton, chỉ với một chiếc áo che phần trên thân thể, bên cạnh chiếc hộp là đứa bé trai, lớn hơn một tí, nắm lấy tay của em gái mình thò ra và gần dó là một chiếc tô nhựa dùng dề xin thức ăn. Đó chính lả em bé trong câu chuyện “Baby in the Box” nổi tiếng thế giới. Bức ánh này được AP gửi về Mỹ đã trở thành một “Breaking News Story” cho báo chí và các đài truyền hình ở Mỹ. đặc biệt là từ New York, đã làm cho quần chúng xúc động. Rất nhiều người đã liên lạc tới hãng thông tấn AP để hỏi xem có cách nào nhận hai em bé đó làm con nuôi không. Chỉ hai ngày sau, nhóm chuyên viên phòng tối người Việt đã dễ dàng tìm ra gia đình của em bé này. Mẹ của cm bé, vợ một quân nhân VNCH cho biết bà có 5 đứa con trai và em bé trong chiếc hộp giấy là con gái út tên Trần Thị Hết.
Vi hoàn cảnh vô cùng nghẻo khổ, lương lính của chồng không đủ nuôi vợ và sáu đứa con. nên các con bà phải đi ăn xin trên đường phố. Khi biết nhiều gia đình ở Mỹ muốn nhận hai em bé trong bức hình làm con nuôi, thì bà đã quyết liệt từ chối, vì dù nghèo khổ, bà không muốn gia đình phải chia cách. Cuối cùng, định mệnh cũng đã đưa em Trần Thị Hết đến Mỹ, Cuối năm 1973 thì mẹ em đưa em vào viện mồ côi Hoht, vì em bị bệnh tim và bà quá nghèo không có tiền chữa bệnh cho con, Sau đó nghe bà mẹ của em đã đi Đà Nẵng và qua đời vì bệnh lao phổi. Cuối cùng Trần Thị Hết được hác sĩ Denton Cooley chữa bệnh tim, đem em tử Saigon sang Mỹ chữa bệnh. Năm do là năm 1974. Bà Evelyn Heil, một nhà giáo ở thành phố Springfield. Ohin, là bà mẹ môi của Trần Thị Hết cho biết bà đã nhìn thấy bức hình “Baby in the Box”, trên một tờ báo ở Houston, Texas, và hình như có một sự thôi thúc kỳ lạ khiến bà tìm mọi cách để xin em về làm con nuôi, lúc đấy bà Evelyn Heil đã có bốn cậu con trai và Nhanny Heil trở thành cô con gái út trong gia đình.
Ngày 21 tháng Năm, 2005, tại Washington, DC. Trong một buổi lễ do Hội Phóng Viên Ảnh Tòa Bạch Ốc tổ chức trước sự chủ toa của Tổng Thống George W. Bush, chính Nhanny Heil đã trao tặng giải thường “Thành Tựu Một Đời” cho nhiếp ảnh gia nổi tiếng Chick Harrity, người đã chụp tấm hình cô nằm co quắp trong chiếc thùng giấy 32 năm về truớc trên vĩa hè Sài Gòn. Nhanny Heil ngày nay đã là mẹ của hai con ở thành phổ Springficld. Ohio, đã từng tra lời qua một cuộc phỏng vần;”Tôi chỉ nghĩ là tôi rất may mắn vì dã gặp được mẹ nuôi tôi, người đã gầy dựng cho tôi một cuộc đời mới. Tôi biết rằng, tôi còn có cha và các anh trai của mình, vả nhiều khi tôi tự hỏi không biết giờ này họ ra sao. Tôi không biết làm cách nào để tìm ra họ. Tôi thiệt không biết làm sao!”(RFI)
Lời nói tha thiết của cô bé Trần Thị Hết ngày xưa như một lời than khóc, nhưng làm sao để tìm ra một người lính miền Nam vô danh trong cuộc chiến khốc liệt và nhất là sau khi Saigon sụp đổ, và những đủa con trai lang bạt không nhà của ông. Không một tên người, không một tên làng Xóm, không một địa chỉ. Nhưng Nhanny Heil vẫn nghĩ về nguồn cội.
Một trường hợp con mồ côi khác, không rõ họ tên gốc Việt và cha mẹ là ai, sinh tại Khánh Hưng, Sóc Trăng, được nuội trong một viện mồ côi Công Giảo do các nữ tu Dòng Chúa Quan Phòng Portieux. Khi được 9 tháng tuổi, ông được một cặp vợ chống người Đức vốn đã có hai con gái nhận nuôi và đặt tên là Philipp Roesler.
Trong những đứa con lưu lạc. Philipp Rocsler là con người gốc Việt thành công rực rỡ nhất. Hiện nay ông là một chính trị gia của Đàng Dân Chù Tự Do (FDP) đã từng giữ chức vụ Bộ trượng Bộ Kinh tế kiêm phủ Thủ hiến bang Niedersachsen. Từ năm 2009, ông là Bộ trưởng Bộ Y Tế Liên bang Đức trong nhiệm kỳ thứ nhì cua Thủ tướng Angela Merkel. Tháng Năm, 2011, tại Đại hội Đảng FDP, ông được bầu làm chủ tịch đảng và sau đó được bồ nhiệm làm Phó Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức kiêm Bộ trưởng Bộ kinh tế và công nghệ liên bang. Không như những đứa trẻ Việt Nam khác nhu cô Kimberly Mitchell được Thiếu Úy TQLC Trần Khắc Báo cứu trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” Quảng Trị năm 1972. hay cô leidi Mai Thị Hiệp trong cậu chuyện “Daughter from Danang.” Philipp Roesler không cảm thấy cần phải tìm kiếm nguồn gốc của mình và tự xem mình là một người Đức Công Giáo. Năm 2006, theo lời thúc giục của vợ, ông lần đầu tiên thăm Việt Nam, nơi ông sinh ra, nhưng ông nói rằng ông chỉ có mối liên hệ tình cảm hạn chế với nước này (!). Đáp lại câu hỏi của báo chí về việc Roesler có liên lạc với Seour Mary Marthe và Seour Sylvie Marthe hiện vẫn đang sống ở Việt Nam, là hai người đã chăm sóc ông tại trại mồ côi ở Khánh Hưng trong những tháng đầu đời hay không, thì ông cho biết đã liên lạc với Seour Mary Marthc, khi ông là Bộ trưởng Y tế Đức năm 2009.
Ông cho biết, các phóng viên Đức đã đến Việt Nam và lẩy được một số bức ảnh hồi bé của ông. Báo chí hòi ông, trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên cùng với vợ, sao Roesler lại không đến nơi ông từng được nuôi dưỡng khi còn là trẻ sơ sinh, thì câu trả lời của ông là “hai vợ chồng tôi từng nghĩ rằng Sóc Trăng có lẽ cũng giống như những địa điểm khác mà chúng tôi từng thăm thôi (?).”
Philipp Roesler cũng nói thêm: “Tôi di thăm Việt Nam trên cương vị Bộ trưởng Kinh tế, một đại diện của giới kinh doanh Đức, chứ không phải là một chuyến đi tim hiểu quá khứ của bản thân.”
Phải chăng việc tìm lại cội nguồn có thể xảy ra nhiều chuyện rắc rối, như “Daughter from Danang.” Heidi Mai Thị Hiệp, một đứa con lai Mỹ, tại Đà Nẳng, Việt Nam. được đua sang Hoa Kỳ vào năm 1975 trong chuyến “Babylilt” từ Tần Sơn Nhất. Mẹ cô là Mai Thị Kim, đã có chồng và ba con, cô Heidi là kết quả của mối tình Mỹ Việt khi bà Kim làm việc trong căn cứ Mỹ tại Đà Nẳng. Tuổi thơ ấu của cô đã bị gia đình mẹ hất hủi, bạc đãi như đã từng đuổi con bé năm tuổi ra khỏi nhà trong giờ giới nghiêm. Khi Đà Nẵng sắp mất, sợ hãi về những điều người ta đang đồn đãi về Việt Cộng, bà Kim dã đem con bé cho cơ quan từ thiện “Holt Adoption Agency.”
Được mang về Mỹ làm con nuôi, lớn lên. khi Heidi lập gia đình và có con, những ám ánh đau đớn của tuổi thơ đã tác động vào lòng cô rất nhiều, nhưng Heidi hy vọng rằng việc đi tìm lại người mẹ ruột của mình sẽ giúp giải tỏa được nổi đau này. Heidi liên lạc với cơ quan nhận con nuôi Holt và biết rằng mẹ đẻ của cộ là bà Mại Thị Kim, hiện còn sống ở Đà Nẳng. Với sự giúp đỡ của nhà báo Trần Tường Như, từ Pulaski. Tennessee, Heidi quyết dịnh trở về Việt Nam để tìm lại cội nguồn. Chuyến trở về hoàn toàn đổ vỡ và thất vọng. Hcidi
không có kinh nghiệm gì về nếp sống Việt Nam và gia đình mẹ cô sống trong đói nghèo, không có kiến thức về văn hóa Mỹ. Mẹ cô, bà Mai thì muốn dành nhiều thời gian với Heidi và thậm chí, đêm đầu tiên đòi ngẻ chung với Heidi, người con gái này đã cảm nhận như bị “nghẹt thờ” vì có cảm tưởng chốn riêng tư của mình đang bị xâm phạm. Nỗi thất vọng của cô tràn ngập khi gia đình mẹ cô trắng trợn thông báo với cô rằng họ chờ đợi cô giúp đỡ tiền bạc và họ đã cười chê khi thấy cô bật khóc. Mặc dầu gia đình này dã giải thích cho Heidi rằng hầu hết các người Việt sang Mỹ đều gởi tiền về giúp gia đình, nhưng Heidi cảm thấy rằng mẹ cô và các ông anh đang khai thác và lợi dụng mình, đứa con lai mà họ đã vứt bỏ, xô đẩy ra đường 27 năm về trước.
Cuối cùng, cô quyết định trở về Mỹ trước thời hạn, cảm thấy tim mình tan vỡ và đau đớn, tưởng hàn gắn dược những ảm ánh của tuổi thợ, nhưng lòng cô bây giờ lại trống vắng xót xa hơn bao giờ hết. Heidi nhận được thư từ của gia dình mẹ cô sau khi về Mỹ, nhưng tử mười năm nay, cô dã dứt khoát đoạn giao với gia đình Việt Nam của mình tìm an ủi bên chồng con. Tiếp tục liên lạc với gia đình người mẹ, có chăng chỉ mang lại thêm nỗi đau đớn, dằn vặt cho cô.
Bạn đọc của tôi có ý nghĩ gì về ba nhân vật này, cả ba đã từ một cội nguồn ra di. Một người tha thiết mong tìm lại được gốc gác, nhân vật kia lại không muốn tìm lại cội nguồn, người thứ ba thất vọng hoàn toàn khi trở lại nơi từ đó mình đã ra đi!
Tôi đón cái Tết đầu tiên ở Nha Trang trong không khí đẩm ấm gia đình bác Huế. Xuân mới, nhiều màu sắc tượi vui rộn ràng. Sức sống chảy tràn trên đường phố. Mọi người hân hoan yêu đời. Toi buớc vào tuổi mười bảy. Không nôn nao chờ đợi một điều gì. Mười bảy tuổi, đánh dấu một giai đọan trưởng thành. Sao lòng mình vẫn thế? Có chút dững dưng với cuộc đời. Tôi nằm co trên gác. Nghe tiếng pháo lốp bốp ngoài kia, hồn lãng đãng như đi trong sương mù của một thời cổ tích xa xa. Bác Huế hỏi, răng con không đi chơi? Tôi nói, chẳng biết đi đâu. Bác nói, ngày mai con nên dẫn hai em Đông, Hà đi du xuân với thiên hạ. Trưa ngày mồng một, chuyện bất ngờ xảy đến. Tâm hồn tôi chợt dao động vì một đứa con gái. Con nhỏ này theo mẹ đến chơi nhà bác Huế. Khi người lớn đang nói chuyện, hai con bé dẫn nó leo lên tầng gác, đem thco cái không khí mùa xuân e ấp. Tôi bỡ ngỡ không biết lời gì gợi chuyện. Nó thì rụt rè mắc cỡ. Chúng tôi ngồi cắn hạt dưa. Thỉnh thoang liếc nhìn nhau. Lòng tôi xao xuyến. Có lẽ cả hai đều cùng tâm trạng ấy. No cắn hạt dưa liên tục như để che giấu nụ cười, hoặc điều gì bối rối. Cái miệng con gái quen nhóp nhép ăn quà vặt, nó cắn hạt dưa rất giỏi. Cứ nghe tiếng lách tách là hai mảnh võ bung ra dễ dàng. Môi nó lem màu phẩm đỏ hạt dưa, như màu son thoa vụng, Trông lại càng dễ ưa. Tôi cần hạt dưa bị nát. Nó dưa tôi một nhúm hạt đã tách vỏ. Tôi sung sướng.
nghĩ đây là cử chỉ thân mật dành cho tôi.
Tôi hỏi trống không: “Tên gì?”
Bó Đông hớt lời: “Chị Phương Nghi.”
Nó lườm bé Đông: “Lanh chanh dữ.”
Tôi hỏi: “Họ gì?”
Nó nói: “Đoàn Thị Phương Nghi.”
“Mấy tuổi?”
“Mười bảy.” Nó hỏi lại tôi. “Anh Hiên mấy tuổi?”
Tôi nói: “Cũng mười bảy. Sao biết tên tôi?”
Nó ngó bé Đông, như ngầm bảo chính con bé này cho nó biết
“Anh sinh tháng mấy?”
“Không biết.”
Nó đoán: “Cùng tuổi, nhưng có thể nhỏ tháng hơn Nghi.”
Tôi hỏi: “Muốn làm chị tôi hả?”
Nó cười: “Gọi bằng tên được rồi.”
“Gọi em dược không?”
“Xí … Cho gọi tên là bình đẳng rồi, Còn muốn hạ phẩm giá người ta nữa hả?”
Tôi kêu: “Làm gì có chuyện phẩm giá chen vô đây nữa?”
Chúng tôi bạo dạn dần. Tôi nói, ngày mồng hai tôi đưa hai con hẻ di chơi Hòn Chồng. Tôi rủ nó cùng đi. Nó bảo. để hỏi mẹ. Khi mọi người quây quần trong bữa ăn chiều, mẹ nó cho phép đi chơi với chúng tôi.
Đêm đó. Tôi nằm trăn trở. Không gian mù đặc. Khuôn mặt nó hiện ra trong bóng tối. Chưa bao giờ tôi hình dung ai rõ ràng như hình dung nó. Tiếng nối nu cười của nó, có sức thẩm thấu vào tận ngõ ngách sâu kín nhất của lòng tôi. Tôi sẽ không cho ai biết điều này. Kiểm lại cuộc nói chuyên trưa nay, tôi thấy mình quá vụng, thậm chí còn vô duyên nữa. Tôi biết tôi không có khả năng chinh phục cảm tình con gái bằng những lời đuờng mật. Vì thế, tôi sap đặt trước trong đầu, những câu sẽ nói vào ngày mai. Tôi sẽ chủ động trong mọi tình huống và chụp ngay cơ hội nào co thể tỏ bày tình cảm một cách nhẹ nhàng. Tôi lan man nghĩ ngợi, thiếp đi trong mơ hoặc. Phương Nghi như cánh bướm bay bay chập chờn trên đồi xanh. Mặt trời chiếu vào nó những tia nắng rực rỡ. Tôi cố gắng đuổi thco, cánh tay khát khao vươn về phía trước. Nó đã ngoài tầm tay. Luôn luôn ở ngoài tầm tay như một ảo vọng. Sáng ra, giấc mơ còn đọng lại nỗi bồi hồi. Tôi, thân phận kẻ ăn nhờ ở đậu, nhìn điều gì cũng mơ ước. Phương Nghi là đối tượng ước mơ hạnh phúc ngoài tầm. Dự định chưa bắt đầu, đã thấy mình thất bại, Mọi toan tính đều dấn sâu vào bất trắc.
Hai đứa ngồi trên lăng đá lớn ở Hòn Chồng, nhìn xuống bãi biển. Đông và Hà dang đi sát mé nước, nhặt những vỏ sò. Một hồi, chúng lẫn trong những quần áo mới của nhiều đứa khác, khó phân biệt. Bao nhiều lời dự đinh sẽ nói, ngượng không nói được.
“Anh kể về quê anh di.” Nó gợi chuyện.
“Quê tôi hả? Rừng rú, núi non, sông rạch. Không có gì đặc biệt.”
Nộ nhận xét: “Anh đi chơi, có vẻ không hào hứng.”
“Cũng thích đấy chứ.”
Nó lãng sang chuyện khác: “Anh thích câu gì nhất, trong truyện Kiều?”
“Tôi thich hai câu, qua một bức tranh hài hước. Trong đó, vẽ một anh đang bước trên đường, trước mặt là cái hố. Nhưng anh ta lại ngoài về phía sau nhìn người đẹp, ướm lời:
Người đâu gặp gỡ làm chỉ.
Trăm năm biết có duyên gì hay không?”
Nó bật cười: “Và anh ta sụp ngay xuống hố? Đầu óc anh tếu thât!”
Tôi nói: “Tôi cũng sớn sát giống anh ta.”
“Anh cũng đã bị sụp hố?”
“Chưa. Tôi kịp thời dừng lại.”
“Thử sup xuống coi sao,”
“Để làm trò cười hả?”
“Chưa chắc.”
Bất ngờ tôi cầm tay nó. Một hành động liều lĩnh, nhưng nếu không bạo gan thì không bao giờ còn dịp khác. Bàn tay nó trơn tru dịu dàng mềm mại như không có xương. Tôi hồi hộp run rẩy sợ hải. Cả người tôi lạnh toát. Bàn tay nó cũng run. Tôi vội buông ra. Cắt dứt ngay dòng điện truyền sang tôi. Giữ tay nó lâu hơn, chắc tim tôi nhảy ra khỏi lồng ngực. Chỉ trong khoảnh khắc ấy thôi, tôi cảm thấy cũng là một cố gắng can đảm phi thường. Mặt nó độ bừng bối rối. Có lẽ mặt tôi xanh lè, cắt không còn giọt máu.
Nó lí nhí: “Anh kỳ quá à.”
Tôi lặng thinh, cố lấy lại thần hồn. Có phải cầm tay là tình yêu, hay là hành động của một thứ quỷ quải gì khác? Tôi không tưởng tượng tình yêu khủng khiếp đến thế. Lòng tôi bấn loạn, không nghĩ ra lời nào để nói.
Hai đứa nhìn ra biển. Trời và biển trong xanh bát ngát.
Không biết nộ đang nghĩ gĩ!
“Mình về anh ơi,”
“Sao lại về?:
“Nghi sợ quá.”
“Vừa rồi, tôi làm ẩu. Xin lỗi nghen.”
“Đừng xin lỗi.”
“Như vậy cầm tay được hả?”
“Được. Nhưng lâu lâu một lần thôi.”
“Trước khi về, mình cầm tay nữa nghen?”
“Thôi. Mẹ Nghi biết thì chết.”
“Mình phải giấu chứ.”
“Ừ. thì giấu. Nhưng mẹ Nghi tinh mắt lắm.”
“Trước mặt bà, mình làm bộ ghét nhau,”
“Nho nhô. Mình làm bộ ghét nhau. Bí mật” Nó đưa ngón trỏ úp lên môi.
Tôi bảo: “Đưa tay đây.”
“Dị lắm.”
“Chỉ sờ thôi.”
Nó rụt rè đưa bàn tay trắng nỏn.
“Tay nè.”
Tôi vuối nhẹ lưng bàn tay. Êm đềm. Ấm áp. Hạnh phúc. Không còn run rẩy nữa. Chuyện gì rồi cũng quen. Tiến xa hơn một chút. Tôi bóp nhè nhẹ bàn tay, ra chiều âu yếm. Nó không nói gì. Tôi ngồi sát lại gần, ôm cả cánh tay. Nó hoảng hốt, rụt tay về.
“Giữa ban ngày ban mặt, ai làm thế?”
Chợt nhớ lời cua một đàn anh. Những con mển non còn nhát đèn, phải hết sức gượng nhẹ, dụ từ từ cho nó quen. Lúc đó, tôi học tình yêu hàm thụ. Bây giờ, thực hành lần đầu tiên, tôi là gã thợ săn non người, vụng về hấp tấp. Không khéo lại vuột mất một mối tình vừa chớm.
Trên đường về Nha Trang, nó đề nghị ghé lại Tháp Bà.
Tôi và bé Đông, bé Hà đi vơ vẫn bên ngoài. Nó chen chân với người ta, vào đốt nhang trong tháp. Khi trở ra, mùi khói còn vương theo nó.
Bé Đông hỏi: “Chị Phương Nghi cầu xin gì?”
Nó bảo: “Xin thi đậu.”
“Có xin cho em không?”
“Xin cho em thi dậu vào đệ thất.”
“Có xin cho anh Hiện không?”
“Không, Anh Hiên lớn rồi, phải tự xin cho mình.”
Hai con he lãng ra xa. Tôi và nó đi lần về phía sau Tháp Bà. Mong có ngọn gió nào thổi tới, dể tóc nó bay lả tà vào tội. Ngày xuân không có gió. Tôi đứng thật gần để nghe mùi con gái. Nhưng ngoài cai mùi thoang thoảng khói nhang, tôi không nghe mùi gì cả. Tôi nhìn nó, chiêm ngưỡng. Mặt nó hồng lên trong nắng. Những soi tóc mai sát vào làn da mịn lầm tẩm mồ hôi.
“Đẹp lắm.” Tôi buột miệng.
Nó hỏi: “Anh khen Nghi hả?”
“Khen quần áo mới của Nghi.”
Câu nói xuẩn ngốc của tôi làm nó xụ mặt, Trời đất ơi, trên đời này không có thằng con trai nào tán gái mà lại thốt một câu thần hờn quỷ oán như vậy. Tôi ân hận, muốn tự vả vào cái mồm vô duyên cho gảy mấy cái răng cửa của mình. Tôi năn nỉ: “Nghì ơi, tôi khờ quả. Thật tâm tôi muốn khen Nghi đẹp, nhưng lại ngờ nghệch nói khác di.”
Nó nguýt dài: “Ai cần anh khen.”
“Thương quá không biết nói sao, nên khen đẹp.”
Nói xong, tôi rất hà hê. Ít ra, cũng có được một câu vuốt ve tình càm.
Nó mìm cười: “Anh xạo.”
Tôi cũng cười,
Hai đứa đứng im lặng, nhìn xuống cầu Xóm Búng, Sao cứ nhìn về một hướng? Sao không nhìn vào nhau cho mãn nhãn?
Nó nói nhỏ: “Hồi nảy, Nghi thắp nhang xin bà phù hộ cho chúng mình.”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.