Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Post by Sơn râu 12 May 2026

Chủng tôi được giao phó một công tác bở béo. Tám thằng có phận sự canh gác một ngôi làng đã bị di tản vì bị pháo nặng nề. Đặc biệt là phải canh chừng một kho quân nhu vì chưa tiêu thụ hết. Chúng tôi được tự tiếp tế lấy cũng trong kho tàng này. Chúng tôi đúng là hợp người hợp cảnh; -Kat, Albert, Muller, Tjaden, Detering, đủ bọn. Tuy nhiên Haie đã chết. Nhưng kể ra chúng tôi còn là may chán, tất cả các đội kia đều tồn thất nặng hơn chúng tôi. Chúng tôi chọn, làm hầm trú ẩn, một hầm bê tông cốt sắt có bực thang từ trên xuống dưới. Đường vào lại có một bức tường bê-tông riêng biệt bảo vệ. Giờ thì chúng tôi phát triển một nền kỹ nghệ vĩ đại. Đây là một cơ hội không những được duỗi chân duỗi cẳng mà duỗi cả linh hồn. Chiến tranh quá tuyệt vọng nên không cho phép chúng tôi được đa cảm lâu dài, Chỉ có thể đa cảm lâu dài khi nào tình hình không đến nỗi quá bi đát. Dù sao, chúng tôi cũng không thể là gì khác hơn là thực tế. Thật vậy, thực tế đến nỗi lắm khi tôi rùng mình khi một tư tưởng từ những ngày trước chiến tranh thoáng qua trong đầu tôi, Nhưng nó cũng không ở lại lâu. Chúng tôi phải coi mọi sự càng nhẹ càng hay, nên chúng tôi tận dụng mọi cơ hội, và phi lý đứng trần truồng ngay bên khủng khiếp. Không thể làm gì khác, đó là cách tự phấn chấn của chúng tôi. Nên chúng tôi sốt sắng ra công thiết lập một địa đàng – một địa đàng ăn với ngủ, lẽ dĩ nhiên. Trước hết sàn nhà được trải nệm mà chúng tôi vác từ các nhà xuống. Ngay cả đít một thẳng lính thì cũng thích được ngồi êm. Chỉ ở giữa nhà là để một khoảng trống. Rồi chúng tôi đi vơ vét chăn, nệm bông, toàn những thứ luých. Trong thị trấn có đủ thứ chả thiếu thứ gì. Albert và tôi tìm ra một chiếc giuờng gỗ gu có thể tháo ra từng mảnh có đính màn lụa xanh lơ và vải trải đăng-ten. Chúng tôi mướt mồ hôi mới khiêng về được, những của quí như thế mà bỏ lơ thì thật uổng vì một vài ngày nào đó thế nào cũng bi pháo tan tành.

Kat và tôi đi tuần tiễu khắp các nhà. Trong một thời gian rất ngắn chúng tôi đã sưu tầm được một lô trứng một kí bơ tươi. Bỗng rầm một tiếng trong phòng khách và một cái lò sắt văng thủng tường qua chúng tôi rồi đâm thủng bức vách sau chúng tôi chừng một thước. Hai lỗ. Nó từ ngôi nhà đằng trước văng qua, nơi vừa trúng một quả đạn đại bác. «Đồ chó chết.» Kat nhăn mặt, và chúng tôi tiếp tục lục lọi. Bỗng cả hai chúng tôi đều vễnh tai, chạy ủa qua và rồi đứng ngây người – trong một cái chuồng nhỏ hai con lợn sữa chạy tung tăng. Chúng tôi dụi mắt nbìn nhau để xem mình tỉnh hay mê. Mà thật đúng là hai con lợn sữa. Chúng tôi túm lấy chúng – không còn nghi ngờ gì nữa, – đúng là hai con lợn sữa.

Thứ này ăn thì mê ly. Cách hầm chúng tôi chừng hai chục thước có một ngôi nhà nhỏ trước dùng làm nhà trọ cho sĩ quan. Dưới bếp là một cả lò sưởi lớn tướng với hai hàng nào nồi niêu soong chảo – đủ thứ, lại có cả một đống củi chẻ sẵn trong một nhà ngang – một thiên đàng của một đầu bếp thực thụ. Hai thằng trong bọn tôi đã ra đồng từ buổi sáng để bới khoai, cà rốt và đậu xanh. Chúng tôi ra mặt khinh khỉnh trước các thứ đồ hộp trong lương thực, chúng tôi cần rau tươi. Trong phòng ăn đã có sẵn hai chiếc su lơ. Hai con lợn sữa được làm thịt. Chuyện đó đã có Kat lo. Chúng tôi muốn dùng bánh khoai ăn với thịt quay. Nhưng chúng tôi không tìm ra cái nạo khoai. Tuy nhiên, sự khó khăn này được giải quyết ngay. Chúng tôi dùng một chiếc đinh đục lỗ một cái vung nồi thế là có cái nạo. Ba thằng đeo găng tay vào để cái nạo đừng xây xát tay, còn hai tay khác gọt khoai, thế là đâu vào đấy. Kat nếm lợn sữa, cà rốt, đậu và su lơ. Bác còn làm sốt trắng để ăn su lơ. Mười phút sau tôi đã quen nhồi quánh khi bánh đã chin một bên nhồi bánh lên lật ngược trên không rồi hứng lại vào quánh. Hai con lợn sữa được quay nguyên con. Chúng tôi đứng quay quanh chúng như trước một bàn thờ.

Đồng thời chúng tôi cũng đãi khách, hai anh vô tuyến điện viên được chúng tôi mời vào cùng đớp. Họ ngồi trong căn phòng khách có cây dương cầm. Một anh chơi đàn, anh kia hát bài ‘An der Weser’ Anh hát có tình cảm nhưng bằng một giong Saxon. Dù sao chúng tôi nghe cũng vẫn cảm xúc, chúng tôi đứng tại lò sưởi lo làm món ăn.

Sau đó chúng tôi mới bắt đầu nhận thấy là mình đang lâm nguy. Các khinh khí cầu quan sát đã nhận ra khói bốc lên từ lò sưởi và đạn pháo bắt đầu rơi xuống chúng tôi. Toàn là loại đạn ria chết tiệt rơi xuống chỉ thủng một lỗ nhỏ nhưng vừa sát đất là toẻ rộng ra. Chúng rơi mỗi lúc mỗi siết chặt quanh chúng tôi; tuy nhiên đâu bỏ rơi các món hầu sực được. Hai mảnh niễng vèo một cai chém thủng đầu cửa sổ nhà bếp. Lợn thì quay rồi. Còn rán bánh thì khó quá. Nổ nhanh đến nỗi các mảnh niễng loáng cái đã lại đập vào tường nhà và văng tua tủa qua cửa sổ. Mỗi lần nghe có quả nào bay đến tôi lại cầm cả chảo bánh quỳ xuống, nép minh sau tường cửa sổ. Sau đó tức thời tôi lại đứng lên lại tiếp tục rán. Hai chàng Saxon đã ngưng hát một mảnh niễng đập vào dương cầm. Mãi rồi các món đều sẵn sàng và chúng tôi tổ chức chuyển dịch lại vào hầm. Tiếng nổ kế vừa dứt hai thằng ôm các chậu rau băng qua năm chục thước vào hầm. Chúng tôi thấy họ biến. Tiếng nổ khác. Ai nấy nằm ép và hai thằng khác phóng đi, mỗi thằng ôm một hộp lớn dựng cà phê thứ hảo hạng và vừa đến hầm thì lại thèm một tiếng nổ. Rồi đến Kat và Kropp nắm lấy món thượng thặng chiếc đĩa lớn với hai con lợn sữa quay vàng dòn. Một tiếng hô, một đầu gối quì xuống, và cả hai thoát đi một mạch năm chục thước ở ngoài trời. Tôi ở lại rán nốt bốn chiếc bánh; tôi phải nằm xuống đất hai lần:- dù sao, thế là cũng thêm được bốn chiếc bánh nữa và bánh này là thứ tôi khoái nhất. Đoạn tôi cầm cái đĩa với chồng bánh ụ nép mình sau cảnh cửa. Một tiếng rít, một tiếng rầm, thế là hai tay ôm đĩa ghì vào ngực phi như bay. Tôi gần đến nơi, tôi phóng như hươu: chạy vòng bức tường, các mảnh miễng va chan chát vào bê-tông, tôi trượt chân xuống các bực bầm, hai khuỷu tay bị trầy da, nhưng không rơi lấy một chiếc bánh và dĩa cũng chẳng vỡ.

Vào khoảng hai giờ thì chúng tôi bắt đầu ngồi vào ăn. Bữa tiệc kéo dài đến sáu giờ. Chúng tôi uống cà phê đến bảy giờ rưỡi – cà phê sĩ quan lấy ở kho ra – hút xì gà thuốc lá sĩ quan – cũng lấy ở kho ra. Đúng bảy rưỡi chúng tôi bắt đầu vào ngồi ăn cơm tối. Vào khoảng mười giờ chúng tôi vứt xương lợn sữa ra ngoài cửa.

Rồi thưởng thức cô-nhắc và rum – cũng trích ở cái kho quí hóa kia ra; và lại phi phà cái thứ xì gà dài bự có dán nhãn hiệu ở giữa. Tjaden ân hận còn thiếu một thứ gái ở lục xì sĩ quan. Về khuya chúng tôi nghe cỏ tiếng meo meo. Mot con mèo xám nhỏ ngồi ở cửa hầm. Chúng tôi dụ nó vào cho nó ăn. Thế là chúng tôi lại thấy buồn mồm xoay ra đánh chén thêm chầu nữa. Miệng nhai, lưng đặt xuống ngủ. Nhưng ngủ không xong.

Ăn nhiều mỡ quá. Lợn sữa ăn vào đầy bụng. Thế là chúng tỏi cứ thẳng vào thằng ra không ngớt.

Các ngôi nhà trúng đạn bốc cháy như đuốc trong đêm, Đạn bay ngang bay dọc, rơi ầm ầm. Các đoàn tiếp vận vẫn chạy nối đuôi nhau ngoài đường. Kho lương bị trúng bom toang hoác một bên. Mặc dầu miễng bay vèo vèo các anh tài đoàn xe tiếp vận tràn vào như đàn ong vồ lấy bánh. Chúng tôi mặc họ lấy thả dàn. Có nói gì lại chỉ tổ rước lấy một trận đòn nhừ tử. Nên chúng tôi mới phải quyền biến. Chúng tôi bảo chúng tôi có nhiệm vụ canh giữ nên biết rõ đường đi nước bước trong kho, chúng tôi đề nghị đổi các đồ hộp lấy những thứ mà chúng tôi đa g thiếu. Đù sao có ăn nhằm gì – rồi đây tất cả cứ gọi là tan tành xí oách. Riêng chúng tôi, chúng tôi lấy ít súc củ là trong kho ra để ăn. Kat bảo thứ này ăn dễ tiêu. Suốt gần nửa tháng cứ thế, chỉ ăn, uống, la cà suốt ngày. Chả ai hoạnh hoẹ. Thị trấn tiêu dần dưới bom đạn pháo kích và chúng tôi sống thảnh thơi vui thú. Ngày nào còn chút gì ở kho ngày đó chả có gì phải lo, chúng tôi chả ước ao gì hơn là nằm lai chốn này cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Tjaden đâm ra xài sang đến nỗi xì gà chỉ hút có nửa. Mũi hếch lên trời hắn bảo chúng tôi là nó sinh ra quen thói phong lưu rồi. Và Kat thì hớn hở ra mặt. Cứ sáng ra là trước hết bác gọi: « Emil, bưng ca-vi-a và cà phê lên đây ». Chúng tôi thằng nào thẳng nấy lên mặt ta đây, thằng này coi thằng kia như tôi tớ, quát tháo ra lệnh.

«Dười bàn chân tao có cái gì rân rân ngứa ngáy; thằng Kropp đâu, bắt cái con rận ấy cho tao coi, » Leer nói giơ chân lên như có vũ nữ ba-lê, thế là Albert cầm cẳng lôi nó xềnh xệch lên gác. «Tjaden! » – «Cái gì? »

– «Nghỉ, Tjaden; nhưng mà này, không được nói ‘Cái gì,’ mà phải ‘Dạ, thưa ông gọi gì,’ – nào thử xem: Tjaden! » Tjaden đáp lại bằng cái câu trứ danh của Goethe trong «Gotz von Berlichingen», mà xưa nay nó hằng xài không biết chán. Thêm tám ngày nữa, rồi là chúng tôi được lệnh trở lại mặt trận. Những ngày vàng son thế là hết. Hai chiếc cam nhông tải chúng tôi đi. Xe chất đầy ván. Tuy nhiên Albert và tôi vẫn thượng lên chiếc giuờng bốn cọc với đình màn lụa xanh, với nệm, và hai tấm vải trải giường bằng đăng-ten. Và đầu giường treo một cải bao đầy món đớp hảo hạng. Chốc chốc lại thọc tay vào, xúc xích dai, xúc xich gan đóng hộp, trái cây đóng hộp, thuốc lá hộp, chúng tôi thấy tâm hồn sảng khoái. Thẳng nào cũng có một bao riêng.

Kropp và tôi cùng kéo theo hai chiếc ghế bành to nệm đỏ. Ghế lồng vào lòng giường và chúng tôi ngồi đường bệ như ngồi ghế lỏ ở rạp hát. Trên đầu chúng tôi, đình màn lụa phồng lên như một cái trướng. Thằng nào thằng nay miệng ngậm xì gà. Ngồi thượng trên xe chúng tôi ngắm cảnh. Giữa chúng tôi là một cái lồng vẹt dành cho con mèo. Nó đi theo chúng tôi, nằm trong lồng, trước đĩa thịt, và rù rì. Xe từ từ chạy trên đường. Chúng tôi cất tiếng vang ca. Đằng sau chúng tôi, bom đạn rơi làm tung tóe từng cụm trên cái thị trấn giờ đây hoàn toàn tan nát.

Vài ngày sau, chúng tôi được phái đi di tản một ngôi làng. Trên đường chúng tôi gặp dân chúng tị nạn mang theo của cải tài sản hoặc trên xe cút kít, hoặc trên xe nôi, hoặc trên lưng. Những thân hình khòm khòm những bộ mặt bi đát, đầy tuyệt vọng, hấp tấp và chịu đựng. Con trẻ níu chặt tay mẹ, thỉnh thoảng con chị dắt mấy đứa em thơ ngã lên ngã xuống chốc chốc lại quay nhìn lại. Có đứa còn ôm theo những con búp bê trông đã thểu não. Tất cả đều lẳng lặng đi qua.  Chúng tôi đi thành hàng dài; bọn Pháp không pháo kích một thị trấn mà còn dân chúng. Nhưng vài phút sau không trung gào thét mặt đất chuyển động, các tiếng kêu vang lên, một quả đạn rơi giữa đội tập hậu. Chúng tôi tản ra nằm ẹp xuống đất, nhưng vừa lúc ấy tôi cảm thấy cái lanh lẹ bản năng đã rời tôi cái bản năng nó xưa nay vẫn khiến tôi tự động làm đúng cái phải làm dưới hỏa lực; cái ý nghĩ thoáng đến với một sự thất thần khiếp đảm: Mày nguy rồi» – và ngay sau đó một quả quất như một ngọn roi bên trên cẳng trái tôi. Tôi nghe Albert kêu lên một tiếng, nó nằm bên tôi.

« Albert, mau lên! » tôi hét, vì mình nằm phơi ngay giữa trời, không vật ẩn nấp. Nó lảo đảo đứng lên chạy. Tôi đeo bên nó. Chúng tôi phải chạy đến một bờ dậu, bờ dậu cao hơn chúng tôi. Kropp nắm lấy một cành, tôi giữ chân nó nâng nó lên, nó kêu lên, tôi hất mạnh lưng nó sang bên kia. Tôi nhảy lên theo nó và rơi vào một cái rãnh bên bờ dậu. Mặt chúng tôi dính đầy rêu và bùn, nhưng chổ ẩn tốt. Nên chúng tôi dầm mình xuống đến cổ. Mỗi lần nghe một quả đạn rít chúng tôi lại rúc đầu xuống nước. Cứ thế hàng hơn chục lần, tôi mệt lử.

« Ta đi đi thôi, bằng không tao dám chìm và chết đuối luôn,» Albert rên.

« Mày trúng đâu? » tôi hỏi nó.

« Đầu gối thì phải. »

« Còn chạy được không? »

« Có lẽ được. »

« Vậy thì chạy. »

Chúng tôi nhắm cái rãnh bên đường chạy tới đoạn khom người chay dọc theo rãnh. Đạn rơi theo chúng tôi. Con đường đưa đến kho đạn. Kho đạn mà nổ thì chúng tôi không thẳng nào còn đầu cắm vai. Nên chúng tôi đồi ý, chạy băng qua đồng. Albert đã bắt đầu lết chân. «Mày cứ đi, tao sẽ theo sau, » nó nói, và nằm ẹp xuống.

Tôi túm cánh tay hắn lắc. « Alberl, đứng lên, đã nằm xuống là hết đi nổi. Đứng mau, tao dìu.»

Mãi rồi chúng tôi đến một cái hầm nhỏ. Kropp nhào vào và tôi băng bó cho nó. Đạn trúng trên đầu gối một chút, Xong rồi tôi soát lại tôi. Quần tôi có mán và cánh tay tôi cũng rướm máu. Albert lấy băng của nó ra băng cho tôi. Chân nó giờ nhấc không nổi và cả hai không hiểu mình làm thế nào mà lại chạy xa được thế. Chỉ có sợ mới mọc cánh; khi đó bàn chân có đứt vẫn cứ chạy; — chạy trên hai ống. Tôi còn bò được. Tôi lên tiếng gọi một xe cứu thương chay qua và họ đến nhặt chúng tôi. Xe đầy thương binh. Có một anh cai y tá đi theo, anh tiêm cho tôi mỗi thằng một mũi ngừa sài uốn ván vào ngực. Đến trạm cứu thương chúng tôi dàn xếp để được nằm gần nhau. Họ cho chúng tôi ít cháo loãng, chúng tôi cầm thìa múc ăn ngon lành nhưng vẽ miệt thị, vì từng ăn ngon nhưng bây giờ thì đói.

«Albert, giờ thì về nhà chứ, » tôi nói. «Hy vong vậy, nó đáp, «Tao chỉ ước tụi mình bị gì. »

Vết thương đau thêm. Băng nóng như lửa. Chúng tôi uống hết ly nước này đến ly nước khác mà vẫn khát.

«Tao trúng trên đùi bao xa? » Kropp hỏi.

«Ít ra cũng mười phân. » tôi đáp. Không chừng mà rắc rối.

«Tao nhất định rồi, nó nói sau một hồi sny nghĩ, nếu họ cưa cẳng tao, tao sẽ kết liễu luôn. Tao không muốn suốt đời sống quẻ quặt,»

Chúng tôi nằm đấy với các ý nghĩ của mình và chờ đợi.

Tối đến chúng tôi được đưa đến khu mộ. Tôi hoảng vía chợt nghĩ mình phải làm gì; vì ai ai cũng đều biết rằng các y sĩ ở trạm cứu thương hễ động chút là cưa thẳng tay. Chà đông quá mà, cưa còn giản dị hơn là băng bó lôi thôi. Tôi nghĩ đến Kemmericb. Muốn gì thì tôi gì sẽ không để họ đánh thuốc mê tôi, dù cho tôi phải đập vỡ sọ vài thằng. Không sao. Y sĩ ấn ấn quanh vết thương và mắt tôi thấy tối sầm. «Gì mà sợ,» ông nói cộc cằn và cắt bỏ băng bông. Các dụng cụ lóng lánh dưới ánh sáng như những con thú độc. Đau chết người được. Hai anh y tá ghì chặt hai cánh tay tôi, nhưng tôi giằng được một tay và giáng vào đôi kính của ông, nhưng vừa thấy nên nhảy lui né kịp. «Đánh thuốc mê thằng quỉ này coi, » ông gầm lên. Tôi bình tĩnh lại .« Xin lỗi bác sĩ, tôi xin ngồi yên, nhưng đừng đánh thuốc mê tôi. »

«Được rồi, » ông hục hặc lại cầm dụng cụ lên. Ông trông cũng điển giai, không ngoài ba mươi, có sẹo và đeo đôi mục kỉnh trông đếm tởm. Giờ thì tôi thấy ông ta muốn hành tôi, ông chỉ có nạo nạo trong vết thương và liếc nhìn tôi trên đôi kính. Tay tôi siết chặt quanh cái móc, nhất quyết không kêu một tiếng. Ông ta lôi ra một mảnh miễng và ném cho tôi. Ông ta có vẻ khoái cải gan lì của tôi, vì giờ thì hình như ăn nói cũng từ tốn hơn, ông bảo tôi: «Mai là anh về nhà. » Rồi tôi được bó thạch cao. Khi trở về với Kropp tôi nói nó nghe là mai có chuyến tàu cứu thương đến.

«Albert, mình phải tán lão thượng sĩ y tá làm sao cho lão xắp hai thằng cùng đi một chuyến. »

Tôi dấm dúi cho lão ta hai điếu xì gà có cỏ nhãn dán bụng và ngỏ ý mình cho lão biết. Lão hít hà đoạn hỏi: «Chú mày còn nữa không? »

«Còn cả nắm, » tôi nói, «cả thằng bạn tôi nữa,» tôi chỉ Kropp, «nó cũng có ít nhiều. Sáng mai ra tàu chúng tôi sẵn sàng dúi cho bác qua cửa sổ. »

Dĩ nhiên lão hiểu, hít hà một lần nữa và nói «Được rồi. »

Suốt đêm chúng tôi không lúc nào chợp måt. Trong phòng chúng tôi bảy thằng chết. Một thằng hát thánh ca bằng một giọng têno lệnh vỡ trước khi khò khè đi đứt. Một thằng nữa bò từ giường ra cửa sổ. Hắn nằm trước cửa như thể đề nhìn ra ngoài một lần chót.

Cáng chúng tôi nằm trên sân ga. Chúng tôi chờ tàu. Trời mưa, ga lại không mái. Chăn đắp lại mỏng. Chúng tôi chờ đã hai tiếng. Lão thượng sĩ chăm sóc chúng tôi như mẹ đẻ. Mặc dầu đau buốt tôi vẫn nhớ đến kế hoạch đã tính. Thỉnh thoảng tôi lại hé cho lão thấy gói xì gà và cho lão một điếu trước. Đề đền bù lão đắp cho chúng tôi một tấm vải dầu.

« Albert, bồ à, tớ sực nhớ lại cái giường bốn cột của chúng mình với con mèo -..

«Và hai chiếc ghế bành, » nó nói thêm.

Ừ nhỉ, hai chiếc ghế bành nệm đỏ. Tối đến hai thẳng thường ngồi xuống ghế như hai vị vương tôn công tử, và đã tính sau đó cho thuê giờ. Mỗi giờ ngồi một điếu thuốc. Có thể cứ thế làm ăn đều đều, đủ phong lưu chán.

«Rồi cái bao cao lương mỹ vị nữa chứ, Albert. »

Chúng tôi đâm buồn. Có những thức ấy kể cũng đỡ. Phải chi tàu chậm lại một ngày Kat thế nào cũng tìm ra chúng tôi và mang lại cho chúng tôi. Rõ thật đen! Trong bụng mình toàn là  cháo, thực đơn khốn nạn của bệnh viện, mà trong bao tử mình lại có lợn quay. Nhưng chúng tôi còn yếu quá nên cũng không đủ sức mà sảng khoái thêm. Sáng ra tàu đến thì cáng cũng vừa ướt đẫm. Lão thượng sĩ lo xắp chúng tôi lên một toa. Có cả một đoàn nữ y tá Hồng Thập Tự. Kropp được đặt nằm giường dưới, còn tôi được khiêng đặt lên giường trên nó.

«Trời đất ơi!» tôi bỗng thốt lên.

«Gi thế? » một cô hỏi.

Tòi liếc nhìn giường. Trải vải sạch trắng bong, còn in dấu bàn là. Mà sơ mi tôi thì sáu tuần chưa giặt lại dính đầy bùn.

«Anh không nằm xuống lấy được à? » cô ta dịu dàng hỏi.

«Được chứ,» tôi đáp hổn hển, «nhưng trước hết cô lấy vải giường ra cái đã. »

«Đề làm gì? »

Tôi cảm thấy mình bẩn như lợn. Mà chui vào đấy sao được – «Sợ nó – » tôi ngập ngừng.

«Hơi bẩn phải không? » cô đỡ lời. «Có sao, bẩn thì lại giặt. »

«Không, không, không phải -» tôi nói bối rối. Tôi không xứng với cái thanh lịch kia chút nào cả.

«Anh đã phải nằm ngoài mặt trận trong hang hố, chúng tôi giặt một tấm vải thì đã sao, » cô nói tiếp.

Tôi nhìn cô, trẻ trung xinh xắn, sạch sẽ tươm tất, như mọi cái ở đây; một thằng lính không thể ý thức được rằng đây chẳng phải chỉ dành riêng cho sĩ quan, nó cảm thấy bỡ ngỡ, và tệ hơn thế, cảm thấy hoảng hốt.

Đàn bà là đàn bà, lúc nào cũng thích hành người ta, cô lại muốn buộc tôi phải nói ra. «Chỉ vì là -» tôi lại cố, chắc chắn là cô phải biết ý tôi muốn nói gì chứ.

«Vì là gì nào? »

«Vì rận,» mãi rồi tôi nói toạc ra.

Cô cười. «Thì chúng cũng được chia vui chứ sao. »

Giờ thì tôi cọc cằn’ nữa. Tôi chui vào giường, kéo chăn lên đắp. Một bàn tay lần trên vải giường. Lão thượng sĩ. Lão lấy xì gà đi. Một giờ sau chúng tôi thấy mình đang di chuyển.

Đêm đến tôi ngủ không được. Kropp cũng trần trọc. Con tàu lướt nhẹ trên đường rày. Tỏi còn chưa ý thức nổi; nằm giường, tàu chạy, về nhà. «Albert la tôi gọi sẽ.

«Gì -»

«Cậu biết chổ đi tiểu đâu không? »

«Hình như phía bên phải cửa. »

«Tở lại đi xem chút. » Trời tối, tôi đi mò thành giường và từ từ toan tụt xuống. Nhưng chân tôi không có chỗ đặt, tôi tuột luôn, cẳng bỏ thạch cao đâu đỡ nỗ i, thế là tôi rơi xuống sàn cái rầm.

«Mẹ kiếp» tôi thốt.

«Bồ rơi à? » Kropp hỏi.

«Thì mày nghe đấy, » tôi hậm bực, cha cái đầu -»

Một cánh cửa mở đằng cuối toa. Cô y tá soi đèn đến thấy tôi.

«Nó trên giường lăn xuống –

Cô y tá bắt mạch tôi, sờ trán tôi. «Anh đâu có sốt.»

«Không, » tôi đồng ý.

«Chắc anh nằm mơ? » cô hỏi.

«Có lẽ -» tôi nói lãng. Cô lại hỏi. Cô nhìn tôi với đôi mắt trong sáng và cô càng ngọt ngào càng khả ái tôi lại càng không sao nói được tôi muốn gì.

Tôi lại được đỡ lên giường. Thế là ổn.

Nhưng cô vừa đi khỏi tôi lại toan leo xuống. Phải như cô là một bà già, mình còn dễ nói mình muốn gì, nhưng cô còn trẻ quá, giỏi lắm hăm mốt, thì sao mà nói nỗi, quả thật tôi không thể nói với cô ta được.

Albert mởi phải giúp tôi. nó không rụt rè, muốn gì thì nói, chẳng nể nang ai. Nó gọi cô y tá. Cô quay lại. « Cô à, nó muốn – nhưng ngay cả Albert cũng không biết diễn tả sao cho thanh nhã lịch sự. Ngoài mặt trận chúng tôi chỉ vỏn vẹn nói một tiếng, còn ở đây, với một tiểu thư thế kia – Bỗng nó nhớ ra hồi còn đi học và vội chấm dứt: « Nó muốn ra ngoài, cô à.»

«À ra thế» cô y tá nói, «nhưng băng bó thế kia chớ nên leo ra khỏi giường. Thế anh muốn gì? » cô nói, quay lại tôi. Lần này thì tôi chết khiếp, vì tôi không biết những cái đó tiếng nhà nghề gọi là gì. Cô đỡ lời tôi.

«Tiểu hay đại? »

Thật là của nợ! Tôi mướt mồ hôi, thẹn thùng nói: «Dạ, tiểu chút chút thôi.

Dù sao thì cũng có hiệu quả. Tôi được một cái chai. Vài giờ sau tôi không còn là kẻ duy nhấi, mà gần về sáng chúng tôi đâm quen và đòi hỏi những cái mình cần không còn giữ kẻ nữa. Con tàu chạy chậm chậm. Đôi khi dừng lại và những người chết được khiêng xuống. Tàu dừng luôn. Albert lên cơn sốt. Tôi cảm thấy đau khổ và nhức nhối, nhưng bực nhất là hình nhự còn có rận cả dưới lớp băng. Ngứa kinh khủng mà không sao gãi được. Chúng tôi ngũ li bì suốt mấy ngày trời. Cảnh vật êm lặng lướt qua cửa sổ. Đêm thứ ba thì đến Herstal. Tôi nghe cô y tá nói đến ga sau phải cho Albert xuống vì nó sốt quá.

« Tàu chạy đến đâu? » tôi hỏi.

« Đến Cologne, »

«Albert, » tôi nói, « chúng mình phải bám lấy nhau; bồ thấy không. »

Lần đi soát sau của cô y tá, tôi nín thở làm máu dồn lên đầu. Mặt tôi sưng lên đỏ gay. « Anh đau lắm không? » « Đau lắm, » tôi rên, « bỗng nhiên à.»

Cô đưa tôi một ống nhiệt độ kế rồi đi luôn. Nhờ Kat dạy bảo nên giờ tôi phải biết mình làm gì. Cái thứ nhiệt độ kế của quân đội này chẳng phải làm cho mấy tay lính cựu. Chỉ làm sao cho thủy ngân lên là rồi nó nằm chết đấy không xuống nữa. Tôi cắm nhiệt độ kế vào nách hơi chênh chếch đoạn dùng ngón tay trỏ chà chà luôn tay. Xong rồi lắc mạnh một cái. Nhiệt độ lên đến 39. Thế cũng chưa đủ. Tôi lại miết thật kỹ đưa lên 41 độ. Khi cô y ta trở lại, tôi làm mặt sưng lên, thở hổn hà hổn hển, nhìn cô mắt trợn trừng, vật mình vật mẩy và lầm bà lầm bầm:

« Trời ơi đau chết mất thôi … »

Cô ghi lên một miếng giấy. Tôi thừa biết là người ta chỉ tháo băng khi không thể dừng được kìa. Albert và tôi được xếp với nhau.

Chúng tôi nằm cùng một phòng tại một  bệnh viện Thiên chúa giáo. Thật là phúc đức, các bệnh viện Thiên chúa giáo nỗi tiếng là điền trị hay và ăn uống ngon lành. Chuyến xe lửa của chúng tôi làm bệnh viện chật ních, trong số có lắm vụ trầm trọng. Hôm nay chúng tôi chưa được khám vì đơn bác sĩ quá. Các xe cáng bánh cao su lăn đi lăn lại không ngừng dọc theo hành lang, lúc nào cũng với người nằm thẳng cẳng ở trên. Một hế nằm khốn nạn, người cứ thẳng đơ đơ; – thời gian duy nhất dễ chịu là khi mình ngủ.

Tối đến là chán nhất. Không ai ngủ được. Vào chập choạng sáng mới chợp mắt được đôi chút. Tôi tỉnh giấc thì trời vừa sáng. Cửa mở toang và nghe có nhiều giọng ngoài hành lang. Bọn kia cũng tỉnh giấc cả. Một anh ở đây đã được hai ngày nói chúng tôi biết: «Ngoài hành lang sáng nào các dì phước cũng cầu kinh. Họ gọi đó là Công phu sáng. Và để chúng mình cũng được nghe kinh, họ để cửa mở.»

Dĩ nhiên là hảo ý, nhưng lại làm buốt đầu buốt xương chúng tôi.

«Thật là vớ vẫn»  tôi nói, ngay khi mình vừa thiu thỉu ngủ. »

«Tất cả các vụ nhẹ được quy tụ tại đây, nên họ mới cầu kinh tại đây,» anh ta nói.

Albert rên. Tôi cáu tiết hét to: «Ngoài đó hãy im đi! ».

Một phút sau, một dì phước chạy vào. Trong bộ áo đen trắng cô trông như một cái giành ấm đẹp. «Đóng dùm cái cửa dì. » có người nói.

«Chúng tôi đang cầu kinh, vì thể nên để cửa mở, » dì đáp.

«Nhưng chúng tôi cần ngủ -»

«Cầu nguyện còn tốt hơn là ngủ, » dì ta đứng đấy mỉm cười ngây thơ. «Vả lại cũng bảy giờ rồi. »

Albert lại rên. «Đóng cửa lại, » tôi gằn giọng. Di không hề nao núng. Rõ ràng là dì không hiều nổi. «Nhưng chúng tôi đang cầu nguyện cả cho các người nữa kia mà. »

«Cầu cứ cầu, nhưng đóng cửa lại. »

Dì đi biến, vẫn để cửa mở. Giọng cầu kinh vẫn tiếp tục. Tôi điên tiết nói. «Tôi đếm đến ba. Nếu mà không ngưng tôi sẽ ném. »

«Cả tôi nữa, » một anh khác nói. Tôi đếm đến năm. Đoạn cầm một cái chai, nhắm, và ném qua cửa ra ngoài hành lang. Chai vỡ toan. Tiếng cầu dừng lại. Một bầy dì phước xuất hiện và đồng thanh khiển trách chúng tôi.

«Đóng cửa lại! » chúng tôi hét.

Họ rút lui. Nhà dì nho nhỏ thoạt đầu đến cũng lại là người tháo lui cuối cùng. «Trời đấ t,» dì chép miệng, nhưng rồi cũng đóng cửa lại. Chúng tôi đã thắng.

Trưa đến ông thanh tra bệnh viện đến và nguyền rủa chúng tôi. Ông dọa bỏ nhà giam và này khác. Nhưng một thanh tra bệnh viện thì cũng chẳng khác gì một thanh tra cảnh sát, hay bất cứ một kẻ nào đeo gươm đeo đai, nhưng thật ra chỉ là một anh thơ lại và có bao giờ được lính, ngay cả tân binh, coi là một sĩ quan. Nên chúng tôi mặc cho lão nói. Dù sao thì họ làm gì được chúng tôi kìa

-«Ai ném chai, » lão hỏi.

Trước khi tôi chưa biết có nên tự tố cáo mình không thì đã có người đáp:

«- Tôi.»

Một người râu ria tươi tốt ngồi lên. Ai nấy đều hồi hộp: tại sao anh ta lại nhận kìa?

«Anh? »

«Phải. Tôi bực mình vì đánh thhức chúng tôi dậy một cách không cần thiết nên điẻn tiết không biết là mình đã làm gì.»

Anh ta nói như đọc bài.

«Tên anh là gì? »

«Trừ bị tiếp viện Josef Hamacher. »

Viên thanh tra bỏ đi. Chúng tôi đều chưng hửng. Nhưng tại sao lại nhận là anh? Đâu phải là anh! »

Anh cười «Ăn nhằm gì. Tôi có chứng chỉ loạn thần.»

À thì ra thế, chúng tôi đều vỡ lẽ. Ai mà có chứng chỉ này muốn làm gì thì làm.

«Ử,» anh cho biết. «Tôi bị bắn trúng đầu nên cấp cho tôi một chứng chỉ rằng tòi có khi không còn trách nhiệm về hành động của mình. Từ đó trở đi tôi sướng như tiên. Chả ai dám làm bực tôi. Và chả ai làm gì được tôi.

«Tôi nhận là vì tôi khoái cái cú ném ấy. Mai mà họ còn để cửa mở mình còn ném.

Chúng toi mừng rơn. Đã có Josef Hamacher trong bọn chúng tôi giờ chả có gì phải ngán. Rồi các xe cảng êm ru đến đưa chúng tôi đi. Băng dính chặt quả. Chúng tôi rống như bò.

Phòng chúng tôi có tám thằng. Peter, tóc đen quăn, bị nặng nhất; – trọng thương ở phổi. Franz Wachter, cạnh hắn, trúng canh tay, thoạt đầu trông cũng vậy vậy. Nhưng đến đêm thứ ba hắn gọi chúng tôi nhờ chúng tôi rung chuông, hình như bắn bị ra máu.

Tôi rung ầm lên. Dì phước trực không đến. Suốt đêm chúng tôi có phần không ngớt kêu dì ta vì chúng tôi vừa được băng hó xong, nên thường nhức buốt. Thằng thì muốn đặt chân mình thế này, thằng thì thế kia, thằng thì khát nước, thẳng thì muốn rũ gối lại; – thét rồi cái thân hình bồ tượng già nua của dì cũng đâm bực mình và dì đóng cửa sầm sầm. Giờ đày chắc dì cũng lại cái gì đại loại như thế nên dì không đến.

Chúng tôi đợi. Đoạn Franz lại nói: «Rung nữa đi. »

Tôi lại rung. Cũng chẳng thấy mặt mũi gì. Bên phía chúng tôi chỉ có độc một dì trực đêm, có lẽ dì bận làm gì tại một phòng khác. «Franz, mày có chắc mày ra máu không? » tôi hỏi «Bằng không chúng mình lại bị rủa nữa.»

«Băng ướt đẫm. Ai thử bật đèn lên coi. »

Bật cũng chẳng được. Chỗ bật bên cạnh cửa và chúng tôi có thẳng nào đứng lên được. Tôi di ngón tay cái vào nút chuông đến nỗi tê cả tay. Không chừng dì ta ngủ quên. Họ phải làm nhiều quá và cứ thế hết ngày này đến ngày khác. Đã thế lại lúc nào cũng cầu nguyện. «Ta ném một chai nữa chăng? » Josef Hamacher có chứng chỉ loạn thần hỏi. «Chuông nghe còn chưa ra huống hồ là chai. »

Mãi rồi cánh cửa mở. Di phước già xuất hiện lầm bẩm lầm bầm. Khi thấy tình trạng của Franz bà mới cuống cuống lên, hỏi:

«Tại sao không ai gọi tôi cả? »

«Chúng tôi bấm chuông. Chứ có thằng nào đi được đâu.»

Nó ra máu nhiều quá và dì vội băng lại. Sáng ra chúng tôi nhìn mặt hắn, nó đã trở thành hốc hác, vàng khè, trong khi mới đêm hôm trước trông nó gần như bình phục. Giờ thì dì phước đến thường hơn.

Đôi khi cũng có những cản bộ Hồng Thập Tự tình nguyện. Họ vui vẻ khả ái, nhưng thường thì vụng. Họ thường làm đau chúng tôi khi làm lại giường nệm và rồi cuống cuồng lên họ lại còn làm đau thêm. Các dì phước đáng tin hơn. Họ biết phải chăm sóc chúng tôi như thế nào nhưng nếu họ lại tươi tỉnh hơn thi chúng tôi thích biết mấy. Có đôi dì thật là đầy tinh thần, thật là khả kính. Không ai lại không muốn xả thân cho Di Libertine, một dì phước có một không hai, đi đến đâu là làm phấn kbởi đến đấy mặc dù chỉ thấy dì ở xa xa.

Cũng có những dì khác như dì. Bà bảo nhảy vào lửa chúng tôi cũng dám nhảy. Thật ra thằng lính chả có gì phải phàn nàn, ở đây nó được các dì chăm sóc cũng y như một thường dân. Trái lại mỗi khi nghĩ đến bệnh viện đồn trú thằng linh không khỏi rùng mình. Franz Wachler không hồi lại sức. Một hôm nó được đưa đi và không thấy trở lại. Josef Hamacher rõ đầu đuôi cân chuyện. «Không còn thấy nó nữa đâu. Họ cho nó vào phòng Chết rồi. »

«Mày bảo sao. Phòng Chết? » Kropp hỏi.

«Thì phòng Hấp Hối – «Là nhà gì? »

«Một căn phòng nhỏ ở đằng góc. Auh nào sắp đi đoong thì được đưa lên đấy. Đấy có hai giường. Người ta gọi đó là phòng Hấp Hối.»

«Nhưng tại sao họ lại làm thế? »

«Để cho tiện việc. Tiện hơn nữa là phòng nằm ngay cạnh thang máy xuống nhà xác. Không chừng cũng vì thương mấy thằng khác, đề đừng thằng nào lại chết theo vì tình cảm. Và cũng để chăm sóc cũng chu đáo hơn, nếu nó nằm một mình.»

«Thế còn nó? »

Josef nhún vai: «Thường thì nó cũng chẳng bận tâm đến nữa.»

«Ở đây mọi người đều biết thế chứ? »

«Ở đây một thời gian dĩ nhiên ai lại không biết. »

Tôi được mỗ và mửa luòn hai ngày. Xương tôi sẽ không bao giờ còn liền, cô thư ký bác sĩ bảo. Một thằng khác bị vẹo cũng vì thế và rồi lại gãy. Nghĩ mà tởn. Trong số mới dến đó hai thẳng lính trẻ chân lệch. Y sĩ trưởng trong lúc khám bệnh khám phá ra, ông mừng rơn. «Để ta chữa cho các chú, » òng bảo chúng, «chỉ mỗ chút xíu là chân lại hoàn toàn. Dì ghi tên họ. »

Ông vừa đi khỏi, Josef, chả gì không biết, cảnh cáo chúng : «Chớ để lão mổ mà khốn! Lão hơi có máu điên khoa học. Vớ được ai có chút gì là lão lại nổi máu điên. Lão mà mỗ chân chúng mày, thì cứ gọi là chân lệch tiêu cha nó luôn, thành chân què, suốt đời chống nạng. »

« Thế vậy phải làm sao? » một thẳng hỏi.

« Nói Không. Đến đây là đề chữa vết thương, chứ không để chữa chân lệch. Lệnh thì lệch thì chứ chúng mầy ra trận đã sao chưa? Chưa chúng mầy thấy không? Đến nay chúng mầy vẫn đi vẫn đứng, nhưng để cho lão ta mà xở rở thọt dao vào là chúng mầy què luôn. Lão chỉ cần những con chó con để thí nghiệm, nên chiến tranh là lão khoái tỉ, mấy gã giải phẫu khác cũng thế cả. Chúng mình hãy nhìn mấy bọn dưới kia xem; còn hơn chục thằng kbập khà khập khiễng nhảy cò cò toàn là tụi lão mổ cho đấy. Nhiều thằng ở đây từ năm « mười bốn » mười lăm. Không có lấy một thẳng nào lại đi đứng ra hồn hơn là trước kia, hầu hết còn tệ hơn và đa số còn bó chân. Cứ sáu tháng lão lại túm lấy chúng lại bẻ gẫy xương chúng và mỗi lần lại bảo lần này là hoàn toàn. Nhớ lấy lời tao nói, chúng mầy cứ nói Không là đố lão dám. »

« Thôi cha nội, » một thẳng bạc phước kia nói, «thà mất chân còn hơn mất óc. Ai biết được mình sẽ ra sao nếu lại trở lại ngoài ấy. Cho họ muốn làm gì tôi thì làm, miễn tôi được ở nhà. Thà là chân què còn hơn là ngỏm củ tỏi. »

Thằng kia, một thằng còn trẻ cũng như chúng tôi, nhất định không để mỗ. Một buổi sảng lão y sĩ gọi hai thang lên thuyết phục nhăng cuội làm sao chả rõ mà hai thằng đều bằng lòng. Chúng biết làm sao? – Chúng chỉ là những thẳng lính hạng bét, còn lão thì là tay bự. Chúng được đưa về mê man và bó bột.

Bệnh tinh Albert có vẻ bi quan. Họ đưa hắn đi cắt chân. Cắt cả đùi. Giờ thì nó câm như hến, Có lần nó đã bảo nó mà vớ được súng lục là nó tự cho mình một phát là rồi đời. Một chuyến công-voa mới đến. Phòng chúng tôi thêm hai tên mù. Một tên là nhạc công còn trẻ măng. Khi cho hắn ăn các dì không bao giờ mang dao theo; có lần nó đã giật dao của một dì. Nhưng mặc dầu đã đề phòng vẫn có chuyện xảy ra. Tối  đến trong khi cho hắn ăn, dì ta bị gọi đi nên đề đĩa với nỉa trên bàn. Hắn mò được cái nỉa, nắm lấv và đâm bết sức mạnh vào tim, rồi vớ lấy chiếc giầy đóng thình thịch lèn cán nỉa. Chúng tôi kêu cứu và phải ba người mới lấy được cái nỉa ra, Răng nỉa đã tà mà còn cắm sâu. Suốt đêm hắn chửi chúng tôi khiến không thằng nào ngủ được. Sáng ra hắn bị sài uốn ván. Thế là giường lại trống. Ngày này qua ngày khác cũng vẫn chỉ đau đớn, sợ hãi, cũng chỉ những tiếng rên rỉ, những tiếng khò khè của thần chết. Ngay cả căn phòng Chết cũng trở thành vô vị, cũng nhỏ quá; trong phòng chúng tòi đêm nào cũng có thẳng tử biệt. Tử biệt nhanh đến nổi các di phước không kịp săn sóc đến. Nhưng một hôm cửa mở toang, chiếc xe cáng lăn vào và kìa trên cáng thằng Peter ngồi, xanh xao, gầy gò, ngay ngắn và hớn hở. Dì Libertine hân hoan đầy nó về giường cũ cua nó. Nó từ phòng Hấp Hối trở về. Chúng tôi đã tưởng nó chết từ lâu.

Nó nhìn quanh: «Chúng mày bảo sao? »

Và ngay cả Josef cũng phải công nhận rằng đây là lần đầu tiên nó được thấy chuyện lạ này.

Dần dần chúng tôi có vài thằng thử đứng dậy. Và người ta cho tôi nạng để cò cò quanh quẩn. Nhưng tôi không hay sử dụng; tôi không chịu được cái nhìn của Albert khi tôi cò cò quanh phòng. Đôi mắt nó luôn luôn theo dõi tôi với một cái nhìn kỳ dị. Nên thỉnh thoảng tôi lẻn ra ngoài hành lang; -ở đảy tôi cử động được tự do hơn. Ở ngay tầng dưới là các người bị thương ở bụng và xương sườn, bị thương ở đầu và cưa cả hai chân. Bên cánh phải là các người bị thương ở cằm, bị hơi ngạt, bị thương ở mũi, tai và cổ. Bên cánh trái là các người bị mù, bị thương ở phổi, ở hông, ở các gân, ở dịch hoàn, ở ruột. Ở đây thẳng lính mới đầu tiên nhận thấy rằng đến lắm chỗ mình có thể bị trúng thương. Hai tên chết về sài uốn ván. Da xanh lè, chân tay cứng đơ, sau cùng chỉ còn có đôi mắt là sống – sống cho được. Nhiều người bị thương nằm với chân cẳng dập nát treo lên trên không; dưới vết thương đặt một cái chậu để hứng mủ. Cứ vài ba giờ lại mang chậu đi đổ. Kẻ thì nằm băng bó cứng ngắc với những quả tạ treo ở cuối giường. Tôi thấy những vết thương ở ruột lúc nào cũng đầy phân. Anh thư ký y sĩ cho tôi xem những hình chiếu điện những xương háng, xương đầu gối, xương vai dập nát. Thằng lính không ngờ được rằng trên những thân hình rách nát ấy lại còn có những bộ mặt người trên đó cái sống vẫn ngày ngày qua lại. Và đây mới chỉ là một cái bệnh viện, một trạm mà thôi; còn có hàng trăm hàng ngàn cái khác ở Đức còn có hàng trăm hàng ngàn cái khác ở Pháp, hàng trăm hàng cái khác ở Nga. Tất cả những gì đã viết ra, đã từng được làm, đã từng được nghĩ thật chả có nghĩa lý gì khi còn có những cái như thế này. Tất cả chỉ là láo khoét và vô tích sự khi mà nền văn hóa của hàng ngàn năm đã không ngăn chặn được suối máu này tràn chảy, đã khòng dẹp bỏ được những phòng cực hình này nảy nở hàng trăm hàng ngàn. Chỉ một bệnh viện thôi cũng đủ cho thấy chiến tranh như thế nào. Tôi còn trẻ, tôi mới hai mươi tuổi đầu; ấy thế mà tôi chẳng biết gì về đời sống ngoài tuyệt vọng, chết chóc, sợ hãi, và cái phiến diện huyền hoặc đắp lên một vực thẳm phiền não. Tôi thấy các dân tộc tập thù giết nhau như thế nào, và lẵng lặng, dốt nát, ngu xuần, ngoan ngoãn, ngây thơ, giết chóc nhau ra sao. Tôi thấy rằng các đầu óc thông minh nhất thế giới chỉ chế biến ra các vũ khí cùng các lời nói làm cho chiến tranh thêm tinh xảo và thêm dằng dai. Và tất cả những thằng người trạc tuổi tôi, ở đây và ở bên kia, ở khắp nơi trên thế giới, đều thấy rõ những điều này; tất cả thế hệ tôi đang thực nghiệm những điều này với tôi. Cha ông chúng tôi sẽ làm gì nếu đột nhiên chúng tôi đứng lên trước họ và nói lên tâm trạng của chúng tôi? Họ chờ đợi gì ở chúng tôi một khi chiến tranh rồi cũng phải chấm dứt? Trong mấy  năm qua còng việc của chúng tôi là chém giết; – đó là công tác đầu tiên của chúng tôi trong đời sống. Kiến thức của chúng tôi về đời sống chỉ giới hạn ở cái chết. Rồi những gì xảy ra sau đó? Rồi thân phận chúng tôi sẽ ra sao”?

Vài tuần sau cứ sáng sáng tôi lại phải đến phòng nắn bóp. Đến để treo chân lên và làm cho bắp thịt chuyển động. Cánh tay đã khỏi từ lâu. Nhiều chuyến công – voa khác từ mặt trận trở về. Băng không còn bằng vải nữa, mà bằng giay cờ-rếp trắng. Mặt trận thiếu băng vải. Cái đùi cụt của Albert lành lặn khả quan. Vết thương đã gần khép hẳn. Trong vài tuần nữa nó sẽ đến viện cbỉnh hình để làm chân giả. Nó vẫn lầm lầm lì lì, và trịnh trọng hơn trước nhiều. Hắn thường bỏ ngang câu chuyện và nhìn đăm chiêu trước mặt mình. Nếu nó không ở đây với chúng tôi, hẳn nó đã tự thí cho mình một phát từ lâu. Nhưng giờ đây nó như đang qua một cơn khủng hoảng và thường nhìn đi đâu trong kbi chúng tôi đánh các-tê. Tôi được phép nghỉ dưỡng bịnh. Mẹ tôi không muốn cho tôi đi. Bà yếu lắm. Còn tệ hơn lần trước nhiều. Rồi tôi lại được từ cứ phái ra mặt trận lại. Phải chia tay với thằng bạn Albert Kropp của tôi thật quá đau đớn. Nhưng thằng lính trong quân đội phải quen với những tình trạng này.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment