This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tuần qua, trên một chương trình truyền hình, tôi có dịp được phỏng vấn một thanh niên người Việt đã thành công trên đất Mỹ, tên em là Nguyễn Hữu Nhân hay Nathan Nguyễn, là con của cựu Thiếu Tá Nguyễn Hữu Phước, cựu SVSQ Khoá 20 Đà Lạt. Em chào đời năm 1996, vài năm sau khi ba đi tù 9 năm trở về, lớn lên trong một ngôi nhà lá vách đất ở thị xã Tây Ninh và năm 1991 theo cha sang định cư tại Mỹ trong danh sách HO 5 khi em chỉ mới 5 tuổi. Nathan thành công không phải vì em tốt nghiệp bằng cử nhân về thương mãi, nhưng vì em đã biết lập công ty địa ốc từ năm tốt nghiệp trung học để mua bán nhà với mục đích lấy tiền lời cho mẹ đi hành hương ở Roma, năm 20 tuổi trong khi đang đi học tại USC em đã lập công ty “Instrumentalsavings.com” bán nhạc cụ trên internet mà tiền lời năm 2008 của cái công ty vỏn vẹn có 6 nhân viên này lên đến 3 triệu đô la. Nathan Nguyễn đã được đài NSBC phỏng vấn trong chương trình “Young & Sussesssful”, được nêu tên trong cuốn “The Richest Kids in Ameria” và được coi như một tấm gương xuất chúng “Extraordinary Teens” trong loạt sách “Chicken Soup for The Soul”. Em luôn luôn hãnh diện về quá khứ và việc nói tiếng Việt lưu loát của mình. Chuyện Nathan Nguyễn giỏi tiếng Anh không có gì lạ, vì em vào trường Mẫu Giáo từ những năm đầu tại Mỹ, nhưng điều lạ là Nathan rất giỏi tiếng Việt, mặc dầu lúc rời Việt Nam em chỉ mới 5 tuổi. Hỏi lý do về chuyện này, Nathan trả lời rằng “nhờ cha mẹ em không biết tiếng Anh nên em mới giỏi tiếng Việt,” hàm ý ở nhà cha mẹ và con cái đều luôn luôn dùng tiếng Việt.
Trong môi trường đó cũng như trong các gia đình có bà nội bà ngoại, trẻ em nói tiếng Việt rất giỏi, còn thuộc thêm nhiều câu ca dao, tục ngữ. Trẻ em lớn lên ở đây, còn nói được tiếng nước mẹ rành rõi mới đáng quý, còn tiếng Anh giỏi thì là chuyện thường tình, đâu có vinh dự gì.
Có lần, tôi gọi thăm một người bạn ở xa, ở đầu giây tôi gặp một cô bé nói tiếng Anh, chừng là con gái bạn tôi, tôi hỏi tiếng Việt nhưng cô chỉ trả lời lại bằng tiếng Anh. Lần sau khi gặp bạn qua điện thoại, tôi hỏi đùa: “Nhà anh có con Mỹ nào vậy?” Bạn tôi trả lời, có vẻ hãnh diện:“Đó là con gái út nhà tôi. Nó mà nói tiếng Anh, không ai biết nó là người Việt đâu!” Chuyện này cũng không khác mấy chuyện thằng cháu ngoại sinh ở Mỹ, năm học lớp 2, khi bắt đầu nói được tiếng Anh đủ cho bạn bè và cô giáo hiểu, sung sướng và hãnh diện, về nhà nó ngây thơ khoe với ông bà ngoại: “Con nói tiếng Mỹ hay lắm, tụi nó cứ tưởng con là người Mỹ!”
Câu nói: “Chỉ sợ con mình quên tiếng Việt, đừng lo lũ cháu dốt Anh văn”của một nhà giáo luôn luôn vẫn là một lời khuyên đúng. Có ý kiến độc giả lại lên án câu nói này và cho rằng “việc chuẩn bị một số vốn liếng tiếng Anh là điều rất cần thiết cho các trẻ nhỏ trong những ngày đầu đến trường” hay “người nào đó đem áp dụng những câu nói này mà lơ là trong việc dạy dỗ cho các em một số vốn liếng tiếng Anh cần thiết, là một điều vô cùng thiếu sót, thiếu trách nhiệm làm cha mẹ hay phụ huynh … “. Ngay cả đối với người Mỹ, với con cái chỉ mới vào lớp mẫu giáo, họ đã trang bị được “vốn liếng” gì cho ngoài chuyện đàm thoại rất hạn chế trong gia đình, vì ngay chuyện viết, đọc, trẻ em cũng phải học hỏi ở nhà trường. Tôi đã gặp nhiều bậc cha mẹ ngay cả khi vào chợ thường nói chuyện với con bằng tiếng Anh, một thứ ngôn ngữ chưa thông thạo và phát âm còn sai. Nhiều nhà giáo đã khuyên chúng ta không nên dùng thứ tiếng Anh đó để “dạy dỗ” hay gây “vốn liếng” cho con, cứ để trẻ em tự phát triễn Anh Ngữ ở trường. Chúng ta thử hỏi có bao nhiêu phần trăm người Việt di dân sang đây, vào những ngày đầu con đến trường có thể trang bị cho con một số vốn Anh Ngữ như một người Mỹ đã sống ở đây nhiều đời? Phần lớn cha mẹ cũng đang gặp khó khăn, chật vật với ngôn ngữ tại đây để sinh tồn, không có kiến thức cũng như thời giờ để giúp con “số vốn liếng tiếng Anh”như đề nghị trên, nhưng cuối cùng chúng ta thấy dù cha mẹ không biết mảy may tiếng Anh, con cái họ cũng đã thành công vượt bực. Vậy vấn đề còn lại của người Việt, người Tàu hay người Đại Hàn nơi đây là ít ra phải nói được tiếng mẹ đẻ của họ, chưa nói đến chuyện đòi hỏi một trình độ cao hơn là đọc hay viết được ngôn ngữ của dân tộc mình. Con cháu của những đợt di dân đầu tiên đến Mỹ, Úc, Pháp hay các nước khác không mấy khó khăn khi nói tiếng Việt, nhưng phần đông không thể viết hay đọc được Việt Ngữ, do đó chúng ta phải ghi nhận công lao của các thầy cô các trung tâm Việt Ngữ hiện điện trong các cộng đồng người Việt tỵ nạn trên thế giới.
Còn vấn đề hướng dẫn hay dạy đỗ con cái như thế nào còn tuỳ thuộc vào suy nghĩ của mỗi gia đình, cho nó là quan trọng hay không? Ngày nay người Việt chúng ta, vì hoàn cảnh hồi vượt biển bỏ nước ra đi, nay thì có gia đình người ở Pháp, người định cư ở Đức, mỗi khi có cơ hội sum họp với nhau ở nhà ông bà nội ở Mỹ, cháu ngoại thì nói với nhau tiếng Đức rổn rảng, cháu nội thì dùng tiếng Pháp líu lo, nhưng anh em cô cậu nói chuyện với nhau thì … ngọng miệng!
Cha mẹ thường chiều con, nói rằng chúng nó nói tiếng Việt khó khăn, nên để chúng dùng tiếng Anh cho thoải mái. Dần dà, các em quên mất tiếng Việt và nếu có nói thì cũng nói sai giọng. Không phải ai cũng có ý thức dạy con cái nói tiếng Việt. Phải kiên trì và chịu khó lắm mới thành công. Một cháu nói với tôi rằng hồi mới qua Mỹ, bố cháu kẻ bảng chữ treo trong phòng ăn: “Không Nói Tiếng Việt- Không Ăn Cơm”. Có gia đình, đối với các cháu nhỏ ngày Tết: “Không Chúc Ông Bà bằng Tiếng Việt – Không Có Tiền Lì Xì.”
Hiện nay ở Việt Nam người ta vọng ngoại, thích học và nói tiếng Anh, trong khi chúng ta ở đây tìm cách khuyến khích con học tiếng Việt là điều dễ hiểu. Có điều tôi hy vọng rằng tiếng Việt tương đối đủ dùng trong việc giao tiếp với nhau hằng ngày không cần phải vừa nói vừa chêm tiếng Anh ngay cả trên đài phát thanh, như “uống thuốc của bác sĩ tôi thấy rất work”, rất là wonderful!” hay kiểu “sính Tây” “toi, moi, luỷ, ẻn” như thời Pháp thuộc. Người Mễ Tây Cơ chịu ba thế kỷ nô lệ, dân số hơn 100 triệu, bây giờ 89% theo Thiên Chúa giáo và nói rặt tiếng Tây Ban Nha, chỉ có 6% còn dùng tiếng bản địa. Trong khi tổ tiên chúng ta chịu cảnh nô lệ Tàu mười thế kỷ, Tây một trăm năm mà tiếng Việt chúng ta cũng không bị mất, chưa ai hoá thành Tàu, thành Tây cả. Chỉ tiếc người miền Bắc XHCN Việt Nam, chỉ mới chịu ơn Tàu, ăn lương khô, mặc vải Trung Cộng trong vòng 20 năm thôi, đã đổi cách nói và cách dùng chữ y hệt như Tàu. Sự cố! Sự cố!
Ngày còn ngồi ở trung học đệ nhất cấp vào thập niên 50 ở Huế, cứ mỗi lần Tết đến là lũ học sinh chúng tôi góp tiền nhau ra chợ Đông Ba mua nửa chục cam hay một hộp bánh, bọc giấy màu đỏ, thắt nơ vàng chuẩn bị cho giờ Tết Thầy. Tôi còn nhớ năm đó, phần tôi được hân hạnh trong lớp cử viết lời chúc Tết, nên đêm hôm truớc đã cố nặn óc, tìm ra những lời hoa rnỹ. nhất là đoạn lũ học trò ma quỹ tỏ ra hối hận ăn năn và xin lỗi Thầy, nắn nót viết trên một trang giấy ca-rô lớn, còn vẽ kèm thêm mấy bông hoa lòe loẹt bằng bút chì màu.
Bản văn này, sau khi đọc. sẽ dúi vào tay Thầy để Thầy đem về nhà kỷ niệm. Lẽ cố nhiên là chúng tôi chỉ chúc Tết các Thày dạy những môn có hệ số cao, còn các Thầy dạy các môn phụ như Hội Họa, Hán Tự, Vạn Vật … thì chúng tôi làm lơ, mặc dầu đã thuộc làu câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư.” Điều này thì ai cũng rõ, quý Thầy dạy môn chính là những người có quyền sinh sát số phận chúng tôi, nên bên trọng bên khinh, chắc Thầy cũng thông cảm. Thông lệ chúc Tết này, ở bậc tiếu học không hề có mà lên đến lớp Đệ Tam cũng không còn. Tôi không rõ, vì sợ phụ huynh học sinh phiền hà, nên nhà trường cấm cản, hay đạo lý mỗi ngày mỗi suy đồi không còn lễ nghĩa?
Lúc Thầy bước vào lớp, lũ học trò im phăng phắc, đứng dậy chào Thầy, không khí hôm nay nghiêm trọng trông thấy rõ, khác hẳn ngày thường. Sau khi trưởng lớp đứng lên xin phép Thầy cho chúng tôi “cử hành” lễ chúc tết và đặt lên bàn Thầy sáu trái cam Sunkist bọc trong tờ giấy bóng đỏ, được túm lại ở trên đầu cột bằng một giải ru-băng, tôi bước lên đứng cạnh Thầy, bắt đầu mở “sớ” ra đọc:
“Kính thưa Thầy. Theo sự tuần hoàn của vạn vật, mùa Xuân đã trở về …. ” mà tôi đã “cóp” ở đâu đó. Nhưng cái câu đáng chủ ý nhất có thể làm Thầy cảm động nhất và cũng có thể làm cho mấy đứa học trò dốt và quậy nhất cũng phải rưng rưng, là “Trong năm qua, đôi lúc chúng con ngỗ nghịch và lười biếng, đã làm cho Thầy phiên lòng không ít dù Thầy chẳng bao giờ nặng lời rầy la. Nhân dịp năm hết, Tết đến, xin Thầy ấây “lượng Xuân” mà tha thứ cho chúng con.”
Bây giờ thời gian đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, cậu học trò đệ lục ngày xưa, tóc đã điểm sương vẫn òôn nhớ rõ hai tiếng “Lượng Xuân.” Theo tôi, “lượng” đã là cái gì rộng lớn bao la lắm, mà “Lượng Xuân” hẳn phải tốt đẹp, vĩ dại hơn nhiều. Chắc Thầy sẽ cảm động mà tha thứ, hẳn từ nay sẽ không bao giờ Thầy xuống tay hành hạ chúng con, bằng những giờ “cẩm túc”(1) nữa. Nhưng thực tế, chuyện con người lấy được “lượng Xuân” mà tha thứ cho nhau, chi có trọng ảo tưởng, không bao giờ có thật trên đời này. Ngày còn trẻ, chúng tôi thường nghĩ, thanh, thiếu niên thường nóng nảy, nông cạn, nên những bực dọc, bất mãn thường để lộ ra ngoài, nhưng lúc về già, con người trở lại chậm chạp, điềm tĩnh, kinh nghiệm, biết được tính vô thường của cuộc đời, hẳn sẽ dễ quên, dễ tha thứ … Nhưng sự thật hẳn không là như thế. Tuổi trẻ mở rộng lấm lòng với xã hội, hướng đến tương lai. Tuổi giả nhìn vào thân phận mình và luôn luôn tiếc nuối, quay nhìn về dĩ vãng nên đau khổ, phiền muộn nhiều, dó chính là nguyên nhân của nhiều sự gay gắt, dỡ hơi, khó tính mà thông thường tuổi trẻ dùng để lên án những ông già.
Mỗi người Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ ra hải ngoại sạu biến cố 1975, hẳn đã trải qua biết bao nhiều biến cố đau thương của đất nước, ai cũng dã qua một thời khổ đau, mất mát, chia lìa vì chiến tranh, tù đày. Không một gia đình nào tránh được nỗi tai ương, ai cũng có người thân chết trận, gia đình nào cũng chịu cảnh tù đày, nơi nào cũng có chuyện người vượt biển mất tích. Phần đông người Việt tha hương chúng ta đều chịu cảnh ly tán, gia đình nào cũng chia năm xẽ bảy, lưu lạc bốn phưong trời. Những ẩn ức, bất mãn, buồn phiền ấy thành khối u trong tảm hồn mỗi người, không phát triển lớn ra thì cũng khó lòng tiêu tán. Chúng ta thường đem nỗi dầy vò, đau đớn ấy san qua cho người khác bằng cách, trút nỗi căm thù, giận dỗi, ganh ghét ấy cho đồng loại, gần gũi hơn là cho đồng bào, nhỏ hẹp hơn là cho những người hiện diện quanh chúng ta. Những ẩn ức ấy được gửi đi lên cộng đồng mạng bằng những lời chữi thề thô tục với loại chữ nghĩa mà thực tế họ không thể nói bằng lời, và còn sĩ diện giấu mặt không cho bằng hữu hay gia đình họ hay biết. Chúng ta dày vò, chì chiết nhau, xem nhau như kẻ thủ, khi chúng ta không thể trực diện và tấn công vào kẻ thủ vô hình, những nguyên nhân là chỉ chúng ta thiệt thỏi, khổ đau trong gần như suốt cả cuộc đời. Một ông chủ bất mãn chuyện gia dình có thể trút thịnh nộ lên đầu đám công nhân dưới quyền, cả tên công an đứng đường mới thua bạc hôm qua thẳng tay, gay gắt với người phạm luật qua đường. Vậy thì chúng ta có thể cắt nghĩa cái xã hội xô bồ, bún chữi, cháo mắng, cái cộng đồng sẵn sàng quơ dao chỉ vì một cải nhìn bất thân thiện, giống người chửi mẹ chém cha, đều là những người bị dày vò vì những nỗi ẩn ức đau khổ. Nỗi ẩn ức đó đè nặng lên cuộc sống. chịu đựng một cuộc sống bất an, không tương lai mỗi ngày, đó là cuộc sống của con người, ngộp thở dưới bàn tay vô hình của chế dộ cai trị. Không phản kháng không chống lại được sức mạnh ấy, thì ta quay mủi dao lại với bạn bè anh em, chúng ta trút nỗi thịnh nộ lên đầu người khác. Đất nước càng văn minh, giầu có, dân chủ con người càng biến hóa, tử tế, nhường nhịn nhau, không phải là điều gi khó hiểu.
Người ta chế “bức tường lòng” giữa người Việt ở Tây Đức và Đông Đức hôm nay, sau 24 năm còn cao hơn cả bức tưởng ô nhục Bá Linh, cũng như Việt Nam chưa thống nhất được lòng dân sau 37 năm. Điều đó đâu có gì là lạ. Một mặt vì nhu cầu tuyên truyền, dưới cái nhìn của miền Bắc, con người miền Nam được đưa xuống cấp cần được khai hóa, là điều xấu xa của Mỹ Nguy, người miền Nam thì ghê sợ bởi sự tàn khốc, gian trá, đểu giả của đám miền Bắc, qua những đòn thù “cải tạo”, đổi tiền, đánh tư sản, đẩy con người ra biển, vơ vét, thù hận.
Có cái “lượng Xuân” nảo để họ có thể mở rộng lòng mà tha thứ cho nhau. Cải “lượng Xuân” mà ngày xưa lũ học trò bịa ra để vin vào đó mà xin Thầy rộng lượng, tha thứ cho, hẳn không có thực trên cuộc đời còn phân hóa, khổ dau này.
(1) Consigne- giống hình phạt “detention” trong nhà trường
Tôi lên chùa, thăm sư Trí Tâm. Sư bảo tôi thắp hương lễ Phật trước, nói chuyện với sư sau. Chánh điện trang nghiêm. Bàn thờ rực rỡ với những chưng bày phô trương hào nhoáng. Tôi thấy Phật là tượng gỗ. Nhớ xưa, ngày rằm tháng bảy, tôi thco má tôi đi chùa. Ngôi chùa nhỏ nghèo nàn nơi một vùng quê hẻo lánh, chung
quanh có nhiều cây che bóng mát. Mẹ con tôi trải chiếu ngủ lại chùa, dưới hàng hiên bên hông chánh điện. Tôi nhìn qua khe vách gỗ. Trong ánh sáng u trầm của ngọn đèn dầu nhỏ, dường như Phật cũng nhìn lại tôi, trên môi thấp thoáng nụ cười, Đêm đó, trời cao và trăng sáng lắm. Trăng xuyên qua lá, soi lốm đốm vào chổ mẹ con tôi nằm. Trông trăng, tôi nghe mùi hương thoang thoảng, tiếng côn trùng ru ngủ canh khuya. Tôi mơ thấy Phật. Mãi sau này, đi đâu tôi cũng mang trong lòng ông Phật của ngôi chùa nhỏ nơi chốn ở quê nhà.
Tôi nói với sư điều đó. Sư bảo, có một đấng thiêng liêng trong lòng là phúc đức. Bất hạnh cho những kẻ không tin tưởng một điều gì. Trong cơn tuyệt vọng, biết cầu nguyện bám víu vào đâu?
Ngồi trong phòng riêng của sư, sư hỏi: “Lâu nay con thế nào?
Tôi kể từng giai đoạn tất cả những gì xảy ra sau khi tôi rời nhà anh Hòa. Những đớn đau dằn vặt. Những sa đà hư đốn. Những nhục nhã ê chề. Tôi mong tìm thấy nơi tâm hồn cao cả một niềm an ủi. Sư ngồi trầm ngâm lâu lắm. Sư hớp mấy ngụm trà, nói về cái lý vô thường, cái lẽ sắc không. Tôi thất vọng, Cái mớ rối bòng bong ấy, chẳng có tác dụng gì với tôi. Sư lại nói về nghiệp báu. Tôi cũng dững dưng. Sư bảo lòng tôi là biển lữa mênh mông, nghiệp chướng sâu dày, oan khiên chồng chất, phải hồi đầu tịnh tâm mới mong bớt khổ. Tôi ra về, lòng nặng trĩu. Sư đưa chân tới cổng chùa, dừng lại.
Sư nói: “Nghịch cảnh là bài học lớn nhất để từ đó, con nhìn ra cái tâm bồ tát.”
Tôi nói: “Con chỉ thấy ác quỷ.”
Người trần mắt thịt khó mà biện biệt được đâu lành, đâu dữ, Ngài Duy Ma Cật bảo, Bồ Tát vì chúng sinh mà lao vào vùng sinh tử. Tạo biết bao cơ duyên trùng trùng vi tế dẫn dắt chúng sinh. Con không nên nói lời gì gây thêm ác nghiệp.”
Lúc đó, có một đám trai gái gia dình Phật Tử đồng phục áo màu lam, vào chùa sinh hoạt. Sư cũng vào theo. Trong đám trai gái này, có cả Phương Nghi. Nhìn thấy tôi, nó hơi khựng lại. Tôi gọi tên Phương Nghi, và bước xéo qua bên góc chùa. đứng dựa vào cây bông sứ. Nó di theo. Gặp nhau quá bất ngờ, tôi chưa biết nói lời gì. Nó đưa tay vuốt tóc, cử chỉ bang quơ. Sau một thời gian dài không gặp, nó đổi khác nhiều. Tóc mượt mà óng ả hơn. Vầng trán rộng hơn. Môi thắm đỏ hơn. Đẹp, và sáng ngời thanh thoát. Nó chờ đợi tôi câu nói mở đầu. Tôi hỏi một câu lãng nhách: “Nghi vô gia đình Phật Tử hồi nào?
Nó cay đắng: “Từ ngày người ta lánh mặt Nghi.”
Tôi phân trần: “Có nhiều lý do, Nghi không hiểu.”
Thương ai thì cứ thương. Tìm hiểu rõ quá, nhiều khi lại không dám thương.”
“Bây giờ thì sao?”
Nó trách: “Anh tệ bạc lắm.”
Tôi nói: “Xuân hạ thu đông bốn mùa, lúc nào tôi cũng nhớ Nghi.”
“Nhớ Nghì? Nói thế mà nghe được sao?”
“Tôi thề có Hoàng Thiên Hậu Thổ … “
“Đừng thề. Nghi lầm anh. Chứ trời đất không lầm đâu.”
Nó ngước nhìn lên cành bông sứ. Tôi ngắt một chiếc bông trắng cho nó. Trong khi nó mân mê chiếc bông trong tay, tôi thuyết phục nó bằng tất cả nỗi niềm tuyệt vọng, mong nối lại chuyện tình. Tôi nói về sự khó khăn của đời sống và học hành, cùng mọi cố gắng để vượt qua. Sau cùng, tôi nói tôi vẫn yêu nó trong muôn vàn khổ sở.
Nó nhìn thẳng vào tôi, không biểu lộ một chút cảm động:
“Nhưng Nghi không còn yêu anh nữa.”
Tôi nghe tim mình thắt lại, hỏi một cách ngớ ngẫn: “Tại sao?”
“Có thể nào đem lý lẽ mà giải thích tình yêu?”
“Yêu thì không giải thich đuợc. Nhưng không còn yêu phải có lý do chứ?”
Trên môi nó điểm phớt nụ cười chế nhạo. Tôi ấn mạnh lưng bàn tay vào thân cây bông sứ sần sùi, kéo một đường rướm máu. Một biểu tỏ sự quyết liệt, và đau đớn tận cùng.
Nó nói rõ ràng từng tiếng: “Anh Hiên! Trong tình yêu không có thương hại đâu.”
Tổi lặng người trong giây lất. Và hình như sau đó, tôi xúc động đến run lên vì đau khổ.
“Đây là nhà chùa. khó nói chuyện tình, yêu. Mình có thể hẹn gặp nhau ở một nơi nào khác không?” Tôi vớt vát. Nó cương quyết: “Vô ích. Trước kia, Nghi khóc gần hết nước mắt vì anh. Bây giờ, lòng Nghi nguội lạnh rồi. Gặp nhau chi nữa?”
“Tôi có những diều muốn phân trần.”
“Anh khỏi phân trần. Nghi biết hết rồi.”
“Đã lâu không gặp, Nghì biết gì về tôi?”
Nó hoi lại: “Anh biết con nhỏ Uyên không?”
“Uyên nào?”
“Bạn của Nghi.”
“Không biết.”
“Nhưng nó biết anh.”
“Biết thể nào?”
“Anh đến nhà nó.”
“Láo. Tôi đến nhà nó làm gì?”
“Tìm chị nó.”
Tôi chợt nghĩ đến con nhỏ hỏi tên tôi ở nhà chị y tá. Thôi rồi! Cái đám con gái mồm mép không để kéo da non. chắc nó dã mách lẽo với Phương Nghi về chuyện tôi bị lậu. Đang đau khổ vì tình. lại xấu hồ vì căn bệnh vừa qua. nó tố cáo tôi là thằng hư đốn. Ngay lúc đó tôi muốn chui xuống đất mà trốn.
Tôi nói liều: “Bạn của Nghi vô duyên như một thứ điện trở trơ, đặt điều nói bậy không cảm ứng được ai. Tôi với chị của con Uyên nào đó không hề quen biết, tôi tìm làm gì?”
Nó lại cười. Cái cười hết sức mìa mai: “Trị bệnh.”
Hai tiếng ngắn gọn ấy làm tôi xám mặt. Tôi lắc đầu quầy quậy. Cữ chỉ vầy vùng luyệt vọng của con thú bị ví vào đường cùng.
“Tất cả dều là hiểu lầm. Nghi ơi!” Tôi chối bỏ bằng giọng nói như rên.
Nói gặng lại: “Hiểu lầm?”
“Đúng, Hiểu lầm.”
“Không lầm đâu. Nghi nghiệm ra rằng thời gian anh lánh mặt Nghi, là thời gian anh đi vào con đường sa dọa.
“Suy nghiệm theo cái kiểu đổ tội trên đầu người ta. Ác lắm.”
Những đứa trong gia dình Phật Tử đã ngồi thành một vòng tròn trên sân chùa, đang chờ Phương Nghi.
“Nghi phải vào với bạn.”
Nó lạnh lùng, và quay đi rất vội. Tôi nhìn theo sau lưng. Lòng tê điếng. Hai đầu gối tôi cơ hồ muốn nhũn ra, bước đi không vững. Không ai tẩm được hai lần trên cùng một dòng nước, sao tôi đau mãi với một mối tình?
Nơi quày gởi hành lý chuyến bay từ Amsterdam ra Las Palmas de Gran Canaria của phi trường Schiphol hôm ấy khách du lịch đông như kiến cỏ, người kéo, người đẩy đồ đạc lĩnh kĩnh, có một nhóm người đem theo cả ván buồm trượt nước, tất cả trật tự đứng chờ tới lượt gởi hành lý. Vai tôi mang ba lô, tay đẩy va li nhích lên từng chút trong hàng rào nheo nhóc người, tới khi gởi được cái va li thì mất hết ba giờ đồng hồ. Lấy vé máy bay xong rời khỏi quày ra đứng chỗ trống xem lại vé, coi lại giờ bay và thấy còn mười lăm phút phải lên máy bay, bèn xốc lại ba lô trên vai rồi đi nhanh ra cổng. Khi lên được máy bay thì mệt muốn ná thở luôn.
Hết hè rồi và trong thời đại dịch cô-vít mà du khách vẫn còn đông nghẹt. Sau bốn giờ đồng hồ trên trời, máy bay cũng đáp xuống hải đảo. Lúc máy bay đáp đã nghe anh phi công thông báo ngoài trời mưa và khí trời mười sáu độ C. Khi bước ra ngoài đi tới nơi chờ lấy hành lý thì đã cảm nhận không khí lành lạnh, dù sao tôi cũng vẫn thích cái ánh nắng hanh hanh, một cái lành lạnh nhẹ nhàng và một bầu trời đẹp đẻ của mùa thu trên hải đảo Gran Canaria này hơn. Đương suy nghĩ vu vơ thì đã thấy va li chạy ra trên đường băng, tôi cúi xuống nhấc va li lên, để xuống rồi kéo tay cầm lên và lôi nó đi. Vừa ra cửa cách li thì đã thấy cô tài xế tắc xi cầm tấm bảng trước ngực có viết tên tôi đứng chờ bên ngoài đám người nheo nhóc, tôi đi tới chào cô ta, giới thiệu tên mình và theo cô ra xe. Trên đường về khách sạn mưa lâm râm làm đường xá ướt mem, mới hơn tám giờ mà bầu trời tối thui nên trông ánh đèn đường nhoè nhoẹt. Tới khách sạn, sau khi làm thủ tục nhận phòng, cô nhân viên đưa tôi thẻ khoá và nói:
– Vì dịch bịnh mà nhà hàng tạm đóng cửa, phần ăn tối của ông đã dọn được sẵn trên phòng.
Cảm ơn cô tiếp viên xong, tôi day qua cô tài xế tắc xi, cô hẹn tám giờ sáng ngày mai tới rước và đưa tôi xuống tàu. Tôi chào cô tài xế xong day lưng, kéo va li tới bấm thang máy lên phòng. Vô phòng tôi thấy hai dĩa thức ăn để trên bàn, thường thì những món búp phê trong khách sạn, tuy đồ ăn không được ngon lắm, nhưng kẹt phải ăn thì cũng chọn tạm vài thứ ăn được. Nhưng hôm nay khách sạn dọn cho, mặc dù dĩa thức ăn cũng trang trí xanh xanh, đỏ đỏ và dao, đĩa gói giấy gọn gàng trông cũng bắt mắt nhưng hổng biết là cái món gì mà nguội ngắt và hổng nghe mùi vị gì hết, chỉ nhìn thôi là thấy không thể nào nuốt vô được. Tôi để va li vô góc phòng và để ba lô xuống bên cạnh, mở ba lô ra lấy kem, bàn chải đánh răng và chiếc khăn, thường thì khăn trong khách sạn tôi không xài, mặt dù nó rất sạch, thơm và trắng nhưng thấy ghê ghê sao đó. Đánh răng rửa mặt xong tôi nhìn vô gương coi lại mặt mình một cái rồi đi ra ngoài.
Tôi ra khỏi khách sạn, ngoài trời vẫn còn mưa và cảm thấy lành lạnh. Đường phố ướt mem và vắng bóng người. Tôi loay hoay tìm đường nhưng chưa biết đi hướng nào. Chợt thấy trong một quán bar còn người, nhưng tôi thì không thích vô bar, bèn đi thẳng ra bãi cát và ngồi xuống chiếc ghế trống trong mái hiên của một quán ăn day mặt ra bãi và kêu một dĩa mực, cá và khoai tây chiên dòn ngồi lai rai với bia lạnh. Nhìn ra bãi biển vắng tanh, tôi nghĩ tới đám người trên máy bay, trong phi trường mới hồi sớm còn thấy lao xao nhưng khi đổ xuống hải đảo thì tản mác mất hết trơn dấu vết. Nhìn những con sóng trắng lùa nhẹ lên bãi cát mà cảm thấy trống vắng làm sao. Cô vít 19 làm cho cả thế giới thay đổi hết, thế sự đổi thay, con người thay đổi cách cư xử từ thái độ tới cách sống.
Sáng sớm hôm sau xuống tàu và tàu khởi hành vô đất liền ngay chiều hôm đó, trên đường đi hứng một trận bão và rồi vòng qua Ma Rốc, hôm nay trở lại cảng Las Palmas mất hết bốn tuần lễ.
Sau khi dọn dẹp xong buổi ăn chiều. Thuyền trưởng đưa đơn đặt hàng cho tôi và dặn:
– Bếp nhớ đặt thêm thực phẩm cho Giáng Sinh và tết Tây luôn nhé.
Tôi thốt lên không phải vì ngạc nhiên mà là vì chợt nhớ:
– Oh, hết một năm nữa rồi!
Thuyền trưởng cười, nói:
– Thời gian.
Ừ, mới đó mà Thu qua, Đông lại và mùa Giáng Sinh tới nữa rồi. Năm nào cũng vậy, đầu tháng mười hai thì tôi đã nhận tín hiệu Giáng Sinh qua đơn đặt hàng. Thời gian qua mau thật, nhìn lại thì cũng đã hết một đời lênh đênh trên sóng nước. Cả đời tôi làm tiệc Giáng Sinh trên tàu nhiều hơn ở nhà, nghĩ lại hết một đời mà như là một giấc mơ. Tôi cầm xắp đơn đặt hàng đi lên phòng lát nữa tôi sẽ đưa cho Zada. Lên phòng tôi để xắp đơn đặt hàng lên bàn và vô phòng tắm, tắm một cái. Trong lúc dội nước có nghe điện thoại reo, tôi đoán Zada một thủy thủ người In Đô gọi tôi. Tắm xong tôi gọi lại Zada, đúng như tôi đoán, vừa bắt máy chưa kịp a-lô thì liền nghe nó hỏi:
– Chú có lên bờ không?
– Có.
– Con đi với chú được không?
– Dĩ nhiên là được.
– Vậy con chờ chú ngoài cầu thang nhé.
– Ok.
Tôi biết Zada hơn ba năm về trước, thằng nhỏ mập thù lù và ăn, uống gấp đôi người bình thường. Tôi sống chung với thủy thủ người In Đô từ đời ông cho tới đời cháu. Cho nên tôi biết ít nhiều về cách sống của họ. Người In Đô khác hơn Hoà Lan cái là: người Hoà Lan họ cũng bất đồng với nhau nhưng không biểu lộ khó chịu, họ hoá giải êm thắm, sau đó họ đoàn kết nhau hơn. Nhưng với người nước ngoài họ lộ mặt làm dữ có khi cũng làm khó dễ người ta. Thường thì một thủy thủ In Đô mới xuống hay bị thủy thủ cũ “đì” hoặc người này trội hơn người kia thì tỏ thái độ khinh khi người kém cỏi. Zada cũng học xong đại học, nhưng vì nó mập quá mới bị đồng hương ăn hiếp, hay chọc ghẹo về cái thân thể ục ịch cả trăm ký và chuyện ăn uống của nó, cho nên giờ ăn nó bẽn lẽn bưng cơm ra ngoài boong ăn và ngồi mình ên trong giờ nghỉ giải lao. Lúc đầu tôi không biết, trong một bữa ăn sáng tôi cho thủy thủ ăn mì gói, nó lấy mì của nó mua từ In Đô qua đưa tôi một gói, tôi tưởng nó thích ăn mì mùi vị của In Đô, nên tôi chỉ nấu gói của nó xong đưa cho nó, nó không nói gì, chỉ hỏi xin cơm nguội để bỏ vô mì ăn. Lần sau mỗi khi ăn mì nó đưa tôi hai gói. Thấy cử chỉ nó cứ rụt rè, không dám hỏi chuyện, tôi tò mò hỏi nó:
– Bộ con ăn mì trên tàu hổng được sao mà con mua mì đem theo vậy?
Nó cúi mặt không nhìn tôi và nói:
– Con ăn nhiều quá.
– Nhiều là bao nhiêu?
– Sáng con ăn hai gói mới no, nên đầu bếp trước nói phần ăn của mỗi người một gói, ai muốn ăn thêm thì tự mua mà ăn.
– Chú biết rồi, với chú thì con muốn ăn bao nhiêu cũng được, miễn sao no bụng là ô kê.
– Không sao hả chú?
– Không không, hổng có sao gì hết.
Từ đó trở đi sáng nào cho ăn cơm chiên thì tôi làm thêm cơm cho nó, còn mì ăn liền thì nấu cho nó hai gói và hai cái trứng, khi chiên khi luộc tùy thích. Cũng từ đó gương mặt nó dạn dĩ và thân thiện với tôi hơn. Tôi có lên bờ chơi nó cũng xin đi theo. Có lần ngồi uống bia nó nói:
– Hôm mới xuống con nghe nói Sesung lấy đồ ăn mà không hỏi chú, chú đánh nó chảy máu miệng vì vậy mà con không dám hỏi.
Chuyện này tôi cũng nghe thủy thủ trong công ty đồn dãi lâu rồi. Có một dòng họ làm cho công ty từ đời ông tới đời cháu, ỷ mình là ma cũ nên rất hống hách hay bắt nạt đồng hương và ăn hiếp những người mới xuống. Tôi cười:
– Chú có nghe rồi, không hiểu sao Richard đánh Sesung mà bây giờ thành ra chú đánh.
– Oh. Chú cũng biết hả?
– Chú sống với dân In Đô từ đời ông cho tới đời cháu nên chú biết về cái văn hoá lộn xộn của In Đô cũng khá nhiều.
– Nhưng con nghe nói bên Tây phương trong lúc làm việc không được đánh nhau mà chú.
– Có, đánh nhau là bị đuổi việc đó, nhưng chỉ dùng cho người của họ thôi, người khác tới làm mà đánh nhau thì họ làm lơ. Chuyện trong đám đồng hương thủy thủ của con cũng hao hao giống chuyện người Việt ở hải ngoại của chú thôi. Con quên đi đừng để ý làm gì, lo học hỏi và làm việc cho tốt thì không ai ăn hiếp con được hết.
Zada đưa ngón tay cái ra gặt gặt, nói:
– Chú tốt, rất tốt.
– Người vầy người khác, con sống lâu như chú thì con sẽ thấy có nhiều người tốt hơn chú nhiều.
Tôi không muốn nghe chuyện nó nói về mình nữa nên đổi qua chuyện khác:
– Nhưng mà nè, con cẩn thận chuyện ăn uống. Trước đây không lâu, chú biết có một cô gái người Hoà Lan hồi còn là thực tập sinh cũng mập như con vậy, sau thời gian thực tập cô ta ra trường và làm việc cho công ty lên tới chức thuyền phó thì cô ta bị mập quá, nhứt là những ngày gió to, sóng lớn cô ta lê tấm thân trên một trăm ký, đi ngoài boong hổng muốn nỗi. Mới năm trước vì mập quá cô ta đi tàu không được nữa, ở nhà luôn rồi.
– À, con có nghe nói về bà ta.
– Ừa, bình thường cô ta ăn rất nhiều, nhưng ngoài giờ ăn, làm việc một lát trở vô bếp thấy cái gì ăn được là bốc ăn. Bánh mì dâm bông, phó mát chú để trong tủ lạnh, cho thủy thủ đoàn trực ca đêm, sau phiên trực đêm mình ên cô ta xuống trước đớp sạch hết, mấy người xuống sau hổng có ăn, phàn nàn với chú hoài. Nhưng bỏ ra bao nhiêu cô ta ăn hết bấy nhiêu chú biết làm sao.
Zada cười ha hả. Tôi cũng cười nhưng đổi giọng nghiên túc, chỉ tay vô cái thân hình đồ sộ của nó mà cảnh cáo:
– Con lo cho cái thân cả trăm ký lô của con đi, ở đó mà cười người ta.
Những năm sau này, nhứt là từ khi đại dịch Vũ Hán xuất hiện, tháng mười hai là khoảng thời gian thủy thủ hay chú trọng tới chuyện ăn uống tiệc tùng, nhiều hơn là chuyện Thánh Kinh. Nhưng thức ăn càng ngày hãng tàu càng cắt giảm, đã vậy mà còn mua đồ rẻ tiền, chất lượng kém cỏi nên tôi không còn hứng thú lo chọn thức ăn ngon nấu trong những ngày cuối năm. Vì vậy chuyện đặt hàng hay lập menu cho bữa tiệc Giáng Sinh tôi làm cho xong chớ cũng hổng quan tâm cho lắm.
Thành phố Las Palmas, có nhiều di tích lịch sử, kiến trúc thời thuộc địa với những toà nhà và một nhà thờ kiên cố từ hồi thế kỷ mười lăm, mười sáu. Cảnh đẹp của hải đảo luôn lúc nào cũng mới mẻ và thu hút tôi. Tôi thay áo quần xong đi xuống tới gần đầu cầu thang thấy Zada đứng nói chuyện với Sesung. Thấy tôi không mang khẩu trang Sesung nhắc:
– Chú không mang khẩu trang.
Oh! Tôi chợt nhớ ra, chẳng những tôi quên đeo khẩu trang mà còn quên chiếc ba lô nữa. Trong ba lô luôn lúc nào cũng có nguyên hộp khẩu trang và những đồ dùng đi chơi cần thiết như giấy lau miệng, dao nhỏ, đồ khui, pin dự phòng và cây selfie mà Việt Nam gọi là gậy tự sướng. Tôi trở vô phòng lấy ba lô mở ra kiểm tra lại đồ đạc, thấy thiếu hộp khẩu trang. Tôi mở tủ lấy hộp khẩu trang và rút ra một cái đeo lên bít miệng nhưng chừa hai lỗ mũi ra cho dễ thở, rồi nhét hộp khẩu trang vô ba lô, quảy ba lô lên vai và bước ra ngoài.
Tôi với Zada đi trên con đường dành cho khách bộ hành bên một con lộ đẫn về trung tâm. Khí trời hải đảo luôn hiền hoà và mát mẻ. Zada hỏi tôi:
– Có khi con nghe người thì gọi đảo này là Las Palmas, người thì gọi là Gran Canaria và trên bản đồ ghi Las Palmas de Gran Canaria, có gì khác nhau hả chú?
– Las Palmas là tên hành chính của tỉnh Las Palmas và thành phố chính của Las Palmas là Las Palmas de Gran Canaria.
– Con cũng nghe nói khách du lịch tới đây nhiều lắm.
– Đúng rồi, nhờ sự đa dạng và cảnh quang hấp dẫn du khách, nhứt là có những eo vịnh nhỏ và ở phía nam của hòn đảo có một bãi biển bốn mùa yên bình tương phản với các khu thương mại sầm uất và con đường dọc theo bờ biển dài trên hai trăm cây số.
– Ờ, con có đọc qua báo du lịch, Las Palmas là một trong những thành phố lớn và trẻ trung nhứt ở Tây Ban Nha và cảnh quang rất sống động về đêm.
Tôi chỉ tay ra bến cảng:
– Phải rồi, cảng Puerto de la Luz, chổ tàu mình đậu kia.
Rồi tôi chỉ tay lên dãy phố và chỉ tay xuống bãi cát trước mặt nói tiếp:
– Với một số nhà hàng sang nhất và bãi biển Alcaravaneras là hai nơi hấp dẫn cho du khách. Nhưng đó là thời gian trước đại dịch, du khách khắp thế giới thường đến thăm Gran Canria vào những kỳ nghỉ, đây là nơi du lịch quốc tế mà, cuộc sống về đêm rất sôi động, ồn ào. Quán bar, hộp đêm mở cửa đến hai giờ khuya và các vũ trường câu lạc bộ thường mở tới sáu giờ sáng.
Tôi và Zada đi vô trung tâm, trên đường phố, khách du lich cũng nhiều nhưng không đông đúc xôn xao như trước thời đại dịch. Zada nhìn quanh và hỏi:
– Bây giờ thay đổi hết rồi chú hả?
– Cảnh vật không thay đổi, chỉ con người thay đổi, cả thế giới đâu đâu cũng thay đổi làm cảnh quang trống vắng buồn buồn.
Thấy cảnh đẹp chúng tôi đứng lại chụp hình. Chụp xong mấy bôi. Zada hỏi:
– Mình đi đâu chú?
– Con muốn đi đâu?
– Con hổng biết mới hỏi chú, chú biết chỗ nào vui thì mình đi. – Theo quảng cáo du lịch thì đảo Gran Canaria là một nơi rất thích hợp cho các môn thể thao dưới nước như lặn biển, lướt sóng, chèo thuyền và lướt ván. Chú thấy họ quảng cáo còn thiếu.
– Thiếu gì nữa chú?
– Theo chú đi bộ nhìn cảnh đẹp cũng thích hợp lắm.
– Yes, con thấy cảnh đây rất đẹp. Đẹp và lạ hơn Âu Châu vì có hàng phượng, cây thốt nốt với những bụi xương rồng cao ngang mái nhà, bự tổ bố.
– Và còn có một lịch sử lừng danh.
– Là gì chú?
– Cung điện thống đốc của hòn đảo xa xưa đã được Christopher Columbus sử dụng làm nhà trong thời gian ông ở đây.
Chúng tôi đi vào con đường trong trung tâm. Dạo này tôi cảm thấy như cuộc sống trì trệ, con người rời rạc, sự sợ sệt, lo âu hằn trên nét mặt mỗi người. Nhưng có điều là nhiều người đi đường đeo khẩu trang, gặp người đi gần thì né, nhưng vô quán, nhà hàng ngồi chung nhau họ không đeo khẩu trang và nói chuyện lớn tiếng rất ồn ào. Chúng tôi đi qua con đường có hàng phượng, mùa này phượng đã già rồi nên không còn đỏ nữa. Tôi day ngang nói với Zada:
– Cảnh hải đảo thì đẹp, mình không có thời gian đi hết đâu, con muốn vô quán ngồi hay mua bia ra bãi biển uống.
– Chú thấy sao?
– Vô quán thì sợ mắc dịch, ra bãi thì thoải mái hơn.
– Vậy thì ra bãi cho thoải mái.
– Nếu ra bãi thì ghé vô siêu thị một chút.
– Chú mua gì hả?
– Thì mua mới vô chớ.
Tôi kéo khẩu trang lên cho kín hai lỗ mũi. Zada thấy vậy cũng làm theo. Chúng tôi quay trở lại con đường và vô một siêu thị gần đó. Sau khi mua một xâu tám lon bia lạnh, mấy lọn xúc xích của Tây Ban Nha và một hộp ô-liu. Tôi với Zada ra quày tính tiền xong rồi đi thẳng ra bãi biển, phố biển đã lên đèn.
Chúng tôi chọn ngồi trên cao của những bậc thang trong một cái vịnh vòng cung, có hàng cây thốt nốt, ngồi đây thấy được những chiếc tàu đậu trên bến cảng và thấy được đèn những con tàu từ ngoài khơi. Tôi mở bọc lấy bia, xúc xích và mở ba lô lấy ra con dao, lật ba lô lại làm bàn kê cắt xúc xích. Zada khui hộp ô-liu và lấy bia ra khui, đưa bia cho tôi rồi nói:
– Thủy thủ mà giống như du khách.
– Thì coi như mình là du khách đi.
Chúng tôi đưa bia lên cụng, uống một ngụm bia, ăn xúc xích và trái ô-liu. Uống chưa hết lon bia, chợt có một gã đàn ông ốm nhôm, cao nhồng, da đen từ dưới con đường bước lên mấy bậc thang rồi dừng lại giữ khoảng cách trước mặt chúng tôi hỏi:
– Các ông cho xin tiền mua đồ ăn, tôi đói lắm.
Zada xua tay định đuổi gã đi. Tôi liền ngăn lại và lấy lon bia chìa ra đưa cho gã, cười và nói:
– Ông bạn uống bia cho đỡ đói.
Gã xua tay:
– Không không, tui đạo Hồi, hổng được uống bia, cho tui tiền mua đồ ăn thôi.
Tôi móc bóp mở ra lấy mười euro đưa cho gã. Gã không dám lại gần, cúi người chồm tới, tay cầm chiếc nón chìa ra trước mặt tôi. Thấy vậy tôi mới đứng lên bước xuống tới gần gã, chợt thấy khẩu trang của gã đeo đã cũ và bị thâm kim rồi, tôi day lại lấy mớ đồ trên ba lô để một bên và kéo mở ba lô lấy hộp khẩu trang rút ra mấy chiếc và kẹp chung với mười euro bước xuống bỏ vô nón cho gã và cười nói:
– Hai năm qua trên đường đi chưa ai dám tới gần hỏi chuyện tôi hết. Bạn là người đầu tiên dám tới hỏi tôi, cảm ơn bạn nhé.
Gã cúi rạp người nói một hơi:
– Cám ơn, cám ơn…
Khi gã thanh niên đi rồi. Tôi nhét đồ đạc vô ba lô và bỏ bia và đồ ăn vô bọc, xốc ba lô lên vai. Zada ngạc nhiên hỏi:
– Mình đi hả chú.
Theo kinh nghiệm giang hồ, tới những nơi có nhiều ăn xin, sau khi cho tiền một người thì một lát sẽ có nhiều người khác kéo nhau tới xin nữa, mà cái bóp tiền của tôi thì nhỏ quá nên tôi phải di chuyển đi chỗ khác. Tôi không muốn nói ý nghĩ của mình cho Zada nghe, nên nói khác đi:
– Ừa. Mình đi dọc theo bãi biển vừa uống bia vừa ngắm trăng cũng thú vị.
Thiệt vậy, trăng sáng quá làm cho tôi suy nghĩ vu vơ. Mặt trăng có tự bao giờ, nhưng lúc cao, lúc thấp, nó không gây chiến tranh, hận thù. Nó không chinh phục và tấn công ai và cũng hổng cố gắng để đè bẹp người khác. Trăng không lo lắng như con người, nó vẫn ở nguyên một chỗ, luôn tuân theo quy trình của nó. Về tư cách thì nó ảnh hưởng rất lớn, mặt trăng trung thành với quy luật tự nhiên nên sức mạnh của nó có thể soi sáng cả một đại dương từ bờ này sang bờ khác một cách mát mẻ và nhẹ nhàng.
Tôi im lặng suy nghĩ về ánh trăng, Zada nghĩ gì hổng biết mà cũng nín thinh. Chúng tôi cứ im lặng mà đi tới bìa nước, sóng nhẹ trườn lên bãi cát thoáng tiếng rì rào nho nhỏ. Đứng dưới ánh trăng nhìn lên phố xá sáng ngời. Tưởng nơi đây vắng vẻ, không bóng người, thiếu ánh sáng và yên bình, bổng chợt thêm một người da đen lại xuất hiện xin tiền. Không do dự, tôi liền mở ba lô lấy mấy khẩu trang và moi bóp lấy mười euro đưa cho gã. Gã nhận xong rồi cám ơn và quay lưng bước đi. Có lẽ Zada thấy trong bóp tôi toàn là tiền giấy mười euro, nên nó nói:
– Hình như con thấy chú đã chuẩn bị tiền trước để cho mấy người ăn xin.
– Chuẩn bị tiền nhỏ xài cho tiện.
Zada ra chiều suy nghĩ, thấy vậy tôi đưa bia lên cụng một cái ngước cổ nốc hết phần bia trong lon rồi nói:
– Thiệt ra thì những người da đen này, họ đi chui từ đất liền Phi Châu, ra đây họ sống ngoài xã hội nên họ mới đi xin ăn.
Zada chợt hiểu ra:
– Ờ đúng rồi, là Stowaway.
– Ừa, biết đâu tàu của mình cũng chở họ ra đây.
– Vậy chút nữa có người tới xin chú nữa, hổng lẽ chú cho hoài.
– Vậy mình tìm một quán nào đó ngồi thì hổng có người ăn xin nào tới xin nữa.
Thật ra đi mình ên tôi, tôi có thể cho hết bóp tiền cũng hổng sao. Với tôi thì có sự chia sẻ mới thấy được lòng mình còn có yêu thương. Ai cũng vậy thôi, làm cái gì cũng phản ảnh cho bản thân, không có gì khác hơn là vì cái tôi của chính mình chớ chẳng cho ai và cũng chẳng hay ho gì ráo. Cũng có lợi cho bản thân là khi mình không còn bị ảnh hưởng những sự chê, khen của người khác, thì mình sẽ không còn là nạn nhân của những sự phiền hà không cần thiết. Nhưng đối với Zada, làm sao nó hiểu được cái nguyên lý này, cái gì nó cũng thắc mắc, tôi thì hổng muốn giải thích lôi thôi, việc mình làm có tốt cách mấy nói ra thì cũng thấy kỳ cục. Định lang thang ngoài đường, nhưng tình trạng này thì đành phải chui vô quán thôi.Tôi chỉ tay lên cái quán vắng người, nói:
– Mình lên đó ngồi thì hết ai quấy rầy.
Chúng tôi lên quán ngồi bên chiếc bàn trống, gọi một dĩa tôm xào tỏi và hai ly bia. Trong lúc nhậu. Zada nhìn tôi một hồi nó nói:
– Đi với chú thú vị thiệt đó.
– Gì nữa vậy?
Nó nhìn thẳng tôi, ngẫm nghĩ hồi sao nó nói:
– Nói sao đây? Con thấy chú tốt bụng và sống rất tự nhiên, vô tư với người lạ chú cũng tỏ ra thân thiện.
– Oh! Vậy sao? Chú nghĩ trong xã hội thiếu gì người còn tốt hơn chú nữa, nếu không thì mấy người ăn xin họ bị chết đói hết rồi.
Thấy thằng nhỏ cứ nhìn tôi và thắc mắc. Tôi muốn xoay qua chuyện khác nhưng chưa biết chuyện gì thì chợt nhớ ra, tôi nói:
– Một lát về tàu chú đưa đơn đặt hàng cho con, con tự đặt nhé.
– Nhưng chú phải coi lại:
– Ô kê, ngày mai làm xong con đưa lại cho chú được không?
– Dạ được.
Ngẫm nghĩ một chút nó hỏi:
– Có đặt cho cho Giáng Sinh không chú?
– Ừa con đặt đi, tháng mười hai rồi.
Những ngày này thủy thủ trên tàu ai cũng háo hức tiệc Giáng Sinh nên nghe tôi đặt hàng thì hay nhắc nhở kêu tôi đặt những món ngon đặc biệt. Là một đầu bếp lâu năm, bây giờ tôi mới nhận ra. Giáng Sinh ngày xa xưa hay ngày nay, thấy bên ngoài có vẻ xôn xao nhưng lòng người ảm đạm hay bình an thì tự người biết. Mấy năm về trước, giữa tháng mười hai dương lịch, tôi dành một khoảng thời gian ngồi trước laptop, lướt mạng tìm chọn thiệp và moi óc nghĩ ra những câu chữ văn vẻ, hoàn hảo để viết chúc mừng lên facebook hay gởi thiệp chúc bạn bè qua tin nhắn, cứ lăn xăn lộn xộn làm mất rất nhiều thời gian, những thứ đó bây giờ đối với tôi không còn giá trị tinh thần nữa. Mãi cho tới hôm nay, đầu bạc trắng và sói sọi rồi, tôi mới phát hiện ra Giáng Sinh không phải là một thời điểm cũng hổng phải là một mùa, mà là một trạng thái về mặt tinh thần và không bao giờ thấy quá sớm hay quá trễ để hòa vào tinh thần của Giáng Sinh. Tình yêu nhân loại, quí trọng thiên nhiên, yêu chuộng hòa bình, nhân đức trong lòng đó mới thiệt là tinh thần của Giáng Sinh. Vậy tại sao chúng ta phải đợi đến ngày Giáng Sinh mới tặng quà và chúc cho nhau những lời yêu thương tốt lành nhứt.
Sáng ngày 21 tháng 3-1975, trong cơn hỗn loạn của thành phố Huế, khi quân đội rút về phía Nam và dân chúng gánh gồng chạy loạn, chị Lê Thị Tịnh đem các con chạy vào Đà Nẵng. Ngang qua Dạ Lê, chị đã ghé qua thăm chồng là Thượng sĩ Đinh Văn Kiếm, trưởng tổng đài siêu tần số, thuộc Tiểu đoàn I Truyền tin (SĐ IBB). Anh nói với chị là cứ yên tâm đem các con đi trước, anh sẽ theo đơn vị đi sau. Đó là lần cuối cùng chị gặp anh.
Sau ngày Saigon mất, nhiều người chạy giặc vào Saigon đã trở về, nhưng chị Tịnh cũng không có tin tức gì của chồng. Chị cũng nghe nói nhiều anh em Sư đoàn 1BB bỏ xác tại bãi biển Thuận An trong lúc chờ tàu vào cứu nạn, chị đã nhiều lần cố tìm về bãi biển này để dò la tin tức. Mấy ngày đầu thì đường sá bị phong toả ngăn cấm, thời gian sau thì dấu vết không còn, cũng không ai dám hé môi tiết lộ một lời. Nhưng chị thêm một niềm hy vọng, biết đâu anh Đinh Văn Kiếm lại có cơ hội lên tàu di tản sang Mỹ. Một năm, hai năm, rồi năm năm trôi qua, tin anh Kiếm vẫn biệt mù. Như những người vợ lính cam phận, chị tần tảo nuôi bốn đứa con trai và một gái khôn lớn, nỗi buồn nguôi ngoai đi cùng với ngày tháng trôi mau.
Con trai đầu của Anh chị, tên Khuê, năm 1980, mới mười hai tuổi đã ra đời vất vả kiếm cơm, với một chiếc bình nhôm và cái ca nhựa, bán nước trà theo những chuyến xe lửa Bắc Nam, mỗi ngày ghé qua ga Huế hay bên chợ Đông Ba. Nhưng rồi một buổi tối, chị Kiếm lo lắng không thấy con về, chị cứ nghĩ rằng trời mưa, nó ngủ lại ở một xó hiên nào đó. Hai ba ngày sau, Chị lên ga Huế, ra chợ Đông Ba, hỏi thăm đám bạn bè của con nhưng không có tin tức gì. Thằng Khuê mất biệt như cha nó năm năm về trước, không một dấu vết. Chị không biết trình báo với ai, đi đâu để tìm con, chết hay sống, mất xác nơi đâu. Ba mươi lăm năm sống trong chờ đợi, tuyệt vọng về tin tức của chồng và đứa con trai đầu lòng, ngày nay các con chị đã có gia đình, chị có một bầy cháu nội ngoại quanh quẩn trong làng An Cựu. Mỗi lần thắp nén hương trên bàn thờ Anh, chị thầm nghĩ không biết anh chết ở đâu, xác bỏ nơi nào. Chị đâu có ngờ rằng, anh nằm gần chị đây thôi, trên bãi biển Thuận An, cách nơi chị ở chỉ có mười lăm cây số. Anh ở gần với chị vậy mà chị không hề hay biết, mãi đến lúc người em của anh Đinh Văn Kiếm là Đinh Văn Xuyên, một cựu quân nhân thuộc Thiết đoàn 10 Kỵ Binh hiện cư ngụ tại Texas, ở Mỹ gọi về, loan tin rằng qua tin tức báo chí tại đây, người ta đã tìm thấy dấu tích của anh tại bãi biển Thuận An trong lần bốc mộ, nhờ một tấm thẻ bài mang tên anh. Di hài anh đã được dân làng An Dương cải táng vào trung tuần tháng 12 năm nay. Tin tức từ trong nước ra được hải ngoai, nay lại bay về quê hương, chị ở rất gần anh mà tin lại loan đi hàng vạn dặm mới về đến chị, sau gần ba mươi sáu năm dài.
Chị đã đem các con đi cùng em gái của anh Đinh Văn Kiếm, mang lễ vật về lạy trước nấm mộ tập thể, trong đó có anh, đã yên nghỉ cùng với anh em đồng đội và đồng bào của anh trong những ngày cuối của cuộc chiến. Các em của anh hiện đang sống tại hải ngoại sẽ giúp phương tiện để đưa anh về nằm chung với phần mộ của gia đình, nhưng tạm thời hiện nay anh còn nằm bên cạnh bạn bè, chiến hữu, những người đã qua ba mươi lăm năm chung một nấm mồ xiêu lạc, oan khuất trên đường chạy loạn. Cùng thời gian này, cũng nhờ tên tuổi trên một chiếc thẻ bài còn lại, anh Trịnh Quốc Thuận, ở Maryland đã nhận ra người bà con cô cậu ruột của mình là anh Trần Văn Được, sinh năm 1954 thuộc binh chủng Thuỷ Quân Lục Chiến, gia đình biết anh đã bỏ mình tại bãi biển Thuận An vào tháng 3-1975, nhưng không tìm ra hài cốt. Vào tháng 4 khi Saigon chưa thất thủ, một chiến hữu cùng trung đội với anh, sống sót về được Saigon đã ghé qua, báo tin cho gia đình của anh Được là anh đã chết trên bãi biển Thuận An. Trên đường rút lui, trước khi lên tàu, Trần Văn Được đã chết vì trúng mảnh đạn pháo kích của địch quân. Anh Được có một người em song sinh hiện nay đang sinh sống tại Saigon, trong nhà thường gọi Được là Đen và người em, Trần Tự Lập là Trắng. Năm 18 tuổi Được tình nguyện vào binh chủng TQLC và thường xa nhà, nên gia đình không biết Được thuộc đơn vị nào, trú đóng ở đâu.
Song thân anh Trần Văn Được ngày nay đều đã không còn, ông bà, cũng như nhiều bậc cha mẹ khác trong chiến tranh, cho mãi đến khi nằm xuống, thương xót, nhưng không được biết một tí gì về tin tức, không tìm ra dấu vết những người con đã chết trong chiến trận. Người lính TQLC này đã ngã xuống lúc mới 21 tuổi, hãy còn quá trẻ, chưa gia đình, cũng có thể là chưa hề có người yêu. Thôi xin anh hãy yên nghỉ, đời người lính biển, tác chiến trên bộ, theo định mệnh đã chết trên một bãi biển, và giờ đây lại được chôn cất trên bãi biển, dưới những hàng dương mùa Đông gào khóc theo cơn gió giật. Nơi đây, mảnh đất miền Trung cằn cỗi mà như anh đã đem hết đời lính của anh để bảo vệ, giữ gìn nó nhưng vận nước khốn cùng, anh đành phải nằm lại trên mảnh đất này. Tiếng sóng vỗ vào bờ cát mỗi đêm ngày đã ru anh, người lính trẻ xa nhà, ngủ giấc ngủ nghìn thu.
Cũng trong ngày tàn cuộc chiến, từ ngày 13 tháng 3-1975, quân đội bỏ Pleiku, Kontum, dân chúng di tản để lại cảnh vật vườn hoang nhà trống. Ngày 20 tháng 4, khi Cha xứ nhà thờ Thanh An, huyện Chư Prong là Cha Đa Minh Mai Ngọc Lợi (bào huynh của LM Mai Thanh Lương hiện nay ở Cali) trở về thì Cha chứng kiến một cảnh hoang tàn, thương tâm: xác chết của bảy người lính Biệt Động Quân VNCH và mười mấy người lính Bắc Việt chết nằm ngổn ngang từ trong nhà thờ ra đến ngoài sân, chưa được chôn cất. Điều đau đớn là những xác thối rữa này đã bị thú rừng và bầy chó hoang vô chủ ăn thịt đã gần hết, chỉ còn thi hài của một Trung uý Biệt Động Quân mang bảng tên Nguyễn Văn Quý. Chính tay Cha đã chôn cất thi hài vị sĩ quan này dưới gốc một cây sứ trước nhà thờ. Năm ngoái, bảng tên của Trung Uý Quý đã bị thất lạc khi nhà thờ được xây dựng lại. Ba mươi lăm năm qua, mọi việc hầu như quên lãng theo thời gian. Nhiều phái đoàn đi cứu trợ đã ghé qua đây, được Cha trình bày câu chuyện, mong mỏi một lời nhắn tin nào đó mang về miền xuôi hay ra hải ngoại, sẽ tìm ra thân nhân của Trung uý Quý, nhưng từ đó đến nay, không hề có ai gọi cho Cha để hỏi tin tức về người sĩ quan bất hạnh này. Cha nói rằng nơi đây, các quân nhân thuộc SĐ23BB và BĐQ chết rất nhiều nhưng không có ai đến hỏi tìm. Nấm mồ của Trung Uý BĐQ Nguyễn Văn Quý cho đến nay vẫn còn nằm lạnh lẽo dưới gốc cây sứ già trước nhà thờ Thanh An, bây giờ là giáo xứ Đức Hưng, thôn 1, Xã Thắng Hưng, huyện Chư Prong, tỉnh Gia Lai. Trung Uý Nguyễn Văn Quý đã có gia đình chưa?
Vợ con hiện xiêu lạc nơi nào? Song thân của người chiến sĩ hiện nay vẫn còn hay đã mất. Bạn bè, chiến hữu của anh còn ai nhớ đến lai lịch của anh không? Nếu có ai biết hay còn nhớ đến người sĩ quan BĐQ tên Nguyễn Văn Quý xin tìm hỏi cha Đa Minh Nguyễn Xuân Hùng (1), để gặp Cha Xứ là người đã chôn cất người bạc mệnh. Tuổi đời đã cao, nay Cha đã 87 tuổi, sợ rằng vài năm nữa, khi Cha mất, không còn ai có thể chỉ ra nơi chôn cất các chiến sĩ này một cách rành rẽ. Xin Các bạn thứ lỗi cho người viết, nếu hôm nay, đọc bài báo viết về một câu chuyện cũ đã ba mươi lăm năm qua, được nhắc đến, khơi dậy lại, giữa những ngày vui rộn rịp cuối năm mang cho người đọc một nôi buồn.
Giáng Sinh là mùa sum họp đầm ấm, mang hạnh phúc an bình lại cho mọi gia đình. Giữa những tin buồn, mong rằng đây cũng là một tin vui, khi thân nhân tìm lại được tin tức những người đã khuất.
Châm ngôn luật La Tinh có câu: Ignorantia juris non excusat”, Không ai có thể viện cớ không biết luật để biện minh khi phạm luật. Trong thực tế, xã hội càng văn minh, tiến bộ. luật pháp trong quốc giá của xã hội này cảng nhiều, càng phức tạp. Không biết luật, do đó, là một tình trạng thực tế. Bước vào lãnh vực luật pháp, nhất là lãnh vực các đạo luật có tính cách chuyên môn, ta có cảm tưởng như đặt chân vào một rừng luật. Đó là trường hợp nước Mỹ. Văn minh kỹ thuật càng tiến bộ, luật pháp càng nhiều. Tuy nhiên, đó là giá phải trả cuả một xã hội văn minh, Nhưng có một khác biệt lớn giữa “rừng luật” của một xã hội tiến bộ và “luật rừng” trong một quốc gia sống dưới một chế độ rừng rú! Luật của kẻ mạnh trong rừng rú được Rudyard Kipling. một thi sĩ và tác giả Anh Quốc nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20, gọi là “luật rừng” (the law of the jungle). Nhưng đó la luật rừng của loài thú. một thứ luật tranh sống, một thứ luật thiên nhiên. Khi thứ luật của ác thú này được du nhập vào xã hội con người thì xã hội này hiện nguyên hình là một xã hội man rợ, bán khai. Ở trọng hoàn cảnh này, thằng dân thật khó biết tai họa sẽ đến lúc nào, không biết đường đâu mà tránh đỡ.
Công an đánh chết người trọng khi “thi hành công vụ,” như Trung Tá Công An Nguyễn Văn Ninh đánh chết một người dân đi xc không đội nón bảo hiểm, chỉ bị xừ 4 năm tù. Nguyễn Trọng Hiếu, công an viên xã Diên Khánh, Khánh Hòa, trong khi tuần tra giao thông, đã đuổi theo một nam thanh nien vì người này không đội mủ bảo hiểm, đã dùng gậy giao thông đánh vào gáy thanh niên này làm anh mất thăng bằng ngã xuống quốc lộ, bị thương tích 77%, xếp loại thương tật vĩnh viễn. Tên công an chỉ phải ở tù 9 tháng và bồi thường 113 triệu VN (khoảng $6.000,00 đô la,) số tiền này không thể nào nuôi một người nằm liệt giường suốt đời, Đó là luật rừng của kẻ cầm quyền. Có phải công an thương dân, sợ dân vỡ đầu vì không đội nón an toàn mà phải đánh vỡ đầu dân, hay là vì Bộ Công An có ăn chia với nhà sản xuất nón nhựa?!
Anh em nhà Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, chống cưỡng chế chiếm đất. bị phá nhà phải chống đỡ, uất ức, phải chống cự, bắn súng hoa cải làm bị thương bốn công an, mỗi người lãnh 5 năm tù. Phá nhà, chiếm đất, hiếp dân là một công trạng, nên trưởng công an Hải Phòng được phong tướng! Trong khi đó, LS Trần Vũ Hải nói với BBC hôm 31/03/13, sọ sánh vụ án ở Cống Rộc, Tiên Lãng này với vụ án Nọc Nạn xảy ra ở tình Bạc Liêu từ thời Pháp thuộc mà trong đó các bị cáo chính, là nông dân người Việt đã phản kháng đàn áp, cưỡng bức ruộng dất và giết chết năm người của chính quyền thực dân Pháp và phong kiến ở Nam Ký, dã được tha bồng!
Dân chủng cũng có luật rừng vì không tin vào công lý của kẻ cầm quyền, hành động phát xuất từ tính hung bạo, man rợ của con người sống và dược đào tạo trong chế độ cộng sản gần 40 năm nay. Đây là một xã hội mà tội ác khởi sự từ chính quyền và dần dà lan rộng trong quần chúng. Ngoại tỉnh có một dạo dã lâu lắm dược xếp vào loại tội tiểu hình ở Calilornia, nhưng đã bị hủy bỏ từ lâu. Trong các quốc gia theo văn hóa Á Châu, và tại Việt Nam, ngoại tình vẫn được xem là một tội phạm. Nhưng dù là một tội lỗi (sin) hay tội phạm (crime), không một xã hội trọng pháp nào lại cho phép có một hình phạt có tính cách gây điếm nhục, tàn bạo, công khai như trong trường hợp xảy ra tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế, Lợi dụng lúc chồng vắng nhà, một thiếu phụ nhắn tin gọi tình nhân đến nhà mình “quan hệ bất chính.” Ông em chồng của người đản bà theo dõi sự việc, kêu gọi người lối xóm vây bắt, ngoài trận độn roi tới tấp như mưa, đôi “gian phụ dâm phụ” còn chịu hình phạt bị lột sạch áo quần, bị trói đứng trước cửa nhà, trước mắt của mọi người qua lại. Tự động bắt trói người, đánh đập và làm nhục, điều ấy phải chăng là một lối làm luật rừng tự phát? Một người vợ phạm tội ngoại tình, bà ta chỉ có lỗi trước chồng hay bị búa rìu dư luận, nhưng tòa án không thể bắt hay đưa bà ra tòa mà kết án tù. Trong trường hợp này một ông em chồng, có thể nhân danh ai để thi hành bản án lăng nhục những người khác như vậy?
Mọi người được xem là vô tội cho dến khi có án toà. Và luật pháp phải được thi hành một cách điềm đạm, không thiên vị, không mang tính cách bêu rếu, trả thù. Bởi lẽ nếu bất cứ ai ai cũng có thế áp dụng và thi hành luật pháp theo ý riêng thi xã hội sẽ rơi vào tình trạng loạn lạc, tạo nên điều kiện làm sống lại những thú tính nơi con người của xã hội bán khai, man rợ. Và dó là tình trạng dưới chế độ cộng sản trong nước hiện nay.
Trong bộ “luật rừng” này, một người “bị nghi” là trộm chó, dù không có tang chứng, cũng bị lên án tử hình bằng cách bị đưa lên “dàn thiêu,” như thời Trung Cổ, vì tại hiện trường đôi khi không thấy chó bị bắt hay bị thuốc, chỉ thấyxác người và xe đã bị thiêu rụi một cách tàn nhẫn. Nạn nhân dã thực sự bắt quà tang đang ăn trộm chó chưa, công an. chính quyền ở đâu mà để cho dân dùng luật rừng giết người như vậy?
Như vậy, nếu một người lạ mặt chạy xe gắn máy qua làng, chỉ cần một người hô lớn lên: “Trộm chó! Trộm chỏ!” – như chuyện “Chó dại!” trong Luân Lý Giáo Khoa Thư ngày truớc – thì cả làng đổ ra, chưa biết trắng đen thế nào, gây gộc vây lại đánh người này cho đến chết, hay chưa chết thì cũng thiêu sống họ bằng số lượng xăng trong chiếc xe gắn máy của nạn nhân. Một phó giám đốc ở Vũng Tàu cũng bị dánh trọng thương khi chạy xe vàn vùng đang xảy ra vụ trộm chó, như vậy trọng số nạn nhân những người bi nghi là trộm chó cùng cả kẻ chết oan. Trong vụ “luật rừng” này, nạn nhân bị kết án và chịu án tử hình tại chổ, nhưng chiếc xe gắn máy, tài sản của nạn nhân, kẻ khốn cùng và gia đình của họ, ai có quyền tước đoạt và thiêu hủy như người ta thiêu hủy những món độc dược như cần sa, thuốc phiện? Quả phụ ông Nguyễn Văn Tuyến, người nghi trộm chó bị dánh chết, trú tại Hải Dương đã nói những lời ai oán:
-“Dù chồng tôi có thực là đi ăn trộm thì người ta cũng không thể nhẫn tâm đánh cho bằng chết. Còn nếu anh ấy không trộm chó mà bị đánh chết thì phải điều tra làm rõ nguyên nhân.” Thân phụ của một người bị đánh chết trong vụ trộm chó thì suốt ngày đóng cửa không dám ra đường, nghẹn ngào nói với phóng viên báo chí:
– “Quà thật tôi rất nhục nhã với dân làng, tôi không còn mặt mũi để gặp ai nữn. Đây là một nỗi nhục không biết bao giờ mới rửa sạch được. Tôi chỉ muốn chết hoặc bỏ đi biệt xử nơi khác để khỏi phải nghe tiếng gièm pha!”
Ở các nước khác, dù là nơi thú vật trong nhà được cưng chiều, ăn trộm một con chó hàng xóm, cùng lắm là ở tù một vài tháng. (Việt Nam nếu một người bị kết án đi ăn trộm chó của người khác, không lẽ phải chịu tù chung thân? Hoàn cánh xã hội nào đã khiến con người độc ác với con người dến như vậy?
Bảy năm sau khi cộng sản dã thôn tính cả nước, ở tù về. tôi dã đau lòng gặp gỡ nhiều thanh niên mạnh khoẻ, khôi ngô, đã bưng từng rổ chanh, rổ kim chỉ. ráy tai đi bán trên hè phố, không lẽ sau ba mươi tám năm “kháng chiến đã thành công.” những thanh niên mạnh khoẻ không có tiền để đút lót làm lao động xuất khẩu hay đóng tiền vượt biên, lại phải đi trộm chó để mưu sinh?
Cũng không phải kỳ thị, nhưng câu hỏi của tôi, là vì sao những vụ trộm chó lại chỉ xảy ra quanh quẩn ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Giang, Hải Dưong, Hải Phòng, cùng lắm ở Quảng Trị, thì lại là huyện Gio Linh, những vùng đất nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 17 XHCN, những thành đồng vách sắt,” được un dúc rèn luyện trong tinh thần cách mạng “thép đã tôi như thế đấy!” Không lẽ ở những nơi này. loài chó đang có giá và người ta coi con chó quý hơn mạng sống của cơn người.
Hình Nhật Báo Sóng Thần (ST) bắt đầu xuất bản vào tháng 10, 1971 và bị rút giấy phép vào tháng 2, 1975, tại Saigòn. Hiện microfilm của những số báo ST được lưu trữ tại thư viện của Đại Học Cornell, ghi số Watson Film 5004.
Hình trên góc trái là poster quảng cáo ST sắp trình làng, do nhóm Hà Thúc Nhơn và nhà văn Chu Tử chủ biên. Poster này do hoạ sĩ Đằng Giao trình bày, dựa theo ý của ký giả Uyên Thao và Đường Thiên Lý.
Hình trên bên mặt, là hình trang nhất của một số báo bị tịch thu đề ngày 22 tháng 9, 1974.
Hình dưới bên mặt, trang nhất của số báo ra ngày 31 tháng 10, 1974, ngày ST bị đưa ra toà xử về tội đã đăng nguyên văn bản cáo trạng của Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng do Linh Mục Trần Hữu Thanh chủ xướng với sự tham gia của 300 linh mục.
Các hình bên trái là vài cảnh trong toà với các luật sư của ST. (Collage TD2008, rút từ cuốn Sóng Thần – Vụ Án Lịch Sử 31-10-74: Ngày Báo chí và Công Lý Thọ Nạn, tài liệu nội bộ, do Uyên Thao và Lê Thiệp soạn)
Ghi chú của Lê Quỳnh Mai
LQM:Ý kiến của chị thế nào về văn học hải ngoại. Và sự khác biệt giữa hai thời điểm trước 1975 và sau 1975 dưới mắt nhìn của chị?
TD: Không biết có phải cái gì đã trở thành kỷ niệm rồi thì bao giờ, ít nhiều, nó cũng đẹp hơn? Tôi vừa đọc lại cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan 1954-1975 (ấn bản lần thứ ba, nhà xuất bản Văn Nghệ, 2000) do nhà văn Võ Phiến soạn từ giữa thập niên 1980, thì thấy là cũng không hẳn thế, mà văn học Miền Nam trước 1975 quả có phong phú thật, và vì bây giờ nó đã trở thành kỷ niệm, nên lại càng đẹp hơn. Và, một cách thầm kín, tôi không khỏi hãnh diện đã được đóng góp một phần nhỏ trong đó.
Cái khác biệt lớn lao là trước 1975 khi còn ở trong nước, chúng ta có người đọc, có môi trường sinh hoạt gần gũi trao đổi và nâng đỡ, kể cả phê bình, lẫn nhau, từ đó nảy ra hứng thú; có các nhà xuất bản sống thuần túy bằng nghề in sách, có hệ thống phát hành chuyên môn, và tiệm sách ở khắp nơi, cả trên các hè phố, chưa kể hệ thống các tiệm cho thuê sách, và người cầm bút có thể sống bằng ngòi bút của mình, hoặc ít ra viết có tiền nhuận bút, dù nhuận bút, cho một truyện ngắn, chẳng hạn, chỉ đủ để mời thân hữu đi ăn một bữa ở nhà hàng.
Sau 1975, ở hải ngoại, chúng ta quá bận rộn vì phải phấn đấu với tâm trạng xa quê hương, nhớ nhà, bà con, sinh hoạt chòm xóm, và bận rộn thích nghi với một môi trường mới hoàn toàn xa lạ, chưa kể nhiều gia đình sống ở đây mà còn phải cưu mang cả người thân, bà con lầm than vất vả ở bên nhà. Thì giờ đâu ra mà đọc, mặc dù ở những năm tháng đầu, người ta thèm đọc, mà là đọc những tin tức về Việt Nam, hoặc những sách vở trước 1975 vốn là một phần trong bộ nhớ nhung chung về một dĩ vãng không còn nữa — ở đây xin ghi nhận công lao đóng góp của nền báo chí hải ngoại, đặc biệt ở giai đọan đầu. Người đọc đã thế, người cầm bút di tản cũng đâu thua gì, có khi còn tệ hơn vì bao nhiêu điều muốn ghi lại song biến cố 30 tháng 4, 1975 đã khiến một số người tê điếng, có trường hợp bị liệt cảm xúc (tôi bị rơi vào tình trạng này hết mấy năm đầu tị nạn).
Tôi nhớ có một lần, vào giữa thập niên 1990, gặp một ông bác sĩ Việt khá thành công ở Stockton, Bắc Cali. Chắc muốn chứng tỏ là mình vẫn theo dõi tình trạng sách báo Việt hải ngoại, nên vừa hỏi, vừa như phán, với tôi như thế này: “Tại sao một biến cố đau thương lớn lao như biến cố 1975 mà chúng ta vẫn chưa có một tác phẩm lớn nào?” Tôi cũng bộc trực trả lời, “Người cầm bút tị nạn cũng phải đi kiếm sống và lo cho gia đình, như bao người khác, sao đòi hỏi họ làm cái việc tày trời đó?” Song tôi cũng kịp ngưng lại, để không phải nói tiếp, là những người thành công về tài chính như ông bác sĩ thì nên nhận bảo trợ một vài nhà văn tị nạn để họ ngồi viết tác phẩm lớn như ông đòi hỏi.
Đấy là thời kỳ thập niên đầu sau 1975. Thế hệ của những người ở tuổi chúng tôi, từ 30 tới 50 khi di tản, cầm bút hay không, là thế hệ phải ổn định đời sống vật chất cho gia đình, do nhu cầu cấp bách đặt ra của một cuộc đổi đời quá lớn. Cũng như thế hệ cha anh của chúng tôi trong cuộc di cư vĩ đại vào Nam năm 1954. Chỉ khác một điều, trên cái nền móng do cha anh chúng tôi xây sau cuộc đổi đời 1954 là toà nhà văn học Miền Nam do chúng tôi xây. Nó đa dạng, rực rỡ, cũng là nhờ 3 yếu tố, như chị Thụy Khuê đã nêu lên, khá chính xác, trong bài viết về văn học Miền Nam của chị (http://thuykhue.free.fr/) . 3 yếu tố đó là 1) nền móng quốc ngữ từ cuối thế kỷ XIX, cộng thêm tiếng Nam như một kho tàng ngôn ngữ mới, 2) sự bảo tồn văn học tiền chiến và bảo lưu Nhân Văn Giai Phẩm trong thời kỳ chia đôi đất nước khiến Miền Nam không bị cắt đứt với quá khứ và hiện tại văn học của cả nước (khác với ở Miền Bắc chúng đã bị bóp chết), và 3) sự nối kết với và thu nhận các trào lưu văn học và tư tưởng nước ngoài vô cùng phong phú, đặc biệt trong hai thập niên 1950 và 1960.
Trên cái nền móng do thế hệ chúng tôi ổn định sau cuộc đổi đời sau 1975 sẽ là gì? Chúng ta cũng đã tạo nên được một nền văn học hải ngoại, dù khó có thể so sánh với nền văn học Miền Nam 1954-1975 vì chúng ta đã bị bật rễ thê thảm, nhưng không vì thế mà nó không phát triển và đa dạng, nhờ ảnh hưởng văn hoá và môi trường sinh sống tại mỗi quốc gia định cư. Một số người viết từ trước 1975 vẫn can đảm tiếp tục mặc dù những khó khăn trong đời sống mới, nguồn tài liệu rải rác, xa xôi, tình trạng sống rải rác khắp nơi khiến chúng ta thiếu một hệ thống hỗ trợ (support system) lẫn nhau.
Từ hơn một thập niên nay, sự hiện diện của kỹ thuật computer và Internet đã thay đổi tình trạng này, và đấy là điều đáng mừng Chúng ta cũng đã có thêm nhiều cây bút mới ghi nhận những mảnh đời, sinh hoạt của người Việt ở khắp nơi. Bên cạnh đó, nhiều người thuộc thế hệ con cháu của chúng ta cũng theo đuổi công việc sáng tác, dù là bằng Anh hay Pháp ngữ mà theo tôi, điều đó không quan trọng, vì ngôn ngữ chẳng qua chỉ là một phương tiện, cũng như văn học nghệ thuật chẳng qua cũng chỉ là phương tiện. Và chúng ta lúc nào muốn và cần, cũng có thể dịch những tác phẩm của họ sang tiếng Việt, như chúng ta đã từng làm việc dịch từ chữ Hán, chữ Nôm các tác phẩm của cha ông chúng ta khi ta chưa có chữ viết mà phải mượn của Tầu hoặc biến chế thành chữ Nôm khó phổ thông hóa, như về sau này với hệ thống chữ quốc ngữ. Cái quan trọng là nội dung, cách diễn đạt và tính nhân bản phản ảnh qua tác phẩm. Tóm lại, văn học hải ngoại 1975-2010 chắc chắn không thể so sánh với văn học Miền Nam 1954-1975, đặc biệt về lượng, nhưng nó đã và đang hiện diện.
LQM:Theo tạp chí Văn (số phát hành ngày 13/7/1973), 5 nhà văn nữ nổi tiếng nhất của văn chương tiểu thuyết hiện đại là Túy Hồng, Trùng Dương, Nhã Ca, Nguyễn thị Hoàng, Nguyễn thị Thụy Vũ. Cảm giác của chị thế nào khi được chọn lọc như thế?
TD: Cảm giác lúc bấy giờ (1973) thì không còn nhớ chính xác, vì chúng tôi cũng ngạc nhiên khi có người gần đây e-mail cho trang Web có phóng ảnh trích từ số báo Văn này, bởi tôi đã hoàn toàn quên số báo đó. Giờ nhìn lại thì cũng thấy vui vui vì đã được góp mặt, góp phần. Xin mở ngoặc đơn: Bạn đọc nào muốn tìm hiểu thêm về sự đóng góp của 5 chúng tôi và các nhà văn nữ khác của nền văn học Miền Nam 1954-1975, xin đọc một bài biên khảo khá công phu của nữ học giả Công-Huyền Tôn-Nữ Nha-Trang, “Women Writers of South Vietnam, 1954-75” (The Vietnam Forum, No. 9, 1987). Bài này hiện đang được ông Đoàn Thanh Liêm dịch ra chữ Việt với sự thỏa thuận của tác giả. Theo chỗ tôi được biết thì nhà văn Phạm Phú Minh đã được phép tác giả cho in lại trên tờ tạp chí điện tử Diễn Đàn Thế Kỷ mới ra đời, do anh làm chủ bút, hiện có mặt tại http://www.diendantheky.net/.
LQM:Xin chị giới thiệu về Bầy Kên Kên, tác phẩm đã đưa tên tuổi Trùng Dương thành danh với độc giả. Và chị có hài lòng với những đứa con tinh thần sau đó không. Ví dụ như “Bí mật rừng già”?
TD: Bầy Kên Kên là một tác phẩm chưa hoàn tất, không có gì đáng để nói, và do đấy cũng không phải là tác phẩm đưa tới cái gọi là “thành danh” của Trùng Dương. Thực tình tôi cũng chẳng biết có tác phẩm nào đã khiến tôi “thành danh”. Hình như tôi được người ta nhớ đến nhiều là do hoạt động với tờ Sóng Thần.
Trở lại những tác phẩm văn chương, đọc lại những truyện cũ (tôi may mắn có đem theo được, trong chuyến di tản 1975, vài tập truyện đã in thành sách, tôi không cho in lại vì đã có ai đó nhanh tay… làm hộ việc này, ngoài hiểu biết của tôi, song cũng không quan trọng), tôi chỉ có một sự hài lòng rõ rệt nhất, đó là chúng đã giúp ghi lại những cảm nghĩ, nhận xét về những mảnh đời mà nếu không, mình đã không còn nhớ. Ngoài ra, chúng cũng giúp tôi đo lường được mức độ trưởng thành trong việc cầm bút của mình. Hồi xưa, trước 1975, tôi viết do ngẫu hứng nhiều, không có căn bản về viết văn hay báo, do đấy có những bài rất bột phát, hồn nhiên, thấy cũng hay hay, đọc lại chính mình cũng ngạc nhiên, ngược lại, có nhiều bài dở, vớ vẩn, chẳng ra làm sao, xem lại, thấy buồn cười,
Riêng truyện “Bí mật của rừng già”, cũng lạ là người phỏng vấn đề cập tới, vì ít ai đã đọc, hay đọc mà còn nhớ. Độc giả và các bạn văn nghệ của tôi thường chỉ nhắc tới hai truyện mà họ cho là tiêu biểu, hoặc do còn rơi rớt lại… cái tựa truyện trong trí nhớ của họ, và cũng được chọn làm tựa của hai tập truyện, Vừa đi vừa ngước nhìn (Khai Trí, 1966) và Mưa không ướt đất (Văn, 1967). Truyện “Bí mật của rừng già”, viết vào cuối thập niên 1960, được in lại trong tập truyện Chung Cư (Tân Văn, 1971), có một nửa (phần người nữ tu bị hiếp) dựa vào chuyện do một người bạn kể lại, và nửa còn lại (người hiếp người nữ tu bị người anh của bà ta “xử”, sau khi chuốc rượu cho say đến bất tỉnh) là do trí tưởng tượng của tác giả. Truyện có bối cảnh là một khu định cư của dân Bắc di cư năm 1954 tại một vùng cao nguyên đất đỏ, lấy từ ký ức về những chuyến đi thăm cha tôi và mấy người anh làm cây và trú ngụ ở Túc Trưng, Nam Việt Nam, vào cuối thập niên 1950. Viết truyện ngắn này, hình như tôi chỉ muốn kể lại một câu chuyện, trong tinh thần kể chuyện hơi cổ điển: có đầu có đuôi, có quả có báo. Có thể khi nghe người bạn kể chuyện, tôi thấy bất nhẫn, một cách vô thức, nên tưởng tượng thêm thắt cho thành chuyện quả-báo. Độc giả có toàn quyền rút từ đó ra một ý nghĩa nào đó tùy theo cảm quan của họ.
LQM:Nhận xét của chị về dòng văn chương nữ trong cộng đồng người Việt hải ngoại thế nào? Nói chung, cảm giác của chị ra sao khi biết có không ít những nhà văn nữ, qua tác phẩm của họ, đã tạo được thành công vượt hẳn nam giới?
TD: Tôi chỉ đọc vài người, không đọc hết, thành ra không thể bàn về cái gọi là dòng văn chương nữ hải ngoại, vì sẽ rất thiếu sót, lệch lạc. Song theo tôi, không có dòng văn chương nam hay nữ hay phái ở giữa. Văn chương nào thì cái chính là có rung cảm và làm phong phú (enrich) được người đọc không, và nếu nói lên được cái gì thì càng tốt.
LQM:Người ta nói nhà văn (đích thực) là những người cô đơn nhất theo bản năng tự nhiên. Chính vì thế mà họ mới có khả năng chìm đắm trong tư duy sáng tạo, và sống với những nhân vật họ tạo ra. Theo chị thì câu này có đúng không? Và chị có cảm thấy cô đơn như thế không?
TD: Hành trình sáng tạo nào cũng là một hành trình cô đơn, chẳng cứ viết văn. Như người ta ngồi đồng, đồng không lên thì không nhập đồng được. Nhập rồi thì chẳng còn biết gì về đời sống xung quanh. Nói vậy, tôi chưa thấy mình đạt tới giai đoạn được “đồng nhập” đó. Có lẽ vì thế mà chưa có tác phẩm… lớn?
LQM:Người ta cũng nói rằng sự thành công lớn chính là niềm cô đơn bất tận của nghệ sĩ. Chị có cho đây là cái giá phải trả của nghệ sĩ nói chung không?
TD: Tôi chưa liên kết được 3 cụm từ “sự thành công lớn”, “niềm cô đơn bất tận”, và “cái giá phải trả”. Cũng có thể vì tôi chưa có kinh nghiệm về một “sự thành công lớn” nên chưa có được cái “niềm cô đơn bất tận” đã phải trả bằng “cái giá phải trả”, chăng?
LQM:Chị nghĩ sao về ảnh hưởng lớn của phụ nữ trong lãnh vực chính trị hiện nay? Và ý kiến về nạn buôn người tại Á châu, đặc biệt là tại Việt Nam.
TD: Tôi nghĩ ảnh hưởng của phụ nữ trong lãnh vực chính trị là một điều khích lệ, đáng mừng, đã tới lúc, nếu không nói là hơi trễ là đàng khác.
Về tệ nạn buôn người ở Á châu và đặc biệt tại Việt Nam, đây là một vấn nạn xã hội lớn lao và nhức nhối. Ở đây tôi xin phép chỉ thu gọn vào vấn đề buôn bán trẻ em và các thiếu nữ. Tôi nhớ có đọc một bài báo, về một phóng viên Mỹ bỏ tiền ra chuộc một cô bé trong một ổ điếm ở Căm Bốt và đem em trả về cho gia đình em ở một làng quê, để một thời gian sau anh ta lại thấy em ở trong một ổ điếm khác. Tức là muốn giải quyết tệ nạn này, phải giải quyết tận gốc, bằng sự giáo dục và tạo cơ hội kinh tế cho các em gái.
Chương trình Dateline của NBC cách đây 5 năm có đi một phim tài liệu về tệ nạn này, nhan đề là “Children for Sale”, hiện còn post tại http://www.msnbc.msn.com/id/4038249/; và cách đây 2 năm, chương trình NOW của hệ thống truyền hình PBS cũng có trình chiếu một phim tài liệu tựa là “Daughters for Sale”. Trong khi Dateline cung cấp một cái nhìn tổng quát về tệ nạn buôn bán trẻ em gái, thì NOW thu hẹp vào công tác của tổ chức Nepalese Youth Opportunity Foundation (http://www.nyof.org/), là một nhóm thiện nguyện Tây phương phối hợp với dân địa phương, đã giúp vốn, bằng một con heo con, hay một con dê, trị giá bằng số tiền một gia đình nghèo nhận được nếu đem con gái đi ở đợ, mà kết quả có thể là bán con luôn.
Ngoài việc giữ các em gái ở lại với gia đình, tổ chức này còn giúp cho các em có phương tiện đi học để có được việc làm tốt, đồng thời giữ được phẩm giá con người. Hàng ngàn em gái đã được tổ chức NYOF giúp đỡ để vừa được ở nhà với và giúp gia đình, vừa được đi học để chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp hơn. Song đây cũng chỉ là muối bỏ bể, vì thành kiến xã hội, tập tục văn hóa và đặc biệt, tình trạng kinh tế lạc hậu.
Gần đây tôi cũng có dịp xem một phim tài liệu khác, cũng trên đài PBS, về một trường ở Ấn Độ, gọi là Barefoot College (http://www.barefootcollege.org/), giúp huấn luyện các phụ nữ ở vùng quê lắp ráp solar panel và thiết lập hệ thống thu nguồn ánh sáng của mặt trời để cung cấp điện lực cho thôn xóm họ, tôi rất thích thú. Đặc biệt trường này chỉ nhận huấn luyện các phụ nữ thôn quê, không nhận nam sinh. Họ lý luận là huấn luyện cho các bà thì các bà làm việc ra tiền thường lại đem thu hoạch về để bồi bổ cho gia đình con cái, chứ không tiêu dùng cho riêng mình.
Sẽ rất thiếu sót nếu không đề cập tới những nỗ lực của các bạn trẻ Việt hải ngoại hiện đang làm các công việc thiện nguyện nhằm giáo dục các em gái con nhà nghèo ở Việt Nam tránh bị rơi vào cạm bẫy của nạn buôn người và giúp các em tiếp tục việc học. Điển hình là các sinh hoạt của Pacific Links Foundation (http://pacificlinks.org/) mà chương trình Newshour thuộc hệ thống truyền hình PBS đã giới thiệu nhân kỷ niệm 35 năm ngày 30 tháng 4, 1975 vừa qua. Hoặc VietACT (http://www.vietact.org/), một tổ chức chống nạn buôn người của một số bạn trẻ hoạt động đã nhiều năm nay, bên cạnh nhiều nỗ lực cá nhân khác, tất cả rất cần chúng ta hỗ trợ, đóng góp nếu có khả năng.
Tóm lại, muốn giải quyết tệ nạn buôn người đối với phụ nữ, phải bắt đầu đi từ căn nguyên, tức là tạo cơ hội kinh tế cho những người có thể trở thành nạn nhân. Các tổ chức thiện nguyện quốc tế không thể một mình làm việc này, mà phải có sự tiếp tay của người địa phương, và của chính quyền, nếu họ thực tâm lo cho dân.
LQM:Nhà văn Võ Phiến, về cuối đời đã viết trong tản mạn Thẫn Thờ như sau: “Chuyện sáng tác có gì đáng nói… Tôi e những món thơ thẩn và tùy bút nọ kia đều phải xếp về phía đồ chơi. Những cái mình miệt mài bấy lâu, khi đầu bạc nhìn lại là đồ chơi cả…” (Cuối Cùng, Võ Phiến, Thế Kỷ 21 xb năm 2010). Xin chị cho ý kiến về câu tuyệt vời trên?!
TD: “Chơi” mà đồ sộ như thư mục sách đã xuất bản của ông Vô Phiến, thì cũng đáng “chơi” lắm, chứ sao lại… “thẫn thờ”? Và có lẽ vì ông ấy “chơi”, chứ mà đăm chiêu, nghiêm chỉnh, lúc nào cũng như vác một sứ mệnh văn nghệ vĩ đại, e người đọc bị nhát, đọc sợ không vô. Có lẽ đó là cái khiến nhiều người thích đọc và cảm được Võ Phiến, vì ông ấy chỉ kề cà kể chuyện, bình dân, mộc mạc, kể cả khi đề cập tới những chuyện không nhỏ tí nào, như… 20 năm Văn học Miền Nam 1954-1975.
LQM:Trở lại với độc giả qua những ký sự du lịch. Điều này chứng minh chị đã đi qua rất nhiều địa danh lịch sử trên thế giới. Chị có tìm ra được sự liên hệ chung của con người là gì không? Có phải đó chính là tình yêu?
TD: Thực ra tôi đi không nhiều, và cũng rất chọn lọc cái nơi mình đi thăm, không nhất thiết phải là một địa danh lịch sử. Như đã nói ở trên, tôi thích nhiều thứ, là một loại “chuyên viên về các vấn đề tổng quát” (chữ của nhà thơ Đỗ Quý Toàn, trước 1975, một lần nói về nghề viết báo của Đạo Cấy, bút hiệu viết phiếm của anh ấy). Và tôi cũng rất thích loại phóng sự bằng hình (photoessay) hoặc chuyện bằng hình (photostory) nữa, làm để… chơi, để gửi đi chia sẻ với người thân, bằng hữu hoặc vài tờ báo thân hữu. Tôi thích, và vẫn cố, viết ngắn và cô đọng, và để cho hình ảnh kể chuyện, một phần vì thời buổi này không có mấy ai có thì giờ đọc bài dài và nhớ được dù chỉ một phần nhỏ.
Trở lại chuyện du lịch. Tôi đi thăm Taos, New Mexico, chẳng hạn, vì dạo đã lâu nghe thằng con đi thăm Taos về, nói ở California đi ra bờ sông thấy thiên hạ thả cần câu cá đầy dọc theo bờ sông, còn đến Taos thì chỉ thấy họa sĩ dựng giá vẽ đầy dọc bờ sông. Có thể là thằng con diễn tả hơi quá, có tính khôi hài. Dù vậy, khi tôi đi thăm Taos là vào tháng 11, trời đã lạnh, lại ở cao độ, đã lất phất tuyết rơi, nên chẳng thấy hoạ sĩ nào dại dột ra bờ sông dựng giá vẽ hết, nhưng thành phố thì thấy đầy phòng tranh, có phòng tranh có tên gọi là “The Starving Artists”, có cả một rạp chiếu bóng tên là Storyteller – tôi rất mê văn hóa nghệ thuật, đặc biệt kiến trúc, của vùng Tây Nam Hoa Kỳ vốn xưa thuộc về các bộ lạc Da Đỏ. Hoặc tôi đi New Orleans, 3 năm sau trận bão kinh hoàng Katrina, vì mối quan tâm tới môi sinh và vì muốn biết thành phố này đã phục hồi ra sao – cũng nhờ chuyến đi đó mà gần đây tôi theo dõi vụ tràn dầu trong Vịnh Mexico với một kiến thức về môi sinh của vùng bờ biển Louisiana, chỉ cách New Orleans có vài ba chục miles, và với một quan tâm đặc biệt. Hoặc tôi đi thăm các bãi đổ bộ của quân Đồng Minh ở Normandy, Pháp, nhân kỷ niệm 65 năm D-Day năm ngoái, và đã đi thăm các nghĩa trang tử sĩ Mỹ và cả Đức, để được nhìn thấy tận mắt sự tôn trọng các tử sĩ không phân biệt bên thắng bên thua của một nhân loại văn minh, không như người cộng sản ở Việt Nam đối với các phần mộ của các tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Hoặc tôi đi Nam Cực vì … ít người có dịp này — một kinh nghiệm tuyệt vời vì môi trường vô cùng tinh khiết nơi đây, mặc dù lạnh ơi là lạnh dù đang giữa mùa hè ở Nam Bán Cầu (mà tôi lại bị mất cắp túi hành lý đựng quần áo và thuốc men khi chờ xe bus ở Buenos Aires, Argentina trước khi lên tầu đi cruise – một kỷ niệm đáng nhớ!). Hay tôi đi Ý vì trên 30 năm trước, vào những ngày cuối cùng ở Sàigòn, có cơ hội di tản song còn đang phân vân nên đi hay ở, tôi đi xem một phim có bối cảnh ở Rome, đã tự nhủ nếu không rời khỏi Việt Nam thì… bao giờ mới được thấy Ý và những công trình kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật của xứ này. Vậy mà mãi tới năm vừa rồi tôi mới có dịp đi Ý, và đã hẳn là phải viếng cả Pompeii nữa, để trí tưởng tượng của mình có dịp bay ngược thời gian về thế kỷ thứ nhất khi Pompeii và thành phố Herculaneum kế bên bị hỏa diệm sơn Vesuvius phun lửa chôn vùi dưới 21 mét nham thạch vào năm 79 thuộc thế kỷ thứ nhất, cũng là thế kỷ thấy cuộc khởi nghĩa thành công và xưng vương ngắn ngủi của Hai Bà Trưng (40-43). Cũng vì thích những tàn tích cổ đó, mà tôi đi thăm Mesa Verde National Park ở Colorado, nơi có những làng xóm các bộ lạc Da Đỏ xây trong hốc núi (cliff dwellings) từ trước thế kỷ thứ 13, vừa bí ẩn, vừa đẹp, như những tác phẩm điêu khắc nghệ thuật. Tôi vẫn mong có dịp đi thăm các di tích của vương quốc Chàm – tôi chưa| trở về lại Việt Nam lần nào.
Qua những chuyến đi ấy, tôi càng thấy thêm yêu thương trái đất. Trái đất – hành tinh duy nhất còn sự sống – đẹp như thế, môi sinh đa dạng như thế, với các nền văn minh nối tiếp nhau phong phú rực rỡ khi thịnh, và trầm mặc, bí ẩn lúc suy, như thế, mình phải làm những gì có thể làm để bảo tồn, trân trọng nó, đừng mặc sức khai thác, tàn phá, làm ô nhiễm nó thêm, và để cho con cháu mình cũng được dịp thưởng ngoạn những cái đẹp ấy.
LQM:Xin nhà văn Trùng Dương có vài lời với quý độc giả,
TD: Vài người gần đây nói với tôi họ thích đọc tôi vì thấy được mở mang kiến thức, tôi thấy vui vui vì mình đã làm được một việc có ích khi kể lại những chuyến đi chơi của mình, hoặc khi viết về một đề tài nào đó, hoặc về cuốn sách hay một phim hay đã đọc, xem và đã rung động mình. Xin chân thành cảm tạ lòng ưu ái của bạn đọc, hiện tại cũng như trong quá khứ.
LQM:Cám ơn chị đã nhận lời mời phỏng vấn của Lê Quỳnh Mai.
TD: Xin cảm ơn người phỏng vấn đã dành cho tôi cơ hội “gói ghém” cuộc đời cầm bút của mình.
LQM
Thực hiện 29 tháng 6 năm 2010, trích từ tập Tác giả với Chúng ta (2004)
Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben
Dịch giả: Cô Liêu
Sáng chủ nhật Graber trở về đường Haken. Y nhận thấy có cái gì khác trong chỗ nhà đổ nát. Cái bồn tắm đã biến mất, mấy bậc cầu thang còn lại cũng biến mất. Một lối đi hẹp được khoét dọc bờ tường vào tận sân trong. Có lẽ một toán người đã đến đây dọn dẹp.
Graber bước vào lối đi, qua sân vào một phòng đầy gạch vụn, y nhận ra trước đây là phòng tắm giặt. Y chú ý đến một hành lang tối om bèn bật diêm lên soi. Bất thần đằng sau y một tiếng người la lớn:
– Vào đây làm gì, ra mau đi!
Y quay lại, không thấy gì trong tối, bèn quay ra. Một người đứng chờ ở ngoài. Hai tay người ấy chống nạnh, áo tơi lính trùm ra ngoài bộ đồ dân sự. Graber nói:
– Nhà tôi ở đây. Ông là ai?
– Tôi ở đây chớ không ai khác! Ông đến đây làm gì? Ăn cắp hả?
Graber bình tĩnh vì thấy đôi nạng và chiếc áo tơi.
– Làm gì mà nóng nảy thế. Cha mẹ tôi ở đây trước ngày nhà trúng bom. Trước khi nhập ngũ tôi cũng ở đây. Như thế đủ chưa?
– Nói thì dễ quá!
Graber nắm hai vai người tàn tật đẩy ra một bên lấy lối đi ra. Từ phía ngoài một người đàn bà và một đứa con nít đi vào theo sau có một người vác cuốc trên vai. Họ xúm quanh Graber. Người vác cuốc hỏi người tàn tật.
– Có chuyện gì thế?
– Người này lảng vảng vào đây. Y bảo rằng cha mẹ y ở căn nhà này.
Người mang cuốc cười gằn:
– Rồi sao nữa?
– Thế thôi.
Graber nói.
– Anh chỉ biết nói thế thôi à?
Hắn giơ cuốc lên:
– Bước ngay, không thì tao phang cho một nhát.
Y chưa kịp nói lần thứ hai. Graber giáng một cái đấm vào giữa mặt, hắn ngã dúi ra sau. Graber cầm lấy cuốc.
– Phải thế mới trị được mày. Đi mà gọi cảnh sát đến đây. Nhưng tao chắc mày không dám làm liều thế.
– Đừng có làm tới nữa nghe. Người Phổ đã dạy tao miếng võ thần này. Bây giờ nói cho tao nghe. Mày đến đây làm gì.
Người đàn bà tiến lại.
– Chúng ta ở nhà này. Ở đây thì có tội tình gì?
– Không. Nhưng đây là nhà cha mẹ tôi. Tôi đến đây có tội tình gì?
– Chứng cớ đâu?
– Không cần chứng cớ. Đây không còn gì mà ăn cắp.
– Đối với người nghèo thì vẫn hơn.
– Tôi không đến đây để ăn cắp. Tôi về nghỉ phép, vài ngày nữa sẽ đi. Anh có đọc bức thư ở cửa không? Tôi là người viết thư để tìm cha mẹ.
– Anh đấy à?
– Tôi đây, nhà tôi ở đây.
– A thế thì khác. Anh hiểu cho chúng tôi, bây giờ ai cũng không tin ai cả. Chúng tôi bị nạn, chúng tôi tạm ngụ ở đây. Không nhà thì phải tìm chỗ trú chứ.
– Anh quét dọn chỗ này à?
– Một phần thôi, có người giúp tôi.
– Ai?
– Bà con. Họ có đồ nghề.
– Có tìm thấy người chết dưới đống gạch không?
– Không.
– Chắc không?
– Chắc. Nhưng dẫu sao thì trước người ta đã dọn dẹp rồi. Đến lượt chúng tôi không thấy gì cả.
– Tôi chỉ muốn biết thế thôi.
– Có thế thì sao đấm vỡ mặt người ta? – Người đàn bà nói.
– Chồng chị đấy à?
– Việc gì đến anh. Không phải chồng tôi, em tôi đấy. Máu me ra thế kia kìa.
– Chỉ chảy máu mũi thôi.
– Cả răng nữa.
Graber giơ cuốc lên :
– Hắn định lấy cuốc phang tôi.
– Đã phang đâu.
– Thưa chị, tôi đã hiểu quá rằng đừng nên đợi cho sự đe dọa trở thành sự thật.
Y ném cái cuốc vào đống gạch thật xa. Mấy người khác nom theo. Đứa bé định chạy ra nhặt nhưng người mẹ cản lại. Graber nhìn quanh cái bồn tắm đã khiêng ra để gần nhà ngang. Có lẽ cầu thang đã được bửa ra làm củi đun. Hộp đồ ăn, bướm áo, xoong chao méo mó, đồ đạc gãy nát lẫn với đám gạch vụn. Gia đình này đã dọn dẹp căn nhà ngang ở và chiếm hữu tất cả cái gì còn dùng được trong đống gạch vụn. Chuyện ấy không có gì đáng nói. Đời sống vẫn tiếp tục. Đứa con trẻ có vẻ khỏe mạnh. Mảnh đất điêu tàn lại có người ở. Người ta đành phải theo dòng đời.
– Anh đã ráng sức dọn dẹp thật mau lẹ.
– Thì phải mau tay khi không có gì che mưa nắng.
Graber đã sắp sửa đi, lại hỏi một câu:
– Anh có thấy con mèo, con mèo đen khoang trắng?
– Mèo Rosa của mình đấy à?
Đứa trẻ xen vào. Người đàn bà vội cướp lời:
– Không, không thấy mèo nào cả.
Graber bỏ đi. Chắc là phải còn nhiều gia đình khác trong hầm này. Nếu không thì sao dọn dẹp được mau thế, trừ khi có một toán người đến làm giúp. Bây giờ người ta thường đem từng đoàn người ở các trại tập trung về tỉnh dọn dẹp.
Y rảo bước đi. Không biết tại sao bỗng dưng y thấy mình nghèo đi.
***
Y đến một dãy phố còn nguyên vẹn, cửa kính các tiệm buôn cũng không bị vỡ. Chân bước đi đầu óc rỗng không. Hốt nhiên y kinh ngạc dừng lại. Có người đi trở lại ngay trước mặt, thì ra chính bóng mình phản chiếu trong một tấm gương của tiệm may. Y có cảm tưởng kỳ lạ rằng mình đứng trước mình, nếu rẽ ngang ra, hình ảnh tan đi đời sống của mình cũng tiêu tan hẳn.
Y dừng lại nhìn ảnh mình mờ nhạt trong tấm gương đã mờ. Hai mắt sâu hoắm như hai lỗ đáo đen trên khuôn mặt có thể nói rằng không có mắt. Thình lình y cảm thấy một cảm giác khắc khoải lạnh lùng hầu như xa lạ với mình. Không phải là sự khủng khiếp thể chất, không phải bản năng bảo tồn sự sống tập trung sinh lực lại để chống cự, chạy trốn hay chờ đợi; đó là một thứ sợ hãi bình lặng len lỏi khắp châu than, cái sợ lọt qua kẽ mọi cố gắng thông trị nó, cái sợ mở ra một vực thẳm hư không hút lấy con người làm người ta tê liệt ca máu xương da thịt lẫn đến đời sống. Hình ảnh trong gương vẫn nguyên đấy nhưng y vẫn chờ đợi cái hư không vô hình tướng kia thu hút mất hình hài giới hạn và phù vân có tên gọi nhất thời là Graber và đẩy y xuống Âm ti. Âm ti là cái gì còn hơn cái chết, đó là sự tận cùng của cái ta, là sự tan rã, là sự phân tâm cho lan vào nguyên tử hỗn mang, là trở về hư vô.
Như vậy sẽ còn gì? Khi mình đã khuất núi thì sẽ còn gì.
Hết. Hết hẳn, trừ chút kỷ niệm trong tâm trí vài người thân bằng cố hữu hay bạn bè – có lẽ cả Elisabeth nữa – nhưng phỏng được bao lâu?
Mắt y không rời cái gương lớn. Dường như y đã trở thành nhẹ lâng lâng, một cái bóng bằng giấy, trong suốt, một cái bao mất hết ruột ở trong, chỉ một cơn gió nhẹ cũng thổi bay. Như vậy sẽ còn lại cái gì? Tìm đâu một điểm tựa, bỏ neo xuống chỗ nào, làm gì cho vững bền đôi chút để lưu lại vết tích của mình.
Có người đằng sau gọi:
– Ernst!
Y giật mình quay lại. Một người cụt chân, đứng tựa vào đôi nạng đứng nhìn. Mới đầu y nghĩ đến người chống nạng ở đường Haken; nhưng sau nhận ra là Karl Mutzig, người bạn học cũ.
– Ủa, Karl hả? Tôi không dè lại được gặp anh ở đây!
– Tôi về nhà từ lâu. Sáu tháng nay rồi.
Hai người nhìn nhau.
– Thật ngẫu nhiên may mắn nhé!
– Sao?
Mutzig giơ cặp nạng lên, đặt xuống mà rằng:
– Cái này này!
– Ừ, ít ra nó cũng gỡ rối cho anh. Còn tôi, tôi phải trở ra mặt trận.
– Tất cả đều tùy góc cạnh nhìn. Nếu còn chiến tranh vài năm nữa thì tôi thoát nạn thật. Nhưng nếu trong sáu tháng nữa chiến tranh kết liễu thì tôi trở thành người khổ nhất đời.
– Tại sao anh lại nói sáu tháng nữa thì xong.
– Tôi cũng không biết, đó chỉ là giả thiết.
– Như vậy thì anh có lý.
– Sao anh không đến chơi với tôi? Anh Bergmann cũng ở với tôi, anh ta mất cả hai tay.
– Anh ở đâu?
– Ở bệnh viện tỉnh. Khu những người bị cưa. Nếu có dịp, đến với chúng tôi.
– Vâng, tôi sẽ đến.
– Chắc nhé? Ai cũng nói thế mà chẳng ai lại cả.
– Lại chứ, tôi hứa với anh.
– Thế thì chúng tôi mừng lắm. Anh sẽ thấy. Chúng tôi không đến nỗi buồn, nhất là trong phòng tôi.
Hai người vẫn nhìn nhau, nhưng có điều gì đã nói hết rồi.
– Thôi chúc anh can đảm và may mắn.
– Anh cũng vậy.
Họ bắt tay nhau.
– Anh có biết Sierer đã chết rồi không?
– Không, tôi không biết.
– Được sáu tuần rồi. Thế còn Leiner?
– Cũng không.
– Leiner và Lingen. Hai người cùng chết một buổi sáng. Bruning thì hóa điên. Anh có nghe tin Hollmann bị ghi là mất tích?
– Không.
– Bergmann nói với tôi như vậy. Thôi tạm biệt. Đừng quên đến chơi tôi nhé.
Mutzig tựa vào nạng đi. Graber nghĩ thầm: “Hình như anh chàng này khoái chí mà nói đến những người bạn chết trận. Có lẽ y tìm thấy sự an ủi nào đó”. Y nhìn theo Mutzig. Chân bị cứa từ đùi. Ngày trước Mutzig là người chạy nhanh nhất lớp. Graber không biết mình nên phàn nàn cho bạn hay nên thèm muốn cảnh bạn. Mutzig nói có lý, tất cả đều tùy thuộc ngày mai.
***
Graber bước vào thì thấy Elisabeth mặc áo trong nhà màu trắng ngồi trên giường. Nàng vấn một cái khăn mặt trên đầu ngồi đợi, bình tĩnh và trầm ngâm, như một con chim trong trắng bay qua cửa sổ vào ngồi nghỉ chốc lát trước khi tung cánh lưng trời.
– Em đã dùng nước nóng bằng cả khối nước hạn cho một tuần lễ, chắc là mụ Lieser về sẽ nổi tam bành đây!
– Để cho mụ ta la ó, mụ thì cần gì nước nóng. Đảng viên Đức quốc xã chính tông cần gì tắm gội. Sạch sẽ là tật di truyền của giới thống trị Do Thái.
Y đến gần cửa sổ đứng nhìn ra ngoài. Trời u ám, phố xá lặng lẽ. Bên kia đường, một người không áo ngoài, hở hai tay lông lá, ngồi hóng mát và ngáp vặt. Từ một cửa sổ khác vọng ra tiếng dương cầm phụ họa giọng hát của đàn bà. Graber ngắm nhìn một lối vào hầm núp dọn dẹp sạch sẽ. Y nghĩ đến cái sợ ớn lạnh bóp thắt mình hồi nãy khi đứng trước tấm gương một tiệm may, y lại rùng mình. Y còn lại gì không? Phải để lại đây một cái gì, một cái neo ràng buộc y với nơi này để y còn có ý muốn trở lại. Nhưng cái neo nào? Elisabeth chăng? Elisabeth đã thuộc về mình chưa? Y mới biết nàng chưa được bao lâu! Thế mà y sắp sửa ra đi trong vài năm không chừng. Nàng sẽ quên chăng? Làm thế nào để mình ràng buộc với nàng? Y quay lại :
– Elisabeth ạ, chúng mình phải làm giá thú.
– Giá thú à?
Nàng cười:
– Để làm gì?
– Bởi vì làm như thế thì phi lý. Chúng ta mới biết nhau được vài ngày, trong vài ngày nữa sẽ từ biệt nhau, vì chúng ta không biết có hợp nhau để sống chung hòa thuận không. Ấy vì những lý do đó mà phải làm giá thú.
Elisabeth nhìn y.
– Anh muốn nói rằng chúng ta là hai người cô độc, không hy vọng ngày mai và không còn gì khác nữa?
– Không.
Elisabeth yên lặng. Y nói tiếp.
– Không phải chỉ vì thế.
– Thế thì vì lý do gì?
Y nhìn nàng thở và bỗng dưng thấy nàng xa lạ. Ngực đưa lên đưa xuống, hai mắt khác hẳn mắt mình, hai bàn tay khác, tư tưởng khác, đời sống khác… Không bao giờ nàng hiểu mình được, nhưng tại sao cần nàng hiểu mình. Y không hiểu tại sao bỗng dưng y cần đến sự hiểu nhau như thế :
– Lấy nhau rồi, em không sợ mụ Lieser nữa. Là vợ lính, em được pháp luật bảo vệ.
– Anh tin là thế à?
– Tin chứ!
Nàng nhìn y chầm chập làm y ngượng.
– Mấy lại em được hưởng phụ cấp.
– Đấy không phải là một lý do. Còn như mụ Lieser thì một mình em cũng đủ đôi phó với mụ. Hôn thú à? Trời ơi biết bao nhiêu là giấy tờ phiền phức, phép tắc, giấy nhận thực dòng dõi Aryens, khám nghiệm trước ngày cưới, còn gì nữa! Không có thì giờ, ít ra cũng mất vài tuần lễ!
– Lấy nhau trong thời chiến này chóng lắm, có đâu lâu như vậy. Chỉ mất vài ngày thôi, ở trại người ta kháo nhau như vậy.
– Vì thế mà anh nghĩ đến chuyện hôn thú à?
– Không phải, anh mới nghĩ đến từ sáng hôm nay. Nhưng ở trại người ta bàn tán nhiều về chuyện ấy. Nhiều người lấy vợ nhân dịp nghỉ phép. Tại sao chúng ta không làm thế? Khi một người lính ở mặt trận có vợ thì hình như vợ được phụ cấp hàng tháng hai trăm đồng. Tại sao mình lại tặng không nhà nước khoản tiền ấy? Em thì cần mà lại để cho nhà nước xài, như thế có công bình không?
– Nhìn dưới khía cạnh ấy thì đúng lắm.
– Anh thì anh hiểu như thế. Hình như còn có khoản tiền cho vay, mỗi cặp vợ chồng mới được vay 1.000 đồng. Như vậy em không cần phải đi làm nữa.
– Đúng thế thật.
Graber lại cảm thấy thất vọng mà tự nhủ: “Mình trẻ trung, mình phải được hưởng hạnh phúc. Cha anh mình đã gây ra cuộc chiến tranh này nhưng mình có cần gì?”.
Y bảo nàng:
– Rồi đây chúng ta sẽ sống cô đơn. Nhưng nếu thành vợ chồng thì đỡ cô đơn.
Nàng lắc đầu. Y hỏi:
– Em không muốn lấy anh à?
– Chúng ta không bớt cô đơn đâu. Chúng ta càng thêm cô đơn.
Graber nghe giọng hát của người ca sĩ. Cô ca sĩ bỏ hát âm để tập môn khác. Cô ta lấy hơi phát âm thật dài không ngừng, chính tiếng dội của giọng hát lại trả lời cô ta.
– Nếu em sợ hôn nhân thì em cũng nên biết rằng hôn nhân không có gì là bắt buộc mãn đời. Vẫn có thể ly dị được nếu cần.
– Thế thì lấy nhau để làm gì?
– Tại sao mĩnh lại đem tiền tặng nhà nước?
Elisabeth đứng dậ :
– Hôm qua anh không như hôm nay.
– Có gì thay đổi?
Nàng khẽ mỉm cười:
– Tốt hơn hết là đừng nói chuyện ấy nữa. Chúng ta sống với nhau lúc này, cần gì phải nghĩ đến cái khác.
– Thế là em không muốn?
– Không.
Y nhìn nàng. Nàng có cái gì cả quyết, ác cảm.
– Em ạ, anh cam đoan với em rằng khi nói như vậy anh chỉ hết lòng với em chứ không nghĩ quanh co gì cả.
Nàng mỉm cười :
– Chính vì thế, ở đời có những trường hợp mình không nên nghĩ tới điều hay điều tốt. Còn gì uống không anh?
– Còn, còn chai Slivovitz.
– Sản phẩm Ba Lan phải không?
– Phải.
– Chúng ta chỉ có chiến lợi phẩm để uống thôi à?
– Còn chai kummel, sản phẩm Đức quốc.
– Thế thì em uống rượu Đức.
Graber vào bếp tìm chai rượu. Y tức giận với mình. Y đứng một lúc lâu trong bóng tối, mùi đồ ăn của Binding tặng xông lên nồng nặc. Y nhọc mệt, không biết phải làm sao bây giờ. Khi trở lại phòng thì thấy Elisabeth đứng tựa tay vào cửa sổ.
– Trời u ám quá! Chắc là sắp mưa. Thật đáng tiếc!
– Sao vậy?
– Ngày chủ nhật đầu tiên. Đẹp trời mình có thể đi chơi được. Chung quanh tỉnh này bây giờ đồng quê là mùa xuân hoa nở khắp nơi.
– Em muốn đi chơi à?
– Không. Đối với em, chỉ cần vắng mặt mụ Lieser cũng đủ rồi. Nhưng đối với anh ngồi một xó suốt ngày cũng ngán thật.
– Không phải. Anh sống giữa thiên nhiên đã nhiều rồi, vài ngày không có cây cỏ và khí trời cũng chẳng sao. Nói đến thiên nhiên anh chỉ mơ tưởng một căn phòng đầy đủ tiện nghi, bàn ghế đừng cái nào cụt chân. Cái này chẳng hạn. Đối với anh đó là cuộc phiêu lưu đáng kể hơn cả. Nếu em muốn đi chơi thì chúng ta đi xi nê.
Elisabeth lắc đầu :
– Thế thì cứ ở yên đây. Đi ra ngoài thời giờ trôi chóng lắm sẽ hết ngày ngay mất. Ở đây giờ giấc đi chậm hơn.
Graber đến bên ôm nàng ngồi trong tay. Y nhận thấy nàng ràn rụa nước mắt.
– Lúc nãy anh có làm em buồn không?
– Sao lại buồn, anh!
– Có lẽ anh đã vụng về làm em phải khóc.
Trông qua vai nàng xuống phố thấy người mặc áo sơ-mi đã biến mất. Một vài đứa trẻ chơi đánh trận trong cái hầm đưa đến hầm nhà bị phá hủy.
“Chúng ta không nên buồn”.
Người ca sĩ lại bắt đầu luyện giọng hát. Nàng hát một hòa khúc của Grieg: Yêu anh, yêu anh! Giọng bỗng cao vút: “Yêu anh mặc cho thời gian trôi vùn vụt, đời sống khắt khe!”.
Đến lúc quá trưa trời bắt đầu mưa. Trời tối sầm lại, mây đen nổi lên. Họ nằm trên giường, không có đèn đóm gì cả bên ngoài cửa sổ mở, mây giăng một tấm màn nước rung rinh.
Graber nghe tiếng hạt mưa tí tách. Y nghĩ đến nước Nga,có lẽ bây giờ đã bắt đầu thời kỳ cảnh vật chìm dưới một lớp bùn lầy. Trong vài ngày nữa, y sẽ đến đầm mình vào trong đống bùn ấy.
– Có lẽ anh nên ra về thì hơn. Mụ Lieser sắp trở lại rồi.
– Mặc kệ mụ, đã muộn thế rồi cơ à?
– Không biết nữa, có lẽ vì mưa mụ sẽ về sớm hơn.
Elisabeth vừa nói vừa nép mặt vào vai chàng:
– Giá mụ bị đụng xe chết tươi có phải đẹp đẽ biết mấy!
– Em không nhân từ tí nào cả.
Graber nhìn chăm chăm khung chữ nhật màu xám nơi cửa sổ.
– Nếu chúng ta có hôn thú thì anh có thể đến đây một cách yên ổn.
Elisabeth vẫn không nhúc nhích.
– Tại sao anh muốn lấy em, anh biết em chưa được bao lâu.
– Anh biết em khá lâu rồi.
– Từ bao giờ nhỉ. Mấy ngày thôi.
– Không phải mấy ngày. Từ một năm nay rồi. Anh cho rằng thế cũng đủ.
– Làm sao cho được một năm? Không nên nói đến lúc tuổi thơ, xa quá rồi.
– Anh không kể lúc bé. Anh được nghỉ ba tuần lễ sau hai năm ở mặt trận, ở gần hai tuần lễ, như thế tương đương với mười lăm tháng ở mặt trận. Như vậy là biết em đã hơn một năm.
Elisabeth mở mắt ra.
– Em không nghĩ đến điều ấy.
– Anh cũng vừa mới nghĩ ra đây. Trời mưa mà tối om thế này người ta có nhiều ý kiến lạ.
– Cần phải tối và mưa à?
– Không, nhưng tối và mưa giúp mình suy nghĩ.
– Thế bây giờ anh nghĩ gì?
– Anh nghĩ rằng không dùng hai bàn tay mình để bắn súng và ném lựu đạn mà dùng để làm cái khác, thì thật là tuyệt diệu.
Nàng nhìn y:
– Tại sao anh không nói câu ấy hồi xế?
– Hồi xế anh có những ý tưởng thực tế hơn.
– Những ý tưởng về tiền phụ cấp và cho vay của những cặp vợ chồng mới.
– Thì cũng vậy, chỉ khác có danh từ.
Nàng lẩm bẩm nói một câu y không hiểu nghĩa :
– Danh từ quan trọng lắm, ít ra đối với những việc thuộc loại ấy.
– Anh mất thói quen dùng danh từ rồi, nhưng rồi anh sẽ học lại. Để cho anh một thời gian.
– Thời gian? Chúng ta không có nhiều thời giờ.
– Phải. Hôm qua chúng ta thấy có nhiều thì giờ và hôm nay chúng ta lại tiếc thời giờ ngày hôm nay.
Y nói rồi im bặt. Elisabeth đặt đầu lên cánh tay y, mớ tóc tạo một vùng tối trên gối trắng, hạt mưa làm lấp loáng bóng tốì trên mặt nàng.
– Anh muốn lấy em, nhưng anh có biết đích xác rằng anh yêu em không?
– Làm sao chúng ta biết được? Phải cùng sống với nhau mới biết được điều ấy chứ!
– Hẳn là thế. Nhưng tại sao anh lại muốn lấy em?
– Bởi vì anh không quan niệm đời sống nào khác hơn đời sống với em.
Elisabeth yên lặng một lát rồi hỏi :
– Anh có cho rằng cái gì xảy ra với em có thể xảy ra với người khác không?
Graber vẫn nhìn hạt mưa giăng, một tấm màn xám xịt bên ngoài.
– Có thể xảy ra với người khác được, ai biết đâu mà nói trước. Nhưng bây giờ đã xảy ra với em, anh không thể tưởng tượng ra ai khác em bên mình anh nữa.
Elisabeth cựa đầu đặt trên tay chàng.
– Anh đã học được cái gì khác rồi. Anh có giọng khác xế nay. Tại trời tối. Anh có nghĩ rằng suốt đời em, cứ phải đợi đến đêm mới được nói?
– Không, anh sẽ học nói vào lúc ban ngày. Và sẽ tránh không nói đến phụ cấp gia đình.
– Tuy nhiên chúng ta cũng không chê nó chứ!
– Chê gì?
– Phụ cấp gia đình.
Graber nín thở một lúc.
– Em bằng lòng lấy anh?
– Đành vậy, vì chúng ta biết nhau đã hơn một năm rồi. Vả chăng, sau mình vẫn có thể ly dị được phải không?
– Không. Nàng ôm chặt lấy chàng rồi ngủ đi. Chàng thức tỉnh rất lâu. Chàng nghe tiếng mưa rơi tí tách và bây giờ thì chàng biết phải nói với người yêu những lời gì.
Bác Huế nói: “Chừ con là cậu tú. Con phải đàng hoàng cho ra người lớn. Không thể sống lây lất nay chổ nì, mai chổ tê. Con về ở đy với bác. Lo cho xong cái tú tài đôi, rồi thì muốn bay nhảy đi mô thì đi.”
Không ngờ đậu cái tú tài quan trọng đến thế. Tôi thấy mình lớn vụt lên. Tôi phải đàng hoàng cho ra người lớn. Tôi không có quyền ngủ trên ghế dá công viên, không có quyền ngủ trên bãi biển. Nhất là không có quyền mặc quần thủng đít đi ra dường, một điều mà trước đây tôi xem rất thường. Ngày dọn đồ rời căn nhà lá, thấy buồn làm sao. Dù xiêu vẹo, nhưng nó đã che chở cho tôi qua bao ngày khốn khó. Tôi đi, bỏ những con ma xấu muộn hằng đêm ngoài nghĩa địa. Tôi biết rồi đây, tôi sẽ không quên được căn nhà lá bên cái nghĩa địa buồn hìu. Nó để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, Nó tan hòa cùng máu thịt tôi. Nó trở thành một phần đời, và đeo đẳng theo tôi trong suốt kiếp người còn lại. Tôi về nhà hai bác Huế Quảng, chiếm lại căn gác. Bé Đông dọn xuống ngủ chung với bé Hà. Khi sắp xếp đồ đạc, tôi thấy một mảnh giấy nhà dán ở đầu giường, “Tôi tên là Đông. Cấm gọi bé Đông”. Tôi cười thầm. Con bé này lắm điều rắc rối. Quan trọng gì một tiếng goi kèm, bé hay không bé?
Đăng và Tường hỏng tú tài.
Tường được vào trường Nông Lâm Súc. Má nó làm tiệc mừng con thi đậu, cho phép nó mời một số bạn tham dự, với điều kiện không có mặt thằng Hiên, Nó buồn rầu nói với tôi như thế. Tôi đã quen với sự hất hủi của người đời, nên điều đó không làm tôi nghĩ suy khúc mắc. Hôm sau, gặp lại bọn tôi.
Tường nói: “Tao phải làm một bữa nhậu để chia tay với tụi mày.”
Nó phân công, Ẩn và Đăng chạy di mua bia đem về căn nhà lá, nơi tôi vừa bỏ đi. Tường và tôi về nhà nó bắt gà. Tôi ngại: “Má mày không ưa tao.”
Nó trấn an: “Yên chí. Giờ này má tao đang ngủ trưa.”
Nhà Tường ở Xóm Dương. Trưa hè yên ắng, Nhà trên cửa đóng. Đàn gà đang ăn bên ngoài. Tường rắc gạo, nhữ gà vào bếp. Nó đóng cửa bếp và nhanh tay chụp dược một con. Đàn gà còn lại kêu quang quác, nhảy tứ tung.
Nó bảo: “Mày giữ gà, tao tìm cái bị.”
Một tay tôi nắm cánh gà nhấc bổng lên, một tay bóp cổ không cho kêu. Tường chạy vòng ra phía sau lấy bị. Bất ngờ, cánh cửa từ nhà trên thông xuống bếp, bật mở. Má của Tường xuất hiện. Tôi tái mặt, buộng con gà ra. Con gà không nhúc nhich. Bà cười nửa miệng, đúng hơn, bà chỉ nhếch mép: “Cậu Hiên, cầm lên đi. Tôi cho cậu đấy.”
Tôi ngồi chết sững.
Bà tiếp: “Cả năm nay, cậu rủ rê con tôi bạn bè đàn đúm, chơi bời lêu lổng, tiêm nhiễm thói bư tật xấu. Nó không đậu được tú tài, cũng vì cậu. May mà cuối cùng nó còn vào được trường Nông Lâm Súc. Cái thân bá vơ, vất vưỡng đầu đường xó chợ của cậu, không học không hành là phải rồi. Nhưng con tôi, nó phải nên người. Cậu còn quá lắm, dám xúi dại con tôi về nhà ăn cắp gà nữa. Thôi, cậu cầm lấy con gà. đi đi.
Cút ngay cho khuất mắt.”
Bà nhìn tôi bằng cái nhìn sắc lạnh như dao. Những lời đay nghiến thoát ra từ hàm răng khít rịt, cứa nát lòng tôi. Tôi nghe một luồng hơi lạnh phả tràn lên mặt, đồng thời ngực đau nhói như bị dao đâm. Tôi uất ức, tôi muốn hét vào mặt bà rằng, bà lầm rồi: Chính tôi là người thi vào Nông Lâm Súc cho con bà, Chuyện này, nếu đổ bể tôi có thể đi tù vì làm giấy tờ giả mạo. Tôi liều thân cho con bà, chứ không phải tôi hại nó như bà tưởng. Nhưng vì tình bạn với Tường, tôi đành cắn răng ngậm miệng. Tường từ nhà sau, chạy vào: “Má … , chính con bắt gà … “
Bà khoát tay: “Mày khỏi nói. Tao biết cả rồi. Du thủ du thực.”
Bà đóng sầm cửa lại. Tôi như người bị chấn thương, lảo đảo đạp xe di. Tường xách con gà đạp xe theo.
Đêm đó, chúng tôi ngồi trong căn nhà lá với con gà luộc và những chai bia. Tuờng nói lời xin lỗi rất cảm động. Tính tôi hời hợt mau quên. Vết thương nào rồi cũng lành lặn nhanh chóng. Tường lên Lâm Đồng, học trường Nông Lâm Súc. Từ đó, tôi không còn gặp lại nó nữa. Sau này, nghe đâu nó thành công lớn trên đường đời, về phương diện vật chất. Cha mẹ Đăng có liên hệ thân thiết với một vị linh mục truờng Dòng, Đuợc sự giúp dỡ ấy, Đăng dông tuốt ra Huế làm thư ký trường Pellerin. An đậu tú tài toàn phần, vào Sài gòn chuẩn bị cho niện học tới trên đại học. Bạn bè tứ tán chia xa. Tôi buồn quả đỗi. Không biết chơi với ai. Riêng thằng Hoàng, tôi thể không dây dưa dính mắc với hắn nữa. Tuyết Liên gọi hắn là con quỷ râu xanh. Đêm trong căn nhà lá sau khi hắn đi rồi, Tuyết Liên kể, hắn hiếp con bé muời bốn tuổi, từ miền quê lên nhà hắn ở đợ ẳm em. Con bé ngồi trong goc nhà, bụm háng khóc mãi. Má hắn về biết chuyện, bảo nhà có sẵn đĩ không chơi, chơi con nít chi cho phiền hà rắc rối. Bà dỗ dành cou bé,và cho nó tiền. Vài hôm sau, hắn lại đè con người ta ra hiếp nữa. Không dạy được thằng con, bà tống con bé về quê luôn. Nghe chuyện, tôi tởm hắn. Thỉnh thoảng, tôi vẫn thấy hắn đạp xich lô rà rê đón khách trước khách sạn Hoàng Yến. Dưới hình thức một nghề lương thiện, hắn là tên ma cô. Và dưới mắt hắn, mọi người là đĩ bợm. Có lần hắn nói, tao biết vài ông tai to mặt lớn của thành phố này ngủ với gái diếm, cũng như vài bà mệnh phụ phu nhân lén chồng vào khách sạn với tình nhân. Trong lý luận, hắn đánh đổ hết mọi giá trị đạo đức trên đời. Hắn dày xéo lên thân phận người khác bằng lối nhìn hết sức thâm dộc. Hắn chười đổng, và khinh thường tất cả. Thậm chí, còn đái vào những chỗ có bảng đề “Cấm đái nơi đây”, tỏ thái độ phản kháng với đời. Như con ngựa bất kham, không ai có thể cầm cuơng hắn được. Hắn coi tôi là thằng ngu ngốc để đùa chơi. Tôi càng đau khổ, hắn càng thú vị. Hắn không có tình bạn.
Thủy thủ về nhà: phần 2 Hơn mười giờ sáng rồi mà mặt trời còn ẩn sau lớp mây trắng đục, tỏa ánh sáng yếu ớt làm quang cảnh mù mờ, có chút sương pha nhưng trời êm ả lắm. Hồ nước đã được người ta cào rác rến và đám bông súng mới hôm kia còn bông vàng, bông trắng từng chòm và lá màu xanh nâu chiếc nào chiếc nấy lớn bằng cái mâm kề nhau phủ gần bít mặt hồ, tất cả đã được dọn sạch sẽ. Mặt nước phẳng lặng như tờ, nước hồ đã lóng trong màu vàng nhợt đủ cho cây liễu xum xuê cành lá xanh xanh bên hồ soi tàng bóng nước. Tôi với Trúc Thanh dẫn Kuma đi qua cây cầu bắc ngang hai bờ hồ. Thanh nói: – Cảnh thanh bình quá. Nói tới đây chợt bị thu hút bởi đàn vịt đang bơi qua, chúng tôi đứng lại vịn tay lên lan can cầu nhìn xuống. Không nhớ là tháng mấy, chỉ nhớ hôm đó là mùa xuân, vẫn là những con vịt cha và những con vịt mẹ với những con vịt con nhỏ xíu này bơi lội trên mặt hồ. Đương thong thả nhìn bầy vịt bơi, chợt giựt mình thoát khỏi sự trầm ngâm khi những con vịt đập cánh xuống làm nước văng tung toé, ngó theo bầy vịt bơi ào ào làm quấy động mặt nước êm ả giữa dạ cầu. Chợt thấy một chiếc xe chạy điện dành cho người tàn tật đã thắng đứng lại trước lan can giữa cầu từ lúc nào. Người phụ nữ ngồi trên chiếc xe, cầm mấy lát bánh mì trắng, tay xé bánh ra miếng nho nhỏ và liệng từng miếng xuống nước, bầy vịt nhào tới giành nhau nuốt chửng những miếng bánh mì đã ướt. Nhìn bầy vịt giành ăn, tôi mới nhớ ra, hẳn nhiên có nhiều điều đã đổi thay từ mùa xuân cho tới mùa thu. Mấy đứa con của cha, mẹ vịt giờ đã lớn khôn, chúng không còn ngoan ngoãn nữa, chúng có đôi cánh khoẻ mạnh nhấc được mình lên khỏi nước và đôi chưn mạnh mẽ đạp chạy trên mặt nước như bay. Tôi khoa tay một vòng và nói: – Ừa, mình sống một nơi rất yên bình, con người và muôn thú cũng được bình an. Mama thấy không, bầy vịt con mới mấy tháng trước còn nhỏ xíu, nay đã biết tự kiếm ăn và biết giành ăn, không lâu nữa chúng sẽ trở thành cha mẹ của bầy vịt con sau này. – Phải rồi, trông chúng rất là vô tư, gần gũi với con người mà hổng biết sợ gì hết. Người phụ nữ chăm chú cho vịt ăn, không để ý tới chúng tôi. Nhưng tôi nhìn cô ta rất kỹ, gương mặt phúc hậu, tóc cắt gọn gàng với chiếc áo khoác len dài màu nâu, mặc một chiếc váy bông cũng màu nâu lấp ló dưới chưn, rất hợp với đôi giày màu nâu sẫm, ước tính cô ta cũng trên dưới tuổi năm mươi. Cô ta bị bịnh gì hổng biết mà ngồi xe lăn? Trúc Thanh cũng trạc tuổi với người phụ nữ kia, tuy hai chân còn đi vững và sức khoẻ đủ để làm việc nửa ngày, vì phẩu thuật mấy lần nên tinh thần không được mạnh mẽ cho lắm. Nghĩ tới đây tôi chợt nhớ tới những người đàn bà ở tuổi trên dưới năm mươi mà tôi quen biết, người nào cũng ăn mặc đẹp đẽ và sang trọng, có người làm chủ cơ sở kinh doanh, nhưng bên trong cái đẹp hào nhoáng ấy, phần đông đều chịu đựng những căn bịnh ngặt nghèo như; ung thư tử cung, ung thư vú, ung thư máu. Có vài cô đã qua đời ở lứa tuổi năm mươi, tuổi vào thu! Tôi cũng liên tưởng tới hơn ba tháng qua, ở trên đất liền, tôi dự một buổi rải tro cốt của một ông anh và một buổi cầu siêu của một phật tử mới qua đời và có một anh bạn đang bịnh ung thư gan, bác sĩ cho biết anh ấy còn sống được vài tuần nữa. Mấy tuần trước, vợ chồng tôi và các anh, chị, em rủ nhau tới thăm, trông anh xanh xao, nhưng anh rất lạc quan, vẫn vui vẻ nói cười với anh em một cách bình thường. Mới đó mà chúng tôi đã sống trên đất khách, quê người hết cả cuộc đời. Nhớ tới những ngày còn trai trẻ, người nào cũng có một hoài bão cao ngất trời, nên khi còn chân ướt chân ráo đặt lên xứ người thì anh chị, em hợp nhau để thực hiện lý tưởng hoài bão đó. Những năm gần đây, sau mỗi chuyến hải hành trở về, nếu không nghe tin mất một anh hay một chị thì cũng nghe anh này bịnh, chị kia nằm nhà thương. Mùa thu là mùa làm cho những người có tinh thần yếu đuối hay bị trầm cảm. Trúc Thanh nằm trong nhóm người này, tinh thần luôn bất an, vui hay buồn đều chảy nước mắt và cũng hay khóc mỗi khi nghe chuyện thương tâm. Cũng vì dễ bị tổn thương, nên có những ý nghĩ tiêu cực tôi để trong lòng chớ hổng dám nói ra. Tôi day ngang khèo Trúc Thanh và ra hiệu cho Kuma đi qua bên kia cầu. Những chùm lá già nua trên hàng cây xanh ven bờ hồ cũng đã đổi màu. Từ đây cho tới cuối tháng mười một mỗi ngày qua là tiết trời mỗi thay đổi, có thể nhìn được thời gian đi qua rõ ràng, nhứt là sự thay đổi ánh sáng mỗi ngày, nó giống như một cuốn phim quay chậm. Chúng tôi đi dọc theo con đường một bên là bờ hồ được đổ đá rất kiên cố và một bên đường trồng một hàng cây lá đã đậm màu, có vài chiếc lá đã điểm màu vàng và lác đác rụng trên thảm cỏ xanh. Trời im gió, không khí mát rượi, những bụi bông lục bình xanh dương hay tím tím, bông thủy tiên và bồ công anh với màu vàng tươi và kết hợp với những loài hoa màu trắng hoặc màu hồng của cá hồi; có loại lá to, loại lá nhỏ, lá gai, lái dài, lá ngắn; có mùi thơm hoặc không có mùi thơm… tất cả rộ lên trong những ngày mùa xuân mà giờ đây cũng đã đổi thay, không còn nhận ra dấu vết. Tôi cầm tay vợ vu vơ nói: – Bây giờ là mùa thu. Thanh nói: – Mùa dịch cô vít chớ thu gì. – Dịch cô vít qua hơn một năm rồi và hổng biết chừng nào mới dứt, không phải là mùa nữa mà phải gọi là “trận” dịch cô vít. Thanh rùng mình một cái: – Ghê thiệt. Chợt ghe gió lạnh, tôi ngó lên trời, day qua nói: – Mây đen kéo về, trời sắp mưa. Thanh nói: – Ừ, dạo này mưa, gió thất thường, mình đi dìa được rồi. Về nhà Trúc Thanh cho Kuma ăn, còn tôi pha hai tách trà gừng, chúng tôi rất thích trà gừng tươi, vì nó không chỉ là một thức uống ngon mà còn có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Có một chị bạn là bác sĩ mách cho tôi biết, trà gừng tươi có tác dụng chống viêm, giúp giảm cân, tăng cường hệ thống miễn dịch và thậm chí bảo vệ chống lại ung thư ruột và bệnh Alzheimer. Ngoài ra gừng có tác dụng chống buồn nôn, ta có thể uống nhiều hơn so với một tách trà bình thường. Trong những trung tâm dinh dưỡng cho rằng, gừng cũng thích hợp trong thức ăn lành mạnh. Tôi bưng hai tách trà gừng đem ra bàn, lúc đó trời đã bắt đầu mưa. Tôi nói với Thanh: – Ngồi trong phòng nhìn mưa, uống trà cũng ấm áp. Trúc Thanh day qua nói: – Ờ hén, thấy cũng hay hay. Tôi nhìn mưa tạt vào khung kiếng nghe rào rào, ngoài vườn cây cối lai rai nhả những chiếc lá già xuống sân. Tôi nói: – Mama nhìn ra vườn sau coi, những chiếc lá dán xuống mặt gạch bị nước mưa làm ướt mem. Trúc Thanh rụt cổ, nói: – Lạnh thấy mồ. – Mama lạnh vì bị thời tiết bên ngoài xâm nhập. – Là sao? – Mùa thu là mùa di chuyển chậm, thời gian đi từ từ, trời đất gần nhau, tuy nhìn bên ngoài lạnh nhưng nếu nhìn vào bên trong vẫn thấy được ấm áp. – Trời đất như vầy mà ấm áp gì. – Thì mình sống tự nhiên theo mùa, tư duy nên hướng vào nội tâm thì sẽ thấy được niềm vui ấm áp. – Tui thấy càng hướng vào nội tâm càng dễ bị trầm cảm. – Đó là tâm trạng của người bịnh, có khi nào mama gặp phải các triệu chứng như cảm lạnh, da khô hoặc táo bón trong mùa thu không? – À, cái này có, nhưng… – Nhưng sao? – Cảm lạnh, da khô, táo bón ăn nhập gì nội tâm? – Ăn nhập chớ, cũng nhờ nội tâm chỉ cho mình thấy được những triệu chứng đó. – Mùa khác hổng có mấy triệu chứng này sao? – Có nhưng mùa thu thường xảy ra hơn. – Vậy à? Tôi chỉ tay xuống tách trà nói: – Uống hết tách trà gừng đi, gừng ngừa cô vít đó. Trúc Thanh bưng trà lên uống một ngụm, để tách trà xuống rồi nói: – Ờ, hổng biết có ngừa dịch được không nhưng thơm và ấm thiệt. Trúc Thanh cầm đồ bấm lên định mở truyền hình, thấy tôi nhìn qua, cô để đồ bấm xuống. Số là trước kia Trúc Thanh dành thời gian xem truyền hình rất nhiều, nhứt là từ khi đại dịch hoành hành ở Việt Nam, cô hay lên Youtube xem mấy clip bên nhà, phần đông là những chuyện thêu dệt cảnh thương tâm của mấy người làm clip, riết rồi bị trầm cảm. Thấy vậy tôi đề nghị với Thanh trong lúc ăn, uống cũng như giờ ngủ không xem iPad và không coi mấy cái clip tiêu cực của Việt Nam nữa. Ban đầu Thanh có hơi bất bình nên hỏi vặn: – Tại sao? Tôi giải thích: – Tại vì truyền hình và mạng internet tin giả, thầy tu giả nhiều vô số, tệ hơn nữa mấy cái clip họ dàn cảnh đóng giả tràn lan, mama xem riết rồi bị bịnh đó. Trúc Thanh nghe tôi giải thích, mới ngộ ra, nhưng cũng còn tiếc: – Vậy thì ngoài những tin tức của đài phát thanh truyền hình có uy tín và nghe nhạc ra tui hổng xem cái gì nữa hết được hông? – Tui đâu có ra lịnh cấm mama, chỉ lưu ý thôi, nghe, xem tin tức thì phải biết chọn lọc, nếu không thì bị nhiễm mấy thứ tiêu cực trên mạng, nó cũng độc hại không thua nhiễm cô vít đâu. – Nhưng làm cách nào để chọn lọc đây? – Chỉ có cách là bỏ bớt không gian mạng và mấy đài phát thanh, nhứt là đài truyền hình của Việt Nam, đừng thấy mấy cô, mấy cậu biên tập viên người nào cũng ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ và đọc nghe sướng cái lỗ tai mà tin theo bị lầm chết. Còn YouTuber thì phịa tin giựt gân để thu hút mấy người nhẹ dạ cả tin. – Ừa, sao họ phịa mà y như thiệt vậy đó. – Bỏ đi! Tốt hơn hết là mình nên quay lại bên trong xem cơ thể mình nó có rầy rà không và sống cho phù hợp với thời tiết của một ngày là đủ rồi. – Papa nói thử coi, sống sao cho phù hợp với thời tiết hôm nay đây? – Theo y học cổ truyền Đông Phương thì phân ra năm yếu tố: mộc, hỏa, thổ, kim và thủy, nghĩa là; cây, lửa, đất, sắt và nước. Nếu có sự hài hòa giữa năm yếu tố này, thì sẽ có một sự cân bằng lành mạnh. Mỗi yếu tố liên quan đến một cơ quan, mùa thu gắn liền với nguyên tố kim loại. Cũng theo y học cổ truyền, hằng bao thế kỷ qua, mùa thu vẫn liên hệ với phổi và ruột già. Phổi đón nhận năng lượng mới dưới dạng oxy, ruột già đưa các chất cặn bã trong cơ thể của ta ra ngoài. – Papa ngồi bên trời Tây mà nói chuyện bên trời Đông nhắm có hợp lý không? – Cái này tui đọc qua báo Tây đó chớ. Bên Tây bây giờ tiệm thuốc Nam, thuốc Bắc thiếu gì. Mama là hội viên của tiệm thuốc Nam mà hổng biết sao? – Ờ hén, nhưng thuốc thì trị thân thể thôi, còn cảm xúc thì sao? – Cũng theo đông y, cảm xúc có liên hệ với phổi tạo ra nỗi buồn. – Vậy là mùa thu là mùa buồn. – Theo tui được biết thì ta nên cho nỗi buồn một không gian thoáng sẽ tạo ra một sự rộng rãi trong chính bản thân mình. Một khi năng lượng phổi được cân bằng thì có những suy nghĩ, giao tiếp với người ngoài cũng tích cực hơn, nhờ lọc bỏ những cặn bã và thong thả với những ý tưởng mới, có khả năng thư giãn mà phân biệt thật, hư rõ ràng. Còn nếu ai sống trong không gian hẹp, keo, bẩn thì năng lượng phổi thấp và suy tư kém cỏi, lúc đó sẽ gặp khó khăn hơn khi đối mặt với mất mát. Cũng như khó mà buông bỏ tiền tài, vật chất và dễ bị mắc kẹt trong những kinh nghiệm thành công hay thất bại đã trải qua trong đời sống. Cho nên cần làm sạch bên trong lẫn bên ngoài, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. – Như vậy vào mùa thu thì nên thiền tập nhiều để hướng sự chú ý vào trong mình, xem những gì cần thiết để cho cuộc sống thêm phần ý nghĩa. – Theo tui thì đó là tâm trạng còn phân biệt, không riêng gì mùa thu. Mọi thời, mọi lúc nên chú ý vào trong mình, để biết mình nên cần giữ điều gì có thể giữ và bỏ điều gì cần phải bỏ. – Là sao? – Là những khi rảnh rổi ngồi yên đều hoà hơi thở, để loại bỏ chất thải trong tâm thức, cũng như chất cặn bã của ruột già. Nói chung, những gì trong cơ thể và tâm thức không còn sử dụng được nữa, ta nên thải ra cũng như trong đoạn cuối cùng của sự tiêu hóa. – Tự dưng hôm nay vợ chồng nói chuyện có hơi khó hiểu. Thực tế chút đi, ăn uống làm sao cho phù hợp với mùa thu? – Mama làm khâu phát triển sản phẩm trong xưởng sản xuất thức ăn tươi đóng gói cho siêu thị thì phải biết thức ăn của mỗi mùa chớ. – Ờ, tui nhớ rồi, hôm kia trong hãng chuẩn bị đóng gói rau củ cho các món hầm và bí đỏ cùng gia vị cho món pompoensoep. Tôi hớp một hớp trà nhìn qua Trúc Thanh hỏi: – Chỉ có rau của món hầm và xúp thôi sao? – Còn nhiều lắm, tui chỉ đưa ra mấy món tiêu biểu thôi. – Vậy theo kinh nghiệm lâu năm của mama ra sao kể nghe đi. Trúc Thanh ỡm ờ và hỏi: – Kể cái gì bây giờ? Tôi gợi ý: – Đại khái văn hoá ẩm thực, tiêu biểu thực phẩm đúng mùa không chỉ chất lượng hơn mà rau thường ngon hơn, có thể mua nó với giá rẻ hơn và còn có những món ăn tiêu biểu của Hoà Lan, mình cũng nên biết chính xác loại rau nào có mặt vào mùa nào nữa. Trúc Thanh liền nói: – Rau, trái, củ hầu như mùa nào cũng có bao nhiêu thứ đó thôi, nhưng điển hình các loại rau, trái, củ phổ biến nhiều vào mùa thu như: củ dền đỏ, cần tây, cải xoăn, các loại bắp cải, các loại nấm, củ cần tây, bí rợ, tỏi và, bắp cải đỏ, cà rốt và cải chua; gia vị cay và nặng mùi như tỏi tây, quế, tiêu và ớt. Tôi cười: – Trúng nghề nên mama kể ra vanh vách. – Đại khái vậy thôi, đặc biệt là những hương vị nhẹ nhàng, thường thì ăn các món hầm trong khí trời lành lạnh ăn vô thấy ấm lòng hơn. – Ừa, phải rồi, bí rợ thực sự là một trong những loại trái đặc trưng của mùa thu, nó có vị ấm và ngọt, có thể sử dụng nó tốt trong các món ăn thông thường hoặc nấu một món xúp ngon. Như pompoensoep là món xúp tiêu biểu mùa thu của Hoà Lan, nói chung là Âu Châu, món này gia vị hơi cay ăn với bánh nướng mặn hoặc bánh mì cây hợp với khí trời man mác lạnh. – Papa là đầu bếp, chuyện ăn uống papa rành hơn tui mà. – Ờ hén. Tôi uống thêm ngụm trà gừng và nhìn ra ngoài trời mà ngẫm nghĩ. Thân thể con người ta cũng ngộ, ngay khi những chiếc lá rơi khỏi cây và khí trời lành lạnh, tự nhiên cảm thấy thèm thuồng những món ăn ấm cúng. Tôi day lại nói: – Thực đơn ăn uống cho mùa thu thì nhiều lắm. Ngoài món xúp bí rợ, xúp đậu ra còn có các loại bánh quiche hoặc những món ăn chơi và món ăn truyền thống của Hoà Lan vào những ngày trời lành lạnh. Điển hình là món khoai tây luộc nghiền chung với cà rốt có tên là hutspot, hoặc nghiền chung với cải xoăn có tên là boerenkoolstamppot, nói chung là các món khoai nghiền tiếng Hoà Lan gọi là stamppot, những loại này ăn kèm với bò viên, thịt ba rọi chiên dòn và xúc xích Hoà Lan hun khói mới đúng điệu ẩm thực của Hoà Lan. Trúc Thanh nói: – Những món này theo khẩu vị của người Hoà Lan, gia đình mình sống ở đây lâu năm, tui mần trong xưởng chế biến, đóng gói thức ăn và nêm nếm mỗi ngày, còn papa là đầu bếp, mình cũng đã quen với khẩu vị Hoà Lan rồi, vậy mà ăn chỉ được vài ba món chơi cho vui thôi chớ hổng mặn mà cho lắm. Nói chi tới người Việt mình, có được mấy người nuốt cho trôi mấy món stamppot và xúp bí, xúp đậu… Tôi cười hì hì: – Theo tui thấy thì những người da trắng như Nga và các nước Đông Âu ăn uống dễ thích nghi với mùi vị Hoà Lan. Còn In Đô, Phi Luật Tân cũng như phần đông người Việt mình sanh sống ở Hoà Lan lâu hay mau gì thì cũng khó ăn lắm. – Dĩ nhiên rồi. Nghe vợ xác nhận tôi chợt nhớ mấy hôm trước đây, Trúc Thanh với một bà bạn hàng xóm người In Đô và một chị người Việt gần nhà rủ nhau đi vô khu vườn trồng rau của miền nhiệt đới trong một nhà kiếng rộng. Ở đó người bán và người mua tại vườn những loại rau, trái, củ như: khổ qua, mồng tơi, rau muống, rau dền, bầu bí, mướp hương, khoai lang, cà tím, mà người Việt mình dí dỏm gọi là “cà ông giặc”. Tôi day ngang nói: – Mama hổng nhớ sao, thường thì muốn cho có chút hương vị Việt Nam, vườn rau nhiệt đới xa cả trăm cây số mà mama vẫn lái xe đi mua vài trái khổ qua, mướp hương, bó rau muống và rau thơm. Mấy hôm trước đây chớ đâu xa, khi nghe tin nhà vườn thu hoạch rau, củ, trái cuối mùa bán giá rẻ. Mama còn xông xáo gọi điện rủ mấy người Việt gần nhà, ai đi không được thì hỏi coi mua rau gì mama ghi vô quyển sổ để mua dùm. Còn kêu tui đi theo, tới nơi mấy bà tha hồ mà hốt, rồi bắt tui rinh chất đầy nhóc cốp xe, mệt muốn ná thở luôn. – Ờ, dù sao rau mua tại vườn cũng vừa tươi, vừa ngon. – Nghe nói tươi ngon tui thấy đói bụng rồi đây. Vậy hôm nay mama tính cho ăn món gì vậy? Trúc Thanh day qua hớp một hớp trà và từ từ đứng lên đáp: – Bánh xèo, trời mưa lành lạnh ăn bánh xèo cũng ngon. – Ờ lâu rồi tui chưa ăn bánh xèo, tưởng quên cái món quê hương này rồi, nay nghe mama nói, phát thèm! – Dĩ nhiên! Nói xong Trúc Thanh bước qua mở tủ đựng đồ khô, lấy một bịt bột gạo và vài gói gia vị rồi qua mở tủ bếp bày dụng cụ ra pha bột. Pha bột xong, day qua tủ lạnh bưng tô nhân bánh xèo làm sẵn ra rồi day qua nói: – Papa soạn trong học tủ lạnh ra coi còn rau, cải gì ăn bánh xèo hông? Tôi đi lại mở tủ lạnh, coi lại học rau: – Rau cải của mama mua trong vườn hôm trước ăn cả tuần nữa còn chưa hết. – Vậy thì papa thấy rau nào ăn bánh xèo được lấy ra lặt, rửa xong rồi lột củ tỏi và gọt dùm hai củ cà rốt. – Ô kê! Tôi lựa rau cải ra rửa xong rồi hỏi Trúc Thanh: Còn phụ làm gì nữa không? – Papa lấy nước mắm rót ra hâm lại và dọn bàn ăn được rồi. Trong khi Trúc Thanh đổ bánh, tôi rót nước mắm để vô lò vi sóng bấm nút ba mươi dây thì chợt nghe điện thoại báo. Tôi đi lại chỗ để điện thoại bấm nhìn xem, thấy có tin nhắn của hãng tàu. Tôi ngước lên nói với Trúc Thanh: – Tui nghĩ hãng tàu kêu tui đi làm. – Papa đọc coi họ nói gì? Tôi đọc tin xong day ngang nói: – Ồ, hông phải đi làm, mà giấy chứng nhận sơ cứu của tui hết hạn rồi, họ kêu tui trở lại trường học ba ngày, để đổi chứng nhận mới. – Vậy hả? Tôi về nhà từ đầu mùa hè tới nay đã giữa mùa thu rồi. Cũng vì sợ cô vít nên chúng tôi hổng dám đi chơi xa. Hơn ba tháng trời, ngoại trừ mấy lần đi thăm vài người bạn cần thăm, tôi chưa ra khỏi vùng Flevoland, cứ luẩn quẩn ở Dronten, một thị trấn nhỏ nằm trong miền đất thấp hơn mặt nước biển của vương quốc Hoà Lan. Ở nhà không được tiếp xúc bạn bè, hổng nói chuyện với ai ngoài vợ nói chồng nghe, chồng nói vợ nghe, lắm khi nhàm chán rồi cãi qua cãi lại. Trước đại dịch, nếu tôi còn ở trên bờ, mỗi khi thấy trời chợt mưa, chợt nắng và gió lành lạnh lướt qua hàng cây trước nhà thì lòng tôi rạo rực, trong ý nghĩ dấy lên một chút lãng mạn rằng mùa thu là mùa lên đường và nôn nao chờ đợi ngày đi. Đối với tôi thì ở trên bờ hơn ba tháng có hơi lâu và phát hiện ra, thời gian qua tâm tư cũng có ít nhiều thay đổi. Năm nay tôi đã trên sáu mươi tuổi rồi, nghiệp đoàn có gởi thư thông báo, nếu muốn thì cuối năm tôi có thể nghỉ hưu, có lẽ cũng vì bức thư nghỉ hưu làm tôi để ý tuổi tác, sức khoẻ của mình. Dù sao đi nữa trong những ngày ở nhà nhàn rỗi, tôi để ý mùa màng một cách tường tận hơn. Thiệt tình mà nói tôi có thể tận hưởng thời tiết trước mặt trọn vẹn không cần phải ngong ngóng phương xa. Nhưng khi nhớ lại có vài thủy thủ già đã nghỉ hưu và còn sức khoẻ, bèn xin trở lại hải hành ngắn hạng. Theo họ thì hải hành để tránh sự nhàm chán trên đất liền và cho đỡ nhớ biển! Sức khoẻ tôi so ra thì cũng còn khá, nghĩ tới đây trong lòng tôi phân vân. Trong lúc chưa biết phải nên tiếp tục hải hành hay là như nhiều người đã khuyên “nên nghỉ ngơi để hưởng thụ cái tuổi già,? Bây giờ được tin tuần sau tôi phải về trường tập huấn, tôi mới nảy sanh ra một ý nghĩ. Tôi đi lại bếp vừa phụ Trúc Thanh dọn bàn vừa nói: – Trong ba ngày vô trường thực tập, có môn bơi dưới nước cho trực thăng tới vớt lên và nhảy từ trên cao xuống nước, có hơi nặng, nếu tui vượt qua được hai đoạn này thì tui sẽ tiếp tục làm việc thêm năm năm nữa. Trúc Thanh xúc bánh xèo ra dĩa vừa nói: – Lấy chứng nhận xong rồi hẳng tính, bây giờ ăn bánh xèo cái đả. Dronten 29-9-2021
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.