This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trong e mail trước anh hỏi trên biển thì làm sao biết được chuyện xảy ra trên đất liền, những ngày tàu lênh đênh rảnh rang thì làm gì và tàu ghé bến có được lên bờ chơi không? Những câu hỏi mấy chục năm qua tôi đã nghe nhiều người hỏi, có lẽ từ đây tới ngày tôi nghĩ hưu vẫn còn có người gặp mặt tôi hỏi những câu tương tợ, thường những người trên đất liền hỏi cho có thôi chớ thiệt ra hổng ai muốn nghe câu đáp lại. Tôi phân vân có nên trả lời anh hay không thì chiều nay tôi nhận của anh một e mail nữa. Trong mail một mặt anh trách tôi dạo sau này hông muốn liên lạc với bạn bè luôn cả những lần về bờ cứ ‘ ru rú ở nhà chơi với vợ’ và mặt khác anh than phiền: “ Tao chán ngấy cái thế giới đàn ông giống như con chó giữ nhà và đàn bà là chủ nhân khó tánh; nấu nướng thì không biết, người ta nấu dọn ra thì chề cái môi đỏ chét chê nấu dở ăn không vô, mở miệng ra thì hậm hực, quanh co không thành thật; ra ngoài thì gian lận tuổi tác bằng cách tô lên tóc màu mè xanh đỏ, lắp lên mặt một lớp hoá chất dầy và không bao giờ thấy được mặt thật…” Anh kể cho tôi nghe những phiền toái trong gia đình và ao ước được làm “ Cánh chim bạt ngàn để khỏi phải vật lộn từ trong nhà ra tới xã hội với công việc và nhìn mọi tiêu cực hàng ngày xảy ra làm chướng tai gai mắt…”.
Tôi nhìn vào điện thoại biết tàu đương chạy ven bờ biển Thuỵ Điển, chuyện xác định vị trí con tàu trước kia thủy thủ muốn biết thì phải hỏi thuyền trưởng hoặc thuyền phó, bây giờ không cần hỏi, ngồi trong phòng cũng biết vị trí con tàu đương ở trên hải phận quốc tế hoặc vào hải phận nước nào. Thời buổi này một việc xảy ra trong một nơi xa xôi hẻo lánh trên trái đất chỉ vài giờ sau cả thế giới điều biết. Cũng như tôi biết chuyện buồn phiền của anh qua chiếc di động nằm gọn trong lòng bàn tay này.
Bây giờ là giờ rảnh của tôi và tôi đương ngồi sau lái tàu nhìn chiều Mùa Thu trên vùng biển Baltic. Trời không gió, mặt biển êm láng và nước biển xanh màu cẩm thạch. Nền trời trắng đục, mặt trời trốn đâu mất nhưng ánh sáng vẫn còn toả sáng đủ để phóng tầm mắt nhìn xa vô dãi đất liền mù mờ trong làn sương mỏng. Tôi trở vô phòng, để điện thoại lên bàn và ngồi xuống mở laptop. Thường ngày giờ này nếu đường truyền internet tốt thì tôi nối mạng tìm đọc cái gì đó, không thì gõ lên bàn phím những chuyện xãy ra trong ngày hay một ý nghĩ vẩn vơ nào. Tính hiệu cho biết đường truyền internet khá cao nhưng tôi không nối mạng, tôi thấy mình cần gõ cho anh vài dòng, kể anh nghe một vài chuyện. Hy vọng khi đọc xong anh vơi bớt phần nào ưu phiền, không còn phẫn nộ và nhìn đâu cũng thấy cảnh chướng tai gai mắt.
Có một dạo tôi sống trong một xóm nhỏ miệt U Minh hạ. Nói là xóm nhưng thật ra chỉ vài ba trăm căn nhà lưa thưa cách nhau một hai công đất, day cửa ra dòng kinh. Khoảng giữa con đường cách nhà này qua nhà kia có một cây mắm hay cây bần gì đó mà lâu quá tôi quên mất rồi, gốc cây bự gần cả ôm, dưới gốc có miễu thờ cục đá cuội tròn bằng cái trứng ngỗng màu đen láng bóng mà người ta gọi là miễu ông Tà. Theo lời kể thì cục đá do một anh mò tôm càng mò được rồi đem để lên gốc cây, sau đó có người đồn ra khắp xóm rằng có điềm lạ. Nghe có điềm lạ bà con chạy tới xem và đem nhang, đèn, bông, trái ra chỗ cục đá bày ra cúng. May sao măm đó cả xóm được trúng lúa mùa. Nhờ trúng mùa lúa bà con trong xóm càng tin tưởng nhờ cục đá linh thiêng phù hộ, họ bèn rủ nhau góp tiền mua gạch ngói về cất lên cái miễu, đặt bàn thờ có lư hương, chưn đèn, riêng cục đá thì được bọc vô miếng vải màu đỏ kính cẩn để lên bàn thờ và đặt tên cho cục đá cuội là ông Tà. Về sau có dịp đi đó đi đây, tôi thấy nơi thờ bình vôi, chỗ thờ lưỡi tầm sét… những biểu tượng như vậy đều có những câu chuyện huyền thoại linh thiêng tương tợ như nhau. Dạo đó tôi cũng tin tưởng ông Tà như tất cả mọi người quê mùa ấy, mỗi khi đi cắm câu ngang miễu tôi tạt vào đốt nhang, đứng ngay ngắn trước bàn thờ ông Tà xá ba xá và cầu xin phù hộ cho câu được nhiều cá thì tôi sẽ cúng ông một nải chuối.
Từ ngày ra nước ngoài, sống chung chạ phần đông với dân có học, nhứt là sống trong đất nước văn minh, tôi nghĩ là người trí thức thì không ai mê tính dị đoan. Nhưng sau một thời gian, tôi mới biết mình lầm, biểu tượng lại xuất hiện khắp nơi, người ta đặt tên biểu tượng là Chánh Nghĩa. Lúc còn ở U Minh tôi hổng biết tại sao bà con lấy tên ông Tà đặt cho cục đá, bây giờ tôi mới hiểu ra, có Tà (Tà Nghĩa) tức phải có ông Chánh (Chánh Nghĩa), đúng quá xá rồi còn gì nữa. Dù sao đi nữa dân quê thờ ông Tà cũng không tổn hại tới ai, trái lại còn có lợi về mặt tinh thần nữa. Ở một nơi hẽo lánh quê mùa không có nhà hội, không hàng quán, nhân dịp ngày rằm mùng một bà con tụ tập trước miễu cúng quảy luôn tiện tán dóc, trao đổi chuyện hay, chuyện dở, chuyện mùa màng và nhờ vậy mà con nít với mấy đứa chăng trâu cũng kiếm ké được chút ít bánh, trái, xôi, chè. Ở nước ngoài những người thờ ông Chánh có phương tiện hơn, họ bày tiệc thù tạc, tâng bốc, vinh danh, phong chức cho nhau và phô trương kích thích lòng hận thù. Họ tưởng rằng có ông Chánh trong tay tức có thần linh phù hộ cho một sức mạnh vạn năng có thể thay trời đổi đất, họ tụ tập lê la ông Chánh đi khắp chỗ đông người, vào nơi hội hợp chìa ông Chánh ra hù dọa. Đến chùa chiền cũng phải dành một chỗ thờ ông Chánh, nếu không thầy chùa khó mà ngồi yên gõ mõ công phu. Có người hiểu biết khuyên họ dừng mê tính nữa tức thì họ bài bác, chửi bới đôi khi dùng thủ đoạn ác độc hại người hoặc thượng cẳng tay, hạ cẳng chưn bề hội đồng người ta đến lỗ đầu máu tuông linh láng. Thiệt tình tôi không mấy hứng thú nói ra ba cái chuyện nặng nề này, nhưng muốn anh hiểu cho tôi vì sao không liên lạc với bạn bè. Hơn nữa đọc mail anh tôi thấy như cả một trời ưu phiền đương phủ xuống cái thân thể ốm yếu của anh, tôi muốn đem chuyện ông Chánh, ông Tà để cho anh thấy mê tính đị đoan nó đã thắm vào máu tim của mọi tầng lớp người Việt ở khắp nơi chớ không riêng dân quê mùa dốt nát trong hóc Bò Tó nào ở miệt U Minh.
Làm cánh chim bạt ngàn đôi khi cũng gặp giông gió bão bùng, hổng khôn khéo lèo lái sẽ bị rơi nhàu đầu xuống chết không kịp ngáp, tôi đã chứng kiến mỗi lần giông bão, chim va vô mui tàu chết hoài. Đứng trên bờ nhìn ra biển khơi rồi mơ ước viễn vu và từ biển khơi trông về một nơi nào đó trong đất liền để mơ mộng chuyện trùm mền với vợ, giống như người đứng núi này trông qua núi nọ thấy núi nọ cao hơn núi này và ngược lại, thì cũng đâu khác nào chuyện mê tính dị đoan. Nếu anh chưa bỏ được đố kỵ, hận thù trong lòng anh, thì cho dù có là cánh chim đại bàn cõng cả trời mây, bay khắp chưn trời góc biển thì chuyện buồn phiền vẫn cứ bám miết theo anh như hình với bóng.
Kiến thức và lao động tạo nên tiếng tăm lừng lẫy và cả một gia tài lớn lao đưa ta lên địa vị cao tột đỉnh cũng chỉ là tạm thời, không gì bền vững. Nói chung bất cứ vật gì ta tạo ra và thu góp được, kể luôn cả vợ và con, khi chết đi chúng ta cũng để lại, không mang theo được một cái nào. Lên voi xuống chó của ngày hôm nay rồi sẽ lùi vào quá khứ. Người bạn đời mà ta thương yêu và sáng tạo ra biết bao ngôn từ đẹp đẽ để gọi, nào là người yêu quí, một nữa của anh hoặc của em… Trau chuốt những lời hoa mỹ và tặng bông hoa màu mè, những cử chỉ âu yếm, hôn hít làm đẹp lòng nhau chẳng qua vì chữ SỢ. Sợ mất nhau rồi không còn chỗ để nương tựa “đời mất em rồi anh sống với ai”. Mua chuộc, này nỉ ỉ ôi thậm chí van xin tình yêu, cuối cùng không cách này thì cách khác tình yêu cũng lần hồi phai mất. Thân thể con người ta, từ kẻ bần cùng cho tới những người quyền cao chức trọng, ai ai cũng bị thời gian bào gọt hao mòn, teo tóp, bệ rạc và lăn lóc như cá đồng mùa hạn bị mắc cạn trên bùn lầy, lây lấc ngoi ngóp hớp không khí sống qua ngày chờ đất khô rồi chết khô theo đất. Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ còn hổng xong nói chi nương tựa đỡ đần cho nhau, ai gánh vác ai đây.
Cha mẹ thương con vô bờ vô bến, con thương cha mẹ có giới hạn. Tục ngữ Việt Nam có câu “cha mẹ thương con biển hồ lai láng, con thương cha mẹ tính tháng tính ngày”. Con bịnh cha mẹ buồn lo mất ăn mất ngủ; cha mẹ bịnh con dòm qua và hỏi han vài câu, đứa nào nghĩ tình tới thăm và nấu cho vài bữa cháo, đưa đi bác sĩ vài lần cũng là hiếu thảo lắm rồi. Bịnh dai dẳng năm này qua tháng nọ chẳng đứa con nào túc trực bên giường đâu. Khi con còn nhỏ xin tiền cha mẹ thì không ngần ngại; con khôn lớn lập nghiệp, dù nó thành công tột đỉnh, giàu sang nhứt bậc, cha mẹ lân la hỏi xin tiền cũng không dễ dàng gì. Trái ngược nhau hết, đây là sự thật và không lấy gì bảo đảm để nương tựa cho đời mình, vậy thì sao ta không coi việc lo liệu cho con cái là bổn phận, là một niềm vui, không lợi dụng lòng hiếu thảo mong báo đáp công đưỡng dục sanh thành, cũng như không bám cẳng gây phiền chúng để tự hành hạ tâm mình. Suy cho cạn nghĩ cho cùng, có phải chúng ta đương sống trong cảnh trái chiều rồi ôm một đống khổ đau đến nỗi dùng lời lẽ thâm độc chê trách vợ, con và trong lòng sanh ra một chuỗi muộn phiền. Cuối cùng chính ta là thủ phạm gây phiền phức từ trong nhà lan ra xã hội mà ta hổng hay, cứ day ra hận đời, oán người….
Tuy nói là vậy nhưng tôi không có ý đả phá tuyệt đối khuyên anh từ bỏ đời sống trần gian đầy bạo loạn này để tôn thờ một tôn giáo nào đó và dồn hết thì giờ đi nhà thờ, nghiền ngẫm kinh Thánh hay là cạo đầu vô chùa gõ mỏ tụng kinh cho vơi bớt nỗi khổ niềm đau. Chúng ta chỉ cần bỏ ra một ít thời gian và bỏ đi sự đam mê các thú vui thường tình, dùng một phần thời giờ còn lại học hỏi và luyện tập thương yêu, loại hết thói quen ít kỷ và mở lòng vị tha để giữ thăng bằng trong cuộc sống xao động hiện nay.
Những ý tưởng với những mẫu chuyện vặt vãnh này tôi đã tìm tòi góp nhặt được và nghiền ngẫm là nhờ những ngày tháng lênh đênh trên biển và thời gian “ru rú ở nhà chơi với vợ”. Dĩ nhiên đây hổng phải ý của riêng tôi, mà là của những bật cao nhân đã có sẵn trên đời ít ra cũng hơn hai ngàn năm trước. Tới nay tôi thấy những ý tưởng này vẫn còn giá trị, tôi đã lấy làm kim chỉ nam cho cuộc sống đời mình. Nhờ đó mà tôi đã dọn dẹp sạch sẽ rác rến lo âu trong lòng, tẩy hết dơ bẩn muộn phiền trong tâm trí và cũng không còn mê tính dị đoan nữa. Một người không mê, tức là người tỉnh, một người tỉnh táo thì thoải mái, sung sướng biết bao và không dại gì biến mình thành nhà đô vật để “vật lộn từ trong nhà ra ngoài xã hội”.
Chuyến này tàu khởi hành cảng Hamburg, đi ngang kinh đào Kill vào vùng biển Baltic, chuyển và nhận hàng các nước thuộc scandinavian. Mùa Thu vùng này rất đẹp, tuy hơi lành lạnh nhưng trên biển nước vẫn xanh và lờ mờ trong sương vài cánh buồm trắng. Trên bờ cây đã trổ lá vàng và bắt đầu rơi rụng… Ngày mai tàu ghé Stockholm, thủ đô nước Thụy Điển, mỗi lần tới đây lòng tôi rộn rã, tâm hồn phơi phới. Tôi rất thích thành phố sạch sẽ, nhứt là con người ta sống rất hiền hoà và rất là nhân bản. Nhìn đất nước con người nơi đây tôi ngậm ngùi nhớ và thương cho dân Việt mình quá. Biết đến bao giờ người Việt mới có cuộc sống an bình, trong một xã hội văn minh với những con người hiền lành và chứa chan tình cảm, để những người anh, em nhìn nhau với tấm lòng đầy thương yêu không nhỏ nhen, không đố kỵ và không hận thù./.
Trong khi dân chúng ở các nước chậm phát triển, kinh tế èo uột, thực phẩm không đủ dùng, giáo dục không lo nổi, nghèo đói, chính phủ phải ra lệnh hạn chế sinh đẻ để tránh chuyện dân cư bùng phát, thì ở
các nước giàu, văn minh người ta khuyến khích người dân phải sinh đẻ nhiều thêm. Nam Hàn là quốc gia ngày nay với sinh số thấp nhất thế giới, thấp hơn cả ước láng giềng Nhật Bản, đang cố tìm đủ mọi cách để tăng sinh suất. Bởi nếu không, xã hội này sẽ ngày càng già nua, lực lượng lao động giảm, trong khi ngân sách y tế và trợ giúp cho người già tăng. Sở dĩ có tình trạng sợ đẻ này là các bậc bố mẹ ở Nam Hàn hiện thiếu trợ giúp cho việc nuôi dưỡng trẻ em trong khi
chi phí giáo dục quá cao khiến cho những thanh thiếu nữ đến tuổi không dám nghĩ đến chuyện lập gia đình. Mặt khác trong xã hội Nam Hàn còn thiên kiến về phụ nữ khó vừa đi làm ở ngoài xã hội vừa nuôi con trong gia đình. Biện pháp khuyến khích sinh nở của Nam Hàn là thưởng quà cho những phụ nữ có trên một con, trong khi ở Úc, quý bà từ ngày có thai cho đến lúc sinh nở, được chính phủ lo hết mọi việc Khi sinh nở có bác sĩ, bệnh viện, thuốc men miễn phí lại có khoản $7,000 tiền tươi của chính phủ gởi tận nhà, mà không trừ lại một xu nào. Tuy vậy coi bộ tại các nước tiên tiến này, cũng ít người muốn đẻ vì nuôi con khó khăn, cực nhọc. Chẳng bù lại, như ở Mễ hay Việt Nam ta ngày xưa, thằng lớn bồng thằng bé, sau thằng Út có thằng Thêm, con Bòn, thằng Mót. Một du khách đi ngang một khu vực nghèo nàn ở
gần bên đường xe lửa. Ông ngạc nhiên thấy ở đây rất đông trẻ con, gia đình nào cũng năm bảy đứa, hầu như đẻ năm một. Lân la hỏi thăm một cụ già ở đây về hiện tượng này, ông già cho biết ở đây, khoảng 5 giờ sáng có một chuyến xe lửa đi qua, kéo còi khiến cư dân trong vùng lân cận phải giật mình thức giấc, không ngủ lại được. Giờ này, dậy đi làm thì quá sớm, mà ngủ lại thì quá trễ. Mùa World Cup cũng là lý do việc sinh đẻ khó hạn chế. Ở Việt Nam, những trận túc cầu thường khai diễn vào lúc 1 giờ khuya, làm gì cho hết thời gian để chờ trận đấu. Đội mình thích, thắng thì hân hoan, phấn khởi ăn mừng. Đội quen thua thì buồn bã thất vọng, cần an ủi để bớt căng thẳng. Ở Cà Mau, muỗi như trấu, chập choạng tối là dân phải vô mùng, vậy có phải là lý do sinh con đông không? Tôi có hỏi chuyện một gia đình người Huế có đến mười ba đứa con và ngạc nhiên khi thấy sao họ quá đông con như vậy. Cô gái lớn trả lời cho tôi biết, ông thân sinh cô ngày xưa làm việc ở Đà Nẵng không thể mang gia đình theo, nhưng cứ vài ba tháng ông lại về thăm nhà một lần. Chuyện tương tự, những người lính thường đi hành quân xa nhà nhưng lại lắm con, vì những lúc đi phép về nhà, ông tiêu hết số tiền dành dụm lâu nay, như đơn vị pháo binh của ông dư một số đạn có thể bắn “cấp tập” (Time-On-Target). Trường hợp khác, mới nghe qua như nghịch lý, khi một bà thú nhận rằng sở dĩ nhiều con là hai ông bà hay giận nhau, sau mỗi lần giận nhau, làm lành, lại có thêm con. Ở Nam Hàn Bộ Y Tế yêu cầu các công sở đóng cửa tắt đèn sớm hơn thường lệ và khuyến khích công nhân viên trở về nhà lo việc sản xuất trẻ. Tắt đèn có lẽ là một phương cách hữu hiệu nhất để gia tăng dân số. Hồi ở Saigon, ngay cả sau những năm 80, thành phố vẫn thường bị cúp điện dài dài nên bệnh viện Từ Dũ làm việc mệt nghỉ, do vậy nhiều vị đi tù “cải tạo” về cũng đã có cơ hội sinh ra một hai thằng “cháu bác Hồ” trong khi chờ đợi lên đường theo danh sách H.O. đi Mỹ. Ở các nước dân chủ, tiên tiến, nếu việc cúp điện xẩy ra thường xuyên, chắc chắn nội các phải đổ hay ít nhất Bộ Trưởng Bộ Điện Lực cũng phải về vườn, nếu không người ta đã cắt điện để cứu dân sinh. Vì nếu
muốn gia tăng dân số, thiết nghĩ không có biện phápnào hay hơn cúp điện. Thử tưởng tượng không có điện, nhà phải thắp đèn cầy như trong các nhà hàng sang trọng, lãng mạn tình tứ biết bao mà kể. Không có điện thì không có computer để quý ông vào “chat” hay đọc báo, không có điện thì làm gì có máy truyền hình để quý bà luyện phim bộ hay xem ca nhạc, vậy tốt hơn là hãy vào giường …
Ở các nước giàu có tiên tiến, người dân có bao nhiêu thứ để giải trí, từ báo chí, điện ảnh, thể thao, kịch nghệ, ở nhà không ngồi trước máy truyền hình thì nghe đài phát thanh, khi đi ra ngoài ăn uống, xem thể thao, văn nghệ, tiệc tùng với bạn bè hay đi du lịch ra khỏi thành phố. Nước nghèo, chậm tiến, nhất là ở những vùng nông thôn thiếu tiện nghi, lại dư thời giờ, lấy gì để vui chơi cho qua ngày tháng?
Mỗi năm trên thế giới có thêm khoảng 74 triệu đứa trẻ sinh ra. Hầu như tất cả số tăng đều diễn ra tại các vùng kém phát triển, con số 5.3 tỷ người hiện đang sống tại các nước kém phát triển sẽ tăng thành 7.8 tỷ năm 2050. Trái lại, dân số tại những vùng phát triển hơn hầu như sẽ không thay đổi, ở mức 1.2 tỷ. Trong giai đoạn 2005-2050, chín quốc gia dự đoán sẽ chiếm một nửa số tăng dân số thế giới là các nước còn nghèo đói, chậm tiến như: Ân Độ, Pakistan, Nigeria, Cộng hoà Dân chủ Congo, Bangladesh, Uganda, Ethiopia, và Trung Quốc, nhưng không hiểu sao Mỹ lại lọt vào danh sách các nước này, có lẽ vì số di dân càng ngày càng đông trên đất Mỹ. Trong vòng 5 năm, từ cuộc kiểm tra dân số năm 2005 cho đến sự ước tính vào năm 2010, dân số Mexico sẽ tăng 9 triệu/111 triệu dân (khoảng 10%) và Mỹ cũng không kém với 27 triệu/281 triệu dân (cũng khoảng 10%). Trong khi đó, các quốc gia này gồm, Áo, Canada, Croatia, Đan Mạch, Đức, Italia, Bồ Đào Nha, Qatar, Singapore, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Anh Quốc và các tiểu Vương quốc Á Rập thống nhất muốn có số dân nhập cư đông để tránh tình trạng thiếu dân số và lực lượng lao động vì tỷ lệ sinh hiện đang giảm ở mức độ thấp.
Như vậy chúng ta có thể kết luận, các quốc gia càng nghèo đói, càng thất nghiệp, càng thiếu phương tiện giải trí, càng bị cúp điện thì sinh sản càng nhiều. Đặc biệt ở Mỹ không cần cúp điện, nhưng bao lâu nay vì nhu cầu người lao động, làm việc chân tay không có đủ, biên giới Mỹ-Mễ nửa mở, nửa khép để có đủ người từ các nước ở phía Nam vào làm việc hốt rác, sửa nhà, cưa cây, làm bếp … và sinh nở cho đủ người.
Tôi ở trong quân đội 11 năm, trong đời lính, điều tôi sợ nhất là phải ở trong trại gia binh, và cũng may mắn là chưa bao giờ phải lâm vào cảnh ấy. Vì nhu cầu ăn ở, mà đơn vị thì nghèo phương tiện, trại gia bình thường được xây dựng sơ sài, mỗi căn nhà dành cho mỗi gia đinh thường chỉ ngăn cách bởi những tấm gỗ, có khi được tháo ra từ những thùng gỗ pháo binh, chấp nối, hay thùng cho vật liệu quân đội, có khi chỉ là những tấm carton sơ sài, được dán che lên bằng những tấm hình của những đào kép cải lương sặc sỡ, cắt ra từ mớ tạp chí bán ve chai ngoài phố. Như vậy dù không chung nhà, cũng bị cái cảnh “chung vách!” Trong hoàn cảnh như thế, ở gần nhau, không còn điều gì để riêng tư, giấu giếm, từ tiếng nồi cơm đang sôi hay mùi cá kho trên bếp lừa, lớn nhự tiếng trẻ con khóc, tỉ tê như tiếng thì thầm bên gối hay tiếng vợ chồng cãi cọ, đánh đấm nhau, thì sáng ra cả … làng đều hay. Hồi ở Ban Mê Thuộc, có hai ông đại uý, ở trong một trại gia binh chung vách, gần nhau sát sạt, đi ra đằng trước cũng thấy nhau, vòng lại dằng sau cũng gặp mặt, nên lửa gần xăng lâu ngày cũng chảy, cuối cùng một ông lãnh đạn của ộng kia vì tội ngoại tình với bà vợ hàng xóm.
Quý bà thì hay nhìn chuyện nội bộ, đi chợ về làm sao tránh được căp mắt của bà hàng xóm ân cần nhìn vào cái gì đi chợ của mình, Hôm nay nhà chỉ có món rau muống, cá kho tầm thường hay mua được con gà, miếng thịt heo sang trọng, cũng có người hay biết. Nhưng chuyện ăn uống là nhỏ, chuyện xảy ra trong mỗi gia đình mới là việc lớn. Trong một không gian nhỏ hẹp, hàng ngày trông thấy nhau, tìm cầu chuyện làm quà không gì hơn là kể chuyện thiên hạ. Người “ngồi lệ đôi mách” thường phấn khởi và say sưa khi nói chuyện về người khác. Chúng ta hẳn đã bực mình khi có người ngoài tọc mạch, nhòm ngó chuyện nhà riêng tư của mình để đem ra trình báo với thiên hạ, nhưng ví thử chúng ta phải chịu đựng một kẻ ngồi ngay trong nhà mình, nghe hết chuyện vui buồn, no đói, xấu tốt suốt năm của vợ chồng, con cái nhà mình rồi cuối năm đem đi “trình bẩm” với cấp “thẩm quyền” rành rọt, ngọn ngành không sót một chi tiết, lại ghi trên giấy trắng mực đen, thử nghĩ bạn có “đien tiết” lên không. Vậy mà tỏi thấy không! Không những không cảm thấy thương tổn, bị xúc phạm, bực mình mà bạn còn ve vuốt, hối lộ, cung kính, khúm núm với những nhân vật như thế. Đó là văn hóa “Táo Quân” mà chỉ mới mấy hôm trước đây, nhiều gia đình đã nhang đèn, khấn vái suýt soa, lại hối lộ phương tiện, áo quần, tiền bạc đút lót cho những “Ông Táo.” tức là những người chỉ có một nghề chuyên môn và duy nhất, hành sự mỗi năm là về Trời, tức là về Thiên Đình báo cáo hết chuyện nhà mình. Nghèo thì cũng có vàng mã, “thèo lệo, cứt chuột” đưa tiễn, giàu thì mâm cao cỗ đầy, áo mũ cân đai để đưa các ông. một loại hối lộ công khai và một loại văn hóa ca tụng những “mật báo viên!”. Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt số phận cho gia đình. nên cung kính thờ phụng, mong ngày 23 tháng Chạp hằng năm, Táo Quân sẽ lên thiên đình dể báo cáo mọi việc lớn nhỏ trong nhà của gia chủ với Thượng Dế (hay ông Trời), nên các nơi gọi ngày này là Tết ông Công. Tầu cũng có Thần Bếp nhưng không có chuyện rắc rối “hai ông, một bà,” như chuyện “Ông Táo” trong cổ tích Việt Nam. Ba nhân vật có mối tình thâm nghĩa nặng là nàng Thị Nhi và hai chàng Trọng Cao, Phạm Lang; “nàng bỏ chàng, sau đó kết duyên với một người đàn ông khác, rồi định mệnh xộ đẩy ba người cùng chết chung trong một đống lữa, được Ngọc Hoàng cho họ ở cùng một chỗ và làm Táo quân, quấn quýt bên bếp hồng,” Câu chuyện “tình chảm nghĩu nặng” này hình như chẳng liên quan gì với nhiệm vụ báo cáo chuyện nhà người ta lên Thiên Đình, mà trøng chế độ Cộng Sản được hiểu là, gần thì đồn Công an, Phường Khóm, cao hơn là Công An hay Bộ Chính Trị. Chuyện này làm chúng ta nhớ lại, dưới chế độ của XHCN miền Bắc, Cộng Sản đã đào tạo những mật báo viên “Khăn Quàng Đỏ,” “Thiếu Niên Tiền Phong” thay thế cho tai mắt công an để kiểm soát hành động của từng gia đình, ngăn ngừa phản động, chống phá chính quyền. Chế độ này sinh ra cảnh con cái tố mẹ cha, vợ tố chồng và thanh thiếu niên dưới chế dộ Cộng Sản dã được dạy làm thế ngay từ khi bé, như nhân vật Shin trong cuốn sách “Escape From Camp 14″ từ Bắc Hàn đã tố cáo với công an trại tù, sau khi nghe trộm mẹ và anh trai của mình bàn nhau kế hoạch trốn trại. Kết qjuả Shin chứng kiến mẹ và anh của mình bị xử tử công khai và trong đầu óc thằng bé lúc đó, nghĩ là họ có tội. Ở trọng các nhà tù, phải nói rõ là trong nhà tù Cộng Sản, bọn cai tù thường dùng “mật báo viên,” nôm na gọi là những tên “ăng-ten” để canh dò, báo cáo hành động và lời nói của các tù nhân. Trại tủ, công ty, cơ quan nhà nước tuy không thờ Táo Quân, nhưng luôn luôn có bọn luồn lọt, tang công để báo cáo xấu về anh em, đồng nghiệp của mình hầu kiểm chút ân huệ cho cá nhân mình. Sau tháng 4-1975 tại miền Nam, thì bọn “công an khu vực” công khai “tự nhiên” vào thẳng từng nhà, soi mói, kiểm soát mọi việc với cái nhìn của cú, con mắt của cú đối với con người là nỗi sợ hãi kinh hoàng, để báo cáo mọi việc lên cấp trên, trấn áp nhân dân để bảo vệ cường quyền. Nhiều gia dình phải hối lộ, cho tiền mỗi khi chúng “tự nhiên như người Hà Nội,” công khai vào nhà xin tiền để “về Bắc thăm nhà.” sửa xe hay đi công tác, không khác gì người Việt quan niệm Táo Quân sẽ lên trời và báo cáo với Ngọc Hoàng Thượng Đế những su kiện xảy ra trong năm vừa qua ở trong nhà mình, nên tiển đưa ông Táo rất thịnh soạn, với mong muốn là Táo sẽ báo cáo những diều tốt đẹp, mà bỏ qua hoặc lơ đi những điều không tốt cho gia dình mình, một loại văn hóa hối lộ được phổ biến.
Một năm, vào ngày 23 Tháng Chạp, không biết nguồn gốc này phát xuất từ văn hóa Giao Chí, Tàu hay Ấn Độ, chúng ta phải cúng kiếng, tiển đưa quí “đồng chí” nằm vùng, ngự trị ngay trong ruột gan mình, tức là cái bếp nhà, đề di báo cáo chuyện gia đình mình với cấp chi huy hay lãnh dạo tuốt trên mấy tầng trời, tôi không khởi không nhớ dến chế độ “công an trị” đã đè nặng trên dân tộc mình suốt mấy mươi năm nay.
Báo chí Việt Nam, mỗi năm vào những ngày giáp Tết đều có đăng những bài Sớ Táo Quân kể lể chuyện trần thế, trên màn ảnh truyền hình, sân khấu thì dựng hài kịch Ông Táo về Trời làm “rapport” (hay report) chuyện nước non. nhưng thực sự văn hóa Táo Quản dịch sát là chuyện Vua Táo nắm vùng trong xó bếp, chuyên rình mò chuyện nhà (gia chú để nuôi nấng, thờ phụng Táo ăn ở suốt năm) lên Thiên Đình báo cảo mọi việc. Loại văn hóa này không đáng cho chúng ta ca ngợi, phổ biến như chúng ta đã có thói quen làm, có lẽ từ cả nghìn năm nay!
Kính thưa Quý Thính Giả, vị thế cao quý của Nước Mỹ hôm nay là kết quả của một quá trình tranh đấu, chiến đấu của nhiều Dân Tộc thuộc Liên Bang Mỹ với nhân tố quyết định là do Tập Thể Quân Lực Hoa Kỳ. Cũng thế, Quốc Gia VNCH đã có một Mùa Hè Lẫm Liệt 1972 với những Người Lính hiến thân nơi Cổ Thành Quảng Trị; Xa Cam, An Lộc, Bình Long; Đồi Charlie, Tân Cảnh, Kontum… Tuy nhiên, hôm nay, 51 năm sau 1975, hầu như số đông người Người Việt không còn mấy ai nhớ đến Ngày Quân Lực 19 Tháng 6, 1965. Mời ông PNN, một Người Lính trình bày về Ngày Trọng Đại từ đâu, như thế nào đã xẩy ra một lần nơi Miền Nam với tập thể Quân Lực VNCH. Chào ông Pnn.
#1- NL: Người Lính Miền Nam đã hằng thực hiện một nhiệm vụ cao quý từ Ngày Trọng Đại 19 Tháng 6, 1965. Để quý KTG hình dung đủ và đúng tình hình chính trị, quân sự của Miền Nam trước lần hình thành nên Ngày Quân Lực, 19/6/1965 – Mời ông trình bày về tình hình tổng quát chính trị-quân sự nơi Miền Nam trước.
#1-PNN: Ngày Quân Lực 19 Tháng 6, 1965 là thời điểm Người Lính VNCH chính thức nhận nhiệm vụ Bảo Quốc –An Dân cho đến kết thúc uất hận, 30 Tháng 4,1975. Trước tiên, cần nhắc lại một biến cố chính trị quan trọng đã xẩy ra trong Mùa Hè, Tháng Sáu, 1965 nơi Miền Nam.
Gần hai năm sau lần lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tập đoàn tướng lãnh miền Nam đã chỉ lo tranh giành, củng cố quyền lực, không lưu tâm đến nhiệm vụ bảo vệ dân, giữ nước. Nắm lấy cơ hội, giới cs miền Bắc đã huy động các sư đoàn chính quy vào Nam nhằm thôn tính trọn miền Nam trong thời điểm 1964, 1965. Từ tình hình nguy nan nầy, chính phủ Mỹ, Tổng Thống Hoa Kỳ L. Johnson (có nhiều lý do chính trị-ngoại giao chiến lược toàn cầu khác) đã quyết định đưa các đơn vị tác chiến bộ Mỹ vào Nam VN, trước tiên tại Đà Nẵng, 3/1965.
#2- NL: Nam VN là chiến trường khắc nghiệt nhất mà quân đội Mỹ đã gặp phải trong suốt lịch sử tuy mới mẻ nhưng đầy kỳ tích đáng hãnh diện của họ. Nhưng phía cộng sản bao gồm CS Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phòng Miền Nam là những yếu tố chính trong chiến cuộc mà QLVNCH phải trực tiếp đương cự từ 20/12/1960, ngày thành lập Mặt Trận Giải Phóng MN đến 30/4/1975 kết thúc chiến dịch HCM. Mời ông nói về tình hình diễn tiến quân sự của phía cộng sản đưa tới thời điểm 1965. Một thời điểm cụ thể đã bùng nổ chiến cuộc cao nhất nơi Miền Nam?
#2- PNN: Nói câu #2. Không phải: 1/Quan niệm điểm thông tục của phía Mỹ/VN War của Lyne Novick, Ken Burns (chỉ từ 3/1965); 2/Phía CSVN: Lần thành lập MTGPMN (20/12/1960. Nhưng thực tế lich sử cho thấy là từ Hội Nghị Liễu Châu (3-5/5/1954) trước lần ký kết chia đôi chia đôi đất nước, 20/7/1964. Cụ thể hơn là nguyên nhân, diễn tiến, hậu quả của Trận Ấp Bắc, 3/1/1963. Bình Giả 12/1964. Đồng Xoài 6/1965 – Đồng Xoài, Bình Dương gây thiệt hại nặng cho phía cộng hòa. Đồng Xoài chỉ cách Sàigòn khoảng 100 cây số đường chim bay.
#3-NL: Trở lại chủ điểm chính của buổi nói chuyện hôm nay là Ngày Quân Lực 19/6/1965. Mời ông trình bày những nét chính về nguyên nhân, diễn tiến đưa đến lần thành hình Ngày Quân Lực 19/6/75. Tại sao? Như thế nào? Với những ai?
#3-PNN: Nói câu #3: 31: Phần chính trị: Sau lần Trung Tướng Dương Văn Minh lãnh đạo cuộc đảo chánh, sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu (1/11/1963); ngày 30/1/1964, Trung Tướng Nguyễn Khánh lãnh đạo cuộc chỉnh lý (mà thật ra là đảo chánh) lật đổ Trung Tướng Dương Văn Minh, bắt giam 5 vị Tướng thân cận của Trung Tướng Minh. Ngày 1/11/1964, Trung Tướng Khánh giữ chức vụ quốc trưởng tấn phong Trần Văn Hương chức thủ tướng; kỹ sư Phan Khắc Sửu chức Chủ Tịch Thượng Hội Đồng Quốc Gia. Ngày 16/2/1965, Trung Tướng Khánh lại tấn phong Bác Sĩ Phan Huy Quát thay thế Thủ Tướng Hương. Ngày 19/2/1965, Thiếu Tướng Lâm Văn Phát lãnh đạo cuộc binh biến, đảo chánh Trung Tướng Khánh; tuy thất bại, Thiếu Tướng Phát phải rút quân, nhưng Trung Tướng Khánh đã bị buộc phải lưu vong, rời Việt Nam ngày 25/2/1965.
Bác sĩ Phan Huy Quát nhận chức thủ tướng Ngày 16 Tháng 2, 1965, tuy nhiên chẳng mấy khi đồng thuận với Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu về chính sách lãnh đạo quốc gia. Cuối cùng, vào trung tuần Tháng 6, 1965 Thủ Tướng Quát gởi đến Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Trưởng Quốc Phòng, một văn thư trình bày sự bất đồng quan điểm giữa ông với Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu. Lá thư cho biết là cả hai đồng từ chức. Thủ Tướng Quát yêu cầu Hội Đồng Tướng Lãnh nhân danh quân đội nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo quốc gia trong giai đoạn cực kỳ khó khăn.
Do văn thư của Thủ Tướng Quát, Hội Đồng Quân Đội họp liên tục trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, để có kết quả là quyết định thành lập một tổ chức với danh xưng “Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia” theo nguyên tắc “Ủy Ban quyết định, những thành viên thi hành”. Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia chọn Ngày 19 Tháng 6. 1965 ra mắt tân chánh phủ, với danh xưng là Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. 19 Tháng 6 được chọn làm “Ngày Quân Lực”.
#32:Phần quân sự: Nhắc lại hậu quả của Trận Ấp Bắc, 3/1/1963. Bình Giả 12/1964. Đồng Xoài 6/1965 – Đồng Xoài, Bình Dương gây thiệt hại nặng cho phía cộng hòa. Đồng Xoài chỉ cách Sàigòn khoảng 100 cây số đường chim bay.
#4- NL: Tập thể Quân Lực Cộng Hòa đã chịu chung lần tuẩn nạn với Dân Tộc tại thời điểm 30 Tháng 4, 1975. Ông có thể trình bày, tại sao sau Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972, kiêu hùng chống giặc, giữ nước kia, Quân Lực Miền Nam lại phải chịu tình thế bó tay thất trận cùng đành?
#4- PNN: Nói câu #4: Sau chiến thắng Mùa Hè 1972, Miền Nam phải chịu tình thế bó tay cực độ nhẫn tâm do nhu cầu chính trị của giới cầm quyền nước bạn đồng minh, khi Người Lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam (Tháng 3/1973) và khoảng trống quân sự để lại… Điển hình với tình trạng khả năng không quân (được xem là ưu thế của VNCH) gần như bị tê liệt; pháo binh chỉ được xử dụng từng quả đạn mỗi ngày hành quân; chiến xa không đủ xăng; quân binh các đơn vị tác chiến thiếu quân trang, thiết bị tối cần thiết… Miền Nam không có, không còn vũ khí để tự vệ, phải chấp nhận một nền Hòa Bình vô cùng quái dị – Hòa Bình do Hiệp Định Paris 27/1/1973 cố công tô vẽ mà trong đó “hai trong bốn bên (Mỹ và Bắc Việt) là nhân tố ký kết chính yếu, và phải chịu trách nhiệm thi hành đã hoàn toàn rũ tay, quay mặt”– Ngày 30 Tháng Tư 1975 không hề là một bất ngờ!!
#5- NL: Khi Người Lính Cộng Hòa buộc buông vũ khí, không chỉ cư dân Miền Nam, mà những người Miền Bắc dù dưới tác động xã hội, giáo dục riêng biệt của chế độ CS cũng nhận ra điều cay đắng, “Người Lính Thật Sự của Dân Tộc VN không còn nữa”. Khi Người Lính Miền Nam xuất hiện dưới hình thái não nề của “kẻ tù nhân thất trận” nơi Miền Bắc sau 1975 thì cũng là lần chứng tỏ – Nguồn Hy Vọng đến từ Miền Nam không còn khả năng hiện thực. Mời ông khách quan nói về Thực Tế đất nước hôm nay, 51 năm sau lần QLVNCH buông súng – Ngày Quân Lực 19/6/ chỉ là một hoài niệm không mấy ai nhớ ra.
PNN: Nói câu #5. Khi không còn Người Lính Bảo Quốc An Dân thì có xác chứng: Sau 1975, Quốc Sĩ bị coi khinh. An Ninh-Quốc Phòng nguy khốn. Kinh Tế-Xã Hội thoái hóa. Đạo Đức-Gia Đình băng hoại. Giáo Dục suy đồi. Người Lính Miền Nam đã nhận lãnh trách nhiệm trọng đại mà Quốc Dân đã ký thác, và trả giá lần không hoàn tất trọn vẹn cho đến ngày toàn thắng bằng sinh mạng của bản thân. Năm 1975, Người Lính Miền Nam do bị tước bỏ vũ khí, buộc phải chấp nhận thua cuộc chiến đấu, chứ không hề đào ngũ, trốn chạy để cùng lần Thật Chết Với Quê Hương. Lịch sử sẽ phải được viết lại một cách trung trực và khách quan. Nhưng bổn phận và khả năng của Thế Hệ Thứ Nhất của CĐ Người Việt Hải Ngoại hôm nay không phải là nhân tố quyết định – Phần Quyết Định thuộc về thế hệ Thứ Hai, Thứ Ba mà trong nước giữ phần quyết định quan trọng.
Nhã Lan cám ơn Pnn và Quý KTG theo dõi câu chuyện.
Lời Người Viết: Trong hỗn loạn của thời đại đang sống, người viết theo cách của de Lafontaine (1621-1695) viết Thơ Ngụ Ngôn, Chuyện Giả Tưởng để khỏi đụng chạm, liên lụy đến ai?! Người Đọc hôm nay hay mai hậu “nghĩ, suy” ra thế nào là tùy nghi.
#1.
Sau đời dài sinh/diệt
Đất/Trời/Người đóng băng
Thăm thẳm tận vũ trụ
Giọt hồng máu Trái Tim
#2.
Địa ngục bày thi tuyển
Bầu thủ lĩnh hàng đầu
Lê Nin, Mao, Polpot
Đồng chạy mặt “Bác” tôi
#3.
Bầy ma đi lang thang
Lạc hồn gào kêu khản
Hở đâu là đất Mỹ
Thời giàu thịnh văn minh?!
#4.
Muốn mau chóng giàu sang
Chấp hành nghị quyết đảng
Ngành công an tranh thủ
Nghề đầy tớ nhân dân
#5.
Sĩ-Nông-Công-Thương dẹp!
Xuống tay dọn quét sạch
Lịch sử khởi từ “đảng”
Xã hội chính là “ta!”
#6.
Cảnh đời ngẫm đùa chơi
Hóa ra nên “Sự Thật” (1)
Gã giết người gào khấp
Ta đây, “Giải Hòa Bình”? (2)
(1) Sự Thật: NXB- Cơ Quan ngôn luận trung ương của Đảng CS Liên Sô và VN
(2) Lê Đức Thọ (1911-1990), Bí Thư Chiến Dịch HCM đánh chiếm Sàigòn (4/1975). Nobel Hòa Bình 1973.
Trong lịch sử Việt Nam, mỗi thế hệ trẻ đều mang một khát vọng riêng. Có thế hệ lớn lên giữa chiến tranh và mang khát vọng độc lập dân tộc. Có thế hệ bước ra từ nghèo đói và mang khát vọng cơm no áo ấm. Có thế hệ trưởng thành trong thời kỳ Đổi Mới và mang khát vọng về phát triển kinh tế, về thu nhập cá nhân, gia đình v.v…
Còn tuổi trẻ Việt Nam hôm nay, đặc biệt là thế hệ Gen Z, đang dần mang một khát vọng khác, khát vọng được sống tự do như một con người có phẩm giá, có tiếng nói và có quyền quyết định tương lai của mình. Khát vọng ấy không phải lúc nào cũng được nói thành khẩu hiệu chính trị. Nó hiện diện âm thầm trong cách người trẻ suy nghĩ, học tập, làm việc và nhìn về tương lai của đất nước.
Đây có lẽ là một thay đổi lớn nhất của xã hội Việt Nam hiện nay. Hai chữ “Tự do” ở Việt Nam hôm nay là một khái niệm vừa hiện hữu, vừa giới hạn, vừa được nhắc đến rất nhiều trong diễn ngôn chính thức của nhà cầm quyền, nhưng cũng là điều khiến nhiều người dân, đặc biệt là giới trẻ, vẫn tiếp tục suy nghĩ, tranh luận và tìm kiếm.
Nhiều người trẻ không còn hiểu tự do theo kiểu ý thức hệ của thế hệ cha ông nữa. Họ nhìn tự do qua đời sống thực tế như được chọn nghề mình thích, được yêu người mình muốn, được nói điều mình nghĩ, được sống đúng cá tính, được đi ra thế giới, được tiếp cận thông tin đa chiều, được ít bị áp đặt. Khác với thế hệ trước, giới trẻ ngày nay lớn lên cùng Internet, xem YouTube, TikTok, Netflix, tiếp xúc với văn hóa toàn cầu, thấy cách sống ở Nhật, Hàn, Mỹ, châu Âu. Từ đó, tự tìm một con đường riêng cho chính mình!
Nhiều người trẻ hôm nay không dùng ngôn ngữ chính trị cũ. Họ ít nói:“đấu tranh cách mạng”, “ý thức hệ”, “ba dòng thác cách mạng”, hay “chủ nghĩa xã hội”. Nhưng họ lại sống theo tinh thần tự do nhiều hơn thế hệ trước, muốn tự quyết đời mình, không thích bị áp đặt, muốn bình đẳng giới, muốn được tôn trọng khác biệt, muốn tiếp cận thế giới, muốn được nói thật trên mạng xã hội. Một điều rất quan trọng là mạng lưới toàn cầu đã làm người trẻ Việt Nam thấy rằng có nhiều cách sống khác nhau. Họ nhìn thấy: xã hội mở ở Bắc Âu, kỷ luật ở Nhật, sáng tạo ở Mỹ, dân chủ ở Đài Loan, phát triển công nghệ nhảy vọt vượt bực ở Hàn Quốc. Điều đó khiến khái niệm tự do trở nên gần gũi và thực tế hơn.
Tuy nhiên, phần lớn với tỷ lệ rất cao, giới trẻ hiện nay không muốn đối đầu trực diện với hệ thống. Từ đó, khái niệm “tự do” của họ mang tính cá nhân và đời sống nhiều hơn là cách mạng chính trị. Vì sao? Vì họ nghĩ và họ thấy việc dấn thân chính trị có nhiều rủi ro, thấy tiếng nói cá nhân khó thay đổi hệ thống, và nhứt là, ưu tiên của họ nhắm vào việc xây dựng đời sống riêng. Một số chọn đi ra nước ngoài học tập, làm việc cho một công ty quốc tế, sống “tự do bên trong” thay vì đối đầu công khai.
1- Tuổi trẻ thay đổi nhanh hơn hệ thống quản lý đất nước
Tuổi trẻ hôm nay muốn được nói thẳng, được phản biện, được chọn lối sống riêng, được làm việc trong môi trường minh bạch, được đánh giá bằng năng lực hơn là quan hệ “có biết tao là ai không?”. Khoảng cách bắt đầu xuất hiện khi xã hội thay đổi nhanh hơn tốc độ thích nghi của hệ thống chính trị. Điều này tạo ra cảm giác ngột ngạt, bất lực, hoặc “không gian quá chật” ở một bộ phận giới trẻ mỗi khi cần giao tiếp với “chính quyền”.
Hai chữ “tự do” hôm nay có ý nghĩa rất lớn đối với tuổi trẻ.Và có lẽ ý nghĩa của nó đang thay đổi sâu sắc. Ngày trước, “tự do” thường gắn với chiến tranh ý thức hệ, việc chống cộng hay chống tư bản. Ngày nay, với nhiều người Việt, tự do trở thành quyền làm người bình thường, quyền sống không sợ hãi, quyền được tôn trọng phẩm giá, quyền nói thật mà không bị trừng phạt, quyền lựa chọn tương lai cho chính mình.
2- Con đường nào cho khát vọng tự do của tuổi trẻ
Lịch sử cho thấy tự do bền vững không thể chỉ được xây dựng bằng phẫn nộ hay phá hủy. Một xã hội tự do cần phải có người dân có dân trí cao, pháp quyền mạnh, tinh thần đối thoại, và văn hóa tôn trọng sự khác biệt. Do đó, điều tuổi trẻ Việt Nam cần có lẽ không chỉ là phản kháng, mà còn là học hỏi, nâng cao năng lực, rèn luyện suy nghĩ phản biện, giữ sự trung thực, bảo vệ sự thật, và xây dựng một xã hội tử tế hơn từ trong chính đời sống hằng ngày.
Nhìn vào Việt Nam hiện tại, câu hỏi của tuổi trẻ hôm nay sẽ là:” Việt Nam tự do có phải là điều không tưởng không?” Không hẳn. Nhưng vấn đề nằm ở chữ:“ Tự do theo cách nào?” Nếu tự do đồng nghĩa với hỗn loạn, trả thù, sụp đổ toàn bộ hệ thống, hay cực đoan ý thức hệ, thì tuổi trẻ sẽ sợ và sẽ tự “cách ly” với xã hội. Nhưng nếu tự do được hiểu là pháp luật công bằng hơn, người dân được tôn trọng hơn, chính quyền minh bạch hơn, báo chí trung thực hơn, quyền con người được mở rộng hơn, dân có tiếng nói hơn, thì rất nhiều người Việt và tuổi trẻ, kể cả một số đông trong bộ máy cầm quyền hiện tại, có lẽ cũng mong điều đó.
Vì vậy, “tự do” trong tâm trí tuổi trẻ hôm nay không còn chỉ là khẩu hiệu chính trị nữa. Nó đang trở thành một nhu cầu được sống thật, được tôn trọng, được nói mà không sợ, được làm người công dân chứ không chỉ là thần dân hay ngu dân! Và có lẽ điều quan trọng nhất là, khát vọng tự do ở Việt Nam hiện nay không chết. Nó đang chuyển từ tiếng hô khẩu hiệu từ bên ngoài đường phố sang những suy nghĩ âm thầm trong lòng xã hội. Và bao giờ khát vọng tự do đó trở thành hiện thực? Không ai có thể biết chính xác “bao giờ”, nhưng lịch sử cho thấy một điều:
Không có khát vọng tự do nào tồn tại lâu dài trong lòng xã hội mà hoàn toàn không để lại dấu vết trên tương lai của đất nước. Vấn đề không chỉ là thời gian. Mà là xã hội đã sẵn sàng chưa, tầng lớp lãnh đạo có đủ tự tin để mở ra không, người dân có đủ trưởng thành để sử dụng tự do không, thế giới chung quanh có tạo áp lực hay cơ hội hay không, và nhứt là tuổi trẻ đã sẵn sàng biến khát vọng tự do thành hiện thực chưa?
Tóm lại, và có lẽ, câu hỏi lớn của tương lai Việt Nam không còn là:“Có tự do hay không?” mà là:“Việt Nam có thể mở rộng tự do đến đâu mà vẫn giữ được ổn định và phát triển?”
2.1- Có những người mơ về tự do chính trị
Có thể nói, hầu hết trí thức, những nhà hoạt động chính trị, luật sư, blogger, cựu đảng viên, sinh viên… vẫn nghĩ đến quyền tự do ngôn luận thật sự, báo chí độc lập, tam quyền phân lập, bầu cử tự do cạnh tranh, xã hội dân sự độc lập, pháp quyền không lệ thuộc một đảng phái nào cả. Cũng như họ tin rằng một dân tộc muốn phát triển bền vững phải có quyền nói thật và quyền kiểm soát quyền lực.
Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, nhiều người từng mang lý tưởng ấy, từ các phong trào dân chủ trước 1975 ở miền Nam, cho đến các tiếng nói phản biện ngày nay. Nhưng tại Việt Nam hiện nay, không gian cho loại tự do chính trị này vẫn còn giới hạn, nên nhiều tiếng nói tự do…còn tồn tại trong âm thầm hoặc phân tán mỏng!
2.2- Có những người chỉ mong một đời sống “dễ thở hơn”
Đây có lẽ là số đông. Họ không nghĩ nhiều đến cách mạng hay thay đổi chế độ. Họ chỉ mong luật pháp công bằng hơn, ít tham nhũng hơn, bớt hà khắc hơn, công an bớt lạm quyền, môi trường sạch hơn, báo chí được nói thật hơn, người dân ít sợ hơn khi phát biểu ý kiến. Đối với họ, “tự do” rất đời thường như hơi thở, như được sống tử tế, được làm người lương thiện mà không bị chèn ép, được nói sự thật mà không gặp rắc rối.
Đây là khát vọng âm thầm nhưng rất rộng trong xã hội hiện nay.
2.3- Đảng nghĩ và hiểu “Tự do” như thế nào?
Đảng có nghĩ, nhưng nghĩ theo một cách rất khác. Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn và nghĩ về tự do qua lăng kính ổn định, an ninh, phát triển kinh tế và sự tồn tại của hệ thống, tức là Đảng phải “vĩnh cửu”. Nỗi lo lớn nhất của nhà nước là hỗn loạn như thời hậu Liên sô, “cách mạng màu”, cách mạng dù ở Hong Kong, xung đột xã hội, hay mất kiểm soát chính trị. Do đó, nhà nước thường chấp nhận mở cửa kinh tế, mở rộng tiêu dùng, hội nhập quốc tế, nhưng vẫn kiểm soát chặt các tổ chức chính trị, truyền thông, và không gian phản biện.
Vì vậy, Việt Nam hiện nay tồn tại một nghịch lý là xã hội ngày càng hiện đại hơn, nhưng không gian chính trị mở ra chậm hơn nhu cầu cấp thiết của xã hội hiện tại.
Về mặt chính thức, Đảng Cộng sản Việt Nam không phủ nhận tự do. Ngược lại, trong Hiến pháp và các văn kiện chính trị, nhà nước luôn “ghi nhận” các quyền tự do cơ bản như:tự do tín ngưỡng, tự do kinh doanh, tự do học tập, tự do đi lại, tự do ngôn luận “theo quy định của pháp luật” (nhưng còn việc tuân thủ hay thi hành các văn bản quy định trong Hiến pháp là một việc khác!). Nhưng điểm quan trọng nằm ở chỗ “tự do” trong cách “hiểu” của nhà nước Việt Nam không phải là quyền tuyệt đối của cá nhân, mà là quyền nằm trong khuôn khổ ổn định chính trị do nhu cầu của Đảng và sự lãnh đạo của Đảng. Nói cách khác, hệ thống hiện nay đặt ưu tiên vào việc ổn định xã hội, an ninh chế độ, đoàn kết quốc gia, phát triển kinh tế. Vì vậy, nhà nước thường xem tự do chính trị đa nguyên, báo chí độc lập, đối lập công khai, hay quyền biểu tình tự phát là những yếu tố có thể dẫn đến bất ổn hoặc bị “kẻ xấu” …lợi dụng.
Đó là lý do vì sao tại Việt Nam hiện nay, người dân có thể khá tự do trong tiêu dùng, kinh doanh, du lịch, học hành, nhưng tự do chính trị và tự do biểu đạt vẫn còn nhiều giới hạn dưới cặp mắt của Đảng.
Có thể gọi đây là mô hình: “mở về kinh tế nhưng kiểm soát về chính trị.”
2.4- Có phải sức “ì” của Đảng làm chậm đi khát vọng tự do của tuổi trẻ chăng?
Có thể nói rằng “sức ì” của hệ thống hiện nay là một trong những yếu tố làm tiến trình mở rộng tự do ở Việt Nam diễn ra chậm hơn so với nhu cầu của xã hội, đặc biệt đối với giới trẻ. Nhưng vấn đề không hoàn toàn đơn giản theo kiểu:“Đảng muốn cản tự do, còn tuổi trẻ muốn tự do.” Thực tế phức tạp hơn nhiều. “Sức ì” của một hệ thống lâu năm là có thật. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước nhiều thập niên, đi qua chiến tranh, khủng hoảng, cấm vận, và phát triển kinh tế. Một hệ thống tồn tại lâu như vậy thường hình thành một bộ máy hành chính lớn, văn hóa kiểm soát, tâm lý sợ rủi ro, và thói quen ưu tiên ổn định hơn thay đổi. Do đó, nhiều cải cách về pháp lý, giáo dục, báo chí, xã hội dân sự, quyền công dân thường tiến triển rất chậm. Không hẳn vì mọi người trong hệ thống đều chống tự do, mà vì bộ máy lớn và cằn cỗi thường sợ mất kiểm soát khi thay đổi quá nhanh. Đó là quy luật gần như phổ biến ở mọi chế độ chính trị độc đảng lâu đời.
3- Điều đang thay đổi âm thầm ở Việt Nam
Ngày nay: người dân tiếp cận thông tin toàn cầu, giới trẻ học ở nước ngoài nhiều hơn, mạng lưới toàn cầu phá vỡ độc quyền thông tin, doanh nghiệp cần luật pháp minh bạch, xã hội dân sự dù hạn chế vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức.
Ngay cả trong bộ máy nhà nước cũng có thể tồn tại những người hiểu rằng, một xã hội sáng tạo cần không gian tự do hơn, khoa học cần phản biện, kinh tế hiện đại cần pháp quyền, và một quốc gia mạnh không thể chỉ dựa trên kiểm soát và độc đoán. Những thay đổi ấy thường không ồn ào, nhưng vì tích tụ lâu dài, cho nên sự tiến triển hết sức… tiệm tiến.
Đối với Đảng cộng sản Việt, những lực cản trên rất lớn. Từ đó, khát vọng tự do tại Việt Nam hiện nay vẫn đối diện nhiều nỗi sợ như sợ hỗn loạn, sợ mất ổn định, sợ xung đột như một số nước khác, sợ bị ngoại lực thao túng, sợ trả thù ý thức hệ. Ngoài ra còn có lợi ích của bộ máy quyền lực, lợi ích nhóm, tâm lý quen phục tùng, văn hóa “im lặng để yên thân”, và sự phân hóa trong xã hội.
Cho nên tiến trình thay đổi của Việt Nam hiện tại rất chậm.
4- Từ khát vọng tự do đến tự do thật sự bắt đầu từ đâu? Bao giờ thành hiện thực?
Có lẽ không phải bắt đầu từ thể chế chính trị độc đảng trước tiên, mà có thể bắt đầu khi người dân dám nghĩ độc lập, biết tôn trọng sự khác biệt, biết tranh luận mà không hủy diệt nhau, biết đặt sự thật cao hơn tuyên truyền, và biết xem người có quan điểm khác vẫn là đồng bào. Nếu một xã hội chưa học được điều đó, thì dù thay đổi chế độ, tự do cũng khó bền vững. Nhiều quốc gia đã thay chính quyền nhiều lần, nhưng vẫn rơi vào độc tài mới, dân túy, hay hỗn loạn kéo dài.
Có thể không đến bằng một ngày “bùng nổ”hay “đổi đời”, mà đến khi cường quyền hiểu rằng mở cổng tự do không đồng nghĩa với sụp đổ của độc đảng, mà người dân hiểu rằng tự do đi kèm trách nhiệm, và cả hai phía không còn xem nhau như kẻ thù. Khi đó, tự do sẽ không còn là khẩu hiệu, mà trở thành cung cách xã hội vận hành, cách pháp luật bảo vệ con người, cách người dân đối xử với nhau.
5- Thay lời kết
Xin trích một đoạn trong bài viết của tác giả Song Chi:”… Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH. Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách, báo, truyện, nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím… chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch – ta, lý thuyết cách mạng nọ kia…
Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông – Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…
Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua.
Xã hội Việt Nam bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng.”
Tại sao Việt Nam hiện tại không làm được như Việt Nam Cộng hòa trong suốt 20 năm chiến tranh Quốc – Cộng tàn khốc, 1955 – 1975?
Vì vậy,
Khát vọng tự do ở Việt Nam hiện nay giống như nước ngầm dưới lòng đất, không phải lúc nào cũng nhìn thấy, đôi khi tưởng đã biến mất, nhưng vẫn âm thầm chảy. Một ngày nào đó, nó có thể trở thành một dòng sông lớn. Nhưng điều quyết định không chỉ là áp lực từ trên hay từ dưới, mà là người Việt có học được cách sống tự do mà không hận thù, không cực đoan và không tự hủy lẫn nhau. Và nguy cơ lớn nhất không phải là sự đối kháng mà là làm mất niềm tin.
Tuổi trẻ hiện nay không còn quá tha thiết với ý thức hệ. Điều họ quan tâm nhiều hơn là: cơ hội công bằng, môi trường sống, phẩm giá cá nhân, và tương lai. Nếu họ cảm thấy tiếng nói của mình vô nghĩa, luật pháp thiếu công bằng, tài năng không được trọng dụng, phản biện bị xem là nguy hiểm, thì điều dễ xảy ra nhất không phải nổi dậy, mà là thờ ơ, rút lui, hoặc rời khỏi đất nước. Đây mới là điều đáng suy nghĩ cho tương lai Việt Nam.
Làm sao để có thể dung hòa giữa khát vọng tự do của tuổi trẻ và việc gìn giữ sự ổn định thể chế của Đảng?
Có lẽ đây là bài toán lớn nhất của Việt Nam trong vài thập niên tới, nghĩa là làm sao mở rộng tự do mà không rơi vào hỗn loạn? Làm sao giữ ổn định mà không bóp nghẹt sức sống xã hội? Nếu hệ thống không thay đổi đủ nhanh, nó có thể tụt lại sau xã hội. Nhưng nếu xã hội thay đổi quá cực đoan, nó cũng có thể tạo ra đổ vỡ lớn. Do đó, điều quan trọng có lẽ không phải: “ai thắng ai”, mà là: “Việt Nam có xây dựng được lòng tin giữa nhà nước và tuổi trẻ hay không?”
Có thể nói: sức ì của hệ thống đang làm chậm phần nào khát vọng tự do của tuổi trẻ Việt Nam. Nhưng đồng thời, tuổi trẻ Việt Nam cũng đang thay đổi xã hội theo cách âm thầm qua giáo dục, công nghệ, tư duy toàn cầu, tinh thần cá nhân, và nhu cầu sống thật hơn. Cuộc chuyển động ấy có thể chậm, nhưng rất khó đảo ngược. Vì một khi tuổi trẻ đã quen suy nghĩ bằng chính đầu óc của mình, thì khát vọng tự do sẽ luôn tồn tại, dù không phải lúc nào cũng được nói thành lời.
Khát vọng tự do của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay có thể không còn mang hình ảnh của những cuộc xuống đường ồn ào hay những khẩu hiệu đầy đối kháng cực đoan như trong quá khứ. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó yếu đi. Ngược lại, nó đang trưởng thành hơn, thâm sâu hơn, và thực tế hơn.
Người trẻ Việt Nam hôm nay muốn được sống bằng năng lực thật, được tôn trọng nhân phẩm, được quyền chọn lựa tương lai, được nói lên suy nghĩ của mình và được góp phần xây dựng đất nước bằng trí tuệ thay vì sự phục tùng. Đó chính là một hình thức tự do rất căn bản và rất bền vững. Họ có thể khác nhau về quan điểm chính trị, cách sống hay lựa chọn tương lai, nhưng phần đông đều gặp nhau ở một điểm, mong cho Việt Nam trở thành một đất nước văn minh hơn, công bằng hơn và đáng sống hơn.
Con đường đi tới một xã hội tự do có thể còn dài. Sẽ có những bước tiến chập chững, hay những lùi lại, thậm chí những thất vọng tràn trề. Nhưng lịch sử cho thấy: một dân tộc mà tuổi trẻ còn biết suy nghĩ độc lập, còn biết đặt câu hỏi, còn biết mơ về một xã hội tốt đẹp hơn, thì dân tộc đó chưa bao giờ mất tương lai. Và có lẽ, điều đẹp nhất của khát vọng tự do nơi tuổi trẻ Việt Nam hôm nay là họ không chỉ muốn tự do cho riêng mình, mà còn muốn một Việt Nam mạnh hơn, tử tế hơn, và nhân bản hơn cho cả các thế hệ mai sau.
Có lẽ còn một điều rất quan trọng cần nói thêm là Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay đang đứng giữa hai ngả đường, một bên là di sản của quá khứ với chiến tranh, ý thức hệ, chia rẽ và nỗi sợ bất ổn, và một bên là tương lai của một thế giới mở, nơi hơi men tri thức bừng dậy, tinh thần sáng tạo và phẩm giá con người trở thành sức mạnh thật sự của quốc gia.
Chính vì vậy, khát vọng tự do của thế hệ trẻ Việt Nam không nhất thiết phải mang màu sắc đối đầu. Nó có thể bắt đầu rất giản dị từ việc học cách suy nghĩ độc lập, biết tôn trọng sự thật, dám sống trung thực, biết phản biện mà không hận thù, biết yêu nước mà không cực đoan, và biết đặt lợi ích lâu dài của dân tộc lên trên những chia rẽ quá khứ. Nếu nhìn một cách bình tĩnh và thực tế, có thể nói rằng một phần của bộ máy quản lý hiện nay, do sức ì, tâm lý sợ thay đổi và cơ chế kiểm soát lâu năm, đang làm chậm lại nhu cầu tự do và sáng tạo của tuổi trẻ Việt Nam.
Nhưng câu hỏi quan trọng hơn là tuổi trẻ nên làm gì để thúc đẩy tương lai tự do nhanh hơn mà không đẩy đất nước vào đổ vỡ? Đây mới là bài toán lớn. Nếu tuổi trẻ Việt Nam muốn khát vọng tự do đến gần hơn, thì có lẽ con đường bền vững nhất không phải là phá hủy, cực đoan hay hận thù. Mà là nâng cao dân trí, xây dựng xã hội tử tế, bảo vệ sự thật, học cách đối thoại văn minh, phát triển năng lực cá nhân, và từng bước tạo ra một nền văn hóa tự do từ chính đời sống hằng ngày.
Bởi cuối cùng rồi, một đất nước tự do không thể chỉ được tạo ra bởi vài lãnh tụ hay một biến cố chính trị. Nó phải được tạo ra bởi hàng triệu con người biết suy nghĩ độc lập, sống có trách nhiệm và không còn sợ hãi trước sự thật. Khát vọng tự do của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay có thể không bùng cháy dữ dội như những cuộc cách mạng trong lịch sử. Nhưng nó đang lan rộng âm thầm trong suy nghĩ, trong giáo dục, trong công nghệ và trong cách sống của cả một thế hệ. Có thể tiến trình ấy còn chậm. Có thể sẽ còn nhiều va chạm giữa khát vọng xã hội và sức ì của cơ chế hay hệ thống chính trị. Nhưng lịch sử nhân loại cho thấy, không một xã hội nào có thể mãi đứng yên khi cả một thế hệ trẻ bắt đầu suy nghĩ độc lập và khao khát được sống với phẩm giá của con người tự do.
Và có lẽ, hy vọng lớn nhất của Việt Nam hôm nay nằm ở chỗ thế hệ trẻ không chỉ muốn tự do cho riêng mình, mà còn muốn xây dựng một đất nước tự do hơn, nhân bản hơn và tử tế hơn cho tương lai dân tộc.
Hải quân Thiếu tá Dat Duong là Phụ tá Giám đốc cung cấp và tiếp vận cho Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải (MESG-1), Hải quân Hoa Kỳ tại San Diego, California. Ông được bổ nhiệm giữ vị trí này từ tháng 3 năm 2022. Với hơn 11 năm kinh nghiệm, chuyên về quản lý cung cấp và tiếp liệu, vận hành cơ sở vật chất và lập kế hoạch tài chánh. Ông chỉ huy một đội ngũ năng động gồm 70 nhân viên để bảo đảm các chức năng hỗ trợ vật tư và bảo trì diễn ra suôn sẻ. Đam mê sự xuất sắc trong hoạt động, ông hướng đến việc trao quyền cho các nhân viên đơn vị điều chỉnh các chiến lược tiếp liệu phù hợp với mục tiêu của tổ chức, thúc đẩy hiệu quả và đổi mới nhằm hỗ trợ thành công nhiệm vụ. Bộ phận cung cấp và tiếp vận của Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải hoạt động dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến đấu viễn chinh Hải quân (NECC). Các chuyên viên tiếp vận của MESG-1 là Sĩ quan và nhân viên tiếp liệu thuộc ngành tiếp vận Hải quân (Navy Supply Corps) hỗ trợ các Hải đội tiền tuyến, thực hiện các hoạt động trên khắp khu vực ven biển, nội địa và vùng duyên hải.
Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải là đơn vị phụ trách các Hải đội an ninh hàng hải viễn chinh (MSRON) bờ biển phía tây thuộc Bộ Tư lệnh tác chiến viễn chinh Hải quân Hoa Kỳ (NECC). Liên đoàn 1 chịu trách nhiệm chỉ huy, kiểm soát, huấn luyện và trang bị cho Hải đội 1 an ninh hàng hải viễn chinh thường trực (MSRON 1), Hải đội 11, trừ bị (MSRON 11) và Hải đội 3 (MSRON 3) trừ bị của Lực lượng An ninh Hàng hải Viễn chinh (MESF). Lực lượng An ninh Hàng hải Viễn chinh hoạt động trên đất liền, trên biển và vùng nước cạn các hải cảng, sông, vịnh và dọc theo bờ biển. Trọng tâm chính của Lực lượng An ninh Hàng hải Viễn chinh là tiến hành các hoạt động an ninh hàng hải trong tất cả các giai đoạn hoạt động quân sự bằng cách cung cấp an ninh hải cảng, bến tàu, và bảo vệ tài sản có giá trị cao ở nội địa, trên các tuyến đường thủy ven biển và trên đất liền. HQ Trung tá (gốc Việt) Quan Đoan từng là Tham mưu trưởng kiêm Quyền Chỉ huy phó Liên đoàn 1 an ninh hàng hải viễn chinh từ 1 tháng 10 năm 2019 đến 3 năm 2026.
Hải quân Thiếu tá Dat Duong tốt nghiệp văn bằng Cử nhân khoa học, kỹ thuật cơ khí, Trường đại học Temple University, năm 2011. Nhiệm vụ đầu tiên trong hải nghiệp, HQ Thiếu uý Dat Duong được chỉ định phục vụ trên Tuần dương hạm USS Lake Erie (CG-70), ông là sĩ quan ngành tiếp vận Hải quân (Supply Corps officers), chịu trách nhiệm quản lý tài chánh, hoạt động bán lẻ và tiền lương của của chiến hạm. Ông tường trình cho vị Sĩ quan chỉ huy tiếp vận và giám sát, đóng vai trò quan trọng trong tinh thần thủy thủ đoàn và sự sẵn sàng về tiếp liệu. Ông phục vụ chiến hạm từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 5 năm 2016.
Tháng 6 năm 2016, HQ Trung uý Dat Duong thực tập quản lý vận hành tiếp liệu, quản lý nhiên liệu tại Yokosuka, Kanagawa, Nhật Bản. Ông chỉ huy bộ phận nhiên liệu khu vực đồng bằng Kanto với đội ngũ 158 nhân viên và 2 địa điểm cung cấp vụ nhiên liệu quốc phòng, chịu trách nhiệm quản lý 85 triệu gallon nhiên liệu dự trữ và bảo đảm việc cung cấp liên tục các sản phẩm nhiên liệu số lượng lớn trong toàn bộ khu vực hoạt động của Đệ thất Hạm đội đến tháng 5 năm 2018.
Từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019, HQ Đại uý Dạt Dương được chỉ định làm Sĩ quan chuyên viên nhiên liệu tại lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh quốc, giám sát hoạt động nhiên liệu phức tạp và đòi hỏi kỹ thuật cao tại một địa điểm khắc nghiệt và xa xôi, quản lý 60 triệu gallon sản phẩm dầu mỏ, điều hành và phối hợp việc kiểm tra, bảo trì và sửa chữa, đồng thời giám sát 55 dự án cơ sở hạ tầng trị giá 102 triệu đô la.
Từ tháng 7 năm 2019, HQ Đại uý Dạt Dương được chỉ định làm Sĩ quan tiếp liệu chiến hạm đổ bộ USS Harpers Ferry (LSD-49) tại San Diego, California. Ông chỉ huy bộ phận tiếp vận, quản lý tiếp liệu, quản lý phục vụ ẩm thực và các hoạt động phục vụ chiến hạm đến tháng 2 năm 2022. Hiện nay, HQ Thiếu tá Dat Duong giữ vị trí Phụ tá Giám đốc cung cấp và tiếp vận cho Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải (MESG-1) tại San Diego, California.
HQ Thiếu tá Dat Duong là 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẩu hạm USS John C. Stennis (CVN 74); HQ Thiếu tá Loi Huynh, Sĩ quan chương trình hiện đại hóa C5ISR, Lực lượng Hải quân mặt nước Đại Tây Dương; HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao; Hải Quân Thiếu tá Hien Q. Vu, cố vấn Chương trình Sĩ quan trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến mặt nước; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan tác chiến mặt nước (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều nam, nữ HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Năm 2025 có 33 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá và 12 HQ Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá.
Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Dat Duong/Dat T. Duong/Dat Tan Duong/họ và tên Việt Dương Tấn Đạt
Nguồn: mynavyhr.navy.mi; linkedin.com; bienxua-21 Hải Quân Đại Úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu Tá năm 2021
Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben
Dịch giả: Cô Liêu
Post by Sơn râu 2 Jun 2026
Binding nói qua cửa:
– Anh cứ coi như ở nhà anh, muốn lấy gì thì lấy.
– Cám ơn anh.
Graber khoan khoái nằm dài ra trong buồng tắm. Đồ quân phục để trên chiếc ghế, quần áo xám với vớ xanh đầy vết bẩn. Trên thành cửa bộ com lê của Renter cho mượn đang đợi y lột xác biến thành con người khác.
Phòng tắm rộng rãi, lót đá xanh, choáng lộn dụng cụ mạ kền – một thiên đường so với phòng tắm hồi hám ở trại lính. Xà bông từ Ba Lê gởi sang, khăn mặt xếp từng chồng trắng tinh, nước nóng xài tùy thích. Còn có cả một chai dầu thơm đúc thành viên như ngọc bích.
Graber ngồi an hưởng cái điệu đàng tỏa thành hơi bóng chung quanh mình. Y đã hiểu rằng sự thỏa mãn giản dị nhất là sự thỏa mãn làm mình ít thất vọng nhất – hơi ấm áp, nước, mái nhà, bánh mì, yên tĩnh và tin tưởng ở chính thân thể mình. Y giơ tay ra đẩy cái ghế đựng bộ quân phục và dốc vào tay một nắm hạt dẫu thơm. Một nắm xa hoa và an bình, cũng như cái khăn bàn tinh tươm của lữ quán Germania, rượu và các món ăn đã thưởng thức với Elisabeth.
Tắm xong y lau mình và mặc quần áo một cách vội vàng. Bộ đồ dân sự sao mà nhẹ nhàng thế so với quân phục bằng len nặng trình trịch! Y có cảm tưởng như mình mặc sơ mi quần đùi vì không phải đeo dây lưng, mang ủng và khí giới Nhìn vào gương thấy mình lạ hẳn, khó nhận ra. Một gã thiếu niên lớn mau quá đang ngạc nhiên nhìn y.
***
Binding bảo :
– Nom anh như cậu thanh niên mới làm thánh lễ lần thứ nhất. Không còn là lính nữa! Có chuyện gì thế? Lấy vợ à?
– Vâng, lấy vợ thật, nom thì biết.
Binding cười vang lên.
– Nom anh không còn giống con chó tìm không thấy lóng xương. Lấy vợ thật đây à?
– Thật chứ.
– Trời đất ơi! Anh đã suy nghĩ kỹ chưa.
– Không suy nghĩ gì cả.
Binding nhìn y, không hiểu, Graber nói :
– Đã lâu nay tôi không có thời giờ suy nghĩ gì cả.
Binding cười gằn rồi ngẩng đầu lên hít ầm ĩ.
– Hử!
Binding lại hít nữa:
– Gì mà thơm lùm trời đất thế này? Anh bỏ dầu thơm vào nước chứ gì! Thơm bằng hai mươi cô điếm.
Graber ngửi tay mình
– Sao tôi ngửi không thấy gì cả.
– Anh thì không, nhưng tôi thấy! Thứ này kín đáo lắm: mới đầu không thấy gì cả nhưng thình lình mình hóa ra một giỏ hoa. Người ta mang từ Ba Lê về cho tôi đây. Cái họa này phải lấy cô-nhắc mới trị nổi.
Binding đi kiếm một chai rượu và hai cái ly
– Mừng anh! Anh lấy vợ à? Thành thật mừng anh! Còn tôi, tôi sống độc thân. Tôi có quen biết người vợ tương lai của anh không?
– Không.
Graber uống cạn ly. Y bực mình vì đã nói chuyện riêng của mình. Binding đã chất vấn y trong lúc y chưa kịp phòng bị.
– Một ly nữa? Không phải ngày nào người ta cũng lấy vợ!
Graber đặt ly xuống, y ra vẻ cảm động.
– Nếu anh cần gì, xin anh nhớ rằng anh vẫn có thể đến kiếm tôi.
– Tại sao tôi lại cần gì? Lấy vợ thì giản dị lắm chứ, có gì khó khăn!
– Đối với anh thì thế thật. Anh là lính, anh có đủ giấy tờ.
– Giá thú thời chiến tranh, thể thức cũng giản dị hóa.
– Tôi chắc chị ấy cũng cần giấy tờ thường lệ. Để rồi coi. Nếu công việc rắc rối lâu ngày, tôi vẫn có thể thúc đay cho chạy nhanh hơn. Tôi có nhiều bạn cảnh sát mật vụ.
– Cảnh sát mật vụ à? Họ làm gì mà dúng mũi vào hôn nhân của người ta?
Binding cười ra vẻ biết hơn người.
– Bây giờ không có gì thoát khỏi tay cảnh sát mật vụ! Anh là lính anh cho là không đáng quan tâm. Vả chăng anh cũng chẳng bận tâm làm gì. Anh hẳn không có ý lấy một cô gái Do Thái thù hay nghịch với nhà nước. Nhưng dẫu sao cũng điều tra cho biết. Cho hợp lệ thôi.
Graber không trả lời. Thực ra y thắc mắc lắm. Một cuộc điều tra sẽ bại lộ cha Elisabeth ở trại tập trung. Thật y chưa hề nghĩ tới.
– Những lời anh nói có thực không?
Binding lại rót đầy ly rượu.
– Cũng gần như thế. Nhưng anh không có gì đáng lo. Anh không định làm hoen ố dòng máu Aryens của anh với một cô gái chủng tộc kém hèn hay thù nghịch tổ quốc ta chứ?
Anh lại cười gằn :
– Không sao! Bộ anh nóng ruột hưởng thú phòng the lắm sao?
– Nóng ruột chứ!
– Mừng anh! Mới mấy ngày nay, tôi giới thiệu anh với nhân viên cảnh sát mật vụ. Nếu có gì trục trặc họ sẽ giúp một tay. Lũ quỷ ấy thiêng lắm, nhất là anh Riese, cha ôm ốm đeo kính ấy.
Graber nhìn mũi đôi giày màu vàng của mình. Sáng nay Elisabeth đến tòa thị chính xin giấy tờ. Nàng đã yêu cầu làm gấp cho. Y nghĩ: “Ta đã đi con đường thẳng, người ta đã để cho yên, nhưng bây giờ nếu mình làm cho nhà cầm quyền ấy để ý thì thật là điên rồ! Người xưa nói rất chí lý rằng lúc nguy hiểm phải giả bộ chết. Người công chức thứ nhất mà biết chuyện có thể bắt nàng đi trại tập trung, vì cha nàng đã ở trại tập trung”.
Tay y vã mồ hôi đầm đìa. “Thí dụ người ta hỏi mụ Lieser mà thu thập những lời khai về nàng?”
Graber đứng dậy.
– Cái gì thế? Ủa! Anh chưa cạn ly. Hạnh phúc làm người ta lơ đễnh.
Anh ta pha trò rồi cười lớn. Bỗng dưng Graber nhìn anh ta với con mắt khác. Vài phút trước đây y chỉ thấy anh ta là người bạn cũ đầy thiện chí mà vì thành công dễ dàng quá nên đã bị thiên lệch; bỗng dưng anh ta trở thành tay sai của một quyền lực mù quáng ghê gớm.
– Mừng anh! Uống ly nữa đi. Đây là cô-nhắc Nã Phá Luân.
– Mừng anh!
Graber đặt ly xuống:
– Anh Alfons! Anh có thể giúp tôi một việc không? Cho tôi hai ký đường đựng vào hai gói.
– Đường miếng hay là đường bột?
– Gì cũng được, miễn là đường.
– Anh lấy bao nhiêu thì lấy, nhưng để làm gì? Đời anh như thế không đủ ngọt rồi à?
– Để mua chuộc một người.
– Mua chuộc à! Mua chuộc làm gì? Ở đời nay đe dọa họ dễ ăn hơn mà hiệu lực hơn. Để đây tôi trị cho.
– Không cần. Mấy lại cũng không hẳn là mua chuộc. Để đền ơn một người tôi nhờ vả.
– Tùy anh. Nhưng anh làm lễ cưới ở đây nhé. Tôi là nhân chứng tốt nhất!
Mười lăm phút trước có lẽ y tìm cách từ chối. Nhưng bây giờ thì không dám.
– Tôi không muốn vẽ vời làm cái gì phiền phức cả.
– Thì anh cứ để tôi lo. Tối nay anh ngủ đây đi. Chắc anh không muốn mặc quân phục trở về trại. Để tôi cho anh chìa khóa.
Graber ngập ngừng một chút.
– Đồng ý.
Binding vui vẻ quá chừng.
– Anh nghĩ thế là hay lắm. Chúng ta sẽ có dịp ngồi tán chuyện. Lần thứ nhất chúng ta tâm sự với nhau. Anh sang đây tôi chỉ cho anh xem phòng ngủ của tôi.
Anh ta thu nhặt đồ quân phục của Graber. Mắt anh ta đụng phải mấy chiếc huy chương.
– Anh cũng phải kể cho tôi nghe anh được huy chương thế nào. Chắc anh cũng là tay chịu chơi ngoài mặt trận?
Graber nhìn lên. Y bắt gặp mặt Binding ánh lên một thứ hiếu kỳ độc ác như hôm Heini khoe khoang những kỷ niệm mật vụ của hắn.
– Không có gì đặc biệt cả, sống lâu lên lão làng, thế thôi.
***
Mụ Lieser thấy Graber ăn mặc dân sự thì mãi mới nhận ra.
– À ông! Cô Elisabeth không có nhà vào giờ này, hẳn ông cũng biết.
– Vâng, tôi biết.
– Thế sao còn đến!
Mụ nhìn y với cặp mắt soi mói. Trên khăn choàng chói lọi một chiếc phù hiệu chữ vạn. Mụ cầm trong tay cái chổi như cầm cây đao.
– Tôi mang cho cô Elisabeth một gói đồ, nhờ bà làm ơn để vào buồng cổ.
Mụ lưỡng lự một chút rồi cầm lấy gói đồ.
– Đây còn gói nữa. Cô Elisabeth cho tôi biết bà có công với việc ích chung. Đây là số đường của tôi mà tôi không biết làm gì. Vì bà cũng có em nhỏ nên tôi mang đến cho em nhỏ.
Mụ Lieser để lộ một kiểu nét mặt phải có lúc công khai :
– Chúng tôi không cần chợ đen. Chúng tôi hãnh diện mà chỉ nhận những thứ của Quốc trưởng ban cho.
– Em nhỏ này cũng thế à?
– Cũng thế.
– Như vậy là thẳng thắn, là ý thức công dân nếu mọi người đều như bà cả thì người lính sẽ dốc lòng đánh giặc. Nhưng đường này không phải đường chợ đen. Đây là tặng phẩm của Quốc trưởng cho lính nghỉ phép để mang về cho gia đình. Cha mẹ tôi mất tích không tìm thấy. Như vậy bà có thể nhận mà không phải thắc mắc.
Mặt mụ dần dần dịu lại:
– Ông ở mặt trận về à.
– Vâng.
– Ở mặt trận Nga?
– Mặt trận Nga.
– Chồng tôi cũng ở bên Nga.
Graber giả bộ săn sóc đến mụ.
– Ông nhà ở khu nào?
– Khu trung ương.
– May quá. Lúc này không có hành quân, được nghỉ ngơi.
– Nghỉ à? Không làm gì có nghỉ ngơi. Cánh quân trung ương đánh xung kích mạnh, chồng tôi đi tiền đạo.
Graber nghĩ thầm: “Tiền đạo! Làm như vẫn còn tiền tuyến!” Y những muốn nói cho mụ hiểu sự thật về những bài diễn văn chính thức và những tiếng ái quốc rất kêu. Nhưng y không nói. Y chỉ bảo mụ:
– Mong rằng ông nhà sớm được về nghỉ phép.
– Đến lượt thì nghỉ. Chúng tôi không muốn giành ưu tiên.
Graber đã thấy tức điên lên cổ.
– Tôi không có ưu tiên ưu thứ gì cả. Hai năm nay tôi mới được nghỉ.
– Suốt thời gian ấy ông ở mặt trận?
– Ở luôn mặt trận trừ khi bị thương.
Graber nhìn người đàn bà cuồng tín: “Việc gì phải phân bua với mụ? Tốt hơn hết là cho một phát súng vào bụng. – Hẳn là chồng mụ ta cũng là lính mật vụ – hẳn là chồng mụ ta cũng bắn chết nhiều dân Nga để chiếm đất sống cho dân tộc Đức”.
Đứa con mụ Lieser ở trong phòng ra. Một đứa con gái yếu đuối, tóc nhợt nhạt.
Mụ Lieser hỏi y.
– Hôm nay ông có việc gì mà ăn mặc dân sự.
– Vì quân phục mang đi nhuộm.
– À ra thế, tôi cứ tưởng…
Graber không hiểu mụ tưởng cái gì. Bỗng dưng mụ nhe răng ra cười làm y sởn gai góc.
– Được rồi. Tôi sẽ cho con bé nhà tôi ăn chỗ đường này.
Mụ mang hai gói đường vào và Graber để ý thấy mụ ước lượng xem gói nào nặng hơn. Y chắc chắn rằng mụ sẽ mở gói của Elisabeth ra coi khi y đi khỏi, vả chăng y cũng muốn thế. Mụ sẽ ngạc nhiên mà thấy là đường thật.
– Thôi chào bà.
– Hitler muôn năm!
Mụ nhìn Graber vẻ mặt nghiêm nghị. Y vội nói:
– Hitler muôn năm!
Khi ra ngoài phố, y gặp trưởng phố, một người bé nhỏ mặc đồng phục cảnh sát mật vụ, ủng và giày bóng lộn, cái ngực như ngực gà trống trên cái bụng nở. Graber nghĩ thầm: “Anh chàng thô bỉ này có thể nguy hiểm cho mình” Y hỏi trước:
– Hôm nay trời đẹp quá há?
Y lấy một gói thuốc lá ra mời, lão ậm ự cảm ơn rồi lấy thuốc hút.
– Giải ngũ?
Lão nhìn bộ áo dân sự của Graber mà hỏi vậy.
Graber lắc đầu. Y tự hỏi có nên nói gì đến chuyện Elisabeth không, nhưng rồi không nói gì cả. Tốt hơn hết là đừng nên làm cho ai để ý đến nàng.
– Một tuần nữa tôi lại ra trận, đây là lần thứ tư.
Lão gật gù ra vẻ lạnh lùng. Lão lấy điếu thuốc ở miệng ra nhìn với bộ mặt khinh rẻ và nhổ mấy sợi thuốc vướng trong miệng.
– Thuốc dở lắm à?
– Ngon, ngon chứ, nhưng tôi quen hút xì gà.
– Bây giờ xì gà khó kiếm.
– Có lẽ thế thật.
– Tôi có người bạn còn giữ được vài hộp. Lần sau gặp tôi phải xin vài điếu. Xì gà rất ngon.
– Đồ nhập cảng à?
– Hẳn thế. Tôi không biết gì về xì gà cả. Điếu nào cũng có một cái vòng vàng.
– Cái vòng chẳng có nghĩa gì cả. Thuốc râu ngô cũng có thể có vòng vàng.
– Bạn tôi làm mật vụ. Chả lẽ y lại hút thuốc dở.
– Ai vậy?
– Alfons Binding.
– Anh biết Binding à?
– Bạn thân của tôi. Bạn học cũ. Tôi vừa ở nhà y về đây. Y vừa ngồi với tôi và Riese, cảnh sát SS. Chúng tôi là bạn học.
Lão trưởng phố nhìn Graber. Graber hiểu cái nhìn ấy y tự hỏi tại sao bác sĩ Kruse phải vào trại tập trung khi giao thiệp với những người như thế.
– Rất có thể xảy ra nhiều sự hiểu lầm – Graber nói ra vẻ không để ý – Nhưng rồi cũng đâu vào đấy. Có người lấy làm ngạc nhiên. Mình không nên xét người hấp tấp, phải không?
– Không khi nào!
Lão trưởng xóm nhắc lại ra vẻ tin tưởng.
Graber xem giờ.
– Thôi đi nhé. Tôi sẽ nhớ chuyện xì gà.
***
Y vừa đi vừa nghĩ: “Bước đầu may mắn trên đường hối lộ”. Y thích chí được một lúc nhưng chẳng bao lâu lại lo âu. Có lẽ y đi lầm đường. Bất thần y nhận thấy hành vi của mình vô bổ. Có lẽ tốt hơn là nên giả bộ chết. Y dừng lại liếc mắt nhìn xuống bộ com-lê của mình. Y muốn thoát khỏi sự kiềm tỏa của quân kỷ để hưởng chút tự do, thế mà bây giờ y lại nhảy vào một thế giới đầy đe dọa sợ hãi của đời sống dân sự.
Vậy bây giờ phải làm sao? Bây giờ y tự trách mình đã hấp tấp đẩy Elisabeth đi xin giấy tờ. “Che chở cho Elisabeth! Hôm qua mình nghĩ rằng lấy nàng để che chở nàng, nhưng bây giờ mới thấy mình đẩy nàng vào chốn hiểm nguy!”
“Đùa với anh đây hẳn! Anh phỉ báng cả quân đội nữa!”
Graber tối mặt lại không hiểu gì, một ông đại úy đột nhiên xuất hiện trước mặt. Y tưởng rằng mình đã chào theo kiểu nhà binh, quên hẳn mình đang ăn mặc dân sự.
– Xin lỗi ông, tôi lầm, không cố ý.
– Ông không phải là quân nhân mà ông giở những trò khả ố như thế!
Nhìn viên đại úy nhỏ con kỹ hơn. Graber nhận ra mình đã có chuyện với hắn tối hôm ở với Elisabeth. Hắn vẫn tức giận:
– Một người trốn nhiệm vụ như anh thì nên thụt xuống đất còn hơn là làm bộ lém lỉnh.
Graber mỉm cười trả lời:
– Gió lạnh sổ mũi rồi, trở về kiếm long não mà ngửi.
Hắn đỏ dừ mặt.
– Tôi cho bắt anh đem ra xử bắn bây giờ!
– Ông biết rõ rằng ông không có quyền. Thôi im đi.
– Tôi sẽ… tôi sẽ…
Nhưng hắn ngưng bặt câu nói. Hắn hếch mũi lại gần Graber và nhăn mặt ghê tởm.
– À. Tôi hiểu rồi! Vì thế mà anh không mặc quân phục. Chải chuốt! Dầu thơm! Đồ đĩ đực!
Hắn khạc nhổ, vuốt bộ râu hoa râm rồi bước nhanh đi sau khi lườm Graber với đôi mắt khinh bỉ. Bấy giờ Graber mới nghĩ ra: “Tai nạn mùi thơm này đây”, y ngửi tay mình mới thấy mùi thơm nhẹ nhàng mà dai dẳng. “Đĩ đực! Khá khen cho hắn biết bới chuyện. Sợ hãi làm cho con người trở nên quái dị như thế đấy! Mụ Lieser rồi lão trưởng xóm – không biết rồi mình còn tiến tới đâu!”
Y đến trước Sở Cảnh sát Mật vụ. Người lính canh đi bách bộ và ngáp vặt. Nhiều nhân viên đi ra cười cười nói nói. Rồi y thấy một ông già lủi thủi đi lại. Ông ta dừng chân, lấy một tờ giấy trong túi ra, đưa hai mắt sợ hãi nhìn lên cửa sổ. Rồi ngửa mặt nhìn trời một lần cuối cùng trước khi trình giấy cho người lính gác. Người gác lạnh lùng xem giấy rồi cho vào.
Đến lượt Graber nhìn qua cửa sổ công thự. Y lại thấy sợ hãi, sợ hãi mãnh liệt, nghẹt thở hơn lần trước. Y đã trải qua đủ các loại sợ hãi, từ sự sợ hãi nhọn sắc đến sự sợ hãi tối tăm, từ sự sợ hãi làm tắt thở và tê liệt bắp thịt, đến sự sợ hãi cùng cực trước cái chết. Nhưng sự sợ hãi lúc này khác hẳn, đó là sự sợ hãi bò là là dưới mặt đất, như cái gì đe dọa không rõ rệt, như cái gì nhầy nhụa ghì chặt lấy mình, như đờm dãi vô hình làm tan mọi vật, cái sợ hãi của người thất vọng và bất lực, cái sợ vì tai nạn xảy ra cho người quanh ta, cái sợ khi phải đối diện với sự độc đoán, tàn ác, vô nhân đạo. Cái sợ mênh mông của thời đại chúng ta.
Y quay mặt đi, choáng váng và buồn mửa. Bỗng dưng y nghĩ đến Hirschland. Hirschland đã biết cái sợ này! Anh ta tình nguyện đầu quân với hy vọng được huy chương để cứu cha khỏi địa ngục tập trung. Y đã hứa đến thăm cha mẹ Hirschland.
Y dừng lại. Không biết để địa chỉ của bạn ở đâu? Bất thần y nhận thấy không thể nào trì hoãn cuộc viếng thăm này dù chỉ vài giờ, làm như nó mật thiết với vận mệnh Elisabeth và tất cả đều tùy thuộc nó. Nghĩ như vậy thật là trẻ con, nhưng ở tiền tuyến y đã nhiễm được thói quen tin ở sự bất ngờ. Tìm hết các túi thì thấy trong sổ quân bạ một mảnh giấy con của Hirschland đưa cho mình lúc sắp chia tay.
Cái nhà bé nhỏ có ba tầng lầu. Y lên tầng thứ ba và bấm chuông gọi. Phải gọi hai lần cửa mới rụt rè hé mở.
Một bà mặt nhợt nhạt đi ra.
– Tôi muốn hỏi bà cụ Hirschland.
– Tôi đây.
Bà giương hai mắt tôi sầm nhìn y chăm chú.
– Tôi cùng ở tiểu đoàn với anh Hirschland.
Bà ta vẫn tiếp tục nhìn y. Vẻ chăm chú chờ đợi của con vật sẵn sàng để chống cự hay chạy trốn.
– Anh Hirschland nhờ tôi gởi lời về thăm bà. Tôi nghỉ phép nên đến đây mặc đồ dân sự.
Cửa mở hẳn.
– Mời anh vào đây.
– Tôi là Graber.
Bà đi trước, dẫn y vào phòng. Bà đi nhẹ gót, không có tiếng kêu. Trong cùng kê một cái trường kỷ trên phủ kín một cái mền mà góc trên vắt lên trên lưng ghế ấy. Graber định ngồi xuống đấy nhưng bà giữ lại và đem một cái ghế dựa đến.
– Ngồi cái ghế này tốt hơn. Chúng tôi chỉ ở căn này, chúng tôi ngủ trên cái trường kỷ ấy.
Graber ngồi xuống ghế. Căn phòng sạch sẽ và trang hoàng ra lối tiểu tư sản. Một vài bức họa treo trên trường kỷ và phía tường bên kia.
– Mười lăm ngày trước cháu còn ở với anh Hirschland.
Bà cụ Hirschland không ngồi, mắt bà vẫn đăm đăm ra vẻ gay gắt hai tay run lẩy bẩy.
– Cậu muốn… Tôi có thể… À cậu uống chút gì nhé?
Graber chợt thấy mình khát.
– Dạ, bà cho cháu một chén nước lạnh thôi.
– Để tôi lấy.
Bà đưa mắt nhìn quanh:
– Tôi xuống bếp lấy, cậu chờ một chút, tôi trở lại ngay.
Bà đi xuống bếp. Ra đến cửa bà còn quay trở lại. Graber nghĩ thầm: “Không biết bà cụ làm sao?”. Y đã quen với thái độ ngờ vực, nhưng thái độ của bà này khác hẳn những người đã gặp.
Y đứng dậy xem những bức họa treo trên tường. Đó là những bản chụp lại. Một bức họa cây hạt dẻ đang khai hoa, bức khác vẽ một cô gái xứ Florence. Phía trên trường kỷ treo một bức in lối họa ảnh. Y lại gần xem kỹ. Bỗng thấy chân mình vấp phải cái gì mềm mềm để dưới trường kỷ, mền phủ kín đi. Y cúi xuống xem có đánh đổ cái gì và vén một góc mền, thì thấy hai cái hộp bia cứng dài che kín từ trường kỷ xuống sàn nhà. Chân y đã làm xê dịch một cái. Y để lại chỗ cũ, nhưng cũng đủ thời giờ để trông thấy một bàn tay đàn bà giữa hai cái hộp. Có người nằm dưới trường kỷ hai tay để dọc theo người. Graber trùm mền lại như cũ và trở vễ ghế ngồi.
Bà cụ Hirschland trở lên với cái mâm đựng ly rượu nho và mấy miếng bánh mì.
Y uống một hớp rượu. Rượu nho hòa đường và đặc.
– Anh Hirschland vẫn mạnh. Khi cháu về phép, tiểu đoàn đang nghỉ. Ảnh được các bạn mến lắm.
– Hirschland nó vẫn mạnh.
Bà nhắc lại lời y như cái máy.
– Ở tiền tuyến như thế là mạnh khỏe lắm. Về đây cháu mới biết đời sống ở đây cũng nguy hiểm như ở ngoài đấy.
Y đợi một lúc. Nhưng bà cũng không hỏi những câu thông thường về ăn uống, đời sống và tai nạn ở tiền tuyến. Y nghĩ: “Chắc bà cụ sợ làm rối ruột người nấp dưới trường kỷ”.
– Thôi, cháu đến cho cụ biết tin thế thôi. Anh Hirschland và cháu chơi thân với nhau. Cụ có gởi gì cho ảnh, thư hay quà, để cháu mang cho. Độ một tuần nữa cháu lại đi.
– Không có gì, cám ơn cậu.
Bà cụ nói khẽ đến nỗi gần như không nghe rõ.
Graber nhìn bà mà kinh ngạc. Y đã tưởng bà cụ không tin, vội lấy sổ quân bạ ra.
– Giấy má của cháu đây, cháu chỉ mặc đồ dân sự tạm thời thôi.
Bà cụ không để ý, giơ tay đẩy ra rồi nói khẽ qua tiếng thở.
– Nó chết rồi.
– Chết?
Bà gật đầu.
– Thật khó tin, trước khi về cháu còn nói chuyện với ảnh…
– Nó chết rồi. Tôi mới được tin cách đây bốn ngày.
Bà lắc đầu khi thấy Graber muốn hỏi thêm.
– Thôi cám ơn cậu đến thăm tôi. Thư của nó vẫn gởi về. Ngày hôm nay vẫn còn nhận được. Thôi cám ơn cậu…
Cửa đóng lại, Graber xuống thang gác. Y cố nhớ lại những kỷ niệm về Hirschland. Gần như không biết gì về Hirschland, không biết cả tên họ. Y nghĩ đến gói thuốc Hirschland đưa cho lúc sắp về phép. Y tiếc rằng đã không chú ý hơn đến bạn. Một sự hối hận nữa thêm vào những hối hận trước đây. Cuộc đời ngắn ngủi của Hirschland thật là đau khổ. Bà mẹ bây giờ chỉ còn một mình và phải giấu diếm đứa con sanh sau này có lẽ với chồng sau, căn cứ vào sự thử máu thì đứa bé có máu Do Thái, chắc phải đi trại tập trung. Y dừng lại trong chỗ tối thềm nhà, thình lình y mất hướng. “Một đứa trẻ ngây thơ còn phải giấu diếm như thế thì Elisabeth còn bị đe dọa đến thế nào!”
***
Y đến xưởng may trước giờ thợ ra. Không thấy nàng trong số những người ra trước, y đã vội tin rằng nàng đã bị bắt rồi. Mãi sau mới nhìn thấy. Nàng ngạc nhiên khi thấy y mặc đồ dân sự. Nàng cười :
– Trông anh trẻ quá!
– Nhưng anh thấy mình không trẻ chút nào. Anh có cảm tưởng như mình đã một trăm tuổi rồi.
– Có gì mới không? Anh bị gọi đi sớm à?
– Không. Yên lành cả.
– Anh thấy anh già vì anh mặc đồ dân sự?
– Không biết, nhưng hình như bộ đồ dân sự này gây ra đủ mọi sự rắc rối trên đời này. Em đã đi xin giấy má chưa?
– Đâu vào đấy cả rồi. Nhân lúc nghỉ trưa em làm hết các đơn xin.
– Làm hết cả à? Thôi chết, thế thì chậm quá.
Elisabeth kinh ngạc nhìn y.
– Tại sao lại chậm quá.
– Chẳng tại sao cả? Thình lình anh thấy sợ, có lẽ mình tính sai. Có thể làm rắc rối cho em.
– Cho em à? Tại sao thế?
Graber ngập ngừng:
– Anh nghe nói Mật vụ đâu họ cũng nhúng mũi vào được cả. Tốt hơn hết là không nên ló mặt ra.
Elisabeth dừng lại:
– Người ta còn nói gì nữa không?
– Không. Anh sợ rắc rối, thế thôi.
– Anh nghĩ rằng người ta sẽ bắt em vì em muốn lấy chồng à?
– Không, không phải thế.
– Thế thì sao? Anh nghĩ rằng họ có thể khám phá ra cha em ở trại tập trung?
– Cũng không phải. Họ thì họ biết. Nhưng để nguyên đừng làm cho họ chú ý tới thì có lẽ không sao. Không thể nào biết trước được phản ứng của Mật vụ. Chỉ gặp một viên chức đang lúc cáu kỉnh là có thể đổ bể. Đối với họ thì không thể trông mong gì ở pháp luật hay lẽ phải.
Elisabeth yên lặng một lát rồi hỏi:
– Thế thì phải tính sao bây giờ.
– Anh nghĩ suốt ngày rồi. Không có cách gì cả. Nếu mình xin hủy đơn thì lại càng làm cho họ chú ý hơn.
Nàng gật đầu và nhìn y với cái nhìn kỳ dị.
– Mình cũng cứ thử xem.
– Chậm quá rồi. Chỉ còn cách ngồi đợi, hay dở gì cũng sẽ phải đối phó.
Hai người tiếp tục đi. Xưởng may cất ở một nơi hẹp rất dễ thấy. Graber xem xét kỹ lưỡng.
– Đây chưa bị bom nhỉ?
– Chưa.
– Cái xưởng ở chỗ trống quá và dễ nhận quá.
– Dưới có nhiều hầm rộng.
– Có chắc không?
– Cũng khá chắc.
Graber giương mắt nhìn. Elisabeth đi bên cạnh không để ý.
– Em ạ, anh không sợ gì cả, chỉ vì có em mà anh sợ.
– Anh đừng lo cho em.
– Em không sợ à?
– Trái lại em sợ đủ mọi thứ có thể tưởng tượng ra. Em không có nhiều trí tưỡng tượng để nghĩ đến những cái sợ mới.
– Anh thì có. Khi yêu ai, mình khám phá ra đủ mọi thứ mới mà trước kia chưa hề nghĩ tới.
Elisabeth quay lại y mỉm cười. Y nhìn nàng rồi cũng mỉm cười.
– Anh chưa quên điều nói với em hôm trước. Em có tin rằng muốn biết mình có yêu hay không thì mình hãy xem mình có lo sợ không.
– Em không biết, nhưng lúc đầu thì cái đó có giúp mình chút ít thật.
– Bộ com-lê mắc dịch này! Ngày mai anh lại mặc đồ nhà binh cho rồi. Thế mà mình ao ước mãi cuộc sống dân sự!
Elisabeth cười.
– Bộ đồ mắc dịch, nó chịu trách nhiệm mọi nỗi đau khổ của mình hả?
– Không. Đau khổ chỉ vì mình mới trở lại sống thật sự. Chính vì thế mà anh sợ! Suốt ngày hôm nay anh sợ điên người lên thế này này. Bây giờ đã khá hơn một chút. Thực ra cũng chẳng có gì mới. Lạ thật. Cái sợ chẳng cần nhiều thức ăn, chỉ một chút xíu cũng đủ nuôi dưỡng nó rồi!
– Ái tình cũng vậy. Thế cũng may đấy chứ!
Graber nhìn nàng đi nhẹ nhàng thanh thoát bên cạnh mình. Y nghĩ thầm: “Nàng đã thay đổi hẳn. Trước kia nàng sợ, mình phải khuyên nhủ nàng. Bây giờ trái lại, nàng lại khuyên nhủ mình”.
Họ đi qua công trường Hitler. Hoàng hôn vĩ đại nhuộm hồng cả gầm trời sau nhà thờ.
Elisabeth vội hỏi:
– Lại cái gì cháy kia!
– Không có gì cả, mặt trời lặn đấy.
– Mặt trời lặn! Không ai nghĩ đến nữa!
Hoàng hôn tồ sắc hồng lên phố xá và người qua lại. Những khuôn mặt, những bàn tay đều hiện ra với màu sắc lạ kỳ. Graber nhìn mọi người với tầm mắt mới. Mỗi người là một linh vật mang một số mệnh riêng. “Khi người ta không có gì cả sao mà lên án người khác và tỏ ra mình mạnh dễ thế! Khi người ta có cái gì, có tình với đời thì đời đổi màu sắc. Cái gì cũng trở thành vừa dễ vừa khó, nhiều khi mình như không chịu nổi cuộc đời, ấy, tất cả đều bắt đầu từ cảm tưởng ấy. Sự can đảm có ý nghĩa khác, có nhiệm vụ quan trọng hơn, ở tầm mức nhân thế hơn”. Y hít mạnh. Y có cảm tưởng như mình về được đơn vị sau một chuyến công tác nguy hiểm trên đất địch… Sự nguy hiểm vẫn còn đó nhưng người ta được một lúc an nghỉ.
Elisabeth nói:
– Lạ thật, bây giờ chắc là mùa xuân. Trong khu phố tan hoang vắng vẻ này, em có cảm tưởng như phảng phất mùi hoa tím…
Cô Hường là em họ của ba tôi. Nhà cô ở gần nhà tôi. Chồng cô là công chức Bưu Điện, hiền lành ít nói. Trong gia đình, dượng là chiếc bóng hoàn toàn thụ động. Mọi chuyện lớn nhỏ, một tay cô Hường quyết định. Nhà cô làm đại lý vựa cam quít từ Kampuchia đem ve, và từ đó phân phối đi khắp nơi. Tính cô năng động, tháo vát, và lanh lợi đến mức lấn luớt cả chồng. Có lần cô nói, nếu thay đổi dễ dàng như chuyện mua bán con trâu con bò, thì cô đã bán ông chồng của cô rồi. Vợ nói một câu quá quắt như thế, dượng chỉ cười.
Ba tôi bảo, sợ vợ cũng là cái nghiệp của người đàn ông. Dượng nói, chẳng phải sợ, đàn bà mang nặng đẻ đau, mình nhường nhịn họ tí chút thôi. Cô Hường đưa gia đình đi nghỉ hè. Tôi gặp lại cô trên bãi biển Nha Trang, Co vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Co nắm tay tôi như thể vuột ra là tôi chạy mất. Còn tôi thấy cô như thấy lại một quá khứ quê nhà. Những con đường phố quận buồn hiu. Những cây sao già cao ngất ở xóm Đinh thẳng tấp vươn lên, che bóng mát cả một vùng rộng lớn. Cái sân vận động ứ nước từng vũng vào mùa mưa và gió cuốn bụi mù vào mùa nắng ráo. Lũ trẻ chúng tôi thường chơi đá banh ở đó. Tôi hay chạy vào nhà cô Hường uống nước. Lu nước cô đặt ngoài sân, cái gáo múc nước làm bằng gáo dừa có tra cán dài. Con chó nhà cô rất dữ. Vào trong sân. tôi phải cầm thêm chiếc gậy. Có lần nó nhào tới muốn cắn, tôi vụt cho nó một gậy đích đáng vào lưng gần gảy xương sống. Từ đó về sau, nó sợ tôi, chỉ dám đứng xa xa mà sủa. Tôi nhắc chuyện đó.
Cô Hường cười, nói con chó đang chờ tôi về để trả thù. Sau ngày má tôi mất, cô Hường tỏ ra thương tôi nhiều hơn. Cô cho tôi tiền ăn quà vật, và mướn tiểu thuyết đọc. Đêm tôi ngủ lại nhà cô, kể truyện cho cô nghe. Cô buồn vui theo hoàn cảnh của từng nhân vật. Dượng bảo, mấy thằng cha văn sĩ chuyên môn bịa chuyện nói phét. Cô nói, cũng phải có tài mới bịa dược chuyện hay, còn hơn ông ngồi còng lưng cả ngày chỉ để đếm thư thiên hạ. Nói lời này là cô muốn ám chỉ vào cái nghề công chức Bưu Điện của dượng. Những ngày kể chuyện tiểu thuyết cho cô Hường nghe, đã qua rồi. Bây giờ, trông cô có vẻ tươi hơn mấy năm về trước. Có lẽ do đời sống khá giả hơn chăng? Cô hỏi: “Sau ngày bỏ nhà ra đi, mày sống thế nào?”
Tôi nói: “Cơm chùa cháo chợ, lay lất qua ngày.”
“Không thể lăn lóc hoài như vậy được. Mày phải về nhà ngay. Ba mòy lúc giận nói thế. Mày đi biệt tăm luôn. Ông dò la khấp nơi, không biết mày ở đâu.”
“Ông duổi con đi, còn tìm chi nữa?”
“Ba mày chỉ muốn doa thôi. Ông nói, để mày đi một thời gian thấy ngoài đời không dễ sống, sẽ quay về. Lúc đó, ổng nện mày một trận cho bỏ cai tính rong chơi, lo chăm chỉ học hành. Không ngờ mày lớn gan lớn mật … ” Cô dí ngón tay vào trán tôi, “Cái thằng hoang đàng chi địa!”
Cô Hường còn nói rất nhiều. Nói về bà con láng giềng trách móc ba tôi ruồng bỏ con cái. Nói về những ngày ông vất vã đi tìm con, bỏ bê công ăn việc làm, gia đình sa sút. Còn dượng thi mỉm cười, bóp vai tôi như đo lường sức vóc sau mấy năm không gặp. Thấy tới cảm động, cô bảo: “Mày phải theo cô về nhà ngay.”
Tôi nói: “Con chưa nghĩ điều đó.”
“Hiện tại mày làm gì để sống?
“Con phụ việc cho một lò bánh mì.”
Đó là tôi chợt nghĩ tới việc làm của anh Kỳ và nói dối để chứng tỏ rằng tôi cũng có nghề nghiệp đàng hoàng.
Không biết tự bao giờ, tôi nói dối như thật, mồm miệng trơn tru không còn thẩy ngượng. Cô Hường muốn tới chổ ở của tôi. coi tôi sống ra sao. Tôi từ chối. Những ngày nghỉ hè, gia đình cô Hường ở Đại Khách Sạn Nha Trang, sát bờ biển. Mỗi ngày, tôi làm người hướng dẫn gia đình cô đi chơi. Coi cá ở Hải Học Viện. Viếng Tháp Bà. Tắm Bãi Dương. Chụp hình ở Hòn Chồng. Cuối cùng, trở lại bãi biển Nha Trang bơi lội và phơi nắng.
Cô hỏi: “Còn nơi nào nữa?”
Tôi nói: “Còn Đại Lãnh, Ba Hồ, Suối Tiên, mộ Yersin. Nhưng mấy nơi đo xa xôi hẻo lánh, đường đi bất tiện.”
“Mày có đi Huế chưa?”
“Chưa, Con cũng ước mơ đi Huế một lần.”
“Cô nghe người ta nói, ngủ đò sông Hương thú vị lắm, Hè năm sau, cộ sẽ đi Huế ngủ đò cho biết.”
Không biết sau này cộ Hường có thực hiện được ý định ấy hay không. Nhiều năm sau, tôi đi Huế ngủ đò sông Hương, cảm thấy thú vị thật! Ngày cô Huờng rời Nha Trang, tôi gửi theo một lá thư thăm nhà, chúc sức khỏe ba và đì tôi. Trong thư, tôi cũng nói thêm rằng, ba đừng bận tâm về một con diều đứt dây. Lúc giã từ, cô Hường dúi cho tôi xấp tiền. Đã nhiều lần tôi ngửa tay nhận của người khác, nhưng chưa một lần cho ra.
Nghĩ lai lời ông Bốn Cọp nói, lớn lên tôi chỉ làm một thứ sâu mọt đục khoét xã hội mà thôi. Có lẽ đúng.
Thường những ngày gió lặng, biển im, sáng thức dậy sớm pha cà phê để đó, rồi ra boong tập thể dục. Sáng nay bấm nút điện máy pha cà phê xong, ra boong chưa kịp khởi động bài tập Dịch Cân Kinh, thì nghe tiếng mở cửa. Tôi ngoái lại thấy Tamela, thằng nhỏ mới xuống thay cho một thủy thủ đã hết hợp đồng, lần đầu mới gặp tôi mà nó tỏ vẻ thân thiện như quen biết từ lâu, tôi đoán chừng nó là con hay cháu của một đồng nghiệp nào đó. Mới hơn tháng mà đã bị ba trận bão, cho tới mấy ngày qua thời tiết vẫn còn xấu quá, thủy thủ đoàn mệt mỏi nên gặp mặt chào nhau một cái và sau giờ làm việc mạnh ai nấy về phòng nằm nghỉ, nên tôi chưa có dịp nói chuyện với nó. Tamela vui vẻ chào: – Chào buổi sáng, chú. Tôi chào lại và xớ rớ chưa biết làm sao thì nó chỉ tay vô đất liền hỏi: – Nước nào vậy chú? Tôi nhìn theo tay nó, thấy bầu trời xanh ngắt, lấp thấp là dãi đất liền, tiếp theo có vài chiếc tàu buôn xuôi ngược trên mặt biển xanh trong vắt và láng mượt như mặt thủy tinh. Nghe khí trời âm ấm, tôi biết tàu đã qua hải phận Phi Châu rồi, tôi nói: – Ma Rốc. Nó nói: – À, ba con gởi lời thăm chú. Thời gian sau này những câu hỏi như ông con gởi lời thăm ông, hoặc ba con gởi lời thăm chú từ những đứa thủy thủ trẻ rất thường, nên tôi hổng thấy làm lạ lắm. Tôi day qua hỏi nó: – Ba con là ai? – Johannes Beslar. – Oh! Johannes Beslar! Anh ấy giờ sao rồi? – Hai chưn ba con hơi yếu, đi phải chống gậy, nhưng tinh thần còn sáng suốt lắm. – Năm nay ba con trên bảy mươi tuổi mà còn như vậy thì cũng khá lắm rồi. – Hôm con sắp đi, nghe Zanda nói có chú ở đây, ba con có kể cho con nghe về chú, trước kia chú là Boat people. Tôi hỏi nó: – Con biết Boat people là gì không? – Dạ, là người Việt tị nạn Cộng Sản mà hồi đó cả thế giới tự do gọi là Boat people. – Đã lâu lắm rồi chú mới nghe có người nhắc hai tiếng Boat people. Nhứt là người trẻ tuổi như con vẫn còn biết cái thời người Việt tị nạn Cộng Sản của mấy chục năm trước, – Con chỉ nghe ba con kể lại thôi, chớ cái lúc đó con chưa chào đời mà. Vậy là sáng nay coi như bỏ tập thể dục rồi, thấy trời còn sớm.Tôi hỏi nó: – Con uống cà phê không? Nó liền nói: – Dạ, để con vô lấy. Nói đoạn nó day lưng đi nhanh vô trong. Tôi nhớ lại, cách đây hơn bốn mươi năm, những năm người Việt tị nạn vượt biển, qua tạm dừng chưn những quốc gia tự do Đông Nam Á để chờ định cư nước thứ ba, trong đó có đất nước In Đô. Johannes Beslar cũng như nhiều đồng nghiệp người In Đô, là lớp thủy thủ trước tôi, có nhiều thủy thủ đã cứu vớt người Việt lâm nạn trên biển, nên rất am hiểu nỗi gian nan của người Việt vượt biển. Ngày đó niềm thương nỗi nhớ quê hương còn sâu đậm, trong lòng cứ canh cánh nhớ nhà, nên mặt mày lúc nào cũng bí xị, buồn hiu. Nhờ làm việc chung với những người In Đô, tôi được họ cảm thông chia sẻ vui buồn và giúp đỡ rất nhiều về mặt tinh thần. Thời gian trôi qua nhiều năm, nay đầu tóc đã bạc, sói sọi và trí nhớ cũng mù mờ, chuyện cũ lúc nhớ, lúc quên. Nay nghe Tamela nhắc lại cái thời nghiệt ngã ấy, tôi cũng nhớ lại nhưng hông còn ray rức như xưa nữa. Sau này sống chung với đám trẻ In Đô, tôi phát hiện ra, cái nỗi nhớ quê hương đất nước, nhớ nhiều, nhớ ít là do thời đại. Không riêng gì người Việt chúng tôi lúc đó, vì hoàn cảnh tị nạn Cộng Sản phải sống lưu vong, mới biết nặng lòng với quê hương đất nước. Người In Đô cũng thiết tha với quê hương đất nước của họ lắm, tuy họ sang Âu Châu làm việc có lương, những vẫn là những người tha phương cầu thực. Điển hình như Johannes Beslar và nhiều thủy thủ In đô cùng thời. Cách đây hơn ba mươi năm, thực phẩm Á Đông bên Âu Châu này rất hiếm. Cho nên mỗi khi thủy thủ thay đổi, người mới xuống mang theo cả năm sáu ký gia vị của In Đô và loại cá lòng tong khô mà người nhà đã ướp hương vị của quê hương, đưa cho tôi và chỉ tôi cách nấu, cũng có người gởi Ketjap, cá khô qua đường bưu điện. Nếu lâu quá không người xuống thay mà gia vị In Đô đã hết, thì khi tàu về lại Rotterdam, Johannes Beslar và những người đồng hương hùn tiền nhau đưa cho một người, rồi bao tắc xi đi cả chục cây số tìm Toko của In Đô mua Ketjap, trasi, mì gói, rau muống và vài ba bó rau thơm, khi nào mua được ớt hiểm thì cả đám vui mừng lắm. Luôn cả lịch treo tường, cuối năm bên Âu châu người ta tặng cho cả đống, nhưng những người In Đô không treo trong phòng mà cũng phải lên phố tìm mua cho bằng được những tấm lịch có cảnh thành phố bên In Đô hoặc ít ra cũng phải có cảnh cây dừa, núi non cho giống đất nước hải đảo của In Đô họ mới chịu. Lúc đó chưa có internet, chưa có điện thoại cầm tay. Xài điện thoại công cộng hoặc vô hội quán, gọi viễn liên mắc tiền nhưng hổng phải nước nào cũng gọi được, cho nên liên lạc với gia đình bằng thư viết tay, gởi đi nhận lại có khi cả một hai tháng. Có lẽ mất nhiều thời gian như vậy nên lúc nào trong lòng cũng canh cánh nhớ quê. Còn đám trẻ ngày nay, sanh ra và lớn lên nhằm vào thời đại 4.0 này, quê hương đất nước lúc nào cũng nằm gọn trong túi áo, túi quần thì làm sao tụi nó nhớ nhung như thời của cha, ông nó. Tụi nó giảm đi nỗi nhớ quê hương rất nhiều, mặc dù những tiệm bán đồ Á Đông bây giờ có mặt khắp nơi, nhưng ít khi tụi nó ngó ngàng tới. Mỗi lần đổ bộ, tụi nó vô nhà hàng ăn pizza, hoặc doner kebab và thỉnh thoảng chơi sang thì tìm quán bán đồ biển nhậu. Có lẽ vì nhờ internet bây giờ rẻ tiền, tin tức nằm trong lòng bàn tay, nên chúng nhắn tin, gọi nói chuyện về nhà mỗi ngày và những món ăn ngon được quảng cáo trên mạng quá nhiều nên làm cho phai nhạt mùi vị quê hương và niềm nhớ cũng giảm phần chăng? Tamela hai tay bưng hai tách cà cà phê ra, nó đưa tôi một tách. Chúng tôi đi lại ngồi trên đầu cột trụ cột dây. Hớp một hóp cà phê tôi nói: – Chú với ba con sống với nhau trên hai chục năm, lúc vợ trước của ba con bịnh ung thư chết, ba con buồn đi miết, hơn hai năm mới về lại In Đô thì cưới má con. Lúc đó ba con mới làm việc bình thường lại. Ba con cũng có cho chú biết, má con có đứa con trai riêng. Tamela cười ha ha: – Dạ, đứa con trai đó là con nè chú. – Ngày ba con về nghỉ hưu, chú và ba con ngồi nhậu trên hội quán ở Hamburg cho tới khuya. – Dạ, ba con thường nhắc chú, ba con có kể, hồi đó khi tết Tây vừa qua thì chú nhớ tới tết Việt Nam và thường nấu những món ăn ngon truyền thống của Tết Việt cho thủy thủ ăn. Vào ngày mùng một Tết, nếu tàu trên biển thì chú làm những món nhấm như chả giò, tôm chiên bột rồi bày tiệc nhậu với thủy thủ. Nếu Tết trong bến thì chú mời thủy thủ lên hội quán hoặc lên ăn, nhậu trong nhà hàng. Lâu lắm rồi tôi không còn thiết tha tới ngày Tết cổ truyền, tuy vẫn còn nhớ, nhưng nỗi nhớ nhung không còn thiết tha như ngày xưa nữa. Hôm nay nói chuyện với thằng nhỏ, bỗng dưng tôi lại nhớ về, nhớ vùng ven biển trong những ngày cuối năm, với con trai, con gái bận áo, quần mới đi chùa lễ Phật, cảnh ngày tết vui vẻ vào đêm ba mươi có bánh tét, bánh ít trong giờ giao thừa và nhớ nồi thịt kho ba ngày tết, nhưng chỉ nhớ thoáng qua thôi. Tuy trong dạ có chút bồi hồi, nghe buồn man mác nhưng hổng còn thèm thuồng đến thắt ruột như cách đây mấy mươi năm. Mới hay nỗi nhớ quê hương dần dà lu mờ trong tâm trí của những kẻ xa quê quá lâu, nó cũng hông còn thấm đậm trong tim như ngày xưa nữa. Tôi nói với Tamela: – Bây giờ chú vẫn đi chơi với tụi con mà, lần nào cũng có chuyện vui như Tết. – Con có nghe Zanda khoe, tuần trước, chú dẫn nó lên Las Palmas. – Âu châu bỏ lệnh cấm cách ly rồi, nhưng tuần rồi ở Las Palmas khách du lịch đông quá nên chú với Zanda còn ngại. Chuyến này tàu trở lại Vigo nhằm Tết Việt Nam, nếu chú còn trên tàu thì chú mời tụi con lên bờ nhậu với chú. Đồ biển ở Vigo rất ngon. Tamela vui mừng hô: – Ô kê chú, con hy vọng chú ở lại tới qua tết Việt Nam. Zanda từ trong muôi tàu mở cửa ló đầu ra, chưn ngoài, chưn trong nó ngó qua ngó lại, chợt thấy tôi với Tamela, tay vịnh cánh cửa. Nó chồm ra hô lớn: – Goodmorning! Tôi và Tame la cùng nhau nói goodmorning lại. Zanda bước hai chưn ra ngoài, đóng nhẹ cánh cửa, đi ra đứng cạnh tôi. Nó nhìn về phía trời đông nói: – Trời đẹp quá chú? – Rất đẹp, tết Tây đã qua, những cơn bão lớn cũng đã qua, biển êm và trời trong. Tamela nói: – Đúng vậy, sau cơn bão gió êm, biển lặng. Tôi chỉ tay về một đám mây phản chiếu ánh sáng khi mặt trời nhô lên khỏi mặt nước phương Đông: – Coi kìa! làm sao mà một đám mây nhỏ màu hồng bay lơ lửng như một chiếc lông từ một con chim hồng hạc khổng lồ nào đó rớt ra. Tamela cười: – Ha ha… chú hay thiệt đó, thấy một đám mây mà thành ra lông của chim hồng hạc. Cả tháng qua gió bão, sóng gió nhiều làm việc xong mạnh ai nấy về phòng riêng nên không có dịp nói chuyện với nhau. Hôm nay trời đẹp nên thấy trong người thoải mái hơn, gặp mặt chào nhau vui vẻ, chớ không lơ là như những ngày giông bão. Tôi cười và chỉ tay về phía mặt trời, nói: – Con hổng thấy sao! Trời xanh, mây trắng, mặt trời hồng, biển im lìm và thánh thiện. Khi chúng ta có mặt vào buổi sáng thì phải tạ ơn một đặc ân quý giá của thiên nhiên ban cho. Khi biết ta còn sống, hít thở, suy nghĩ, tận hưởng và yêu thương, thì để cho tâm thức biến những cái bình thường nó trở nên đẹp đẽ hơn. Hai đứa cười ha hả Zanda nói: – Chú là nhà văn. – Mỗi khi nhìn biển, trời đẹp đẽ chú hay suy nghĩ vu vơ vậy thôi. Zanda hỏi tôi: – Con vô nấu mì nhé chú? – Ừa, con nấu đi. Zanda day ngang hỏi Tamela ăn mì không nó nấu luôn. Tamela gật đầu đồng ý. Zanda day qua tôi nói: – Chú ngồi chơi đi, con nấu mì cho thủy thủ In Đô và dọn bữa ăn sáng cho officers luôn. – Ok, thank you. Zanda đi trở vô bếp nấu mì. Tamela day qua cười nói: – Cái thằng mập vậy mà ăn nhiều quá. Nó nhìn về phương Đông, ánh mặt trời đã nhô lên khỏi mặt nước trông như chiếc mâm. Một bầy chim nhàn tìm mồi bay lượng, vài những con chim nhỏ bay trên ngọn cần trơi. Tamela chỉ tay lên bầy chim nhỏ, hỏi: – Chim én (Swallow) phải không chú? – Ờ đúng rồi. – Con tưởng Âu châu hổng có loài chim én. Tôi giải thích: – Có chớ, Swallow là tên gọi thông thường của các loài chim cùng họ, ở châu Âu như một từ đồng nghĩa với chim én là chim martins cũng là một nhóm chim trong họ Hirundinidae, chúng có mặt khắp nơi trên thế giới. – Sao nó bay ra tới đây, chú? Tôi chỉ tay vô dải đất liền, nói: – Con coi kìa, gần bờ mà. – Oh, nhưng ra đây rồi lấy gì nó ăn? – Theo chú biết loài chim én có đặc điểm là chúng thích hợp với việc kiếm mồi trên không. Chim én có mặt khắp thế giới và sinh sản ở tất cả các lục địa, ngoại trừ Nam Cực. Những chuyên gia am hiểu về chim chóc họ cho rằng, loại chim này có nguồn gốc từ Châu Phi, chúng thường làm làm ổ trong bọng cây, tuy nhiên Châu Phi cho tới nay vẫn còn có nhiều loại chim to con nhứt. Chúng cũng xuất hiện trên những hòn đảo giữa đại dương. Còn một số sống bên châu Âu và Bắc Mỹ là loài chim di cư đường dài; ngược lại, có một giống chim én ở Tây phương và Nam Phi thì chúng hổng có di cư. Chợt nhiên một con chim nhỏ đáp xuống boong, nó đi tới đi lui trông nó không có gì hốt hoảng và nó cũng không bay lên được nữa. Thấy con chim có vẻ khác thường, Tamela tới bợ nhẹ nó lên, nó kháng cự yếu ớt và nằm gọn trong lòng bàn tay của Tamela. Tamela nói: – Để con vô lấy nước cho nó uống và bánh mì cho nó ăn. Tôi ngăn lại: – Đã nói là loài chin én không ăn, uống được những thức ăn trên trái đất mà. Tamela lưỡng lự, hỏi: – Vậy để nó đâu chú? Tôi khoát tay: – Con buông chim ra và cứ để nó tự nhiên đi. Tamela buông chim ra, chim thong thả đi lại nơi góc khuất đứng đó. Tame la nói: – Thấy nó tội nghiệp quá chú. – Con cứ để nó tự sanh tự diệt đi, mình không nên can dự vào đời sống của các loài chim, chúng có cách sống riêng của chúng. Con để nó tự do, có thể một lát nó khoẻ lại và nó sẽ tiếp tục bay đi, con bắt nó nhốt lại nó sẽ chết. Zanda mở cửa ló đầu ra kêu Tamela vô ăn. Tamela day ngang: – Con vô ăn nhé chú. – Ok. Ăn ngon. Tamela đi rồi, tôi nhìn qua góc khuất chỗ con chim én. Không thấy nó, tôi ngó quanh thì thấy nó đứng trên cuộn dây. Tôi bước tới thì nó lấy trớn bay vút về hướng đất liền. Thấy vui vui và nhìn theo con chim tới khi chấm đen biến mất trong cái không gian trong lành và thánh thiện. Ánh mặt trời chen mình vô đám mây tụ màu xám và toả ánh sáng ra đám mây cạnh bên màu trắng mỏng manh. Tôi nghĩ tới ánh mặt trời chiếu sáng khắp mặt đại dương, loan ra miền núi, rừng cây, ruộng lúa, vườn rau và dân gian sống trong các làng mạc trên khắp vũ trụ hành tinh này. Nhưng tôi cam đoan rằng từ người trí thức, người làm chánh trị, những nhà lãnh đạo các nước và người đang làm một công việc vặt vãnh xa mù chì ở tuốt trong đất liền, cho tới thủy thủ chúng tôi ở giữa biển khơi; kẻ lương thiện, người dã man, nếu họ biết nhìn nhận được những cái đẹp tuyệt vời này thì tất cả sẽ thấy những tham vọng, phấn đấu nó nhỏ bé trước cảnh quang đẹp đẽ và hùng vĩ của Thiên nhiên như thế nào! Hết
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.