This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Hôm nay cáo phó sao nhiều quá! Ở tuổi già, bạn bè thường nói với nhau: “Bây giờ chẳng ai mời đám cưới nữa mà toàn đi dự đám tang!” Đây không hẳn là một câu nói trách móc ai mà chỉ là một lời “tri thiên mệnh.” Một ông bạn già còn phát biểu thêm: “Đi đám ma còn mất thời giờ hơn đi đám cưới!” Tôi đang còn ngạc nhiên vì chậm hiểu thì ông bạn lanh lẹ giải thích: “Lần thứ nhất phải vào bệnh viện thăm, lần thứ hai phúng điếu tại nhà quàn, lần thứ ba đưa đám và lần thứ tư dự lễ thất tuần hay bách nhật!” Đúng là một thằng cha chi ly, tính toán, nhưng chưa chừng thực tế, nếu chúng ta thân với hắn, chắc cũng phải đến với hắn đủ bốn lần, cho đúng với câu “nghĩa tử là nghĩa tận”. Nhiều người sợ khi phải nói đến cái chết, tệ hơn là nói đến những dự định hay sửa soạn cho đám tang của mình, vì sợ xui xẻo, nhưng lại thích tưởng tượng chuyện trúng số độc đắc, bằng chứng là có nhiều người mua vé số hàng tuần vì hy vọng. Người mua vé số “có thể” trúng độc đắc, ta là người mua vé số, ta cũng có thể trúng độc đắc, đó là tam đoạn luận. Tuy vậy, mỗi năm nước Mỹ này chỉ có thêm được vài chục người may mắn trúng số độc đắc, nhưng cũng mỗi năm xứ này có 20,000 người chết vì bệnh cúm thường(common flu), 42,000 người chết vì tai nạn trên xa lộ, 15,000 người chết vì súng ống, đâm chém. Nội số người bị điện giật không thôi cũng gấp bốn lần số người trúng số. Vậy thì chúng ta nói chuyện đám ma coi bộ còn có lý và hiểu biết chuyện đời hơn là bàn chuyện trúng số.
Nếu bàn chuyện: “chết rồi đi về đâu?” là nói chuyện triết lý và đụng đến niềm tin tôn giáo. Bọn phàm phu tục tử chúng tôi thường có câu hỏi thực tế gần hơn, là chết rồi, nên chôn hay nên thiêu? Thiêu thì hẳn rẻ hơn chôn. Thiêu rồi đem rải tro ở đâu đó để “cát bụi trở về cát bụi” cho xong một kiếp người. Nhưng khổ nỗi, nhiều người ngỏ ý không chịu cho con cháu thiêu vì sợ nóng, người chết còn biết nóng thì chắc khi chôn bị ngộp thở, rồi côn trùng sâu bọ rúc rỉa trong xương thịt dài dài, còn khổ sở biết bao nhiêu! Chôn xuống đất, phải tốn tiền cho một phần mộ. Một phần đất chôn, cộng với nhà quàn, quan tài, bia mộ không dưới $15,000 cho một người, đâu phải là số tiền ai cũng có được! Mộ thì phải có bia, mặc dù bia đá trăm năm cũng phải mòn. Chôn xuống đất rồi, nằm đó, ngày tháng trôi qua mà không có “con ma” nào lui tới thăm viếng còn rầu hơn nữa, nhất là những ngày Hiền Mẫu, Nghiêm Phụ, những ngày Lễ Tết, “nằm trong huyệt lạnh chắc em sầu .. “(Đinh Hùng), vì mộ người bên cạnh nhang khói, hoa tươi phủ đầy mà phần ta tiêu điều vắng lạnh, sao cho khỏi chạnh lòng dưới mộ sâu.
Chết rồi đem vào nhà quàn, lại có người muốn đến đọc bản tuyên dương công trạng và phủ cờ. Bản thân chưa làm được điều gì ích quốc lợi dân, lại chưa hết lòng vì tổ quốc, nay nước mất nhà tan, chịu cảnh đầu hàng, hoặc là bỏ đơn vị, chiến hữu ra đi, cao bay xa chạy, hoặc xếp hàng “đăng ký” xin ghi tên vào tù, còn vinh dự gì để được lá cờ tổ quốc phủ lên quan tài. Những người xứng đáng được phủ lá cờ tổ quốc hiện nay đang nắm trong nghĩa trang quân đội Biên Hoà hoang lạnh hay bỏ xác trên rừng dưới biển. Ngoài những trang liệt sĩ, anh hùng đã chết vì tổ quốc như thế, ở đây còn ai xứng đáng để phủ lá cờ thiêng liêng ấy cho người lính già chết tha phương trên đất khách hôm nay?
Cũng xin đừng quá lo lắng, phiền lòng đến chuyện cầu nguyện cho người đã chết để linh hồn được sớm siêu thoát bay lên Niết Bàn hay Thiên Đàng an vui. Nghiệp chướng, nếu sống một cuộc đời tốt lành, không có năng lực nào làm cho dầu chìm được xuống đáy hồ, nếu sống một cuộc đời xấu xa, là đá thì là nghìn câu kinh cầu nguyện cũng không làm cho đá nổi lên được mặt nước. Không có giáo sĩ quyền năng trên thế giới này có thể cầu nguyện để làm ngược lại được định luật đó. Nếu chúng ta vẫn thường tự hào về bản sắc văn hoá, nghìn năm nô lệ cũng không bị đồng hoá, sao mới sống với Mỹ ba mươi lăm năm, đã vội quên đậy nắp quan tài cho người thân. Người Việt trong nước sau năm 1975, bắt chước Liên Xô, người chết nằm trong quan tài có nắp kính để người viếng có thể trong thấy mặt, vợ con anh em thay nhau phát biểu tình cảm với người chết, rồi quan khách “diễu hành” quanh quan tài nhiều vòng, trước khi di quan, nhưng ngày nay loại văn hoá này đã không còn tồn tại. Theo tục lệ Việt Nam, người chết rồi thì phải đắp mặt, tẩm liệm thì phải đậy nắp hòm. Người bệnh đau ốm lâu ngày, nhan sắc tàn phai, nhiều khi không muốn gặp mặt bạn bè, thân quyến, huống gì lúc đã nhắm mắt xuôi tay. Gia đình con cái thì xúc động khi còn nhìn thấy mặt người thân, tạo nên sự lưu luyến tình cảm, bịn rịn không muốn chia rời. Hầu như tất cả đám tang cử hành tại Mỹ, trong cáo phó đều có ghi hàng chữ “Xin miễn phúng điếu”, dần dần người ta hiểu nghĩa “xin miễn phúng điếu”, có nghĩa là tang gia không nhận tiền, trong khi đó vẫn nhận hoa. Thật ra “Phúng: là lễ vật để điếu người chết,” “Phúng Điếu: là đem lễ vật đến hỏi thăm người chết” (*) vậy thì không những tiền, mà hoa hay bánh trái, nhang đèn (như ở Việt Nam) đều là vật phúng điếu. Người ta cũng thường căn cứ vào số lượng vòng hoa phúng để lượng giá một đám tang lớn hay nhỏ, sang hay hèn, mặc dầu những tràng hoa này chỉ tồn tại trong vòng một ngày rồi đem vứt bỏ, đã tốn kém khoảng $200 cho một tràng hoa, một số tiền không nhỏ. Nhiều tang gia đã loan báo không nhận vòng hoa và xin dành số tiền đó cho những việc từ thiện, nhưng không được đáp ứng từ bạn bè thân thích, lý do là người ta thích bề ngoài, làm sao cho đẹp mắt mà mọi người đều thấy được. Một đám tang, khoảng từ 5 đến $8.000 tiền hoa được đem đi vứt bỏ phí phạm. Một đám tang của người Mỹ, dù là danh giá hay triệu phú, không có nhiều vòng hoa tang như người Việt, có dịp, các bạn thử đếm xem, chúng ta “chơi bảnh” hơn họ nhiều. Vui hay buồn thì cũng hiểu cho thuận lẽ trời. Mái tóc điểm sương và xác thân “tứ đại”
(**) bắt đầu rệu rã. Châm ngôn của ngành Thiếu Hướng Đạo là “Sắp Sẵn”, còn chúng ta thuộc loại “cổ lai hy” rồi, đã có ai sắp sẵn chưa?
Phần các con, xin hãy cho mẹ một bát canh nóng lúc về già hơn là nghìn nghi thức đưa tiễn lúc nằm xuống, lúc bấy giờ mẹ đâu còn biết gì nữa!
(*) Hán-Việt. Đào Duy Anh (**) Gió, Lửa, Nước, Đất
Bây giờ là mùa Đông, Mùa Đông ở Saigon chỉ khác chút ít với mùa hè, vì Saigon không có bốn mùa mà chỉ có hai mùa mưa nắng, vì vậy người không nhà vẫn có thể ngủ qua đêm bên hè phố, trong ống cống, mà không cần chăn đắp. Nhờ vậy những năm 80, dân chúng trốn từ vùng kinh tế mới về có thể ngủ la liệt trên đường phố, kiếm miếng ăn sống qua ngày mà chờ ngày vượt biển hay ở lại với Saigon đã đổi tên, để buông theo số phận. Bây giờ tuy mùa Đông, California vẫn còn chút nắng ấm trong khi ở miền Đông Bắc nước Mỹ, nhiệt dộ xuống thấp, tuyết phủ dày đặc khắp nơi, nhất là sau cơn bão Sandy, nhiều thành phố mất điện, trên xa lộ nhiều tai nạn xẩy ra, nhiều người chết vì băng giá vì trong nhà không có khí sưởi và ở ngoài trời trong công viên, nơi gầm cầu hay dưới ga xe điện ngầm với những kẻ không nhà.
Cơn nóng năm 2003 ở Âu Châu đã giết 70,000 người, trong dó nước Pháp dã có 14,802 nạn nhân, nhưng lạnh thì năm nào cũng giết người một cách âm thầm trên khắp thế giới.
Những người chết cóng thân nhiệt bị hạ thấp và tim ngừng đập vì ngủ ở ngoài hè phố hay dưới gẩm cầu, với bức tường là nhà và thùng carton là chăn đắp. Tại thành phố Boston, 151 người vô gia cư đã chết trong mùa đông năm 2002, trong đó có một em bé hai tháng tuổi. Ngay cả những vùng ít lạnh hơn như Atlanta, Georgia, cơ quan cảnh sát cũng ước tính một năm có 60 người vô gia cư chết vì lạnh. Nhiều người tê cứng ngoài hè phố đã được cứu sống nhưng phải bị cắt cụt bàn chân, bàn tay hay những ngón tay vì những phần này đã bị hoại tử. Con người ở xứ lạnh thường giàu có no đủ hơn các dân tộc vùng nhiệt đới, nếu không những xứ đói nghèo như Châu Phi, không có thực phẩm, không có áo quần làm sao sống qua những mùa Đông giá buốt. Thượng Đế, nếu có, mìa mai và quái ác cho xứ nghèo cái nóng và cho dân giàu cái lạnh, Tuy vậy, sự ban bố này không mấy hoàn hảo nên trên trái dất này, nhiều nơi đã đói nghèo mà còn phải chịu thêm lạnh lẽo.
Những năm sau tháng 4-1975, những người lính miền Nam đã quen với khí hậu ấm áp. bị đày ải ra miền Bắc trong các nhà tù tập trung bắt đầu cảm thấy cái lạnh buốt tán nhẫn của mùa Đông, Khi ra đi chúng tôi chỉ có mấy bộ áo quần, chiếc mùng và chiếc chăn đơn, đầu không nón, chân không giày. Đến mùa Đông tù nhận được phát áo “trần thủ” độn bông, những chiếc áo thời Điện Biên Phủ dễ chừng đã từng thấm máu thương binh hay những người chết đã dược giặt giủ để dùng lại. Những đôi giảy vải cũng không chịu nỗi với thời gian khi phải lội qua cơn suối lạnh, những quãng đường lầy lội hay trên những con đường mòn qua núi trơn trượt, nên cuối cùng vẫn là đôi “dép râu” hay hai bàn chân trần, với mười ngón chân bám chặt vào thớ đất … quê hương tù đày.
Buổi sáng chúng tôi thức giấc giữa vùng trời lạnh đầy sương muối. Những bàn chân gầy lép phải nhấn sâu trong bùn nhão phủ bởi một lớp sương đã đóng thành băng trắng để thay đám trâu nhào đất làm gạch, cảm thấy cái lạnh buốt đền tim gan. Những ngày “ra gạch,” bụi bặm, than xỉ bám đầy tóc tai, áo quần, trên đường trở về trại, mặc dầu trởi rét cắt da, đoàn tù cũng phải cởi áo quần xuống suối tắm gội, toàn thân run rẩy, ửng đỏ vì máu phải dồn ra da để chống cải lạnh khắc nghiệt.
– Những buổi tối mua Đông, sau một ngày mệt mỏi, đói khát chúng tôi chi muốn buông mùng, tay ôm đầu để tìm vào giấc ngủ, nhưng lại phải chong đèn “học tập” ngồi “phê bình, kiểm thảo,” chì chiết, kê kích nhau để bình công, chấm diểm dưới cái bóng ma “cách mạng” dấu mặt. để định cho kẻ kia mười bốn, người nọ mười bảy cân lương thực. Đói, buồn, vất vả và giá buốt đã làm tiêu hao sức lực của những chàng trai trung nien, biến chúng tôi thành những con ma đói dật dờ. Những căn nhà mái tranh vách nứa, khe hở gió lùa, để chống rét, mỗi đêm trởi lạnh chúng tôi gom củi rừng, đốt một đống lửa giữa “lán,”để tìm chút hơi ấm. Ánh sáng cùa bếp lừa giữa nhà hắt bóng những người tù ngồi lên vách nứa, chập chờn như những bóng ma. Nửa đêm lửa tàn, cơn lạnh làm những người tù thức giấc, co ro, xót xa nỗi nhớ nhà, nghe tiếng gió rít trên vùng đồi núi chung quanh trại tù như tiếng ma quỷ kêu gào giữa dêm khuya. Cái lạnh là kẻ thủ lớn nhất của người tù trên núi rừng Việt Bắc, nó đâm da xẻ thịt những con người còm cõi vì làm lụng vất vã mà không có đủ miếng ăn, cộng với nổi buồn của những người lưu đày xa xứ, mỗi buổi chiều theo dõi đám mây trôi, mà thấy miền Nam xa biền biệt không có ngày về. Cái lạnh thường mang theo nỗi buồn, cái lạnh mang thêm cái đói, cái mệt nữa đã tàn phá con người một cách nhanh chóng, cho nên không ít người trong chúng tôi đã phải nằm lại trên những ngọn đồi heo hút, nhưng không phải xương cốt ai cũng được một ngày nào đó mang trở lại về quê hương.
Sung suớng cho các bạn bè còn ở lại miền Nam, dù sao mảnh đất đó cũng là ruột thịt, hơi hám của quê hương, để các bạn còn nghe giong nói quen thuộc, thấy dáng núi cỏ cây, vẫn nghĩ đây là nơi gần gũi với những người thân yêu, vì nơi đây dủ sao vẫn được gọi là đất nhà. Dù cùng là cảnh tù đảy nhưng không phải mang bản án lưu xử, phát vãng dến nơi “chim kêu vượn hú, biết đâu là nhà!” Bây giờ, gần ba mươi năm sau mỗi lần trời mùa Đông, tôi lại nhớ đến cái lạnh (mà người miền Bắc gọi là rét) Yên Bái, Tuyên Quang, Nghệ Tỉnh, .. với hình ảnh đoàn tù rách rưới, mệt nhọc, thểu não, lầm lì lê bước đi trên những con đường mòn qua rừng, qua suối, qua những bờ ruộng mấp mô, thèm một bát cơm nóng, một bếp lữa, một tiếng cười.
Bây giờ, dù là mùa Đông tuyết đổ trên xứ người, có chăn ấm nệm êm. có bát cơm nóng, có bếp lửa, có tiếng cười, những ai còn nhớ hay ai đã quên?
Hải quân Thiếu tá Thinh Hoang là Sĩ quan kỹ thuật tàu ngầm hạt nhân Hải quân Hoa Kỳ, ông hiện giữ chức Sĩ quan điều phối của Giám sát đóng tàu, chuyển đổi và sửa chữa tàu ngầm hạt nhân tại Groton, Connecticut (SUPSHIP Groton). SUPSHIP là cầu nối giữa Bộ Hải quân và Tập đoàn Electric Boat, là đơn vị tham gia thiết kế và chế tạo các tàu ngầm mới mang hoả tiễn đạn đạo lớp COLUMBIA, và tiếp tục chế tạo các tàu ngầm lớp VIRGINIA, cũng như sửa chữa và hiện đại hóa các tàu ngầm hạt nhân lớp OHIO, LOS ANGELES, SEAWOLF và VIRGINIA trong Hạm đội tàu ngầm. Trách nhiệm của Giám sát là quản lý các hợp đồng đóng tàu ngầm được giao, bảo đảm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật và chất lượng của hợp đồng, duy trì sản xuất đạt yêu cầu và bảo đảm sản phẩm cuối cùng được bàn giao cho Hạm đội tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ sẵn sàng hoạt động. SUPSHIP Groton có khoảng 427 nhân viên dân sự và 28 nhân viên quân sự tại ba địa điểm: Groton, New London, Connecticut, và Quonset Point, Rhode Island.
Thinh Hoang thụ huấn chương trình Ứng viên Sĩ quan Hải quân từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 11 năm 2016. Sau đó HQ Thiếu uý Thinh Hoang được bổ nhiệm làm Giảng viên kỹ thuật Trường năng lượng hạt nhân (NPS). Bộ Tư lệnh huấn luyện năng lượng hạt nhân Hải quân (NNPTC) tại Charleston, Nam Carolina từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 9 năm 2019.
Nhiệm vụ tiếp theo, HQ Trung uý Thinh Hoang được chỉ định làm Sĩ quan Phân đội (DIVO), phụ trách bộ phận thiết bị đo lường và điều khiển tại Trường đào tạo chuyên ngành hạt nhân A tại Charleston, South Carolina từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 4 năm 2021.
Tháng 5 năm 2021, HQ Đại uý Thinh Hoang thụ huấn ngành kỹ thuật và xây dựng Hải quân, khóa học 2N – MIT tại Cambridge, Massachusetts, ông hoàn tất khoá học vào tháng 8 năm 2024.
Tháng 9 năm 2024, HQ Đại uý Thinh Hoang được bổ nhiệm làm Sĩ quan kỹ thuật, Ứng viên Dolphin Hải quân (EDO), tàu ngầm hât nhân USS South Dakota (SSN-790) thuộc Hải đội 4 tại Groton, Connecticut, ông đã chứng minh được năng lực thành thạo kỹ thuật tàu ngầm. Ông phục vụ tại đơn vị này đến tháng 5 năm 2025.
Từ tháng 5 năm 2025 đến nay, ông là Sĩ quan kỹ thuật tàu ngầm hạt nhân Hải quân Hoa Kỳ, Sĩ quan điều phối của Giám sát viên đóng tàu, chuyển đổi và sửa chữa tàu ngầm hạt nhân tại Groton, Connecticut (SUPSHIP Groton).
Huy hiệu SUPSHIP Groton của linkedin.com
HQ Đại uý Thinh Hoang được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Active-Duty Officer Promotion Boards), chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá cho tài khoá YF-26, theo thông báo ngày 28 tháng 8 năm 2025, từ mynavyhr.navy.mil/References/Messages/ALNAV-2025. Và đã được Uỷ ban quân vụ thượng viện bầu chọn ngày 30 tháng 10 năm 2025 – congress.gov/nomination/119th-congress/541?hl=THINH+HOANG&s=5&r=1.
HQ Thiếu tá Thinh Hoang hoàn tất các Văn bằng: Cử nhân khoa học (BS), sinh hóa và sinh học hóa học, Đại học Wayne State University năm 2016; Văn bằng Cao học khoa học – MS, kỹ thuật và quản lý, Học viện công nghệ Massachusetts năm 2024; Văn bằng kỹ thuật Hải quân, khóa học 2N, Học viện công nghệ Massachusetts năm 2024.
HQ Thiếu tá Thinh Hoang là 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẩu hạm USS John C. Stennis (CVN 74); HQ Thiếu tá Loi Huynh, Sĩ quan chương trình hiện đại hóa C5ISR, Lực lượng Hải quân mặt nước Đại Tây Dương; HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao; Hải Quân Thiếu tá Hien Q. Vu, cố vấn Chương trình Sĩ quan trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến mặt nước; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan tác chiến mặt nước (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều nam, nữ HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Năm 2025 có 33 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá và 12 HQ Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá.
Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Thinh Hoang. Thinh Bao Hoang, họ và tên Việt Hoàng Bảo Thịnh.
Nguồn: navsea.navy.mil; mynavyhr.navy.mi; linkedin.com; bienxua-33 Hải Quân Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá năm 2025.
Lê Quỳnh Mai sinh 1962 tại Sài Gòn, theo học chương trình Pháp và cùng gia đình rời Việt Nam tháng 4-1975. Định cư tại Montréal, Québec, bắt đầu viết từ 1998. Đã in Tác giả với Chúng ta (2004), Gã Đấu bò thành Malaga (2005).
Lê Quỳnh Mai: Xin chị giới thiệu về nhà báo và nhà văn Trùng Dương Nguyễn Thị Thái.
Trùng Dương: Khi viết báo, tôi tôn trọng dữ kiện, sự chính xác. Khi viết văn, tôi để óc tưởng tượng của tôi thở, sống, “theo chân mây”, như tựa một cái truyện ngắn viết trước 1975, thay vì nhốt nó ở đâu đó. Ở cả hai bộ môn, văn chương và báo chí, chân thực là điều căn bản, nhất là sự chân thực trí thức.
LQM: Là chủ nhiệm nhật báo Sóng Thần tại miền Nam Việt Nam trước 1975. Chị có thể cho quý độc giả biết về quá trình thực hiện và hoạt động của cơ quan ngôn luận này không?
TD: Tình cờ tôi vừa viết xong bài điểm sách cuốn Báo chí ở Thành Phố Hồ Chí Minh – 100 Câu Hỏi Đáp Về Gia Định – Sài Gòn TP. Hồ Chí Minh, do Trương Ngọc Tường và Nguyễn Ngọc Phan biên soạn và nhà xuất bản Tổng hợp TP-HCM ấn hành năm 2006, về báo chí Miền Nam từ 1865 tới 1995, trong đó có 2 trang về tờ Sóng Thần với rất nhiều sai sót. Tôi nhận thấy, vì nhu cầu trong nước và cả ở hải ngoại hiện muốn tìm hiểu về nền văn học Miền Nam 1954-1975, trong đó báo chí là một bộ phận, nên tôi có viết lại về tờ báo Sóng Thần để những ai muốn tham khảo về tờ báo như một phần của báo chí nói riêng và văn học Miền Nam nói chung, có tài liệu và không phải đoán mò, cương ẩu. Rất tiếc là tôi không có phương tiện, nhất là sức lực, để suy khảo về cả 20 năm báo chí Miền Nam, mặc dù một dạo rất muốn và đã thu thập được một số tài liệu. Sau đây là phần viết về tờ Sóng Thần rút ra từ bài điểm sách. Tờ Sóng Thần ra đời vào tháng 10, năm 1971, và bị rút giấy phép vào tháng 2, năm 1975. Microfilm của những số báo Sóng Thần (trừ những số báo bị tịch thu không ra được tới sạp bán) hiện được lưu trữ tại thư viện Kroch Library Asia thuộc Đại học Cornell, Ithaca, N.Y. Bộ phim gồm bảy cuộn, mang số 5004, gồm 1971: Oct.-Dec., 1972-1974, 1975: Jan.-Feb. Khởi thủy Sóng Thần là cơ quan ngôn luận của nhóm chống tham nhũng Hà Thúc Nhơn (tên một đại úy y sĩ đã bị sát hại vào năm 1970 trong khi đơn thương độc mã chống tham nhũng trong chính quyền Nha Trang). Nhóm này gồm Bác sĩ Phạm Văn Lương, Giáo sư Nguyễn Liệu, Hà Thế Ruyệt, Phan Nhự Thức, Uyên Thao, Lý Đại Nguyên và một số người khác tôi không nhớ hết tên, và những người vì lý do riêng, không muốn công khai. Sau vì nhu cầu chuyên nghiệp, tờ báo tách ra đứng riêng, mặc dù vẫn theo chủ trương chống tham nhũng trong chính quyền và quân đội. Hồi ấy, tham nhũng ở Miền Nam chỉ bằng một phần nhỏ, so với bây giờ, và cũng chẳng lãnh đạo nào dám ngang nhiên tặng đảo, đất hay cho ngoại bang thuê mỏ, thuê rừng để bỏ túi riêng, như bây giờ. Và cũng không có lãnh đạo nào dám bênh vực tham nhũng, cho rằng tham nhũng ở Việt Nam còn thua xa vài quốc gia khác, như mới đây, ở Việt Nam. Sóng Thần được hình thành là do đóng góp tiền bạc dưới hình thức mua cổ phần của các cổ đông và độc giả. Tờ báo có trụ sở đặt tại 133 đường Võ Tánh, Sàigòn (không phải ở miền Trung như ghi trong cuốn Báo chí TP. Hồ Chí Minh). Tờ báo do tôi đứng tên làm chủ nhiệm, và nhà văn-nhà báo Chu Tử làm chủ biên. Sóng Thần chống tham nhũng ngay từ lúc đầu, chứ không phải mãi tới cuối năm 1974, như ghi trong bài “Xin cho biết về tờ Sóng Thần”. Tuy vậy, Sóng Thần chống tham nhũng, không chống chế độ hay chính phủ, như một số báo chí ngoại quốc hồi ấy xếp loại là “anti-government”. Ngoài ra là thông tin, bình luận thời cuộc, xã hội, và giải trí (mà việc đăng tải những truyện feuilleton là một). Báo có anh Nguyễn Đức Nhuận lo trị sự, một người rất tận tụy, không những đối với tờ báo, mà còn với gia đình của anh chị em tòa soạn. Phát hành thì có Sáu Cao (tôi không nhớ trọn tên họ của anh, anh chị em quen gọi anh là Cao vì anh … rất cao và gầy, người miền Nam, năng nổ, bộc trực). Tôi vẫn nhớ hình ảnh anh Sáu ngồi kiểu nước lụt (tức ngồi xổm, theo lối diễn tả của người Bắc), bứt rứt, khốn khổ, buồn so, mỗi khi nghe tin báo bị tịch thu vì một lý do nào đó, và anh không có báo để phát hành. Phần tòa soạn thì anh Uyên Thao điều hành, với tư cách tổng thư ký, và anh Trương Cam Vĩnh làm phụ tá. Phụ trách về trình bày và dàn trang, lo in ấn có các hoạ sĩ Đằng Giao, Huy Tường, và Vị Ý. Hồi ấy, chúng tôi đưa báo đi nhà in mướn người ta in, nhưng có riêng một dàn sắp chữ với khoảng một tá thợ, cậu nào cậu nấy lúc nào cũng mình trần vì phòng sắp chữ vốn là một cái gác lửng trần thấp nên rất nóng, và lem luốc vì mực. Phòng sắp chữ nằm phía sau tòa soạn, do sếp typo Tấn, một thanh niên gốc miền Nam, rất tận tụy, trông coi. Giờ nhìn lại tôi không khỏi xấu hổ mà nhìn nhận là trong số thợ sắp chữ đó có một số em chỉ mới trên dưới 10 tuổi, đủ biết đánh vần để có thể sắp chữ, bỏ học đi làm để kiếm sống giúp gia đình. Tôi cũng còn nhớ cảnh Tấn giục bài, “để mấy đứa nhỏ có bài sắp chữ” vào buổi trưa sau khi báo đã in và thợ sắp chữ sắp các bài nằm, có lần đứng bên cạnh bàn làm việc của tôi với cái thước kẻ, hễ thấy viết được khoảng nửa trang, cậu ta kê thước kẻ vào trang giấy xé cái rẹt, đem phần giấy có chữ xuống nhà sắp chữ, mặc tôi ngẩn ngơ như con gà vừa bị cắt đầu. Sau kinh nghiệm đó, tôi thường viết bài ở nhà, nếu bữa nào chậm bài cho Tấn. Thành phần biên tập, bình luận và nhiếp ảnh khá đông, nòng cốt gồm có Vũ Ánh, Đỗ Ngọc Yến, Lý Đại Nguyên, Đường Thiên Lý, Lê Thiệp, Dương Phục, Nguyễn Tiến Sơn, Lê thị Bích Vân, Anh Điển, Nguyễn Tân Dân, Chóe Nguyễn Hải Chí, Hùng Phong, Nguyễn Tuyển, Thục Viên, Triều Giang, Chu Vị Thủy, Vũ Ngọc Long, và nhiều người khác nữa. Bên cạnh đó là một hệ thống các văn phòng đại diện ở các tỉnh, đặc biệt là Đà Nẵng, Huế và Quảng Trị, với Nguyễn Kinh Châu, Nguyễn Quý, Ngy Thanh, Đoàn Kế Tường và nhiều anh em khác. Cộng tác viên thì càng đông hơn. Thường xuyên lui tới toà soạn tôi nhớ nhất có các anh Trần Phong Vũ và Vũ Đức Vinh, cả hai hồi ấy làm đài phát thanh Sàigòn, với anh Vinh là tổng giám đốc. Về sau này, sau khi nhật báo Đuốc Nhà Nam của ký giả lão thành Trần Tấn Quốc tự ý đóng cửa để phản đối luật báo chí mới 007/1972 đòi mỗi nhật báo phải ký quỹ 20 triệu đồng, Sóng Thần (tồn tại nhờ vay tiền ký quỹ, và số tiền này còn nằm ở Ngân Hàng Quốc Gia khi biến cố 30 tháng 4, 1975 xảy ra) mời được bỉnh bút Ngọa Long về cho có mầu sắc người Miền Nam vì đa số thành phần biên tập là những người gốc miền Bắc di cư năm 1954. Khác với lời ghi trong cuốn “100 Câu Hỏi Đáp” là cả ba nhà báo kỳ cựu gốc miền Nam Trần Tấn Quốc, Nam Đình và Ngọa Long “cùng sang cộng tác với Sóng Thần”, thực tế chỉ có một mình ông Ngọa Long bằng lòng về hợp tác thôi. Riêng về các nhà văn nhận lời viết feuilleton cho Sóng Thần thì khởi thủy gồm có Nguyên Vũ, Cung Tích Biền, Nguyễn Thuỵ Long, Vũ Ngọc Đĩnh, Hoàng Hải Thuỷ, v.v. Sau thêm một số khác nữa trong đó tôi nhớ hơn cả, vì là do chính tôi mời, mà lại mời viết hồi ký chứ không phải tiểu thuyết, để in song song, một phần cũng là nhằm lôi cuốn người đọc, đó là hai nhà văn nữ Túy Hồng và Nguyễn Thị Thụy Vũ. Tôi đã dự tính sau hai nhà văn này thì sẽ mời Nhã Ca và Nguyễn Thị Hoàng viết hồi ký song song như thế, nhưng chưa kịp, không nhớ vì lý do gì. Cả 4 chị đều là những nhà văn có nhiều sách truyện đã xuất bản và được nhiều người biết tới và đọc, khác với tôi, một người viết truyện “xuân thu nhị kỳ”, như chủ bút Văn dạo ấy, Trần Phong Giao, đặt cho tôi, có thể vì tôi luôn có những sở thích khác lôi cuốn mình, không chỉ mình văn chương. Những người viết feuilleton cho báo hàng ngày là cộng tác viên, không nằm trong thành phần biên tập. Ngoài công việc thông tin, nhật báo Sóng Thần còn tham gia vào hoặc tài trợ cho một số những sinh hoạt giáo dục (như hỗ trợ cho chương trình gây quỹ học bổng cho trường Quảng Ngãi Nghĩa Thục dạy học miễn phí cho vài trăm em học sinh trung học nghèo ở Quảng Ngãi, do Nguyễn Liệu và trên 100 giáo sư trung học ở Quảng Ngãi đảm trách); xã hội hoặc nhân đạo (như chương trình xây nhà giúp người nghèo, hoặc gây quỹ và phát động chiến dịch hốt xác và chôn cất gần 2,000 nạn nhân chiến cuộc trên Đại lộ Kinh Hoàng trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa 1972); hoặc văn nghệ (như lập nhà xuất bản Nhân Chủ, hỗ trợ gánh hát cải lương Bạch Tuyết-Hùng Cường, thực hiện phim “Yêu”, do Đỗ Tiến Đức đạo diễn, dựa vào cuốn tiểu thuyết cùng tên của Chu Tử). Cái ưu điểm của Sóng Thần, và lý do tờ báo lôi cuốn được nhiều người tham gia, hỗ trợ, đó là, ngoài chủ trương chống tham nhũng làm sạch hậu phương để hỗ trợ tiền tuyến chống Cộng đặng bảo vệ một Miền Nam tự do, còn do chỗ này: đó là tờ báo do nhiều người làm chủ, với tư cách cổ đông góp phần hùn vốn, và niềm tin của họ đặt vào hoài bão của nhóm chủ trương, cũng là ước vọng của họ. Tôi chỉ là người đứng tên trên giấy phép xuất bản và chịu trách nhiệm đối với chính quyền, trong đó có những màn đi hầu tòa mỗi khi báo bị tịch thu. Tôi còn nhớ mỗi lần tôi mặc áo dài đến tòa soạn, thế nào cũng có người hỏi: “Bữa nay bà đi hầu tòa hả?” Vì tôi ít khi mặc ào dài, mà thường mặc Âu phục để đi xe đạp cho đỡ vướng. Nói tóm lại, không có các anh chị em khác đã cộng tác với Sóng Thần và sự tin tưởng vào lý tưởng của tờ báo từ các cổ đông và độc giả, chắc chắn đã không có tờ Sóng Thần.
LQM: Khó khăn lớn nhất mà chị đã gặp khi thực hiện tờ Sóng Thần.
Trùng Dương
TD: Có lẽ là sự kiểm duyệt khá khe khắt, đôi khi vô lý và lố bịch, của chính quyền của ông Nguyễn Văn Thiệu, và đặc biệt là luật báo chí 007/72 ban hành sau biến cố Mùa Hè Đỏ Lửa, đòi mỗi nhật báo phải ký quỹ 20 triệu đồng để được phép tiếp tục xuất bản. Nguyên nhân sâu xa, đã hẳn là do tình trạng chiến tranh do cộng sản Hà Nội chủ trương, với sự thâm nhập hàng ngũ quốc gia của các cán bộ nằm vùng, đặc biệt trong giới cầm bút viết văn, đưa tới thái độ “paranoid” của giới lãnh đạo Miền Nam. Khi một tờ báo bị kiểm duyệt và tịch thu hơi thường xuyên, khách hàng quảng cáo sợ và độc giả cũng dần nản, bỏ mình, rồi cái nọ kéo theo cái kia.
LQM:Mặc dù tạo được tiếng vang lớn, nhưng tuổi thọ của Sóng Thần không được lâu dài như một số nhật báo nổi tiếng của miền Nam Việt Nam trước kia. Chị nghĩ sao về cái tên của nó như điềm báo trước về hiện tượng này?
TD: Chuyện “tên như một điềm báo” chỉ là để nói đùa với nhau cho vui. Tôi không tin tên Sóng Thần tự nó là một điềm báo. Hồi đó, mặc dù Sóng Thần nghe không có vẻ tên báo, nhưng ông Chu Tử rất thích khi tôi cho biết đã chọn tên báo là Sóng Thần. Ngoài Sóng Thần, còn có vài tờ khác cũng bị rút giấy phép cùng lúc, trong đó có tờ Đại Dân Tộc của ông Võ Long Triều.
LQM:Sau nhiều biến cố xảy ra, chị có tìm ra nguyên nhân tại sao nhật báo Sóng Thần bị đóng cửa hay không?
TD: Tôi nghĩ tờ Sóng Thần bị đóng cửa là vì thái độ sợ hãi, không còn tin ở ai của chính quyền của ông Thiệu. Như tôi đã nói ở trên, chính quyền của ông Thiệu khi ở bước đường cùng càng trở nên quẫn trí, phản ứng không còn theo lý trí nữa. Người Mỹ có thành ngữ “shoot yourself in the foot” (tự bắn vào chân mình), nói cách khác là tự đào mồ chôn sống, và đấy là tình trạng của những chế độ ở bước đường cùng và không tin ai nữa, kết quả là hở ra làm cái gì cũng sai, trật, và từ từ tự đào hố chôn mình và chôn theo cả một quốc gia, dân tộc. Ta cũng thấy điều đó hiện đang diễn ra ở Việt Nam.
LQM:Chị có nhận xét và so sánh thế nào giữa hai nền báo chí ở miền Nam Việt Nam trước 1975 và của cộng đồng người Việt hải ngoại sau 1975 (nói riêng tại Hoa Kỳ).
TD: Báo chí ở Miền Nam trước 1975 có kiểm duyệt, mặc dù không bị chỉ đạo, như báo chí dưới chế độ cộng sản độc tài ở Miền Bắc và cả 35 năm qua trên toàn Việt Nam. Báo chí Việt ở hải ngoại thì hoàn toàn tự do, chỉ cần xin giấy phép mở một cơ sở thương mại (business). Ngày nay với kỹ thuật Internet phổ biến, nhiều báo điện tử không cần cả giấy phép thương mại, chỉ cần ghi danh với một trong những cơ sở ghi danh trên Internet. Tuy nhiên, nhiều người làm báo ở hải ngoại, tất nhiên không phải tất cả, hiểu nhầm quyền tự do báo chí, cho rằng mình muốn viết gì, công kích hay chụp mũ ai thì đó là quyền của mình. Điều này không đúng. Càng tự do, trách nhiệm của người cầm bút càng cao, do đấy người cầm bút càng phải luôn học hỏi, tự trau dồi, về kiến thức cũng như khả năng nghề nghiệp. Và quan trọng hơn cả, theo tôi, là vun xới đức tính khiêm tốn, đạo đức nghề nghiệp.
LQM:Chị có so sánh gì về cả hai mặt tốt xấu trong cách làm báo của người bản xứ tại Hoa Kỳ và của người Việt tại hải ngoại.Và ý kiến về sự xuất hiện mạnh mẽ của báo điện tử hiện nay?
TD: Báo Việt ở hải ngoại, đặc biệt tại Nam Cali, nhiều quá, vì ai cũng muốn làm chủ báo, mà số người viết thì có hạn, độc giả có hạn, cũng vậy là khách hàng quảng cáo. Lượng thì nhiều mà phẩm không có bao nhiêu. Về phát thanh cũng vậy. Đã vậy, báo chí Việt ngữ, vì tính chất chính trị đặc biệt của cộng đồng Việt tị nạn, ít nhiều, dù không muốn, cũng bị lôi cuốn vào vòng chính trị, khó duy trì được tính khách quan, chuyên nghiệp. Chưa kể ảnh hưởng của khách hàng quảng cáo tới sự độc lập của tờ báo nữa. Báo chí Mỹ không bị chi phối bởi đặc tính chính trị này, mặc dù cũng không tránh được sự chi phối của quảng cáo. Báo chí Mỹ cũng không xuất bản ồ ạt như vậy. Tại một thành phố như Stockton, nơi tôi đã sống và làm việc 12 năm, chẳng hạn, với dân số khoảng 250 ngàn cho thành phố và khoảng nửa triệu cho toàn quận, chỉ có một tờ báo hàng ngày, tờ The Record, với số phát hành khoảng 70 ngàn số. Vậy mà từ nhiều năm trở lại đây tờ báo cũng đang khốn đốn vì sự phổ biến của Internet vì kỹ thuật này đang lấy đi khách hàng quảng cáo, nguồn thu chính của tờ báo. Và đấy là tình trạng chung của báo in tại Mỹ: nguồn thu quảng cáo đang bị thu hẹp lại, trong khi số độc giả mua báo cũng giảm đi. Kỹ thuật Internet chỉ mới được chính phủ Hoa Kỳ bàn giao cho tư nhân sử dụng vào năm 1995, 4 năm sau khi kết thúc cuộc Chiến Tranh Lạnh. Tuy thế, Internet đã biến đổi sâu xa đời sống của chúng ta ở mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật và cả những liên hệ và đời sống cá nhân. Cũng chưa có kỹ thuật nào từ cổ chí kim mà lại có khả năng thu nhỏ quả địa cầu, thông tin chớp nhoáng, kể cả “tin” bậy, và dân chủ hoá và trang bị sức mạnh (empower) cho người sử dụng, như kỹ thuật Internet, mà World Wide Web, gọi tắt là Web, là một bộ phận. Do đấy chúng ta không nên lấy làm lạ khi báo điện tử của người Việt trong và ngoài nước bỗng tràn lan, bên cạnh những ấn bản điện tử (online) của những báo giấy, đấy là chưa kể các trang Web của các đoàn thể, hội, nhóm và cá nhân. Không cần chi phí nhiều để mở những trang Web đó, chưa kể nếu chịu khó thì có thể tự làm lấy trang Web của mình với sự hỗ trợ của một vài chương trình computer, rồi thuê post lên Web, tốn vài chục Mỹ kim/tháng. Vấn đề là có người viết và viết như thế nào, có đáng cho chúng ta theo dõi đọc và tin được không. Không ai ở hải ngoại này, kể cả chính quyền, có thể “đóng cửa” những Web sites này, trừ phi họ vi phạm điều lệ của hãng Internet mà họ thuê post và có người khiếu nại. Do đấy, người đọc cần đủ hiểu biết và thông minh để phân biệt thực hư, giữa sự thực và dối trá, đừng bạ cái gì cũng tin, rồi chuyển đi tứ tán, qua phương tiện e-mail, một cách vô trách nhiệm.
LQM:Là nhà báo và cũng là nhà văn, chị thích lãnh vực nào hơn. Tại sao?
TD: Không có lãnh vực nào tôi thích hơn lãnh vực nào, mà cả hai bổ sung cho nhau. Càng lớn tuổi, với kinh nghiệm, mình càng thực tiễn hơn, không còn mơ mộng, đam mê như lúc còn trẻ, do đấy óc tưởng tượng cũng mòn mỏi đi. Vì nhu cầu công việc và thói quen nghề nghiệp, tôi nghiêng về báo chí nhiều. Tóm lại, tôi đọc báo, tạp chí, sách non-fiction, xem phim tài liệu nhiều hơn là đọc truyện và xem phim truyện, trừ những tác phẩm thật hay. Viết cũng vậy.
Một huối trưa, tôi đang gặm bánh mì, bé Đông xô vào nhà như cơn lốc. Nó cười rất tươi, nói không kịp thờ.
“Anh Hiên ơi. em lên nhà ông kỹ sư mới biết anh đi rồi. Chẳng biết anh đi-mô. Mạ bắt tìm anh cho bằng được. Mạ nói, đáng lã anh thi đậu phải báo tin mừng cho mạ. Răng anh đi mất biệt?”
Tôi hững hờ: “Sao mạ em nghĩ rằng anh thi đậu?”
“Em coi bảng niêm yết thấy tên anh, cm nói với mạ.”
Tôi sửng sốt, tường như nghe lầm: “Cái gì? Có bảng niêm yết rồi hả? Bảng niêm yết có tên anh?”
“Rứa anh không coi à? Bảng niêm yết có từ hai ngày ni
“Có tên anh?”
“Úi chao, cái ông nì!”
Con ma tuyệt vọng chán đời trong lồi bừng dậy. Niềm vui òa vỡ. Trong giây phút bất chợt không hề suy tính, tôi nhào tới ôm bé Đông.
“Em nói thật?”
“Em dối, trời hại em đi.”
“Đừng thề.”
Bé Đông lúng túng trong tay tôi. Vành tai nó hồng lên, bẽn lẽn dẩy tôi ra.
“Cái ông nì!”
“Ông nì thế nào? Đi ngay với anh.”
Tôi kéo tay bé Đông chay ra xe. Nóng lòng muốn nhìn thấy tên mình trên bảng niêm yết, tôi đạp xe vùn vụt về hướng trường Trung Học Võ Tánh. Ngoi phía sau, bé Đông la: “Cần thận, anh!”
Mặc nó la. Tôi không còn để ý điều gì khác. Có hai loại bãng niêm yết kết quả thí sinh trúng tuyển kỳ thi tú tài 1. Bảng chính và bảng phụ. Tỷ số thí sinh chính thức trúng tuyển quá ít, người ta hạ số điểm xuống để lấy thêm một số thí sinh điểm thấp. Tên tôi nằm trong bảng phụ, thuộc thành phần đậu vớt. Đã rơi xuống vực, lại được vớt lên. Nỗi mừng vui chắc phải lớn hơn kẻ dã đứng vững trên bờ.
Tôi vẫn lén lút đến nhà chị y tá. Tinh thần phấn khởi, khác hẳn những ngày trước. Nhà chị luôn đóng cửa. Lần nào tôi dến gõ, chị cũng xuất hiện với nụ cười. Lần cuối cùng tôi đến, người ra mờ cửa không phải là chị. Một người khác. Một đứa con gái, tôi ngờ ngợ như dã nhìn thấy ở đâu rồi.
Nộ có vẻ ngạc nhiên, nhưng ngay tức khắc lấy lại bình thường.
“Anh vào ngồi chờ một chút. Chị tui đang bận tay.”
Nó đem cho tôi ly nước, rồi đứng xớ rớ nơi cái bàn tròn, chưa chịu cút đì. Hình như nó muốn nói điều gì. Tôi sợ gặp người quen trong tình thế này.
Nó e dè hỏi: “Anh tên Hiên?”
Tôi giật mình, chối phắt: “Không.”
Mặt tôi lạnh băng, trà lời cộc lốc. Nó hơi ngỡ ngàng. Cười gượng, quay lưng vào nhà trong. Tôi cố nhớ lại đã gặp con nhỏ này ở dâu, trong trường hợp nào? Đành chịu. Trên đường về, chợt nhớ ra nó là con bạn của Phương Nghi. Vài lần, tôi nhìn thấy hai đứa nó cùng đi trên phố Độc Lập. Sao tôi lại chạm mặt nó trọng nhà của chị y tá? Liệu chị nó có nói tôi đang chích thuốc vì bệnh lậu? Liệu nó có kể lại cho Phương Nghi về trường hợp của tôi? Tôi với Phương Nghì dầu đã chia lìa, nhưng lòng tôi còn khắc khoải chưa nguôi. Bất cứ điều gì có liên quan tới Phương Nghi, cũng làm tôi ray rứt. Cuối tuần, bác Huế không ra ngồi bán sạp vãi. Bác nói, ở nhà làm tiệc mừng cậu tú. Đậu được cái tú tài không dễ mô. Quả thật, kém thông minh như tôi, đậu được cái tú tài không dễ. Ốm o gẩy mòn. Trầy vi tróc vẫy. Khổ sở trăm bề. Sắp hụt hơi mới lọt qua cái cửa ải tú tài 1. Tôi như con cá thành rồng. tâm hồn bay tận mây xanh. Bác Quảng ngồi lọc cọc đánh máy những tờ Thế Vì Khai Sinh. Công việc ngoai giờ hành chánh, bác làm kiếm thêm tiền cho cà phê thuốc lá. Bác nói thế. Khi bác làm việc, cái gạt tàn bên cạnh luôn luôn có điếu thuốc cháy dở. Tôi đậu tú tài, bác thưởng bộ dồ mới.
Tôi mặc bộ đồ mới. Đi ra đi vào. Bác Huế, bé Đông lúi húi trong bếp, lo nấu ăn cho bữa tiệc.
Không khí gia đình đẩm ấm vui tươi. Tôi vào bếp, phụ bé Ià lặt rau.
Bác Huế hỏi: “Thi đậu rồi, con có dự định gì không?
“Con sẽ xin vô trường Trung Học Võ Tánh.”
“Con có định về quê thăm nhà, báo tin mừng cho ba con?”
“Con không có ý định đó.”
“Bác nghĩ, ba con không đơn thuần nghc lời vợ kế mà đuổi con đi. Chắc là phải có nguyên nhân nào khác nữa.”
Tôi nghĩ tới những điều bịa đặt khi mới gặp bác Huế, hơi ân hận. Nhưng cho đến bây giờ, tôi cũng không tnuốn đính chính. Tôi nói: “Vâng. Còn nguyên nhân khác nữa. Chuyện lâu rồi, con muốn quên đi.”
Bác Huế không nói gì. Nhìn bác, tôi nghĩ dến má tôi. Tôi nới những lời đầy khách sáo: “Con có được như ngày hôm nay, cũng nhờ vào hai bác đùm bọc. Cái ơn của hai bác đối với con nặng lắm.”
Bác Huế hỏi dùa: “Rứa eng tính trả ơn cho tui bằng cách chi?”
Nhìn bé Đông, tôi cũng đùa: “Con sẽ cưới bé Đông, trả ơn cho hai bác.”
Bác cười: “Muốn cưới con gái tui, eng phải ở rễ trước ba năm.
Bé Đông la: “Mạ ạ ạ … , đừng đùa như rứa.” Rồi chạy lại cú vào lưng tôi, “Còn cái ông nì, chết duyên chưa! Người chi mà nói không biết ngượng. Ai thèm ưng ông?”
Bác Huế và tôi cười vang trong bếp. Mặt bé Đông đỏ lên vì thẹn. Trên bàn ăn, bác Quảng nói về thời đi học của bác. Giặc giả không yên. Làng quê buồn thảm. Học hành khó khăn. Thời ẩy, ai đậu cái bằng Thành Chung là giá trị lắm. Từ Quảng Nam, bác ra Huế học và gặp bác Huế ở đó.
Rồi bác đùa: “Bác tính về quê lấy vợ. Nhưng mụ ấy mê bác, đòi trầm mình xuống sông Hương, nếu bị bỏ rơi. Thấy tội quá, bác đành hy sinh đời bác cho mụ.”
Bác Huế hỏi: “Rứa mỗi ngày tui đi học về, ai đứng trồng cây si khô héo bên đầu cầu Tràng Tiền?”
“Ối, cái thời trai trẻ, ai không rứa, Tui tính chuyện chơi chọ vui. Mụ tính chuyện thiệt.” Bữa tiệc mừng tôi thi đậu tú tài, vui như ngày tết.
Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben
Dịch giả: Cô Liêu
Post by Sơn râu 30 May 2026
Elisabeth nói:
– Không có ai cả. Mụ Lieser và cả hai đứa con đều đi rồi. Chúng ta hoàn toàn làm chủ nhà này.
– Tạ ơn Trời! Anh đang lo mình nổi nóng đập chết mụ ta nếu mụ ta còn mở miệng nói càn. Hôm qua em còn cãi nhau với mụ hả?
Elisabeth cười:
– Mụ bảo em là điếm.
– Sao vậy? Chúng ta chỉ ở trong này độ một giờ hôm qua.
– Nhưng vì tối hôm kia và tối hôm trước nữa chúng ta ở đây suốt buổi tối.
– Nhưng chúng ta đã bịt kín lỗ khóa và cho chạy kèn hát không ngừng. Tại sao mụ lại nghĩ có thể như thế được?
Elisabeth nhìn chàng một cách giễu cợt mà rằng:
– Em cũng tự hỏi thế.
Graber nhìn nàng, nàng hơi đỏ mặt. Y tự hỏi: “Không biết tối hôm ấy đầu óc mình để đâu”.
– Tối nay mụ đi đâu?
– Mụ đi quyên các làng. Không biết để cứu trợ mùa đông mùa hạ gì đó. Tối mai mới về. Chúng ta được thảnh thơi cả tối nay lẫn ngày mai.
– Cả ngày mai à. Chủ nhật được nghỉ cho đến khi có lệnh mới.
– Chủ nhật à! Anh quên bẵng đi mất. Vậy thì ban ngày có thể đến thăm em được. Cho đến nay chúng mình chỉ gặp nhau lúc tối.
– Thật ư?
– Thật chứ. Lần thứ nhất vào ngày thứ hai. Chúng ta đi chơi mang theo chai a-ma-nhắc.
– Ừ nhỉ. Em cũng vậy, em chưa từng trông thấy anh ban ngày.
Nàng nhìn y rồi quay mặt đi.
– Chúng ta sống như chim ăn đêm ấy.
– Có thể nào làm khác không?
– Khi nào chúng ta thấy nhau dưới ánh sáng buổi trưa thì chắc là phải lạ lùng lắm.
– Thôi cứ tin ở Thượng đế. Nhưng tối nay biết làm gì? Lại đến tiệm ăn hôm trước? Thật là hú vía. Đáng tiếc rằng lữ quán Germania đóng cửa.
– Ta cứ ở đây. Ta có đủ đồ uống. Để em thử làm bếp một chút.
– Ở đây mà em chịu được à?
– Khi không có mụ Lieser, em có cảm tưởng rằng mình được nghỉ hè.
– Thế thì ở đây. Một tối không có kèn hát. Như thế kể cũng thần tiên lắm chứ. Anh cũng không cần trở lại trại. Nhưng em có biết làm bếp không? Trông em không có vẻ thạo tí nào.
– Thì cứ thử xem. Mấy lại cũng chẳng có gì. Phiếu thực phẩm cho gì thì ăn nấy thôi.
– Có bao nhiêu đâu mà phải lo.
Hai người đi xuống bếp. Y nhìn đồ ăn của Elisabeth. Lỏng chỏng một chút bánh mì, mật nhân tạo, dầu, hai quả trứng và vài củ khoai tây héo.
– Em còn phiếu thực phẩm. Có một cửa tiệm còn mở cửa. Để em đi chợ.
Graber đóng ngăn chạn ăn.
– Thôi, giữ phiếu thực phẩm để dùng sau. Bây giờ đi kiếm thứ khác. Ta phải tháo vát mới được.
– Ta không thể lấy ở đây được. Mụ Lieser có gì mụ nhớ từng li từng tí.
– Chắc thế. Nhưng anh đâu có nói chuyện lấy của ai. Ít ra ngày hôm nay. Để anh đi làm một cuộc tịch thu như lính chiếm đóng nước người. Tối nay Binding có mời anh dự tiệc. Để anh đến lấy phần của anh. Nhà hắn có nhiều thức ăn lắm. Đi độ một giờ thôi.
***
Binding tiếp đón y niềm nở. Anh ta say rượu, mặt đỏ nhừ.
– Anh đến thật là vui vẻ quá. Hôm nay là ngày sinh nhật của tôi. Có mời mấy người bạn.
Trong phòng đầy khói thuốc và tiếng cười nói.
Graber đứng trong hành lang bảo Binding:
– Anh ạ, tôi không thể ở lại được, đi qua đây ghé vào thôi, lại phải đi ngay.
– Đi à. Không có vấn đề đi.
– Anh tha lỗi cho tôi. Tôi có hẹn rồi mới được anh cho biết.
– Không sao. Cứ nói là anh mắc đi họp… hay mắc đi khai cung.
Binding cười.
– Ở đây có hai Cảnh sát Mật vụ, để tôi giới thiệu với anh. Cứ nói rằng anh bị Cảnh sát Mật vụ mời đến. Nói thế cũng không phải là nói dối. Hay là đưa bạn anh đến đây nếu họ vui tính.
– Không thể được anh ạ.
– Sao thế? Đối với tôi không có chuyện không thể được.
Graber nhận thấy tốt hơn hết là nên nói thật.
– Anh biết cho tôi. Tôi không hay hôm nay là sinh nhật anh. Tôi đến đây xin anh chút gì ăn uống. Tôi có hẹn với một người không thể đưa lại đây được. Làm như vậy thì điên quá. Anh hiểu không?
Binding bật cười:
– Biết tẩy cậu rồi. Lại đi với cô nào chứ gì! Tôi bắt đầu nghi anh rồi đó. Ừ như thế thì còn tha thứ được. Tiếc rằng hôm nay nhiều món thú vị lắm. Thử vào coi? Cô Irma kìa nom xem ngon lành không. Cô ta vừa ở trại tập trung về. Cô tóc vàng đi giày ủng đó. Còn cô Gudrnn kia thì nội trong tối hôm nay anh có thể đưa vào giường nằm được ngay. Cô ta vẫn ở đây đợi chiến sĩ ở mặt trận về. Mùi hầm đất làm cô ta khoái lắm.
– Tôi thì không.
Binding bật cười.
– Cả mùi trại tập trung nữa à? Anh chàng mập ụ ngồi kia kìa khoái lắm. Nhưng tôi cũng không thích. Tôi có sở thích bình thường thôi, cái gì êm đềm nhung lụa. Anh thấy cô bé nhỏ ngồi góc kia không?
– Tuyệt!
– Arih muốn à? Tôi nhường cho anh nếu anh ở lại.
Graber lắc đầu.
– Không thể được.
– À tôi hiểu. Anh kiếm được món hạng sang chứ gì. Thế thì anh cũng không đáng trách. Tôi ở địa vị anh tôi cũng làm vậy. Xuống bếp với tôi kiếm cái gì ngon ngon cho nàng. Rồi trở lại cụng ly với chúng tôi, ngày sinh nhật mà. Đồng ý?
– Đồng ý.
Bà quản gia đang bận túi bụi trong bếp.
– Đây có đồ nguội. Anh muốn lấy gì thì lấy. Hay bà quản gia, nhờ bà gói một ít đồ ăn cho ông Graber để tôi xuống hầm kiếm rượu.
Dưới hầm rất nhiều đồ ăn.
– Để tôi lấy cho. Trước hết xúp ba ba đóng hộp. Cứ hâm nóng rồi ăn. Đồ chở thẳng từ Pháp sang. Anh lấy hai hộp đi. Lấy măng Hòa Lan nữa này, ăn nguội hay nóng tùy thích. Kia là dăm bông Tiệp Khắc, phần đóng góp của Tiệp Khắc cho khẩu phần chúng ta.
Y trèo lên cái ghế đẩu:
– Phó mát Đan Mạch và bơ. Cái này để lâu được. À lấy một ít đào si rô nữa, hay nàng của anh thích trái dâu?
Graber nhìn hai chân ngắn ngủn đi giày véc ni cao gót trên chiếc ghế đẩu:
– Giày hai tầng gót vẫn cao hơn một chút chứ anh!
Binding cười.
– Tôi vẫn khoái anh vì anh vui tính. Buồn rầu làm quái gì hả? Ta phải hưởng của trời cho chứ, mặc kệ những thằng ghen ghét chửi bới. Tôi có ý kiến của tôi!
Anh ta bước xuống đi vào hầm trong chứa rượu.
– Đây là chiến lợi phẩm mà. Kẻ thù của ta là tay sành rượu lắm. Anh thích cái gì? Vốt-ca? A-ma-nhắc? Đây cũng là rượu Slivovitz Ba Lan.
Graber không muốn lấy rượu. Đồ lấy trong hầm lữ quán Germania còn nhiều. Binding có lý lắm, chiến lợi phẩm phải để cho mọi người cùng hưởng, mà người ta cũng cần hưởng của trời cho.
– Tôi cũng có sâm banh. Nhưng không ưa lắm. Hình như ái tình không có rượu sâm banh không được phải không? Mang chai này đi và hãy tỏ ra mình đáng mặt ăn chơi với đời.
Y bật cười:
– Anh biết tôi thích gì không? Chỉ thích kummel thôi! Kummel thật lâu ngày, nói nghe thì kỳ thật, nhưng tôi thích là tôi thích. Anh mang một chai về đi, khi nào uống thì nhớ đến A.Binding này nhé!
Y cầm hai chai trở lên bếp.
– Gói làm hai bó bà ạ. Một bó thức ăn, một bó rượu, lót giấy nhiều vào cho đi đường khỏi vỡ. Thêm cà phê nữa, cà phê thứ thiệt đó. Như vậy được không?
Binding hớn hở. Graber nói:
– Mong rằng tôi có sức để mang hết.
– Binding không quên bạn cũ, nhất là ngày sinh nhật.
Anh ta nhìn Graber, hai mắt sáng quắc, má đỏ hây hây. Nom anh ta y như một đứa lấy được một tổ chim. Graber cũng cảm kích vì anh tốt với bạn bè như thế. Nhưng y lại nhớ đến lúc Binding nghe chuyện Heini mà cũng vui vẻ tràn bờ.
Binding nháy mắt ra hiệu :
– Cà phê để đến sáng mai. Mong rằng anh sẽ nằm ngủ cho đến trưa, đừng về trại ngay. Thôi bây giờ vào đây để tôi giới thiệu với bạn tôi, hai người ở Ty Cảnh sát Mật vụ. Quen biết họ có lợi sau này. Anh uống một ly mừng tôi, mừng căn nhà này với những đồ ngon lành cho ta hưởng trong lúc khó khăn này.
Anh ta bỗng trở nên ủy mị:
– Chúng ta là người Đức, chúng ta vẫn không chừa được tính lãng mạn.
Elisabeth lúng túng mà rằng:
– Không thể để tất cả dưới bếp. Phải tìm chỗ cất cẩn thận mới được. Mụ Lieser mụ mà nom thấy thì mụ tố cáo ngay em làm chợ đen.
– Ừ nhỉ! Anh không nghĩ đến. Lấy những món không ưa đem cho mụ để mụ câm mồm có được không?
– Anh thấy có cái gì chúng ta không thích?
Graber cười:
– Chỉ có mật nhân tạo và dầu là không cần. Nhưng mai kia sẽ cần đến.
– Vả chăng cũng khó mà mua chuộc mụ. Mụ lại tự kiêu mà chỉ nhất định sống bằng phiếu thực phẩm.
Graber ra vẻ nghĩ ngợi.
– Từ bây giờ đến tôi mai chúng ta sẽ ăn hết một phần lớn. Nhưng hẳn là không hết. Còn thì cất đâu được?
– Trong phòng em. Để đằng sau sách vở và quần áo. Em cũng còn cái va-li có khóa.
– Nếu mụ lục lọi khắp cả thì sao?
– Bao giờ đi em cũng khóa cửa.
– Sợ mụ có chìa khóa khác.
– Em không nghĩ đến chuyện ấy, chắc mụ có.
Graber mở một chai.
– Chúng tạ được thong thả cho đến tối mai. Hãy bắt đầu ăn cái gì thích nhất. Bây giờ mở hết ra đặt trên bàn như tối Nô-en.
– Cả đồ hộp nữa à?
– Cả đồ hộp. Để nhìn mà. Nhưng ăn hộp nào mở hộp ấy thôi. Tất cả gia tài của mình kiếm được một cách thẳng thắn bằng cách ăn cắp và hối lộ.
– Uống cả rượu của lữ quán Germania?
– Thì hẳn rồi. Đó là giá mấy giờ lo sợ hết hồn trong hầm rượu.
Họ đẩy bàn ra giữa nhà rồi cởi các gói đồ ăn, mở nút rượu Slivovitz, cô-nhắc, kummel. Còn chai sâm banh để lúc ăn xong.
– Trời ơi! Chúng ta giàu quá. Còn tối nay khao gì đây?
Graber đưa rượu cho nàng.
– Khao cả một lượt. Làm gì có thời giờ mà khao riêng từng bữa. Khao cả một thể để mừng được họp mặt với nhau và được hai ngày nghỉ.
Y đi quanh bàn đến ôm lấy Elisabeth. Nàng như bản thân thứ hai của y, phong phú hơn, nồng ấm, sáng sủa hơn, cũng nhẹ nhàng hơn vì không giới hạn, không quá khứ; sống tất cả cho hiện tại không chút thắc mắc. Nàng nép mình vào người Graber. Cái bàn đầy món ăn làm cho căn phòng thêm vẻ long trọng.
– Khao một bữa mà như thế này có nhiều quá không?
Y lắc đầu.
– Anh đã dùng những chữ to tát quá. Thực ra vẫn chỉ là một vấn đề: sự sung sướng vì vẫn còn được sống.
Elisabeth uống một hớp:
– Nhiều lúc em tự hỏi rằng có lẽ chúng ta còn biết hạnh phúc nếu người ta để cho chúng ta sống.
– Em nói đúng.
– Dĩ nhiên trừ kỷ niệm cha em ra còn thì cứ dẹp hết sợ hãi, dẹp hết, như thế em càng được thanh thoát để bắt đầu sống cuộc đời sống khác.
Graber nhìn nàng. Ánh sáng yếu đt từ cửa sổ rọi xuống hai vai. Bên ngoài vọng đến tiếng cuốc và xẻng xúc đất.
– Đưa cho anh chai rượu để ở bồn tắm. Chúng ta uống hết đi trước khi căn nhà này tan thành mớ gạch vụn.
– Chai rượu của lữ quán Germania?
– Phải rồi. Để những chai của Binding vào đấy. Ai đã biết lần bom sắp tới xảy ra lúc nào. Những thứ rượu ấy dễ nổ như lựu đạn. Có ly không?
– Có ly uống nước.
– Uống sâm banh với ly ấy cũng được, ở Ba Lê tụi này vẫn uống như thế.
– À, lúc mới bắt đầu chiến tranh.
Nàng mang ly lại. Y mở nút chai rất cẩn thận. Rượu lóng lánh dưới đám bọt trắng.
– Anh ở Ba Lê bao lâu?
– Vài tuần lễ.
– Ở đấy người ta ghét các anh lắm hả?
– Có lẽ. Anh không nhận thấy, vả chăng tụi này cũng không muốn để ý đến làm gì. Người ta bảo mình thế nào mình cũng tin như thế. Mình chỉ muốn chóng hết chiến tranh để có thể về ngồi phòng trà uống cà phê, uống những thứ rượu chưa biết. Bấy giờ mình còn trẻ quá.
– Trẻ à! Anh nói như cách đây đã mười năm.
– Anh có cảm tưởng ấy thật.
– Bây giờ anh không còn trẻ nữa à?
– Trẻ chứ, nhưng trẻ một cách khác.
Elisabeth giơ ly ra trước cửa sổ, cầm lắc khẽ để xem những hột nhỏ từ đáy ly đưa lên. Graber nhìn vai nàng, nhìn suối tóc đen, đường cong lưng ong, đường lượn hai cẳng. Y nghĩ: “Sao nàng lại nghĩ đến bắt đầu sống lại, khi nàng không còn quần áo, không còn gì dính dáng đến căn nhà này, công việc làm ăn, mụ Lieser? Nàng chỉ là một với ánh sáng lập lòe ngoài cửa sổ, với đêm trường xao xuyến, với thị dục mù quáng xông lên, kế theo đó là sự trống rỗng ngao ngán, với tiếng gọi khan cổ, với tiếng nói mệt nhọc bên ngoài, với đời sống và cũng với những người chết vùi dưới đống gạch vụn còn đang bới lên. Nhưng quả là nàng xa lạ với những ngẫu nhiên phi lý của chiến tranh, với sự khổ cực mà con người phải chịu vô cđ. Dường như nàng không muốn giữ kẽ nữa mà cứ hành động theo sự bó buộc của cuộc đời”.
Nàng nói:
– Em rất tiếc rằng không được ở Ba Lê với anh hồi trước.
– Còn anh, anh muốn mai mốt được sang Ba Lê với em.
– Liệu người ta có ác cảm với mình không?
– Có lẽ không. Chúng ta có tàn phá Ba Lê đâu?
– Đành thế, còn những vùng khác của nước Pháp?
– Cũng không tàn phá nhiều hơn ở các nước khác. Chúng ta lấy nước Pháp mau lắm mà.
– Sợ rằng các anh tàn phá nhiều quá, để họ căm thù bọn mình trong nhiều năm.
– Không biết. Người ta dễ quên khi chiến tranh kéo dài. Có lẽ họ căm thù chúng ta thực sự.
– Em muốn chúng ta đến xứ nào không bị tàn phá.
– Không có bao nhiêu. À còn gì uống không?
– Còn, còn nhiều, ở Ba Lê rồi anh còn đi đâu nữa.
– Sang Phi châu.
– Phi châu nữa à? Chắc anh thấy nhiều, biết nhiều.
– Biết nhiều thật, nhưng không biết như thuở nhỏ mình ao ước.
Nàng cầm lấy chai rượu rót đầy ly. Chàng nhìn nàng làm việc. Tất cả đều có vẻ không thực nhưng không phải vì họ đã chuếnh choáng hơi men. Tiếng nói trôi vật vờ trong bóng tối mờ, còn cái gì thực là quan trọng thì không thể diễn tả bằng lời nói. Cái gì quan trọng phồng ra rồi xẹp lại như con sông lớn, không thể diễn thành ngôn từ, tiếng nói chỉ vật vờ trên sông như những cánh buồm trắng lướt đi.
– Xứ Hòa Lan. Ấy là lúc mới có chiến tranh. Thuyền bè lướt đi trên những con kinh, mặt nước cũng cao ngang với đồng ruộng, người ta có cảm tưởng thuyền bè đi trên ruộng vậy. Thuyền trôi lặng lẽ, buồm căng trước gió, đến chiều nom thật lạ mắt, nom như những con bướm cánh lam và trắng.
Nàng mơ mộng:
– Xứ Hòa Lan. Hết chiến tranh chúng ta có thể sang chơi Hòa Lan, ăn bánh bột mì và các loại pho mát Hòa Lan, đến chiều chúng ta sẽ đi xem thuyền bè trên kinh.
Chàng nhìn nàng và nghĩ thầm: Nàng chỉ nghĩ đến ăn. Hạnh phúc bây giờ gắn liền với thực phẩm.
Nàng lại nói:
– Mong rằng người Hòa Lan không ác cảm chúng mình.
– Có thể lắm. Chúng ta đã chiếm Hòa Lan và phá thành Rotterdam mà không khai chiến. Anh đã trông thấy cảnh điêu tàn. Không có một cái nhà nào đứng vững. Ba chục ngàn người chết. Có lẽ ở đấy người ta cũng không ưa mình đâu.
Một lúc yên lặng. Bất thần nàng cầm cái ly ném mạnh xuống sàn.
– Như vậy thì còn mơ ước làm gì! Chúng ta không thể đi đến đâu được, không ai ưa ta, ở đâu người ta cũng chửi rủa mình!
Graber ngồi xuống bên giường. Hai mắt người thiếu nữ sáng như thủy tinh trong ánh sáng mờ rung rinh từ ngoài tràn vào. Chàng cúi mình gần nàng và xem xét dưới sàn:
– Chúng ta phải thắp đèn lên để nhặt hết mảnh thủy tinh kẻo giẫm phải thì đứt nát chân. Đợi chút, anh ra đóng cửa lại.
Y đứng dậy. Elisabeth vặn đèn và choàng cái áo lên mình. Ánh sáng làm cho nàng e thẹn.
– Đừng nhìn em. Không biết sao em lại làm thế này. Xưa nay em có nóng nảy như thế bao giờ!
– Có lẽ có chứ! Cái không phù hợp với em là cuộc sống ở đây. Như vậy có gì là lạ nếu thỉnh thoảng em đập phá một chút.
– Em muốn biết cái gì phù hợp với em ở đâu!
Graber cười.
– Anh cũng vậy! Có lẽ là một rạp hát xiệc, hay một cái lều căng ngoài trời, hay một phòng trà Mỹ. Dầu sao thì cũng không phải là căn phòng ngăn nắp của con gái như căn phòng này. Thế mà tối thứ nhất đến đây anh tưởng em mồ côi không ai săn sóc!
– Đúng thế em mồ côi, không ai săn sóc thật.
– Thì anh cũng thế.
– Chúng ta ai cũng thế cả. Nhưng chúng ta vẫn sống được không cần ai giúp đỡ cả.
Y trải một tờ nhật trình xuống sàn rồi lấy tờ khác vun hết mảnh ly vỡ vào đó. Tình cờ y đọc những hàng tít lớn nơi trang nhất. Thâu hẹp thêm phòng tuyến. Kịch chiến trong vùng Orel. Y gập tờ nhật trình lại bỏ vào sọt rác. Bầu không khí ấm áp trong phòng bỗng tăng bội tiện nghi. Người ta còn nghe tiếng cuốc và tiếng hốt gạch của toán người dọn dẹp. Đồ ăn của Binding cho vẫn bày khắp mặt bàn.
– Để em dọn dẹp đi. Em không muốn nhìn những vật này nữa.
– Dọn đi đâu?
– Cất vào bếp. Từ đây đến chiều mai còn kịp thì giờ để mang đi chỗ khác.
– Đến chiều mai chắc không còn gì. Nhưng sợ mụ Licser về sớm hơn.
– Kệ mụ.
Graber ngạc nhiên nhìn nàng. Nàng thấy thế bèn nói:
– Em không cần để ý đến mụ nữa. Chính em cũng ngạc nhiên rằng mới từ hôm qua đến giờ mình đã thay đổi hẳn.
– Có lẽ nên nói thay đổi từng giờ.
– Còn anh?
– Anh cũng thế, cũng thay đổi.
– Anh bằng lòng thế à?
– Ừ. Mà không bằng lòng thì cũng chẳng có gì là quan trọng.
– Bây giờ chẳng có cái gì là quan trọng cả.
– Có chứ.
– Chúng ta có thể mở cửa sổ.
Graber mở cửa sổ. Một luồng gió lạnh ùa vào thổi phồng màn cửa.
– Trời sáng trăng.
Nàng loan báo với giọng trịnh trọng khôi hài.
Mặt trăng đỏ lòm xuất hiện trên một mái nhà đổ nát. Đầu một con quỷ đang gặm nhấm căn nhà bằng răng nhọn. Graber lấy hai ly uống nước rót rượu cô-nhắc ra, đưa một ly cho nàng.
– Uống đi em. Rượu nho không phải để uống trong tối.
Trăng vẫn lên dần. Ánh vàng thêm lộng lẫy, chị Hằng có vẻ uy nghi. Họ ngồi bên nhau im lặng trong chốc lát. Nàng quay đầu lại :
– Era thường tự hỏi không biết chúng mình sung sướng hay khổ sở.
Graber nghĩ ngợi.
– Vừa sướng lẫn khổ. Có lẽ không tránh được. Ngày nay chỉ có bò cái là sung sướng. À, còn đá nữa, có lẽ đá cũng sung sướng.
– Cái đó cũng không có gì là quan trọng phải không anh?
– Không.
Graber trả lời trong khi hai mắt chìm trong ánh trăng vàng dần dần tràn ngập căn phòng.
– Vậy theo anh cái gì quan trọng?
– Cái quan trọng là chúng ta không chết nữa, mà chúng ta cũng chưa chết.
Thủy Thủ Về Nhà: phần 1 Hơn mười giờ sáng rồi mà mặt trời còn ẩn sau lớp mây trắng đục, tỏa ánh sáng yếu ớt làm quang cảnh mù mờ, có chút sương pha nhưng trời êm ả lắm. Hồ nước đã được người ta cào rác rến và đám bông súng mới hôm kia còn bông vàng, bông trắng từng chòm và lá màu xanh nâu chiếc nào chiếc nấy lớn bằng cái mâm kề nhau phủ gần bít mặt hồ, tất cả đã được dọn sạch sẽ. Mặt nước phẳng lặng như tờ, nước hồ đã lóng trong màu vàng nhợt đủ cho cây liễu xum xuê cành lá xanh xanh bên hồ soi tàng bóng nước. Tôi với Trúc Thanh dẫn Kuma đi qua cây cầu bắc ngang hai bờ hồ. Thanh nói: – Cảnh thanh bình quá. Nói tới đây chợt bị thu hút bởi đàn vịt đang bơi qua, chúng tôi đứng lại vịn tay lên lan can cầu nhìn xuống. Không nhớ là tháng mấy, chỉ nhớ hôm đó là mùa xuân, vẫn là những con vịt cha và những con vịt mẹ với những con vịt con nhỏ xíu này bơi lội trên mặt hồ. Đương thong thả nhìn bầy vịt bơi, chợt giựt mình thoát khỏi sự trầm ngâm khi những con vịt đập cánh xuống làm nước văng tung toé, ngó theo bầy vịt bơi ào ào làm quấy động mặt nước êm ả giữa dạ cầu. Chợt thấy một chiếc xe chạy điện dành cho người tàn tật đã thắng đứng lại trước lan can giữa cầu từ lúc nào. Người phụ nữ ngồi trên chiếc xe, cầm mấy lát bánh mì trắng, tay xé bánh ra miếng nho nhỏ và liệng từng miếng xuống nước, bầy vịt nhào tới giành nhau nuốt chửng những miếng bánh mì đã ướt. Nhìn bầy vịt giành ăn, tôi mới nhớ ra, hẳn nhiên có nhiều điều đã đổi thay từ mùa xuân cho tới mùa thu. Mấy đứa con của cha, mẹ vịt giờ đã lớn khôn, chúng không còn ngoan ngoãn nữa, chúng có đôi cánh khoẻ mạnh nhấc được mình lên khỏi nước và đôi chưn mạnh mẽ đạp chạy trên mặt nước như bay. Tôi khoa tay một vòng và nói: – Ừa, mình sống một nơi rất yên bình, con người và muôn thú cũng được bình an. Mama thấy không, bầy vịt con mới mấy tháng trước còn nhỏ xíu, nay đã biết tự kiếm ăn và biết giành ăn, không lâu nữa chúng sẽ trở thành cha mẹ của bầy vịt con sau này. – Phải rồi, trông chúng rất là vô tư, gần gũi với con người mà hổng biết sợ gì hết. Người phụ nữ chăm chú cho vịt ăn, không để ý tới chúng tôi. Nhưng tôi nhìn cô ta rất kỹ, gương mặt phúc hậu, tóc cắt gọn gàng với chiếc áo khoác len dài màu nâu, mặc một chiếc váy bông cũng màu nâu lấp ló dưới chưn, rất hợp với đôi giày màu nâu sẫm, ước tính cô ta cũng trên dưới tuổi năm mươi. Cô ta bị bịnh gì hổng biết mà ngồi xe lăn? Trúc Thanh cũng trạc tuổi với người phụ nữ kia, tuy hai chân còn đi vững và sức khoẻ đủ để làm việc nửa ngày, vì phẩu thuật mấy lần nên tinh thần không được mạnh mẽ cho lắm. Nghĩ tới đây tôi chợt nhớ tới những người đàn bà ở tuổi trên dưới năm mươi mà tôi quen biết, người nào cũng ăn mặc đẹp đẽ và sang trọng, có người làm chủ cơ sở kinh doanh, nhưng bên trong cái đẹp hào nhoáng ấy, phần đông đều chịu đựng những căn bịnh ngặt nghèo như; ung thư tử cung, ung thư vú, ung thư máu. Có vài cô đã qua đời ở lứa tuổi năm mươi, tuổi vào thu! Tôi cũng liên tưởng tới hơn ba tháng qua, ở trên đất liền, tôi dự một buổi rải tro cốt của một ông anh và một buổi cầu siêu của một phật tử mới qua đời và có một anh bạn đang bịnh ung thư gan, bác sĩ cho biết anh ấy còn sống được vài tuần nữa. Mấy tuần trước, vợ chồng tôi và các anh, chị, em rủ nhau tới thăm, trông anh xanh xao, nhưng anh rất lạc quan, vẫn vui vẻ nói cười với anh em một cách bình thường. Mới đó mà chúng tôi đã sống trên đất khách, quê người hết cả cuộc đời. Nhớ tới những ngày còn trai trẻ, người nào cũng có một hoài bão cao ngất trời, nên khi còn chân ướt chân ráo đặt lên xứ người thì anh chị, em hợp nhau để thực hiện lý tưởng hoài bão đó. Những năm gần đây, sau mỗi chuyến hải hành trở về, nếu không nghe tin mất một anh hay một chị thì cũng nghe anh này bịnh, chị kia nằm nhà thương. Mùa thu là mùa làm cho những người có tinh thần yếu đuối hay bị trầm cảm. Trúc Thanh nằm trong nhóm người này, tinh thần luôn bất an, vui hay buồn đều chảy nước mắt và cũng hay khóc mỗi khi nghe chuyện thương tâm. Cũng vì dễ bị tổn thương, nên có những ý nghĩ tiêu cực tôi để trong lòng chớ hổng dám nói ra. Tôi day ngang khèo Trúc Thanh và ra hiệu cho Kuma đi qua bên kia cầu. Những chùm lá già nua trên hàng cây xanh ven bờ hồ cũng đã đổi màu. Từ đây cho tới cuối tháng mười một mỗi ngày qua là tiết trời mỗi thay đổi, có thể nhìn được thời gian đi qua rõ ràng, nhứt là sự thay đổi ánh sáng mỗi ngày, nó giống như một cuốn phim quay chậm. Chúng tôi đi dọc theo con đường một bên là bờ hồ được đổ đá rất kiên cố và một bên đường trồng một hàng cây lá đã đậm màu, có vài chiếc lá đã điểm màu vàng và lác đác rụng trên thảm cỏ xanh. Trời im gió, không khí mát rượi, những bụi bông lục bình xanh dương hay tím tím, bông thủy tiên và bồ công anh với màu vàng tươi và kết hợp với những loài hoa màu trắng hoặc màu hồng của cá hồi; có loại lá to, loại lá nhỏ, lá gai, lái dài, lá ngắn; có mùi thơm hoặc không có mùi thơm… tất cả rộ lên trong những ngày mùa xuân mà giờ đây cũng đã đổi thay, không còn nhận ra dấu vết. Tôi cầm tay vợ vu vơ nói: – Bây giờ là mùa thu. Thanh nói: – Mùa dịch cô vít chớ thu gì. – Dịch cô vít qua hơn một năm rồi và hổng biết chừng nào mới dứt, không phải là mùa nữa mà phải gọi là “trận” dịch cô vít. Thanh rùng mình một cái: – Ghê thiệt. Chợt ghe gió lạnh, tôi ngó lên trời, day qua nói: – Mây đen kéo về, trời sắp mưa. Thanh nói: – Ừ, dạo này mưa, gió thất thường, mình đi dìa được rồi. Về nhà Trúc Thanh cho Kuma ăn, còn tôi pha hai tách trà gừng, chúng tôi rất thích trà gừng tươi, vì nó không chỉ là một thức uống ngon mà còn có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Có một chị bạn là bác sĩ mách cho tôi biết, trà gừng tươi có tác dụng chống viêm, giúp giảm cân, tăng cường hệ thống miễn dịch và thậm chí bảo vệ chống lại ung thư ruột và bệnh Alzheimer. Ngoài ra gừng có tác dụng chống buồn nôn, ta có thể uống nhiều hơn so với một tách trà bình thường. Trong những trung tâm dinh dưỡng cho rằng, gừng cũng thích hợp trong thức ăn lành mạnh. Tôi bưng hai tách trà gừng đem ra bàn, lúc đó trời đã bắt đầu mưa. Tôi nói với Thanh: – Ngồi trong phòng nhìn mưa, uống trà cũng ấm áp. Trúc Thanh day qua nói: – Ờ hén, thấy cũng hay hay. Tôi nhìn mưa tạt vào khung kiếng nghe rào rào, ngoài vườn cây cối lai rai nhả những chiếc lá già xuống sân. Tôi nói: – Mama nhìn ra vườn sau coi, những chiếc lá dán xuống mặt gạch bị nước mưa làm ướt mem. Trúc Thanh rụt cổ, nói: – Lạnh thấy mồ. – Mama lạnh vì bị thời tiết bên ngoài xâm nhập. – Là sao? – Mùa thu là mùa di chuyển chậm, thời gian đi từ từ, trời đất gần nhau, tuy nhìn bên ngoài lạnh nhưng nếu nhìn vào bên trong vẫn thấy được ấm áp. – Trời đất như vầy mà ấm áp gì. – Thì mình sống tự nhiên theo mùa, tư duy nên hướng vào nội tâm thì sẽ thấy được niềm vui ấm áp. – Tui thấy càng hướng vào nội tâm càng dễ bị trầm cảm. Đó là tâm trạng của người bịnh, có khi nào mama gặp phải các triệu chứng như cảm lạnh, da khô hoặc táo bón trong mùa thu không? – À, cái này có, nhưng… – Nhưng sao? – Cảm lạnh, da khô, táo bón ăn nhập gì nội tâm? – Ăn nhập chớ, cũng nhờ nội tâm chỉ cho mình thấy được những triệu chứng đó. – Mùa khác hổng có mấy triệu chứng này sao? – Có nhưng mùa thu thường xảy ra hơn. – Vậy à? Tôi chỉ tay xuống tách trà nói: – Uống hết tách trà gừng đi, gừng ngừa cô vít đó. Trúc Thanh bưng trà lên uống một ngụm, để tách trà xuống rồi nói: – Ờ, hổng biết có ngừa dịch được không nhưng thơm và ấm thiệt. Trúc Thanh cầm đồ bấm lên định mở truyền hình, thấy tôi nhìn qua, cô để đồ bấm xuống. Số là trước kia Trúc Thanh dành thời gian xem truyền hình rất nhiều, nhứt là từ khi đại dịch hoành hành ở Việt Nam, cô hay lên Youtube xem mấy clip bên nhà, phần đông là những chuyện thêu dệt cảnh thương tâm của mấy người làm clip, riết rồi bị trầm cảm. Thấy vậy tôi đề nghị với Thanh trong lúc ăn, uống cũng như giờ ngủ không xem iPad và không coi mấy cái clip tiêu cực của Việt Nam nữa. Ban đầu Thanh có hơi bất bình nên hỏi vặn: – Tại sao? Tôi giải thích: – Tại vì truyền hình và mạng internet tin giả, thầy tu giả nhiều vô số, tệ hơn nữa mấy cái clip họ dàn cảnh đóng giả tràn lan, mama xem riết rồi bị bịnh đó. Trúc Thanh nghe tôi giải thích, mới ngộ ra, nhưng cũng còn tiếc: – Vậy thì ngoài những tin tức của đài phát thanh truyền hình có uy tín và nghe nhạc ra tui hổng xem cái gì nữa hết được hông? – Tui đâu có ra lịnh cấm mama, chỉ lưu ý thôi, nghe, xem tin tức thì phải biết chọn lọc, nếu không thì bị nhiễm mấy thứ tiêu cực trên mạng, nó cũng độc hại không thua nhiễm cô vít đâu. – Nhưng làm cách nào để chọn lọc đây? – Chỉ có cách là bỏ bớt không gian mạng và mấy đài phát thanh, nhứt là đài truyền hình của Việt Nam, đừng thấy mấy cô, mấy cậu biên tập viên người nào cũng ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ và đọc nghe sướng cái lỗ tai mà tin theo bị lầm chết. Còn YouTuber thì phịa tin giựt gân để thu hút mấy người nhẹ dạ cả tin. – Ừa, sao họ phịa mà y như thiệt vậy đó. – Bỏ đi! Tốt hơn hết là mình nên quay lại bên trong xem cơ thể mình nó có rầy rà không và sống cho phù hợp với thời tiết của một ngày là đủ rồi. – Papa nói thử coi, sống sao cho phù hợp với thời tiết hôm nay đây? – Theo y học cổ truyền Đông Phương thì phân ra năm yếu tố: mộc, hỏa, thổ, kim và thủy, nghĩa là; cây, lửa, đất, sắt và nước. Nếu có sự hài hòa giữa năm yếu tố này, thì sẽ có một sự cân bằng lành mạnh. Mỗi yếu tố liên quan đến một cơ quan, mùa thu gắn liền với nguyên tố kim loại. Cũng theo y học cổ truyền, hằng bao thế kỷ qua, mùa thu vẫn liên hệ với phổi và ruột già. Phổi đón nhận năng lượng mới dưới dạng oxy, ruột già đưa các chất cặn bã trong cơ thể của ta ra ngoài. – Papa ngồi bên trời Tây mà nói chuyện bên trời Đông nhắm có hợp lý không? Cái này tui đọc qua báo Tây đó chớ. Bên Tây bây giờ tiệm thuốc Nam, thuốc Bắc thiếu gì. Mama là hội viên của tiệm thuốc Nam mà hổng biết sao? – Ờ hén, nhưng thuốc thì trị thân thể thôi, còn cảm xúc thì sao? – Cũng theo đông y, cảm xúc có liên hệ với phổi tạo ra nỗi buồn. – Vậy là mùa thu là mùa buồn. – Theo tui được biết thì ta nên cho nỗi buồn một không gian thoáng sẽ tạo ra một sự rộng rãi trong chính bản thân mình. Một khi năng lượng phổi được cân bằng thì có những suy nghĩ, giao tiếp với người ngoài cũng tích cực hơn, nhờ lọc bỏ những cặn bã và thong thả với những ý tưởng mới, có khả năng thư giãn mà phân biệt thật, hư rõ ràng. Còn nếu ai sống trong không gian hẹp, keo, bẩn thì năng lượng phổi thấp và suy tư kém cỏi, lúc đó sẽ gặp khó khăn hơn khi đối mặt với mất mát. Cũng như khó mà buông bỏ tiền tài, vật chất và dễ bị mắc kẹt trong những kinh nghiệm thành công hay thất bại đã trải qua trong đời sống. Cho nên cần làm sạch bên trong lẫn bên ngoài, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. – Như vậy vào mùa thu thì nên thiền tập nhiều để hướng sự chú ý vào trong mình, xem những gì cần thiết để cho cuộc sống thêm phần ý nghĩa. – Theo tui thì đó là tâm trạng còn phân biệt, không riêng gì mùa thu. Mọi thời, mọi lúc nên chú ý vào trong mình, để biết mình nên cần giữ điều gì có thể giữ và bỏ điều gì cần phải bỏ. – Là sao? – Là những khi rảnh rổi ngồi yên đều hoà hơi thở, để loại bỏ chất thải trong tâm thức, cũng như chất cặn bã của ruột già. Nói chung, những gì trong cơ thể và tâm thức không còn sử dụng được nữa, ta nên thải ra cũng như trong đoạn cuối cùng của sự tiêu hóa. – Tự dưng hôm nay vợ chồng nói chuyện có hơi khó hiểu. Thực tế chút đi, ăn uống làm sao cho phù hợp với mùa thu? – Mama làm khâu phát triển sản phẩm trong xưởng sản xuất thức ăn tươi đóng gói cho siêu thị thì phải biết thức ăn của mỗi mùa chớ. – Ờ, tui nhớ rồi, hôm kia trong hãng chuẩn bị đóng gói rau củ cho các món hầm và bí đỏ cùng gia vị cho món pompoensoep. Tôi hớp một hớp trà nhìn qua Trúc Thanh hỏi: – Chỉ có rau của món hầm và xúp thôi sao? – Còn nhiều lắm, tui chỉ đưa ra mấy món tiêu biểu thôi. – Vậy theo kinh nghiệm lâu năm của mama ra sao kể nghe đi. Trúc Thanh ỡm ờ và hỏi: – Kể cái gì bây giờ? Tôi gợi ý: – Đại khái văn hoá ẩm thực, tiêu biểu thực phẩm đúng mùa không chỉ chất lượng hơn mà rau thường ngon hơn, có thể mua nó với giá rẻ hơn và còn có những món ăn tiêu biểu của Hoà Lan, mình cũng nên biết chính xác loại rau nào có mặt vào mùa nào nữa. Trúc Thanh liền nói: – Rau, trái, củ hầu như mùa nào cũng có bao nhiêu thứ đó thôi, nhưng điển hình các loại rau, trái, củ phổ biến nhiều vào mùa thu như: củ dền đỏ, cần tây, cải xoăn, các loại bắp cải, các loại nấm, củ cần tây, bí rợ, tỏi và, bắp cải đỏ, cà rốt và cải chua; gia vị cay và nặng mùi như tỏi tây, quế, tiêu và ớt. Tôi cười: – Trúng nghề nên mama kể ra vanh vách. – Đại khái vậy thôi, đặc biệt là những hương vị nhẹ nhàng, thường thì ăn các món hầm trong khí trời lành lạnh ăn vô thấy ấm lòng hơn. – Ừa, phải rồi, bí rợ thực sự là một trong những loại trái đặc trưng của mùa thu, nó có vị ấm và ngọt, có thể sử dụng nó tốt trong các món ăn thông thường hoặc nấu một món xúp ngon. Như pompoensoep là món xúp tiêu biểu mùa thu của Hoà Lan, nói chung là Âu Châu, món này gia vị hơi cay ăn với bánh nướng mặn hoặc bánh mì cây hợp với khí trời man mác lạnh. – Papa là đầu bếp, chuyện ăn uống papa rành hơn tui mà. – Ờ hén. Tôi uống thêm ngụm trà gừng và nhìn ra ngoài trời mà ngẫm nghĩ. Thân thể con người ta cũng ngộ, ngay khi những chiếc lá rơi khỏi cây và khí trời lành lạnh, tự nhiên cảm thấy thèm thuồng những món ăn ấm cúng. Tôi day lại nói: – Thực đơn ăn uống cho mùa thu thì nhiều lắm. Ngoài món xúp bí rợ, xúp đậu ra còn có các loại bánh quiche hoặc những món ăn chơi và món ăn truyền thống của Hoà Lan vào những ngày trời lành lạnh. Điển hình là món khoai tây luộc nghiền chung với cà rốt có tên là hutspot, hoặc nghiền chung với cải xoăn có tên là boerenkoolstamppot, nói chung là các món khoai nghiền tiếng Hoà Lan gọi là stamppot, những loại này ăn kèm với bò viên, thịt ba rọi chiên dòn và xúc xích Hoà Lan hun khói mới đúng điệu ẩm thực của Hoà Lan. Trúc Thanh nói: – Những món này theo khẩu vị của người Hoà Lan, gia đình mình sống ở đây lâu năm, tui mần trong xưởng chế biến, đóng gói thức ăn và nêm nếm mỗi ngày, còn papa là đầu bếp, mình cũng đã quen với khẩu vị Hoà Lan rồi, vậy mà ăn chỉ được vài ba món chơi cho vui thôi chớ hổng mặn mà cho lắm. Nói chi tới người Việt mình, có được mấy người nuốt cho trôi mấy món stamppot và xúp bí, xúp đậu… Tôi cười hì hì: – Theo tui thấy thì những người da trắng như Nga và các nước Đông Âu ăn uống dễ thích nghi với mùi vị Hoà Lan. Còn In Đô, Phi Luật Tân cũng như phần đông người Việt mình sanh sống ở Hoà Lan lâu hay mau gì thì cũng khó ăn lắm. – Dĩ nhiên rồi. Nghe vợ xác nhận tôi chợt nhớ mấy hôm trước đây, Trúc Thanh với một bà bạn hàng xóm người In Đô và một chị người Việt gần nhà rủ nhau đi vô khu vườn trồng rau của miền nhiệt đới trong một nhà kiếng rộng. Ở đó người bán và người mua tại vườn những loại rau, trái, củ như: khổ qua, mồng tơi, rau muống, rau dền, bầu bí, mướp hương, khoai lang, cà tím, mà người Việt mình dí dỏm gọi là “cà ông giặc”. Tôi day ngang nói: – Mama hổng nhớ sao, thường thì muốn cho có chút hương vị Việt Nam, vườn rau nhiệt đới xa cả trăm cây số mà mama vẫn lái xe đi mua vài trái khổ qua, mướp hương, bó rau muống và rau thơm. Mấy hôm trước đây chớ đâu xa, khi nghe tin nhà vườn thu hoạch rau, củ, trái cuối mùa bán giá rẻ. Mama còn xông xáo gọi điện rủ mấy người Việt gần nhà, ai đi không được thì hỏi coi mua rau gì mama ghi vô quyển sổ để mua dùm. Còn kêu tui đi theo, tới nơi mấy bà tha hồ mà hốt, rồi bắt tui rinh chất đầy nhóc cốp xe, mệt muốn ná thở luôn. – Ờ, dù sao rau mua tại vườn cũng vừa tươi, vừa ngon. – Nghe nói tươi ngon tui thấy đói bụng rồi đây. Vậy hôm nay mama tính cho ăn món gì vậy? Trúc Thanh day qua hớp một hớp trà và từ từ đứng lên đáp: – Bánh xèo, trời mưa lành lạnh ăn bánh xèo cũng ngon. – Ờ lâu rồi tui chưa ăn bánh xèo, tưởng quên cái món quê hương này rồi, nay nghe mama nói, phát thèm! – Dĩ nhiên! Nói xong Trúc Thanh bước qua mở tủ đựng đồ khô, lấy một bịt bột gạo và vài gói gia vị rồi qua mở tủ bếp bày dụng cụ ra pha bột. Pha bột xong, day qua tủ lạnh bưng tô nhân bánh xèo làm sẵn ra rồi day qua nói: – Papa soạn trong học tủ lạnh ra coi còn rau, cải gì ăn bánh xèo hông? Tôi đi lại mở tủ lạnh, coi lại học rau: – Rau cải của mama mua trong vườn hôm trước ăn cả tuần nữa còn chưa hết. – Vậy thì papa thấy rau nào ăn bánh xèo được lấy ra lặt, rửa xong rồi lột củ tỏi và gọt dùm hai củ cà rốt. – Ô kê! Tôi lựa rau cải ra rửa xong rồi hỏi Trúc Thanh: Còn phụ làm gì nữa không? – Papa lấy nước mắm rót ra hâm lại và dọn bàn ăn được rồi. Trong khi Trúc Thanh đổ bánh, tôi rót nước mắm để vô lò vi sóng bấm nút ba mươi dây thì chợt nghe điện thoại báo. Tôi đi lại chỗ để điện thoại bấm nhìn xem, thấy có tin nhắn của hãng tàu. Tôi ngước lên nói với Trúc Thanh: – Tui nghĩ hãng tàu kêu tui đi làm. – Papa đọc coi họ nói gì? Tôi đọc tin xong day ngang nói: – Ồ, hông phải đi làm, mà giấy chứng nhận sơ cứu của tui hết hạn rồi, họ kêu tui trở lại trường học ba ngày, để đổi chứng nhận mới. – Vậy hả? Tôi về nhà từ đầu mùa hè tới nay đã giữa mùa thu rồi. Cũng vì sợ cô vít nên chúng tôi hổng dám đi chơi xa. Hơn ba tháng trời, ngoại trừ mấy lần đi thăm vài người bạn cần thăm, tôi chưa ra khỏi vùng Flevoland, cứ luẩn quẩn ở Dronten, một thị trấn nhỏ nằm trong miền đất thấp hơn mặt nước biển của vương quốc Hoà Lan. Ở nhà không được tiếp xúc bạn bè, hổng nói chuyện với ai ngoài vợ nói chồng nghe, chồng nói vợ nghe, lắm khi nhàm chán rồi cãi qua cãi lại. Trước đại dịch, nếu tôi còn ở trên bờ, mỗi khi thấy trời chợt mưa, chợt nắng và gió lành lạnh lướt qua hàng cây trước nhà thì lòng tôi rạo rực, trong ý nghĩ dấy lên một chút lãng mạn rằng mùa thu là mùa lên đường và nôn nao chờ đợi ngày đi. Đối với tôi thì ở trên bờ hơn ba tháng có hơi lâu và phát hiện ra, thời gian qua tâm tư cũng có ít nhiều thay đổi. Năm nay tôi đã trên sáu mươi tuổi rồi, nghiệp đoàn có gởi thư thông báo, nếu muốn thì cuối năm tôi có thể nghỉ hưu, có lẽ cũng vì bức thư nghỉ hưu làm tôi để ý tuổi tác, sức khoẻ của mình. Dù sao đi nữa trong những ngày ở nhà nhàn rỗi, tôi để ý mùa màng một cách tường tận hơn. Thiệt tình mà nói tôi có thể tận hưởng thời tiết trước mặt trọn vẹn không cần phải ngong ngóng phương xa. Nhưng khi nhớ lại có vài thủy thủ già đã nghỉ hưu và còn sức khoẻ, bèn xin trở lại hải hành ngắn hạng. Theo họ thì hải hành để tránh sự nhàm chán trên đất liền và cho đỡ nhớ biển! Sức khoẻ tôi so ra thì cũng còn khá, nghĩ tới đây trong lòng tôi phân vân. Trong lúc chưa biết phải nên tiếp tục hải hành hay là như nhiều người đã khuyên “nên nghỉ ngơi để hưởng thụ cái tuổi già,? Bây giờ được tin tuần sau tôi phải về trường tập huấn, tôi mới nảy sanh ra một ý nghĩ. Tôi đi lại bếp vừa phụ Trúc Thanh dọn bàn vừa nói: – Trong ba ngày vô trường thực tập, có môn bơi dưới nước cho trực thăng tới vớt lên và nhảy từ trên cao xuống nước, có hơi nặng, nếu tui vượt qua được hai đoạn này thì tui sẽ tiếp tục làm việc thêm năm năm nữa. Trúc Thanh xúc bánh xèo ra dĩa vừa nói: – Lấy chứng nhận xong rồi hẳng tính, bây giờ ăn bánh xèo cái đả.
Tuổi chúng tôi bây giờ đi dự đám ma nhiều hơn tiệc cưới, tuy vậy thỉnh thoảng cũng còn rơi rớt vài vụ của những cô, cậu út con cái bạn bè nhủng nhẳng lấy chồng lấy vợ trễ. Phần tôi, thì chờ một vài năm nữa, khi con cháu ngoại tốt nghiệp đại học mà mình chưa vào nursing home, thì cũng ráng mời một vài bạn già trong chỗ thân tình đi dự một cái đám cưới … cuối đời. Tôi cũng phải xin lỗi trước, nếu lúc ấy phải vào nhà thờ đứng lâu … tê cẳng, hoặc tiệc cưới thì chúng cho ăn mỗi tí xà lách và miếng thịt gà nhỏ bằng hai ngón tay vì chúng chê tiệc kiểu Tàu, làm cho mấy cụ cao niên ăn đói, về nhà phải xơi thêm chút mì gói thì cũng xin thông cảm.
Ngày xưa đám cưới, trong nghi thức lễ lược đều cử hành do phong tục, đâu vào đấy một cách tự nhiên không cần ai làm MC nhắc nhở từng tiết mục hay lập chương trình. Ngày nay trong các lễ cưới nạp lễ hay đưa dâu, quả tình mấy ông thợ chụp ảnh hay quay phim là những ông tư lệnh toàn quyền định đoạt cho phép hai họ đi đứng, bắt tay, cười hay quỳ lạy, nhất nhất đều phải tuân hành. Khi nhà trai tụ tập trước sân nhà cô dâu, tất cả đều phải xếp hàng hai dưới quyền chỉ huy của toán “phóng viên”, ai trước ai sau đều vào hàng răm rắp. Sau tiếng hô “đi” hai họ líu ríu bước tới, nghiêm trang, ngay hàng thẳng lối không được cười cợt, vì lúc ấy máy quay phim đã bắt đầu chạy và nhiều ành đèn flash bắt đầu chớp lên. Nhà trai, đàn ông thì áo vest cà vạt, quý bà thì áo dài kim tuyến hay áo đầm dạ hội, tay lấp lánh nữ trang, bắt đầu làm tài tử dưới quyền đạo diễn của ông phó nhòm nên ai nấy đều mang bộ mặt quan trọng của một ngày đại lễ. Vào đến sân nhà gái, lại có tiếng hô “đứng lại, đứng lại!” Đại diện nhà trai bước lên vào cửa xin giờ, xong lui ra, thì lại có tiếng hô “quay mặt qua bên trái”, vì lúc ấy sáu cô thiếu nữ nhà gái dung nhan diễm lệ đã sẵn sàng nhận lễ vật mâm quả hay heo quay từ sáu người bên nhà trai mang tới. Nhưng chớ vội. Khi nghe lệnh: “một hai ba, bắt đầu trao mâm quả” thì nhà trai mới từ từ nâng quả lên, trao cho bên nhà gái, mà phải từ từ như cuốn phim quay chậm, để toán quay phim còn kịp bấm máy. Nếu chưa được nhịp nhàng, phải làm lại thì ráng chịu.
Vào đến nhà trong, “đèn đuốc sáng choang, hương trầm nghi ngút”, ông quay phim vai vác máy, nhưng tay kéo ông này, đẩy bà nọ, chỉ định đứng bên này, qua bên kia, lớp lang đâu ra đấy. Từ đấy nhất nhất đều có lệnh mới được thi hành. Nhà trai ngỏ lời. Nhà gái đáp lời. Giới thiệu hai họ. Mở lễ vật. Lên nhang đèn. Cáo tổ tiên. Mời cô dâu ra trình diện. Màn quan trọng nhất là trao hoa, trao nhẫn. “Từ từ”. Nghe lệnh mới làm. “Chú rễ đứng lui một bước. Cô dâu nhìn ra phía này này.” Tôi đã chứng kiến trong một lễ cưới, chú rễ đeo nhẫn quá nhanh, nhà nhiếp ảnh chưa kịp bấm máy, hay ở góc độ bị che khuất không thấy rõ chiếc nhẫn cưới, anh ta yêu cầu chú rễ cô dâu làm lại từ đầu. Chú rễ cô dâu đều kiên nhẫn, ngoan ngoãn và hai họ hiện diện cũng không thấy ai phản đối. Tôi không phải là cha cô dâu mà chỉ là họ hàng, nên nghĩ rằng im lặng là tốt nhất. Như vậy là cô dâu có hai lần đeo nhẫn, mất hết cả duyên con gái. Cũng không phải là chuyện mê tín, nhưng rõ ràng lễ cưới thiếu sự nghiêm trang, tương kính mà diễn ra như một trò đùa. Những người bạn trẻ chụp ảnh phải quan niệm chụp ảnh đám cưới cũng như chụp ảnh một buổi lễ quan trọng mà mình là phóng viên báo chí, phải bắt lấy cơ hội, bắt lấy góc cạnh và bấm máy đúng lúc. Không thể nào bảo hai ông nguyên thủ quốc gia bắt tay lại để cho các bạn đủ thời giờ chụp một bức ảnh. Rõ ràng là các bạn không đủ khả năng chuyên môn nghề nghiệp và không được chuẩn bị cho cả hai mặt kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp. Trong lễ cưới, người thợ chụp hình chu toàn dịch vụ của mình mà không làm xáo trộn đến buổi lễ, không sắp đặt hay chỉ huy ai, trừ lúc bạn dẫn cô dâu chú rễ ra vườn hoa để chụp những cảnh ngoài trời. Nếu phải sắp đặt hay chỉ huy người khác trong những buổi lễ trang trọng như thế, với lý do để có một bộ ảnh cưới đẹp, thì bạn là người thợ chụp ảnh tồi.
Buổi tiệc tiếp tân buổi tối 99% được tổ chức tại nhà hàng Tàu. Đó là quy luật và thói quen của người Việt Nam “một nghìn năm (bị) nô lệ (bởi) giặc Tàu”. Ăn ở nhà hàng Tây tuy tốn kém, nhưng bị chê là cho ăn đói.
Không ai dám tổ chức ở nhà hàng Việt vì bị chê là bủn xỉn. Tiệc cưới thường pha giữa Việt-Tàu và Tây Phương ở chỗ cắt bánh, mở champagne nhưng lại chào bàn để nhận phong bì. “Tây” thì dâu-rễ và đám phụ dâu-rễ ngồi trên bàn danh dự chủ toạ ngó xuống khách mời, kể cả cha mẹ. “Ta” thì dâu-rễ đứng mỏi cẳng để chào mời, chuyện trò cùng hai họ nhất là thân hữu của cha mẹ hai bên.
Trong tiệc cưới, khách dự sợ nhất là chuyện “câu giờ”, nếu đến đúng giờ ghi trong thiệp mời thì phải ngồi chờ đúng hai tiếng rưỡi nữa mới có thể cầm đũa. Thôi thì đời một lần cho cháu, quan viên hai họ xin ăn một tí gì lót lòng trước khi rời nhà ra đi. Tiệc cưới không dám khai mạc đúng giờ, vì khai mạc đúng giờ thì khách chưa đến đủ. Đến đủ rồi thì “nghi thức khai mạc” kéo dài cũng gần tiếng với diễn văn và giới thiệu anh em, họ hàng, chuyện mà sáng nay đã làm trong lễ cưới rồi. Nỗi sợ thứ hai là sợ ca sĩ và MC trên sân khấu, sợ như thế nào thì quý vị có nhiều kinh nghiệm đi ăn cưới đã hiểu, nên mới có danh từ “MC đám cưới” hay “ca sĩ đám cưới”. Nỗi sợ thứ ba là cái loa khuếch âm dành cho bà con thuộc loại VIP hai họ, có quan trọng mới được sắp bàn ngồi gần sân khấu. Cái sợ thứ tư là sợ những ông khách chúc tụng đôi trẻ bằng những bài thơ bảy chữ có tới những tám câu. Có lần tôi đã nhận được thiệp cưới của một người không quen, không quen vì địa chỉ thì đúng, nhưng họ và chữ lót của tôi đã bị đổi khác. Lần ra manh mối mới biết nhà hàng Tàu quảng cáo, hứa sẽ cho free bánh cưới, champagne, bong bóng nếu đặt trên 40 bàn, mà họ hàng, bằng hữu, hàng xóm láng giềng hai họ tính ra chưa đủ 350 người. Số khách được mời thêm là để cho đủ túc số. Trường hợp ấy, ông bà có nhận lời đi “ăn cưới” không? Nhân chuyện đám cưới, bây giờ nhiều ông bàphải về Việt Nam cưới vợ cho con, nên thỉnh thoảng chúng ta cũng xem được vài đoạn phim tiệc cưới bên nhà, cũng nên nói qua vài dòng cho biết qua phong tục quê nhà, quê người bây giờ ra sao. Ở Việt Nam bây giờ đi ăn cưới dắt cả lô, cả lốc, con cháu, đi theo người lớn, không báo trước, có khi hai vé mời đã chiếm hết một bàn, gia chủ chỉ sợ thiếu bàn và lỗ vốn. Ở ngoại quốc, trái lại, hai họ thường sợ dư bàn, vì phút chót khách vắng mặt mà không chịu trả lời. Việt Nam người ta còn thích ăn, nhất là đi ăn cưới, ở nước ngoài, người ta sợ ăn cưới vì thời giờ không đủ, mà dầu mỡ thì dư. Việt Nam đi ăn cưới bia uống thả dàn, mỗi bàn để nguyên một thùng, ở phương tây người ta uống cầm chừng vì sợ cảnh sát và mai sớm phải dậy đi làm. Ở Việt Nam đi ăn cưới có thể mặc áo thun, ở Mỹ phải áo vest, cà vạt. Ở Mỹ nghèo hơn ở bên nhà, vì bên đó chú rễ cô dâu có thể có mười cặp phụ dâu-rễ đồng phục và người bưng thức ăn ra bàn đều mặc áo đỏ có nẹp kim tuyến như lính Ngự Lâm Quân và sân khấu xịt khói như trong các show ca nhạc của Asia hay Thuý Nga. Và vì con gái bây giờ có dư nên khi quý khách đi vào nhà hàng sẽ có hàng rào danh dự bằng hàng chục mỹ nhân để đón khách.
1552, nhà Lê dấy lên từ Thanh Hóa, trong lúc này nhà Mạc hãy còn làm chủ miền Bắc, kể từ trấn Sơn Nam trở ra (Động Nam Hà Nội, giáp ranh Thanh Hóa.) Nhà Lê muốn phục hưng. Phải tuyển lính ở ba phủ là Hà Trung, Thiệu Hoa và Tĩnh Gia thuộc hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An. Sau này, nhà Lê đuổi được nhà Mạc ra khỏi Thăng Long, thì quân ở ba phủ trên (tục gọi là lính tam phủ) được coi là thần binh hay ưu binh, nhất binh; và được vua chúa tin dùng làm quân phòng vệ bởi họ đã đóng góp nhiều công lao trong chiến đấu. Chính vì có công lớn, lại được vua chúa nuông chiều, nên họ sinh ra thói kiêu căng, xem thường luật pháp.
Năm Giáp Dần (1674) đời Trịnh Tạc, bọn kiệu binh đã giết quan Tham Tụng Nguyễn Quốc Trinh và phá nhà Phạm Công Trứ. Năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Sâm mất, Đặng Thị Huệ và Hoàng Đình Báo (Quận Huy) mưu lập Trịnh Cán lên làm chúa. Chi huy kiêu binh là Nguyễn Bằng vào phủ chúa đánh ba hồi trống lảm hiệu, quân kiêu binh kéo dến vây phủ, vào giết Hoàng Đình Báo, bỏ Trịnh Cán và Đặng Thị Huệ, lập Trịnh Khải lên làm chúa. Từ đó kiêu binh một ngày một hống hách, cậy công, cướp phá các nơi, không ai dẹp được.
Kiệu binh lại cậy số đông, đứng ra đánh thuế, thu lợi nơi chợ búa, cửa ải, bến đò … Tháng 5 – 1786, quân Tây Sơn tiến ra Bắc, Lê – Trịnh tìm cách chống giữ, nhưng kiêu binh lúc này đã quen thói kiêu căng, lại rất sợ chinh chiến, nên lấy cớ chờ lương, để chần chứ không chịu tiến quân, khiến trong kinh thành càng xôn xao lo sợ, ai nấy đều lo riêng cho thân mình tháo chạy. Tháng 7-1786 quân của Tây Sơn tiến ra Thăng Long. Nhà Trịnh sụp dổ, nạn kiêu binh cũng chấm dứt theo. Tại miền Nam, vào đầu năm 1970. đã dấy lên một phong trảo kieu bình, nói rõ là phong trào thương phế binh đua nhau đi “cắm dùi” chiếm đất, ngang ngược và công khai mà chính quyền hồi đó đành bỏ tay, không dám đụng đến đám thương binh vì sợ mất lòng quân đội đang chiến đấu ở tiền tuyến. Đỗ Văn Lai, một thương binh BĐQ mù mắt cùng một số phế binh nặng, tại Trung Tâm Chỉnh Hình, trong chiến dịch chiếm đất đã biểu tình, đòi Chính Phủ phải cứu xét lại quyền lợi của họ, trước vật giá leo thang đắt đỏ.
Ở Saigon thương phế binh đã chiếm lề đường Tú Xương, đóng cọc, chăng giây, che bạt chia nhau từng khu vực dựng cây cất nhà bất hợp pháp chung quanh Bộ Xây Dựng Nông Thòn và Viện Quốc Gia Phục Hồi, trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, trên lề đường Lý Thải Tổ, ngay trước trụ sở của Uý ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến, trên đường Nguyễn Thông, nơi có hàng quán chợ trời. Ngày 29-3-1970. một đại hội thương phế binh dã được triệu tập tại trường Quốc Gia Nghĩa Tử quy tụ 300 đại diện TPB đã thi nhau tố cáo chinh phủ đã đối xữ với họ không đúng mức.
Tổng Hội Thương Phế Bình ra dời tại Sải Gòn, bầu TB Nguyễn Định làm Hội Trưởng, TB Nguyễn Bính Thinh, tức nhà văn An Khê, làm phó và TB Đinh Trung Thu, tổng thư ký. Thương phế binh đưa lý do nhiều thương phế binh chưa có nhà, họ có thể lập một Ủy Ban Tranh Đấu và có thể kéo tới chiếm các khu đất khác như đất Chú Hỏa, ông Phụ tá Nguyễn Cao Thăng và có thể cả nhà … của ông Tổng Trưởng Cưu Chiến Binh nữa, Chủ tịch Thượng Viện Nguyễn Văn Huyền có đến dự và dã nói trước đại hội rằng ông sẽ lấy tư cách một đại diện dân cử để làm một điều gì tốt đẹp cho thương phế binh. Tòa Đô Chính Saigon đã thông báo: trong lúc chính phủ đang tìm những biện pháp giúp đỡ các thương phế binh một số người đã lợi dụng anh em để mưu cầu những lợi lộc riêng tư và phá rối an ninh trật tự công cộng.
Lợi dụng sự tự do và dễ dãi trong chế độ dân chủ mà những người lãnh đạo không thể nhân danh trật tự xã hội để đàn áp như trong các chế độ sắt máu, dộc tài, một số nhỏ thương binh bị xúi giục, mua chuộc và có những hành động quá khích làm mất lòng dân, vượt qua pháp luật, gây ra một tình trạng rối ren tại hậu phương để tạo khó khăn thêm cho chinh phủ đương thời và tạo những hình ảnh không mấy tốt đẹp về người lính. Nhiều toán thương binh đã chiếm cả dất tư, chủ đất phải năn nỉ lạy lục chi tiền, lo lót cho thương binh, họ mới “nhổ cọc, cuốn giây” đi tìm chỗ khác. Ở Nha Trang, thương binh đã tràn ra bờ biển, cắm cọc chia lô ngay trên bãi biển. Dưới triều đại Cộng Sản, trong thời bình, vai trỏ của “quân đội nhân dân” bị lu mờ và được đảng cho làm kinh doanh có miếng ngon để khỏi nhiễu sự. “bộ đội cụ Hồ” ngày nay vừa lãnh lương lính vừa lãnh lương công ty. Hiện tại, Bộ quốc phòng đang quản lý hơn 110 doanh nghiệp, hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh doanh như: cơ khí, hóa chất; nông, lâm và hải sản; điện, điện tử, viễn thông; dệt may, da giày; thực phẩm, đồ uống, dược phẩm; thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ; thương mại và dịch vụ; xây dựng, vật liệu xây dựng …
Đảng cũng không thể dùng quân đội để đàn áp, dân oan. biểu tình … nên đảng phải vin vào công an như khẩu hiệu “còn đảng còn mình” cũng có nghĩa là đảng sống còn phải nhờ vào sự bảo vệ của công an. Bắt bớ, giam cầm người bất đồng chính kiến, còng tay người yêu nước. đàn áp dân oan, đạp vào mặt người biểu tình, không ai khác hơn là công an, người đầy tớ trung thành với đảng trong khi Hồ Chí Minh tuyên truyền đảng là đày tớ của nhân dân.
Theo nghị dịnh 44/2005/ND-CP năm (2005) quy định cấp bậc của Tư Lệnh Sư Đoàn, hay Chi huy Trưởng BCH Quân Đội cấp Tỉnh (tương đương chức Tiểu Khu Trưởng thời VNCH) chỉ là đại tá, trong khi hiện nay công an đứng đường biên giấy phạt cũng đã là dại uý, công an phường đã mang cấp bậc trung tá, công an huyện là đại tá, và công an tỉnh mang “hàm” thiếu tướng đồng loạt trong trận “mưa ân sũng” của đảng vừa qua, Chúng ta cũng nên biết Giám Đốc Công An Hà Nội trước đây là Trung Tướng Nguyễn Đức Nhanh và Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang đang mang cấp bậc đại tướng (!) Lực lượng công an CSVN được tin cậy và nuông chiều như lực lượng trấn áp nhân dân của chế độ, nên chúng trở thành đám kiêu binh, hống hách, giết người không gớm tay. Trên những bản tin trong nước, từ Hà Nội, Hà Giang, Hưng Yên đến Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Dương … ở đâu cũng có chuyện công an đánh chết người, mà công lý luôn luôn đứng về phía … đảng. Dân chủ ngày nay dưới chính thể cộng sản có nghĩa là “mày là dân mà chúng tao là chủ!”
Nói theo lối “lưỡi gỗ” Tôn Nữ Thị Ninh thì dân là con cái trong nhà cần dạy dỗ, mà gia nhân ra tay là bọn Khuyển Ưng cậy thế chủ, làm càn. Ở hài ngoại này cần sự doàn kết một lòng vì việc lớn, chúng ta ráng kềm chế đừng ai cho mình là công thần trong quá khứ, sẽ tránh được nạn kiêu binh.
Ngay từ những năm 1988, 1989 Trần Vũ đã nổi tiếng như một hiện tượng văn học hải ngoại, là đại diện cho lớp viết trẻ và cũng là nhà văn trẻ nhất bấy giờ. Sở trường của Trần Vũ là truyện ngắn, đã đăng trên các tạp chí Làng Văn, Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Trẻ và các webs văn học như Talawas; Damau v.v… Trần Vũ cộng tác với Trẻ nhiều năm và không còn lạ gì với độc giả Trẻ qua mục Trong Hầm Rượu. Bạn đọc có thể tìm đọc một vài tác phẩm của Trần Vũ tại https://tusachtre.com và hiểu hơn về cuộc đời nhà văn Trần Vũ, cũng như thân phận người Việt sau 75, qua bài phỏng vấn dưới đây của Sinh Đặng.
Trần Vũ cuối thập niên 80
Sinh Đặng (SĐ): Anh là một thuyền nhân sau 75, biến cố 30 tháng 4 đến với anh như thế nào?
Trần Vũ (TV): Có những hình ảnh mà một đứa bé lớn lên không bao giờ quên. Với tôi là khi cha chết. 3 ngày sau khi Dương Văn Minh đầu hàng, cha thổ huyết vì uất. Căn phòng đầy máu. Cha nằm bất động. Tôi òa khóc và người lớn lôi tôi ra. Xe vào nhà thương Grall và 10 ngày sau cha mất. Cái chết của Miền Nam, đối với tôi, là cái chết của cha. Tôi muốn quên, nhưng căn phòng vẫn ở đó.
SĐ: Hành trình vượt biên của anh ra sao?
TV: Năm 79 vượt biên bán chính thức bùng phát. Mẹ tôi gom hết tiền cho tôi với anh Cả ra đi, mẹ và chị không đủ tiền đành ở lại. Lúc đưa chúng tôi ra xe, mẹ và chị đứng khóc dưới gốc cây. Tôi không bao giờ quên.
Chuyến tàu MT-603 xuất phát từ Mỹ Tho đêm 28 tháng 5-1979 mắc cạn ở Bãi Ngầm Trường Sa. Ban ngày nước lên đến ngực, đến trưa rút xuống bụng và chiều xuống đùi, nhưng đêm đến thủy triều dâng quá đầu. Chúng tôi bám vào ván gỗ, dây thừng và níu chặt nhau suốt đêm. Thân tàu đã sập tầng trên chỉ còn lườn, thủy thủ với chủ tàu quát tháo không cho leo lên sợ lật tàu. Chúng tôi ở dưới nước tổng cộng 13 ngày. Da tôi nhăn nhúm như da bà già. May mắn là biển ấm và trời mưa.
Phép màu sau đó, chúng tôi được một hải vận hạm Phi cứu thoát. Lên đảo Palawan ngày 29 tháng 6-1979.
Song thân Trần Vũ Tết Ất Mão 1975
SĐ: Anh có những kỷ niệm nào đáng nhớ trong những bước đầu tị nạn?
TV: Hội Hồng Thập Tự cho các trẻ vị thành niên không cha mẹ vào cô nhi viện. Tôi sống trong một trại cô nhi miền Bắc Pháp. Tôi là cô nhi Á châu duy nhất. Trong trại có một cô nhi Tây cứ trông thấy tôi là nó ngoác miệng: “Ðàn ông Việt Nam làm cu li cho Tây, đàn bà Việt Nam làm điếm cho Tây…” Tôi nhớ lời mẹ dặn: Sang đất người phải biết nhịn nhục, một điều nhịn chín điều lành. Tôi im lặng và tránh né. Thằng mất dạy tưởng tôi sợ nó, càng làm tới, hễ trông thấy tôi ở đâu là nó ré lên: “Ðàn ông Việt Nam làm cu li cho Tây, đàn bà Việt Nam làm điếm cho Tây… Nhìn cái mặt cu li kìa!” Tôi chịu hết nổi, một hôm thu hết sức bình sinh tôi phóng lên đấm vào mặt nó, nhưng chỉ trúng ngực, vì nó cao hơn tôi cái đầu. Nó không hề hấn, cung tay móc một trái direct. Tôi lãnh cú thôi sơn ngã lăn ra đất. Thằng mất dạy nhào tới đè lên ngực và thọi tôi liên tiếp. Máu mũi tôi trào ra đỏ tấy. Hôm đó nếu giám thị không can ra là tôi đã bể quai hàm.
Tôi về phòng rửa mặt. Máu mũi chảy ròng ròng, một bên môi sưng và mắt bầm. Tôi tháo chân ghế gỗ trong phòng. Loại chân rời bắt ốc, có đinh xoáy ở đầu. Tôi biết đánh không lại, phải có võ khí. Cái chân ghế đút vừa cặp-táp. Tôi trở xuống phòng ăn. Ðại sảnh giấc trưa đông đúc. Các dãy bàn 12 người xếp san sát. Thằng mất dạy ngồi quay lưng ở góc. Tôi xin giám thị cho đi tiểu. Toilettes gần lối ra ngay chỗ thằng mất dạy đang ăn. Tôi bước ngang qua chỗ nó ngồi, lúc ngay sau lưng, tôi mở cặp và rút cái chân ghế quất vào đầu nó. Nhưng thằng mất dạy nghe tiếng “cách” của nắp khóa khi tôi mở cặp, nó xoay lại và né cực nhanh, cái chân ghế vụt sát mặt nhưng không trúng, chỉ có đầu đinh gỉ sét xước mang tai làm rách da chảy máu. Nó đứng bật dậy xô bàn. Tôi vụt cái nữa. Nó chụp ghế đỡ. Tôi không kịp quất cái thứ ba vì các giám thị đã nhào đến đè tôi xuống. Thằng khốn nạn cũng bị đè xuống.
Chiều hôm đó ban giám hiệu thông báo cho tôi biết, họ chuyển tôi sang Trung Tâm Dành Cho Trẻ Gặp Khó Khăn. Tôi tưởng tượng ra trại trừng giới. Tôi đã đọc Tiểu đoàn Trừng giới của Konsalik của Nhà xuất bản Thùy Dương năm 73. Tôi buồn bã vô hạn. Tôi nghĩ nếu mẹ tôi biết, chắc bà buồn lắm. Bà sẽ khóc và cuộc đời tôi tiêu rồi. Tại sao tôi không còn quốc gia, không còn cha mẹ?
Khi tôi đến Centre d’Acceuil pour Enfants en Grande Difficulté, thì… đầy Việt Nam.
Trần Vũ và thân mẫu 1962
SĐ: Rồi sau đó?
TV: “Cô nhi nghĩa tử” Việt đủ thành phần. Du đãng Rạch Giá, lơ xe đò tuyến đường Sàigòn-Long Xuyên, vá lốp ngoài chợ Cầu Ông Lãnh, bộ đội phục viên quê Thái Bình đi chui ở Hải Phòng cũng có… Tất cả trên hai mươi tuổi khai xuống còn 15. Tôi là cô nhi duy nhất giữ đúng năm sinh. Trong trại có khoảng 40 cô nhi Việt, 20 Lào và 15 Kampuchia. Nam nữ lẫn lộn. Một sáng nghe tin quân đội Việt Nam “giải phóng” Xiêm Riệp, tảo thanh Battambang, đám Việt Nam rùng rùng kéo sang khu Khmer để “bình Tây”. Các bạn tôi đấm đá thanh niên Khmer túi bụi. Nhóm Lào-Kampuchia bỏ chạy tán loạn. Các giám thị dàn hàng ngang trên sân để chặn. Nhưng phía Việt Nam quyết chiến. Các bạn tôi rút thắt lưng, cầm gậy gộc ghế đẩu lao tới, hét vang: “Ðiện Biên Phủ! Ðiện Biên Phủ!”… Ðến lượt giám thị Tây bỏ chạy. Rồi cảnh sát được kêu tới…
Phải nói rõ ràng là tôi không tham gia những cuộc “bình Tây”. Không phải vì tôi nhát nhưng thời gian đó tôi mất phương hướng, thất lạc, trở nên bất động suy nghĩ và bất động thể chất. Tôi đứng nhìn mà không hiểu chuyện gì xảy ra. Một lần khác, tôi với tên bạn đang đứng xếp hàng. Tên bạn kể chuyện rút dao phay chém đứt lìa bàn tay công an trước khi nhảy xuống thuyền vượt biên. Vì tay công an tịch thu hàng hóa của bố mẹ nó. Giám thị đi tới quát: Silence! Bạn tôi vẫn thao thao kể chuyện. Tay giám thị bợp tai nó. Gương mặt nó đanh lại rồi bất thình lình nó chụp lấy cổ giám thị quật xuống nền xi-măng, lên gối và dộng liên tục vô mặt. Tay giám thị gãy hai cái răng phun máu ra đất. Sau đó bạn tôi bị nhốt riêng. Nhưng đêm đó nó đập kính leo cửa sổ bỏ trốn. Tôi không gặp lại nữa.
Lúc đó, lúc nó đánh giám thị, tôi vẫn đứng yên nhìn. Tôi giống tê liệt. Làm gì? Nhào vào đánh hội đồng hay kéo bạn mình ra? Ðánh hội đồng vì gì? Can ra thì đã muộn rồi. Ðầu tôi đầy những dấu hỏi. Tôi không hiểu cảnh tượng trước mắt. Chuyện gì vậy? Mới hôm qua tôi còn là học sinh Lasan Taberd đứng chào lá cờ vàng và hát quốc ca với tất cả kiêu hãnh của một công dân biết quốc gia mình độc lập, đang vươn lên, và mình sẽ phụng sự lá cờ này. Mới hôm qua, tôi hãy còn cha mẹ gia đình và danh dự. Sao quốc gia biến mất? Sao cha mẹ biến mất? Sao chị Cả biến mất? Còn anh Cả đi bán khoai tây chiên đêm… Vì sao?
Nhiều năm sau xem phim The Sand Pebbles, có Steve McQueen đóng, đoạn cuối bị bắn thủng bụng sắp chết, Steve McQueen kêu lên: “Mais bon sang! Qu’est-ce qui m’est arrivé? J’étais encore chez moi hier!” (Chết tiệt! Mình bị gì vậy? Hôm qua mình còn ở nhà!). Tôi chép lại câu đó trong đoạn kết của truyện ngắn Pháo Thuyền Trên Dòng Yang-Tsé về sau.
Phải thật lâu tôi mới hiểu, những gì xảy ra chính là vì miền Nam bại trận. Nguyên nhân là chiến tranh.
Gia đình Trần Vũ – 1968
SĐ: Anh không có kỷ niệm nào vui hơn hay sao?
TV: Tôi không biết phía Pháp có duyệt xét hạnh kiểm cô nhi hay không nhưng tôi là cô nhi duy nhất cho đi học trung học, thi tú tài rồi vào cao đẳng. Những cô nhi Việt khác phải học nghề thuộc da, lột da hay giết bò. Nhiều đứa không dám ăn thịt bò nữa vì mỗi ngày cầm súng điện gí vô trán bò cho đến chết, từ sáng đến chiều mấy chục con bò chết trong tay nó. Lên Cao đẳng Ðiện toán, Cục Tế Bần và Xã Hội (Direction Départementale des Affaires Sanitaires et Sociales), trông coi các cô nhi viện, thuê phòng cho tôi ở Nhà Trọ Công Nhân Trẻ (Foyer des Jeunes Travailleurs). Tôi quen với Jadwiga Dabrowska là một nữ sinh viên Ba Lan nhận học bổng sang Pháp học về khí cụ âm nhạc. Chúng tôi sàn sàn tuổi. Chung quá khứ Cộng sản nên dễ thân. Khi đó Công đoàn độc lập Ðoàn Kết Solidarnosc của Lech Walesa đang tranh đấu cho một Ba Lan không Cộng Sản. Chúng tôi theo dõi tin tức và bàn luận với nhau mỗi cuối tuần đánh cờ ở Hội quán, vừa xem tivi chiếu những cảnh đình công và đàn áp. Cả hai thật sự thân thiết sau hôm Jadwiga đứng ngắm say mê núi thịt trong siêu thị, rồi quay lại nói với tôi: “Ở xứ tôi không có nhiều thịt như vậy và không bán tự do”. Tôi kể cho Jadwiga nghe là ở Sàigòn cũng vậy. Sau “giải phóng”, phải ra Phường xếp hàng rồng rắn để mua vài lạng thịt hôi cá ươn. Jadwiga đáp: “Các xứ theo chủ nghĩa Marx giống nhau, thanh niên Pháp không hiểu chúng ta.”
Một trưa Chủ Nhật, sau ván cờ với món súp Zurek bán với giá đồng hương trong Hội quán Ba Lan, Jadwiga nhìn tôi nghiêm trang: “Tôi với anh đánh cờ đã bốn tháng rồi phải không? Nếu anh muốn tôi về phòng anh, tôi sẵn lòng. Tôi không khách sáo.”
Là lần đầu tiên tôi khám phá thân thể của người khác phái. Căn phòng hẹp chỉ đủ kê một giường đơn với một mặt bàn, buồng tắm toilettes ngoài hành lang, nhưng Jadwiga khá tự nhiên và khuyến khích. Tuyết rơi đầy trên lan can và những tàn thông mấp mé cũng trĩu tuyết. Gió thổi rào rạo lên mặt kính. Tôi nhìn Jadwiga lạ lùng, vì đôi mắt cô gái ráo hoảnh.
Tôi hỏi: “Tại sao Jadwiga không khóc?”
Jadwiga ngạc nhiên, hỏi ngược: “Tại sao tôi phải khóc?”
Ðến phiên tôi ngạc nhiên: “Trong tiểu thuyết, sau ân ái, tất cả thiếu nữ đều khóc.”
Tuy vậy chúng tôi san sẻ thời gian cô độc với nhau thêm một năm cho đến khi Jadwiga quyết định bỏ học bổng về Poznan để tham gia phong trào tranh đấu Ba Lan. Lúc chia tay, Jadwiga có chút bịn rịn: “Tôi sẽ không quên.” Tàu hỏa rời cánh đồng mù-tạt vàng cháy. Tôi thấy Jadwiga thật may mắn vì đã có một quốc gia để trở về, một quốc gia đang chuyển mình.
Là kỷ niệm vui hơn.
Jadwiga Dabrowska và Trần Vũ đầu thập niên 80
SĐ: Anh đã trở về quê nhà từ lúc đó?
TV: Trong tiểu thuyết Những Khúc Xương Con Gái (Les Os des Filles), Line Papin Xuân Linh viết về hành trình trở về quê tìm lại mình trên đường phố Hà Nội: “Lúc ấy em chớm mười bảy tuổi, và em đã bay, một mình, về Hà Nội. Em thấy đó, hôm nay tôi hai mươi ba tuổi, và tôi đang quay về, một mình, một lần nữa, về nơi chốn tuổi thơ của em.
Em đã quay về và tôi vẫn đang quay về, mỗi lần sau lưng em. Tôi có lẽ sẽ quay về mãi mãi để tìm em, tìm cô bé đã sinh ra, sẽ chết, đã tự tìm kiếm, cô bé viết văn, đang quay trở lại. Tôi sẽ quay về mãi mãi với em đã trở lại, về những hũ cốt đựng xương, về những tầng quá khứ xảy ra nơi này.” […]
“Con nghĩ về những khúc xương, con nghĩ về những vết bầm tím, về những quả bom, những hạt gạo, về năm cô gái dưới mái nhà đau khổ này, con nhớ những tràng cười, lời những bài hát, những móng tay, răng, đôi mắt, những cánh tay, những tấm lòng, con nhớ mái tóc đen huyền.” […]
“Con khổ quá mẹ ơi. Tại sao chúng ta phải ra đi và rời xa tất cả những người yêu thương con? Là câu hỏi con đặt ra, như hơi thở hắt. Con khổ vì những người yêu con, con cũng yêu họ. Tại sao phải cắt, dưới chân tình yêu của mẹ, cả một thảm cỏ?”
Xuân Linh khá sáng tạo khi dùng ba ngôi thứ nhất, thứ nhì và thứ ba để viết về cô khi rời lưu vực sông Hồng theo mẹ vừa kết hôn sang Pháp, rồi quay về để tìm lại đứa bé ngày xưa. Là cô ở tuổi ấu thơ. Tôi bắt gặp tâm trạng mình trên những trang sách của Xuân Linh.
Tôi cũng đã trở về Tân Ðịnh, ngôi phố tôi thương mến nhất trên trái đất. Ngôi nhà nơi tôi lớn lên đã thành khách sạn Ðức Huy nhưng tôi còn nhận ra những mặt tiền bên cạnh, từng mái hiên, cả lề đường gập ghềnh. Tôi cũng trông thấy bóng một đứa bé và đứa bé ấy dắt tôi ra Làng Ðại Học Thủ Ðức, đến ngôi biệt thự sát cạnh số 9 Einstein (bây giờ là El Mar The Caffè).
Tôi đứng trước ngôi nhà cũ của cha, nơi cha lái xe đưa chúng tôi về nghỉ cuối tuần. Vườn cây kiểng của mẹ đã thay bằng những gốc dừa. Một gia đình cán bộ đang cho vịt ăn trong piscine mà tôi bơi lội thuở nhỏ. Hồ tắm tuổi thơ của tôi đầy vịt. Tôi nghĩ đến truyện Kẻ Sát Nhân Lương Thiện của Lại Văn Long, giải nhất báo Văn Nghệ 1991. Truyện kể một gia đình có công với Cách Mạng được cho vào ở Villa Pensée của Ngụy. Một thập niên sau sĩ quan Ngụy cải tạo trở về đòi lại biệt thự và gia đình tác giả phải dọn ra. Ít lâu sau, đứa con của Cách Mạng quay lại rút súng bắn chết tươi hết thảy nhà Ngụy và tự cho mình là kẻ sát nhân lương thiện.
Tôi nghĩ đến truyện ngắn đó, và nghĩ kẻ sát nhân lương thiện phải là tôi mới đúng. Vì không gia đình “Ngụy” nào lấy lại được nhà, tất cả đều phải lưu vong. Nhưng tôi không bắn bất kỳ ai phía chiến thắng, ngay cả khi Căn Phòng vẫn ở đó.
SĐ: Anh có hối tiếc đã sang Pháp và phải sống trong cô nhi viện?
TV: Tôi không thể hối tiếc, vì không có chọn lựa. Mẹ gửi tôi đi vượt biên. Ở trại đảo anh Cả quyết định đi Pháp vì anh biết tiếng Pháp. Hội đồng Ðịnh hướng Học đường (Conseil en Orientation scolaire) cho tôi làm trắc nghiệm rồi quyết định xếp tôi vào ban H Session Informatique là Trung học Kỹ thuật Tin học. Tôi không được chọn bất kỳ chuyện gì.
Tôi học lớp 10 cho đến Tú tài trong cô nhi viện. Tôi hay ngồi trên bậc tam cấp trông ra khoảng sân xao xác có vài tượng Thánh. Miền Bắc Pháp gió rất mạnh thổi từng luồng làm lá cờ Tam Tài phần phật. Tôi ước ao khoảng sân trước mắt là một sân điện như những khoảng sân lát đá cổ xưa của một nước Pháp hoàng kim với ngự lâm quân mà tôi từng đi xem trong rạp Rex, phim Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Alexandre Dumas, có Raquel Welch và Oliver Reed đóng năm 73. Cha chở cả nhà đi xem. Tôi ước ao cha còn ngồi bên và lát nữa cha sẽ chở tôi về.
Không phải sân triều. Chỉ có lớp xi-măng sần sùi với những đứa trẻ cô nhi đã đủ sức làm tình.
SĐ
(17 tháng 1-2022, Áp Tết Nhâm Dần)
Tác phẩm
Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu (1988, tái bản năm 1994)
Cái Chết Sau Quá Khứ (1993)
Phép tính của một nho sĩ (2019)
Giáo sĩ (2021)
Những truyện ngắn của Trần Vũ được tuyển chọn dịch và in thành sách tiếng Anh, tiếng Pháp:
The Dragon Hunt (Nhà xuất bản Hyperion xuất bản năm 1999), do Nina McPherson và Phan Huy Đường dịch.
Sous Une Pluie d’Epines (Paris: Nhà xuất bản Flammarion, năm 1998), Phan Huy Đường dịch. Và Terre des Ephemeres (1994), Au Rez de Chaussée du Paradis (1994) và En traversant Le Fleuve (1996).
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.