Thiếu Tướng Thuỷ Quân Lục Chiến Gốc Việt William Seely

vnchtoday.blogspot.com

Posted by Thoi Chinh Chien at 7:24 PM 

Theo bản tin từ USMC lễ gắn lon của tân thiếu tướng William Seely diễn ra vào lúc 11 giờ sáng hôm nay ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại MacDill Air Force Base Florida. Do hoàn cảnh đại dịch nên buổi lễ chỉ có gia đình và những tướng lĩnh cũng như quân nhân có trách nhiệm dưới sự chủ toạ của trung tướng Loretta Reynolds. Hai con của ông được hân hạnh gắn lon lên vai áo cha mình .

Thiếu tướng William Seely là con trai của một cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến trên chiến trường Việt Nam và thân mẫu là người phụ nữ Việt Nam đã cùng chồng trở về Mỹ sau cuộc thảm sát mậu thân 1968 lúc đó ông vừa tròn một tuổi. 

Thiếu tướng William Seely đã có hơn 30 năm trong cuộc đời binh nghiệp . Ông tốt nghiệp trường Wooster School, một trung học tư thục ở Danbury, Connecticut, vào năm 1985, vào học đại học American University ở Washington, D.C., và tốt nghiệp cử nhân ngành quan hệ quốc tế.
Sau đó, ông gia nhập Thủy Quân Lục Chiến, được gởi đi học tại đại học George Washington University, Washington, D.C., qua chương trình sĩ quan hải quân trừ bị (NROTC) vào năm 1989.
Kế đến, ông được gởi đi học tại các đại học Oklahoma State University, National Intelligence University, và Naval War College, và đậu bằng cao học.
Trong thời gian học cử nhân và cao học, ông còn học các khóa huấn luyện về sống sót, nhảy dù, đổ bộ, do thám, lặn, vũ khí và chiến thuật, và tình báo tại các đại học về chỉ huy và chiến tranh.

Trong công tác chỉ huy, từ năm 1990 đến năm 1992, ông là trung đội trưởng trung đội truyền tin Đại Đội H&S, thuộc Tiểu Đoàn Do Thám 3.
Từ năm 2000 đến năm 2002, ông là đại đội trưởng Đại Đội India, thuộc Tiểu Đoàn Hỗ Trợ Truyền Tin ở Kunia, Hawaii.
Từ năm 2006 đến năm 2008, ông Seely là tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn Do Thám 3, thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến.
Từ năm 2011 đến năm 2013, ông là chỉ huy trường huấn luyện tình báo và chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
Từ Tháng Sáu, 2016, đến Tháng Năm, 2017, ông Seely là giám đốc tình báo Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Tháng Bảy, 2019, ông được điều động làm chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt tại Iraq cho đến nay. Ông đã tham gia chiến trường Irag 6 lần . Nhiệm vụ cuối cùng của ông là Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm tại Irag . Đây là một chiến trường nguy hiểm và tướng William Seely đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ tối quan trọng được giao phó và tiêu diệt được hầu hết các phiến quân khủng bố .
Có thể nói rằng Thủy Quân Lục Chiến là một binh chủng thiện chiến và việc thăng cấp lại càng khó khăn hơn . Tướng William Seely có tài thao lược và là cấp chỉ huy giỏi với tinh thần Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm . Nhiệm vụ mới của ông sẽ được bàn giao vào thứ hai ngày 3 tháng 8 và có thể xem trực tiếp tại đây: 
https://livestream.com/ndulivestream/cor080320
Nguồn: FB Destiny Nguyen

Điều chưa kể của một thương phế binh VNCH

TUẤN KHANH

VĂN HÓA – VĂN NGHỆCHUYỆN XƯA CHUYỆN NAYNEWSLETTER 1

Last updated May 1, 2021

Câu chuyện hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương chống nạng bước ra khỏi Tổng Y Viện VNCH hay bị hỏi là “sao biệt động quân mà mặc đồ bộ binh”. Tại ngôi nhà của mình ở Chơn Thành, Bình Phước, đúng buổi trưa 30 tháng Tư, đủ 46 năm kỷ niệm đó, ông Dương nhớ lại, cười ngất “Lúc đó bị chĩa súng đuổi ra, ai quơ được bộ đồ nào mặc được là lo bận đi ra, còn sợ tụi nó không vui bắn luôn nữa chớ”.

Hạ sĩ nhất, Biệt Động Quân VNCH, ông Võ Phùng Dương

Ông Dương về nhà, và lại trải qua 5 năm tù với cái chân cụt của mình. Do ông nghĩ mình là thương phế binh nên không cần tập trung làm gì, thế nhưng ông bị áp giải mang đi vì tội “ngoan cố không trình diện”. Lúc vào ở trại tù A20, ông có hỏi cán bộ là mình bị án bao lâu, viên cán bộ quản trại nhếch mép “20 hay 30 năm… tùy theo thái độ hối cải của các anh”.

Quay trở lại nhà vào cuối năm 1979, ông mới hay nhà của ông bị trưng thu, anh chị em, cả mẹ già… đều đi kinh tế mới ở Bình Phước. Hỏi ra mới biết là quân quản khu vực đến nói là nên đi kinh tế mới để ông được ra trại, bị giam 2 năm thôi. “Tụi nó gạt để lấy nhà, chứ chính tụi nó cũng không biết khi nào chú được thả về”, ông Dương kể.

Từ đó, ông Dương sống bằng nghề cạo mủ cao su cho một chủ đất. Công việc ngày qua ngày và được ông chủ thương, giúp cất cho cái nhà kề bên. Cuộc sống của ông Dương chọn Bình Phước làm chỗ trú thân, không muốn bị phiền nhiễu bởi thế sự nữa.

Danh sách cải táng đồng đội do ông Dương ghi chú lại.

Dựng mộ cho đồng đội

Thế rồi một ngày khi không quá khó khăn, ông Dương chợt nhớ đến đồng đội của mình, đặc biệt là những người đã nằm lại ở Bình Long năm 1972. Ông gom góp tiền bạc và đi đến An Lộc, mua một rẻo đất nhỏ, đi bốc mộ, tìm hài cốt đồng đội theo trí nhớ… tập hợp về chung ở nơi mà ông gọi tên là nghĩa trang An Lộc.

Có cả thảy 81 ngôi mộ như vậy nằm ở đó, ông Dương chi tiết lập bản đồ, tên họ những ai còn ghi lại được để hy vọng sau này thân nhân tìm tới, dễ nhận ra hơn. Công việc của ông kéo dài từ năm 2012 đến năm 2013 thì hoàn thành tương đối. Công việc khởi đầu thì lặng lẽ nhưng sau đó thì có thêm người biết, cùng bắt tay nhảy vào tiếp sức với ông. Danh sách những quân nhân ở nghĩa trang này được ghi lại với nét chữ nắn nót: “Tui ít học lắm, không có giỏi chữ nghĩa đâu”.

“Tui nhớ trận đó dữ lắm, năm 1972 mà. Ác liệt vô cùng. Phải nói là đánh như xi-nê luôn”, ông Dương nói.

Theo Quân sử, An Lộc là địa bàn quân sự chiến lược tối quan trọng đối với Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vì đây là cửa ngõ Tây Bắc ngăn chận quân Bắc Việt tiến về Thủ đô Sài Gòn sau khi quận lỵ Lộc Ninh rơi vào tay họ ngày 7 tháng 4 năm 1972.

Trận An Lộc là trận then chốt mà phía Hà Nội tin chắc là sẽ thắng, nên khi đó, bà Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Giải phóng miền Nam (cờ nửa xanh nửa đỏ) mạnh miệng tuyên bố chỉ trong vòng 10 ngày nữa An Lộc sẽ là thủ đô của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Chính vì vậy mà có đến 7 đợt tấn công (kể từ ngày 13-4) không ngừng phía Bắc, để cố chứng minh cho lời tuyên bố nói trên.

Thế nhưng, trong cuộc đánh chặn và đối diện cả hai đợt tấn công dữ dội của phía Bắc Việt phối hợp với Mặt trận Giải phóng miền Nam, quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng vẻ vang và tuyệt đối, trong đó, có sức trẻ của ông Dương, và sự hy sinh của nhiều bạn bè ông.

Quân sử ghi, phía cộng sản tấn công trực tiếp thị xã An Lộc có Sư đoàn 9, 2 trung đoàn pháo binh 28 và 42, 4 tiểu đoàn pháo phòng không và tiểu đoàn tăng thiết giáp 20, về sau tăng cường thêm tiểu đoàn tăng thiết giáp 21. Tham chiến ở vòng ngoài là Sư đoàn 5, 7 và Đoàn C30B. Kéo dài nhiều ngày, phía cộng sản thoái lui, chấp nhận thất bại. Dòng tin ngắn gửi về Hà Nội, sau này được tiết lộ, là “25 xe tăng thì đến 18 chiếc bị bắn cháy hoặc hư hại nặng”.

Trung tướng Nguyễn Văn Minh của Việt Nam Cộng Hòa, khi tiếp xúc với báo chí tại Lai Khê ngày 31 tháng 5/1972 đã mô tả trận chiến này là trận đánh khó khăn nhất và dài nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Ông tuyên bố: “Cộng sản đã đạt được một lợi thế ngay từ đầu với quân số đông gấp bốn lần, và quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã phải chấp nhận khá nhiều tổn thất. Tuy nhiên, sau 54 ngày giao tranh, Cộng quân đã thiệt hại ít nhất là 30.000 bộ đội trong tổng số 4 sư đoàn. Mưu đồ của Cộng sản mong tiến đánh thủ đô Sài Gòn đã hoàn toàn bị chặn đứng tại An Lộc”.

Vị trí phân lô đất cải táng hài cốt quân nhân VNCH

Chính tay ông Dương chôn cất những đồng đội mình ở nơi vùng đất giao tranh đó. Thỉnh thoảng có người từ hải ngoại về tìm thân nhân của mình tại An Lộc, được ông Dương giúp đỡ, có ghi lại tin tức cám ơn hoặc nhắc về ông. Nhưng đó cũng là những lúc công an địa phương đến “làm việc” với ông về việc tập kết thành một nghĩa trang nhỏ như vậy. “Tụi nó rầy rà lắm, nhưng riết rồi chú cũng quen vì mình cũng làm một mình chứ có băng nhóm gì đâu, vả lại, chuyện đã lâu rồi”, ông Dương bồi hồi nhớ, “cũng may sao trời xui đất khiến khi đó mình làm, ít ai để ý, mà chính quyền địa phương cũng cho qua, chứ không biết bây giờ làm thì có được vậy không”.

Điều làm chúng tôi bất ngờ là câu chuyện cải táng 81 nấm mộ đồng đội đó của hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương không phải là câu chuyện ông định kể, mà bất ngờ bật ra khi chúng tôi hỏi han về thời đi lính của ông, vào lúc chuẩn bị chia tay ra về.

“Tui thấy mình còn sống được, anh em thì chết hết rồi, nên thôi thì quy tập lại cùng nhau. Tình thương, tình đồng đội thôi mà, khi mấy ông công an hỏi, tui cũng chỉ biết nói như vậy”, ông Dương nói đến đây, là lúc giọng ông chùng xuống, buồn buồn. “Lúc sau này người thân của của các hài cốt đến quay phim, đưa lên mạng gì đó, nên công an biết, đến nói này nói nọ, kiếm chuyện với tui…”, ông bật cười, đời ông tới nay, 68 tuổi, vẫn chưa quen biết làm quen với mạng xã hội hay smartphone.

Chia tay chúng tôi, đưa ra tới tận cửa, ông bước đi với dáng khỏe mạnh và tự tin, dù một bên là chân gỗ. Người cựu quân nhân VNCH khiến chúng tôi, trên đường về, cứ im lặng suy nghĩ điều ông nói. Khi hỏi về tâm trạng của ông là một thương phế binh VNCH, và cũng bị nhà nước hiện thời đối xử với định kiến, liệu ông có mặc cảm là một kẻ thua trận không? Ông Dương bật cười lớn sảng khoái “Người ta đầu hàng chứ tụi tui có nói mình đầu hàng đâu? Không đầu hàng thì sao gọi là thua?”.

Đi tìm nhân vật trong bức ảnh lịch sử

TUẤN KHANH

VĂN HÓA – VĂN NGHỆCHUYỆN XƯA CHUYỆN NAYNEWSLETTER 6

Last updated May 1, 2021

Người lính VNCH Võ Phùng Dương và bức ảnh lịch sử

Những ai đã từng nhìn qua những hình ảnh về cuộc chiến tranh Việt Nam, chắc cũng có lúc đã bắt gặp hình ảnh một người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đang bị thương tật, bị đuổi ra nơi chữa trị của mình là Tổng Y Viện Việt Nam Cộng Hòa vào chiều ngày 30-4. Tấm hình nhỏ không có nhiều sự thuyết minh nhưng chỉ với ánh mắt của người thanh niên đau đớn, mệt mỏi đang chống nạng bước đi, đã là sự ám ảnh không lời đến tận cùng. Trong bộ quân phục có vẻ mặc vào vội vã, anh lính VNCH đó bước đi và lọt vào khung hình, trở thành một dữ liệu giằng xé im lặng, như một vết thương không bao giờ lành về một câu chuyện có thật: Những người thương bệnh binh bị chĩa súng, đuổi ra đường, ngay sau khi quân bộ đội Bắc Việt tràn vào Sài Gòn.

Nhiều năm trôi qua, người ta vẫn tự hỏi, người lính ấy còn sống không, giờ này người đàn ông ấy ra sao…?  Như mọi tấm ảnh trắng đen khác của những ngày tháng 4-1975 làm nhức nhối người xem – kể cả thế hệ chưa bao giờ trải qua ngày tháng đó – câu hỏi đó chất chứa với muôn vàn điều u uẩn trong lòng.

Với đôi chút thông tin vặt, chút hình ảnh và luôn dò hỏi… thật bất ngờ là đúng vào Tháng Tư, của 46 năm sau, sự có mặt của người lính ấy bỗng bất ngờ hiện ra trong cuộc tìm kiếm nhiều ngày của chúng tôi – những người miền Nam thế hệ hôm nay. Thật kỳ diệu: Ông vẫn còn sống, hiện ở Chơn Thành, Bình Phước.

Người lính ấy, hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương, Số quân: 74/145 811, KBC: 3506, Tiểu Đoàn 52, Liên Đoàn 3, Biệt Động Quân, vẫn im lặng tồn tại non nửa thế kỷ qua nhiều biến động của cuộc đời. Thật khó nói đó là những điều đắng cay số phận hay kiên cường cao quý của ông: Khi gặp, ông vẫn giữ được nụ cười bình dị, hiền lành và kiểu trò chuyện chơn chất khi tiếp chúng tôi tại ngôi nhà nhỏ của mình.

Đi tìm một ánh mắt câm lặng

Suốt đoạn đường dài từ Sài Gòn tìm đến nhà của ông Dương, chúng tôi chia nhau nhìn lại tấm ảnh về người lính trẻ (lúc ấy, ông chỉ mới 22 tuổi) khi bị đuổi ra khỏi giường bệnh và cố lết đi về nhà ở Quận 4, Sài Gòn, trong một buổi chiều nghiệt ngã của đời mình. Không ai trong chúng tôi tin được, người sắp gặp mặt, đó lại là một chứng nhân của sự kiện, lại là một nhân vật nổi tiếng từ bức ảnh luôn được chia sẻ trên các trang mạng, bản tin quốc tế, đặc biệt vào mỗi Tháng Tư.

Con đường dẫn vào nhà ông Dương im vắng đến lạ, nắng gắt oi bức đuổi theo mọi nơi. Đến con chó của nhà gần đó, nằm trong bóng râm cũng mệt mỏi nhìn chúng tôi mà không buồn sủa. Nhiều năm trước đó, khu vực này xác xơ, khốn khó và được gọi là vùng kinh tế mới.

Ông Dương có lối nói chuyện thuần chất nông thôn miền Nam, dễ làm người đối diện gần gũi, tạo nên sự cảm mến tức thì. Ngồi với nhau chỉ vài giờ đồng hồ, mà tưởng chừng như ai nấy đã thân thiết lâu rồi. Mỗi khi cao hứng lúc kể chuyện quá khứ, ông bật cười lớn, và nhất là khi kể về ngày tháng cũ, có lúc ông phấn chấn, lớn giọng mô tả không chút e ngại.

“Người chụp tấm hình đó, là bạn của chú, cũng bị đuổi từ Tổng Y Viện ra, ảnh tên Lài. Sẵn tay đang cầm cái máy Kodak, ảnh kêu tên chú rồi chụp luôn. Không ngờ tấm hình đó sống dai vậy”, ông Dương cười buồn, và nói rằng giờ cũng không biết Lài ở đâu, còn sống hay đã chết với những ngày tháng cam go không thua gì như cuộc chiến, sau cái Tháng Tư đó.

Buổi chiều ngày 30-4-1975, khi mọi người đang nằm trên giường bệnh, khắp nơi cứ mỗi lúc tràn về những tốp thương binh mới, nằm chật cả lối đi, chen chúc nhau ở mỗi phòng. Dù là ngày cuối cùng của cuộc chiến, đã có lệnh đầu hàng từ trưa, nhưng có vẻ giao tranh vẫn không dứt hẳn. Có những người được đưa vào với vết thương mới, tuôn máu không ngớt. Bất ngờ, tràn vào khắp ngõ trong Tổng Y Viện là những nhóm lính quân phục miền Bắc, súng AK chĩa lăm lăm, đằng đằng sát khí, lên giọng quát.

“Họ nói sao khi đuổi mọi người, kể cả những người vừa mới mổ xong, phải ra bệnh viện?”, ông Dương cười, suýt bật thành tiếng chửi thề, “Họ nói giọng Bắc, kêu đ*t mẹ chúng mày cút ra hết”. Theo lời ông kể, người ta hình dung rằng đây là một chủ trương có tính toán chứ không phải là ngẫu hứng từ viên chỉ huy cực đoan nào đó. Bởi theo lệnh phát đi và nòng súng hướng dẫn, những người thương bệnh binh VNCH đó phải nhanh chóng tựa vào nhau đi ra bằng ngõ sau và những ngõ phụ, chứ không phải là cổng chính, Mục đích rất rõ là không muốn tạo sự chú ý với dân chúng, hay để cho giới phóng viên nước ngoài còn trụ lại Sài Gòn có thể ghi hình được.

Ông Dương lúc đó, chỉ còn một chân, cố chống nạng đi. Vết thương đó, ông nhận vào tháng 2 năm 1975, trong một trận tử thủ ở ngay Bình Phước. Xe tăng bộ đội Bắc Việt tràn vào với biển người nhưng vẫn bị 3 tiểu đoàn đã tơi tả của phía ông chận lại. Lúc đó, quân VNCH chỉ còn lại những thành phần tử thủ, nhiều người đã bỏ đi, súng đạn không còn nhiều. 3 tiểu đoàn mà ông Dương có mặt, quyết cầm cự mặt trận trong lòng đô thị chỉ còn hơn khoảng 500 người. Trong khi đó, ráo riết tiến công để dứt điểm, tin cho biết 3 sư đoàn của Bắc Việt áp sát với đủ các loại hỏa lực yểm trợ.

“Bây giờ kể lại, mới thấy ngày đó những lính trẻ tụi tôi đánh dữ dằn ra sao. Riêng phía Biệt Động Quân tụi tui thì được huấn luyện chiến đấu trong lòng đô thị, trong khi đó, quân Bắc Việt sau khi ra khỏi rừng thì mất lợi thế do không biết địa hình, nên dù mạnh hơn, nhưng nhiều đợt xông lên đều bị chúng tôi đánh chặn, bắn cháy cả loạt xe tăng đi đầu”, ông Dương cười ha hả, nói. Ngay vào lúc giằng co không phân thắng bại ấy, thì đột nhiên có lệnh rút quân. Thế trận vỡ ngay từ lúc đó. “Chính vì khi chuyển thế rút quân, tui mới bị đạn 12.7 bắn ngay chân, nát mọi thứ”.

Ông Dương được chuyển về Tổng Y Viện, và cắt chân ngay vì sợ hoại tử, cũng như không thể cứu chữa gì được. Từng ngày, ông cảm nhận được sự sụp đổ của Sài Gòn đến khi thấy thêm thương bệnh binh nhập vào, mà các nơi đánh chặn thì mỗi lúc càng gần Sài Gòn hơn.

Ông Dương đi lính từ năm 1971, và tham gia nhiều trận ở An Lộc, Long Bình… những năm tháng đó khi cùng đồng đội chia lửa ở mọi trận tuyến, dù thế nào đi nữa, ông đã có một phía chọn lựa của mình rõ ràng, không hề nao núng, đó là một nước VNCH tự do của mình, nơi đó, có anh em, có cha mẹ, ngôi nhà… mà ông phải bảo vệ.

“Vì sao có những người đã bỏ chạy, nhưng sao chú và những người lính khác vẫn tiếp tục trụ lại?”, ông Dương không thể giải thích hết bằng ngôn từ đơn giản của mình, ông thoáng suy nghĩ và tả rằng, “Là nghĩ tới cái chết. Mình thua thì mình cũng sẽ bị bắn chết, thôi thì chiến đấu để chết ngay ở mặt trận, phải tốt hơn là bị quỳ rồi bị chĩa súng bắn, đúng không?”.

Dĩ nhiên, ông Dương tóm tắt vậy. Nghe cũng không có gì là quá đặc biệt, nhưng đằng sau đó, đó chính là trùng trùng khí chất của hàng hàng những quân nhân VNCH trong cuộc chiến: Nghĩa vụ, tổ quốc và danh dự nằm trong máu và trái tim, sâu và chân thành đến mức không thể hoa mỹ ngôn từ. Sâu đến mức đã có người mỉm cười tuẫn tiết khi thất trận, mạnh mẽ đến mức có người đã dõng dạc kết tội  kẻ kết liễu mình bằng tuyên ngôn của nền tự do bị tước đoạt.

Và rồi vào buổi trưa ngày 30, đang nằm trong Tổng Y Viện, đột nhiên mọi người nghe tin đầu hàng từ Tổng thống Dương Văn Minh. Ông Dương và nhiều người nữa, kêu “trời ơi” và chết lặng. Đằng sau lời đầu hàng đó, là một đại diễn biến khác, dù không hình dung rõ được, nhưng những người lính đó biết chắc rằng sẽ không thể có bình yên như những bài hát và lời kêu gọi tình anh em trên đài phát thanh của đạo quân vừa tiến vào Sài Gòn. “Đ.mẹ, gì đầu hàng, kỳ vậy?”, ông Dương kể mình la lên như vậy ở phòng bệnh. Có người cũng thảng thốt như ông.

Nữ sĩ Lê Thị Ý-Người lính và chiến tranh chưa bao giờ rời xa tôi

Apr 29, 2021 cập nhật lần cuối Apr 29, 2021

Kalynh Ngô/Người Việt

FALLS CHURCH, Virginia (NV) – Mỗi khi Tháng Tư đến, những câu chuyện về người lính Việt Nam Cộng Hòa lại cuồn cuộn tuôn chảy trong ký ức của những ai đã đi qua cuộc chiến. Trong đó, hình ảnh người góa phụ, hay một cô gái có yêu tử trận, trong cuộc chiến Việt Nam, trong ca khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu,” do Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ “Thương Ca 1” của nhà thơ Lê Thị Ý, sau hơn nửa thế kỷ, vẫn còn gây nhiều xúc động cho mọi người.

Nữ sĩ Lê Thị Ý, tác giả bài thơ “Thương Ca 1,” mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát “Tưởng Như Còn Người Yêu.” (Hình: Kalynh Ngô/Người Việt cung cấp)

“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình…”

Một cuộc đời bình lặng

Cuối Tháng Ba, trời Virginia vẫn còn se lạnh. Người phụ nữ với vóc dáng nhỏ bé, khoác chiếc áo lạnh vừa người, bước vào quán. So với cuộc gặp gỡ chớp nhoáng sáu năm trước, bà, nữ sĩ Lê Thị Ý, không thay đổi nhiều. Vẫn mái tóc đơn giản đó, vẫn nụ cười hiền lành, vẫn giọng nói thấm đậm âm hưởng của người Hà Nội “một ngày năm bốn, cha bỏ quê xa.”

Như hàng triệu người Việt Nam khác, bà là nhân chứng trong hai cuộc di tản vĩ đại của dân tộc. Nhưng nếu ai có hỏi, cuộc “chạy trốn” nào để lại trong bà nhiều dấu ấn nhất? Bà sẽ trả lời: “Đó là chuyến vượt biển năm 1981.”

Sau khi ra khỏi hải phận Việt Nam, tàu của bà lênh đênh trên biển ba ngày. Sau đó, tàu cập vào đảo Songkhla, Thái Lan. Chỉ trong ba ngày thôi, con tàu đó gặp hải tặc sáu lần. Không một ai trên con tàu, kể cả đứa bé chỉ mới tám tuổi, có thể thoát khỏi hành động hãm hiếp của hải tặc, trừ bà.

“Nói thì không ai tin, nhưng đó là sự thật. Chỉ một mình tôi may mắn thoát. Có đôi vợ chồng đó, người chồng đau đớn nhìn vợ mình bị hãm hại ngay trước mắt. Nhưng khi đến đảo rồi, họ lại quyết định chia tay. Có lẽ họ không thoát ra được cơn ác mộng đó, tôi nghĩ vậy.” bà nói.

Đặt chân đến Mỹ, bà định cư tại Maryland cho đến tuổi về hưu thì về Virginia sống đến hôm nay. So với những cuộc đời tị nạn khác, năm tháng tha hương của bà có phần nhẹ nhàng hơn, dù cũng trải qua nhiều công việc làm để tồn tại. Bà từng học để lấy bằng kỹ thuật viên máy tính, nhưng do giới hạn ngôn ngữ, nên cũng phải dở dang, chuyển sang công việc khác.

Những năm tháng đó, thơ vẫn là gia tài lớn nhất người nữ sĩ có được. Bà đã âm thầm cho ra đời bốn, năm tập thơ, chỉ dành tặng cho người quen, thân hữu.

“Cuộc đời của tôi khá đơn giản, nếu không muốn nói là ‘hạn hẹp.’ Viết văn thì tả cảnh, tả tình. Thơ thì từ cảm xúc. Mà cuộc đời tôi thì bình dị, chỉ chất chứa toàn hình ảnh lính và chiến tranh,” bà nói với nụ cười thật hiền.

“Người lính và chiến tranh chưa bao giờ rời xa tôi”

Nữ sĩ Lê Thị Ý là “con nhà nòi” của thi ca. Bà xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Ðức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều, và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị.

Bà đến với thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học. Khi cùng gia đình di tản vào Nam năm 1954, nữ sĩ Lê Thị Ý sống cùng một người anh là sĩ quan. Đến năm 1960, bà về Pleiku, làm việc cũng trong một trại lính. Cũng chính vì vậy, theo lời bà, “Người lính luôn luôn trước mặt. Chiến tranh luôn luôn ở trước mặt. Không bao giờ rời xa tôi.”

Cả cuộc đời của nữ sĩ Lê Thị Ý được bao phủ bằng hình ảnh kiên cường, oai hùng của người lính Việt Nam Cộng Hoà. Bà như con chim nhỏ bay nhảy trong không gian khép kín của cuộc chiến. Thế giới của bà là những bộ quân phục màu lá rừng, những đôi mắt sáng ngời ý chí, những vầng trán cao kiên cường của tuổi trẻ lấy tình yêu đất nước làm lẽ sống. Có phải nữ sĩ thần tượng và thần tượng hóa hình ảnh người lính trong cuộc chiến không?

“Tôi vừa thương vừa thần tượng. Tôi yêu nhất là bộ quân phục của người lính. Cuộc đời của họ là anh hùng, là sự dấn thân,” bà nói.

Thủ bút của nhạc sĩ Phạm Duy trong bài “Tưởng Như Còn Người Yêu,” phổ từ bài thơ “Thương Ca 1” của Lê Thị Ý. (Hình: Lê Thị Ý cung cấp)

Trong câu chuyện bà kể, khi ở chiến trường, người lính là anh hùng, là dấn thân. Ngày về phép, hoặc cuối tuần, cởi bỏ bộ quân phục, họ là người lính chân tình, dễ thương. Bà kể, nếu người lính ấy có 500 đồng để tiêu xài trong một tuần, thì họ sẽ không dùng. Họ để dành cuối tuần gặp người yêu, cả hai cùng đi dạo phố.

Hướng tầm mắt ra cửa, bà nói nhẹ: “Tôi vừa thương vừa thần tượng. Khi người lính vừa ra khỏi cửa, là tôi lại nghĩ ngay đến những hiểm nguy có thể xảy đến với họ. Tôi có những liên hệ lạ lùng lắm. Nếu nói tôi tưởng tượng, cũng được.”

Người anh cả của nữ sĩ là một sĩ quan. Lúc nào bà cũng mang tâm trạng lo sợ anh mình đi trận không trở về. Người yêu đầu đời của bà, là một người lính. Người yêu thứ hai trong đời, vẫn là một người lính – người đã tử trận trong một trận đánh.

“Thương Ca 1”

Năm 1965, nữ sĩ rời Sài Gòn. Bà về Pleiku làm việc trong một trại lính. Năm năm ở phố núi bé nhỏ này, mỗi một ngày bà đối diện với vô vàn những câu chuyện không tên về cuộc đời người lính. Lúc này, cũng là thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh. Thế giới xung quanh bà khi ấy chỉ toàn lính, và lính. Lính và vợ. Lính và vũ khí. Lính và đạn bom. Lính và tử trận. Từ đó, tình yêu bà dành cho người lính, cuộc đời người lính, càng thêm cao dầy. Đôi khi, chỉ những câu chuyện trò ngắn ngủi đời thường với vợ lính cũng làm cho trái tim nữ sĩ chạnh lòng.

Bà nhớ lại, rồi kể:

“Chúng tôi, những người phụ nữ nói chuyện vui đùa với nhau. Có người nói:

-Trời lạnh thế này mà được ở nhà ôm ông xã thì sướng biết mấy.

-Thế ông xã đâu?

-Ông xã đi đánh trận.”

Chỉ đơn giản thế thôi, nhưng cũng đủ làm tâm hồn người nữ sĩ bồi hồi xúc động.

Hình bìa tuyển tập thơ văn “Quê Hương và Kỷ Niệm” trong đó có tác phẩm của Lê Thị Ý. (Hình: Kalynh Ngô/Người Việt)

Thời gian trong trại lính ở Pleiku, nữ sĩ chiêm nghiệm rõ như nhật nguyệt sự vô thường của đời người trong chiến tranh. Những người ở đó, gặp đó, rồi mất đó. Một câu chuyện được bà nhớ và kể lại:

“Tôi nhớ vào Giáng Sinh năm đó, có một người lính đến cửa hàng của tôi mua quà lưu niệm gửi cho gia đình. Anh ấy xin cho khất lại tiền, đến đầu Tháng Giêng, dịp Tết Tây, anh về trại sẽ gửi trả. Nhưng lần ra trận đó, người lính mãi mãi không quay về. Sau đó, người em của anh ấy ra nhận trả số tiền đó. Nhưng tôi không nhận.”

Nữ sĩ đa cảm “thương vay khóc mướn” (theo lời bà tự nhận) nói rằng, những năm tháng đó, bà rất gần gũi với cái chết của mọi người. Không biết bao nhiêu lần bà chứng kiến người phụ nữ, những đứa trẻ, những cô gái tuổi xuân đến mở chiếc “poncho” quấn xác để nhận xác chồng, cha, người yêu. Bà đau với nỗi đau của họ. Nước mắt của bà rơi cùng tiếng khóc của họ.

“Tôi đi ngang nhà xác, nghe tiếng khóc vọng ra. Tôi nhìn vào thấy người ta đang nhận xác… đau lắm. Không phải chỉ khi của mình, mình mới đau…” bà kể. “Nó (nỗi đau) không phải là của mình nhưng đã hóa thành của mình.”

Và bài thơ “Thương Ca 1” ra đời từ đó.

“Tôi làm bài thơ đó rất nhanh. Tôi làm một mạch, không sửa gì cả. Tôi làm xong cất vào trong bàn học. Ngày xưa, anh tôi, nhà thơ Vương Đức Lệ, không muốn các em mình theo nghiệp thơ văn, nên tôi làm xong toàn là giấu đi. Nhưng hôm đó, bạn của anh tôi đến nhà chơi, vô tình thấy bài thơ đó. Ông nói ‘thơ hay thế này mà không đi đăng.’ Thế là ông xé tờ giấy tập có bài thơ, đưa cho cụ Nguyễn Ðức Quỳnh, là người trụ trì sinh hoạt Ðàm Trường Viễn Kiến. Cụ Quỳnh đọc rồi lại chuyển cho cho ông Phạm Duy phổ nhạc,” nữ sĩ kể lại quá trình ra đời bài thơ “Thương Ca 1” và bài hát “Tưởng Như Còn Người Yêu.”

Nữ ca sĩ Julie Quang, con dâu nhạc sĩ Phạm Duy, là người đầu tiên hát ca khúc này.

Đã hơn 50 năm trôi qua kể từ khi “Thương Ca 1” ra đời, hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa với bộ quân phục hiên ngang, dũng mãnh, vẫn mãi trọn vẹn trong trái tim và tâm hồn người nữ sĩ – nhà thơ Lê Thị Ý.

Photography on the frontline

Lateline

By Lateline’s Jason Om

Updated 8 Sep 2016, 4:28pm

Nhiếp ảnh gia chiến tranh Gary Ramage đã chứng kiến ​​cái chết quá nhiều. Tuy nhiên, anh ấy đã trở lại khu vực chiến đấu nhiều lần, để kể những câu chuyện của những người không thể nói cho chính mình.

Chúng tôi có một trách nhiệm rất lớn là các nhiếp ảnh gia.

Chúng tôi đến những nơi mà người khác không thể đến và sau đó chúng tôi có trách nhiệm kể những câu chuyện về những người đang bị tàn phá bởi chiến tranh và xung đột.Gary Ramage

Bạn phải có một chút cô đơn. Bạn phải rất tự lực, có động lực cao và rất muốn kể chuyện của người khác.

Gary Ramage

Bạn chứng kiến ​​những người chết hoặc đau đớn dữ dội.

Phải mất một thời gian dài để bạn vượt qua những thứ như thế, hoặc nhìn thấy hoặc chụp ảnh hình ảnh như thế.

Afghanistan là cuộc xung đột chính mà tôi tham gia với tư cách là một nhiếp ảnh gia dân sự.Tôi đã có ba chàng trai chết trên tôi trong ba ngày ở phía sau một chiếc trực thăng Black Hawk.

Tôi không muốn cha mẹ của cậu bé đó nhìn thấy hình ảnh cuối cùng của đứa con trai đang khỏa thân trên sàn của một chiếc trực thăng op màu đen, chảy máu khắp nơi.

Vì vậy, tôi đã cố gắng làm điều đó một cách tôn trọng nhất có thể và điều đó có nghĩa là di chuyển xung quanh phía sau của chiếc chopper cho đến khi tôi có thể có được một góc mà tôi có thể chụp bức ảnh đó sẽ kể câu chuyện cuối cùng của anh ấy mà không nhận ra anh ấy, mà không đưa ra bất kỳ trận chung kết kinh khủng nào hình ảnh cho bố mẹ anh.

Một trong những điều khó khăn nhất mà tôi có thể chứng kiến ​​là cái chết của một cậu bé ở Afghanistan, anh trai của anh ta bị mất một cánh tay và cuối cùng anh ta chết vì chấn thương đầu nghiêm trọng.

Lắng nghe tiếng hét của anh ta trong khi họ đang cố gắng cứu anh ta, điều đó thật ám ảnh, và cứ thỉnh thoảng, nó lại quay trở lại và dằn vặt tôi.

Nếu tôi thực sự ngồi xuống để bằng cách nào đó biện minh rằng trong đầu, tôi sẽ không sống sót sau ba tháng tôi ở đó.

Đó là một gánh nặng và tôi vẫn mang nó. Thỉnh thoảng, bạn sẽ có những cái nhìn thoáng qua hoặc hồi tưởng nhỏ về những điều tôi thấy khi tôi đi vắng.

Tôi điều chỉnh khá nhiều khi tôi thực hiện các triển khai hoặc bài tập này. Rất khó để có được cảm xúc gắn bó với những gì bạn đang làm. Bạn sẽ không hoạt động.

Điều khó khăn nhất trong việc bao trùm xung đột là khía cạnh con người trong các hoạt động.

Tôi là một nhiếp ảnh gia chiến đấu đã nhìn thấy quá nhiều cái chết.

Trong các cuộc chiến mà dường như không có gì quan trọng, tôi có thể chụp ảnh mà mọi người đều quan tâm.

Gary Ramage

The Final Salute by Todd Heisler

Thiếu tá hải quân Steve Beck chuẩn bị cho cuộc kiểm tra cuối cùng về thi thể của Trung úy James J. Cathey, chỉ vài ngày sau khi thông báo cho vợ của Cathey về cái chết của lính thủy ở Iraq. Tiếng gõ cửa bắt đầu một nghi thức chìm trong truyền thống hơn hai thế kỷ; một truyền thống dựa trên cùng một nguyên lý: “Không bao giờ để lại một Marine phía sau.” Khi các cuộc chiến bắt đầu ở Afghanistan và Iraq, Thiếu tá Steve Beck dự kiến ​​sẽ thấy mình ở nước ngoài, trong sức nóng của trận chiến. Anh ta không bao giờ nghĩ mình sẽ là người sắp xếp tang lễ cho những đồng đội đã ngã xuống.

Ngay từ cái nhìn đầu tiên về chiếc quan tài treo cờ của chồng, Kinda Cathey đã khóc nức nở, không thể kiểm soát được, tìm kiếm sự hỗ trợ trong vòng tay của Thiếu tá Steve Beck. Khi Beck lần đầu tiên gõ cửa ở Brighton, Colo., Để thông báo về cái chết của chồng, cô lườm anh, chửi rủa anh và từ chối nói chuyện với anh hơn một tiếng. Trong nhiều ngày tiếp theo, anh giúp hướng dẫn cô vượt qua nỗi đau. Khi họ đến được đường băng, cô sẽ không buông tay.

Khi xác của Trung úy James Cathey đến Sân bay Reno, Thủy quân lục chiến trèo vào khoang hàng của máy bay và treo cờ trên quan tài của anh, khi hành khách theo dõi gia đình tập trung trên đường băng. Trong sự xuất hiện của một chiếc quan tài hàng hải khác vào năm ngoái tại Sân bay Quốc tế Denver, Thiếu tá Steve Beck đã mô tả cảnh tượng này là một trong những thế lực mạnh nhất trong quá trình này. “Nhìn thấy những người trong cửa sổ? Họ ngồi ngay trên máy bay, quan sát những người lính Thủy Quân Lục Chiến đó. Bạn phải tự hỏi những gì đang diễn ra trong tâm trí họ, biết rằng họ đang ở trên máy bay đưa anh ta về nhà,” anh nói ….

Vài phút sau khi quan tài của chồng cô đến sân bay Reno, Kinda Cathey ngã xuống trên quan tài. Khi Trung úy James Cathey đi Iraq, anh đã viết một lá thư cho Kinda đọc, một phần, “không có từ nào để diễn tả anh yêu em nhiều như thế nào, và sẽ nhớ em. Anh cũng sẽ hứa với em một điều: Anh sẽ hứa với em một điều ở nhà. Anh có vợ và một đứa con mới để chăm sóc, em và con là thế giới của anh. “

Thiếu tá Steve Beck và một lính Thủy Quân Lục Chiến đến nhà của gia đình Trung úy James Cathey, chuẩn bị hộ tống Catheys đến sân bay để nhận thi thể của con trai họ. Năm ngày trước đó, bóng tối của các nhân viên cuộc gọi trợ giúp tai nạn cũng đi theo con đường tương tự, mang theo tin tức mà không một gia đình quân nhân nào muốn nghe. “Tôi sẽ không bao giờ quên hồ sơ của Thiếu tá Beck.” Bob Burns nói về đêm anh được thông báo về cái chết của con trai mình. Lá cờ sao vàng trong cửa sổ biểu thị cái chết của một người thân yêu.

Jo Burns khóc khi cô và chồng Bob mở những chiếc hộp chứa đồng phục của con trai họ từ Iraq – những chiếc hộp do Thiếu tá Steve Beck giao. “Đối với tôi, có tất cả những thứ này trở lại là một điều tốt,” cô nói vài phút sau. “Tôi muốn nhớ. Tôi không bao giờ muốn quên, hoặc ngừng cảm giác.” Bob Burns sau đó nắm lấy tay cô. “Tôi cũng không muốn quên,” anh nói. “Tôi chỉ không muốn đau.”

Thượng sĩ Thủy Quân Lục Chiến Jeremy Kocher đứng xem gần cơ thể của Lance Cpl. Thậm chí, Herrera ở Eagle, khi trẻ em và người lớn trong vùng đổ về để tỏ lòng thành kính. Giống như nhiều Thủy Quân Lục Chiến đóng tại căn cứ không quân Buckley ở Aurora, Kocher nói chi tiết về tang lễ là nhiệm vụ khó khăn nhất mà anh từng thực hiện. “Tôi thực sự bắt đầu nghĩ về nó ngay khi tôi thức dậy. Đó là một công việc quan trọng đến nỗi tôi không muốn làm hỏng nó,” anh nói. “Tôi chỉ muốn nó hoàn hảo.”

Các thành viên của Phi đội Kiểm soát Không quân Hàng hải 23 đóng tại Căn cứ Không quân Buckley hộ tống quan tài của Marine Lance Corporal Evenor Herrera qua thị trấn Eagle, Colo., Đến mộ của anh ta. Kể từ khi bắt đầu chiến tranh, Thủy quân lục chiến từ Buckley đã giám sát tang lễ cho 18 Thủy Quân Lục Chiến đang hoạt động; 14 người chết ở Iraq, bốn người chết trong các vụ tai nạn giao thông.

Thủy Quân Lục Chiến nâng cờ ra khỏi quan tài của Lance Cpl. Thậm chí, Herrera, chuẩn bị gấp nó lần cuối và tặng nó cho cha mẹ của Herrera, Blanca và David Stibbs, trung tâm. Sau khi xem rất nhiều cảnh đau buồn, TQLC nói rằng tiếng khóc của gia đình không bao giờ rời khỏi tâm trí họ. “Nó gần như đủ để ước rằng bạn có thể thế chỗ anh ấy, vì vậy những người này sẽ không bị tổn thương nhiều như vậy”, Thượng sĩ. Kevin Thomas nói.

Khi đến Denver để dự lễ vinh danh Thủy quân lục chiến tử trận, Lori DeMille, Oceanside, Calif., Chạm vào bia mộ của Marine Lance Corporal Kyle Burns, người đã bị giết ở Fallujah vào ngày 11 tháng 11 năm 2004, tại Nghĩa trang Quốc gia Fort Logan. DeMille và một nhóm Thủy quân lục chiến từng phục vụ với Burns ở Iraq đã đến Colorado để tỏ lòng thành kính với Burns và gia đình anh.

Sau khi biết rằng một gia đình đã nhận được huy chương hậu hĩnh của con trai họ trong thư, Thiếu tá Steve Beck đã lên kế hoạch cho một sự kiện mà ông gọi là “Ghi nhớ dũng cảm”, trong thời gian đó ông đích thân trao huy chương cho các gia đình mà ông  đã theo dõi. “Khi bạn nghĩ về những gì những người này đã làm, không dễ để nhìn vào những huy chương này”, ông nói. “Sự đánh đổi là gì? Làm thế nào để bạn nói ‘Đây là cho con trai của bạn?'”

Jo Burns bám lấy Hạ sĩ Dustin Barker, 22 tuổi, trong buổi lễ “Ghi nhớ dũng cảm” nhằm tôn vinh hành động của Thủy quân lục chiến. Hạ sĩ Barker đã ở cùng với con trai của Jo Burns, Lance Corporal Kyle Burns, khi anh ta bị giết trong cuộc hành quân ở Fallujah vào ngày 11 tháng 11 năm 2004.

Trong buổi lễ chính thức, được gọi là “Ghi nhớ dũng cảm”, được tổ chức tại một khách sạn Holiday ở Denver, Đại úy Chris Sutherland, bên trái, Sergeant Major Jeff Study,Trung sĩ Clifford Grimes và Trung sĩ xạ thủ Todd Martin chuẩn bị trao huy chương cho các gia đình Thủy Quân Lục Chiến tử trận. Họ cũng tặng mỗi gia đình một bình hoa hồng vàng – một bông hồng cho mỗi năm trong cuộc đời của Marine.

Sau khi đến nhà tang lễ, Kinda Cathey ấn bụng bầu vào quan tài của chồng, khẽ rên rỉ. Hai ngày sau khi cô được thông báo về cái chết của Jim ở Iraq, cô phát hiện ra họ sẽ có một bé trai. Sinh ngày 23 tháng 12 năm 2005, đứa bé được đặt tên là James Jeffrey Cathey, Jr.

Kể từ khi James Cathey bị giết trong một vụ nổ lớn, xác anh được bọc kín một cách tinh tế bởi đại đội Chung Sự, sau đó đồng phục Marine của anh được đặt trên xác anh. Vì Kinda Cathey quyết định không xem thi thể của chồng mình, Thiếu tá Steve Beck nắm lấy tay cô và ấn nó xuống bộ đồng phục. “Anh ấy ở đây,” anh nói khẽ. “Cảm thấy ngay tại đây.”

Đêm trước khi chôn cất thi thể của chồng, Kinda Cathey đã từ chối rời khỏi quan tài, yêu cầu ngủ bên cạnh cơ thể anh lần cuối. Thủy Quân Lục Chiến làm một cái giường cho cô ấy, nhét những tờ giấy bên dưới lá cờ. Trước khi ngủ thiếp đi, cô mở máy tính xách tay ra và chơi những bài hát khiến cô nhớ đến “Cat”, và một trong những người lính TQLC hỏi cô có muốn họ tiếp tục đứng nhìn khi cô ngủ không. “Tôi nghĩ sẽ thật tuyệt nếu bạn tiếp tục làm điều đó”, cô nói. “Tôi nghĩ đó là những gì anh ấy sẽ muốn.”

Trong ba ngày liên tiếp, Thủy quân lục chiến đứng theo dõi thi thể của Trung úy Jame Cathey, nghỉ giải lao định kỳ trong một căn phòng trong nhà xác, nơi Nhân viên Trung tâm. David Rubio dụi mắt sau một giấc ngủ ngắn. Rubio được cử để đại diện cho Thủy quân lục chiến từ Đại học Colorado, nơi lần đầu tiên anh gặp Cathey. “Tôi chưa bao giờ chịu trách nhiệm đó,” Rubio nói. “Khi bạn học đại học, bạn rất tách biệt với những gì đang xảy ra ở Iraq … Chúng ta càng nói nhiều về điều đó thì dường như càng khó hơn.”

Một ngày trước lễ tang của người bạn của họ, Trung úy Jon Mueller, bên trái và Trung úy Matthew Baumann đã luyện tập hàng giờ để gấp một lá cờ, chắc chắn sẽ không có lỗi vào ngày hôm sau. “Đó sẽ là lần cuối cùng lá cờ của anh ấy được gấp lại,” Thiếu tá Steve Beck nói, khi ông hướng dẫn họ. “Nó phải hoàn hảo.”

Khi đám tang của con trai ông gần kề, nước mắt của Jeff Cathey hiếm khi ngừng lại. Ông thường tìm thấy sự thoải mái ở những người đàn ông chia sẻ đồng phục của con trai mình. “Có người hỏi tôi học được gì từ con trai tôi,” ông nói. “Con tôi dạy tôi rằng bạn cần nhiều hơn một người bạn.”

Khi còn là lính bộ binh trẻ tuổi, James Cathey và những người bạn của mình đã có một chuyến đi đến Iwo Jima, nơi họ cắm trại trên bãi biển, tưởng nhớ gần 6.000 lính TQLC đã chết ở đó trong Thế chiến II. Trước khi Cathey và bạn bè rời đảo, mỗi người đều lấy một đống cát từ bãi biển. Sau tang lễ của Cathey, các đồng đội của anh  đặt đôi găng tay trắng của họ lên quan tài của anh, sau đó lấy nắm đấm trên cát và làm trôi nó trên người họ.

Todd Heisler, tốt nghiệp năm 1994 của Đại học bang Illinois, đã tham gia Rocky Mountain News ở Denver, Colorado, với tư cách là một nhiếp ảnh gia nhân viên vào năm 2001. Trước khi có Tin tức, Heisler làm việc tại một số tờ báo cộng đồng ở ngoại ô Chicago, nơi anh lớn lên.

Kể từ khi bắt đầu Chiến tranh Iraq, Heisler đã thực hiện ba chuyến đi tới Iraq, dành phần lớn thời gian gắn liền với quân đội Hoa Kỳ. Heisler là một thành viên của nhóm ảnh đã giành được giải thưởng Pulitzer năm 2003 vì đã phá vỡ nhiếp ảnh tin tức để đưa tin về mùa cháy rừng tồi tệ nhất ở Colorado.

Cha Nguyễn Lạc Hóa Và Làng Bình Hưng

Trong một tổ chức, một hội đoàn, một làng xã, hay một nước đang trong thời kỳ thay đổi hoặc đang bị biến cố khủng hoảng, nếu người lãnh đạo là một người có kinh nghiệm, khôn ngoan, biết thế nào là lợi ích cho dân, có uy tín thu hút dân (charisma), và có tài lãnh đạo thì hội đoàn, hoặc tổ chức, hoặc đất nước được phát triển và vươn lên. Câu chuyện của album này dạy cho ta một bài học điển hình về sự lãnh đạo của một tu sĩ người Hoa trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Nhờ tài lãnh đạo của người “tu sĩ chiến đấu” (a fighting priest) này mà một làng được dựng lên giữa nơi sình lầy, nằm ngay giữa lãnh thổ của phía thù địch, mà lại phát triển mạnh mẽ. Báo chí Tây Phương đặt tên làng này là “một làng không chịu chết” (a village that refused to die).

Cha Nguyễn Lạc Hóa và Làng Bình Hưng

Cha Augustine Nguyễn Lạc Hóa là một tu sĩ Công Giáo người Hoa gốc Quảng Đông. Cha sinh ngày 18 tháng 8 năm 1908 tại một làng bên nước Trung Hoa gần biên giới Việt Nam và vịnh Bắc Bộ. Tên tiếng Quảng Đông của cha Hóa là Yun Loc Fa, hoặc tiếng Quan Thoại thì gọi là Yuan Lo-Hua. Sau một thời gian tu học tại Penang, Mã Lai Á, cha Hua được thụ phong linh mục tại Hồng Kông vào năm 1935. Khi chiến tranh chống Phát Xít Nhật bùng nổ, cha Hua bị động viên và phải ngưng làm tu sĩ để tham gia chiến tranh với chức Thiếu Úy chỉ huy một toán du kích trong quân đội của Tưởng Giới Thạch. Khi Nhật đầu hàng thì cha Hua được thăng chức Thiếu Tá. Trong cuộc nội chiến giữa phía Cộng Sản dưới Mao Trạch Đông và Quốc Dân Đảng dưới Tưởng Giới Thạch, cha Hua được thăng chức Trung Tá, nhưng chưa được chức thực thụ thì phía Quốc Dân Đảng bắt đầu thua cuộc và quân đội tan rã. Cha Hóa lấy cơ hội đó để từ chức và về quê tiếp tục cuộc đời tu sĩ. Sau đó, cha bị phía CS bắt bỏ tù với tội phản động vì lúc đó Mao đã bắt đầu đưa ra chính sách sở hữu hoá các tôn giáo, và muốn ly khai giáo hội Công Giáo ra khỏi Vatican.

Sau một năm tù, cha Hua với sự giúp đở của một số giáo dân đã trốn bằng thuyền tới Hải Ninh, Bắc Việt Nam vào năm 1950. Tại Việt Nam, cha lấy tên Việt là Nguyễn Lạc Hóa và bắt đầu vận động để giúp các tín đồ Công Giáo bên Trung Hoa trốn sang Việt Nam. Sau 6 tháng, cha Hóa đã giúp được tổng cộng 450 gia đình, tức 2174 giáo dân người Hoa tới Việt Nam. Khi nhóm Việt Minh bắt đầu bành trướng và hoạt động mạnh với sự giúp đỡ của Mao Trạch Đông, cha và đa số giáo dân của cha khoảng 2100 người rời Việt Nam sang Cam Bốt và tái định cư tại Snoul, tỉnh Kratie. Sau 7 năm sống tại đó, chính quyền Cam Bốt bắt đầu chính sách trung lập chính trị và công nhận Trung Hoa nằm dưới quyền của Cộng Sản và Mao Trạch Đông. Sợ rằng giáo dân của cha có thể sẽ bị trả về Trung Hoa, cha Hóa bắt đầu tìm đường sang miền Nam Việt Nam. Trong cuộc gặp gỡ vào năm 1958 giữa cha và Tổng Thống Ngô Đình Diệm, do sự dàn xếp của một người bạn tên là Bernard Yoh, TT Diệm quyết định giúp cha Hóa và giáo dân của cha tái định cư.

TT Diệm cho cha Hóa chọn ba chổ để định cư. Cha chọn nơi có nhiều đất trống để khai thác và dễ trồng trọt lúa gạo vì vùng đất phì nhiều và nhiều nước, đó là vùng Cà Mau, tỉnh An Xuyên. Nhưng vùng này cũng được coi là nơi nguy hiểm nhất trong ba chổ để chọn, vì sau khi ký hiệp định Geneve 1954, Việt Minh đã chọn vùng Cà Mau làm nơi tập kết quân du kích và đã lưu trữ nhiều vũ khí và đạn dược tại đó. Với sự trợ giúp của chính quyền Sài Gòn và sau 3 tháng lao động cực khổ ngày đêm đắp đất cho cao để xây làng, cha Hóa và giáo dân đã hoàn tất được 200 căn nhà và đặt tên làng là Bình Hưng, để biểu hiệu sự san bằng đất sình lầy và xây cất một nơi có thể sinh sống. Với kinh nghiệm của một cựu quân nhân đã từng tham chiến, cha Hóa thiết kế làng theo hình vuông để dễ phòng thủ, và xây một lạch nước xuyên qua giữa làng với một cây cầu để dân có thể đi qua đi lại dễ dàng. Cha chia dân làng thành những toán dân tự vệ nhỏ với mỗi toán gồm 5 người canh gát từng khu làng.

Lúc đầu vc để yên, nhưng sau khi thấy làng đã xây cất xong và làm lễ khánh thành với cờ vàng ba sọc đỏ, họ bắt đầu gửi những toán nhỏ đến làng để vừa tuyên truyền chiêu dụ vừa quấy nhiễu. Lúc đầu dân làng chỉ có dao và chọc nhọn bằng gỗ, nhưng vẫn đẩy lui được những toán vc này vì một số dân làng đã từng có kinh nghiệm đi lính bên Trung Hoa trong thời chống Phát Xít Nhật, và biết cách đánh xáp lá cà dùng dao và chọc nhọn. Sau những vụ quấy nhiễu như thế, chính quyền Sài Gòn bắt đầu cấp vũ khí. Mới đầu là 6 quả lựu đạn và 12 khẩu súng trường củ, rồi sau thêm 50 khẩu súng trường, hai súng trung liên, và 7 súng tiểu liên. Ngoài ra, cha Hóa và dân làng cũng bắt đầu giao tế với các làng người Việt lân cận để vừa tương trợ lẫn nhau và vừa trao đổi tin tức khi bị du kích vc tấn công. Trong suốt năm 1960, làng thường bị tấn công và bị bắn tỉa bởi vc. Nhưng với tù binh bắt được, làng đã xây một tường đất bao quanh làng với chòi canh gác để giúp bảo vệ làng. Chính quyền Sài Gòn cũng cung cấp thêm 50 súng trường Lebel của Pháp, và 120 khẩu súng Springfield đã tịch thu được từ nhóm Bình Xuyên. Với đạn dược còn thiếu, Bernard Yoh cho cha Hóa một máy ráp đạn cũ mà ông đã thường dùng để làm đạn đi săn bắn, để làng Bình Hưng tạm thời tự làm đạn lấy. Dùng kinh nghiệm chiến đấu, cha Hoá không muốn chờ cho kẻ thù địch tấn công mình, nên đã truyền lịnh dân tự vệ làng phải chia toán đi tuần hành hằng ngày để tìm du kích vc rồi tiêu diệt.

Ngày 3 tháng giêng năm 1961, một lực lượng vc khoảng 400 người tấn công một toán 90 người dân tự vệ của làng Bình Hưng. Trận đánh gồm những cuộc phục kích qua lại giữa hai bên. Sau 3 ngày, lực lượng vc đã bị tổn thất với 172 người bị giết. Trong trận đánh này, Chuẩn Tướng Không Quân Mỹ Edward Lansdale có viếng thăm làng Bình Hưng và đã làm một bài tường trình ca ngợi thành tích chiến đấu của dân làng. Sau đó, TT Diệm đã cho phép Mỹ viện trợ thêm quân sự và vật liệu để giúp dân làng củng cố phòng thủ với đầy đủ vũ khí, đạn, thuốc men, và thực phẩm. Tháng 6 năm 1961, dân tự vệ làng Bình Hưng chính thức được chính quyền Sài Gòn chấp nhận là Nhóm Nhân Dân Tự Vệ 1001, và cho hợp vào quân đội VNCH. Cha Hóa từ chối không nhận chức vụ và lương bỗng của một sĩ quan chỉ huy, nhưng cha tình nguyện làm người chỉ huy quân đội vô chức vụ. Cha Hoá cũng đề nghị và TT Diệm đồng ý đổi tên nhóm từ Nhân Dân Tự Vệ 1001 thành lực lượng Hải Yến (Sea Swallow), vì mầu trắng đen của loài chim này tương tự áo đen của tu sĩ với cổ trắng, và loài chim này giúp nhà nông bằng cách ăn những sâu bọ phá mùa màng. Trước khi chấp nhận trách nhiệm chỉ huy quân đội, cha Hoá đã tham khảo ý kiến Bề Trên của cha. Mặc dầu, Đức Giám Mục không cho phép nhưng vì thấy sự sống còn của làng lệ thuộc vào sự lãnh đạo và kinh nghiệm quân sự của cha, Đức Giám Mục làm ngơ để cha Hoá lãnh trách nhiệm này.

Ban đầu vào năm 1959, TT Diệm đã trực tiếp dùng quỹ riêng để trả một ít lương cho lực lượng 180 dân tự vệ, nhưng lương bỗng bắt đầu được trả chính thức cho lực lượng 300 dân tự vệ vào năm 1961 với khoảng $12 đô mỗi người một tháng. Sĩ quan hoặc lính đều được trả lương bằng nhau. Ngoài ra cha Hóa cũng dùng quỹ riêng của cha để trả thêm 40 dân tự vệ khác. Những thành phần mới tham gia lực lượng và còn đang huấn luyện thì chỉ được cung cấp thực phẩm mà thôi. Tổng cộng, lực lượng nhân dân tự vệ Hải Yến của làng Bình Hưng có 340 người, với thêm 80 người mới tham gia và đang học tập. Ngoài ra, để giúp cho dân làng sinh sống và có áo quần để mặc, cha Hóa và người bạn Bernard Yoh đã phải vay nợ cá nhân lên tới hơn $100 ngàn đô vào giữa năm 1961. Sau khi được yểm trợ tài chánh khá hơn, cha Hóa bắt đầu đi khắp miền Nam để chiêu dụ thêm lính cho làng. Mặc dầu cha đã báo trước cuộc sống mới sẽ có nhiều vụ tham chiến, với lương ít ỏi, và có thể nguy hiểm tới tính mạng, khoảng 242 người dân Thượng tình nguyện tham gia cùng với và một đại đội gồm 132 người Nùng. Sau này, theo tài liệu mật thì nhóm người Nùng này thật ra là những cựu chiến binh Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch.

Vừa là một người lãnh đạo quân sự mang nón sắt, vừa là một ông cha mang áo dòng, cha Hóa đã dựng lên một lực lượng võ trang chống du kích rất hữu hiệu. Kế hoạch quân sự của cha là trận chiến không thể thắng nếu chỉ thụ động chờ địch thù tới, mà phải mang chiến tranh tới địch thủ của mình. Nhóm Hải Yến đi tuần hành hàng ngày hàng đêm bất cứ thời tiết nào, để tìm vc và phục kích. Một hệ thống tình báo với sự giúp đở đưa tin tức của những nhà nông người Việt lân cận và một số gián điệp nằm vùng giúp báo trước những hoạt động và di chuyển của phía vc trong vùng.

Với Bernard Yoh vận động không ngừng các hội đoàn từ thiện và chính quyền tại Sài Gòn để giúp đở về quân sự, thuốc men, sửa, bột và dầu nấu ăn, làng đã phát triển gấp 4 lần trong vòng hai năm từ khi được dựng lên, với số dân tị nạn người Hoa và người Việt bắt đầu dọn về để sống dưới sự lãnh đạo của cha Hóa. Đối với một nhà báo nước ngoài tới thăm làng vào tháng giêng năm 1962, cảnh làng và các ấp chung quanh của Biệt Khu Hải Yến nhìn có vẽ khó phòng thủ và thường bị vc quấy nhiễu, nhưng cha Hóa lúc nào cũng có tự tin, lính phòng thủ ai cũng vui vẻ mặc dầu phải đương đầu với cái chết hàng ngày bất cứ lúc nào, và dân làng có vẽ mãn nguyện. Những yếu tố này đã làm cho làng Bình Hưng khác hẳn với những làng xã khác trên khắp miền Nam Việt Nam. Với tiếng tăm chiến đấu không sợ chết ngay giữa lòng địch, trực thăng bắt đầu chở các khách quan và nhà báo tới viếng thăm thường xuyên, cha Hóa bắt đầu tạo một nhóm 56 lính vệ binh danh dự để đón khách quan trọng tới thăm làng. Người ngoài được chứng kiến một lực lượng tự vệ chỉ trong vòng một năm đã phát triển từ 340 dân tự vệ nay tới 500 lính mặc đồng phục khaki, rất có kỷ luật, trang bị với súng trường M1 hoặc Carbine. Họ chào nhau bằng cách chào của hướng đạo với ba ngón tay giữa. Ngoài ra có một số nữ ý tá thường đi theo tuần hành với lính Hải Yến. Tất cả đều có tinh thần đồng đội cao và can đảm để chiến đấu. Khi hỏi tại sao những người lính này lại muốn tình nguyện cho một cuộc sống cực khổ và nguy hiểm như thế, cha Hoá trả lời, “Con người sinh ra với mục đích là để làm một cái gì đó” (Man was born to do something).

Cha Hóa thường nhấn mạnh rằng cách tốt nhất để chống du kích là tấn công khi địch thủ còn đang tập trung, vì lúc đó địch thủ đang thiếu tổ chức và dễ bị đánh. Cha Hóa khoe rằng những hoạt động của vc quanh vùng lân cận của làng đã gần như bị dẹp tắt bởi lính của làng Bình Hưng. Cha cũng nói lực lượng Hải Yến của cha đã lên tới 1 ngàn người, trong số này có 600 người là cựu chiến binh trong phe Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch với nhiều kinh nghiệm chiến đấu chống Phát Xít Nhật và Cộng Sản Trung Quốc. Hai năm vừa qua, lực lượng Hải Yến mất chỉ 27 người trong khi phía vc có khoảng 500 người bị giết. Đa số những tổn thất của nhóm Hải Yến là do mìn và bẫy chống cá nhân. Cha Hóa rất thỏa mãn khi nghe tin cấp lãnh đạo Cộng Sản đã không hài lòng với hoạt động của vc trong vùng và đã quyết định tăng cường lực lượng của họ với những lính du kích từ nơi khác. Ngày hôm trước, lực lượng của cha đã tham chiến với một nhóm từ vùng khác tới, nhưng cha tin rằng nhóm Hải Yến của cha sẽ giết hoặc bắt làm tù binh những nhóm vc đó.

Tù binh vc được chứa trong một căn nhà dài không có cửa sổ. Với một khu riêng chứa khoảng 40 lính Cộng Sản cứng đầu và nguy hiểm nhất, và số 108 còn lại chỉ dùng căn nhà này để ngủ ban đêm và ban ngày họ phải làm việc ngoài đồng 5 tiếng mỗi ngày và 2 tiếng phải học tập về sự thật của Cộng Sản, thế nào là dân chủ và tự do. Đa số những tù binh này chỉ là những người làm nông không biết gì về chủ nghiã chính trị như Cộng Sản hoặc dân chủ. Khi cha Hóa cảm thấy họ đã thấm nhuần những bài học thì cha thả họ tự do về làng của họ. Một số xin tình nguyện tham gia lực lượng Bình Hưng và cha đã cho phép một số nhỏ ở lại định cư trong làng.

Khi làng Bình Hưng và những thôn xã lân cận bắt đầu phát triển và lực lượng tự vệ càng ngày càng lớn mạnh, chính quyền Sài Gòn cho đây là một ví dụ điển hình cho những làng khác noi gương theo, và cha Hóa đã trở thành một người có tiếng trong vùng. Tháng 2 năm 1962, nhóm Hải Yến được nâng lên thành Nhân Dân Tự Vệ Biệt Khu Hải Yến. Một vùng với diện tích khoảng 400km vuông, với 21 làng xã, và 25 ngàn dân. Khi làng Bình Hưng được thiết lập vào năm 1959, cha Hóa ước tính khoảng 90 phần trăm dân trong vùng Hải Yến là thân Cộng hoặc bị vc đe dọa nên phải ủng hộ. Nhưng mỗi khi đi tuần hành, lực lượng của cha Hóa càng đi xa vô các chiến khu của địch thủ và bình định hóa những khu đó. Vào cuối năm 1963, lực lượng Hải Yến đã kiểm sóat được khoảng 200km vuông, nghĩa là 50 phần trăm khu Hải Yến và 60% dân số. Hai chiến khu chính vc vẫn kiểm soát 40 phần trăm dân và đất trong vùng và phòng thủ bởi khoảng 400 quân du kích.

Trong số 18 ngàn dân dưới sự kiểm soát của nhóm Hải Yến, cha Hóa không phân biệt giữa 3,7 ngàn dân Công Giáo và dân ngoài Công Giáo. Cha Hóa nói, “Trong chiến dịch này chúng ta không thể phân biệt người Phật Giáo với Công Giáo. Nếu chúng ta chiến đấu cho tự do, chúng ta phải tin rằng tất cả mọi người đều phải được tự do”. Trong khi có những chuyện xích mích và bạo động tôn giáo tại các nơi khác trong năm 1963, vùng Biệt Khu Hải Yến lại không xảy ra vấn đề đụng độ giữa các tôn giáo.

Tới đầu năm 1964 thì vùng Hải Yến đã xây xong một phi trường với phi đạo dài khoảng 700m và 1m cao trên vùng sình lầy. Các vùng nông thôn bắt đầu phát triển càng ngày càng xa ra từ làng Bình Hưng vô tới Tân Hưng Tây. Biệt Khu Hải Yến lúc bấy giờ là khu mạnh nhất của chinh quyền Sài Gòn trong vùng Cà Mau về mặt quân sự và chính trị, mặc dầu xưa nay vùng này vốn nằm dưới sự kiểm soát của vc. Vào giữa năm 1964, chính quyền Sài Gòn gửi 2 Thiếu Tá người Nùng và cũng là bạn của cha Hóa tới Biệt Khu Hải Yến để lãnh trách nhiệm chỉ huy quân sự, và chính quyền yêu cầu cha Hóa nhận chức vụ cha Tuyên Úy và Cố Vấn. Cha Hóa đã chấp nhận và nói, “tôi muốn được thôi những trách nhiệm khó khăn phức tạp và tôi muốn lực lượng tự vệ vẫn được giữ nguyên vẹn, nhưng người tu hành không nên liên hệ với quân sự”.

Rộng lượng đối với các dân tộc và các tôn giáo là lý tưởng mà cha Hóa và dân của cha đã bảo tồn từ khi lập ra làng Bình Hưng. Một lực lượng tự vệ với hơn 1,1 ngàn lính là kết quả của một người tu sĩ tị nạn trong một cuộc đấu tranh cho tự do. Đối với cha Hóa và những người theo cha, những lời cha đã chọn để ghi trên đài tưởng niệm các chiến sĩ trận vong của làng, trích từ một học giả của lịch sử Trung Hoa tên là Wen T’ien-hsiung trước khi bị xử tử, “Kể từ khi con người sinh ra, ai đã thoát khỏi sự chết? Tốt hơn là chết cho một lý tưởng xứng đáng để làm ví dụ cho lịch sử về sau”.

Tháng 8 năm 1964 Manila

Dịch vắn tắt từ website viết về tiểu sử của cha Hóa bởi tổ chức giải thưởng Ramon Magsaysay,

http://www.rmaf.org.ph/Awardees/Biography/BiographyHoaAug.htm

Ghi chú thêm tin tức từ những nguồn khác:

1. Theo nguồn Wikipedia, năm 1961, sau khi Edward Lansdale thăm cha Hóa và làng Bình Hưng rồi trở về Hoa Thịnh Đốn tường trình tình hình, Tổng Thống John Kennedy đã chú ý đặc biệt về cha Nguyễn Lạc Hóa và làng cha đã tạo ra. Thị trấn Newburyport thuộc tiểu bang Massachusetts nhận làng Bình Hưng làm một cộng đồng kết nghĩa (sister community).

2. Năm 1964, cha Hóa được giải thưởng Ramon Magsaysay trong phần phục vụ cộng đồng. Giải Ramon Magsaysay được đặt tên cho vị tổng thống đầu tiên của Phi Luật Tân để nâng cao tinh thần thanh liêm trong chính quyền, can đảm trong việc phục vụ dân, và thực dụng ly tưởng của một xả hội dân chủ. Giải thưởng hàng năm này được tạo ra bởi Quỹ Rockefeller Brothers Fund ở Nữu Ước.

3. Theo nguồn Taiwan Review, là một kẻ thù đối với chủ nghĩa Cộng Sản, Cha Hóa đã từng viết khoảng 10 lá thư gửi cho Mao Trạch Đông. Một trong những lá thư đó cha có viết, “Ông Mao à, tôi muốn cảm ơn ông vì ông đã dạy cho tôi biết thế nào là ý nghĩa của sự tự do. Bây giờ, tôi là một kẻ thù đời đời của ông. Tôi sẽ thuyết phục càng thêm nhiều người mỗi ngày để họ trở thành địch thủ của ông cho tới khi nào chính ông và những ý tưởng ác độc của ông không còn nữa”. Theo nguồn Taiwan Review, những tù binh và ngay cả cán bộ nồng cốt vc đã có ấn tượng tốt đối với cha Hoá, vì họ được cấp giường ngũ, mền, và mùng. Tù binh chỉ phải làm khoảng 6 tiếng mỗi ngày và được nghỉ ngày Chúa Nhật. Họ được ăn mỗi ngày 3 bửa và được thuốc lá với một ít tiền xài vặt. Dân làng rất thân thiện với tù binh và thường hay cung cấp thêm thực phẩm. Có mấy lần vc gửi gián điệp và thành phân VC chìm gồm có những cô gái trẻ đẹp vô để thám thính và quấy nhiễu làng, nhưng không được nhiều hiệu quả tốt vì chính những người này cũng quay lại đi theo nhóm Hải Yến một khi họ đã chứng kiến cuộc sống của làng này.

4. Cha Nguyễn Lạc Hóa đã qua đời vào năm 1989 với tuổi thọ là 81 tuổi.

5. Theo nhiếp ảnh gia Stan Atkinson, với tình thế phức tạp  chính trị tại Sài Gòn ngày càng hỗn độn và đồi trụy. Cha Hóa nhận thấy giấc mơ sống tự do sẽ không thành đạt tại Việt Nam. Mặc dầu cha vẫn là một người thanh liêm, nhưng sự tuyên truyền mạnh mẽ của vc đã thành công trong việc móc nối tiếng tăm của cha với chính quyền tham nhũng ở Sài Gòn. Cha Hóa cảm thấy cơ hội đạt được sự mong muốn tự do tại Việt Nam càng ngày càng thấp. Chán nản với thời thế, cha rời khỏi làng Bình Hưng và hồi hưu tại một giáo xứ Công Giáo ở Đài Bắc thủ đô nước Đài Loan và đã qua đời tại đó. Theo ông Stan Atkinson, trong suốt cuộc đời làm nhiếp ảnh gia đi khắp nơi trên thế giới, ông chưa gặp một người nào ngay cả những lãnh đạo như cha Hoá, một người mà ông cho là khó quên nhất.

6. Về phía VNCHXHCN, Nguyễn Lạc Hóa được cho là “đã chỉ đạo tàn sát nhiều người và hãm hiếp, mổ bụng, lấy mật, ăn gan nạn nhân trong thời kỳ là người đứng đầu khu dinh điền Bình Hưng” (nay thuộc tỉnh Cà Mau). Khu dinh điền Bình Hưng được Việt Nam Cộng Hòa lập nên để đưa người của Quốc gia vào các khu căn cứ kháng chiến của những người Cộng sản.

7. Về phiá VNCHXHCN, Nguyễn Lạc Hóa được cho là “đồ tể” đột lốt thầy tu, đã tàn sát hơn 1600 người với hình thức giết người man rợ. Ngày nay tại khu làng Bình Hưng, Nhà Nước có xây một tượng đài gọi là di tích lịch sử cấp quốc gia để tưởng niệm những liệt sĩ và dân lành đã bị nhóm Hải Yến giết tại đó. Theo Nhà Nước, thi trong thời chiến, làng này có một cây cầu gọi là Cầu Vĩnh Biệt vì tù binh nào đi qua cầu đó là biết sẽ bị tra tấn và giết chết.

Cha Nguyễn Lạc Hóa. Một tu sĩ Công Giáo người Quảng Đông. Cha sinh năm 1908 tại Trung Hoa với tên Yuan Lo-Hua và được thụ phong linh mục năm 1935 tại Hồng Kông. Cha đã bị động viên và từng làm sĩ quan trong quân đội của Tưởng Giới Thạch chống Phát Xít Nhật và chống lực lượng Cộng Sản của Mao Trạch Đông.

Làng Bình Hưng lập ra bởi cha Nguyễn Lạc Hóa và khoảng 2 ngàn giáo dân Công Giáo người Hoa tại vùng Cà Mau gần Tân Hưng Tây

Tháng 4 năm 1962, tướng Lyman Lemnitzer chỉ huy quân đội Mỹ viếng thăm làng Bình Hưng với cha Nguyễn Lạc Hóa.

Cha Nguyễn Lạc Hóa tại Biệt Khu Hải Yến. Hình chụp bởi Life Magazine năm 1962.

Cha Nguyễn Lạc Hoá là một biểu hiệu cho sự đấu tranh chống chủ nghĩa Cộng Sản. Hình chụp bởi Stan Atkinson.

Cha Nguyễn Lạc Hóa, vưà là một tu sĩ Công Giáo người Hoa vừa là một du kích chống chủ nghĩa Cộng Sản.

Dân làng Bình Hưng sống chết có nhau.

Phụ nữ giúp xây đường băng tại làng Bình Hưng (Ping Hsing).

Phóng viên Đài Bắc Su Yu-Chen (thứ ba từ bên trái) thăm chị em nhóm Hải Yến.

Nhóm Hải Yến đang đợi phục kích.

Nhiếp ảnh gia Stan Atkinson đang nói chuyện với một cựu tù binh Cộng Sản mà cha Hóa đã “cải hoá”.

Thánh giá giữa kênh làng nhắc nhở người Ping Hsing (Bình Hưng) về đức tin của họ.

Hai người lính Hải Yến khoe cờ vc mới tịch thu. Lực lượng Hải Yến thường mang đồng phục mầu khaki.

Hình cha Nguyễn Lạc Hóa chụp bởi nhiếp ảnh gia Stan Atkinson. Ông Atkinson từng nói trong những chuyến đi công tác chụp hình ông đã gặp nhiều người, kể cả các nhà lãnh đạo, nhưng cha Hóa là người ông khó quên nhất.

Trên kênh của làng Bình Hưng năm 1962. Hình chụp bởi nữ nhiếp ảnh gia Dickey Chapelle. Bà Dickey Chapelle chết vì mìn vào năm 1965 tại Việt Nam.

Nguồn Wisconsin Historical Society

Vệ binh danh dự của nhóm Hải Yến đang đứng chào quan khách tại làng Bình Hưng.

Nguồn popasmoke.com

Cha Hóa và Đại Úy Jim Perryman thuộc TQLC Mỹ vào năm 1962, trong chuyến tăm của người sĩ quan Mỹ này tại làng Bình Hưng.

Nguồn popasmoke.com

Huy hiệu của lực lượng Hải Yến. Hình chụp năm 1962.

Nguồn popasmoke.com

Làng Bình Hưng vào năm 1962. Làng có treo hình TT Ngô Đình Diệm.

Nguồn popasmoke.com

Cha Nguyễn Lạc Hoá và một sĩ quan Mỹ đang cầm huy hiệu của nhóm Hải Yến.

Tượng Chúa Giê Su giữa làng Bình Hưng kỷ niệm ngày thành lập làng, 17-3-1959.

Làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến.

Làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến.

Làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến. Trên bảng hiệu có đề “Ngô Tổng Thống Muôn Năm”.

Nguồn popasmoke.com

Kênh làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến.

Nguồn popasmoke.com

Làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến.

Nguồn popasmoke.com

Nhiếp ảnh gia Dickey Chapelle, một trong những người đã làm cha Hóa và làng Bình Hưng nỗi tiếng với những hình ảnh về cha và làng này được đăng trên báo Mỹ. Bà là một nhà báo chống cộng và đã tử thương vì mìn tại Việt Nam vào tháng 11 năm 1965 khi đi theo một nhóm lính TQLC Mỹ để chụp hình.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, nhóm vệ binh danh dự của cha Hóa tại làng Bình Hưng (Ping Hsing).

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, lính Hải Yến đang được trực thăng chở tới các làng xã trong Biệt Khu Hải Yến để bảo vệ dân chống lại VC.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, làng Bình Hưng (Ping Hsing) tại Cà Mau.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, một đứa bé làng Bình Hưng đang chào một người lính TQLC Mỹ.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, cha Hóa với những vũ khí đã tịch thu được.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, đồ vật liệu tiếp tế cho những làng xã của cha Hoá.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, một tượng Đức Mẹ Sầu Bi đang chờ trực thăng vận chuyển từ Sóc Trăng tới làng Bình Hưng.

Nguồn popasmoke.com

Làng Bình Hưng tại Cà Mau.

Làng Bình Hưng với một cái cầu băng ngang kênh giữa làng. Bên kia kênh là một nhà thờ, bên này kênh là tượng của một thiên thần.

Làng Bình Hưng với một cái cầu băng ngang kênh giữa làng. Bên kia kênh là một nhà thờ, bên này kênh là tượng của một thiên thần

Dân làng Bình Hưng dùng kênh để đi lại và chuyên chở hàng hóa. Kênh này do dân làng tạo ra lúc làng này được thành lập vào cuối thập niên 50.

Cảnh sống của làng Bình Hưng.

Thuyền ghe của lính dùng để trong việc phòng thủ, trên kênh làng Bình Hưng.

Làng Bình Hưng (Ping Hsing).

Cảnh sống của làng Bình Hưng (Ping Hsing).

Phi cơ De Havilland L-20 Beaver của Không Quân VN đang đáp xuống phi đạo gần làng Bình Hưng.

Cổng vào Biệt Khu Hải Yến.

Cầu băng ngang qua kênh của Làng Bình Hưng. Bên kia cầu là một nhà thờ, bên này cầu là tượng thiên thần Mi-Ca-E (Michael).

Phi cơ De Havilland L-20 Beaver của Không Quân VNCH trên phi đạo gần làng Bình Hưng

Các em bé làng Bình Hưng đứng chụp với tượng thiên thần Mi-Ca-E (Michael). Hình chụp từ câu băng ngang qua kênh.

Kênh làng Bình Hưng được xây lúc làng đang được dựng lên vào cuối thập niên 1950.

Một đường vô Biệt Khu Hải Yến.

Làng Bình Hưng

Làng Bình Hưng.

Làng Bình Hưng trong dịp lễ Giáng Sinh.

Làng Bình Hưng.

Làng Bình Hưng

Làng Bình Hưng.

Làng Bình Hưng.

Ngày 12-26-1972, MTGP tại Cái Nước tấn công hai đồn Quản Pú và Thứ Vãi bảo vệ khu Bình Hưng.

Hình chụp ngày nay. Theo phía VNCHXHCN thì cột cầu còn lại là của một cầu gọi là cầu “vĩnh biệt”, vì ai bì lính biệt khu Hải Yến dẫn qua đó là sẽ bị tra tấn và xử tử.

Ngày nay. Tượng đài đựợc dựng lên bởi chính quyền Cà Mau của phía VNCHXHCN, để tưởng niệm hơn 1,600 người chính quyền Cà Mau gọi là “lính MTGPMN và dân lành” đã bị lính biệt khu Hải Yến giết trong 14 năm tồn tại của làng Bình Hưng.

Biệt khu Hải Yến

Biệt khu Hải Yến, Cà Mau

Thuyền ghe của lính dùng để trong việc phòng thủ, trên kênh làng Bình Hưng – Làng Bình Hưng, Cái Nước, tỉnh An Xuyên 1960s – Photo by Ricerocket

Biệt khu Hải Yến, Cà Mau

Cảnh sống của làng Bình Hưng – Làng Bình Hưng, Cái Nước, tỉnh An Xuyên 1960’s – Photo by Ricerocket

Biệt khu Hải Yến, Cà Mau

Các em bé làng Bình Hưng chụp hình trước tượng thiên sứ Micae. Hình chụp từ trên cầu băng ngang qua kênh – Làng Bình Hưng, Cái Nước, tỉnh An Xuyên 1960s – Photo by Ricerocket

27 October 1964 Linh mục Nguyễn Lạc Hóa và 200 giáo dân trong giáo xứ đã bỏ chạy khỏi nước Trung Hoa Cộng sản vào năm 1951 và đến định cư tại làng Bình Hưng, tỉnh An Xuyên, Việt Nam. Họ đặt tên cho ngôi làng của mình là “Hải Yến” có nghĩa là những con chim yến biển và cũng dùng tên này để gọi “đội quân” của họ. Một toán cố vấn MAAG đã được phái đến trú đóng tại làng này để trợ giúp họ trong cuộc chiến chống Cộng. Trong ảnh LM Hóa dừng lại ngắm bức tượng Thánh Micae trong một chuyến đi quanh ngôi làng.

Biệt khu Hải Yến, Cà Mau

Dân làng Bình Hưng dùng kênh để đi lại và chuyên chở hàng hóa. Kênh này do dân làng tạo ra lúc làng này được thành lập vào năm 1959.

Biệt khu Hải Yến, Cà Mau

Cầu băng ngang qua kênh của Làng Bình Hưng. Bên kia cầu là một nhà thờ, bên này cầu là tượng thiên sứ Micae – Làng Bình Hưng, Cái Nước, tỉnh An Xuyên 1960s – Photo by Ricerocket

Làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến

Theo chú thích tại bức hình trên tạp chí National Geographic (số tháng 11-1962) bên dưới, chiếc cổng chào trong hình trên được dựng lên nhân dịp chính phủ cấp quốc tịch VN cho các di dân người Hoa định cư tại làng Bình Hưng. Bên trên cổng chào là hàng chữ Ngô Tổng Thống Muôn Năm. Hai bên trụ cổng là hai câu đối, từ phải qua trái đọc được:

Hải Yến hùng cư trừ Phỉ Cộng

Bình Hưng chánh khí quán Trung Thiên

Vệ binh danh dự của Biệt khu Hải Yến đang đứng chào quan khách tại làng Bình Hưng.

Father Nguyen Lac Hoa fighting in the Vietnam War while still preaching church services – by HOWARD SOCHUREK 12-1962

Ông ta là hung thần của những người Cộng sản nằm vùng lén lút ở lại hoạt động tại miền Nam, nhưng ông ta lại là ân nhân của những người lánh nạn CS di cư đến đây để được sống tự do. Cần nói rõ thêm như vậy để không chỉ là một nửa sự thật . .

NATIONAL GEOGRAPHIC Magazine, November 1962

Chính là chỗ này. Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ, theo Hiệp định Genève 1954 tạm thời chia đôi đất nước để chờ tổng tuyển cử chung cho cả nước VN, những người chọn chế độ Cộng sản sẽ phải tập kết về miền Bắc, những người theo chủ nghĩa Tự do và chống Cộng phải rút về miền Nam. Nhưng nhiều người Cộng sản vẫn “nằm vùng” ở lại miền Nam để tiếp tục hoạt động. Và những du kích quân VC hoạt động ở vùng này là trong số họ. Các du kích quân VC đã đột kích vào khu dân cư ở xã Vĩnh Quới, cũng như tại nhiều nơi khác ở miền Nam, gây nhiều tang tóc cho dân chúng. Vì bị coi là thành phần khủng bố, các du kích quân VC đã phải gánh chịu những trận càn quét của quân chánh phủ và đồng minh nhằm bảo vệ dân chúng.

Linh mục Nguyễn Lạc Hóa tại làng Bình Hưng (Biệt khu Hải Yến) Cái Nước, tỉnh An Xuyên 1961 – Photo by Howard Sochurek

Khi bầu chọn Linh mục AUGUSTINE NGUYỄN LẠC HÒA nhận Giải thưởng Ramon Magsaysay năm 1964 về Dịch vụ Công, Hội đồng Quản trị ghi nhận lòng dũng cảm phi thường của ông trong việc bảo vệ tự do, củng cố cho những người dân luôn tin tưởng quyết tâm chống lại chế độ chuyên chế.

Hoa, Augustine Nguyen Lac | CÔNG TÁC

Bỏ trốn vào cuối năm 1950 và đầu năm 1951 khỏi cuộc đàn áp của Cộng sản đối với người Công giáo La Mã ở tỉnh Kwangtung, miền Nam Trung Quốc, Cha AUGUSTINE NGUYỄN LẠC HÒA và 2.100 giáo dân của ngài đã sống bấp bênh trong tám năm ở Campuchia. Vào năm 1956, vị linh mục đã tìm kiếm ở 25 quốc gia để tìm ra một giải pháp lâu dài hơn cho người dân của mình nhưng chỉ tìm thấy sự đồng cảm và không có câu trả lời cho vấn đề của họ. Bị buộc phải di chuyển một lần nữa bởi sự quấy rối của du kích cộng sản và cuối cùng là sự công nhận của Campuchia đối với Trung Quốc Cộng sản, nhiều người tị nạn không quốc tịch đã tự tìm nơi ẩn náu ở Cộng Hòa miền Nam Việt Nam mới. Một số ít người đủ khả năng cho chuyến đi dài đã rời Đài Loan. Rút kinh nghiệm từ vị linh mục cùng cảnh ngộ của họ, chính quyền miền Nam Việt Nam đã đề nghị cho 450 cơ sở còn lại để di cư, nhập tịch và một nhà ở.

Tinh thần chiến đấu của nhóm người nhỏ bé đã được chính phủ công nhận là Quân đoàn Tự vệ Làng, đủ điều kiện để nhận viện trợ quân sự. Những người lính Quốc dân đảng tị nạn Trung Quốc, người Thượng từ cao nguyên miền Trung, người Nùng từ phía bắc, và người Việt địa phương được tuyển chọn để tham gia bảo vệ. Nguồn cung cấp cần thiết khẩn cấp bắt đầu đến thường xuyên bằng máy bay trực thăng. Các cơ quan chính phủ, Dịch vụ Cứu trợ Công giáo, CARE và những người khác đã giúp đỡ. Trong ba năm, người Việt Nam chuyển đến từ các trang trại xa xôi để được bảo vệ đã làm tăng dân số của làng và các xóm liền kề lên hơn 1.500 người.

Là chỉ huy quân sự không có cấp bậc của Đặc khu Hải Yên, vị linh mục đã làm việc chặt chẽ với các nhà lãnh đạo Phật giáo và Cao-Đài – những người có đông tín đồ nhất trong khu vực – để thúc đẩy các biện pháp an ninh trong các làng. Mặc dù Việt Cộng không bị tiêu diệt, Quân đoàn Chim én biển của ông – vào cuối năm 1963 với số lượng hơn 1.000 người – đã mở rộng an ninh tương đối trên 200 km vuông cho 18.000 cư dân.

Năm nay, khi trao quân lệnh cho các sĩ quan quân đội chính quy, cha HÒA rất hoan nghênh sự thay đổi. Năm nay 56 tuổi, ông dành hết sức lực cho các nhiệm vụ và trường học thuộc linh của mình, đồng thời đóng vai trò cố vấn-tuyên úy cho Sea Swallows, khuyên nhủ bất kỳ ai mệt mỏi với cuộc đấu tranh lâu dài: “Vì tự do của chúng ta, nếu chúng ta mệt mỏi, chúng ta không thể tự do.”

Khi bầu Cha AUGUSTINE NGUYỄN LẠC HÒA nhận Giải thưởng Ramon Magsaysay năm 1964 về Dịch vụ Công, Hội đồng Quản trị đã công nhận lòng dũng cảm phi thường của ngài trong việc bảo vệ tự do, củng cố cho những người luôn tin tưởng nghị quyết chống lại chế độ chuyên chế.

Hoa, Augustine Nguyen Lac | PHẢN ỨNG

Có những điều bất ngờ tuyệt vời đến với chúng ta, vào lúc này hay lúc khác, trong cuộc đời của chúng ta. Và với tôi giải thưởng danh giá này là một bất ngờ lớn nhất và tuyệt vời nhất.

Hôm nay tôi có mặt ở đây để nhận giải thưởng Magsaysay Award vinh dự lớn lao này, không phải thay mặt tôi, mà thay mặt cho những người đàn ông và phụ nữ đã chiến đấu, và vẫn đang chiến đấu, dưới huy hiệu của Sea Swallows. Lợi ích to lớn của Giải thưởng này sẽ dành cho những chú Sea Swallows, những người đang chịu đựng những khó khăn to lớn để duy trì sự yên bình và an ninh cho hàng nghìn cư dân trong khu vực đầm lầy của chúng ta. Nhưng vinh quang của Giải thưởng này sẽ không thuộc về ai khác mà chính là 203 chú Chim én Biển, những người đã tự nguyện hiến dâng mạng sống của mình cho sự nghiệp tự do và công lý cho tất cả mọi người.

Đối với bản thân tôi, tôi chỉ là một linh mục đơn giản cố gắng làm nhiệm vụ của mình trong việc quản lý người dân trong khu vực của tôi. Thông thường, một linh mục sẽ chỉ quản lý các nhu cầu thuộc linh của đàn chiên của mình. Nhưng ở khu vực mà chúng tôi đang có, chúng tôi phải làm nhiều hơn thế.

Có những người đã gợi ý rằng chúng ta nên giống như những tín đồ Đấng Christ ban đầu? Để cho phép mình bị giết vì đức tin của mình. Nhưng kinh nghiệm đã dạy chúng ta rằng chủ nghĩa cộng sản không cho phép chúng ta xa xỉ với sự tử đạo. Vâng, tôi có thể cho bạn biết từ kinh nghiệm cá nhân. Tôi đã thử. Tôi đã ở hơn 12 tháng trong nhà tù của họ. Những người cộng sản ghét chúa không bằng lòng chỉ bằng cách lấy thân xác của chúng ta? Thứ chúng muốn là linh hồn của chúng ta.

Chiến đấu thực sự là một phần nhỏ của cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa cộng sản. Phần quan trọng nhất là cuộc đấu tranh cho khối óc, trái tim, và linh hồn của mọi người, đặc biệt là những người cộng sản. Và chính trên tiền đề này mà Tổng thống Magsaysay vĩ đại của bạn đã có thể đánh bại cuộc nổi dậy Hukbalahap.

Nhiều người đã hỏi tôi, nếu đúng như vậy thì tại sao Việt Nam chúng ta lại không thắng? Câu trả lời của tôi rất đơn giản. Việc đặt sai thứ tự quan trọng. Đường lối Magsaysay là: thắng dân trước, thắng sau. Tôi sợ ở Việt Nam hiện nay trật tự bị đảo ngược.

Tôi có thể nói đơn giản như thế này bởi vì tôi là một người lính cũng như một linh mục. Vũ khí là quan trọng. Chiến đấu là cần thiết để bảo vệ người dân khỏi bị những người cộng sản có vũ trang làm tổn hại về thể chất. Nhưng vũ khí chỉ hữu ích cho mục đích phòng thủ. Hành vi phạm tội của chúng ta là chỉ dựa vào chiến thắng nhân dân, bởi vì ngay khi người dân hiểu chủ nghĩa cộng sản là gì, và ngay khi họ tin tưởng vào khả năng của chúng ta để bảo vệ họ, và ngay khi họ tin tưởng vào sự chính trực của chúng ta, thì trận chiến sẽ diễn ra. đã thắng.

Khi chiến đấu như một cuộc chiến tranh thông thường, chúng tôi thực sự không có cơ hội chiến thắng. Làm thế nào chúng tôi có thể giải thích cho một người mẹ khi con mình bị bỏng bởi bom napalm? Và làm thế nào chúng ta có thể mong đợi một người đàn ông trẻ tuổi chiến đấu cho chúng ta khi người cha già của anh ta bị giết bởi đạn pháo? Thật vậy, làm sao chúng tôi có thể tuyên bố đồng hành với người dân khi chúng tôi đốt nhà của họ đơn giản chỉ vì những ngôi nhà đó tình cờ nằm ​​trong lãnh thổ Việt Cộng kiểm soát?

Bạn có thể nói rằng với tư cách là một linh mục, thật dễ dàng đối với tôi khi nghĩ về tình yêu trên chiến tranh, nhưng sự thật đã chứng minh rằng tình yêu là cách duy nhất để chúng ta chiến thắng. Đó là cách duy nhất để chúng ta tồn tại.

Tóm lại, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc và sâu sắc của chúng tôi đối với vinh dự và lợi ích to lớn mà bạn đã ban tặng cho chúng tôi. Xin Chúa phù hộ cho người dân Philippines. Tôi chân thành hy vọng rằng các bạn sẽ tiếp tục quảng bá Con đường Magsaysay, con đường duy nhất để thế giới có thể hòa bình và tự do.

Khánh Hưng là tỉnh lỵ của tỉnh Ba Xuyên trước 1975, nay là TP Sóc Trăng và tỉnh Sóc Trăng.

Chuyện đời qua đám sương mù: Bát Tiên Quá Hải

Hồi ký của Chim Việt.

Dã sử Trung Hoa có sự tích Bát Tiên Quá Hải. Tám vị tiên đó có tên như sau:

  1. Hà Tiên Cô (tự Ngũ Mai, sư trưởng)
  2. Lữ Đồng Tân
  3. Lý Đạo Minh (tự Lý Thiết Quày)
  4. Tào Quốc Cửu
  5. Hàn Tôn Nữ
  6. Lâm Thái Hòa
  7. Hớn Chung Ly
  8. Trương Quốc Lão

Bảy tiên ông chỉ có một tiên bà là Hà Tiên Cô. Hà Tiên Cô trước kia là Ngũ Mai sư trưởng , bà có lập một cảnh chùa. Theo phái Hồng Môn nhận nam nữ thiếu niên dạy nghề văn, nghiệp võ. Thế võ Mai Hoa Thương và Mai Hoa Quyền là của bà lưu truyền. Bà nhận môn sinh khi làm lễ nhập môn dưới chùa thì bà cho môn sinh lên trên chùa trên núi cao luyện võ nghệ và văn chương. Chương trình của bà dạy đệ tử không biết ngày nào hạ san? Từ trên núi là chổ luyện tập võ nghệ đó, có con đường độc đạo để cho các đệ tử tự do xuống núi. Các đệ tử của bà phải đi qua105 cơ quan bí mật. Trong 105 đường trên núi là 105 thế võ bí hiểm của bà. Sau khi đã qua được 105 toàn là người máy đó, phải nhảy qua một hào sâu chung quanh một kẹt đá gay go mới đi tới cửa động.

Cử động không có người giữ, mà chỉ tấn bằng phiến đá lớn. Làm sao cho phiến đá đó đi chổ khác thì tự nhiên cửa động mở. Các môn sinh đi không thấu bị thương trở lên, nếu bị què giò là vì khi đi tới cơ quan thứ 61 nhảy không được cao, nếu bị thương sau lưng là tại không nghe được tiếng gió đâm lên từ phía sau…

Đệ tử bà xuống núi, toàn là tay làu thông võ nghệ kiếm hiệp giang hồ. Lối dạy khắc khổ của bà nên không thâu nhận nhiều môn đệ. Trong khi đó các phái như Thiếu Lâm, Nga Mi, Côn Lôn thì thâu thập không biết bao nhiêu là thanh niên nam nữ Trung Hoa. Sách Tàu có câu: “Cao nhân tất hữu cao nhơn trị”? Mình giỏi có người giỏi hơn mình.

Các môn phái Hồng Môn, Thiếu Lâm, Nga Mi, Côn Lôn là nhiều đệ tử trong đám kiếm khách giang hồ. Sau khi Chí Thiện thiền sư tự là Thiết Đầu Đà, đầu ông cứng như sắt có thể đập vỡ đá, thịt da nát tan như cám. Nhưng khi thử tài cho các môn đệ hai bên coi chơi Thiết Đầu Đà chuyển hết thần lực, húc vô ngay bụng của đạo nhân trưởng phái Nga Mi bị ông này hút vô kẹp cứng rồi lần hồi bị nát ra như bột . Kể từ ngày tỉ thí đó thì hai môn phái này thề không đội trời chung với nhau nửa. Bà Ngũ Mai ngao ngán thay cho c ác phái Hồng Môn, là người tu hành mà còn nặng nợ trần tục gây sự thù oán với nhau. Nên bà mới xuống núi xin gia nhập với đám thất tiên trung lập. Họ sống tiêu diêu không màng danh lợi.

Cho nên đám con cháu các vị dưới lục địa Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch có thua Mao Trạch Đông mà chạy ra đảo Đài Loan, Bát Tiên họ không cần biết tới, họ vẫn ở nơi nào đó trên phần đất Trung Hoa. Như vậy các tiên ông không chịu chạy ra đảo theo phe Tưởng mà ở lại vùng kiểm soát với đảng cộng sản thì theo phe cộng hay sao?

Bát Tiên sống theo thuyết trung lập, không có trong lý lịch hộ khẩu thì dầu cho ai lên cầm quyền tại lục địa củng là người Hán tộc. Bát Tiên đâu có mỗi tháng đi lãnh khẩu phần gạo, mỗi năm đâu có lãnh vãi và các nhu yếu phẩm của nhân dân sản xuất. Cho nên không ủng hộ mà củng không đả đảo phe nào cho mất lòng. Giữ vững thuyết trung lập đó, nên trên lục địa Trung Hoa thì có hình ảnh của Bát Tiên quá hải.

Mỗi năm tới ngày 23 tháng chạp, gần tới tết Nguyên Đán là Bát Tiên chuẩn bị đi xuống núi , châu du thiên hạ, đồng thời thăm đám cháu con. Năm nay Bát Tiên đi vòng quanh vùng Đông Nam Á châu Thái Bình Dương. Vùng này có hiệp hội các quốc gia đông Nam Á khối Asean. Sáu nước thành viên là: Phi Luật Tân, Nam Dương, Thái Lan,  Mã Lai Á, Singapore và Brunel (Borneo). Bát Tiên đi du lịch và ủy lạo con cháu vòng quanh thế giới mà không đi máy bay hay tàu thủy như người phàm vì phương tiện văn minh đó nó tốn kém tiền bạc rất nhiều.

Mà tiền thì nhận của ai đây? Đặng Tiểu Bình hay Tưởng Kinh Quốc? Nhận tiền bên nào thì củng mất tính cách trung lập. Bát Tiên xuống núi ra bờ biển thấy cây khô trôi qua, khều lại hóa phép thần thông khúc cây thành con tàu vô hình. Bảy vị tiên ông ngồi dưới ca hát nghêu ngao, giữ đúng câu nam nữ thọ thọ bất tương thân, nên bà Hà Tiên Cô cỡi hạc bay trên thổi sáo.

Khởi đầu là ghé Thái Lan nơi phía quân nhân đang tranh quyền lực với nhau, cũng là nơi đang có nhiều đứa cháu con còn kẹt trong trại tị nạn, chưa có nước nào mới mở hồ sơ. Tiên ông Tào Quốc Cựu ở lại đây thăm viếng kiều dân và vô trại tị nạn ủy lạo. Kế đó là Nam Dương quần đảo, nước này bấy lâu nay không được than thiện với nhân dân Cộng Hòa Trung Quốc vì có lúc hình như cộng sản giựt dây chop he cộng đảo chánh nước này . Tại đây tiên ông Hàn Tân Tử ở lại thăm viếng kiều dân Trung Quốc. Kế đó là nước Phi Luật Tân, cựu Tổng Thống Marcos và gia đình chạy đi tị nạn qua tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ.

Lần đầu tiên trên thế giới có một nữ Tổng Thống là bà Aquino. Á Châu trước bà chỉ có nữ Thủ Tướng Ấn Độ, nữ Thủ Tướng Do Thái và bà nữ Thủ Tướng xứ trà là Tích Lan. Phi Luật Tân có nữ Tổng Thống thì Bát Tiên có bà Hà Tiên Cô. Như vậy đúng vai tuồng của bà , cũng giỏi văn, giỏi võ, bà ở lại đây, đang theo sát tình hình luôn luôn xáo trộn, có tin ông Marcos trở về, kế đó là nước vừa mới độc lập là nước Brunei (đảo Borneo) một nước nhỏ mà giàu nhất thế giới về dầu hỏa, thành viên thứ 6 khối Asean, dân số tương đối ít hơn các nước kia nên tiên ông Trương Quốc Lão ở lại thăm viếng kiều bào.

Kế bên là bán đảo Singapore, từ ngày tách rời khỏi nước Mã Lai Á, nhờ sự lèo lái tài tình của ông Lý Quang Diệu mà về kinh tế nước này chỉ đứng sau Nhật Bổn, có một phi trường tối tân nhất Á Châu. Sau khi hay tin tết Nguyên Đán này, Bát Tiên là tiên ông Lý Đạo Minh tới Singapore dân chúng vui mừng đón tiếp. Thật cảm động khi đoàn người già trẻ trai gái, đi sau một ông già tay chống gậy, tay cầm bầu rượu, vai mang bị là hình dáng Cái Bang. Tiên ông Lý Đạo Minh là cốt tiên nhưng khi đi ủy lạo đám cháu thì nhập vô xác người ăn mày. Vậy mà giữa thành phố hoa lệ của Tân Gia Ba…ông được đón tiếp như một vị thượng khách, vị đương kiêm Thủ Tướng Lý Quang Diệu là cháu 99 đời của ông Lý Đạo Minh tự là Lý Thiết Quày..

Từ giã Singapore con tàu vô hình chạy qua hải cảng Penang của Mã Lai, nơi đây có một cuộc tranh chấp lớn lao của kiều dân Trung Quốc và dân Mã Lai tư bản người bổn xứ. Tại hải cảng quốc tế Penang, có một nghĩa trang của người Huê kiều, nằm trên đồi, kêu là đồi Trung Quốc.

Trên nghĩa trang đó có một ngôi mộ của vị thuyền trưởng người Trung Quốc chôn cách đây 500 trăm năm. Mỗi năm tới ngày lễ Thanh Minh tại đây là ngày lễ hội lớn của tất cả người Huê kiều sống tại xứ Mã Lai, khắp xứ đều tề tựu về đây. Con cháu họ từ nhiều đời đem hài cốt thân nhân chôn tại đây. Vì đất Mã Lai hẹp, phần nhiều là đồi núi, họ hỏa táng. Giới tư bản Mã Lai họ muốn dời cái nghĩa trang Trung Quốc đi nơi khác đặng nơi đó họ lập một khu thương mại có tầm vóc quốc tế gần Penang, liền bị phía kiều dân Hoa kiều phản đối mạnh , sự tranh chấp đi tới quốc hội Mã Lai này vẫn chưa giải quyết ra sao. Rồi tới chổ đụng chạm về tôn giáo và tín ngưỡng. Người Mã Lai họ theo Hồi Giáo cữ ăn thịt heo. Còn người Huê kiều thì thích ăn thịt heo, sanh ra ấu đả trầm trọng có khi đi tới đổ máu và có án mạng cho đôi bên. Giới tư bản Hoa kiều có tín ngưỡng không dám động tới mồ mã tổ tiên nằm lâu đời trên đồi Trung Quốc, giá nào họ củng đoàn kết chống lại. Giới tư bản Mã Lai trên đà phát triển mạnh, họ muốn chỉnh trang lại thành phố theo hiện đại.

Tiên ông Hơn Chung Ly được ở lại xứ Mã Lai.; Như vậy trên còn tàu vô hình này chỉ còn lại ông Lữ Đồng Tân và ông Lâm Thái Hòa, đi qua miền Nam nước Việt. Từ hải cảng Penang, tàu chạy trong cửa Malacca, xuống Singapore nhắm lên hướng Bắc đi ngay vô mũi Cà Mau, tính vô cửa Bạc Liêu trước.

Bạc Liêu là xứ làm giàu, dưới song cá Chốt, trên gò Triều Châu…Mấy năm trước khi vô gần tới hải phận xứ Bạc Liêu là Vĩnh Châu thì thoang thoảng mùi thơm nhãn, từ trong vườn nhãn bay xa ra biển. Trên bờ người người đi tấp nập, dưới bến ghe thuyền đông đảo, nay sao trên bờ hoang vắng không một bóng người đi dưới bến không một chiếc ghe đậu mà chỉ toàn là xuồng con năm ba chiếc. Như thời xa xưa có chiến dịch vườn không nhà trống. Con tàu không ghé vô cửa Bạc Liêu mà chạy qua cửa Gành Hào. Trước lkia hình ảnh nổi bật ngoài cửa Gành Hào là miếu Bà Chúa Xứ. Ngày đêm nhang khói nghi ngút, ban đêm từ ngoài xa các ghe đi biển về đêm thấy ánh đèn lung linh ngoài mé biển, họ biết đó là ngay cửa miếu Bà củng như ngọn hải đăng cho các ghe cào, ghe lưới.

Nay không còn thấy nửa vì đã mất miếu Bà. Khi con tàu vô hình chãy ngang cửa, thì thấy nhà sàn hai bên cái còn cái sập. Trước kia cửa này tấp nập có hơn 300 chiếc ghe cào đậu dọc theo hai bên bờ sông, nay chỉ còn mấy chục chiếc nhưng ghe phải vô đậu gần hãng đông lạnh. Hãng đông lạnh thì kề mé sông, mà con song Gành Hào là giọt nước nó chảy mạnh nhất trong các con sông trong tỉnh Minh Hải này, độ chừng một năm thì một cơ sở đông lạnh thật tối tân đầy đủ tiện nghi của nhân dân Thụy Điển cất tặng cho VC. Nó sẽ bước xuống con song Gành Hào. Cảnh tang thương này củng như bên cửa Bạc Liêu  thì đâu còn người Hoa kiều nào sinh sống nổi mà vô đó mất công.

Con tàu chạy qua cửa Bồ Đề, nơi đây toàn là rừng Đước âm u không một chiếc ghe nào lai vãng, vì VC nó không cho ở vùng này còn ghe tàu đánh cá thì phải chạy phía ngoài Hòn Khoai, một bãi bùn lầy ra xama61y cây số ngoài biển ghe vượt biên ban đêm thường bị mắc cạn. Qua khỏi đây là tới mũi Ông Trang, một thị trấn nằm trên mặt nước. Tất cả và tất cả là nhà sàn, con lộ chính củng bằng cây cầu, mà cầu này đặc biệt hơn hết là nó nằm cao hơn cửa cái trong nhà. Vì cầu vừ hơi cũ, chưa sập xuống thì họ lại dựng lên trên lớp cầu mới luôn, nên mình thấy có ba lớp cầu chồng lên trên cầu.

Tại ngoài vàm cũng có một đồn côn an biên phòng đóng giữ, vì trong rừng Đước Năm Căn, không ra được cửa song Bồ Đề thì ghe vượt biên sẽ ra ngã ông Trang. Con tàu chạy một khoảng này khá xa và cũng đầy nguy hiểm vì ngoài khơi ngư dân cặm không biết bao nhiêu là hang đáy loại bò cạp, vùng này là vùng rừng Đước Năm Căn , VC kêu là huyện Ngọc Hiền hàng đáy họ cắm nọc bằng cây Đước, trên hai cây rương ngang qua cũng bằng cây Đước, và 4 cây chỏi cũng bằng cây Đước  thay vì trong sông thì xài bằng giây kẽm, hay bằng sợi dây Mây đánh lại nhiều con. Một dãy hàng đáy cặm chắc chắn như vậy cho neyn ban đêm ghe vượt biên chạy gần tới thì nước chảy xiết tấp vô căn hang đáy này thì chìm liền vì 4 cây chỏi nó quá chắc, đặng đứng vững với những ngọn sóng nước lớn cũng như nước ròng.

Những năm đầu ghe đi tị nạn nhiều chiếc bị tai nạn chổ này nên họ kêu là vùng tử địa mũi Bà Quản (hay mũi Gò Công). Vùng tử địa này chạy hơn ba giờ mới tới Vàm Rạch Trẻo, rồi tới Cái Đôi Nhỏ, kế đến Cái Đôi Vàm. Cái Đôi Vàm cũng là Biệt khu Hải Yến. Khu này trước kia có ông cha người Trung Hoa tên Nguyễn Lạc Hóa. Dưới quyền chỉ huy ông một đại đội biệt kích , dân thiện chiến đánh chiến lược du kích chống bọn VC. Đội lính biệt kích này là gốc lính Quốc Dân Đảng hơn 40 ngàn lính đó bị Pháp tước khí giới ngoài Bắc đem vô tập trung ngoài đảo Phú Quốc. Không biết bằng cách nào mà cha Hóa tuyển mộ

được đem về đây. Vì vậy mà suốt thời gian lính này đóng tại khu Hải Yến thì địa bàn hoạt động của VC thâu hẹp lại vào mật khu Năm Căn. Đa số người ở vùng biên thùy Vân Nam không nói phổ thông tiếng Trung Hoa  mà họ nói tiếng người Sơn Cước, cho nên dân địa phương kêu đại họ là lính Nùng. Có một lúc Má chín Lý Cái trên Chợ Lớn lãnh sứ mạng của Bảy Viễn ra Phú Quốc mộ lính này đặng về chống lại với ông Diệm. Không hiểu bên trong như thế nào mà Lý Cái bị Bả Viễn thủ tiêu; sau kiếm tây y được, mà không biết tại sao y bị giết bằng cách bị mổ mật.

Vô Cái Đôi Vàm xa phía trong là hành dinh khu Hải Yến cũng là Bình Hưng, một cổng chào vô thị trấn Bình Hưng có hai câu như sau:

Bình Hưng chính khí oán chung thiên

Hải Yến muôn sự trừ phỉ cộng.

Sau 1975 đại đội này không còn đóng tại đây, không biết họ đi đâu? Nhưng trước đó cũng có nhiều người ra dân, cưới vợ Việt sanh sống vùng này, sự cần cù của người dân sơn cước cho nên họ khá giả hơn dân đại phương.

Họ cũng giữ nhiều trò giải trí cổ truyền như múa Lân, đánh võ Tàu, có hội hè thì lắc Tài Sỉu . Còn vấn đề ăn nhậu thì bị đồng hóa xứ mình. Hoàn cảnh của đám dân thiểu số này mà tiên ông Lâm Thái Hòa và Lử Đồng Tân mới đi vô làng Bình Hưng phải ở lại đây với đám con cháu đáng thương này , ngoài Bát Tiên ra… thì tới chết họ cũng không được một người chánh gốc Trung Hoa lặn lội tới đây thăm viếng. Riêng họ thì đành bỏ xương nơi quê vợ. Làm sao họ có đủ khả năng lo hối lộ đặng vượt biên hầu tìm về Tàu. Sau một cuộc hành trình quá dài xuyên qua bảy nước, Bát Tiên thấm mệt kết thúc chương trình đi ủy lạo và ở lại Bình Hưng chung vui với đám cháu miền sơn cước lưu vong hải ngoại trong 3 ngày Nguyên Đán.

Ra giêng sẽ tiếp tụ lên thị trấn Sông Đốc thuộc xứ Cà Mau.

Chim Việt

Ngày về Banhet

Thơ Lâm Hảo Dũng

Sáng nay về tới rừng Banhet
Còn nhớ đồi cao dốc tử thần
Ta đã một thời đi chiến đấu
Một thời lữ khách rất cô đơn

Suối có ngàn năm ai nhớ suối


Ta đi ai nhắc đến tên ta
Ví như xương chất cao thành núi
Cũng chỉ mong quay lại mái nhà

Ta pháo gầm vang một góc rừng
Đồi tây giặc khiếp ngắm đồi đông
Những ai trong phút kinh hoàng ấy
Tay súng trang nghiêm mắt trợn trừng

Anh ở miền Nam lạc đến đây
Còn quân phương Bắc ngủ xuôi tay
Chiến tranh như thể trò tiêu khiển
Của lũ con buôn xác chết này

Ta ngắm trời xa Lào quốc đó
Thương hồn trai buổi máu xương phơi
Có trăng chắc thấy bao hình bóng
Về hát nghêu ngao một góc trời

Ta ngắm trời xa Chùa Tháp đó
Chiến tranh mộng tưởng sẽ về đâu
Mỗi năm rừng mất bao nhiêu lá
Là xác thây người rụng bấy nhiêu.