Eight elite Special Forces soldiers ‘fight off 100 ISIS jihadis during a six-hour fight to save an Afghan family whose car was blown up by a home-made bomb’

By HARRY HOWARD FOR MAILONLINE 

PUBLISHED: 19:37 AEST, 7 July 2019 | UPDATED: 01:40 AEST, 8 July 2019 

Các binh sĩ của Dịch vụ Thuyền đặc biệt (SBS) đã chiến đấu chống lại các chiến binh thánh chiến ở miền đông Afghanistan. Các binh lính được cho là đã từ chối bỏ gia đình sau khi người lớn bị giết và cô gái bị thương. Những người lính phục kích trong khi họ chữa trị cho cô gái và họ chiến đấu với các chiến binh thánh chiến cho đến khi màn đêm buông xuống

8 thành viên ưu tú của lực lượng đặc biệt Anh được cho là đã chiến đấu chống lại hơn 100 chiến binh thánh chiến IS trong một cuộc phục kích ở Afghanistan. Những người lính của Cơ quan Thuyền đặc biệt (SBS), được cho là đã đi giúp một gia đình Afghanistan sau khi chiếc xe của họ bị nổ tung bởi một quả bom ngẫu hứng ở miền đông Afghanistan.

Các đội quân tinh nhuệ được cho là đã từ chối từ bỏ gia đình sau khi một trong những người lớn bị giết và một cô gái trẻ bị thương nặng, thay vào đó họ ở lại và chiến đấu với các chiến binh thánh chiến trong sáu giờ.

8 thành viên ưu tú của Lực lượng Thuyền đặc biệt Anh (SBS) được cho là đã chiến đấu chống lại hơn 100 chiến binh ISIS trong một cuộc phục kích ở Afghanistan. Ảnh trên: Ảnh chụp các thành viên của SBS

Đội tuần tra của những người lính đã bị tấn công trong khi họ chữa trị cho cô gái bị thương, buộc họ phải rút lui đến một khu nhà bỏ hoang và chiến đấu với những kẻ khủng bố cho đến khi màn đêm buông xuống và họ có thể trốn thoát, Một nguồn tin nói với tờ báo: ‘Nhóm SBS có một bác sĩ với họ, những người đã được đào tạo về chấn thương.

‘Anh ấy ngay lập tức bắt đầu điều trị cho cô gái và cầm máu. Sau đó, đội tuần tra bị tấn công và họ buộc phải thực hiện một cuộc rút lui chiến đấu đến một khu nhà bỏ hoang.

‘Cơ hội duy nhất mà các chàng trai của SBS có được là kéo dài cho đến khi màn đêm buông xuống và sau đó họ sẽ có lợi thế nhờ thiết bị nhìn ban đêm của mình.’

ISIS đã giành được chỗ đứng ở Afghanistan ngay sau khi nhóm này quét qua Syria và Iraq vào mùa hè năm 2014. Ảnh trên: Các chiến binh ISIS tại một trại huấn luyện

Khi bị bóng tối bao phủ, đội tinh nhuệ đã lừa các chiến binh thánh chiến nghĩ rằng họ đang ở một vị trí khác và sau đó chạy trốn đến nơi an toàn cùng với cô gái bị thương. Nhóm nghiên cứu đã đi tuần tra chung với các lực lượng đặc biệt Afghanistan ở miền đông Afghanistan khi họ bị phục kích. Không rõ thời điểm giải cứu diễn ra. SBS đã tham gia vào một số hoạt động ở Afghanistan kể từ sau vụ tấn công 11/9 nhằm vào Trung tâm Thương mại Thế giới năm 2001. Đến năm 2014, gần như tất cả binh lính chiến đấu của Anh đã được rút khỏi nước này.

Tuy nhiên, hàng trăm người đã được gửi trở lại trong 12 tháng qua sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump và Nato yêu cầu gửi thêm binh sĩ đến đất nước để chống lại mối đe dọa từ ISIS và các nhóm khủng bố khác. ‘Họ không thể thắng về mặt quân sự’: Tướng Mỹ chống IS ở Afghanistan

Đến năm 2014, gần như tất cả binh sĩ chiến đấu của Anh đã được rút khỏi Afghanistan nhưng khoảng 1.000 người đã quay trở lại để chống lại mối đe dọa khủng bố mới (Ảnh trên: Một người lính Anh đi bộ trong một cuộc tuần tra ở tỉnh Helmand vào năm 2007)

Hiện có khoảng 1.000 lính Anh được triển khai tại Afghanistan. ISIS đã giành được chỗ đứng ở Afghanistan ngay sau khi nhóm này tràn qua Syria và Iraq vào mùa hè năm 2014. Nhưng kể từ khi nhóm này mất cái gọi là caliphate ở Syria và Iraq, hàng nghìn chiến binh của chúng đã di chuyển đến Afghanistan. Tin tức về cuộc đột kích được cho là táo bạo xuất hiện vào ngày hôm nay rằng một vụ đánh bom xe của Taliban ở miền đông Afghanistan vào Chủ nhật đã giết chết ít nhất 12 người và làm bị thương nhiều người khác – trong đó có hàng chục trẻ em – trong một vụ nổ lớn xảy ra trong bối cảnh các cuộc đàm phán hòa bình đang diễn ra ở Qatar, các quan chức cho biết.

Taliban đang gặp gỡ các nhà đàm phán Mỹ và đại diện của Afghanistan tại Doha khi Mỹ thúc đẩy chấm dứt 18 năm can dự ở Afghanistan, nhưng bạo lực từ phe nổi dậy và quân đội Mỹ vẫn tiếp tục xảy ra. Người phát ngôn của thống đốc tỉnh Ghazni, Aref Noori, nói với AFP hôm Chủ nhật đã đánh bom xe liều chết nhằm vào thành phố Ghazni ở phía đông và nhắm vào một đơn vị tình báo.

Tin tức về cuộc đột kích táo bạo được cho là xuất hiện hôm nay rằng một vụ đánh bom xe của Taliban ở miền đông Afghanistan (ảnh) hôm Chủ nhật đã giết chết ít nhất 12 người và làm bị thương nhiều người khác – trong đó có hàng chục trẻ em.

Wahidullah Mayar, phát ngôn viên Bộ Y tế, cho biết 12 người đã thiệt mạng.

Ông nói thêm ‘179 người, chủ yếu là dân thường, bao gồm cả trẻ em, bị thương’, một con số tăng vọt so với con số 70 trước đó và cho thấy một vụ nổ lớn.

Theo Phái bộ Hỗ trợ của Liên hợp quốc tại Afghanistan (UNAMA), hơn 50 trẻ em nằm trong số những người bị thương. Nó cho biết tổng số thương vong ít nhất là 150 người.

‘UNAMA lên án cuộc tấn công bừa bãi và không cân xứng của Taliban’, cơ quan này cho biết trên Twitter.

Tổ chức Cứu trợ Trẻ em cho biết ít nhất 25 trẻ em từ một trường học gần đó đã được đưa vào bệnh viện, nhiều em bị mảnh đạn và các vết thương nặng ở đầu, cổ hoặc ngực.

Onno van Manen, Giám đốc Tổ chức Cứu trợ Trẻ em tại Afghanistan cho biết: “Điều này đơn giản là không thể chấp nhận được và chúng tôi kêu gọi tất cả các nhóm vũ trang ở Afghanistan hãy nghĩ đến thế hệ tương lai và ngừng giết hại và tàn sát trẻ em vô tội.

Wahidullah Mayar, phát ngôn viên Bộ Y tế, cho biết 12 người đã thiệt mạng. Ông nói thêm ‘179 người, chủ yếu là dân thường, bao gồm cả trẻ em, bị thương’, một con số tăng vọt so với con số 70 trước đó và cho thấy một vụ nổ lớn. Ảnh trên: Một đứa trẻ được điều trị tại bệnh viện ở Ghazni hôm nay sau vụ nổ bom liều chết

Vụ nổ xảy ra chưa đầy một tuần sau khi 50 trẻ em bị thương trong một vụ nổ lớn ở Kabul nhắm vào một tòa nhà của Bộ Quốc phòng nhưng cũng làm hư hại 5 trường học gần đó, ném kính bay vào người trẻ.

Taliban đã lên tiếng nhận trách nhiệm về cả hai vụ tấn công. Vòng đàm phán thứ bảy giữa Taliban-Mỹ nhằm tạo ra một thỏa thuận mà quân đội Mỹ sẽ rút khỏi Afghanistan để đổi lấy các bảo đảm khác nhau.

Cả hai bên đã báo cáo tiến triển đáng kể trong các cuộc đàm phán, bị tạm dừng vào Chủ nhật và thứ Hai trong khi Taliban gặp gỡ các đại diện của Afghanistan cho một cuộc đối thoại nội bộ Afghanistan.

Dịch vụ Thuyền Đặc biệt là ai?

Dịch vụ Thuyền đặc biệt là đơn vị lực lượng đặc biệt của Hải quân Hoàng gia và có thể so sánh với Dịch vụ Hàng không Đặc biệt (SAS), tương đương của Lục quân.

Họ là một trong những binh sĩ tinh nhuệ và có năng lực nhất trong quân đội Anh và thậm chí còn đáng sợ hơn cả Thủy quân lục chiến Hoàng gia được đào tạo bài bản. Dịch vụ này bao gồm các đội nhỏ chuyên đột kích bí mật và sử dụng yếu tố bất ngờ.

Dịch vụ Thuyền đặc biệt là đơn vị lực lượng đặc biệt của Hải quân Hoàng gia và có thể so sánh với Dịch vụ Hàng không Đặc biệt (SAS), tương đương của Lục quân. Ảnh trên: Các thành viên của SBS

Trong giai đoạn sơ khai, các binh sĩ của lực lượng này sẽ sử dụng những chiếc thuyền nhỏ phóng từ tàu ngầm để chèo vào bờ trước khi phá hoại các mục tiêu của đối phương như đường sắt và đường dây liên lạc. Tuy nhiên, bởi vì gần như tất cả các hoạt động của họ đều được bảo mật cao, nên rất ít thông tin về bất kỳ cá nhân nào tạo nên đơn vị này. Hầu hết được rút ra từ Đội Biệt kích Thủy quân lục chiến Hoàng gia, và tất cả đều đặc biệt khỏe mạnh về thể chất và tinh thần. Các thành viên của SBS được biết là đã tham gia vào cả hai cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq.

Thư từ ngoài mặt trận Chiến dịch Desert Shield-Desert Storm

Nguyễn Dương

Y sĩ Đại Úy QL VNCH

Cựu Y sĩ Đại Tá QL Hoa Kỳ

Cựu Y sĩ Trưởng Sư Đoàn 1 Thiết Giáp Hoa Kỳ

(bài này được cập nhật January 2021)

Ngày 8 tháng 11 năm 1990 N. đáp máy bay về lục địa Mỹ đi công tác cho Sư đoàn 1 Thiết Giáp Hoa Kỳ. Sau khi làm thủ tục nhập khách sạn N. lên phòng ngủ. Lúc đó là 9 giờ 45 tối rồi. Sau khi tắm xong, N. vặn Tivi lên xem tin tức tí ti trước khi ngủ, đang ngái ngủ, N. giật mình khi nghe tin Phát ngôn viên báo tin rằng Tổng Thống Bush quyết định gửi thêm 200.000 quân sang Trung Đông, sau đó là danh sách các sư đoàn sẽ di chuyển ra mặt trận. N. thấy sư đoàn của N. có tên trong đó. N. nghĩ thầm vì nếu cần đánh nhau với Thiết giáp Iraq, lẽ dĩ nhiên phải cần tới Sư đoàn của N. vì Sư đoàn 1 Thiết giáp được trang bị với thiết giáp tối tân nhất của Hoa Kỳ và là Sư đoàn “nặng” (heavy division) nhất trong Quân lực Hoa Kỳ. N. tuy vậy cũng hoang mang không biết là chừng nào phải di chuyển sang Saudi Arabia (S.A.) đây?

Hiện tại N. đang đi công tác, đúng ra là không cần phải liên lạc với cấp trên, nhưng sáng hôm sau N. thấy cần phải điện thoại cho Đại tá Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn để nhận lệnh. Khi gọi, N. được tin là cứ hoàn tất công tác sự vụ lệnh không phải về ngay. N. bèn yên chí tiếp tục công tác. Sau đó, N. gọi cho gia đình biết là không phải về lại Đức ngay. N. không lo gì lắm vì bận tâm với công tác, nhưng càng hoang mang vì điện thoại vợ con, cùng gia đình anh chị em tới tấp gọi lo lắng hộ cho N. Đúng ra thì N. cho chả có gì đáng ngại cả, nhưng ngày đêm qua những cú điện thoại nên N. cũng bị ảnh hưởng lo lắng không ít thì nhiều.

Sau một tuần công tác, N. như chương trình đã định trước được nghỉ thêm một tuần nữa để thăm gia đình con cái. Nghĩ rằng, lúc trước đã gọi về sở nhận lệnh cứ tiếp tục công tác, N. bèn tiếp tục bay sang Gia Nã Đại thăm mộ ông cụ và bạn bè ở Montréal. Đang hàn huyên với bạn cũ, thì con gái của N. gọi từ Hoa Kỳ sang báo là Đại Tá Tham Mưu Trưởng muốn nói chuyện với N., N. bèn gọi lại thì được biết là ông muốn N. về với đơn vị càng sớm càng tốt.

Thế là N. bèn cắt ngắn phép nghỉ và bỏ dở mục thăm viếng bạn bè và gia đình. Cũng may lúc đó tinh thần ái quốc của dân Mỹ cũng khá cao nên khi đổi vé máy bay về Mỹ và sang Đức, N. không gặp khó khăn gì cả. Đúng ra là vì đổi ngày giờ quá ngắn hạn phải trả một số tiền phạt, nhưng sau khi N. trình bày tình cảnh phải trở về đơn vị gấp, các hãng máy bay rất vui lòng đổi vé mà không bị phạt gì cả.

 Về đến đơn vị ngay trưa hôm đó, N. đi vào sở trình diện ngay và được biết là có thể phải đi S.A. trong vòng hai hay ba tuần. Thường thường thì Bộ Tham Mưu chỉ họp một lần một tuần, nhưng nay vì tình hình khẩn trương, Bộ Tham Mưu họp một ngày hai lần, sáng lúc 8 giờ và chiều lúc 5 giờ. Công việc của N. là phải lo điều động quân số tăng gia, sửa soạn tài liệu y khoa phòng ngừa ngoài sa mạc, tổ chức nhóm chích ngừa bệnh, sửa soạn thuốc men cho sư đoàn và huấn luyện cấp tốc các quân nhân y tế mới bổ túc tới. Lúc hòa bình N. chỉ có bẩy bác sĩ quân y (kể cả N.) cho cả sư đoàn, nay được tăng lên tới 20 bác sĩ một cách đột ngột.

Ngay chuyện tăng thêm bác sĩ cũng đã rắc rối rồi. Y sĩ trưởng Quân đoàn cho danh sách và các đơn vị các tân bác sĩ, nhưng vì các vị tân bác sĩ này ở rải rác khắp Âu châu, nên liên lạc rất khó khăn. Có bác sĩ thì rất hăng hái nhận lệnh trình diện ngay, nhưng có vài ba anh chị thì cứ lờ đi như là không nhận lệnh điện thoại và kéo dài thời gian tới trình diện. Vì sau được biết, có một chị bác sĩ cố trốn tránh và gây chuyện phản đối với cấp trên, nhưng cuối cùng cũng không xong.

Sau đó là có màn chỉ định các vị tân bác sĩ này đi xuống đơn vị. Lẽ dĩ nhiên là bác sĩ ở Trung đoàn là khoẻ hơn và ít nhất an toàn hơn ở Tiểu đoàn, nên có một bác sĩ lên phản đối tại sao N. bắt hắn ta phải đi làm ở Tiểu đoàn. N. giữ lập trường và nhất định không thay đổi lại quyết định. Sau khi hắn ta đưa ra một vài lý do không được vững cho lắm, hắn ta bèn chịu thua rút lui trong hậm hực, không thuyết phục được những thay đổi thuyên chuyển.

Sau khi tập họp đủ bác sĩ, N. bèn gửi các bác sĩ này đi học khoá huấn luyện cấp tốc học cách chữa trị và chống vũ khí hoá học (Biochemical Warfare). Từ ngày trở về Đức trở lại, đời sống N. quay cuồng với sư đoàn, họp lên, họp xuống, không còn ngày nghỉ cuối tuần gì cả. Lúc đó là gần lễ Giáng Sinh, nhưng ai nấy chả bận tâm ăn lễ gì hết.

Tuy vậy, khi gần tới ngày đáp máy bay sang S.A., sư đoàn cũng cho tất cả nhân viên nghỉ hai ngày để vui họp với gia đình. Lúc đầu, ai nấy cũng sẽ tưởng đi ngay trong vòng hai -ba tuần, nhưng thực tế, di chuyển cả Sư đoàn Thiết Giáp đâu có thể nhanh như vậy, nên phần đông sư đoàn được ở lại qua lễ Giáng Sinh mới đi.  

Ngày 27 tháng 12, N. thực sự đáp máy bay, sau khi từ giã với vợ con. Chuyến đi ra phi trường Đức thì rất buồn thiu, trời thì tối mưa phùn ảm đạm lành lạnh, vẫn còn nhạc Giáng sinh phảng phất, đèn giáng sinh lẫn cây thông còn đó, ngoài cổng trại lính vài người biểu tình trăng biểu ngữ “Nicht Blut Fur Oil” (“Không đổ máu vì dầu xăng”).

Trên phi cơ binh lính hay sĩ quan cùng ở chung, phần nhiều im lặng không ai nói năng gì cả, chắc vì lo âu vì không biết tương lai sẽ ra sao. N. có gợi chuyện với một hạ sĩ quan da trắng thì anh ta nói là nước Mỹ đã đối xử với anh ta rất tốt nên khi nếu bị xui xẻo gì đó anh ta không ân hận gì cả cho là Tổ quốc trên hết, tinh thần ái quốc anh ta rất cao. N. cũng nói chuyện với luật sư trưởng của Sư Đoàn là Trung tá J.A. ông ta không lấy gì mà lo âu cả, ông ta đã từng phục vụ ở Việt nam rồi. (sau đó độ 5-6 năm sau ông ta được thăng chức Thiếu tướng). Ngược lại nữ Đại úy Y sĩ L.S. chuyên môn về thần kinh tâm lý dưới quyền của N. thì ngồi co rúm ở một góc ghế không nói năng gì cả.

N. tới phi trường Dahran vào khoảng 9 giờ sáng. Lúc rời khỏi Đức quốc, khí hậu rất lạnh, nên khi gần S.A., ai nấy đều cởi bỏ áo lạnh, và vén tay áo lên, vì nghĩ rằng ở sa mạc rất nóng. Máy bay không đáp xuống phi trường ngay được, vì có tin phi trường đang bị báo động vì hoả tiễn Scud, nên phải bay vòng ngoài xa tới hơn một giờ đồng hồ sau mới đáp xuống. Ai nấy chả bảo nhau gì cả nhưng gần như tất cả đều lấy áo jacket che đạn (gọi là flakjack) mặc vào.

Xuống phi trường thì có vài hạ sĩ quan tới đón tiếp, phát cho mỗi người một chai nước suối và chỉ dẫn đi ra xe buýt để tới trại đóng quân tạm ISA (Intermediate Staging Area). Trông thấy các Hạ sĩ quan đó mặc đồ ấm lạnh và không mặc áo flagjack, ai nấy đều ngạc nhiên, không hiểu tại sao. Chỉ một lúc sau đó, sau khi đứng chờ đợi đoàn xe buýt khởi hành, ai nấy đều lạnh run vì có một luồng gió lạnh thổi nhè nhẹ không ngừng. Thế là tất cả lại bèn lục ba lô ra, lấy áo lạnh ra mặc. Hỏi tại sao không mặc flakjack, thì họ trả lời đâu có đánh nhau gần đó gì đâu từ lâu rồi. 12 giờ trưa, đang chờ đợi khởi hành thì tiếng oang oang vọng từ loa phát thanh như là tiếng vọng cổ nhi nhô như của Ấn Độ hồi trước, quay nhìn chung quanh, N. thấy các tài xế xe buýt người Ả rập đang quỳ gối cúi rạp người hướng Mecca mà cúng khấn.

 Khoảng 1 giờ trưa thì đoàn xe di chuyển ra ISA. Trên đường xa lộ đi qua thành phố Damman nhà cửa rất khang trang. Hầu như các nhà đều là villa tường trắng, có bốn bức tường bao chung quanh kín mít. Đúng là một xã hội kín mít và khe khắt như được kể là không bao giờ đàn bà dù chưa hay có chồng không được phép ra ngoài phố một mình mà không che mặt. Còn được nghe, nếu được mời vào một gia đình Ả rập thì chỉ được tiếp xúc với đàn ông chủ nhà và các con nhỏ mà thôi. Còn các phái nữ thì ở trong cung cấm. Trông thấy kiểu cách kiến trúc nhà cửa kín mít tường bao chung quanh, N. thầm nghĩ đời sống gia đình người Ả rập như vậy rất khó khăn, khe khắt, không ai biết chuyện gì xảy ra trong gia đình họ được. Nói là sa mạc, nhưng đường phố trong tỉnh có nhiều cây cỏ dọc theo bênđường. Có tiền là có cây mọc N. nghĩ vậy. S.A. có vài hãng lọc nước biển ra nước ngọt rất lớn, thành ra nước không khan hiếm lắm và có đủ nước mà tưới cây cỏ.

Qua khỏi tỉnh, đường xa lộ rất tốt như xa lộ ở bên Mỹ, cũng có bảng chỉ đường xanh trắng rất rõ rệt. Bên vệ đường thỉnh thoảng thấy vài cây palm và có vài con lạc đà thản nhiên ăn những bụi cây nhỏ ở sa mạc.

 Độ hai tiếng đồng hồ sau, đoàn xe buýt tới ISA cách biên giới Iraq độ 300 cây số. Ngoài cổng có bảng đề “Desert Inn, Free Breakfast and Bed, Always Have Helping PPlace for a Few More”. Đó là một trại lính bao bọc chung quanh bởi dây kẽm gai.

Những vị nào lúc trước có ghé qua ở Guam thì cũng giống như vậy. Hàng hàng dẫy lều vải (tent) ngay ngắn với hai dọc nhà tắm (shower stands) gỗ và nhà vệ sinh. Bên kia sân cát -chỗ nào cũng toàn là cát cả- là vài tent dùng làm cơ sở hành chánh, chỉ huy, tent họp và field PX. Cũng có một chỗ rộng lớn có bàn ăn picnic ngoài trời mà xe vận tải đem đồ ăn nóng tới. Nữ quân nhân thì ở một tent riêng, độ 15-20 người một tent.

Mỗi ngày, ai nấy được phát ba chai nước suối (độ một lít rưỡi mỗi chai) và hai gói MRE (Meal Ready to Eat) để ăn sáng và ăn trưa. Tối thì xếp hàng ãn đồ nóng do nhà thầu đem tới. Ai muốn ãn hamburger thì đứng xếp hàng ra một quầy xe chờ mua hamburger và French fries đang nấu tại chỗ. Ở ISA khoảng 10 ngày N. chẳng bao giờ có hơi thừa thời giờ đứng chờ cả một cho tới hai giờ để mua một miếng hamburger mà ăn. Chỗ nào cũng có hàng dài lính xếp hàng tới lượt vào PX mua đồ hay ra chỗ gọi điện thoại dã chiến.

Ngày ngày ở ISA, N. phải đi họp buổi chiều 5 giờ rồi sáng hôm sau đi tụ họp các bác sĩ ở Trung đoàn để ra chỉ thị sửa soạn hành quân. Ba ngày sau thì xe jeep của N. tới bến (gọi là xe CUCV), thế là N. có dịp đi cùng tài xế lái xe ra tỉnh Jubai và Damman thăm viếng các nhà thương dã chiến. Nhà thương 5th Fleet Hospital của Hải quân coi bộ là khá nhất. N. thăm bệnh của Sư đoàn bị đau ốm đang điều trị ở đó, và có trưa được mời ở lại ăn trưa khá tươm tất. N. cũng lo liên lạc với Quân y Quân đoàn về tin tức chống vũ khí sinh hoá học như nerve agent, mustard, anthrax và botulinism, sau đó N. lại phổ biến huấn luyện cho Bộ Tham Mưu và các đơn vị của Sư đoàn.

Sống trong cùng tent với N. có nhóm lính thuộc phòng vũ khí hoá học, nên N. cũng được chỉ dẫn thêm về cách phòng ngừa như pha chế nước rửa và quần áo mặt nạ (MOPP gear). Phần nhiều tinh thần của lính rất hăng hái, có rất ít phần tử sợ sệt. Có một anh Trung sĩ mà N. nhớ mãi tên là Badwin, da trắng, lực sĩ cao lớn, trẻ trung, mặt mũi sáng sủa. Hắn ta lúc nào cũng nói là sẵn sàng ra mặt trận. Hắn ta nói là cả họ Badwin của hắn đã sống rất đầy đủ nhiều thế hệ rồi, nên nếu có mệnh hệ gì cho hắn thì hắn thản nhiên chấp nhận hy sinh mặc dù hắn có vợ trẻ, con nhỏ. Quả là tinh thần ái quốc cao. Lại có một anh chàng da đen Mỹ nhưng theo đạo Muslim Hồi giáo, hắn ta lúc nào cũng trầm ngâm. Khi hỏi, hắn ta kể lể là hắn theo đạo Hồi giáo thì những người cùng đạo không được giết nhau, làm hắn ta rất phân vân không biết phải làm gì mặc dầu bao nhiêu lần cãi lý với Trung sĩ Badwin (như chẳng hạn, chẳng lẽ để Saddam Hussein cứ mỗi ngày lại xâm chiếm, hiếp đáp các xứ nhỏ bên cạnh, tự do hoành hành như vậy hay sao?).

Trong thời gian ở trại ISA, một anh chàng Đại uý Quân y sĩ bị trật khớp xương đầu gối khi tập khiêng băng ca. Hắn ta được chuyển qua Quân y viện về Đức, N. lại nhức đầu phải đi kiếm bác sĩ, nhất là về sau biết được là hắn ta có đau đầu gối lúc trước nhẹ, nhưng chạy chơi football thì bị trật khớp xương chứ có tập khiêng băng ca gì đâu? Thế là anh ta thoát khỏi phải ra mặt trận, bề ngoài mặt thì nói sorry sorry nhưng nét mặt thì mừng rỡ vì thoát khỏi chỗ hiểm nguy. Ngày 5 tháng Giêng, cả sư đoàn di chuyển ra chỗ tập trung chiến thuật Tactical Assembly Area (TAA). Chỗ này cách biên giới 170 cây số, ngoài tầm tác xạ của pháo binh địch, nhưng cũng không tránh khỏi hoả tiễn Scud. Tuy vậy lệnh trên bắt buộc tất cả phải đội nón sắt (Kevlar) chứ không còn đội mũ vải như ở ISA nữa. Thành ra ai nấy có phần căng thẳng thêm không ít thì nhiều.

Ở TAA, đời sống hằng ngày bắt đầu khó khăn hơn, sáng 5 giờ 30 đã phải chỉnh tề quân phục tác chiến, rồi phải chia nhau ra canh gác ngoài vòng đai. Y tá và bác sĩ được miễn canh gác, còn tất cả từ đại úy trở xuống phải đứng gác tới 7 giờ sáng. Thiếu tá trở lên thì phải ra Bộ Tham Mưu dã chiến làm việc. Bộ Tham Mưu dã chiến gồm có từ phòng 1 cho tới phòng 5 và những phòng phụ thuộc như truyền tin, chiến tranh hoá học, liên lạc không quân, quân binh, phòng không, tiếp liệu v.v… những phòng này làm việc trên những xe van (5-ton expands van) sửa đổi thành phòng làm việc có máy nóng, lạnh và máy truyền tin. Quân y sư đoàn cũng có một xe van gọi là Med Ops (Medical Operation).

Vì là Y sĩ Trưởng Sư đoàn, có một Y sĩ Trung tá trưởng Med Ops lo về tản thương và tiếp liệu quân y cùng những việc lặt vặt khác. Hắn ta 5 giờ 30 sáng phải ra xe van họp và làm việc. Còn N. và hai y tá ở lại tent trở thành một trại cấp cứu khi cần.

Sau thời gian “stand to” thì quân lính được trở về tent làm vệ sinh cá nhân hay ăn sáng. N. sau đó đi họp với Bộ Chỉ Huy đóng cách xa từ 10 cây số tới 50 cây số (dĩ nhiên khoảng cách thay đổi như vậy vì Bộ Chỉ Huy phải “nhảy” (jump) đổi chỗ cắm trại cho địch không biết chỗ nào xác thực).

Tuy khoảng cách có vẻ gần, nhưng lái xe ở sa mạc rất khó khăn. Ai nấy đều tưởng sa mạc toàn là cát, nhưng thật ra là đất trộn với cát. Nếu mưa nhiều thì cây cỏ sẽ dễ mọc. Nói về mưa thì trong thời gian N. ở TAA, N. bị năm trận mưa lớn, hai lần lều vải của N. bị ngập lụt. Vũng nước lầy thường xảy ra sau mỗi cơn mưa, thành ra đêm tối đi trong trại dễ dẵm phải bùn. Không hiểu năm nay mùa mưa có khác thường hay không? Mà chỉ một trận mưa đầu, mức nước mưa đã đủ mực cao nước mưa của vùng N. đóng cả năm rồi. Đó là chưa kể những trận mưa nhỏ phất phơ, nhưng cái được là chỉ ba-bốn ngày sau là đất lại khô nhưng lại khổ vì cát bụi. Hai lần xe HUMVV của N. bị lầy phải nhờ xe Thiết vận xa tới kéo lên.

Sẽ kể sau… Lái xe trên sa mạc phải dùng địa bàn (compass), không chính xác lắm, hay Loran. Máy Loran là một máy điện tử gắn trên xe để định hướng. Khi vặn máy lên, bấm nút, máy sẽ chỉ tọa độ hiện tại của xe đậu bằng cách phát làn sóng ra ba trạm antenne gần đó. Tọa độ bằng độ Lat Long (Latitude, Longitude), sau đó bấm tọa độ chỗ mình muốn tới và máy tính cho biết hướng nào sẽ đi và cách xa bao nhiêu dặm. Lúc mới tới TAA, N. chưa được phát máy Loran, vì số máy Loran lúc ban đầu rất khan hiếm, chỉ phát cho đơn vị cần thiết nhất như Bộ Chỉ Huy đơn vị tác chiến, xe tăng, xe cứu thương, trực thăng, nên N. và ba thầy trò gồm một tài xế và một Thượng sĩ Thường vụ phải dùng địa bàn.

Chỗ TAA rất rộng lớn chừng 100×150 cây số và có hai con đường chính mà thôi, gọi là đường, chính ra chỉ là một đường cát bụi do công binh cắt giữa sa mạc. Sau đó vì nhiều xe cộ đi lại kể cả xe tăng nên làm hỏng có nhiều lỗ sụp lên sụp xuống. Khi đi họp N. phải băng qua nhiều rãnh mà các xe tăng đi qua. Các rãnh đó vì là đất bùn trộn với cát nên khá cứng, đi ngang qua mà lái nhanh là sập bàn toạ là thường. Có vài lần đi họp chiều tối, khi tan họp lúc 6 giờ chiều, trời đã xẩm tối mà lệnh trên chỉ được dùng đèn mờ parking xe nên rất khó đi. Có hai lần, ba thầy trò N. bị lạc loanh quanh có 20 cây số mà không kiếm ra được trại N. ở. Lái một lúc là phải xuống xe ngắm lại địa bàn, nhưng cũng không xong vì ở sa mạc đâu có điểm cao để nhận diện đâu như nhà, cây cối chẳng hạn.

Ban đêm ở sa mạc, bốn phía đều giống nhau cả. Có lúc thấy một trại, nhưng khi dừng lại hỏi rất nguy hiểm vì không được dùng đèn sáng, chỉ được dùng đèn pin có kính lọc đỏ hay tím mà thôi. Lính gác nếu không cẩn thận hay hoảng hốt bất ngờ có thể bắn lầm lắm. Cứ tưởng tượng đang đứng canh gác tự nhiên có bóng đen từ từ đi tới giật mình thì có thể hoảng hốt bóp cò súng dễ như chơi, hóa ra là không phải trại N. đóng, hỏi hướng nào để đi, thì lính gác thường thường cấp kém nhất, đâu có biết gì đâu. Hỏi trưởng trại thì hắn cũng không biết gì luôn vì thường thường mỗi đại đội đóng một chỗ riêng và một sư đoàn thì có cả trăm đại đội nên ai cũng lắc đầu. Hỏi có thể nhờ điện thoại được không, thì hắn trả lời là tối đêm có lệnh cấm sử dụng truyền tin (signal silence) tuyệt đối.

Thành ra xe N. lại loanh quanh một hồi tới khi gặp được Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn, may quá ở đó N. có quen với Tiểu đoàn trưởng, nên hắn biết hướng và tọa độ N. ở nên chỉ một chút sau là N. về đến trại được. Khoảng cách có 15 cây số mà đi mất bốn tiếng đồng hồ, thật là hú vía, vì nếu kiếm không ra, phải đậu xe ở ngoài sa mạc chờ đến sáng hẳn đi. Chứ cứ lái xe đi mãi có thể đi lạc sang đất địch, như chuyện hai anh lính Lê Dương Pháp lái xe làm sao đi lạc sang đất Iraq bị bắt làm tù binh, đã thế ngủ trên xe sẽ bị lạnh cóng. Khoảng lúc N. đóng ở TAA là mùa đông bên Saudi Arabia. Ban ngày thì mát nhưng ban tối thì rất lạnh, có lúc gần 0 độ Celsius, sáng ra ngoài đều thấy sương đóng đá trên xe.

 Ngoài những trận mưa thì còn có những trận bão cát gọi là shamal. Các trận bão cát này thường xảy vào tháng Giêng và tháng hai, lâu lâu mới có một trận kéo dài độ một ngày thì hết. Nhưng từ tháng ba tới tháng bẩy thì thường xảy ra hơn cứ vài ba ngày lại có và có thể kéo dài cả tuần khi đến tháng bẩy. N. rất ghét những trận bão cát này, nếu đang lái xe thì cát mù mịt, buổi trưa lái xe mà lại không trông thấy năm thước đằng trước. Rồi bụi cát bay vào mắt làm cay, đau mắt, hít thở vào nguy hiểm cho sức khoẻ và quần áo, ghế bố, đồ vật rất bẩn vì bụi đóng cả đống. Lều vải không cách chi nào mà làm kín mít cho cát khỏi vào được. Lại còn nếu không mắc đóng lều vững chắc thì lều vãi bị sập tiệm bay đi dễ như không. N. tội nghiệp nhất là đang bão cát như vậy mà lính lại đang đứng gác mà không có khăn che mặt mũi thấy mà thương hại. Có vài lần N. dừng xe lại và phát cho lính gác khăn che mặt mà N. lấy từ trong túi cấp cứu (gọi là cravate dùng để làm sling khi trật tay hay cùi chỏ).

 Nói về cát bụi bay vào mắt, năm ngày hôm sau khi tới TAA, N. đi thăm các nhà thương dã chiến chung quanh. Khi tới thăm bệnh viện tản thương số 12 (12th Evacuation Hospital) thì được biết một Đại úy Phòng 5 bị đau mắt, khi khám ra hắn ta bị trứng con ruồi của cừu nở ra thành larvae trên mắt hắn ta. Hắn kể là vài ngày hôm trước, hắn bị bụi cát vào mắt, sau đó khó chịu nên đi khám. N. được nhân viên phòng thí nghiệm cho xem con larvae đó ở kính hiển vi (sheep botfly). Cách chữa trị bệnh đó thì chỉ là gắp các con đó ra thì khỏi (đếm được gần 30 con).

Ở TAA thì đời sống không khá hơn ở ISA, vì ăn uống ở đây không còn có thầu khoán nấu đồ ăn nóng cho buổi sáng và buổi tối. Tuy vậy, thường thường (trừ những ngày không “jump” thì phải ăn đồ MRE) thì có một bữa ăn nóng do đầu bếp dã chiến nấu, ăn cũng tạm được. Bữa ăn nóng đó thì có thể là bữa ăn trưa hay tối (5-6 giờ chiều). Tắm thì tắm nhà tắm gỗ xây ba cái gộp một và đi vệ sinh cá nhân cũng vậy, chỉ có cái bất tiện là hơi xa chỗ ngủ (độ 300-500 thước), quần áo thì giặt lấy. Chủ nhật thì các Cha tuyên uý giảng đạo tại mỗi trại.

Về tinh thần quân lính thì sau khi mừng hụt là Saddam Hussein chịu cho Tổng trưởng Ngoại Giao Aziz họp với Tổng trưởng Ngoại Giao Baker ở Geneve, ai nấy đều thất vọng khi hay tin điều đình thất bại hoàn toàn. Tới ngày 15 tháng Giêng thì được biết chiến tranh sẽ xảy ra. Tin đồn là nếu nghe được trên đài phát thanh hay bất cứ đài vô tuyến nào có mật hiệu “Cow boy” thì là chiến tranh bắt đầu. Đêm 17 rạng 18 tháng Giêng, ai nấy đi ngủ, phập phồng chờ đợi. Nhưng sau đó tất cả đều ngủ đến sáng thức dậy mới biết là khoảng 2 giờ sáng, không quân Đồng minh đã thả bom rầm rộ khắp Iraq. Cả ngày hôm sau phần đông quân lính chú ý lắng nghe tin tức từng giờ một. Ai nấy đều vui mừng vì cả ngàn phi vụ mà không có máy bay đồng minh nào bị bắn rơi và kết quả oanh tạc rất tốt.

Khi đi họp hằng ngày vào buổi sáng thì được biết là tất cả phải đề cao cảnh giác vì khủng bố địch. Có tin là tụi khủng bố dùng xe Toyota 4 Wheels mầu vàng đi bắn vào các trại. Lính căn gác được lệnh bắn chỉ thiên trước rồi nếu xe nào không dừng lại thì bắn ngay.

Trong khoảng thời gian đó thì sư đoàn cho thầu được một trạm điện thoại ATT. Trạm này được dựng ngay giữa sa mạc gồm có một disc radar lớn để nhận làn sóng điện thoại và có từ 100 đến 150 cái điện thoại. Vì thư từ rất chậm, độ ba bốn tuần một chuyến mới là thường, nên điện thoại rất đắt hàng. Ban ngày mỗi người không được nói quá 15 phút, ban đêm thì tự do muốn nói bao lâu cũng được, điện thoại đó nhấc lên thì có operator hỏi gọi số nào và họ sẽ liên lạc với số đó và cho trả bằng ATT credit card (giá độ chừng $16.50 cho mười phút đầu tiên). Không thể gọi thẳng được hay người nhà không thể gọi tới chỗ đóng quân được. Giá khá mắc, nhưng ai nấy đều không quản ngại trả tiền vì khó mà có dịp gọi điện thoại vì tùy trại, có trại phải bay trực thăng mới tới nói được mà vì phải chờ đợi tới lượt gọi xếp hàng nhiều khi ba-bốn tiếng đồng hồ chờ đợi là thường. Được biết là mỗi ngày có chừng 5000 cú điện thoại thành ra N. thầm nghĩ ai mà có stock trong ATT lúc này là trúng số đỏ. Vì giá khá mắc nên thời gian sau trên đài phát thanh quân đội họ cảnh cáo lính đừng có lạm dụng điện thoại vì có người phải trả cả ngàn đồng điện thoại hết sạch tiền lương.

 Vì thư từ chậm trễ khó khăn, N. cũng dùng điện thoại để cho gia đình biết tin cho đỡ lo âu. Về tin tức, ngoài thư từ, điện thoại, binh lính được phát báo Stars and Stripes mà đọc. Báo này thường trễ, sớm nhất là cũ ba ngày nhưng rất có giá trị vì có rất ít, phân phát không đều, nên ai nấy khi có là ngấu nghiến đọc lấy đọc để. Như đã nói ở trên, thêm vào đó, muốn biết tin tức phải chịu khó mở radio mà nghe. Phải mua shortway radio thì mới bắt đài BBC được, máy thường chỉ nghe được đài quân đội mà thôi. N. thì còn biết khá hơn vì phải đi họp với Bộ Tham Mưu hàng ngày nên biết tình hình cập nhật do Phòng Nhì và Phòng Ba báo cáo.

Khoảng lúc đó là vì có thể là thời tiết thay đổi có dịch cảm cúm, ho, nghẹt mũi và khan tiếng. Có thể nói một cách tổng quát là hơn nửa số quân lính ai nấy đều bị không nhiều thì ít các triệu chứng trên. N. sau khi chữa trị cho Tướng Chỉ huy trưởng một tuần sau cũng bị lây.

Nói về thư thì do Quốc Hội Mỹ chấp thuận thì gửi thư về Mỹ hay Đức thì miễn phí. Ngược trở lại Mỹ gửi sang S.A. chỉ trả giá bằng nội địa. Còn gửi đồ thì gửi về gia đình bên Đức hay ngược lại thì miễn phí. Nếu gửi về Mỹ thì phải trả giá như giá nội địa.

Sau khi hân hoan về các tin oanh tạc thành công do Không quân Đồng minh vào ngày đầu tiên thành công, thì có tin Iraq nào là bắn hoả tiễn Scud, lẫn đột kích qua đất Saudi Arabia, quân tình bắt đầu hơi nản chí vì ai nấy đều đếm ngày trở về với gia đình, mà nay thấy chiến dịch thả bom có lẽ sẽ kéo dài rất lâu mới thắng.

 Ngoài những buổi họp hằng này với Bộ Chỉ Huy, N. phải lo điều động tiếp liệu y khoa tranh dành với xe cộ chuyên chở vũ khí, xăng nhớt và bom đạn, N. phải nhắc khéo cho Tướng chỉ huy chú ý thì mới khả quan. Cũng may là chiến dịch thả bom kéo dài hơn cả tháng nên tiếp liệu quân y gần như được đầy đủ khi tới ngày đánh bộ (Ground Day) N. cũng phải đi tiếp xúc với Quân y Quân đoàn, lo kế hoạch tản thương và liên lạc với các nhà thương MASH và CSH (Combat Support Hospital). Sư đoàn của N. cấp số được hai MASH và hai CSH hỗ trợ và một-hai Evacuation Hospital phụ thêm MASH có 60 giường bệnh và có thể di chuyển 100% với sư đoàn. CSH có 200 giường bệnh, to hơn nên khó di chuyển hơn. Còn Evacuation Hospital thì quá lớn 400 giường nên gần như hoàn toàn không di chuyển theo sư đoàn được.

MASH có hai phòng mổ và có độ 16 bác sĩ chuyên môn giải phẫu từ tổng quát cho tới chuyên về lồng ngực hay não khoa. MASH tuy di chuyển được, nhưng cũng mất phải ít nhất một-hai ngày mới dọn đi được, nên với tình thế chiến tranh tạm thời hiện nay của Mỹ (AirLand battle) MASH cũng khó mà đáp ứng nhanh chóng được. (Sau ngày tấn công trên bộ, Sư đoàn chiến xa của N. tràn qua Iraq như thế chẻ tre, đoàn xe MASH không kịp chạy theo, dựng lên chữa trị, lại chạy theo tiếp được).

Vì có tin là lính Iraq có thể dùng chất Thallium đầu độc vào nước do tin của phòng 2 Hành Quân Sư Đoàn (Tình báo do Trung tá K.A. chỉ huy –về sau được thăng chức Đại Tướng làm Giám Đốc Nha Quốc Gia An Ninh), N. cũng đi bắt liên lạc và tổ chức các buổi học thêm về chữa trị và phòng ngừa các bịnh sinh hoá như nerve agents, chất phóng xạ, anthrax, và bolulism.

Các nhà thương MASH và CSH (gọi nhanh là CASH) và Evac Hospital phần đông là các đơn vị trừ bị và National Guard. N. đi liên lạc thăm viếng các đơn vị đó và được biết các bác sĩ trừ bị đó đa số đều có phòng mạch tư đang làm ăn khá giả nay bị động viên bất ngờ. Có ông Trung tá bác sĩ than thở với N. là ông ta phải khai bankrupcy vì tiền sở phí overhead quá tốn vì mới trang bị phòng mạch tối tân. Ông bác sĩ nào, ông bác sĩ nấy đều than như bọng, nhưng lỡ ký hợp đồng với nhà binh rồi đành chịu vậy. Đâu có ông nào ngờ bị trưng tập phải sang đóng ở vùng sa mạc này đâu. Phần đông các bác sĩ trưng tập đó đều có làm cho nhà binh một số năm hiện dịch rồi xin ra khỏi nhà binh, nhưng vẫn muốn giữ cấp bậc và mong làm đủ năm cho có hưu trí về sau. Mấy ông lý lẽ là sau Việt Nam đâu còn đánh nhau to nữa, hoà bình cả đến 15-16 năm rồi, mà nếu có đánh nhau to là đánh với Nga sô thì ai nấy đều khủng hoảng hết mà các ông ấy có sẵn trong trừ bị thì khi bị trưng tập sẽ nhẩy lên lon cao ngồi trên, ngồi chốc ở mấy chỗ đỡ bị nguy hiểm hơn những bác sĩ tò te mới bị động viên.

Trong lúc đó, tình hình chiến sự thay đổi không ngừng. Đại tướng Schawarzkopf đã bí mật dàn trận đánh làm Iraq trở tay không kịp. Trước khi chiến dịch oanh tạc, Tướng S., bày mưu cho Iraq biết là ông ta tập trung cả bốn Quân đoàn: Quân đoàn XVIII gồm có Sư đoàn Nhảy Dù Hoa kỳ và Sư đoàn Lê Dương Pháp, Quân đoàn VII gồm có ba sư đoàn thiết giáp, trong đó có Sư đoàn 1 và 3 Thiết Giáp Hoa Kỳ, và một sư đoàn thiết giáp Anh quốc, Quân đoàn Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và Quân đoàn Ả rập gồm có lính của Ai cập, Saudi Syria, Kuwait v.v… Tướng S. bầy trận như là Quân đoàn XVIII và Quân đoàn Thuỷ quân lục chiến sẽ đánh thẳng tràn từ Saudi sang Kuwait, Quân đoàn VII Thiết giáp và Quân đoàn Ả rập sẽ đánh ngay ở ngã ba biên giới Saudi Arabia, Iraq và Kuwait.

Tướng S. cũng làm như sẽ dùng Thủy quân lục chiến đổ bộ xung phong lên bờ biển trên tỉnh Kuwait city vào hậu cần địch. Ông ta quảng cáo Thủy quân lục chiến tập trận đổ bộ thành ra Iraq tập trung quân lính thật kiên cố ở ngã ba biên giới và biên giới giữa Kuwait và Saudi Arabia và ở bờ biển phía Bắc Kuwait. Iraq xây nhiều hàng rào kẽm gai chằng chịt với hố sâu cộng với mìn (nghe nói Iraq đã rải 10 triệu mìn trên biên giới ba nước). Đã thế còn có những rãnh sâu đổ đầy dầu để đốt lên ngăn cản chiến xa và có chiến xa Iraq nằm sẵn để bắn vào quân đội đồng minh (killing field). Chỗ đó Iraq cho là chỗ hướng tấn công của đồng minh khi đồng minh tưởng chỗ đó là chỗ yếu-soft spot-không có mìn hay hố sâu.

Đó là chưa kể chuyện mà tất cả quân đồng minh đều e sợ là vũ khí hoá học. Iraq lại có tụi Vệ binh cộng hoà (Republican Guards) gồm các đơn vị tinh tú nhất được trang bị với chiến xa và các vũ khí tối tân nhất gồm chừng 150.000 quân. Saddam Hussein dùng tụi Vệ binh cộng hoà này làm Tổng trừ bị đóng ở ngay biên giới Bắc Iraq và Kuwait để sẵn sàng đánh xuống thẳng chỗ biên giới nào bị chọc thủng.

Trong lúc không quân đồng minh oanh tạc ngày đêm không ngừng cắt đứt các trục lộ giao thông, tiếp tế cho các sư đoàn Iraq vùng Kuwait và tàn phá các não truyền tin cộng với sự “neutralize” không quân Iraq đó thì Tướng S. ra lệnh cho Quân đoàn XVIII Nhảy dù và Lê Dương Pháp thay đổi chỗ đóng quân đi về phía Tây rất xa khỏi biên giới ba nước. Quân đoàn VII Thiết giáp cũng đổi chỗ ra phía Tây ngoài khoảng biên giới được phòng vệ kiên cố. Quân đoàn Ả rập thay thế chỗ Quân đoàn Nhảy dù.

Trong khoảng thời gian từ ngày 17 tháng Giêng cho đến ngày tràn đánh bộ 27 tháng Hai, đường quốc lộ Tap Line song song với biên giới lúc nào cũng rầm rộ xe cộ di chuyển cả ngàn xe tăng lẫn đại bác cộng với xe vận tải chở bom đạn và xăng nước. Vì Iraq không có không quân và vệ tinh dọ thám nên quân địch không biết chiến trận mới. Đã thế, dù biết Iraq cũng trở tay không kịp, không thể nào đào hầm hố và gắn mìn thêm hai biên giới hơn vì không quân đồng minh tàn phá bất cứ xe cộ nào di chuyển cả ngày lẫn đêm.

 Ngày ngày nghe thuyết trình tình hình đồng minh và địch, N. thấy tội nghiệp cho lính Iraq. Các lính biên giới phần đông ít học và bị miễn cưỡng phục vụ trong quân đội. Ăn uống thì thiếu thốn và chỉ được phát một bữa ăn rất thanh đạm, và ngày đêm lúc nào cũng mang máng sợ bom rớt ngay trên đầu. Tuy vậy, số lính Iraq trốn đầu hàng sang Quân đoàn VII của N. tương đối ít, vài trăm… Sở dĩ như vậy là vì chiến tranh tâm lý của Iraq rất tàn bạo và có tin có toán công an đi tới các đơn vị ngoài biên giới và xét trong túi ai có khăn trắng thì bị xử tử ngay.

Thêm nữa, cũng như hồi ở Việt Nam, không quân Mỹ dùng B52 thả bom truyền đơn xuống vùng địch rải rác các tờ chiêu hồi viết bằng tiếng Ả rập bảo là cầm các tờ chiêu hồi đó ra đầu hàng sẽ được đón tiếp tử tế. Các toán công an đó cũng sẽ giết ngay những người nào mà trong túi có những tờ chiêu hồi đó. Thêm vào đó khi B52 rải bom truyền đơn chiêu hồi, các sĩ quan Iraq cấm binh lính ra khỏi hầm hố mà chia nhau ra nhặt và thủ tiêu tất cả các truyền đơn đó. Rất đắc lực là địch quân nhồi sọ khá tốt vào các toán quân Iraq ít học là nếu bị bắt hay đầu hàng với Hoa Kỳ thì sẽ bị giết ngay (vì lính Hoa Kỳ không có đạo Hồi giáo). Thành ra, tin tình báo cho biết, nhiều lính Iraq đào ngũ không xuống phía Nam đầu hàng quân đội đồng minh mà trốn ngược lên phía Bắc về với gia đình ẩn nấp.

Có một lần, quân đoàn VII có bắt được một lính Iraq sang đầu quân. Khi tra vấn thì được biết, hắn ta là một bác sĩ bị động viên bổ xung đi lái chiến xa. Thảo nào khi đánh tràn đường bộ sang Iraq, lính địch đầu hàng nhanh chóng và tan rã khá nhanh.

Ngày 21 Febuary 1991 (hay Ground day minus 3), Sư đoàn 1 Thiếp giáp Hoa Kỳ 1st Armored Division (1AD), đóng ở Forward Assembly Area (FAA) Garcia gần biên giới Iraq bắt đầu bắn pháo binh sang đất địch hai ngày liền.

Ngày 23 Feb (G-1), Trung đoàn 4 Trực thăng thuộc 1AD, sai một Đại đội trực thăng Apache AH-64 tấn công thám thính sang Iraq trong vùng hành quân của 1AD.

Ngày hôm sau, 24 Feb. (G-Day), Tiểu đoàn 19 Công binh của 1AD chọc thủng 250 chỗ rộng tám thước qua mô đất phòng tuyết địch ở biên giới để sửa soạn cho 1AD tràn qua. Lúc 12 giờ trưa, Quân đoàn VII báo động cho 1AD biết là sửa soạn tấn công 18 giờ trước kế hoạch định trước. Đúng ra là ngày G-Day chỉ có Sư đoàn 1 Bộ binh (1ID) và Sư đoàn Thiết giáp Anh quốc (1AD-UK) tràn đánh sang mà thôi, để địch tin tưởng mà dồn quân vào chỗ ngã ba biên giới Kuwait, Iraq và Saudi Arabia. Sau đó ngày G+1, Sư đoàn 1AD và Sư đoàn 3 Thiết giáp Hoa Kỳ (3AD) mới đánh bọc hông sang Iraq. Nhưng vì thấy địch tan rã nhanh chóng ở mọi tuyến, nên Quân đoàn VII ra lệnh cho 1AD đánh sớm hơn 18 tiếng dự định, cũng vì vậy mà N. hỏng kế hoạch định trước nên bị cắt đứt liên lạc với Tổng Hành Dinh Tướng Sư đoàn trưởng 1AD. 1AD quá mạnh thế đánh như chẻ tre đi đến đâu thì địch (vì địch quân ở biên giới là đơn vị yếu, phần đông là tân binh quân dịch) mới bắn vài phút đã đầu hàng ngay.

 Cơn hăng say chiến thắng làm quân Mỹ lăn xả tấn công luôn vào đơn vị thiện chiến Republican Guard của Iraq một cách hùng hổ, nên địch quân chỉ chống cự một chút lát rồi cũng bỏ chạy luôn.

 1AD tiến quá nhanh đến nỗi các xe tăng và trực thăng sáng này G+3 thì hết nhiên liệu, phải cho tiếp tế mới đánh tiếp được.

Lúc 5 giờ chiều ngày G+3, có tin là sẽ ngưng chiến, Tướng Sư đoàn trưởng 1AD, Thiếu Tướng R. G. (về sau thăng chức Đại Tướng Tham Mưu Phó Lục Quân) bèn ra lệnh tập trung tất cả pháo binh, trực thăng Apache và chiến xe, dồn đánh mạnh mẽ để tiêu diệt tàn quân của Iraq Republican Guard càng nhiều càng tốt trước khi lệnh ngưng chiến được ban hành vào 8 giờ sáng ngày 28 Feb 1991. Đêm đó, suốt cả đêm, súng đạn, rockets bay ngợp trời như pháo bông thi đua tàn phá.

Chiều hôm đó, N. bay đi thăm trạm cứu thương của Tiểu đoàn 2-1 trực thăng tấn công Apache, khi đáp xuống thì y tá báo tin ngay cho N. biết coi chừng đáp nhầm phải các bom cluster chưa nổ mà Không quân Hoa Kỳ rải đầy rẫy vào chỗ địch quân đóng lúc trước. N. cũng được tin là xe của Đại tá Tham Mưu Trưởng cán phải bom bị nổ tung, nhưng hên là ông ta không bị sao cả, chỉ bị một cơn hú vía mà thôi.

Khi bay trên đất địch, N. trông thấy đằng xa ở giữa sa mạc lố nhố một đám đông lính đứng ngồi lổm xổm, bay lại gần thì hoá ra đó là lính tù binh Iraq đầu hàng. Thật là một cảnh tượng lạ, cả đến hơn trăm lính tù binh, người thì buộc khăn trắng trên cánh tay hay trên đầu, người thì cầm khăn trắng, mà chỉ có hai xe HMVV (jeep kiểu mới) với vài lính Quân cảnh Mỹ đứng gác mà thôi, chả có hàng rào kẽm gai gì cả. Trông thấy họ có vẻ sung sướng mà đầu hàng. Hỏi ra thì được biết, đám tù binh đó mới đầu hàng, đang được tập họp ở sa mạc để được di chuyển đến trại tập trung tù binh.

Vào gặp Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Apache, Trung tá W. kể lại là 36 giờ đầu khi bắt đầu tấn công, ông ta không được nghỉ gì cả, lúc thì bay tấn công, lúc thì ở bộ chỉ huy lo điều động tấn công. Ông ta kể rằng có lúc ông ta bay tới gần chỗ có địch quân trú đóng, mới có bắn một vài tràng chỉ thiên thì bất thình lình cờ trắng bay phất phới tùm lum cả lên. Ông ta bèn ra lệnh cho các trực thăng dưới quyền ngưng bắn (on hold), ông ta chỉ sợ các trực thăng của các đơn vị khác hay pháo binh yểm trợ phía sau không biết là địch quân đã đầu hàng rồi mà vẫn bắn diệt thì đám quân đã đầu hàng rồi sẽ bị tàn sát một cách quá đáng. Trong một lúc tâm tình chân thật, ông ta kể là từ trước tới nay, ông ta rất hăng say chiến đấu bắn phá, nhưng lúc này, ông ta thấy chán nản vì sự phá hoại, khổ sở, tàn khốc của chiến tranh. Thêm vào đó, Trung đoàn 2 Thiết giáp Hoa kỳ có tiếng là rất hăng say tận diệt quân Iraq sẽ tiến tới sau máy bay trực thăng, ông ta không biết họ có nới tay cho đám tàn binh đã đầu hàng rồi hay không?

Được Trung tá W. sai lính dẫn đi xem hầm trú ẩn của quân Iraq gần đó. Lúc đó, gió bão cát (shamal) đã bắt đầu thổi tới, N. từ chối không tránh bão cát mà vội lấy khăn che mặt mũi và đeo kính để đi xem nơi trú ẩn đóng quân của Iraq. Ngoài các xe vận tải bị cháy đen thui chỉ còn sườn xe mà thôi, có nhiều dụng cụ sửa xe kềm kẹp bỏ ngổn ngang, hỏi ra, hóa ra đó là một trạm quân cụ của Iraq. Tới một hầm trú ẩn của Iraq, N. cảm thấy tội nghiệp cho lính Iraq, phải sống quá thiếu thốn, bẩn thỉu (kém hơn cả Việt Nam lúc trước), vài đồ đạc, quần áo dơ dáy, nghèo nàn, vứt tung toé chung với một vài bãi phân. Chung quanh hầm hố vẫn còn phảng phất mùi thuốc súng lẫn với khói của các xe vận tải còn cháy. Thượng sĩ S. tỉnh bơ chui xuống một hố rãnh trú ẩn dưới đất, mặc dầu N. can ngăn coi chừng mìn bẫy hay là bị nhiễm bởi chất hoá học. N. chỉ đứng ngoài cửa hầm ngó vào và hét coi chừng mà thôi. Chắc Thượng sĩ S. nghĩ rằng tụi Iraq vì quá hoảng sợ đâu có tinh thần chiến đấu gì đâu, phải lo bỏ chạy trốn hay đầu hàng, nên đâu có thời giờ gài bẫy mìn mà sợ. Chuyện đó cũng đúng thật, vì sau đó chả có báo cáo nào về mìn bẫy cả. Nhưng theo N. cẩn tắc vô áy náy vẫn hơn. Sự thật thì chỉ có tin là quân đồng minh dẫm phải bom bi cluster của Mỹ hay đã tinh nghịch (hay dại dột) nhặt cất dấu bom bi làm kỷ niệm, rồi vì một lý do nào đó làm rớt ra nổ tung bị thương. Thượng sĩ S. có lấy được vài tách uống trà bằng nhôm rẻ tiền, và nhặt được một khăn chùm đầu mà dân Ả rập thường dùng, N. khuyên phải giặt kỹ vì coi chừng rận chấy hay có thể bị dính chất hoá học.

Sau đó N. trở lại lều của Trung tá W. và dùng cơm trưa ở đó (Meal Ready to Eat hay MRE). Vừa ăn, ai nấy tuy mệt nhưng nhẹ nhõm vì chiến tranh gần như đã xong. Radio kể là địch tan rã và đầu hàng cả chục ngàn người. Radio còn chế diễu là Saddam Hussein đang học bài “Mother of all battles”. Radio còn chế diễu là tự nhiên Không quân Iran lại được tăng cấp số quá nhanh vì cả trăm máy bay tối tân của Iraq khi bay sang Iran để lánh nạn, nay bị chính phủ Iran tịch thu.

Tới lúc này thì tinh thần chiến đấu của 1AD lên quá cao. Quân lính bàn tán là sẽ tới lúc Iraq được xem “Mother of all parades” ở ngay tại Baghdad. Thêm vào đó là nếu Iraq thua to như vậy, thì trong tương lai, đối như các nước bại trận như Đức quốc xã hay Nhật bản, thì chỉ trong vòng độ 20 năm sau, dân chúng Mỹ lại sẽ tranh nhau mua xe Iraq vừa rẻ lại vừa tốt tràn ngập thị trường Mỹ.

Đài phát thanh Mỹ, lúc này bắt đầu hàng ngày đề cao cảnh giác lính Mỹ đừng nhặt bom, lựu đạn chưa nổ để làm kỷ niệm vì đã nhiều lính Mỹ bị tử thương vì cố ý nhặt, dấu bom đạn chưa nổ đem về làm kỷ niệm. Có tin lúc đầu là có hai bác sĩ bị tử thương, như vậy về sau kiểm điểm thì Bộ Tư Lệnh Mỹ xác nhận chỉ có một bác sĩ chết như vậy mà thôi. (khi về lại Mỹ thăm gia đình, sau đó M. em vợ của N. ở New York City kể lại là M. có nhận được message long distance để lại trong recording machine, đúng lúc sau khi M. hay tin trên radio là có một bác sĩ bị tử thương, M. hoảng hốt vì sợ đó là tin gia đình báo cho biết có tang). Nhưng may quá, M. gọi lại thì được biết chỉ là một cú điện thoại liên lạc gia đình thường mà thôi. Sở dĩ như vậy là vì trên tivi hay trong radio họ có báo tin người bị tử thương nhưng không nói tên họ để cho họ báo tin cho gia đình biết trước.

Bây giờ là đầu tháng Ba, mùa Xuân ở sa mạc, gió bắt đầu thổi mạnh hơn, shamal (bão cát) xảy ra thường xuyên và kéo dài lâu hơn. Gần như là cứ hai, ba ngày lại có một shamal, kéo dài từ một đến ba ngày. Khi bão cát xảy ra thì lều vải dễ bị kéo sập như chơi nếu không đóng cọc cột chặt. Ban ngày lái xe phải đóng cửa kín mít. Đã nóng, lại nóng thêm. Đã thế, cát thổi lại cứ tung làm trời mặc dù bữa trưa cũng tối mịt không trông thấy gì cả nếu quá độ năm thước. Có lần N. lái xe Jeep Cherokee, đi từ trại này sang trại nọ chỉ cách có mấy cây số mà đi loanh quanh, lạc tùm lum cả lên, đến nỗi phải chịu thua mà lần mò lái xe trở về trại cũ! Sở dĩ như vậy là mặc dù lúc đó là giữa trưa, nhưng bão cát làm tối mịt, gió thổi quá mạnh, đường đi không thấy gì hết vì cát phủ bay che hết tất cả các dấu vết chỉ đường (như rãnh đất hay một vật làm chỉ điểm-một xác chết của một con cừu chẳng hạn). Mặc dầu trên xe có compass nhưng cũng không ích lợi cho lắm vì không có điểm ngắm mà tính toạ độ. Hơn nữa N. sợ cán lạc đà hay lái vào một hầm hố rãnh sâu thì còn khổ hơn. N. bèn đậu xe lại định tâm thì may thay có một xe HMMV từ từ xuất hiện tới, N. bèn lái theo sau thì buồn cười là xe này đi về Tổng Hành Dinh của N. nên N. lại trở về chỗ cũ.

 Ở trong trại cũng rất khổ vì bão cát, dù có chăn bít bùng kỹ đến đâu, cát bụi vẫn lọt vào lều và phủ đều lên bàn ghế, ghế bố. Lúc đầu N. còn cố phủi giữ bụi thường xuyên hằng ngày, nhưng sau đó, N. chịu thua vì như công dã tràng, mới phủi xong thì cát lại bay tới phủ lên như cũ. Thôi đành sống với cát bụi vậy. Ban ngày thì đeo kính và che mặt, còn đêm thì choàng khăn mỏng lên che khắp mặt mũi mà ngủ. Nếu nóng quá vì hơi thở qua mũi làm nóng, thì N. phải nằm nghiêng cho khăn xoả xuống như thế hơi thở có chỗ thoát ra. Chứ nếu ngủ mà không che mặt thì phổi hít đầy cát dễ như chơi. Khi ăn uống cũng vậy làm sao che đồ ăn được. Lúc đầu N. còn chê không ăn khi có bão cát, nhưng sau đó cũng phải ăn tưới hạt sen, vì phải ăn để mà sống.

Lúc này quân lính bắt đầu bàn tán ngày trở về với gia đình. Trước hết vì phần lớn sư đoàn đóng ở biên giới Kuwait và Iraq, họ tiên đoán là ngày nào sẽ trở về Saudi. Không ai biết rõ ngày nào rút quân về Saudi cả. Ai nấy đều bồn chồn, hỏi cấp trên thì không có ai biết cả, người thì đồn đó là tùy Đại Tướng S., người lại bảo đó là tùy Tổng thống Bush, còn người thì nói đó là tùy Liên Hiệp Quốc, người thì kết án Saddam Hussein không chịu nhượng bộ đầu hàng v.v ..v.v

Tóm tắt ai nấy đểu sống trong một khung cảnh hoang mang, chán nản, vì đời sống càng ngày càng khổ cực, vì càng ngày càng nóng hơn và bị bão cát nhiều hơn.

Có nhóm sĩ quan và lính thuộc Sư đoàn Tiếp liệu thì tếu và thực tế hơn, họ chung tiền góp lại mỗi người đóng một số tiền bằng nhau và mỗi người sẽ chọn tiên đoán ngày nào sẽ trở về gia đình, người nào đoán trúng ngày trở về (hay ngày gần nhất) sẽ được thưởng số tiền đó để tổ chức một bữa nhậu nhẹt chung hay làm gì đó tùy người thắng cuộc.

 Tình hình chiến tranh thì tương đối êm. Mặc dầu vậy mỗi ngày mật lệnh vẫn được áp dụng. Khi đi đến gần tới cổng, thì lính gác sẽ nói một câu trong đó có mật hiệu, người đi vào trại phải trả lời chữ mật hiệu đáp lại. Cũng chỉ vì vẫn có tin là Iraq và tụi Palestine đồng minh địch vẫn tìm cách khủng bố phá hoại.

Đám tàn quân Iraq ngày ngày khoảng từ 200 đến 300 người vẫn tới đầu hàng đều đều. Phần nhiều họ đầu hàng vì do lời đồn là sẽ được cho ăn uống tử tế. Lẽ dĩ nhiên là họ rất vui mừng được lĩnh MRE (Meal Ready to Eat) và các chai nước suối cho khỏi đói khát. Nhưng sau đó ăn mãi MRE (cả lính Mỹ cũng vậy) ai nấy đều chán phè nên lính bèn đổi MRE ra MRI (Meal Rejected by Iraqis).

Số tù binh càng ngày càng lên cao, nên N. phải lo thêm tiếp liệu thuốc men cho cấp số tăng gia. Thêm vào đó, khi đến gần thành phố thì không những có quân Iraq ra đầu hàng, mà lại còn có hàng trăm ngàn dân Iraq gồm cả ông già, bà cả lẫn con cái cũng tới xin quân đội Mỹ cho ăn uống và che chở cho khỏi bị tụi tàn quân Iraq phá nhiễu. Vì kho tiếp liệu thuốc men đâu có dự trữ thuốc con nít, nên N. lại phải chạy lên chạy xuống lo đi mua hay đặt lệnh phát thuốc đàn bà con nít như sữa, trụ sinh v.v…

Do những dân trú nạn và lính Iraq đầu hàng, Tướng Sư đoàn trưởng biết được rất nhiều chuyện dã man do lính của Saddam Hussein gây ra chẳng hạn như xử bắn bừa bãi, treo cổ cả dân lẫn lính nào mà có ý hay tư tưởng phản lại với hắn. Còn hiếp dâm hay đốt phá nhà thì xảy ra thường xuyên, ai nấy đều căm thù Saddam.

Bây giờ là lúc củng cố thu nhặt tất cả các thuốc kiểm soát (controlled substance) như Atropine, P, Valium, Cipro (để phòng ngờ chiến tranh hoá học và vi trùng), mà sư đoàn đã phát cho lính trước để dùng khi cần, N. cũng phải lo phổ biến và căn dặn lính phải uống Chloroquine để ngừa sốt rét.

Các bác sĩ lúc này cũng nóng lòng chờ lệnh về nhất là các bác sĩ reservist sẽ được về trước vì Quốc Hội Mỹ muốn đỡ tốn tiền phải trả lương phụ trội cho reservist. Thế là các bác sĩ đó nhao nhao lên chất vấn N. đòi biết ngày về. N. chả có tin nào cụ thể cả, toàn là tin đồn, nên N. chỉ trả lời yêu cầu của họ để đốc thúc Phòng 1 (Nhân viên) mà thôi.

Thêm vào đó N. lại phải xúc tiến và phổ biến chương trình phòng ngừa bệnh tâm thần để quân lính Mỹ khi trở về gia đình tránh bỡ ngỡ có thể gây phiền nhiễu trong đời sống gia đình hằng ngày. Sở dĩ như vậy là khi lính vắng mặt xa gia đình một thời gian khá lâu, thường thường lính là phái nam hay làm chủ gia đình, người vợ đương nhiên phải quyết định lấy một mình trong cuộc sống hằng ngày. Nay tự nhiên lại có người trở về đòi tước lại quyền chủ gia đình, thay đổi cách sắp đặt, hay nói cách nuôi con cái nên khó tránh phải xích mích trong gia đình. N. bèn lại phải bàn với Y sĩ Đại úy L.S. chuyên môn về thần kinh tâm trí làm một chương trình giảng dậy, khuyên bảo phòng ngừa cho binh lính. (Nữ Bác sĩ này hơn mười năm sau đó được thăng chức Chuẩn tướng).

Ngày 6 March 1991, sư đoàn N. được đề cử một số lính được trở về nhà trước, lẽ dĩ nhiên, đám lính này được chọn trong các đơn vị tới Saudi Arabia sớm nhất. Những lính may mắn này thật sự không may mắn lắm vì được lệnh trở về đã lại phải gấp rút mà lại còn phải sửa soạn quần áo chỉnh tề để diễn binh chiến thắng ngay ngày hôm sau tại phi trường Dharan mờ người.

Rồi sau đó, có lệnh sắp xếp các đơn vị để rút quân từ tiểu đoàn hay từ loại bệnh viện (Evacuation Hosp., Combat Support Hospital CSH hay MASH). Ai nấy đều vui mừng vì như vậy là chắc được về chứ không phải bị ở lại để yểm trợ cho Kuwait.

 Tướng Sư đoàn trưởng ra lệnh cho hậu cứ sư đoàn hoàn tất cấp tốc một chỗ tạm trú tập trung quân trước khi trở về Đức quốc. Thế là cả hậu cứ điên đầu cả lên, dựng lều, lát sàn giữa sa mạc, lập PX, che dù làm một khu giải trí gồm có chỗ cho ban nhạc chơi, chỗ ăn hamburger miễn phí, chỗ xem ciné video và một lều lớn để điện thoại. Tội nghiệp cho Tiểu đoàn Công binh, lúc đánh nhau phải hốc hác đi đầu để phá các mô đất, chiến lũy, lấp rãnh tuyến sâu, phá mìn nay phải phá các kho đạn của Iraq và cộng thêm phải xây khu giải trí kể trên.

Nhưng rồi cũng xong trong vòng bốn tuần, một khu giải trí khang trang được hoàn thành. Lính khi tới đó được tự do ăn hamburger, hot dog và uống Coca, Sprite thả dàn, đó là một cái sướng ở sa mạc vì ở ngoài mặt trận nào có McDonald đâu mà ăn. Sau đó có ban nhạc của USO và của Sư đoàn 1AD chơi nhạc mỗi đêm. Ngoài ra có bốn “rạp xinê” với video với free popcorn mà thưởng thức. Chỉ tiếc là lính khi về tới đó đâu có thời giờ thưởng thức đâu. Ngoài vụ dựng lều hay dẹp lều lại đi rửa xe gấp rút cho hết cát bụi trong vòng có vài ba ngày để cho đúng kịp ngày chuyển vận lên tàu.

 Trong lúc nôn nao sửa soạn ngày về thì bỗng nhiên thường dân Iraq lánh nạn lại lên cao quá nhiều vì tàn quân phản công trở lại đánh tụi Iraq Shiites nổi loạn gần thành phố Basra. Cả trăm ngàn thường dân bị thương tới tràn ngập các trại cứu thương của Mỹ. Thượng cấp bèn ra lệnh vài Evacuation Hospital, MASH trở lại vùng giao binh để giúp chữa trị. Có một Evacuation Hospital đã dọn về gần phi trường Dharan để chờ ngày trở về Mỹ, quân lính đang thu xếp quân nhu thì được lệnh phải trở lại Iraq. Đương nhiên thì tất cả sĩ quan và binh lính buồn ra mặt. Vài tên lính quá khích đã rạch lốp xe và phá máy xe vì như vậy sẽ khỏi phải lái xe trở lại Iraq. Lẽ dĩ nhiên các tên lính đó đã bị bắt và cho ra Toà án Quân sự Mặt trận xử án. Thật là tối dạ! Đã sống qua những lúc khó khăn, khổ nhất trong khi chiến đấu mà nay lại bị khổ vì một lúc bốc đồng.

Lúc này N. vẫn phải hằng ngày đi họp với Bộ chỉ huy và lo các công việc hành chánh như viết giấy ban khen, giấy phê bình điểm, giấy chứng minh xin ban huy chương cho các nhân viên dưới quyền. Cái khó là ở ngoài sa mạc N. đâu có thư ký đánh máy photocopy gì đâu. Thành ra N. lại có màn phải đi đề mẹc xin xỏ các trưởng phòng khác vì họ có xe expand-van đủ nhân viên, dụng cụ phòng làm việc. Tất cả các giấy tờ kể trên đều phải hoàn tất cho các binh lính trước khi họ bước lên máy bay trở về đơn vị cũ của họ.

Ngày 20 tháng Tư năm 1991, N. được tin nhóm quân y của Sư đoàn 1AD của N. sẽ được trở về Đức quốc trong vòng 10 ngày sắp tới. Tài xế của N. vui mừng ra mặt và ngày ngày gạch xoá những ngày còn lại trên tờ lịch hàng tháng.

 Lúc này thời tiết càng ngày càng quá nóng. Buổi trưa nhiệt độ lên tới 110 độ là thường có khi lên tới 130 độ! Nóng nắng dã man, buổi trưa là lúc nóng nhất, N. ra chỉ thị của Tướng Sư Đoàn là từ 10 giờ sáng tới 4 giờ chiều không ai được tập thể dục hay chơi bóng chuyền ngoài nắng gì cả. Sở dĩ như vậy là vì có một lính ở Quân đoàn VII chơi bóng chuyền giữa trưa bị xỉu rồi chết luôn. Hơn nữa N. đề nghị với Sư đoàn trưởng cho phép tất cả các binh lính làm việc trong khoảng thời gian đó được cởi áo ngoài, chỉ cần mặc áo thung mà thôi.

 Nắng quá nóng đến nỗi N. phải quẹt qua mặt với khăn ướt nước để cho bốc hơi mát mỗi 15 phút phải làm lại. Như vậy gần như là lúc giữa trưa chả có ai làm việc được đắc lực gì cả. Lẽ nhiên ai nấy đều phải uống nước thường xuyên, mỗi ngày tám lít nước. Thượng sĩ Thường vụ của N. khuyên cho các chai nước suối vào bít tất dài thấm nước tránh để cho nước bốc đi, thì quả thật chai nước giữ như vậy thì uống mát hơn là không bọc chai. Đại đội Tổng hành dinh của N. được một tí xa hoa hơn là vì khi chiếm đóng một Câu lạc bộ sĩ quan của Iraq có xung công được một kho chứa đầy nước hộp và chai Perrier có nước chanh do đó uống nước dễ chịu hơn.

Ngày 24 tháng tư khoảng 9 giờ tối một trận bão cát khá mạnh thổi tới, vài lều bị thổi tung cả lên, cây chống lều đập vào đầu của vài người, máy bay trực thăng bị lật đổ.

May là lều N. được đóng rất vững chắc chỉ bị gió cát bay vào thôi, nhưng đêm đó vô cùng khổ cực, đã rất nóng (tuy là đêm nhưng vẫn nóng vì là gió nóng) lại bị cát bụi mù làm rất khó thở. Hôm sau N. phải đi vào các bệnh viện dã chiến thăm các thương binh, may là không có ai bị tử thương cả. Cũng may là nhờ có neurosurgeon sẵn tức trực mổ.

Ba ngày hôm sau thì có lệnh rút trại đi vào KKMC Hotel Kelly để làm thủ tục lên máy bay về Đức. Gọi là Hotel Kelly nhưng chính thực ra thật là một hangar lều lớn chứa tới 200 đến 300 người. Mỗi người chỉ có đủ chỗ cho một ghế bố nên rất ồn ào nóng bực khó chịu. Ai nấy đều nôn nao chờ về nên chả ai ngủ được mấy. Hôm sau cả ngày chỉ ngồi chờ lúc thì cho quan thuế tới khám xét rất khắt khe. Sở dĩ có sự khám xét kỹ càng là vì thượng cấp lo là có vài tên lính tối dạ đem theo đạn dược mìn chưa nổ làm chiến lợi phẩm để rồi vô ý làm nổ như vị bác sĩ quân y tử thương lúc trước. Thành ra tất cả quân trang đồ đạc ở trong Duffel bag phải đổ ra bầy trên ghế bố để được khám xét. Lệnh ban ra là nếu ai bị bắt tàng trữ đồ cấm đó thì cả đại đội đều bị ở lại. Thành ra không những quan thuế tới khám xét trước đó, Thượng sĩ Thường vụ Đại đội đã khám rồi. Ở ngoài lều có để vài thùng phuy xăng lớn trống để ai có tàng trữ đồ cấm đem đổ vào đó trước khi khám xét thì không có tội gì cả.

Ăn thì được tụi Ấn độ đấu thầu cho ăn gà quay, hamburger và trái cây tươi thành ra cũng tạm được. Binh lính đồn tếu là được ăn thả cửa như vậy cho béo để khi về nhà vợ con gia đình nhận ra được.

 Ngày hôm sau thì được dời vào nhà tạm trú tại ngay phi trường ngủ qua đêm để trưa hôm sau tất cả bước lên máy bay phản lực Boeing 747 của hãng Towers Airlines do quân đội Mỹ thuê. Lính và sĩ quan cấp úy thì ngồi ở coach class, còn các tướng tá thì được ngồi ở first và business class. Khi máy bay thực sự cất cánh, tất cả đều mừng rỡ và vỗ tay. Ngó qua cửa sổ N. trông thấy các dãy lều vải trên sa mạc mà thấy bùi ngùi nhưng không có một tí luyến tiếc gì cả.

Bay độ năm giờ sau thì máy bay đáp xuống phi trường Nuremberg. Khi bước xuống cầu thang thì đã có thảm đỏ trải sẵn và có lính dàn cờ cùng Tướng Tư lệnh Phó sư đoàn hậu cứ đứng đón bắt tay từng người. Chả bù lúc đi xuất quân chả có ai đi tiễn cả. Đến nỗi thời tiết lúc đó rất đẹp mát như ở Dalat lúc trước không như lúc đi trời mưa dầm dã như là Trời cũng buồn cho lính phải đi chinh chiến. Thật là khác với nhiệt độ 130 độ ở sa mạc Saudi Arabia. Khi đi toilet được dùng toilet bowl với flush thì thấy sướng, thế mới thấy cái gì bị cấm hay không được dùng mặc dầu tầm thường cũng thấy sướng, cũng như ăn mặn mãi mà được ăn một bữa chay mà thấy thoải mái (hay là ăn cơm/ăn phở?). Sau đó tất cả lên xe buýt về trại ở Ansbach. Gần tới trại, N. ngó lên các building bên đường mà thấy bồi hồi, vài bà Đức mập ú vẫy tay chào mừng vui cười. Cũng chỉ vì một phần buôn bán ở tỉnh nhỏ Ansbach bị ế ẩm vì phần lớn binh lính đi xa nay họ được tin là lính trở về lại nên họ vui tươi chung.

Tới doanh trại thì đã có ban nhạc sư đoàn đã tề tựu chỉnh tề đánh nhạc hân hoan chào đón. Cờ xí và vải chăng Welcome Home thêu với yellow ribbon được gắn tùm lum ở cửa trại và ở các dãy nhà trong trại. Hơn nữa hàng trăm thân nhân với quần áo loè loẹt rực rỡ mặt mày hân hoan chờ đón thân nhân trên xe bước xuống. Vì quá đông người, nên N. không thấy bà xã đâu. Kiếm một lúc cũng không thấy, đang hơi buồn thì có một người vợ một người bạn nói là có trông thấy vợ N. cũng đang lùng kiếm. Lúc đó N. mới thấy nhẹ nhàng trong lòng.

Ngày hôm sau có tin trên báo là tỉnh Ansbach là tỉnh đêm qua có trận động đất nhỏ. (Vùng Ansbach cả tới mấy trăm năm nay, không có động đất gì cả). Ai nấy đều ngạc nhiên, về sau vỡ lẽ là nhịp lên xuống ân ái trong phòng the đêm qua của cả trăm ngàn binh lính đã synchronized đến nỗi làm rung chuyển động đất. Đó là chuyện tếu để chấm dứt bài thư ngoài mặt trận: Desert Shield/ Desert Storm.

A soldier’s best friend: Photographer captures the incredible bond between American servicemen and working dogs on the front-line

By ALEX GREIG

PUBLISHED: 10:10 AEST, 16 May 2014 | UPDATED: 04:24 AEST, 19 May 2014

dailymail.co.uk/news

Quân đội Hoa Kỳ có một lực lượng khoảng 2.500 con chó làm việc trong thời kỳ đỉnh điểm của các cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq. Và mặc dù thật hấp dẫn để tưởng tượng tình bạn giữa các sĩ quan quân đội và những chú chó của họ, nhưng đây không phải là kịch bản giữa người và vật nuôi. Những chú chó được quân đội coi là thiết bị có thể tiêu hao, cần được thay thế khi cần thiết. Tuy nhiên, đối với một số lính TQLC và những con chó của họ, mối quan hệ nghề nghiệp biến thành một thứ gì đó nhiều hơn sau khi cả đội cùng nhau chịu đựng sự khủng khiếp của chiến tranh.

Tạp chí National Geographic số ra tháng 6 nêu bật một số mối quan hệ thân thiết nhất đã sống sót sau sự khắc nghiệt của chiến tranh, chẳng hạn như Jose Armenta và chú chó chăn cừu Đức Zenit của anh ta. Armenta nghĩ Zenit chỉ là một vũ khí khác trong kho vũ khí của mình – cho đến khi anh ta bước lên một chiếc IED và mất cả hai chân dưới đầu gối và Zenit, theo giao thức, được giao cho một người lính TQLC khác. Armenta nói với National Geographic: “Anh ấy giống như chiếc khiên đã mòn của tôi. ‘Mỗi vết xước đều kể một câu chuyện. Và không có gì cảm thấy ổn nếu không có anh ấy. ‘

Chó làm việc: Hạ sĩ Hải quân John Dolezal chụp cùng Cchaz, một chú chó Malinois của Bỉ, tại Twentynine Palms ở California. Những chú chó được nuôi tại Căn cứ Không quân Lackland ở Texas, cơ sở nuôi chó chính của quân đội, được đặt tên bắt đầu bằng một chữ cái kép

Chải lông: Trung sĩ Bourgeois cắt móng chân của Oopey trước một nhiệm vụ ở Afghanistan. Người giải quyết quan tâm đến mọi nhu cầu của chó, tìm hiểu kỹ thuật hô hấp nhân tạo ở chó cũng như cách phát hiện chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương ở chó, bệnh gây ra khoảng 5% số chó được triển khai

Huấn luyện: Sgt Marine Gunnery. Kristopher Knight điều khiển Ronnie nghe thấy tiếng súng tại Yuma Proving Ground ở Arizona, để chú chó học cách giữ bình tĩnh trong cuộc đọ súng. Một số huấn luyện viên đeo tua-bin, chơi trò kêu gọi cầu nguyện và mang theo động vật trang trại để chuẩn bị cho những con chó thăm viếng các điểm thường đến, âm thanh và mùi của Afghanistan

Kiểm tra tần số: Trung sĩ Cartwright đã cho Isaac đánh hơi tìm vũ khí và chất nổ trong một tầng hầm ở Kandahar. Một con chó được huấn luyện để ngồi hoặc nằm xuống và không sủa khi nó tìm thấy mùi hương mục tiêu. Người huấn luyện thưởng cho con chó bằng cách để nó nhai đồ chơi của mình

Liên kết: Bộ Tham mưu Quân đội, Sgt. Jason Cartwright có mối quan hệ với chú chó săn Labrador của mình, Isaac, trong một nhiệm vụ phá vỡ tuyến đường tiếp tế của Taliban. Chó rất nhạy cảm với cảm xúc của người giải quyết. Jay Crafter, một huấn luyện viên cho quân đội, nói: ‘Nếu bạn có một ngày tồi tệ, con chó của bạn sẽ có một ngày tồi tệ’

Ý thức phi thường của một con chó về mùi hơn 100.000 lần so với con người trong một phần trên cấu trúc được gọi là hốc khứ giác (bên phải). Mê cung này hàng chục xương mỏng như giấy được lót với hàng triệu cơ quan cảm nhận mùi hương được gắn bởi các tế bào thần kinh vào não, nơi phân tích các mùi hương. Hít hà lên đến 5 lần một giây, một con chó liên tục khảo sát môi trường xung quanh và thậm chí biết qua lổ mũi mà nó phát hiện một mùi hương. Tất cả đều giúp chó chiến đấu xác định IED

Hero dogs issue: The June issue of National Geographic  

Heartwarming moment Army vet is reunited with service dog

https://www.dailymail.co.uk/news/article-2629893/Dogs-war-Inside-incredible-bonds-servicemen-working-dogs.html#v-3458166285001

Nhân 30/4 nghĩ về nghĩa trang quân nhân VNCH

Võ Ngọc Ánh

Gửi tới BBC từ Tacoma, Washington, Hoa Kỳ

15 tháng 4 2021

Nguồn hình ảnh, Đổ Trung Dũng

Chụp lại hình ảnh,

Mộ tử sĩ VNCH được cải táng ở Bình Thuận

Trong cuộc chiến ý thức hệ trên dải đất hình chữ S, Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu trên lãnh thổ của mình, điều kiện hậu cần tốt nên đa phần người lính tử trận được đưa về quê nhà an táng.

Năm 2008, gần một tháng sau khi vào Sài Gòn làm việc, tôi đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa để tìm hiểu, thăm viếng.

Đây là nơi chôn chất những người lính của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại duy nhất tôi biết được sau năm 1975.

Điểm đầu tiên tôi đến viếng là đền tử sĩ. Bên ngoài cổng tam quan nhìn vẫn còn cứng cáp. Bước lên khỏi nhiều bậc tam cấp là một khung cảnh hoang tàn như ngôi miếu hoang nhiều phần đã đổ sụp bày ra trước mắt. Rời nơi đây tôi đến khu chôn cất những người lính.

Lúc này nghĩa trang quân đội Biên Hòa đã có tên Nghĩa trang Nhân dân Bình An từ hai năm trước.

Để được vào được bên trong nghĩa trang, tôi phải xuất trình chứng minh nhân dân cho người gác cổng ghi lại thông tin và trả lời những câu hỏi, “vào làm gì?”, “viếng ai?”…

Nơi an nghỉ bị kiểm soát

Đã có hơn 18 nghìn quân nhân bên phía Việt Nam Cộng Hòa được chôn cất nơi đây trước ngày 30/04/1975 trong các ngôi mộ giống nhau.

Giờ đây, trong tầm mắt theo bước chân tôi là một khung cảnh trông lộn xộn của bề ngoài của các ngôi mộ.

Nhiều ngôi mộ mới được trùng tu, xây thêm với gạch men, đá hoa cương, nước sơn mới xen lẫn những mộ trông hoang lạnh, rêu phong với chân nhang ít ỏi, bạc màu.

Rất dễ để thấy những bia mộ vẫn còn in dấu đập như búa gõ lên hình ảnh, tên của người lính đang nằm dưới. Dấu tích của sự căm thù bên thắng cuộc đã trút lên những ngôi mộ đang bị ‘cầm tù’ trong khu quân sự hơn 30 năm sau ngày 30/4/1975.

Những hố nông cùng xà bần vung vãi để phơi ra dấu vết của các mộ đã được thân nhân di dời.

Nguồn hình ảnh, Bình An

Chụp lại hình ảnh,

Những nấm mộ trong nghĩa trang hoang tàn đang được quy hoạch thành dự án bất động sản ở Bình Thuận

Một số tài liệu cũ, nhân chứng cho biết, trước năm 1975, tại miền Nam đã có nhiều khu mai táng tử sĩ thuộc cấp tỉnh (tiểu khu), binh chủng. Tuy nhiên, tôi không trực tiếp thấy được các nơi này.

Dù có thêm các khu mai táng tập trung thì cũng chỉ có một phần nhỏ người lính tử trận được đưa vào đó chôn cất. Đa số người lính Việt Nam Cộng Hòa tử trận được đưa về quê nhà an táng trong nghĩa trang của gia đình, dòng tộc, hoặc của làng, xã, tôn giáo…

Trên bia mộ cho thấy, quân nhân bên phía Việt Nam Cộng Hòa quê tôi tử trận sớm nhất vào năm 1960. Các vị cao niên kể lại lúc đó có xe đưa về, quan tài phủ cờ nước, có tiểu đội cùng về bồng súng trang trọng chào đồng đội vào lòng đất mẹ.

Tất cả người lính Việt Nam Cộng Hòa tử trận sau này ở quê tôi cũng được đưa về nhà để chôn cất theo kiểu như thế. Tôi chứng thực được điều này khi còn là một đứa trẻ đi chăn bò, lớn hơn đi tảo mộ vào đầu tháng 12 âm lịch hằng năm. Tôi đã đọc rất nhiều bia xi phía chân mộ ghi tên quốc gia “Việt Nam Cộng Hòa”, tên người lính, đơn vị, chức vụ, nơi tử trận… Trong khi đó bộ đội miền Bắc vào Nam, hoặc du kích thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam phải chết đâu chôn đó. Số còn lại phải nhờ đối phương chôn cất.

Theo số liệu từ chính quyền Việt Nam, hiện còn khoảng 200 ngàn liệt sĩ bên bên thắng trận vẫn chưa tìm được hài cốt. Con số này tương đương 2/3 tổng số (hơn 300 ngàn) quân nhân Việt Nam Cộng Hòa bỏ mạng trong chiến tranh Việt Nam.

Đưa người lính về quê an táng, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đáp ứng được nguyện vọng, giúp người thân thuận tiện trong việc chăm sóc mả mồ vốn là truyền thống rất quan trọng của người Việt.

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa với tên gọi mới là Nghĩa trang Nhân dân Bình An tọa lạc tại phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Việt Nam

Tuy nhiên, chính quyền Sài Gòn đã không nghĩ hết, sự nhân văn này đã không chiến thắng được nỗi sợ cái chết khi phải đi lính. Điều này dẫn đến nhiều người bên phía Việt Nam Cộng Hòa thay đổi sắc lính để kéo dài thời gian huấn luyện, tránh việc trực tiếp đánh nhau với các lực lượng thuộc Cộng Sản. Không ít gia đình có điều kiện chọn cách bỏ tiền để con cái có được một chân lính dễ thở, “lính kiểng” ít nguy hiểm hơn.

Họ làm tất cả điều này để tránh cái chết qua việc ít trực tiếp đối diện với đạn, pháo đối phương.

Các tài liệu nghiên cứu, báo cáo, báo chí thời đó cũ cho thấy đào ngũ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa thường trên mức 10%, theo một bài trên New York Times (27/07/1970).

Con số này theo suy nghĩ của tôi, có lẽ bao gồm cả những quân nhân vắng mặt tại đơn vị không rõ lý do ngắn hạn, ‘lính ma’ hoặc lính thay đổi đơn vị, binh chủng.

Điều này là hoàn toàn khác biệt với ngoài Bắc. Người trốn lính, cùng gia đình không thể sống được trong cộng đồng bị chế độ tem phiếu, hộ khẩu, việc làm do chính quyền quyết định, chi phối toàn bộ cuộc sống một cá nhân.

Quê nhà giúp đa số tử sĩ an nghỉ

Thế nhưng nghĩ lại thì chính sách của VNCH từng làm suy yếu quân đội nhưng phần nào giúp cho tử sĩ ‘mồ yên mả đẹp’ ngày nay.

Năm 2018, trong dịp đến tiểu bang Minnesota, tôi đã gặp ông Khiêm. Một cựu quan chức tình báo của chính quyền Sài Gòn đã ở tuổi ngoài 80.

Ông nói, chính quyền lúc đó thừa biết có chuyện bỏ tiền chạy lính. Không ít người đã bỏ tiền để được vào địa phương quân, nghĩa quân để gần nhà và ít nguy hiểm. Có người còn chạy cả giấy miễn quân dịch.

Vì thế, không ít người trong độ tuổi quân dịch dù có tên trong lính nhưng không có mặt. Số này chính là ‘lính ma’. Họ chấp nhận lương của mình do người khác lãnh, có người còn phải đóng thêm tiền hàng tháng.

Câu chuyện của cựu quan chức tình báo trên không lạ. Từ nhỏ tại quê nhà tôi đã nghe kể vô số những câu chuyện như thế. Nó sinh động hơn, khác biệt với những bài học lịch sử trong sách vốn chỉ toàn màu chiến thắng. Lịch sử bên thắng trận vốn không khác những bài PR của chế độ.

Cũng vị cựu quan chức tình báo này, chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng Hòa lúc đó không thật sự làm nghiêm, hoặc đủ sức để chấn chỉnh các vấn nạn này.

Tuy nhiên ông không thừa nhận, đây là một thất bại của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa để dẫn đến quốc gia rơi vào tay miền Bắc trong năm 1975. Mà, lý do Việt Nam Cộng Hòa thua cuộc do bị Mỹ bỏ rơi.

Nguồn hình ảnh, Công Thuận

Chụp lại hình ảnh,

Khu mộ tập thể quân nhân chết ở đồi Charlie vào năm 1971 được lập tại Chơn Thành, Bình Phước vào các năm 2014, 2015

Cuộc chiến đã lùi xa hơn 46 năm, cùng người Việt nằm trong đất vẫn còn bị đối xử bên thắng – bên thua.

Bên thắng cuộc có chính quyền bỏ công, tiền của để tìm kiếm, quy tập. Bên thua cuộc chỉ biết nhờ người thân, hoặc đồng đội đủ can đảm đối mặt với thách thức từ chính quyền, hoặc bác ái trong các tôn giáo.

Nghĩ an ủi cho cho những người quá cố, nhờ đa số người lính bên phía Việt Nam Cộng Hòa được đưa về quê an táng đã giúp việc chăm sóc của thân nhân giờ được thuận tiện hơn.

Chính sách xưa hóa ra giúp các tử sĩ không phải chịu cảnh ‘cầm tù’ trong mộ hơn 30 năm như Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.

39 năm dưới nền đất lạnh

Hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương rời chiến cuộc với một chân bị mất vào tháng 2/1975 trong trận đánh ở Chơn Thành. Ông còn phải vào trại cải tạo ở Phú Khánh (nay là Phú Yên) 5 năm. Khi ông trở về nhà tại quận 4 vào năm 1980, Sài Gòn đã trở thành TP Hồ Chí Minh và ông cũng không thể ở trong ngôi nhà của mình nữa.

“Tôi về Sài Gòn, trình diện ở quận 4, sau đó họ không cho tôi ở nên tôi lên vùng kinh tế mới, đi tự túc. Lúc trước có quen một cô ở Chơn Thành, tôi lên đây ở, rồi thành vợ chồng. Hai người đi làm mướn, đi cạo mủ cao su.”

Nguồn hình ảnh, Công Thuận

Chụp lại hình ảnh,

Thương phế binh Võ Phùng Dương đã dành nhiều năm tìm kiếm hài cốt đồng đội.

“Tôi ở đây, vẫn nhớ anh em còn nằm lại An Lộc,” ông bắt đầu kể về hành trình thầm lặng của mình. “Suốt thời bao cấp khổ cực và nguy hiểm, tôi nhớ mấy chỗ đó nhưng không dám đụng vô. Lúc đó mình mới đi cải tạo ra, coi như là ra tù, còn nhiều khó khăn. Hồi đó đụng vô mấy chuyện này là ghê lắm, bị xử bắn chứ không đùa.”

Đến năm 2011, ông Dương mới trở lại An Lộc để bốc cốt. An Lộc xưa giờ đã thành thị xã Bình Long sầm uất. Chiến trường ngày ấy đổi thay hoàn toàn, nhưng ông vẫn nhận ra những nơi chốn mà ông đã chôn đồng đội.

“Gần 40 năm, nhiều nơi người ta xây nhà, cốt anh em nằm dưới nền đất lạnh, đào mất thời gian lắm. Nhiều nơi họ ban đất, mình tới trình bày, nói ở đây hồi xưa có chôn anh em, thì họ cho đào. Có khi trong nền nhà có 5-7 người nằm, họ cũng đào lên rồi giao cho mình,” ông thuật lại.

Trong vòng 3 năm, từ 2011 đến 2013, ông Võ Phùng Dương cùng một số anh em, bạn bè đã cải táng được 65 bộ hài cốt, chủ yếu là thành viên của Liên đoàn 3 Biệt động quân và một số đơn vị khác. Ông cũng kết nối được nhiều gia đình người thân.

Khu mộ tập thể quân nhân chết ở đồi Charlie vào năm 1971 được lập tại Chơn Thành, Bình Phước vào các năm 2014, 2015

“Đào lên thì có người được nhận diện qua thẻ bài, có người qua các di vật,” ông chia sẻ. “Trong số 65 bộ hài cốt, có 10 bộ là vô danh, còn xác định được hết. Tôi viết tên anh em ra giấy rồi photocopy, xong đem xuống Long Khánh, Hố Nai, Biên Hòa… hỏi tìm thân nhân. Cũng tìm được một số. Đến nay đã có mười mấy gia đình đến nhận.”

“Người thân đa số vào thăm, họ khóc, thắp nhang, rồi họ để lại đó chứ không đem về. Họ nói đem về cũng khó khăn, bốn mươi mấy năm rồi, thôi ở lại đó với anh em,” ông Dương kể.

Người về từ Charlie

Sau khi đưa những “chiến hữu” từ An Lộc trở về an táng, năm 2014, ông Võ Phùng Dương lại cùng các cựu quân nhân VNCH lên Kon Tum.

Đồi Charlie là một điểm nóng khác trong Mùa hè đỏ lửa 1972. Nơi đây được biết đến nhiều hơn qua ca khúc “Người ở lại Charlie” do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết về Trung tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Nhảy dù, tử trận ngày 12/4/1972.

“Có anh ở Kon Tum dẫn mấy anh em đi tìm. Lên trên đồi đào được một hố chôn tập thể. Có tới 20 bộ hài cốt quân nhân VNCH,” ông Dương kể. “Ngoài ra tụi tôi còn tìm thấy 5-6 hài cốt bộ đội nên báo cho chính quyền.”

Thương phế binh Nguyễn Công Lý và kỷ vật chiến tranh đem về sau chuyến tìm kiếm hài cốt ở Lào

Ông Dương và nhóm tìm kiếm đi hai lần lên Kon Tum. Những hài cốt quân nhân vô danh từ đó được đưa về táng chung trong một ngôi mộ ở Chơn Thành, Bình Phước với tấm bia tưởng niệm ghi “Memory – Charlie – Hill”, cùng tên của Trung tá Nguyễn Đình Bảo. Thông tin trên bia còn cho biết các quân nhân trong ngôi mộ tập thể thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh. Xung quanh là 13 ngôi mộ của tử sĩ do ông Dương đưa về từ An Lộc.

“Mấy bộ hài cốt từ An Lộc là tôi mang về lúc khó khăn, không đưa đi chôn trên đó được. Tôi bỏ cốt trong hũ rồi đậy kín, để anh em ở trong nhà mình, một thời gian sau tìm thêm các anh em khác mới đưa ra đây táng.”

“Chỗ này hồi trước có nhiều anh em đến viếng. Sau mọi người tổ chức tưởng niệm, rồi có người chụp hình đưa lên mạng, về sau bị cấm luôn, không vào được nữa,” ông Dương cho biết.

Câu chuyện của ông Dương là một lát cắt nhỏ trong vô vàn những hành trình âm thầm tìm kiếm quân nhân VNCH mất tích thời chiến tranh. Có những cuộc tìm kiếm có kết quả, cũng có nhiều người tới chiến trường xưa chỉ để lấy một nắm đất trở về.

Năm 2016, sau nhiều nỗ lực và với sự giúp đỡ tài chính của nhiều người, bà quả phụ Nguyễn Văn Đương đã sang tỉnh Savannakhet (Lào) để tìm hài cốt chồng. Đại úy Đương, nhân vật trong bài hát “Anh không chết đâu anh”, đã tự sát khi đơn vị của ông bị vây trên đồi 31 trong chiến dịch Lam Sơn 719 vào năm 1971.

“Chúng tôi mang trái cây, hoa từ Sài Gòn, sang đó đặt mua xôi và gà đem lên đồi cúng cho tất cả vong linh,” ông Nguyễn Công Lý, cựu quân nhân nhảy dù cùng đi với bà quả phụ Nguyễn Văn Đương sang Lào, kể lại. “Bây giờ chết rồi thì không còn phân biệt cộng hòa với cộng sản. Chúng tôi khấn cho tất cả, rồi bà Đương lấy một nắm đất trên đồi mang về Việt Nam, đưa vào chùa, coi như đó là một phần xương cốt của người đã khuất.”

Chiến tranh khép lại đã 45 năm, nhưng những cuộc kiếm tìm vẫn tiếp diễn trong âm thầm.

“Các gia đình, các hội nhóm cựu quân nhân, rồi nhà thờ vẫn kết nối, hỗ trợ nhau tìm kiếm, cải táng cho các tử sĩ,” ông Huỳnh Công Thuận chia sẻ. “Một điều động viên lớn đó là lớp con cháu sau này cũng tham gia, hỗ trợ cho những người đã già như tụi tôi.”

Nguồn hình ảnh, Nguyễn Công Lý

Chụp lại hình ảnh,

Bà quả phụ và con trai đi kiếm hài cốt Đại úy Nguyễn Văn Đương trên đồi 31 ở Lào

“Mình còn sống là may mắn lắm, nên làm được gì cho anh em thì làm,” cựu quân nhân Võ Phùng Dương tâm sự. “Mình tật nguyền nhưng tay vẫn cầm cuốc đào được, tâm mình không có tật, chỉ nghĩ phải làm gì đó cho anh em, để vậy thì thương lắm.”

Một ngày 30/4 nữa đến gần, trong lòng những người như ông Dương lại chất chứa nỗi niềm. “Mộ anh em ở đấy, khi nào nhớ nhớ thì tôi vào thắp nhang. Không có ngày giỗ. Tôi cũng tránh mấy ngày lễ kẻo rắc rối, chỉ đi vào ngày thường.”

Câu chuyện cảm động của một Đại Tá phi công Hoa Kỳ từng bị tù VC William S. Reeder

William S. Reeder

Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa.

“Thái Dương” NGUYỄN VĂN XANH

Thursday, August 13, 2015

We reap what we sow from life to life (Buddha’s Teachings)

Lời nói đầu:

Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người “anh hùng” được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình.

Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku). Thời gian ấy – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ, có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn gọn trong phần tổn thất của quân bạn: “Phi Đoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích”. Chấm hết!

Nhưng với một phi công Đồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Đại-tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng tấn công AH-1G Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ.

NHT

o O o

Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nhì của tôi khởi đầu vào ngày 7/12/1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của TT Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phải công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài.

Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt tấn công mà người Mỹ quen gọi là “Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972″ (1972 Easter Offensive) *. Đây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây.

*[1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụng “Mùa Hè Đỏ Lửa” thay cho “Easter Offensive”]

Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây – giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui.

Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ.

Hôm đó là ngày thứ hai 09/5/1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy và luôn luôn để anh bay chung với tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ!

Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Địa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Động Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phong thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ.

Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình.

Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày.

Sau khi cất cánh khỏi phi trường Kontum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch.

Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của định. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc. Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim – dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ.

Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngày trước khi bị bắt.

o O o

Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền, và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Đã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá.

Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai cái hamburger còn sống.

Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông – là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì cũng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắt ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái “cầu” này để vào trại.

Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ – gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bị gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Đêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột!

Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại.

“Nhà vệ sinh” này thực ra chỉ là vài cái hố xí để bạn phóng uế xuống. “Vấn đề” là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có “nhu cầu”, người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là “nhà vệ sinh” ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không có bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy.

Theo ký ức của tôi thì nước uống không có “vấn đề”. Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có “vấn đề”. Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được “chiêu đãi” bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây “yucca” ở châu Mỹ La-tinh. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hề được cạo râu.

Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi.

Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại.

o O o

Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ!

Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi “phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi”, tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó.

Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang.

Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát. Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái ngược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng.

o O o

Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực, mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh.

Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, tôi còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất cả sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon. Đừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Đây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình ngày càng tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng, kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh.

Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Đế đã ban cho.

Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực.. Tôi loạng quạng bước đi. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn.. Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời!

Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậy, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày. Đôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh. Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó.

o O o

Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bước đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây “cầu” bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống vào kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng vào người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa!

Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penecillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm công việc áp giải.

Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới “khách sạn Hilton – Hà Nội” lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến.

o O o

Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng.

Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh thứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh.

Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho “trang chủ” mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong một ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết.

Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, trở ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do.

Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh – vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết. Và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy.

NGUYỄN VĂN XANH, một người như mọi người!

William S. Reeder

Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa.

 “Thái Dương” NGUYỄN VĂN XANH

Bill Reeder  

MY FRIEND XANH – Bill Reeder in Vietnam

http://www.thebattleofkontum.com/memories/136.html

NOTE: This article first appeared in the VHPA Aviator magazine 2009 Vol. 27, No. 2. It is here in the Memories Book of the Battle of Kontum web site with the permission of Bill Reeder.

I began my second tour of duty in Vietnam on December 7, 1971. President Nixon’s policy of withdrawal through “Vietnamization” was well underway. The burden of fighting the war was being passed more fully to the Vietnamese and U.S. troops were being brought home at a dramatic rate. Indeed, and ironically in retrospect, the plan seemed to be going well. There was little enemy activity inside South Vietnam and the insurgent guerrilla war had pretty well ended. But the regular army forces of North Vietnam were growing in strength just across the borders in Laos and Cambodia, as our missions in support of MACV-SOG clearly showed.

The relative calm that had settled over the guerrilla war in the South was not to last long. In the spring of 1972, the North Vietnamese launched their major offensive of the war. It became known as the 1972 Easter Offensive. It was not an uprising of the insurgent Viet Cong, as had been the case in the Tet Offensive of 1968. Instead, this campaign was a series of conventional attacks by the regular North Vietnamese army across the demilitarized zone (DMZ) from Communist North Vietnam, and from sanctuaries in Laos and Cambodia with advances designed to cut the country of South Vietnam in half through the Central Highlands, and to strike the Southʼs capital city of Saigon. The Communists failed in 1972 after some very hard fighting by the South Vietnamese army and air force, and the determined help of those American forces remaining.

The offensive began in April 1972 with advances of North Vietnamese forces toward Saigon from out of Cambodia, and attacks toward the ancient capital of Hue from out of North Vietnam across the DMZ. The final movement of this well-orchestrated battle plan came from northern Cambodia and southern Laos as the North Vietnamese army attempted to replicate the 1954 successes of the Viet Minh against the French in wrestling control of a wide belt across the central part of the South, and destroying French military capability in the process. In 1972, the Communist armies achieved some initial success, but were denied every major objective. In the north, they advanced only to Quang Tri, and were there defeated by South Vietnamese airborne. In the south, they moved only as far as An Loc before being defeated. And in the Central Highlands, they captured some outposts surrounding Kontum, but were again defeated.

I recount this bit of history as background to a personal drama that played out at this time for me, and for a South Vietnamese Air Force pilot named Xanh Nguyen, or actually Nguyen Xanh by Vietnamese name ordering, for they always place the last name first.

When the 1972 Easter Offensive began, I was an AH-1G Cobra attack helicopter pilot with the 361st Pink Panthers, flying from the American base at Camp Holloway, near Pleiku, in the Central Highlands. Lieutenant Nguyen Xanh was with the VNAF Jupiter 530 Squadron, flying A-1 Skyraider fixed wing attack airplanes from Pleiku airbase at the same time. We did not know each other, had never met or even seen each other.

On May 9, 1972, I was launched at dawn on a tactical emergency as mission lead of a flight of two Cobras to support the besieged army camp at Polei Klang – almost due west of Kontum and not too far from the Cambodian border. There were North Vietnamese infantry and tanks attacking the base, and the situation was grim. We made several runs and expended all our rockets, grenades, and machine gun ammunition and headed to Kontum airfield to re-arm and re-fuel. My other crew member in the front seat of the Cobra, my co-pilot/gunner, was First Lieutenant Tim Conry from Phoenix, Arizona. Tim was the most outstanding young officer I had known, and for that reason, I tucked him under my wing as his platoon leader, and from his arrival in the unit, he always flew with me. He excelled as an aviator and as a man. And he would become a hero that day.

On our way back out, we were diverted to a larger attack taking place at another camp situated right at the Tri-Border, the spot where the borders of Vietnam, Laos, and Cambodia all come together. The place was called Ben Het. There was a Vietnamese ranger battalion of about 300 and two American advisors, Mark Truhan and Bob Sparks. They were under attack by elements for two North Vietnamese divisions (several thousand soldiers) supported by tanks. The tanks had penetrated the perimeter, and enemy infantry occupied much of the base. En route to Ben Het, I glanced toward Polei Klang as I flew abeam. There was a lot of activity, and I could see A-1 Skyraiders in their bombing patterns. I then saw one of the A-1s hit and crash in flames. The pilot ejected and I could see his parachute. I radioed for permission to go to Polei Klang and cover the rescue. Permission was denied. I asked again, denied, more tersely this time, again. I didn’t yet know the degree of urgency at Ben Het, but was infuriated at the moment for not being allowed to help another pilot in obvious need.

I flew into a hornet’s nest at Ben Het. When we arrived, we saw tanks within the perimeter wire, and enemy infantry everywhere. The friendly survivors had consolidated in the command bunker at the center of the camp and were fighting hard to keep the enemy at bay. We fired some ordinance and then supported a special helicopter with a new type of tank killing missile. When we’d expended all our ordnance, we returned again to Kontum to once again rearm and re-fuel. We then launched back out on our third combat mission of the day, returning to Ben Het.

After take-off from Kontum, we were asked to escort a re-supply helicopter into Ben Het. The beleaguered force was running desperately low on ammunition, and had no more anti-tank ammunition at all. We joined with a Huey helicopter carrying the ammunition resupply, and escorted him into Ben Het, low level, on the tree tops, as we’d done so many times before on our special operations missions across the border. We approached the camp with guns blazing, ours and theirs. In my front seat, Tim was laying down a well aimed path of protective devastation with the mini-gun and grenade launcher in our turret. I was firing pairs of rockets. At the same time, we were engaged by numerous enemy small arms and anti-aircraft weapons as we continued inbound. The Huey successfully completed its critical mission, largely because of Tim’s carefully directed suppressive fire. The Huey came to a very brief hover, kicked off the ammo boxes and lifted out. We turned to cover his departure and immediately began taking hits from several enemy weapons. My Cobra came down spinning and burning. We crashed and exploded a moment later. Tim and I just got out. He died later that day. I had a badly broken back, burns on the back of my neck, a piece of shell fragment sticking out of my ankle, and superficial wounds on my head and face. I was in the midst of many hundreds of attacking enemy soldiers.

Mark Truhan, one of the two American advisors at Ben Het, sent out a force to try to get to me, but after a number of casualties, they had to abort their mission. Gutsy move. Their own survival was tenuous. I could crawl about in great pain, and did move to cover and then out of the immediate area, able to evade my foes for three days before being captured. I was interrogated for a couple of days; treated pretty brutally. I was a physical mess. My back was broken. My ankle wound had filled my boot with blood that was now dried solid. I was three days unshaven. I’d had no control over my bowels or bladder and had soiled myself badly. And I’d had several leaches cling to my body, all of which I’d pulled off, except for one which unknowingly was half way into my left nostril. My captors got a laugh from that. I was questioned, beaten, threatened, and had my arms tied behind my back with the ropes increasingly tightened during interrogation, until finally both my shoulders dislocated as my elbows were pulled tightly together against my broken spine. Finally, the interrogations ceased, and I was marched for three days to a jungle prison camp that, by my estimation, must have been just across the border in northern Cambodia. I was given my boots back, but no laces and no socks. After three days of walking, my feet were like raw hamburger by the time I limped, in much pain, up to the entrance to my first prison.

The site was typical of the image many have of a jungle prison camp. It was carved out of the triple-canopy rain forest and built of bamboo. The camp was surrounded by a bamboo wall that was reminiscent of an old cavalry frontier fort in the American West. There was one wall concentrically within another, with a ditch dug between the two, almost moat-like. In the ditch were many punji stakes – pieces of bamboo, knife sharp, dipped in human waste and stuck in the ground. If you fell on these, you’d die of a wound to a vital organ, or bleed to death, or at least die of infection if you were not killed outright. Across this ditch was a log that one had to balance across to gain entry to the camp. Inside the walls were many bamboo cages that housed the prisoner population. There were South Vietnamese military, there were indigenous mountain people referred to as Montagnards or Mountainyards who had allied with U.S. Special Forces, and there were two Americans, myself and another helicopter pilot, Wayne Finch, captured a month earlier. At least a couple hundred prisoners altogether.

Conditions in this camp were deplorable. We lived like animals. We were kept in cages, most of which were not tall enough to stand up in. That wasn’t necessary anyway, because they kept our feet in wooden stocks. With my broken back, I could not lie back; so I slept sitting up. And every night rats scurried through the cages and nibbled on my ankle wounds, and I couldn’t move my feet in the stocks, and couldn’t keep them away, and I hate rats to this day. The only time we got out of these cages was for a daily toilet call at the camp latrine. The time never seemed to be the same on any given day, and if a prisoner’s internal schedule could not wait for the appointed time (many suffered dysentery) then he went all over himself in the cage. When they did let us out, it was a walk to the “facility” in one corner of the camp. On my first visit, I discovered that the latrine was a couple of holes in the ground that you squatted over to relieve yourself. Problem was that many of the sicker prisoners were not able to hold themselves until getting all the way to the holes, and left their waste in piles all around that area. Some of the very sickest prisoners, near death, were placed in hammocks right next to the latrine, and they would either lay there and soil themselves, time after time, or roll out of their hammock, if they could, and take a couple of steps and go there on the ground. The result was a substantial accumulation of human waste all around the holes that were the latrine. Those able to control themselves were forced to walk through that waste field and squat over the holes. On return to our cages, we had no way to clean ourselves.

I don’t remember water being a problem. It was delivered in pieces of bamboo, and there seemed to be sufficient quantities. It was supposedly boiled, but I still came down with bloody dysentery. Food was a problem. Our diet was almost exclusively rice. We’d get one grapefruit sized ball mid-morning, and another mid-afternoon. Occasionally, we’d get the treat of a tuberous root called manioc. It is very much like (and may be the same as) yucca in Latin American countries.

My weight went from around 190 pounds to something around 120 in just a few weeks. I was skin hanging on bone with beard that grew very long over time. I did not shave for over five months. And I received no medical attention at all. And no one fared any better. The South Vietnamese next to me in my cage had a severe chest wound that had been bandaged long ago, but I never saw the dressing changed, and the hole in his chest wall was never repaired. He was young and strong, but I’m certain he did not survive. We lived like animals, and under these filthy, starvation conditions, without medical care, it seemed that someone died almost every day. The bodies would be carried out and buried on a hillside just outside the camp.

On July 2, 1972, I was taken outside my cage and lined up with a group of prisoners. There were about 25 South Vietnamese and one other American, Wayne. I would soon learn that one of our group was a pilot who had been shot down the same day I had, in an A-1 Skyraider at Polei Klang. The very same Vietnamese pilot I’d asked to go rescue, but been refused. His name was Lieutenant Xanh. I would never forget his name. Never. We were addressed by the Communist camp commander and told that we were going to travel to a new camp, a better camp, a place where we’d get better food and medical care; where we’d get mail and packages from home. He said the trip could take as long as eleven days, and that we should try hard to make it. I envisioned another jungle camp, somewhat better situated, staffed, and supplied, somewhere not too distant in northern Cambodia, or just across the border in Laos. The comment about trying hard to make it did not register in my mind at all – until some days later. I set out barefoot with all of us tied loosely to one another.

After a few days, we’d no longer be tied because we all struggled to just keep moving forward. I was weak from malnutrition, sick with untold disease, and suffering from wounds that were infected and worsening with the aggravation of the journey. I soon began to become plagued by more leaches, on top of everything else. They’d suck blood and cause infections of their own. I must have been a site. Lieutenant Xanh was there suffering the same conditions, fighting his own personal demons, that every step of the way, threatened to destroy your physical ability, or derail your mental willingness to continue. And if you did not continue to march, you would die. In normal life, you have to take some overt action to die. You have to kill yourself. As a prisoner of war, under these circumstances, that truth is reversed. You have to reach deep within yourself and struggle each day to stay alive. Dying is easy. Just relax, give up and peacefully surrender, and you will die. Many did. They died in that first jungle prison camp, and they died along the trail. Some would complete a day’s journey and then lie down to die. Others collapsed on the trail and could not continue.

The group would be marched ahead, a rifle shot or shots heard, and the pitiful suffering prisoner was not seen again. We lost at least half a dozen of our small band of 27 captives, and by the time the journey was over, Wayne Finch, the other American in our group, would be dead as well. The trip turned out to be not an eleven day hike to a new camp in the same vicinity as the one we’d departed. It turned out to be a journey lasting over a three months, taking us several hundred miles all the way up the Ho Chi Minh Trail into North Vietnam and then on to the capital city of Hanoi. It was a nightmare, a horrid soul wrenching nightmare. Every step, every day wracked my body with pain. My infections became worse; disease settled in me. I was near death. My leg swelled at least double in size, darkened in colour, filled with puss. It swelled so much, long cracks formed in the skin and puss and bloody stinky fluid oozed from the cracks. I drug my leg like a pendulous sodden club, and its every movement lashed my whole being with the most searing pain; pain that kept my face contorted and a cry shrieking within every corner of my consciousness; pain that was burning a blackened scar deep into the centre of my very being.

My bloody dysentery worsened, and I got three different kinds of malaria and several intestinal parasites. And I hovered near death as I tried to reach the end of each horrible day’s journey of eight to ten awful, grueling miles. Each morning I’d begin a personal battle to stand and loudly moan or scream to myself through clenched teeth and pressed lips, as blood ran into my leg and brought a surge of new pain as gravity pulled blood and bodily fluids down into the carcass of leg and pressure grew against decaying flesh and failing vessels. And there was Lieutenant Xanh, suffering badly himself, but always encouraging me, always helping as he could. We’d eat a paltry morsel of rice for dinner, and he’d tell me this was not how Vietnamese ate. There were many fine foods in Vietnamese culture. A Vietnamese meal was a delight. Don’t judge the cuisine by what we were given to eat. I believed him, and did not. And he was right, of course. I tried to maintain a sense of humor. It was hard, but it was necessary. Your spirit is the most important factor in survival, and a sense of humor, even under the very worst conditions, helps maintain spirit, and in spirit lives hope. And again, Lieutenant Xanh helped. He was always concerned about me, and did all he could to help me remain positive, to be hopeful. As bad as things got, I never gave up hope, not even the day I would have died had it not been for Xanh. I mustered all my will each day just to wake, stand, and take a step. Then I fought hard for the remainder of the day to just keep going, to keep moving along the trail. I could barely walk, but somehow I continued, and survived each day, to open my eyes in the morning to the gift of one more dawn.

On the worst day of my life, I fought so very hard. I faltered. I dug deeper. I staggered on. I faltered again, and I struggled more, and I reached deeper yet, and I prayed for more strength. And I collapsed, and I got up and moved along; and I collapsed again, and again; and I fought, fought with all I had in my body, my heart, and my soul. And I collapsed, and I could not get up. I could not will myself up. I was at the end of my life. And the enemy came; the guard looked down on me. He ordered me up. He yelled at me. I could not. It was done. And then there was Xanh. Looking worried; bending toward me. The guard yelling to discourage his effort. He persisted in moving to help me. The guard yelled louder. Xanh’s face was set with determination, and in spite of whatever threats the guard was screaming, Xanh pulled me up onto his frail, weak back, pulled my arms around his neck and clasped my wrists together, and pulled me along with my feet dragging on the ground behind him. Xanh drug me along all the rest of that day. Occasionally, he was briefly relieved by another prisoner, but it was Xanh who carried the burden that day. It was Xanh who lifted me from death, at great risk to his own life, and carried me, and cared for me, until we completed that long day’s journey.

The next morning, I went through the normal agonizing ritual of waking up, and standing, and dragging my leg through those first determined steps. It was more of a struggle than ever before. I mustered the will, and I went on. At the edge of the encampment was a broad log that spanned the rapids of a river. I started across, tried to balance. Pain awful, very weak, equilibrium gone. No sense of balance, worthless leg is throwing me off; begin to slip off the side of the log, then falling onto the rocks in the rushing water below. Xanh and Wayne moved back off the log and came to my rescue. They pulled me from the river and onto the bank. They pleaded for the group to remain at this camp until I was able to travel again. They were ordered away. They would not leave me. They were drug away and forced across the log bridge at gunpoint. And they were marched away with the rest of our prisoner group. I never saw Xanh again.

As far as my fellow prisoners knew, I was left at that camp to die, as others had been. But for some reason, the Communists decided to give me penicillin injections for several days. I began to show some improvement. After a time, I was able to stand, and as soon as I was able to walk again, I was put back on the trail, this time traveling with groups of North Vietnamese soldiers moving north, and accompanied by my own personal guard. It continued to be an agonizing trip, but the worst was behind me. I even found the opportunity to escape once when I got one turn ahead of my guard on the jungle trail. But he quickly tracked me down, and once he decided not to shoot me in his rage, he recaptured me, and the journey continued.

Eventually, I joined with another group of South Vietnamese prisoners as we entered North Vietnam. I was still in pretty bad shape, and very much appreciated this group of South Vietnamese prisoners who helped me continue my awful march north. One in the group became a special friend, to whom I also owe my life. He is Lieutenant Colonel Ke Nghiem. Ke had secreted a gold Cross pen away in the lining of his uniform, for use to gain him some future advantage during his captivity. Instead, at one point when I was very ill with malaria, he traded the pen for six potatoes and then ensured they were prepared and fed to me, one each day. Ke also became my motivator and mentor in the ways of surviving in this beautiful, but hostile land. My journey continued painfully, agonizingly, but ultimately I reached Hanoi. There I went into North Vietnam’s prison system, and ended up at the infamous Hanoi Hilton from where I was released at the end of the war.

I inquired about Lieutenant Xanh after I returned to the United States. I could not find any information. I asked Vietnamese military students attending U.S. Army courses. No one could find any information. After the fall of South Vietnam in 1975, I intensified my search. No information. After several years, I was reunited with one former member of my first group of South Vietnamese prisoners, Tang van Pham, and also one from the second, Ke Nghiem. They sought information for me. First nothing, and then word that Xanh had been re-imprisoned after the fall of Saigon, and then the conclusion that he’d probably died after years of imprisonment. But I still hoped to find some information about what had happened to Xanh and maybe a little about him and his family. I’d done internet searches in recent years, always with no luck. Then a few weeks ago, I tried again. I stumbled onto a site for pilots who’d flown A-1 Skyraiders in the Vietnamese Air Force, some from Xanh’s old unit. I dropped a note to the webmaster, and within days found myself in e-mail contact with Xanh, and then a phone call – the first time we’d spoken in 35 years. I then saw Xanh a short time later in an emotion filled reunion in Southern California. I met his wife and spent two wonderful days sharing stories, good food, and enjoying each other’s company. At our first encounter, I looked upon an older man, but instantly I saw the soul of my beloved friend in his eyes. I’d not seen him since I watched him forced across that log and marched away, knowing that I owed him my life; what there was left of it. But there in the jungle, I made a promise to myself and to Xanh. Since he’d worked so hard to help me live through those two toughest days of my life, I felt like I owed him my very best to try to do my part to make his efforts worthwhile – to survive the rest of my journey and somehow get home at the end of it. What he’d done for me saved my life, and Xanh’s selfless actions gave me even more determination to overcome everything between me and the freedom that waited at the end of my captivity. Xanh Nguyen has always been a great man, and now he is a great American. I am so thankful he was my friend when I needed him, and I am grateful I have found my friend again.

William S. Reeder, Jr., Ph.D. Colonel, U.S. Army (retired)

Quân lực Hoa Kỳ có thêm một thiếu tướng gốc Việt

07/08/2020

VOA Tiếng Việt

Tân Thiếu tướng gốc Việt William Seely III tuyên thệ lại lễ trao quân hàm hôm 31/7/2020 tại căn cứ không quân MacDill, Florida. Photo Twitter USMARCENT

Ông William Seely III, một quân nhân được sinh ra từ Chiến tranh Việt Nam và sau này trở thành người lãnh đạo một cuộc chiến do Hoa Kỳ dẫn đầu chống lại ISIS, vừa được thăng quân hàm thiếu tướng và nhận nhiệm vụ mới. Hôm 31/7, Lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tham gia Bộ Tư lệnh đặc trách vùng Trung đông (USMARCENT) viết trên Twitter: “Xin chúc mừng Chuẩn tướng William Seely. Hôm nay Chuẩn tướng William Seely được thăng quân hàm tại buổi lễ được tổ chức ở tổng hành vinh của USMARCENT ở căn cứ không quân MacDill, bang Florida.”

Thiếu tướng Carl Mundy, Tư lệnh USMARCENT, gắn quân hàm cho tân Thiếu tướng gốc Việt William Seely, ngày 31-07-2020. Photo Twitter USMARCENT.

Theo thông tin trên Twitter của ông Seely, buổi lễ thăng quân hàm được tổ chức trực tuyến do nữ Thiếu tướng Loretta Reynolds, Phó Tư lệnh Truyền thông của Quân chủng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, và Thiếu tướng Carl Mundy, Tư lệnh USMARCENT, làm chủ tọa.

Ngay sau khi được thăng quân hàm, tân Thiếu tướng Seely hôm 3/8 được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường sĩ quan The Joint Forces Staff College (JFSC) tại Norfolk, bang Virginia.

Ông phát biểu tại buổi lễ bổ nhiệm được phát trực tiếp với sự hiện diện của phu nhân Nhung Ho Seely và hai con, một trai, một gái: “Tôi trân trọng cảm ơn cộng đồng người gốc Việt đã ủng hộ tôi trên con đường binh nghiệp.”

Thiếu tướng William Seeky và gia đình, ngày 31/07/2020. Photo Twitter USMARCENT

Với hơn 30 năm phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ, ông Seely được Tổng Thống Donald Trump đề cử thăng quân hàm thiếu tướng, theo tuyên bố của Bộ Trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mark Esper ngày 14/01/2020. Đề cử thăng quân hàm của ông được Thượng viện chuẩn thuận vào ngày 20/03/2020.

Trước khi được đề cử, từ 07/2019, ông Seely là người đứng đầu lực lượng đặc biệt của Hoa Kỳ tại Iraq trong nỗ lực tiêu diệt phiến quân khủng bố do Nhà nước Hồi giáo (ISIS) lãnh đạo. Được biết ông đã tham gia chiến trường Iraq 6 lần và từng là giám đốc tình báo Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Ông Seely là quân nhân Thủy quân Lục chiến gốc Việt đầu tiên của Hoa Kỳ được phong cấp chuẩn tướng vào tháng 6/2016. Trang báo mạng Communities Digital News cho biết ông Seely sinh ra tại Sài Gòn trong Chiến tranh Việt Nam. Trang này viết: “Cha ông là một nhà thầu xây dựng phi trường Cam Ranh và Đà Nẵng, và gặp mẹ ông ở Nha Trang.” Trang CDN viết: “ông được sinh ra từ cuộc chiến để lãnh đạo một cuộc chiến!”