Đường phía Bắc

Lê Đại lãng

Post by Sơn râu 7 May 2024

7. Phần 7
Tại sao anh nằm đây, trên chiếc thuyền con lắc lư sóng? Lạ quá! Cường nhớ đã bị hất tung vào bầu trời đen cùng tiếng hú oan khiên vẳng đi từ một nơi nào đấy, rồi như tất cả đều mất hút vào một cõi không thăm thẳm. Anh nhớ mình bị sóng giật tung lên, rơi xuống đúng vào một lốp xe cột ngang mạn thuyền. Cánh tay như con bạch tuộc cuốn mồi, cặp chặt lấy cái lốp xe vào nách. Nước sủi bọt tức giận, chẻ thành nhiều vết dao muốn cắt rời anh ra khỏi cái vật tròn đen xuất hiện như thiên thần giáng thế. Không, không đời nào anh chịu buông nó. Nó là mẹ anh, nó sẽ sinh thành ra một đời sống, tái tạo ra anh sau lần chết hụt này.
Cường trôi trên biển mấy đêm mấy ngày, anh không làm sao nhớ hết. Lúc khỏe thì quơ tay quẩy quẩy, khi mệt thì phơi mình dưới nắng. Cứ thế, mây bay ngút ngàn miên miên vô tận. Biển không hành hung anh nữa. Biển lành tưởng ngay cả cái vỏ trứng mỏng manh cũng không bị nhận chìm. Cường đã mờ mắt, làn da móp méo như trái cam khô. Nhưng anh nhìn thấy một chỏm núi đen mọc lên từ mặt nước. Anh ngất đi trong cơn mơ kinh khiếp.
Cường được một chiếc thuyền đánh cá cứu. Người anh như đụn giẻ khi được vớt. Anh được săn sóc mấy ngày liền trong khi chiếc thuyền vẫn đi lưới. Anh cũng được biết là người ta đã vớt xác mấy chục người gần Đồ Sơn mấy ngày trước đó. Như vậy là toàn bộ con thuyền đều chết, Cường đau đớn nghĩ thầm, những giấc mơ nặng nề tức ngực lại kéo đến. Anh nhớ cái cổ trắng ngần của Thu, anh nhớ làn môi cương quyết của Đặng mím lại khi dứt khoát cho thuyền ra khơi dù biết trời sắp làm cơn cố. Anh nhớ những đống nước xanh vàng ói mửa đầy thuyền của đàn bà trẻ con trên thuyền. Không lẽ tất cả đã về bên kia thế giới. Có lẽ nào anh là kẻ chứng nhân may mắn và đau khổ. Sao lại thế được!
Cường không muốn trở về Đầm Hà. Anh đã bán căn nhà của Dũng trước khi đi, chẳng còn gì ở đó để mà về. Cường bán chiếc đồng hồ đeo tay, mua một bộ quần áo mới rồi lấy vé ô tô đi Hà Nội. Bố mẹ và em gái Cường ở gần chợ Đồng Xuân, có cửa hàng bán phụ tùng đồ xe đạp, lợi tức thu nhập hơn hẳn lương anh công chức ngày ngày đạp xe run cả đầu gối. Ông cụ ít khi có nhà, những đi về bất thường của cụ khiến Cường nghĩ cụ đang hoạt động gì đó. Nhớ hôm nào ông bảo Cường:
– Con liệu đường xuống học nghề tài công của anh Dũng.
Ông nói ngắn, gọn nhưng Cường hiểu. Hai bố con tâm sự đến sáng. Cường thấy đôi mắt bố thêm quầng, mái tóc dầy rẽ giữa của ông vẫn bềnh bồng nghệ sỹ. Ông thì thầm cho Cường biết là nhóm Bồ Câu Trắng của ông đã bị phát hiện, một vài người bị bắt, số còn lại mạnh ai nấy chạy hoặc ngưng hoạt động chờ thời. Có lẽ rồi bố sẽ bị bắt, ông nói, nhưng đến khi đó tình hình chung sẽ sáng sủa hơn. Trong số những người quen của ông, Cường có biết một vài văn nghệ sỹ tên tuổi. Nhưng với anh, đó là những tên tuổi của một thời đã qua. Cường đã tốt nghiệp phổ thông, nhưng không bao giờ đọc các tác phẩm của họ. Có vẻ như những tác phẩm mà nhiều người lầm lẫn cho là văn hóa quá khác xa với cái…văn hóa mà Cường đối mặt hàng ngày. Đó là những dòng xe đạp ngập tràn thủ đô với những bộ mặt khép kín u sầu. Đó là những cảnh chợ trời cướp bóc giành giật bán đủ các thứ có thể ráp được một chiếc ô tô chỉ thiếu mỗi cái khung. Cường không thể nào thấy “gần” được với những nhà văn tả nghệ thuật uống trà, hoặc có thể hùng hồn đòi khắc văn trên đá. Nghĩ đến họ là nghĩ đến một hoài niệm, xa rời quần chúng và thực tại. Cường không đòi họ đụng đến thực tại của ngày hôm nay, họ đã kinh cung chi điểu. Dẫu sao anh cũng tôn kính họ, như tôn kính lịch sử, mà không ai viết lịch sử của những gì đang xảy ra, nếu có, thì là một hiện thực lịch sử không cấu thành từ tim óc của một cá nhân nhưng là của một quần thể. Nhà văn là kẻ sáng tạo ư? Nghệ sĩ là kẻ sáng tạo ư? Có thể. Nhưng hắn sẽ “sáng tạo” được cái gì khi cảm thụ về chân thiện mỹ của hắn không được giãi bày, nghệ thuật được sáng tạo bằng cảm quan rất đáng phàn nàn của tập thể, một công trình tập thể đồng sắc áo. Chân lý nhân danh tập thể nên nỗi quằn quại của riêng cá nhân người nghệ sỹ đã bị tử hình.

Google images

Bố Cường không ngờ đứa con trai út có những tư tưởng gần ông như vậy. Có nghĩa là Cường vẫn khắc mẹ. Đúng, mẹ Cường là người đàn bà giống như bất kỳ người đàn bà nào khác, có nghĩa là rất thực tế. Bà vẫn cho “bố con ông là người viển vông, chết có ngày!”. Bà buôn tần bán tảo kính chồng yêu con nhưng không đếm xỉa đến việc ông làm.
Cường không ngờ là trong nhóm của bố mình có Hải. Anh mến phục chàng trai ấy, tưởng Hải là biểu tượng của thế hệ sinh sau đẻ muộn của mình. Chính vì thế mà Cường đã dốc lòng dắt dìu vợ con Hải đi. Có ai ngờ lòng tốt của anh đã trở thành tai họa.
Về lại nhà đầu óc Cường còn choáng váng. Anh gầy sọm đi tuy đầu óc còn tỉnh táo. Ông cụ biết thằng bé chưa hoàn hồn, nên cứ âm thầm tìm đường khác cho con. Một hôm ông bảo:
– Cửa khẩu Đông Hưng đã mở lại rồi đấy. Con đi được.
Cường đến Đông Hưng lúc trời gần trưa. Nắng dịu chứ không gắt. Hơi mát từ con suối biên giới lẫn trong cảnh buôn bán tấp nập làm anh ngây ngất. Cường mua một vé “xuất khẩu” giá ba ngàn đồng. Bộ đội đứng trong trạm canh thản nhiên nhìn người qua kẻ về, dễ dãi. Cường xuống đò đi qua con suối rộng chừng nửa cây số. Lên bờ, anh lại mua một vé nhập nội giá một nhân dân tệ. Vậy là anh đã ở trên đất Trung Quốc.
Nhanh nhẹn, Cường nhập vào dòng người buôn bán. Anh đi vòng quanh các chỗ bán hàng. Thôi thì đủ hạng người tứ xứ từ lục địa đổ xô ra. Anh đứng trước một gánh hàng rong, ngắm lại bên bờ bên kia. Kìa, quê hương của anh. Gần nhưng xa lắm. Những dãy núi mờ sương, bầu trời xanh cũng như khác hẳn từ bên kia biên giới, như chính bầu trời cũng bị mốc cột chia hai không thương xót. Những con người áo quần lam lũ đầu đội vai mang tần tảo quá, biết bao giờ cái nón cối che ngang tầm mắt mới được giở ra để thiên thanh bầu trời khoáng đạt. Trong lòng Cường dâng lên một cảm giác lâng lâng lạ lùng như đang đặt chân đến một tinh cầu khác, dù cảnh sắc thật ra nào có khác bao nhiêu. Anh đến điểm hẹn là một ngôi nhà nhỏ cất sau những cây cổ thụ cao ngất. Người dẫn đường đã ở đó. Một gã bộ đội phục viên, mắt một mí, da mặt đen tràm và tròng mắt long lanh sắc sảo. Nghỉ ngơi ăn uống xong, Cường theo gã đi sâu vào lục địa. Cho đến khi trời đã chập choạng, Cường nhìn thấy một con sông nhỏ. Một chiếc thuyền dài chừng mười mét đang neo chờ. Cường xuống thuyền, đưa mảnh giấy có viết mật hiệu cho gã bộ đội để gã về nhà lấy phân nửa số tiền, phần còn lại sẽ đưa nốt khi có mật hiệu của anh gửi về từ Bắc Hải.
Gã lái thuyền là một công an Trung Quốc mặc thường phục. Trước kia, gã từng sống ở Hà Nội nên tiếng Việt rất sõi. Gã làm công việc này thành thục cứ như nghề chính của gã là đưa nạn dân đi chứ không phải công an. Trên thuyền còn có non ba mươi người khác. Cường cảm thấy thanh thản hơn chuyến đi lần trước. Bề gì, từ đây đến Bắc Hải anh không phải lo nghĩ nhiều.
Thuyền lặng lẽ đi trên dòng sông quanh co. Hai bên bờ nhà cửa thưa thớt, một vài ánh đèn dầu hờ hững hắt ra buồn ảm đạm. Tiếng chim gọi bầy ríu rít vang rân, rồi trả im lặng cho dòng sông khi đêm càng về khuya. Cường ngủ gà ngủ vịt, lòng dấy lên tâm cảm buồn mênh mông của người viễn xứ. Anh nhớ ánh đèn nhà day dứt, thót cả ruột non ruột già.

Google images

Gần sáng thì thuyền đến cửa sông. Nước chảy xiết khá mạnh nhưng gã công an tài công sành sỏi nương theo con nước đưa thuyền ra biển êm ả. Bỗng như Cường có cảm tưởng vừa thoát khỏi một chốn tù hãm tăm tối để đón nhận cả không gian bao la mở rộng. Gió lồng lộng thổi, bát ngát những đợt sóng lăn tăn. Anh tưởng như cả tuổi xanh bây giờ mới thực sự biết sống là gì. Cuộc đời đâu chỉ quanh quẩn xó tường, rồi anh sẽ đến Hồng Kông (Trời ơi, xứ sở của tự do) chỉ trong vòng vài ngày nữa. Ánh điện vàng rực rỡ trong thư của bạn gửi về bắt đầu nhảy múa tưng bừng trong cõi lòng phấn chấn của Cường. Nơi đó có những tòa nhà chọc trời, phố phường không bao giờ tắt ánh sáng kinh kỳ. Anh sẽ xin đi một nước thứ ba, anh sẽ viết thư báo tin cho cha già, anh sẽ cho ông biết sẽ đi theo ước muốn của ông, anh sẽ…anh sẽ…
Đất liền chỉ còn là một vệt mờ mây khói. Sóng lắc lắc làm mấy bà bắt đầu nôn mửa. Nhằm nhò gì cái màu mật xanh để đổi cả cuộc đời ấy. Có mất đi một phần thân thể, có mất đi…Ừ, mà mất thật rồi đấy. Mất mẹ, mất cha, mất quê hương, mất bạn bè, mất tất cả. Ừ, thì cuộc đời là cuộc thương lượng mặc cả mà. Nếu không liên hiệp được với nó thì phải dứt nó đi, xây dựng một cuộc đời khác.
Có một đêm trời gió khá mạnh. Gã tài công tìm ngay một hòn đảo cực kỳ nhỏ, tránh. Sáng gã bình tĩnh đưa thuyền đi tiếp. Nhưng lần này gã đi sát bờ hơn. Cường có thể nom thấy những mái nhà li ti trong bờ, toàn bộ quang cảnh dường như bị chế ngự bởi núi cao xanh thẳm hoặc đen tràm. Ánh nắng có khi vãi một vệt vàng hình chóp nón như có bàn tay nào như vãi thóc trước sân. Thế đấy, thiên nhiên đang đãi ngộ những ai biết ngắm nhìn.
Rồi Bắc Hải. Cường đã tới cái điểm mà từ đây anh phải tự lo liệu lấy. Một thành phố cảng lớn quá sức tưởng tượng của Cường. Tàu bè đậu tấp nập. Cả bọn lớ ngớ sau khi chiếc thuyền đưa đã quay mũi. Họ dự định tới đây sẽ mua thuyền đi tiếp. Nhưng ngay phút đầu lóng ngóng không biết bắt đầu làm sao. Cường chú ý ngay một người con gái đi một mình. Người con gái trạc tuổi Cường, tóc kết đuôi sam, nước da đen khăm khẳm và khuôn mặt có vẻ lam lũ của một người lao động dầm mưa dãi nắng. Cô ta đứng chơ vơ một mình trên bãi, không trò chuyện với ai cả. Một giọng nói cất lên:
– Ai biết tiếng Trung Quốc nhỉ?
– Tôi biết chút ít thôi. Cường đáp.
– Thế tính sao đây?
Tính sao? cứ tiến tới những tòa nhà cao ngất ấy đã. Đúng lúc ấy công an Trung Quốc xuất hiện. Cường nói lắp:
– Ngộ..chẩu hớn cỏn.
Mấy viên công an có vẻ lịch sự. Một gã bảo biết rồi, các nị phải tới tập trung ở chỗ có đồng bào của nị đi Hồng Kông ấy. Một đám đông người địa phương tò mò đứng nhìn lũ người áo quần xốc xếch đi trên đường. Những biểu hiện có tiếng nước ngoài hấp dẫn và hứa hẹn quá. Mọi người chỉ trỏ, bàn tán. Thành phố đẹp gần bằng giấc mộng có đèn xanh đèn đỏ, đẹp nhất là con gài mặc váy ngắn củn, hai bắp chân thon thon khiêu khích. Bắc Hải quả khác xa những làng mạc nghèo nàn lạc hậu mà Cường mới đi qua, Cường như anh mán về thành, ngơ ngáo đi giữa cõi người xa lạ thích mắt. Cường đến bờ biển có đồng bào anh cư trú.
Cái vẻ trù phú của cảng Bắc Hải chỉ làm tăng nỗi bơ vơ lạc lõng của nạn dân nạn kiều sống trên bãi biển. Ngoại trừ một nhà thương thí do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc thành lập năm 1979, các nạn kiều bị đuổi về nước năm 78 chẳng được hưởng một quy chế gì rõ ràng. Đầu tiên, họ được bố trí lên các nông trường ở tỉnh Quảng Tây. Chịu không nổi đời sống ở đó họ trốn về miền biển và cắm lều sống trên bãi cát bằng nghề đánh cá. Họ làm vệ sinh cá nhân ngay trên bãi, lấy cát lấp lại chờ sóng lên dọn sạch. Nhóm nạn kiều sống ở Bắc Hải đã bị lãng quên hoàn toàn. Không ai cần biết đến họ và họ cũng chẳng trông chờ vào ai. Lương thực của họ là biển cả mênh mông (tê tái) ngoài xa kia. Trung Quốc coi họ là nạn dân người Việt, nhà nước Việt Nam lại coi họ là nạn Kiều. Sức ép của hai thể chế đẩy những người này ra tận mé nước và không thể ra xa hơn được nữa. Những đứa trẻ sinh ra trên cát nóng chờ ngày theo cha mẹ ra khơi bắt cá. Không một ngôi trường nào chịu chứa những đứa trẻ sinh nhầm đất nước ấy.

Google images

Khi nhìn thấy đời sống nghèo nàn lạc hậu của người Việt gốc Hoa trên mép nước, Cường càng thêm khâm phục tài nghệ nói phét “đảng truyền” vô tiền khoáng hậu của Hoàng Văn Hoan những ngày chống gậy ăn xin trên đất Trung Hoa. Trong một số báo tin Việt Nam lọt về Hà Nội, Hoàng Văn Hoan huênh hoang là đã đi thăm khu nạn dân nạn Kiều đánh cá ở Bắc Hải. Theo tờ báo thì công việc làm ăn của nạn Kiều tấp nập và vui vẻ. “Chiều chiều, khi tàu thuyền cập bến, kẻ mua người bán, tiếng nói tiếng cười vang lên nhộn nhịp…Nhiều bà con nạn Kiều đã trở nên giàu có.”
Vài ngày sau Cường gặp một chiếc thuyền đi từ núi dê Hải Phòng ghé Bắc Hải mua dầu Cường hùn một chỉ vàng xin quá giang đi Hồng Kông. Tài công biểu diễn tình đồng hương bằng cách nhận thêm vài người xin theo, trong đó có cô gái mà Cường nhác thấy hôm mới đến. Gã tài công cười mơn hỏi cô gái?
– Em tên gì đấy?
Cô gái dường như không nghe hỏi. Đôi mắt lần thần nhìn ra biển, nhìn vào những dãy phố. Gã tài công hỏi thêm một lần nữa. Cô đáp:
– Mân.
Rồi ngồi xuống góc thuyền, tay mân mê mép áo. Cường cố lục trí nhớ. Dường như Mân không phải là trong đoàn người đi từ cửa khẩu Đông Hưng. Dường như cô xuất hiện đâu đó lúc Cường đã đến Bắc Hải. Mân ăn mặc như một xẩm Tàu đã sinh sống nhiều năm trên đất Trung Quốc. Tóc kết đuôi sam, cúc áo cài một bên, cái quần đen khá sạch sẽ. Nhưng hề gì. Cường chặc lưỡi. Cũng là nạn nhân như mình.
Vừa vượt qua eo biển Lôi Châu, thuyền bị sút “côn”. Số phận con thuyền đành để mặc cho sóng gió, muốn đẩy về đâu thì đẩy. Cường trông thấy nhiều tàu nước ngoài xuất hiện. Tất cả đều mừng rỡ reo hò, nhúng quần áo vào dầu đốt sáng rực cả đêm tối. Nhưng những chiếc tàu sắt nhanh chóng biến khuất trong màn đêm. Sáng hôm sau, cả thuyền lại nuôi hy vọng khi thấy một tàu đánh cá Trung Quốc xăm xăm tiến lại. Tất cả đàn ông con trai trèo cả lên mui, phất áo rối rít. Chiếc tàu đánh cá ngưng lại, đặt ống nhòm nhìn sang. Giây phút kéo dài hơn thế kỷ. Những con tim hồi hộp chờ đợi một sợi dây sẽ được quăng sang. Một phút…hai phút…năm phút…chiếc tàu đổi hướng chầm chậm hướng ra phía chân trời.
Những tiếng thở dài nén trong lồng ngực. Cường chán nản bảo tài công:
– Có cách nào kết buồm không?
Gã lắc đầu:
– Thuyền ta lớn quá, chịu.
Ba ngày trôi trên biển. Đàn bà con nít say mê mệt, nằm bẹp dí trên sàn, có người thậm chí vật người trên chỗ vừa ói mửa, tóc tai bầy nhầy. Chỉ có Mân là trông đỡ thảm hơn cả. Nàng tựa người vào khoang đôi mắt lạc thần nhin lên bầu trời mây kín. Suốt từ khi đặt chân lên thuyền Mân chưa nói với ai một lời. Dường như những việc xảy ra quanh Mân không làm người con gái kỳ lạ ấy lo nghĩ. Gã tài công có khi trèo ngang qua chỗ Mân ngồi, lẩm bẩm:
– Cái…lạ…
Một chiều. Khi sức lực của mọi người trên thuyền đã cạn kiệt thì một chiếc thuyền Trung Quốc xuất hiện. Chỉ còn vài bàn tay đủ sức giơ vẫy, nhen nhúm hy vọng. Gã tài công ngồi trên nóc ra dấu là thuyền chết máy. Đột nhiên, Cường nghe gã rú lên mừng rỡ. Chiếc tàu đánh cá đã liệng dây sang. Gã tài công chụp lấy sợi dây, nhanh nhẹn cột vào mũi. Nhưng kia, chiếc tàu vẫn xáp lại, xáp lại gần. Cường bảo:
– Anh xin đồ ăn thức uống đi, nó muốn cho đó.
Gã tài công ngước lên, rồi cả thuyền đồng loạt há mồm, chỉ trỏ. Mấy gã Trung Quốc cười hằng hặc ra vẻ hiểu, quăng xuống một bao mì gói, rồi những tảng nước đá ào ạt bay sang. Một gã thủy thủ nhảy qua thuyền gặp nạn, nói chuyện với tài công. Cường thấy gã thủy thủ làm điệu bộ, có lẽ gã không hiểu ngôn ngữ phần lớn là bằng tay chân của tài công.

Google images

Cường thấy tài công lắc đầu, gã thủy thủ xịu mặt quay về, rồi tài công gọi giựt gã lại, bảo chờ. Tài công kêu đàn ông trên thuyền hội ý. Cường té ngửa người khi gã tài công cho biết là tàu Trung Quốc đòi “mượn” một phụ nữ trên thuyền rồi mới chịu kéo. Gã nói:
– Đó…tôi đâu muốn!
Những gã đàn ông im lặng. Đàn bà trên thuyền phần lớn là vợ con họ, là người yêu. Một thanh niên tức giận chửi:
– Địt mẹ…quân đểu thế. Tớ đếch chịu, chết bỏ chớ sợ đếch gì.
Mấy thanh niên khác ào ào hưởng ứng. Gã tài công nạt:
– Im đi, anh em không có tinh thần làm chủ…
– C…đi vượt biên mà còn nói giọng đó. Người thanh niên nổi nóng, hai lỗ tai anh ta đỏ bừng.
Gã tài công cũng nổi nóng, nhưng gã đấu dịu khi thấy người thanh niên quyết ăn thua đủ:
– Học, mầy biết tao mà. Đây là thế kẹt mới tính như thế chứ.
Học mặt đổi từ đỏ qua tái, tính đáp trả thì gã thủy thủ Trung Quốc thấy lâu quá, hối:
– Tụi ngộ đi đây.
Gã tài công hốt hoảng:
– Tẳng…tẳng…mà!
Bỗng nhiên đôi mắt tài công sáng rực:
– Tôi đồng ý tuyệt đại đa số phụ nữ trên thuyền đều là vợ con anh em mình, ai lại… nhưng có một người…
Gã ngừng lại. Cường nghe tim mình thắt lại. Anh hồi hộp chờ đợi giọng nói phán quyết của gã tài công:
– Con…Mân!
Cường quát lên: – Không được!
Gã tài công cười hề hề. Mọi con mắt đổ dồn về mặt Cường.
– Đằng ấy bảo không được là không được cái gì? Theo tôi biết thì cái cô Mân đó đâu có liên hệ gì với đằng ấy.
Hai tai Cường nóng bừng. Anh có tật nói lắp khi nóng giận:
– đã đành…mà…mà..như vậy bất nhân…lắm!
Cường nuốt nước bọt, cổ họng đắng chát, gã tài công trở mặt:
– Này, tôi bảo. Tôi lãnh đạo thuyền này, nhớ kỹ như vậy. Hơn nữa, chính ông bạn cũng là người đi nhờ cơ mà. Cái cô Mân đó tôi cho đi hôi không tốn một cắc!
– Tôi đóng một chỉ vàng.
– Rồi sao chớ!
Học xen vào:
– Tôi thấy thất đức.
– Đức! ơ cái anh này rõ vớ va vớ vẩn. Thế để cả thuyền chết chắc có đức hơn à. Chỉ tiểu tư sản.
– Nhưng cô ta chỉ có một mình.
Gã tài công vớ ngay câu nói của Học:
– Chính thế. Các anh dẹp cái lòng đạo đức…giả của các anh đi. Phải nhìn nhận sự hợp tác của Trung Quốc chứ. Tôi hỏi: đồng bào Nam Bộ vượt biển, gặp hải tặc Thái Lan, chúng nó có tử tế thế không nào? Hay là chúng cứ tàn sát, bắt hết đàn bà con gái, thậm chí con nít lên mười cũng không tha, chúng hiếp tập thể, chặt đầu kéo từng chùm con gái theo sau tàu chúng, chặt dây, hoặc bán vào động điếm. có ai làm gì chúng đâu nào, hay chỉ nói phét…khơi khơi.
Cả bọn im thin thít. Gã quả có lý. Tiếng kêu đau thương của đồng bào Nam Bộ gặp hải tặc Thái Lan đã đến tai hết thảy mọi người. Nhưng tiếng kêu ấy chỉ chìm sâu vào đáy vực, không có tiếng vọng nào hồi đáp. Sự đau khổ của họ là đại dương nhưng những hành động ngăn chặn chỉ là giọt nước trong biển cả.

Google images

Gã tài công xăm xăm tiến lại chỗ Mân đang ngồi. Cường hét:
– Không được…
Gã tài công quát:
– Giữ nó lại.
Lập tức nhiều bàn tay cứng như thép giữ chặt lấy Cường, ấn anh ngồi xuống. Gã tài công nắm cổ tay Mân. Nàng ngước nhìn gã, ngơ ngác.
– Em chiều bọn họ chút đi.
Mân rút tay về, sợ hãi. Nhưng gã tài công đã hạ quyết tâm, gã giựt phắt người nàng bắt đứng dậy, cặp hai bàn tay cô gái ra đằng sau, đẩy tới trước. Đám đàn bà con gái đã hiểu chuyện, họ co giò dạt ra hai bên lấy chỗ cho gã, đôi mắt họ nhìn Mân nửa thương hại, nửa long lanh giấu nỗi vui mừng nhen nhúm. Đằng nào, nếu không phải là Mân thì hẳn là một người trong bọn họ. Mân ré lên một tiếng nhỏ, rồi im bặt. Nhưng nước mắt nàng cứ lặng lẽ chảy ra, chảy ra âm thầm cứ như tiếng khóc trong người Mân đã đóng lại tự bao giờ rồi. Đôi mắt nàng nhìn xuống. Hai bàn chân trần chưa kịp cắt móng, cái áo cài cúc một bên phập phồng. Một giọt nước mắt rớt xuống ván thuyền ướt nhẹp. Một giọt nước mắt rơi xuống khi gã tài công lải nhải:
– Chiều bọn họ chút thôi mà. Có sao đâu.
Một giọt nước mắt khác rớt xuống khi bước ngang qua Cường. Anh thấy giọt nước mắt rơi xuống chân mình, vỡ tóe ra rồi thấm vào kẽ nứt. Chiếc thuyền chao đảo nhẹ nhàng. Tiếng sóng vỗ lách tách vô mạn, bốn bề mênh mông nước. Những người đàn bà Việt Nam là vật tế thần suốt chiều dài lịch sử. Phải chăng nàng công chúa khi xưa cũng bật khóc như thế khi bước chân xuống thuyền để về Ô Châu Ô Lý. Cái thân hình bé nhỏ của người đàn bà Việt Nam, với chân trần và rèm mi rũ xuống đã cưu mang bao lần thế hệ. Nạn nhân của lòng tham ích kỷ. Những giọt nước mắt rơi xuống, thấm vào kẽ nứt, góp vào biển cả, chan hòa trong đại dương mênh mông khổ ải. Nàng Mân, nàng Mân đau khổ và yếu đuối. Nàng đang bị bế thốc lên tàu lớn, những bàn tay thò xuống kéo xốc nàng, hai bàn chân móng dài của nàng cọ sát trên mạn thuyền cọt kẹt.
Những trận mưa kéo xuyên qua bầu trời, đập xuống mái chùa dột nát. Mưa xuyên qua mái, chảy loang trên nền chùa nứt rạn. Ngọn đèn dầu hiu hắt chập chờn soi những bóng tối người chụm vào nhau dưới hiên chùa rét lạnh. Sóng cuốn ầm vang ngoài bãi vắng. Hai chiếc thuyền tỵ nạn gặp nhau nơi cồn cát, nằm chơ vơ trên bãi, chờ những cơn mưa bớt nặng để biển bớt ba đào sóng dữ. Nhưng trời như cố trêu người thất thế, cứ cho cơn mưa cầm chừng. Có đêm gần sáng, trăng lưỡi liềm hé qua mây đen nghiêng nghiêng dọi, rồi lặng lẽ biến đi dưới bầu trời mây dầy như lớp cơm cháy.
Rồi nàng Mân đã được trả về thuyền, và đã theo Cường tới đụt mưa dưới mái chùa xiêu đổ. Mân ngồi bó gối dưới chân bệ thờ, từ chối mọi hỏi han chăm sóc. Sự im lặng của Mân dễ sợ hơn đêm tối, dễ sợ hơn mọi hình thái de dọa trên đời. Bên hiên, Hải cũng ngồi bó gối. Chàng cũng im lặng suốt một tuần nay. Có đêm chàng ra ngồi trên mép biển, mắt mở trừng nhìn những lớp sóng thi nhau xô đẩy, tung tóe. Cái cồn cát quá nhỏ không đủ để chàng xa lánh mọi người. Từ trong chùa nhìn ra, người ta có thể thấy cái lưng khòm của chàng in trên bọt sóng. Những bọt sóng đã nuốt trôi vợ con chàng, không ai tìm thấy xác hai kẻ bạc mệnh trong số tử thi tấp vào bãi Đồ Sơn. Rồi mai nầy, mưa tạnh, chàng sẽ đi. Có thể chàng sẽ đến. Có thể chàng sẽ không bao giờ đến. Nhưng điều đó có nghĩa gì khi lòng Hải đã băng giá trước hình ảnh mơ hồ của tự do.
Có đêm người ta thấy Sương chập choạng lần ra bãi. Nàng không cần ai dắt. Thính quan và lòng mẫn cảm của nàng dắt nàng đi. Nàng ra tới bãi, lắng tai nghe. Chỉ có tiếng sóng, chỉ có tiếng mưa rơi lắc rắc trên vai. Nàng bắt đầu cất tiếng gọi. Hải ơi! Tiếng gọi mất hút vào tiếng sóng. Nàng cứ gọi, gọi mãi, đi dọc theo mép sóng. Hai chân nàng lạnh ngắt nhưng lòng mẫn cảm cứ bắt nàng đi. Nàng đi giáp một vòng cồn cát. Hư vô đã cách biệt nàng. Không ai thấy nàng khóc.

Google images

Rồi một buổi sáng nắng hồng rực rỡ. Nắng rực rỡ làm xao động những triền sóng vô tư. Nắng sưởi ấm những tim gan giá lạnh. Ra khơi, ra khơi thêm một lần nữa. Đã bao lần ra khơi, có thêm một hiểm nguy nữa thì định mệnh cũng đã an bài rồi. Cường đi theo chiếc thuyền chở Hải. Sương hân hoan nghe tiếng Hải nói, như thể sự tái sinh đã đập tan âm mưu phản động của sự im lặng dài, sự im lặng dài đêm thâu, kẻ thù truyền kiếp của mọi giai cấp. Dũng bảo Cường:
– Mày bảo cô Mân đi theo thuyền tao.
Mân bình thản theo Cường, bình thản leo lên thuyền ngồi bó gối. Hai chiếc thuyền được đẩy xuống nước, đi về một hướng nhưng khác lộ trình. Mặt trời soi rạng rỡ.
Thuyền đi qua vạn sơn quần đảo. Những ốc đảo nhỏ có, to có, có cái trơ trụi đất cát đìu hiu trên sông trắng, có cái cây rừng tủa như lông nhím. Lương thực đã cạn hết, gạo không còn một hột, nước không còn một giọt. Cái đói làm người vàng cả mắt. Thuyền ghé vào bờ không biết bao nhiêu lần nhưng toàn là những khu đất hoang dã. Có khi gặp dân thì họ cũng nghèo quá, vật lộn với miếng ăn từng bữa nên cũng không có gì để giúp. Thanh niên đi đào trộm ngô khoai hoặc bất cứ loại củ gì có thể ăn được. Dường như cả trái đất lương thực đã cạn kiệt.
Cánh phụ nữ còn thê thảm hơn nữa. Một lần Sương có kinh. Hải biết được điều đó khi thấy dòng nước đỏ chảy loang trên chân nàng. Hải căng vạt áo cứa cứa lên mạn thuyền để lấy vết cắt nhỏ, chàng xé toạc vạt áo xé thành miếng đưa cho Sương. Hải run rẩy dìu Sương lên bờ, những đốm nắng làm chàng hoa cả mắt. Chàng tưởng trái đất đã mất trọng trường nên khi Sương dựa vào người, Hải té chỏng cọng. Chàng vừa đỡ Sương, vừa nói đỡ:
– Anh không thấy gì cả. Có lẽ rồi anh cũng như em.
Sương gượng cười vịn vai Hải đứng dậy. Khuôn mặt nàng xanh như tàu lá chuối non. Nàng hỏi:
– Có phải áo anh màu xanh không?
Hải ngạc nhiên:
– Em thấy đường à?
– Không, nhưng em nghĩ như thế. Anh tên Hải mà.
Sương bị mù sau một trận ốm nặng năm lên bốn. Nàng đã thấy màu sắc của quê hương nơi nàng sống chỉ thuần là màu tro xám xịt của kiếp người nghèo khổ. Nàng nhớ nhất là màu xanh của biển. Đó là hình ảnh rực rỡ nhất còn đọng trong trí nàng. Nàng ao ước một chiếc áo mang màu biển xanh nhưng ước mơ ấy chưa bao giờ thành sự thật. Hải nói:
– Ừ, áo anh màu xanh nước biển đấy, nhưng bạc trắng cả rồi. Em có hình dung không?
– Có, anh.
Sương nhắm chặt mắt lại. Trước mắt nàng là trùng trùng sóng xanh biêng biếc. Chiếc thuyền con của bố đi đánh cá về. Hình ảnh bố cô độc quá. Nước mắt nàng ứa ra, tràn trề hai rèm mi. Nàng mở toang đôi mắt. Vẫn là bóng tối, và hơi ấm của chàng trai. Hải nói:
– Đứng đây nhé, anh đi tìm cái gì nhai đỡ.
Nàng đứng yên dưới tàn cây. Xung quanh tiếng lá xì xạc tâm sự. Nàng đã đặt chân lên đất liền mấy lần rồi? Hải đã đi kiếm ăn mấy lần rồi? Sương không nhớ hết. Nàng cảm động là Hải đã thay thế bố. Thính quan và lòng mẫn cảm của nàng cho biết chàng trai ấy còn đối với nàng bằng một tình cảm đặc biệt. Nhưng sao Hải đi lâu quá. Sương nghe tiếng sấm rền trên bầu trời, nàng thấy lạnh, sợ hãi. Tiếng gọi ơi ới của người trên thuyền. Tiếng lá rung động mạnh mẽ quanh nàng, rồi Hải:
– Anh tìm được mấy củ khoai nè.
Chàng lại cạp vỏ ngoài. Thốt nhiên Hải xúc động mãnh liệt cố kiềm một tiếng nấc. Chàng đã cạp vỏ khoai cho bé Ngọc lần cuối. Xác con chàng đã rã mục dưới cát bụi thời gian. Môi chàng run run muốn nói. Chợt bàn tay Sương quờ quạng nắm lấy tay Hải:
– Anh nhớ con phải không?

Google images

Hải nấc lên thành tiếng. Sương ôm ghì lấy vai chàng. Một vài giọt mưa rơi xuống, lạnh lẽo trên cườm tay. Hải thấy cõi lòng hoang vu như ruộng lúa sau ngày gặt. Chàng cảm thấy hơi ấm từ tấm thân gầy guộc của Sương. Chàng để yên như thế, trong lòng dần dần yên tĩnh.
Rồi thuyền lại đi. Len theo những ốc đảo tránh gió. Đêm xuống. Trăng lên. Trăng lặn. Con mắt đã mờ sức sống. Chiếc thuyền im lặng như mộ bia di chuyển trong đêm mờ. Một đêm, Hải ngồi sau chiếc thuyền chợt nghe tiếng biển réo dữ dội đằng mũi. Chàng len chân lên phía trước, bỗng sửng sốt thấy những làn sóng lửa sáng ngời cứ dâng lên, dâng lên, đập vào mũi thuyền từng chập. Hải kinh hoàng suýt bật thành tiếng kêu. Dũng nói, giọng bình tĩnh:
– Trông kinh thật, lân tinh đấy ông.
Những làn sóng lửa vây lấy thuyền, chập chờn ma quái như ma trơi đi ăn đêm. Hải nghĩ những oan hồn vượt biển đang hiện về trêu chọc. Chàng nhớ đã từng thấy ma trơi như thế trong một nghĩa địa. Bóng ma đỏ rực lượn vòng trong đêm, trong tiếng gió gọi hồn. Thốt nhiên, gai ốc Hải nổi cùng mình. Chàng nhắm mắt lại, tự đánh lừa cảm giác ghê sợ của mình bằng giấc ngủ. Hình như chàng đã ngủ một giấc ngủ dài chờn vờn đốm lửa vây quanh. Sáng hôm sau, Hải choàng dậy khi tiếng Dũng la thất thanh:
– Sống rồi bà con ơi, thành phố!
Từ xa, những ngôi nhà tầng xuất hiện dưới màu sáng hồng của bình minh.







Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply